“Lam Sơn 719 và Liên Ðoàn 51 Tác Chiến”

Collapse
X
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • vinhtruong
    Super Member
    • Jun 2010
    • 1924

    #16
    Cái giá TT Thiệu phải trả

    Bất ngờ hành quân lui binh: Tóm lại, Trung tâm Hành quân Chiến cuộc của Tướng Haig, Pentagon cho phép quân đội Mỹ và VNCH tấn công khắp mọi nơi quân BV có mặt, nhưng chỉ để ‘vui-chơi’ trong thao dợt huấn-luyện quân sự cho có tiếng vang chính-trị chớ không phải để hủy diệt hoàn toàn theo như kim chỉ nam của CIA: “Everything worked but nothing worked enough” Để đi đến kết luận, vì những điều lệ [ROE] trò chơi nầy do một Nhóm học giả kiệt xuất của Harriman điều nghiên rất kỹ trước đó khá lâu trong chương trình “Aid to Russia 1941-1946 Plan” sẽ chia 2 quốc gia Đức, Triều-Tiên, Việt-Nam (tạm thời rồi thống nhứt sau đó. Đức và Triều Tiên thống nhứt trong vòng tay của Mỹ vì còn lính Mỹ ở đó, còn VN thống nhứt trong sự cưỡng chiếm từ phía Hà Nội, vì Saigon đuổi Mỹ: “Khách bị chủ nhà đuổi?!”) Nên Bốn đời Tổng Thống có dính líu chiến tranh Việt Nam cũng không hiểu mục-tiêu của chính sách là gì, huống hồ các Tướng lãnh đã tham chiến tại Việt Nam và Iraq; Làm gì họ hiểu nổi thế Siêu Chiến Lược “Eurasian Great Game” (1920-2020) của Trùm Đảng-Hội ‘Skull and Bones’ người Thủ-lãnh của Sáu người bạn nắm vận mệnh thế giới “The Wise-Men”: Six Friends and the World They Made (Cuốn sách nầy chỉ được cho ra khi Harriman nằm xuống dưới 9 tầng hỏa-ngục là năm 1986, danh tánh 6 người lãnh đạo thế giới nầy có trong tác phẩm “The New Legion”, Library of Congress, Copyright 2010 Vinh Truong http://www.answers.com/topic/w-averell-harriman, p. 3/7, 22/1/2006)

    Trong Bốn đời Tổng thống, chỉ có TT Nixon là bị kèm kẹp chặt chẽ nhất, dù rằng không còn con đường nào khác hơn là tiếp tục rút quân [xem hình Lam Sơn 719, trang 1, Volume-II thì rõ] cả bộ tham mưu tại Tòa Bạch Ốc ai ai cũng biết Kissinger được chỉ thị nói xấu Nixon trong suốt mùa tranh cử 1968, nhưng dù ông hay ai làm Tổng thống cũng phải nhận Kissinger làm cố vấn đó là điều bắt buộc của P.G, Siêu Chính Phủ để điều hành chính sách đúng trục lộ đồ chiến lược toàn cầu Eurasian. [Kissinger chỉ là một khoa bảng tài giỏi về khoa chính trị học nên được Harriman tuyển mộ thuê mướn] Rút kinh nghiệm, hồi đời Kennedy và Johnson; Dù rằng họ bủa vây Kennedy như một con cua có tám cái càng đều là Đảng viên của Skull and Bones (thành viên Hội đồng Kỹ nghệ Quốc phòng gọi là War Industries Board) đặc biệt hai cái càng lớn nầy nắm giữ là hai anh em, một ở chức vụ cố vấn Tổng thống là Skull and Bones-40 (ám-số), Mc George Bundy; còn ở Bộ ngoại giao là Skull and Bones-39, William P.Bundy. Nhưng không áp lực được Kennedy qua công điện gởi cho Cabot Lodge ngày 30/10/1963 yêu cầu ngưng hoặc trì hoãn cuộc đảo chánh TT Diệm tức khắc; sau đó đến phiên TT Johnson gởi công điện cho phép quân đội VNCH được săn đuổi quân đội BV ra khỏi biên giới Việt/Miên/Lào là hữu lý và chính đáng, nhưng bị Nhóm Skull and Bones không cho phép. Vì thế chúng ta cũng dễ hiểu tại sao bằng mọi giá W.A.Harriman phải bảo vệ đường mòn HCM hay xa-lộ Harriman (theo sự nhận thức của tôi) có Liên Xô góp phần lo thiết bị ống dẫn dầu song song theo nó để làm gì?

    TT Thiệu với cái giá phải trả cho sự ương ngạnh chống đối Pentagon.
    Với Quân-lực nầy, Tổng Thống Thiệu cũng như các Tướng Tá chúng ta đều đồng có một quan niệm, là bảo vệ tối đa sanh-mạng cho anh em binh-sĩ, và tiết kiệm tối đa xương máu của chiến binh mình. Để chứng minh điều nầy, có bao giờ chúng ta nghe Quân-Lực VNCH dùng chiến thuật biển người để chống Cộng không! Dùng thuốc kích thích, hoặc là xiềng chân vào tay-lái của chiến xa không, trong khi Cộng-Sản như một tôn-giáo cuồng tín, tử vì Đảng (Mafia của Lê Đức Thọ).

    Cái đỉnh cao trí tuệ của siêu chính phủ sau hậu trường Mỹ (Donald Rumsfeld) có chịu thua sự ngang-ngược của TT Thiệu khi làm bể kế hoạch chiến-lược trong cuộc hành quân Lam-Sơn 719 nầy qua sự cho 2 Tiểu đoàn của SÐ/1/BB (6/3/1971) nhảy xuống Tchepone “đái một bãi rồi về?” Có nghĩa là đếch thi hành giai đoạn-3 khai thác chiến trận! Để dạy một bài học thâm-hiểm và đồng thời cũng vì phải giữ tình hình thật yên tịnh để Mỹ tiếp tục rút quân, nên Richard Helms, người hậu vệ [linebacker] của trận đấu “Pennsylvania” phải hoạch định một phương án “Rã ngũ quân lực VNCH” bằng sẽ đẻ ra một chước quỷ cho “một cuộc chạy tán loạn của quân dân miền Nam và Cộng Sản sẽ trả thù” Thật đau lòng cho quân-dân miền nam, một nước nhược tiểu!

    Ðầu năm 1975, để phục hận, Họ, bộ tam sên: Kissinger, Haig, và Helms đứng trong bóng tối áp lực TT Thiệu phải đích thân do chính bàn tay của mình tự bẻ gãy từng chiếc của bó đũa [quân lực VNCH] bằng cách phân tán lực lượng, rút bỏ vùng-1 và 2 vì hỏa lực, cơ-phận, nhiên liệu, không được thi hành phương thức một đổi một [Project Enhance] do hiệp định Paris cho phép mà còn làm bộ thả Bom lầm vào các bồn xăng ngay trong phi trường để hạn chế tối đa sự hoạt động quân sự của miền Nam… đang cạn dần và phải bẻ nhỏ từng mảnh 2 Sư-đoàn tổng trừ bị lợi hại nhất mà Lê Ðưc Thọ rất khiếp đảm, nên Thọ khẩn thiết yêu cầu Kissinger nếu Mỹ muốn Hà-Nội chiếm miền Nam đúng theo lộ-trình, theo sự thỉnh cầu về điểm mốc thời gian chiến dịch Hồ Chí Minh…

    Richard Helms phải làm theo sự chủ đạo của Donald Rumsfeld liền tức khắc qua khai thác sự sợ hãi làm đảo chánh của TT Thiệu để áp lực TT Thiệu ra lệnh rút về chỉ một Lữ-đoàn Dù thôi cùng Quân đoàn-3, vừa đủ thời gian tạm thời trấn giữ cái cổng chính của sân vận-động, hầu trực thăng Mỹ sẽ cứu người Mỹ và những tai to mặt lớn trốn chạy ra nước ngoài (cấp tướng trở lên). Thế là bình luận, báo chí trên thế giới cứ chĩa mũi dùi tấn công chỉ một mình tội lỗi do Tổng thống Thiệu gây ra mà thôi. Thế nên một số ký giả được đặt hàng, cũng như người Việt kém hiểu biết đã vội vả trút lên đầu TT Thiệu mọi tội lỗi mà chính TT Thiệu cũng bị hăm doạ phải ngậm tăm đem xuống tuyền đài.

    Dù rằng TT Thiệu đã thỏa mãn tất cả những điều kiện do phía Polgar, Trưởng CIA yêu cầu nhưng ngặt nỗi những bức thư mật ‘riêng-tư’ giữa TT Nixon và Thiệu vẫn còn nằm trơ-trơ trong tay TT Thiệu. Chuyện khó là tạo ra vụ Watergate để hất chiếc ghế quyền lực của Nixon, việc đó đã mưu thành tốt đẹp do tham mưu trưởng Donald Rumsfeld có chỉ thị cho R.Helms soạn thảo và Kissinger trực tiếp đièu hành ngay từ ngày TT Nixon qua TQ 1972.

    Tại sao Nixon không dùng đặc quyền theo hiến định để tự ân xá mình? Còn Thái-tử George W Bush dù bị sự ủng hộ thấp nhứt trong lịch sử TT Hoa kỳ (23%) còn mang thêm trọng tội lừa dối Quốc hội về Power Act, quyền khai chiến và dân Mỹ về vũ khí giết người hàng loạt WMD nhưng vẫn phây phây ngồi cho đến mãn nhiệm kỳ, chưa kể trong lịch sử ứng cử mà phải đợi 36 ngày sau Tối Cao Pháp Viện mới xác định là đủ điều kiện để làm tổng thống? Ðộc giả yên tâm! 2 sự kiện kinh-dị nầy sẽ phải đợi một thời gian coi cho được [Decent Interval] rồi các sử gia buộc sẽ phơi bày ra ánh sáng để trả lại tính trung thực cho lịch sử như những vụ ám sát hai anh em Kennedy nhưng phải đợi một thời gian hữu lý. Như vậy chúng ta cũng có khái-niệm rằng:

    Hãy tự hỏi… Hoa Kỳ có tự do về thông tin tư tưởng! Câu trả lời là không!
    A) - Xin trân trọng giới thiệu tài liệu về một cuốn phim đã bị siêu chính phủ HK dấu kín suốt 37 năm qua.

    * Đây là một phim tài liệu rất có giá trị về sự thật của chiến tranh VN, với cái nhìn công bằng và khách quan của người Mỹ (Vừa rồi Kissinger thú thật mất miền nam là do Mỹ và thêm một thời gian hữu lý (decent interval) nữa SCP sẽ tiết lộ HCM đáng được kính phục không phải vì sự chiến thắng mà vì sư lừa bịp cũa Mỹ.

    * Người viết đã tìm lại được cuốn phim này trên Youtube - Mời bấm vào đây để coi toàn bộ cuốn phim gồm có 8 phần (không kể những video clips tài liệu phụ dẫn: click Phim Việt Nam)
    ==> http://www.youtube. com/results? search_query= vietnam+vietnam+ john+ford&search_type=&aq=5; Phim Vietnam! Vietnam được công bố sau 37 năm bị dấu kín !!!

    Phim đang phổ biến trên mạng Internet tên "Vietnam, Vietnam" được cho là cuốn phim cuối cùng của nhà đạo diễn gạo cội hàng đầu của Hoa Kỳ John Ford (1894-1973) ông đoạt tất cả 4 giải Oscars vào năm 1973, ông nhận giải AFI Life Achievement Award cùng năm. Ford was awarded the Presidential Medal of Freedom by President Richard Nixon. Phim bắt đầu quay vài tháng sau cuộc tổng công kích Mậu thân (1968) và cho đến khi cuộn phim được hoàn tất vào cuối năm 1971.

    Vào lúc đó luật pháp liên bang của Hoa Kỳ ngăn cấm chuyện trình chiếu bất cứ một phim ảnh nào do Cơ quan Truyền Thông Hoa Kỳ (United States Information Agency) trong đó có phim "Việt Nam! Việt Nam” Cho nên phim tài liệu cuối cùng của ông John Ford đã được khóa kín trong két sắt 37 năm trời cho đến khi luật pháp được thay đổi cho phép phim được chiếu cho công chúng xem.

    B) - Cuốn sách trước đó do đồng 2 tác-giả Evan-Thomas và Walter Isaacson đã công phu nghiên cứu tỉ-mỉ, nhưng cũng bị chận lại, phải đợi thủ-lãnh W-A- Harriman nằm xuống ngày 26/7/1986 mới được phép xuất bản vào năm ông chết (1986) Ðó là cuốn sách tên “The Wise Men”: Six Friends and the World They Made. Dĩ nhiên đúng vào mốc thời điểm mục tiêu như mới đây họ đã bạch hóa sự việc, mưu-đồ của trục Ma Quỷ nầy, bằng chỉ phổ biến tài liệu dính dấp với Liên Xô và Trung Cộng. Nhưng với Mỹ thì hoàn toàn dấu nhẹm, không đá động tới danh tánh tên tuổi những tội phạm chiến tranh thứ gộc, gây ra cảnh bể dâu cho nhân loại. Nhờ dựa vào được Center for the Study of Intelligence giải mật cho ra công chúng trong dạng một quyển sách (Center for the Study of Intelligence là nhà in riêng của CIA) Theo lời giới thiệu trong sách, quyển CIA and the Generals (CIA & Generals) được hoàn tất tháng 10-1998; và CIA and the House of Ngo (CIA & Ngo) viết xong tháng 6-2000. Hai quyển này được đưa lên web site của Center for the Study of Intelligence vào đầu tháng 3-2009, với dấu mộc ghi “APPROVED FOR RELEASE DATE 19-Feb-2009.”(Được phép đưa ra Công cộng, ngày 19 tháng 2-2009).

    Đây là lần đầu tiên trong lịch sử của Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ (CIA) ban biên tập của CIA cho giải mật hai tập tài liệu quan trọng về mối liên hệ giữa CIA và Việt Nam Trong nhiều năm qua, CIA - theo luật bắt buộc- đã giải mật nhiều tài liệu quan trọng, thí dụ như hơn 1.000 trang phân tích và ước lượng về chiến tranh Việt Nam (Estimative Products on Vietnam, 1948-1975, National Intelligence Council, 2005)

    C) - Vì vậy, sau 20 năm nghiên cứu trong thư-viện, tôi cho ra 2 Volume tác-phẩm “The New Legion” - lần đầu tiên” trong nghĩa này là hai quyển sách trên thuộc loại ‘sử-kể’ (narrative history) có đầu đuôi, chú thích - và quan trọng hơn hết - tác giả là người thật, tham dự hầu hết các cuộc hành quân từ Cambodia, qua Lào cùng bay xa đến vĩ tuyến 18, kể cả phía tây dãy Trường sơn cùng các hải đảo Biển Đông, vì là một phi công gián điệp được cơ quan SEAL và Delta Force trắc nghiệm và tuyẩn chọn.. Ðọc nhiều tài liệu và viết lại có ngọn ngành cho độc giả, đa số những tài liệu giải mật của CIA trước đây thuộc loại nặc danh vì lý do nghề nghiệp, hay là những văn-thư như tờ ‘tường-trình’ do nhân viên báo cáo về để “kính-tường” Để rồi sau cùng 2 tác-phẩm nầy cũng chui ra được ấn-bản tại Canada, 2010.

    Cũng ngày hôm nay, Tướng Abrams gặp Tướng Viên để ôn lại tình hình địch, Abrams nói: “Đây mới đúng là lúc chúng ta đem lại một sự thắng lợi trong cuộc chiến quyết định nầy… mọi diễn tiến đều xảy ra tốt đẹp, và có lợi cho ta, Chúng ta phải tiến quân, kể cả trên trục đường 914; Tôi muốn được xử dụng thêm Sư-đoàn 2 BB hiện đang trấn đóng tại Chu-Lai vào cuộc chiến nầy... đại-tướng nghĩ sao?”

    Sau một giây lát suy tư, tướng Viên đáp: “Về mặt Quân-sự, chính-trị và tâm-lý, tôi nghĩ là Tổng Thống Thiệu có thể chấp nhận, vì chúng ta không còn lực-lượng nào hơn, Tôi nghĩ phải thêm vài tháng dài chiến đấu cam-go…để tôi trình lại với TT Thiệu coi xem sao!”

    Ngay vào lúc nầy, tại Bộ-tư-lệnh Quân-đoàn 24 có báo cáo cho Tướng Abrams hay: là Tướng Lãm cho biết theo lệnh của TT Thiệu, một vài đơn vị nhỏ Quân-lực VNCH sẽ đặt chân trên Tchepone như vậy coi như hoàn thành mục tiêu chiến thuật và chuẩn bị rút quân về. Trong khi đó có tin các Tướng-lãnh VN cũng cho rằng mục tiêu đã hoàn tất, trên phương diện chiến thuật, bây giờ nên soạn thảo cuộc hành quân lui binh.

    Nhưng phía Mỹ thì cho rằng: cuộc hành quân mới qua giai đoạn-3, khai thác chiến thắng và tiêu hủy kho-tàng đạn-dược vì không còn cơ hội nào bằng lúc nầy, phải tiêu hủy 100% Căn-cứ Hậu-cần 604 nầy. Đây là một sự xung đột trầm trọng và gây-cấn giữa TT Thiệu và Pentagon (Tướng Haig) thay vì quân lực VNCH phải chiến đấu đến cuối tháng April/71 theo đúng như kế hoặc của Hội Ðồng An Ninh (NSC) đã hợp, đi đến quyết-định ngày 18/1/1971. Mà sự thật kho tàng 604 chỉ còn một số ít chiến cụ vừa đủ cho Sư Ðoàn 2 Sao Vàng phục kích chờ đợi đễ cầm cự, còn phần lớn quân-cụ, đạn-dược đã được bãi đậu xe Molotova khả dụng Số-1 di chuyển xa vào Nam trước đó; Thế nên B-52/SAC chỉ được lệnh trải thảm trên Bãi-2 với trên 100 chiếc nằm ụ chờ sửa chữa mà thôi.

    Trong lúc các cánh quân khác dùng cả đường bộ lẫn trực thăng để lui quân, những chiến xa và xe cộ của LĐ1/TK chỉ có một đường duy nhất để trở về Việt Nam: đó là đường số 9. Dĩ nhiên tướng Giáp cứ in trí trong đầu qua Phạm Xuân Ẩn, quân VNCH sẽ tấn kích vào mục tiêu 604, Giáp cứ tưởng thân-phận VNCH cũng giống y chang là công cụ gián tiếp như Hà Nội, nên không điều quân kịp một lực hùng hậu để làm nút chốt chận đánh quân lực VNCH khi bất thần rút lui. Sau một thời gian, tướng Giáp mới phát hiện việc từ bỏ mục tiêu 604 của TT Thiệu, nên họ bôn tẩu về lại đường 9 để chờ phục kích. Cuộc lui quân của LĐ1/TK khá nhanh vì nhiều lý do, được mô tả là không được suông sẻ như ý muốn; Theo lời Đại Tá Battreal cũng phù hợp với sự theo dõi của tôi từ trên đầu quân bạn trên, gunship và C&C. Hoạt động của cánh quân nỗ lực chính này kém hiệu quả vì Đại Tá Luật nhận được nhiều chỉ thị khác nhau, đôi khi còn trái ngược từ SÐ/Dù cũng như từ BTL Hành Quân tại Hàm Nghi. Đại Tá Battreal viết trong phúc trình hậu hành quân như sau: Sự đụng độ quyết liệt giữa Tướng Haig 4 sao và TT Thiệu, 3 sao vào ngày tướng 4 sao giã-định, Haig qua Quân đoàn 24 “Lúc thì có lệnh phải tiến sâu hơn về phía Tchépone, khi thì lại bảo hãy cố thủ tại A Lưới, sự việc nầy lập lại những công điện “gà-mờ” với chủ đích từ tướng Haig, Pentagon hồi năm qua ở chiến trường Cambodia 1970. Có khi nhận được lệnh phải bung ra khỏi A Lưới càng xa càng tốt, trong khi lệnh khác lại không cho phép vượt qua tọa độ XYZ nào đó. Kết quả là hoang mang, ngộ nhận vì mọi nguyên tắc hành quân cũng như thống nhất quyền chỉ huy đều bị vi phạm theo ý đồ cố buông lỏng của Pentagon, các động thái nầy y chang hồi Mc Namara làm BTQP (permanent government không muốn quân Việt/Mỹ thống nhứt hành động mà phải e-dè, trì-trệ trong khi điều động hạnh quân) Ngoài ra còn có tin đồn rằng sau khi thấy quân VNCH bị vào cái bẫy ‘trận địa pháo, thiệt hại khá nặng, chính Tổng Thống Thiệu đã ra lệnh thâu hẹp vùng hành quân, chỉ vào sâu trong Hạ Lào tới Bản Đông là Aloui thay-vì Tchépone xa hơn chừng 20 cây số về hướng Tây và băng sông Xê-Pon xuống Cargo-604.

    Trên đường rút quân, vì sự hục hặc do Mỹ vi phạm điều lệ trò chơi chiến tranh, tướng Giáp phải trả giá quá nặng bằng sự tàn sát của B-52 trong đó đáng kể là xoá sổ nguyên một Sư-đoàn 2 Sao vàng đang cố thủ chờ phục kích quân VNCH dưới các công sự phòng thủ rất kiên cố. Đó là lý do chúng ta không nghe sư-đoàn 2 Sao Vàng đụng trận mà lại bị khơi khơi tiêu diệt, còn phía Hà Nội ngậm câm như Hến, vì thật ra Hà Nội chỉ là tay sai gián tiếp của Mỹ qua Mafia Lê Đức Thọ mà thôi.


    (Còn tiếp)
    Last edited by Phòng Trực; 11-09-2012, 10:26 PM.

    Comment

    • vinhtruong
      Super Member
      • Jun 2010
      • 1924

      #17
      Lam Sơn 719 và Liên Ðoàn 51 Tác Chiến

      “Mỹ đem con bỏ chợ” - Hậu quả sự ương ngạnh của TT Thiệu, tướng Haig ra lệnh quân Mỹ rút dần về Đồng Hà, Quảng Trị, L Đ/51/TC bây giờ bị dồn trách nhiệm về cho cuộc rút lui nầy bởi lẽ TTVT/213 yểm trợ cho Dù mà Dù đang tùng thiết bảo vệ cho Thiết giáp theo đúng đặc lệnh hành quân lui binh, hiện tại dưới đây là TĐ/7 và TĐ/8 Dù đang cùng Thiết giáp rút về biên giới Lao/Việt.

      B-52 đổi chiến thuật từ Rolling Thunder qua Linebacker, Mỹ chơi không đẹp, nói theo luật giang hồ là ăn gian lận, trong khi tướng Giáp biết điều nghiêm chỉnh áp dụng điều-lệ trò chơi ROE thì Mỹ vi phạm có lý do bởi số trực thăng bị bắn rơi quá-xá nhiều hơn dự đoán trong thiết kế, đưa đến cảnh phi-công Mỹ lạnh cẳng, phi vụ giảm xuống còn 25% (theo báo cáo bằng biên bản cho tướng Abrams) làm cho Phó tổng thống Trần Văn Hương phải sướt mướt trên vô tuyến truyền hình nói “Mỹ đem con bỏ chợ”.

      Một số trực thăng được biệt phái cho SĐ/Dù để bao vùng và phát hiện những ổ phục kích, Tướng Sutherland, TL/QĐ/XXIV của Hoa Kỳ muốn xử dụng thêm một Đại Đội chiến xa M-578 để kéo những xe thiết giáp bất khiển dụng hiện nằm tại A Lưới về. (Rõ ràng tướng Sutherland cũng không biết “ý-đồ chiến-lược” cũa Siêu chính phủ muốn bỏ thùng rác một mớ quân dụng cũ-xì ở bên Lào coi như đã kết toán sổ-sách (của dự án “Aid to Russia 1941-46 Plan” củ và renewed) gồm cả xe cộ, trực thăng, súng đạn cùng phía LX và TQ).

      Riêng Đại Tá Battreall thì hiểu biết hơn, nên trả lời rằng trong tình thế hiện tại, việc kéo theo những chiến xa bị hư hại này rất nguy hiểm, vì đoạn đường từ A Lưới về tới biên giới rất khó di chuyển, lại đầy những ổ phục kích cùa địch quân “hầu như không thể nào vượt qua nổi”. Nhưng sự thật mục-tiêu cuộc hành quân nầy là TIêU-HỦY người và vật liệu để chuẩn bị kết thúc cuộc chiến? Các nhân chứng cho biết Tướng Sutherland rất lấy làm ngạc nhiên vì đây là lần đầu tiên trong cuộc đời cầm quân, ông được nghe báo cáo về những khó khăn mới lạ này, dĩ nhiên là quá khả năng của Sutherland.

      Cuối cùng, mặc dầu có nhiều ý kiến khác biệt, khi rời A Lưới, Đại Tá Luật cũng đã quyết định kéo theo những chiến xa bị hư hỏng, trong khi Pentagon muốn bỏ lại như đống sắt vụn theo thiết kế tuần-tự rải rác trên đường lui binh, rồi đây trực thăng cũng không có cơ phận, cũng thành đống sắt vụn trong kế hoạch Việt Nam Hoá Chiến Tranh...

      Ngoài ra nếu phía Hà Nội cắt cử các cán bộ pháo-thủ vào phi trường không chính xác mà không tiêu hủy được nhiều phi cơ cũng phải bị hạ tầng công tác hay bị thay thế. Thí dụ, nếu số trực thăng không bị 122ly phá hủy khi pháo vào phi trường, còn lại quá nhiều, Mỹ phải tốn nhiều công-của đào tạo phi công và nhân viên kỹ thuật cho KQVN và thành lập nhiều phi đoàn quá tốn kém; KGB lại bị CIA bấm đít, phải gởi các pháo thủ hoả tiễn 122 ly tài giỏi để giúp Mỹ tiêu hủy càng nhiều càng tốt số trực thăng vì theo nguyên tắc làm ăn của WIB, chúng không thể đem về lại Mỹ, nếu có đáp xuống mẫu hạm cũng phải xô xuống biễn vì đã kết toán rồi. Sau cùng Mỹ vẫn phải tăng lên 28 phi-đoàn cho KQVN và huấn luyện tại VN cho đỡ tốn rồi sẽ trở thành đống sắt vụn vì thiếu cơ-phận theo dự mưu tính trước trong thiết đồ.

      Khi vừa cất cánh, các trực thăng tăng phái Mỹ/Việt để bao vùng và thám sát lại được điều động rời vùng để yểm trợ cho các toán quân Dù lúc đó cũng đang rút về biên giới. Vì vậy, các chiến xa phải di chuyển đơn độc trên đoạn đường quanh co là do sáng kiến quyết định của đại-tá Nguyễn Trọng Luật vì không còn sự chọn lựa nào khác. Toán chiến xa di chuyển trên đường quá chật hẹp mà không được yểm trợ cạnh sườn hay trực thăng võ trang VN quá it không đủ tiềm sát để phát hiện những ổ phục kích, vì chỉ có lực lượng Dù mới có quyền điều động Gunship VN.

      Sau khi tướng Haig cho lệnh rút quân Mỹ về Quảng Trị, TTVT bây giờ bị dồn trách nhiệm về cho cuộc rút lui nầy bởi lẽ TTVT/213 yểm trợ cho Dù mà Dù đang tùng thiết bảo vệ cho Thiết giáp theo đúng đặc lệnh hành quân.

      Vào khoảng 8 giờ sáng khi mới rời A Lưới được chừng 4 cây số, toán thiết giáp bị sa vào một ổ phục kích khi băng qua một con suối nhỏ. Cộng quân từ triền đồi cao bắn xuống dữ dội khiến chiến xa đi đầu bị bắn cháy, trong lúc 4 chiếc khác và 18 quân xa chở đồ tiếp liệu còn chưa qua được giòng suối. Vì đây là con đường độc đạo nên các xe khác theo sau không thể lách qua những chiếc xe bị hư hại để đi qua được. Với kinh nghiệm chiến trường và địa thế dưới đây, tôi đoán chắc rằng nơi nầy là vùng tử điạ cho thiết xa. Một số quân Dù tùng thiết nhảy xuống khỏi chiến xa để nghênh địch, trận phục kích kéo dài chừng 3 tiếng đồng hồ không có TTVT/213 yểm trợ vì phải về Khe Sanh tái võ trang hỏa lực và nhiên liệu.

      Khi TTVT trở lại bao vùng thì quân BV bị đẩy lui, tổng kết cho biết có 4 chiến xa M-41, 3 Thiết vận xa và toàn thể 18 xe chở đồ tiếp liệu bị hư hại bắt buộc phải bỏ lại. LĐ1/TK sau đó tiếp tục di chuyển về biên giới, nhưng vì địa thế quá hiểm trở rất khó di chuyển, gần 20 xe thiết giáp trước đây được kéo theo từ A Lưới đều bị bỏ lại để các chiến xa khiển dụng có thể di chuyển nhanh và chiến đấu hữu hiệu hơn. Sau đó, không thám cho biết một số chiến xa PT-76 và bộ binh địch tràn vào địa điểm phục kích, Cộng quân leo lên các chiến xa bị hư hại của QLVNCH dùng súng trên xe bắn lên máy bay. Cuối cùng, phi cơ được gọi đến để dội bom phá hủy hết các chiến xa bị hư hại này.

      Tuy vượt qua được tuyến phục kích đầu tiên, nhưng toán Thiết Giáp vẫn còn gặp rất nhiều trở ngại, đặc biệt những “lủng củng nội bộ” giữa toán quân Dù tùng thiết và Thiết Giáp đã có trước đây ở dưới chân Đồi-31, nay càng thêm trầm trọng. Có dư luận cho biết bên Thiết Giáp than phiền quân Dù không chịu đi sâu vào hai bên lộ trình để mở đường và phát hiện những ổ phục kích phía trước; Theo cuốn sách ‘Trận Hạ Lào” của tác giả Phạm Huấn Đại Tá Lê Quang Lưỡng, người chỉ huy LĐ 1/Dù sau này cho biết: “LĐ1/Dù được đặt dưới quyền chỉ huy của vị TL/CĐ1/ĐN: “Tôi luôn luôn muốn được thi hành những nhiệm vụ được giao phó” [câu nầy Dù muốn giao banh cho Thiết-kỵ, nhưng sau cùng TT Thiệu bênh Dù đành để cho ĐT Luật làm tỉnh trưởng, lập lại câu nói TT Diệm “Luật như chiếc chén Kiểu nếu đem ra xài mãi sẽ bị vỡ, nên phải để chưng trong tủ kiến” Nhưng rất tiếc Đại Tá Luật đã không ra lệnh, không có những quyết định và xử dụng quyền hạn cho phép của một vị Tư Lệnh đặc nhiệm khi chỉ huy một lực lượng quan trọng gồm những đơn vị Thiết Giáp và Nhảy Dù dưới quyền. Thiết tưởng, nếu những nhận xét này là chính xác, đã ít nhiều nói lên được một số những khó khăn của Đại Tá Luật trong lúc chỉ huy.

      Vì những khó khăn về địa thế, yểm trợ cũng như chỉ huy, phải mất tới 2 ngày những chiến xa và các TĐ/7 và T Đ/8 Dù [chúng tôi quen làm việc với 2 Đ.Đ Trinh sát Dù thuộc TĐ/8] tùng thiết mới từ A Lưới về được đến CCHL Alpha, một đoạn đường dài chừng 12 cây số vào ngày 20 tháng 3. Trong lúc đoàn thiết giáp lui về biên giới, các pháo đội đại bác cơ giới của Hoa Kỳ cũng triệt thoái khỏi Lao Bảo và Khe Sanh về Đông Hà nên phần lớn hỏa lực của không quân Hoa Kỳ được dùng để bảo vệ cho lực lượng riêng của họ, do đó LĐ1/TK lại gặp thêm trở ngại vì thiếu pháo và không yểm khi về gần tới biên giới. Lúc nầy một nhúm TTVT nhỏ nhoi của P Đ/213 phải bao vùng không thể liên tục được, tôi rất bức xúc lo-lắng nhiệm vụ yểm trợ sẽ không đủ tròn vẹn.

      Tuy nhiên, đoạn đường ngắn từ CCHL Alpha đến CCHL Bravo không xảy ra biến cố quan trọng nào; Nhưng khoảng 5 cây số còn lại là một quãng đường dài như vô tận đối với các chiến xa của LĐ 1/TK trong nhãn quan của tôi, vì đại lực lượng BV thuộc 70B đã bôn tập về ngay tuyến cuối của đoạn đường lui binh làm chốt chận để mong tiêu diệt đoàn chiến xa của quân bạn. Khi về gần đến biên giới, đoàn thiết giáp lại bị phục kích lần nữa; Đại Tá Luật lập tức yêu cầu không trợ Mỹ nhưng không còn nữa mà phải đốc thúc Dù chỉ-thị cho TTVT/213 yểm trợ tiếp cận trước mũi tiến công.

      May thay, còn lại Đại đội Gunship Cobra Mỹ thường gặp chúng tôi vào buổi ăn sáng tại Mess/Tentshelter. Chúng tôi đang trên đường về tái trang bị hoả lực, 6 chiếc gunships chia ra làm mỗi phi-đội 3 chiếc, [1st Army Aviation] đại úy phi công Farrell thuộc ĐĐ C/7/17, Lữ-đoàn-1 Không-kỵ Hoa Kỳ [đang nghỉ mệt chờ đến phiên trực, tạm ở trong lều tạm trú tại phi trường Khe Sanh; Farrell vội leo lên chiếc trực thăng võ trang Cobra cùng với một viên phi công khác. Chiếc Cobra thứ nhì do hai viên phi công Lancaster và Jim Manthel điều khiển. Hai chiếc trực thăng võ trang liền cất cánh lao vào vùng rừng núi Hạ Lào. Vừa qua khỏi biên giới không xa, họ đã nhìn thấy đoàn thiết giáp đang vị chận đứng tại một khúc đường cong về hướng Nam nhìn trên không giống hình móng ngựa; Bên trong khúc quanh là một khu rừng rậm rạp trông giống một chiếc túi; Đoạn đầu của đoàn thiết giáp đang bị chận đánh dữ dội ở khúc cong phía đông, phía sau gồm các chiến xa chỉ huy còn đang ở khúc cong phía tây bị rừng cây che khuất; Trong khi các chiến xa đi đầu còn đang lúng túng chưa khai hỏa được vì sợ bắn trúng chiến xa bạn ở khúc quanh bên kia, may mắn có một (trung tá Ngọc Dù?) sĩ quan chiến đoàn Dù theo thiết giáp dùng Anh ngữ hướng dẫn các trực thăng võ trang vào trận.

      Chúng tôi yểm trợ chiến xa, trên đường tiếp nối với Cobra bao vùng, địa thế nơi đây khác ở phiá bắc Aluối trên đường 92 bằng phẳng rừng cây cao. Có dãy đồi hình móng ngựa dễ phục kích làm cho quân bạn cảm thấy không an-toàn khi đoàn quân nóng lòng rút về khe Sanh; Trong khi đó, toán thiết giáp của LĐI/TK đã củng cố được đội hình và đang bắn trả dữ dội; Phi cơ phản lực được gọi tới để dội bom vào các vị trí phục kích của Cộng quân, nhưng không may một trái bom Napalm lại đánh lầm vào quân bạn khiến 12 người chết và gần 100 người khác bị thương! Cuối cùng, địch quân cũng bị đẩy lui, nhưng có thêm 6 xe thiết giáp bị cháy. Đại Tá Luật phải tập trung các xe còn lại để củng cố đội hình di chuyển. Cung từ của tù binh bị bắt trong trận phục kích cho biết còn có khoảng 2 Trung Đoàn địch đang phục kích sẵn ở phía trước chờ tiêu diệt đoàn xe. Đại Tá Luật vội thông báo tin này về BCH/SĐ Dù và yêu cầu cho quân mở đường [tôi nghĩ ĐT Luật ám ảnh 2 trung đoàn của SĐ 36/324B và 9/304 làm nút CHỐT CHẬN] Tướng Đống lập tức đáp ứng bằng cách điều động một đơn vị quân Dù khai thông đoạn đường còn lại để giữ an ninh lộ trình cho đoàn thiết giáp. Nhưng theo tài liệu Hoa Kỳ, không rõ vì sơ sót hay vì lý do nào khác, SĐ/Dù không thông báo cho biết lộ trình đã được giữ an ninh. Vì vậy, Đại Tá Luật đã ra lệnh cho toán thiết giáp rời đường số 9, băng rừng về hướng Tây Nam để tránh các ổ phục kích. Thật sự, nếu Đại Tá Luật cứ xử dụng đường số 9 như dự trù, có lẽ các chiến xa còn lại sẽ về tới phần đất Việt Nam an toàn hơn dưới sự yểm trợ hữu hiệu của TTVT/213 mà chính tôi đã hứa cố gắng hết mình để bảo vệ cho Dù với tướng Đống tại căn cứ Fuller, (ngày 6/2/71) như chúng tôi đã thể hiện sự dũng cảm tại đồn điền Chup, Cambodia 1970.

      Quyết định “băng rừng” quan trọng này của Đại Tá Luật không biết đúng hay sai, hoặc lỗi phải vế ai, nhưng theo tôi nghĩ là sai đã gây nhiều khó khăn và tổn thất cho đoàn thiết giáp. Di chuyển trên đường số 9 đã khó, khi xử dụng đường rừng lại càn gian-nan hơn, cây cối rậm rạp, đất đai ẩm thấp lại nhiều khe suối nên dễ bị lún. Hơn nữa, vì phải tự mở đường đi trong rừng, xe-cộ chẳng còn giữ được đội hình nên di chuyển rất hỗn loạn, nhiếu khi bị địch quân bắn cũng không phản pháo tiếp cứu được nhau. Trong khi đó, các đơn vị Dù tùng thiết vẫn tiếp tục rút theo trục lộ đường số 9 được an toàn dưới sự bao che của TTVT/213 vì chúng tôi có thể đoán trước và chận ngừng đoàn xe lại. Những chặn đường dể bị phục kích, như khúc cong, đoạn đường hẹp ẩn hiện giữa rừng già, băng ngang con suối cạn, hoặc đang lên dốc ở đoạn đường cong-quẹo, cạnh ngọn đồi trọc nhìn xuống… Trước cảnh hỗn độn như vậy, việc phối hợp yểm trợ với không quân và pháo binh hầu như không thể nào thực hiện được.


      (Còn tiếp)
      Last edited by Phòng Trực; 11-10-2012, 11:19 PM.

      Comment

      • vinhtruong
        Super Member
        • Jun 2010
        • 1924

        #18
        Tâm sự của tác-giả về L.S/719

        Lời tâm-sự của người viết về trận chiến Lam Sơn 719: Nhằm mục đích vinh danh các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và cũng để tìm hiểu những sự thực trong cuộc chiến tranh vừa qua tại Việt Nam. Thật là tàn nhẫn khi chúng ta quên lãng những đồng đội của mình đã hy sinh cho chính nghĩa tự do nơi vùng rừng núi thâm u Hạ Lào. Làm sao để họ sẽ không bị lãng quên và một trang sử hào hùng của QLVNCH tồn tại mãi với thời gian?

        Trước đây khá lâu, tôi đã viết loạt bài về cuộc hành quân Lam Sơn 719 xảy ra tại Hạ Lào hay Nam Lào vào năm 1971. Loạt bài này, đã có trong Đặc San Không Quân từ 2009-2014, chia thành khoảng 20 tiết mục đặt nặng về hoạt động của LĐ/51/TC nói riêng và quân lực VNCH nói chung, mỗi mục nói về một giai đoạn của chiến dịch quan trọng này. Vì tôi được vinh dự trực tiếp tham chiến tại Hạ Lào nên bài viết chỉ căn cứ vào các tài liệu thâu thập do chính mắt và sự hiểu biết của tôi, đương nhiên kém chính xác về bao vùng khắp chiến trận trải rộng và vô cùng sôi động nầy, phải chấp nhận có thiếu sót so với những điều mắt thấy tai nghe bao quát cuộc hành quân, tuy là nhân chứng có mặt tại chiến trận. Tuy nhiên, cũng rất có thể vì vậy mà bài tường thuật lại có phần khách quan và thú-vị hơn, vì đối với một cuộc hành quân lớn và phức tạp như trận Hạ Lào, một cá nhân dù có mặt tại trận địa cũng rất khó nắm vững được toàn bộ chi tiết các biến cố trên chiến trường.

        Về đơn-vị trực thăng vùng hoả tuyến, đối với những ai quan tâm đến 2 PHÐ đi không ai tìm xác rơi tại Hạ-Lào, Chúng ta chỉ nên cung cấp những tin tức chính xác để người nhà khỏi bị đau khổ thêm một lần nữa, vì ngoài sự mong chờ và hy vọng của họ, đồng thời chúng ta cũng thông cảm vì sự quên đi trên tấm bảng-đồng không có tên PHÐ của Phi-Ðoàn/233, tuy mới tân lập nhưng phi hành đoàn chiến đấu thật vô cùng anh dũng dưới sự ngạc nhiên của dân bay bạn thuộc Lữ-đoàn không kỵ của đại tá Cockerham, thuộc Sư-đoàn 101 Không vận.

        Nhưng tiếc thay, quá khứ ghi lại hoàn toàn sai: Dưới đây là câu chuyện mà tôi chắc chắn rằng không có chinh xác hay nói cách khác hoàn toàn sai sự thật, trái lại những gì như tôi đã minh xác nêu ra dưới đây với đầy đũ chứng cớ, tài liệu và thêm chi tiết hình ảnh trên Cánh-Thép, mục Lam Sơn 719 Tôi như người lính canh gác ngồi trên chòi canh kiểm soát bao vùng hành quân, bằng vị thế ngồi trên chiếc Gunship, bay theo chiến-thuật Biệt-Kích “Cạ-Càng lướt thoáng trên ngọn cây”.

        Về chuyện tấm bản đồ hành quân lọt vào tay đối phương và ngày tháng máy bay bị bắn rơi, ở phần ghi chú, ông Hà Mai Việt thêm, “Hai trực thăng của bộ tư lệnh Quân đoàn I bị phòng không BV bắn hạ và Hà Nội đã lấy được tấm bản đồ mật về cuộc hành quân LS 719 do đại tá trưởng Phòng 3 Hành quân Quân đoàn mang theo… Theo các sử gia HK ghi lại thì ngày 10-2-1971… Nhưng theo trung tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh chiến trường, kể với soạn giả [HMV] thì đó là ngày 9-2-1971, ngày thứ nhì hành quân vượt biên. Sau nhiều lần hỏi lại, trung tướng Lãm khẳng định: ngày 9-2 là đúng, chứ không phải ngày 10-2-1971.” (Sách đã dẫn, trg 87, tướng Lãm lầm-lẫn giữa ngày bị máy bay Mỹ thả lầm với ngày 2 trực thăng VN rơi, tôi xác quyết ngày các sử gia Hoa Kỳ cho là hoàn toàn đúng theo nhựt ký hành quân, vì ngày 10-2-1971 là ngày tang đau buồn của LĐ/51/TC).

        Tuy nhiên, người viết bài nầy căn cứ vào “Tờ Tường Trình Ủy Khúc” của Sư Đoàn 1 Không Quân, KBC 3198 (do chính tôi báo cáo từ nhựt ký điều hành của đơn vị đến đơn vị gốc Đà-Nẵng) ký ngày 11-5-1971, và vào “Tuyên Cáo Ước Đoán Biệt Tăm”(MIA) của Bộ Quốc Phòng, do Tướng Nguyễn Văn Vỹ ký ngày 17-7-1971. Cả hai tài liệu nầy Thời Báo đang có phó bản trong tay, đều ghi rõ phi hành đoàn do Thiếu úy Tạ Hòa làm Hoa-tiêu-chính đã bị bắn rơi ở tọa độ XD 565.520 vào trưa ngày 10-2-1971 trên lãnh thổ Lào, nhưng lại không có toạ độ của chiếc Huey/233 rơi kế đó không phát hoả.

        Vào ngày thứ Năm 3-4-2008, hài cốt tập thể của 11 người trên chuyến bay định mệnh nầy đã được mai táng chung tại Nhà Bảo tàng Báo chí (Newseum) ở thủ đô Washington DC. Vì Newseum chỉ dành riêng cho ký giả tử nạn khi làm nhiệm vụ, trong khi số hài cốt thu hồi về từ cao-điểm 2062 feet bất khả phân ly, nên danh sách Phi hành đoàn Việt Nam và tên tuổi Phóng viên quân đội Từ Vũ, cũng như của Đại tá Cao-Khắc-Nhật và Trung tá Phạm-Vi không được ghi bên trong nhà bảo tàng. Hiện ký giả Richard Pyle đang vận động để yêu cầu Nhà Bảo tàng cho phép đặt một tấm bảng-đồng trong sân bảo tàng để giúp khách tham quan biết rõ sự tích. Ngoài ra, thân nhân của cố Đại tá Cao Khắc Nhật từ vùng kinh tế mới Việt Nam đang được thân nhân cố Trung Tá Phạm Vi lập thủ tục để có mặt tại Newseum vào sáng 10-8-2010, để được chính ông Richard Pyle hướng dẫn vào thăm hài cốt người thân của mình lần đầu tiên, kể từ ngày máy bay lâm nạn đúng 39 năm rưỡi trước “Chỉ một nhúm đất mà thôi!” Việc nầy chỉ có một nhúm người Việt ngồi backseater trên Bronco OV-10 là nhân chứng và 8 NVPH chờ đợi Ðại úy Trần Duy Kỳ đơn thân độc mã bay vào lửa đạn để cứu đồng đội (T.U Ðạt và Thiếu-úy Phúc đang ngồi chờ cấp cứu trong Bunker CCHL Hồng Hà-2 là nhân chứng). Các phi-cơ bị bắn rớt tại Hạ Lào đều phải phi-tang bằng loại Bom đặc biệt vô tuyến điều khiển (laser-smart) do F.4 Panthom từ Thái Lan qua phá hủy dù rằng chiếc UH1 của T.U Ðạt cháy ngút-ngàn bằng cột khói đen lên cao ngất trời xanh, nhưng vẫn bị F-4 bay đến thả Bom phi tang dấu-vết theo như SOP.

        Ðó là lý do tại sao phái-đoàn tìm kiếm MIA phải đem một nhúm đất về làm lễ. Một điều lạ nữa là tấm thẻ-bài (do anh sirlonelyhung post ở trên Cánh Thép) cũng như máy chụp ảnh của phóng viên chiến trường Huet mà còn bị cháy queo thì xương-xõ đâu mà còn, thế nên chỉ vì lý do làm rạng rỡ các Phóng viên và PHĐ lâm nạn là mục tiêu chính-trị, cho nên họ pha-chế ra cho nghe có hữu-lý nhưng đối với dân bay chúng ta là một sự ngụy-tạo rất “dễ thương” xin miễn phê bình xa hơn mà nên thông cảm cho chính sách mưu đồ lừa dối của Hoa Kỳ trong cuộc chiến, các bạn nên đau lòng vì người đồng chủng của mình đã bị cuồng sát bằng Bom BLU 82AL và B-52, Mỹ đã bỏ điều lệ giao ước trò chơi chiến tranh ROE (Rule Of Engagement) từ Rolling Thunder qua Linebacker, chỉ vì TT Thiệu ương-ngạnh cho lệnh rút quân bỏ qua giai đoạn khai thác chiến trường (deployment) tàn sát quân BV mà phía Hà Nội cũng không dám tiết lộ con số tàn sát ghê gớm, dã man nhứt trong lịch sử chiến tranh, (xem Cánh Thép mục Lam Sơn 719, Reply Mar 31, 2010 08: 02; Mar 29 2010 23: 35 và 23: 36) Phi hành đoàn Gunship chúng tôi phải ngửi mùi xác chết như thế nào nhiều khi muốn xỉu, qua lời Tướng Abram nói về đại đội Hắc Báo: (Black Panther)

        “They come out of Laos saying the stench of dead bodies is so bad the soldiers can‘t stand it—they get sick … Chúng tôi bay cạ-càng trên ngọn cây hàng ngày như vậy, chắc ai là dân bay trực thăng cũng đồng cảm giác như chúng tôi muốn ói mửa như thế nào? (theo kinh nghiệm chỉ có duy nhứt dầu phọng mới khử được mùi sình trong khi giòi bọ có thể chui vào cổ áo nomex).

        Họ làm sao biết được số phi cơ khi tất cả chỉ còn là lớp tro tàn? Họ lấy trong sổ kỹ thuật của KQVN và số phi cơ, và vì họ không biết rõ ràng như chúng ta nên tóm gọn TPC/PÐ/213, Tạ Hoà và HTC/PĐ/ 233 bay team là Hải và Tín đâm đầu xuống cùng chung một tọa độ. Với con mắt chúng ta thì không thể chấp nhận cho việc nầy là hữu lý. Nhưng chúng ta đâu có quan trọng bằng hệ thống tuyên truyền mạnh nhứt của chính sách Mỹ hơn cả công cụ CIA, FBI? Nó là nhân tố chính để khai tử miền nam đúng theo kế sách “Axiom-1” - Vì ôm-ấp một tham vọng phải trả lại tính trung thực cho lịch-sử, tôi muốn xác định 100% cuộc hành quân nầy là chứng tích hoàn toàn trung thực hoà hợp với tác phẩm “Vietnam War”: The New Legion, tạm hoàn hảo của tôi để quân sữ đúc kết lại được nhiều đối chứng xác thực, nhưng than ôi! nhứt là còn sót lại chữ “Stationed Satellite” mà tôi biết nhiều anh em chưa hiểu, nhờ Trung tá Robert F Molinelli, Tiểu đoàn trưởng TÐ2/ Sư Ðoàn 101 Không Kỵ giải nghĩa nhưng ông đã chết vì bệnh ung thư sau khi lên được cấp tướng 2 sao. Như những ghi nhận dưới đây: “Sorry to inform you that Bob Molinelli passed away more than 25 years ago. More information is available at this link http://www.flyarmy.org/DAT/datM/G61709.HTM Thanks for your interest. Army Aviation Association of America. 755 Main Street Suite 4D Monroe, CT 06468-2830; Phone: (203) 268-245. Fax: (203) 268-5870

        Sau này, cùng với tài liệu giải mật (de-classified) các hồ sơ chiến tranh của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, một số tài liệu quan trọng liên quan tới cuộc hành quân Lam Sơn 719 như phúc trình hành quân, báo cáo hậu hành quân (After Action Reports) và các cuộc phỏng vấn nhân chứng (Oral Reports) v.v... được phổ biến rộng rãi nên những chi tiết được đầy đủ hơn. Ngoài ra, những hiệp hội Cựu Chiến Binh và các phi công trực thăng Hoa Kỳ tham chiến tại Hạ Lào cũng cung cấp nhiều tin tức mắt thấy tai nghe giá trị với tư cách nhân chứng. Một điều nữa khiến những sự thật về cuộc hành quân Lam Sơn 719 được thêm sáng tỏ vì một số các cựu quân nhân QLVNCH trực tiếp tham chiến đã bắt đầu viết hay kể lại về cuộc hành quân này.

        Mặc dầu vậy, cũng như những chi tiết khác về chiến tranh Việt Nam, phần lớn các tài liệu về cuộc hành quân Lam Sơn 719 hiện có đều do các phóng viên và "cố vấn" Hoa Kỳ cung cấp và nhứt là thế lực trong bóng tối muốn che lấp những việc làm bất lợi trong cuộc chiến nầy theo ý đồ phản chiến, nên đôi khi kém trung thực, bị bóp méo, nếu không muốn nói là thiếu thiện cảm và nhiều thành kiến bất lợi đối với QLVNCH. Ðiều này cũng dễ hiểu vì một khi Hoa Kỳ đã muốn giải kết để rút chân ra khỏi Việt Nam, họ cần tìm lý do để bào chữa cho sự thất bại của chính họ bằng cách đổ lỗi cho QLVNCH đã không chịu tự mình chiến đấu và lệ thuộc quá nhiều vào Hoa Kỳ.

        Hơn nữa, trong cuộc hành quân tại Hạ Lào, các đơn vị bộ chiến Hoa Kỳ, ngay cả các cố vấn, cũng không được trực tiếp tham chiến vì bị đạo luật Cooper-Church 1970, ngăn cấm nên chi tiết về các trận đánh trên đất Lào do người Mỹ cung cấp lại càng sai lạc và khó tin cậy; Cho đến nay, tôi đã nghiên cứu thu thập thêm được rất nhiều tài liệu, hình ảnh mới, hiếm có chưa từng được phổ biến liên quan đến cuộc hành quân Lam Sơn 719. Ngoài ra, tôi còn được dịp trực tiếp chuyện với một số cựu quân nhân QLVNCH đã từng có mặt tại Hạ Lào, cũng như các phi công trực thăng Hoa Kỳ tham chiến nên đã thâu thập được nhiều chi tiết mới cùng tài liệu "sống" như video tapes, audio tapes, bản đồ hành quân v.v... Có thể nói số lượng tài liệu hiện có nhiều hơn hồi trước gấp bội phần.

        Vì vậy, trên diển đàn Hội Quán Phi Dũng nầy, căn cứ vào những dữ kiện mới thu thập được, tôi đang viết lại bằng tiếng Anh về cuộc hành quân Lam Sơn 719 từ đầu để loạt bài được trung thực và gần với sự thật hơn. Tuy nhiên, tài liệu dù có nhiều đến đâu cũng không thể ghi chép chính xác được một biến cố quan trọng, phức tạp và có tầm ảnh hưởng sâu rộng như cuộc hành quân Lam Sơn 719 đã diễn ra cách đây bốn thập niên. Muốn cho ra một cuốn sách như là một tập tài liệu tương đối đầy đủ về trận Hạ Lào, thiết tưởng cần sự đồng lao cộng tác và góp sức của nhiều người quan tâm, để sự thật không bị mai một với thời gian.

        Thiết tưởng, muốn ghi chép trung thực về một biến cố quân sự xảy ra trong quá khứ, tôi cần căn cứ cả vào tài liệu lẫn lời tường thuật của các nhân chứng tham dự, phần tài liệu như lệnh hành quân, phóng đồ phối trí lực lượng, nhật ký và phúc trình hành quân v.v... sẽ cho chúng ta biết các chi tiết về chiến lược, chiến thuật, đơn vị tham chiến, kế hoạch điều quân và ngày giờ, địa điểm của các biến cố hay trận đụng độ. Nhưng đây phần lớn mới chỉ là các dự đoán, dữ kiện trên giấy tờ, nhiều khi khác xa với sự thực xảy ra trên trận địa, cũng vì lý do này, Thống Chế người Ðức Helmuth von Moltke đã nói: “Mọi kế hoạch hành quân trên giấy tờ đều trở thành vô dụng khi bắt đầu đụng độ với địch quân". Ngược lại, các nhân chứng tham dự tuy có mặt tại chiến địa, có thể biết nhiều "chuyện" không ghi trong các bản báo cáo hay phúc trình, nhưng chưa chắc còn nhớ được những diễn tiến nếu không được các tài liệu trên giấy tờ gợi ý, nhất là những biến cố phức tạp xảy ra đã lâu như trận Hạ Lào. Do đó, cả phần tài liệu tham khảo lẫn lời tường thuật của các nhân chứng đều cần thiết, quan trọng và bổ túc cho nhau liên hệ với thực tế.

        Vì những lý do trên, tuy không phải là một sử gia hay chiến lược gia, tôi cũng mạo muội viết về cuộc hành quân Lam Sơn 719 căn cứ vào tài liệu tức là tạm thời hoàn tất phần giấy tờ. Phần tường thuật "sống" vô cùng quan trọng của những nhân chứng rất mong sẽ được những bậc thức giả, những người "trong cuộc, biết chuyện", nhất là những quân nhân QLVNCH đã dự trận Hạ Lào sẽ tích cực đóng góp để những thiếu sót hay sai lạc có thể được bổ khuyết đính chính trước khi quá trễ. Ðược như vậy, hy vọng chúng ta sẽ có một tập tài liệu khả dĩ trung thực, đủ để thế hệ mai sau tham khảo khi muốn tìm hiểu về quá khứ hào hùng của ông cha mình. Ngoài ra, đây cũng có thể là một "ÐÀI TƯỞNG NIỆM” tinh thần khiến các bạn đồng đội đã anh dũng hy sinh tại vùng rừng núi thâm u Hạ Lào sẽ không bị lãng quên và một trang sử hào hùng của QLVNC tồn tại mãi với thời gian.


        (Còn tiếp)
        Last edited by Phòng Trực; 11-09-2012, 10:39 PM.

        Comment

        • vinhtruong
          Super Member
          • Jun 2010
          • 1924

          #19
          Lò sát sinh hậu cần 604

          Phía MACV lượng giá, Quân-lực VNCH tấn công vào Tchepone làm cho quân BV lúng túng phản ứng chậm chạp, vì lý do quân BV bị thiệt hại quá trầm trọng, trong khi Quân-lực VNCH tiến rất nhanh mà đại bộ phận lực-lượng BV đang kẹt tại đường 9 vào khoảng 5 cây số phía Tây/Nam Aluối, chuẩn bị đào hầm hố cho một cuộc phục kích xa luân chiến. Cuối cùng ông Robert-Thompson đến thăm bất thần cũng được MACV báo cáo: Phải đợi ít nhất 10 ngày nữa, quân BV mới có khả năng chỉnh đốn hàng-ngũ để phản công lại quân VNCH vì bị B-52 Arc Light cường tập bảo vệ chung quanh quân bạn 300 đến 500 thước, tôi tự cho rằng “Yểm trợ tiếp cận” (Air ground closed support)

          Quân BV vẫn tin-tưởng rằng: dù không đuổi-theo kịp nhưng quân VNCH phải chấp nhận một cuộc đụng độ sơ khởi bằng một Sư-đoàn rất thiện chiến đang chốt kiềng chận đứng bước tiến, và sẵn-sàng phục kích chiến đẫm máu. Đó là Sư-đoàn 2 Sao Vàng của BV đang án ngữ tại Căn-cứ Hậu-cần 604; Có lẽ cũng vài ngày nữa, khi nỗ lực chính của Quân-lực VNCH, từ Tchepone chuyển về hướng Nam bỏ ngang quốc lộ 9 để tiến về đường 914 thì một trận chiến khốc liệt nhất sẽ xảy ra tại đây. Trong khi đó thì Tổng lực Quân CSBV sẽ cố bôn-tập trên đường 92 tiến xuống phía Nam để sẽ giao tranh ác liệt với toàn lực của Quân-Lực VNCH; Chắc chắn cuộc giao tranh đẫm máu sẽ xảy ra. Và nơi đây mới đúng là mục tiêu cho hai đối chủ lực quân mạnh nhứt, phải tràn ngập đánh tiếp-cận giáp lá cà và nhân cơ hội thời điểm nầy, B-52 chiến thuật từ Utapao và B-52 chiến lược từ Guam sẽ tha hồ triệt tiêu hai đối lực nồng cốt nầy trong mục tiêu hoàn thành định kiến-1 (Axiom-1) Hai chủ lực quân nầy sẽ phải bị hủy diệt, nhưng đó lại là mục đích tiết kiệm xương máu để kết thúc chiến cuộc Việt Nam.

          Sự ra lệnh rút lui đột ngột của TT Thiệu làm Tướng Giáp bể kế hoạch tấn kích quân VNCH tại căn cứ hậu cần 604, nằm trên đường 924 xuôi theo dòng sông Xebiang Hiang , một lực lượng CSBV mạnh nhứt đã lỡ bôn tập về Ðông Nam Tchepone, nên đã mất đà muốn trở lại làm các chốt chận cấp Trung đoàn trên đường 9 cũng đã quá trễ, theo kế hoạch ước mong tiêu diệt hoàn toàn quân lực VNCH trên đường rút lui về Khe Sanh. Nhưng việc đó không xảy ra vì đã quá muộn màng mà không có phương tiện di động nhanh bằng trực thăng để tạo thành các chốt chận cấp Trung đoàn; Đồng thời không quân chiến thuật đả oanh tạc các xe molotova chở đạn dược cho lính BV trên đường 92B và 922 làm thiệt hại đáng kể các trung đoàn 29/324B và 36/308.

          Ngày 9/March, kể cả hai Tướng Viên và Lãm đề nghị với TT Thiệu nên chấm dứt cuộc hành quân phiêu lưu quá lâu nầy đi, càng sớm càng tốt. “Đã đến lúc chúng ta nên rút ra khỏi chỗ nầy” Để kết thúc, TT Thiệu quyết định cho lệnh rút khỏi Tchepone liền tức khắc, không có chần chờ, bởi lẽ đã hoàn thành mục tiêu “chiến-thuật” là đặt dấu chân lên trên mảnh đất đó (cho phóng viên báo chí nhảy xuống chụp hình tại Tchepone, nhưng không thấy phóng viên Phạm Xuân Ẩn xuống đó, vì Ẩn rất tinh ranh, ở Ấp-Bắc rất an toàn khi đáp xuống, còn ở Hạ Lào chỉ có bốn phóng viên ngoại quốc thiếu hiểu biết nên mới bị phòng không bắn tan xác trên không) TT Thiệu bèn ra lệnh cho Tướng Lãm: “Cho một đơn vị nhỏ của Sư Đoàn I… xuống đái một bãi rồi về!” ngay sau khi TT Thiệu phát hiện các LZ ở giai đoạn-2 đều đặt tên các tài tử Cinê: Sophia Lorren, Liz Taylor, Lolobrigida, và Bob-Hope… Câu nói trên đã làm đảo lộn kế hoạch hành quân của Tướng Alexander Haig và những gì tam-trùng Phạm Xuân Ẩn đã giải bày cho Tướng Giáp đều bị đảo ngược, làm điên đầu viên tham mưu trưởng Donald Rumsfeld. Nhưng TT Thiệu vẫn được yên lành, vì là thời điểm tình hình chính trị miền Nam cần phải được ổn-định để quân Mỹ tiếp-tục rút về nước theo lịch trình nhu cầu hành khách cho các chuyến bay đã booked trước [air passager] Tướng Abrams khi nghe được tin tức nầy, thì điên người lên, bèn đề nghị với TT Thiệu, thay vì không những không rút quân, mà phải tăng quân thêm Sư-đoàn 2 BB hiện đang trấn đóng tại Chu-Lai vào chiến trận.

          TT Thiệu liền từ chối, tuy nhiên, chỉ một điều kiện duy nhất là nếu phía Mỹ chỉ cần gởi vào tham chiến với một Sư-đoàn bên cạnh Quân-lực VNCH thì chúng tôi sẽ chiến đấu đến khi nào phía Mỹ cho là hoàn thành cuộc hành quân rồi cùng rút về; Dĩ nhiên cả hai ông Thiệu và Abrams đều hiểu những đề nghị đó sẽ bị cấm cản bởi hành pháp của Hoa-Kỳ đang cho lệnh tiếp tục rút quân, dù rằng “danh chưa chánh ngôn chưa thuận” theo như cái tổng đài Kissinger người truyền lệnh [nhưng với “Nhóm ăn sáng” WSAG mới là đầu não, sẽ bày ra quyết-định Hiệp định hoà binh Paris 1973 để hợp thức hóa “danh chánh ngôn thuận” việc rút lui sau] Tuy nhiên, Tướng Viên cũng tỏ bày cho Abrams biết bằng một ngôn từ chính-trị không là Tướng lãnh: “TT Thiệu không muốn phiêu lưu kéo dài cuộc chiến, với lý do đơn giản, vì các đơn vị tham chiến chưa chuẩn bị thế chiến-lược lâu dài tại một nơi xa lạ!”

          Suốt thời gian thăm viếng VN của Tướng Haig, ông không muốn tiết lộ những lủng củng trong nội bộ về cuộc hành quân qua biên giới của QLVNCH 1970 và sự đụng chạm trầm trọng giữa Nixon và Siêu Chánh Phủ. Tại Bộ-tư-lệnh tiền phương Quân Đoàn 24, ngày 18/March, Tướng Haig nói với Tướng Surtheland rằng: “Hoa Thịnh Đốn muốn thấy Quân-Lực VNCH phải tiếp tục ở lại tại Lào cho đến hết tháng April!” Ðối TT Thiệu câu nói “trật-thượng” nầy sẽ rơi vào bãi sa mạc.

          Đương nhiên việc rút quân VNCH về lại là chắc chắn Tướng Abrams không vui tý nào, bằng cách nầy hay cách khác Abrams cố thuyết phục TT Thiệu coi xem sao; Abrams nói: “Tôi rất tin-tưởng và càng cũng cố niềm tin hơn, Quân đội của tổng thống ở đó và cũng chỉ nơi đó sẽ đem lại cuộc chiến thắng cuối cùng cho cuộc chiến” và Abrams tiếp-tục. “Đây là dịp may bằng vàng, tuy có chiến đấu cam go… nhưng đừng nên bỏ lỡ dịp may đó!” Kẻ thù đã chịu chấp nhận cuộc chơi nầy, tại sao lại bỏ cuộc và đây là cuộc chiến sẽ ghi vào quân-sử (dĩ nhiên sẽ ghi vào Viện Văn-khố của Quốc-gia Hoa Kỳ như hình ảnh hồ sơ mật và cái tên cuộc hành quân ở trang đầu)
          Abrams tiếp: “Khi chúng ta cần dồn hết hỏa lực trên đầu địch, thì CSBV không thể nào tránh khỏi sự đau thương, bầm dập ngay; chứng cớ một phân nửa chiến xa đã bị hủy diệt, phân nửa súng phòng không đã bị tiêu hủy và 10 trong số 30 Tiểu đoàn đã bị loại ra khỏi vòng chiến (trong sự tiên liệu của trục Ma-Quỷ) Nhưng sự thiệt hại của phía VNCH cũng không ít: 1,118 đã đền nợ nước, 4,000 bị thương và 209 người bị ghi là mất tích cùng với vô số chiến cụ bị hủy diệt cũng như bị bắt buộc phải bỏ lại trên đoạn đường rút lui cho B-52 thiêu hủy.

          -Về phía phi hành đoàn Không-kỵ và Trực thăng VN: Riêng các đơn-vị phi hành của Liên Ðoàn 51 Tác Chiến chúng tôi có: 10 chết [PÐ-213: 4, PÐ-233: 4, PÐ-219: 2] 11 bị thương và 4 bị ghi là mất tích (MIA)
          -Không-kỵ Hoa-kỳ có: 215 người chết và 38 MIA người bị ghi là mất tích, 109 phi cơ bị bắn hạ nghe thấy mà chóng mặt (thể theo nguồn tin của MACV-SOG)

          Tướng Weyand, người phụ tá cho Abrams cũng dẫn giải rằng: Tại Tchepone, Sư-đoàn Không-kỵ đã có mặt trên vùng trời đó hơn cả chục ngày trước khi lực lượng VNCH bước chân tới, dĩ nhiên vì phòng không dầy đặt B.52 từ Căn-cứ Utapao phải can thiệp tích cực hủy diệt phòng không từ trên cao 25,000 bộ và những kho tiếp liệu mà Bộ binh VNCH chưa dẫm chân đến. Đó là những tin tức xác thực từ những phi vụ không thám điện tử U-2 cũng như do các vị chỉ huy diện địa ngoài mật trận. Thế nên để đi đến kết luận, Weyand tiếp: “Theo sự hiểu biết của tôi, cơ sở hậu cần của địch đã bị hủy diệt ở mức độ đáng kể, cũng như chúng ta đã thành công ở Cambodia năm 1970”.

          Ngày 18/March, Quân BắcViệt của Mặt trận B.70 tình cờ phát hiện quân lực VNCH lui binh trên con đường thất-thế độc-đạo thuộc đường 9 Nam Lào, thay vì tam-trùng Ẩn cho rằng đụng độ cuối cùng tại căn cứ hậu cần 604. Quân CSBV liền bôn-tập khẩn cấp từ các địa điểm áng-ngử phục kích quân lực VNCH ở quanh vùng phụ cận Căn cứ 604, trở lui về trục Ðông-Bắc, tạo thành những chốt kiềng cấp Trung-đoàn để chận quân lực VNCH lui về Khe Sanh. Một cuộc phục kích từng ‘Chốt’chận với cấp Trung-đoàn, nhỏ nhất là cấp Tiểu-đoàn, quyết tâm tiêu diệt trọn ổ, hay tiêu diệt từng cánh quân riêng rẽ; Đồng thời, Chính ủy các Sư-đoàn tuyên truyền trong bộ-đội chúng qua sự bảo đảm của tam-trùng Phạm Xuân Ẩn là: “Quân lính Miền Nam sẽ nổi loạn vì phải đội lên đầu hàng ngàn trái pháo đạn đủ loại, không nghe lời cấp chỉ huy và tự ý chạy trốn về biên giới. Và quân đội Miền Nam sẽ bị thất bại thảm hại” Võ Nguyên Giáp đã được Nhóm phản chiến của Jane Fonda và John F Kerry cho biết trước và ‘mớm’ cho Tướng Giáp dụ-khị tuyên bố rằng: Nếu quân lực VNCH chiếm được Tchepone, có nghĩa là Căn cứ 604, thì được xem như QLVNCH toàn thắng! Qua sự giảng-giải rõ ràng bằng tiếng Việt của Phạm Xuân Ẩn. Vì quân BV, Sư-đoàn-2 Sao vàng đã chuẩn bị sẵn sàng từ lâu, đào các hầm hố và công sự rất kiên cố để phục kích QLVNCH ngay tại đó, nhưng không ngờ TT Thiệu đã dám làm bể kế hoạch chiến lược của trục Ma-Quỷ nầy.

          Trong khi 42 ngày đêm chiến đấu, quân VNCH vẫn giữ vị thế thượng phong với 37 mạng người đổi lấy 245 theo thống kê toán học, còn 85 mạng đổi lấy 600. Phần nhiều bị hủy diệt bằng hỏa lực của phi cơ trút lên đầu CSBV hàng chục ngàn tấn Bom; Với 1,280 phi xuất B.52 chỉ trong vòng có 30 ngày; Nhưng Tướng Viên thì cho rằng, cuộc hành quân nầy, Không-kỵ Hoa-kỳ chưa đáp ứng yêu cầu, Ông cho đó là nguyên nhân thời tiết sương mù tan quá trễ và Trực thăng không cung ứng đủ nhu cầu tiếp đạn dù được 100% yễm trợ, trong khi Bộ-đội BV đã có sẳn tại chỗ trên 30,000 tấn đạn đủ loại pháo, và nhất là các xe nước tiếp tế cho các Đồi cao không đủ, binh lính đã chịu cảnh nóng và khát đang xảy ra triền miên bên Lào làm giao động tinh thần binh sỉ không ít, ngoài ra không đủ ấm trong đêm tối. Nhưng MACV cho rằng lời phàn nàn của Tướng Viên nếu đúng thì nên hình dung cả 600 chiếc UH.I và 55 chiếc Chinook, chả lẽ như thế không đủ sao, cho dù chỉ có 18 Tiểu-đoàn xung trận? Mà tính sơ sơ thì không đủ thật, thí dụ: Mỗi ngày 40 Chinooks khả dụng hành quân (aircrafts in commission) xem như được 80%. Mỗi chiếc Chinook chỉ móc được dưới bụng trên 2 tấn và chỉ dùng tất cả cho mốc đạn pháo binh không thôi cũng chưa đủ cung cấp cho 10 Pháo đội, mỗi ngày bay ít nhất từ 5 cho đến 8 tiếng. Như vậy về đạn súng lớn cũng chưa đủ, còn nói chi đến đạn súng nhỏ cho các đơn-vị tác chiến như nước uống và xăng cho Lữ-đoàn-1 Đặc-nhiệm. Rumsfeld tham mưu trưởng “Nhóm ăn sáng” [nhóm theo dỏi tin tức hàng giờ và chỉ có quyết định vào giờ chót, thí dụ như chiến dịch oanh tạc Hà Nội Linebacker-2 chẳng hạn, còn Lam Sơn 719 từ Rolling Thunder qua Linebacker để cân bằng lực lượng đôi bên mà Tướng Abrams đòi hỏi B-52 phải can thiệp bằng yểm trợ tiếp cận [Air Ground Closed support] để bảo vệ an toàn cho 3 lược đổ quân đến vùng phụ cận Tchepone gồm 800 chuyến] Chủ tâm của SCP là muốn hủy diệt quân lực VNCH tại vùng sơn khê kho tàng 604 nơi rừng thiêng núi thẳm nầy hầu khi kết liễu định kiến-1 được ít đổ máu hơn.

          Một vị Tướng Mỹ độc nhất xung trận trên bầu trời Tchepone, đó là Tướng Sid Berry, tư-lệnh phó SĐ/101 thì cảm nghĩ rằng: “Ngay đến giữa buổi trưa oi-ả ở vùng Hạ-Lào, mặt trời cũng phải nhường bước cho một lớp sương khói của súng đạn thật dầy như một lớp bụi bao quanh vũ-trụ che mắt mọi người kể cả các Phi công bay ngang trên đó để tìm-kiếm vị trí quân bạn. Tính đến ngày 24/March, Không quân Chiến thuật đã bay hơn 8,000 phi vụ oanh kích, hầu như mỗi ngày trung bình 150 phi xuất. Coi như mỗi 10 phút một phi vụ suốt trong 24/24 tiếng đồng hồ; Cứ mỗi đêm, suốt đêm, 3 chiếc Phi cơ điều không tiền tuyến, 3 chiếc thả trái sáng hỏa châu và 3 chiếc AC 130B yểm trợ hoả lực, luôn luôn túc trực bao vùng. một chiếc cho quân Dù, một chiếc cho BĐQ và một chiếc cho SĐ1BB; Ngay đến về Không-vận Chiến thuật, lúc cao-điểm, tại Phi trường Khe Sanh, cứ trung bình 8 phút là 1 vận tải cơ C.130 đáp xuống đổ tiếp liệu.

          Đại Tá Ray Battreall, người Sỉ-quan tham mưu nhiệt thành nhất của Quân-đoàn-1, Tiền Phương (Khe-Sanh) và không có cuộc họp nào tại đây mà ông cũng như Tướng Phú vắng mặt. Battreall có con mắt kinh nghiệm nhận xét: trong chiến cuộc nầy, quân đội cấp dưới phải nói trắng ra rằng, có kỷ luật và rất thiện chiến, duy cấp chỉ huy của họ thì thiếu khả năng lãnh đạo (Tướng lãnh và Tham mưu) Cuối cùng Battreall nhận xét về sự chạm trán và thử thách của Tướng Lãm và các Tướng dưới quyền ông, Tướng Lãm là Tướng về phe nhóm chính trị hơn là chiến đấu, Lãm chỉ huy 2 Sư-đoàn lại cách nhau bởi ngọn đèo Hải Vân. Bộ Tư Lệnh của Lãm lại chưa bao giờ thiết kế hành quân, điều động chiến đấu phối hợp với những Sư-đoàn và đơn vị biệt lập với nhau; Lãm lại theo các Tướng tiền nhiệm cứng ngắt hoá vấn đề lãnh đạo, chỉ huy thiếu linh hoạt, ứng xử không thích nghi với tình thế của chiến trận, nặng về lệnh lạc trên giấy tờ hơn thực tế ngoài mặt trận, không cách mạng hóa chiến thuật (up-date) trên đà mỗi ngày mỗi đổi mới. Tóm lại, Tướng Lãm trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 đã chứng tỏ thiếu khả năng hoàn thành mục tiêu do thượng cấp giao phó, thiếu phấn đấu linh hoạt trong thử thách. Thường xuyên núp ở thành phố lớn như Đà-Nẳng, chỉ để lại Bộ tham mưu nhẹ nơi Khe Sanh; Thế nên Tướng Lãm điều binh trên phương diện giấy tờ qua các công điện nhưng chẳng biết thực tế nơi chiến trận ra sao, nhiều khi không hiểu sự phối hợp giữa Quân-đoàn và các Đơn-vị trực thuộc như thế nào. Cuối cùng Lãm đã làm tiêu hao Lữ-đoàn-1 Thiết-kỵ để cho đại tá Nguyễn Trọng Luật tiến thối lưỡng-nan; khi phải tùng thiết với quân Dù, cả 2 quân chủng nầy cũng không hiểu nhiệm vụ mình phải làm những gì; Ai chỉ huy ai! Giữa một Tiểu đoàn Dù và một Chi-đoàn thiết vận xa, Ai chỉ huy ai; Hay ngược lại, 2 Tiểu-đoàn Dù với một Thiết-đoàn thì sao!? Như đã xảy ra gần dưới chân Đồi-31 ngày 22/2/71.

          Các Lữ-đoàn Dù và TQLC rất thiện chiến, không chê được chỗ nào, nhưng lại chưa có kinh nghiệm hành quân chung ở cấp Sư-đoàn. Thế nên vị Tư-lệnh Sư-đoàn và Bộ tham mưu hoàn toàn chưa bao giờ có kế hoạch chiến đấu cho toàn bộ phận một Sư-đoàn; Các Tướng lãnh khác thâm niên hơn, xem thường và không hợp tác với Lãm cũng là một điều không thể chê trách được. Cho nên cuộc hành quân nầy, Lãm xem như không có quân và trách nhiệm ở cạnh sườn phía Bắc của Quốc lộ 9, mà chỉ biết duy nhất có Sư-đoàn 1 BB trực thuộc, trung thành và cứ như thế mà tiến lên từ Đông sang Tây, miễn sao đến Tchepone chiếm xong mục tiêu là được.

          Vài ngày sau đó, Phi công của Lữ-đoàn Không-kỵ mô tả rằng, họ phải bay trong một vùng trời bảo lửa với đủ loại phòng không và từ chối không chịu dấn thân thêm nữa vào những chuyến bay trên bầu trời Tchepone. Tướng Lãm, sau một lúc đắn đo rồi phản ứng: “Không được, chúng ta có B.52, chúng ta phải tận dụng tối đa… xong chúng ta sẽ đổ quân. Đây là lệnh phải thi hành thôi” Trong khi các Phi công Mỹ cho biết, thấy nhiều cụm khói chung quanh các điểm cao, phụ họa với vài thước đất bụi mù mịt, chỉ dấu cho biết các ổ phòng không đang được che dấu dưới hầm sâu và chỉ đem ra bắn khi cần thiết. (Vì Hà-Nội đã chuẩn bị từ lâu qua cơ quan phản tình báo hay qua danh nghĩa Nhóm phản chiến John F Kerry đã tiết lộ phóng đồ hành quân cho Võ Nguyên Giáp) Chính mắt tôi đã trông thấy, một đoàn Trực thăng gồm 2 Gunship Cobra và 2 Chinook CH.47 đang vào vùng trên độ cao trước mặt tôi, và từ dưới cạnh sườn đồi, từng cụm khói toả ra chỉ dấu ‘đạn đi’. Liền tức khắc 2 chiếc Gunships vào đội hình nhào xuống ‘prep’vào vị trí vừa nổ súng; Thình lình một chiếc Chinook trúng đạn bốc khói, chiếc còn lại lên cao độ để sẳn sàng bay yểm trợ chiếc trúng đạn. Phi cơ quan sát OV.10 Bronco bay tới ngay tức khắc vần vũ tìm kiếm ổ phòng không. Chiếc Chinook trúng đạn không rớt ngay mà vẫn cố gắng bay thêm được vài dặm nữa rồi mới rớt trên một triền đồi, lăn nhiều vòng, rồi cuối cùng được một thế đất khá bằng phẳng chận lại.

          Tướng Lãm vẫn duy trì ý định dùng tối đa Hỏa lực B.52, Lãm muốn rằng khi Sư-đoàn 1, đứa con ruột của ông đổ xuống sẽ không bị một sự kháng cự nào của địch, và người cũng như vũ khí của địch phải được quét sạch. Đó là một sự dứt khoát mà Lãm cho rằng, một quyết định can đảm? Battreall tiếp: Người Mỹ chỉ bó tay mà không có một ý kiến nào? Dù sao cũng khen Tướng Lãm rất khôn ngoan ở điểm nầy, kết quả Tướng Abrams đành phải ra lệnh để bảo vệ Sư-đoàn Không-kỵ; Khi cuộc chiến xảy ra ác liệt ở quanh vùng phụ cận Tchepone. B.52 phải đổi chiến thuật từ “răn-đe” (interdiction) qua yểm trợ tiếp cận (air ground closed support) cho quân bạn và nhất là các vận tải cơ Gunship AC.130B, Spectra cùng phối hợp với B.52 chiến thuật nằm ngay tại Căn-cứ Utapao bay qua tiêu diệt một số lớn xe molotova đang chuyên chở số đạn pháo có sẳn từ điểm ‘nguội’ căn-cứ 611’ qua điểm ‘nóng’ cố làm giảm bớt cường độ phòng-không cổ điển của Bắc Việt.

          Trước khi xuất phát cuộc hành quân Lam Sơn 719, tháng January/1971, Kissinger đã hỏi CIA ước tính thật chính xác về khả năng quân đội Miền Nam khi tiến chiếm Tchepone, thì phản ứng của quân đội BV sẽ ra như thế nào? Dù rằng chúng ta sẽ yểm trợ tối đa cho họ, tuy nhiên quân đội ta sẽ không tham gia cuộc chiến! Sau đó, Tướng Bruce Palmer đánh giá bằng bút tích: “về điểm nầy, thật vô cùng chính xác, quân BV phản ứng vô cùng mãnh liệt!” Và cũng đúng vào ngày họp ở Paris, thứ 100 (21/January/1971).


          (Còn tiếp)
          Last edited by Phòng Trực; 11-12-2012, 10:29 AM.

          Comment

          • vinhtruong
            Super Member
            • Jun 2010
            • 1924

            #20
            Lam Sơn 719 và Liên Ðoàn 51 Tác Chiến

            Cuộc rút lui hỗn loạn: Theo sự hướng dẫn của tam-trùng Phạm Xuân Ẩn, tướng Giáp điều binh chia Binh đoàn 70B thành 18 trung đoàn cơ-động chưa kề 2 trung đoàn biệt lập 27 và 278, vây quanh phục kích Cứ điểm hậu cần 604, trong vị thế xa luân chiến. Trọng điểm xảy ra cuộc đụng độ đẫm máu bên tả ngạn dòng sông Xebiang Hiang; Nhưng bất thình lình TT Thiệu ra lệnh hành quân lui binh về lại biên giới làm đảo lộn thế trận đồ. Trên C&C tôi cùng tham mưu tiền phương Dù liên lạc với LĐ/1/ĐN qua trung tá Dung thuyết phục chuẩn bị cuộc rút lui càng nhanh càng bớt đi sự đụng độ với các Chốt chận cấp trung đoàn sẽ gây thiệt hại không kể siết cho quân bạn. Tuy nhiên theo sự suy đoán của tham mưu hỗn hợp chúng tôi trên không nhìn xuống. Khi tướng Giáp phát hiện QLVNCH rút lui bất thình lình, Giáp sẽ bôn tập điều quân làm nút chận trên đường-9 vào đoạn cuối gần biên giới Lào/Việt; Quân lực VNCH sẽ phải quyết tử với các trung đoàn thuộc hai sư đoàn 308 và 324B, cùng chiến xa và thiết xa sẽ chuyển quân bôn tập từ đường 92B, đường 1032B nhập cùng một số chiến xa cuối đường 924 đã vừa áp đảo CCHL Hồng Hà-2 làm mũi tấn kích bắc nam trên tuyến đường 9 gấn biên giới.

            Ngày 20/March, Không yểm Hoa Kỳ tích cực cùng với trực thăng yểm trợ tối đa cho quân bạn cà ngàn phi vụ, trong đó phải kể 11 phi xuất B-52 Arc Light và 27 phi xuất không-hải quân chiến thuật từ Đệ Thất Hạm Đội thả gần 1000 tấn Bom yểm trợ. Vào khoảng trưa, Tiểu đoàn 3/2/SĐ1 được trực thăng vận bóc khỏi Căn Cứ phía tây Sophia về lại Khe Sanh trên 40 Hueys thì có 28 bị trúng đạn; Vì thế cho nên cuộc bốc quân kế tiếp cho Tiểu đoàn 4/2 bị hủy bỏ khi đang chuẩn bị đáp thì chiếc đầu tiên bị nổ tung trên không khi gần chạm xuống đất.

            Buổi chiều chạng vạng buông xuống, quân BV không dám bắn lên phi cơ sợ bị lộ, thừa thế 42 khẩu pháo của Mỹ ở Khe Sanh bắn tiền oanh kích bãi đáp, phụ hoạ cùng pháo binh CCHL Alpha, trong lúc trực thăng vào bốc Tiểu đoàn-2 và TĐ-7 Dù về lại Khe Sanh. Chương trình dự trù chọn ngày mai 21/March sẽ bốc Tiểu đoàn-2 và 4/2/SĐ1 cùng với ban tham mưu Trung Đoàn-2 và Pháo đội cùng Tiểu đoàn-1 và 3/SĐ1BB từ CCHL Delta-1, tuy nhiên họ phải tìm một LZ nào tương đối an toàn để cho trực thăng bóc về theo lệnh tướng Phú buộc vị Trung đoàn trưởng TĐ-2 trách nhiệm chọn bãi đáp.

            Đồng thời trong khi đó Lữ đoàn 1 Đặc nhiệm được tăng cường tùng thiết bởi Tiểu đoàn-7 và 8 Dù phải di chuyển từ vùng trách nhiệm ranh giới Alpha bằng cách di chuyển suốt đêm dưới sự yểm trợ của Pháo đội Alpha và Bravo trên trục đường 9. Đến nửa đêm thì bị quân BV thuộc một thành phần của Trung-đoàn 36/SĐ/308 nhưng lại bị Tiểu đoàn-8 Dù oanh liệt phản kích gây thiệt hại nhờ Thiết đoàn 11 bắn xuyên hông buộc chúng chém-vè vô rừng sâu, trong khi trên không AC-130B yểm trợ vô cùng ngoạn mục và chính xác.

            Tại CCHL Delta, Lữ đoàn 147 TQLC cùng ngày, toán đặc công BV đào hầm xâm nhập để phá hầm đạn nhỏ dự trữ của Lữ đoàn dành cho suốt cuộc hành quân, gây ra nhiều khó khăn phòng thủ của TQLC.

            Ngày 21 March, trong đêm tối xuất hiện một trung đoàn BV chốt chận ở phía tây nơi Tiểu đoàn-2 và 4/2/SĐ1 chỉ cách 2 cây số ở hướng đông CCHL Sophia/đông, Trung đoàn 36/BV nầy quyết tâm tiểu diệt 2 Tiểu đoàn 2 và 4/2/SĐ1 nhưng bị AC-130B tàn sát bằng đại bác đủ loại bắn bằng hồng ngoại tuyến phối hợp cùng 2 tiểu đoàn bạn chống trả quyết liệt. Kết quả vào buổi sáng đếm được: 245 chết, đếm được 52 B-40 và 41, 7 súng đại liên, 7 súng cối từ 60, 82, 120 ly, 8 súng phun lữa, 9 12.7 ly và 65 AK-47. Phía SĐ/1 37 chết, 58 bị thương và 15 mất tích; Chiến thắng nầy làm bãi đáp được bảo đãm an toàn, nên tất cả đại bộ phận của SĐ-1 được trực thăng bốc về Khe Sanh an toàn trước khi mặt trời lặn. Đồng thời tại CCHL Alpha, BCH của Lữ đoàn-1 Dù, Tiểu đoàn-5 và Pháo đội Dù được bóc về phía nam, bỏ lại Căn cứ Alpha và Delta-1 như hình thức cuốn chiếu tại 5 cây số gần biên giới Lào/Việt.

            Coi như tình hình SĐ-1 và SĐ Dù được an-bài giải quyết, riêng khu vực TQLC đảm nhiệm thì chưa mấy sáng sủa vì sự áp lực nặng nề của 2 trung đoàn BV/70B. Trung đoàn 803 và trung đoàn 29/324B/70B đang quyết tâm tiêu diệt CCHL Delta; Chúng phát khởi tấn công vào tờ mờ sáng ngày 21/March bằng đại bác cầu vòng và đủ loại cỡ súng cối kể cả súng sơn pháo, súng gỡ ra từ chiến xa 14,5 ly trực xạ vào quân bạn vô cùng hiệu quả. Lúc nầy phải kể 42 khẩu pháo của Mỹ nhứt là Long Tom 175 ly, từ Khe Sanh yểm trợ từng tràng chùm đạn đạo bao phủ trên đầu 2 trung đoàn BV, cùng lúc 13 phi xuất hải quân chiến thuật, thêm vào Arc Light B-52 standby được điều động đến quyết bảo vệ TQLC (không ảnh báo cáo chỉ riêng B-52 đã loại ra khỏi vòng chiến đấu hơn một tiểu đoàn BV) Dù được yểm trợ hiệu quả như thế, TQLC phải bị hy sinh 85 chết, 238 bị thương. Sau đó Lữ đoàn 147 và Tiểu đoàn-7 TQLC không còn đạn dược để chiến đấu, 7 chiếc hueys của Mỹ và 4 hueys của LĐ/51/TC cố gắng chui vào lửa đạn để tiếp tế đạn nhỏ, nước uống đồng thời tản thương. Nhưng cuối cuộc hành quân yểm trợ ngắn-ngủi cho Lữ đoàn 147, Hoa Kỳ đã bị bắn rớt 8 hueys còn KQVN có 2 hueys trúng đạn lết về tới Khe Sanh an toàn...

            Điều rất lạ, phía BV tìm cách phá hoại sự liên lạc vô tuyến giữa quân bạn, luôn luôn bị đứt khoảng không nghe qua âm thanh xen vào phá vỡ; Vài tần số không liên lạc được, chứng tỏ phía Liên Xô đang phát triển và thí nghiệm về khoa học vô tuyến dùng chiến trường để xác định khả năng ứng dụng, nhiều lúc họ chen vào phá bĩnh bằng những giọng nhà quê, câu chửi thế tục tĩu quấy rối không cho quân bạn liên lạc, buộc bên phía ta chửi lại ôm xòm trong vô tuyến. Trong khi đó thì phía BV lại quyết tâm tấn kích tiêu diệt để phục hận vì bị phi pháo tàn sát chết không biết bao nhiêu mà kể. Để trả đũa các vô tuyến viên của ta cũng phá vào tần số khi chúng toan tấn kích vào TQLC, thật là lạ-lùng vô tuyên viên TQLC nghe được tiếng nữ ra lệnh tấn kích vào quân ta.

            Tuy nhiên bên phía ta không có ám số mật lệnh truyền tin mà thường chỉ che dấu các địa điểm và danh hiệu đơn vi, vấn đề nầy phải khen bên BV có kỹ cương cơ mật trong vấn đề vô tuyến, như thí dụ phía VNCH dám chửi tổng thống mà phía BV không dám xúc phạm đến cụ Hồ.

            Để trả đũa Hoa Kỳ vi phạm luật trò chơi chiến tranh (Rule Of Engagement) dùng B-52 tàn sát quân BV bằng đổi chiến dịch dội Bom từ Rolling Thunder qua Linebacker, có nghĩa chỉ dội Bom theo chiến dịch “Tiếng Sấm Rền” nghe vui tai chớ không được tàn sát. Hậu quả: Sáng sớm hôm sau, ngày 21/March, Căn Cứ nhiên liệu Vandergrift bị đặc công BV đột nhập phá hủy 10.000 gallons JP-4 để trả đũa Mỹ vi phạm ROE.

            Dọc theo đường-9, gần CCHL Bravo, Thiết đoàn 11 và Tiểu đoàn-8 Dù bị một lực lượng quân đoàn 70B quyết tử chiến, gây nên sự thiệt hại cho quân bạn gần 100 chết, phá hủy 4 chiến xa M-41 và 13 M-113. Chiến trận nầy làm hư hại một số lớn xe cộ gây trở ngại trong việc lui quân về Khe Sanh. Trong suốt ngày nay, không quân chiến thuật và chiến lược phải ra sức đạt mức yểm trợ cao hơn dự trù cho cuộc rút lui của các đại bộ phận, tiêu diệt một số lớn phòng không 37 ly, 18 chiến xa T-54 và PT-76 toan nuốt chửng quân bạn đang rút lui.

            Suốt đêm 21/ March, Lữ đoàn 1 đặc nhiệm có Tiểu đoàn-1 và 8 Dù tùng thiết, di chuyển về biên giới hướng đông xuyên qua rừng già rồi xuống dốc toan qua con sông cạn Xepon. Dưới sự yểm trợ của trực thăng võ trang PĐ-213, Đoàn xa hơn 100 chiếc dong rủi trên đường-9 không bị một sự kháng cự đáng kể nào dưới sự bắn rockets dò dẫm trước 100 thước vào những điểm khả nghi bị phục kích: như bụi Tre gai, các bụi rậm, các nơi có vết đất đỏ còn tươi để đào hầm phục kích, dọc theo cạnh sườn đồi trọc từ trên bắn xuống…bằng cặp mắt kinh nghiệm chiến trường của các xạ thủ phần nhiều từ bộ binh sang Không quân. Đoàn quân xa thận trọng tiếp tục di chuyển chậm lại rồi mau dần theo sự hướng dẫn của gunship/213 cùng với trung tá Ngọc chiến đoàn Dù, cho đến trưa hôm sau sẽ đến bờ sông; Khi đến một cây số đông/nam bờ sông đoàn xe dừng lại mở rộng vòng đai phòng thủ.

            Toán tham mưu tiền phương Dù bay trên C&C tìm phương cách và địa điểm thuận lợi để vượt sông Xêpon. Ai biết được sự xuất hiện bất thần của đại tá Jame Vaught từ Pentagon là cứu tinh cho cuộc hành quân lui binh vượt qua nhiều khó khăn không thể vượt qua được, nhưng khi Vaught lên tướng và chuẩn tướng Phạm Văn Phú từ Tư lệnh SĐ1/BB lên Tư lệnh QĐ-2 thì khốn nạn thay tướng Phú hỏi ý kiến về cuộc rút lui trên quốc lộ-7 thì tướng Vaught giữ im lặng tuyệt đối không cho một ý kiến nào dù chỉ có đôi bạn Việt/Mỹ ở trong văn phòng? Hậu quả ra sao thì chúng ta đều biết!

            Để rồi toán tham mưu tiền phương Dù tìm ra được địa điểm cạn của sông Xepon băng qua sông cách phía nam đường-9 một cây số, Tướng Đống cùng đại tá Vaught cho lệnh vượt sông càng sớm càng tốt. Thế là SĐ/101 Không-vận chuẩn bị cho Trực thăng CH-54 Skycrane móc ngay Bulldozers D-2 và thiết bị đào xới cho đoàn xe băng sông cách một cây số phía nam. Trong mùa Xuân con sông tuy cạn hơn, nhưng nước chảy rất nhanh-siết còn bờ sông thì dựng đứng sâu hoắc, có nơi cao tới mười thước thẳng đứng. Thế nên tìm một nơi để vượt qua vô cùng khó khăn và mất quá nhiều thì giờ, trong khi đó tiểu-đoàn-9 Dù vừa vượt sông để giữ an ninh bên bờ sông phía đông bên kia. Đến xế trưa, hai chiếc Bulldozers D-2 và trang cụ nặng được trực thăng Skycrane CH-54 móc thả xuống bờ sông phía tây bên nầy và ra tay xúc tiến ngay. Cuối cùng đoàn quân xa vượt sông trong đêm tối.

            Sáng sớm hôm sau, quan sát cơ FAC/Bronco/OV/10 phát hiện 20 PT-76 và T-34 thuộc trung đoàn 202 Chiến xa đang từ hướng tây đường-9 khoảng 8 cây số đuổi theo sau lưng. FAC đang gọi không/hải quân chiến thuật đến can thiệp. Chiếc T-54 dẩn đầu đã bị trúng Bom pass đầu tiên nổ và phát hoả. Phòng không 37ly của BV trên sườn đồi bắn trà quyết liệt đã bắn rơi một Super Sabre F-100 viên phi công nhảy dù và được cứu thoát, thêm hai phi tuần được điều động tới phá hủy thêm vài chiến xa đi giữa; Liền sau đó 42 khẩu trọng pháo dồn dập hủy diệt đoàn chiến xa nầy bị loại ra khỏi vòng chiến.

            Nhưng tôi không biết tại sao đại tá Luật lại bỏ đường 9 để băng rừng trong khi chỉ còn lại có 5 cây số ngắn ngủi từ đây cho tới biên giới Lào/Việt. Đại tá Luật không thế nào giảng giải được một cách hợp lý trong những giảng đường đại học quân sự về lý thuyết hợp đồng binh chủng trong việc phối hợp hành quân liên quân mà tôi đã có hứa với tướng Đống tại căn cứ Fuller trước khi khai diễn cuộc hành quân, là cố gắng yểm trợ hỏa lực cùng chết sống với Dù.

            Đại tá Luật bị ám ảnh vì cung từ của tù binh BV, và nghi ngờ trên dọc đường-9 phải chịu một thảm kịch bị các trung đoàn BV chốt chận phục kích và trải qua một bãi Mìn kéo dài trên 5 cây số đến biên giới? Vì binh pháp nhà trường dạy rằng cấm ngặt chiến xa tiến thối trên độc đạo là tử lộ!

            Ngày 22 tháng 3, Nhờ có Đại tá James Vaught từ Pentagon mới đến với danh nghĩa cố vấn cho Dù, nên mới có trực thăng đang phải chuyển nhiều phuy xăng qua biên giới để tiếp thế cho đoàn thiết giáp; Một chiếc xe ủi đất D-2 nhỏ cũng được trực thăng Skycrane CH-54 thả xuống để dọn đường tại khu bờ sông Xê-pon nơi đoàn chiến xa dự trù băng qua. Sự kiện tận tình giúp đở nầy đã làm cho Chuẩn tướng Phạm Văn Phú đặt hết niềm tin nơi đại tá Vaught, nhưng đến khi sắp mất miền nam, thì tướng Vaught qua lại gặp Thiếu tướng Phú hỏi han ý kiến về rút quân đường 7 thì tướng Vaught không tiết lộ một tí gì về hậu quả cuộc rút lui, dù rằng trong phòng chỉ có hai người bạn mà thôi; thế mới đau đầu cho tình nghĩa đồng minh Mỹ/Việt.

            Ngày 23/March, lúc 8 giờ sáng, Trực thăng vỏ trang 213 buộc vào thử thách thế trận mới trên đường rút lui: Vào khoảng 8 giờ sáng khi mới rời A Lưới được chừng 4 cây số, toán thiết giáp bị sa vào một ổ phục kích khi băng qua môt con suối nhỏ. Cộng quân từ triền núi cao bắn xuống dữ dội khiến chiến xa đi đầu bị bắn cháy, trong lúc 4 chiếc khác và 18 GMC chở đồ tiếp liệu còn chưa qua được giòng suối. Vì đây là con đường độc đạo nên các xe khác theo sau không thể lách qua những chiếc xe bị hư hại để đi qua được, lợi dụng thế đất nầy làm nơi phục kích. Một số quân Dù tùng thiết nhảy xuống khỏi chiến xa để nghênh địch, trận phục kích kéo dài chừng 3 tiếng đồng hồ; Khi địch quân bị đẩy lui, tổng kết cho biết có 4 chiến xa M-41, 3 M-113 và toàn thể 18 GMC chở đồ tiếp liệu bị hư hại nặng bắt buộc phải bỏ lại. LĐ1/TK sau đó tiếp tục di chuyển về biên giới, nhưng vì địa thế quá hiểm trở rất khó di chuyển, gần 20 xe thiết giáp trước đây được kéo theo từ A Lưới đều bị bỏ lại để các chiến xa khiển dụng có thể di chuyển nhanh và chiến đấu hữu hiệu hơn; Sau đó, OV-10 không thám cho biết một số chiến xa PT-76 và bộ binh địch tràn vào địa điểm phục kích quân BV leo lên các chiến xa bị hư hại của QLVNCH ở phía trước, dùng súng trên xe bắn lên máy bay; cuối cùng, phi cơ được gọi đến để dội bom phá hủy hết các chiến xa bị hư hại này.

            Trực thăng võ trang tiếp tục hộ tống đoàn xe trong tầm súng đại pháo 130, 152ly của BV thỉnh thoảng chụp xuống. Tuy vượt qua được tuyến phục kích đầu tiên, nhưng toán Thiết Giáp vẫn còn gặp rất nhiều trở ngại, đặc biệt những “lủng củng nội bộ” giữa toán quân Dù tùng thiết và Thiết Giáp đã có trước đây nơi Ðồi-31, giờ nầy càng thêm trầm trọng. Có dư luận cho biềt bên Thiết Giáp than phiền quân Dù không chịu đi sâu vào hai bên lộ trình để mở đường và phát hiện những ổ phục kích phía trước; Sự lủng củng nầy theo sư nhận xét của tôi là Ðại-tá Lưỡng giao banh cho Ðại tá Luật bằng câu “Tôi luôn luôn muốn được thi hành những nhiệm vụ được giao phó” Nhưng rất tiếc Đại Tá Luật đã không ra lệnh, không có những quyết định và xử dụng quyền hạn như một vị Tư Lệnh khi chỉ huy một lực lượng quan trọng gồm những đơn vị Thiết Giáp và Nhảy Dù dưới quyền” Thiết tưởng, nếu những nhận xét này là chính xác, đã ít nhiều nói lên được một số những khó khăn của Đại Tá Luật trong lúc chỉ huy. Kết quả, Ðại tá Luật được TT Thiệu đem về giao chức hành chánh…xem như Ðại-tá Luật là một chén kiểu quý giá không nên xài mãi có ngày sẽ bị bể mà chỉ nên để chưng-diện trong tủ kín cho mọi người chiêm ngưỡng.

            Sáng ngày 23/ March tại hậu cứ Khe Sanh vẫn đang truy quét đặc công BV đã đột nhập trong đêm, một bộ phận Lữ đoàn-1 Đặc nhiệm đang vượt qua sông Xepon mong mau mau xáp nhập với Lữ đoàn-1 Cơ giới thuộc SĐ5/Hoa Kỳ. Đoàn xe kéo theo nhau lê thê về để lại 98 chiếc trong đó gồm 22 chiến xa M-41 và 54 thiết vận xa M-113. Không ảnh chụp được cho thấy Lữ đoàn-1 ĐN để lại rải rác trên đường rút lui gồm 21 chiến xa, 26 M-113, 13 Bulldozers, 2 ủi đất, 15 xe nhà ngủ đêm và nên FAC điều động các phi tuần chiến thuật đến phá hủy vì không muốn quân BV xử dụng. Trong đó quân BV trả đũa bằng 4 đợt pháo kích bằng hoả tiển 122 ly suốt đêm qua đã gây thiệt hại đáng kể về phía Hoa Kỳ.

            Trong khi nơi khác, gần biên giới CCHL Delta, cuộc thả dù tiếp tế bằng C-130 bị lạc vào tay địch với đạn dược loại nhỏ rất cần cho Lữ-đoàn 147 TQLC, vì đại bộ gần quân đoàn 70B, khoảng 3000 quân BV thuộc trung đoàn 29 và 803 đang tấn công quyết tử xung quanh vòng đai phòng thủ của TQLC. Đến xế trưa chúng quyết tử tấn công tiếp cận để tránh B-52; Lần nầy như mảnh hổ chúng phóng lửa vào TQLC bằng 10 thiết xa phun lửa; Lữ đoàn 147 chống trả quyết liệt tiêu diệt ngay hai chiếc đầu tiên toan vượt vòng đai, chiếc thứ ba nổ tung bởi mìn chống chiến xa của quân bạn gài sẵn và chiếc thứ tư bị F-100 phá hủy bằng bom snack eye. Sáu chiếc còn lại điên cuồng xung phong vào BCH, Dĩ nhiên BCH Lữ đoàn phải thoát ra ngoài để chống cự với sắt thép.

            Liền tức thì đội hình phòng thủ của TQLC phải dàn ra: Tiểu đoàn-2 và 4 phải bắn yểm trợ cho Tiểu đoàn-7 mở đường máu đâm thủng quân địch để vượt thoát xa lánh mục tiêu bị đâm thủng, và trên đường tiến sát về hướng CCHL Hotel do Lữ đoàn 258 trấn giữ. Viên chỉ huy BV cũng khá tinh ranh đã cho một đơn vị thiện chiến thuộc trung đoàn 29 nút chận đường rút lui của Lữ đoàn 147 về CCHL Hotel.

            Quả nhiên, T-54 và bộ binh thuộc trung đoàn 29 đã đào công sự sẵn sàng quyết tử với TQLC, vào sáng sớm hôm sau cuộc đụng trận đẫm máu xảy ra: Dù rằng các vị tiểu đoàn trưởng 147/TQLC đều bị thương, nhưng cuối cùng vẫn sáng suốt đưa con em về đến Lữ đoàn 258/TQLC, CCHL Hotel. Rất cảm động về tình đồng đội, họ dìu nhau cho đến điểm an toàn Hotel với số bị thương khá nhiều, gần 230 thương binh được khẩn cấp tải thương về Khe Sanh trước khi mặt trời lặn. Trực thăng Mỹ đã hoàn tất bốc hết Lữ đoàn 147 về Hàm Nghi, gồm TĐ-2, TĐ-7, và TĐ-4. Số bị thất lạc sơ khởi là 134, nhưng lần lượt các anh về lại với đơn vị, chỉ còn lại chính thức là 37 mất tích.

            Trận đánh tại CCHL Delta đã tiêu diệt được trên 2000 quân BV, coi như hai trung đoàn 803 và 29 bị loại khỏi vòng chiến.


            (Còn tiếp)
            Last edited by Phòng Trực; 11-10-2012, 11:48 PM.

            Comment

            • vinhtruong
              Super Member
              • Jun 2010
              • 1924

              #21
              TT Thiệu làm tướng Giáp bể kế hoặch phục kích

              Người viết cũng nên nhắc lại nguồn gốc của sự lủng củng Việt/Mỹ: Vào trưa ngày 19, March, TT Thiệu thông báo cho đại sứ Bunker và tướng Abrams rằng: “Tôi phải ra lệnh cho quân lực VNCH rút về biên giới ngay sau khi mục tiêu chiến thuật đã hoàn tất… vì lẽ chúng tôi chưa sẵn sàng cho mục tiêu chiến lược… nếu Hoa Kỳ cùng gởi một sư-đoàn hành quân với chúng tôi thì chúng tôi cùng ở lại cho đến khi hoàn thành mục tiêu chiến lược” [TT Thiệu thừa hiểu rất rõ làm sao Hoa Kỳ mà ngưng sự rút quân theo như định-kiến-3 đã minh định trước khi quân tác chiến Mỹ qua VN bằng axiom-3: “The US could not have won the war under any circumstances” - Trích một đoạn nhỏ trong sách THE NEW LEGION, Volume- II của VINH TRUONG: During a visit to Vietnam, General Haig had strewn a certain amount of Chaos in his Wake: At forward XXIV Corps on 18 March General Haig told General Sutherland that “Washington would like to see ARVN stay in Laos through April,” The following day he visited II Field Force and told General Commander there “his tentative conclusion is that the time has come for an orderly close-out of the ground operations in Laos.” Both field commanders dutifully reported these Haig observation to Abrams, who must have been somewhat bemused. I thought all U.S generals were totally bemused by all the activity around them due to operation’s objective that was blow-out and kill all two crucial-opponents for Hanoi regime taking over Saigon be not a real blood-bath and Saigon not a “Pebble-Capital”]
              Tuy nhiên TT Thiệu tiếp: trước khi rút về chúng tôi sẽ hủy diệt kho hậu cần 611 tại Mường Nồng, còn hậu cần 604 chúng tôi để cho Không quân Chiến lược (SAC) đảm nhiệm. TT Thiệu quyết định phải rút quân trong khoảng thời gian ngắn nhứt, càng sớm càng tốt.
              Nhưng trên thực tế vì bất lợi “tấn thối trên độc đạo” Vì sợ cuộc rút lui bị lộ nên các tướng lãnh đồng nhứt vận dụng cuộc lui binh càng nhanh càng đỡ thiệt hại vì các chốt chận cấp trung đoàn BV phục kích đang đuổi theo ráo riết. TTVT/213 yểm trợ cuộc rút lui nên phối hợp hướng dẫn cách nào được an toàn, lúc rút nhanh, lúc phải dừng lại chậm chạp để gỡ những điểm nghi ngờ phục kích ở phía trước, nhứt là những eo gắt, cạnh sườn đồi trọc có thế dùng B-40 thụt xuống, những rừng Tre Gai chằng chịt, khi băng qua con suối cạn, hay lên dốc quẹo gắt, vì số trực thăng quá ít nên tôi dùng chiếc gunship lead làm C&C để khi đụng trận chúng tôi có 3 gunship mới mong làm vòng tròn yểm trợ liên hoàn phủ kín cho nhau.
              Theo kế hoạch của tướng Lãm, cuộc rút lui đã hoàn thành sớm hơn dự trù, với con mắt C&C quả là một cuộc rút lui hỗn loạn, nhưng ít ra sự thiệt hại như vậy là đáng mừng hơn cuộc rút lui càng trễ thì sự thiệt hại càng tăng dần. Ngày 25, March 1971 hầu hết các đại đơn vị đã rời khỏi đất Lào, chỉ trừ hai Toán thám sát TQLC còn ở lại trên phần đất Lào vào cao điểm núi Co Roc để gìn giữ an ninh cho cứ điểm Hàm Nghi bắt đầu cuốn chiếu về Đồng Hà.
              Cuộc rút lui do đơn vị Mỹ chịu trách nhiệm yểm trợ theo đặc lệnh hành quân, sư-đoàn 101 phối hợp với Lữ đoàn-5 Cơ-giới yểm trợ cuộc rút lui dọc theo đường-9 đến Đồng Hà. Còn từ biên giới Lào/Việt TQLC chịu trách nhiệm cùng với LĐ/1/BĐQ ở tây bắc biên giới.
              Dù rằng trên thực tế không có đơn vị đáng kể nào ở bên Lào, BCH quân đoàn-1 về đóng tại Đồng Hà và họ tự cho rằng cuộc hành quân được hoàn thành mỹ mãn? Nhưng báo chí nước ngoài cho rằng cuộc hành quân bị dang-dở do cuộc xung đột giữa Mỹ/Việt? Các phóng viên báo chí gởi lên vài chiếc hình thương binh VNCH, Trực thăng hối hả móc các khẩu pháo 155, 105 về hậu cứ… với những tin bất lợi nói xấu QLVNCH do thành kiến, đặt hàng, hoặc cho rằng sốt dẽo có lẫn ẩn ý chính trị cho mục tiêu quân Mỹ sẽ rút lui trong danh dự vì quân lực VNCH bỏ mất cơ hội phá hủy hậu cần địch trước mùa mưa. Nhưng làm sao ai biết đại-tá nhị trùng Bùi-Tín đã báo cáo các tiếp liệu chuyển vào nam tất cà dấu kín sẵn sàng trên hành lang mà bãi đậu xe số-1 (toàn xe molotova LX và TQ khả dụng) đã hoàn thành. Riêng bãi đậu xe số-2 thì bị B-52 nên phá hủy, nhưng thật ra xe nằm chờ sửa chữa (đây cũng trong thế sách lược tiêu hủy hàng tiêu dùng phế thải theo dự mưu của trục ma quỷ).
              Thế là B-52 điên cuồng hủy diệt suốt đêm 28 March rạng ngày 29 căn cứ 611 đến ngày 31 March thì căn cứ hậu cần 604.
              Vào sáng sớm 24, March, sự ương ngạnh của TT Thiệu làm cho tướng Giáp bối rối bể kế hoạch phục kích tại CC hậu cần/604. Bất chợt tướng Giáp ra lệnh cho tất cả đơn vị BV phải bôn tập càng nhanh càng tốt để chận đánh quân lực VNCH đang trên đường rút lui, đồng thời qua Phạm Xuân Ẩn, Giáp cự nự với Trung úy phản chiến John F Kerry hứa Lèo cho tin QLVNCH sẽ tiến chiếm Cargo-604 mà đợi hoài không thấy.
              Trên đường-9, đúng 10 giờ sáng, ngày 24/March lấy đà bôn tập do lệnh khẩn cấp của tướng Giáp, nhiều chiến xa T-34, T-54, PT-76 chở đầy lính BV bương bã chạy trối chết rượt theo. Gunship/213 không phải phương tiện tiêu diệt chúng mà chi có yểm trợ đoàn xe mà thôi, chỉ ra tay khi chúng thật sự cản đường khiêu khích, trên chiếc C&C, tôi báo cáo về Hàm Nghi có 5 địa điểm xuất hiện chiến xa địch rất gần biên giới, đồng thời FAC có backseater người Việt được chúng tôi cho biết để phối hợp hoả lực tiêu diệt chúng. Liền tức thì phi cơ chiến thuật từ Đệ Thất Hạm đội được điều động tới với hai phi tuần Skyhaw/A-4 hậu quả tiêu hủy hoàn toàn 10 chiếc không kể những chiếc bị đức xích vì Gunship Cobra truy kích.
              Hiện giờ Lữ đoàn 258 đang sắp bị tấn kích, nên họ chuẩn bị rất cẩn thận về mìn chống chiến xa cũng như bố phòng; Nhưng cấp trên lại không muốn lập lại cảnh đẫm máu tại CCHL Delta ngày hôm qua, nên vị Tư lệnh hành quân tướng Lãm ra lệnh trực thăng Air Cavalry bóc LĐ-258 ra khỏi CCHL Hotel. Liền tức thì trưa hôm đó, CH-47 Chinook vào móc 6/105 ly và 4/155 ly Howitzers về lại LangVei thay vì Khe Sanh và tất cả thành phần LĐ/258 còn lại để thành lập CCHL để yểm trợ cuộc rút lui vì đại bộ phận Mỹ đã rút về Đồng Hà theo lệnh của tướng Haig bất mản quân lực VNCH không chịu ở lại đất Lào cho đến đầu tháng 5. Cùng ngày nầy, trung đoàn-2/SĐ1BB đang dàn quân bảo vệ an ninh cho Hậu cứ Hàm Nghi.
              Trung đoàn 54 bộ binh từ Huế được lệnh vào Khe Sanh để thay thế trung đoàn-2 dưỡng quân, đồng thời trung đoàn-5/SĐ2BB được lần lượt thay chỗ các đơn vị Mỹ từ phần lãnh thổ phía Tây Quảng Trị bắt đầu ngày 25, March lệnh của tướng Lãm, vì có sự hục hặc giữa Mỹ/Việt qua sự ương ngạnh của TT Thiệu rút quân về sớm hơn dự trù của Pentagon. Trong khi đó sư đoàn TQLC bị buộc phải đưa hai đơn vị thám sát tới núi Co-Roc chiếm cao điểm để khống chế và tự bảo đảm an ninh cho hậu cứ Khe Sanh và sẽ được bốc về vào ngày hôm sau.

              TTVT/213 vì những khó khăn về địa thế, yểm trợ cũng như chỉ huy: Con chim đầu đàn bị PT-76 bắn hạ, PHÐ bị xây xát vì flexiglass, Tư lệnh SÐ1KQ cho Ðại úy Trần Duy Kỳ thế nhưng tôi bướng bỉnh không chịu về R&R… để rồi phải mất tới 2 ngày, những chiến xa và các TĐ/7 và 8 Dù tùng thiết mới từ A Lưới về được đến CCHL Alpha, một đoạn đường dài chừng 12 cây số vào ngày 20 March. Trong lúc đoàn thiết giáp lui về biên giới, các pháo đội đại bác cơ giới của Hoa Kỳ cũng triệt thoái khỏi Lao Bảo và Khe Sanh về Đông Hà vì TT Thiệu phá bĩnh kế hoạch đã quyết định 18/1/1971 của Tướng Haig, NSC, Pentagon. Ðó là lý do Tướng Haig bất mãn nên phần lớn hỏa lực của không quân Hoa Kỳ được dùng để bảo vệ cho riêng lực lượng của họ mà thôi, do đó LĐ1/TK lại gặp thêm trở ngại vì thiếu pháo và không yểm khi về gần tới biên giới.
              Hành động can đảm nầy của TT Thiệu khiến nhiều báo chí Mỹ ca ngợi TT Thiệu còn có quyền định đoạt chuyện nội bộ của nước mình, trong khi TT Johnson đáng ghét, không làm được chức trách Tổng tư lệnh tối cao quân đội như là sự đề nghị hữu lý theo hệ thống quân giai: Như năm 1968, Tư lệnh chiến trường Westmoreland đề nghị lên Tổng tham mưu trưởng Liên quân chỉ cho quân lực VNCH được phép hợp lý đánh đuổi quân thù ra khỏi biên giới Lào/Việt mà có được với người Số-3 trong vị thế ở Bộ Ngoại giao là William Averell Harriman, vì Harriman là thủ lãnh của War Industries Board. TT Johnson vì liêm sĩ và không dẹp nổi bọn WIB nầy, nên đành tuyên bố trên TV quyết định sẽ không tái ứng cử kỳ 2, một hiện tượng hiếm hoi trong lịch sử Hoa Kỳ; Cũng vào lúc Bộ Trưởng Tư Pháp Robert Kennedy bị ám sát y chang người anh TT Kennedy; Ðệ nhứt phu nhân Johnson quá sợ hãi bèn chêm thêm một câu “dù ai đó có tha thiết đề nghị!” Sự thật 1964 TT Johnson đã ký OK (chỉ riêng cho Biệt Kích Dù được đuổi quân BV ra khỏi biên giới Việt/Miên/Lào mà có được đâu? (VNCH đâu có chủ quyền) nhưng Harriman không khán ký [xem trong sách The New Legion để rỏ thêm] thì làm gì có cuộc Hành Quân Lam Son 719 nầy! Tại sao người anh em phía bên kia có cơ hội hoà hợp hòa giải dân tộc mà đổi lại trả thù đày-ải chúng tôi, không chịu hiểu được chúng ta đều là tay sai của ngoại nhân?

              Bộ chỉ huy Lữ-đoàn-1-Đặc-nhiệm ra lệnh cho các Chi-đoàn, Thiết-đoàn án ngữ ở hướng Tây và Bắc rút ra đường 9 họp với Lữ-đoàn cùng lui binh về biên giới. Khi các đơn vị Tăng phái đến quốc lộ 9 thì Lữ-đoàn đã rời gót ngọc (dây-xích) tự bao giờ, để mấy thằng con Ghẻ biệt lạc lối phải mò nối đuôi nhau về lại biên giới. Toán chiến xa đi đầu đụng phải một ‘Chốt kiềng’ chận đánh gây cho Thiết-đoàn trưởng và Phó bị thương, xe chỉ huy bị bắn cháy. Số thiết xa còn lại chạy về hiệp lực với Thiết-đoàn 17 Kỵ-binh; Và được lệnh cố thủ tại chỗ; Đến 8 giờ tối đêm đó thì bị quân BV tiến đánh; địch có thiết vận xa PT.76 yểm trợ. Phía bên ta nhờ có chiến xa M.41 nên đã bắn cháy được 2 chiếc PT.76; Thế là suốt đêm Phi cơ vận tải AC.130B Spectra thả Hỏa châu soi sáng cho quân bạn, trong khi quân BV thuộc trung đoàn 64/SĐ/320 vẫn tiếp tục tấn công vào nhiều đợt, nhưng bị súng tự động của hai Chi đoàn bắn càn quét yểm trợ liên-hoàn, địch không làm cách nào tiến được gần quân ta, trong khi địch quân cố gắng bám sát để khỏi bị Phi cơ AC-130B oanh kích. Đến 7 giờ sáng, xác địch thuộc trung đoàn 64 nằm ngỗn ngang đến nỗi bên ta không ngờ được và số còn lại rút lui vào rừng già, để tránh bị oanh kích. Rất không may cho lính CSBV vì sáng hôm nay trời lại tốt không có sương mù, nhưng Phi cơ vẫn oanh kích điều chi để quân bạn rút lui. Hai Chi-đoàn lại kéo nhau chạy qua Căn-cứ Ma Aluối bằng đội hình chân vẹt tiến lần để có thể yểm trợ lẫn nhau khi đụng trận; May quá, 2 Chi đoàn nầy gặp Thiết-đoàn 11 Kỵ-binh. Trong chiến trận vẫn còn lịch-sự, Thiết đoàn cho 2 Chi đoàn giữ mặt hậu, Đại-tá Nguyễn Trọng Luật ở trong Thiết-đoàn nầy cho biết tình hình: Phía trước là Thiết-đoàn 17 đang đụng độ rất dữ-dội, chưa mở đường máu được, còn kẹt tại chỗ. Thế là 2 Chi đoàn tăng phái phải chòi lên phụ lực với Thiết-đoàn 17 để mở đường máu.
              Địch đã sẵn sàng đào hầm Ếch bố trí ở hai bên đường, hể thấy chiến xa là chúng bắn B.40 xuống ngay. Còn như lực lượng ta quá mạnh, thì chúng cho trận địa pháo vùi dập không chút thương tiếc. Bất chợt, một chiếc M.113 từ phía giữa tiến ra ngoài chạy thật nhanh về phía trước, vượt qua Thiết-đoàn 11, rồi Bộ Chỉ huy Lữ đoàn 1, rồi qua mặt luôn Thiết đoàn 17. Chiếc M.113 như con Bò điên tiết, cho nổ tất cả những Hỏa lực có được trong xe, kể cả lựu đạn tung ra hai bên vệ đường với tốc lực gần 40 cây số một giờ do tài xế nhấn lút ga. Gần 30 phút sau, con Cua sắt điên tiết nầy bắt tay được vớí Toán lẻ của Thiết Đoàn 17. Nhưng lui về phía sau, khi Thiết đoàn 11 đến đó thì bị quân BV cắt đứt gọn một nữa, chúng làm thiệt hại tiêu hủy gần một Chi-đoàn,
              Rốt cuộc, bỏ của chạy lấy người, bây giờ, chặng kế tiếp từ Cứ-điểm Bravo, Thiết đoàn 17 dẫn đầu, đến Bộ chi huy Lữ-đoàn, rồi Thiết đoàn 11 và cuối cùng là Thiết-đoàn 7 giữ mặt hậu. Đoàn chiến xa nầy cuối cùng về đến Cứ điểm Alpha cách biên giới Lào-Việt 16 cây số. Khi đến nơi, mọi người ai cũng chờ đợi để cùng lui binh. Số người càng tăng, trách nhiệm của Đại Tá Luật càng nhiều. Ông chỉ định, Thiết Đoàn 11 lên dẫn đầu, vừa di chuyển nhịp nhàng chưa đầy 3 cây số, thì bị chốt-kiềng có quân CSBV xung phong liều chết vào trận mạc. Chi-đội đi đầu của Thiết đoàn 11 bắt sống được mấy tên lính BV, trong đó có một Sỉ quan. Hắn cho biết từ đây về đến Làng-Vei có cả 2 Trung-đoàn CSBV thuộc Quân-đoàn 70B chốt chận để tiêu diệt trọn gói Quân VNCH trên đường rút chạy? (Đây cũng là mầm móng làm cho đại tá Luật muốn băng rừng để khỏi phải cỡi lên Mìn bẫy?) Chẳng bao lâu đoàn-xe buộc phải ra khỏi chỗ nầy liền sau khi quan sát cơ Bronco-OV/10 ra lệnh rời vùng để khỏi bị B.52 trải thảm.
              Đại-tá Luật cho lệnh bỏ lại tất cả xe chạy bằng bánh để nghi-binh. Đúng 11giờ đêm, Đoàn xe có bánh làm một vòng hình bán nguyệt, nổ máy và bật đèn sáng trưng rọi về 3 hướng để đánh lạc hướng địch, vì quân bạn đoán biết tiền-sát viên CSBV từ trên những cao điểm nhìn xuống: Tất cả đèn pha rọi về hướng Bắc, Tây, Nam chỉ dành bóng đêm về hướng Đông để thiết-xa rút lui. Người chỉ huy tùng thiết mũi-nhọn của Dù là Trung-tá Ngọc đi đầu để lấy phương giác; Họ di chuyển ban đêm bằng hồng ngoại tuyến, cứ theo phương giác do Trung-tá Ngọc dẫn đường mà nối đuôi nhau di chuyển về hướng Đông. Đến 5 giờ sáng thì đoàn xe đã mò mẫm đi được 10 cây số. Lúc bấy giờ mọi người đang yên lòng vì tai nghe tiếng nổ liên hồi của B.52 Chiến-lược cất cánh từ Đảo Guam, 3 đợt gồm 9 chiếc đến san bằng ngay chỗ đoàn xe có bánh, mà Lữ đoàn vừa rời từ tối hôm qua, lúc 11 giờ đêm. Phi vụ nầy lại lập lại ngày khai diễn B-52 tiêu-hủy chiến cụ tại chỗ cuộc hành quân, Không-quân Chiến-lược tiêu hủy “Bến đậu số 2” có nhiều Molotova bất khiển dụng, như vậy theo WIB là tiêu thụ cho hết hàng tiêu dùng đã làm ra hồi Ðệ II thế chiến kể cả phía Liên Xô và Mỹ, bằng dollar và 70% nguyên liệu xuất khẩu từ Mỹ qua viện trợ “Aid to Russia Plan renewed”.
              Đoàn xe vẫn tiếp tục trên đường tiến về biên giới. Đúng 11 giờ trưa thì vừa đến bờ sông Xe-Pon tuy dốc có đứng nhưng lại quá cạn vào thời-điểm mùa xuân nầy; Chẳng bao lâu, Trực thăng Mỹ câu đến cho 2 chiếc D4 để san bằng bờ sông; (Chuyện nầy không thể lập lại như lúc Chuẩn tướng Phạm Văn Phú còn là Tư-lệnh Sư-đoàn-1 và khi trở nên Tư lệnh Quân-đoàn-2 thì bị Mỹ hứa “Lèo” không cho những chiếc D4 để giúp khai thông Quốc lộ-7 Cheo-Reo, Phú Bổn mà cố tình để cho quân dân Miền Nam bị vùi dập bởi các Sư đoàn của Tướng Văn Tiến Dũng trong kế hoạch “Rã ngũ quân lực VNCH.” - Sau khoảng 2 giờ hỏa tốc, cố gắng làm được con đường thoai thoải dốc.Thế là toàn bộ lần lượt vượt qua; Đúng 11 giờ đêm thì đoàn-xe qua hết được bên nầy sông, Họ tiếp tục di chuyển suốt đêm trên đường về Lao-Bảo.

              (Còn tiếp)
              Last edited by Phòng Trực; 11-12-2012, 10:47 AM.

              Comment

              • vinhtruong
                Super Member
                • Jun 2010
                • 1924

                #22
                Gunship Việt/Mỹ yễm trợ hoả lực cho LĐ/1/ĐN rút lui

                (Nhờ có youtube, tài liệu, hình ảnh, tờ tường trình … nên bài viết nầy mới có “tính thuyết phục”, vì tôi rất thích viết THẬT, viết THẲNG, viết có SÁCH mách có CHỨNG. Thí dụ ai mà tin được trực thăng có thể thả trái Bom 15.000 pds? Xem Cánh-Thép “Chuyện đời Lính” Trực Thăng Sikorsky CH-54 sẽ rõ)

                TẠI SAO CUỘC RÚT LUI HỖN LOẠN CỦA LĐ1ĐN??? Thống Chế người Ðức Helmuth von Moltke đã nói: “Mọi kế hoạch hành quân trên giấy tờ đều trở thành vô dụng khi bắt đầu đụng trận với địch quân". Và “theo tâm lý, cuộc hành quân lui binh nếu bị đụng-độ thật khó mà hoàn thành nhất”
                Với một nhúm Trực thăng võ trang của Phi-đội/213 chỉ có yểm trợ cho Dù thôi, bây giờ phải cán-đáng thêm công việc yểm trợ cuộc hành quân lui binh bay dưới sự đe doạ thường xuyên của Pháo binh BV bắn chụp xuống, tệ hại nhứt là pháo 152ly tối tân nhứt của LX vào thời đó, và Cối 120ly, khi chạm nổ văng ra vô số mảnh vụn, cũng là khắc-tinh đối với trực thăng bay thấp. Chúng tôi đặt trọng tâm cover về Khe Sanh càng nhanh càng tốt, đúng theo ý của quý vị tư-lệnh, để BV không kịp đuổi theo. Chúng tôi yểm trợ bắn xuyên phá trước mặt đoàn convoy từ 100 đến 150 thước vào những bụi Tre gai đáng nghi và bất chấp pháo binh BV rà đuổi theo sát nút. Tuy rằng, đoạn đường ngắn từ CCHL Alpha đến CCHL Bravo không xảy ra biến cố quan trọng nào, nhưng khoảng 5 cây số còn lại là một quãng đường dài như vô tận đối với sự nhận định chiến-tình của riêng tôi, vì thế nào tướng Võ Nguyên Giáp hoặc Phạm Xuân Ẩn cũng phát hiện và cho lệnh phục kích chận đường rút lui.

                Các chiến xa của LĐ1/TK, khi về gần đến biên giới khoảng 9 cây số, quả thật đoàn thiết giáp lại bị phục kích lần nữa, lúc nầy chúng tôi cùng TTVT Cobra phối hợp yểm trợ cuộc lui binh. - Mỗi buổi sáng hợp hành quân, tôi luôn gặp Ðại tá Cockerham Tư lệnh Lữ-đoàn 1 Không Kỵ. Chúng tôi thường ăn sáng tại Mess-Tents và thường gặp phi công thuộc Ðại đội C7/17/1 Air-Cacalry/Cobra để bàn [briefing] chuyện phân phối phi vụ yểm trợ hoả lực trong ngày.
                Trên đường về, ba gunship chúng tôi đang đổ xăng và tái trang bị hỏa lực để tiếp tục công tác ngay. Vì bay cả ngày, đêm không ngủ được, tiếng đại bác yểm trợ cứ luân hồi tác xạ, nên tôi chỉ bay copilot ngồi bên trái vào vị trí chiếc Prep-2 hoặc Prep-3.
                Trên đường bay đến tiếp nối yểm trợ hoả lực thay thế AH-1G Cobra air cover cho LÐ1ÐN - Lúc nầy, Ðại úy phi công Farrell thuộc Ðại-đội C7/17 Không Kỵ đang hùng dũng oanh kích quân BV. Chiếc trực thăng võ trang Cobra cùng với một viên phi công Warrant Officer gan dạ khác. Chiếc Cobra thứ nhì do hai viên phi công Lancaster và Jim Manthel điều khiển. Hai chiếc trực thăng võ trang Cobra đang lao vào vùng rừng núi Hạ Lào, luôn luôn trên cao tầm mắt của chúng tôi. Vì tôi thề rằng trong suốt cuộc hành quân sẽ chỉ bay cạ-càng trên ngọn cây và phóng ủi thẳng chào đón chiến xa địch với 24.000/viên phút minigun trước mũi 75 thước, áp đảo bắn phủ đầu hủy diệt xạ-thủ trên pháo tháp trước khi địch phản ứng (neutralization) và sau đó sẽ nện rockets sau. Với cao độ rà sát nầy, cũng hạn chế tầm hoạt động của phòng không địch không dễ dàng phát hiện chúng tôi, hay nếu phát hiện cũng bị triệt tiêu bởi hoả lực cũa 6 pháo tháp minigun cường tập trên đầu chúng trước khi phản ứng. Dù rằng trong trò chơi trận chiến nầy quân BV bị cấm không được dùng hỏa tiễn cầm tay tìm-nhiệt như SA7 nơi đây, nhưng thí dụ chúng có dùng thì cũng chi vô dụng với cao độ thật thấp nầy, hoả tiễn cầm tay cũng cần có cao độ và khoảng cách thì nó mới phát triển vận tốc có hiệu quả phóng nhanh vào ống thoát exhaust. Để đi đến kết luận, chỉ có lối bay “kinh-dị” nầy mới đem lại sự sống còn cho phi hành đoàn TTVT - Sau 45 ngày không có nhân viên phi hành TTVT nào bị hy sinh, theo tôi nghĩ: “cũng chỉ là hên xui vì đạn tránh người chớ người không thể tránh đạn!”
                Phi công Hoa Kỳ cũng thừa hiểu nơi đây chỉ có 6 trung đoàn phòng không AAA, gần 900 súng cổ điển, nhỏ nhứt là 12,7ly đến 85ly gọi là sơn-pháo, có nghĩa là loại chạm nổ, nhưng còn như phi cơ đi vào vùng Oscar Eight hay được gọi là Bộ Chỉ Huy tiền phương Đoàn 559 của tướng Vỏ-Bam NVA là tư-lệnh, cách đây 40 dậm về hướng đông nam, dưới chân núi Tam Bôi thì biết ngay vùng hoạt động của SAM enveloped zone như thế nào? Nơi đây không biết bao nhiêu phi cơ chiến thuật kể cả AC-130B cũng bị bắn hạ rải rác xung quanh ấy, dĩ nhiên theo điều lệ trò chơi ROE là vùng cấm bay. Và từ đây đi về hướng bắc trên hành lang đường mòn HCM, dưới các chân Đèo, Ban Karai, Ban Ravan, và Mụ Giạ là vùng cấm phi cơ Mỹ bay qua và nếu lỡ bị ở dưới đất bắn lên cũng phải co giò phóng chạy, không được quyền trả đũa kể cả đường 7 từ Ban Ban đến biên giới Lào, và con Đèo Lập-Cập cũng không được đụng đến.
                Trên FAC, OV-10 có lần người Việt ngồi ghế sau phát hiện đoàn xe Molotova đang qua cây cầu nổi bằng lót đá tảng, (một sư đoàn đi qua chỉ cần một người một tảng đá thì thành chiếc cầu đá chìm-nổi ngay) bèn ra lệnh cho phi công quan sát xuống thấp xác định vị trí và gọi phi cơ chiến thuật đến oanh kích. Khi đoàn xe nghe thấy phi cơ quan sát bay đến, khôn hồn chạy xích lại gần nhau tắt máy đúng theo ROE. Phi công FAC Mỹ trên chiếc Bronco OV-10 lắc đầu không thi hành, thì quan sát viên Việt chỉ biết thở dài, âm thầm lắc đầu chớ biết nói gì đây! Sự thật đoàn quân xa BV chỉ có được quyền di chuyển ban đêm với đèn Dim-light theo đúng luật giang hồ ROE còn ban ngày thì núp dưới rừng cây mà ngủ, nhưng ngày đó là ban ngày, và được ngoại lệ là vì đoàn xe đang lỡ phải qua cầu nổi hay chìm thì O.K.

                Vừa qua khỏi biên giới không xa, Đại-úy Farrell đã nhìn thấy đoàn thiết giáp đang bị chận đứng tại một khúc đường cong về hướng Nam nhìn trên không giống hình chiếc móng ngựa. Bên trong khúc quanh là một khu rừng rậm rạp âm u trông giống miệng rắn Hổ đang hả to ma quái. Đoạn đầu của đoàn thiết giáp đang bị chận đánh dữ dội ở khúc cong phía đông, để lại phía sau gồm các chiến xa chỉ huy còn đang ở khúc cong phía tây bị rừng cây che khuất; Trong khi các chiến xa đi đầu còn đang lúng túng chưa khai hỏa được vì sợ bắn trúng chiến xa bạn ở khúc quanh bên kia, may mắn Chiến-đoàn trưởng Dù, trung tá Ngọc dùng Anh ngữ hướng dẫn các trực thăng võ trang Cobra vào trận. Từ trên không, Đại-úy Farrell nhìn thấy rõ một toán quân BV thuộc trung đoàn 36/308 ẩn nấp tại sườn đồi phía bắc đang dùng súng B-40 và B-41 thổi xả xuống đoàn xe. Chúng tôi vừa tới nhìn thấy những làn khói trắng từ đuôi đạn tuôn ra trúng vào một chiến xa và một thiết vận xa khác, xăng và đạn trong hai chiếc thiết giáp bạn bốc cháy dữ dội, pháo tháp của chiến xa M-41 không còn kiểm soát được quay qua quay lại như đầu Lân trong đám lửa khói và đạn nổ.
                Tôi không khỏi ngạc nhiên thầm nhủ: “Trời! Với tầm mắt điên-tiết hiếu chiến của tôi hằng ngày, cảnh tượng hệt như trong phim chiến tranh thời thế chiến-2” Chiếc Cobra của phi công Lead Lancaster nhào xuống trước [Tổ chức Army Aviation, phi công chuyên nghiệp là Warrant Officer nhiều gạch Đen là nhiều giờ bay làm lead khi xung trận] Đại úy Farrell bay sát phía sau để yểm trợ theo đúng chiến thuật, bắn đại liên, phóng lựu và hỏa tiễn vào khu đồi dọc theo hướng từ nam lên bắc. Đột nhiên, ba vị trí phòng không 12 ly 7 của Cộng quân đồng loạt khai hỏa từ khu rừng cây phía dưới. Chúng tôi dễ dàng nhìn thấy tràng đạn lửa từ dưới đất bắn lên; Ðây là thế bắn mà Tam-trùng phóng viên nhà báo, Phạm Xuân Ẩn đã nói và thách thức sự hiểu biết của tôi trên [khi quá giang] chiếc C-119; Trong thế liên hoàn ba góc hỏa lực của tam giác cân mà lúc phi cơ xạ kích đang kéo đầu lên sau khi nhủi xuống xạ kích. (Thật là điều quái lạ nhưng đây là sự thật phản tình báo Mỹ đã lý-giải cho các xạ thủ phòng không BV bắn lên phi cơ, thì dụ như cầu Hàm Rồng, được một pháo đội 3 góc tam giác cân, yểm trợ liên hoàn. Khi phi cơ tiềm kích đâm đầu xuống góc nào, thì pháo thủ nơi đây nằm ẩn kín dưới công sự phòng thủ, còn hai góc kia tiếp tục bắn lên phi cơ. Còn góc nầy chờ phi cơ ngóc đầu lên là đứng dậy bắn theo xối-xả ngay. Có như vậy cuộc tranh tài càng lâu thì phi cơ có phần chắc sẽ bị bắn rơi; Thế là có khách hàng (costumer) mua dùm hàng tiêu dùng ế-ẩm lâu quá chưa ai mua, đối với WIB vũ khí sản xuất phải được tiêu dùng, cũng như CIA giúp BV chơi trò chơi “Cút-bắt” rẻ tiền, nhưng tăng sự cao ngạo cho BV để quyết tâm chiếm miền nam, trong chiến dịch Loky của Biệt hải, dùng PT Nasty bắt người dân ở ngoài bắc đem vào Cù lao Ré, Quảng Ngãi cho ăn uống vỗ béo cho mập rồi thả về. Dĩ nhiên trong cái thế giới ai ai cũng ốm teo mà có người xuất hiện mập mạp hồng hào thì bị Công an đưa vào cải tạo tư tưởng là chuyện rẻ tiền nhưng lại có ảnh hưởng về tâm lý. Và đây lời phàn nàn của đại tá xếp sòng SOG, Jack Singlaub: “We would spend our time feeding them well, fattening them up, give them very high-colories foods. So when they went back, they were healthier and certainly had more poundage, Hanoi easy identified them by physical healthy, and put them in the reeducation cam.
                Trên không các toán Gián điệp Biệt kích cũng vậy, William Colby thả thì Russell Flynn Miller chỉ toạ độ để lính BV vây bắt, vì đây là trò chơi chiến tranh, chỉ đơn giản là thế, vũ khí làm ra phải có nơi tiêu xài cho toàn cõi ba nước Đông Dương).

                Những lằn đạn lửa chỉ đỏ rực đuổi theo đường bay sát hai chiếc Cobra, gần đến nỗi tôi tưởng chừng chỉ với tay ra là có thể nắm được! Farrell vội liên lạc vô tuyến báo cho phi công Lancaster về ba họng súng phòng không nguy hiểm đang khạc lửa từ khu rừng cây phía dưới mà chúng tôi đang theo dõi và thấy rõ lằn đạn bay lên.
                Hai chiếc Cobra vội bay tạt ra xa rồi dùng tất cả hỏa lực salvo vào các ổ phòng không. Sau ba vòng oanh kích, chỉ còn lại một ổ phòng không cạnh sườn đồi hoạt động, Trực thăng của Đại úy Farrell cũng đã bắn hết các hỏa tiễn mang theo nên thông báo cho chiếc Lead-Cobra dẫn đầu biết cần về Khe Sanh để tái vũ trang và bàn giao lại cho chúng tôi. Nhưng phi công Lead Lancaster cho biết anh cũng chỉ còn vài trái hỏa tiễn và sẽ nhào xuống lần nữa để tiêu diệt nốt ổ phòng không cuối cùng, Đại úy Farrell trên cương vị chỉ huy, cố thuyết phục Lancaster đừng làm như vậy vì oanh kích không có đồng đội bắn yểm trợ sẽ rất nguy hiểm, nhưng chiếc Lead trực thăng kia vẫn ngoan cố lao xuống mục tiêu.
                Gần như cùng một lúc với những trái hỏa tiễn nổ tung tại vị trí địch, một loạt đạn phòng không bắn trúng vào chiếc Cobra, Lancaster thông báo bị trúng đạn vào cánh quạt sau đuôi rồi yêu cầu Đại-úy Farrell yểm trợ cho anh đáp emergency landing. Farrell vội hướng dẫn chiếc trực thăng liều lĩnh của Lancaster bay xa hơn về hướng Nam, nơi có một bãi cỏ tranh khá rậm. Phi công Lancaster vừa ráng bay theo vừa cố giữ cho phi cơ thăng bằng. Nhưng chiếc trực thăng vì cánh quạt đuôi đã bị hư hại nặng nên mât thăng bằng, rung chuyển tăng dần high frequency dữ dội, bắt đầu đảo lộn rồi rơi xoáy tròn xuống đất trước mắt chúng tôi. Khi phi cơ tản thương Dusk stuff tới được nơi chiếc Cobra lâm nạn, họ tìm thấy xác hai viên phi công đã chết vì bị gãy cổ khi trực thăng rơi counter clockwise xuống đất.
                Nhờ vào kinh nghiệm chứng kiến và địa hình trước mặt, nãy giờ chúng tôi bay vòng chờ khuất tầm quan sát của địch, ở sau đồi trọc và trên đám rừng cây, trên đầu quân bạn. Tôi chưa chắc đã ngán họ, nhưng mục tiêu chính là làm cách nào cho đoàn quân xa được an toàn rút lẹ về Khe Sanh để khỏi bị các “Chốt-chận” cấp Tiểu đoàn hay tệ hại hơn là cấp trung đoàn, vì theo tin tù binh chúng có hai trung đoàn 29 và 812 của sư-đoàn 324B toan làm chốt chận và quyết tử với quân bạn có chiến xa yểm trợ.
                T-54 đối với chúng tôi như là những người khổng lồ với đôi chân đất sét chậm chạp đáng thương hại, nhưng đối với quân bạn là một trở ngại chính; Khi phát hiện chiến xa địch, chúng tôi vào hợp đoàn tác chiến 75 thước bay phóng thẳng đến ngay chúng với đội hình nấc thang trái (left echelon) Chúng tôi sẽ dùng 6 pháo đài miniguns xử dụng 24.000 viên/phút áp đảo các đối thủ trước mũi phải chui rúc xuống pháo tháp chiến xa hay hầm hố nếu muốn sống, kế tiếp từng chiếc một lên cao độ để tiềm-kích trong khi sáu pháo tháp di động minigun bao phủ trận địa, tiếp tục bắn phủ đầu yểm trợ liên hoàn (Sự thật ngày nay nhờ Youtube, các bạn có cơ hội nhìn sự vận hành của Minigun và có thể hình-dung 6 bầu lửa di động với cao độ view of bird, hiệu quả kinh hoàng như thế nào, đã gây thiệt hại cho trung đoàn 64 thuộc sư đoàn Thép 320 tan-rả. Tàn quân phải phân tán bôn tập về hướng Đồi-31, bỏ lại trách nhiệm tùng thiết lẻ-loi cho T-54 khệnh khạng nằm yên dưới lùm Tre gai chịu trận, tàn quân chạy về hội nhập cùng trung đoàn 24B dưới chân đồi để chống lại với hai đại đội trinh sát/TĐ/8 Dù, cùng hai chi đoàn 17 và 11 chiến xa, trong khi các chiến xa bạn không bị trầy trụa lớp sắt nào vào trưa 23/2/1971 (Tôi nghĩ sẽ có bạn nào trong ba đơn vị nầy còn sống và là chứng nhân hành động anh hùng của Top-gun, Trung-úy Trần Lê Tiến ra tay bảo vệ quân bạn một cách hiệu quả?)

                Bây giờ đội hình tác chiến của Phi đội 213 có nhiều thay đổi về mặt chiến thuật, hoàn toàn không còn ngụy hóa âm thanh như những lần yểm trợ cho Ðại đội trinh sát tiểu-đoàn/8 Dù; Ba chiếc sẽ bắt đầu khai hoả khi còn cách mục tiêu 15 giây bằng một trận mưa đạn cuồng sát trước mũi phi cơ 75 thước, dí đầu địch núp kín trong pháo tháp, nếu ngoan cố chống trả thì sẽ bị ngã gục trước khi thấy chúng tôi thoáng qua trên đầu chúng.
                Dùng chiến thuật 90 độ ngược lại đoàn xe, đội hình tác chiến luân phiên yểm trợ che kín, 3 chiếc hình than bên trái [Left-Echelon] Trung úy Tiến Lead, tôi Prep-2 và Trung úy Lưu Prep-3; Chúng tôi dùng chiến thuật “độn rừng” núp sau sườn đồi móng ngựa. Khi vừa ló dạng khỏi sườn đồi, Lead Tiến ra lệnh đồng loạt tác xạ, nhưng không quên nhắn nhủ PHĐ kéo cao cổ áo Nomex để khỏi bị phỏng, kéo kiến helmet che mắt, và check lại belt safety, chicken-plate. Các xạ thủ chồm hẳn ra ngoài dí đầu súng 6 nòng quay tít, một bầu lửa đỏ trước mũi phun ra 4000 viên phút xuống rừng Tre gai, bụi rậm, bên cạnh lưng sườn đồi là các hầm hố quân BV đang phục kích theo như con mắt cú-vọ kinh nghiệm chiến trường của các xạ thủ mà tôi nhớ lại lời nói của Nã Phá Luân “Les sous officiers font l’armeé” [Các Hạ sỉ quan phi-hành nầy mới là kẻ quyết định chiến trường] 6 anh không những gan dạ đứng xổng lưng chiến đấu mà còn kinh nghiệm tác xạ, nên những cây minigun nổ đều với nhịp điệu khi nương khi mạnh, không ảnh hưởng over charge control boxes. Khi chúng tôi trên đầu quân BV 50 thước, thật là điều quái lạ không nghe một tiếng súng nào bắn trả? Khác hẳn mọi khi có tiếng lóc cóc, hoặc nổ như bắp rang của AK-47 mỗi lúc mỗi gần hơn, như khi tôi yểm trợ cho tiểu-đoàn-6 Dù ở sườn Tây Đồi-31, trưa ngày 23/2/1971.
                Nhưng chả lẽ chúng chết hết!? Không phải vậy đâu đừng ham! Vì tiếng mưa bão của đạn đạo từ 6 cây minigun quá ghê gớm nên họ đành tạm thời núp trước rồi tính sau; Quân BV nầy thuộc trung đoàn 812/324B có kinh nghiệm sau khi học tập kinh qua chiến trận trên đường 92 bắc Aluối, trung đoàn 64/320 bị thiệt hại trầm trọng như thế nào? vì mưa đạn minigun, tàn quân của trung đoàn 64 nầy phải chạy vế hướng bắc để hội nhập cùng trung đoàn 24B hầu chống lại với quân bạn dưới chân Đồi-31, và giờ đây họ thừa hiểu muốn chường mặt ra để đối chọi với chúng tôi thì đã bị gục ngã vài giây dưới cơn mưa đạn tàn sát trước mũi trực thăng và không có dịp mở mắt nhìn thấy sát-thủ vừa bay xẹt qua trên đầu chúng.
                Dựa vào thế thượng phong nầy, Chiếc Lead của Tiến quẹo gắt qua Phải lấy chút cao độ quan sát và làm C&C cho đội hình xạ kích, Tôi quẹo gắt qua Trái lead 4 minigun bao vùng trên điểm phục kích bắn xối xả vào luôn chiến xa bạn vì quân BV vẫn còn ở trong đó và dùng súng cơ hữu bắn vào quân bạn. Cho đến lúc nầy trên cao độ 75 thước vòng tròn chúng tôi vẫn cảm thấy không một tiếng súng nào bắn lên? Thật là khó tin trong chiến trận tàn khốc nầy! Có một trường phái cho rằng, sở dĩ không có tiếng súng chống trả vì hai chiếc Cobra Mỹ đã hủy diệt mấy ổ phòng không 12,7 ly loại ra khỏi vòng chiến đấu, nhưng có một trường phái khác thì cho rằng, quân BV có lệnh “Cá Gầy thì bắn cá Béo thì chém-vè” vì cá mập có xạ thủ với đôi mắt Cú ráo-đảo nhìn từ 75 thước như sáu cái pháo tháp mưa xuống những nơi nào là mối đe doạ từ Lính BV, buộc chúng phải núp xuống hầm theo tự động phản xạ tự nhiên, chờ cơ hội sẽ bắn trả hay là bị hủy diệt? Cá mập luôn luôn đứng thế thượng phong, các xạ-thủ có khả năng chủ-động tiêu diệt trước những mầm móng có thể làm nguy hại trước khi địch thủ ra tay?

                Tôi cho lệnh tất cả chiến xa kể cả bạn và địch nằm lẫn lộn phía trước đoàn quân xa đều phải tiêu diệt, Tiều đoàn 8/Dù cho lệnh như vậy; Chiếc Lead bắn hết rockets xuống làm trail cho chiếc 3; Tôi lấy cao độ và tiếp tục phá hủy các chiến xa còn lại, trong khi luôn luôn 6 khẩu minigun vẫn tiếp tục cover 3000 viên phút; Nhưng có lẽ vì quá mệt mỏi, nên những chiếc rockets của tôi bắn ra đều gởi thiên gởi địa hết chỉ dựa-dẫm nhờ vào sự kinh nghiệm của các xạ thủ gunship cường kích. Tôi bảo đảm đoàn convoy nên mau tiếp tục di chuyển với phần hoả lực còn lại của chúng tôi; Trong khi đó, đoàn thiết giáp của LĐI/TK đã củng cố được đội hình và đang bắn trả dữ dội để lui về biên giới.
                Phi cơ phản lực được gọi tới để dội bom vào các vị trí phục kích của Cộng quân, nhưng không may một trái bom Napalm lại đánh lầm vào quân bạn khiến 12 người chết và gần 100 người khác bị thương! Tôi điên tiết, liền vặn qua UHF 233.7 “Stop held it Charlie… Mother fucker you pissed Goddamn wrong spot…” Tôi tiếp tục nổi nóng gọi thẳng …”Goddamn A-6 Intruder …Navy … the A-6 Navy Intruder stop your fucking bomb now… now …now” Thật tội nghiệp cho tiểu đoàn-8 Dù xui-xẻo, lúc vào cũng như lúc ra trên đường 9 nầy đều bị nạn!
                Chiếc A-6 Intruder vẫn còn rán chơi một pass nữa mới chịu ngừng rồi bay ra biển. Làm sao tôi không điên tiết cho được, cũng trục lộ nầy, cũng Tiểu đoàn-8 Dù nầy trong những ngày đầu, chiều 9/2/1971 Skyspot đã “cố tình thúc đít” quân bạn bằng Bôm Bi CBU-24, và bây giờ lại “Vô tình thả lạc” làm chết và bị thương một số cũng Dù và Thiết Giáp trong đó có Tiểu đoàn Phó TÐ-8, con người hùng lỗi lạc nầy chưa kịp nhập trận thì đã bị thương. Hai đại đội Trinh Sát TÐ-8 Dù xuất sắc đã chiến đấu cùng chúng tôi như môi với răng. Tiểu đội mũi nhọn tiên phuông phải choàng panel Vàng-Cam nơi lưng kẹp vào nón sắt để chúng tôi cover từ 100 thước, trước các bụi Tre gai thường có hầm trú ẩn trên đường tiến sát (rất dễ phát hiện vì địch sơ ý không chịu phi tang phần đất đỏ tươi nằm cạnh hầm trú ẩn) thỉnh thoảng nơi bụi Tre lại có một tiếng nổ phụ làm kinh hoàng tiểu đội xung kích.
                Lỗi thả bom lầm nầy do FAC Mỹ Việt thiếu phối hợp. Cuối cùng, địch quân cũng bị đẩy lui, nhưng có thêm 6 xe thiết giáp bị cháy. Đoàn xe tiếp tục dung rủi dưới hỏa lực còn lại của chúng tôi trong khi chờ Cobra Mỹ đến thay phiên.

                (Còn tiếp)
                Quyết định băng rừng của Đại-tá Nguyễn Trọng Luật …
                Last edited by Phòng Trực; 11-12-2012, 10:46 PM.

                Comment

                • vinhtruong
                  Super Member
                  • Jun 2010
                  • 1924

                  #23
                  Quyết định băng rừng của Đại-tá Nguyễn Trọng Luật …

                  Tôi đã tìm ra một chân lý đơn giản để bảo vệ đàn em: “Ai dám cầm súng đứng chống cự, khi ở đàng xa nghe tiếng 6 bầu lửa minigun gầm thét như vũ bão từ trên ngọn cây vút tới mà không chịu kiếm nơi ẩn núp, tôi sẽ chịu đầu-hàng vô điều kiện vĩ nhân anh hùng nầy”. Đây cũng là chiến thuật yểm trợ hoả lực của Gunship/KQVN được ghi rõ trong Học Viện Quân Sự Army Aviation, mà tôi là tác giả defriefing cùng đại-tá Cockerham, trung tá Molinelli, và đại-úy Farrell. Câu trả lời là sau 45 ngày chiến đấu quyết liệt, không một nhân viên phi hành gunship nào bi thiệt mạng!
                  Vừa qua, về chính trị phải nói cho dễ nghe là để cải bổ Trực thăng bị bỏ lại VN, cũng như Mỹ trong khi tháo chạy khỏi miền nam lỡ bỏ quên sau lưng vài ngòi nổ (warhead) CBU-55, chỉ đơn giản như vậy thôi, nay, căn cứ theo bản tin của hãng Bloomberg trích từ lời giới chức cấp cao Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, ông Richard Genaille cho hay Hoa Kỳ đã cấp cho Việt Nam một ngân khoản trị giá 1,3 triệu đôla trong năm tài khóa 2010, để tài trợ cho các chương trình nhắm mục đích cũng cố mối quan hệ về mặt an ninh giữa hai nước. Hoa Kỳ, với danh nghĩa viện trợ bộ phận rời (spare-parts, nhưng VN đã tháo gỡ bán ve-chai và mục nát hết rồi) sẽ giao cho Việt Nam gunship loại nầy UH-1H tồn kho (spared-stock Natioal Guard tại Mỹ và Nhựt, vì trước sau Mỹ cũng sẽ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN thì trước tiên vũ khí vất đi của Nhựt sẽ bàn giao cho VN xài đỡ trước cho quen rồi tùy theo nhu cầu sẽ xét sau. Đồng thời VN sẽ dùng HQ-801 và HQ 802 bỏ lại trên deck có chỗ cho 2 chiếc gunship standby để tuần tra biển-đảo.

                  Trở về LS-719, tưởng người viết cũng nên nhắc sơ về mùa Hè Đỏ Lửa-72: Đại-tá Nguyễn-Trọng-Luật, chỉ huy Lữ-Đoàn 1 Thiết kỵ phải ra lệnh rút 1 Thiết-đoàn mà không cần đợi lệnh trên, để bảo toàn Lực-lượng cũng như thông báo cho đơn-vị bạn (Lệnh ngầm của Mỹ khuyên nên rút lui vì muốn giữ mạng sống và danh dự cho Đại-tá Luật như Đại-tá đã lăn-lóc năm vừa qua tại chiến trận Hạ Lào năm 1971, một George Patton VN, người Mỹ rất kính trọng sự hy sinh và bị tai tiếng hàm oan trong chiến trận năm vừa qua của vị đại tá nầy khác hẳn với trường hợp của chuẩn tướng Vũ Văn Giai bị trực thăng Mỹ bốc ra khỏi vị trí hành quân, mà TT Thiệu rất tức giận cho rằng ‘politic sabotage’ do Mỹ dàn dựng để đẹp lòng phía Hà-Nội) Thế nên, quân BV và Chiến xa T.54 mới xuyên thủng phòng tuyến quân bạn.

                  Trong những trường Đại học quân sự thường được giảng viên giải nghĩa rằng: “Theo tâm lý, cuộc hành quân lui binh và theo tôi như bị giựt ngược kiểu nầy, và đang buộc phải đụng trận thật khó mà chu toàn cho được” Tôi tự đi đến kết luận phải rút càng nhanh càng chịu ít thiệt hại. Đại Tá Luật phải tập trung các xe còn lại để củng cố đội hình di chuyển. Cung từ của tù binh bị bắt trong trận phục kích cho biết còn có khoảng 2 Trung Đoàn địch đang phục kích sẵn ở phía trước chờ tiêu diệt đoàn xe, Đại Tá Luật vội thông báo tin này về BCH/SĐ Dù và yêu cầu cho quân mở đường. Tướng Đống lập tức đáp ứng bằng cách điều động một đơn vị quân Dù khai thông đoạn đường còn lại để giữ an ninh lộ trình cho đoàn thiết giáp. Nhưng vì lý do gì đại tá Luật không cùng di chuyển trên đường-9?
                  Nhưng theo tôi, không rõ vì sơ sót hay vì lý do nào khác giữa sự lủng củng của Dù và Thiết giáp. SĐ/Dù không thông báo cho biết lộ trình đã được giữ an ninh. Vì vậy, Đại Tá Luật đã ra lệnh cho toán thiết giáp rời đường số 9, băng rừng về hướng Đông Nam tương đối bằng phẳng để tránh các ổ phục kích. Thật sự, nếu Đại Tá Luật cứ xử dụng đường số 9 như dự trù, có lẽ các chiến xa còn lại sẽ về tới phần đất Việt Nam an toàn hơn. Quyết định “băng rừng” quan trọng này của Đại Tá Luật không biết đúng hay sai, hoặc lỗi phải vế ai, nhưng đã gây nhiều khó khăn và tổn thất cho đoàn thiết giáp. Di chuyển trên đường số 9 đã khó, khi xử dụng đường rừng lại càng gian-nan hơn, cây cối rậm rạp, đất-đai ẩm thấp lại nhiều khe suối nên dễ bị lún; Hơn nữa, vì phải tự mở đường đi trong rừng xe cộ chẳng còn giữ được đội hình nên di chuyển rất hỗn loạn, nhiếu khi bị địch quân bắn cũng không phản pháo tiếp cứu liên hoàn được cho nhau. Trong khi đó, các đơn vị Dù tùng thiết vẫn tiếp tục rút theo trục lộ đường số 9 dưới sự yểm trợ đáng tin cậy của PÐ-213 như Tướng Ðống đã đặt hết niềm tin khi bắt tay tôi trước khi xung trận tại cứ điểm Fuller, Ðông Hà… Cảnh hỗn độn như vậy, việc phối hợp yểm trợ với không quân và pháo binh hầu như không thể nào thực hiện được.
                  Trong những ngày đầu của cuộc hành quân, gunship chúng tôi yểm trợ rất hiệu quả cho Dù và Thiết ky trên đường 92 tiến về hướng bắc Đồi-31. Thiết-đoàn 11 Kỵ-binh thuộc Lữ-đoàn 1 đã oanh liệt tiêu diệt 6 T.54 và 16 PT.76 vậy mà không bị một sự thiệt hại nào: Đại tá Jame Vaught (Dù) và Battreall (Thiết Giáp) đặt nghi vấn, một cuộc chiến xa trận khốc liệt như vậy mà chiến xa VNCH không bị một sự thiệt hại nào? điều nầy để độc giả suy gẫm? và cũng thật đau lòng các chiến sĩ LĐ/51/TC hy sinh có, bị thương có, mất tích có, trong trận chiến nầy mà trong các tài liệu youtube không nói tí gì về họ! và cũng vì tôn thờ các chiến hữu đã hy sinh, tôi vô cùng uất hận phải viết ra sự thật, để được phân minh, trong khi các ký giả chỉ đứng tại Khe Sanh vẽ vời chế biến xa sự thật.
                  Trái lại, khi rút lui thật thê thảm, hỗn quân hỗn quan. Trong những trường Đại học quân sự thường được giảng viên giải nghĩa rằng: “theo tâm lý, cuộc hành quân lui binh nếu đang đụng trận thật khó mà hoàn thành nhất” Thiết vận xa, xuất quân có 162 chiếc, giờ còn lại 64 chiếc; còn chiến xa xuất trận 62 chiếc về tới được biên giới 25 chiếc [Cố-vấn Mỹ được mật lệnh phải theo dõi báo cáo số chiến cụ trở về tại biên giới] Nhưng nếu bị thua vì đụng trận thì không nói làm gì, đây là vì bị cấp bức theo mật lệnh rút về Biên giới trên con đường độc đạo, đi ngược lại với chiến pháp quân sự, rồi bị chốt chận, hư máy và hết xăng dọc đường. Vã lại đường quốc lộ 9 là của thời Pháp thuộc làm ra rất chật hẹp chả được tu bổ bao giờ, thời tiết mưa dầm xoáy mòn từng lỗ nứt sâu xuống vài tấc, qua những khu rừng rậm rạp, độc đạo, núi non lại trùng điệp hiểm trở rất khó cho chiến xa khi đụng trận, bị hạn chế triển khai Hỏa lực yểm trợ tương quan lẫn nhau. Con đường lại quanh co theo triền đồi núi, dễ bị phục kích hai bên cạnh sườn. Trên cao nhìn xuống tôi có thể đoán được nơi nào có thể bị phục kích, chỉ cần một ‘Chốt kiềng’ nhỏ cũng đủ chận đường để cho CSBV tha hồ dập pháo, vì đây là mảnh đất rất quen thuộc, CSBV đã có chuẩn bị từ trước với một số đạn khổng lồ dư thừa cho cuộc chiến kéo dài đến 4, 5 tháng. Nhiệm vụ của tôi vừa là C&C vừa là quan sát cơ phối hợp FAC có người Việt backseat để điều không tiền tuyến. Quân VNCH đã bị người bạn đồng minh đâm sau lưng bằng cái bẫy “trận địa pháo” của tướng Võ Nguyên Giáp đã chuẫn bị kỹ lưỡng từ ngày thành lập 70B.
                  Từ Căn-cứ Hoả-lực Aluối lui về biên giới không bao xa, cách khoảng về phía Bắc trên ngọn đồi nhỏ là Thiết-đoàn 7 Kỵ-binh và cách đó vài cây số có Chi-đoàn 1 Chiến xa, dài qua hướng Tây lại thêm Chi-đoàn 2 thiết kỵ. Nói tóm lại, Bộ chỉ huy Lữ-đoàn 1 Đặc-nhiệm của Đại Tá Nguyễn Trọng Luật được bao che bằng bức tường thành bởi những con Cua sắt bao chung quanh..
                  Lữ-đoàn-3 Dù tại Đồi-31, toàn bộ chỉ huy bị bắt sống và chết, đặc biệt, các chiến sĩ Tiểu-đoàn 3 Dù-trừ khoảng 300 tay súng, trách nhiệm bảo vệ Căn-cứ đã tử thủ đến hơi thở cuối cùng nơi chiến địa tàn khốc nầy, có ai tưởng nhớ đến những oan hồn đang vất vưởng trên bụi cây, đồi núi, trong đó có 2 nhân viên phi hành PĐ 219 thuộc LÐ51TC? Trên đường tiến chiếm Tchepone, 9 Tiểu-đoàn Dù thì đã có 5 Tiểu-đoàn trưởng tử nạn hoặc trọng thương (theo dự mưu của tham mưu trưởng WSAG, Donald Rumsfeld, phải tiêu diệt các Sĩ quan nồng cốt nầy để không còn Cán-bộ hầu tái phối trí lại binh chủng Dù, và năm sau 1972 sẽ tiêu diệt các sư đoàn thiện chiến của BV để rút ngắn cuộc chiến) Những binh sĩ thiện chiến nhất của quân lực VNCH phải bị giao động kinh hoàng ngay trung tâm chứa đựng 36,000 tấn đạn cầu vòng đủ loại, làm sao họ đội nổi trên đầu với số đạn khổng lồ nầy? Các Trực thăng tải thương đã phải chịu những “cớ sự” như thế, là vì mạng sống của các chiến hữu, trong khi Không kỵ Mỹ từ chối bay vào các căn cứ hỏa lực vì bị bẫy trận địa pháo của BV đã điều chỉnh sẳn.
                  Khi bấn loạn thần kinh, chính ai khỏe mạnh mới là kẻ được quyền lên trước và nếu cần họ bám víu nơi nào trên Trực thăng để tránh khỏi vùng tử địa, như tìm cách phóng lên Trực thăng hay bám vào càng đáp để được thoát thân. Không ai chối cãi họ đã chiến đấu rất dũng cảm trên những ngọn Đồi 30, 31, CCHL Hồng Hà-2, LZ South, North… nhưng không ai bắt họ đừng kinh hoàng khi phải chịu 17 ngày đêm liên tục với vài chục ngàn tạc đạn đủ loại vùi dập trên cứ địa. Tôi không trách họ mà chỉ trách Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ [NSC] đã bày ra cái “Bẫy” trận địa pháo nầy… rồi mời báo chí phản chiến đến quay phim tại Khe Sanh với dự mưu vô cùng hiểm độc (axiom-1) Cứ nhìn lại hình ảnh giải mật thì rõ, có phải người cười tươi nhất là Richard Helms, Trưởng tình báo và người kế là Kissinger cùng tướng Haig soạn giả vở ‘bi kịch Lam Sơn 719 nầy không? Henry A. Kissinger trong hồi ký White House Years, nói về nguồn gốc đưa đến kế hoạch HQLS719 như sau: “Sự thành công thì có nhiều người cha. Nhưng thất bại là đứa con không người nhận.” Ý ông Cố vấn An ninh Quốc gia muốn nói là, không ai trong chính phủ Nixon nhận là cha đẻ của kế hoạch HQLS719. Nhưng nhiều tài liệu cho thấy Kissinger có tham dự và đốc thúc việc thực hiện HQLS719 (hình trang 76 “The New.Legion” TT Nixon bị vây xung quanh bằng những thành viên WIB)

                  Trong cuộc phỏng vấn của Đài BBC trước đây: “Ông (Kissinger) nói rằng tấn thảm kịch của 35 năm trước, nay cuối cùng cũng đã ở phía sau, Ông có thực sự nghĩ như thế không!?” Có nhiều người nghĩ rằng, những thảm kịch nầy sẽ không bao giờ có thể bị ‘lãng quên’ và chính ông cũng trực tiếp gây ra một số trong những thảm kịch đó? Kissinger nổi cáu, nhưng không đỏ mặt, vì già rồi, mặt mày nhăn nheo, đâu còn máu nữa mà đỏ, nên đành để gương mặt xanh dờn rặn ra: “Nầy nhé! Ðây là loại câu hỏi của BBC mà tôi sẽ không trả lời! Đây là một chủ đề quá quan trọng cho những câu hỏi tự cao tự đại, những câu hỏi về cơ bản là thiếu hiểu biết sự phức tạp của vấn đề! (Vì sự thật Kissinger chỉ là người được W A Harriman tuyển mướn nhờ học lực ưu hạng chuyên môn mà làm việc đó theo lệnh Permanent Government thôi)
                  Nếu Bà có câu hỏi khác, tôi sẽ trả lời, nếu không chúng ta kết thúc ở đây” (Theo lệnh PG, Kissinger là thủ phạm mua chuộc Đài BBC phát tin ngầm ý cho kế hoạch ‘rã-ngủ’ Quân-lực VNCH, bởi Tham mưu trưởng Donald Rumsfeld, những tin tức gây bấn loạn kinh hoàng (panic) quân dân Miền Nam, những Tỉnh chưa mất thì nói đã rơi vào tay lính BV, như Ba Mê Thuộc, Huế, Đà Nẳng, Nha Trang…dĩ nhiên là có nhiều thành phố bỏ trống khi quân BV không kịp có mặt để tiếp thu, có phải vậy không? Đó là kế hoạch dự trù rất tinh-vi của CIA do Richard Helms có thiết kế tỉ mỉ trước… sẽ xãy ra liền sau khi hoàn tất vụ Watergate: Như thể hiện qua một tài liệu mật của CIA: “sẽ có một cuộc chạy trốn trong hỗn loạn ra khỏi Việt Nam, và Cộng Sản khủng bố… trả thù!).

                  Về thiệt hại của phía BV cũng khá nặng nề, 16 trong 33 Tiểu Đoàn cơ động bị tiêu diệt, gồm 19.360 người, 110 chiến xa bị tiêu hủy và 3,500 người bị thiệt mạng trong số 12.000 dân công khuân vác hậu cần. Nhưng có nguồn tin khác cho là: có ít nhất có 75 chiến xa trong 110 chiến xa được xem là hủy diệt hoàn toàn. Nguồn tin tình báo Hoa-kỳ cho rằng: hơn 13.000 người tử nạn cho cuộc phòng thủ bảo vệ các kho tàng, cùng với một số lớn chiến xa, đồ tiếp liệu và quân dụng chiến cụ, trên 2.000 dân công vác đạn hoặc đoàn viên phục vụ cho các Pháo-đội bị chết.
                  Nhận xét của Tướng Abrams khi cuộc hành quân chấm dứt: “đây là cuộc chiến lớn nhất trong thời đại nầy!” Kết quả cuộc hành quân làm cho địch giảm thiểu đáng kể những hoạt động toan tính chống Miền Nam, mức độ thâm nhập người và chiến cụ giảm thấy rõ, những trung tâm Hậu-cần gồm nhiều Binh trạm đã bị thiêu hủy, phải cần một thời gian khá lâu mới mong phục hồi lại được. Sau cùng Tướng Abrams đi đến kết luận: “Tôi bắt đầu có niềm tự tin về sự chiến thắng của cuộc hành quân nầy, với số tử vong của địch đáng kể!” Đây là câu nói đánh giá về tình hình địch trong buổi họp giữa tháng August/ 1971, nhưng mục tiêu của Permanent Government là tiêu-hủy hai nổ lực chính của hai miền và vũ khí lổi thời cùng quân dụng trước khi kết thúc axiom-1 mà PG cho rằng để tiết kiệm máu xương cũng như PG đã thả hai trái Bom nguyên tử trên đất Nhựt để rút ngắn cuộc chiến

                  Vào ngày 25/March/71, Tướng Hinh ghi nhận: “hầu hết các lực lượng tham chiến đã bắt đầu chuẩn bị rời khỏi Hạ Lào, một dịp may tốt nhất đã trôi qua và không bao giờ trở lại. Mục tiêu phá hủy Căn-cứ Hậu-cần 604 trước mùa mưa dầm gió Bấc chưa hoàn tất; Thế thì, xem như mục tiêu nầy đã bỏ sau lưng! Ðây củng là một quyết định thật can đảm mà Báo chí Mỹ khen ngợi có tính chọc quê Tổng thống Johnson, vì Johnson đang bị bủa vây bởi áp lực của Ðảng-hội Skull and Bones, nhưng có ai biết được rằng P.G cần tình hình Miền Nam ổn định để rút lui bằng hình thức chưa danh chính ngôn thuận (nhưng sẽ hợp thức hoá bằng Hiệp định Paris 27/1/1973) nên Tổng-thống Thiệu mới được yên lành ngồi trên chiếc ghế quyền lực để duy trì tình hình chính trị thật ổn định.

                  Chiếc chiến xa đầu tiên của LĐ1/TK vượt qua một khúc sông Xê-pon cạn gần biên giới, về tới phần đất Việt Nam; Nhiều quân Dù ngồi trên chiến xa vẫy tay chào các chiến binh Hoa Kỳ đang giữ an ninh trục lộ số 9 gần Lao Bảo. Vào khoảng nửa đêm, pháo binh và phi công Hoa Kỳ được gọi tới để bắn chận một đoàn thiết giáp địch đang đuổi theo phía sau.
                  Rạng sáng hôm sau, Đại Tá Luật và đoàn thiết giáp LĐ1/TK vượt qua sông về tới Việt Nam. Đại Tá Battreall lúc đó đang bay trực thăng chỉ huy theo dõi cuộc lui quân đã cảm thấy rất hãnh diện và khâm phục trước cảnh tượng đoàn xe và các chiến sĩ Mũ Đen dạn dày sương gió vừa trở về từ Hạ Lào. Ông nhận xét nếu các chiến binh VNCH hèn nhát hay hoảng sợ khi đối diện địch quân như báo chí Hoa Kỳ đăng tải, chắc chắn đoàn xe đã bị bỏ lại khi hết nhiên liệu giữa đường. Đằng này, các chiến xa đã trật tự xếp hàng chờ tới phiên được tiếp tế; Khi đoàn xe vượt sông, Đại Tá Battreall còn trông thấy rõ ràng chiếc xe ủi đất nhỏ đang kiên nhẫn san bằng bờ sông phía Đông trong khi những chiến xa và thiết vận xa cuối cùng bắt đầu sang sông từ bờ Tây. Xa xa, khoảng 8 cây số phía sau đoàn xe, hai chiếc phản lực cơ F-4 Phantom đang gầm thét nhào xuống thả bom vào toán chiến xa của Cộng quân truy kích. Nhiều xác chiến xa T-54 bị phi cơ oanh kích cháy nám đen nằm rải rác trên đường số 9 gần biên giới trong phần đất Lào
                  Sau cùng, Đại Tá Battreall và BCH/TG cũng hội ngộ được với các chiến sĩ Mũ Đen vừa về từ Hạ Lào ngay tại bãi đất trống gần nhà tù Lao Bảo cũ, nơi đặt pháo binh cơ giới Hoa Kỳ trước đây giờ đã rút. Lúc đó các chiến sĩ Dù tùng thiết đang xuống xe, còn Đại Tá Luật đứng cạnh lùm cây ven đường điều động các chiến xa lên đường từ Lao Bảo về CCHK Kilo giữa Khe Sanh và Cam Lộ. Tuy chỉ cách biên giới Lào không đầy một tầm súng nhỏ, nhưng các chiến sĩ Mũ Đen dường như coi thường nguy hiểm. Những cố vấn thiết giáp Hoa Kỳ vội vã tìm gặp các đơn vị trưởng liên hệ. Đại Tá Battreall cũng tìm gặp Đại Tá Luật và sau này kể lại: “Mọi người tỏ ra vui vẻ và nhẹ nhỏm thấy rõ khi đã trở vế “nhà”. Mọi người nhìn thấy cảm động, chiến sĩ Dù và Thiết Giáp siết tay, gọi tên, vỗ vai và ôm chầm lấy nhau, rất cảm động khi thấy họ vẫy tay từ giã. Tuyệt đối không hề có dấu hiệu thù oán nào, sau khi có quá nhiều hục hẵn trong lúc cùng chiến đấu; Dường như mọi người đều nghĩ tới việc sẽ được tiếp đón như những vị anh hùng khi về tới Khe Sanh?” Thật chua xót cho các chiến sĩ anh hùng của chúng ta!
                  Riêng Đại Tá Luật, có lẽ cũng nghĩ như vậy, bình thản và hân hoan trong bộ chiến phục đầy bụi đỏ, ông dường như rất hãnh diện về những thành quả, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong thời gian tại Hạ Lào. Tổng cộng, đoàn xe trở về gồm 22 chiến xa M-41, 54 thiết vận xa và 22 quân xa đủ loại khác. Số xe thiết giáp hư hại bị bỏ lại bên Lào gồm 21 chiến xa M-41, 26 thiết vận xa, 2 xe làm đường và 51 quân xa đủ loại. Như vậy, coi như LĐ 1/TK bị thiệt hại chừng phân nửa số xe tham chiến.


                  (Còn tiếp)
                  Chỉ còn Đại Đội Hắc Báo chiến đấu trên đất Lào
                  Last edited by Phòng Trực; 11-12-2012, 11:08 PM.

                  Comment

                  • vinhtruong
                    Super Member
                    • Jun 2010
                    • 1924

                    #24
                    Lam Sơn 719 và Liên Ðoàn 51 Tác Chiến

                    Đại Đội Hắc Báo chiến đấu đơn-độc trên đất Lào, vì TT Thiệu ương ngạnh không chấp hành chỉ thị của Pentagon (tướng Haig) là vào phá hủy mục tiêu hậu cần 604, nên tướng Abrams phải dùng đến đơn vị Hắc-Báo cơ hữu đặt dưới quyền của Mỹ là chỉ rescue đoàn viên phi hành vào nhiệm vụ “Lực Lượng phản ứng nhanh” (Rapid deployment Force).

                    Quân lực VNCH đã hoàn toàn rút khỏi, không còn trên phần đất Lào, bắt đầu từ ngày 28 đến 29 March 1971 Nhiều đợt B-52 trải thảm liên tục tàn phá những kho tiếp liệu hậu cần của quân BV thay cho nỗ lực chính của quân lực VNCH đáng lẽ phải vào đây phá hủy; Nhưng không tài nào tiêu diệt được các ổ phòng không cổ điển chạm nổ AAA của 6 trung đoàn phòng không BV; Phi cơ trinh sát OV-10 được điều động bay đến để quan sát kết quả oanh tạc ra sao, nhưng vẫn bị ở dưới đất bắn lên xối xả. Phi cơ FAC nhìn xuống qua lớp sương mờ mờ ảo ảo cũng không thấy gì ngoài một màn sương khói phủ lên trên ấy, Quan sát viên trên OV-10 cho rằng các ổ phòng không được che dấu kín đáo trong các khe đá núi Vôi, chỉ được kéo ra khi tác xạ, hoặc xạ thủ của các ổ phòng không đều bị khóa chân vào khẩu pháo?

                    Thế là Pentagon chỉ thị tiếp tục oanh tạc trên các điểm phòng không mà FAC nghi ngờ, khi phát hiện phối hợp với phi cơ B-52 Arc Light chiến lược Strategic Air Command và phi cơ chiến thuật cho đến ngày 31, March là ngày quan trọng phải thả toán quan sát Black Panther xuống để xác định khai thác địch tình.

                    Sáng sớm tinh sương sau nhiều đợt B-52 cùng 22 phi xuất chiến thuật trải thảm xuống 40 cây số đông nam Lang Vei đến 11:30, FAC trên OV-10 vẫn phát hiện phòng không cổ điển từ dưới đất vẫn liên tục bắn lên ba giây một viên đạn lửa. Nên đến 12: 10 thình lình xuất hiện một chiếc vận tải cơ Master Cargo-130 bay đến thả trái Bom BLU-82s, 15.000 pds làm bãi đáp, liền sau đó 12: 30 Đại đội Hắc Báo được phi đội trực thăng 2/17 Air Calvary Squadron thả xuống an toàn, dĩ nhiên không một phát súng nào bắn trả.

                    Liền sau đó đại đội Hắc Báo khai thác ngay bãi đáp phát hiện 85 quân chính qui và 18 vũ khí cộng đồng gãy nát vung vãi khắp nơi, quan sát cơ OV-10 vẫn bị phòng không cách bãi đáp vài cây số bắn lên dữ dội. Vì TT Thiệu thọc gậy bánh xe nên tướng Haig, cho ra đặc lệnh hành quân, nhiệm vụ của Hắc Báo trở thành lực lượng phản ứng nhanh (Rapid Deployment Force) tiến quân lục soát thành quả oanh tạc của B-52, đó là lý do đại đội Hắc Báo dẫm lên xác chết quân BV và bị nôn mửa khi lục soát chiến trường (Tướng ABRAMS có nhận xét: If there’s a professional outfit in this country, it’s the Hac Bao Company [reconnaissance company of the 1st ARVN Division]. They’re first-class soldiers. Every man in it’s been picked by the division commander himself, and that’ been going on for about five years. They come out of Laos saying the stench of dead bodies is so bad the soldiers can‘t stand it—they get sick. And we believe the Hac Bao Company—they’re proven it so many times. Recently we had a helicopter shot down with seven Americans on board. We put the Hac Bao Company in to rescue them. It took them two days, during which they killed 67 enemies and got those seven Americans out. It’s a little military unit that’s first class).

                    Hắc Báo di chuyển suốt đêm 31, March 1971 phát hiện nghe tiếng xe Molotova di chuyển về hướng nam, AC-130B được điều tới tiêu diệt bằng đại bác tầm nhiệt tiêu hủy 5 chiếc. Sáng hôm sau Hắc Báo tìm ra nhiều ụ kho xăng dầu, và vô số hầm trú ẩn xuyên núi, các Láng trại đủ loại từ nhỏ đến gian dài, toàn làm bằng Tre Nứa, các mái nhà đều lợp bằng Tre Nứa đập dập đan lát với nhau, bao bọc bởi các vườn rau tạp nhạp ngụy trang đủ loại với khoai Mì khoai Lang, cùng rải rác đó đây vài xe xích nằm-ụ.

                    - Trưa ngày 1, April 1971 phi đội 2/17 Air Calvary Squadron lại trở lại đón đại đội Hắc Báo về Huế, trong khi tổng thống Thiệu đáp xuống BCH tiền phương Quân Đoàn-1, Đồng Hà chào đón đoàn quân chiến thắng từ Hạ Lào trở về trước sự bao vây của báo chí nước ngoài. TT Thiệu tuyên bố “đây là cuộc hành quân đem nhiều thắng lợi cho VNCH vì CS không còn tiếp liệu để chiến đấu chống miền nam, chúng có thể hồi phục sau một thời gian khá lâu sau đó”.
                    Trong khi đó cuộc rút lui từ Khe Sanh về Đồng Hà vẫn tiếp diển, và sau khi TT Thiệu trở về Saigon thì Sư Đoàn Dù cũng nối gót theo sau
                    - Ngày 2, April tiểu đoàn pháo 8/4 đơn vị pháo sau cùng rời Khe Sanh.
                    - Đêm 4, April toàn thể Sư đoàn TQLC về tập trung phía tây Quảng Trị và Đơn vị hậu cần Việt/Mỹ tại Vandergrift và Khe Sanh giãi tán thành lập lại tại một nơi khác ở tây nam Quảng Trị.
                    - Ngày 5, April Thiết đoàn 4 và Tiểu đoàn 77 BĐQ là đơn vị sau cùng rời Khe Sanh về Đồng Hà
                    - Ngày 6, April (lại một lần nữa) đại đội Hắc Báo phải mạo hiểm nhảy sâu vào sau lưng quân BV, 22 cây số đông nam Lang Vei, chỉ cần lục soát trong vòng 7 tiếng, vào lúc 10:00 sáng sau một trái Bom 15.000pds và được lệnh lục soát và sẽ rút về trong ngày vào lúc 17:00 sau khi đã phát hiện 15 xác chết tại chỗ với 19 súng cộng đồng kế bên một kho vũ khí nhưng phải tiến chiếm các mục tiêu khác và tìm thấy vô số quân dụng, thuốc men hầm hố cùng doanh trại, dường như quân BV vừa di chuyển vào phía nam thung lũng Ashau, sau khi đại đội đã phát hiện 3 ổ phòng không 37 và 57 ly bị phi cơ chiến thuật phá hủy, không khí yên lặng với mùi xác chết sình ươn đến khó thở.
                    - Trước 17:00 ngày 6, April 1971, hai đơn vị Việt Mỹ sau cùng rời Khe Sanh là Tiểu đoàn-1 và 11 đặc nhiệm (task-force) của Mỹ được trực thăng Mỹ bốc về đông nam Quảng Trị cùng trung đoàn 5 và trung đoàn 54 về Cam Lộ, nơi đây họ được xe GMC chở về lại đơn vị gốc. Như vậy xem như chấm dứt cuộc hành quân Lam Sơn 719.

                    Cuộc hành quân rút ngắn hơn dự trù, thay vì phải chấm dứt vào đầu tháng 5, 1971, lý do TT Thiệu thách thức nếu Hoa Kỳ chịu chơi ra lịnh cho Sư-đoàn-23 Mỹ cùng hành quân tăng cường với Sư-đoàn-2 của VN, thì sẽ OK cho đến khi nào Hoa Kỳ không muốn chơi nữa thì cùng rút về. Tướng Haig tức đến tím gan ói mật nhưng không làm gì được TT Thiệu vì nước Mỹ cần tình hình chính trị phải tuyệt đối yên tịnh để Mỹ rút quân theo đúng lịch trình hành khách đi máy bay đã đăng ký (Booked trước) cho cuộc du lịch thao dượt chiến trường tại Việt Nam. Các ly, dĩa, muổng nĩa đều bỏ lại nơi Pinic thao trường là dụng cụ chiến tranh, nhưng lại phải đặt cho một cái tên có vẻ chính trị là VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH rồi sẽ thành đống sắt vụn vì sau thời gian thiếu cơ phận rời để thay thế.

                    (Còn tiếp)

                    Chạm trán giữa Thiết giáp Mỹ/Việt rồi đến Biệt đội trực thăng VN

                    Last edited by Phòng Trực; 11-13-2012, 11:36 PM.

                    Comment

                    • vinhtruong
                      Super Member
                      • Jun 2010
                      • 1924

                      #25
                      Quân BẠN nổi điên bắn quân TA

                      Chạm trán giữa Thiết giáp Mỹ/Việt rồi đến Biệt đội trực thăng:
                      Trên đường di chuyển về Khe Sanh, toán thiết giáp gặp một Chi đội chiến xa Hoa Kỳ thuộc LĐ1/77 Thiết Giáp. Một Đại Úy Hoa Kỳ còn rất trẻ đứng trên chiến xa dẫn đầu chỉ trỏ vào toán thiết giáp Việt Nam, miệng la lối om-xòm: ‘Ê, bọn cà chớn, tránh đường cho tụi này đi”. Cũng may, Đại Tá Battreall lúc đó đang di chuyển chung cùng với các chiến xa Việt Nam, Ông liền nhảy xuống xe rồi leo lên chiếc chiến xa Hoa Kỳ dẫn đầu. Ông nhìn thẳng vào mặt viên Đại Úy trẻ, gằn giọng: “Này Đại Úy, anh đang la lối trước mặt vị CHT/LĐ1/TK. Ông ta đã ở Hạ Lào trong 6 tuần lễ, còn đại-úy chưa từng ở đó lấy một ngày. Ðại úy hãy im miệng lại”! Viên Đại Úy Hoa Kỳ ngẩn ngơ trong giây lát với sắc mặt sợ hãi; Chỉ trong vòng vài phút, đoàn chiến xa Việt Nam lại lên đường, trong khi các chiến xa Hoa Kỳ dạt qua hai bên tránh đường, nhưng những GIs khác không biết gì cả, nên vẫn còn bực tức la ó om xòm, chửi bới vào phía đoàn xe Việt Nam.

                      Thật tình mà nói, khi di chuyển được một đoạn ngắn đoàn thiết giáp lại bị đạn bắn ra từ hai bên đường… quân BV chăng? Những chiến xa Việt Nam bình tĩnh khai triển đội hình và chiến thuật chống phục kích bằng cách tăng tốc độ, đồng thời dùng đại liên và đại bác 76 ly bắn trả lại hai bên đường. Khi đoàn xe vượt qua đoạn đường bị bắn an toàn, Đại Tá Luật ra lệnh ngưng bắn rồi ngừng chiếc xe chỉ huy lại bên đường để có thể nhìn rõ đoàn xe đang di chuyển. Ông vừa vẫy tay chào những chiến xa đi qua, miệng vừa la lớn: ‘Tốt lắm, các anh khiến tôi rất hãnh diện”! Còn chiếc xe ủi đất D-2 nhỏ đã xẻ đường cho các chiến xa sang sông Xepon hôm trước vẫn lẽo đẽo đi theo; viên Trung Sĩ tài xế vẫy tay lại. Đại Tá Battreall chứng kiến cảnh tượng này lấy làm ngạc nhiên: ông tưởng sau khi hoàn tất công tác nguy hiểm giúp đoàn xe sang sông, người tài xế đã bỏ chiếc xe ủi đất để leo lên một chiến xa khác cho an toàn hơn. Đại Tá Luật cũng rất khâm phục, ông ra lệnh cho một sĩ quan trong bộ tham mưu lấy họ tên, quân số của tài xế xe ủi đất để đề-nghị ân thưởng huy chương.

                      Đoàn xe về tới CCHL Kilo an-toàn. Sau này, Đại Tá Battreall tìm ra cuộc chạm súng ngắn ngủi trong cuộc di chuyển vừa qua là “bắn lầm" với một đơn vị thiết giáp Hoa Kỳ? Những điều nầy phía Mỹ cũng dấu kín như Mèo dấu Cứt, vì sợ ảnh hưởng đến đổ dầu thêm cho bọn phản chiến ở Mỹ đang biểu tình rầm rộ; Trong một cuộc hành quân qui mô với nhiều đơn vị tham chiến, ngôn ngữ lại bất đồng, việc phối hợp chắc chắn không được chu đáo và có nhiều ngộ nhận vì nghe loáng thoáng tin báo- chí nói xấu QLVNCH với dụng ý chính trị một chiều làm cho đon vị thiết giáp bạn bị xúc phạm danh dự của binh chủng nên tỏ thái độ… chúng ta nên cảm thông ở vùng oi ả nóng bức nhạy cảm cho tâm linh?

                      Trường hợp xung đột đã cũng xảy ra cùng với đơn vị cà-chớn LĐ/1/77 Thiết giáp Mỹ nầy, cùng với Biệt đội Trực thăng Việt Nam tại phi trường Ái-Tử: Vào một buổi trưa oi bức, đoàn trực thăng chúng tôi sau khi thi hành công tác trở về, dĩ nhiên khi đáp tạo thành những cụm bụi cát đỏ tung toé mù mịch vào giờ ăn của Toán thiết giáp Mỹ phòng vệ hậu cứ phi trường. Họ nổi nóng chạy đến chửi bới um xùm làm Thiếu úy D nổi nóng chạy đến dạy chúng một bài học, dùng võ thuật Judo đai đen để hạ một anh GIs da màu ồn ào hổn láo nhứt trong bọn. Nhưng thật nhục, thiếu-úy D nhỏ con nên bị thằng GIs nầy nắm ngay cổ áo bay trước khi thiếu úy D xấn lại gần cận chiến, rồi tên GIs nầy quay như con Dế quăng xuống bờ cỏ; Khi anh em sách súng ào ra bắn chỉ thiên chạy lại cứu bồ, thì mấy tên GIs nhảy lên một chiếc xe bánh xích chạy trốn lên đồi.

                      Một buổi trưa nắng thiêu đốt như vậy, tôi vừa từ Khe Sanh về đáp xuống thăm Biệt đội với mồ hôi nhuể nhoải, nghe được đầu đuôi câu chuyện khi tuổi trẻ bồng bột vì đàn em bị làm nhục, nên tôi tức khí nổi điên: “Lưu… Đ.M cất cánh bắn chết mẹ nó cho tui!” Trung-úy Lưu, hiện thân từ BĐQ qua KQ, nên nổi máu anh hùng còn hơn tôi, chạy ra quay máy gunship rượt theo cho chúng một bài học.

                      Tự nhiên tôi giựt mình nguội lại một cách lạ lùng, và chậm rãi nhắn nhủ trung úy Lưu cẩn thận “nhớ bắn rocket chận đầu cảnh cáo thôi nhé, bắt nó xin lỗi thôi, đừng bắn hũy diệt thì nhiều rắc rối lắm nghe chưa Luu” Hắn mau mắn quay máy cất cánh lên, thấy chiếc xe xích đang chạy lên đồi đất đỏ, liền chúi xuống vào trục xạ kích, bấm hỏa lực… 2 trái rocket hai bên phụt ra trúng vào giữa mặt đường đất đỏ cách mũi chiếc M-113 khoảng 100 thước. Chiếc M-113 điếng hồn biết không chạy thoát, nên ngừng lại; Một anh GIs cởi chiếc áo thun trắng buộc vào đầu súng M-18 dơ cao quơ qua quơ lại như muốn ám chỉ Sorry, Big sorry. Lưu trở về đáp sau khi bay xạt trên đầu chúng lắc cánh với cử chỉ hài lòng bỏ qua.

                      Về lại Đà Nẳng, sáng hôm sau, trong buổi hợp sáng thường lệ, Trung-tá Tư lệnh Không Đoàn-41 bảo tôi sẽ gặp Đại-tá Cố vấn trưởng Surrat ở ngoài sân cờ trước BTL. Sau khi họp xong tôi bước ra sân banh trước mặt sân cờ gặp ngay Đại tá Surrat, ông cười vui-vẻ và bên cạnh, Trung tá Mỹ gương mặt già giặn đứng đắn, cố vấn Phòng-5 Quân đoàn; Vừa thấy tôi là ông chửi thề một loạt tỏ vẻ dân chịu-chơi miền Texas cười xoà với tình thân thiện chiến hữu, nhưng thật điều quái lạ, cố vấn Chiến tranh chánh trị phải trang nghiêm mới đúng, chớ gì mà chửi thề loạn xạ?

                      Ông bô-bô rổn-rảng vừa bắt tay tôi: “Thiếu-tá chắc cũng hiểu tình hình ở bên MỸ hiện nay đang có phong trào xuống đường, goddamn hell… biểu tình phản chiến rần rộ khắp nước” Nếu sự đụng độ giữa quân đội Mỹ/Việt xảy ra như vừa qua thì thật vô cùng bất lợi cho chúng ta … Thiếu-tá nghĩ sao”
                      Ông tiếp “Tôi đề nghị nếu có nhà báo nào vào đây hỏi lôi thôi cớ sự, xin thiếu tá nói không có… còn bên tôi thì tôi cũng nói như vậy”
                      Dĩ nhiên những lời Trung tá Mỹ nầy nói rất đúng nên tôi đồng ý ngay
                      Xong xuôi, Ông chửi thề: “Goddamn hell phải kỷ luật chúng nó, Thiếu-tá nghĩ sao?”
                      Tuy tôi có nhỏ tuổi hơn ông, nhưng tôi cũng đối đáp theo luật giang hồ chịu chơi chửi thề như ông:
                      “There’s no need to be so goddamn rude! đuổi nhóm GIs nầy về Mỹ liền tức khắc, (ý tôi muốn giúp họ khỏi phải tác chiến và về với gia đình) và đồng thời tôi cảnh báo cho Trung tá biết, trưa ngày 12, Thursday tuần vừa qua, trực thăng Cobra của ông đã làm mất cảm tình với người dân Việt… vì tuần rồi trực thăng Cobra của trung tá đã bắn rockets chống biển người xuống đồng ruộng quận Phú Thứ, chỉ 2 trái rockets mà một con Vịt bị ghim từ 3, đến 4 chiếc đinh (dài 4 phân, sắt thép đen xì như một phi tiêu với 4 cạnh đuôi thăng bằng xoè ra phía sau).
                      Ông trung tá Mỹ phản hồi: “Còn phía pilot gunship của Thiếu tá bắn chận đầu hù doạ chúng tôi thì… biện pháp ra sao?”
                      Tôi mau mắn trả lời: “Chính tôi ra lệnh cho họ làm, nếu trung tá không hài lòng xin trung tá cứ bảo Tư lệnh Không Đoàn 41 kỷ luật tôi, vì tôi mới chính là người ra lịnh đó”

                      Sau khi LĐ1/TK vế tới phần đất Việt Nam, Đại Tá Luật tham dự một buổi thuyết trình hành quân tại bản doanh tiền phương của Tướng Lãm; Nghe nói trong buổi thuyết trình này, các sĩ quan tham mưu QĐ-I và Quân Đoàn XXIV Hoa Kỳ của tướng Sutherland có ý chỉ trích nặng nề về lỗi lầm điều quân của Đại Tá Luật, cho rằng ông là nguyên nhân chính đã khiến lực lượng thiết giáp bị thiệt hại trầm trọng và không đạt được thành quả mong muốn tức là đánh vào Tchépone tại Hạ Lào. Có người còn đi xa hơn, kết tội Đại Tá Luật thiếu khả năng chỉ huy và thiếu tích cực; Những lời chỉ trích này đã khiến Đại Tá Battreall rất bất bình; Theo ý kiến của ông, “Đại Tá Luật đã bị trở thành một con dê tế thần, những sai lầm nếu có là những sơ sót của Tư lệnh hành quân Quân đoàn thiếu phối hợp với SĐ/Dù là đại đơn vị toàn quyền điều động thiết giáp về lảnh đạo chi huy tại Bộ tư lệnh Hàm Nghi, còn Đại Tá Luật là một cấp chỉ huy quả cảm và trầm tĩnh theo nhận xét của riêng tôi!”.
                      Riêng nhận xét của người viết, Đại tá Luật sợ phải vượt qua một đoạn đường 4 cây số dẩy đầy trên lớp Mìn chồng chiến xa và còn bị 2 trung đoàn/70B chận đường phục kích. Có lẽ chính SĐ/Dù đã không tạo được sự phối hợp nhịp nhàng giữa thiếp giáp và quân Dù vì thiếu phối hợp, khiến LĐ/1/TK bị thiệt hại đáng kể vì không được yểm trợ và điều động đúng lúc và đúng mức. Trong khi không yểm Mỹ không còn yểm trợ cho quân bạn, nhưng đau lòng thay đây lại là mục-tiêu của Pentagon muốn hủy bỏ chiến cụ lỗi thời tại thùng rác lộ thiên rừng rú nầy, đó là mục tiêu mà Pentagon (tướng Haig) có kế hoạch hủy diệt tất cả chiến cụ lỗi thời theo lệnh của Donald Rumsfeld tham mưu trưởng Washington Special Action Group. Nếu đúng như người viết phán đoán thì đại tá Luật được ngầm ân-thưởng cũng như John Paul Vann xa lầy tại trận Áp Bắc 1963; Ðó cũng là lý do đại -tá Luật được ngầm ý của CIA rút bỏ trận địa mùa hè-72 mà không bị thiệt hại. Căn cứ vào cuộc họp nầy. Tổng thống Thiệu đề cử đại tá làm Tỉnh trưởng Ban Mê Thuộc, coi nhu đơn vị hành chánh không tác chiến, vì cho rằng đại tá như một bảo vật không nên đem ra xài mà có ngày sẽ bị bể-vỡ mà nên giữ vào lòng kính để thế nhân chiêm ngưỡng?
                      Trong trường hợp CCHL 31 bị thất thủ, Đại Tá Battreall cũng cho rằng không phải lỗi của Thiết Giáp đã không tăng viện kịp thời, nhưng vì Đại Tá Luật nhận được những mệnh lệnh trái ngược từ Tướng Đống, còn Tướng Lãm thì đặt nhẹ trách nhiệm luôn luôn nằm tại Quân đoàn không có lính tại Đà Nẵng.
                      Người viết phân tích trận đánh, người ta chỉ luôn nghĩ đến 2 Sư Ðoàn Dù và TQLC mà quên nhắc nhở đến đơn-vị nhỏ như tiểu-đoàn/BÐQ và Ðại đội Hắc Báo [Black Panther] của Sư Ðoàn-1BB cũng như một nhúm Phi-đội Trực Thăng Vỏ Trang hùng dũng của PĐ-213. Nhưng đối với Trung Tướng Dư Quốc Đống và 2 vị tư lệnh chiến trường Mỹ thì lại khác hẵn: Tướng Westmoreland, khi ông cần phải bảo vệ cho 6000 TQLC Mỹ trấn đóng tại Khe Sanh, Westmoreland đặt hết tin tưởng vào chỉ cần 1 tiểu đoàn BÐQ giữ vững vòng đai căn cứ, là đủ bảo đảm sự yên tâm cho Mỹ trấn giữ cứ điểm Khe Sanh nầy. Còn như Tướng Abrams thì lại khác, ông chỉ cần 1 Ðại đội Hắc-Báo [Black-Panther] của SÐ/1 là đủ bảo đảm cấp cứu phi hành đoàn Mỹ lâm nạn, còn riêng tướng Dư Quốc Đống, Tư lệnh Dù thì tin vào TTVT Phi Đoàn 213 hơn dựa vào Mỹ, qua kinh nghiệm yểm trợ gan lì của PĐ/213 nơi chiến trường Đồn-điền Chup, Cambodia năm vừa qua (1970).
                      Vì trách nhiệm quá nặng nề tướng Abrams nắm giữ đại đội Hắc Báo là làm cách nào có được sự cấp cứu kịp thời, chỉ đoàn viên phi hành thuộc sư đoàn 101 không kỵ mà thôi, nhưng sự thật khi TT Thiệu ra lệnh rút quân lập tức ngay sau khi dẫm chân trên phần đất Tchepone. Hay tin xấu, Tướng (4 sao nhậm chức, nhưng tôi thì cho là sau khi nghiên cứu) được gắn 4 sao vì trách nhiệm chính trị phải ra chỉ thị cho tướng Abrams và tướng Tư lệnh Đệ Thất hạm đội cũng như Đệ Thất Không Lực, chớ có đánh đấm gì đâu, ngay đến chức Tư lệnh Sư đoàn, Haig cũng chưa có đảm nhận vì không đủ khả năng.
                      Alexander Haig bay qua Quân đoàn 24 gặp Tướng Thiết Giáp Sutherland, ra lệnh “Washington would like to see ARVN stay in Laos through April” buộc QLVNCH phải ở lại đến cuối tháng April, hầu hoàn thành cho bằng được giai đoạn 3 của cuộc hành quân là khai thác thành quả chiến trận, lúc đó Ðại đội Hắc Báo ở lại một mình bên Lào biến thành lực-lượng phản ứng nhanh [Rapid Deployment Force] cũng như khi tình hình cực kỳ nguy hiểm, Trực thăng LĐ51TC phải đảm trách phi vụ thay cho phía Mỹ đang lo việc cấp cứu đoàn viên phi hành Mỹ bị nạn mà thôi. Khi có phi cơ nào bị lâm nạn thì Mỹ hoàn toàn không đếm xỉa đến cuộc hành quân điều nầy các sĩ quan chỉ huy đều ghi nhận, chúng tôi đã chứng kiến sự kiện nầy hầu như hàng ngày đã xảy ra. Ngoài ra, họ còn từ chối tiếp tế tải thương những căn cứ bạn bị vây hãm như Hồng Hà 2, Đồi 30, 31… LZ North, South BDQ khi tản thương … Tôi phải can đảm ra lịnh dù có thể bị kỷ luật là không cho phép trực thăng đáp đụng đất, hover hổng mặt đất để tải thương hay tiếp tế, nguy hiểm nhứt là Gunship 213 phải air cover cho một đại đội thuộc Tiểu-đoàn 39/BĐQ thất lạc đang rút lui về hội nhập với Đồi-30, nhờ vậy mà đại đội nầy đã chiến đấu oanh liệt bên cạnh với TĐ-2 Dù cho nên quân BV chả làm gì được khi tấn kích nơi Ðồi-30. Sau cùng, TĐ-2 Dù có lệnh rút bỏ vì áp lực quá nặng của nhiều trung đoàn BV trong khi các khẩu pháo 105 và 155 bất khiển dụng vì trọng pháo xuyên phá 152 ly tối tân nhứt của LX vào thời đó. TÐ-2 Dù có trách nhiệm bảo vệ nhân viên Pháo đội ra đến vùng an-toàn để trực thăng Mỹ bốc về Khe Sanh tái trang bị súng khác và nhập trận ngay.

                      (Tiếp theo)

                      Nhận định căn nguyên trận chiến Lam Sơn 719
                      Last edited by Phòng Trực; 11-15-2012, 12:43 AM.

                      Comment

                      • vinhtruong
                        Super Member
                        • Jun 2010
                        • 1924

                        #26
                        Lam Sơn 719 và Liên Ðoàn 51 Tác Chiến

                        Nhận định căn nguyên trận chiến Lam Sơn 719
                        “Sự thành công thì có nhiều người cha, nhưng thất bại là đứa con không người nhận” Ý ông Cố vấn An ninh Quốc gia, Tiến sĩ Henry Kissinger muốn nói là, không ai trong chính phủ Nixon nhận là cha đẻ của kế hoạch HQLS719. Nhưng nhiều tài liệu cho thấy Kissinger có tham dự và đốc thúc việc thực hiện HQLS719 (hình trang 76 “The New.Legion” TT Nixon bị vây xung quanh bằng những thành viên WIB, để đi đến kết luận, tổng thống Mỹ TTLQÐ theo hiến pháp quyết định cuộc hành quân xa gần nửa trái đất mà phía Việt Nam chẳng có quyền hạn gì cả, là chính phủ bù nhìn chứ gì? Ðó là cái đau đớn của miền nam mà viên Tham mưu trưởng cho kế hoạch hành quân độc hại nầy là Donald Rumsfeld, hắn ta còn chua ra một câu mất dạy “Miền Nam bù nhìn, Miền Bắc yêu nước)

                        Chiến trận Lam Sơn 719 nầy có tầm vóc ngang với cuộc đổ quân ở Normandy trong Ðệ 2 Thế chiến, và Inchon trong cuộc chiến Triều Tiên. Chỉ khác ở chỗ, Lam Sơn thì đổ bộ bằng trực thăng, còn Inchon và Normandy thì đỗ bộ bằng tàu; Nhưng có một điều chắc chắn là do sự chỉ đạo của WIB, Hội đồng Kỹ nghệ Chiến tranh do Thủ lãnh Harriman và Phụ tá Ðảng hội Skull và Bones là Prescott Bush (ông nội của Tổng thống thứ 43) Mục tiêu WIB (War Industries Board) của ba cuộc hành quân nầy là hủy bỏ các chiến cụ lỗi thời để sản xuất ra chiến cụ mới. Mà phương tiện chuyển vận bằng trực thăng nên phải hy sinh một số lớn đoàn viên phi hành Bộ binh, ưu tú của binh chủng Army Aviation, nhưng bọn WIB đếch cần chỉ cần đạt được mục tiêu có nhiều dollar bỏ túi, không ảnh hưởng đến vi phạm Patriot-Act mà còn nâng vị thế nước Mỹ lên tới đỉnh cao chót vót.

                        Phần nầy, người viết dành riêng cho người anh em phía bên kia: không phải trận đánh nầy là sự thành công hay thất bại như Kissinger đã ghi trong bút ký mà là một tội ác chiến tranh vô cùng tàn độc cho hai anh em một nhà chém giết nhau tận tuyệt bằng vũ khí nước ngoài không chút thương tiếc, mà phía Hà Nội đã chịu quá nhiều thiệt hại mà bên nào cũng ngu xuẩn cho là mình thắng trận. Mà đối với lịch sư là hai bên thua một cách nhục nhã trong lịch sử đau xót của Viêt Nam- Dưới đây tôi chỉ nêu lên những thiệt hại bên phía BV để các quân sử gia căn cứ vào những dữ-kiến data mà viết lại cho có ngọn ngành, dĩ nhiên phối kiểm giữa phóng viên chiến trường quân đội nhân dân và những ghi bút phụ thêm của tôi bút ghi nhựt ký đơn-vị thuộc KBC 3198 SÐ/1/KQ, rồi sau nầy viết lại cho trung thực lịch sử trận đánh nầy về sự thiệt hại của quân đội BV:
                        Tháng 10/ 1970 Tướng Giáp được lệnh của trục KGB/CIA phải thành lập Quân-đoàn 70B và quan trọng nhứt là thành lập Trung Tâm Huấn Luyện quân sự cho tân binh để sẽ thay Lính tại chiến trường cho cuộc hành quân Lam Sơn 719 (danh từ nầy theo CIA là vinh danh quân BV như nhắc lại lịch sử cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê-Lợi để chiếm miền nam) tạii đường 92 nối liền với đường 9 nam Lào. Khi TÐ/1 Dù tấn kích Lính mới tò-te phải sơ tán vào rừng chờ lịnh.
                        -Ngày 18, 19/2/1971: Trận đánh tại LZ North và South với 2 TÐ/39 và 21, trung-đoàn 102/308, dù vũ khí tối tân nhưng chịu thiệt hại trầm trọng và trung- đoàn 36/308 cũng chịu một sự tổn thất đáng kể, chúng phải rút vế tây nam băng qua đường 9 để được bổ xung quân số cho kip trận đánh nối tiếp. Khắc-tinh của 2 trung đoàn nầy là bị AC-130B oanh kich ác liệt và chính xác bằng hồng ngoại tuyến điện tử vô cùng hiệu quả, nhờ vậy mà tàn dư của 2 TÐ/BDQ mới về được nơi an toàn để bốc về Khe Sanh, QLVNCH không có lính thay tại mặt trận như phía BV.
                        - Trận phục kích thiết giáp VNCH trên đường tiến đến tiếp viện Ðồi-31: đoàn chiến xa của 2 Chi đoàn 17, và 11 thoát khỏi bị phục kích trên đường 92 bắc Aluối, nhờ đã bị gunship PÐ/213 phát hiện trước, vì thế trận nầy 2 Chi đoàn chưa kịp đụng trận thi gunship 213 trên trục yểm trợ TÐ 8 Dù trên đường tiến sát về hướng Ðồi-31 đã phát hiện trước mặt dưới lùm cây Tre gai lố nhố xám xịt như bầy Voi rừng nằm ủ rủ dưới cạnh hai mép đường. Thấy được người khổng lồ với đôi chân đất sét mà xung quanh là rừng núi vây chặt chạy đâu cho thoát; Tôi gọi điều động gấp thêm 2 chiếc gun nữa là 4 gun chơi một trận cho đã - Trung úy Trần Lê Tiến trên đường bay đến A-luối, trang bị Pod hoả tiển 19 trái chống Tăng lên nhổ chốt phục kích. Trận nầy gunship 213 lần đầu tiên tiêu diệt một số chiến xa với 152 hoả tiển chống Tăng, làm tê liệt ổ phục kích dưới con mắt tôi là một bãi tha ma không lay động va dật dờ vài đám khói ngấm ngầm thoáng lên, và 8 khẩu minigun cư như thế mà quét sạch không để trống một khoảng nào. Những binh lính BV tùng thiết cho trung đoàn chiến xa 202, bị tiêu diệt hầu như xoá sổ trung đoàn 64/320 SÐ Thép, tàn quân không còn bao nhiêu phải chạy trối chết về hướng bắc của Ðồi-31, sừng-sỏ nhứt thổ địa vùng nầy cũng te tua phải bị xoá sổ đặt tên khác là trung-đoàn 24B, phải rửa hận khi trung-đoàn nầy quyết lấy máu tiên phuông đánh chiếm Ðồi-31 mà họ đã được phục thù bắt được đại tá Thọ vào lúc 5 giờ chiếu ngày 23/2/1971 . Tưởng cũng nên nhắc lại phía bên VNCH có sự thắc mắc trận đụng độ chiến xa với chiến xa lớn nhứt mà phía VNCH chiến xa không bị trầy trụa gì cả? Thêm vào phía Mỹ thì có nhiều thắc mắc? Ðể khỏi mất lòng tin của độc giả, người viết xin mời đ-g vào bất cứ thư-viện nào tìm SÁCH lời tựa: “A Better-War”, MỤC: Lam Son 719, TRANG: 259, HÀNG: 26: “Early in the operation the 1st Squadron, 11th Armored Cavalry had encountered NVA armored elements in a fight at Fire Base 31 and performed brilliantly, destroying six enemy T-54 tanks and sixteen PT-76 without any friendly losses in the first major tank-to-tank engagement of the war!” Ðó là lý do tướng Sutherland Thiết Giáp và Ðại tá Battreall đặt nhiều nghi vấn về trận chiấn thắng nầy?
                        -Sau khi Ðồi-31 thất thủ B-52 đổi qua chiến thuật Linebacker gọi là yểm trợ tiếp cận quân bạn cách 400 thước, B-52 Arc Light đã tiêu diệt trung đoàn 29/324B để bảo vệ Thiết Giáp và tùng thiết Dù trong khi bị bao vây bởi trung đoàn nầy xa luân chiến cùng với trung đoàn 803/324B.
                        - Trên đường rút lui đại liên 50 của thiết giáp cũng đã yễm trợ liên hoàn một cách ngoạn mục khi bi tấn công, đã chống trả trong đêm tối khi ở vị trí phòng thu đêm trên đường 9, lại bị trung đoàn 812/324B tấn kich, nhờ AC-130B cùng thiết giáp đã làm cho trung đoàn nầy thiệt hại nặng phải rút vào rừng, vào sáng sớm lại bị FAC tiếp tục hướng dẫn phi cơ chiến thuật tìm kích thêm lần nữa, theo dõi oanh tạc tiếp theo tất cả lực lượng BV chạy sâu vào rừng.
                        -Riêng trung đoàn 803/324B toan lấy thịt đè người bị TQLC chống trả và phi cơ can thiệp mạnh trước khi bóc TQLC về Khe Sanh, tất cả đều bị thiệt hại trầm trọng.
                        Nói tóm lại trận Hạ Lào quân BV đã bị thiệt hại trên 30.000 sinh mạng trong đó phải kể dân phu khuân vác, và đứng trên tình cảm dân tộc, nếu sau nầy khi VN phải đương đầu với TQ. Gunship VN cải biến cứ bay một hợp đoàn hình nất thang trái 5 giây, rà sát mặt đất tới ngay mục tiêu, khi trên mục tiêu, chiếc Lead của 4 gun lấy tí cao độ mà thay phiên tiêu diệt chiến xa trong khi 3 chiếc còn lại dùng minigun khống chế không cho phép một súng cá nhân nào được phép chống trả như: Căn cứ theo bản tin của hãng Bloomberg trích lời giới chức cấp cao Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, ông Richard Genaille cho hay Hoa Kỳ đã cấp cho Việt Nam một ngân khoản trị giá 1, 3 triệu đôla trong năm tài khóa 2010, để tài trợ cho các chương trình nhắm mục đích củng cố mối quan hệ về mặt an ninh giữa hai nước. Hoa Kỳ sẽ giao cho Việt Nam gunship loại nầy UH1-H tồn kho (spared-stock Natioal Guard US và tại Nhựt, vì khi Mỹ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN thì trước tiên vũ khí vất đi của Nhựt sẽ bàn giao cho VN xài tạm cho quen rồi tùy theo nhu cầu sẽ xét sau. Ðó cũng là lý do những ngày gần đây, học trò VN mới dám hỗn-láo với quan thầy TQ là vậy? tuy rằng gunship KQVN chậm hơn, hoả lực có ít hơn nhưng rất hiệu quả như:
                        - (1) Nhanh chóng áp đảo địch quân không thể ngóc đầu lên để chống cự, tại chiến trường Lam Sơn 719, trong khi AH-1G Cobra phải làm vòng phi đạo tiềm kích
                        - (2) Nắm trước thế thượng phong khống-chế đối thủ và tránh được tầm hiệu-quả của phòng không, kể cả vũ-khí cầm tay tầm nhiệt SA-7 với cao độ rà sát trên ngọn cây.
                        - (3) Phát hiện địch trước và tác xạ phủ đầu trước buộc địch phải kiếm nơi trú ẩn theo phản ứng tự nhiên của con người,
                        - (4) Nhiều minigun có xạ thủ tác xạ bao vùng là một khắc tinh khống-chế dí-đầu đối thủ trên các thiết xa PT-76 phải nằm rạp xuống, chỉ cần một chiếc gunship lấy tí cao độ bắn rockets chống tăng để hủy diệt dễ hơn bắn một con Nai đang chạy.
                        - (5) Chướng ngại vật thiên-nhiên như đồi núi, ngách đá, trên tàng cây (độn rừng) và cao độ rà sát áp đảo, ngụy hóa âm thanh làm cho địch ngơ ngác không biết sát-thủ từ hướng nào bay đến từ trên ngọn cây, tiêu diệt trước khi địch phản ứng.
                        - (6) Có nhiều con mắt Cú-vọ của các xạ-thủ đầy kinh nghiệm chiến trận không thể bỏ sót những con mồi đang nằm trong tầm mắt không giới hạn gốc độ xạ trường.

                        Dĩ nhiên Permanent Government, vì chuyên trách nên phải để cho CIA nghiên cứu lịch sử Việt Nam rất tỉ mỉ hơn một người VN bình thường; Lịch sử Lam Sơn Khỡi Nghĩa đả gợi cho CIA đặt cho cái tên có y nghia chinh tri cuộc hành quân để lưu giữ tại Viện Văn Khố Hoa Kỳ thêm ý nghĩa. Vì quyền lợi phải khuấy động lại chiến tranh lần thứ hai, nhưng phải trả lại danh dư cho HCM bằng cách đặt tên đường mòn HCM, Chiến dịch HCM, thành phố HCM, dựng lên bức tường thép để công cụ Mafia Lê Ðức Thọ ẩn núp mà bảo vệ quyền lợi chiến lược cho Mỹ qua một “chu kỳ” thật dài cướp của cải, tài sản, đất đai người dân bỏ vào trương mục, rồi để cho Mỹ lấy lại trả cho người dân sau khi họ bị lật đổ. Sau cùng WIB ghi danh HCM vào danh sách danh nhân thế giới cho mục tiêu chính trị.
                        Trong những năm gần đây, mộng bành trướng của Trung-Quốc toan nuốt trửng những quần-đảo (Trường-Sa) Tiến sĩ Mohamide, một Sử-gia nổi tiếng của Mã-Lai, trong một buổi hội luận về “Lịch-sữ và cuộc tranh chấp các quần-đảo ở biển Đông” Ông đã tuyên bố: Những nước Đông-Nam Á cần phải thấy rõ và cám ơn VN, về lịch-sử rõ-ràng rằng: Chiến thắng của VN năm 1428 do cuộc Lam-Sơn khởi nghĩa, VN đã chận được làn sóng bành trướng của Trung-Quốc xuống các nước Đông-Nam Á” (đó cũng là lý do CIA đặt tên cho cuộc hành quân nầy là Lam-Sơn 719 để cảnh cáo Trung Quốc, dau muc tieu la hủy diệt người và vật tại vùng rừng núi kín đáo nay) Hội nghị an-ninh vùng biển kể trên, do Viện quốc-tế nghiên cứu Chiến-lược đứng ra tổ chức (The international Institute of Strategic Studies) Và cuộc chiến VN vừa qua đã không những chận đứng được họa Cộng-Sản tràn xuống mà còn làm cho các nước nầy được có cơ hội phồn vinh thêm, có ai hiểu được Nhóm học giả tài ba của Harriman đã nghiên cứu tỉ mỉ về biến cố lịch sử nầy để dùng Việt Nam là chiến tuyến đối đầu với Trung Cộng.
                        Trong cuộc khởi nghĩa Lam-Sơn, Nguyễn Trãi đã thuyết giảng: “Đem Đại-nghĩa thắng Hung-tàn, lấy Chí-nhân thay Cường-bạo, lấy Hiếu-hoà kết liễu Chiến-tranh” Nhóm Dân-sự tham mưu, có người đặc trách nghiên cứu ‘Bình-Ngô Đại-Cáo’ ‘Ức Trai thi tập Nguyễn-Trãi toàn tập, Q.1 trang 131 (1418-1428). Trong thế kỷ thứ 13, VN đại thắng quân Mông-Cổ 3 lần; Tháng 5 Ất Dậu năm 1285, quân Đại-Việt đánh tan được binh đoàn của Đại Tướng Toa-Đô, chém đầu y đem dâng lên vua Trần Nhân Tôn, vua động lòng thương, cởi áo bào đang mặc phủ lên đầu Toa Đô, tên Tướng cực kỳ ác độc, vua sai quân gởi thủ-cấp đem chôn (chương Q, VII tr, 41).

                        Suốt cuộc thăm viếng nghiên cứu vào cuối tháng April/1971 của Bộ Trưởng Lục Quân, Stanley Resor, ông cho biết cuộc viếng thăm nầy như báo động sự cúp viện trợ sẽ không tránh khỏi cho Nam VN và lần lần Miền Nam sẽ hết đạn dược nhưng còn lại thứ Vũ khí vô dụng, đó là sự thăm dò qua Quốc Hội Hoa-Kỳ. Nói tóm lại sự sụp đổ của Chính-phủ Miền-Nam chỉ còn là năm tháng!. Đúng theo cái mốc lộ trình của một sách lược mà Nhóm Dân Sụ đã có ghi trong chương trình thiết kế. Sau ngày 27/January/1973, Miền Nam đã thiếu Đạn, thiếu Xăng, mà thỉnh-thoảng những chiếc Skyhaws A.4, từ ngoài biển bay vào gọi là thả lầm những bồn Xăng của Quân Lực VNCH, ngay tại phi trường Đà-Nẵng? (cái nầy CIA làm ăn dở.., quá lộ liễu.., nên thừa lúc VC pháo kích vào phi trường thì thả luôn một lượt cho tiện và dễ coi hơn! điểm nầy SCP đã cấu kết với Liên Xô trước khi bức tử miền Nam cho được êm ái, có nghĩa là hết xăng hết đạn, hết phụ tùng cho phi cơ và cơ giới).
                        Nguyên nhân nào, cái “Nhóm ăn-sáng” [George H.W.Bush, Donald Rumsfeld, Dick Cheney, Helms…] đó lại gợi ý cho soạn giả Kissinger chọn đề tài cho vở bi-kịch nầy là Lam Sơn 719, để dễ ghi nhớ và lưu trữ hồ sơ trong ‘Văn-Khố’! Cuộc hành quân xảy ra năm một ngàn chín trăm 71, trên đường 9 Nam Lào. Và cũng chính cái Nhóm nầy đã dùng phương tiện truyền thông Văn-Hóa nhúng sâu vào Tổ chức Văn-hóa Giáo-dục Khoa-học LHQ- UNESCO để tôn phong Nguyễn-Trãi là hàng Danh-Nhân thế giới cho mục đích sâu xa về cuộc khởi nghĩa Lam-Sơn; Vì đây là mục tiêu chính trị cốt nhắn nhủ Trung Quốc đừng có mưu đồ thôn tính Viet Nam sau nầy khi Mỹ rút lui chiến thuật về Hawaii.
                        War Industries Board muốn gì ở VN trong thế kỷ 21? Nếu không nắm được VN là một lỗ hổng chiến lược! Quyền lợi dầu khí dưới thềm lục địa kể như tan biến. Cái nhóm ăn-sáng thiết kế ra ROE (Rules Of Engagement) bên cạnh đó lại có thêm một Nhóm Sĩ-quan trẻ C&C (Command& Control) để theo dõi diễn tiến cuộc hành quân 719 nầy dưới quyền giám sát của Tướng Alexander Haig, nó cũng là một thành phần phụ của Bộ Tham-Mưu Hội-Đồng An-Ninh Quốc-Gia cho ra những điều kiện giao ước chiến tranh, nghe thấy rất buồn cười, nhưng không phải vậy mà là như vậy. Lấy thí dụ: Một chiếc Mig 21 bay trên không phận mà không có hành động khiêu khích thì Mỹ không được quyền dùng hỏa-lực để tiêu diệt? Có nghĩa là phải bay gần tới, và dỡ cánh nó lên xem có trang bị hỏa-lực gì không, rồi mới có phản ứng? Nhìn theo thế Chiến-lược toàn cầu của chuỗi dài Siêu Chiến-lược, thì Lam-Sơn 719 chỉ mới là chớm nở, phải đợi khá lâu mới đến phần kết thúc, phải là Dân Chủ hoá VN, thì 58,000 Binh-sĩ Mỹ bỏ mình nơi đó mới có ý nghĩa, nước Mỹ mới có lý lẽ thoát ra khỏi “Hội Chứng VN”. Vì đây là vết chấn-thương vẫn còn tồn tại mãi trong dân chúng Hoa-Kỳ và họ rất mong có ngày được xoa dịu chớ không dám mơ ước lành hẳn! Trong thập niên năm 1960, nhờ khoa-học kỹ-thuật cao, mà Hoa-Kỳ đã bỏ công dò tìm dưới lòng biển của Thềm lục-địa VN có Dầu-hỏa, rồi lẳng-lặng đóng nút lại rút về; Chả lẽ Con Ó làm tổ sẵn cho Le-Le hoặc Vịt Trời đến đẻ Trứng nơi đó? bằng mọi giá nơi ổ Ó thì phải nở ra Ó-Con như ExxonMobil chẳng hạn? Những ngày vừa qua chúng ta đã chứng kiến thấy rõ VN trở nên hỗn láo với sư phụ nhờ có đại sư phụ ở sau lưng.

                        Thế thì cái Nhóm Dân-sự tham mưu nầy ở đâu mà ra, thành lập lúc nào, cho mục tiêu gì!? Những nhân vật được William A.Harriman lựa chọn trong Nhóm người nầy đều là những thiên tài kiệt xuất, họ là những viên-ngọc quý nên được bảo vệ và dấu kín cho cơ mật Quốc-gia, còn như Henry Kissinger và Bà Condoleezza-Rice là những gương mặt ‘nổi’ cần hiện diện để thi hành như là ‘con-thoi’ hay để ‘đi đêm’. Họ là những chuyên viên khoa-bảng ưu hạng được thuê mướn để làm công trình mà Siêu Chánh Phủ cần chuyên môn như họ, muốn hai vị nầy keo sơn với nhiệm vụ: SCP chia phần như Kissinger là thành-viên trong hội đồng cố-vấn Ngân hàng BNL/Atlanta, còn Condoleezza-Rice là thành viên trong hội đồng cố-vấn xăng dầu Chevron, một công ty Tenghiz-Chevroil đang khai thác tại Kazakhstan. Dĩ nhiên hai thành viên nầy được hoàn toàn tín nhiệm và khoán trắng cho một sách lược, để họ trở nên con người đầy quyền năng (powerman, powerwoman) xử dụng các kỹ năng Chính-Trị. Họ đều giống nhau ở một điểm, trước khi ra làm Bộ-trưởng Ngoại-giao, họ đều nằm trong thành viên NSC (National Security Council) để am tường kế hoạch và chính sách, cũng như các vị đại sứ Mỹ và tổng lãnh sự ở VN phải làm việc tại TQ một thời gian rồi mới dám nhận chức vụ tại đây.
                        Khi ra làm Ngoại-Giao là đích thân điều hành với đầy đủ quyền năng, như kế hoạch rút quân tại VN hoặc Iraq chẳng hạn; Kissinger từng lấn áp TT Richard Nixon như thế nào thì có lẽ Bà Rice nầy sẽ làm như vậy khi thường xuyên xuất hiện như là ‘khuôn mặt của nước Mỹ’ tại diễn đàn Quốc-Tế.
                        Chúng ta hãy hồi tưởng lại cách đây 40 năm, vào những năm 70 thế kỷ trước, khi chiếc Air-Force One hạ cánh xuống nơi đâu, thì người xuất hiện đầu tiên là Ngoại-Trưởng Henry Kissinger, Quốc-Gia chờ đón tại Phi-trường, khi thấy cửa máy bay mở ra và có người ló dạng là vỗ tay hoan-hô ầm-ỷ. Một hồi sau, TT Richard Nixon mới bước ra; Lúc đó, người ta mải-miết quay ra hỏi nhau: “Cái ông đi sau ngài Kissinger là ai vậy?” [George H.W.Bush có dòng máu “tình-báo” di truyền 4 đời, nên ông núp rất kín đáo sau hậu trường chính trị, cho tới giờ nầy cũng chưa ai biết Bush-Cha là người nắm chính sách Hoa-kỳ từ 1960 cho đến 2008, khác với Harriman bởi lẽ 2 cuộc chiến VN và Iraq đã gây thảm họa quá đau thương cho người dân bản xứ, nên họ không dại gì xuất đầu lộ diện, bù lại thế hệ Harriman khi quân Mỹ rút lui vẫn để lại quân bộ chiến làm hậu cứ như tại Tây Ðức và Triều Tiên].
                        Sở dĩ có những gương mặt được cẩn thận trang điểm đánh bóng nổi lên sau nầy, là để đại diện cho quyền lợi của Nhóm Đại Tư-Bản. Nhưng trước đó, không có những sự kiện như vậy xảy ra. Tại sao!? Lấy cái mốc là từ năm 1969, khi ứng-cử-viên TT Richard Nixon ra tranh cử và cũng là năm mà ‘nhân vật quan trọng’ William Averell Harriman quyết định chịu từ giã chính trường (ông muốn được nghỉ-ngơi vì cũng đã 78 tuổi rồi? hay ví quá quê-dạng bởi lời tuyên bố của TT Johnson cho rằng Harriman có dính-dấp đến cái chết của TT Diệm? điều nầy mãi đến 2005 mới xác nhận qua sách sử CIA, chính Harriman mới thật là thủ phạm giết anh em Diệm Nhu). Nhưng trước đó, ông là người đẻ ra Chính sách, ông là tiêu biểu cho giai cấp thống lãnh nước Mỹ. Ông là Đại Tư-Bản. Tổng-Thống nào cũng bị ông làm áp-lực, Tướng Lãnh, Bộ-Trưởng không theo chủ trương của ông đều bị giải nhiệm. Có ông rồi thì cần gì trang điểm làm nổi những Khoa-Bảng như Kissinger, Rice (Khi ông rời khỏi chính trường mới xảy ra hiện tượng Kissinger, Rice …)


                        (Còn tiếp)
                        Last edited by Phòng Trực; 11-15-2012, 05:36 PM.

                        Comment

                        • vinhtruong
                          Super Member
                          • Jun 2010
                          • 1924

                          #27
                          Lam Sơn 719 và Liên Ðoàn 51 Tác Chiến

                          Song Chùy Gunship đi vào huyền thoại

                          Phóng đồ trên đây là sự thiệt hại do 3 cuộc đụng độ giữa chiến xa BV và chiên xa QLVNCH: ngày 26/Feb/71; ngày 27/Feb/71, và ác liệt nhứt là ngày 1/March/71 ngay dưới chân Ðồi-31.

                          Nhưng trước đó, ngày 24/Feb/1971, như trận chiến được mô tả dưới đây, 2 Chi đoàn 17 và 11 không hề hấn gì, và được mục kích cuộc chiến phía trước mặt xảy ra giữa một đơn vị chiến xa trung đoàn 202 và gunship/213 cùng 2 đại đội Trinh sát thuộc Tiểu đoàn 8 Dù. Vì là sự phát hiện bất ngờ nên tôi tự cho nó là cuộc “tao ngộ chiến”

                          Xe trưa ngày 24/Feb/1971, đây là cuộc đụng trận đầu tiên cách Ðồi-31 năm cây số về hướng nam, giữa Phi-đội gunship/213 với một thành phần chiến xa thuộc Trung đoàn 202 CXBV, tất cả binh lính BV tùng thiết cùng xạ thủ, tài xế còn sống đều bỏ chạy ra khỏi vùng mưa bão của 32.000 viên đạn/phút, để lại nhiều PT -76 còn nguyên vẹn, và xạ thủ cũng như tài xế nằm chết trong xe (tướng Lãm liền gởi về tặng TT Thiệu một PT-76 còn nguyên vẹn).
                          Quân đoàn 70B cho lịnh giàn trận phục kích lớn nhứt của cuộc hành quân, với mong tiêu diệt trọn gói thiết-giáp và chiến xa của VNCH trên đường tiến đến tiếp viện Ðồi-31, đoàn chiến xa của 2 Chi đoàn 17, và 11 thoát khỏi bị phục kích trên đường 92 bắc Aluối, nhờ đã được gunship PÐ/213 phát hiện trước, vì thế trận nầy 2 Chi đoàn chưa kịp đụng trận thi gunship 213 trên trục yểm trợ TÐ 8 Dù trên đường tiến sát về hướng Ðồi-31 đã phát hiện trước mặt dưới lùm cây Tre gai lố nhố xám xịt như bầy Voi rừng nằm ủ rủ dưới cạnh hai mép đường. Thấy được người khổng lồ với đôi chân đất sét mà xung quanh là rừng núi vây chặt chạy đâu cho thoát. Tôi gọi điều động gấp thêm 2 chiếc gun nữa là 4 gun chơi một trận cho đã - Trung úy Trần Lê Tiến trên đường bay đến A-luối, trang bị Pod hoả tiễn 19 trái chống Tăng lên nhổ chốt phục kích. Trận nầy gunship 213 lần đầu tiên tiêu diệt một số chiến xa với 152 hoả tiễn chống Tăng, làm tê liệt ổ phục kích dưới con mắt tôi là một bãi tha ma không lay động và dật dờ trên đó vài đám khói ngấm ngầm thoáng lên, và 8 khẩu minigun cư như thế mà quét sạch không để trống một khoảng nào, có một điều thật lạ là không có một sự chống cự nào dù là lẻ tẻ?
                          Với cao độ 75 thước tôi quan-sát kỷ mới phát hiện trận đồ: Tất cả 152 hoả tiễn chỉ có tiêu diệt duy nhứt 6 chiếc T-54 nằm ép hai bên đường phục kích, mục tiêu nhỏ hơn cái sân đá banh, nếu như không nhờ có 8 khẩu minigun thì chúng tôi sẽ bị hai trung đoàn tùng-thiết triệt hạ ngay tức khắc. Lúc nầy tôi mới sực nhớ ra, sau khi dặn dò anh em check lại dây nịt lưng, kéo kiếng che mắt, kéo cao cổ áo Nomex, và chỉnh lại chicken plate; Tôi sẽ cho lịnh bắn trước 10 giây vào mục tiêu … nhưng tôi lấy làm lạ là tôi chưa ra lệnh là anh em xạ thủ đã chơi trước vài giây, bây giờ tôi mới hiểu được tất cả xạ thủ đã phát hiện một số lớn PT-76 đang dàn trận hai bên đường chĩa đại liên 14, 5 ly và 23 ly mong tiêu diệt đoạn khúc đuôi tùng thiết bởi TÐ-8 Dù, chúng quyết tâm dùng 16 PT-76 càng dây xích lên quân Dù. Nhưng chúng lại có nhiều sơ hở để cho xạ thủ phát hiện trước: để máy nổ có khói bung toả lên trời, sau lưng lòi ra hai đường song song với đất màu vàng nghệ còn tươi rói, dù rằng phải mắc công ngụy trang bằng cành lá giây leo vào nòng súng. Còn bộ binh phục kích thì để lồ-lộ các hầm lộ thiên B-40 nhưng lại không chịu ngụy trang đất đỏ xung quanh miệng hầm.
                          Dù có tài đức thế nào, làm sao tôi có thể hiểu được trung đoàn 64 tùng thiết cho T-54 là bịt đàng đầu và trung đoàn 24 tùng thiết cho 16 chiếc PT-76 với âm mưu khi T-54 khai hoả với quân bạn là 16 chiếc PT-76 sẽ bịt đàng sau đuôi cách đó gần một cây số, với quyết tâm tiêu diệt trọn gói TÐ/8 Dù và hai Chi đoàn chiến xa 17, và 11. Cũng may trên trục oanh kích dọc hai bên đường từ nam lên bắc, bằng 8 minigun quét sạch, trong vài giây phút đầu tiên, chúng tôi đã loại ra tất cả súng cá nhân trong sự may mắn. Những binh lính BV tùng thiết cho trung- đoàn chiến xa 202, bị tiêu diệt hầu như xoá sổ trung đoàn 64/320 SÐ Thép nổi danh, tàn quân không còn bao nhiêu phải chạy trối chết về hướng bắc của Ðồi-31, chúng chạy ra càng nhanh trối chết, khỏi vùng mưa đạn oanh kích khủng khiếp chung quanh chiến xa T-54 và PT-76 mới mong sống sót và bỏ lại một số PT-76 còn nguyên vẹn vì 8 minigun với vận tốc 32.000 viên/phút, đặc biệt trung đoàn 24/304, sừng-sỏ nhứt thổ-địa vùng nầy cũng te tua phải bị xoá sổ, và đặt tên khác là trung-đoàn 24B mới biên chế, đơn vị nầy phải rửa hận khi trung-đoàn 24B nầy quyết lấy máu tiên phuông đánh chiếm Ðồi-31 mà họ đã được phục thù bắt được đại tá Thọ cùng BCH Lữ đoàn/3 Dù, vào lúc 5 giờ chiếu ngày 25/2/1971.
                          Tưởng cũng nên nhắc lại phía bên VNCH có sự thắc mắc trận đụng độ chiến xa với chiến xa lớn như vậy mà phía VNCH chiến xa không bị trầy trụa gì cả? thêm vào phía Mỹ thì có nhiều thắc mắc? Ðể khỏi mất lòng tin của độc giả, người viết xin mời đ-g vào bất cứ thư-viện nào tìm SÁCH lời tựa: “A Better-War”, MỤC: Lam Son 719, TRANG: 259, HÀNG: 26: “Early in the operation the 1st Squadron, 11th Armored Cavalry had encountered NVA armored elements in a fight at Fire Base 31 and performed brilliantly, destroying six enemy T-54 tanks and sixteen PT-76 without any friendly losses in the first major tank-to-tank engagement of the war!” Ðó là lý do tướng Sutherland Thiết Giáp và Ðại tá Battreall đặt nhiều nghi vấn về trận chiến thắng nầy? (Early ở đây muốn ám chỉ cuộc đụng độ đầu tiên ngày 24/Feb/1971).

                          Nói tóm lại trận Hạ Lào quân BV đã bị thiệt hại trên 30.000 sinh mạng trong đó phải kể dân phu khuân vác, và đứng trên tình cảm dân tộc, người viết dành riêng cho người anh em phía bên kia: không phải trận đánh nầy là sự thành công hay thất bại như Kissinger đả ghi trong bút ký mà là một tội ác chiến tranh vô cùng tàn độc cho hai anh em một nhà chém giết nhau tận tuyệt bằng vũ khí nước ngoài không chút thương tiếc, mà phía Hà Nội đã chịu quá nhiều thiệt hại mà bên nào cũng ngu xuẩn cho là mình thắng trận. Mà đối với lịch sư là hai bên thua một cách nhục nhã trong lịch sử đau xót của Viêt Nam, nếu sau nầy khi VN phải đương đầu với TQ; Gunship VN cải biến cứ bay một hợp đoàn hình nất thang trái 5 giây, rà sát mặt đất tới ngay mục tiêu, khi trên mục tiêu, chiếc Lead của 4 gun lấy tí cao độ mà thay phiên tiêu diệt chiến xa trong khi 3 chiếc còn lại dùng minigun không chế không cho phép một súng cá nhân nào được phép chống trả như: Căn cứ theo bản tin của hãng Bloomberg trích lời giới chức cấp cao Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, ông Richard Genaille cho hay Hoa Kỳ đã cấp cho Việt Nam một ngân khoản trị giá 1, 3 triệu đôla trong năm tài khóa 2010, để tài trợ cho các chương trình nhắm mục đích cũng cố mối quan hệ về mặt an ninh giữa hai nước. Hoa Kỳ sẽ giao cho Việt Nam gunship loại nầy UH1-H tồn kho (spared-stock Natioal Guard US và tại Nhựt, vì khi Mỹ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN thì trước tiên vũ khí vất đi của Nhựt sẽ bàn giao cho VN xài tạm cho quen rồi tùy theo nhu cầu sẽ xét sau. Ðó cũng là lý do những ngày gần đây, học trò VN mới dám hỗn-láo với quan thầy TQ là vậy? tuy rằng gunship KQVN chậm hơn, hoả lực có ít hơn nhưng rất hiệu quả như:
                          - (1) Nhanh chóng áp đảo địch quân không thể ngóc đầu lên để chống cự, tại chiến trường Lam Sơn 719, trong khi AH-1G Cobra phải làm vòng phi đạo tìm kích.
                          - (2) Nắm trước thế thượng phong khống-chế đối thủ và tránh được tầm hiệu-quả của phòng không, kể cả vũ-khí cầm tay tầm nhiệt SA-7 với cao độ rà sát trên ngọn cây.
                          - (3) Phát hiện địch trước và tác xạ phủ đầu trước buộc địch phải kiếm nơi trú ẩn theo phản ứng tự nhiên của con người.
                          - (4) Nhiều minigun có xạ thủ tác xạ bao vùng là một khắc tinh khống-chế dí-đầu đối thủ trên các thiết xa PT-76 phải nằm rạp xuống, chỉ cần một chiếc gunship lấy tí cao độ bắn rockets chống tăng để hủy diệt dễ hơn bắn một con Nai đang chạy.
                          - (5) Chướng ngại vật thiên-nhiên như đồi núi, ngách đá, trên tàng cây (độn rừng) và cao độ rà sát áp đảo, ngụy hóa âm thanh làm cho địch ngơ ngác không biết sát-thủ từ hướng nào bay đến từ trên ngọn cây, tiêu diệt trước khi địch phản ứng.
                          - (6) Có nhiều con mắt Cú-vọ của các xạ-thủ đầy kinh nghiệm chiến trận không thể bỏ xót những con mồi đang nằm trong tầm mắt không giới hạn gốc độ xạ trường.

                          NÊN TÌM HIỂU TIỂU-SỬ NHÂN VẬT W -A -HARRIMAN
                          Nói theo lời mộc-mạc của dân Miền-Nam, thế thì ông William Averell Harriman là ai mà “thấy ghê” vậy? Là người của giai-cấp thống lãnh nước Mỹ, người đặt đẻ ra chính sách, đường lối chủ trương sách-lược của Mỹ, mà ông là tiêu-biểu (Tôi xin lập lại một lần nữa, trong tác phẩm nầy, một đoạn của bình luận gia danh tiếng Gore-Vidal…”Tất cả mọi kế hoạch hay chương trình được đưa ra, trên hình thức coi như là chính sách Quốc-Gia, nhưng trong thực tế là để phục vụ quyền lợi của giới Đại-Tư-Bản, American First”) Harriman đã từng áp lực Tổng-Thống Truman phải triệu hồi và giải nhiệm Đại-Tướng Mac Arthur liền tức khắc. Dĩ nhiên, TT Truman phải ít nhiều do dự rồi cũng phải giải nhiệm một Tướng tài ba mà nhân dân Mỹ yêu thương cũng như các nước ở dọc Thái Bình Dương quý mến. Tại sao? Theo sách lược Eurasia, thế kỷ 20 bạo hành thế kỷ 21 hòa giải trên bàn mổ LHQ buộc tạo thành trật tự thế giới mà Harriman cho là New World, vì thế phải cách chức tướng Mc Arthur để đưa TQ vào LHQ, còn VN phải cách chức tướng Westmoreland để thống nhứt VN cho quyền lợi Mỹ.
                          Harriman lý giải cho rằng cuộc đổ quân Mỹ trên bờ biển Inchon thành công là do Nhóm Tham-Mưu Dân-Sự của ông thiết kế chớ không phải do tài của các tướng-tá, cũng như ông muốn Võ Nguyên Giáp trở nên nổi tiếng vì nhu cầu chiến lược cuộc chiến VN như một công cụ gián tiếp cho quyền lợi Mỹ, vì thế sau khi bi oanh tạc 11 ngày đêm Hà Nội tuyên bố đầu hàng Mỹ đâu có chịu vì theo lịch trình Hà Nội được chỉ định “Chiến thắng Ðiện Biên Phủ dưới đất và trên không” chứ sự thật Giáp thiếu căn bản quân sự, điều dễ hiểu: chả lẽ tất cả sĩ quan BV đều là thiên tài hết? Trong khi không tốt nghiệp trường ốc đại học quân sự nào?
                          Đứng trên phương diện quân-sự thuần túy, bỏ qua chính-lược, ngay đến những người lính Hải-Quân bình thường cũng không dám chọn Inchon làm bãi đổ quân; Vì nơi đây toàn là San-hô và đá ngầm, tàu đổ bộ chỉ có đi vào mà không đi ra vì San-hô và đá ngầm sẽ đánh, cắt thủng và chìm tàu; Với tư-tưởng và gốc nhìn của con mắt Đại Tư-Bản, Harriman cần đổ quân an-toàn và lấy yếu tố bất ngờ mà địch quân không thể tưởng-tượng được để bảo vệ 100% cho sinh mạng các Binh-sĩ và nơi đây cũng là cái ‘thùng rác’ để hủy bỏ các tàu nầy, vì quân đội Mỹ sẽ phải trang bị trong tương-lai loại tàu tối tân hơn. Còn hành quân LS 719 phải tiêu hủy nhiều trực thăng với gần 800 khẩu phòng không cổ điển, cả hai đều phải hủy bỏ tại thùng rác lộ thiên nầy bắng tính dụng của Mỹ cho kế hoạch “Aid to Russia 1941-1946 Plan renewed” dĩ nhiên phải chấp nhận sự hy sinh nhiều đoàn viên phi hành Army Aviation cho cuộc chiến.
                          Cuộc đổ quân tại Inchon cũng không khác gì cuộc hành quân Lam Sơn 719 nầy, chỉ khác ở chỗ là, Inchon bảo vệ sinh mạng con người Mỹ, còn Lam Sơn 719 tiêu diệt con người bản xứ. Duy có một điều giống nhau là, Tư-Bản sản xuất ra các loại vũ-khí mới và hủy bỏ những chiến cụ lỗi thời tại nơi hành-quân và có sự cấu kết, đồng lõa của Liên-Xô cùng phế thải tại vùng núi-non hiểm-trở đó, những chiến cụ dư thừa, lỗi thời từ Thế chiến thứ 2. Trước khi từ giả chính trường, Harriman lại áp-lực Hành-Pháp cách chức Tướng Westmoreland và triệu hồi về Mỹ giống như Tướng Mac Arthur; Lý do đã công khai xác nhận trong một buổi họp ở Thượng-Viện. “Lực-lượng Đồng-Minh nên đánh qua Nam-Lào, để cắt đứt đường “Xa lộ Harriman” [mòn Hồ] phá tất cả ống dẫn dầu và hệ thống tồn trữ vũ-khí của CS” Cũng như Tướng háo thắng Mac Arthur, ngày 5/April/1951 gởi thơ cho Dân-Biểu Joseph Martin, lãnh-đạo dân tộc thiểu số; Xin được phong tỏa dọc bờ biển Trung-Quốc và tấn công những Căn-Cứ ở Mãn-Châu (Manchuria) có sự hiệp lực với Quân-Đội Trung-Hoa Quốc-Gia ở Đài-Loan; Vì trước đó Tướng Arthur có xin phép TT Truman để đánh Trung-Quốc dựa vào độc quyền Bom nguyên-tử, nhưng TT Truman bị sức ép của W A Harriman nên từ chối cho là quá nguy-hiểm, (Dĩ nhiên tướng Arthur làm sao hiểu nổi Harriman muốn đặt TQ vào ngồi ghế hội-viên LHQ, nên phải bỏ rơi THQG và VNCH, đem Hạm đội 7 vào gần Đài Loan là chận Mao làm ẩu chiếm ĐL chớ không phải làm thịt Mao) Tướng Arthur lại qua mặt TT Truman bằng cách viết thư cho Toà Lập-Pháp với mong muốn Quốc-Hội sẽ chấp thuận. Kết cuộc, Tướng Mac Arthur bị giải nhiệm vì lý do mà TT Truman cho rằng: “không được quyền phát ngôn về chính sách Quốc-Gia” (Unauthorized Policy Statements) giấy chứng-từ giải nhiệm Tướng Arthur do Harriman soạn thảo văn thư để cho TT Truman ký khán.
                          Tưởng cũng nên biết qua tiểu-sử của W.A.Harriman: Ông sanh vào ngày 15/Nov/1891 tại New-York. Là một chính khách gây nhiều ảnh-hưởng lôi cuốn người khác theo mình, là một Cố-vấn lỗi-lạc, kiệt xuất trong ngành ngoại-giao và đặc biệt là thủ-phạm số ‘Một’ trong mưu đồ giật sập nền Đệ I Cộng-Hòa Việt-Nam. Tốt nghiệp Đại-học Yale 1913, ông hưởng một gia tài kếch xù của người cha là E.H.Harriman, người có nhiều thế lực trong ngành Hỏa-Xa, năm 1916 cai quản thêm một xưởng đóng tàu. Từ năm 1917 đến năm 1925 là đầu nậu của một Công-ty thương thuyền, Harriman cai quản một đội thương thuyền lớn nhất Thế-giới. Ông mới thật sự là giai cấp Đại Tư-Bản, giai cấp thống lãnh nước Mỹ
                          Năm 1930, Harriman bỏ cuộc hưởng giàu sang ra chính trường để dấn thân bảo vệ quyền lợi cho giới Đại Tư-bản? Hay ông là người Ái-quốc dấn thân để bảo vệ Tổ-Quốc khỏi rơi vào tay Chủ Nghĩa Cộng-Sản? Cả 2 trên đều đúng, bằng chứng, tới giờ nầy nước Mỹ vẫn là Đệ-Nhất Anh-hùng trong thiên hạ; Thoạt đầu, ông phục vụ trong ngành Hành-Pháp của Tổng-Thống Franklin Roosevelt với chức vụ rất khiêm nhường trong Bộ phục hồi Quốc-Gia (National Recovery Administration) Cố-vấn Hội-đồng thương mãi kiêm quản-lý sản-xuất, kiêm ngành vật-liệu thô (raw materials) Sau một thời gian học hỏi lấy đà, Harriman được Roosevelt chọn làm sứ-thần đặc-biệt, phối hợp trung gian hợp-đồng mua bán giữa Liên-Xô và Anh-Quốc (1941-1943) và năm 1943 ông muốn được bổ nhiệm làm Đại-Sứ tại Moscow cho sách lược chia đôi hai quốc-gia Đức, Triều Tiên và Việt Nam được trôi chảy theo đúng trục lộ trình do nhóm tham mưu của Harriman thiết kế.
                          Trong suốt thời gian làm Đại-Sứ 1943-1946, Harriman được người Nga kính mến vì đã đem rất nhiều phúc lợi cho họ, mục tiêu của Harriman là nhắm vào giai cấp sản xuất [công nông] của Liên Xô, tại sao chủ nghĩa Cộng sản đối xử con người như Bầy-Ong, Bầy Kiến? Harriman tin vào chế độ dân chủ, bởi vì dân chủ đã mở rộng để tiếp nhận tất cả năng lực của con người, hãy xây dựng thế giới thành nơi an toàn cho nền dân chủ! Ngược lại, Harriman cũng không muốn người Nga và Âu-Châu sẽ đổ máu vì chiến tranh cứ liên tục xảy ra trên Lục-địa nầy; cũng như theo ông đang xảy ra Đại chiến-2 và từ đó trong tâm ông đã nẩy ra tư-tưởng đổi vùng bạo-loạn hay nói trắng ra là “đổi màu da trên xác chết” được gọi là hoạ da vàng, mà mãi đến sau nầy (năm 1964) Giáo Sư Francois Xavier Winters mới cho rằng cuộc chiến Việt-Nam là một cuộc chiến thế mạng (surrogate) “một cuộc tế thần, lấy da Vàng thế vào chỗ da Trắng!” được thể hiện qua tình cảm với một nước [Nga] bị nhiều lần ngoại bang xâm chiếm (Pháp, Đức, Nguyên-Mông). Harriman là tác giả của hai Tác-phẩm: Peace with Russia (1959) và American and Russia in a Changing World (1971) Đọc xong 2 cuốn nầy, và phối kiểm với ROE (Rules Of Engagement) trong cuộc chiến VN, người ta có cảm tưởng Ông như một người ‘Nga-kiều’ yêu nước, nhưng thật sự không phải vậy mà ông muốn cải biến chế độ Cộng Sản thành Siêu Cộng Sản toàn vẹn như nước Mỹ sau nầy, và chỉ có Liên Xô trong ngôi vị số-2 cho mục tiêu giải trừ hoạ Da-Vàng đang là nguy cơ hâm doạ nhân loại.
                          Đến thời Tổng-Thống Harry S Truman, Ông phục vụ với chức vụ Bộ-trưởng Thương-mại (1946-1948) Giám-đốc chương trình Marshall, tái thiết Âu-Châu (1948-1950) Người Đại diện của Hoa-kỳ trong Minh-Ước Bắc Đại Tây-Dương (NATO) và cũng là Ủy-viên nghiên cứu phòng thủ Tây-Âu (1951) Trong thời gian nầy, Harriman xử dụng William E Colby một nhân viên tầm thường của Tòa Đại-Sứ Hoa-Kỳ ở Stockholm và Rome để điều hành thuê mướn những dịch-vụ loại trừ phe Tả cũng như Cộng-Sản trong những nước Tây-Âu bằng công-cụ vô cùng hữu-hiệu là Mafia, thế nên Harriman rất có kinh-nghiệm khống-chế bộ máy Hành-Pháp của các vị Tổng-Thống nước Mỹ sau nầy. Nếu ta nhìn cho kỹ thì quả thật nước Mỹ lãnh đạo bằng một Ðảng siêu Mafia Skull and Bones, tất cả đều tốt nghiệp từ lò luyện thép: Ðại học Yale và Havard chỉ là công cụ chuyên viên cho Yale.


                          (còn tiếp)
                          Last edited by Phòng Trực; 11-20-2012, 09:53 PM.

                          Comment

                          • vinhtruong
                            Super Member
                            • Jun 2010
                            • 1924

                            #28
                            Lam Sơn 719 và Liên Ðoàn 51 Tác Chiến


                            Năm 1950, Khi chiến tranh Triều-Tiên bắt đầu, sáng lòe trong tâm tưởng của ông, đã đến lúc ông phải thực thi những gì mà ông hằng đeo đuổi. Harriman tức tốc bay về gặp TT Truman, xin ở ngay tại văn phòng điều hành (Executive Office Building) bên cạnh TT Truman như là một người phụ-tá về những dịch-vụ An-Ninh Quốc-Gia. Ông đề nghị TT Truman cho ông tháp tùng với Trung-Tướng Matthew Ridway đến Tokyo gặp Tướng Mc.Arthur, mục đích chuyến đi nầy là căn dặn Tướng MacArthur đừng có gây hấn với Trung-Quốc cũng như xúi bẩy Đài-Loan ăn phần vào và Ông cũng bảo-đảm cho Mc Athur đổ bộ vào Inchon mà không sợ bị Liên-Xô can thiệp vì Liên Xô là bầu-bạn gắn bó ngầm của Mỹ qua tiền viện trợ giúp-đỡ tín dụng của công ty Harriman Co. Aid to Russia 1941-1946 Plan.

                            Quả thật sự hoài nghi của Harriman thành sự thật, nên ông buộc lòng phải ép TT Truman giải nhiệm cả hai ông, Bộ-Trưởng Quốc-Phòng Louis.A.Johnson và Tướng McArthur; Harriman đề nghị vị Tướng tay chân của ông lên thay thế Bộ-Trưởng Quốc-Phòng là Tướng Bộ-Binh, George C. Marshall. Harriman thay mặt cả Truman soạn thảo công lệnh, Tướng-lãnh không được tuyên bố vung-vít về Sách-lược Quốc-Gia nữa, rút ra từ sự giải nhiệm Tướng Arthur. Trong năm nầy (1950) Ông tuyển chọn những tài hoa kiệt xuất của Hoa-Kỳ vào làm việc tại một Viện Nghiên-Cứu đặc biệt mà phần trên tôi có giải thích chưa rõ đó là Nhóm Tham-Mưu Dân-Sự, gồm nhiều học giả nghiên cứu khác nhau và đây là ‘những hoàn-ngọc ẩn của nước Mỹ được hoàn toàn dấu kín cho cơ mật quốc gia.

                            Một học giả sáng chói trong Nhóm nghiên cứu nầy cho biết: Chắc-chắn sẽ xảy ra cuộc chiến tranh Nguyên-tử ở Âu-Châu, hậu quả sẽ tàn phá Bắc bán-cầu, bao gồm Âu-Châu, Mỹ, Canada. Học-giả nầy đề nghị nên đổi trục chiến tranh qua Á-Châu và cũng để giải tỏa sự thăng bằng nạn nhân mãn cho thế-giới “Họa Da Vàng,” Đó là nguyên nhân thảm trạng chiến tranh Việt Nam phải xảy thay vì theo trào lưu tiến hoá của phong trào giải trừ chế độ thực dân (decolonalism) mà hơn 60 nước trên thế giới đã tìm sự độc lập cho dân tộc mình trước 1960. Thế thì xuất phát tại nơi nào ở Châu-Á: Tất cả những loài động vật trên trái đất đều có khởi nguyên của nó, có đường Hươu-Nai chạy, loài Kiến biết trước trời giông bão, cũng có đường bầy Voi qua lại (La Piste des Elephants) cho đến hang động sau cùng gởi nắm xương tàn của chúng, vì chúng có linh-tính biết trước ngày chết. Còn loài người thì có con đường gây ra bạo hành do cơ trời “thiên-hạ đại loạn” Từ Đại-Đế La-Mã, đến Nã-Phá-Luân, đến Hốt Tất-Liệt (Khoubilai) cho đến Đức-Quốc-Xã, Quân phiệt Nhựt… cái trục ‘bạo-loạn’ đó vẫn là từ Âu sang Á, sang Nga, Ba-Tư, Đông-Âu, Nam-Âu, Ai-Cập, tràn qua Thổ-Nhĩ-Kỳ (turkey) Iraq, Iran, Ấn-Độ…phía Đông Tân-Cương, Tây-Tạng, Nội-Mông, Mãn-Châu, Cao-Ly, bao trùm cả Trung-quốc nhưng khi đến Việt-Nam thì bị khựng lại; như quân Nguyên-Mông đã 3 lần dừng bước tại Việt Nam vì thua trận phải chạy về Xứ. Kết quả, Harriman chọn Triều Tiên làm “diện” phát khởi còn Việt Nam làm “điểm” tận cùng ở Á-Châu, là cái trục dứt điểm chuyển hướng từ bên trời Tây hướng về trời Đông, lấy Đông-Dương làm nơi chạm tuyến sau cùng (Jet-stream front).

                            Giáo-sư Sử-địa, William A.Withington tại Đại-Học Kentucky thì cho rằng: qua Lịch-sử, người dân ở các nước Á-Châu, nhất là Vùng Đông Nam-Á không thích sự đô hộ của người da trắng, dù rằng chủ nghĩa thực dân không còn nữa, muốn lấy lòng họ nên để cho người cùng màu da hay may ra chế độ CS dầy xéo lên đất họ một thời gian lâu mau tùy trình độ dân chúng giác ngộ. Theo như ý đồ của Harriman, nên dựa vào chiến thắng Điện-Biên-Phủ để tạo cho phe Cộng-Sản một uy tín rất cao đẹp, lần đầu tiên một Nhóm Du-kích Á-châu đã đánh bại một đạo quân của một cường quốc Âu-Châu, rồi trở thành mô hình gương mẫu cho các phong trào giải phóng dân tộc khác, gồm gần 60 Nước trên toàn thế giới, như ở Bắc-Phi, Nam-Dương, Phi-Luật-Tân, Mã-Lai, Phi-Châu, Trung Nam-Mỹ, và Trung-Đông.. Phía Thế-Giới Tự-Do bị đẩy vào vị thế phòng thủ; Làm thế nào để phục hồi chính nghĩa, kéo họ về với Mỹ...? Sau một thời gian kinh qua thế sự, dù Hồ-Chí-Minh đã bị dụ-dỗ để trở thành Đồng-Minh của Mỹ cũng phải chờ thêm một thời gian trắc nghiệm coi cho được; Vì “Freedom is not for Free!” nên để Việt Nam phải trả một cái giá cho sự Tự do của Họ như tại đất nước Mỹ lịch sử đã chứng minh qua Concord. Dù rằng, theo tin từ tình báo Quân-Đội OSS, nhóm Hồ là một tổ-chức có kỷ-luật vững chắc, chấp nhận gian nguy chiến đấu chống Nhật và giúp Mỹ tìm cứu khi Phi-công bị nhảy dù xuống vùng của họ. Hành-Pháp Mỹ thời TT Truman bị Harriman ép buộc phải từ khước lời thỉnh cầu của Cụ Hồ, tháng 8 và 9 năm 1945 qua 8 bức thư xin Mỹ bảo đảm độc lập như Phi Luật Tân như bảo đảm Hiến pháp VN giống y chang như Mỹ, trong khi HCM đang kiểm soát Hà-Nội, va đặt hoàn toàn niềm tin tuyệt đối vào Mỹ.

                            Hồ-Chí-Minh cầu khẩn qua trung gian của văn phòng “Cơ-quan Chiến-lược”Hoa-kỳ, đã gởi yêu cầu lên TT Truman xin cho Việt-Nam được hưởng quy chế như Phi-Luật-Tân để được bảo hộ trong thời gian giành độc-lập; Từ tháng 10/1945 cho đến tháng 2/1946, Hồ đã viết cho TT Truman ít nhất 8 văn-thư, chính thức kêu gọi Hoa-kỳ và Liên-Hiệp-Quốc can thiệp để ngăn chận chính sách thuộc địa của Pháp cho thích hợp theo trào lưu hiện tại, nhưng … cứ cho rằng nghiệp quả thiên định cho dân Việt như sách lược “vòng Kim-Cô” của Harriman áp đặt lên trên đầu dân tộc VN.


                            Tổng-Thống tiền nhiệm Franklin D. Roosevelt cũng được Harriam thuyết phục: “Hoa-Kỳ chủ-trương không để cho Pháp trở lại Đông-Dương và đề nghị đặt Việt-Nam dưới quyền quản-trị tạm thời của Liên-Hiệp-Quốc”. Điều quan trọng ở đây là theo ý-đồ toan tính của Harriman, khi Liên-Xô và Trung-Quốc cùng nhau công nhận Hồ-Chí-Minh vào tháng 1/1950, thì cũng đúng vào lúc mà William Averell Harriman cảm thấy phải thật sự dấn thân nhảy vào chính-trường để bảo-đảm sự phồn vinh cho quyền lợi nước Mỹ [đây tôi muốn nói có phần nguồn dầu khí ở thềm lục địa VN qua sự phát hiện của Vệ-tinh tình báo spy satellite]. Liền sau đó ông tuyển mộ những nhân tài học giả kiệt xuất để nghiên cứu giúp ông trong vấn đề chiến thắng ý-thức-hệ Cộng-Sản trong chiến tranh lạnh (Cold War). Harriman coi trọng Nhóm Học-Giả Dân-Sự nầy là bộ óc của nước Mỹ. Tôn chỉ, nên dùng một ‘đấu pháp’ tuy nhẹ nhàng với Liên-Xô nhưng phải chiến thắng đối thủ qua môn võ-thuật, dùng sức mạnh tối đa của địch để tạo thành sức mạnh của ta ‘trong cái thế bên kẻ mạnh’ (strong-man) mà chúng ta cần sẽ phải áp dụng tại Đông-Dương: Hãy tạm bỏ qua thuyết Domino của Eisenhower. Ðó là lý do sâu-xa mà Harriman không muốn Hoa-kỳ ký tên vào Hiệp định Genève-1954 chia 2 miền Nam và Bắc! Ranh mãnh trong vấn đề hiệp định Geneve nầy để vỗ ngực chỉ có Hoa Kỳ là muốn Việt Nam được thống nhứt cho thế chiến lược toàn cầu của Mỹ với thâm ý xô đẩy VN vào cuộc chiến huynh đệ tương tàn cho mưu đồ quyền lợi của thế lực trong hội đồng kỹ nghệ quốc phòng Nhưng rốt cuộc cũng vào quĩ đạo của Mỹ tuy được độc lập thống nhứt duới cái dù của Mỹ, và phải trả một cái giá quá đắt? Vì freedom is not for free.


                            (con tiep)
                            Last edited by Phòng Trực; 11-20-2012, 10:07 PM.

                            Comment

                            • vinhtruong
                              Super Member
                              • Jun 2010
                              • 1924

                              #29
                              Lam Sơn 719 và Liên Ðoàn 51 Tác Chiến

                              William Averell Harriman (1891-1986) kiến trúc sư cuộc chiến VN

                              Trong những nhân vật sừng-sỏ trên đây, chỉ có W.A. Harriman là người có nhiều tham vọng, nhưng thật ra ông cũng là một thiên tài “giấu-mặt” làm nên lịch-sử Hoa-kỳ. Theo cá nhân tôi nghĩ đem so với Quân sư Gia-Cát-Lượng để đánh giá thì Harriman quả thật xứng đáng là một “Đại-đế giấu mặt” không những trong nước Mỹ mà cả thế giới; báo chí thời đó cũng như hai văn hào Walter Isaacson và Evan Thomas mô tả Harriman là người lãnh đạo trong Nhóm “Sáu người thông-thái” nắm vận mệnh thế giới. Riêng Harriman biết xử dụng đồng tiền của người Cha để lại và mở kinh doanh ngân hàng W.A.Harriman and Company rồi trở nên Tổng Giám-Đốc đội thương thuyền lớn nhất thời đó, năm (1917-1925). Sự thành công theo phóng đồ thẳng đứng của ông làm “thôi miên” giòng họ Bushes, trong đó có George Herbert Walker, là tiền bối bốn đời của TT Bush-Con, Tổng-thống thứ 43 của Hoa-kỳ và ông Prescott Bush là cha của George H.W. Bush, Tổng-thống thứ 41 của Hoa-kỳ. Thật cũng là điều lạ, ở trên đời nầy ít ai chịu thuần phục một kẻ nhỏ hơn mình 16 tuổi như so sánh Harriman với Walker, ấy thế mà cả hai ông Bushes nầy đã thích-thú học-hỏi, tự-nguyện làm thành viên trong thương nghiệp mà người Chủ là Harriman; Chẳng bao lâu từ một người đại-lý buôn bán vỏ xe khiêm-nhường, Ông nội Bush con là Prescott Bush đã trở nên nhà triệu phú, với số tiền chuyên ngân từ Fritz Thyssen (Đức).

                              Harriman, tuổi vừa tròn 27 và mới tốt nghiệp 4 năm Đại-Học Yale; Năm 1917, lợi dụng trong thời chiến áp-lực chính quyền phải ký hợp đồng vào sự nghiệp đóng tàu hàng-hải dù cha Ông nổi tiếng là ông Vua về sở hỏa-xa. Harriman đóng tàu thành công trong thời chiến, chẳng bao lâu Harriman trở nên ông Vua về đội thương thuyền hàng hải lớn nhất vào thời đó, được củng cố phát triển qua danh xưng United American Lines, ông đặt vào trọng tâm tham vọng lợi nhuận qua hợp đồng với nước Đức bằng đường hàng-hải Hamburg-American Trong khi hơn nửa thế kỷ, người ta đều nghe danh ngân hàng tín dụng thương mại Quốc-tế BCCI (Bank of Credit and Commerce International) do sư tổ dòng họ Bush, George Herbert Walker sáng lập truyền lại cho cả dòng họ Bush sau nầy.

                              Trong Đảng Công-Ty, đáng kể là nhánh Cộng-Hòa có dòng-tộc Rockerfeller và Stillman, nhưng tất cả không ai chịu dấn thân ra làm chính khách để bảo vệ quyền lợi Công-ty, mặc dù phần đông, bản chất của họ phát xuất từ Đảng Cộng-Hòa. Đứng trên góc cạnh nước Mỹ, Harriman là một thương gia giàu có, một chiến lược gia có tầm cỡ quốc tế, một chính trị gia có tầm nhìn sâu-sắc, một chính khách lỗi-lạc, một nhà ái-quốc hiếm có, một đảng viên Dân-chủ đúng nghĩa để lo cho quyền lợi của tất cả Tập đoàn Tư bản không phân biệt lớn nhỏ, chịu dấn thân xa rời sự hưởng thụ giàu sang, hy-sinh và tận-tụy cho sự hùng-mạnh của đất nước Hoa-Kỳ. Yêu nước là yêu Tư-bản Chủ-nghĩa, vì Hoa-kỳ là tiêu biểu.

                              Khi Cách Mạng Nga thành lập chính quyền (năm 1917) và thành phần Tư-sản bị đày ải cho đến chết tại vùng đông lạnh Tây-Bá-Lợi-Á (Siberia) Harriman nhìn xa hơn vào lá cờ ‘Búa-Liềm’ ông đã đặt nhiều quan tâm đến giai cấp Công-nhân là chính, ông không sợ những giáo điều của Lenine sẽ đi vào thực tế như: “Trước hết, chúng ta sẽ chiếm Đông-Âu, rồi nắm lấy khối quần chúng khổng lồ ở Á-Châu, sau đó bao vây Hoa-kỳ và thành lũy cuối cùng của Chủ-nghĩa Tư-bản. Chúng ta khỏi phải đánh đấm chi cả, Hoa-kỳ cũng sẽ phải rơi vào tay chúng ta như một trái cây đã chín rục. Vì thế đã là người Cộng-Sản phải đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù là giai cấp Tư-Sản” và ‘Chính sách cải tạo’ là kỹ thuật đánh lừa người Tù “luôn luôn làm cho chúng có ý hy-vọng được tự-do, chuyển trại thường xuyên để nuôi dưỡng hy-vọng giả tạo đó, cuối cùng chúng gặp nhau và chết ở Siberia còn ở Mỹ là Alaska.

                              Harriman không căm ghét người Nga mà trái lại Ông rất có cảm tình với người Nga qua nỗi lòng của Ông, lồng vào hai tác phẩm “Peace with Russia” 1959 (hòa bình với Liên-Xô) và “America and Russia in a Changing World” 1971 (Hoa-Kỳ và Liên-Xô cùng thay đổi cục diện thế-giới) Một tư-tưởng vĩ-đại đang nẩy sinh trong khối óc của ông, người Công-nhân và Nông dân là nguồn nhân lực “sản xuất”, xứng đáng được hưởng những của cải do họ làm ra, nổi bật hơn, là tại sao không để cho họ chia phần làm chủ (Profit Sharing) ông vẽ ra một thế-giới phồn thịnh do người công-nhân sản xuất ra của-cải và chỉ có vài người bỏ vốn đầu tư thì chính họ mới là người lãnh-đạo, vì trên thực-tế “người nào chi tiền người đó chỉ-huy” (như trong chiến-tranh Việt-Nam, có lần Tướng O’Daniel nói toạc ra ‘ai chi tiền người đó chỉ-huy) Sự bỏ vốn đầu tư ở Liên-Xô không ngoài mục đích trên và sau nầy là Trung-Quốc; Đây là hình thức cũng như chân lý thực tế nắm chắc giai cấp thợ thuyền một cách tinh-vi với giá rẻ mạt, nhưng căn cứ trên sự hài lòng tự nguyện, thay vì đối xử với Họ như bầy Ong bầy Kiến, Harriman mãnh liệt tin tưởng phải xây dựng thế giới thành nơi an-toàn cho nền dân chủ, bởi vì chế độ Dân chủ sẽ mở rộng để tiếp nhận tất cả năng lực của con người.

                              Thật vậy, khi cướp được chính quyền vào năm 1917, hăng say trong chiến thắng, Lenine thường chủ quan với đề tài: Cộng-sản, Tư-bản, ai thắng ai?” Và càng đi xa hơn bằng cách tuyên bố: “Tụi Tư bản, nó vừa ngu và vừa tham. Tham và ngu đến nổi, nó biết người ta mua dây thòng lọng để treo cổ chúng nó, thế mà chúng nó vẫn sản xuất và bán cho người ta” Từ đó đến nay đã gần 100 năm, và nếu chúng ta lấy mốc điểm thời gian 160 năm khi Karl Marx (1818-1883) viết tuyên ngôn thư Ðảng Cộng sản, suy ngẫm những biến cố lịch sử đã xảy ra: Chúng ta thấy nó hoàn toàn trái ngược lời tiên tri của Marx và Lenine. Marx tiên tri là Tư bản dãy chết, cách mạng tất yếu sẽ xảy ra tại những nước Tư bản, Lenine tiên đoán Cộng sản sẽ treo cổ Tư-bản; Nhưng Tư bản không dãy chết, không bị Cộng sản treo cổ, mà ngược lại, câu nói của Marx trở thành: Cộng sản dãy chết. Cách mạng tất yếu sẽ xẩy ra tại các nước Cộng sản “Và câu nói của Lenine cũng trở thành: “Tụi Cộng sản nó vừa ngu và vừa tham. Tham và ngu đến nổi, nó biết người ta bán Coca Cola, Mac Donald, quần Jeans, hàng hóa cho nó, để dụ nó vào sập-bẫy, để bóp cổ nó chết, nhưng nó vẩn cứ mua!” W.A Harriman quả thật là một chiến-lược gia thiên tài, nếu chúng ta nghiên cứu chiến lược “Eurasian” của Skull and Bones đánh sập các nước Liên Xô và Ðông âu, thì chúng ta thấy họ đến với các nước nầy đầu tiên bằng những bang giao kinh tế, thương mại, đến với Coca Cola, Mac Donald, sau đó từ từ biến kinh tế quốc doanh thành kinh tế tư doanh, với tuyệt chiêu là “tối-huệ-quốc” làm cho xã hội dân sự các nước nầy mỗi ngày một trở nên mạnh; dĩ nhiên Ðảng và nhà nước CS mỗi ngày một yếu đi, đến lúc không thể cưỡng lại được, thì chế độ sụp đổ. Lẽ tất nhiên sự sụp đổ của Liên Xô và Ðông âu còn nhiều lý do qua sự nối-tiếp điều hành kiệt xuất của giòng họ Bush: Chiến tranh Tình-báo Phản-gián là một cú đấm sau cùng của loài Ma Ðầu-lâu Skull and Bones, vì đi với Ma phải mặc “Áo-Giấy” là vậy, cho nên Harriman không ngại ngùng khi sáng lập ra Ðảng Ðầu-lâu Xương-người. [Skull and Bones]

                              Ngày hôm nay, Hoa kỳ cố gắng đưa-đẩy Việt Nam vào Tổ chức Thương Mại Quốc-tế (WTO) theo lộ-đồ, giúp VN trở thành Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo An LHQ, rồi có Vệ-tinh riêng để bảo vệ lãnh thổ (Hoa-kỳ đã hủy diệt những thám thính cơ bí-mật với âm mưu tìm kiếm hơi đốt cũng như dầu hỏa trên thềm lục địa VN, [kẻ lén lút dọ thám tìm mỏ, nhưng có người âm thầm triệt hạ cho biết tay mãnh vung rớt trên đảo Phú Quốc]. Kẻ bành trướng không chịu hiểu: “Cái ổ con Ó-Mẹ làm ra không thể Le-Le hay Vịt trời-Con nở ra nơi đó!”) Tình báo Hoa-kỳ theo lộ trình sơ khởi về phát họa những chiến thuật ngắn hạn, nằm trong một chiến lược dài hạn, đó là thay thế mô hình tổ chức xã hội độc đoán, độc tài CS, bằng mô-hình tổ chức xã hội Dân chủ, Tự do và kinh tế thị trường. Hoa kỳ tiên đoán theo lộ-đồ: Chế độ Cộng sản chỉ sụp đổ dưới Ba sức ép:

                              - (1) Nhất là giới trí thức, sĩ phu, sinh viên, học sinh sẽ phải can đãm đứng lên đấu tranh càng ngày càng đông hơn, đấu tranh cho quyền sống và quyền làm người.
                              - (2) Sức ép đến từ quốc-tế, đến từ hành động của Cộng đồng người Việt hải ngoại
                              - (3) Sức ép đến từ sự rạn nứt, (đây là tuyệt chiêu của CIA) chia rẻ trong Ðảng Cộng sản qua tố cáo chỉ mặt các quan chức tham nhũng.

                              Dưới thời Cách-Mạng Nga thành lập chính quyền năm 1917 bởi Aleksandr Kerensky, đảng Công-ty nầy cho mượn ngay tín-dụng số tiền là 325 triệu dollars để mua các vật liệu làm chiến-cụ, dĩ nhiên vật liệu nầy phải từ Hoa-Kỳ chuyển qua Liên-Xô. Mặt khác Harriman với con mắt nhìn xa thấy rộng, đang dòm ngó nguồn tài nguyên ‘dầu khí’ và mỏ ‘manganese’ để luyện thành hợp kim ‘alloy’ làm vũ-khí, nhất là các túi dầu chạy dài dọc theo các nước Cộng-Hòa Trung-Á đang nằm sâu dưới lớp Tuyết dày đặc mà chỉ có Hoa-kỳ mới có đủ khoa-học và kỹ-thuật để khai thác. Một tư-tưởng kinh-dị về “Eurasian Great Game” đang thoáng in sâu trong óc của Harriman từ dạo đó (1920) Đây là một kế hoạch chiến lược dài lê thê đến hàng thế kỷ mà một đời người không đủ thời gian đảm trách.

                              Harriman chụp lấy cơ hội nhảy vào chính-trường, Thủ-tướng Anh, là Winston Churchill và Chủ-Tịch Liên-Xô, Stalin biết mọi việc ở Mỹ qua Harriman; Trong suốt thời gian Đệ II thế chiến, Harriman là người trao mật tin giữa London và Moscov, ông chọn con số cho gọn trong hồ-sơ phối hợp giữa hai bên là 322 (his diplomatic case the numerals 322) cho tiện giữ bí mật. Dù rằng cuộc đời thương-mại đang quá thành công trong việc làm ăn với hai chính quyền đang xung đột với nhau là Đức và Liên-Xô. Bên cạnh đó Công-ty Remington-Arms của Rockerfeller lại buôn lậu bí mật vũ-khí từ Hoa-kỳ bán cho Đức qua ngã Holland vào đầu năm 1930; Đối với Tập-đoàn Tư-bản nầy chỉ biết có quyền lợi qua đồng Dollar, không có bạn mà cũng không có thù, chỉ có quyền lợi quyết định sự liên-minh.

                              Harriman bỏ ngành Hỏa-xa qua ngành đóng tàu chiến và trở nên Đại-đế ngoài nước Mỹ, (Overseas-Empire) Theo như báo chí Saint-Louis thời đó mô tả, khi con người quá thành công về tiền-tài thì người ta lại muốn bước vào đài danh-vọng, Harriman biết chuẩn bị cho mình rất chu đáo để trở nên một nguyên thủ Quốc-gia Hoa-kỳ. Nhưng Chúa lại không chìu lòng người, hai lần ra ứng-cử đều bị thất bại, năm 1952 và năm 1956; Mặc dù đã chuẩn bị sẳn-sàng lấy đà lên chức cuối cùng làm Thống-đốc của một tiểu bang lớn nhất nước Mỹ, là New-York.

                              Năm 1962, Tổng-thống Diệm được sự mách nước của vị Đại-sứ khả ái Frederick Nolting, nên đã đề cử ông Cố-vấn Ngô-Đình-Nhu qua Genève để gặp Phù-thủy Harriman và thuyết phục Harriman đừng ký vào hiệp định Trung-Lập Lào, vì biết chắc rằng Hà-Nội sẽ vi phạm và lợi dụng phần đất Lào để lấn chiếm Miền-Nam. Theo chương trình thì Harriman chỉ tiếp ông Nhu có 30 phút, nhưng cuộc bàn thảo kéo dài đến 3 tiếng; Khi Harriman tiễn chân ông Nhu ra về, ông Bộ-trưởng Cao Xuân Vỹ nhận thấy vẻ mặt hai người hầm-hầm như bực tức một điều gì. Khi Cụ Nhu gặp ông Vỹ, Cụ Nhu bèn xả ra cho nhẹ người: “cái thằng Cha nầy không biết gì cả”. Làm sao Cụ Nhu biết được thế siêu chiến lược của Harriman về Eurasian! Định kiến Axiom-1 biến con đường mòn HCM thành Xa-lộ Harriman có ống dân dầu chạy song song theo nó do LX chịu thiết bị?

                              Đây là sự suy diễn có tính cách riêng tư của người viết: Một ông già 71 tuổi, đầy mưu-mô và bản-lãnh, kiên-nhẫn để cho cậu nhỏ [Cố vấn Nhu] đáng con mình hằn-học, chẳng lẽ Harriman nói toạc ra rằng: vì quyền lợi của Liên-Xô và Mỹ đã đồng thuận dùng Đông-Dương làm nơi thí nghiệm vũ khí mới vừa chế tạo và giải tỏa số Bom đạn thặng dư sau thế chiến-2, bằng cái trò chơi chiến tranh lấy danh từ hào nhoáng, về phía Liên-Xô “chiến tranh giải phóng” (NLF) và huê dạng về phía Hoa-Kỳ như “kế hoạch chống nổi dậy” (CIP) Đối với Harriman và Nhóm tham-mưu Học-giả kiệt xuất của ông sẽ không có Đại chiến thứ-3 mà chỉ có cuộc chiến khu-vực, lấy Triều-Tiên và Đông-Dương làm chiến tuyến thuộc Màn-2 của Eurasian Great Game. Trận Triều-Tiên vì quyền lợi tức thời nên để lại 50.000 quân, còn Đông-Dương vì quyền lợi tiềm-tàng để thành lập một nước VNCH lớn hơn, và sẽ thắt chặt hơn nửa thế kỷ sau đó 1995; Cái thâm-thúy là dùng khuôn viên các trường Đại-học để lý-giải hậu quả nơi chiến trường tại Việt Nam qua ba đáp sổ dưới đây:

                              (1) Axiom-1: There was never a legitimate non-communist government in Saigon
                              (2) Axiom-2: The US had no legitimate reason to be involved in Vietnamese affaires
                              (3) Axiom-3: The US could not have won the war under any circumstances

                              Cùng với 3 định-đề (axioms) đã được bàn luận sâu rộng tại các Đại-Học về cuộc chiến VN trong giai đoạn năm 1960-1971 như Kenneth E. Sharpe trong “The Post Vietnam Formula Under Siege” và “Political Science Quarterly” đây là thời kỳ giải kết của Mỹ. Cái nhóm Tham-mưu nầy đã có chủ trương đưa Trung-Cộng gia nhập vào Liên-Hiệp-Quốc, nên buộc phải giải nhiệm Tướng Mc Arthur trong cuộc chiến Triều-Tiên và bức tử Miền Nam thuộc VNCH. Chiến-lược giải kết nầy đã tạo nên một tầm vóc Quốc-Tế dù kết quả có bị mang tiếng nhất thời “con Cọp giấy”, “người khổng-Lồ với đôi chân đất sét” và đưa nước Mỹ vào thời kỳ suy thoái. Nhưng tập đoàn Tư-bản cho là thời kỳ nghỉ-ngơi sau khi hoàn-tất một công trình (Inventory năm 1973-1980). Còn Nhóm Học-giả Tham-mưu thì cho rằng, trò chơi cử-tạ để phô trương bắp thịt của Hoa-kỳ đã xong, bây giờ tới phiên người Nga phải trả giá về sự cho ra đời Chủ-nghĩa Cộng-sản khắp Năm châu, bằng cách đặt Liên-Xô vào vị trí của Hoa-kỳ, như quân-đội Nga tiến vào Afghanistan. Ngoài ra Hoa-kỳ cũng phong tỏa kinh-tế các nước chư-hầu của Liên-Xô, buộc Liên-Xô phải tăng cường viện trợ kinh-tế cho họ. Mặt khác Hoa-kỳ cũng gây rối khắp nơi, làm cho Liên-Xô phải quân viện hay chính thức tham chiến để lộ bộ mặt thực dân Đỏ. Để kết cuộc qua đó mà người dân trong khối Cộng-Sản mới có cơ-hội sáng mắt, so-sánh giữa hai thể chế “Dân-chủ Tư-bản” và “Dân-chủ Cộng-sản” ai thắng ai? Một cuộc bỏ phiếu bằng chân! Một cuộc chiến thắng thầm lặng với thủ đoạn Thần sầu Quỹ khóc, nhưng không dám nói ra, sợ lương-tri nhân loại nguyền rủa, vì gieo rắc tai-ương cho các nước nhược tiểu; Cái danh xưng nổi lên cho là thất bại thảm hại của Hoa-kỳ để làm mờ đi cái “mục-tiêu” chủ yếu là đồng Dollar hốt vào qua kỷ nghệ sản-xuất chiến tranh, và nước Mỹ vẫn là Đệ Nhứt siêu cường không nước nào địch nổi.

                              Sau cuộc chiến khá dài tại Việt Nam, nhưng họ không dám tuyên bố đó là một chiến thắng thầm lặng (Quiet-Victory) biết bao thảm họa cho người dân của ba nước Đông Dương, vì Họ không dám nhận những danh từ không tốt đẹp gì dù đã làm phong phú hoá trong tự điển Anh Ngữ như, “Bỏ phiếu bằng chân” (voted with theirs feet) “Cánh Đồng Chết” (Killing field) “Thuyền Nhân” (Boat People) “Học Tập Cải Tạo” (Reeducation-Camp) “Vùng Kinh Tế Mới” (New Economical Zone)..

                              12 năm sau, và cũng đã đến lúc kết thúc mật-kế Pennsylvania giao Miền-Nam cho Hà-Nội Năm 1974 đệ tử ruột của Harriman là William H.Sullivan cựu Đại-sứ Lào và đương kiêm thứ trưởng Ngoại-Giao cho Kissinger đã phán một câu rất mất dạy về quan điểm Hoa-kỳ lúc ấy:
                              “Chúng tôi hy vọng rằng, Đông-Dương sẽ lui vào chỗ của nó trong bóng tối, và nó xứng đáng như vậy”

                              Thật tôi nghiệp cho các nước nhược tiểu, phù-thủy Harriman đâu cần biết Đông-Dương là gì, ông chỉ coi đó như là một vùng hoang dã chỉ xứng đáng là nơi để thí nghiệm vũ-khí như chúng ta thường cho là “vùng oanh kích tự-do” Dĩ nhiên Tổng-thống Diệm dễ gì để cho đất nước mình trở thành lò luyện thép. Phù-thủy Harriman đích thực trở nên thủ phạm số một đã giật sập nền Đệ I Cộng-Hòa và ra lệnh giết chết hai anh em TT Diệm, Miền Nam trở thành chính phủ bù nhìn từ đấy!

                              Ấy thế mà ngày sinh nhứt thứ 90 của W A Harriman, người em út cuối cùng của dòng họ Kennedy còn sống là Edward Kennedy lại tuyên bố: “Nếu không có Ngài nước Mỹ và loài người không thể sống trong một trật tự thế giới [The New World] như thế kỷ-21 nầy


                              Hết

                              KQ: TRUONG VAN VINH: Email vtruong2602@yahoo.com
                              Last edited by Phòng Trực; 11-20-2012, 10:28 PM.

                              Comment

                              • vinhtruong
                                Super Member
                                • Jun 2010
                                • 1924

                                #30
                                Lam Sơn 719 và Liên Ðoàn 51 Tác Chiến

                                • Đúc kết cuộc Hành quân Lam Sơn 719 với những hình ảnh tài liệu giải mật mới nhứt. Các chiến hửu hay xem các hầm chìm, hầm nổi mà trung úy phản chiến John F Kerry trao phóng đồi hành quân cho tướng Võ Nguyên Giáp, thành viên OSS 1945 để đào hầm chìm, nổi chung quanh các Căn cứ Hoả lực/VNCH (hầm kho quân trang cho lính mới thay quân tại chiến địa) để thấy rỏ âm mưu của Secret Society muốn hủy diệt “cuộc VN hoá chiến tranh", đem chiến thắng cho Hà Nội)
                                Các chiến hửu hảy click vào Link dưới đây:


                                Hồ Chí Minh Trail: Video Hành Quân Lam Sơn 719 Hạ Lào 27 ...

                                hcmtrail.blogspot.com/2012/12/video-hanh-quan-lam-son-719-ha-lao...

                                Comment

                                Working...