“Lam Sơn 719 và Liên Ðoàn 51 Tác Chiến”

Collapse
X
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • vinhtruong
    Super Member
    • Jun 2010
    • 1924

    #1

    “Lam Sơn 719 và Liên Ðoàn 51 Tác Chiến”

    Tôi không thể nào không kể lại chiến công của LÐ1BÐQ trong trận chiến Lam Sơn 719: Là định mệnh đặt để cho sự chiến đấu dũng cảm của TÐ39 BÐQ và sự thảm bại của LÐ51TC, có phải do thiên định mà 2 phi hành đoàn của PÐ 213 và 233 phải hy sinh 8 NVPH cho sự nhầm lẫn như dưới đây:

    Ðêm 10, February qua chưa … mà trời sao lại sáng! – Trong đôi mắt nhắm nghiền vì quá mệt mỏi cho số phận của 2 đoàn viên UH-1H đã bị bắn tan xác vào buổi chiều hôm qua. Tôi bỗng giựt mình choàng mở to đôi mắt vì một tràng đại bác bắn yểm trợ hay quấy rối gì đó cho quân bạn của Mỹ. Tiếng của đạn 175 Long Tom không chát chúa bằng 8 inch đang mỗi lúc càng ác liệt thêm lên, 42 khẩu đại bác nầy ở đây Mỹ yểm trợ cho ai? Cho TÐ39 BÐQ ở Landing Zone Ranger North, nơi trực thăng của LÐ51TC bị bắn tan xác khi cuộc hành quân mới bắt đầu đến ngày thứ ba [N+3] Thật không có cái cay đắng nào hơn hôm nay, ngày 10, February, 2 đoàn viên UH1-H đã bị bắn tan xác mà người đơn vị trưởng như tôi chẳng biết ất giáp mô-tê gì cả, Tôi như con Gà đá độ bị thua trận te-tua, ấm-ức xù lông, đang bị giam hãm dưới bốn góc mùng quân đội u-tối xám xịt không lối thoát. Cái nhục đau đớn nhứt là người anh cả không biết tình trạng của con em mình ra sao! Rồi những gương mặt thân thương của hai phi hành đoàn nầy không bao giờ không ẩn hiện trong tâm tưởng tôi như kêu-rêu oán trách đấm chìm trong những cơn ác mộng triền miên! Sáng nay tôi sẽ phải tìm đủ mọi cách để hiểu biết tường tận về tình trạng của con em mình …

    Cũng vì sức khỏe của Nhân-Viên-Phi-Hành, đối với BTL Hành Quân, sự tranh đấu cũng không dễ dàng với Ðại tá Nguyễn Ðình Vinh, TMP/Hành Quân/QÐ1 để cho anh em Trực Thăng không phải đậu tại phi trường Khe Sanh nầy vì cần phải có giấc-ngủ tốt về đêm mới có sức lực yểm trợ cho quân bạn, nên anh em được về Ðông Hà, Ái Tử ngũ đêm. Một mình tôi chịu trừng phạt bằng những âm thanh nhức óc chói tai nầy bên cạnh TOC và BCH tiền phương Dù cũng đủ bảo đảm cho nhiệm vụ yểm trợ cho ngày mai. Dù sao dựa vào tình huynh đệ chi binh tôi có nói đùa với Ðại tá: “Theo sự hiểu biết của tôi, trong mùa nầy, nếu có buổi sáng nào… Ðại tá thấy sương mù tan trước 9 giờ… Ðại tá đem tôi ra bắn bỏ!” Ðể rồi Ðại tá Vinh rất thông-cảm nhưng miễn sao chu-toàn phi vụ là OK.

    Tôi quyết tâm phải tìm hiểu dữ kiện tai nạn ra sao?

    Ngày 8 tháng February 1971
    - Hồi 1giờ chiều, TÐ 21 BÐQ do Th/Tá Tiểu-đoàn Trưởng Nguyễn Hiệp được trực thăng vận tới bãi đáp [Landing Zone South] BÐQ Nam, khoảng 5 cs Tây Bắc FSB Ðồi-30, phòng không 12.7 ly của Việt Cộng trên đồi trọc bắn xuống dữ dội khiến 11 BÐQ bị thương. Trực thăng võ trang Cobra của toán Không Kỵ Hoa Kỳ bắn phá các ổ phòng không để bảo vệ cho trực thăng tiếp tục đổ quân [trực thăng võ trang P.Ð 213 chỉ chịu trách nhiệm yểm trợ cho quân Dù mà thôi]. Các cuộc oanh kích này gây một số tiếng nổ phụ và phá hủy một số công sự của địch. Cuộc đổ quân hoàn tất vào lúc 11 giờ đêm (trong đêm tối phi cơ AC và EC-130B dễ dàng yểm trợ tiếp cận cho quân bạn và khống chế, cũng như tiêu diệt các ổ phòng không địch).
    - Hồi 7 giờ 20, tại địa điểm XD 632370 gần Căn Cứ Hỏa Lực, Phú Lộc nơi đặt BCH/LÐ1/BÐQ và TÐ 37 BÐQ trú đóng bị địch pháo kích bằng khoảng 50 quả đạn vừa súng cối 120, 82ly cùng đại bác 152, 130ly khiến BÐQ 3 chết và 15 bị thương.
    Ngày 9 tháng February - Thời tiết xấu khiến việc chuyển quân bằng trực thăng bị đình hoãn 24 giờ; dù vậy, các đơn vị VNCH khoảng 5000 chiến binh đã sang Lào trong ngày hôm truớc đã lập tức bung ra hoạt động trong vùng trách nhiệm cũng như đào công sự phòng thủ chiến đấu.
    - Hồi 3 giờ 45 chiều, TÐ/21 BÐQ chạm địch khoảng 1 Ðại Ðội cách 4 cs Tây Bắc CCHL Ðồi-30. Kết quả địch 8 chết, 1 AK 47 bị tịch-thu, phía BÐQ thiệt hại 1 chết, 1 bị thương.
    Ngày 10 tháng February - 2 chiếc UH1-H của PÐ/ 213 và P/Ð233 bị bắn tan xác- trong khi thời tiết có sáng sủa hơn.
    - Hồi 1 giờ chiều: Tại gần Landing Zone South, BÐQ Nam, một hợp đoàn 4 trực thăng của Liên Ðoàn 51 Tác Chiến, SÐ1KQ chở các SQ Tham Mưu QÐ/I bị phòng không 37 ly của địch bắn cùng phòng không 12, 7 và 14, 5 trên PT-76 bên sườn đồi bắn chéo qua. Kết quả 2 trực thăng bị rơi, tất cả mọi người trên 2 trực thăng này đều bị chết. Chiếc thứ nhất chở các Ðại Tá Trưởng Phòng 3 và 4 của QÐ1. Chiếc thứ ba chở 4 phóng viên ngoại quốc là các anh Larry Burrows của báo Life, Henri Huet của hãng AP, Ken Potter và Keishaburo Shimamoto của tờ Newsweek. Tin cho biết vị Trưởng Phòng 3 có mang theo bản đồ hành quân và đặc lệnh truyền tin, tuy quân ta có lục soát nhưng không tìm ra chỗ trực thăng bị rơi. Do đó địch có thể đã bắt được các tài liệu quan trọng ngay từ khi cuộc hành quân khởi đầu. Ðó là điều mà báo chí tây phương muốn đánh hỏa mù theo ý đồ của một siêu quyền lực trong bóng tối muốn vậy, làm sao ai hiểu được nhóm phản chiến do Jane Fonda và Pentagon do Trung úy Hải quân phản chiến John F Kerry đã cho Hà Nội biết tất cả chi tiết bằng ngôn từ tiếng Việt qua Tam trùng Phạm Xuân Ẩn, chứng cớ hầm dấu vũ khí súng ống đạn dược được đào sẵn chung quanh các CCHL thì rõ, nơi đây còn là một Trung Tâm Huấn Luyện bổ sung quân số ngay tại chiến trường vào những năm tháng trước ngày thành lập Quân Ðoàn 70B. Hiểu tường tận trận đồ như thế, nên là phóng viên chiến trường nhưng tam-trùng Phạm Xuân Ẩn có dám leo lên trực thăng bao giờ đâu, trái lại trận Ấp Bắc 1963 thì Ẩn khệnh khạng, ung dung ngồi trên trực thăng H-21 bước chân xuống Ấp Tân Thới quan sát, chụp hình hậu quả trận đánh.
    Mọi chi tiết về phi vụ trực thăng này được biết như sau: Trong cuộc phỏng vấn ngày hôm ấy, Ðại tá Nguyễn Văn Hiệp cho biết 4 trực thăng của KQVN này có nhiệm vụ đưa các sĩ quan Tham mưu QÐ/I đến Phú Lộc để giải quyết vài trở ngại về vấn đề tiếp tế lương thực cho LÐ/1/BÐQ, vị Trưởng Phòng 3/QÐ/I là Ðại tá Cao Khắc Nhật, Trưởng Phòng 4/QÐ/I là Trung Tá Phạm Vi. Không hiểu vì lý do gì, toán trực thăng bay lạc xa về hướng Tây Bắc tới gần các căn cứ của BÐQ trong phần đất Lào. Khoảng 3 giờ chiều, khi thấy toán trực thăng bay khá lâu mà vẫn chưa thấy báo cáo đã tới Phú Lộc nên tướng Lãm có hỏi LÐ/1/BÐQ. Cùng lúc đó, Ðại Tá Hiệp nhận được tin có hai chiến trực thăng của Viêt Nam bị bắn rơi tại Lào. Sở dĩ BTL Hành Quân không biết tin vì hai chiếc trực thăng còn lại bay thẳng về Ðông Hà. Về phía Hoa Kỳ, một trong những phi công trực thăng có mặt tại chỗ là Trung Tá Robert F. Molinelli, Chỉ Huy Trưởng Tiểu-đoàn 2, Lữ Ðoàn 17 Không Kỵ, thuộc Sư Ðoàn 101 lúc đó đang chỉ huy toán trực thăng Hoa Kỳ yểm trợ cho các đơn vị BÐQ trong vùng, cho biết: "Toán trực thăng VN bay quanh theo một khúc sông, nhưng thay vì bay bên bờ Nam, lại quẹo ngược sang bờ Bắc là nơi chúng tôi biết rõ Cộng quân tập trung rất nhiều súng phòng không 37 ly và một đơn vị chiến xa của Trung Ðoàn 202. Lúc đó, toán trực thăng gồm 4 chiếc Hueys, bay hàng dọc hình nấc thang Trái, tốc độ chừng 90 knots, cao độ 2,200 feet. Chúng tôi thấy rõ toán trực thăng nầy đang bay vào nơi nguy hiểm và đã cố gắng liên lạc trên mọi tần số Guard để báo động, Tôi thấy chiến trực thăng dẫn đầu (trên chở các sĩ quan tham mưu QÐ/I) trúng đạn nổ tung trên trời, còn chiếc thứ nhì (chở các phóng viên) bị bắn bay mất một cánh quạt chính, main rotor qua hình ảnh theo dõi từ vệ tinh cố-định (stationed satellite) chuyển về Pentagon do tướng Haig điều hành.

    Ngày 11 tháng February - Ðể tìm kiếm tông tích tai nạn của 2 chiếc UH-1H, cùng yểm trợ cho nỗ lực chính trên tuyến xuyên lộ số 9 tiến xa hơn về hướng Tây nhắm vào Tchépone, BTL/HQ quyết định tung thêm các đơn vị bảo vệ sườn Bắc và Nam vào trận địa - Khoảng 14:30 H: T/Ð 39 BÐQ được trực thăng vận tới Landing Zone North, BÐ BÐQ Bắc, khoảng 2 cs Tây Bản-Na để tăng cường cho TÐ/21 BÐQ đã trấn đóng BÐ BÐQ Nam từ ngày 8 tháng 2 án ngữ mặt cực Bắc của vùng hành quân. Và cùng lúc đó, TÐ3/1/BB được trực thăng vận tới CCHL Delta thuộc vùng Nam đường xuyên lộ số-9 – Tới đây, cần nói qua về kế hoạch phối trí và phân nhiệm của các TÐ BÐQ vì có một vài chi tiết đáng ghi nhận, Thiếu Tá Quách Thưởng [lúc đó là Ðại Úy, TÐP TÐ 21/BÐQ] cho biết đúng ra TÐ 37/BÐQ được chỉ định phụ trách căn cứ BÐQ Bắc, còn TÐ/39 BÐQ đóng tại Phú Lộc cùng với BCH LÐ/1/BÐQ; Nhưng các trực thăng Hoa Kỳ đã thả lộn địa điểm nên TÐ 39 BÐQ đã có mặt trên đất Lào. Trung Tá Vũ Ðình Khang, TÐT TÐ 39/BÐQ nói rằng theo thông lệ luân chuyển trong mỗi cuộc hành quân, 3 TÐ thay phiên nhau, 1 làm trừ bị và bảo vệ BCH/LÐ còn 2 TÐ kia hành quân. Trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, tới phiên TÐ/39/BÐQ làm trừ bị, nhưng lại được bốc sang Lào. Ðại Tá Nguyễn văn Hiệp, LÐT LÐ 1/BÐQ giải thích: đúng ra theo lệnh hành quân, TÐ/39/BÐQ có nhiệm vụ trấn giữ Phú Lộc, còn 2 TÐ bạn hoạt động bên Lào. Nhưng vào ngày 10 tháng 2, các trực thăng Hoa Kỳ đã đổ quân lộn tại địa điểm chuẩn bị trong vùng lân cận Phú Lộc. Trong biến cố nầy có phải do thiên định mà LÐ51TC phải hy sinh 8 nhân viên phi hành cho sự lầm lẫn nầy? Khi bốc quân sang Lào, TÐ/39 BÐQ ở vào vị trí thích hợp nhất nên đã được chỉ định hoán đổi vị trí với TÐ/37 BÐQ. Ðiều đáng lưu ý là mặc dầu có sự thay đổi bất ngờ vào giờ chót, các đơn vị BÐQ vẫn hăng hái chu-toàn nhiệm vụ, đúng “Kỷ luật là sức mạnh của quân đội”. Về phương diện hành quân, đây không phải là một mối quan tâm lớn, vì mỗi vị trí được chỉ định đều có một TÐ BÐQ trấn giữ, điều đáng ca ngợi là các đơn vị trưởng BÐQ đã rất uyển chuyển đưa ra những quyết định thay đổi nhanh chóng phù hợp với tình thế cũng như tuyệt đối thi hành thượng lệnh, không khiếu nại hay than phiền. Ðây là một điểm son về tinh thần kỷ luật cao độ rất đáng kính phục của các chiến sĩ BÐQ. Tuy nhiên, việc trực thăng Hoa Kỳ thả lộn địa điểm, cùng với biến cố các trực thăng LÐ51TC bay lạc ngay khi cuộc hành quân mới khai diễn chứng tỏ QLVNCH đã thất thế từ đầu vì phải chiến đấu tại một địa bàn hết sức xa lạ. Mất yếu tố “địa-lợi” và “thiên-thời” vì hằng ngày sương mù bao phủ suốt cả buổi sáng, lực lượng tham chiến đã phải trả giá rất đắt trong suốt cuộc hành quân, nhưng bất công thay không ai chịu hiểu được Biệt-Ðộng Quân là binh chủng biệt kích, cơ-động xuất sắc nhứt trong QLVNCH. Theo tôi nghĩ: người ta chỉ luôn nghĩ đến 2 Sư Ðoàn Dù và TQLC mà quên nhắc nhở đến BÐQ và Ðại đội Hắc Báo [Black Panther] của Sư Ðoàn-1. Nhưng đối với 2 vị tư lệnh chiến trường Mỹ thì lại khác: Tướng Westmoreland, khi ông phải bảo vệ cho 6000 TQLC Mỹ trấn đóng tại Khe Sanh, Westmoreland đặt hết tin tưởng vào chỉ cần 1 tiểu đoàn BÐQ là đủ bảo đảm sự yên tâm cho Mỹ trấn giữ căn cứ. Còn như Tướng Abrams thì lại khác, ông chỉ cần 1 Ðại đội Hắc-Báo [Black-Panther] của SÐ/1 là đủ: Vì trách nhiệm nặng nề của ông là làm cách nào có được sự cấp cứu kịp thời, chỉ đoàn viên phi hành thuộc sư đoàn 101 không kỵ mà thôi, nhưng sự thật khi TT Thiệu ra lệnh rút quân lập tức ngay sau khi dẫm chân trên phần đất Tchepone. [Hay tin xấu, Tướng Alexander Haig bay qua Quân đoàn 24 gặp Tướng Sutherland ra lệnh “Washington would like to see ARVN stay in Laos through April” - buộc QLVNCH phải ở lại đến cuối tháng April, hầu hoàn thành cho bằng được giai đoạn 3 của cuộc hành quân là khai thác thành quả chiến trận, lúc đó Ðại đội Hắc Báo ở lại một mình bên Lào biến thành lực-lượng phản ứng nhanh [rapid deployment force] cũng như cấp cứu đoàn viên phi hành Mỹ (xem đoạn cuối)] Cũng ngày hôm nay, tại vùng trách nhiệm của LÐ/1/BÐQ, địch gia tăng áp lực rất nặng; Quanh vùng Phú Lộc, TÐ/37 luôn luôn chạm những toán tiền phong thuộc Quân đoàn 70B của Bắc Việt, ngoài ra, cũng bị pháo liên miên. Trên phần đất Lào, các TÐ/39 và 21/BÐQ là các đơn vị bị địch quân tấn công thăm dò nhiều nhất và cũng là tuyến lửa của mũi dùi quân BV tiến qua từ vùng hoả tuyến Bắc DMZ, sau khi đoán chắc rằng quân lực VNCH không Bắc-tiến.

    Ngày 12 tháng February
    - Hồi 11 giờ trưa, TÐ/37 đụng địch cấp tiểu đoàn tại địa điểm XD 670466, khoảng 3 cs Bắc Tây Bắc Phú Lộc, được trực thăng võ trang Cobra yểm trợ, BÐQ hạ 13 địch, bắt sống 1, thu 10 AK. Bên ta 4 chết, 6 bị thương và 2 trực thăng võ trang loại Cobra (AH-1G) bị phòng không 12.7 ly bắn hạ khiến 2 phi hành đoàn bị tử thương và 2 bị thương, cái thất thế nhứt cho Cobra là khi tác xạ phải làm vòng chờ để đâm đấu xuống xạ kích, ngoài ra bao vùng tác xạ bị hạn định về không gian phía trước, khác hẳn với gunship 213 Song Chùy, tầm xạ trường bao vùng rộng lớn hơn kể cả bắn tập hậu, lính BV chỉ biết tìm nơi trú ẩn khi nghe tiếng mưa đạn của gunship Việt Nam, người xạ thủ vô cùng lợi hại nầy với đôi mắt như con Cú ráo-đảo chiến trường, điển hình là Trung Sĩ Nguyển Văn Ðức người xạ thủ thần tượng của tôi. Quân BV cũng không phải là mình đồng gan sắt, dù họ có uống thuốc liều khi lâm trận, nhưng khi nghe tiếng bò rống của Minigun thì liền tức khắc tìm chỗ núp mới mong sống-còn, vì không biết tử thần từ đâu đến mà chỉ nghe tiếng cánh quạt điên cuồng chém gió với âm thanh rùng-rợn nổ ròn rả ma quái đùng đùng lướt tới. Vì con chim lửa đầu đàn bị nổi khùng đưa ra thế chiến thuật mới gọi là “Thuật-Ðộn-Rừng-Ngụy-Âm” địch thủ không biết lưỡi hái tử thần từ đâu đến. Có phải nhờ vậy mà đoàn viên LÐ51TC không còn bị tử trận cho đến khi cuộc hành quân chấm dứt!? Chờ xem kết-quả ở đoạn kết!
    - Hồi 6: 25 chiều, TÐ/21 BÐQ chạm khoảng 1 Trung Ðội VC tiền-sát thuộc Trung Ðoàn 88, SÐ/308 BV tại 4 cs Ðông Bắc Landing Zone South (tọa độ XD 585520), bắn hạ 11 tên địch.
    - Ðến 10 giờ đêm cùng ngày, dưới sự yểm trợ đắc lực của gunship AC-130, TÐ/21/BÐQ bị địch pháo kích khoảng 40 đạn súng cối 82, và 120 ly khiến 6 bị thương, liền tức khắc EC-130B can thiệp nên chúng không dám bắn trả vì tuyến đạn lửa dễ bị phát hiện trong đêm tối sẽ bị EC-130B dập tắt ngay bằng hoả lực đại bác đủ loại.

    Ngày 13 tháng February
    - Hồi 1:50 sáng, tại địa điểm XD 575503 khoảng 3 cs Tây Tây Nam Landing Zone North, TÐ/39 BÐQ chận đánh một đơn vị VC, bắn hạ 43 tên, thu 2 đại bác phòng không 37 ly, 2 thượng liên 12.7 ly và một số lượng lớn súng cá nhân và đạn dược. Phía BÐQ chỉ có 1 chết và 10 bị thương nhờ gunship vận tải cơ bao vùng [nên nhớ rằng theo điều lệ ROE, giai đoạn-2 vận tải cơ EC-130B, chịu trách nhiệm về sườn phía Bắc, còn B-52 Arc Light chịu trách nhiệm về phía sườn Nam, nên Trung đoàn của Ðại tá Nguyễn Khoa Ðiềm cứ bị B-52 đuổi đít hầu như mỗi ngày. Còn không quân chiến thuật (Skyspot) thì chịu trách nhiệm trục nổ lực chính trên đường tiến-sát xuyên trục lộ-9 – Nên TÐ Phó TÐ/8 Dù và một số anh em Thiết-kỵ và Dù mới bị thương vì không chịu đi đúng theo lộ-đồ chiến trận bài bản trong phòng lạnh tại Pentagon do Tướng Haig là người chủ đạo và điều hành. ROE [Rule Of Engagement] còn là con dao hai lưỡi nếu bên VNCH mạnh hơn thì EC-130B sẽ bắn lầm vào để cân bằng lực lượng. Ðiều nầy khó hiểu chỉ có thể những chiến sĩ BÐQ mới là nhân chứng sự bắn chính xác của EC-130B kể cả ban đêm có thể yểm trợ quân bạn cách vài chục thước (Tôi biết sẽ có một số bạn không tin về độ chính xác nầy).
    - Trong khoảng thời gian từ 3 đến 5 giờ sáng, TÐ/21 BÐQ đụng độ lẻ tẻ với chừng 1 Trung Ðội tiền sát BV, bắn hạ 15 tên.
    - Trong khoảng thời gian từ 7: 10 giờ sáng, TÐ/21 chạm địch quân số không rõ, kết quả BÐQ, 1 chết, 7 bị thương; quân Bắc Việt 4 chết. BÐQ tịch-thu 300 thùng đạn đại bác chiến xa 100, và 76ly của hậu cần phụ thuộc Trung đoàn 202 Chiến-Xa.

    Ngày 15 tháng February
    - Hồi 1 giờ 30 chiều, tại địa điểm phía Nam Landing Zone North (tọa độ XD 595515), TÐ/39 BÐQ bị pháo kích khiến 5 bị thương.
    - Hồi 10: 45 tối, cũng tại vùng Nam Landing Zone North (tọa độ XD 590514) một thành phần của TÐ/39 BÐQ chạm địch, giết 5 VC, BÐQ 2 bị thương.

    Ngày 16 tháng February
    - Hồi 10 giờ tối, tại phía Bắc Landing Zone South (tọa độ XD 583503) một thành phần của TÐ/ 21 BÐQ chạm địch không rõ quân số, bắn hạ 6 VC, tịch thu 50 trái sáng, BÐQ 6 bị thương. Cho đến thời điểm này, QLVNCH đã chiếm Bản Ðông (Aluối) được gần 1 tuần lễ nhưng không dễ-dàng tiến thêm tới gần mục tiêu 604 Tchépone.
    (còn tiếp)
    Last edited by Phòng Trực; 10-15-2012, 10:43 PM.
  • vinhtruong
    Super Member
    • Jun 2010
    • 1924

    #2
    TD/39/BDQ va Cuoc HQ Lam-Son 719

    (tiep theo)

    Trận đánh tại Căn Cứ Biệt Ðộng Quân Bắc (Landing Zone North) -Sáng ngày 17 tháng February – Tin tình báo cho biết lực lượng tăng viện cấp Sư Ðoàn của Cộng quân từ vùng Phi Quân Sự đã bắt đầu xâm nhập phía Bắc vùng hành quân. Rạng sáng ngày 18 tháng February, địch gia tăng áp lực vào các đơn vị BÐQ. Các TÐ/21 và 39 BÐQ bị tấn công thăm dò và pháo kích liên tiếp. Tuy nhiên, được pháo binh và phi cơ yểm trợ rất hiệu quả, các TÐ BÐQ vẫn giữ vững vị trí; mãi đến 8: 30 sáng cùng ngày, BCH/LÐ1/BÐQ tại Phú Lộc cũng bị pháo kích 8 đạn súng cối 120 ly rất chính xác, khiến 2 chết, 4 bị thương; Tin tình báo do cung từ của tù binh xác nhận Sư Ðoàn 308 Cộng quân với ba Trung Ðoàn 64, 88 và 102nd đã tham chiến và hiện tập trung quân tại vùng trách nhiệm của BÐQ. Khi trời sáng rõ, một trực thăng tải thương loại Huey thuộc Ðại-đội 237, Tiểu Ðoàn 16, Lữ Ðoàn 44 Tải-Thương của Hoa Kỳ [có tên là DMZ Dust Off. DMZ là tên tắt của De-Military-Zone tức là vùng Phi Quân Sự. Dust Off là tên lóng để gọi chung các trực thăng tải thương Hoa Kỳ] nhận được lệnh tải thương khẩn cấp cho TÐ/39 BÐQ. Nên nhớ đại đa số những trực thăng tham chiến tại Hạ Lào không phải của Không Quân mà thuộc các Sư Ðoàn Bộ Binh Không Kỵ 101 Hoa Kỳ nên được tổ chức thành các Tiểu Ðoàn hoặc Ðại Ðội theo hệ thống Lục Quân.

    Chiếc trực thăng tản thương cất cánh tại Khe Sanh, hai phi công là Trung Úy Joseph Gordon Brown và Darrel Monteith, với hai Trung Sĩ y tá tên Fujii và Simpco cùng cơ khí viên Costello; Trên đường bay, phi hành đoàn đã được thông báo là bãi đáp rất "nóng" (hot) vì bị phòng không và súng cối địch vây chặt. Khi còn cách Căn Cứ LZ Ranger North chừng 3 cây số, phòng không địch đã bắn lên như mưa, Toán trực thăng võ trang Cobra hộ tống vội nhào xuống bắn hỏa tiễn và minigun để tiêu diệt các ổ phòng không nhưng không mấy hiệu quả vì những ổ súng này được ngụy trang rất kỹ càng, khéo léo và chôn sâu trong các công sự, hầm hố, dưới gốc bụi Tre, nơi vách núi đá khá vững chắc. Sau một hồi bắn phá, hai chiếc Cobra đã hết đạn, vả lại nhiên liệu cũng gần cạn nên phải quay về Khe Sanh tái tiếp tế. Phi công Brown nhận thấy phòng không địch vẫn còn quá mạnh, không thể vào bãi đáp nên đã quyết định hủy bỏ công tác. Nhưng chỉ một lát sau, anh đổi ý, hay có lệnh mới, anh bay vòng trở lại, mặc dầu trực thăng võ trang hộ tống đã bay về Khe Sanh để tái trang bị hỏa lực. Gần tới Bãi Ðáp Ranger North, chiếc trực thăng tản thương bay thật thấp để cố tránh màng lưới phòng không, nhưng những lằn đạn lửa AK và 12.7 ly vẫn chằng chịt đuổi theo. Từ trên trực thăng, anh Trung Sĩ, y-tá Fujii người Hawai trông thấy rõ các binh sĩ BÐQ trong giao thông hào đang chiến đấu dưới làn mưa đạn súng cối, hỏa tiển 122ly và pháo 152ly của Cộng quân. Trực thăng tản thương quyết tâm nhào vội xuống bãi đáp; Toán tản thương của BÐQ đẩy vội các thương binh lên trực thăng, nhưng khi vừa rời mặt đất, một quả súng cối 120 ly nổ ngay bên cạnh máy bay khiến phi công trưởng Brown chết ngay tại chỗ, còn phi công phụ Monteith bị thương nặng, hai anh Fujii và Simpco đều bị trúng mảnh đạn súng cối ở lưng, chỉ có anh Costello là vô sự. Chiếc trực thăng cách mặt đất vài thước rơi xuống đất, tất cả những người sống sót, kể cả các thương binh BÐQ vội rời trực thăng chạy vào giao thông hào cách trực thăng chừng 10 thước; Sau đó, một trực thăng Huey cấp cứu khác liều lĩnh đáp xuống và cứu được phi hành đoàn Hoa Kỳ, ngoại trừ anh Trung Sĩ y-tá Fujii bị kẹt lại vì đang núp dưới bunker chạy ra không kịp; Từ lúc đó, các phi công Hoa Kỳ được lệnh tránh xa khu vực này vì hỏa lực phòng không quá dữ dội. Trong khi đó, Cộng quân cũng pháo kích vào Ranger LZ South.

    Sáng ngày 19 tháng February, áp lực tại căn cứ BÐQ Nam tương đối giảm, tuy không bị tấn công nhưng cường độ pháo kích vẫn dữ dội và liên tục. Ngoài ra, phòng không địch và súng cối 120ly vẫn khóa kín bãi đáp khiến TÐ/21 BÐQ không thể cựa quậy, đồng thời làm cho mọi hoạt động của vị trí này bị ngưng trệ. Khi đã cô lập và phá được thế liên hoàn giữa hai tiểu đoàn BÐQ, Cộng quân tập trung toàn bộ lực lượng Trung Ðoàn 102nd, SÐ 308 tấn công TÐ/39 BÐQ đóng xa hơn về phía Bắc. Tuy bị vây hãm và tấn công dữ dội, các binh sĩ Mũ Nâu dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Khang vẫn bình tỉnh chiến đấu, đẩy lui nhiều đợt tấn công biển người của Cộng quân. Các trực thăng thuộc TÐ/158 Trực Thăng (158 CAB - Combat Assault Battalion) Hoa Kỳ do Trung Tá Peachy chỉ huy bay liên tục để tản thương, tiếp tế và yểm trợ hỏa lực cho tiền đồn bị tấn công này; Các pháo đội thuộc TÐ 44 PB đặt tại Phú Lộc về hướng Ðông và FSB Ðồi-30 về hướng Nam cũng tác xạ tối đa vào các vị trí quân Bắc Việt. Ðể tránh hỏa lực dữ dội của phi pháo, địch quân đã liều lĩnh áp dụng tối đa chiến thuật "bám sát" [hugging] Nhiều khi chúng nằm sát lớp hàng rào phòng thủ khiến nhiều trực thăng tiếp tế bị trúng đạn địch vì lầm tưởng là binh sĩ BÐQ, vì đôi bên quá gần nhau nên phi cơ thả bom yểm trợ cũng rất khó khăn chỉ trừ có EC-130B có thể yểm trợ quân bạn 20 thước kể cả ban đêm nhờ hệ thống điển tử hồng ngoại tuyến nên đã cứu được hai tiểu đoàn BÐQ đang bị vây hãm. Trong học viện Quân sự Hoa-kỳ đánh giá cao về sự đa dụng của chiếc vận tải cơ bán phản lực EC-130B nầy.

    Trận đánh tại căn cứ Ranger North kéo dài suốt ngày 19 tháng February. TÐ39 BÐQ báo cáo địch tấn công mạnh nhất vào sườn phía Ðông bằng súng không giật trực xạ sơn pháo 85ly và súng cối 120ly đặt rất gần căn cứ nên bắn rất chính xác. Nhưng sau nhiều đợt tấn công tiền pháo hậu xung của địch, TÐ39 BÐQ vẫn giữ vững vị trí dưới các công sự để cho gunship EC-130B không tập- Cung từ của tù binh xác nhận đơn vị Cộng quân tấn công là Trung Ðoàn 102nd, được trang bị toàn vũ khí và quân trang mới. Trung Ðoàn này có nhiệm vụ thanh toán căn cứ Ranger North bằng mọi giá để dọn đường cho lực lượng tăng viện của chúng có thể tiến sâu hơn vào vùng hành quân. Tuy bị bao vây và tấn công liên tục nhưng dưới sự chỉ huy bình tĩnh và gan dạ của Thiếu tá TÐT Vũ Ðình Khang, các chiến sĩ TÐ39 BÐQ vẫn bình tĩnh chiến đấu, đánh bật những đợt tấn công biển người. Cộng quân tuy bị thiệt hại nặng nhưng vẫn bám sát trận địa và liên tiếp mở nhiều đợt tấn công vì chúng được bổ xung quân số và tăng viện rất nhanh chóng tại Trung tâm huấn luyện nơi đây và các hầm hố chôn dấu vũ khí đã có ước tính trước. Nhưng đến chiều Cộng quân đành phải rút lui để chỉnh đốn hang-ngũ vì bị chết quá nhiều, xác và vũ khí đủ loại của Cộng quân bỏ lại ngổn ngang trên các sườn đồi, dọc theo dòng suối.

    Trận đánh ngày 19 tháng February là một chiến thắng lớn của TÐ/39 BÐQ nhưng những chiến sĩ quả cảm nầy cũng đã bị yếu sức vì nhiều binh sĩ bị chết và bị thương không được di tản đã nhiều ngày, lại không được tăng viện hay giải tỏa áp lực; Nguy hiểm hơn nữa, đạn dược cũng gần cạn vì không được tiếp tế, đến đêm, quân BV sau khi bổ xung lực lượng lại tiếp tục tấn công. Cũng vào lúc đó, các căn cứ Ranger South và Phú Lộc bị pháo kích dữ-dội, và đánh cầm chân nên không thể tăng viện hay yểm trợ hữu hiệu cho TÐ/39 bạn đang bị áp lực nặng nề. Trên bốn sườn đồi bao quanh căn cứ Ranger North như lòng chảo bị bao vây, địch quân đồng loạt tấn công biển người vào các tuyến phòng thủ của BÐQ. Tại hầm chỉ huy, Thiếu Tá Vũ Ðình Khang, vị TÐT can trường vẫn bình tĩnh điều động đơn vị phòng thủ và phản công. Ông dùng anh y tá người Mỹ Fujii như một chuyên viên truyền tin bất đắc dĩ để đảm trách việc liên lạc với các phi cơ Hoa Kỳ. Trung sĩ Fujii hoạt động rất đắc lực chuyển lời yêu cầu của Thiếu tá Khang lên các trực thăng võ trang Cobra và các phản lực cơ của Không Hải Quân chiến thuật Hoa Kỳ những tọa độ mục tiêu chính xác để xin oanh tạc. Nhiều lúc, quân BV vì quá đông nên môt số đã lọt được vào phòng tuyến của BÐQ, chiếm được một khúc giao thông hào, các chiến sĩ Mũ Nâu can trường đã phải cận chiến bằng lưỡi lê và lựu đạn để đẩy lui chúng.

    Ðến đây, tạm thời mở một dấu ngoặc để nói thêm về anh Trung sĩ y tá Fujii, lúc đó, các phóng viên báo chí, truyền thanh và truyền hình đa số thuộc loại phản chiến của Hoa Kỳ luôn tìm đủ mọi dịp loan tin giật gân nhằm mục đích triệt hạ uy tín QLVNCH. Vì đạo luật Cooper-Church Amendment 1970 ngăn cấm không cho quân bộ chiến Hoa Kỳ có mặt trên phần đất Lào và Cambodia nên gặp dịp anh y tá Fujii bị bắn rơi, chạy không kịp nên bắt buộc phải chiến đấu bên cạnh TÐ39 BÐQ, họ liền nắm lấy cơ hội. Họ ca tụng Fujii như một vị anh hùng trong trận đánh tại căn cứ Ranger North, BÐQ Bắc, coi như một mình anh y tá này đã cứu nguyên một Tiểu Ðoàn 39/BÐQ tinh nhuệ. Có người lại còn "phong" cho anh ta chức vị "cố vấn" bất đắc dĩ của TÐ39 BÐQ! Ðây là một sự thổi phồng lố bịch và quá đáng! Chúng ta hãy tưởng tượng trong lúc dầu sôi lửa bỏng, mạng sống như chỉ mành treo chuông, một anh y tá chuyên cầm kim chích bị kẹt lại dưới đất vì không chạy kịp, dù là sĩ quan Mỹ tốt nghiệp vỏ bị West-Point đi nữa đã "cố vấn" được những gì cho một một TÐT BÐQ dạn dầy kinh nghiệm chiến trường như Thiếu tá Khang? Ðồng ý là anh Fujii đã trợ giúp TÐ39 BÐQ rất đắc lực trong lãnh vực liên lạc truyền tin, nhưng các chiến sĩ BÐQ còn đóng góp đắc lực hơn nhiều trên phương diện thực sự kinh nghiệm chiến đấu. Thật ra, vai trò của anh y tá này đơn thuần chỉ là một âm thoại viên, nhận những quyết định, dữ kiện cùng lời yêu cầu oanh tạc yểm trợ từ Thiếu tá TÐT-Khang rồi chuyển lại cho các phi công Hoa Kỳ vì lý do anh nói tiếng Anh dĩ nhiên thành thạo và dễ hiểu hơn, rất có thể việc "liên lạc" thông thường này được người Mỹ coi là vai trò quan trọng của cố vấn chăng? Cũng anh Fujii này, sau đó có dịp nhẩy lên được một trực thăng rời khỏi Ranger North, nhưng không may trực thăng này cũng bị trúng đạn, nhưng đáp được xuống LZ Ranger South nên lại bị kẹt tại đây. Chuyện chỉ có vậy, thế mà báo chí Hoa Kỳ lại có dịp thổi phồng, nói là anh y-tá này tình nguyện ở lại với TÐ21 BÐQ để giúp đơn vị này phòng thủ căn cứ! Trở lại trận đánh tại LZ Ranger North; Tuy bị Cộng quân bao vây chặt chẽ và tấn công suốt đêm nhưng TÐ/39 BÐQ dù đã bị thiệt hại khá nặng và đạn dược cũng gần cạn nhưng vẫn còn giữ vững vị trí chiến đấu. Thiếu Tá Khang luôn đôn đốc các chiến sĩ của mình đề phòng cẩn mật và tiết kiệm đạn dược vì ông biết trong hoàn cảnh nguy-nan này, trực thăng tiếp tế hay tải thương không còn cách nào đáp xuống được nữa, về trận đánh tại căn cứ BÐQ Bắc trong đêm 19 tháng February này, chính anh "cố vấn" Fujii đã kể lại cho các phóng viên Hoa Kỳ nghe như sau:

    "Trận đánh vô cùng khốc liệt, cả ngọn đồi như bốc lửa vì hỏa lực bom đạn đôi bên, tuy có một vài sĩ quan BÐQ hoảng hốt khi thấy được lực lượng BV quá đông và có chiến xa yễm trợ nên gỡ bỏ cấp bực phù hiệu và thiêu hủy thẻ quân nhân, nhưng bù lại vị TÐT vẫn bình tĩnh và gan dạ chỉ huy cuộc phòng thủ và phản công, có lúc địch quân đông như kiến tràn vào, tôi đã phải dùng súng M-16 bắn hết băng đạn này đến băng đạn khác vào những đợt xung phong biển người, NVA chết như rạ nhưng vẫn liều lĩnh xông vào. Có lúc toán tiền phong cảm tử của địch đã lọt được vào trong vị trí phòng thủ, nhưng bị các chiến sĩ BÐQ can trường dùng lưỡi lê và lựu đạn cận chiến đánh bật ra trong vòng 10 phút. Sáng hôm sau, chúng tôi bắn hết đạn, tôi thấy các chiến sĩ Mũ Nâu phải đi lật từng xác đồng bạn cũng như xác địch để kiếm thêm đạn dược và vũ khí còn xử dụng được. Những người còn chiến đấu được thiết lập một tuyến phòng thủ quanh hầm chỉ huy để sẵn sàng tử chiến, nhưng phải thành thật, suốt đếm đó nếu không có EC-130B gunship bao vùng thì thật khó mà không bị địch tràn ngập lên cứ-điểm LZ".

    Sáng ngày 20 tháng February, ngay từ lúc hừng đông, khi lớp sương mù chưa tan hết trên rừng núi Hạ Lào, từng đợt phi cơ đủ loại đã ào tới trợ chiến. Bắt đầu từ lúc 9: 30 sáng cho tới 2: 30 chiều, tổng cộng có 32 phi vụ oanh tạc yểm trợ cho hai căn cứ BÐQ Ranger South và North đang bị vây hãm khiến hàng trăm Cộng quân bị tan xác. Mặc dầu bị thiệt hại rất nặng vì hỏa lực phi pháo, Cộng quân vẫn không rời bỏ trận địa và được yểm trợ đắc lực bằng một rừng phòng không đủ loại tạo thành màng lưới lửa dầy đặc khiến trực thăng tiếp tế và tản thương không thể nào vượt qua nổi; Nhiều phi công trực thăng Hoa Kỳ cố lao qua bức tường lửa phòng không nhưng chỉ có hai trực thăng may mắn đáp xuống được trong khoảnh khắc. Khi cất cánh, cả hai phi cơ này đều bị trúng đạn phòng không, một chiếc phải đáp khẩn cấp xuống căn cứ LZ Ranger South, chiếc kia may mắn bay được tới FSB Ðồi-30 xa hơn về phía Nam. Trận chiến quả là đẫm máu, vô cùng khốc-liệt, đến trưa , các máy bay quan sát FAC Bronco OV-10 báo cáo quân BV lại pháo kích dữ dội và có chừng 400 đến 500 tên đang vây kín vị trí của TÐ/39 BÐQ. Những trận mưa pháo liên tiếp của địch khiến ngọn đồi nhỏ như vỡ tan thành từng mảnh vụn cho đến con kiếng cũng không sống nổi. Những lớp bụi đất đá Hạ Lào màu vàng nhạt liên tục tung lên sau mỗi đợt pháo kích, che phủ cả các chiến sĩ Mũ Nâu anh dũng vẫn bình tỉnh ghìm súng chờ địch dưới giao thông hào qua lớp khói mù-mịt, không còn phung phí đạn như trước đó nữa. Không được tăng viện, không được tiếp tế, không được tản thương, số tổn thất mỗi lúc một cao và đạn dược đã hết sau nhiều ngày tử chiến, số mạng của các chiến dĩ TÐ/39 BÐQ như chỉ mành treo chuông. Mọi yểm trợ sinh tử cứu nguy chỉ còn trông mong vào các phi cơ Hoa Kỳ và pháo binh từ các vị trí bạn bắn tới yểm trợ, nhưng rất tiếc trực thăng của LÐ51TC không được lệnh yểm trợ cho BÐQ mà chỉ có Dù, Thiết kỵ và Sư đoàn-1 mà thôi.

    Bỗng dưng tôi nghe trong nón bay: ”Song Chùy I, đây Kingstar 5 gọi…nghe không trả lời…?" Nghe tiếng Kingstar, Tôi hiểu ra ngay là của Phi-Đội 233 đã phải đổi công tác, dồn tất cả nỗ lực để tản thương cho Tiểu-Đoàn 39 BĐQ vì phi công Hoa Ky ...

    Queenbee-1
    (con tiep)
    Last edited by Phòng Trực; 10-23-2012, 07:05 PM.

    Comment

    • vinhtruong
      Super Member
      • Jun 2010
      • 1924

      #3
      Trận Hạ-Lào và Tieu doán/39/ BDQ

      Ðang bao vùng cho TÐ/6 Dù, bỗng dưng tôi có lệnh phải yểm trợ cho BÐQ vì Không lực Mỹ đang dồn hết phi xuất để lo cấp cứu đoàn viên phi hành của hhọ bị nạn. Liền sau đo tôi nghe trong nón bay:”Song Chùy I, đây Kingstar 5 gọi… nghe không trả lời…?" Nghe tiếng Kingstar, Tôi hiểu ra ngay là của Phi-Đội 233 đã phải đổi công tác, dồn tất cả nổ lực để tản thương cho Tiểu-Đoàn 39 BĐQ vì phi công Hoa Ky từ chối dành tất cả phi vụ chỉ có cấp cứu cho phi hành đoàn Mỹ mà thôi. Tôi tự nhủ lòng là phải dành tất cả hỏa lực để yểm trợ cho Phi đội mới thành lập nầy. Sự thật, tôi chỉ cắt cử cho Phi đội tân lập nầy chuyên trách bay yểm trợ cho Sư-đoàn-1 mà thôi, vì thế đất ở phía Nam đường 9 tương đối ít núi cao, khắp nơi toàn là đồi trọc, cao hơn mặt biển chưa đầy 700 thước.

      Nghe tiếng gọi run-run yếu đuối… như trông cậy vào…Tôi bùi ngùi trong giây lát… chiến tranh đã nuốt chửng biết bao thế hệ trẻ… Những cánh Chim non đang ngỡ ngàng lặn hụp trong khung trời mới lạ, phải gồng mình bay qua biển lửa với đủ loại phòng không dầy-đặc. Tôi dõng dạc trả lời như đem lại một sự bảo đảm nào đó cho họ “niềm tin vào cấp lãnh đạo”

      “Kingstar 5…cho biết vị trí ở đâu”
      “Song-Chùy I… Kingstar 5 đang ở chỗ hẹn như ấn định”
      “Làm vòng chờ… 4 phút nữa Song-Chùy sẽ hướng dẫn vào tọa độ tản thương”

      2 chiếc Trực-thăng Võ trang, tạm thời rời vùng hành quân, bay sà thấp trên ngọn cây, về hướng Đông Nam để đón Kingstar 5 đang bay vòng tròn trên vòm trời Nhà-tù Lao-Bảo (tên hồi còn thực dân Pháp cai trị). Trung úy Lưu vừa được tôi xác-định hành quân trong tuần qua, một sĩ quan BÐQ đã tình nguyện qua Không Quân, ngoài tay-lái gan-lì, với chiêu-thức phong cách bay rất khôn ngoan và rất liều mạng. Cả tuần nay, tôi đã bay vị thế wingman để Lưu làm lead. Tuy là TPC Gun mới ra nghề nhưng đường bay lã lướt của Lưu không khác gì những top gun như Tiến, Châu, Thục… người chỉ huy giỏi có nghĩa là do sự may mắn có được nhiều phi hành đoàn giỏi, gan dạ và dũng cảm. Tôi được có may mắn là con chim đầu đàn của một Phi đoàn đã được thượng cấp tín nhiệm biệt phái tham gia không những trong nước mà còn đảm nhiệm các trọng trách như bay yểm trợ cho Dù từ Ðồn điền Chup Cambodia đến nam Lào. Vùng hỏa-tuyến là vùng chịu trách nhiệm nặng nhứt về chiến đấu cũng như thời tiết khắc-nghiệt, núi non hiểm trở, gió lộng từng cơn, điều khiển con tàu không dễ dàng khi phải đáp trên các cao điểm đầy gió chướng.

      Nghe nói bay tản thương và tiếp-tế đạn nhỏ cho BÐQ, Lưu có vẻ kích động hăng-say nhớ về màu cờ sắc áo hào-hùng của đơn vị cũ. Anh đang hăng-tiết bay xạc lướt trên ngọn cây về hướng nam Lao Bảo. Vì bay cao nên Kingstar 5 không thấy chúng tôi bay xà ở dưới thấp.

      “Song Chùy đã thấy Kingstar… hãy giảm cao độ bay xuống thẳng đến hướng 2 giờ của Kingstar 5 sẽ gặp chúng tôi đến đón”.

      Hai chiếc Võ trang bay đội hình sẵn sàng tấn kích, còn chiếc Kingstar 5 bay cách đằng sau 2 phút. Lúc nầy hơn bao giờ hết, tôi phải làm lead để vào một vùng vô cùng nguy hiểm. Nơi này đã có một rừng phòng không mà sự thiệt hại của Mỹ trong mấy ngày qua không thể tưởng tượng nổi, quá nhiều trực thăng bị bắn hạ như lá vàng rơi tại LZ North và South Ranger. Tiểu đoàn 39 bi tràn-ngập bởi Trung đoàn 102nd BV, được trang bị vũ khí tối tân nhứt vùng thuộc Quân đoàn 70B, Duy có 1 đại đội của TÐ-39 bị thất lạc và đang chạy về hướng Ðồi-30. Họ phải mở đường máu xuyên qua tuyến lửa của Trung đoàn/88 bằng những phát đạn AK-47 và B-40 chiếm được của địch để ngụy-âm cũng như chống trả tự-vệ khi cần phải nổ súng. Tôi có thể đoán được vị trí của đại đội nầy: từ noi bị tràn ngập tọa độ: XD 575 503 đến Ðồi-30, bây giờ họ chỉ cách Ðồi-30 vào khoảng 4 cây số. Tại sao họ phải theo đường thông thủy, để phải lên cao dần? Cần nước! Nhưng mà là trục đường tiến-sát gần nhứt, và chỉ có phương hướng ngắn nhanh về hướng nầy mà thôi, Họ đang lấy Phương hướng 165 và thế đất cao dần nhưng đã thoát qua khỏi vòng vây của địch từ đây cho đến Ðồi-30.

      Ðội hình phải thay đổi, trải rộng tầm quan sát khi cần yểm trợ xạ kích bao che lẫn nhau. Tôi ra lệnh Lưu đi trail, cách nhau 15 giây, và Kingstar-5 cách 45 giây theo sau. Tăng thêm sức máy vượt qua chiếc lead, tôi bay sát ngọn cây ở cách sườn đồi trọc hơn 800 thước để tránh xa tầm đạn hữu hiệu của AK-47 từ trên đồi bắn xuống. Bất ngờ, chúng tôi khám phá được các tụ-điểm Pháo tầm xa của Lính BV qua những hầm miệng ếch, đất vùng nầy có khác màu vàng xậm như nghệ, còn tươi rói vì mới đào!? Các xạ thủ của mình thật vô cùng kinh nghiệm trong chiến đấu, họ không phung phí đạn dược vô lối, âm thanh chi còn là tiếng máy phản lực qua cánh quạt đều đều chém gió, tuyệt đối không một viên đạn nào bay ra khỏi nòng. Sự thật chúng tôi đang bay trên vùng rừng già nguyên thủy, dầy-đặc cây cao trên 40 thước, không có dấu vết sanh hoạt gì của loái người nơi đây, Thình lình, đồng loạt tôi nghe tiếng bò-rống của 4 cây minigun đồng loạt nổ dòn tan. Quả thật khi tôi nhin ngang trên tầm cánh quạt, nhận ra vô-số hầm miệng ếch, có cả súng đại pháo lồ lộ không ngụy trang. Tất cả minigun đều tưới xuống dàn pháo, có lẽ pháo 130, hay 152ly. Nơi đây đứng về mặt địa hình, các khẩu nầy có thể bao vùng đến tận Ðồi 31, 30, Phú Lộc, LZ North, South luôn cả A-Luối và Hồng Hà-2 nữa.

      “Khi sắp đến bãi đáp… Song-Chùy sẽ cho biết trước vài phút để lên cao độ, nhìn bao quanh bãi đáp… Song Chùy sẽ Prep trước mặt, dọc theo hướng đáp cận tiến của Kingstar 5…O.Kay?”

      Trên cao, cách đây khoảng 3 cây số, OV-10 đang hướng dẫn F.4 Phantom oanh tạc các ổ trọng pháo của CSBV đang bắn rền vào 2 Căn-cứ Hỏa-lực 30, 31. Tôi thừa hiểu các khẩu pháo đã được kéo vào sâu trong hầm núi dấu kín, có thể OV-10 chỉ oanh kích được những khẩu pháo giả (Phony Gun) CSBV cố ý phơi bày ở những nơi dễ nhận dạng. Sáng hôm nay lợi dụng sương mù, Không-quân Chiến-thuật không thể can thiệp, nên chúng tha hồ bắt nạt anh em Dù và BĐQ. Vào khoảng 11 giờ sáng nay, khi sương mù đang tan, chúng tôi đã bay ngang qua chúng, mà chả có anh Vẹm nào chịu nhìn lên, nên chúng tôi mới phát hiện ra được các hầm dấu Pháo. Chúng đã đào sâu vào nghách núi, ngoài ra vị trí đặt Súng rất an-toàn, không sợ 16 khẩu Pháo 175 ly (Long-Tom) 18 khẩu 155 ly và 8 khẩu, 8 inch Howizers của Mỹ đang giàn ra nơi biên giới Lào-Việt. Nói cách khác là chúng rất ranh mãnh, đặt Súng ở phía Tây-Bắc của các sườn núi dựng đứng, như bức tường lá chắn nên tạc đạn không bao giờ tới được, mà sườn núi ở hướng Đông bao lãnh hứng hết, mỗi khi Mỹ pháo kích vào. Tôi đưa ra một hoạt cảnh dễ hiểu: Vào một buổi sáng đẹp trời, lúc khoảng 9 hoặc 10 giờ sáng, ánh sáng mặt trời rực-rở đang chói chang ánh vàng toã xuống những dãy núi chạy dài từ Bắc xuống Nam. Nếu chúng ta ở trên cao nhìn xuống, tất cả sườn Ðông của dãy núi đều nhuộm vàng ánh nắng, đó là vùng mà 42 khẩu pháo của Mỹ chỉ có thể chạm nổ, còn phía Tây của dãy núi đều nằm êm ái trong bóng mát, có nghĩa là nơi an toàn cho các lực lượng CSBV ẩn náo. Coi như Pháo-binh của Mỹ bị chúng hóa giải! Là nhờ Trung-úy phản chiến John F Kerry cho “Tam-trùng Ẩn” để biết phiên dịch bằng tiếng Việt, khi 42 khẩu của Hoa-kỳ từ bên biên giới bắn sang. Ẩn được không biết bao nhiêu huy chương về các dịch vụ điệp viên trong lòng địch, Tướng Giáp và Mai Chí Thọ rất hài lòng tin-tức khá chính xác từ Ẩn cho, mà tôi có cảm tưởng như Tướng Giáp đang ngồi chần-dần nơi phòng hành quân của Tướng Alexander.Haig, tại Pentagon.

      “Kingstar 5 hãy lên cao độ một tí để thấy bãi đáp… bải đáp ở hướng 12 giờ của Kingstar… Song-Chùy chuẩn bị vào trục Prep ở phía dưới, trước mặt đường cận tiến của Kingstar 5… an-toàn lắm… làm cận tiến đáp đi!”

      Tôi nói thế để yên lòng Kingstar 5, nhưng linh-tính nơi đây rất ‘hot’ vừa nghĩ đến đây thì xạ thủ Đức đã chơi 4,000 viên một phút “Chúng nó ở trên sườn núi đồi trọc đang bắn xuống… đông lắm…!” Trung-sỉ Ðức vừa hét to vừa bóp cò súng. Tôi ra lệnh

      “Song-Chùy 2 bắn Hỏa tiển chống biển người vào sườn núi… trên cao hơn mình một chút… O.K, Tôi tác xạ trước để đánh dấu mục tiêu”.

      Hai cụm khói màu đỏ cam vừa phụt ra trước mũi Phi cơ, liền sau đó tôi quẹo gắt qua phải lấy cao độ, trong khi Xạ-thủ Đức đứng xổng lưng ghì chặt khẩu Mini-Gun quạt qua trái, qua phải, lên, xuống cốt ý rải cho đều để không bỏ sót chỗ nào bằng một vận tốc 2,000 viên phút.

      Vì 1 Ðại-đội TÐ/39 BÐQ thất lạc đang di chuyển suốt cả đêm về Ðồi-30, vừa đụng trận, vừa phải khiêng thương binh, nên bãi đáp rất khó, cũng như địch luôn bám sát. Những khi cần phải gây ra tiếng động như chặt cây dọn bãi đáp thì không còn cách nào khác, phải chịu lộ vị trí, để phải lãnh đủ hàng trăm trái đạn; vì nên nhớ rằng, nơi đây là kho chứa đạn lớn nhất, nhì ở vùng nầy; CSBV có lệnh phung phí đạn hơn là để đối phương vào phá hủy.

      (con tiep)
      Last edited by Phòng Trực; 10-23-2012, 07:27 PM.

      Comment

      • vinhtruong
        Super Member
        • Jun 2010
        • 1924

        #4
        Tiểu đoàn 39 BÐQ và Liên Ðoàn 51 Tác Chiến


        Có lẽ Kingstar 5 đã thấy tấm vải màu đỏ cam đang hiện ra trên đám rừng Chồi vừa mới chặt; Quả thật bãi đáp quá nhỏ, mà lại ở trên một sườn đồi thoai-thoải nghiêng về một bên, như giam mình giữa lùm cây cao vút. Tôi bay sạt trên đầu Kingstar 5, nhìn rõ bãi đáp như bàn chông khổng lồ mà lại quá hẹp nơi chỗ đáp. Tôi bắt đầu lo… lẩm bẩm trong miệng, mong đừng có việc gì xảy ra! Dưới đây có lẽ là đại-đội-1/TÐ/39 vừa đụng độ ác liệt với Trung đoàn 102nd ngày hôm qua, đang thất lạc, nhờ mở đường máu xuyên qua trung đoàn 88 một cách êm ái. Nơi đây chúng tôi bay vào từ Ðồi-30, nên không gây ra tiếng động ồn ào, nhờ núp sau ngọn đồi và gió từ ngoài biển thổi vào che đuổi khuất âm vang của động cơ. Nhưng trái lại, phi cơ Hoa Kỳ trước khi đến đây thì ôi thôi không biết bao nhiêu hỏa lực dập xuống, nhưng quân BV không dại gì mà không chạy sâu vào trong đường hầm trú ẩn. Ðoàn trực thăng đi đến đâu, thì phi-cơ chiến thuật, rồi 42 khẩu pháo điên cuồn dập xuống yểm trợ, dỉ nhiên Linh BV đã chui vào hầm ngồi nghỉ mệt đợi trực thăng bay đến là nhào ra tấn công tới tấp ngay. Lúc nầy Gunship-Cobra yểm trợ thì quá chậm chạp vì phải làm vòng phi đạo để lấy trục nhào xuống xạ kích; ở dưới hầm 60 độ quân CSBV có đủ thì giờ để chống đỡ và yểm trợ hoả lực liên hoàn cho nhau.

        “Quang Trung…! Quang Trung…! Đã chuẩn bị con cái sẵn-sàng chưa? Càng nhanh càng tốt…để còn có thì giờ bay tác xạ yểm trợ tiếp cận cho Quang-Trung mau đến bến 30”.

        Tôi đang hồi hộp, không biết Phi công mới ra trường chưa được kinh nghiệm nhiều, ứng xử ra sao đây… nếu bị trường hợp khẩn cấp. Nhưng dầu sao các Phi công trẻ-trung nầy cũng đã được huấn luyện phối hợp hành quân với Đại-đội Không-kỵ Black-Cat của Mỹ ở Phi-trường Non-Nước, Đà-Nẳng, và hiện đang bay “team” với nhau.

        Tôi nhìn xuống không an tâm, một buổi sáng dài thê-thảm dầy-đặc sương mù, bây giờ thì gió rừng núi khuấy động từng cơn bốc lên và đè xuống theo những luồng gió cuồn-cuộn của núi đồi, làm sao Kingstar 5 ‘Hover’ được thăng bằng đây? Kingstar 5, đứng ‘hover’ quá lâu sao không chịu đáp? Có trở ngại gì chăng! Nhưng tôi tuyệt đối giữ yên lặng để Phi công được bình tỉnh tự định liệu.

        À…Tôi hiểu! Kingstar 5 không muốn chạm đất, vì cây cối còn lổm chổm quá nhiều, bãi đáp trong điều kiện hoàn thành quá vội vã. Tôi bay vòng trở lại, và phát hiện các anh em đại-đội-1 BÐQ đang cố đẩy thương binh lên trực-thăng và dường như có vài Poncho mang xác chết được đem lên sàn tàu. Bất chợt, mấy anh Vẹm vừa chết hụt hồi nãy ở trên đồi trọc, đã chạy xuống tới chân đồi và đang hiên ngang đứng thẳng lưng bắn nã tới bãi đáp. Cũng may nhờ tiết kiệm hỏa lực, nên chúng tôi quay lại quần thảo chúng một trận. Lúc nầy tôi mới cảm nhận Song-Chùy 2 bắn tuyệt đẹp, sau 4 quả rockets màu đỏ hồng thoát ra từ sau đuôi gun-2 làm câm ngay tiếng A.K của chúng. Thôi như vậy đủ rồi, mỗi chiếc còn lại 10 hoả tiển chống Tăng và gần 10.000 viên 7,ly62. Tôi cần giữ lại một tí hỏa-lực để yểm trợ cho đến khi Kingstar 5 về tới điểm hẹn Lao-Bảo.

        Bỗng dưng tôi sợ tái mặt đến bấn cả người, vì Kingstar 5 đang chém vào ngọn cây bên trái, làm lá tung-bay tua-tủa trên trần cánh quạt. Trong không khí yên lặng nầy, tôi chỉ đợi Kingstar 5 báo cáo tình trạng ra sao!.. Không dám gây ra tiếng động ảnh hưởng đến sự bình tỉnh của phi công, khoảng thời gian dài nặng nề trôi qua… bỗng:

        “Song-Chùy…Kingstar 5 đã chém cây… tàu rung giựt rất mạnh… nhưng tôi rán cất cánh… Song-Chùy… rán theo dõi tôi…..!” rồi tiếng hú rít lên trong nón bay tựa hồ như phi công đang nghiến răng cạp mạnh vào micro.

        Khi nghe báo cáo của Kingstar 5, thì tôi đã lỡ Salvo tất cả Rockets vào sườn đồi đã có sự hiện diện của địch, làm như vậy để con tàu nhẹ bớt, khi phải xuống để cứu tất cả đoàn-viên. Tôi phản ứng nhanh như vậy có trật nguyên tắc tác chiến hay không!? Nhưng dù sao mạng sống của Phi hành đoàn vẫn là ưu tiên một. Hai chiếc Võ trang kè sát nách hai bên để trấn an, cầu mong sự bình tĩnh của Kinngstar 5 cố đem con tàu về nơi nào an toàn và gần nhất, dù có phải bị đáp ép buộc như tôi đã làm hôm trước cũng không sao. Tôi giải tỏa hỏa-lực để nhẹ bớt trọng lượng, cũng vì lý do tôi muốn cứu mạng sống của Phi hành đoàn cấp bách không thể chần chờ được. “Đây có phải là một phản ứng thiếu khôn ngoan” Tôi cố nén lại, tự kiểm điểm, để tìm sự bình tĩnh nói qua vô tuyến bằng một giọng đều-đều nhẹ-nhàng:

        “Kingstar 5, Chúng tôi bay ở đằng sau anh… cho đến khi nào anh đáp xuống…bình tỉnh rán giữ tốc lực không quá 70 knots, dĩ nhiên con tàu đang rung theo điệu Ngựa nhảy nhổm nhưng chu kỳ độ rung rất đều nhịp…! tuy high-frequency nhưng không sao… đừng vượt quá 70 knots… O.Kay!”

        Giờ nầy, tôi để Kingstar 5 muốn bay như thế nào cũng được miễn sao an-toàn về đến Khe-Sanh là xong. Nhưng cũng may, anh không bay cao lắm để làm mồi cho các loại phòng không, nhất là phòng không di động trên Thiết vận xa PT.76, khi phải bay ngang qua thung-lũng về hướng Đông của sườn núi, tuy rằng sườn núi bị lổm chổm những đám cháy do 42 khẩu Đại Pháo của Hoa-Kỳ bên biên-giới Lào-Việt bắn sang, nhưng chắc chắn quân BV rất tinh ranh nên không bao giờ di chuyển hay đóng quân phía sườn Đông. Còn như phía sườn Tây, thì quân BV đông nhiều như Đỉa; Chứng cớ nơi bãi đáp hồi nãy thì rõ: Những sườn đồi trọc bên phía Tây của thung-lũng thường có dấu song-song của những dây xích Thiết vận xa PT.76. Chúng leo lên chiếm lĩnh ưu thế ở điểm cao ngoài sự việc yểm trợ cho các cứ điểm Pháo-đội mà còn là ổ phòng không di động rất lợi hại. Chúng đã bắn nổ tan nát 2 chiếc Hueys của LD51TC khi bắt đầu cuộc hành quân và còn bắn hạ Trực-thăng Võ trang của tôi vào ngày hôm kia nữa. Thế nên tôi có liên-lạc với Bộ-chỉ-huy Tiền-phương cứ tiếp tục nhờ Pháo đội của Mỹ ở Biên giới, thỉnh-thoảng bắn khuấy rối vào những tọa độ trước mặt mà chúng tôi sẽ bay qua. Theo sự đề nghị của Tôi, những cột khói lớn dựng đứng, thỉnh-thoảng vẫn rót vào phía trước mặt; chúng tôi an-tâm vì biết Pháo đội Mỹ đang bắn yểm trợ các tạc đạn Long-tom 175 ly và 8 inch Howitzers. Ba chiếc Trực-thăng dìu nhau bay thấp trên sườn Đông xuôi về Quốc lộ 9, xa xa hiện lên những loang-lổ lổm chổm với nhiều đám khói an-toàn. Tự nhiên trong tâm chúng tôi, mọi người đều cùng có một cảm giác thích-thú dễ chịu với mùi khét cháy rừng trước mặt, nhưng lại an-toàn bảo vệ chúng tôi.

        Cuối cùng, Ba chiếc đã về đến Khe-Sanh vào một buổi chiều oi-ả, bao trùm bởi Cát bụi đỏ ngầu, giữa tiếng ầm-vang của các Pháo đội Hoa-kỳ chuyên yểm trợ cho quân bạn. Nhưng chúng tôi được lệnh phải load rockets và đạn dược gấp để tiếp nối công tác hành quân tấn kích còn đang dở-dang mà Tiểu-đoàn-6/Lữ đoàn3/Dù đang tiến về hướng Ðông Nam Ðồi-31, với hy vọng bắt tay được với anh em Tiểu đoàn3/Dù đang trấn giữ hậu cứ Ðồi-31, vì áp lực của nhiều Trung-đoàn BV, tách từ các Sư-đoàn 308, 320 đang giã trận địa Pháo vùi dập cuồng sát như không bao giờ ngưng nghỉ.

        Ðúng vào lúc, một toán trực thăng từ Khe Sanh bay đến để tiếp tế khẩn cấp cho TÐ/39 BÐQ bằng mọi giá, các trực thăng võ trang Cobra hộ tống thay phiên nhau nã hỏa tiễn và đại liên như mưa lên đầu địch cho tới khi hết đạn, trong khi các trực thăng tiếp tế lượn vòng trên cao để chờ cơ hội, nhưng vẫn không thể nào đáp xuống được. Dưới đất, ngọn đồi nhỏ đôi bên giành giựt đã mấy ngày đêm hầu như trơ trụi, tan nát vì bom đạn. Mặc dù trực thăng võ trang oanh kích dữ dội, Cộng quân chấp nhận thiệt hại, tràn tới gần vị trí phòng thủ cuối cùng là hầm chỉ huy của Thiếu tá TÐT Khang. Chung quanh đó, các chiến sĩ BÐQ cận chiến với địch quân, giành nhau từng khúc giao thông hào hay hố cá nhân giữa hàng trăm xác chết. Thiếu tá Khang nhận thấy tình thế đã không còn cách cứu vãn và vị trí sắp bị địch tràn ngập nhưng ông vẫn muốn ở lại chiến đấu vì không đành lòng bỏ lại các chiến hữu bị thương. Có ai đi chiến đấu tại hạ Lào mới chứng kiến được lương tâm và sự thương yêu đồng đội của cấp chỉ huy. Tuy nhiên, chỉ ít lâu sau, trước số lượng địch quân quá đông và các chiến sĩ BÐQ đã bắn hết đạn, Thiếu tá Khang rất đau lòng nhưng đành phải cho lệnh rời bỏ căn cứ; làm sao ai hiểu được lòng dạ của cấp chỉ huy đau đớn như xé nát tim can. Trong lúc anh Fujii chuyển lời của Thiếu tá Khang thông báo cho các phi cơ Hoa Kỳ biết Căn Cứ BÐQ Bắc không còn cố thủ được nữa, các chiến sĩ BÐQ lại đi thu lượm vũ khí và đạn dược của mình cũng như địch để tổ chức một cuộc rút lui có trật tự dưới sự chỉ huy của vị TÐT can trường. Vào giây phút nguy kịch đó, một trực thăng Huey lao-xuống bãi đáp, xô vội ra mấy thùng đạn; Anh y tá Fujii cố chạy ra trực thăng dù đạn AK của Công quân bắn theo dữ dội khiến bụi đất tung tóe khắp nơi; Anh y tá không may mắn nầy phóng được lên trực thăng, nhưng khi vừa bay lên, trực thăng bị bốc cháy vì trúng đạn phòng không. May mắn, hai phi công Lloyd và Nelson đáp khẩn cấp được xuống căn cứ Ranger South cách đây chừng 4 cây số, sau lưng đại-đội-1 vào khoảng 3 cây số và cũng gần đến Ðồi-30.
        Last edited by Phòng Trực; 10-24-2012, 10:02 PM.

        Comment

        • vinhtruong
          Super Member
          • Jun 2010
          • 1924

          #5
          1. Tiểu đoàn 39 BÐQ và Liên Ðoàn 51 Tác Chiến


          Ðến chiều ngày 20 tháng February, từ trên phi cơ nhìn xuống, các công sự và sườn đồi quanh căn cứ LZ Ranger North phủ ngập xác Cộng quân, ngay đến côn trùng cũng không thể sống nổi. Tiểu Ðoàn 39 BÐQ kiệt lực, hết đạn vì những trận cường tập liên tiếp hết ngày này sang ngày khác của Cộng quân vối quân số đông hơn gấp 10 lần. Cuối cùng, các chiến sĩ Mũ Nâu phải mở một con đường máu xuyên qua vòng vây của quân BV bằng tiếng súng đạn ngụy-âm qua AK và B-40 tịch thu được của quân BV. Dưới quyền điều động của Thiếu tá Khang, các sĩ quan và binh sĩ còn mạnh khỏe đi đầu, thương binh được dìu-theo sau thật cảm động cho tình đồng đội; Bộ Tư Lệnh Hành Quân tại Khe Sanh và LÐ/1BÐQ tại Phú Lộc mất liên lạc vô tuyến với TÐ/39 BÐQ lúc 5 giờ 10 chiều ngày 20 tháng February, không dùng vô tuyến sợ bại-lộ âm thanh. Mãi tới khuya ra đến nơi khá an-toàn mới nhận được tin thành phần còn lại của TÐ/39 BÐQ, gồm gần 200 quân nhân trong số đó có 107 người còn khả năng chiến đấu và 92 người bị thương, cá nhân tôi phải nhìn nhận và thú thật, quân bạn đã di chuyển đến được căn cứ Ranger South cùng với vũ khí nhờ vào hỏa lực tiếp cận trên không của vận tải cơ gunship EC-130B. Theo các tài liệu báo cáo của Hoa Kỳ, trong tổng số trên 400 quân nhân, thiệt hại của TÐ/39 BÐQ được ghi nhận là 178 người chết hay mất tích, 148 bị thương. Thiệt hại về phía Cộng quân gồm 639 chết và gần 500 vũ khí bị phá hủy hay tịch thâu. Sau khi TÐ/39 BÐQ rút đi, dưới hỏa lực khủng khiếp của phi pháo dội thẳng vào vị trí, Căn Cứ Ranger North trở thành một bãi tha ma lớn chôn vùi hàng trăm quân BV, thật rất tội nghiệp cho thân phận "sinh Bắc tử Nam". Trên đỉnh đồi, gần hầm chỉ huy của Thiếu Tá Khang, cảnh tượng còn hãi hùng hơn. Từng đống xác quân BV tan nát không còn nhận ra hình thù vì bom đạn của phi cơ Hoa Kỳ và pháo binh VNCH cày nát. Mùi thuốc súng, mùi bom đạn, mùi thịt người chết cháy khét lẹt vì bom napaln... khiến bầu không khí trở nên rùng rợn, nghẹt thở. Tuy máy bay chỉ đếm được 639 xác quân BV, nhưng còn hàng trăm xác khác bị vùi sâu trong hầm hố, công sự, vách núi hay tan nát cùng đất đá Hạ Lào không thể đếm được. Quả thật nơi đây mới đúng nghĩa “Ðịa ngục trần gian”.

          Trên đường di tản đến căn căn cứ Ranger South, binh sĩ TÐ/39 BÐQ phải đạp qua hàng trăm xác địch nằm ngổn ngang quanh căn cứ và lội qua những con "suối máu" tanh rình tràn ngập khắp chân đồi. Thiếu tá Khang cũng cho biết khi rời bỏ căn cứ, chính mắt ông đã nhìn thấy hàng đống xác quân BV chết thành từng chùm ba, bốn chục tên. Về hỏa lực phòng không của quân BV tại vùng căn cứ Ranger North, trong một dịp đụng độ ác liệt mới đây, Thiếu Tá Khang cho biết ông không rõ chi tiết về các ổ phòng không của Cộng quân bố trí dọc theo đường bay tới căn cứ như đã từng chu đáo xắp xếp trước. Thế nên, các trực thăng đã bị bắn lên dữ dội từ xa, trên hành-lang vào đáp; và chính chúng là thủ-phạm bắn tan xác hai trực thăng Huey của LÐ 51TC. Riêng quanh vị trí Ranger North, trên lưng chừng đối địch đặt rất nhiều súng cối 82 và 120ly đã điều chỉnh sẵn nên pháo kích rất chính xác, dưới tầm mắt từ trên đồi nhìn xuống, gây thiệt hại nặng cho những trực thăng vừa đáp xuống. Về việc yểm trợ của phi cơ Hoa Kỳ, nhất là trực thăng Cobra, Thiếu Tá Khang nói dường như các phi cơ chỉ bắn phá với mục đích yểm trợ ưu tiên cho trực thăng đáp xuống để bốc anh y tá Fujii ra. Ðúng như vậy, 42 khẩu đại bác của Mỹ tại Khe Sanh, dồn vào hình móng ngựa, hay chữ U, chỉ chừa một cửa ngõ hành-lang cho trực thăng ra vào với sự yểm trợ cường tập của Cobra. Còn phần yểm trợ cho TÐ/39 BÐQ phòng thủ căn cứ chỉ là thứ yếu, hay coi như không đáng quan tâm. Ðây là những gì tôi hằng chứng kiến trên khắp mặt trận đụng độ giữa quân bạn và quân BV, riêng phi công trực thăng tản thương Hoa Kỳ Joel Dozhier (DMZ Dust Off) kể lại về phi vụ của anh như sau:

          "Chiều tối hôm đó, toán tản thương chúng tôi được lệnh phải chuẩn bị gấp 5 trực thăng để tản thương chừng 100 người tại căn cứ Ranger North cho TÐ39 BÐQ. (Vì ban đêm quân BV không dám bắn lên sợ lộ mục tiêu sẽ bị EC-130B cường tập ngay vào tuyến đạn lửa) Thuyết trình viên cho biết có rất nhiều vị trí phòng không địch trong vùng nên Bộ Tư Lệnh Hành Quân đã dự trù một hàng rào đạn pháo binh hình móng ngựa để bảo vệ các trực thăng bay bên trong hàng rào tuyến lửa. Lúc đó, chúng tôi đã bay tản thương suốt ngày nên ai nấy đều mệt mỏi, do đó có phi công đề nghị hãy hoãn phi vụ đến sáng mai. Bộ Tư Lệnh trả lời rằng tình hình rất nghiêm trọng, rất có thể sẽ chẳng còn ngày mai cho căn cứ BÐQ Bắc! Vì vậy, toán trực thăng phải lên đường gấp, nhứt là ban đêm quân BV rất sợ phải nếm mùi đạn từ trên vận tải cơ EC-130B bắn xuống; Chúng tôi đã thiết lập đội hình và kế hoạch lần lượt bay vào bên trong hàng rào hỏa lực. Khi tất cả đã vào trong hình móng ngựa tưởng tượng, lúc đó pháo binh sẽ chuyển xạ tiến lần về căn cứ Ranger North. Nhưng khi sắp sửa thi hành, không may một trực thăng trong toán là Dust Off 30 bị tai nạn trong lúc đổ xăng nên chúng tôi lại phải dành một chiếc khác trong toán để đưa những phi công bị thương về Quảng Trị. Vì chỉ còn lại có 3 chiếc, Bộ Tư Lệnh phải kiếm thêm một chiếc nữa để thay thế, khi trực thăng này tới thì đã quá trễ. Chúng tôi hay tin căn cứ Ranger-North đã di tản nên công tác được hủy bỏ".

          Sau đây là lời tường thuật của một số nhân chứng Hoa Kỳ và Việt Nam có mặt tại căn cứ BÐQ Bắc khi vị trí này bị thất thủ. Trung Tá Robert F. Molinelli, Tiểu đoàn trưởng TÐ/2, Lữ Ðoàn 17 Không Kỵ Hoa Kỳ là người có mặt trên không phận căn cứ BÐQ Bắc trong lúc trận đánh diễn ra ác liệt nhất, đã mô tả: "Quân số địch đông hơn TÐ/39 BÐQ ít nhất 8 lần, trong 3 ngày liền, hỏa lực phòng không địch cực kỳ dữ dội khiến trực thăng của chúng tôi không thể nào đáp xuống để tiếp tế hay tản thương; Khi đã bắn hết đạn, các chiến sĩ BÐQ phải lật từng xác địch quân để tìm kiếm vũ khí và đạn dược của chúng để tiềp tục chiến đấu. Lúc phải rời bỏ vị trí, TÐ/39 BÐQ đánh xuyên qua lực lượng bao vây của cả một Trung Ðoàn địch, dùng chính vũ khí của Cộng quân để đánh lại chúng khi mở đường máu”.

          Ðại Úy Không quân William Cathay, một phi công phản lực cơ Phanton F-4 thuộc Phi Ðoàn Khu Trục 40, nói: "Căn cứ BÐQ Bắc trông giống như một bãi chiến trường hồi đệ nhị thế chiến. Chúng tôi đã thả bom napalm thật gần, chỉ cách quân bạn chừng 100 thước. Chúng tôi còn trông thấy rất rõ ràng địch quân đang ẩn nấp dưới giao thông hào".

          Trong tác phẩm "Tử Thủ Căn Cứ Hỏa Lửc 30" của Ðại Úy Pháo Binh Trương Duy Hy, Pháo Ðội Trưởng Pháo Ðội C/44 Pháo Binh, có kể lại việc Hạ Sĩ Phan văn Ðăng thuộc Ðại Ðội-1, TÐ39 BÐQ, khoảng trên 20 tuổi, người Huế, đã thuật lại những giờ phút oai hùng nhất của TÐ/39 BÐQ như sau: "Sau ngày toàn thắng 19 tháng February, TÐ/39 BÐQ chiến thắng lớn, tịch thu trên 500 vũ khí đủ loại, phá nát các kho chứa hàng ven đường mòn Hồ Chí Minh, giết trọn một Tiểu Ðoàn Cộng quân, xác nằm la liệt trên trận địa. Sau đó, chúng phản công mãnh liệt, đại đội của anh bắn đến viên đạn cuối cùng mới rút đi theo lệnh của Thiếu tá Khang, TÐT". Anh Ðăng còn cho biết quân BV đã thí mạng khủng khiếp chưa từng thấy so với mấy chục trận đụng độ ác liệt anh từng tham dự trong chiến trường quốc nội, Ðại Ðội của anh đã phải cận chiến vô cùng dữ dội với địch quân để giữ vững vị trí; Sau cùng, Ðại Ðội của anh phải phân tán mỏng để khỏi bị biển người của Cộng quân tiêu diệt. Nhìn chung nếu so sánh thiệt hại về nhân mạng cũng như vũ khí, TÐ/39 BÐQ đã thắng lớn với tỉ số nhân mạng 1 đổi 10. Nhưng về mặt chiến thuật, việc căn cứ Ranger North bị thất thủ được coi như một bước lùi quan trọng trong kế hoạch tấn công của cuộc hành quân Lam Sơn 719. Chẳng những TÐ/39 BÐQ đã không còn khả năng tác chiến, mà màng lưới phòng thủ mặt Bắc của QLVNCH cũng đã bị thủng một lỗ lớn khiến Cộng quân dễ dàng theo đó tràn sâu xuống vùng hành quân Nam gần đường số 9.

          Hậu quả và nhận xét Nhìn chung, các TÐ BÐQ tại sườn Bắc bị thiệt hại khá nặng vì các trận cường tập biển người liên tiếp của quân BV, nhưng số thương vong của địch còn cao hơn nhiều. Nếu chỉ kể về nhân mạng hay về mặt chiến thuật, quân BV đã bị thảm bại. Nhưng trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, thiệt hại về nhân mạng tuy đáng kể, nhưng không quan trọng bằng việc "cắt đứt đường tiếp vận của địch tại Lào" để giết địch về lâu về dài, không nhất thiết gây thiệt hại nhân mạng ngay tại chỗ. Do đó, tuy các TÐ BÐQ đã giết được nhiều địch quân, nhưng lại phải di tản nên bỏ trống những vị trí quan trọng, thật ra lực lượng hành quân đã bị yếu thế về phương diện chiến lược vì những lý do sau đây:

          - QLVNCH đang từ thế tấn công trở thành phòng thủ, trong khi ngược lại, quân BV từ thế bị động trở thành chủ động. Với khả năng tăng viện từ vùng Phi Quân Sự, qua địa hình tương đối trôi chảy vì ít chướng ngại vật, trên đường tiến quân qua cánh đồi trọc với cỏ tranh trải dài qua đến tận vùng hành quân bên Lào; quân số quân BV ngày càng gia tăng tại chiến trường trong khi QLVNCH ở thế cột chưn phòng thủ thụ động trên các Căn Cứ Hoả Lực, nên lực lượng bị chia cắt không yểm trợ được lẫn nhau, ban sáng thì sương mù dầy đặt không được yểm trợ hoả lực khi cần thiết. Quan niệm liên hoàn "hỗ tương yểm trợ" của các CCHL (FSB) bị phá vỡ vì căn cứ nào cũng bị Tướng Giáp biết trước nên tổ chức công sự, hầm-hố rất kiên-cố bao vây cô lập nên phải tự chống trả, quân ta như Cá nằm trên thớt vì sự phản bội của phản tình báo CIA Mỹ. Mỗi vị trí QLVNCH bị biển người quân BV có chiến xa và trọng pháo bao vây nên trở thành những ốc đảo, khiến địch tự do thao túng, lựa chọn mục tiêu để dứt điểm đưa quân bạn vào thế bị-động như bó đủa bị bẻ từng chiếc một. Ðây là cái bẫy do người bạn lớn của chúng ta đặt ra để hủy diệt quân lực VNCH vào đúng ngày 18 tháng Giêng 1971 do HÐAN, Pentagon quyết định.

          - Về mặt tinh thần, tin hai TÐ BÐQ phòng thủ sườn Bắc phải di tản khiến các binh sĩ Dù tại các Ðồi 30 và 31 là lớp khiên-chắn phòng thủ kế-tiếp thứ hai phần nào hoang mang giao động. Kể từ nay, hai Ðồi nầy bỗng nhiên trở thành các vị trí tiền đồn, vừa phải nhận lãnh trách nhiệm ngăn chặn địch quân do BÐQ để lại, vừa phải tự bảo vệ, coi như "lưỡng diện thọ địch" Ngoài ra, lại còn phải đảm đương trách nhiệm yểm trợ và bảo vệ cho nỗ lực chính trên đường số 9 tiến chiếm Tchepone. Riêng đối với các chiến sĩ BÐQ, sau các trận đánh để đời tại mặt trận Bắc đường số 9, toàn bộ lực lượng LÐ/1 BÐQ được rút về căn cứ Phú Lộc nên không còn trực tiếp tham dự cuộc hành quân trong phần đất Lào từ đó. Nhưng xét rằng LÐ1BÐQ nầy phải được nghỉ xã hơi sau các trận đánh rất đẫm máu.

          - Với tin 2 TÐ BÐQ bị thiệt hại và di tản, các phóng viên ngoại quốc lại càng thổi phồng những tin tức bất lợi cho QLVNCH. Hình ảnh vài quân nhân BÐQ ngồi trên càng trực thăng hay những chuyến trực thăng tải thương đầy xác chết và những người lính bị thương hoặc những khuôn mặt bơ phờ hốc hác sau nhiều ngày tử chiến không được tiếp tế hay tăng viện đã là những đề tài nóng hổi để báo chí Hoa Kỳ có chủ mưu triệt để khai thác... Những hình ảnh này được các hãng thông tấn ngoại quốc loan truyền đi khắp thế giới khiến dư luận quốc tế cũng như quốc nội lầm tưởng rằng QLVNCH đang bị sa lầy và tìm đủ mọi cách để chạy trốn khỏi Hạ Lào. Bàn về dư luận không thuận lợi này, anh y tá Fujii, người đã trực tiếp sát cánh chiến đấu cùng TÐ/39 BÐQ trong lúc chiến truờng nóng bỏng nhất đã phát biểu: “Tôi cho rằng các chiến sĩ BÐQ/QLVNCH là những binh sĩ chuyên nghiệp và tài giỏi nhất mà tôi đã rất hân hạnh được cộng tác; Nếu có dịp, tôi sẽ không ngần ngại lại cùng chiến đấu với các BÐQ” Trung tá Molinelli, chỉ huy trưởng đơn vị trực thăng trực tiếp yểm trợ cánh quân BÐQ cũng bầy tỏ cảm tưởng tương tự: "Ðúng, một số BÐQ đã bám vào càng trực thăng để được di tản mau chóng khỏi trận địa; Nhưng một số lớn khác đã không hốt hoảng như vậy".

          - Một thiệt hại gián tiếp khác của QLVNCH vì hậu quả của các trận đánh tại các căn cứ BÐQ và cái chết của Trung Tướng Ðổ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Ðoàn III và là người hùng trong trận đánh vượt biên sang Cam Bốt vào năm 1970. Việc các căn cứ BÐQ thất thủ là thất bại quan trọng đầu tiên cho lực lượng VNCH trong cuộc hành quân Lam Sơn 719. Do đó, theo các tài liệu Hoa Kỳ, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cho rằng tướng Lãm đã không có những quyết định đúng lúc, đúng mức và đúng chỗ khiến cuộc hành quân bị trì trệ và lực lượng hành quâm lâm vào tình thế bất lợi. Vì vậy, Tổng Thống Thiêu đã mời Tướng Trí từ BTL/QÐ III về Sài Gòn để thảo luận. Nguồn tin Hoa Kỳ cũng nói rằng, vào ngày 23 tháng 2, Tổng Thống Thiệu đã trao chức vụ Tư Lệnh cuộc hành quân Lam Sơn 719 cho Tướng Trí. Nhưng trên đường đi nhận nhiệm vụ mới được trao phó, chẳng may ông bị tử nạn trực thăng tại Tây Ninh, vì thế Tướng Lãm vẫn còn giữ chức Tư Lệnh Hành Quân. Cái chết của Tướng Tri đưa ra chiều nghi vấn … Một thế lực ghê gớm nầy sợ Tướng Trí sẽ tiếp diển cái trò hũy diệt mau chóng các kho tàn trên đường Mòn Hồ như đã thành công trong năm vừa qua “Tốc chiến tốc thắng ở Cục R”. Cuộc chiến Việt Nam, bất cứ ai dù Mỹ hay Việt mà đụng đến đường Xa lộ Harriman [Ðường Mòn HCM] đều bị thãm hại, như John Paul Vann, dựa vào thân-thế từ Tổng thống Nixon, ưu tiên dùng B-52 tiêu diệt 3 Sư-đoàn BV và Trung đoàn 203 Chiến xa, không đễ cho Hà Nội chiếm Kontum làm thủ phủ của MTGPMN để ăn nói tại bàn hội nghị Paris 1973. Thật nghich-lý chỉ có ÐPQ và NQ chiến đấu giữ vững thị xã Kontum!?!? Còn như Tướng Westmorland không hiểu trách nhiệm qua Việt Nam chỉ để huấn luyện tác chiến mà thôi; nhung khi ông nổi hùng-khí đòi đưa quân vào chiếm giữ đường xa-lộ mà Liên Xô chịu trách nhiệm thiết kế ống dẩn dầu huyết mạch, song song với xa-lộ Harriman, thì bị kêu về Mỹ ngay. Nếu Tướng Westmoreland mở cuộc hành quân Lam Sơn 689 thì cuộc hành quân Lam Sơn 719 nầy sẽ không bao giờ xảy ra (Cuộc hành quân xảy ra năm một ngàn chín trăm 68 trên đường 9 Nam Lào)

          Gunship PD-213 va 2 DD Trinh Sat Du
          Vào những ngày đầu, ngay dưới chân núi phía nam Căn-cứ Hỏa-lực, Đồi 31, trên đường lộ 92, Thiết-đoàn 11, Lữ-đoàn-1 Kỵ-binh của Ðại-tá Nguyển-Trọng-Luật, đã tao ngộ chiến với một thành phần Thiết-vận-xa PT 76 của CSBV; Thiết-đoàn đã anh-dũng tiêu-diệt 6 Chiến-xa T-54 và 16 PT-76. (Trong 16 chiếc PT-76 nối đuôi ở phía sau, có nhiều chiếc còn nguyên vẹn vì xạ-thủ và tài xế vừa thoát chết, chém-vè rút vào rừng già cùng với Trung-đoàn tùng thiết bởi sợ phi cơ truy kích; Trực thăng vỏ trang PÐ213 phải áp dụng “văn kiện điều hành” [Standard Operational Procedure] nên không có rượt theo truy kích mà luôn luôn giữ trên đầu quân bạn. Một trong các PT-76 còn nguyên vẹn được Tư-lệnh chiến trường, Tướng Lảm gởi về Saigon tặng Tổng thống; nhưng mầu nhiệm thay! trong khi Thiết-đoàn-11 không bị một sự thiệt hại nào, để khỏi mất lòng tin của đọc giả, người viết xin mời đ-g vào bất cứ thư-viện nào tìm SÁCH lời tựa: “A Better-War”, MỤC: Lam Son 719, TRANG: 259, HÀNG: 26: “Early in the operation the 1st Squadron, 11th Armored Cavalry had encountered NVA armored elements in a fight at Fire Base 31 and performed brilliantly, destroying six enemy T-54 tanks and sixteen PT-76 without any friendly losses in the first major tank-to-tank engagement of the war”.

          Dĩ nhiên Trực-thăng võ-trang của Phi-đoàn 213 cũng đã góp phần không nhỏ trong cuộc chiến thắng nầy với loại Rockets diệt Chiến-xa, 38 trái cho hai bầu hai bên (hình thù ngắn gọn, nằm ẩn ngay trong lòng bó Rocket, Phi Công không thấy được đầu đạn warhead lú ra) và Mini-guns đã là một khắc-tinh khống chế các xạ thủ BV không thể ló đầu ra khỏi chiến xa để chống trả. Có phải sơ-khởi 6 khẩu đại liên 6 nòng như các pháo-tháp di động linh hoạt bao vùng trên không, tạo điều kiện hửu hiệu là không một chiến xa nào phía bên ta bị thiệt hại vì hỏa lực chống trả của địch? 6 pháo tháp di động trên không nầy đã áp-dụng kỹ thuật điêu luyện trong nhịp bắn từng hồi 2000 tăng giảm đến 4000 viên phút trên cao độ 75 thước để duy trì hệ thống điện tử “control-box” không bị “overcharge” tắt nghẻn. Cuộc tao ngộ chiến ‘Chiến-xa đối đầu với Chiến-xa’ được xem là Quân-lực VNCH toàn thắng! Dĩ nhiên kết quả công đầu được thành đạt là nhờ công lớn do Lữ-đoàn/1/Dù của Ðại-tá Lưởng đã chia ra 2 đường tiến sát bén nhọn, chận đánh 2 Trung đoàn của Sư-đoàn Thép 320 và 304 của CSBV. Tịch-thu vô số xe-thồ, thuốc men thực phẩm cùng thiêu hủy kho xăng hậu cần và căn cứ huấn-luyện bổ xung tân binh tại chiến trường, làm chao-đảo tinh thần của 2 trung đoàn chủ lực CSBV nầy.

          Chúng tôi đang lấy trung tâm điểm là một Trang trại của CSBV, có lẽ là Công-binh-xưởng, hay Trung Tam Huan Luyen với nóc-mái lợp bằng Tre-Nứa đập dập; Ðễ chờ đợi tăng cường thêm hỏa lực, Trung-úy Trần Lê Tiến, Lead-gun đang trên đường bay đến căn cứ Aluối với 76 trái hoả tiển chống Tăng. Dĩ nhiên không phải ểễ truy kích tàng quân của trung đoàn Thép 320 đang bị đơn vị Dù gây thiệt hại nặng mà để phối hợp hỏa lực cho một đơn vị Dù thuộc Lữ-đoàn-1 đang tiến chiếm mực tiêu: một đơn vị chiến xa thuộc trung đoàn 202 CSBV đang phục kích trên đường 92, bắc Aluối. Chúng tôi không được quyền đi xa nguyên tắc “yểm trợ hỏa-lực tiếp cận cho quân Dù” và luôn luôn trên đầu quân bạn; Thế nên vùng chờ của chúng tôi là trên đầu Thiết đoàn-11, lực-lượng Dù, và Chi đoàn thiết vận xa của Thiết đoàn-17. Cho nên hợp-đoàn 4 chiếc trực thăng vỏ trang phối hợp hỏa lực nầy không đi xa nguyên tắc là truy kích tàng quân của trung đoàn 304; Ðiều dể hiểu chúng đang di chuyển xa về phía Nam của cứ-điểm Aluối và nhập vào sư-đoàn 324B để tạo thành sức mạnh đồng thời cũng bảo vệ căn cứ kho tàng 611.
          Hợp đoàn gunships của Tiến vừa đến Aluối, tôi cắt đặt chiếc 2 của Tiến nhập vào left-echelon-3 do tôi lead, còn riêng sát thủ Tiến đi sau chúng tôi 45 giây với cao độ 300 thước trên mặt đất, vừa đủ một pass 25 giây nhào xuống phun từng đợt 4 trái, chia đều bao phủ ổ phục kích. Ðiểm phục kích nhầm vào khúc quẹo qua trái trên trục đường thẳng, lấy trục trên đầu quân bạn về hướng bắc; Chúng tôi đang vào đội hình tác chiến: Tôi cẩn thận nhắc lại các anh em đoàn viên xem lại Chicken-plate, check lại giây nịt an toàn sau lưng, kéo kiếng che mắt từ helmet xuống, và kéo cổ áo nomex lên cao để không bị phỏng vì các giây cháy từ đuôi hoả tiễn phun ra khi tác xạ. Tất cả bật qua VHF 118.5, intercom, trong vị thế sẳn-sàng chiến đấu.

          Tôi dùng chiến thuật “độn rừng ngụy âm” bay sát trên ngọn cây, mổi chiếc cách nhau 5 giây an-toàn khoảng cách, riêng theo sau gun Tiến lên cao độ cách 45 giây. Hợp đoàn 3 chiến gunship rà sát trên ngọn cây, ôm sát bên phải con đường thẳng nhập vào khúc quẹo trái trước mặt. Các xạ thủ đang đứng xổng lưng nhoày người ra ngoài với đôi mắt Cú-Vọ soi bói như tìm kiếm bảo vật; Còn 30 giây đến mục tiêu, tôi ra lệnh bắn … 6 khẩu đồng loạt tác xạ, 6 xạ thủ chồm hẳn ra ngoài dí đầu súng 6 nòng quay tích về trước mũi … một bầu lửa đỏ trước mũi phun ra 4000 viên xuống rừng Tre-gai, bụi rậm, bên cạnh lưng sườn đồi nhất là dưới gốc các rậm Tre nơi nghi ngờ điểm phục kích. Các anh rải đều các điểm nghi ngờ có sự hoạt động của con người. Tôi nhớ lại lời nói của Nả Phá Luân “Les sous officiers font l’armeé” [Các Hạ sỉ quan nầy là kẻ quyết định chiến trường] 6 anh không những gan dạ đứng xỏng lưng chiến đấu mà còn kinh nghiệm tác xạ, nên những cây minigun nổ đều với nhịp điệu khi nương khi mạnh; Khi chúng tôi trên đầu quân CSBV 50 thước; Thật điều quái lạ không nghe một tiếng súng nào bắn trả? Khác hẳn mọi khi có tiếng lóc cóc, hoặc nổ như bắp rang của AK-47 mỗi lúc mỗi gần hơn.
          Nhưng chả lẽ chúng chết hết!? Không phải vậy đâu đừng ham! Vì tiếng mưa bảo của đạn đạo từ 6 cây minigun quá ghê gớm nên họ đành tạm thời núp trước rồi tính sau; Ðơn vị tùng thiết quân CSBV thuộc Sư Ðoàn Thép 320 nầy có kinh nghiệm, vì họ thừa hiểu muốn chường mặt ra để đối chọi với chúng tôi thì đã bị gục ngã vài giây dưới cơn mưa đạn tàn sát trước mũi trực thăng và không có dịp mở mắt nhìn thấy sát-thủ vừa bay lướt qua trên đó.. Dựa vào thế thượng phong nầy, Chiếc Lead của tôi quẹo gắt qua phải lấy chút cao độ quan sát và làm C&C cho đội hình xạ kích, Tôi quẹo gắt qua phải lead 6 minigun bao vùng trên điểm phục kích bắn xối xả vào luôn chiến xa T-54 và PT-76 nằm chàng ràng trên trục lộ vì quân BV vẩn còn ở trong đó. Cho đến lúc nầy trên cao độ 75 thước vòng tròn chúng tôi vẩn cảm thấy không một tiếng súng nào bắn lên.
          Hai chiến đầu tiên bắt đầu phun ra hoả-tiễn chống biển người, ba cụm khói màu đỏ-hồng đang để lại sau đuôi 2 chiếc đầu; Trên cao 300 thước, Tiến bắt đầu phụt ra mỗi lần 4 trái, và rãi đều trên các chiếc T-54 nắm chình-ình cách hai bên vệ đường không xa lắm. Chỉ 25 giây sau qua một pass duy nhứt, 38 trái đã rơi vào đúng mục tiêu. Lúc nầy Tiến lấy cao độ 75 thước làm trail cho Lưu ở chiếc 2, trong khi chiếc 3 của Lộc lên cao độ 300 thước để lấy trục xạ kích. Khi gun Lộc phóng xuống từng đợt 4 trái vào y chang mục tiêu của Tiến đã giộng vào đó… Lộc đang nối đuôi làm số 3 của lead Lưu; Tôi tách ra lên cao độ để tác xạ, nãy giờ tôi đã quan sát và thấy rỏ ràng địch quân đả phóng ra khỏi xe mong chém-vè về cánh rừng trước mặt, nhưng đã bị các xạ thủ theo dõi tiêu diệt một số lớn vì làm sao tránh khỏi căp mắt Cú chỉ ở trên tầm quan sát 75 thước! Luôn luôn cũng trên cao độ 75 thước, cũng thay phiên 3 chiếc cover liên tục bằng lưới đạn 7ly62, giử khoảng cách đều nhau trên một chu vi hình tròn yểm trợ liên hoàn. Và cứ như thế 6 khẩu minigun tiếp tục khạt ra từng hồi 2 đế 4 ngàn viên để duy trì hệ thống control box không bị overcharge cũng như đè-nén (neutralization) không cho địch thủ bắn trả.

          Hồi nãy giờ, tôi đã quan sát thật kỹ trên trận chiến, điều đặc biệt là các dấu xe xích song song màu vàng nghệ còn tươi rói, chằng-chịt ấn dấu trên lưng chừng đồi thoai thoải và mất dạng trong đám rừng hình chữ nhựt không có dấu vết thoát ra, mà theo con mắt kinh nghiệm chiến trường, chúng (PT-76) đang giàn hàng ngang trên mé rừng ngó xuống con lộ. Tôi căn dặn Lưu, khi tác xạ nhớ dập theo mục tiêu của tôi mà bồi thêm vì tôi chỉ còn có 8 quả hiếm hoi để chống Tăng.

          (con tiep)
          Last edited by Phòng Trực; 10-24-2012, 10:21 PM.

          Comment

          • vinhtruong
            Super Member
            • Jun 2010
            • 1924

            #6
            Chiến Thuật “Cạ-Càng Lướt trên cây”


            Theo thống-kê Việt/Mỹ: KQVN chết 10, Mỹ chết 215; KQVN mất tích 4, Mỹ 38 đó là hậu quả sau 42 ngày của cuộc hành quân Lam-Sơn 719 vì nhờ “chân-lý đây rồi!” …Chiến thuật cạ-càng lướt thoáng trên ngọn”, Thường thường trên cao độ 50 thước với âm thanh gầm thét như luôn luôn có 6 con rồng phun lửa mới áp đảo kẻ địch phải chui rúc, dưới đó, vi bi theo đuổi bởi 32 con mắt diều-hâu ráo-đảo tìm kiếm địch thủ quanh quẩn đâu đây, vừa ló dạng bóng đen nào thoát ra khỏi chiến xa để đào thoát cũng bị dí 3 đầu mũi 6 nòng phun xuống một trận mưa đạn buộc phải ngã quỵ tại chỗ, không có mống nào chạy thoát lưỡi hái tử thần. Ðặc biệt, cánh rừng chồi da beo hình chữ nhựt ngó xuống trục lộ đã bị các nòng súng chia nhau quạt khắp mọi nơi khi chưa có mục tiêu khả nghi nào xuất hiện. Dưới cách đó gần lộ lố nhố vài hầm cá nhân B-40, đất vàng nghệ còn tươi rói, đã bị minigun giã nát tự bấy lâu rồi, cảnh vật nơi chiến địa cùng đoàn xe im-lìm bất động như khung hình chết của bãi tha-ma, trên đó ngun ngút toả ra dật-dờ vài đám khói còn lại trên xác các chiến xa trúng rockets. Nơi đây lính BV đã bỏ chạy ngay sau khi chiếc thứ 2 của Lộc dộng xuống thêm 38 rockets chống Tăng. Bây giờ còn lại cạnh bìa rừng hình chữ nhựt ngó xuống con lộ, đang bị tôi nghi-ngờ là vài chiếc PT-76 đang chĩa nòng 76ly xuống con lộ, kềm theo vài khẩu đại liên 14,5 ly, nhưng có lẽ không còn ai sống sót. Tôi cũng hiểu ra rằng với lỏm nhỏ rừng chồi nầy đã bị các minigun phun xuống cày nát, tất cả đã chém-vè theo bộ binh tùng thiết vào đám rừng già sau lưng. Chúng chạy ra khỏi bìa rừng khi tôi nhìn lại sau đuôi, phát hiện nhưng tằm đạn đạo minigun chiếc 2 chĩa về hướng 1 giờ, nhưng chưa đủ xạ trường sát hại, cũng như Trung sĩ Ðức bắn vói ra sau hướng 5 giờ nhưng cũng trớt-quớt, vô tích sự vì đạn đạo không thể tới được. Thế là nhóm nầy đã thoát nạn để lại một số PT-76 không còn người điều khiển; Cái toán quân BV nầy khá thông minh nên đào thoát kịp; Tôi đang nghe trong tần số Guard, tiếng người Việt ngồi backseater (người “tháp tùng tử” ngồi sau có thể là quan-sát viên KQVN, Pháo binh diện địa, pháo binh Dù, TQLC, hoặc sĩ quan Phòng-3) trên FAC Bronco OV-10 cho biết 10 phút nữa phi cơ chiến thuật sẽ đến dập thêm vào đoàn convoy chiến xa nầy.

            Vừa làm một pass rải dài 8 hoả tiễn vào bìa rừng ngó xuống con lộ, nhưng tôi đoán quân BV đã bỏ của chạy lấy người, chỉ còn lại vài chiếc PT-76 không người lái với xác người nằm yên trong đó, rồi đây quân Dù sẽ váo khai thác chiến trường và sẽ tìm ra chúng. Chiếc của Lưu cũng làm một pass y chang như tôi. Chúng tôi từ giã bãi chiến trường trong không khí yên lặng, dù rằng để lại vài đám cháy với lớp khói mờ-mịt tỏa ra nơi đó, tuyệt đối không thấy có sự chống trả; Chiếc Tiến và Lộc tiếp tục bao vùng cho Tiểu đoàn-1 Dù và Tiểu đoàn-8 ở hướng bắc, cạnh đó. Thình lình tôi nhìn rõ 1 chiếc A-6 Intruder, nhờ 2 đầu cánh chém gió xẹt ra 2 lằn trắng, rồi một loạt bôm snack-eye chạm nổ dữ dội, chiếc thứ 2 nhào xuống cũng salvo như chiếc trước, nhìn ra sau, khói bom che lấp đoàn convoy. Tôi mở tần số la làng, cự FAC “Anh nói 10 phút gì mà nó dội xuống sớm quá vậy… xém chút nữa chúng tôi ôm lãnh đủ”; người backseater trả lời: “Thằng pilot nó đã thấy các anh nhờ vòng tròn cánh quạt sơn màu trắng, nên nó mới cho thả… mà nó lu-bu cũng chẳng nói gì đến tôi… thôi thông cảm đi bạn! Chúng tôi nhìn xuống thấy 4 chiếc dĩa trắng quay tích như làm ảo-thuật trên nền thãm xanh rêu, rồi khi các anh lấy hướng về Aluối nó mới nhào xuống thả… thôi thông cảm nghe bạn”. Tôi và Lưu về lại Khe Sanh để tái võ trang và châm đầy xăng nhớt.

            Nếu giả thuyết ở nơi đây không phải là vùng cao nguyên rừng núi mà là vùng đồng bằng như vùng Trà-Kiệu trên sông Thu-bồn chẳng hạn, thì đây là một dịp may để tiêu diệt trọn gói khi mà tàn quân bị 3 mũi dùi tấn kích (3 mặt giáp công) chỉ còn con đường thoát thân duy nhứt là vượt qua sông Thu-bồn: Phía Tây tấn kích bằng Chi-đoàn/17, phía Nam bằng Tiều-đoàn/1 Dù, và phía Ðông nguyên một Thiết-đoàn/11. Ðối với Top-Gun, chúng tôi biết phải làm những gì khi Cá đang nằm trên thớt, trong khi trên cao độ 75 thước, 8 xạ-thủ đang đứng xổng lưng ghì tay súng trong tầm mắt cú vọ mà rải đều trận mưa đạn xuống địch quân trên một vùng lau sậy tróng trải, hoặc toan lội qua sông Thu-Bồn! Ðiều dễ hiểu chúng tôi là những tiên phuông trong lằn tên mũi đạn nên hiểu được thế trận đồ, vì thế cho nên chúng tôi không phiền-trách những ai có may mắn được ngồi trên bàn giấy khi nhận xét về thế trận đồ. Khi Lữ đoàn 1 Ðặc nhiệm gởi chiến lợi phẩm bằng một thiết vận xa PT-76, trong đó có chở thêm những bánh xe-thồ, xe thùng, và vài cái chảo to đường kính hơn thước, thì Bộ TTM cho rằng làm gì trong rừng mà có bánh-xe Cyclô để du lịch, còn khi nhìn thấy cái chảo to tổ bố nặng trĩu thì nhóm văn phòng nầy chỉ há họng và trố mắt khi nhìn thấy cơm cháy còn dính nơi đáy chảo… không hiểu gì cả? Vì thế sự thiếu hiểu biết nầy không làm chúng tôi phiền muộn, khi có ai muốn soi mói châm chọc, ngay đến Tướng Abrams mà báo chí Tây phương cho là người hùng trong trận chiến cũng có nhận thức vô cùng lầm lẫn đến nỗi khi đọc dòng chữ dưới đây làm tôi vô cùng đau xót. Dưới đây, tôi xin đưa ra một dẫn chứng mà không dám dịch ra tiếng Việt sợ sai lạc: Cũng trong sách “A Better War”, mục “Easter Offensive”, trang 332, hàng 25 [During the battles a new weapon system, the tank-killing TOW missile, was flown in from the United States. Initially, noted Abrams, “I gave twenty to the Marines and the 1st Division because they were the only troops I knew of that had stood and fought. I don’t want these things in the hands of the enemy. And on the Airborne, I told General Kroesen [that] when General Truong will give me his personal assurance that they will not be abandoned on the battlefield, then I’ll Consider it”.

            Nằm trên chiếc ghế-bố Quân đội, tôi co-ro trong chiếc Mền không đủ ấm giữa rừng núi Khe Sanh, thế-giới nơi đây, tôi như bị giam hãm thu hẹp dưới 4 góc mùng xám xịt đen tối, không lối thoát, rồi trăn-trở, trằn-trọc không sao ngủ được. Bây giờ tôi phải làm sao đây!? Khi mà chiến tranh đi đôi với tang tóc! Tôi cầu mong làm sao đừng có xảy ra thảm cảnh đó nữa, hoang mang lo-lắng cho Liên đoàn của mình! Và nhất là các Phi-đội 233 và 219… cứ miên man suy nghĩ mà không làm sao chợp mắt được, tự nhủ lòng là từ nay trở đi, phải dấn thân bay tiên phuông trong lửa đạn, là con Chim đầu đàn phải cất cánh sớm hơn, mà lại về đáp cũng trễ nhất. Tôi sẽ giao cho Đại-úy Kỳ hay Trung-úy Tiến, phụ tá hành quân thỉnh-thoảng đi họp thế; tôi dành hết thời gian cho cuộc hành quân nầy bằng cách cầm lấy chiếc Trực-thăng Võ trang mà hướng dẫn, đưa đón các cánh Chim non đang lặn hụp dưới bầu trời mới lạ, xuất phát từ biên-giới lúc đi cũng như lúc về, lấy điểm hẹn từ Trại tù Lao Bảo làm nơi điểm xuất phát. Chỉ có tôi là người duy nhất hiểu rõ được địa hình nơi đây từ ngọn núi, con sông đến đồi cao khe-suối, những đám rừng nguyên thủy chưa có dấu chân người, ngọn núi Vôi Cô-Rốc vàng óng-ánh dưới ánh bình-minh. Nhưng hôm nay bay trở lại, mọi cảnh vật khai-quang trống-trải rất nhiều, nhất là trên trục đường Mòn 559 mà tôi đã bay ngang qua đây không biết bao nhiêu lần, giờ thì quá trống-trải, đường đất Đỏ Cao-nguyên đâm chồi, chi-chít thêm ra, màu xanh trùng điệp của cánh rừng già giờ đây đã có quá nhiều loang-lỗ, rải-rác những nhà to với mái đan bằng Tre-Nứa đập dập, có lẽ là những nhà Kho hay Công-binh xưởng chăng? Chỗ Thiếu-úy Huệ đáp xuống thả Toán Thám sát STRATA (1964) vào buổi chiều choạng-vạng, cánh quạt chém vào cây, tôi phải đặt càng bánh xe lên đầu trục cánh quạt của hắn mà đem hết Phi hành đoàn về, nơi đây, bây giờ là Hậu-cần 611, cũng đã phát hoang trống-trải và có cả ống dẫn dầu băng ngang qua thì phải? Cuộc hành quân mới phát khởi được 3 ngày (N+3) mà 2 phi hành đoàn đã bị Thiết-xa PT 76, cùng phòng không 37ly bắn nổ-tung trên không phận nầy, dưới đây, ngay bây giờ là ổ Kiến Lửa! Xe vận tải ngang nhiên di chuyển mà chẳng hề sợ-sệt phi-cơ phát hiện nhờ cái Dù điều lệ ROE của trục Ma Quỷ: Ðoàn xe chạy ban đêm bật đèn mờ và ban ngày ngủ cho đúng luật ROE, còn như ban ngày khi qua các con suối cạn mà nghe tiếng phi cơ thì tài xế cứ việc tắt máy nối đuôi chờ thì không phi công Mỹ nào dám oanh tạc cả (điều nầy chỉ có quan sát viên người Việt backseater là nhân chứng sống).

            Tôi bóp đầu nặn óc tìm ra chân lý cũng như tìm ra định-luật về chiến thuật để bảo vệ cho con em mình không còn bị thảm hại… Đang miên-man tìm ra chân-lý, tôi bỗng nhớ lại ngày xưa khi thành lập phi đoàn trực thăng đầu tiên, người anh cả thiên tài Nguyễn Huy Ánh đã giẩải danh hiệu “Thần-Chùy” sau khi đặt tên cho PÐ/211. Ðã xưa lắm rồi, khi con người tìm ra vũ khí để chiến đấu với kẻ thù; Người hiệp-sĩ khi xử dụng chiếc Chùy-thung phải có sức mạnh phi thường, tuy đường chùy vun-vút có chậm hơn các vũ khí như gươm, kiếm, mã tấu, thanh long đao, chỉa ba, thước bảng, roi xích... nhưng tất cả vũ khí trên khi đụng phải Thần-Chùy đều rơi rụng tung-toé vào mọị phương hướng vô định!!!

            Tôi lại bóp trán mỉm cười … vổ mạnh lại lên trán trong nỗi mừng vô hạn… Chân lý đây rồi! Chân lý đây rồi!!! Chiến-thuật “Ngụy-Âm Ðộn Rừng” Trong đôi tay tôi đang có thủ-thuật “Song-Chùy” làm ra chiến thuật áp đảo đối phương. Trực thăng võ trang của KQVN là loại bay chậm nhứt thua cả Cobra của Mỹ chớ đừng nói chi đến các phi cơ chiến thuật tiềm kích, nhưng tôi lại đã phát hiện ra một chiến thuật tân-kỳ và vô cùng mầu nhiệm: Có chiến hữu nào đã tham dự chiến trận tại rừng già chiến khu D, Ðồng Xoài, và rừng cao-su Bình Giả thì có thể hình dung ngay khi bạn đứng giữa rừng già mà chỉ nghe tiếng bành bạch của cánh quạt chém gió từ xa trên ngọn cây bay đến; Bạn làm sao xác định được trực thăng từ phương hướng nào bay đến? Và khi nghe tiếng gầm thét áp-đảo của Minigun như con khủng long phun lửa xuống, thì tự động bạn phải tìm chỗ nào an-toàn gần nhứt để trú ấn. Nếu là chiến xa thì phải chui xuống pháo tháp mà trú ẩn để sống còn theo phản xạ tự nhiên của con người. Kết quả nầy đã chứng minh hùng hồn qua sự ghi chép trong quân-sử Mỹ-Việt (US Army Center of Military History 1980; Lam Sơn 719 General Nguyễn Duy Hinh; và Military History Institute of Vietnam) dưới đây là sự so sánh giữa Sư-Ðoàn 101 Không-Kỵ và Liên Ðoàn 51 Tác Chiến theo như tài liệu SOG/MACV, kết quả sau 45 ngày chiến đấu quyết liệt:
            Sư-Ðoàn 101 Không Kỵ: Chết: 215, Mất tích: 38, Bị thương: 114
            Liên Ðoàn 51 Tác Chiến: Chết: 10, Mất Tích: 4, Bị thương: 11 – (có phải nhờ “Chiến Thuật “độn rừng ngụy âm” Liên Ðoàn 51 Tác Chiến và HQ/Lam Sơn 719).

            Ngày 22/2/1971- Cả đêm rồi tôi không thể chợp mắt được cho dù đã quen dần tiếng ầm vang của 42 khẩu trọng pháo Mỹ bắn yểm trợ, khuấy rối, mà chỉ mong đợi cho mau sáng để gởi PHÐ H-34 vào cứu Giang, On, và Sơn. Nhưng ác nghiệt thay trời hôm nay sương mù giăng đặc sệt như cháo đậu (Pea-Soup) Ðã 10 giờ sáng mà trời vẫn còn mù mịt. Ngay khi trời vừa thoang thoảng thấy được là tôi phải đem gunship bao vùng cho Ðại đội Trinh-sát Dù đang cần mở đường tiếp cứu Ðồi-31. Trước khi cất cánh tôi có liên lạc với sĩ quan điều không tiền tuyến Ðại- úy Không Quân Nghĩa và Trung úy Chính sĩ quan Không Trợ Dù liên lạc với PHÐ hướng dẫn họ vào hướng nào cho ít nguy hiểm.

            Tại BCH Tiền Phương Dù, khi tôi vừa cất cánh thì một tiểu đội tác chiến điện tử Dù đang chờ nơi bãi đáp bên cạnh một chồng máy Sensor dùng để phát giác đặc công địch. Những máy nầy đã giúp cho Trại LLÐB Mỹ thoát khỏi bị bao vây, ngay sau khi Ðại úy Nguyễn Minh Vui và Thiếu úy Châu Lương Cang liều mạng đáp xuống Trại Pleime với lối bay chiếc lá cuốn theo cơn lốc, khi cất cánh dùng chiêu-thức “Khủng Long áp-đảo”, làm cho địch ngơ-ngác không biết phi cơ từ đâu đến lướt thoáng trên ngọn cây, dù vậy một binh sĩ mũ nồi xanh cũng bị trúng đạn ngay đầu, chết liền tại cabin, máu tràn lênh láng trên sàng nhôm.

            Bầu trời bắt đầu trong sang, tôi nghe tiếng Thiếu úy Bửu đang đáp xuống LZ Tiền- Phương Dù. 10 phút sau tất cả pháo Long Tom 175, 155 ly và 8 inch cũa Mỹ tiền oanh kích trước mũi, dọn mở một hành lang dọc trên đường bay. Nhưng quân BV rất tinh ranh khi nghe loạt pháo đầu là chúng chạy vào hầm ngồi nghỉ, cho đến khi ngừng pháo kích thì chúng lại chui ra giao chiến. Tôi cắt đặt 2 chiếc Gunship air cover cho 2 chiếc H-34 của Bửu và Yên, dù sao Gunship mình tuy có ít hỏa lực nhưng cấp cứu anh em trong Liên- Ðoàn vẫn bảo đảm hơn Mỹ. Tôi rất tin tưởng Thiếu úy Phạm Vương Thục, một Top Gun rất anh dũng dám sống chết vì anh em luôn luôn sẳn sàng hy sinh cho đồng đội, tôi không tin vào Army Aviation Mỹ vì khi có chiếc nào của Mỹ rơi thì họ bỏ bay đi tìm cứu đồng đội của họ mà quên anh em mình, như tôi là nhân chứng cho nhiều hoàn cảnh như vậy.

            Tôi nghĩ Ðại-úy Nghĩa và Trung úy Chính Sĩ quan Không Trợ Dù sẽ chỉ dẫn đường bay nước đáp cho Bửu qua cố- vấn của Thiếu- úy Giang. Vì phòng không di- động trên PT-76 rất lợi hại hơn các phòng không cố- định, 12,7, 14,5 và 37 ly nằm rải rác mọi nơi, nhiều nhứt nơi hướng đông bắc, không nên đáp vào hướng ấy mà nên đáp từ hướng tây nam xuống LZ, dù sao cũng có TÐ /6 Dù mới vừa trực thăng vận, tuy bị nhiều thiệt hại cho quân TÐ-6 Dù, nhưng Top gun Trần Lê Tiến, Hoàng Ngọc Châu… đã oanh liệt thay phiên nhau gây thiệt hại nặng nề cho 2 trung đoàn cơ-động 27, và 24B của Quân đoàn 70B.

            Giang đã trình bày cho Bửu biết, hắn đã dùng chiến thuật đáp như chiếc lá cuốn trong cơn lốc, nhưng kẹt nỗi quân BV cứ khi nghe tiếng trực thăng thì họ dội trận địa pháo tới tấp xuống, vì họ đã có tiền điều chỉnh rất chính xác. Phi-công dù tài giỏi thế nào nhưng khi gần tới đất chừng 15, 20 thước thì sẽ bị mảnh đạn văng bắn vào bộ phận cánh quạt đuôi, mất điều khiển phương hướng rồi rơi xuống quay theo counter clock wise, tại chỗ “undershoot”. Như trường hợp của Giang. TPC Bửu đã được nói chuyện trực tiếp với TPC Giang từ trong đồi 31 và được biết, ngày hôm qua khi bay vào vùng, Giang đã dùng chiến thuật "lá vàng rơi", từ trên cao cúp máy auto xoáy trôn ốc xuống, nhưng vì phòng không địch quá dày đặc nên khi gần đến đất, phi cơ anh bị trúng đạn rớt xuống gãy đuôi nằm bên cạnh vòng rào phòng thủ ngoài cùng của Lữ Ðoàn 3 Dù. Phi hành đoàn vô sự, chỉ có copilot là Võ văn On bị xây xát nhẹ ở cổ, tất cả chạy thoát được vào trong căn cứ Dù. Nhưng trước khi bỏ phi cơ, cơ phi Trần hùng Sơn không quên vác theo cả cây M60 trên cửa máy bay nữa. Rút kinh nghiệm, hôm nay Bửu bay Kạ-càng bánh xe lướt thoang thoáng trên ngọn cây theo chiến thuật biệt-kích razed-mode lướt từ hướng Ðông-Tây đi vào, nhưng làm sao đừng gây ra tiếng động. Trên đường bay dọc theo quốc lộ số 9 TPC Bửu còn nhìn thấy những cột khói bốc lên nghi ngút, chứng tỏ pháo binh cua Mỹ nơi Khe Sanh bắn rất chính xác và hiệu qủa. Gần đến LZ, Bửu đổi hướng lấy Ðông Nam, rồi Tây Bắc để đáp xuống. Vừa ló ra khỏi rặng cây,TPC Bữu đã thấy chiếc Gunship của TPC Thục bay vòng lại, cùng với tiếng Thục la lên trong máy "Bửu coi chừng phòng không ở hướng đông nam". Từ trên phi cơ nhìn xuống, giữa màu xanh trùng điệp của rừng cây nhiệt đới, ngọn Ðồi 31 đỏ quạch nổi bật với những đốm bụi đất tung lên từng cơn vì đạn pháo kích đào xới của cộng quân Bắc Việt. Không nao núng, Bửu vẫn điềm tĩnh tiếp tục đáp xuống. Khi phi cơ còn cách mặt đất độ 15 thước thì trúng mảnh đạn cối 120ly, khắc-tinh chống trực thăng, phi cơ phát hoả, bùng lên một đám khói bao trùm cả phi cơ, cơ-phi Em la lên khẩn cấp trong máy "đáp xuống, đáp xuống anh Bửu ơi, máy bay cháy". Cùng lúc Bửu cũng cao tiếng báo động cho chiếc số 2 "Yên ơi, tao bị trúng đạn rồi, đừng xuống nữa" trong khi vẫn bình tĩnh đáp xuống. May mắn là đạn trúng vào bình xăng sau đã hết xăng, chỉ còn ít hơi đốt, nên trực thăng không bắt cháy như chiếc của Thiếu-úy An ở Bù Ðốp hôm nào. Vừa chạm đất, theo phản xạ Bửu nhanh nhen nhảy ra khỏi trực thăng. Mọi người chạy ngược lên đồi về phía hàng rào phòng thủ thứ nhất của đại đội công vụ Dù cách khoảng 100 thước, để lại một cảnh thương tâm hiện ra trước mắt, một binh sĩ điện tử Dù bị trúng đạn ngay giữa trán, nằm ngữa chết ngay trên ghế. Trên sàn tàu, đống máy "sensor" vẫn còn nguyên vẹn. Phi hành đoàn phóng chạy lên đồi theo những tiếng kêu gọi của binh sĩ Dù "trên đây nè Ðại uý, tụi tôi bắn yểm trợ cho". Tất cả dân-bay lom khom chạy trong khi tiếng đạn nổ lóc cóc trên đầu. Lên đến nơi phi hành đoàn thở nhẹ-re như bò kéo xe. Dân- bay mà hành quân dưới đất thì phải biết là mệt đến đâu. Tôi phải ghi vào sổ nhựt ký đơn-vị và nhớ mãi hôm đó là ngày 22 tháng 2 năm 1971.

            PHÐ vừa ngồi nghỉ mệt, họ cũng vừa nhìn xuống LZ, nơi chiếc phi cơ đang đậu hiền lành, thì cũng vừa lúc quân BV tiếp tục giã trận địa pháo đã điều chỉnh tác xạ, một quả đạn súng cối 120ly rơi trúng ngay tàu nổ tung, bốc cháy thành một cột trụ khói đen mù mịt cả một góc trời. Dân bay nhìn con tàu xụm xuống, lòng quặn lên. Con tàu thân thương đó đã nhân cách hoá, gần gũi với phi-đoàn lâu nay, giờ thành một đống sắt vụn.

            Một lát sau, theo chỉ dẫn của anh em binh sĩ Dù, PHÐ men theo giao thông hào lần về đến ban chỉ huy Lữ Ðoàn 3 Dù. Gặp lại phi hành đoàn của Giang, On, Sơn anh em mừng rỡ thăm hỏi rối rít. PHÐ được giới thiệu với các sĩ quan trong ban tham mưu Lữ Ðoàn 3. Ðầu tiên là đại tá Thọ lữ đoàn trưởng Lữ Ðoàn 3, thiếu tá Ðức trưởng ban 3, dại uý Trụ phụ tá ban 3, đại uý Nghĩa sĩ quan điều không tiền tuyến, trung uý Chính sĩ quan Không trợ Dù, thiếu uý Long phụ tá ban 2. Về phía pháo binh thì có trung tá Châu tiểu đoàn trưởng và đại uý Thương trưởng ban 3 thuộc tiểu đoàn 3 pháo binh Dù. Ðại tá Thọ mừng anh em "mới đến" mỗi người một điếu Havatampa và một ly Hennessy để lấy lại tinh thần. PHÐ ngạc nhiên vô cùng, đi đánh giặc, nằm ở tuyến đầu ác liệt vậy mà mấy "Thiên thần" nhảy Dù vẫn thản nhiên hút sì-gà Cuba và uống rượu Mỹ như Trương Phi tân thời! Quả các Thiên thần ăn chơi cũng dữ mà đánh giặc cũng ngầu thật.

            Buổi chiều vùng rừng núi trời tối thật nhanh, dân bay dùng tạm bữa cơm dã chiến với ban tham mưu Lữ Ðoàn rồi chia nhau ngủ ké với anh em Dù. Tin tức chiến sự mỗi ngày một căng thẳng hơn vì đối với cộng sản Bắc Việt, sự hiện diện của căn cứ Ðồi 31 trên hệ thống đường mòn HCM như một lưỡi dao đâm thẳng vào yết hầu của chúng. Vì thế cộng quân đưa thêm quân vào tạo áp lực nặng nề lên căn cứ nay với ý định đánh bật căn cứ ra khỏi sinh lộ của chúng với trung đoàn 24B và trung đoàn cơ động 27 thuộc Quân đoàn 70 B và một đơn vị chiến xa yểm trợ thuộc trung đoàn 202.

            (còn-tiếp)
            Last edited by Phòng Trực; 10-24-2012, 10:41 PM.

            Comment

            • vinhtruong
              Super Member
              • Jun 2010
              • 1924

              #7
              Mệnh số oan-nghiệt cũa 2 PHÐ/219


              Hai hôm sau, vẫn không có chuyến bay tiếp tế nào vào được vì quân BV luôn di-động che-dấu dàn phòng-không của chúng khiến KQVN và HK không phát huy được ưu thế của mình. Mỗi sáng sương mù lại tan rất trễ, mất thời gian tính cho Không Quân Chiến Thuật can thiệp, chỉ có 2 phi tuần F4 đến ném bom cầu-âu vào khu vực khả nghi chung quanh đồi-31 và thỉnh thoảng mới có một đợt B-52 rải thảm từ phía nam đường-9 ầm-vang như tiếng sấm rền từ xa xa vọng đến rồi mọi sự lại chìm vào cõi âm-u của rừng núi trùng điệp. Từ phòng hành quân Pentagon, do tướng Al.Haig làm Chairman, phối kiểm với con mắt nhân chứng của tôi, tôi cũng có thể quyết-đoán được, B-52 Arc Light chỉ yểm trợ từ ranh giới phía nam đường 9 trở xuống, Trung đoàn của Ðại tá Ðiềm di chuyển không đúng lộ-đồ của phòng lạnh Pentagon, cũng bị B-52 đuổi đít thê thảm, (vì họ đánh giặc như bàn cờ trong phòng lạnh với bản-đồ treo trên tường trước mặt là ly cafê đen phi-phào điếu thuốc) còn từ đường 9 trở về phía bắc thuộc vùng trách nhiệm của Gunship AC-130B, còn như ngay chính trục đường-tiến-sát là đường 9 thì lại của Skypot trách nhiệm, vì thế TÐ-8 Dù tùng thiết với Thiết Giáp, chỉ di-hành trễ mà toan chuẩn bị dừng chân nghỉ đêm cũng bi Skypot đuổi đít bằng CBU-24, khi nổ bung ra hàng trăm quả bom nhỏ nổ đều lóm-đóm như pháo bông. Hành động nầy có 2 mục đích: (1) đuổi đơn vị đặc nhiệm phải mau mau đi cho đúng lộ-đồ vào cái Rọ 604 của trò chơi chiến tranh trong phòng lạnh với lộ đồ bằng thước chỉ trên bảng, hậu quả TÐ/Phó TÐ/8 bị thương ngày 9/2/1971 (2) trắc nghiệm nếu phi hành đoàn trực thăng bị bắn rớt, cứ chạy xuống hầm quân BV đào sẵn mà núp, AC-130B có thể thả bom CBU-24 trên miệng hầm để chờ cứu cấp, như Ðại-đội Hắc báo đã cứu 7 đoàn viên UH1 của mỹ rớt bên Lào.

              Tất cả hoả lực nầy, chúng đều là con dao 2 lưỡi nếu quân lực VNCH mà thượng-phong thì chính chúng sẽ “làm-bộ” thả lầm cho cân bằng lực lượng của cả 2 đối thủ cho trò chơi chiến tranh rất bẩn thỉu. Thí dụ TT Thiệu ra lệnh rút quân không chịu tấn kích vào Hậu cần 604, báo hại Sư-đoàn-2 Sao Vàng nằm chờ phục-kích phải chết oan bằng BLU-82s, BLU-82AL, và B-52 Arc Light, làm xóa sổ sư-đoàn nầy mà phía Hà Nội cũng không dám mở miệng, chỉ tội nghiệp cho người lính nhỏ bé của 2 miền Nam/Bắc từ cấp trung gian trở xuống. Tôi muốn ám chỉ từ cấp Lữ đoàn, Trung đoàn, Liên đoàn trở xuống người lính quèn là con thiêu thân. Tôi cũng đã đọc một tài liệu mật tại Library of Congress, siêu chính phủ Mỹ (Permanent Government) cho rằng phải tiêu diệt tất cả sĩ quan trung gian vì họ là thành phần ưu tú có nguy hại đến bàn giao Saigon cho Ha-Nội phải bị tắm máu, vì theo dư mưu thì chỉ rỉ-máu và Saigòn không thành đống gạch vụn khi bàn giao chuyển tiếp qua 3 vị tổng thống trong 72 tiếng đồng hồ.

              Về phía quân BV quyết tâm bao vây theo lệnh cũa thành viên OSS-1945, Võ Nguyên Giáp, chấp nhận đánh trận xa Tchepone chớ không đánh trận gần như căn-cứ Mỹ tại Khe Sanh. Quân Bắc Việt tập trung bao vây, tăng cường pháo kích suốt ngày nhằm quấy rối và làm tiêu hao lực lượng Dù theo mưu đồ của Pentagon. Những vùng phía bắc đường-9 thì chỉ có Gunship AC-130B yểm trợ, nhưng họ chỉ ưu tiên cho BÐQ vì đơn vị nầy đang bị áp lực cực mạnh. Còn quân Dù chỉ có dựa vào một nhúm Gunships Phi đội 213, nhưng phần nhiều dành cover cho tản thương và tiếp tế, chỉ có yểm trợ tiếp cận (air closed supports) khi quân Dù bị PT-76 hoâc T-54 đe doạ.

              Sáng ngày 25 tháng 2 năm 1971, tất cả 2 đoàn viên H-34 từ Ðồi-31 đã nhận được lệnh và khởi sự di-chuyển ra các hầm cứu thương sát bãi đáp chờ đến trưa khi lớp sương mù buổi sáng vừa tan đi, đích thân phi đội-219 với 3 chiếc H-34 và 3 Gunship cũa phi-đội 213 sẽ yểm trợ một cách ngoạn mục theo kế hoạch rescue của tôi. Rút kinh nghiệm vừa qua tại Landing Zone North và South của BÐQ, tại sao trực thăng Mỹ rớt như chiếc lá mùa Thu? Tại sao phía Mỹ chịu quá nhiều thiệt hại hơn VN? Góp nhặt thực tế lấy ra trong các chiến trận, do các cố vấn Mỹ cũng như Trung tá Robert F Molinelli, Tiểu đoàn trưởng TÐ2/LÐ17/SÐ101 Không Kỵ - Ðại úy Farrell, Phi đội trưởng, Gunship-Cobra C7/17, và Warrant Officer Joel Dozhier đại diện Phi-đội DMZ/Dust-Off cùng debriefing với Topgun trực thăng VN là tôi tại Hàm Nghi, Khe Sanh, để ghi chép vào Học-viên Quân-sư (Military History Institute of Vietnam) tuy rằng gunship KQVN chậm hơn, hoả lực có ít hơn nhưng thực tế rất hiệu quả như:

              - (1) Nhanh chóng áp đảo địch quân không thể ngóc đầu lên để chống cự, tại chiến trường Lam Sơn 719, trong khi AH-1G Cobra phải làm vòng phi đạo tiềm kích mất thời gian tính, nên địch có rộng thời giờ chuẩn bị trận địa.
              - (2) Phát hiện địch trước và tác xạ phủ đầu trước buộc địch phải kiếm nơi trú ẩn theo phản ứng tự nhiên của con người,
              - (3) Nhiều minigun có xạ thủ tác xạ bao vùng (air cover) là một khắc tinh khống-chế dí-đầu đối thủ trên các thiết xa PT-76 phải nằm rạp xuống, chỉ cần một chiếc gunship lấy tí cao độ bắn rockets chống tăng để hủy diệt dễ hơn bắn một con Nai đang chạy; nếu nơi nầy địch quá đông ta sẽ yểm trợ thêm hoả tiễn chống biển người.
              - (4) Chướng ngại vật thiên-nhiên như đồi núi, ngách đá, trên tàng cây (độn rừng) và cao độ rà sát áp đảo, ngụy hóa âm thanh làm cho địch ngơ ngát không biết sát-thủ từ hướng nào bay đến từ trên ngọn cây, nếu ngoan cố sẽ bị minigun tiêu diệt trước khi mở mắt nhìn thấy sát thủ vừa bay thoáng qua.
              - (5) Có nhiều con mắt Cú-vọ như diều hâu của các xạ-thủ đầy kinh nghiệm chiến trận không thể bỏ xót những con mồi đang nằm trong tầm mắt.

              Tại TOC dưới hầm Hàm Nghi, tôi đã bàn thảo với ba đại-tá Cockerham, Battreallda, cùng Tham-mưu-phó Hành-Quân/QÐ-1, xin được 20 phút ngừng tất cả hỏa lực pháo binh tác xạ cũng như không yểm, để chúng tôi làm cuộc đột kích lấy yếu tố bất ngờ cứu tất cả 2 phđ H-34 và thương binh Dù. Sau một hồi lâu bàn thảo suy tính cân nhắc, rồi các đại-tá nầy mới miễn cưỡng chịu chấp thuận. Vòng chờ của các hợp đoàn chúng tôi, lấy vùng trời A-luối, 15 phút làm điểm tập hợp như là một vòng chờ cho cuộc phi-diễn bay vào khán đài Ðồi-31. Cuộc rescue nầy do sự quyết định của tôi chỉ trong vòng có 5 phút chớp nhoáng trong vòng 20 phút cho cuộc hành quân phải hoàn thành. Giờ G và Phút P sẽ cho TOC biết ngay sau khi sương mù tan tại vùng hành quân.

              Tôi sẽ đích thân cho TOC biết sau. Sự cấp cứu chỉ cần 5 phút đột xuất trong chớp nhoáng là phải thi hành cho xong: 3 gunship sẽ bay sát ngọn cây cách nhau 5 giây echelon trái, tầm đạn cuồng sát trên đầu địch 75 thước, trong vị thế cường kích. Ðiểm xuất phát TÐ/8 Dù, từ điểm chạm tuyến của đại đội Trinh-sát Dù, bay thẳng về hướng tây-bắc, thẳng đến sườn trái của Ðồi-31, trong lúc 3 H-34 ở cách sau 45 giây với cao-độ 150 thước song song với mặt rừng, 3 H-34 theo sau bay thẳng một mạch tới Bunker gần LZ để bốc tất cả đoàn-viên cùng thương binh, dưới sự bao vùng cũa 6 bầu lửa minigun cover 4.000 viên phút, rải đều như trận mưa rào nặng hột, lấy Ðồi-31 làm tâm điểm, chia đều khoảng cách trên chu vi oanh kích, tuyết đối không xử dụng rockets chống Tăng mà chỉ dùng khi hữu sự, dồn nỗ lực rescue càng nhanh càng tốt; chỉ trừ khi lính BV phản ứng phóng ra khỏi hầm trú ẩn và chịu chấp nhận nghinh chiến thì đã bị bất khả dụng vì không tránh khỏi bị thương tích với trên 100.000 cái đinh sắt ghim vào người họ vào lúc cao điểm khi H-34 đang đáp xuống.

              Từ điểm xuất phát trên đầu 2 Ðại đội Trinh sát Dù bay thẳng đến Ðồi-31 là 4 cây số, theo sau 50 giây trên cao độ 150 thước cách mặt rừng 3 H-34 bay thẳng đến Bunker để đón tất cả 2 phđ và thương binh, vì đạn M-60 trên H-34 không nhiều nên chỉ tác xạ khuấy rối (neutralization) khi thấy 2 gunship kè hai bên phụt xuống bằng hỏa tiễn chống biển người, có nghĩa khi cơ-phi trên H-34 thấy từng cụm khói đỏ-hồng phụt ra từ 2 gunship kè hai bên, lúc đó cơ-phi hãy tác xạ tự vệ. Chiéc gun số 2, 3 sẽ dùng hoả tiễn chống biển người để chống trả. Coi như rockets chống Tăng cũa Lead Trần Lê Tiến [Trung úy Tiến và tôi là 2 người đầu tiên xác định gunship với USAF, và S/I.P UH1 với 1st Army Aviation] chỉ để dành khi hữu sự mà không dùng càng tốt. Cái quan trọng nhứt là bốc thật nhanh đồng đội và thương binh Dù ra, vì đây không phải muc-tiêu cần phải tiêu diệt. Thực ra rockets chỉ là những hoả lực tự vệ, Minigun mới vô cùng lợi hại như dĩ vãng đã chứng minh.

              Tôi sẽ bay C&C cùng với sĩ quan tham mưu Tiền-phương Dù, xử dụng tối đa M-18 cùng M-60 bắn xuống vào những nơi mà sĩ quan tham muu Dù nghi ngờ để phụ thêm hoả lực lúc cao điểm. Thế là chúng tôi sẽ hướng dẫn 3 chiếc gunships trang bị 14 rockets chống Tăng, 28 rockets chống biển người, dẹp pod-rockets 19 thay vào pod-7 cho nhẹ và trang bị tối đa 12.000 viên 7,62 minigun cho dễ linh-động khi phải nhào lộn tác xạ. Trung úy Trần Lê Tiến sẽ lead 3 gun bay thẳng vào, trên ngọn cây, từ đám rừng già trước mặt, trên đầu 2 đại-đội Trinh-sát Dù. Khi bay qua khỏi vị trí Dù 45 giây thì bắt đầu khai hỏa: 6 xạ-thủ đứng xỗng lưng chồm ra ngoài rảo con mắt diều-hâu giội mưa xuống 4.000 viên phút, nhưng phải rút kinh nghiệm khi tăng khi giảm cường độ để duy trì hệ thống control-box không bị overcharge, bay thẳng một mạch đến bên trái Ðồi-31, lúc nầy Lead gun quẹo gắt qua phải lên cao độ bao vùng, kế tiếp chiếc 2 và 3 cùng lên cao độ, kè hai bên H-34 vừa mới tới mà phụt rockets chống biển người xuống bao vùng chung quanh. Tuyệt đối khai thác chướng ngại vật thiên nhiên, tàng cây, ngách núi, cùng khe-đá, phải chủ động khống-chế đối phương bằng hỏa lực cường tập, gầm thét, áp-đảo bằng minigun là chính, không cho phép địch ngóc đầu lên chống trả; chỉ xử dụng rockets khi địch quân dám xuất đầu lộ diện chiu chơi. Nếu có chiến xa cũng bắn chụp lên phủ đầu không cho chúng ló đầu ra khỏi pháo tháp bắn trả. Lead Tiến thấy cần thì một mình lấy cao độ hủy diệt nó, trong khi 6 miniguns vẫn tiếp tục nhả đạn, nhưng tốt hơn tha cho nó mà dành hỏa lực chỉ để rescue mà thôi. Ðiều quan trọng là cứu phi hành đoàn và thương binh là hoàn thành phi vụ với sự mãn nguyện đối với chúng ta 100%.

              Hợp đoàn của chúng tôi sẽ phối họp bao vùng, không cần hoả yểm của Mỹ vì cũng chẳng ích lợi gì ở vùng núi cao hiểm trở nầy, như Mỹ đã tiền oanh kích một cách vô ích dưới sự chứng kiến cũa chúng tôi, mà còn báo-động cho địch ở vị thế sẵn sàng chiến đấu, hơn nữa lại còn làm cho địch biết trước rồi núp vào các hầm hố kiên cố cùng làm mất thế chủ động và bất ngờ. Rơi vào thế bị động như Mỹ. Ðộng-thái nầy có nghĩa không cho phép địch ở vị thế thượng phong chuẩn bị sẵn sàng phản-kích mà ta phải giành có quyền chọn thế thượng phong. Trong chiến trận ai giành được thế chủ động thì người đó nắm chắc phần thắng.

              Trung úy Tiến sẽ cover để vào vừa tải thương binh Dù đồng thời bốc 2 phi hành đoàn ra trong vòng 5 phút tối-đa. Trên vùng trời Ðồi 31, 3 chiếc gunships khai thác tối đa, lấy Ðồi-31 làm tâm điểm chia đều cover trên châu-vi hình tròn mà mưa xuống không chừa chỗ nào để địch không có thể chòi ra bắn trả, vào lúc cao điểm khi H-34 vừa đáp thì được bao phủ kín-mít bằng cả trăm ngàn mũi tên đinh sắt ghim xuống. Nên chắc chắn một điều, hãy quên rockets mà chỉ chú trọng đến mưa đạn minigun, phải dí đầu mấy tay súng không cho phép địch chường mặt, tôi nghĩ chúng ta có thể làm được. Cuộc Rescue nầy rockets chỉ là hỏa lực tự vệ không cần thiết khi phải ứng xử.

              Nhưng khốn nạn thay, trời không chiều lòng người, tạo nên một buổi sáng sương mù tan quá trễ. Lợi dụng trong khi sương mù bao phủ, các trung đoàn BV bôn tẩu với ý định lấy thịt đè người bằng xa luân chiến càn quét chỉ một tiểu đoàn-3 Dù trừ (300 tay súng mà thôi) trung đoàn chạm trán đầu tiên là 24B cùng với trung đoàn 27 cơ-động ở hướng tây bắc, chính nó vừa làm thiệt hại cho TÐ-6 Dù, ngay sau khi đổ bộ xuống để tiếp cứu Ðồi-31, tiếp theo đó 2 trung đoàn 102nd và 88 đang chuẩn bị tham chiến từ hướng đông-bắc thuộc Quân đoàn 70B, có trung đoàn chiến-xa 202 yểm trợ. Chúng quyết thanh toán Ðồi-31 với bất cứ giá nào. Kế hoạch rescue của tôi hoàn toàn bị đình-động, khi bất thần 42 khẩu trọng pháo của Mỹ ở Khe Sanh đã đồng loạt tác xạ vào chung quanh Ðồi-31 vì áp lực của địch vô cùng dữ-dội, trước sự vô cùng ngạc nhiên của chúng tôi, như vừa thỏa thuận buổi họp sáng nay.

              Bây giờ, nơi Bunker Ðồi-31, 2 PHÐ cùng vài thương binh Dù nấp chung với nhau trong một hầm trú ẩn. Ðến trưa khi 2 PHÐ bắt đầu nghe tiếng máy nổ quen thuộc xa xa thì cũng là lúc địch khởi đầu trận, nói theo danh từ quân BV là "Trận địa pháo” dồn dập lên chung quanh Ðồi 31. Than ôi! Ðúng là mưu sự tại nhân thành sự tại thiên. Quân BV đã lợi dụng sương mù chuẩn bị một lực lượng hết sức hùng-hậu, đông như Kiến mong sẽ chụp 300 thiên thần mũ đỏ chống đỡ. Vi dân-bay đã thấy trước qua lỗ châu mai từ trong hầm cứu thương nhìn qua bên kia đồi đối diện, cách nhau một cái yên ngựa, 2 PHÐ thây rõ hai chiếc thiết xa PT-76 còn T-54 không leo lên được nên từ dưới chân đồi bắn trực xạ lên Ðồi, Cả LÐ-3 Dù, mà chỉ có 300 chiến sĩ chống giữ. Quân BV thuộc Trung đoàn 24B/304 và thêm 2 Trung đoàn 9 và 66 sắp sữa tham chiến, chúng đang bôn tập từ hướng đông bắc tới.

              Bây giờ Trung Ðoàn 24B đang tiến lên xếp hàng ngang, cùng với quân tùng thiết dày đặc theo sau chung quanh nhắm đỉnh đồi-31 mà nhả đạn. Còn trung đoàn cơ-động 27 đang án-ngữ hướng tây chận TÐ-6 Dù ở bên sườn tây. Những tia lửa nòng súng phụt ra từ các PT-76 và T-54 thuộc Trung Ðoàn chiến xa 202. Dưới Bunker, dân bay thụp đầu xuống cùng nhìn nhau như nhắc nhớ câu mà anh em trong phi đoàn thường nói với nhau mỗi khi lên đường hành quân "Trời kêu ai nấy dạ, đạn tránh người chớ người không thể tránh đạn!" Ngồi trên ghế lái C&C như Ðĩa phải vôi, tôi không ngờ quân BV mạnh và nhiều đơn vị cấp trung đoàn đến thế, chúng ạm mưu tấn công như bầy kiến tha hột cơm, làm sao quân Dù phòng thủ cũa ta chỉ có 300 tay súng chống đỡ? Có cả thiết vận xa PT-76 và chiến xa T-54 từ dưới chân núi bắn trực xạ lên.

              Ngoài kia, trong từng giao thông hào binh sĩ Dù chống trả mãnh liệt, nhất là những pháo thủ pháo đội C trên căn cứ 31, với những khẩu pháo đã bị hỏng bộ máy nhắm vì pháo kích 152 ly xuyên phá cũa của địch, họ phải hạ nòng đại bác để bắn trực xạ thẳng vào thiết-xa PT-76 địch bên kia đồi và trong những loạt đạn đầu tiên đã hạ ngay được 2 chiếc PT-76. Nhưng để trả giá cho hành động dũng- cảm này nhiều binh sĩ Dù đã nằm xuống, có người nằm chết vắt trên những khẩu pháo của họ, trong số này có cả pháo đội trưởng Nguyễn văn Ðương, người đã là niềm hứng khởi cho một nhạc phẩm nổi tiếng sau đó. Anh em Dù vui sướng reo mừng trong hầm bên này. Không ngờ, chỉ mỗt lúc sau 2 thiết-xa PT-76 khác ở phía sau tiến tới ủi những chiếc xe cháy xuống triền đồi rồi lại hướng súng đại bác về đồi 31 mà bắn! Còn những chiếc T-54 không leo lên được thì sũa bậy bạ lên phía trên đồi đễ hù dọa các thiên thần mũ đõ. Sau vài loạt đạn, một phi tuần 2 chiếc F4 Phantom xuất hiện nhào xuống oanh tạc vào đội hình Trung Ðoàn 24B, và lại phá hủy thêm 2 PT-76 nữa. Nhưng chẳng may một chiếc F-4 bị trúng phòng không 37ly xì khói, phi công đang nhảy dù, thế là tất cả phi cơ Mỹ đều bỏ lại và dồn nổ lực vào rescue chiếc F-4, người quan sát viên Việt ngồi ghế sau thuộc Phi-đoàn 110 cũa FAC Bronco OV-10 đành thở ra lắc đầu ngao- ngán.

              Trong tiếng bom đạn tơi bời, dân bay mừng rở vẫn nghe văng vẳng tiếng máy nổ của những chiếc H34 thương yêu đang vần vũ trên cao cùng chiếc UH-1 C&C của con chim đầu đàn nguyện không bỏ anh em không bỏ bạn bè, đang vang vọng trên đó như lo lắng cho số phận những đồng đội của mình. Cho đến khoảng 5 giờ chiều thì quân BV tràn lên chiếm được đồi. Chúng lùng xục từng hầm trú ẩn kêu gọi binh sĩ Dù ra đầu hàng. Biết không thể làm gì hơn, 2 PHÐ tháo bỏ súng đạn cá nhân, chui ra khỏi hầm.và chịu cảnh hàng binh
              Về phía KQ, Bửu, Khánh, On và Sơn bị trói bằng dây điện thoại và ngay tức khắc bị dẫn giải ra bắc băng đường 92B chung với tất cả tù binh khác, vì sợ B-52 trải thảm. Không thấy Giang và Em đâu. Anh em KQ tim hỏi nhau, họ bắt đầu thăm hỏi các SQ và binh sĩ Dù trên đường bị áp tãi. Cuối cùng họ gặp được anh Long là người ở chung trong hầm với anh Giang khi cộng quân kêu các anh ra đầu hàng. Ðến lần thứ 3 các anh vẫn không chịu ra nên chúng thảy lựu đạn chày và bắn xối xả vào hầm. Anh Long chỉ bị thương nhẹ nên chúng bắt theo còn anh Giang vì bị thương nặng gãy cả 2 chân không đi được nên bị chúng bỏ lại và chết ở trong hầm. Về phần cơ-phi Em thì bị lạc đạn trúng bụng đổ ruột ra ngoài, khi bị bắt dẫn đi anh Em cứ 2 tay ôm bụng giữ lấy ruột mà không hề được băng bó vết thương nên đi được một khoảng không chịu được đau đớn anh Em gục chết ở bên đường.

              Thế là PÐ-219 ghi thêm vào quân sử của LÐ/51/TC thêm một thiệt hại 2 phi hành đoàn trên chiến trường Hạ Lào. Trong đó anh Giang và Em đã vĩnh viễn ở lại trên trái đồi oan-nghiệt nầy, Ngọn đồi quyết tử 31. Những người còn lại của 2 phi hành đoàn đó là Bửu, Khánh, On và Sơn thì sa vào tay địch, bị đưa đến những bến bờ vô định, biết còn có ngày về hay không?

              (còn-tiếp)
              Last edited by Phòng Trực; 10-25-2012, 09:31 PM.

              Comment

              • vinhtruong
                Super Member
                • Jun 2010
                • 1924

                #8
                2 Chi-đoàn Thiết Giáp Tăng Viện Ðồi-31


                Vào sáng ngày 25 tháng 2, tình hình tại Đồi-31 nơi đặt BCH/LÐ3 Dù của Ðại Tá LĐT Nguyễn Văn Thọ, do TÐ 3/Dù trấn đóng trở nên nguy kịch vì bị Cộng quân có chiến xa tăng cường bao vây và tấn công dữ dội trong mấy ngày qua. T-54, vì leo đồi không được, nên chỉ từ dưới chân đồi bắn trực xạ lên yểm trợ, Trung Tướng Dư Quốc Ðống ra lệnh cho một đơn-vị Thiết giáp và Tiểu- đoàn-8 Dù lúc đó đang hoạt động tại vùng Bắc A Lưới phải lập tức kéo tới tăng viện Đồi-31. Lực lượng tiếp cứu này gồm hai Chi Ðoàn thuộc các Thiết-Ðoàn 11 và 17 cùng với hai Ðại-đội Trinh sát thuộc TÐ-8 Dù. Ngay khi nhận được lệnh, cánh quân tiếp cứu này lập tức rời vùng A Lưới trực chỉ hướng bắc, Đồi-31 chỉ cách khoảng hơn 4 cây số đường rừng về hướng Bắc. Ðịa hình xa lạ, thêm rừng núi hiểm trở với cây cối chằng chịt đã gây trở ngại không nhỏ cho toán quân này. Nhưng ngược lại, rất thượng phong cho Trực thăng võ trang PĐ-213, nhưng rất tiếc chúng tôi không đủ TTVT mà tiêu diệt chúng, vì phải dành ưu tiên vover cho Dù và tiếp tế tải thương, nhưng ngày hôm qua trên đường tiến quân của 2 đại đội trinh sát, chúng tôi đã bắn đứt xích chiếc xe T-54 đi đầu và làm trầy trụa vài chiếc PT-76 khác vì không đủ rockets chống Tăng, sau cùng chúng tôi hướng dẫn Trinh sát Dù đi tách qua một bên, tránh đường mòn 92B, có nghĩa tránh xa đoàn xe T-54 núp dưới lùm Tre gai phục kích. Ngoài ra, vấn đề phối hợp giữa các đơn vị Thiết Giáp và Dù dường như không được suông sẻ như ý muốn dưới con mắt nghiên cứu của tôi... Trên đường di chuyển, một số chiến xa và thiết vận xa của ta bị hư hại vì trúng mìn và lọt vào các ổ phục kích của địch quân ẩn nấp trong rừng rậm; Trước viễn ảnh của những cuộc phục kích liên miên trên một địa thế hoàn toàn bất lợi cho sự di chuyển của chiến xa, toán Thiết Giáp yêu cầu quân Dù tùng thiết mở đường trước để đoàn chiến xa di chuyển theo sau. Ðây cũng là lỗi của tôi một phần vì trách nhiệm ích kỷ của tôi là chỉ yểm trợ cho Dù theo đúng đặc lệnh hành quân, cũng như tôi đã hứa với Tướng Ðống tại Căn cứ Fuller, ngày 5/2/1971, trong lúc thao dượt với quân Dù về yểm trợ hoả lực tiếp-cận. Nhưng quân Dù lúc đó chỉ có hai Ðại đội trinh sát, lại cũng đang bị phục kích gây trở ngại tương đương nên không trợ giúp được nhiều, còn chúng tôi thì luôn luôn ở trên đầu Dù để được che chở tương quan, như Không Quân và Nhảy Dù xung kích. Vì vậy, lực lượng tiếp viện bị trì hoãn, đã không đến kịp thời để giải vây cho Đồi-31. Theo sự nhận xét của riêng tôi dù lực lượng nầy có đến kịp cũng không đủ mạnh, vì Căn Cứ quan trọng này bị địch quân tràn ngập biển người với thiết vận xa PT-76 yểm trợ vô cùng hữu hiệu, trang bị với đại liên tối tân LX 14,5 ly. Vào hồi 6 giờ chiều cùng ngày, lúc đó, cánh quân Thiết Giáp và Dù tăng viện chỉ còn cách Đồi-31 chừng 3 cây số! nhưng đã trễ và vô ích vì quân BV quá đông lại có chiến xa T-54 yểm trợ chận ngay dưới chân đồi quyết tử.

                Việc Đồi-31 bị mất đã gây ra khá nhiều bất đồng ý kiến giữa lực lượng Thiết Giáp và Dù, quân Dù thì cho rằng Chi đoàn thiết giáp vì ngại phải chạm trán với chiến xa T-54 của Cộng quân có hỏa lực mạnh hơn nên lừng khừng, chần chờ. Đúng vậy một số T-54 chỉ chờ phục kích dưới chân đồi và chấp nhận đụng độ ác liệt sống còn với quân bạn, còn TTVT chúng tôi bị nhiều trở ngại vì 42 khẩu pháo Mỹ dập xuống liên tục, xen kẽ Không quân chiến thuật nhào vào oanh tạc, FAC-OV-10 đuổi chúng tôi rời khỏi vùng, rồi B-52, nhờ có sự can thiệp của Ðại tá James Vaught của Pentagon. Phía Thiết Giáp lại bảo vì nhận được những lệnh mâu thuẫn từ Tướng Ðống và Tướng Lãm nên không biết đường nào mà thi hành, riêng phía cố vấn Mỹ Ðại Tá Battreall lại nhận định trong lúc trận đánh tại Đồi-31 diễn ra quyết liệt, BTL/SÐ/Dù và BTLHQ của Tướng Lãm không có quyết định thích-ứng kịp thời để phối hợp nên đã quên hẳn yếu tố Bộ binh tùng thiết, không ban hành những mệnh lệnh kịp thời cần thiết. Sau này, Tướng Lãm cho biết một vài chi tiết về vấn đề này như sau: "Khi lực lượng Thiết Giáp tiến đến gần đồi 31 thì trời đã sắp tối, lúc đó, Tướng Ðống bên SÐ/Dù báo cáo đồi 31 đã mất. Máy bay quan sát Mỹ OV-10 cũng xác nhận Cộng quân đã tràn ngập đồi 31, và sau cùng là chiếc Huey C&C của tôi chở sĩ quan Tiền Phương Dù xác nhận cuối cùng Đồi-31 đã rơi vào tay quân BV. Do đó, Ðại Tá Luật cho lệnh dừng quân cách đồi 31 chừng hơn một cây số. “Tôi cho đây là hành động hợp lý trong vị thế cần phòng thủ về đêm”, và nếu tiến thêm trong đêm tối là tự sát, quân BV đông như kiến với nhiều trung đoàn 66, 9, 102nd, 24B cày răng lược.

                Nhưng dù với lý do gì đi nữa, chắc hẳn đã có những "bất đồng ý kiến", cộng thêm hệ thống chỉ huy không được thuần nhất khiến việc điều động kém hiệu quả. Nếu toán Thiết Giáp cứu viện đến được đồi 31 kịp thời, chưa hẳn đã thay đổi được tình thế, theo sự nhận xét của tôi chỉ có đẫm máu mà thôi rồi Ðồi-31 cũng rơi vào tay trung-đoàn 24B. Nơi đây quân BV có trung đoàn 24B và 2 trung đoàn 9 và 66 đang trên đường sẵn sàng tham chiến và trung đoàn 102nd với vũ khí tối tân nhứt của Quân đoàn 70B, tùng thiết sau trung đoàn chiến xa 202 thì e rằng quân ta sẽ bi tổn thất nhiều hơn lên bội phần cho cả đôi bên nếu buộc phải giao chiến. Ðương nhiên, phía BV cũng sẳn sàng tham chiến, Nhưng chắc hắn với hỏa lực được tăng cường, quân trú phòng lại lên tinh thần, ít ra địch quân cũng không dễ dàng mặc tình thao túng, hậu quả số người chết sẽ nhiều hơn lên, và rồi Đồi-31 cũng bị tràn ngập quân BV với nhiều trung đoàn vây quanh mà trách nhiệm chỉ định là trung đoàn 24B phải chiếm lĩnh bằng mọi giá.

                Ðịa hình hiểm trở nơi Hạ Lào với đồi núi chập chùng và rừng cây rậm rạp đúng ra không thích hợp với chiến thuật càn lướt căn bản trong việc xử dụng chiến xa. Tại các trường Kỵ Binh nổi tiếng trên thế giới như Saumur (Pháp), Saint Cyr (Pháp), Sandhurst (Anh), Fort Knox (Hoa Kỳ) v.v… Các chiến lược gia thường giảng dạy phương pháp xử dụng chiến xa trên sa-mạc, vùng đất rộng lớn hay trên địa hình bằng phẳng. Những trận xa chiến lớn và nổi tiếng trong quân sử thế giới cũng thường diễn ra trong sa mạc hay vùng bình nguyên, chẳng hạn như những trận đánh của con "cáo Sa mạc" Rommel thuộc đoàn Panzer của Ðức tại Phi Châu, hoặc tướng Patton Hoa Kỳ xử dụng chiến xa thần tốc trong trận "Battle of the Bulge" tại vùng đồng bằng sông Rhin trong lãnh thổ Ðức vào cuối Ðệ Nhị Thế Chiến. Gần đây hơn, những trận xa chiến lớn giữa Do Thái và khối Ả Rập cũng xảy ra tại vùng sa mạc Sinai trong trận chiến 1967 và trận đánh 7 ngày. Trong chiến dịch Desert Storm năm 1991, và trận chiến tại Iraq mới đây, quân đội Hoa Kỳ cũng dùng chiến xa tại sa mạc để càn lướt tốc chiến tiêu diệt lực lượng Iraq, tiến chiến thủ đô Bagdagh trong một thời gian kỷ lục. Những trận đụng độ chiến xa nổi tiếng này đều là địa hình bằng phẳng, tiếp vận dư thừa và hỏa lực yểm trợ đầy đủ. Những điều trên đây chứng minh tại sao phi đoàn 213 mất đi một dịp may vì chỉ có một nhúm ít TTVT nhưng chúng tôi đã hạ chúng một số đáng kể mà ít có ai biết đến, chỉ riêng đại đội trinh sát Dù và Chi đoàn 17 là nhân chứng. Ðịa hình đồi núi nầy tôi đoán chắc các T-54 chỉ di chuyển trên những đường mòn bắng phẳng như đường 9, 913, 914, 922, 92B thế thôi, ước gì có được một phi đoàn TTVT, thì tôi sẽ cắt một hợp đoàn Top Gun 3 chiếc chỉ đi săn lùng T-54 mà hủy diệt chúng, bay sát trên cây dọc theo các con dường nầy, khi phát hiện lập tức lấy ít cao độ và quây vòng tròn trên ấy mà phụt xuống bằng 6 khẩu minigun, kế đến tuần tự từng chiếc một lấy cao độ mà nện rockets chống Tăng hủy diệt chúng rất dễ dàng.

                Là nhiệm vụ yểm trợ cho Dù nhứt là 2 Ðại đội Trinh sát Dù TÐ/8, tôi là người có mặt tại chỗ khi CCHL 31 thất thủ, Cộng quân bắt cầm tù có thể 2 đoàn viên và đại úy Nghĩa SQÐKTT, vào buổi tối ngày 25 tháng 2 năm 1971, Tôi nghi có lẽ là nhân chứng đáng tin cậy nhất. Trong hối ký "Từ Hạ Lào Tới Thượng Du Bắc Việt" đăng trong Tập San KBC số 7 phát hành vào năm 1988, trang 35, Ðại Úy Châu viết: "Với lòng dũng cảm và kiên cường của những người lính Nhảy Dù quyết tâm tử thủ Căn Cứ 31, đã gây cho địch quân một tổn thất nặng nề gồm 7 tăng lội nước PT-76 và T-54 khổng lồ bị bắn cháy ..." Vì tôn trọng tác giả, chớ thật ra T-54 không có leo lên tới đỉnh đồi để mà bị Dù hủy diệt, chúng chỉ ở dưới chân đồi sủa lên mà thôi.

                Sáng ngày 26 tháng 2, sau khi Đồi-31 rơi vào tay quân BV, Tướng Ðống ra lệnh cho toán tăng viện hợp cùng thành phần còn lại của TÐ/3 Dù phản công chiếm lại vị trí này. Ðôi bên đụng độ ác liệt với hàng trăm Cộng quân bị bắn hạ. Tuy nhiên có 5 chiến xa M-41 bị hư hại vì đạn B-40 và B-41 của Cộng quân từ những hầm cộng đồng dưới gốc các bụi Tre-gai bắn xuống, riêng các chiến xa của LÐ1/TK lần đầu tiên cũng đã có dịp chạm trán với các chiến xa của Cộng quân. Sau trận xa chiến, Thiết Ðoàn 17 báo cáo bắn hạ 22 chiến xa địch, gồm 6 chiến xa T-54 và 16 PT-76 trong khi không bị mất một chiến xa M-41 nào. Họ không bao giờ chịu báo cáo TTVT PÐ/213 đã can thiệp nghinh-chiến với chiến xa địch trước khi M-41 thấy chúng hiện ra. Ðặc biệt trong trận này, Trung Sĩ trưởng xa Nguyễn Xuân Mai thuộc Chi Ðoàn 1, Thiết Ðoàn 17 đã trực tiếp bắn hạ một chiến xa T-54 của địch quân. Chiến công này được xác nhận bằng hình ảnh chụp được, Ðại Tá Battreall và Ðại Tá Hiệp rất vui mừng về thành quả rực rỡ của toán Thiết Giáp trong trận xa chiến đầu tiên. Nhưng một lần nữa, báo cáo của LÐ1/TK tại Hạ Lào lại bị nghi ngờ là phải, BTL Hàm Nghi, và tướng Sutherland, người đã không có thiện cảm với Ðại Tá Luật ngay từ vụ "Vandergrift". Lúc ban đầu cho rằng đây chỉ là điều bịa đặt. Ông lý luận rằng trong một trận xa chiến ác liệt đến độ 22 chiến xa địch bị bắn hạ, chắc chắn bên ta cũng phải có vài thiệt hại, Tôi có miệng mà nói chẳng ra lời, làm sao ai chứng kiến được TTVT PÐ/213 đã can thiệp quá kiêu hùng, nhưng rồi tôi cũng chẳng cần minh chứng. Ngay đến Kiều Mỹ Duyên phỏng vấn tôi cũng chẳng buồn trả lời một câu nào cả [Cô ta đã mắng-nhiết tôi trên báo chí là “miệng câm như Hến dù chỉ nói lên những phi vụ hào hùng rất xứng đáng được ghi vào Quân-sử của KQVN].

                Một số quân Dù cho rằng sồ chiến xa PT-76 và T-54 bị tiêu hủy trên Ðồi 31, một phần do TÐ3/Dù và Pháo Ðội/C3 Dù do Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương chỉ huy bắn hạ, phần khác do phi cơ B-52 tiêu diệt trong ngày hôm trước. Theo chỗ tôi nhận xét ước đoán, có thể Thiết Giáp đã không bắn hạ hết tất cả 22 chiến xa BV kể trên, nhưng ít nhất họ cũng đã can đảm đối đầu chiến xa địch có hỏa lực mạnh hơn và đã bắn hạ được một vài chiếc tại khu vực dưới chân Đồi-31. Còn trên Ðồi-31, TÐ-3 Dù có bắn tiêu diệt được vài PT-76 đang càng bướng tấn kích trên đường leo tiến vào đồi, nhưng không có chiếc T-54 nào bị hạ ở trên đồi vì nó không leo cao được.

                Sau trận đụng độ với chiến xa địch tại đồi 31, toán Thiết Giáp tăng viện, cộng thêm thành thần còn lại của TÐ3 Dù hiện gặp nguy cơ bị địch quân chặn mất đường về A Lưới; Họ bị bao vây, cô lập trong một vùng đồi núi cây cối rậm rạp, TTVT 213 phải bắn rockets 17 pds vào hang núi mới triệt được một sơn-pháo 85 ly bắn càng quyét không cho đơn vị Dù tản lạc của TÐ-3 băng qua con suối về nhập vào Ðồi-30, trong lúc bộ binh địch vì quen thuộc hơn với địa hình nên có thể len lỏi tới gần để bắn tỉa từng chiến xa cũa ta. Vào trưa ngày 27 tháng 2, Cộng quân dùng bộ binh và chiến xa tấn công toan tràn ngập lực lượng này Tuy nhiên, các chiến xa và quân Dù phản ứng mãnh liệt với sự yểm trợ hữu hiệu của TTVT PÐ/213, phản lực cơ chiến thuật, theo sự suy đoán của tôi lúc đó có Sĩ Quan Điều Không Tuyền Tuyến, có lẽ Đại úy Nghĩa đang chạy thất lạc cùng Đại đội TĐ3 Dù có công hướng dẫn cùng Backseat Tôn Thất Tân PĐ-110; Sau cùng, quân BV phải rút lui vì bị thiệt hại quá nặng, bỏ lại chiến địa nhiều chiến xa và vũ khí.

                Trong những ngày kế tiếp, sau khi bị thiệt hại nặng, tuy không còn đủ sức tấn công nhưng quân BV vẫn bám sát, bao vây và quấy rối, cho tới ngày 1 tháng 3, sau khi được tăng viện bổ sung quân số tại chiến trường và chỉnh đốn lực lượng sau những lần thất bại trước, họ lại mở một cuộc tấn công quyết liệt mong thanh toán đoàn chiến xa tăng viện này. Nhưng cũng như lần trước, các chiến sĩ Mũ Ðen và quân Dù chiến đấu anh dũng dưới sự yểm trợ đắc lực của TTVT PÐ/213 vô cùng hữu hiệu khiến địch quân lại thảm bại Lúc nầy B-52 mới thiệt tình đổi chiến thuật, vi phạm ROE từ Rolling Thunder qua Linebacker, yểm trợ tiếp cận, giúp quân bạn sau khi có sự can thiệp của Đại-tá James Vaught bất thần xuất hiện do sự điều động đặc biệt từ Tướng Al.Haig, Pentagon, thật vô cùng ngạc nhiên. Việc nầy nhờ Tổng Thống Thiệu cương quyết ra lệnh Tướng Lãm cho một đơn vị nhỏ của Sư Đoàn 1 nhảy xuống Tchepone “đái một bãi rồi rút về” Tuy nhiên, trước tình hình nguy hiểm một mất một còn, Ðại Tá Harrison, người vừa thay thế Ðại Tá Pence làm quyền Cố Vấn Trưởng SÐ/Dù khuyến cáo Tướng Dư Quốc Ðống hãy mau chóng quyết định dứt khoát; (Nhưng trên thực tế là đại tá James Vaught mới chính là người có thực quyền, như cặp mắt của tướng Haig tại Khe Sanh, Vaught chính là người biến cuộc rút-lui không giống như đường 7 khi quân đoàn 2 rút về đồng bằng Nha- Trang bằng cách ra lệnh thẳng cho SÐ101 yểm trợ cho trực thăng móc xe ủi đất làm cầu dã-chiến, cũng như tiếp tế xăng cho Thiết Giáp rút về) hoặc tăng viện thêm cho toán Thiết Giáp, hay ban lệnh cho họ rút về A Lưới. Nhưng SÐ/Dù vẫn chưa có quyết định rõ rệt vì choáng váng Đồi-31 vừa thất thủ và cuộc hành quân nầy do Pentagon soạn thảo, điều động và quyết định ngày 18/1/1971 bới Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ. Quân Việt Mỹ như con cờ thí cho mưu đồ của họ được gọi là để tiết kiệm xương máu của đôi bên như hai trái Bom Nguyên Tử thả trên đất Nhựt để rút ngắn cuộc chiến! Bàn giao Saigon cho Hà Nội không có “tắm-máu” mà chỉ “rỉ-máu” và Saigon không thành đống gạch vụn!


                (còn-tiếp)
                Last edited by Phòng Trực; 10-25-2012, 10:14 PM.

                Comment

                • vinhtruong
                  Super Member
                  • Jun 2010
                  • 1924

                  #9
                  Cơn hấp hối cũa ngọn Ðồi-31

                  (Tôi viết ra đây như dựng lên "Ðài Tưởng Niệm Tinh-Thần” khiến các bạn đồng đội đã anh dũng hy sinh tại vùng rừng núi thâm-u Hạ-Lào sẽ không bị lãng quên và một trang sử hào hùng của QLVNCH tồn tại mãi với thời gian).

                  Ðêm 26, February 1971… qua chưa mà trời sao lại sáng – Trong đôi mắt nhắm nghiền vì quá mệt mỏi suy-tư cho số phận của 2 đoàn viên H-34 đang bị kẹt trong Ðồi-31 không biết sống chết như thế nào, Tôi bỗng giựt mình choàng mở to đôi mắt vì một tràng đại bác bắn quấy rối (neutralization) gì đó cho quân bạn của Mỹ, tiếng đạn đại bác175ly Long Tom không cho Tướng Giáp biết mọi chi tiết của cuộc hành quân, vì Tướng Giáp là một thành viên OSS kết nạp 1945 tại mật khu Pat-Pó, [hình giải mật của Allan Squiers, trong khi Cụ Hồ mặc quần xà-lỏn dơ 2 cái ống quyển xương xỏ teo ngắt, lúc nầy Võ nguyên Giáp đang ở trong rừng là Trung đội trưởng Võ trang tuyên truyền, nhưng cũng phải mặc áo trắng thắt cà vạt đoàn hoàn để mừng lễ được gia nhập OSS 1945 qua sự kết nạp của Ðiệp-viên số 19 Lucius và Hạ-sĩ quan tình báo quân đội OSS là huấn luyện viên].

                  Trung đoàn trưởng 24B/Sư-đoàn 304BV đã áp lực Ðại tá Thọ thông báo về Khe Sanh là Ðồi-31 đã rơi vào tay quân đội BV, lúc 16 giờ 15 phút, ngày 25 February theo như đồng hồ của tôi: Mấy ngày qua, 2 chiếc H.34 của Phi-đoàn 219, đã bị hạ trên Đồi 31, họ là những Phi hành đoàn tài ba và gan dạ nhất của Không-quân VN, khi phải nói đến Phi-hành-đoàn Queen-Bee thì người Mỹ phải nghiêng mình khâm phục, Trung-úy Cow-boy, Trần Hữu Khôi, rước Toán Delta bị 88 lỗ đạn, nhưng vẫn đem cả Toán SOG về được, phải tranh giành Toán từ trong tay địch, Th-úy Hùng “râu-kẽm”cũng 66 lỗ, nhưng cũng tha mồi về được. Những Toán viên Biệt-kích Mỹ SOG được cứu sống không bao giờ quên được Phi-hành-đoàn Queen-Bee đã cứu họ; Lời Thiếu-Tá Ban-3/SOG, Scotty Crerar: “Neither impossible ground fire nor unflyable-weather stopped Cowboy and Mutachio; dozen of SOG men survived purely because “can’t” was not in these Queenbee-pilots .vocabularies they were absolutely fearless!

                  Trưa ngày 23 February, chúng tôi bay đến tọa độ hành quân cách Đồi-31 chừng vài cây số ở hướng Đông Nam và cũng đang nóng lòng hướng dẫn cho hai đại đội Trinh-sát thuộc Tiểu-đoàn-8 Dù di chuyển tiếp cứu Đồi-31, được bắt tay với một Lực-lượng của Tiểu đoàn-3 Dù đang trấn đóng trên đỉnh Ðồi-31. Từ phía Nam, dưới bụi Tre-gai, hai T-54 nằm im-lìm hai bên đường mòn 92B để chờ phục kích, trong khi hai đại đội Dù đang dung rủi cặp theo giòng suối giữa đường thông thủy, tôi và Trung úy Lưu lead phải bay trên đầu Dù bằng những vòng lượn tròn quẹo gắt, thỉnh thoảng phải bắn rockets chụp vào những bụi Tre khả nghi trước mặt để cho Dù tiến lên. Trên cao, xa về hai đầu cánh quạt hai bên tôi đã khám phá ra những bụi cát đỏ tung toé từ những hầm miệng ếch trên sườn đồi giã xuống, nhưng chúng tôi cương quyết vẫn giữ ở trên đầu Dù, và chịu chấp nhận cùng chung với Dù những cột khói dựng đứng của đạn pháo BV bắn xuống để yểm trợ cho trung đoàn 24B thuộc Sư đoàn 304 và bên kia là một trung đoàn 27 cơ động. Chúng âm mưu lấy thịt đè người, còn như chiến xa T-54 có thiết xa leo đồi PT-76 yểm trợ thì chàng ràng lên xuống bọc hai bên sườn đồi trọc. Chúng không thể nào bịt mắt chúng tôi bằng để lại phía sau hai hàng song song in theo trên lớp cỏ Voi cao hơn tầm người, với đất đỏ còn tươi rói. Nếu như tôi không có lệnh dành hoả lực yểm trợ cho Dù thì cũng phải cùng chúng tranh tài cao thấp xem những xạ thủ trên PT-76 có súng đại-liên tối-tân 14,5 ly có dám chường mặt chạm trán với Minigun 7,62 ly hay không? Nhứt là trên thế đất hạ-phong dành cho họ ở vùng rừng núi nầy, chúng không khác gì Cá nằm trên thớt. Các T-54 có thiết xa PT-76 yểm trợ thì chạy lăng quăng thấy mà ngứa mắt, vì chúng ỷ bương càn lên xuống đồi trọc trên thế đất quen thuộc một cách ngon lành hơn chiến xa. Chúng đang núp phục kích trên đường 92, vây bọc hai bên vệ đường nơi khúc cong đáng sợ, nằm im-lìm trong lùm tre gai che khuất chờ phục kích hai Chi-đoàn 11 và 17 đang tiến lên dọc đường mòn đến Ðồi-31.

                  Thình lình FAC/OV-10 Bronco có tiếng người Việt hối giục chúng tôi phải rời vùng tức khắc để cho 42 khẩu đại pháo của Mỹ bắn yểm trợ cho Tiểu đoàn 8 Dù, Chúng tôi về lại trên đầu Tiểu đoàn-1 Dù trên vùng A-Luối, nhìn lại phía sau từng tràng các đám khói dựng đứng lên như nấm rơm đang trổ nụ. Tôi lại nghe tiếng người Việt cho biết chúng tôi không được rời A-Luối vì 5 phút nữa B-52 Arc-Light sẽ trải thảm để tiêu diệt 2 trung đoàn BV đang toan tấn công hai đại đội Trinh Sát TÐ/8 Dù. Thinh linh, có Arc-Light B-52 can-thiệp? “Ðiều nầy làm tôi ngạc nhiên vô cùng” Ðây là lần đầu thấy B-52 oanh tạc trải thảm vùng bắc đường 9, theo sự theo-dõi chứng kiến của tôi hàng ngày, nhưng tôi cũng không lấy gì làm ngac nhiên, nhờ TT Thiệu ương ngạnh có lý-do, nên Ðại tá James Vaught mới từ Pentagon qua cho ra nhiều lệnh thay đổi táo-bạo thấy rõ.

                  Nửa giờ sau, tôi trở lại yểm trợ cho 2 Ðại đội Trinh Sát Dù, thì mới phát hiện dưới đám khói mờ mịt bị B-52 trải thảm, quá chính xác hai bên sườn núi cách quân Dù vào khoảng 300 thước, mà hồi nãy chúng tôi vừa bay qua. Lính BV chết lền khên chụm lại từng đống tốp người, thân thể bầm nát, thật đáng tội nghiệp cho số kiếp sanh Bắc tử Nam; Coi như trung đoàn 48 thuộc SÐ/320 có cái hỗn danh sư đoàn thép bị xoá sổ (Các sư đoàn BV bổ xung tân binh liên tục vì tại nơi đây có Trung tâm huấn luyện bổ xung quân số của Quân đoàn 70B, toạ lạc ngay tại ngã ba đường 92 và 9 gọi là Aluoi theo bản đồ hành quân).

                  Sương lam chiều không đủ sức che đậy không gian, đó đây khói Bom đạn vẫn còn luyến tiếc núi rừng, đâu đâu cũng toàn là màu khói ám chướng mờ ảo, phi công khó mà tìm được toạ độ của quân bạn. Tôi không dại gì bay trong những cụm bông gòn của phòng không 37 và 57 ly nổ lưng chừng trời, đang rượt theo những phi cơ chiến thuật, mà cũng không phải thế ‘độn-thổ’ mà nên gọi là ‘độn-rừng’ hay lối bay “Cạ-Càng” lướt trên chóp lá! Không phải vậy mà là “ngụy âm thanh” làm cho địch thủ không biết chúng tôi từ đâu đến bằng xa xa âm thanh lớn dần cuốn vào cánh quạt điên cuồng chém gió, rồi trận mưa đạn gầm thét khiếp đảm đương nhiên tự động phản xạ, địch phải kiếm chỗ núp khi chúng tôi bay áp đảo trên đầu chúng, dựa vào ưu điểm cường tập của các hung thần xạ-thủ có tầm trực xạ áp-đảo trải rộng từ trước ra sau với tầm đạn đạo cuồng sát từ trên ngọn cây, khác hẳn phi cơ tiềm-kích kể cả trực thăng Cobra.

                  Dù rằng, nơi đây mùi cháy khét của cây rừng không át nổi mùi sình thối của xác chết, “đây quả thật là một bầu trời đầy kinh hoàng”. Nhìn về hướng Đồi-31, nơi mà trước đó vài ngày, 2 chiếc H.34 đang uốn mình sà xuống như con Đại-bàng đớp mồi: Chiếc đầu tiên của Th-úy Giang tuông xuống như chiếc lá trong cơn gió lốc và chiếc của Th-úy Bửu xuất hiện bất thần, sau khi rà xát rạt trên các ngọn cây giữa trận địa pháo của BV đã điều chỉnh khá chính xác, đáng sợ nhứt là khắc-tinh súng cối 120ly văng rất nhiều mảnh làm trực thăng chỉ có xuống đáp mà không lên được; CSBV chỉ giã vào ngay khi nghe tiếng máy nổ của trực thăng vào Căn-cừ Hỏa-lực. Dù rằng phi công Queenbee có tài ba trong mọi chiêu thức để đáp nhưng khi chui vào lưới tạc đạn dầy-đặc như thế nầy thì chỉ như là những con thiêu thân mà thôi.

                  Thử hỏi đoàn viên lâm nạn Kingstar-4 của TPC Thiếu-úy Phúc lead có dám nhảy phóc lên chiếc số 2 của Trung úy Ðạt đang đáp chờ đoàn viên bị nạn. Bụi mảnh đạn như thế nào chắc đoàn viên 4 người nầy đều am hiểu và chỉ trong nháy mắt anh xạ thủ chiếc số 2 trúng mảnh đạn ngay. Dĩ nhiên ngườì không dự trận thì thật khó mà tin!? Là chứng nhân trong cơn bão lửa, đích thân Th-úy Bửu, chiếc Lead ra lệnh chiếc thứ 2 của Th-úy Yên… “đừng xuống!”: Queenbee dù thần thánh đến đâu nhưng khi phi cơ gần đến mặt đất sẽ bị các mảnh tạc đạn chạm-nổ vung-rải vào cơ phận cánh quạt đuôi làm cho phi cơ mất phương hướng điều khiển và sẽ bị vùi dập xuống mặt đất khi chưa toan đáp xuống bãi đáp (undershoot) Trường hợp Th/úy Giang, phi cơ gãy đuôi vì trúng mảnh đạn phát hỏa nơi phần xăng ít ỏi còn lại của 2 bình xăng giữa và sau đã hết trống từ lâu và chiếc của Th-úy Bửu thì bị các mảnh đạn chạm nổ xoáy rải vào làm tê liệt bộ phận điều khiển của cánh quạt đuôi buộc rơi xuống tại chỗ, trong vị thế counter-clockwise, với cường độ trận địa pháo cùng cả ngàn tạc-đạn như mưa rải xuống các căn cứ hỏa lực nầy thì chẳng bao lâu các chiếc trực thăng nầy đều lại trúng đạn thêm một lần nữa và phát hỏa hủy diệt, để lại bằng các cột khói đen xì lên cao ngất trời xanh như chiếc của Tr/úy Ðạt và Thiếu Phúc ở Căn Cứ Hồng Hà-2 và ở Ðồi-31 của Th-úy Giang, và Ðồi-30 là của Thiếu úy Lộc. Bạn có thể tưởng tượng con kiến nơi đây cũng phải chết, còn Mìn Claymore cho L/Ð/1 Dù, trực thăng vừa thả lưới xuống là trúng đạn nổ tan tành như xác pháo ngay. Ðiều nầy các chiến sĩ văn phòng chắc khó tin!? Ðây là điạ ngục trần gian đang bao trùm bởi khói lửa ầm vang trong tiếng đạn nổ kinh hoàng như không bao giờ chịu dứt.

                  Lúc nầy, cả Căn-cứ 31 đang quằn mình chịu những loạt trận địa pháo; dù rằng Tiểu đoàn-6 Dù đã được trực thăng vận xuống Tây Bắc của Ðồi-31, nhưng lại bị đụng trận dữ-dội, rồi bị một trận địa pháo khiếp đảm, coi như TÐ/6 bị bể, 28 chết, 49 bi thương, và 23 mất tích. Trung-úy Tiến, rồi Th-úy Châu luân phiên yểm trợ quyết liệt đã chận đứng nhiều đợt xung phong của trung đoàn-9 âm mưu tràn ngập TÐ/6 Dù, Top gun vẫn luôn giữ cao độ trên đầu quân Dù và chỉ chấp nhận AK-47 qua những đợt xung phong biển người của trung đoàn-9/308. Quả thật Th-úy Châu đã bị các AK-47 chụm lại bắn thẳng xuyên qua Burble vào Chicken-plate, mảnh dội văng vào cổ, bắp tay máu ra lênh láng, chúng tôi bỏ Ðại đội trinh sát Dù qua yểm trợ TÐ-6. Tôi ra lệnh chiếc Wing hướng dẫn Medivac Th-úy Châu về Khe Sanh liền.

                  Trời ơi cuộc chiến mới chỉ có 2 tuần mà sự thiệt hại quá sức tưởng tượng của tôi,
                  Hai đoàn viên UH1-H bị bắn tan xác trên không tại LZ Ranger South, giờ đây dưới Ðồi-31 cũng 2 đoàn viên đang kẹt ở dưới không biết sống chết như thế nào… rồi Th-úy Châu một Top Gun lỗi lạc mà chúng tôi cho là niềm kiêu-hãnh của Phi Ðoàn 213 đã bị trọng thương, Tôi như con chó điên, quyết dặn lòng thề phải chết trước khi con em mình gục ngã thêm để bảo vệ an toàn cho toà Lâu-đài LÐ51TC. Nuốt câm hờn trong lời nguyền nầy, Tôi bắt đầu điên tiết tự đưa tôi vào những chuyến bay xạ-kích liều lĩnh, thiếu sáng suốt, quá đáng, như con Gà te-tua đần-độn trong đá-độ… quần thảo với địch lướt trên ngọn cây, phải nhìn cho thật rõ đich là ai? Đơn vị nào? Sợ ma thì ma bắt! Phải thấy mặt những con ma xanh dờn chạy trốn! Tôi phải biến mình thành một đại-đế La-Mã bay đến đâu là thần-dân phải úp mặt vào khe núi! Với lối bay đào xới trên tàng lá bụi cây, đôi khi có thể nói vượt ra khỏi kỷ cương của cấp lãnh đạo.

                  Trong trí tôi sự chết-chóc như vậy là quá nhiều, tôi phải moi óc tìm ra “chân-lý” về chiến-thuật cách nào để bảo vệ con em minh, dù sao tôi cũng bị tự ái về tổn thất dồn-dập, là một phi công gián điệp biệt kích có nhiều loại huy chương nhứt mà các vị tướng lãnh của mình không có (Biệt-công bội-tinh) Xin ơn trên phù hộ … cho đến khi cuộc hành quân chấm dứt không còn ai phải hy sinh nữa …! chờ xem sự mầu nhiệm sẽ đến trong chân-lý chiến-thuật “độn-rừng” có nghĩa là chiêu-thức qua đường bay “Cạ-Càng” thoáng lướt trên ngọn cây (Razed-mode) Từ đây trở đi những viên đạn 7ly62 của xạ thủ phải xuyên phá vào mục tiêu không quá 75 thước trên đầu địch, có nghĩa là trục-cuồng-sát “độn-rừng.” Tôi không cho phép bắn xuống cầu-âu như phi cơ vận tải hay Cobra mà là sát thủ như đã bắn tàn sát trên chiếc tàu cận-duyên ở Mỹ Thủy, Hương Ðiền, Quảng Trị, với tham vọng sẽ không còn phi hành đoàn nào tử trận [chờ xem giấc mơ có thành sự thật ở đoạn kết hay không? vì mọi sự việc chỉ có thể phải chứng minh qua thực-tế, sự chứng kiến cũng như đúc kết của hai phía Việt/Mỹ].

                  Ðịa thế nơi đây, phản tình báo Mỹ [WIB] đã cho Tướng Giáp biết trước tháng 10, 1970 và cũng là ngày thành lập Quân đoàn 70B, và Trung đoàn 24B nầy là giữ an ninh hậu cần cho Ðoàn 559 tại đây và cũng là thổ địa tai mắt dẫn đường cho các sư đoàn 304, 308, và 320 cùng Trung-đoàn chiến xa 202 nữa. Chúng tôi yểm trợ hỏa lực hết mình để mong TÐ/8 từ bắc A-Luối tiến lên hướng bắc và phối hợp cùng TÐ/6 ở tây bắc mau mau tiếp cứu Ðồi-31, nhưng hoàn toàn thất vọng, vì các trung đoàn BV đang chiếm các cao điểm quen thuộc để không chế hai T/Ðoàn Dù tiếp cứu đang còn quá xa lạ với địa hình nơi đây. Còn trung đoàn 9 và 66 mới vượt biên từ bắc DMZ ngày 9 February qua đây, sau khi biết chắc QLVNCH không Bắc-tiến mà thực sự qua Lào. Ngày 23 February đặc công BV đã đột nhập vào phòng tuyến hướng Tây, nhưng Tiểu đoàn-3 Dù tại Ðồi-31 đã tiêu diệt ngay vòng rào 15 tên chết tại chỗ. Từ lúc chiếc H-34 của Th-úy Giang, rồi tới Bửu bị bắn hạ trên đồi nầy đến nay không có chuyến tiếp tế và tải thương nào vào đây cấp cứu cả.

                  Giờ phút nguy-biến đã điểm: từ 11 giờ ngày 25 February, một trận địa pháo rất chính xác, khiếp đảm, kinh hoàng vì Bộ tư lệnh quân đoàn 70B đã tiền điều-chỉnh từ lâu, đại bác 152ly xuyên phá hầm hố, 130ly tàn phá diện địa, súng cối 120ly khắc tinh khống chế trực thăng, và tất cả hoả tiển 122, 107ly, riêng 100ly trực xạ của T-54, không leo lên được thì bắn hù doạ từ dưới chân đồi cho PT-76 leo lên với bộ binh tùng thiết theo sau. Ðúng 13 giờ, Ðại đội/1/3 Dù báo cáo tiếng chiến xa đang gầm thét [đoàn chiến xa nầy bị chúng tôi bắn đứt xích chiếc đi đầu, cách phía nam 4 cây số trên đường 92, nhưng chúng lại xem thường chúng tôi không phải đối thủ nên không thèm bắn trả mà lại hấp tấp né một bên, rồi tiếp tục bôn tập về mục tiêu Ðồi-31] Lúc đầu, tôi còn thấy Căn-cứ lờ mờ dưới lớp khói pháo kích, lần lần Tôi không còn thấy gì nữa cả, mà chỉ còn là những lớp khói cứ chồng chất dầy thêm lên “Làm sao tôi hiểu được 2 chiếc H-34 đang bị cả ngàn mảnh đạn đại pháo chạm nổ đang vung vải như bảo cát trên mặt đất bao trùm trên bãi đáp! Và bộ phận cánh quạt đuôi trúng mảnh, hoàn toàn bị tê liệt không điều khiển được, rồi sau đó bị phát hoả cháy tiêu thành đống sắt vụn” Tôi cũng không biết số phận của 2 chiếc H.34 đã cất cánh được chưa, trong hai ngày qua bao trùm sự tuyệt vọng, hay đã loay hoay vì quân bạn đang bấn loạn kinh hoàng tràn ngập leo lên, đến độ quá nặng không thể nhúc-nhích được, chớ nói chi cất cánh. Cách đó không xa, về hướng Bắc của Đồi-31, quan sát cơ OV.10 đang hướng dẫn F-4 .Phantom thả xuống sát mặt đất bằng những trái Bom lửa Napal, nhờ ở đầu 2 cánh chém gió, tạo ra 2 vệt trắng, tôi mới phát hiện đang lướt qua ở trước mặt.

                  Tôi mở tần số Guard (khẩn cấp) gọi Queen-Bees cả chục lần mà không thấy trả lời “tôi bắt đầu quặn đau, xót-xa lo-lắng cho số phận của 2 Phi hành đoàn gan dạ nầy”

                  Trước đó, ngày 23/2/71, Th-úy Thục, một lead gunship sừng sỏ của Biệt-đội Gunship PÐ-213 được lệnh bảo vệ Th-úy Chung Tử Bửu bay vào cấp cứu phi hành đoàn lâm nạn của Th-úy Giang; Trên đường vào có chuyên chở những sensor-detector đặc biệt. Họp đoàn Gunship của Th-úy Phạm Vương-Thục đang ôm sát trên đám rừng già chờ đợi yểm trợ cho Th-úy Bửu. Nhưng làm sao tránh khỏi lưới đạn cầu vòng chụp xuống như đã tiền điều chỉnh sẳn, một lưới lửa vô tận từ căn cứ hậu cần 611 với 67.000 tấn đạn đủ loại. Thế nên cơn hấp hối của ngọn đồi oan-nghiệt đang bắt đầu xảy ra. Bắt đầu vào khoảng 4 giờ chiều ngày 25/2/1971: Khi 3 trung-đoàn CSBV đang cố tràn ngập trên đỉnh đồi 31, nơi đây chỉ đơn độc duy nhứt một Tiểu đoàn-3 Dù [trừ] 300 chiến binh và Bộ tham mưu trấn giữ. Ðợt xung phong đầu tiên của CSBV bằng 2 PT-76 tùng thiết với vô số bộ đội chính quy ở phía sau, vì không có súng chống chiến xa như M-72, nên Dù phải dùng đại bác hạ nòng trực xạ. Kết quả thổi bay hai chiếc PT.76 và một số lớn tùng thiết. Ðể trả giá cho sự chiến thắng nầy, nhiều thiên thần mũ đỏ TÐ/3 đã nằm xuống vắt ngang trên những khẩu pháo của mình; Có phải Pháo-đội-trưởng Nguyễn Văn Ðương, người hy sinh đã là niềm hứng khởi cho một nhạc phẫm nổi tiếng sau đó! CSBV chuẩn bị đợt xung phong lần thứ hai cũng lặp lại bằng hai chiếc PT-76 khác tùng thiết với bộ đội; Nhưng lần nầy, quan sát cơ OV-10 Bronco do quan sát viên người Việt hướng dẫn hai F-4 Phantom phá hủy chúng trước khi bò lên tới lần ranh phòng thủ của Bộ Chỉ Huy Dù.

                  Cho đến 14 giờ, thật khốn nạn không có chiếc FAC của Mỹ nào trên Ðồi-31, Quân BV bắt đầu xung phong tràn-ngập từ bốn hướng. 2 PT-76 đến được bãi đáp phía nam phòng tuyến dưới, bất ngờ chiếc FAC/OV-10 Bronco đến, yên trí có người Việt ngồi phía sau. Sau 2 pass 2 chiếc PT-76 bay lên rớt xuống nằm lật ngữa bao trùm khói đen. BV quyết tâm tràn ngập Ðồi-31 với khoảng 20 PT-76 xung phong 2 hướng đồi thoai-thoải hướng Ðông và Tây Bắc. Thình lình một chiếc Phantom F-4 trúng đạn phòng không 37ly xịt khói phi công nhảy dù ra khỏi phi cơ. Lúc nầy chẳng anh Mỹ nào chịu ngó ngàng đến Ðồi-31, mà họ dồn hết nổ lực để câp cứu người của họ người Việt ngồi sau FAC đành phải bó tay ngậm ngùi cho định mệnh của ngọn Ðồi oan nghiệt nầy.

                  15 giờ 20 trên ngọn đồi nầy chỉ còn trơ-trọi chiếc UH1-H của tôi là C&C với Sĩ-quan Tham mưu Tiền-phương Dù đang vần-vũ trên Ðồi-31; Dù rằng 2 khẩu M-60 và vài cây M-18 nhưng chúng tôi cứ bắn xuống yểm trợ trong tuyệt vọng, Trung-úy Trần-Lê.Tiến, Top-Gun đang vần vũ trên đầu TÐ-8 Dù chờ lệnh tôi bay vào cứu bạn, trong lúc Pháo đội từ Ðồi-30 và Aluối vẫn dồn dập tác xạ yểm trợ qua. 45 phút sau, Căn cứ bị tràn ngập quân BV, khốn nạn nhứt là từ nãy đến giờ không có FAC có nghĩa là không có không yểm. Hậu quả Ðại tá Thọ bị quân BV bắt cầm tù đúng vào lúc 16giờ 15 ngày 25/February/1971, Tôi đang se thắt vì đoán mò rằng, tiếng đại liên M-60 trên trực thăng là nguyên do chính khiến 2 đoàn viên H-34 dưới đó quyết đóng trụ tại đây để chờ chúng tôi sẽ xuống cứu bạn như tôi đã liên lạc trước với PHÐ. Có một đại đội TÐ-3 Dù đang toan thoát vòng vây chạy về Ðồi-30, trong đó có Không-quân Ðại úy Nghĩa, Sĩ quan Ðiều không Tiền tuyến đang chạy thoát cùng với quân Dù? Ngày mai tôi sẽ liên lạc tìm cách đón họ, may ra có đoàn viên H-34? [Sau vài ngày tôi biết được 2 chết, 4 bị bắt đem ra Bắc trong sự đau xót có lẽ vì tiếng M-60 trên C&C?]

                  Dù rằng tiếng trực thăng nóng lòng cứu bạn từ đôi mắt và khối óc thần sầu quỷ khóc của người Phi-đội-trưởng Queenbee đầu tiên do Lực-lượng Seal-Delta-Force dày công trắc-nghiệm để tuyển chọn, vẩn còn đang háo-hức nóng lòng, vần-vũ trên nền trời chờ đợi cơ may nào đến; nhìn xuống Ðồi-31 đang chìm dưới lớp khói chồng chất muốn che lấp ngọn đồi, bên cạnh cùng phụ họa tiếng động cơ H-34 đang sốt ruột chờ đợi một cơ may thấy được Ðồi-31 hiện ra, nhưng chỉ dưới lấp loáng bởi các cột khói đào xới bung lên trên ngọn đồi màu máu như vết thương bị bầm dập.… trong tuyệt vọng vì làm sao có thể chui vào lưới đạn cầu vòng chụp xuống rải thảm như không bao giờ ngừng nghỉ… trong nửa khối cây số không gian bao chụp trên căn cứ Ðồi-31 như đang chìm đấm trong bão lửa, dù có một vật nhỏ tý hon nào chui vào được bên trong, nhưng khi vật ấy hạ thấp còn chục thước thì làm sao thoát khỏi hàng trăm ngàn mảnh sắt vung-vãi xoáy cuồn như trận bão cát trong sa-mạc…và dĩ nhiên vật nhỏ nầy sẽ bị gục ngã không lay động ngay trên mảnh đất nầy… thôi đành ngậm-ngùi nhỏ lệ bỏ lại vĩnh-viễn nơi ngọn đồi vô danh nầy, 2 chiến hữu PÐ-219 [Giang cùng Em] và các thiên thần Tiểu đoàn/3 Dù đang chờ tãn thương cùng 4 nhân viên phi hành khác [Bửu, Khánh, Sơn, On] đang bị bọn CSBV cột chung với nhau bắng giây điện thoại bôn tẩu về Bắc qua con lộ 92B vì sợ B-52 sẽ bay đến cường tập liền sau đó.

                  Gunship-213 vì những khó khăn về địa thế sương mù tan trễ cùng yểm trợ phối hợp với Mỹ, nhưng đột nhiên tình trạng trực thăng hữu dụng xuống 25% làm cho phó TT Trần Văn Hương phải sướt mướt trên vô tuyến truyền hình cho rằng: “Mỹ đem con bỏ chợ” cà một lực lượng lien-quân nhiều như vậy chỉ có trông-nhờ vào sự yểm trợ bao la cũa Mỹ mà thôi. Sự kiện nầy làm cho tôi vô cùng cảm phục sự tiên đoán của Tướng Dư Quốc Ðống đã nói với tôi tại Căn Cứ Fuller ngày 5/2/71 rằng: “Tôi phải xin TT Thiệu chỉ cần có TTVT của mình yểm trợ cho chúng tôi, vì Mỹ sẽ bỏ mình nửa chừng! LÐ51TC phải bao thầu các phi vụ trong hạn hẹp, và nhiều PHÐ phải thay nhau bay liên tục cả ngày; Nhưng không may thay cho việc chỉ huy vì con chim đầu đàn bị 14,5 ly trên PT-76 bắn hạ, PHÐ bị xây xát vì flexiglass, duy chỉ có cơ-phi Thượng si Thứ bị trọng thương nơi chân. Trung tá Tư lệnh KÐ/41 cho Ðại úy Trần Duy Kỳ thay thế, nhưng tôi cương quyết không chịu, vì (theo tôi nghĩ) người khác chỉ huy sẽ không quen địa hình và tình hình địch và bạn hiện tại, sẽ đem lại sự thảm bại cho PHÐ là cái điều mà tôi nắm chắc trong tay. Tất cả Top gun khi hướng dẫn anh em vào vùng hành quân, cũng đều áp dụng chiến thuật biệt kích bất ngờ đột-nhập vào hang động cũa địch, tiết kiệm hoả-lực, chi dùng khi buộc phải đụng trận. Thê nên, tôi bướng bỉnh không chịu về R&R, dĩ nhiên là không bị kỷ luật.

                  Ðể phục thù, cũng như cay cú, bộ tham mưu 70B cũa BV cho PT-76 leo đồi phục kích: Cái nhược điểm cũa không quân là trong ba tuần nay, đoàn TT Mỹ hay Việt muốn bay về lại Khe Sanh phải bay qua ngọn núi đá Coroc, như buộc phải bay qua cái “cổ-chai” rồi mới về đáp Khe Sanh. Trên đường về reload hỏa lực, chúng tôi bị PT-76, phòng không di-động trá hình lợi hại nhứt LS 719, chúng núp dưới tàng cây trên đồi trọc phục kích bắn chéo gốc xối-xả liên hoàn xuống, đồng thời PT-76 nằm dưới khe chân núi Coroc bắn thọc ngang hông, đạn bắn vói theo chúng tôi liên hồi sau đuôi. Không may, đạn 14,5 ly trúng vào bộ phận đuôi của tôi là chiếc số 2, bên trái nếu không nhờ Trung sĩ Ðức thấy kịp là coi như toi mạng: Tôi giựt mình nghe tiếng bò rống của cây minigun, Xạ-thủ Ðức vừa khạc, nhìn xuống nhiều cánh tay lính BV vung lên như người vượt biên dưới chiếc xuồng PT-76 xin cầu cứu, trong tiếng gầm thét minigun của Ðức phun lửa xuống, anh Ðức đã cứu kịp hai PHÐ gunship trong đó có con chim đầu đàn, nhưng lại bay wing để huấn luyện phối hợp hành quân cho đơn vị nên ôm lãnh đủ các tràng đạn bắn vói theo. Tôi chỉ kịp tức khắc low-pitch, cái đuôi rà phớt song song trên ngọn cây cánh rừng chồi trước mặt để tạo zero-torque, đồng thời kêu gọi chiếc gun lead Trung-úy Lưu xuống cứu. Khi vận tốc còn 15kts sát mặt đất, tôi kéo cần pitch làm crash trên đồi trọc nghiêng qua phải, nhưng không lật nhào, đầu burble tán mạnh xuống cành cây khô rồi khựng lại trong vị thế banh càng, tạo thành chiếc cửa phía trước, đoàn viên bị xây xát vì flexiglass cứa phải, rồi kẻ trước người sau không ai bảo ai, đi thẳng ra trước mũi, bước trên đám cỏ voi còn ướt, và cùng trở lại qua bên hông phải, xúm khiêng Cơ-phi Thứ qua chiếc Lead vừa đáp xuống bên cạnh, thêm hai người xuống phụ với chúng tôi hối-hả khiêng cơ-phi bị thương lên chiếc lead và cất cánh liền một mạch về Khe-Sanh.

                  Trong 42 ngày cam go chiến đấu, người anh em phía bên kia không giết chết được bất cứ 1 nhân viên phi hành nào của Phi đội võ trang PÐ.213, nhưng cũng được thán phục vì đã rình phục kích hạ được con chim sắt đầu đàn của Phi-đội Gunship: Người Top-gun ác ôn theo như người anh em phía bên kia đặt để.. . Có coi như bị loại khỏi vòng chiến đấu vì bị thương tích do mảnh flexiglass? Không … không bao giờ! Người giặc lái ác ôn nầy vẫn kiên cường chiến đấu đến khi tàn cuộc chiến, 42 ngày! Có phải vì định luật ‘nhân-quả’ đã tàn sát người đồng chủng, nên người anh em phía bên kia đã đay-nghiến, khi tôi đang ở trong tay của kẻ thắng trận “Tội anh đáng phải bắn lên bắn xuống cả triệu lần cũng chưa hết tội!” trong suốt 13 năm bị hành hạ tù đày! Phải cam-chịu như vậy, âu cũng là sự công bằng đối với Thượng đế về tội sát sanh! Thiện tai… cùng nghiệp chướng!

                  (còn-tiếp)
                  Last edited by Phòng Trực; 10-26-2012, 10:55 PM.

                  Comment

                  • vinhtruong
                    Super Member
                    • Jun 2010
                    • 1924

                    #10
                    TT Thiệu chống lệnh Pentagon

                    General Al.Haig: “Washington would like to see ARVN stay in Laos through April,”
                    Với Quân-lực nầy, Tổng Thống Thiệu cũng như các Tướng Lãnh đều đồng có một quan niệm, là bảo vệ tối đa sanh-mạng cho binh-sĩ, và tiết kiệm tối đa xương máu của chiến binh. Để chứng minh điều nầy, có bao giờ chúng ta nghe Quân-Lực VNCH dùng chiến thuật biển người để chống Cộng không! Dùng thuốc kích thích, hoặc là xiềng chân vào tay-lái của chiến xa không!? Trong khi Cộng-Sản như một tôn-giáo cuồng tín, tử vì Đảng!

                    Cái đỉnh cao trí tuệ nầy có chịu thua sự ngang-ngược của TT Thiệu khi làm bể kế hoạch chiến-lược trong cuộc hành quân Lam-Sơn 719 nầy qua sự cho 2 Tiểu đoàn của SÐ/1 (6/3/1971) nhảy xuống Tchepone đái một bãi rồi về? Có nghĩa là đếch thi hành giai đoạn-3 khai thác chiến trận! Ðể dạy một bài học thâm hiểm và đồng thời cũng vì phải giữ tình hình thật yên tịnh để Mỹ tiếp tục rút quân, nên Richard Helms, người hậu vệ [linebacker] của trận đấu “Pennsylvania” phải hoạch định một phương án “Rã ngũ quân lực VNCH” bằng sẽ có một chước quỷ cho một cuộc chạy tán loạn của quân dân miền Nam và Cộng Sản sẽ trả thù!

                    Ðứng trên một góc cạnh nhãn quan chính trị, chiến sĩ chúng ta phải thông cảm và chấp nhận việc làm của TT Thiệu phải như vậy không còn con đường nào khác. Ðầu năm 1975, Họ đứng trong bóng tối áp lực TT Thiệu phải đích thân do chính bàn tay của mình tự bẻ gãy từng chiếc của bó đũa [quân lực VNCH] bằng cách phân tán lực lượng, rút bỏ vùng-1 và 2 vì không còn đủ hỏa lực, cơ-phận, nhiên liệu… đang cạn dần và phải bẻ nhỏ từng mảnh 2 Sư-đoàn tổng trừ bị lợi hại nhất mà Lê Ðưc Thọ rất khiếp đảm, nên Thọ khẩn thiết yêu cầu Kissinger nếu Mỹ muốn Hà-Nội chiếm miền Nam đúng theo lộ-trình, theo sự thỉnh cầu về điểm mốc thời gian chiến dịch Hồ Chí Minh… Richard Helms phải làm theo sự chủ đạo của George H.W.Bush liền tức khắc qua khai thác sự sợ hải làm đảo chánh của TT Thiệu để áp lực TT Thiệu ra lệnh rút về chỉ một Lữ-đoàn Dù thôi cùng Quân đoàn-3, vừa đủ tạm thời trấn giữ cái cổng chính của sân vận-động, hầu trực thăng Mỹ sẽ cứu người Mỹ và những tai to mặt lớn trốn chạy ra nước ngoài. Thế là bình luận, báo chí trên thế giới cứ chĩa mũi dùi tấn công chỉ một mình tội lỗi do Tổng thống Thiệu gây ra mà thôi, nhưng làm sao dư luận hiểu nổi một bộ óc tinh xảo trong bóng tối đã đem chiếc đũa thần hoàn thành định kiến-1 (axiom-1) Dù rằng TT Thiệu đã thỏa mãn tất cả những điều kiện do phía Polgar, Trưởng CIA yêu cầu nhưng ngặt nỗi những bức thư mật giữa TT Nixon và Thiệu vẫn còn nằm trong tay TT Thiệu. Chuyện khó là tạo ra vụ Watergate để hất chiếc ghế quyền lực của Nixon, việc đó đã hoàn thành tốt đẹp do tham mưu trưởng Donald Rumsfeld chỉ thị cho R.Helms. Tại sao Nixon không dùng đặc quyền theo hiến định để tự ân xá mình? Như Thái-tử George W Bush dù bị sự ủng hộ thấp nhứt trong lịch sử TT Hoa kỳ (23%) còn mang thêm trọng tội lừa dối Quốc hội và dân Mỹ về vũ khí giết người hàng loạt WMD nhưng vẫn phây phây ngồi cho đến mãn nhiệm kỳ?! Ðộc giả yên tâm! 2 sự kiện kinh dị nầy sẽ phải đợi một thời gian coi cho được [Decent Interval] rồi các sử gia sẽ phơi bày ra ánh sáng để trả lại tính trung thực cho lịch sử.

                    Trong những ngày ảm đạm của tháng 4 năm 1975 cũng trùng hơp như tháng 4 năm 1954, chỉ có một điều duy nhứt nếu Hoa Kỳ giữ vững lời hứa qua B-52 và B-29… thì mọi việc đã khác hẵn; Nhưng sự can thiệp đó đã bị từ chối theo dự mưu của WIB. Hai trận đánh có tiếng vang quốc tế như chiến dịch Ðiện Biên Phủ và chiến dịch Hồ Chí Minh khi CSBV cưỡng chiếm miền Nam. Tôi thất vọng vì một thế lực tài trợ cho truyền thông văn hoá để bóp méo, xuyên tạc trên lãnh vực quân sự mờ mờ ảo ảo giữa một bên với 700 triệu tấn vũ khí tối tân và một bên cạn dần hỏa lực. Một sự sắp-xếp tàn độc cho một cuộc bàn giao quyền lực từ chính quyền Saigon cho Hà-Nội không tắm máu và Saigon không biến thành đống gạch vụn! Axiom: “There was never a legitimate non-communist government in Saigon”.

                    Cho nên sau khi áp-lực khai thác xong, TT Thiệu bị áp giải giữa băng ghế sau như một tù-nhân trong chiếc công xa màu đen, bên trái trùm mật vụ Polgar và bên phải là Tướng Timmes, lên chiếc phi-cơ DC-6 (C.118, MATS) đã đợi sẳn qua Ðài-bắc với danh nghĩa là Ðại-sứ VNCH kèm theo lời hăm-dọa phải “ngậm-tăm”, không được hé môi về những gì bí mật của mưu đồ chính trị nếu còn muốn sống. Làm sao ai hiểu được TT Thiệu phải chôn-chặt mối hận u-uất nầy mãi xuống tuyền đài, làm sao giải oan cho TT Thiệu trong khi các Tướng lãnh khả-ố cứ đổ trọng tội vào vị Tư lệnh tối cao, làm cho cái gọi là Ðỉnh-Cao-Trí-Tuệ cứ cười ngắt ngẻo trong sự tự-mãn về mưu chước xảo trá thần sầu quỷ khóc của chúng. Không một ai có quyền kết tội ai mà hãy để cho lịch sử phán quyết, hãy để hậu thế sau nầy điều tra, kiểm chứng, đối chứng, phân tích hầu trả lại tính trung thực cho lịch sử; riêng cá nhân người viết xác quyết rằng, các Sử-gia thế hệ thứ 3, thứ 4 sẽ minh oan cho vị nguyên thủ quốc gia mà tôi kính trọng. Lịch sử sẽ phán quyết những việc làm của người cũng như đạo đức của TT Ngô Ðình Diệm dù chưa được mọi người hoàn-toàn chấp nhận, nhưng sử gia sẽ tái xác nhận lòng yêu nước quyết bảo vệ chính-nghĩa, chủ-quyền quốc gia của ngài dù phải trả cái giá bằng mạng sống, cũng như ngày hôm nay người dân Việt vẫn tôn thờ Ðức tả quân Lê Văn Duyệt mà đã bị quá khứ kết tội oan-ức. Không có sử gia, sự thật sẽ vỉnh-viễn chìm trong bóng tối, theo như hiền-triết W.Brayant “Sự thật dù có vùi xuống dưới đất rồi cũng sẽ trồi dậy”. Người viết ước ao khi viết về những nhân vật, những sự kiện được gọi là lịch sử, theo thiện ý của tôi, là ghi lại một cách trung thực, vô tư, không thiên vị không ác ý, không diễn dịch sự kiện, tô vẽ hình ảnh nhân vật theo sở thích hoặc nhu cầu thương ghét của người viết. Ðể cho các sử gia hậu thế đúc kết các liên hệ thực tế, trong nhiệm vụ phục vụ quê hương dân tộc, có thể nghiên cứu, tìm hiểu, học hỏi hầu theo dõi vun đắp những gì đúng với sự thật, sửa chữa gạt bỏ những gì sai lỗi, xấu xa. Tôi xem tác phẩm nầy như một đốt xương nhỏ li-ti để cho các sử-gia sau nầy ráp nối với các cục xương Lớn, thành hình ảnh một con Dinosaur khổng lồ (Tại sao tôi đặt hết niềm tin nơi sử gia trẻ thuộc thế hệ 21? Thế hệ trẻ thường có những nhận định độc lập và thẳng thắn, dùng khoa học hiện thực để biện chứng trên những trang giấy trắng tinh. Họ không có lối viết phải né tránh hoặc ngần ngại như chúng ta viết là phải lách, vì những mặc cảm hoặc gánh nặng quá khứ, họ là trang giấy trắng tinh với ý thức nếu muốn phủ lên lớp sơn Hồng thì chỉ cứ việc trộn sơn Trắng với sơn Ðỏ, nếu muốn màu Hồng đậm hơn thì trộn nhiều sơn Ðỏ hơn Trắng, nhưng nếu muốn màu Hồng nhạt hơn thì trộn sơn Trắng nhiều hơn Ðỏ. Còn như thế hệ dính líu vào cuộc chiến thì hỡi-ôi, tờ giấy trắng nầy đã dính quá nhiều hoen-ố… loang-lỗ đủ các màu sắc khác biệc, không rỏ nghĩa).

                    Vì không làm được như vậy, người viết sử đương thời, không khác gì nhiều, so với những bài, sách báo, đã được một số trí thức, khoa bảng, chính khách Việt đã viết mà tôi đã được đọc, không lý luận dẫn-giải cho đúng với liên hệ thực tế, trong giai đoạn đầy nhiễu nhương của một nước Việt Nam nhỏ bé, bị ảnh hưởng quá nhiều vào ngoại bang, nhưng lại dư thừa thù-hận, ganh-ghét, đố-kỵ mà lại thiếu quá nhiều tình thương và tinh thần tự trọng thật sự đúng nghĩa là yêu nước!

                    “Mỹ đem con bỏ chợ”: Ngày 23/Febuary là ngày đen tối nhất: Trực-thăng của Hoa-kỳ không biết vì lý do gì đã không chịu yểm trợ tiếp vận cho QLVNCH nữa, gây xúc động đến nỗi Phó TT Trần-Văn-Hương phải sướt mướt tức tưởi trên đài… lên án người bạn lớn của ta đã đem con bỏ chợ. Tướng Abrams, gặp nhiều khó khăn trong cuộc chiến vì Abrams không hiểu tí gì về mục tiêu chiến lược của cuộc hành quân mà chỉ biết có chiến thuật là yểm trợ tối đa hoả lực cho quân lực VNCH, khác hẳn với tướng Wesmoreland tại vùng Khe Sanh nầy; Westmoreland dựa vào chỉ một TÐ/BÐQ để bảo vệ vòng đai Khe Sanh, còn Abrams thì khác, quân đội Mỹ không tham chiến, nhưng nhân viên phi hành, dù không được bước xuống đất Lào, nhưng phải bay qua Lào nên vẫn bị thảm hại vì bị bắn hạ. Nhưng Abrams cũng yên tâm vì có nguyên một đại đội Hắc Báo đặt dưới quyền điều-động của tướng Sid.Berry đễ tìm cứu phi hành đoàn lâm nạn.

                    Chứng kiến có 25% trực thăng khả dụng hành quân, Abrams nổi cáu đã chửi bới văng tục với các Tướng lãnh dưới quyền vì số trực thăng yểm trợ chỉ ở dưới mức không thể chấp nhận được, thay vì phải được 80%; Nhưng ngặt nỗi Abrams cứ nhè Tướng 3 sao Surtherland mà ‘giũa’ thê thảm. “Mấy anh là Quân-nhân, ưu tiên một là gì (Abrams dùng không biết bao nhiêu chữ god-damn thỉnh-thoảng còn chua thêm chữ ‘Fucking-bird’, trong tác phẩm ‘A Better War’). Tướng Abrams liền phái chiếc Trực-thăng dành cho riêng ông, bay xúc cho bằng được Đại-tá Lữ-đoàn-1 Không-kỵ, Sam Cockerham về gặp ông gấp gấp gấp. Trong khi chờ đợi, Abrams nghiêng qua hỏi ý kiến vị Tướng Phó của mình Weyand, Tôi nghĩ không thể tha-thứ cho Jock (tên lóng của Tướng Sutherland) vì Jock chỉ huy mà không theo-dõi tình-hình về Đ.M… mỗi mấy con chim… về tình trạng… Đ.M khả dụng mấy con chim ra sao…từng giờ… Đ.M từng ngày…Đ.M dường như có cái gì không ổn! Ông xem lại dùm tôi… Một tiểu-đoàn đã có mặt ở Con-lộ 914, đã 2 ngày rồi mà Jock không hay biết, ông xem họ làm ăn ra sao, tổ chức ra sao. “như vậy đánh động cho tôi biết, sự phối hợp giữa 2 bên Việt-Mỹ không ra cái thá gì, có nghĩa là vô hiệu quả, thất bại!”.

                    Sau khi ngừng một chút xả hơi, giọng ông dịu lại “Tôi nghĩ, tốt hơn là lên nói thẳng với Tướng Mc Caffiey ngay bây giờ, Tôi nghĩ mình nên tới họ, để họ ra lệnh xuống đưa chuyên viên, dụng cụ và đồ nghề tiếp liệu, cơ phận để sửa chữa tại chỗ”.
                    Tướng Abrams chấp tay sau đít đi tới đi lui dõi mắt trông ngóng. Khi Đại-tá Cockerham bước vào, đứng thẳng nện gót giày chào theo nghi lễ của thuộc cấp, Tướng Abrams ở đó chỉ chờ Cockerham tới để ‘quạt’ một mách cho nhẹ người.

                    Abrams thả thân người mệt mỏi rơi xuống chiếc ghế da Sofa trong văn phòng của Tướng Surtherland; Tướng Abrams bắt đầu nổi nóng trở lại: “Đ.M mức sẵn-sàng tác-chiến O.R (Operational-Readiness) của Lục-quân Không-kỵ là bao nhiêu… ĐM làm sao bảo vệ niềm kiêu hãnh của Không-kỵ đây?” Sự nổi nóng cứ bộc phát tăng dần “Chiến lược, chiến thuật, về quan điểm đường lối hành động đều lộn tùng phèo hết… hỡi Ðại tá… Ð.M yêu quý của Tôi!”
                    “Tôi muốn Đai-tá làm gì tôi không biết… Ð.M phải đưa tình trạng khả dụng Trực-thăng lên đến mức yêu cầu trong USARV Standard, có nghĩa là 80% khả dụng và thêm 5% gọi là danh dự của Lữ đoàn Không-kỵ, Đại-tá hiểu chứ, và có làm được …không?”
                    Abrams đi thẳng vào vấn đề, “Bây giờ là 1 giờ trưa thứ Hai, Đại-tá cho tôi biết chừng nào đạt được tiêu chuẩn 85%”
                    Cockerham: “Thưa Đại tướng Tôi cố gắng đến tối thứ Tư thì xong”
                    Khi Đại-tá Cockerham rời khỏi phòng họp, Abrams nói vói theo “Kính thưa Đại-tá…tôi muốn Đại-tá phải mở… Đ.M cái máy truyền tin cho tôi được theo dỏ4i…Okay, Đ.M Tôi nhớ và trông chờ giọng nói của Đại tá… chắc Đại tá cũng thừa hiểu chớ?”

                    Sau một chuỗi dài giận dữ và sỉ vã từ trên xuống dưới, Tướng 3 sao, Sutherland như con Chó cụp đuôi (General Sutherland was like a Dog with his tail tucked under) Sutheland cũng thành tâm tự cảm nhận rằng cuộc hành quân quá tầm hiểu biết và khả năng của ông.

                    Liền sau đó, Tướng Phụ-tá Sư-đoàn nhảy dù 101, Sid Berry tạm thời thay thế Đại-tá Cockerham phục hồi lại uy-tín cho Lữ-đoàn. Bây giờ trở đi, trong cuộc hành quân Lam-Sơn 719 có một Tướng lãnh duy nhất tham dự chiến trường với tất cả phi-vụ được xem là hóc búa nhất, và sâu nhất nằm trên đất Lào, trong khi phía VNCH không có một Tướng lãnh nào chiến đấu trên đất Lào “Sự cương quyết của Tướng Abrams đưa HÐAN (NSC, Pentagon) vào con đường vi-phạm ROE?” Thế là tướng Haig điều động đại-tá James Vaught qua với danh nghĩa cố vấn cho Sư đoàn Dù.

                    Khi Trung-tướng Julian Ewell thăm viếng VN, có ghé thăm Khe-Sanh ông cũng là thành viên trong phái đoàn Hòa-đàm Paris, ông có cảm tưởng, ‘thật là khó tin’ Ngày chủa Nhật, số Phi cơ khả dụng 79%, thật không thể tưởng tượng được.

                    Cũng theo tác phẩm Better War, ngày hôm nay 23/Febuary/1971, thành phần Tướng lãnh Hoa-kỳ áp lực TT Thiệu phải thay đổi cấp Chỉ-huy, chứ không dựa vào thế dùng băng nhóm chính trị để thống trị đất nước, sinh mạng chiến binh phải được coi trọng; như Vùng-1 gồm có Băng Thiết Giáp: Tướng Hoàng Xuân Lãm, Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tướng Phan Hòa Hiệp và Tướng chưa kịp đeo Quân-hàm đã tử nạn Phi cơ A.37, là Nguyễn-Văn-Thiện, Tư-lệnh Biệt-khu Quảng-Đà. Tướng Lãm được xem là người thiếu khả năng với trách nhiệm quá nặng, Lãm không thể nào hoàn thành trọng trách được, nên được thay thế bởi Tướng Đỗ Cao-Trí, mà người Mỹ cho là George-Patton của VN, một Sĩ-quan như vậy rất hiếm có trong Quân đội Sàigòn. Chính Tướng Trí đã hiên ngang ngồi trên Thiết vận xa M.113, đầu đội nón lưỡi trai có mang chần-dần 3 sao trắng trên đó, điều động 17,000 quân cho cuộc hành quân càn quét quân BV, Cục R ở Cambodia (1970). Nhưng chúng ta cũng nên suy nghĩ điều nầy, chỉ có những Tướng lãnh Mỹ vì danh dự của tổ quốc họ, chớ cái thứ Skull and Bone thì lại khác, chính TT Nixon cho oanh tạc và tiến quân qua Mật Khu của MTGPMN ở phần đất Cambodia đã bị Quốc hội do áp lực của thứ Ma đầu-lâu nầy gây khó dễ, gọi là vi phạm hiến-quyền Power-Act của Quốc-hội. Chiếc Trực-Thăng của Tướng Trí đang chở phái đoàn Tham-Mưu Quân-Đoàn III thì bị nổ chết khi mới cất cánh ở Tây-Ninh; Cái tội cũa Tướng Trí là tiêu hủy một số chiến cụ bằng 5000 chuyến xe Molotova chở chúng từ hải cảng Sihanouk-Ville tới cục R.

                    [Theo sự suy diễn riêng tư của người viết qua nghiên cứu liên hệ với thực tế bằng các tài liệu giải mật: Tướng Trí chỉ có trọng tội là dám cả gan thiêu hủy kho vũ khí khổng lồ của CSBV tại mật trận Cục-R nằm trên hành lang Xa-lộ Harriman (đường mòn Hồ) cũng như John Paul Vann dám bẻ gãy kế hoạch không cho Hà-Nội chiếm Tỉnh Kontum làm Thủ đô cho MTGPMN để có tiếng nói trong Hòa-đàm Paris-1973, dù rằng CSBV đã có 3 Sư-đoàn bao vây cùng 3 Tiểu đoàn chiến xa PT-76, T-54 thuộc Trung Đoàn 203, trong vòng 2 tháng, trong khi phi trường phải đóng vì trận địa pháo và tiếp tế hoàn toàn bị cắt đứt. Ngày 14/5/1972 B-52 và KQVN Sư-đoàn-6 đã oanh liệt triệt tiêu lực lượng của 3 Sư-đoàn nầy loại ra khỏi vòng chiến đấu khoảng 16.000 quân, thể theo sách A Better War, trang 337, hàng 34. Và lời nhận xét của Vann ca ngợi chỉ có Ðịa phương quân và Nghĩa quân mà đã chống giữ Kontum một cách oanh liệt, tất cả Tăng T-54 đều bị triệt hạ xung quanh vòng đai thị xã. Thật là một sự mầu nhiệm vô lý cần phải suy gẫm!? Các bạn là quân nhân có tin 3 sư-đoàn và 3 thiết-đoàn mà không chiếm được Kontum hay không? Mà chỉ có ÐPQ và Nghĩa quân trấn giữ, chỉ có con đường độc đáo tiếp viện duy nhứt từ Pleiku qua? Dưới đây là bút tích cũa John Paul Vann:

                    “John Vann credited the Territorial Forces, not the Army, with much of what went right in MR-2. The RF and PF, in most places, have performed quite well and were a much more stabilizing force than the ARVN”.

                    Cũng như Tướng Westmoreland dám gợi ý tại Quốc-hội chiếm vùng hành quân Hạ-Lào nầy bằng cuộc Hành Quân Lam Sơn 689, với lực lượng Mỹ cùng LLÐB/Biệt Kích Dù của VNCH vào những năm trước đó nên phải bị cách chức Tư lệnh chiến trường tức khắc, lập lại sự việc đề nghị cũng y chang của Tướng Mc Arthur khi đề nghị với Quốc Hội đòi giải phóng lục địa Trung-Hoa, trong lúc Mỹ độc quyền nguyên tử. Nói tóm lại dù Mỹ hay Việt ai đụng đến Xa-lộ Harriman đều bị thảm hại. Ðịa điểm hẻo-lánh KHE-SANH nơi rừng núi xa-xôi nầy sẽ ghi mãi dấu ấn trong lịch sử Hoa kỳ với sự hy sinh 215 nhân viên phi hành Không-ky và 38 đoàn viên MIA, trong khi KQVN hy sinh 10 NVPH va 4 MIA (theo tài liệu MACV/SOG và báo cáo cũa tướng Hinh) Ðảng hội Skull and Bones dùng quân đội Mỹ như một công cụ người máy, chỉ cứ việc thi hành theo sự chỉ đạo của chúng. Muốn chiếm Hạ Lào phải đợi đến thời gian coi cho được (Decent-Interval) có nghĩa là quân dụng phải được vận chuyển về thừa thãi trên hành lang và được nhị-trùng đại-tá Bùi Tín xác nhận, rồi mới được mở cuộc hành quân, Ðại tá Bùi Tin sẽ cho Mỹ biết về việc tiếp liệu phải được dấu kín vào những nơi an toàn dư thừa để chiếm miền nam. Bắt đầu an toàn từ ngày 18/1/1971 do HÐAN/NSC [WIB quyết định cuộc hành quân Lam Sơn 719 [http://www.answers.com/topic/w-averell-harriman, page 1 of 7- Trang 4, Political Career, hàng 19 “HARRIMAN WAS INITIATED INTO THE SKULL AND BONES SOCIETY, ALONG WITH HIS FRIEND PRESCOTT BUSH, ông nội của TT thứ 43 Hoa-Kỳ, 2 soạn giả cuộc chiến VN]

                    Người viết cảm thấy cũng nên nhắc lại trong thời gian Hội nghị quốc tế Trung-lập Lào 1962, khi mà Harriman âu lo phía Hà-Nội không chịu tham dự trò chơi chiến tranh, nên ra lệnh cho William Colby phải thả toán thám sát STRATA [Short Term Road And Target Acquisition] từ đèo Mụ-Giạ, trên hành lang qua Tchepone và Attopeu để xác-định Ðoàn 559 và Ðoàn 959 có mặt trên đường Trường-Sơn Tây hầu dự trò chơi hay không? Còn như Ðoàn 759 thì Hoa kỳ dễ kiểm soát do tàu nhỏ cận duyên mà Trung Quốc chế tạo cho trò chơi tiếp tế bằng đường biển đến tận hải cảng Sihanouk-Ville trước khi Lon-Nol lật Sihanouk. Lúc đó Khe Sanh là Quận Hương-Hoá cách Tchepone 45 cây số, hành pháp Mỹ qua Harriman buộc Kennedy phải ra lệnh hủy bỏ Quận nầy vì lý do an-ninh. Ðồn điền trồng Cafê và Trà của người Pháp không còn khai thác nữa vì chiến tranh thì giữ để làm gì! Vì thế chữ Khe-Sanh đã đi vào huyền-sử Hoa kỳ, khi buộc phải xoá bỏ chữ Hương-Hoá! Nhưng TT Diệm rất bình thản vì đã có kế hoạch chỉ định Ðại-tá Ðỗ Cao Trí, Tư lệnh Ðệ Tam Quân Khu làm Tư lệnh chiến trường tấn kích và chốt chận cắt con đường nam Lào từ Dakto, Ben-Het qua tận Attopeu với 1 Chiến đoàn Dù do Thiếu tá Dư Quốc Đống CÐT, 1 Thiết đoàn chiến xa và một đơn vị thuộc Sư đoàn 22. Kế hoạch nầy bị phản thần, Bác sỉ Trần Kim Tuyến báo cáo cho CIA biết ráo-trọi nên sự triệt tiêu TT Diệm đã nằm trong ống kính của người thủ lãnh Skull and Bones-1 ngay tức khắc; Ngay sau khi triệt tiêu 2 chướng ngại vật [Diệm, Kennedy] ngăn chận chương-trình CIP [Counter Insurgency Plan] COMUSMACV đưa đề nghị chỉ để cho quân lực VNCH, dĩ nhiên là không có người Mỹ, có quyền đánh đuổi quân CSBV ra khỏi biên giới Cambodia và Lào. Tổng tham mưu trưởng liên quân nghe hợp lý nên đề nghị McNamara và ông đề nghị lên TT Johnson đúng theo hệ thống quân giai. Tháng 4/1964 TT Johnson đồng ý trên nguyên tắc nên Cố vấn T.T George Bundy sắp đánh điện về Saigon thi bị Micheal Forrestal trong HÐANQG (NSC) cảnh cáo: “Gởi công điện mà không có sự đồng ý của Harriman sẽ có rắc rối. [Nguyên văn: To send the telegram without Averell Harriman’s approval is just asking for trouble! Even if the telegram had already received Johnson approval but that was not enough! It still required an “endorsement” from Harriman]

                    Có phải chính-sách Mỹ bị thống lãnh bởi tập đoàn Skull and Bones trong WIB!? Harriman thủ lảnh Skull và Prescott Bush WIB’s Chairman: Đó là lý do tại sao ai đã gây ra cuộc chiến lần thứ hai, 1954-1975 bằng một mưu-lược “bỏ phiếu bằng chân”. Sau khi Liên Xô áp lực Hà Nội thành lập một loạt Đoàn 559, 759, 959 và kết thúc bằng cho ra đời MTGPMN (20/12/1960) Phía Mỹ áp lực Saigon cho ra đời luật 10/59: Tố-cộng và Diệt cộng: Tam trùng Phạm Xuân Ẩn đã móm cho Lê Đức Thọ những tuyên ngôn chỉ Nam sau đây, dù rằng quân tác chiến Mỹ chưa qua tham chiến thì làm gì có xâm lược mà chống! Chống cái gì vào năm 1960! Như “Chế độ khát máu Mỹ-Diệm,” “Giải phóng Miền Nam” “Ách thống trị thực dân kiểu mới của Mỹ,” “Miền Nam bị Mỹ ngụy kèm kẹp” “Đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào; Khi quân Mỹ rút đi Saigon chỉ còn là bộ xương khô! …”

                    Trong tầm nhìn sâu-sa của Harriman, những tuyên ngôn trên sẽ được giải nghĩa rõ ràng sau 50 nằm bằng phổ biến của kỹ nghệ thông tin internet. “Ðể rồi, tất cả đều là xảo-trá, lừa đảo, và phỉnh gạt” Nhưng ngược lại cái khối óc gọi là “đỉnh cao trí tuệ” nầy rồi cũng phải chết, cũng không lừa gạt được với các sử gia thuộc thế hệ thứ 3, 4 khi các sử gia nầy đặt câu hỏi, tại sao quân tác chiến Mỹ chưa qua VN mà HĐANQG [NSC] họp ngày 21/9/1960, (thời Eisenhower) đã bày đặt ra cái huy chương “Chiến-dịch Bội tinh “dành cho quân Mỹ tham chiến VN, và đang sản xuất hàng tỷ hộp lương khô C-Rations phối hợp bởi renewed Aid to Russia 1941-46 Plan, cho 3 triệu quân tác chiến Mỹ lần lược luân phiên mỗi năm qua VN dự cuộc Pinic tập trận và họ cũng là hành khách đi Máy bay book trước để nâng đỡ các hãng hàng không dân dụng [thế hệ phản-lực] đang phát triển trong lúc phôi thai khỏi bị khánh tận hay xáp nhập rút gọn; đồng thời 8000 chiếc trực thăng phản-lực UH-1 gọi là trợ huấn cụ [training-aid] để tập trận sau đó bỏ lại với danh từ Việt Nam hóa chiên tranh rồi trở thành đống sắt vụn khi không còn cơ phận để thay thế. Cái thế lực ghê-gớm nầy tinh-vi che mắt hai vị Tổng thống (Diệm-Kennedy) bằng cách chêm đệm bởi phương-án khai hoang những vùng Việt Cộng ẩn trú trong “chiến dịch Khai hoang Ranch-Hand” để cho 38 hãng thuốc khai hoang được phát triển lợi nhuận. TT Diệm nghe làm trống trải không cho Cộng-Phỉ có nơi ẩn trú để quấy rối, Kennedy và TT Diệm cũng bị dụ-dỗ như thường.

                    Ðể bưng bít cái chết của tướng Trí, một phái đoàn Mỹ sang điều tra tai-nạn cho là bộ phận trong máy có trục-trặc nên gây ra tai nạn thảm khốc nầy. Nhưng mãi đến khi tàn cuộc chiến, KQVN không có một tai nạn nào tương tự như vậy xãy ra, báo hại nhà báo đội lốp CIA, Francois Sully bị chết oan mạng cũng như bốn nhà báo ngoại quốc đã chết cùng với Phi hành đoàn 213, vì thật ra Họ không được phép bay qua phần đất của Lào. Về tin tức tình báo các nhà báo ngoại quốc nầy đã không được hiểu biết rõ ràng chi tiết như Tam-trùng Phạm Xuân Ẩn. [Ẩn không dám bước chân lên trực thăng dù chỉ có người Mỹ mới không được phép qua biên giới Lào. Ẳn hiểu biết quá nhiều về CIA và CSBV có 6 trung-đoàn phòng không cổ-điển (AAA) và 8 Trung-đoàn pháo diện địa hạng nặng với 67.000 tấn đạn sẳn sàng gây trận bảo lửa khiếp đảm].

                    Ðiều vô cùng quan trọng cần nên biết là, ngày 27/Feb/1971, B.52 mới thật sự rời bỏ chữ SAC (Strategic Air Commmand) để đi yểm trợ tiếp cận (Tactical Air Ground Closed Support) Đó là những chiếc pháo đài bay B.52 cất cánh từ Căn-cứ Utapao, Thái-Lan, với số hỏa-lực gần gấp đôi B.52 cất cánh từ Đảo Guam. Có phải do Abrams vì thể diện, tự-ái dân tộc và sinh mạng của các phi hành đoàn Không-kỵ nên đã vi phạm những điều mật ước với Liên-Xô (Rules Of Engament), làm trở ngại, không rõ nghĩa trong thế chiến lược, về tinh thần buổi họp bàn thảo và đưa đến quyết định giải pháp cho cuộc hành quân Lam-Sơn 719 ngày 18/Jan/1971? [Hình trang đầu] Tất cả Phi vụ B.52 là do CIA quyết định, Không-quân SAC thi hành như một cái máy ‘Tổng-Đài’, thế mà Tướng Haig đang tìm cách tế thần Tướng Không-quân, John D.Lavelle, cho là Ông yểm trợ cầm chừng, chứ không hết mình. Có lẽ do sự bất đồng, vì Tướng D.Lavelle muốn thi hành thế “chiến thuật”, mà không tuân lệnh CIA thi hành theo kế hoặch “chiến lược”. Chiến tranh VN có nhiều điều ngộ nghĩnh thường xãy ra: John Paul Vann thất trận ở Ấp Bắc bị buộc giải ngũ nhưng lại lên chức như Diều gặp gió với chức vụ ngang hàng tướng 3 sao. Ðối với WIB Vann thua chiến thuật nhưng lại thắng thế chiến-lược, còn tướng D.Lavelle nghe lệnh thượng cấp lại bị đem ra xử như con Cừu non để tế thần thay vì Tướng Abrams phải lãnh đủ! Vì thế chiến lược kinh-dị nầy của cuộc hành quân mà Sư-đoàn-1 cứ bị B-52 chiến lược từ đảo Guam bay vào đuổi đít cho theo đúng lộ-đồ hành quân đã vạch sẵn. Sự kiện nầy tôi nhận thấy nhờ sự theo dõi từng bước đi mà tại Khe Sanh Chuẩn-tướng Phú cũng rà sát theo dõi những chiến dịch “tiền-oanh-kích” cũng như những hoạt động mờ ám tính trước theo lộ-đồ của B-52, để rồi Tướng Phú cứu nguy được đàn em. Còn như Lữ đoàn-1 Ðặc nhiệm chỉ ngừng lại dưởng quân thì bị Skyspot gọi là thả lầm khiến một số quân bạn bị chết và bị thương, trong đó có Tiểu-đoàn-phó Tiểu đoàn-8/LÐ3/Dù tùng thiết cùng Thiết đoàn 11. Hơn đơn vị nào hết, chính Tiểu- đoàn/8 Dù nầy khi đụng độ với 2 trung-đoàn tân lập [trung-đoàn 27 và 278] mới biết sự chính xác và hiệu quả của B-52. Nhưng thật ra quân bạn có biết đâu đây là do con mắt tinh-ranh và bộ óc điện-tử chuyên nghiệp của ban tham mưu dưới quyền Tướng Haig tại Pentagon khi phải làm trọng tài cho hai đối lực, cần phải phối hợp để cân bằng lực lượng giữa 2 bên cho trò chơi chiến tranh bẩn thỉu, dí tay lên xuống những con cờ thí để có phần hấp dẫn như chiến tranh thực sự hầu che mắt thế giới. Họ dùng B-52 để cân bằng 2 đối lực và tiêu diệt trọn gói tại mục tiêu là căn cứ hậu cần 604 thay vì phải thi hành kế hoạch rã-ngũ sau nầy, nhưng Tướng Haig thất vọng vì sự ngang ngược của TT Thiệu, cho một đơn vị nhỏ xuống Tchepone đái một bãi rồi rút về.

                    Vấn đề quan trọng trước mắt, Abrams muốn phải khóa chặt phòng không của BV vì quá nguy hiểm cho phi công trực-thăng Mỹ, số thiệt hại trong 3 tuần nầy đã lên cao đến độ chóng mặt; Chuyện nầy sẽ gây ra sự mâu thuẩn và đụng chạm dữ-dội giữa Hội-Đồng NSC [Tướng Haig] và Tướng Abrams! Nhưng phản ứng của Abrams hoàn toàn đúng, vì phải gìn giữ uy-tín quốc-gia và sinh mạng của các phi công trực-thăng (sự hy sinh cho mưu đồ “khổ-nhục-kế” như vậy cũng đã quá lắm rồi, phi công oanh tạc Bắc Việt không được xử dụng hoả tiễn, bom vô tuyến điều khiển [no Laser targeting pods or Smart bomb] mà phải xử dụng bom nổ thường và làm mỗi prep 2 trái 2 bên cánh cho gọi là sự thăng bằng, có như thế mới tiêu thụ được hàng tiêu dung].

                    Phải nhiều tháng sau, thời gian coi cho được, Tướng Haig mới kiếm cớ “bứng” được Tướng John D.Lavelle, Tư-Lệnh Đệ 7 Không-Lực (Seventh Air Force) và thay vào đó, Tướng John Vogt; Tướng Tham-mưu trưởng Không quân triệu hồi Tướng Lavelle về nước và cách chức vì lý do vi phạm luật quy-ước ROE (Rules of Engagement) và cho về hưu liền sau đó, chỉ có lãnh được lương 2 sao thay vì 4 sao. Hội-đồng buộc tội cho là phản ứng chậm-chạp, quá nhiều do-dự, không thích ứng theo kịp chiến trận. Còn phía WIB thì hiểu ngầm rằng vì phải bảo-toàn không-lộ và để xoa dịu làm vừa lòng Liên Xô, sau khi buộc phải tiêu diệt CSBV bằng chiến dịch thả Bom Linebacker thay vì Rolling Thunder để cân bằng lực lượng hai bên [theo tài liệu, chỉ có 2 tuần trước khi chấm dứt cuộc hành quân, CIA đã cho lệnh trải thảm 412 trận B-52 trên đầu lính BV, luôn cả các đoàn xe Molotova chở đạn dược hỏa tốc để phục kích QLVNCH rút lui trên đường 9, thay vì lính BV được lệnh Tướng Giáp, lo chuẩn bị phục kích và xa luân chiến tại Căn cứ hậu cần 604. Hành động khẩn cấp nầy, Hoa kỳ đã vi-phạm điều lệ trò chơi ROE từ chiến dịch “Rolling Thunder” qua “Linebacker”]

                    Theo như sự ước tính tình báo của phòng MACV J-2, thì Trung-đoàn 29 của Sư-đoàn 324B đã có tham chiến chung với 6 Trung-đoàn BV tại chiến trường, được chia ra thành đơn-vị nhỏ là 21 tiểu-đoàn. Trong đó coi như 5 tiểu-đoàn BV bị xóa sổ; Tuy nhiên nhiều chiến thắng trên đoạn đường Quốc-lộ 9 đang xãy ra có lợi cho VNCH trong những ngày gần đây, nhưng không biết tương-lai sẽ ra sao? Tất cả 7 Trung-đoàn BV nầy đã vây hãm Đồi-31 cả tuần nay với quyết tâm dùng trận địa pháo tận diệt, vì quân VNCH đã lọt vào ổ hậu cần với vô số kể Hỏa tiễn 122 ly và các tạc đạn pháo binh đủ loại trong đó đáng kể là tạc đạn 152 ly. Quân BV đang dồn hết nổ lực, phối hợp trận địa pháo cùng chiến xa, bươn càng lên Đồi 31; Trong khi Tiểu-đoàn 39 BĐQ bị áp lực quá mạnh nên đành di tản chiến thuật về hội nhập với Tiểu-đoàn 21 BĐQ. Sau khi 2 Tiểu-đoàn nầy giữ được an ninh thì được Trực-thăng Mỹ bốc về Khe Sanh liền tức khắc để tái phối trí qua giai đoạn-2. Quân lực VNCH không có quân để thay, nhưng BV có quân thay tại Trung tâm huấn luyện ngay trận địa.

                    Khi chở Tướng Đống đến thăm Lữ-đoàn-3 Dù, tại Đồi 31, Tôi đã nhận thấy tình hình và địa thế không ổn, Tôi đã tự hỏi: “Ai là người đã chọn địa điểm nầy?” Trên một đỉnh đồi không cao lắm so với xa về chung-quanh như là một lòng chảo Điện Biên-Phủ, con đường từ dưới Suối lên đến bải đáp Trực-thăng là đồi trọc, PT.76 leo lên rất dễ-dàng và từ đó leo lên thêm khoảng 80 thước nữa là tới BCH/Căn-cứ cũng đường đồi thoai thoải như vậy. Không khó lắm! Tôi muốn lập lại một lần nữa: “Ai lập ra phóng đồ hành quân Lam-Sơn 719 nầy?” Quân-lực VNCH đã chui vào một kho đạn khổng lồ mà bên phía BV đã thành lập mật trận B.70 từ tháng 10 năm 1970, cả những năm trước đó mỗi ngày, hàng ngàn xe Molotova nối đuôi dài như kiến, vào ban đêm chuyển tiếp liệu vào Nam, dưới tầm mắt thản nhiên đồng tình của phản gián CIA. Riêng những điểm cao ngõ ngách, số đạn phòng không được xe-thồ đưa vào, và được khuân vác trên lưng đoàn dân-công leo lên những vách núi cheo leo dựng đứng bên phía sườn Tây vô cùng an toàn của dãy núi. (Hình ảnh ở trang 90 do phóng viên Ðông-âu chụp)

                    Mục đích của cuộc hành quân nầy, theo Hội Đồng ANQG (NSC) là tiêu hủy những vũ khí và chiến cụ lỗi thời của hai đối thủ và kế đến là tiêu hủy những đơn vị sừng sỏ chủ lực của Hai bên, trong lộ-trình hoàn thành định-đề-1, [kế-hoạch Pennsylvania] để khi giao miền Nam không bị ‘tắm máu’ mà chỉ bị ‘rỉ máu’ thôi, nhưng phải đợi khi Quân-lực VNCH khai thác chiến trường trong giai đoạn-3 và trên đường ‘Độc đạo rút về’ lại Khe-Sanh. Hà Nội sẽ dùng chốt chận bằng các Trung đoàn phục kích dọc tuyến Quốc lộ 9 để tiêu diệt cho bằng hết lực lượng VNCH còn lại, dĩ nhiên B-52 cũng làm thịt cả 2 bên. Nhưng việc phục kích vĩ-đại đó không xẩy ra vì quân lực VNCH rút lui khá nhanh (lần nầy nhờ T/Thống Thiệu nên thoát khỏi nhưng lại vướng-mắc khi rút lui đường 7 Cheo Reo, Phú Bổn từ Pleiku của Quân đoàn 2. Lê Ðức Thọ nhờ được điệp-viên Phạm Xuân Ẩn cho tin vô cùng chính xác trong chiến dịch Hồ Chí Minh, đồng thời CIA đã không giữ lời hứa giúp máy cày D-4 và hệ thống cầu dã-chiến cho cuộc lui binh như họ đã giúp trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 nầy. Tướng Phạm Văn Phú vì đặt hết tin tưởng nơi người bạn lớn khi ông còn là Tư lệnh SÐ/1, nhưng khi là Tư lệnh QÐ/2 thì bị một sự bội phản quá phũ phàng giữa quân đội anh hùng bị đồng minh lừa gạt thế nên Tướng Phú đã phải dùng độc dược như Cụ Phan thanh Giản để các nước nhược tiểu đừng quá tin vào người bạn lớn xấu-xa nầy.

                    B.52 không được tiêu diệt nhân mạng vào lúc nầy, thế nên, khi các Trung-đoàn BV tràn ngập vào Đồi-31 thì B.52 không thả, nhờ thế mà Đại-tá Thọ và Phi hành đoàn trực thăng H.34 của Trung úy Chung Tử Bửu bị mắc kẹt mới còn sống để đi ở tù ngoài Bắc. Nguyên một Tiểu-đoàn-3 Dù phải chịu cảnh tàn sát dưới biển lửa của hằng chục ngàn ngàn trái đạn đại pháo cầu vòng đủ loại vùi dập, và họ đã anh dũng tử thủ cho đến hơi thở cuối cùng. “Tội nghiệp, ai biết được các chiến sĩ Dù vô danh nầy đã nằm yên vĩnh-viễn trên một ngọn đồi không người biết tới cùng với 2 Queenbees của LÐ51TC?”
                    Last edited by Phòng Trực; 10-27-2012, 04:29 PM.

                    Comment

                    • vinhtruong
                      Super Member
                      • Jun 2010
                      • 1924

                      #11
                      Cấp-cứu 2 PHĐ/233 từ “tữ-địa”


                      Như thường lệ, chúng tôi phải cất cánh sớm nhất để có mặt tại tọa độ vùng hành quân của Dù chịu trách nhiệm, Tuy nhiên, đôi lúc tôi cũng xé rào để ‘xẹt’ về điểm hẹn Lao-Bảo, hầu đưa hoặc đón mấy thằng Em đi và về để khỏi bị phòng không bắn rơi. Các vùng yểm trợ cho Dù cũng đang đụng nặng vì chúng đang đổi chiến thuật, từ sư-đoàn chia ra thành các trung đoàn biệt lập chụm lại mục tiêu với mong lấy thịt đè người bằng xa luân chiến như vừa đụng với TĐ/39 và TĐ/21 BĐQ trong mấy ngày qua. Mỗi trung đoàn lần-lượt áp đảo một tiểu đoàn quân lực VNCH, chớ không có lẻ-tẻ như trước. Thường thường chúng tôi tác xạ vào các bụi rậm trước mặt đường tiền sát của quân Dù khoảng 150 thước, trong lúc Dù xung phong tiến lên chiếm cao điểm, nên họ tiến chạy với sự vững tâm tin-tưởng vào hoả lực yểm trợ của gunship VN. Khi chúng tôi cần rời họ, thì xin phép khoảng 45 phút hay 1 giờ để đi đổ xăng, tái trang bị hỏa-lực, tức thì Dù điều động án ngử bức tường thành phòng thủ kiên cố và chúng tôi sẽ trở lại liền, trong khi đó họ dừng quân nghỉ xả hơi đôi chút, hoặc điều chỉnh lại súng đạn. Riêng tôi có cơ hội để hướng dẫn đàn em ra vào tránh được các tụ điểm phòng không AAA khiếp đảm. Cái ám ảnh trong trí óc tôi là chấm dứt ngay sự chết chóc cho con em mình.

                      Hôm nay, ngày 28/Feb/1971, Một đơn-vị Dù/TÐ2 mới vừa rút khỏi Đồi-30, trong sương mù với năng kiến độ hạn hẹp, đang đụng độ nặng với Trung-đoàn 29 của Sư-đoàn 324B, cách đây 3 tiếng, tại một tọa độ phía tây/nam Đồi-30, cái tệ hại nhất là thời tiết còn sương mù, nên không có sự can thiệp của phi-cơ chiến-thuật. Chúng tôi lại buộc phải rời vùng vì Hoa-kỳ đang mở một hành lang hỏa lực từ 10 giờ 45 với 42 khẩu đại pháo tiền tác xạ để sau đó 15 phút, các phi cơ chiến thuật sẽ làm-cỏ chỗ nào chưa bị pháo tác xạ. Đúng 11:30 giờ sẽ có một đoàn trực-thăng Mỹ gồm 20 slicks có 8 Gunship-Cobra theo yểm trợ. Bay vào tản thương, luôn tiện tiếp tế số lớn đạn dược rất cần thiết.

                      Chúng tôi phải rời vùng đổi qua yểm trợ cho đơn-vị Dù thuộc Tiểu-đoàn-3 bị thất lạc ở hướng tây, cách xa hành-lang hỏa lực yểm trợ cho Đồi-30, trong phạm-vi an-toàn ở phía Tây vài cây số. Bỗng tôi nghe trong tần số FM, 42.5, Kingstar 4 và 5 đang cất cánh để tản thương và tiếp tế cho căn-cứ hỏa-lực Hồng-Hà 2, đúng 10:50 theo đồng hồ của tôi. Tôi nghe nói được Gunship-Cobra yểm trợ, linh tính tôi bắt đầu lo (trong Không-quân, lấy giờ bay và thâm niên làm gốc, thế nên Kingstar-4 với cấp bực nhỏ hơn [thiếu-úy] nhưng thâm niên trong Phi đoàn, lên làm Lead hướng dẫn hành quân) trên đường bay tới Hồng-Hà-2 khoảng chừng hơn 20 phút; vùng nầy phòng không chưa đáng sợ, nhưng điều quan trọng nhất là HH2 đã bị địch bao vây cả mấy ngày nay, tất cã đại bác 105, và 155ly của ta đều bị tê liệt bới 152ly xuyên phá. CSBV khóa chặt căn cứ nầy bằng trận địa pháo cường tập ngay khi nghe tiếng trực thăng bay vào bằng cối 120ly và đại bác xuyên phá 152ly, 130ly và chúng đang chờ đợi Trung đoàn chiến xa 202 từ hướng tây/bắc xuống đến để tiền pháo hậu xung và tràn ngập sau đó như trận chiến vừa qua tại Ðồi-31, rồi Ðồi-30, rồi đến đây. Dĩ nhiên Hoa kỳ thẳng thừng từ chối không bay vào yểm trợ. Nếu như tôi hưóng dẫn thì phải ít nhất hơn nửa tiếng, vì phải bay vòng và sát ngọn cây, tạo ra sự bất ngờ theo như chiến thuật đột-kích trên đường mòn HCM. Nghĩ đến đây, Tôi bắt đầu rùng mình và lo lắng cho con em mình! Căn-cứ Hỏa-lực nầy được chiếm lĩnh bởi Trung-đoàn 3/SĐ1BB, đây chỉ là một ngọn đồi nhỏ nằm lẻ-loi, với cao độ hơn 600 thước cách mặt biển, sâu qua đất Lào khoảng chục cây số. Dù rằng một ngọn đồi nằm lẻ-loi nhưng nơi đây là một cứ điểm rất quan trọng, như một đài quan sát và yểm trợ bao quát cho cuộc hành quân, chận ngay yết hầu của đường mòn Hồ. Căn-cứ nầy có 2 bải Trực-thăng, cách các Bunkers không xa, hơi thấp xuống một chút là một bải Trực-thăng lớn dùng để câu móc súng và xe nước uống và lưới đạn.

                      Trước khi đi bay, Bộ chỉ huy Hàm Nghi cho biết, tình hình có nguy hiểm nhưng không đến nỗi. Các tin-tức tình báo cũng như quân báo đều phải che dấu một ít, vì sợ anh em Không-quân từ chối phi vụ như Không-kỵ Hoa-kỳ; Sự thật Căn-cứ nầy đã bị bao vây trong mấy ngày nay… Theo tôi nghĩ rồi định mệnh cùng số phận cũng giống như Đồi 31, 30, LZ North, LZ South của BĐQ. Bây giờ chỉ còn là chờ đợi từng giờ từng phút sẽ xảy đến mà thôi, Hoa-kỳ đã từ chối là Hot LZ nên không chịu đáp, không trách vì họ đã chịu quá nhiều tổn thất, rơi rụng xung quanh Căn-cứ nầy, điển hình là nằm chần-dần trên bải đáp của pháo đội 155 là chiếc Trực-thăng khổng lồ CH-53 Stallion, USMC màu xanh rêu, và nằm kề là chiếc Trực-thăng OH-6 màu olive.

                      Hai chiếc UH-1 của mình và Hai Cobra đang bay trên 5,000 bộ, sau một buổi sáng sương mù khá dầy đặc, bây giờ thời tiết thật tốt chỉ còn đọng lại với những lớp sương mờ buổi sáng thoang-thoảng không đáng kể, bốn chiếc đang hướng về Căn-cứ Hỏa-lực HH2. Tôi, vì linh tính nghi ngờ nên dặn Co-pilot của Kingstars phải để tần số VHF liên-lạc với tôi thường xuyên. Tôi lo nhất là lúc 2 chiếc Hueys đang đến LZ, giảm cao độ, làm cận tiến để đáp, nếu mấy thằng bộ-đội anh hùng thì nên bắn vào phi cơ có võ trang như 2 chiếc Cobra nầy, mà chừa ra 2 chiếc hiền lành đang cứu sự đói, khát cho quân bạn.

                      Bỗng trong nón bay, tôi nghe qua tần số VHF “Phòng không đủ loại, từ nhiều cao điểm chung-quanh bắn lên từng cụm khói trắng như hoa giăng, chúng tôi đang xuống…!” Rồi bỗng dưng tắt lịm, một sự yên lặng dễ sợ như nhói quặn trong tai. Tôi vặn tối đa Volume của máy VHF và hồi-hộp đợi chờ, Tôi để Wing Lưu lên làm Lead và người học trò của tôi cứ bay theo chiếc Lead làm vòng chờ. “Vẫn chỉ còn một sự yên lặng nặng-nề trôi qua trong nón bay, làm tôi cảm thấy như muốn nghẹt thở”.

                      Có tiếng rồ rồ trong nón bay “Cobra của Mỹ, bắt đầu tách khỏi chúng tôi ‘prep’ vào ổ phòng không cạnh sườn đồi trọc… Họ phóng Rockets chống biển người, phụt ra toàn màu Hồng-đỏ” Nghe tới đây tôi có một chút an-tâm, vì chúng phải lo chống cự với Cobra mà quên 2 thằng em của mình! Nhưng bỗng nhiên Tôi lại nghe: “Mấy thằng Cobra nó gọi nhau, trên tần số Guard: “Ground Fire… Ground Fire… get-out the fucking place” Rồi nó bay đâu mất tiêu! Những trái đạn đại bác phòng không từ tứ phía bắn lên nổ từng đám khói như những cụm bông gòn càng lúc càng nhiều… bao quanh chúng tôi” nhiều nhứt là phòng không 37ly

                      “Rồi các anh em đang làm gì… đã đáp xuống chưa?”

                      Tôi chẳng còn nghe tiếng trả lời, mà chỉ còn nghe trong nón bay tiếng đại-liên M.60 của Kingstars đang nổ dòn. Chắc Kingstar đang chuẩn bị đáp, tôi lặng thinh và cầu nguyện cho 2 Kingstars; Vừa đang cầu nguyện, tôi nghe: “Tàu trúng đạn quá nhiều … Lead Trưởng phi cơ Phúc bị thương, đèn đỏ báo nguy nổi lên mọi nơi…trên Panel… báo cáo đã đáp xuống được rồi…”

                      Thiếu-úy Phúc TPC đã bị một mảnh tạc đạn xuyên bể đầu gối. Cả Phi hành đoàn dìu nhau chạy xuống các giao-thông hào ẩn trú, chỉ còn cầu mong chiếc thứ 2 của Trung úy Đạt xuống cứu. Nhưng khi chiếc thứ 2 vào đáp thì cường độ pháo kích càng ác-liệt hơn, phải né qua bãi đáp của Pháo-binh, thì toàn là Trực-thăng Mỹ đã bị bắn nằm ụ nơi đó. Nhưng Trung-úy Đạt cố tâm muốn cứu Phi hành đoàn nên cứ nhào vô hover bên cạnh chiếc 1 đã tắt máy nhưng cánh quạt vẫn còn quây chậm. Cuộc pháo kích của BV mỗi lúc càng thêm dữ dội hơn, khiếp-đảm đến nỗi Phi hành đoàn bị nạn không dám lú đầu ra khỏi bunker vì lưới đạn cầu vòng đủ loại đang chụp xuống bãi đáp, vung vãi bụi cát bằng hằng hà vô số mảnh đạn đến nỗi phi hành đoàn lâm nạn không dám ló đầu ra khỏi bunkers để phóng lên trực thăng số 2 của Đạt. Trên căn cứ hỏa lực nầy, dưới con mắt của Kingstars là một bãi tha ma, với nhiều cộc sắt hàng rào kẽm gai bị đào xới bởi hằng hà vô số những hố đạn pháo sâu-cạn chồng chất lên nhau, trên các giao thông hào, lốm đốm rải rác khắp nơi những cánh dù tang trắng hoả châu, những xe nước trống trơn không còn một giọt nước vì mảnh đạn loang lỗ cạnh những lưới đạn vừa thả xuống là bị phá hủy ngay. Chỉ có Kingstars là những nhân chứng sống thực, đây quả thực địa ngục trần gian, một chiến địa kinh hoàng. Làm sao thân xác con người có thể tồn tại để hứng chịu khi buộc phải liều mình chui vào màn lửa, khói, mảnh đạn vung vãi để nhảy phóng lên chiếc số 2 đang hover cạnh chiếc 1, kể cả con Kiến cũng không thoát khỏi sự chết dưới ổ Kiến nằm cạn trên mặt đất. Kingstars-4 đành núp sâu dưới bunkers chờ cơ may.

                      “Hover sao lâu quá vậy!” Trung úy Ðạt nóng lòng cứu bạn, nhưng Ðạt có biết tất cả trực thăng rớt trên các Căn cứ hỏa lực đều bị bão cát mảnh đạn vung vãi làm bộ phận nhạy cảm cánh quạt đuôi bị tê liệt mất phương hướng phải quây đầu rơi xuống đất. Trong nháy mắt, anh lính Bộ-binh tháp tùng cùng Cơ phi và Xạ thủ đang đẩy các đồ tiếp viện xuống đất giữa những tiếng nổ kinh hoàng của đạn pháo đã điều chỉnh sẳn từ lâu. Thình lình anh Xạ-thủ thét lên: “tôi bị thương rồi!” Trung úy Ðạt buộc phải bỏ ý chí cứu bạn! Làm sao tránh khỏi trận bão cát bằng các mảnh đạn vung vãi từ tứ phía rải đến như thế nầy!? Không còn cách nào khác, Trung-úy Đạt phải cất cánh để tránh khỏi mục tiêu đang bao phủ đầy cụm khói và lửa, dù phải dùng sức máy tối đa, lấy hướng nào thuận lợi để tăng tốc độ càng nhanh càng tốt, hầu tránh xa vùng tử địa. Sau khi luồn-lách giữa các cột khói trận địa pháo, thay vì cấm đầu bay xạt trên ngọn cây luồn lách theo thung lủng trên đám rừng già ở hướng tây-nam, như Queenbee Yên đã làm nơi Ðồi-31, liền sau khi nghe lệnh của Lead Chung tử Bửu, “không được vào đáp…” thì Trung úy Ðạt lại bị một lỗi lầm vì thiếu kinh nghiệm, nên cố lấy tốc độ an-toàn leo cao cho lẹ làm cho mục tiêu gần như cố-định mông lung trên không gian, ít linh hoạt trong sự xê dịch như một mục tiêu dễ nhắm, để rồi phòng không tứ phía chụm vào chỉ có một mục tiêu duy nhứt đơn côi là Kingstar 5, những cụm bông gòn hòa lẫn với những cục lửa xẹt lên bao quanh con tàu côi-cút ngơ ngác lạc-lõng đến tội nghiệp, rồi một cục lửa khác đã nhẫn tâm chui vào bộ phận Transmission phát nổ sau lưng con tàu, lửa và khói qua dầu transmission mù-mịt đang bao trùm con tàu, không biết còn những gì sẽ xảy ra nữa đây (Phải là loại đạn đại bác cổ điển chạm nổ, 37 hay 57ly) Trong tần số Guard tất cả mọi Phi hành đoàn đều nghe tiếng kêu thất thanh thảm thiết của Trung-úy Đạt, “May day…May day…!” Trong lửa và màn khói mù mịt, Trung-úy Đạt cố bình tỉnh mở đôi mắt to hơn, cố gắng đưa con tàu đáp ép buộc, làm cách nào cứu sống được Phi hành đoàn đây? Không còn cách nào khác là phải “đáp ép buộc” (autorotation) xuống một thung-lũng trước mặt, vì nếu chần-chờ là con tàu có thể bị nổ tung trên không. Rừng cây càng lúc càng gần, trong nháy mắt, thì con tàu đã rơi trúng ngay một khoảng rừng-chồi vang dội một tiếng ầm khô khan, rồi con tàu nằm gọn giữa các chồi cây đâm thọc vào nhưng không lật, hai càng đáp skids chèn bẹt qua hai bên. Mọi người không ai bảo ai, vội vã thò chân xuống đụng đất ngay, buớc ra trên lớp bụi cỏ còn ẩm ướt hơi sương, giữa tiếng kêu rên của anh Xạ thủ đã bị thương. Người chiến sĩ Bộ-binh tháp tùng đang dìu anh xạ thủ và liền ngay sau đó mọi người chạy ù tới cùng phụ đỡ anh xạ-thủ mau ra khỏi con tàu. Tất cả mọi người dìu nhau chạy đến một khoảng trống dễ nhất ở phía trước vào khoảng 20 thước, lửa đã liếm tới bình xăng bùng nổ thiêu rụi con tàu cùng một số đạn 7,62ly còn lại, trông như một cục lửa xẹt ra xanh đỏ đủ màu, to lớn, khói đen tỏa lên nghi-ngút cả chục thước cao hiện rõ trên bầu trời dưới bốn con mắt của OV-10 FAC vần-vũ trên đó.

                      Trung úy Đạt, bắt đầu lấy lại bình tĩnh và hướng dẫn đoàn viên bị nạn về lại HH 2, vì cách đây cũng không xa lắm, dù chỉ là những khẩu P.38 hộ thân thôi, nhưng Phi hành đoàn vẫn cầm lăm le nơi tay, chỉ cốt để giữ vững tinh thần trên đường tháo chạy. Nằm sâu dưới thung-lũng, chung-quanh bao-bọc bởi cây rừng, nhấp nhô lên xuống bởi những đồi non trùng điệp. Họ đã bươn bả vẹt bờ bụi cây mà quên đi những gai rừng còn dính lại trong thân thể, những vết trầy, xây xát trên da thịt như không còn cảm giác nhức nhối đối với họ. Đoàn lữ hành bất đắc dĩ đang phát hiện ra HH 2 ở trước mặt, phần lớn là nhờ thấy được khói của đạn pháo kích bốc lên từ Căn-cứ.

                      Bất chợt, Trung-úy Đạt nhìn lại định hướng đi được bao xa, và nhìn thấy con tàu vẫn còn ngùn-ngụt một cột khói đen, nằm giữa thung-lũng bốc thẳng đứng lên giữa bầu trời trong xanh, Họ đã cách xa nơi bị nạn được một nửa cây số, mà tâm trí họ cứ nghĩ như đã vượt qua cả chục cây rồi! Sau bao lần bị bụi rậm bám cột chặt vào từng bước chân, lạc lõng giữa những thảm cỏ Voi dày đặc, trời quá trưa nên rất oi-ả, sức nóng thiêu đốt, họ vừa mệt, vừa khát, nhưng vẫn phải tiếp-tục leo-trèo trên những tảng đá đầy gai nhọn, dây rừng chằng-chịt, nhưng họ vẫn phải cố gắng dung rủi dìu người bạn xạ thủ đang bị thương, miệng khô đắng đến độ như con khô mực nhưng nước ở đâu mà mồ hôi cứ tươm ra?

                      Thỉnh-thoảng những tràng AK của lính BV nổ dòn dã như dọ dẫm, hù dọa cùng những tiếng bằng giọng Bắc nhà-quê la hét từ trên đồi cao dội xuống thung lũng: “Bắt nấy chúng nó…những thằng giặc nái máy bay nên thẳng!” Họ dìu nhau bươn chạy cũng được hơn 2 tiếng, bây giờ đã leo lên được hơn nửa ngọn đồi. Nơi nơi đều có mùi xác chết xông lên nồng-nặc, xác chết nằm rải-rác từng cụm cạnh các bụi rậm, thân-thể họ bị Bom Mìn băm nát, AK và B.41 nằm bên cạnh xác người, thật là rất tội nghiệp cho thân phận “sinh Bắc tử Nam”. Tuổi còn quá trẻ mới 16, 18 xuân xanh đã bị chôn vùi nơi đây cùng cảnh ngộ với cỏ nội hoa ngàn, không một búp hoa rừng nào được đua hoa nở nhụy vào mùa Xuân đang rộ, bởi bom đạn tơi bời cày nát vùng hoả tuyến, đó đây để lại màu tang trắng của cánh hoa dù mà hàng đêm ánh mắt hỏa châu như khóc thương cho các chiến sĩ vô danh của cả dân-tộc phải chịu hy sinh nơi chiến địa. Đây là hậu quả của nhiều lần tấn kích bằng biển người vào Cứ-điểm HH 2 nhưng thất bại vì Trung đoàn/3 chiến đấu kiên cường và quyết liệt.

                      Còn chừng 200 thước nữa là tới đỉnh đồi, Trung úy Đạt dừng lại, vì biết Mìn Claymore và lựu đạn đầy dẫy chung-quanh chu vi của Căn-cứ. Được lệnh, đoàn lữ hành thả người xuống đất, nghỉ mệt với tràn ngập niềm vui là được thoát chết. Rớt máy bay trong rừng rậm mà không mất mạng là một điều hy-hữu, sau đó sống-sót rồi lại lội rừng đi tìm quân bạn thì quả là một sự mầu nhiệm do ơn trên áp đặt và ban cho? Trong linh cảm của tôi, những người nầy theo định mệnh phải được cứu thoát! Lính gác cũng như Bộ-chỉ-huy của Trung-đoàn-3 đã đặt ống dòm nhìn xuống và theo dõi đoàn lữ hành tả tơi gồm 5 người đang lù lù dìu nhau lủi tới, họ đã dìu dắt đùm bọc nhau đến được chu vi của Căn-cứ, “Ôi cao quý thay cho tình huynh đệ chi binh của phi hành đoàn vùng Hỏa-tuyến!” giữa cảnh núi đồi, đầy dẫy chông gai, nguy hiểm. Bổng một tiếng thét ‘dễ thương’ vang lên lồng-lộng trong gió “Giữ nguyên vị trí, Chúng tôi sẽ gởi người xuống hướng dẫn các anh lên”.

                      Vài phút sau, một anh Lính của Trung-đoàn, cẩn thận đi xuống và tránh từng quả mìn, rồi dẫn đoàn người lâm nạn đi ngược lên đồi, vào một cái hầm rất kiên cố, chất lên bởi vô số lớp bao cát. Lúc nầy là khoảng 3 giờ chiều định mệnh, cả 2 Phi hành đoàn Kingstar bèo nhèo gặp nhau nửa mừng nửa sợ; Nhưng họ được cho biết sẽ có Trực-thăng của Phi đoàn 213 đến cứu, hãy bình tĩnh cầu nguyện và chờ đợi.

                      Tôi không thể bỏ phi vụ tác xạ cho Dù mà bay về HH 2 cứu Kingstars được. Vì sáng nầy sương mù đã không cho phép các Phi cơ chiến thuật bay vào yểm trợ, lựa vào dịp nầy, 2 Trung đoàn BV đã tấn kích làm tan rã, tràn ngập (overrun) một lực lượng Dù đang lục soát dưới chân Đồi-30. Tôi phải đi tìm họ để hướng dẫn gom các con cái về một chỗ, để cho Trực-thăng Mỹ bốc đi nơi khác nhập vào với Lữ-đoàn cơ hữu.

                      Chiều hôm qua, tôi có phàn nàn với Tướng Đống, về hành động của Dù đối với Phi hành đoàn PĐ.219 rất can đảm và thiện chí yểm trợ nhiệt tình, đặc biệt với Dù, nhưng anh em Dù áp lực chúng tôi như một “con tin”, hậu quả tất cả đoàn viên đều trong tình trạng mất tích, không biết số phận họ sẽ ra sao! Còn như Trực-thăng tản thương thì họ nhào lên quá nhiều, nặng đến nỗi tôi phải ra lệnh không cho Phi hành đoàn đáp xuống mà chỉ có hover lưng-chừng hơn thước để họ đem thương binh lên mà thôi. Việc ưu tiên là sinh mạng của Phi hành đoàn đây là lệnh ngoan-cố của tôi nơi chiến trường bất chấp hậu quả về quân kỷ, Tôi nhận thấy Tướng Đống yên lặng lắc đầu, hai môi thâm đen run-run không nói một lời, Tôi vô cùng cảm thông cho nỗi khổ tâm của một vị Tướng lãnh đạo, và tôi vội rời xa chỗ đó liền lập tức, gần như muốn chạy trốn…

                      Căn-cứ HH 2, sau nhiều đợt bị pháo rất chính xác do đã điều chỉnh trước, của các tạc đạn đủ loại, và đạn pháo 152 ly nổ chậm đã hủy diệt các ổ pháo 155, 105 ly của ta và cả ngàn quả Hỏa-tiển 122 ly, 107 ly đã làm rúng động tinh-thần binh-sĩ. Đã bị bao vây hơn tuần nay, Trung-đoàn không nhận được tiếp viện vì Hot LZ nên Mỹ không chịu vào. Hết thực phẩm, hết nước uống, và hết đạn dược nên không còn cách nào khác là phải chờ đêm tối sẽ rút ra khỏi HH2. Bộ Chỉ Huy của Trung-đoàn đã quyết định vào tối đêm nay sẽ thi hành. Dù rằng có quan sát OV.10 đang hướng dẫn cho F.4 Phantom oanh kích cách đồi không xa lắm. Chiếc Bronco OV.10-FAC (Forward Air Control) đang hướng dẫn giội Bom vào chiếc Kingstar-5 rớt dưới thung-lũng, Đoàn viên lâm nạn, từ cao điểm nơi bunker nhìn xuống, qua công sự phòng thủ: Phantom đang nhào xuống thả vào Kingstar-5 của mình, lửa bùng cháy mà chẳng thấy nao-núng chút nào cả. Thôi rồi, một chiếc F.4 bị trúng đạn phòng không, khói phun dưới cánh, nhưng không nổ trên không, chiếc thứ 2 kè bên cạnh, bay về hướng Tây của Căn-cứ Udon, Thái-Lan.

                      Người chỉ huy lớn nhất còn lại ở Bộ-tư-lệnh Tiền-phương là Đại-úy Trần-Duy-Kỳ (Sau khi tốt nghiệp khóa Tham Mưu ở Mỹ về, tôi được bổ nhiệm ra PĐ213, trong các sĩ-quan phi hành, Kỳ là con người giàu tình cảm và rất chịu khó học hỏi, nhưng rát kỷ-luật, Tôi đoán: Anh sẽ thành công trong cuộc đời binh nghiệp. Tôi cũng thường tâm sự với Kỳ trong những chuyến thả và cứu Biệt kích, có đôi khi vì tiết kiệm mạng sống của chiến hữu, nên Tôi chỉ bay có một mình vào vùng lửa đạn để cứu các biệt kích) Sau buổi chiều hôm qua, lúc tôi phàn nàn với Tướng Đống về việc Dù áp lực Phi hành đoàn, thêm vào đó, lúc 2 giờ trưa nay (ngày 28/2/1971) khi Trung-tướng Hoàng Xuân Lãm hay tin 2 chiếc Kingstar bị bắn rơi, nên đã ra lệnh không được gởi Trực-thăng vào cấp-cứu nữa vì quá nguy-hiểm, chỉ phí thêm Trực-thăng mà thôi. Lệnh của Tướng Lãm ban ra quá trễ sau khi các căn cứ hỏa lực đều phơi xác không biết bao nhiêu trực thăng và phi hành đoàn của LÐ51TC, tơi tả rơi rụng nơi đó, trong vài giờ sau rồi một lần nữa các trực thăng nầy lại bị hủy diệt bằng các tạc đạn kế tiếp tạo nên đám khói đen dựng đứng thấu trời xanh. Nhưng chúng tôi quyết ấp-ủ câu châm ngôn không bỏ anh em không bỏ bạn bè dù bất cứ trường hợp nguy biến nào cũng phải bay xông vào biển lửa để cứu bạn!

                      Thấu hiểu được nghịch cảnh nầy, theo sự hiểu biết tình hình của chiến trận, vì tôi đã bay và theo dõi hằng ngày, hằng giờ từ diễn tiến cuộc chiến. Quân Bắc-Việt chưa tấn kích HH2 vào lúc nầy, họ chỉ bao vây khống chế khoá chặt bằng trận địa pháo đã điều chỉnh rất chinh xác và chờ cho được Trung-đoàn Chiến-xa 202, chủ yếu là PT.76 đến để leo đồi, qua thế trận “Tiền pháo hậu xung dưới sự yểm trợ của PT.76” như đã tràn ngập tại Ðồi-31, rồi Đồi-30. Nơi đây CSBV có 3 Tiểu-đoàn Chiến-xa, nhưng tuần vừa qua đã bị EC.130B phối hợp quần thảo chỉ trong một đêm thôi, mà đã loại ra khỏi vòng chiến 1 Thiết-đoàn, bây giờ quân BV vẫn còn 2 Tiểu-đoàn Chiến-xa T.54 và PT.76. Họ phải chờ Chiến-xa bằng mọi giá, vì Họ đã thử cả chục lần nhưng vẫn chuốc lấy thảm bại dưới sự chống trả kiên cường của Trung đoàn/3 BB.

                      Tuy nhiên, trong trường hợp nầy, tôi không dám đốc thúc Đại-úy Kỳ dù một lời bàn ra, hay nói vô về sự am hiểu tình hình chiến sự ở đó, nhưng Đại-úy Kỳ cũng đã biết tiểu sử của tôi là đã bao lần bay H.34 một mình mà không có Cơ phi cũng như Copilot chỉ trừ với một Duncan vạm-vỡ để vào các mật khu, đường Mòn Hồ và nhất là vào tận sào huyệt của Đoàn 559 [Oscar-Eight] cách đây không xa lắm, ở hang núi Tam-Bôi, để cứu các Toán Delta bị địch vây bắt, và phải giành giựt trong tay địch cho bằng được các Biệt-kích SOG, Việt Mỹ để đem về Hậu-cứ. “Nhưng Tôi tiên đoán Đại-úy Kỳ sẽ cất cánh đi rescue đồng-đội.” Vì truyền thống của Liên đoàn Tác chiến chúng tôi là “không bỏ bạn bè không bỏ anh em dù bất cứ hoàn cảnh nguy-biến nào”.

                      Chúng tôi đang ở vào một vị thế nan giải tại vùng hành quân, vì Trung-đoàn 29 cơ động của Sư-đoàn 324B đang tạo ra một sự trở ngại rất lớn cho một Đơn-vị nhỏ của quân Dù thuộc Tiểu-đoàn/8, hai đại-đội trinh-sát Dù đang di tản để bắt tay với Tiểu-đoàn-2 Dù gần đó, cùng một đại-đội TĐ/3 Dù đang bị thất lạc, Tôi quyết tâm gom họ về thành một cường lực để chống đỡ. Chúng dùng Hỏa tiễn 122 ly cường tập, gây trở ngại cho sự yểm trợ tác xạ cũng như tìm cách gom gọn các đứa con lại để băng ngang qua một con suối độc nhất. Thỉnh-thoảng có những cụm khói cùng bụi đỏ mù-mịt từ lừng chừng đồi bắn thẳng xuống thung-lũng. Mặc dù quân bạn có gọi 42 khẩu pháo binh Hoa-kỳ từ biên-giới bắn qua cả 100 tràng và kéo dài hàng giờ, nhưng chỉ cháy mén phía bên vách núi phía Đông; còn vách núi phía Tây thẳng đứng do SĐ 324B cắt đặt những ổ trọng pháo trong đường hầm xem như không hề hấn gì. Chiếc OV-10 Bronco đã hướng dẫn Phi cơ A-6 Intruders chiến thuật thả xuống những trái Bom lớn 750, 1,000 và 2,000 cân anh, nhưng chúng đã khôn ngoan kéo Pháo sâu vào hầm núi, tôi biết chắc là như vậy. Đặc biệt, lần nầy các Phi cơ của Đệ Thất Hạm Đội vào thả; Những chiếc A.4 Skyhawks, đến lượt các chiếc F.8 Crusaders và sau cùng là đợt A.6 Intruders thả Bom lớn; Nhưng tất cả chỉ làm cho Lính BV điếc tai, và chảy máu Mũi chớ cũng chẳng tiêu diệt được một mống nào. Xem như hoả lực cả pháo và phi cơ chiến thuật bị hóa giải qua sự cho tin của phản gián CIA và được thông dịch bắng tiếng Việt của Phạm Xuân Ẩn, chỉ còn lại hỏa lực của B-52 mới thực sự là đối lực cân bằng lực lượng khi cần thiết. Nhờ tam-trùng Phạm Xuân Ẳn mà Tướng Giáp đã cho rằng: “Giáp đang ngồi chần-dần trong phòng hành quân tại Pentagon do Tướng Haig là C&C”.

                      Quân Dù chỉ còn có cách, là nhờ chúng tôi, bằng mọi giá là phải làm sao tiêu diệt cho bằng được, dù chỉ một ổ Sơn pháo 85 ly độc nhất, nằm lưng chừng đồi; chính nó là khắc tinh cho sự di chuyển vượt-băng qua con suối trước mặt. Tôi hứa với Dù, là sẽ về tái trang bị rồi thanh toán, quyết bứng gốc nó sau,

                      “Song chùy 2…đây 1 gọi”

                      “1…đây 2…nghe 5…tiếp”

                      “Chúng ta đổi qua tần số UHF 233.5, O.Kay”

                      “Muốn triệt khẩu Sơn-pháo 85 ly nầy, chúng ta còn cách duy nhất là đợi lúc mặt trời sắp lặn; ánh nắng sẽ che mù tầm mắt của chúng và chúng ta sẽ lấy trục trực chỉ từ Tây sang Đông, mục tiêu sẽ hiện rõ ràng dưới ánh nắng chiều trên sườn đồi phía Tây mà chúng đặt pháo… Về Khe-Sanh, 2-trang bị 38 trái Hỏa tiễn loại 17 cân anh chạm nổ và 6,000 viên đạn Minigun. Còn tôi, trang bị 14 Hỏa tiễn chống biển người cùng 12.000 viên 7ly62, dù rằng không giết chúng, nhưng phải đưa chúng vào tình trạng bất khả dụng (disable) để cho chiếc 2 tha hồ phóng 38 trái Rockets vào ổ súng Sơn-pháo nầy. Một điều rất quan trọng là 1 và 2 không cùng chung một trục tác xạ, bởi vì 70,000 mũi tên nầy phải bắn xuống với góc độ 45 đến 60 độ thẳng góc mới có hiệu quả, không thì đường phi tiển sẽ ngắn lại và trụt xuống không đến mục tiêu, Hai … nhớ giữ cao độ tác xạ dưới 2,300 bộ, sau khi chơi hết 38 trái thì trở về trên đầu quân Dù, nhưng đừng bay cao hơn 2,400 bộ. Khi tôi nói vào trục, Hai… nhớ theo-dõi nhiều vệt khói màu đỏ hồng sau cùng, từng cụm một trải dài đến mục tiêu, ‘Prep’ như vậy vào khoảng 40 đế 45 giây cùng với Mini-Gun 4,000 viên 1 phút, thêm 45 giây nữa là tròm-trèm cỡ 2 phút. “Khi tôi nói ra trục”, thì Hai … nhớ bay cao độ song song ngang tầm mục tiêu, trong khi tôi bay vòng tròn cover bằng minigun 4.000 viên/phút, có như vậy thì những trái Rockets mới xuyên vào được đường hầm, chỉ cần một trái trúng vào mục tiêu là đủ thanh toán chúng:

                      “Okay … Song Chùy 2 hiểu chưa trả lời”

                      “Song Chùy 2…Okay”

                      Song-Chùy 1 quên một điều, chúng ta lợi dụng thời gian tái trang bi hoả lực mà xé rào và cũng đợi mặt trời xuống, chúng ta đi hộ tống Đại-úy Kỳ Rescue 2 Phi hành đoàn lâm nạn đang bị kẹt ở HH 2 trước, Okay rồi trở vào đây yểm trợ sau!

                      Trên đường về tái trang bị, hôm nay sao trời nóng rát, oi-ả lạ thường, hay là vì đầu óc của tôi bị máu dồn lên quá nhiều…? Nhưng bù lại khi màn đêm buông xuống thay vào đó một cái lạnh cắt da của núi rừng; Phòng TOC tại Hàm-Nghi, Khe Sanh cho biết trực-thăng của PĐ 213 sẽ bay vào cứu 2 Phi hành đoàn. BCH Trung-đoàn-3 cũng được đặc lệnh của Chuẩn tướng Phạm Văn Phú đừng gây trở ngại, hỗn loạn khi Trực-thăng vô cứu, giúp đỡ Phi hành đoàn để dìu các anh em bị thương tập trung gần bãi đáp.

                      Tại Cứ điểm HH2, 2 Phi hành đoàn đã quên đi cơn đói, nhưng sự khát nước vẫn hoành hành cơ thể con người không nguôi. Bỗng tiếng ‘bành phạch’ quen thuộc từ hướng Đông Bắc bay tới. Quả thật, sự tiên đoán của tôi không sai, Đại úy Trần-Duy-Kỳ đã đơn thương độc mã, né tránh những vùng có lửa đạn, dựa vào những chướng ngại vật thiêng liêng như muốn bảo vệ cho con tàu, những rừng cây nguyên thủy, với những cây cao vời-vợi không có dấu tích sinh hoạt của con người, thì làm gì dám bay ngang những đồi trọc dưới cả ngàn con mắt quan sát mênh-mông của địch; rừng núi vách đá ‘thiêng liêng’ vẫn là những bức chấn an-toàn cho con người đi làm việc thiện. Chiếc Trực-thăng hiền từ như Mẹ đi tìm Con, nhưng đã lạc mất giữa bãi tha-ma ngập đầy pháo địch, 2 chiếc Slick của PĐ.233 đây rồi, không thấy một ai ló dạng, có phải đây là một ‘Cứ-điểm Ma?’ mà pháo thì tứ phía cứ dồn-dập liên hồi khi nghe tiếng trực thăng bay đến, nã xuống một tiền đồn, rải-rác, ngỗn-ngang chung quanh vài chiếc Trực-thăng lớn nhỏ đủ cỡ… rơi rụng! Một trái pháo rơi nổ cạnh con tàu, làm rung động và lung-lay cả người và vật, có nên ở lại hay không, và ở đây để làm gì? Không thấy ai chạy ra vì pháo địch vùi dập khiếp đảm khắp nơi! Phải tránh xa nơi đây trước đã để khỏi bị trúng tạc đạn của trăm ngàn mảnh đạn chạm nổ vung vãi? Thôi đành cất cánh trở về đám rừng già trước mặt, rồi liên-lạc với quân bạn sau, Làm một vòng chờ trên đám rừng không có dấu vết sinh hoạt của loài người vẫn an-toàn hơn chòi mặt ra đây nơi đồi xanh trống-trải! “Tránh voi chẳng xấu mặt nào” Lên cao độ là bị phòng không tứ phía chụm lại bắn rụng tả tơi ngay! Trung úy Ðạt vì thiếu kinh nghiệm nên phải lãnh hậu quả thê thảm như vậy. Bằng mọi giá Đại-úy Kỳ liên-lạc với BCH Trung-đoàn-3 và xin được nói chuyện trực tiếp với Phi hành đoàn để xác định rõ vị trí. Pháo hạng nặng của BV trên đồi trọc cao nhìn xuống, cứ thấy Trực-thăng đáp là chúng tha hồ nã pháo. Sau khi liên-lạc được với Tr/úy Đạt và nắm vững chi tiết nơi đoàn viên đang sẵn-sàng chờ đợi tại bunker nào. Kỳ mon-men lướt trên các ngọn cây trở về lại căn-cứ coi như đã hóa giải các ổ phòng không với lối bay gián điệp biệt kích nầy, dĩ nhiên phải chịu chơi với hàng loạt tràng bắp rang AK 47, nhưng bay cách nầy thì đạn AK làm sao tới được. Tốc độ vẫn lướt nhanh, nhưng khi cần làm ‘quick-stop’ thì con tàu như con ngựa không còn bất kham, dừng lại một cách ngoan-ngoãn: Con tàu Hover sát ‘bunker’ trên giao thông hào. Phi hành đoàn rất trật tự, bình tĩnh đưa 4 thương binh lên trước, rồi 4 người còn lại lên sau. Tuy nhiên những hành động phóng lên tàu nhanh như Sóc. Chưa đầy một phút, nhưng không biết từ đâu đã thấy có 5 anh binh-sĩ trốn chạy lên tàu tự bao giờ; Chiếc tàu đơn côi đến tội nghiệp, cất cánh trước những cột khói đứng thẳng của đạn pháo 152 ly, 130 ly, con tàu với trọng lượng quá tải, nhưng lại phải chịu chấp nhận thêm cảnh gió xuôi chúi mũi hụp sâu xuống thung lũng để lấy tốc lực, mau lướt qua khoảng trống, hầu bám vào đám rừng già cứu mạng. Không còn nghe tiếng A.K như pháo Tết nữa, những cột khói thẳng đứng trước mặt, không còn ám ảnh đe dọa mạng sống con người nữa. “Cám ơn Thượng Đế đã cứu thoát chết cho hai phi hành đoàn lâm nạn như một định mệnh an bày” trong tích-tắc chiếc tàu nặng trĩu đang lướt nhanh trên các lùm cây, ẩn hiện trên cạnh sườn núi hướng về Đông Bắc, trong chốc lát đã đến được vùng đất an toàn, Lao-Bảo… Khe-Sanh. Biết bao Linh-hồn tìm sống trong cõi chết; Thật! “Họ về từ tử địa đó”

                      Khi trang bị xong hỏa lực, chúng tôi lại hấp tấp cất cánh về hướng Hồng-Hà 2, trong tần số hành quân TOC tôi nghe tiếng Kỳ đã đến Lao-Bảo, nhìn về hướng 11 giờ trên cao, chúng tôi biết chiếc UH 1 của Kỳ đã vượt qua trên đầu chúng tôi. Tôi lẩm bẩm: “Phi Công Liên Ðoàn 51 Tác Chiến đều là anh hùng từ chiến trận Cambodia cho đến Lào, tất cả đều là như vậy cả… thật hãnh diện cho tôi!” Nhưng có ai biết được những hành động hy-sinh can trường vì đồng đội, nhớ đến chuyện nầy, tôi hoàn toàn thông-cảm cho sự mắng-nhiết của nữ ký giả Kiều Mỹ Duyên trên báo: “Ngay đến những phi vụ kiêu hùng của các đàn em mình đáng được ghi chép trong quân sử … mà con chim đầu đàn miệng cứ ngậm câm như Hến!” Thật tình không hiểu sao tôi có thành kiến không ưa gì các ký giả chiến trường! Chả lẽ nhà báo nào cũng nói láo ăn tiền?

                      Queenbee-1
                      (còn-tiếp)
                      Last edited by Phòng Trực; 10-29-2012, 10:48 PM.

                      Comment

                      • vinhtruong
                        Super Member
                        • Jun 2010
                        • 1924

                        #12
                        Gunship bứng chốt sơn-pháo 85ly


                        Mặt trời cũng đã xuống dần, trên không gian vắng tanh chỉ còn lại có hai chúng tôi. Hai chiếc Trực-thăng võ-trang hùng dũng với nặng trĩu hỏa lực, đang rà sát trên những ngọn cây bằng con đường bay ‘Mới’. Chu-vi vùng hành quân chưa đầy 150 cây số vuông; tính đến ngày hôm nay, nếu vẽ hình lên bầu trời nầy thì chúng tôi đã bay qua đây như đan một chiếc Thúng, tôi không dại gì hướng dẫn anh em qua lại nơi cái ‘cổ-chai’ Coroc, vì mỗi chuyến bay đều phải đổi hướng khác nhau. Đến nay, dưới con mắt của chúng tôi, tình hình Bạn và Địch thế nào đều rõ. Những ổ pháo phòng không cũng như diện địa đều trang bị khác nhau ở chỗ ngụy trang. Những giàn Hỏa tiễn 122 ly, đặt san-sát cạnh nhau trên một mặt phẳng gần suối, ngay tại Căn-cứ Hậu-cần nằm về phía Tây vùng Phi quân sự. Khi cần bắn vào 3 trái Đồi của các Căn-cứ Hỏa- lực VNCH (Ðồi 31, Ðồi 30, Cứ điểm Ðống Ða) chúng chỉ đem ra cách đó không xa, tính tọa độ và phương hướng là khai hỏa ngay, tuy không mấy chính xác, nhưng số lượng và tiếng nổ kinh hoàng làm giao động mạnh đến tinh-thần Binh-sĩ. Các thiết vận xa PT.76 là khắc tinh của Trực thăng, chúng ngụy trang rất khéo bằng những cành cây có nhiều lá phủ lên, ổ Đại-liên phòng không 14,5 ly cũng như đại bác 23ly rất nguy hiểm, được quấn tròn nơi nòng súng bằng những dây rừng của cây tầm gởi xum-xuê đầy lá. Thật khó mà phát hiện được, chúng chỉ có rình mò bắt bẫy những chiếc Trực thăng của Mỹ non dại với chiến trường chớ đừng hòng che mắt các Phi công Trực thăng võ trang VN. Nhưng có một điều rất dở và lộ liễu nhất là chúng không chịu cho người xóa đi những dấu xe mắc-xích ở phía sau, nên bi phát hiện rõ còn đỏ tươi nằm song-song dọc lên lưng chừng đồi. Đối với những phi-công điên tiết như chúng tôi thì chúng là những con Cá nằm trên thớt khó chạy thoát và số phận cũng dễ bị bắn hạ như con nai-chà chạy có mau cách mấy cũng không thoát khỏi những trái rockets chống Tăng mà các Top Gun 213 đã quá nhiều kinh nghiệm bắn bằng phản xạ không cần dùng gunsight.

                        Mặt trời đã đi sâu vào hướng Tây để lại vũ trụ một màu sương lam mờ ảo, bãng-lãng không một gợn mây. Đã đến trên vùng hành quân mà quân ta bị thất lạc gồm có TĐ2 Dù, phía sau là một thành phần của TĐ39BĐQ thất lạc xuất phát từ Đồi-30, xa về phía tây cũng một thành phần TĐ3 Dù thất lạc mong ước nhập chung với đại lực lượng LĐ2 Dù cùng hai Đại-đội Trinh sát Dù. Giờ đây, có nghĩa dưới bụng là quân Dù đang muốn băng qua con suối mà bị sơn-pháo 85 bắn trực xạ xuống rất hiệu quả; có một điều thật quan trọng, là khi Tôi lấy trục xạ kích về mục tiêu nằm bên hướng Tây trên sườn đồi, thì những cặp mắt nơi mục tiêu bị lóa mờ không thấy chúng tôi; nhưng ổ phòng không phía sau lưng chúng tôi lại thấy rõ chúng tôi mồn-một và dĩ nhiên, đội phòng không 3 góc yểm trợ tương quan sẽ không tha-thứ cho con mồi đang hiện rõ trước mặt chúng. Dưới ánh nắng xế chiều, mục tiêu càng hiện rõ bao nhiêu thì các xạ thủ phòng không ở phía sau đều nhìn rõ chúng tôi bấy nhiêu.

                        “2 đây 1 …tôi bắt đầu tách ra đi vào mục tiêu…chờ khi tôi báo cáo vào trục”
                        “1…đây 2 nhận hiểu...?”

                        Tôi tách ra lấy cao độ bay về hướng Bắc, ẩn hiện qua những vách núi đá thẳng đứng trên rặng Coroc, rồi trên những đám rừng già nguyên thủy. Vẫn tiếp tục rà bò lên ngọn núi cao trước mặt, quyết giữ cao độ bay dọc theo đường đỉnh để tránh sự phát hiện và khóa ngàm hoạt động của phòng không, thời gian kéo dài có hơi lâu nhưng lại chắc ăn hơn. Tôi đang ở 3200 bộ, với cao độ nầy thì 70,000 mũi tên mới có hiệu quả. Mục tiêu hiện rõ lưng chừng núi. Trong cơn gió lốc xoáy tròn trên cao điểm núi rừng, con tàu như con Ó đang đưa móng vuốt ra và sà xuống để bắt mồi. Chiếc Trực thăng nặng trĩu hỏa-lực đang nhào thẳng đứng xuống vun-vút, rồi nghiêng mình quẹo gắt qua phải, mục tiêu hiện rõ trước mắt, sâu thẳm về phía dưới, Tôi đang cắm đầu con tàu thẳng đứng xuống mục tiêu.

                        “2…1 đang vào trục…”

                        Những cụm khói đỏ hồng đang phun ra sau đuôi… liên tiếp dựng đứng từng khoảng cách, những vệt khói màu hồng-đỏ rải đều từ trên xuống cho đến mục tiêu, đang chụp vào đôi mắt ‘cú vọ’ của Phi hành đoàn chiếc Gun-2. 14 trái Hỏa tiển đã giải tỏa, Tôi quẹo thật gắt bên phải, như chấm cánh đứng một chỗ, lúc nầy 2 xạ-thủ đang gồng mình bóp cò cho ra 4,000 viên một phút, rải xuống trên cái hầm miệng ếch màu đất đỏ còn tươi. Nhưng có một điều rất lạ, là không nghe tiếng súng chống trả, dường như chỉ có một mình tôi độc diễn? Dù chỉ là có một tiếng nổ nhỏ A.K! Chúng chạy núp trong hang? Không sao, người anh em phía bên kia phải chịu một trận đòn bằng 38 trái Hỏa-tiễn hủy diệt!

                        “Một… ra khỏi trục…rất yên tịnh, không có chống trả… cố gắng thảy lỗ cho trúng… 1 đang tiếp tục cover với 12.000 viên 7,62ly”.

                        Cảm thấy không có sự đe dọa nào, tôi buông thả bay về vị trí quân TĐ/2/Dù, nhưng phải giữ trên 2,500 bộ để khỏi phải đụng vào chiếc thứ 2 sau khi xong tác xạ. Nhìn về mục tiêu, tôi khoan-khoái nhìn Song-Chùy 2 tác xạ vô cùng ngoạn mục, hầu như 2/3 Hỏa lực đều vào mục tiêu. Tôi giao tay lái lại cho học trò, móc một điếu thuốc duy nhất còn lại nơi túi cánh tay, rỉ-rả quên đi… “Lại qua thêm một ngày không dài mà quá ngắn”.

                        Người chỉ huy Tiểu-đoàn-2 Dù rối-rít cám ơn trong vô tuyến. Chúng tôi bay trở về với niềm hân-hoan “các con cái Dù sẽ đoàn tụ để tạo nên sức mạnh” vì ổ sơn pháo 85 ly chắc chắn đã bị hủy diệt. Tổng họp lại tình hình tại chiến trường, quả thật lực-lượng hai bên quá cách xa. Với 60,000 quân của hơn 5 Sư-đoàn cùng 2 Trung đoàn biệt lập thiện chiến BV, dù rằng họ chia ra thành nhiều Trung-đoàn cơ-động để tổng hợp xung trận, trong khi phía VNCH có 18 Tiểu-đoàn cơ động tác chiến và 10 Pháo-đội, pháo 155 ly và 105 ly, nhưng phải được tiếp tế đạn dược duy nhất bằng sự tùy thuộc vào phương tiện trực-thăng, nếu Phi công Mỹ không lạnh cẳng, không dở chứng cũng không cung cấp đủ, mà nước là nhu cầu cấp-thiết. Trong lúc tại diện địa, Quân BV có 67,000 tấn đạn dược đã có sẵn, với 3 Tiểu-đoàn chiến xa T.54 và PT.76 thuộc Tr-đoàn 202. Trong khi quân lực VNCH không có súng chống chiến xa, mà phải dùng súng B.40 cướp được của địch để tự cầm cự. Có phải đạo diễn vở bi kịch nầy do soạn giả Donald Rumsfeld qua sự ủy nhiệm người đại diện là Henry Kissinger được cả Hội Đồng An Ninh Quốc-Gia (NSC) cùng đồng thanh tán đồng để hủy diệt một Quân-đội mà đã từng là chiến-sĩ Đồng Minh cùng một chiến hào chống Cộng-Sản. Tại sao Mỹ lại giúp quân CSBV có chuẩn bị từ năm tháng trước để giăng cái bẫy lớn thế nầy cho Quân-lực VNCH đi vào tròng? Chỉ vì đơn giản SCP muốn thi hành thế chiến lược “bênh kẻ mạnh” để thủ lợi. Cuộc chiến nầy sẽ không bao giờ có xảy ra nếu TT Kennedy hoặc TT Johnson cùng Bộ trưởng Tư Pháp Robert Kennedy không bị tiêu diệt bởi Bones/WIB “Trục Ma Đầu-lâu Xương người” cấu kết với Liên-Xô để tiêu dùng những chiến cụ lỗi thời và phát triển những loại mới cho tham vọng quyền lợi của chúng, như hồi thế chiến-2 đã bị Thủ tướng Winston Churchill lên án một sự cấu kết giữa WIB và Ðức quốc xã là thiếu đạo đức và phản bội đồng minh, nhưng WIB đếch cần nghe ai. Quyền lợi, chỉ quyền lợi xác định thế liên minh mà miền nam thì không có gì quý cho Mỹ! Nơi đây một thùng rác lộ thiên nơi rừng sâu núi thẳm để xả những hàng tiêu dùng giết người của các cường quốc!

                        Khi chuẩn bị kế hoạch hành quân Lam Sơn 719 nhằm đánh vào Hạ Lào để cắt đứt đường tiếp vận của Cộng quân, tin tình báo [nhóm phản chiến WIB Bones cố tình lừa gạt] cho biết Cộng quân không có chiến xa tại vùng hành quân. Do đó, những chiến xa thuộc LÐ1/TK vào Hạ Lào coi như không có đối thủ, nhưng khi nhập vùng hành quân, ngoài địa thế xa lạ, khó khăn, chỉ sau vài cuộc đụng độ, thực tế đã cho thấy trái ngược hẳn với dự đoán. Cộng quân chẳng những có cả một Trung Ðoàn Thiết Giáp mang bí số 202, mà còn có cả chiến xa hạng trung loại T-54 với thiết giáp dầy hơn và đại bác 100 ly có hỏa lực trội hơn chiến xa hạng nhẹ M-41 chỉ được trang bị đại bác 76 ly của QLVNCH. Theo tài liệu Cộng quân, bí số 202 bắt nguồn từ khi mới thành lập Trung Ðoàn thiết giáp đầu tiên này của Cộng quân gồm có 202 người được huấn luyện tại Nga Sô và Trung Cộng. Quân BV có cả một Trung Ðoàn 202 chiến xa tại Hạ Lào là một sự thật hiển nhiên ai cũng công nhận, nhất là sau các trận đánh tại CCHL 31 và CCHL 30 do quân LÐ3 Dù trấn giữ. Nhưng việc Cộng quân có chiến xa hạng trung loại T-54 hay không lại có nhiều người đặt thành nghi vấn. Nhưng đối với Top-Gun 213 thì hiểu rõ chúng chỉ là những tên khổng lồ có đôi chân đất sét, mà lại lún bùn bao quanh; sự thật chúng chỉ bị giam hãm quanh quẩn di chuyển trên những mặt đường tương đối bằng phẳng như dọc theo đường-9, thường vào các ngả băng qua đường 9, đường 92, 92B, 914, 913, 922… và lại dựa dẫm vào các PT-76 dễ càn bướng trên mọi thế đất. Nhưng chúng cũng chỉ tung-hoành bên triền Tây của các dãy núi vì sợ bắt chợt 42 khẩu đại pháo của Mỹ bắn qua hên xui như chim mổ lỡ trúng thì nguy, cũng kẹt, và "Thật ra, trong Trận Hạ Lào, Cộng Sản Bắc Việt chỉ sử dụng loại thiết xa PT-76, ngang bằng với chiến xa M-41 của ta là cũng phiền cho ta lắm rồi" vì M-41 làm sao leo núi? Nên nhớ một điều vũ khi của ta yếu hơn địch, AK=Guarant-1; T-54=M-41: 100ly=76ly; Mig-21=T-38) VNCH thua là phải luật!

                        Thiết giáp đụng trận vùng tây bắc Aluối.
                        Sáng ngày 3 tháng 3, tại phòng họp Tiền-phương Quân-đoàn, là một Bunker đào sâu dưới đất rất kiên-cố, bao bọc bởi không biết bao nhiêu lớp bao Cát, cũng như thường lệ chỉ có duy nhất 3 Tướng thường xuyên có mặt là: Sutherland, Lãm và Phú. Buổi họp nầy có vẻ quan trọng vì Phi-công Trực-thăng Mỹ bắt đầu “lạnh-cẳng” bởi số phi cơ trúng đạn cũng như bị bắn rơi rất nhiều. Buổi thuyết trình hôm nay coi như số Trực thăng khả dụng cho cuộc hành quân đã tuột dốc đáng kể và hầu như tê-liệt, nếu không muốn dùng danh từ đình-động. Trên nguyên tắc, số Trực-thăng khả dụng phải được ít nhất là 80% nhưng ngày hôm nay chỉ có 25% là khả dụng.

                        Bây giờ phải làm sao đây!? Lực-lượng chiếm đóng Hạ-Lào rất cần Nước, Đạn dược, nhiên liệu và đạn súng nhỏ, nhưng dù có cung cấp tối đa cũng không làm sao đối chọi với 67,000 tấn đạn dược đã có sẵn-sàng nằm tại Hậu-cần bên Lào cho Lính BV. Còn Quân-lực VNCH, phương tiện yểm trợ duy nhất là Trực-thăng xem như chẳng bao giờ đủ dù được yểm trợ 100%. Bấy nhiêu cũng hiểu rằng một sự phản bội không thể tha thứ được, một cái bẫy khốn nạn nhứt cho QLVNCH tại chiến trường nầy!? “Chiến sĩ anh hùng với Ðồng-minh phản bội!” Nên hiểu rằng dù quân lực VNCH được yểm trợ 100% phi vụ cũng không cung ứng đủ, đặc biệt là nước uống cho các căn cứ hoả lực nằm trên cao như ốc-đảo của một mùa nóng bức bên đất Lào.

                        Tôi được lệnh rời phòng họp trở về BCH Tiền-phương Dù gấp, vì rằng Trực-thăng Võ trang của Phi đoàn 213 là trực-tiếp túc trực yểm trợ tác xạ cho Dù. Nhưng hôm nay đã 10 giờ sáng rồi mà sương mù vẫn chưa chịu tan, thêm vào đó Bom đạn đã rền vang không dứt trong mấy ngày vừa qua, khói và hơi nóng càng tăng thêm ẩm độ, a tòng kéo dài sương mù để che-chở cho đối phương tha hồ pháo kích vào quân bạn với một kho đạn dược dường như vô tận. Bắc-Việt sẵn có vô số Đạn pháo bên cạnh nên đã lạm dụng trận địa pháo, mà giã liên tục để khỏi bị Quân-lực VNCH sẽ vào đây phá hủy sau đó, trong khi Trực thăng Hoa Kỳ từ chối bay vào những Căn cứ hoả lực đang bị CSBV vây hãm bằng trận địa pháo cường tập khi nghe tiếng trực thăng bay đến.

                        Tuần vừa qua, Đại-tá Sam Cockerham, Chỉ huy Lữ đoàn 1 Không kỵ, sau buổi họp có gặp Tôi và cho biết: Ban vũ khí của họ sẵn-sàng giúp Không-quân VN trang bị Hỏa tiễn chống biển người, tại các bãi đáp đổ Xăng cho Trực-thăng ở vùng Khe-Sanh. Nghe nói đến Hỏa tiễn chống biển người làm cho tôi điên tiết lên vì nhớ lại: bị dân cư nuôi Vịt ở Quận Phú Thứ, Phú-Bài, căm ghét Phi công Trực-thăng VN. Vì dân cho rằng chúng tôi đã bắn chỉ có 2 trái Hỏa tiễn nầy mà tiêu diệt cả ngàn con Vịt của dân. Sự thật là mấy thằng Phi công Mỹ trời đánh nó thử sự hiệu quả của 9,000 mũi tên qua 2 trái hoả tiễn phóng lao xuống một bầy Vịt. Quả thật một con Vịt phải trúng ít nhất là 3 cây Đinh, màu đen xì của thép, dài khoảng 4 phân, ở sau đuôi có xòe ra 4 cánh như mũi tên của Phi-lao.

                        Trong khi chờ đợi cho sương mù tan, Tôi thuyết trình cho các Phi hành đoàn Trực-thăng Võ trang: “Vì bị PT-76 bắn rớt, nên Tôi phải trang bị 38 trái Rockets và bớt lại còn 6.000 viên Đạn 7 ly 62 để phục hận, nhưng mấy ngày qua lại không gặp chúng để phục thù, nên hôm nay tôi đổi chiến thuật!”. Sự thật trang bị như thế khó xoay xở và tốc lực giảm đi đáng kể, đôi khi chiếc thứ 2 hoặc chiếc thứ 3 có thể chồm lên cánh quạt, làm trục tác xạ rất khó prep. Bây giờ trở đi, Tôi có liên lạc với Đại-tá Sam. Cockerham và được Ông chỉ thị cho Ban vũ khí, Lữ đoàn 1 Không kỵ giúp đỡ trang bị cho chúng tôi sau khi đổ Xăng gồm có 14 trái Hỏa tiễn như sau: 6 trái đầu bắn ra là để phủ đầu đối phương, hay nói cách khác là làm cho đối phương bất khiển dụng (disable) kế đó là 4 trái Hỏa-tiễn 17.lbs chạm nổ để tiêu diệt đối phương, sau hết là 4 trái Hỏa tiễn chống Chiến xa. Dù sao đi nữa với kinh nghiệm yểm trợ chiến trường, 12,000 viên Đạn của 2 Mini-Gun 6 nòng vẫn hiệu quả hơn nhiều, cũng như thường lệ, chúng tôi phải dành Hỏa lực để yểm trợ và đưa cũng như đón các Trực thăng tản thương và tiếp tế từ điểm hẹn Lao-Bảo, trên Quốc-Lộ 9, trên bản đồ đúng vào hướng Nam của ngọn Núi Vôi Co-Róc! Các anh Lead-Gun nên bay thấp qua các thung-lũng, nhưng đặc biệt, phải ôm sát sườn phía Đông sẽ không có Lính CSBV, phải để ý nhất là những Đồi-núi thoai-thoải có dấu xe-xích hầu hết xuất hiện ở phía sườn Tây của dãy núi.

                        Sương mù đã bắt đầu tan dần, tuy nhiên những vùng cạnh sườn Núi vẫn còn những đám mây Stratus lờ mờ như còn luyến tiếc núi rừng chưa chịu buông tha để chúng tôi cất cánh sớm hơn yểm trợ cho Dù. Hôm nay dựa vào thời tiết sương mù, các chú Vẹm tha hồ dung rủi chả sợ phi cơ oanh kích, Tôi hướng dẫn 2 chiếc, cất cánh sớm nhất, Trung-úy Châu sẽ tiếp nối bao vùng, sau khi chúng tôi bay hết nhiên liệu về đổ xăng. Cũng chả bao giờ chừa cái tật bay sát liếm ngọn cây, ỷ dựa vào sự hiểu biết, thuộc làu vùng nầy như cháo nên bay như vậy không sợ lạc. Trong khi Phi-công Hoa-kỳ bị bắn rơi như rạ, vì bay cao làm mồi cho đủ loại phòng không. Rải rác ở vùng dưới đây cũng có hàng chục chiếc bị bắn rơi dưới tầm mắt của tôi [theo tin tức từ MACV/SOG thì sự thiệt hại của Sư đoàn Không kỵ Mỹ là 219 chết và 38 MIA]. Xạ thủ Đức vừa chỉ điểm cho tôi biết VC đang di chuyển bên cạnh sườn Đồi, hướng 2 giờ, góc độ mấp mé nằm ngang ở đầu cánh quạt chính. Nhưng chưa cần thiết để tiêu diệt chúng, thì cũng vừa đúng lúc tôi thấy 2 anh lính BV đang khiêng tòn-ten ở giữa cái Chảo lớn chưa từng thấy, hình thù giống như cái nón Sắt của Quân-đội Hoàng-Gia Anh hiện rõ nơi tầm cánh quạt. Mãi đến sau nầy khi ở Tù tôi mới biết là cái Chảo để nấu Cơm. Thật vậy những chiến lợi phẩm do Trực thăng chở về, Phòng Tổng Tham-Mưu cũng không biết là cái gì, ngay đến bánh-xe đạp Thồ, xe-thùng Cải-tiến mà họ cứ tưởng là bánh xe Xích-lô đi du lịch trong Rừng?

                        Chúng tôi bay thoáng qua rất nhanh, nhưng mãi đến ngày hôm nay, cái lỗ Mũi nhiều kinh nghiệm ngửi mùi xác chết của chúng tôi đang mới phát hiện có người chết ở vùng nầy, nhưng lại không thấy có dấu Bom B.52 quanh quẩn đâu đó. Có lẽ hậu quả do EC.130B cường tập tuần trước xuống một lực hùng mạnh có chiến xa yễm trợ thuộc Quân đoàn/B-70. Còn như suốt cả mấy tuần nay B.52 thả tới tấp liên tục ngày nầy qua ngày nọ, đặc biệt bên cánh sườn Nam của Quốc Lộ 9, nhưng khi bay ngang chúng tôi chỉ ngửi được mùi khét của các đám cháy, lố nhố như đan rổ bằng những hố Bom. Ngay đến vào những buổi sáng tinh mơ, chúng tôi bay ngang những vùng trải thảm B.52, vẫn nghe mùi gió rừng thoang thoảng trong lành, lùa vào mát lạnh làn da. Có chết chăng là vài anh Lính chậm chạp thuộc Trung-đoàn của Đại-tá Điềm chịu trận; Có phải vài dăm ba người nên không gây ảnh hưởng nhiều mùi hôi thúi!


                        (còn tiếp)
                        Last edited by Phòng Trực; 10-30-2012, 05:22 PM.

                        Comment

                        • vinhtruong
                          Super Member
                          • Jun 2010
                          • 1924

                          #13
                          Phãi rút bỏ CCHL Đồi-30


                          Dù rằng địa thế Đồi-30 rất thuận lợi cho việc phòng thủ, nó nằm trên cao độ 2210 bộ, cách mặt biển, như chiếc chòi canh thẳng đứng từ 3 hướng, duy chỉ có hướng đông bắc mới là đường tiến sát duy nhứt cho quân BV tiến công. Đó là lý do biết bao cuộc tấn kích đều bị đẩy lui, quân BV chết không biết bao nhiêu mà kể, do sự chiến đấu kiêu hùng cũa TĐ/2 Dù và một thành phần của TĐ/39 BĐQ trấn giữ. Phải thành thật mà nói cũng nhờ sự phối hợp ngoạn mục giữa Trung-tá Thạch Chiến Đoàn Trưởng Dù và Spectra AC-130B nên quân BV khó mà lấy thịt đè người. Vì thế từ 4:30 sáng rạng ngày 28/1/1971 cho đến 9:00 sáng, quân BV ngưng hẳn hoàn toàn không có tiếng súng để tái phối trí cho một cuộc tập-trung tấn công dứt điểm. Đây cũng là một cơ hội bằng vàng nếu không bị ràng buộc bởi điều giao ước ROE là dùng B-52 hủy diệt hoàn toàn lực lượng Quân đoàn 70B nầy. Bấy nhiêu đó cũng thể hiện cho chúng ta biết rõ trò chơi chiến tranh của trục Ma/Quỷ để tiêu hủy chiến cụ tại thùng rác lộ- thiên nầy!

                          Bên cạnh đó là mục tiêu chiến lược của phản gián Mỹ là theo phương châm “Everything worked but not worked enough” Có nghĩa không có bên nào thắng bên nào, mà chỉ để tiêu hao vật cụ chiến tranh và hủy diệt các sĩ quan tài ba trung gian (sĩ quan cấp úy và tá, nhưng đối với cá nhân tôi là phải cộng thêm những HSQ Xạ-thủ tài giỏi của Gunship, tôi muốn lặp lại lời của tướng Nã Phá Luân “Les sous officers font l’armée.” Những HSQ nầy mới là kẻ đáng kể trong trận chiến. Tôi thường nói: “Muốn bảo vệ mạng sống phải đào sâu từ cái chết!”. Sợ Ma thì Ma mới bắt, anh em phải nắm chắc thế thượng-phong bay với chiêu-thức, bươi móc trên tàng cây, bụi rậm, xạ-thủ dùng 12 con mắt như cú-vọ, ráo đảo để bấm nút hủy-diệt những nguy cơ đe-doạ trước khi nó xảy ra) để khi bàn giao Saigon cho Hà-Nội không có tắm máu mà Saigon không thành đống gạch vụn qua điều lệ trò chơi giao ước ROE.

                          Thêm vào mưu đồ phỉnh gạt dư luận bất lợi cho cuộc chiến tự vệ của nhân dân miền nam, Siêu thế lực nầy lại thuê mướn Truyền thông Văn hoá để bóp méo sự thật cho ý-đồ mục đích hoàn thành định kiến-1. Quá khứ ghi lại hoàn toàn sai sự thật: Dưới đây là câu chuyện mà tôi chắc chắn rằng không có chinh xác hay nói cách khác hoàn toàn đúng đắn, trái lại những gì như tôi đã minh xác nêu dưới đây với đầy đủ chứng cớ, tài liệu hình ảnh và thêm chi tiết hình ảnh nơi Cánh-Thép, mục Lam Sơn 719 (Tôi như người lính canh gác ngồi trên chòi canh kiểm soát bao vùng hành quân, bằng vị thế ngồi trên chiếc Gunship, bay theo chiến-thuật bới móc trên tàng cây bụi rậm bằng chiêu thức “Cạ-Càng lướt thoáng trên ngọn cây”.

                          Nhà báo Richard Pyle cũng có cùng tâm trạng, khi máy bay cất bổng lên và anh chong mắt nhìn xuống triền dốc thẳng đứng cắm ngập vào con suối róc rách qua kẽ đá, và vào những tàng cây rừng vươn lên chọc thủng không gian như các ngọn tháp giáo đường. Giã từ Hạ Lào, ký giả Pyle đã tự tìm thấy quá dễ dàng để hiểu vì sao người Thượng du nuớc Lào tin tưởng hồn thiêng cư ngụ ở những nơi kỳ bí như thế; Chúng ta, người của thế giới văn minh tây-phương liệu có thể nói khác đi không? Về phía người ngoại quốc, câu chuyện kể như đã kết thúc, nhưng giữa cộng đồng người Việt Nam, nghi vấn về ngày máy bay lâm nạn vẫn còn chưa thống nhất với nhau (Xin xem thêm tài liệu nơi Cánh Thép www.canhthep.com) Trong khi ký giả Richard Pyle, Trưởng văn phòng Sài Gòn của thông tấn xã AP, ghi nhận cú điện thoại của nhiếp ảnh viên Michael Putzel từ Căn cứ Hàm Nghi (Khe Sanh) gọi về tối 10-2-1971 để viết và gởi bản tin viễn ký về New York, một phóng viên đẳng cấp quốc tế khác đã bác bỏ ngày tháng lịch sử nầy, người ấy là nhiếp ảnh gia Nick Út. Ông Nick Út là nhân viên dưới quyền của Richard Pyle, nhưng vì ông là người từng đoạt giải Pulitzer về tấm ảnh chụp cô bé Kim Phúc trần truồng trên Quốc Lộ 1 ở Trảng Bàng sau khi bị bom napalm, nên lời nói của ông dễ dẫn dụ người nghe hơn, mà không cần phối kiểm. Ngày 9-4-2010 vừa qua, trong chương trình trả lời phỏng vấn của ký giả Hoài Hương của hãng tin Vietnamnet bên Hà Nội, ông Nick Út đã tuyên bố: “Có một phóng viên của AP người Pháp tên Henri Huet, sinh tại Đà Lạt (mẹ người VN) một phóng viên nổi tiếng, yêu quý tôi, thấy tôi nhỏ bé nên cho cái tên biệt danh ‘Nick’- bé nhỏ. Cuối năm 1969, trong một kỳ nghỉ ở Hồng Kông, tôi đã nhường suất của mình cho Huet, ai dè đó là chuyến bay định mệnh, máy bay bị nổ ngay khi chưa ra khỏi không phận VN (cái nầy trật đã qua biên giới 3 CS) Tôi đã lấy cái nickname – ‘bé nhỏ’ đó làm tên của mình từ khi ấy để kỷ niệm về người bạn. Và đó là một cái ‘nick’ rất hên với sự nghiệp của tôi.” (sic) (Như thế là ông Richard Pyle, thượng cấp của Nick Út đã viết sai những 2 năm)

                          Trong một cuộc phỏng vấn khác của đài Á Châu Tự Do trước đó 48 ngày, ông Nick Út đã bật mí một ngày tháng khác: “Tôi có người bạn làm chung trong AP thấy tên này khó kêu nên anh ấy đặt cho tôi là Nick Út. Sau đó năm 1970 anh này theo cuộc hành quân tiến qua Lào thì tụi này đi chung công tác ngày đầu tiên qua biên giới. Sau đó anh bay vào Sài Gòn bằng C130 và không may máy bay này bị bắn rơi trong đó có 5 nhà nhiếp ảnh. Anh là một người bạn rất thân, ngày anh ấy chết đã để lại cho tôi cái tên kỷ niệm này.” (sic). Nếu Quân lực VNCH tiến qua Lào vào năm 1970 như ông Nick Út kể với anh Mặc Lâm vào ngày 20-2-2010, thì ông Richard Pyle vẫn viết (sai tới 1 năm). Ngược với Nick Út, tác giả Keith Nolan kể giống như lời Richard Pyle: “Vào lúc mọi sắp xếp đã xong, lúc 7:20 tối 6-2-1971, một máy bay phóng pháo xuất phát từ hàng không mẫu hạm USS Ranger đã tấn công một mục tiêu di động trên Quốc Lộ 9, ném bom lầm vào quân bạn và gây tử thương cho 6 binh sĩ VNCH, cộng thêm 51 người bị thương, và một thiết vận xa bị thiêu hủy. Đây là những tổn thất nhân mạng đầu tiên của cuộc hành quân Lam Sơn 719; Bốn ngày sau, người phóng viên đã tỏ ra hết sức can trường trong vụ ném bom lầm, anh Larry Burrows, trèo lên một trực thăng của VNCH để làm phóng sự chiến trường Lào. Chiếc máy bay đã bị bắn rơi, thi thể anh không bao giờ được tìm thấy nữa.” (Into Laos, NXB Dell, tháng 2-1988, trg 113. Trong khi đó, tướng tư lệnh hành quân Hoàng Xuân Lãm nói khác đi một ngày. “Sang ngày thứ nhì, mồng 9-2-1971, thời tiết bỗng trở nên ảm đạm… Ngay sau khi trực thăng của tướng Lãm vừa đáp xuống thì hai trực thăng theo sau, còn cách chiếc đi trước khoảng 2 cây số, đã bị đại bác phòng không 37 mm của đối phương bắn rớt. Hai trực thăng nầy chở các sĩ quan trưởng phòng 3, trưởng phòng 4 Quân đoàn và toán phóng viên ngoại quốc xin tháp tùng. (Trật cả ngày và diễn tiến phi vụ).

                          Sau khi mở cuộc hành quân tiếp cứu phi hành đoàn và hành khách trên 2 trực thăng lâm nạn không có kết quả, tướng Lãm rất băn khoăn về tình trạng của tấm bản đồ hành quân Lam Sơn 719, do đại tá trưởng phòng 3 Quân đoàn đem theo, vì nếu tấm bản đồ này không bị thiêu hủy mà lại lọt vào tay địch thì rất nguy hiểm, nhưng ông đã quyết định giữ bí mật vụ nầy và tìm cách giải quyết sau.” Thép và Máu, tác giả Hà Mai Việt tự xuất bản năm 2005, trg 60, 61 (đọc giã đã chứng kiến ngay đến thẽ bài cũng như máy ảnh mà còn cháy queo thì tấm bản đồ làm sao còn nguyên được?) Về chuyện tấm bản đồ hành quân lọt vào tay đối phương và ngày tháng máy bay bị bắn rơi, ở phần ghi chú, ông Hà Mai Việt thêm, “Hai trực thăng của bộ tư lệnh Quân đoàn-I bị phòng không BV bắn hạ và Hà Nội đã lấy được tấm bản đồ mật về cuộc hành quân LS 719 do đại tá trưởng Phòng 3 Hành quân Quân đoàn mang theo… Theo các sử gia HK ghi lại thì ngày 10-2-1971… Nhưng theo trung tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh chiến trường, kể với soạn giả [H.M.Việt] thì đó là ngày 9-2-1971, ngày thứ nhì hành quân vượt biên. Sau nhiều lần hỏi lại, trung tướng Lãm khẳng định: ngày 9-2 là đúng, chứ không phải ngày 10-2-1971.” (Sách đã dẫn, trg 87, tướng Lãm lầm-lẫn giữa ngày bị máy bay Mỹ thả lầm với ngày 2 trực thăng VN rơi) Phóng viên nước ngoài chỉ đứng, ngồi tại Khe Sanh để đoán mò phóng-tác theo thị hiếu cũa người đọc.

                          Tuy nhiên, người viết bài nầy căn cứ vào “Tờ Tường Trình Ủy Khúc” của Sư Đoàn 1 Không Quân, KBC 3198, (do Liên-đoàn-trưởng, Trung Tá Trương Văn Vinh báo cáo từ nhựt ký điều hành của đơn vị) ký ngày 11-5-1971, và vào “Tuyên Cáo Ước Đoán Biệt Tăm” [MIA] của Bộ Quốc Phòng, do Tướng Nguyễn Văn Vỹ ký ngày 17-7-1971. Cả hai tài liệu nầy Thời Báo đang có phó bản trong tay, đều ghi rõ phi hành đoàn do Thiếu úy Tạ Hòa làm hoa tiêu chính đã bị bắn rơi ở tọa độ XD 565.520 vào ngày 10-2-1971 trên lãnh thổ Lào.

                          Nếu chúng ta đặt để đây là Căn cứ Hoả lực, Đồi-30 nhưng tất cả pháo 155 và 105 ly đều bị tê liệt bởi pháo 152ly xuyên phá thì TĐ/2 Dù ở đây để làm gì? Chúng ta đang bị đặt để vào vị thế cái bẫy trận địa pháo cho quân BV tha hồ mà triệt tiêu vào binh-chủng thiện chiến như Dù mà phải đóng trụ trên một ốc-đảo để chịu trận như thế nầy, thật là một điều quá tức tối phải không các bạn? Ai tổ chức cuộc hành quân Lam Sơn 719 và NSC quyết định ngày 28/1/1971! Câu trả lời là Pentagon mà tướng Haig là giám sát điều hành!

                          Pháo binh bất khả dụng, TĐ/2 được lịnh rút bỏ căn cứ và phải yểm trợ cho các chiến sĩ pháo đội về một nơi an-toàn để được trực thăng Mỹ bốc về tái võ trang súng mới dưới sự yểm trợ của gunship 213. Hai chiếc gunship đã đến vùng hành quân của Tiểu-đoàn-2/LÐ2/Dù, phối hợp với một thành phần thất lạc cũa TĐ/39/BĐQ đang di hành đoạn hậu bảo vệ cho các chiến hữu Pháo binh đang di chuyển về đường 9, vì các khẩu pháo đã bị đại bác xuyên phá 152 ly tối tân của Liên Xô làm tê liệt, họ đang bung ra vòng đai lục soát, họ rất mừng sau khi chúng tôi diệt chốt 85ly sơn pháo, và hiện đang đến tiếp tục yểm trợ trên đầu họ. Ngày hôm nay họ cho nhiều mục tiêu quá. Nhưng không sao, hôm nay tôi nhân cơ hội hành quân phối hợp huấn luyện cho Pilot trở thành Trưởng Phi cơ Trực thăng Võ trang, đồng thời tìm cách hướng dẫn một thành phần của TĐ/3 Dù thất lạc đang cố tình tiến về Đồi-30 vừa bị LĐ/2 TĐ/2 Dù rút bỏ. Tôi đang cố gắng hướng dẫn đơn vị thất lạc nầy cùng xáp nhập với hai đại đội trinh sát Dù gần, tiện lợi hơn và đặc biệt hai đai đội thuộc TĐ/8 Dù được đại tá Jame Vaught chăm sóc rất kỹ, quân BV khó mà hủy diệt nổi hai đại đội trinh sát Dù nầy, hiện giờ hai đại đội Trinh-sát như đứa con cưng của Đại tá Vaught, ông có quyền điều-động thẳng, tức thời B-52 từ Utapao, Thái Lan, vì đã nhiều lần đơn vị trinh-sát nầy luôn chạm với một lực lượng rất mạnh cũa các đơn vị thuộc sư đoàn 320 và 304B, dưới sự chứng kiến của tôi vì bị nhiều lần FAC/OV-10 đuổi ra khỏi vùng cho Arc-Light B-52 trải thảm.

                          Tôi đang hướng dẫn lực lượng TĐ/2 Dù di chuyển ra khỏi thung lũng theo dọc con suối đến một nơi tương đối an toàn để trực thăng Mỹ xuống chỉ bốc đơn vị pháo binh về Khe Sanh để tái trang bị súng mới mà thôi. Trong cái dở nó có cái hay, khi bắt đầu vào trục xạ kích, anh Học trò, vô tình muốn bấm Micro nói chuyện với tôi, ai nhè, có lẽ vì quá căng thẳng nên thay vì bấm nút Micro, thì lại bấm nhầm nút khai hỏa mà bóp cò, vào khoảng vài giây sau 2 trái Hỏa tiễn bất dẫn dầu, nên lửa và khói bay lên nghi ngút. Tiểu đoàn-2 Dù ở dưới đất cứ cho là chúng tôi thấy mục tiêu nên oanh kích hiệu quả, Anh em Dù đang chửi thề với Lính BV về kết quả nầy, thì được chúng đáp lại: “Địt Mẹ các Ông sẽ tắt vòi thì tắt-tịt ngay”. Đúng như vậy, đám cháy chỉ hoành hành được 10 phút thì tắt lịm, làm tôi ngạc nhiên trong khi Lữ đoàn/1/Dù pháo kích vào kho xăng trên đường 92 nhầm phía bắc của căn cứ hỏa lực Aluối thì lửa cháy 2 ngày chưa tắt kèm thêm nhiều tiếng nổ phụ rời-rạc! Ðâu đâu cũng là dầu xăng dành cho chiến-xa và vận tải Molotova!

                          Trong cuộc chiến Hạ-Lào, cả hai bên đôi lúc đã thông cảm tự thỏa hiệp qua mặt cấp chỉ huy: “Địt Mẹ! chúng mình ngưng pháo một tí để ăn Cơm nhé! Nghe trận địa pháo mãi như thế nầy căng quá… Căng quá” Quả thật hai bên đều câm tiếng súng, để ăn trưa làm ngạc nhiên quá sức tưởng tượng của cấp chỉ huy đôi bên.

                          Xa xa nhìn về phía Hồng-Hà-2, khói lửa đã bùng lên trên màu xanh thẩm của núi rừng, B.52 đang trải thảm, khói của hàng trăm quả Bom còn đang ngùn-ngụt bốc lên từng cụm, như một dề nấm Rơm đang vươn rộ lên nở búp.

                          Xa về phía tây, một lực lượng khá hung hậu của Sư đoàn 308, có chiến xa T-54 yểm trợ, lại mở cuộc tấn công qui mô lần thứ ba. Lần này, chúng huy động phối hợp cả một Trung Ðoàn Bộ Binh thuộc SĐ-320 với chiến xa yểm trợ vây gọn 2 toán Thiết Giáp c ũa Chi-đoàn 11 và 17 vào giữa rồi bắn xối xả bằng đủ loại súng, từ 100, 76ly, đặc biệt 14,5ly rất lợi hại. Tuy bị vậy hãm trong nhiều ngày không được tiếp tế đầy đủ, lực lượng càng lúc càng yếu với hàng trăm người chết và bị thương không được di tản, các chiến sĩ VNCH vẫn anh dũng chiến đấu. Có thêm 10 thiết vận xa bị phá hủy, nhưng nhờ sự gan dạ của thiên thần mũ đỏ thuộc TĐ/8 Dù chống đở. Hai phi vụ trực thăng tiếp tế và tản thương phải hủy bỏ vì hỏa lực phòng không quá dữ dội của địch quân. Trận đánh tiếp diễn, tình thế nguy kịch, nhưng thượng cấp vẫn không có lệnh nào rõ rệt. Tướng Lãm lúc đó lại đang họp với Tướng Sutherland tại BTL/QÐ XXIV Hoa Kỳ nên không có ai quyết định; May mắn, các Cố Vấn Thiết Giáp tại Khe Sanh liên lạc được với Trung Tá Vallejo là cố vấn trưởng Không quân tại QÐI qua sự duyệt xét của đại-tá đầy quyền năng Jame-Vaught, ông là người của Pentagon, đại diện tướng Haig ứng sử ngay chiến trận vì sự ương ngạnh của TT Thiệu có lý do rút quân về biên giới ở giai đoạn-3, thay vì phải tấn kích vào mục tiêu Hậu-cần 604 - Chỉ 5 phút sau đó, 6 pháo đài bay B-52 từ Utapao, Thai-Lan được điều động tới để yểm trợ giải-toả áp lực cho toán Thiết Giáp đang bị vây hãm nguy ngập. Vì trong tình trạng khẩn cấp, phi vụ B-52 Arc Light này đặc biệt được dùng như những phi vụ chiến thuật yểm trợ tiếp cận (air-ground closed support) Đây là điều bắt đầu vi phạm ROE. Từng thảm bom rơi chính xác quanh vị trí phòng thủ của toán Thiết Giáp, chỉ cách vài trăm thước, chận đứng được những cuộc tấn công. Bạn thử hình dung có bao nhiêu quân BV cũa sư-đoàn 304 bị tàn sát? Ðồi núi và cây rừng tan rã như trong một cơn địa chấn khủng khiếp, sát hại hàng tiểu đoàn Cộng quân thuộc trung đoàn 9/304B buộc họ phải rút lui. Sau khi cuộc tấn công thứ ba của Cộng quân bị bẻ gẫy, toán Thiết Giáp và TĐ-1 Dù củng cố lại lực lượng, vượt vòng vây tới được một địa điểm thuận lợi hơn để trực thăng có thể tiếp tế và tản thương. Về phía Cộng quân, sau những thảm bại liên tiếp bởi Arc Light B-52 cũng không còn đủ sức mạnh để tiếp tục tấn công, toán Thiết Giáp rút từ hướng bắc sau đó di chuyển an toàn về lại hướng nam A Lưới trên lộ 92.

                          Tổng kết, trong khi thi hành nhiệm vụ khó khăn tiếp cứu Đồi-31 từ ngày 25 tháng 2 cho tới ngày 3 tháng 3, lực lượng tăng viện gồm 2 Chi Ðoàn Thiết Giáp 17, và 11, 2 Ðại Ðội trinh sát thuộc TÐ/8 Dù và thành phần còn lại của TÐ-3 Dù đã chạm địch nhiếu lần. Tổng cộng tổn thất, theo báo cáo chính thức, gồm 30 xe thiết giáp đủ loại bị phá hủy, 27 tử thương, khoảng 200 bị thương và một số mất tích. Phía Cộng quân ghi nhận 6 chiến xa T-54, 16 PT-76, 2 xe vận tải Molotova bị phá hủy, trên 1,000 địch quân chết, 2 bị bắt sống và 300 vũ khí đủ loại bị tịch thâu. Cung từ của tù binh cho biết lực lượng Cộng quân thuộc Trung Ðoàn 24B và 36 của SÐ 308 cùng với một đơn vị chiến xa của Trung Ðoàn 202 đã tham dự các trận đánh. Trung Ðoàn 24B là đơn vị đã tham dự các trận đánh tại đồi 31 trước đây và Trung Ðoàn 36 là đơn vị án ngữ mặt Nam chận lực lượng tăng viện cũa TĐ-8 Dù và thiết giáp. Như vậy, ngoài một số lớn chiến xa đủ loại bị phá hủy, Cộng quân còn tổn- thất chừng phân nửa quân số trong các trận đụng độ với Thiết Giáp VNCH tại vùng Đồi-31. Nhưng quân BV có Trung Tâm Huấn Luyện tại đây nên được bổ sung quân số tức khắc, trái lại quân lực VNCH thì không.

                          (Còn tiếp)
                          Last edited by Phòng Trực; 11-01-2012, 09:17 PM.

                          Comment

                          • vinhtruong
                            Super Member
                            • Jun 2010
                            • 1924

                            #14
                            Đặt tên tài-tử cho Landing-Zone


                            Theo ý đồ của Pentagon, chiến trận sắp qua giai đoạn đẫm-máu, hủy diệt cả hai đối lực để chuẩn-bị cho sự hoàn thành định-kiến-1 (axiom-1) nên chủ trương của Tham mưu trưởng Washington Special Acting Group, Donald Rumsfeld là đặt tên các Landing Zones bằng danh tánh các tài tử nổi tiếng gợi cảm để làm dịu lại cường độ khốc liệt cho giai đoạn 3 [Search & Destroy] “tấn kích và khai thác” chiến trường tại Cargo-604: Nơi đó mới đúng là “mục-tiêu” của cuộc hành quân Lam-Sơn 719 nầy.

                            Ngay khi phát hiện các tên LZ quỷ-quái nầy, TT Thiệu nhớ đến ba tháng vừa qua cô đào Ciné Jane Fonda đã nói những gì bất lợi cho cuộc chiến chống cộng-sản tại đại học Michigan dưới sự hiện diện của 2000 sinh viên. Còn người dân thường làm sao biết được, người chính khách trẻ Donald Rumsfeld nầy đang áp dụng công cụ số MỘT là “Truyền thông Văn Hoá” để dựng lên hai tài tử Phản-gián Jane Fonda và Phản-chiến Trung-úy John F Kerry, họ được thoa son trét phấn bằng ba Chiến thương Bội tinh LÈO, nhưng qua sự tiết lộ với công chúng bởi TNS Bob Dole: “Kerry không nằm nhà thương, không bị thẹo mà chỉ dán băng First Band Aid mà thôi”. Mục đích của Rumsfeld là quảng cáo làm tuồng rùm beng cho hai nhân vật nầy với công luận quần chúng trên vô tuyến truyền hình, để lấy lòng tin và sẽ đột nhập bí mật vào Hà Nội chỉ vẽ chuyện đấu đá với phái đoàn Mỹ và VNCH tại Hoà đàm Paris cho phù hợp với mưu đồ của siêu chính phủ [permanent government]

                            TT Thiệu bèn thử đề-nghị: nếu Pentagon gởi một Sư-đoàn Mỹ cùng tham dự thì quân lực VNCH sẽ ở lại Lào, còn như không chúng tôi rút về sau khi dẫm chân xuống Tchepone chụp ảnh làm bằng, coi như mục tiêu “chiến-thuật” đã xong, còn muốn kéo dài ra thành “chiến-lược” thì tùy Pentagon. Tướng Haig tức muốn ói máu nhưng chẳng làm gì được TT Thiệu vì cần bảo vệ sự ổn định chính-trị để Mỹ tiếp tục rút quân theo ý kiến sắc bén của Đại-sứ lâu năm nhứt là Bunker.

                            Vì nhiều trở ngại trên đường bộ tiến đến Tchepone, nên Phòng Hành Quân Chiến Cuộc ở Pentagon, Tướng Haig quyết định dùng Trực-thăng để đổ bộ xuống Tchepone đúng theo lộ-đồ của cuộc hành quân đã quyết định ngày 18/1/71 của NSC [HÐANQG] Ở vùng hạ Lào, đặc biệt trong cuộc hành quân nầy có một tướng lãnh Mỹ duy nhứt là tướng Sid Berry, Tư lệnh phó Sư đoàn 101 Không kỵ mà chiếc càng trực thăng của ông đều ghé xuống hầu hết các LZ trên. Tôi rất phục và thông cảm cho sự tiên phuông dấn thân của tướng Berry, chỉ muốn phục hồi niềm kiêu hãnh của Không Kỵ sau một thời gian phi-công ‘lạnh cẳng’ vì bị bắn rơi rụng quá nhiều.

                            Bắt đầu từ ngày 3/March/71, một Tiểu-đoàn của Sư-đoàn-1 sẽ được đổ xuống cứ điểm LOLO, [Lolobrigida] một trong những Căn-cứ Hỏa-lực quan trọng, xa về hướng Tây gần Tchepone; Cuộc đổ bộ nầy đã phải chạm với một lực-lượng phòng không vô cùng hùng-hậu làm tiêu hủy tại trận địa 7 chiếc UH.1 và hư hại trầm trọng nhiều chiếc khác; Nhưng Bộ binh được thả xuống bãi đáp an-toàn. Để tăng cường thêm, 2 ngày nữa sẽ có Trực thăng vận vào thêm 2 Tiểu-đoàn Bộ binh cùng với Pháo-đội 155 ly và tiếp liệu; Căn-cứ Hỏa lực LOLO nầy phải được cũng cố để yểm trợ cho quân bạn tiến chiến Tchepone.

                            Ngày 4/March/71, một Tiểu-đoàn Bộ binh sẽ được Trực-thăng vận vào Căn-cứ Hỏa-lực phối hợp LIZ, [Liz Taylor] đi xa thêm về hướng Tây và rút gọn khoảng cách gần Tchepone hơn, dĩ nhiên cuộc đổ quân nầy cũng đang đụng độ với một lực-lượng khá mạnh của đối phương không khác gì ngày hôm trước.

                            Ngày 5/March/71, thêm 2 Tiểu-đoàn Bộ binh được Trực-thăng vận vào phía Tây của LIZ để thành lập Cứ-điểm SOPHIA [Sophia-Lorren] và kế tiếp là Cứ-điểm HOPE [Bob-Hope] (Cứ điểm nầy đáng lẽ là Đồi-32 do một Lữ-đoàn Dù trấn đóng, nhưng vì Trung-úy phản chiến John F Kerry đã tiết lộ phóng đồ hành quân cho phía BV biết, nên bị vị Tư-lệnh tối cao quân lực VNCH là TT Thiệu quyết định hủy bỏ, việc làm sơ khởi nầy cũng đã làm cho tướng Haig tức muốn ói mật vì TT Thiệu dám sửa đổi đặc lệnh hành theo như phóng đồ đã ấn định từ Pentagon, dù rằng Haig phải qua lại Nam VN và Cambodia ba lần để ban chỉ thị cho các vị Tư lịnh Mỹ 4 sao với sự tự tin là tổng thống Thiệu sẽ tuân hành răm-rắp cũng như thành viên OSS-1945, Võ Nguyên Giáp chịu đánh trận xa mà không đánh trận gần Khe-Sanh) Nhưng sự thật TT Thiệu ương-ngạnh, đã đếch sợ tướng Haig làm vô cùng ngạc nhiên đối với tướng tá của Ngũ giác đài, vin vào sự kiện nầy báo chí Mỹ chê trách TT Johnson không hoàn thành nhiệm vụ Tổng tư lệnh quân đội của mình và khen TT Thiệu còn giữ được phẩm chất cũa người lãnh đạo một nước nhỏ.

                            Đặc biệt, ngày 6/March/71, hai Tiểu-đoàn của Sư-đoàn-1 được Trực-thăng vận xuống vùng phụ cận Tchepone hay đúng hơn là gần trung tâm đầu não hậu-cần của Căn-cứ 604; Đây mới chính là mục tiêu của cuộc hành quân Lam-Sơn 719, nhưng TT Thiệu ra lệnh vừa chạm xuống để chụp hình và rút về ngay, coi như hoàn thành mục tiêu chiến-thuật, có nghĩa là hủy bỏ hành quân lùng và diệt địch cũng như phá hủy những cơ sở hậu cần của Căn Cứ 604 vào giai đoạn-3 của cuộc hành quân. Hay nói trắng ra TT Thiệu hủy bỏ giai đoạn-3 của cuộc hành quân là “khai thác chiến trường” mà Tướng Haig/NSC đã vạch ra ngày 18/1/71.

                            Một đoàn Trực-thăng 276 chiếc che khắp bầu trời vùng Khe-Sanh, Tchepone chuyển tất cả quân còn lại tại Khe-Sanh gồm BĐQ, vào Cứ điểm HOPE, phải bay 3 lượt như vậy mới đủ gồm trên 800 chuyến, nhưng không bị trúng đạn dù chỉ độc nhứt một viên đạn A.K… tại sao? Có phải nhờ B.52 đã vi phạm luật ROE (Rules Of Engagement) dùng yểm trợ tiếp cận (air ground closed support) vì trong suốt cuộc hành quân Trực-thăng vận dài nhất và số Phi cơ nhiều nhất trong lịch sử chiến tranh mà không bị một thiệt hại nào, duy chỉ có một chiếc UH.1 bị hư máy khi làm cận tiến trên bãi đáp HOPE? Đại-Tá Cockerham khoác-lác nói rằng: Chúng tôi bay trong đường hầm trên không, như được che chở bằng bức tường sắt để tránh những phòng không bắn trực-chỉ cũng như những đạn pháo cầu-vòng… bay qua từng chặng, thay đổi hướng bay theo như kế hoạch đã nghiên cứu tỉ-mỉ trước đó…”! (Làm sao ai hiểu được phải có một vị tướng Không Quân phải chịu cảnh “tế thần” vì vi phạm ROE, từ 4 sao lột xuống còn 2 sao để làm vừa lòng phía Liên Xô, (vì bị trên 600 ỗ phòng không AAA làm thiệt hại) buộc phãi đỗi chiến dịch oanh-tạc của B-52 từ Rolling Thunder qua Linebacker tiêu diệt vô số kể quân BV kể luôn nguyên một sư đoàn-2 Sao Vàng chưa kịp đụng trận đã bị xoá tên.

                            “Trận chiến VN thật ngộ-nghĩnh người ngay mắc nạn còn người ác như Jane Fonda thì được con nít Obama vinh danh: Lịch sử Hoa Kỳ sẽ ghi nhận hội-chứng nầy “This is for all the kids born in the 70's whose do not remember, and didn't have to bear the burden that our fathers, mothers and older Brothers and sisters had to bear. Jane Fonda is being honored as one of the '100 Women of the Century” Rồi chính đứa con nít Obama nầy lại được lệnh của một thế lực trong bóng tối buộc phải phục hồi danh-dự lại 4 sao cho vị tướng bị tế-thần nầy [Đại tướng John Daniel Lavelle] nhưng tướng Lavelle đếch cần vì người đang ở trên thiên đàng nhìn những người xấu đang loi-nhoi dưới thế!

                            Lúc quân lực VNCH đã rút ra khỏi lãnh thổ Lào, trái bom BLU-82s và BLU-82AL được thả vào sáng ngày 6 tháng April/1971 để Đại đội Hắc Báo vào cứu 7 đoàn viên UH1-H bị bắn rớt, giữa rừng già nguyên thủy, cách xa đoàn viên Mỹ hơn 1 cây số an toàn và đang ngồi dưới hầm kiên cố của Sư Đoàn 2 Sao Vàng BV đào sẵn, (Sự kiện nầy phải trả lại tính trung thực cho quân-sử, báo cáo của đại-đội Hắc Báo: Black Panther đã giết quá nhiều lính BV, nhưng thực tế đều do phi cơ Mỹ không tập, đại đội HB đã bước qua biết bao xác chết sình-thối. Khi được hỏi về ĐĐ Hắc Báo ... Tướng ABRAMS có nhận xét: “They come out of Laos saying the stench of dead bodies is so bad the soldiers can‘t stand it—they get sick”) đang hồi hợp chờ đợi trong khi ở trên đầu air cover gunship Spectra AC-130B bao vùng bằng đủ cỡ đại bác tối tân bắn bằng hồng ngoại tuyến, [nơi Cánh Thép hình 4 và 5 Aug 24, 2009, 00:40] Một người trong 7 nhân viên phi hành được cấp cứu phải buộc miệng: “Sư Ðoàn 2 Sao Vàng đào hầm vững chắc như vậy sao không núp!?”

                            Căn cứ theo tài liệu hình ảnh trao đổi giữa CIA và KGB: Riêng hình 3 là BLU.82AL được thả trên đỉnh đồi trọc cho radiation có nhiều ảnh hưởng hiệu quả lan ra xa, theo bản đồ hành quân của Pentagon mục tiêu là: CCHL-2, giai đoạn-3 dành cho Bom BLU.82AL. Phi cơ trang bị đặc biệt, MC-130 chỉ có thể thả từng trái một Bomb BLU-82s vì kẹt hệ thống cây kích hoả cũng như trọng lượng conventional bom nặng hơn its atomic-13 BLU.82AL nên MC.130 có thể mang một lần 2 trái AL (hình 1 và 2 nơi Website Cánh Thép)

                            Gần 40 năm sau khi từ trần, một tướng lãnh không quân Mỹ bị cáo buộc oan sai về tội oanh kích miền Bắc không có lệnh, đã được bạch hóa: Bộ Quốc phòng Mỹ vừa rồi loan báo là một Ủy ban duyệt xét của bộ đã xóa bỏ những cáo buộc cho rằng Đại tướng John Daniel Lavelle lúc bấy giờ đã ra lệnh oanh tạc Bắc Việt mà không được phép và sau đó giả mạo hồ sơ để che-dấu việc này? Xin hỏi điều tra tham mưu trướng Donald Rumsfeld của cái gọi là WSAG (Washington Special Acting Group) và Richard Helms trưởng CIA, tác giả vụ Watergate và buộc thả Bomb lại vào mùa Giáng Sinh-72, báo hại công cụ cái loa, Kissinger mới tuyên bố “Peace is at hand” tháng rồi, bây giờ phải nói với Thọ sao đây?! Vì thật ra cả 2 đều là cái loa để phát thanh chớ chẳng có quyền hạn gì, trong khi đó bấy lâu nay người Việt bỏ ra quá nhiều bút mực cùng oán hờn trên đầu kẻ học giỏi được thuê mướn để thực thi chính sách, mà không biết chánh phạm là ai?! Chiến tranh lạnh qua ý thức hệ “Căm Thù Giai Cấp” và “Căm Thù Cộng Sản” quả thật anh em ruột thịt không có căm thù thì làm gì có chuyện thề không đội trời chung đi đến chém giết nhau đến chỗ tận tuyệt!

                            Để xoa dịu Liên Xô về việc tự động đổi chiến dịch oanh tạc từ Rolling Thunder qua Linebacker, dùng B-52 Arc-Light tiêu diệt quân BV; Thừa dịp cuộc oanh kích vào đầu năm 1972, Đại tướng Lavelle bị giáng hai cấp xuống Thiếu tướng và bị cách chức liền tức thời; Tuy nhiên, gần bốn thập niên sau, Ngũ Giác Đài công bố tin tức cho thấy chính cựu Tổng thống Richard Nixon đã cho phép oanh tạc miền Bắc chứ không phải Đại tướng Lavelle (Ðiều dễ hiểu TT Nixon mà còn bị Permanent Government hất ra khỏi chiếc ghế quyền lực để vô hiệu hoá các bức thư riêng tư giữa 2 tổng thống Thiệu/Nixon cho mưu cầu đi đúng trên trục-lộ siêu chiến lược Eurasian 1920-2020. Cái thế lực ghê gớm nầy chũ trương phải đảo lộn các chân lý để nắm phần phỉnh gạt tinh vi thế gian như: Da màu thắng da trắng; Nghèo thắng giàu, Vô danh tiểu tốt thắng nổi tiếng nơi chính trường; Tiểu bang nhỏ thắng tiểu bang lớn; Chưa bao giờ ở nhà trắng được vào nhà trắng; Thiếu niên Thượng nghị sĩ thắng thâm niên TNS, mục đích cho thế giới hiểu rằng nước Mỹ có 1000 lần dân chủ để hù-doạ, đấu-đá sau nầy với TQ? (Nhưng bằng mọi giá phãi giữ lại BTQP Robert Gate cho sự an toàn nước Mỹ) Vì đã tới chu-kỳ suy-thoái do chính đảng Cộng Hoà cố tình gây ra, nên tạm thời dành 4 năm cho TT Da màu lên hốt Vỏ Ốc sau một thời gian dài Cộng Hoà ăn Ốc bả vỏ. Nhưng sự thật nước Mỹ lãnh đạo bởi một Nhóm siêu Mafia, tổng thống chỉ là một quản lý tổng quát (general manager) và cứ tuần tự tiếp nối những việc do người tiền nhiệm để lại, chỉ có ông chủ thật sự là Tập-đoàn Tư-bản thống trị mà thôi.

                            Ngũ Giác Đài cũng cho biết không có chứng cứ gì cho thấy tướng Lavelle (qua đời vào năm 1979) đã giả mạo bất cứ hồ sơ nào. Cũng vào những tháng vừa qua, Tòa Bạch Ốc loan báo Tổng Thống Barack Obama đề nghị khôi-phục cấp bậc Ðại tướng 4 sao cho tướng Lavelle cũng do lệnh của Permanent Government, chớ Obama biết cái đếch gì về chiến tranh VN. Kết luận, USAF sẽ đưa ra quyết định chung cuộc. Ngũ Giác Đài nói là tin tức mới về tướng Lavelle được rút ra từ những hồ-sơ đã được giải mật, trong đó có băng ghi âm về những cuộc nói chuyện của Tổng thống Nixon tại Tòa Bạch Ốc khi ông còn tại chức; Đây là những băng ghi âm do chính P.G ra lệnh thực hiện. (Xin đừng nghe những gì Permanent Government ngụy tạo ra nhứt là hồ sơ “mật” được gọi là ghi âm, chúng ta phải nghiên cứu, đúc kết qua nhiều sự kiện có thật, rồi liên hệ với thực tế với nhiều data) Trước khi chết Prescott Bush đã giao cho người nô bộc đáng tin cậy là Donald Rumsfeld phải tìm mọi cách để con cháu của ông phải được ghi danh vào danh sách tổng-thống Hoa Kỳ (Cả hai Bush-Cha và Con đều là tổng thống trong khi Bush ông-nội đã xuống 9 tầng địa ngục 1972).

                            (Truy tìm chi-tiết nơi www.DonaldRumfeld.com) để biết: August 10, 2007, “The Case For Trying Rumsfeld As A War Criminal”, Rumsfeld là người chính khách trẻ duy nhứt dám tuyên bố: “Miền nam bù nhìn, miền bắc yêu nước” ông lột lon Tướng Lavelle, gắn 4 sao cho Tướng Al.Haig để thay mặt Kissinger đấu đá với 3 sao N.V. Thiệu, lấy chiếc ghế ngoại giao của Roger để cho Kissinger rộng quyền nói chuyện với Hà Nội, tạo dựng giải hoà bình Nobel để thưởng Kissinger hoàn thành axiom-1, trong khi ra lịnh cho Mafia L. Ð.Thọ không được nhận giải Nobel mà phải cưỡng chiếm miền nam để hoàn thành định kiến-1 (axiom-1, There was never a legitimate non-communist government in Saigon) Rumsfeld là soạn giả tấn bi thảm kịch về VN và Iraq, thế cho nên, Ed Kennedy nói cuộc chiến Iraq và VN giống nhau về sự tàn phá và giống nhau về sự tái thiết theo đúng học thuyết kinh tế gia người Anh Malthus. Ðể búa-rìu thế giới không chê trách mà thương hại nước Mỹ là thua trận rút quân, nhưng điều quan trọng nhứt là Ðôla Xanh bỏ túi, và Hoa Kỳ vẫn là cường quốc số MỘT bỏ xa các nước. Thế nên mọi việc rối rắm tại VN, Bố-già George H W Bush khoán trắng cho Rumsfeld muốn làm gì thì làm; Gia dình Bush chỉ dành thời gian ở Trung Quốc để lo quyền lợi sống còn của giòng họ Bush là (1) nắm chắc giá nhân công rẻ mạt; (2) độc quyền kiểm soát các tài nguyên trên thế giới; (3) nắm vững thương trường bằng giá đồng đôla Xanh là căn bản (như VN, phải xài đôla Ðỏ, qua một chuỗi dài chu-kỳ từ ăn cướp của dân, tiền viện trợ, hoặc Việt kiều gởi về đầu tư, (trong khi Cuba không được đặc ân nầy) … nhưng gởi qua Mỹ phải là đôla Xanh qua trương mục, tính dụng, bất động sản … Theo sách lược trên lộ-đồ, sau khi bị lật đổ, tiền ăn cắp nầy sẽ được Mỹ lấy lại trả cho người dân bằng hàng tiêu dùng. Vì ngửi được sự kiện nầy… nên con ông cháu cha tha hồ mà phung-phí rửa tiền, Việt kiều về VN đã thấy lé mắt trong những ngày gần đây …

                            (Còn tiếp)
                            Last edited by Phòng Trực; 11-05-2012, 08:47 AM.

                            Comment

                            • vinhtruong
                              Super Member
                              • Jun 2010
                              • 1924

                              #15
                              Cuộc tàn sát dã-man của B-52

                              Giả thuyết Tướng Đỗ Cao Trí còn sống và chỉ huy cuộc hành quân Lam Sơn 719)

                              -Tiếng sấm rền rung-rinh sóng-sánh trên nóc mùng, báo hiệu cho tôi biết người anh em phía bên kia đang bị tàn sát một cách dã–man oan-uổng. Nằm yên trên ghế bố quân đội tại BCH Tiền Phương Dù, tôi buộc phải nghe tiếng Bom nổ từng hồi như thế suốt đêm; làm sao tôi chợp mắt dược dưới tăng lều mờ ảo của ngọn đèn vàng 60W không đủ sáng, đang uất ức vì là chứng nhân sự dã man cuồng-sát của Linebacker, Arc-Light standby trên bầu trời suốt đêm nay, đúng là đêm 5/March/71, rạng ngày 6/3 nhiều đợt B-52 tuần-tự với hoả lực gấp đôi từ Utapao trải thảm trên các điểm pháo cầu vòng của CSBV, khác hẳn B-52 cất cánh tại Guam, tiếng sấm rền ngắn hơn 20 giây. Thường vào đêm, Sư Ðoàn 2 Sao Vàng, họ hay ra khỏi hầm, nằm ngoài trời để lấy dưỡng-khí; Sư đoàn nầy chưa bao giờ nghe tiếng đụng trận với quân lực VNCH mà phải chịu chết oan!

                              -Sáng ngày 6/3/1971 [như hình Bomho post bên Cánh-Thép] Quả bom đã rơi xuống toạ độ phía Tây của LZ Sophia vào bờ nam con sông Xê-Pon vài Cây số về Nam Tây Nam, Hậu-cần 604, chúng ta thấy trái Bom không có dùng fuse dài chạm kích nổ nên có lỗ hỏa diệm sơn trên chóp đồi, dĩ nhiên Bom nầy không làm bãi đáp trực thăng, đây là đồi trọc chứng minh Bom BLU-82AL đã cuồng sát xoá sổ hoàn toàn quân số BV/Sư Ðoàn 2 Sao-Vàng đang nằm sâu dưới hầm, cùng các công sự phòng thủ thuộc Căn Cứ Hậu cần 604 đang chờ phục kích quân Lực VNCH sẽ vào bẫy, nhưng việc đó không xẩy ra, nhờ TT Thiệu cho rút về biên giới, cương quyết không thi hành mục tiêu chiến lược cũa Mỹ khai thác chiến trường “search and destroy”.

                              Giả thuyết Tướng Đỗ Cao Trí còn sống và chỉ huy cuộc hành quân Lam Sơn 719: Không có bằng chứng nào cho rằng chiếc Trực thăng chở Tướng Trí bị phá hoại rớt nổ khi vừa mới cất cánh: Phái đoàn điều tra Mỹ-Việt phối hợp cho rằng Phi cơ bị trục trặc trong bộ phận máy, nhưng có bằng chứng, cho mãi đến ngày 30/4/1975, các Không-Đoàn trực thăng khắp 4 Vùng Chiến Thuật chưa bao giờ xãy ra trường hợp tương tự như vậy. Cái chết của Trung Tướng Ðổ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Ðoàn III và là người hùng trong trận đánh vượt biên sang Cam Bốt vào năm 1970. Việc các căn cứ BÐQ thất thủ là thất bại quan trọng đầu tiên cho lực lượng VNCH trong cuộc hành quân Lam Sơn 719. Do đó, theo các tài liệu Hoa Kỳ, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cho rằng tướng Lãm đã không có những quyết định đúng lúc, đúng mức và đúng chỗ khiến cuộc hành quân bị trì trệ và lực lượng hành quân lâm vào tình thế bất lợi. Vì vậy, Tổng Thống Thiêu đã mời Tướng Trí từ BTL/QÐ III về Sài Gòn để thảo luận. Nguồn tin Hoa Kỳ cũng nói rằng, vào ngày 23 tháng 2, Tổng Thống Thiệu đã trao chức vụ Tư Lệnh cuộc hành quân Lam Sơn 719 cho Tướng Trí. Nhưng trên đường đi nhận nhiệm vụ mới được trao phó, chẳng may ông bị tử nạn trực thăng tai Tay Ninh, Tướng Lãm vì vậy vẫn còn giữ chức Tư Lệnh Hành Quân. Cái chết của Tướng Tri đưa ra nhiều nghi vấn… Một thế lực ghê gớm nầy sợ Tướng Trí sẽ tiếp diễn cái trò hủy diệt mau chóng các kho tàng trên đường Mòn Hồ như đã thành công trong năm vừa qua “Tốc chiến tốc thắng Cục R”. Cuộc chiến Việt Nam, bất cứ ai dù Mỹ hay Việt mà đụng đến đường Xa lộ Harriman [Ðường Mòn HCM] đều bị thảm hại, như John Paul Vann, dựa vào thân-thế từ Tổng thống Nixon, ưu tiên dùng B-52 tiêu diệt 3 Sư-đoàn BV và Trung đoàn 203 Chiến xa, không để cho Hà Nội chiếm Kontum làm thủ phủ MTGPMN để ăn nói tại bàn hội nghị Paris 1973. Thật nghich-lý chỉ có ÐPQ và NQ chiến đấu lẻ-loi mà giữ vững thị xã Kontum!?!? Còn như Tướng Westmorland không hiểu trách nhiệm qua Việt Nam chỉ để huấn luyện tác chiến mà thôi, không được đụng đến Highway Harriman nhưng khi Westmoreland nổi hùng-khí đòi đưa quân vào chiếm giữ đường xa-lộ mà Liên Xô chịu trách nhiệm thiết kế ống dẩn dầu huyết mạch, song song với xa-lộ, thì bị kêu về Mỹ ngay. Nếu Tướng Westmoreland mở cuộc hành quân Lam Sơn 689 thì cuộc hành quân Lam Sơn 719 nầy sẽ không bao giờ xảy ra, năm 68, (đường 9) Theo giả-thuyết:

                              Giả-thuyết: Chiều tối ngày 25/Febuary, Phi đội 219, Trực thăng H.34 bất thần thả 2 Toán thám-sát vào 2 điểm cao về phía Tây của Đồi-31 một Toán và một Toán ở điểm cao vùng HOPE: Hai Tiểu-đoàn BĐQ 21 và 39 đang túc trực án-ngữ tại Căn-cứ Hỏa-lực Aluối được lệnh chia thành nhiều Trung-đội để nhổ các Chốt pháo diện địa như 152, 130, 100, và 85 ly; Những khẩu pháo nầy tầm hiệu quả của nó đều trên 45,000 bộ (feets) cho nên rất nguy hiểm cho quân bạn trong cuộc tiến quân từ Aluối vào Tchepone suôi xuống phía nam 604.

                              Trong hai ngày 25, 26 nầy, từ cao điểm, 4 Toán thám sát ‘Hắc-Báo’, (Nều Tướng Abrams không thuận vì đại đội Hắc Báo chỉ dành riêng cho việc Rescue phi hành đoàn Mỹ, thi lấy TĐ/37/BĐQ chia ra nhiều toán thám-sát, mỗi Toán gồm 6 chiến binh) đã xác định một số tọa độ và chỉ dẫn ‘Chốt Trọng Pháo’ dấu kín trong đường hầm, và đã bị phát hiện bởi từng toán thám sát. Tuần tự, từ Đông sang Tây theo thứ tự mà phá diệt chốt. Người Chỉ huy trực thăng sẽ phối hợp với các Trung đội xung kích của BĐQ, nếu tình hình căng thẳng vì số khẩu pháo cũng như binh lính BV yểm trợ quá đông cho Bộ-chỉ-huy Trung-đoàn Pháo, thì dùng FAC (forward Air Control) có người Việt trên phi cơ quan sát OV-10 Bronco, để dùng Không quân chiến thuật san bằng. Giống như Tướng Đống không nên quá tin tưởng và dựa vào Mỹ để xử dụng B.52. Trên Trực-thăng võ-trang có chở theo một Sĩ-quan ‘điều hợp’ pháo binh để phối hợp yểm trợ cho Toán Thám-sát, 6 người đang ở trên các cao điểm hướng dẫn các khẩu pháo 155 ly từ Cứ điểm Aluối tác xạ vào cứ điểm pháo đội của Bắc Việt.

                              Sáng tinh sương ngày 27/Febuary, từ Căn cứ hoả lực Aluối, chiếc M.113 đầu tiên hướng dẫn cuộc tiến quân về Tchepone có Tướng Đỗ Cao Trí (người Mỹ cho là George Patton VN), đầu đội nón lưỡi trai, ngay giữa điểm 3 ngôi sao trắng toát đang vẫy tay thẳng tiến về trước. Nổ lực chính vẫn là Lữ-đoàn-1 Đặc nhiệm, Sư-đoàn 1BB bên sườn Nam của quốc lộ 9, Sư-đoàn TQLC bên sườn Bắc của quốc lộ 9; Bất cứ mũi dùi tiến công nào khi chạm địch, dừng lại ngay tại chỗ phòng thủ chống cự, trong khi các đơn vị khác phải mở mũi dùi tấn công cực mạnh ngang hông địch. Vào xế chiều ngày 27, Quân BV bắt đầu pháo lai rai vào Nổ lực chính, mong trì hoãn bước tiến của quân VNCH. Tướng Trí phải về Bộ-Tư-Lệnh Tiền Phương, Khe-Sanh để chi huy tổng quát; Dự định ngày 1/March sẽ đến Tchepone; Ngay ngày hôm sau, một cuộc hợp quan trọng cho cuộc tiến quân vào Tchepone và phá tan Căn-cứ Hậu-cần 604 cũng như các ‘Binh trạm’. Cuộc họp rất trang trọng với sự có mặt đầy đủ của các Đơn-vị-Trưởng. Người ta thấy sự có mặt của Tướng Lê Nguyên Khang, Tư Lệnh Sư Đoàn TQLC; Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Sư Đoàn Dù (hai Tướng nầy không bao giờ có mặt trong cuộc họp, lúc Tướng Lãm là Tư Lệnh chiến trường).

                              Chiều ngày 28/Febuary, Phi đội 219 tiếp tục thả thêm 2 Toán thám-sát trên cao điểm phía Tây của HOPE và một Toán trên cao điểm của phía Tây cực Bắc Tchepone nhìn xuống đầu sông Sêsamou chạy dài xuống ngã ba cùng nối liền sông Xê-Pon; Trực thăng võ trang 213 yểm trợ cho 5 Slicks sẽ chuyển các Trung đội xung kích thả xuống từ cao-điểm phía Bắc của mỗi “chốt kiềng pháo” (Kinh nghiệm phá chốt rất dễ như hồi giải tỏa Đèo Mang Giang ở giữa Pleiku và An-Khê: Từ trên cao chỉ cần 1 Tiểu đội tiến xuống thì địch không có đường chạy và chỉ ở tại chỗ, đầu hàng hoặc chết) Trung đội xung kích sẽ được Trực thăng võ trang bay vòng vòng, lấy điểm Chốt khẩu pháo CSBV làm trọng tâm, và cứ từ từ yểm trợ chơi 2,000 viên 1 phút, trong khi đó BĐQ sẽ dùng phóng lựu M.79 và lựu đạn xung phong. Pháo thủ làm sao đối đầu nỗi với BĐQ thiện chiến ? Cái thất lợi của đối phương là tất cả các họng súng đều hướng về phía Nam chĩa xuống dưới quốc lộ 9 để bắn phủ đầu Quân Lực VNCH nên phần phía sau ở hướng Bắc, có nghĩa là nhược điểm khó kháng cự khi phải ngoái cổ lại để phòng thủ thì không có điểm tựa vững chắc và trong vị thế đất hạ phong nên dễ bị lựu đạn tiêu diệt. Nhưng có một điều rất thất lợi cho Quân Lực VNCH là Mỹ đã thả lỏng nếu không muốn nói là khuyến khích, hàng ngàn chuyến-xe Molotova như kiến, nối đuôi chạy vào Nam mà Mỹ vẫn làm lơ, không cho B.52 phá hủy, hay là có điều giao ước mật (ROE) nào chăng? Để đổi lại, có thêm một điều thật lạ là phi cơ chiến thuật không bị Sam bắn hạ và ngay đến Hoả tiễn tầm nhiệt cầm-tay S.A 7 cũng không thấy; Nhưng bù lại, quân BV đem vào đây đến 6 Trung Đoàn phòng không đạn nổ thông thường trên 600 khẫu (Liên Xô buộc phải phế thải những thứ lỗi thời nầy tại vùng sơn lâm hiểm hóc) Đoàn 559 chịu trách nhiệm bảo quản cất giữ rải rác trên hành lang, tại các ‘Binh-Trạm’ dọc theo đường Mòn. Đến giữa tháng January/1971 Họ đã sẵn sàng thừa đủ số đạn phòng không nầy (đây tôi chưa nói qua 8 Trung Đoàn Pháo hạng nặng diện địa). Với tất cả 36,000 tấn thì dư sức để cung cấp cho 60,000 quân chiến đấu trong vòng 4 đến 5 tháng (Tài liệu phía Hà Nội).
                              B.52 có 4 mục tiêu ‘stand-by’dự trù trong kế hoạch để oanh kích (nếu Bắc Việt bất thần nổi chứng) nhưng chưa được lệnh CIA cho thi hành, gồm 9 boxes (một box 3 chiếc, chỉ cần một trái Bom nổ trúng là toàn kho đạn đều bị tiêu-hủy tan như xác pháo) mỗi một mục tiêu được mô tả là 2 cây số vuông, đó là: (1)- Đèo Mụ Giạ, (2)- Đèo Ban Karai, (3)- Đèo Ban-Raving và (4) là ở ngay phía Tây vùng Phi Quân Sự, trên Đường Mòn Hồ, cách phía Nam Đồi 30 vài cây số. 4 mục tiêu trên là sẵn-sàng cung ứng số lớn chiến cụ cho sự thành lập trước đó một năm, vào tháng October/1970 Mặt Trận 70B sẽ điều động 4 Sư-đoàn hầu tấn kích 2 tỉnh cực Bắc của VNCH (Quảng Trị và Thừa Thiên) Đoàn xe Molotova, tiếp tục chuyên chở số đạn dược xuôi về Nam với số lượng hàng ngàn tấn, Họ di chuyển suốt trong đêm tối mờ mờ không vặn đèn pha sợ Phi cơ trông thấy… cuối cùng đến một điểm, rồi ở đó lẫn trốn. Bỏ chiến cụ xuống sang qua xe khác và tiếp tục xuôi về Nam, núp dưới lùm cây của một đám rừng già nguyên thủy. Nhưng họ đâu hiểu rằng với khoa học kỹ thuật tinh-vi, Hoa Kỳ đã thấy rõ mồn-một những hoạt cảnh đó; Nhưng vì lý do bảo tồn “điều-lệ” trò chơi nên cứ để cho họ tiếp tục hoàn thành con đường tiếp liệu, chuyển xuống các Binh Trạm dọc theo hành lang của con đường Mòn, trong đó phải kể Đại tá nhị-trùng Bùi-Tín báo cáo hoàn thành chiến-cụ cất dấu trên hành lang Đường 559 trước ngày khai diễn cuộc hành quân (18/1/1971).

                              Ngày 14/December/1970 CIA công bố một bản tường trình về nghiên cứu với DIA, NSA và Văn phòng tin tức tình báo, nghiên cứu: Một lực lượng Bộ binh đáng kể, đang quy tụ gồm có Chiến xa và các pháo đội thành hình tại Nam Lào và nhiều đơn vị mới xuất hiện chung quanh vùng phụ cận Tchepone. Nơi đây, một lực lượng phòng không (AAA) dữ dội đang rải đều khắp mọi nơi, nhưng đáng kể nhất là vùng Tchepone; Họ dựa vào núi cao và rừng rậm để ẩn náu; Tìm kiếm một nơi để làm bãi đáp rất khó và dễ bị thảm hại… Không quân ta yểm trợ cho quân bạn rất khó khăn và nhiều trở ngại vì thời tiết sương mù tan rất trễ!

                              Trong khi đó bên phía Mỹ cũng có rắc rối với Quốc-Hội do tu chánh án Cooper-Church về sự cắt ngân khoản, như 30,000 phi vụ nay chỉ còn có 14,000 phi vụ. Cái Nhóm gọi là “ăn-sáng” nầy thiết kế theo ý đồ của W.A.Harriman và George H.W.Bush trong sách-lược bênh kẻ mạnh (on strong man side) Có nghĩa là từ giờ phút nầy, Tôi tự đặt cho nó cái tên ‘Xa lộ không đèn William Averell Harriman’ thay vì là Đường Mòn Hồ Chí Minh. Và B.52 chỉ có nhiệm vụ phát hoang cho Xa-Lộ (demolition) vào những vùng khó khăn núi đá hiểm trở nhất, chớ để cho BV làm thì chừng nào mới xong (CIA đã có hình do chính tôi bay trên 50 thước 1964, chụp một nhóm người làm đường bằng 2 tay cầm cái ‘Sọt’ đan bằng Tre Nứa, xúc đất đá tạp nhạp đổ lên mặt bằng, bên cạnh, những người khác cầm cuốc chim xẻn xúc, rồi dùng xe hũ-lô hồi đời lý-toét để cán lên làm mặt phẳng, thì biết chừng nào mới xong cho kịp chiếm Miền Nam, “không thể đình trệ trong kế hoạch, một điểm mốc lộ trình về thời gian rất quan trọng của một giai đoạn trong sách lược, mà cái Nhóm Dân Sự đó đã thiết kế rất tỉ mỉ qua máy tính điện tử. Thế nên có sự đồng ý của phản tình báo Mỹ, cho nên các nước Cộng Sản ra sức phụ giúp, nên chẳng bao lâu Đường 559 thành xa lộ 2 chiều, có đoạn có thể chạy được 40 cs/giờ.

                              Mãi đến chiều ngày 4/March, Nổ lực chính của Lữ-đoàn-1 Đặc Nhiệm mới dẫm chân lên trên phần đất Tchepone, sau gần một tuần lể nhúc-nhích, 2 Tiểu-đoàn 39 và 21 BĐQ nhổ hết các ổ trọng Pháo 152 ly và 130 ly dọc dài theo trên triền núi hướng Bắc của quốc lộ 9. Đôi khi phải dùng nguyên một Tiểu-đoàn 37 BĐQ mới nhổ được dàn trọng pháo 152, phối hợp với các Trung Đội chuyên môn nhổ ‘Chốt Pháo’ của Tiểu-đoàn 21 BĐQ; Với 2 ngày đêm chiến đấu ác liệt đối đầu một Trung-đoàn của Sư-đoàn Thép 320 quyết tử để bảo vệ Bộ-Chỉ-Huy của Trung-đoàn Pháo hạng nặng. Vì trời sương mù kéo dài quá lâu, Tôi xin TOC chia ra hai đợt oanh tạc gồm 16 Phi cơ A.37, qua đoản lệnh hành quân (Frag order) thả Bom trên cao độ 30,000 bộ qua hệ thống BOBS (Beacon Only Bombing System) Hệ thống nầy vận hành theo nguyên tắc định hướng bằng vô tuyến đăng (radio beacon) để hướng dẫn Phi cơ A.37 đến vùng oanh kích. Mục tiêu là từ Bắc xuống Nam, dọc theo bên trái bờ sông Sêsamou, nơi Sư-đoàn Thép 320 đang đóng chốt, với ý đồ dồn-ép quân VNCH từ phía Bắc xuống đến phía Nam thì đụng phải Sư-đoàn-2 Sao Vàng của BV đã chuẩn bị phục kích chờ đợi từ lâu trong cũng như dưới công sự phòng thủ rất kiên cố.

                              Ngày 3/March 2 Lữ-đoàn Dù được Trực thăng vận xuống hiệp lực cùng Tiểu-đoàn 39 BĐQ, càn quét tàn dư của Sư-đoàn 320, ngay sau khi B.52 dội bom dọc theo 2 bên bờ sông Sêsamou. Nổ lực chính đang được tăng viện thêm 2 Lữ-đoàn Dù, chuyển hướng về Nam, rời quốc lộ 9 băng sông Xê-Pon, qua lộ 913 rồi nhập vào hương lộ 914 và tiến về Căn Cứ Hậu-cần 604 của CSBV.

                              Bắt đầu thay đổi thế tiến công, Liên-đoàn I BĐQ bảo vệ Căn-cứ Hỏa-lực then chốt LOLO, bốn Pháo đội mạnh nhất 155 ly, do Hoa kỳ mới bàn giao tại Khe Sanh. Ở đây sẽ yểm trợ cho cuộc càn quét Căn-cứ 604. Sư-đoàn 1 BB có trách nhiệm thiêu hủy kho tàng 604, Lữ-đoàn 1 Đặc-nhiệm, mũi dùi nỗ lực chính trên trục tiến-sát, Sư-đoàn Dù yểm trợ sườn phải; Nguyên Sư-đoàn Thủy-Quân-Lục-Chiến tiến nhanh về hướng Đông làm nút chận trên hương lộ 922; Vì có tin mật báo 9 Trung-đoàn BV thuộc sư đoàn 304, 308 cùng 1 Trung-đoàn chiến xa đang bôn tập trên đường 922, từ hướng Bắc quốc lộ 9 đổ xuống; chắc chắn sẽ có một trận thư hùng tại đây, nhưng có một điều vô cùng thất lợi là TQLC không có súng chống chiến xa, phải dùng B.40 hoặc B.41 chiếm được để tự bảo vệ.

                              Và đây, mới đúng theo kế hoạch của cuộc họp Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (NSC) Hoa Kỳ ngày 18/January/1971, là hủy diệt 2 đối địch sừng sỏ nhất của 2 Miền, để về sau bàn giao miền Nam cho Hà-Nội theo mật kế Pennsylvania thì chỉ có rỉ máu thay vì tắm máu, và cũng là thiêu hủy tại chỗ các chiến cụ, trọng pháo, chiến xa, thiết vận xa, trực thăng mà Liên Xô với Mỹ đã đồng thuận giao ước trong trò chơi chiến tranh giữa hai đấu pháp CIP và NLF.
                              - Ngày 26/March: -Sư-đoàn Dù đụng độ với Sư-đoàn 304 và 308, B.52 can thiệp sau khi 2 bên đánh giáp lá cà cận chiến, sự thiệt hại rất đáng kể cho cả hai bên vì bị B.52 cày xới do lời yêu cầu của cấp chĩ huy của Dù đại tá Lưỡng
                              -Sư-đoàn-1 và Lữ đoàn-1 Ðặc nhiệm đụng với Sư Đoàn 2 Sao vàng và 2 Trung Đoàn Biệt Lập BV 278 và 27, sự thiệt hại của 2 bên cũng xem như rất trầm trọng vì B.52 thả vùi trên đầu cả 2 bên lâm chiến theo lời yêu cầu của đơn vị Sư đoàn-1 diện địa và Thiết kỵ đại tá Điềm, Luật. Phía VNCH thiệt hại trầm trọng vì B-52 trải thảm, trong khi CSBV nhờ vào những vị trí phòng thủ kiên cố trong hang núi.
                              -Sư-đoàn TQLC đụng độ với Trung-đoàn chiến xa của BV trên tuyến phía Đông, cạnh hương lộ 922 cùng với 7 Trung-đoàn thuộc 2 Sư-đoàn CSBV, 324B, 325 vây kín. Sư-đoàn TQLC bị thiệt hại nặng nề vì không có vũ khí chống chiến xa T.54; Sau cùng Sư-đoàn TQLC, Lữ đoàn trưởng 258, 147 buộc phải gọi Pháo binh bạn cũng như B.52 thả Bom ngay trên đầu để mong tìm hướng thoát ra khỏi vòng vây.

                              (Vũ khí QLVNCH luôn luôn dưới cơ quân BV, mãi đến mùa Hè Ðỏ Lửa-72, khi Trung tướng Ngô Quang Trưởng ra nắm Quân đoàn-1 để tái chiếm Quảng-Trị thì một câu chuyện đau lòng khi tôi phát hiện được lời nói của Tướng Abrams mà nhiều ký giả cho rằng tài ba trong tác phẩm “A Better War” ở mục Easter-Offensive… Vì dịch tiếng Anh loạng-quoạng nên tôi trích nguyên văn lời Tướng Abrams cho các đọc giả dễ hiễu: “I gave twenty to the Marine and the 1st Division because they were the only troops I knew of that had stood and fought. I don’t want these things in the hands of the enemy. And on the Airborne, I told General Kroesen [that] when General Truong will give me his personal assurance that they will not be abandoned on the battlefield, then I’ll consider it.” Ðó là vũ khí chống chiến xa TOW đầu tiên mà Hoa kỳ sẽ giao cho quân lực VNCH; WIB với mưu-đồ để cho phía Hà-Nội ở vị thế thượng phong, cũng như hồi Tết Mậu thân để cho quân lực VNCH tắm dưới mưa đạn AK của CSBV, trong khi quân bạn bắn M-1 từng viên)

                              Cuối cùng ngày 27/April, Tướng Đổ Cao Trí, quyết định xử dụng Sư-đoàn 2 BB tham dự vào chiến trận, nhưng không phải để chiến đấu, mà để bảo vệ đường rút về biên giới của các cánh quân bị thất lạc. Đối với Tướng Trí, ông không bao giờ lấy trục tấn kích và lui binh cùng một trục lộ, có nghĩa là tiến thối trên đường độc đạo; Sư-đoàn 2 BB được Trực thăng vận xuống án ngữ và bảo vệ cho các Tàn quân lẻ tẻ rút về biên giới Lào-Việt, Trách nhiệm Sư-đoàn-2 là bảo vệ an ninh dọc theo hai bên bìa rừng từ Hương lộ 548 qua phía Tây của Lào nối liền Hương lộ 922.

                              Giả thuyết về sự thiệt hại của hai bên:
                              - Bắc Việt: 37,000 người (thay vì 19,360) Chiến xa 120 (94)
                              - VNCH 9,000 người (thay vì 1,118) Chiến xa 183 (94) phần nhiều bị B.52 thiêu hủy và hết xăng dọc đường vì Nhóm tham mưu Dân Sự WSAG không cho phép yểm trợ tiếp tế xăng
                              - Phi Hành Đoàn Mỹ (Theo tài liệu MACV-SOG là 219 chết và 38 mất tích) nhưng trong giả thuyết nầy sẽ giảm rất nhiều, bù lại Liên Đoàn 51 Tác Chiến thế vào. Phi hành đoàn VN sẽ thay vào đó một số lớn như hầu hết là Phi hành đoàn Trực thăng võ trang đều phải bị hy-sinh trong đó có người viết!?

                              Theo như Giả thuyết nầy, có nghĩa là đúng ý-đồ của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ thì sự thiệt hại gấp 7 hoặc 8 lần của Quân Lực VNCH so với chỉ thị ‘rút-lui’của Vị Tổng Tư Lệnh Quân Lực (TT Thiệu) thì đọc giả nghĩ sao? Xin đọc giả xem lại suy gẫm diễn tiến cuộc hành quân nầy rồi hãy phán đoán TT Thiệu đúng hay sai mà đã có một số ít công kích! Riêng tất cả nhân viên phi hành của LÐ51TC vẫn luôn can trường xả thân vì “Tổ-quốc” “Danh-dự” và “Trách nhiệm” cùng đi đôi với niềm kiêu hãnh của Liên Phi Ðoàn là “Không bỏ anh em không bỏ bạn bè dù bất cứ hoàn cảnh hiểm nguy nào!”



                              (Còn tiếp)
                              Last edited by Phòng Trực; 11-05-2012, 09:12 AM.

                              Comment

                              Working...