Cựu chủ tịch tập đoàn Vinashin Phạm ThanhBình đã tự sát trong trại giam
Nhóm PV
-
“Bị cáo Phạm Thanh Bình vừa nói vậy tối hôm trước mà không biết vì sao bị cáo Phạm Thanh Bình lại thắt cổ tự tử ngay trong đêm đó? Không biết cái chết của bị cáo Phạm Thanh Bình có uẩn khúc gì hay không?”
Theo tin của TTXVN cho biết, sau 4 ngày xét xử công khai tại Tòa án Nhân dân thành phố Hải Phòng, chiều 30/3, phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án “Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) đã kết thúc với bản án thích đáng dành cho 9 bị cáo. Ông Phạm Thanh Bình, nguyên là chủ tịch tập đoàn công nghiệp tàu thủy Vinashin bị Tòa án Nhân dân Hải phòng trong phiên xử sơ thẩm kéo dài 4 ngày (.03.2012) kết án 20 năm tù giam. Tuy nhiên vụ án này chỉ liên quan đến số tiền thất thoát 43 triệu đô la trên tổng số hơn 4 tỷ đôla mà Tập đoàn Vinashin gây thiệt hại do quản lý yếu kém.
Ngoài thiệt hại về tiền, tài sản của Nhà nước đặc biệt lớn, hành vi phạm tội của các bị cáo còn làm đình trệ sản xuất kinh doanh, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư đối với ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam; gây dư luận xấu, bất bình trong xã hội, ảnh hưởng đến đời sống hàng chục ngàn lao động…
Trong vụ án này, bị cáo Phạm Thanh Bình là người được giao trọng trách đứng đầu tập đoàn nhưng đã không làm tròn nhiệm vụ được Nhà nước và nhân dân giao phó; có nhiều hành vi sai phạm gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng; thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần. Mặc dù có ba tình tiết giảm nhẹ nhưng do tính chất nghiêm trọng của vụ án, Hội đồng xét xử quyết định cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Ngay sau khi phiên tòa xét xử kết thúc chiều ngày 30.03.2012, các bị cáo được lực lượng cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc Tổng Cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ Tư pháp (TC VIII) áp giải lên xe đặc chủng và lập tức đưa về trại T14 thuộc địa bàn Hà nội. Tin cho biết sau khi kết thúc phiên Tòa các bị cáo có nhiều biểu hiện thái độ khác nhau tùy theo mức độ hình phạt do tòa án phán quyết, đặc biệt bị cáo Phạm Thanh Bình, nguyên là chủ tịch tập đoàn công nghiệp tàu thủy Vinashin người bị kết án 20 năm tù giam thì trạng thái tinh thần suy sụp biểu hiện rõ trên sắc mặt xám ngoét cùng với cặp mắt đờ đẫn. Khác với vẻ tự tin như người ta thấy trên khuôn mặt ông Phạm Thanh Bình xuất hiện tại Tòa án ngày đầu tiên, hay những ngày trước phiên xét xử, mà điều này được nhiều người đánh giá do ông tin tưởng vào thế lực chống lưng cho ông sẽ buộc tòa án phải có sự chiếu cố.
Sau khi được dẫn giải và bàn giao cho Trại T14 quản lý, ông Phạm Thanh Bình được đưa về buồng biệt giam cùng bị cáo Nguyễn Tuấn Dương, kẻ đồng phạm bị kết án 3 năm tù giam về tội “Sử dụng trái phép tài sản” theo quy định tại Khoản 3, Điều 142 Bộ luật Hình sự. Sáng sớm ngày 31.03.2012 khi ngủ dậy bị cáo Nguyễn Tuấn Dương phát hiện ông Phạm Thanh Bình đã chết trong tư thế treo cổ bằng một sợi dây màu đen buộc vào chấn song cửa sổ phòng giam, trong tư thế chân của nạn nhân cách mặt đất vào khoảng 5 – 7 cm. Thấy vậy bị cáo Nguyễn Tuấn Dương hốt hoảng, liền hô hoán kêu cứu và báo cho lực lượng bảo vệ trại giam T14 vào cấp cứu, xong không kịp vì ông Phạm Thanh Bình tim đã ngừng đập. Lập tức lực lượng khám nghiệm tử thi của PC.45 Công an Hà nội, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (C.45) và Viện Khoa học Hình sự (C54) phối hợp cùng Cục Tham mưu An ninh II (A82) tiến hành làm rõ và xác định nguyên nhân cái chết bất ngờ và bí ẩn của bị cáo Phạm Thanh Bình. Sơ bộ ban chuyên án cho biết ông Phạm Thanh Bình đã ngừng thở trước đó từ 3 – 4 giờ đồng hồ.
Cũng theo lời khai của bị cáo Nguyễn Tuấn Dương cho biết, tối hôm qua, trước lúc đi ngủ bị cáo để ý thấy ông Phạm Thanh Bình có biểu hiện căng thẳng và có tâm sự với bị cáo rằng ông sẽ chống án đến cùng, ông Phạm Thanh Bình có phàn nàn răng “Khi ăn thì cùng ăn, nó còn ăn nhiều hơn tôi nhiều lần. Giờ thì nó bỏ mặc tôi chịu một mình với án tột khung, không có tình tiết giảm nhẹ. Đã vậy tôi sẽ đạp đổ tất cả, sẽ khai đúng sự thật để chết thì cho chết hết như nhau”.
Bị cáo Phạm Thanh Bình vừa nói vậy tối hôm trước mà không biết vì sao bị cáo Phạm Thanh Bình lại thắt cổ tự tử ngay trong đêm đó? Không biết cái chết của bị cáo Phạm Thanh Bình có uẩn khúc gì hay không?
Chúng tôi sẽ tiếp tục cập nhật tin tức bổ xung mới nhất tới bạn đọc.
----------oooooo----------
KHI DÂN OAN THÍ MẠNG CHỐNG CƯỠNG CHẾ – CHẾ ĐỘ VIỆT GIAN CS ĐÃ “THẤY QUAN TÀI”
Cuối tháng 2 đầu tháng 3-1986, qua Đại Hội 27 đảng cộng sản Liên Xô, trong bối cảnh lụn bại mọi mặt của đế quốc Liên Xô (LX), đòi hỏi chế độ phải “đổi mới toàn diện”, Tổng Bí Thư Gorbachev đưa chủ trương Glasnost & Perestroika lên hàng quốc sách. Cuối năm 1986 – từ 15 đến 18 tháng 12 – qua đại hội VI đảng cộng sản ở VN, “tổng bí” Văn Linh “nói theo” ông chủ LX, hô khẩu hiệu “đổi mới hay là chết. Chưa đầy 3 năm sau, LX “đổi mới” không kịp, đi vào quá trình “chết” từ năm 1989, nhưng mãi đến 1991 mới “chết thật”. Những “con vẹt” VGCS bàng hoàng trong cảnh “mất chủ”, phải trối chết đi tìm “lãnh đạo mới”. Bẩm sinh là “tôi tớ”, không thể một ngày không có chủ. “Đổi mới” chưa biết cách nào, nhưng trước mắt, VGCS phải lo “đổi chủ”. Mỹ và đồng minh coi như đã “thắng” Chiến Tranh Lạnh. Tàu Cộng, tuy chỉ là “đồng minh giai đoạn” của Mỹ, đã góp phần không nhỏ, giúp Mỹ “be bờ”, tạo điều kiện làm sụp đổ LX, thay vì “chết theo” LX (đúng “quy luật khách quan” của “cộng sản trái mùa”), đã được “làm ngơ” cho thảm sát, đàn áp ở Thiên An Môn, và “sống sót”.
Thời 1990-91, cả Mỹ lẫn Tàu Cộng đều “có nợ máu” với VGCS. Hơn thế, “nợ máu Tàu” lại còn mới ràng ràng, trong khi “nợ máu Mỹ”, dù sao cũng đã lùi vào quá khứ được 15 năm. VGCS từng “mắng” Tàu là “bá quyền bành trướng”, ghi vào hiến pháp, coi Tàu là “kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất”. Giữa hai “thế lực nước ngoài” đáng mặt được VGCS chọn làm “ông chủ” lúc đó chỉ có Mỹ và Tàu Cộng (TC). VGCS đã chọn TC, vì Văn Linh cho rằng “... dù bành trướng thế nào thì Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa”.(Trần Quang Cơ – Hồi ký “Hồi Ức và Suy Nghĩ”). Bọn chóp bu VGCS cần cái “vỏ bọc xã hội chủ nghĩa” để khuất lấp tội chúng “tiếp tục bán nước để còn đảng”. Năm lần bảy lượt, Tàu Cộng chỉ muốn chúng “chuyển sang hòa bình” (đầu hàng) như một nước với một nước. Năm lần bảy lượt, chúng xin TC xem chuyện chúng bán nước lần này như chuyện một đảng với một đảng, xóa bỏ oán thù với nhau. Dĩ nhiên là “đầu hàng vô điều kiện”. Tổng cộng, từ khi ra đời, VGCS đã bán nước đến 3 lần. Lần thứ nhất, khi LX và TC chưa bắn nhau, đế quốc cộng sản còn nguyên vẹn, LX là “chủ tối cao”, TC là “chủ trực tiếp lãnh đạo”, VGCS là “tay sai mũi nhọn”. Lần thứ hai, khi LX và TC bắn nhau năm 1968, rồi TC “theo Mỹ, phản LX” năm 1970, VGCS phản TC, tiếp tục “bán nước cho một mình LX”. Lần thứ ba, năm 1990-91, khi “ông chủ” LX chết đột ngột, VGCS “đổi chủ”, xin được TC coi là “một bộ phận” của cách mạng XHCN “do TC lãnh đạo”. Chúng tưởng đâu cái vỏ bọc “tổ quốc XHCN” có thể khuất lấp được tội bán nước, như thời 1950, khi đế quốc cộng sản chưa vỡ đôi, và LX chưa sụp đổ. Nhưng, năm 1950 không phải là năm 2009, khi thế giới vừa qua Đại Khủng Hoảng 2007-08, Tàu vội chấm dứt thời “nín thở qua sông”, bộc lộ dã tâm “bá quyền bành trướng”, khiến Mỹ và đồng minh phải xét lại cái gọi là Đồng Thuận Bắc Kinh (cho TC hưởng ưu đãi của kinh tế thị trường, mà cứ “định hướng XHCN”).
Mỹ/TC từ “đối tác chuyển sang đối đầu”, thì Biển Đông VN bắt đầu nổi sóng. Từ đó, vấn đề chủ quyền lãnh hải trở thành gai góc trong quan hệ “láng giềng 4 tốt” giữa VGCS và TC. Theo “nhận thức chung” giữa các nước “xã hội chủ nghĩa anh em”, bấy lâu từng “tụng niệm” câu “bên kia biên giới cũng là anh em”, nhất là câu “Biển Đông là của chung”, ai dè đâu có ngày “nhóm lợi ích dầu hỏa” PetroVN (VietSoPetro) la toáng lên là tàu Bình Minh 2 đang dò mỏ dầu, bị tàu TC cắt giây cáp. Tiếp theo, người phát ngôn bộ ngoại giao VGCS “mắng” tàu TC là “ngang ngược”. Cãi qua cãi lại, đánh đánh xoa xoa, đe đe vuốt vuốt, rút cuộc lòi ra “căn cước bán nước bẩm sinh” của VGCS. Bại lộ căn cước ấy, VGCS hết thời “đội lốt” này nọ, để “còn đảng còn mình”. Trần trụi với căn cước “buôn dân bán nước”, qua đại hội XI, VGCS củng cố bộ máy trấn áp, tăng gấp đôi số chóp bu trong bộ chính trị về 3 mặt : công an, quân đội, tuyên truyền. Đã rõ ràng, không biết làm gì hơn, VGCS quay về với quán tính khủng bố : thứ nhất rỉ tai, thứ hai mã tấu. Đàn áp những cuộc biểu tình “chống Tàu cứu nước”, VGCS chỉ làm cho truyền thống “ghét Tàu”, bấy lâu nhẫn nhịn, có dịp bùng lên, không cách chi “giảm nhiệt” cho kịp. Bản án việt gian làm rơi rụng hết các “thành tích vĩ đại” mà VGCS thường huênh hoang. Cãi cọ giữa “chủ/tớ” Tàu/VGCS bạch hóa thực chất trận Điện Biên Phủ : đó là chiến thắng của TC, cho nên VGCS tiếng là “thắng” mà “mất nửa nước”, còn TC chỉ nhận vai “chi viện”, nhưng lấy lại uy thế quốc tế sau khi thua Mỹ ở Triều Tiên. Bạch hóa hồ sơ VGCS “thắng đại” ngày 30-4-1975 cho thấy đó chỉ là trò “cờ gian bạc lận” giữa một bên là LX “tháu cáy” bên kia là Mỹ và TC. Bản án ấy khiến cho lời huênh hoang của Lê Duẩn “ta đánh đây là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc” hóa ra là lời “thú tội”. Cũng thế, câu tuyên truyền “đánh thắng hai tên đế quốc sừng sỏ nhất, là Pháp và Mỹ” trở thành trò hề diễu dở. Với bản án ấy, VGCS không có tư cách vin vào “công lao giải phóng và thống nhất đất nước” để “cố bám quyền bính”, khi mà mọi mặt xã hội VN dưới ách thống trị của chúng băng hoại đến mức “hết thuốc chữa”. Những tên chóp bu đã hết “nhiệm kỳ đô la” mới dám quay lại chỉ trích chế độ, nào là “dột từ nóc dột xuống”, nào lả “lỗi hệ thống”, nào là “thực trạng đã nặng lắm rồi, như căn bệnh ung thư”... Ngay tên chóp bu chủ tịch nước cũng phải thú nhận “đảng nhung nhúc một bầy sâu”. Chóp bu hành pháp “báo cáo”, đòi cải tổ cơ cấu. Chóp bu “đảng ta” chẩn mạch “ba căn bệnh trầm kha” (1/ Lợi ích nhóm; 2/ Tư duy nhiệm kỳ; 3/ Đầu tư công kém hiệu quả), rồi nói ngay rằng “chỉnh đốn đảng là công việc rất phức tạp nhưng không thể không làm, vì nó liên quan đến sinh mệnh của đảng và sự tồn vong của chế độ”. Sau đó, chính tên này ở hội nghị trung ương 4 khóa XI đã nói tràng giang đại hải về”chỉnh đảng” những gì, và như thế nào. Toàn là “bài bản” cũ rích đến nhàm chán. Tiếp theo, y đưa ra 19 điều cấm đảng viên không được làm, trong đó có điều “cấm viết hồi ký” là “tiếu lâm” nhất, chứng tỏ “đảng ta”, với “tuổi thọ 82”, đang “móm mém” tự thú nhận “không biết mình là ai, đang ở đâu”, và “đánh mất đồng hồ”.
Với căn cước “bẩm sinh bán nước”, xuất thân từ một thứ “văn minh cộng sản suy bại”, áp đặt một “hệ giá trị nhất nguyên duy vật” không “kết tinh” nổi, tạo ra một xã hội với một hệ giá trị “quái thai”, thử hỏi đảng VGCS mà “chỉnh” được, thì thành cái gì ? Thành một đảng chính cống với “lý tưởng” Mác-xít, triệt để “đấu tranh giai cấp” chống lại “người bóc lột người” ? Thử hỏi : “xuất khẩu lao động”, ai bóc lột ai ? “Xuất khẩu cô dâu” ai bóc lột ai ? Thành “một bộ phận” của “cách mạng xã hội chủ nghĩa thế giới do Trung Quốc lãnh đạo”? Thử hỏi : “lý tưởng” nào cắt nghĩa cho xuôi việc “bộ phận lãnh đạo” tranh chấp chủ quyền với “bộ phận thuộc hạ”, đồng thời “xâm thực” mọi mặt nước thuộc hạ ? Hỏi là trả lời : đảng VGCS với căn cước “bẩm sinh bán nước”, giả tỉ có “chỉnh” được cũng là “hư đốn”; không “chỉnh” được, lại càng cần phải “đốn bỏ”. Hơn ai hết, VGCS biết rõ điều đó. Bày trò “chỉnh nọ chỉnh kia”, chẳng qua chúng “tự lừa dối”, hy vọng lừa dối quốc dân và quốc tế, kéo dài “nhiệm kỳ cướp cạn” được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Nhờ đâu, chúng “kéo” được cho đến bây giờ ?
Hãy nghe một tên chóp bu quân sự thố lộ : “Trung quốc vừa là thày, vừa là bạn, vừa là ân nhân; nhờ có Trung quốc ta mới được như ngày hôm nay...”. Đã rõ ràng : chỗ dựa của chúng là Tàu Cộng. Từ năm 1991, sau khi “đổi chủ”, xóa những câu coi Tàu là kẻ thù trong hiến pháp và điều lệ đảng, nhất nhất chúng đều “sao chép” Tàu. Khi Mỹ/TC còn là “đồng minh giai đoạn”, chúng lẽo đẽo “theo voi Tàu, hít bã mía Mỹ”. Đến khi Mỹ/TC thôi “đối tác” trở thành “đối đầu”, chúng lâm thế theo voi Tàu không xong, hít bã mía Mỹ không ổn, vì hàng ngũ “ta-bạn-thù” đã thay đổi. Cả Mỹ lẫn Tàu đều từng “có nợ máu” với VGCS, nên luôn “cảnh giác cao” về thành tích “sớm đầu tối đánh” của chúng, nhưng cũng có nhu cầu “tranh thủ” chúng, để hạn chế ảnh hướng của đối thủ, nhờ thế, VGCS có cơ hội “khai thác mâu thuẫn” Mỹ/TC để “kéo” cho đến nay.
Ý thức đầy đủ là thời gian “kéo” không được lâu như mong muốn, thế “giằng co” Mỹ/TC không dài, tâm lý “vội vã vơ vét” thúc đẩy “tư duy nhiệm kỳ cướp cạn” trở nên “khẩn trương”. Các “nhóm lợi ích” tỏ ra “bất chấp hậu quả”, không ngừng “giải phóng mặt bằng”, gia tăng “cưỡng chế”, ngân hàng “khủng hoảng nợ xấu”, nhà-nước in tiền vô tội vạ “bù lỗ” cho quốc doanh, lương tiền hậu hĩnh cho công an, bộ đội, dân phòng. Ba cỗ máy kìm kẹp này được nuôi béo để “trung với đảng”, nhưng lại “bất hiếu với dân”, đào sâu thêm khoảng cách “tha hóa” giữa Lòng Dân và Ý Đảng. Hơn thế, chóp bu VGCS không ngớt “tranh quyền, tranh ăn”; lãnh đạo tha hóa với đảng viên; giữa đảng viên với nhau cũng tha hóa. Công tác quản lý nhà-nước luộm thuộm, ù lì với tác phong “làm chơi ăn thật, làm ít ăn nhiều, mồm miệng đỡ chân tay”. Mua quan bán chức, chạy án tràn lan. Đã thế, VGCS còn coi “tự diễn biến” là kẻ thù. Không tự diễn biến, làm sao “chỉnh đảng”, mong sống còn ? Chính “chỗ dựa” của VGCS là TC cũng đang lâm nạn “khủng hoảng giá trị”, có khi còn nặng hơn VGCS. Nhưng TC có khả năng và không coi “tự diễn biến là kẻ thù”. Giả tỉ như mai kia TC chịu lùi về vị thế “đối tác” với Mỹ (điều này khó xảy ra nhưng vẫn là một khả năng), để được Mỹ đối xử như với Nhật sau Thế Chiến II, thử hỏi lúc đó VGCS dựa vào đâu ? Còn mâu thuẫn nào để khai thác ? Lúc đó, “chạy theo Mỹ” còn kịp không ? Quốc dân có thôi hỏi tội việt gian không ? Tội gây ra “ba cuộc Chiến Tranh Đông Dương”, đấu tranh giai cấp từ Bắc chí Nam giết hàng triệu người, ExodusVN I năm 1954, ExodusVN II năm 1975 ... quốc dân VN có tha cho VGCS không ? Hỏi là trả lời. VGCS biết thế, nên “thà chết cố bám”.
Năm 2011, tình hình Nhân Quyền ở VN được các trung tâm thẩm quyền quốc tế đánh giá là “tồi tệ nhất”, kể từ khi được cho hội nhập vào kinh tế thị trường và cộng đồng thế giới. Tất cả các tôn giáo đều bị trấn áp có hệ thống; VGCS lập lờ dùng “tự do thờ phụng” – freedom of worship – đánh lận với “tự do tôn giáo” – freedom of religion. Biểu tình chống Tàu, bị bắt giam chung với đĩ điếm, với bệnh nhân HIV, bị công an đánh đập, bị tù hình sự hành hung. Công an đánh chết người, hầu như tỉnh nào cũng có. Số người mất tích âm thầm không thể thống kê. Hàng loạt người chống đối bị bắt, xử phạt như tù hình sự, như thời Chiến Tranh Lạnh, các nước cộng sản không bao giờ nhận có tù chính trị. VGCS tiếp tục vòi tiền Mỹ nhưng vẫn tuyên truyền rằng “Mỹ là thế lực thù địch nước ngoài”, luôn đứng sau “con ma diễn biến hòa bình”. Cho đến khi Bom Tiên Lãng nổ ra gây phấn khởi cho Dân Oan khắp nước, đồng thời hai bài hát Anh Là Ai? và Việt Nam Tôi Đâu? làm rúng động con tim mọi người VN. “Tức nước vỡ bờ”, Dân Oan sẵn sàng “thí mạng”. Bạo quyền liệu đã biết “đổ lệ” khi “thấy quan tài” chưa ?
LS Dinh Thach Bich
Nhóm PV
-
“Bị cáo Phạm Thanh Bình vừa nói vậy tối hôm trước mà không biết vì sao bị cáo Phạm Thanh Bình lại thắt cổ tự tử ngay trong đêm đó? Không biết cái chết của bị cáo Phạm Thanh Bình có uẩn khúc gì hay không?”
Theo tin của TTXVN cho biết, sau 4 ngày xét xử công khai tại Tòa án Nhân dân thành phố Hải Phòng, chiều 30/3, phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án “Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) đã kết thúc với bản án thích đáng dành cho 9 bị cáo. Ông Phạm Thanh Bình, nguyên là chủ tịch tập đoàn công nghiệp tàu thủy Vinashin bị Tòa án Nhân dân Hải phòng trong phiên xử sơ thẩm kéo dài 4 ngày (.03.2012) kết án 20 năm tù giam. Tuy nhiên vụ án này chỉ liên quan đến số tiền thất thoát 43 triệu đô la trên tổng số hơn 4 tỷ đôla mà Tập đoàn Vinashin gây thiệt hại do quản lý yếu kém.
Ngoài thiệt hại về tiền, tài sản của Nhà nước đặc biệt lớn, hành vi phạm tội của các bị cáo còn làm đình trệ sản xuất kinh doanh, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư đối với ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam; gây dư luận xấu, bất bình trong xã hội, ảnh hưởng đến đời sống hàng chục ngàn lao động…
Trong vụ án này, bị cáo Phạm Thanh Bình là người được giao trọng trách đứng đầu tập đoàn nhưng đã không làm tròn nhiệm vụ được Nhà nước và nhân dân giao phó; có nhiều hành vi sai phạm gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng; thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần. Mặc dù có ba tình tiết giảm nhẹ nhưng do tính chất nghiêm trọng của vụ án, Hội đồng xét xử quyết định cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Ngay sau khi phiên tòa xét xử kết thúc chiều ngày 30.03.2012, các bị cáo được lực lượng cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc Tổng Cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ Tư pháp (TC VIII) áp giải lên xe đặc chủng và lập tức đưa về trại T14 thuộc địa bàn Hà nội. Tin cho biết sau khi kết thúc phiên Tòa các bị cáo có nhiều biểu hiện thái độ khác nhau tùy theo mức độ hình phạt do tòa án phán quyết, đặc biệt bị cáo Phạm Thanh Bình, nguyên là chủ tịch tập đoàn công nghiệp tàu thủy Vinashin người bị kết án 20 năm tù giam thì trạng thái tinh thần suy sụp biểu hiện rõ trên sắc mặt xám ngoét cùng với cặp mắt đờ đẫn. Khác với vẻ tự tin như người ta thấy trên khuôn mặt ông Phạm Thanh Bình xuất hiện tại Tòa án ngày đầu tiên, hay những ngày trước phiên xét xử, mà điều này được nhiều người đánh giá do ông tin tưởng vào thế lực chống lưng cho ông sẽ buộc tòa án phải có sự chiếu cố.
Sau khi được dẫn giải và bàn giao cho Trại T14 quản lý, ông Phạm Thanh Bình được đưa về buồng biệt giam cùng bị cáo Nguyễn Tuấn Dương, kẻ đồng phạm bị kết án 3 năm tù giam về tội “Sử dụng trái phép tài sản” theo quy định tại Khoản 3, Điều 142 Bộ luật Hình sự. Sáng sớm ngày 31.03.2012 khi ngủ dậy bị cáo Nguyễn Tuấn Dương phát hiện ông Phạm Thanh Bình đã chết trong tư thế treo cổ bằng một sợi dây màu đen buộc vào chấn song cửa sổ phòng giam, trong tư thế chân của nạn nhân cách mặt đất vào khoảng 5 – 7 cm. Thấy vậy bị cáo Nguyễn Tuấn Dương hốt hoảng, liền hô hoán kêu cứu và báo cho lực lượng bảo vệ trại giam T14 vào cấp cứu, xong không kịp vì ông Phạm Thanh Bình tim đã ngừng đập. Lập tức lực lượng khám nghiệm tử thi của PC.45 Công an Hà nội, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (C.45) và Viện Khoa học Hình sự (C54) phối hợp cùng Cục Tham mưu An ninh II (A82) tiến hành làm rõ và xác định nguyên nhân cái chết bất ngờ và bí ẩn của bị cáo Phạm Thanh Bình. Sơ bộ ban chuyên án cho biết ông Phạm Thanh Bình đã ngừng thở trước đó từ 3 – 4 giờ đồng hồ.
Cũng theo lời khai của bị cáo Nguyễn Tuấn Dương cho biết, tối hôm qua, trước lúc đi ngủ bị cáo để ý thấy ông Phạm Thanh Bình có biểu hiện căng thẳng và có tâm sự với bị cáo rằng ông sẽ chống án đến cùng, ông Phạm Thanh Bình có phàn nàn răng “Khi ăn thì cùng ăn, nó còn ăn nhiều hơn tôi nhiều lần. Giờ thì nó bỏ mặc tôi chịu một mình với án tột khung, không có tình tiết giảm nhẹ. Đã vậy tôi sẽ đạp đổ tất cả, sẽ khai đúng sự thật để chết thì cho chết hết như nhau”.
Bị cáo Phạm Thanh Bình vừa nói vậy tối hôm trước mà không biết vì sao bị cáo Phạm Thanh Bình lại thắt cổ tự tử ngay trong đêm đó? Không biết cái chết của bị cáo Phạm Thanh Bình có uẩn khúc gì hay không?
Chúng tôi sẽ tiếp tục cập nhật tin tức bổ xung mới nhất tới bạn đọc.
----------oooooo----------
KHI DÂN OAN THÍ MẠNG CHỐNG CƯỠNG CHẾ – CHẾ ĐỘ VIỆT GIAN CS ĐÃ “THẤY QUAN TÀI”
Cuối tháng 2 đầu tháng 3-1986, qua Đại Hội 27 đảng cộng sản Liên Xô, trong bối cảnh lụn bại mọi mặt của đế quốc Liên Xô (LX), đòi hỏi chế độ phải “đổi mới toàn diện”, Tổng Bí Thư Gorbachev đưa chủ trương Glasnost & Perestroika lên hàng quốc sách. Cuối năm 1986 – từ 15 đến 18 tháng 12 – qua đại hội VI đảng cộng sản ở VN, “tổng bí” Văn Linh “nói theo” ông chủ LX, hô khẩu hiệu “đổi mới hay là chết. Chưa đầy 3 năm sau, LX “đổi mới” không kịp, đi vào quá trình “chết” từ năm 1989, nhưng mãi đến 1991 mới “chết thật”. Những “con vẹt” VGCS bàng hoàng trong cảnh “mất chủ”, phải trối chết đi tìm “lãnh đạo mới”. Bẩm sinh là “tôi tớ”, không thể một ngày không có chủ. “Đổi mới” chưa biết cách nào, nhưng trước mắt, VGCS phải lo “đổi chủ”. Mỹ và đồng minh coi như đã “thắng” Chiến Tranh Lạnh. Tàu Cộng, tuy chỉ là “đồng minh giai đoạn” của Mỹ, đã góp phần không nhỏ, giúp Mỹ “be bờ”, tạo điều kiện làm sụp đổ LX, thay vì “chết theo” LX (đúng “quy luật khách quan” của “cộng sản trái mùa”), đã được “làm ngơ” cho thảm sát, đàn áp ở Thiên An Môn, và “sống sót”.
Thời 1990-91, cả Mỹ lẫn Tàu Cộng đều “có nợ máu” với VGCS. Hơn thế, “nợ máu Tàu” lại còn mới ràng ràng, trong khi “nợ máu Mỹ”, dù sao cũng đã lùi vào quá khứ được 15 năm. VGCS từng “mắng” Tàu là “bá quyền bành trướng”, ghi vào hiến pháp, coi Tàu là “kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất”. Giữa hai “thế lực nước ngoài” đáng mặt được VGCS chọn làm “ông chủ” lúc đó chỉ có Mỹ và Tàu Cộng (TC). VGCS đã chọn TC, vì Văn Linh cho rằng “... dù bành trướng thế nào thì Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa”.(Trần Quang Cơ – Hồi ký “Hồi Ức và Suy Nghĩ”). Bọn chóp bu VGCS cần cái “vỏ bọc xã hội chủ nghĩa” để khuất lấp tội chúng “tiếp tục bán nước để còn đảng”. Năm lần bảy lượt, Tàu Cộng chỉ muốn chúng “chuyển sang hòa bình” (đầu hàng) như một nước với một nước. Năm lần bảy lượt, chúng xin TC xem chuyện chúng bán nước lần này như chuyện một đảng với một đảng, xóa bỏ oán thù với nhau. Dĩ nhiên là “đầu hàng vô điều kiện”. Tổng cộng, từ khi ra đời, VGCS đã bán nước đến 3 lần. Lần thứ nhất, khi LX và TC chưa bắn nhau, đế quốc cộng sản còn nguyên vẹn, LX là “chủ tối cao”, TC là “chủ trực tiếp lãnh đạo”, VGCS là “tay sai mũi nhọn”. Lần thứ hai, khi LX và TC bắn nhau năm 1968, rồi TC “theo Mỹ, phản LX” năm 1970, VGCS phản TC, tiếp tục “bán nước cho một mình LX”. Lần thứ ba, năm 1990-91, khi “ông chủ” LX chết đột ngột, VGCS “đổi chủ”, xin được TC coi là “một bộ phận” của cách mạng XHCN “do TC lãnh đạo”. Chúng tưởng đâu cái vỏ bọc “tổ quốc XHCN” có thể khuất lấp được tội bán nước, như thời 1950, khi đế quốc cộng sản chưa vỡ đôi, và LX chưa sụp đổ. Nhưng, năm 1950 không phải là năm 2009, khi thế giới vừa qua Đại Khủng Hoảng 2007-08, Tàu vội chấm dứt thời “nín thở qua sông”, bộc lộ dã tâm “bá quyền bành trướng”, khiến Mỹ và đồng minh phải xét lại cái gọi là Đồng Thuận Bắc Kinh (cho TC hưởng ưu đãi của kinh tế thị trường, mà cứ “định hướng XHCN”).
Mỹ/TC từ “đối tác chuyển sang đối đầu”, thì Biển Đông VN bắt đầu nổi sóng. Từ đó, vấn đề chủ quyền lãnh hải trở thành gai góc trong quan hệ “láng giềng 4 tốt” giữa VGCS và TC. Theo “nhận thức chung” giữa các nước “xã hội chủ nghĩa anh em”, bấy lâu từng “tụng niệm” câu “bên kia biên giới cũng là anh em”, nhất là câu “Biển Đông là của chung”, ai dè đâu có ngày “nhóm lợi ích dầu hỏa” PetroVN (VietSoPetro) la toáng lên là tàu Bình Minh 2 đang dò mỏ dầu, bị tàu TC cắt giây cáp. Tiếp theo, người phát ngôn bộ ngoại giao VGCS “mắng” tàu TC là “ngang ngược”. Cãi qua cãi lại, đánh đánh xoa xoa, đe đe vuốt vuốt, rút cuộc lòi ra “căn cước bán nước bẩm sinh” của VGCS. Bại lộ căn cước ấy, VGCS hết thời “đội lốt” này nọ, để “còn đảng còn mình”. Trần trụi với căn cước “buôn dân bán nước”, qua đại hội XI, VGCS củng cố bộ máy trấn áp, tăng gấp đôi số chóp bu trong bộ chính trị về 3 mặt : công an, quân đội, tuyên truyền. Đã rõ ràng, không biết làm gì hơn, VGCS quay về với quán tính khủng bố : thứ nhất rỉ tai, thứ hai mã tấu. Đàn áp những cuộc biểu tình “chống Tàu cứu nước”, VGCS chỉ làm cho truyền thống “ghét Tàu”, bấy lâu nhẫn nhịn, có dịp bùng lên, không cách chi “giảm nhiệt” cho kịp. Bản án việt gian làm rơi rụng hết các “thành tích vĩ đại” mà VGCS thường huênh hoang. Cãi cọ giữa “chủ/tớ” Tàu/VGCS bạch hóa thực chất trận Điện Biên Phủ : đó là chiến thắng của TC, cho nên VGCS tiếng là “thắng” mà “mất nửa nước”, còn TC chỉ nhận vai “chi viện”, nhưng lấy lại uy thế quốc tế sau khi thua Mỹ ở Triều Tiên. Bạch hóa hồ sơ VGCS “thắng đại” ngày 30-4-1975 cho thấy đó chỉ là trò “cờ gian bạc lận” giữa một bên là LX “tháu cáy” bên kia là Mỹ và TC. Bản án ấy khiến cho lời huênh hoang của Lê Duẩn “ta đánh đây là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc” hóa ra là lời “thú tội”. Cũng thế, câu tuyên truyền “đánh thắng hai tên đế quốc sừng sỏ nhất, là Pháp và Mỹ” trở thành trò hề diễu dở. Với bản án ấy, VGCS không có tư cách vin vào “công lao giải phóng và thống nhất đất nước” để “cố bám quyền bính”, khi mà mọi mặt xã hội VN dưới ách thống trị của chúng băng hoại đến mức “hết thuốc chữa”. Những tên chóp bu đã hết “nhiệm kỳ đô la” mới dám quay lại chỉ trích chế độ, nào là “dột từ nóc dột xuống”, nào lả “lỗi hệ thống”, nào là “thực trạng đã nặng lắm rồi, như căn bệnh ung thư”... Ngay tên chóp bu chủ tịch nước cũng phải thú nhận “đảng nhung nhúc một bầy sâu”. Chóp bu hành pháp “báo cáo”, đòi cải tổ cơ cấu. Chóp bu “đảng ta” chẩn mạch “ba căn bệnh trầm kha” (1/ Lợi ích nhóm; 2/ Tư duy nhiệm kỳ; 3/ Đầu tư công kém hiệu quả), rồi nói ngay rằng “chỉnh đốn đảng là công việc rất phức tạp nhưng không thể không làm, vì nó liên quan đến sinh mệnh của đảng và sự tồn vong của chế độ”. Sau đó, chính tên này ở hội nghị trung ương 4 khóa XI đã nói tràng giang đại hải về”chỉnh đảng” những gì, và như thế nào. Toàn là “bài bản” cũ rích đến nhàm chán. Tiếp theo, y đưa ra 19 điều cấm đảng viên không được làm, trong đó có điều “cấm viết hồi ký” là “tiếu lâm” nhất, chứng tỏ “đảng ta”, với “tuổi thọ 82”, đang “móm mém” tự thú nhận “không biết mình là ai, đang ở đâu”, và “đánh mất đồng hồ”.
Với căn cước “bẩm sinh bán nước”, xuất thân từ một thứ “văn minh cộng sản suy bại”, áp đặt một “hệ giá trị nhất nguyên duy vật” không “kết tinh” nổi, tạo ra một xã hội với một hệ giá trị “quái thai”, thử hỏi đảng VGCS mà “chỉnh” được, thì thành cái gì ? Thành một đảng chính cống với “lý tưởng” Mác-xít, triệt để “đấu tranh giai cấp” chống lại “người bóc lột người” ? Thử hỏi : “xuất khẩu lao động”, ai bóc lột ai ? “Xuất khẩu cô dâu” ai bóc lột ai ? Thành “một bộ phận” của “cách mạng xã hội chủ nghĩa thế giới do Trung Quốc lãnh đạo”? Thử hỏi : “lý tưởng” nào cắt nghĩa cho xuôi việc “bộ phận lãnh đạo” tranh chấp chủ quyền với “bộ phận thuộc hạ”, đồng thời “xâm thực” mọi mặt nước thuộc hạ ? Hỏi là trả lời : đảng VGCS với căn cước “bẩm sinh bán nước”, giả tỉ có “chỉnh” được cũng là “hư đốn”; không “chỉnh” được, lại càng cần phải “đốn bỏ”. Hơn ai hết, VGCS biết rõ điều đó. Bày trò “chỉnh nọ chỉnh kia”, chẳng qua chúng “tự lừa dối”, hy vọng lừa dối quốc dân và quốc tế, kéo dài “nhiệm kỳ cướp cạn” được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Nhờ đâu, chúng “kéo” được cho đến bây giờ ?
Hãy nghe một tên chóp bu quân sự thố lộ : “Trung quốc vừa là thày, vừa là bạn, vừa là ân nhân; nhờ có Trung quốc ta mới được như ngày hôm nay...”. Đã rõ ràng : chỗ dựa của chúng là Tàu Cộng. Từ năm 1991, sau khi “đổi chủ”, xóa những câu coi Tàu là kẻ thù trong hiến pháp và điều lệ đảng, nhất nhất chúng đều “sao chép” Tàu. Khi Mỹ/TC còn là “đồng minh giai đoạn”, chúng lẽo đẽo “theo voi Tàu, hít bã mía Mỹ”. Đến khi Mỹ/TC thôi “đối tác” trở thành “đối đầu”, chúng lâm thế theo voi Tàu không xong, hít bã mía Mỹ không ổn, vì hàng ngũ “ta-bạn-thù” đã thay đổi. Cả Mỹ lẫn Tàu đều từng “có nợ máu” với VGCS, nên luôn “cảnh giác cao” về thành tích “sớm đầu tối đánh” của chúng, nhưng cũng có nhu cầu “tranh thủ” chúng, để hạn chế ảnh hướng của đối thủ, nhờ thế, VGCS có cơ hội “khai thác mâu thuẫn” Mỹ/TC để “kéo” cho đến nay.
Ý thức đầy đủ là thời gian “kéo” không được lâu như mong muốn, thế “giằng co” Mỹ/TC không dài, tâm lý “vội vã vơ vét” thúc đẩy “tư duy nhiệm kỳ cướp cạn” trở nên “khẩn trương”. Các “nhóm lợi ích” tỏ ra “bất chấp hậu quả”, không ngừng “giải phóng mặt bằng”, gia tăng “cưỡng chế”, ngân hàng “khủng hoảng nợ xấu”, nhà-nước in tiền vô tội vạ “bù lỗ” cho quốc doanh, lương tiền hậu hĩnh cho công an, bộ đội, dân phòng. Ba cỗ máy kìm kẹp này được nuôi béo để “trung với đảng”, nhưng lại “bất hiếu với dân”, đào sâu thêm khoảng cách “tha hóa” giữa Lòng Dân và Ý Đảng. Hơn thế, chóp bu VGCS không ngớt “tranh quyền, tranh ăn”; lãnh đạo tha hóa với đảng viên; giữa đảng viên với nhau cũng tha hóa. Công tác quản lý nhà-nước luộm thuộm, ù lì với tác phong “làm chơi ăn thật, làm ít ăn nhiều, mồm miệng đỡ chân tay”. Mua quan bán chức, chạy án tràn lan. Đã thế, VGCS còn coi “tự diễn biến” là kẻ thù. Không tự diễn biến, làm sao “chỉnh đảng”, mong sống còn ? Chính “chỗ dựa” của VGCS là TC cũng đang lâm nạn “khủng hoảng giá trị”, có khi còn nặng hơn VGCS. Nhưng TC có khả năng và không coi “tự diễn biến là kẻ thù”. Giả tỉ như mai kia TC chịu lùi về vị thế “đối tác” với Mỹ (điều này khó xảy ra nhưng vẫn là một khả năng), để được Mỹ đối xử như với Nhật sau Thế Chiến II, thử hỏi lúc đó VGCS dựa vào đâu ? Còn mâu thuẫn nào để khai thác ? Lúc đó, “chạy theo Mỹ” còn kịp không ? Quốc dân có thôi hỏi tội việt gian không ? Tội gây ra “ba cuộc Chiến Tranh Đông Dương”, đấu tranh giai cấp từ Bắc chí Nam giết hàng triệu người, ExodusVN I năm 1954, ExodusVN II năm 1975 ... quốc dân VN có tha cho VGCS không ? Hỏi là trả lời. VGCS biết thế, nên “thà chết cố bám”.
Năm 2011, tình hình Nhân Quyền ở VN được các trung tâm thẩm quyền quốc tế đánh giá là “tồi tệ nhất”, kể từ khi được cho hội nhập vào kinh tế thị trường và cộng đồng thế giới. Tất cả các tôn giáo đều bị trấn áp có hệ thống; VGCS lập lờ dùng “tự do thờ phụng” – freedom of worship – đánh lận với “tự do tôn giáo” – freedom of religion. Biểu tình chống Tàu, bị bắt giam chung với đĩ điếm, với bệnh nhân HIV, bị công an đánh đập, bị tù hình sự hành hung. Công an đánh chết người, hầu như tỉnh nào cũng có. Số người mất tích âm thầm không thể thống kê. Hàng loạt người chống đối bị bắt, xử phạt như tù hình sự, như thời Chiến Tranh Lạnh, các nước cộng sản không bao giờ nhận có tù chính trị. VGCS tiếp tục vòi tiền Mỹ nhưng vẫn tuyên truyền rằng “Mỹ là thế lực thù địch nước ngoài”, luôn đứng sau “con ma diễn biến hòa bình”. Cho đến khi Bom Tiên Lãng nổ ra gây phấn khởi cho Dân Oan khắp nước, đồng thời hai bài hát Anh Là Ai? và Việt Nam Tôi Đâu? làm rúng động con tim mọi người VN. “Tức nước vỡ bờ”, Dân Oan sẵn sàng “thí mạng”. Bạo quyền liệu đã biết “đổ lệ” khi “thấy quan tài” chưa ?
LS Dinh Thach Bich

Comment