Đời sống bây giờ ở Saigon - September 2011

Collapse
X
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • TAM73F
    Super Moderator
    • Apr 2009
    • 2321

    #1

    Đời sống bây giờ ở Saigon - September 2011

    Đề xuất dùng vàng miếng thế chấp vay USD nước ngoài .

    Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam sẵn sàng nhận vàng tiết kiệm làm tài sản thế chấp cho vay USD. Nếu huy động được 100 tấn vàng có thể vay 4 tỷ USD.

    Ông Nguyễn Thanh Trúc, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Tổng công ty Vàng Agribank Việt Nam, Phó chủ tịch Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam đưa ra hai khuyến nghị nhằm đưa vàng trong dân vào nền kinh tế.

    Theo tính toán của các doanh nghiệp, lượng vàng lưu giữ trong dân là 500 tấn (khoảng 25 tỷ USD). Theo ông Trúc, biện pháp dễ nhất là các ngân hàng thương mại huy động vàng trong dân, sau đó gửi vào ngân hàng nước ngoài và dùng chính số vàng đó làm tài sản thế chấp để vay lại ngoại tệ của các ngân hàng nước ngoài.

    Một số ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam cho biết, họ sẵn sàng nhận vàng tiết kiệm của chúng ta làm tài sản thế chấp để cho vay USD. Nếu huy động tiết kiệm được 100 tấn vàng (khoảng 5 tỷ USD), thì chúng ta có thể vay 4 tỷ USD.

    Cách thứ hai là khi giá vàng trong nước rẻ hơn giá vàng thế giới mà vàng trong tài khoản tiết kiệm còn dư, thì cho xuất khẩu để thu ngoại tệ. Sau đó, mua ngay một lượng vàng tài khoản đúng bằng số vừa bán để chốt giá mà chỉ phải trả 7% tiền đặt cọc. Khi cần vàng để trả cho người dân, ngân hàng mới chuyển hết tiền và đưa vàng về.

    "Những giải pháp trên đã được chúng tôi đề xuất lên với một số lãnh đạo" - ông Trúc cho biết. Ngoài hai giải pháp thu hút vàng trong dân, ông Trúc cũng cho rằng cần phải giảm thuế xuất khẩu vàng nhằm ổn định thị trường, bởi thuế càng cao thì xuất lậu vàng càng lớn (hiện thuế xuất khẩu vàng là 10%).


    24/09/2011

    VN Média.VN
    (Theo Đầu tư)
    ------//-----

    Lời Bàn

    Đang có kế hoạch "kiểm kê tài sản"?


    "...Nếu huy động tiết kiệm được 100 tấn vàng (khoảng 5 tỷ USD), thì chúng ta có thể vay 4 tỷ USD..."

    Chữ "huy động" có nhiều nghĩa. Có thể là "mượn tạm, Tết Công gô sẽ trả", có thể cho lãi suất cao.

    Nhưng như vậy CP CSVN phải trả 2 lãi suất, 1 cho dân, 1 cho ngân hàng ngoại quốc.

    Hơn nữa, chỉ mượn ra 80% giá trị (thế chân 5 tỉ, mượn 4 tỉ). Ví dụ trả cho dân 2% tiền lời, thì đó là 2 tấn; trả cho ngân hàng ngoại quốc 5% x 4 tỉ USD = 200 triệu USD.

    Cho dù vàng không lên giá thì phải trả tiền lời cho dân tương đương 100 trệu USD (cho 2 tấn) + 200 triệu USD cho ngân hàng ngoại = 300 triệu USD.

    Vậy là tiền lời 300 triệu USD / 4 tỉ USD = 7,5%.

    Nhưng cách này có cái nguy là nếu vàng lên giá, như năm ngoái lên 25%, thì số tiền phải trả cho dân là 125 triệu USD, nâng tiền lời lên $325 triệu / $4 tỉ = 8,125%.

    Vả lại, khó "huy động" 100 tấn với giá tiền lời 2%, và ngoại quốc cho vay có thể cao hơn 5%.

    Nếu nâng giá tiền lời thì nguy cơ default càng cao.

    Cái nguy của dân là, nếu CP CSVN không có tiền trả lại cho ngân hàng ngoại quốc, thì dân mất hết vàng, hoặc có Kết kim.

    Xưa nay chưa từng ai đi kiện ông VUA mà thắng.

    Phim Bao Công cũng chưa hề có xử VUA!
  • TAM73F
    Super Moderator
    • Apr 2009
    • 2321

    #2
    ---------//---------

    Nhiều người không hiểu tại sao VN có cả hai deficits (cán cân thương mại balance commerciale và ngân sách budget) mà nền kinh tế vẫn tồn tại đến nay (và sẽ tiếp tục tồn tại trong nhiều năm nửa). Dễ hiểu thôi:
    - Để giải quyết vấn đề 'ngân sách thiếu hụt' (deficit budgetaire, tức là chính phủ VN chi nhiều hơn thu ), chính phủ chỉ việc in tiền ra để trám vào chỗ trống ! Hậu quả: masse monetaire (M2) càng ngày càng chương phình, gây ra lạm phát đến mức độ kinh khủng là 18% trong năm nay. Để so sánh, TQ hiện nay chỉ lạm phát khoảng 5 hay 6% mà đã lo sốt vó, tung ra nhiều biện pháp gắt gao để kìm chế: tăng lãi xuất, tăng coefficient de reserves bancaires, hạn chế tín dụng ... Nói chi đến Mỹ và Âu Châu: chỉ tiêu đề ra cho lạm phát là không được quá ... 2% ! Ở VN, việc in tiền sẽ tiếp tục khi nào ngân sách còn thâm thủng. Và nhờ vậy kinh tế VN vẫn ... sống nhăn răng !
    Điều đáng buồn là ô Bernanke của Mỹ cũng bắt chước VN, in tiền cả ngàn tỷ (dollars chứ ko phải đồng vn !) hai lần rồi, và chiều nay không chừng sẽ in lần thứ 3 ! Tại sao Mỹ củng in tiền mà lạm phát ko tăng ? Vì kinh tế Mỹ còn quá yếu, nên áp lực lạm phát chưa phát hiện, nhưng chắc chắn sẽ bột phát khi kinh tế Mỹ phục hồi, nếu ô Bernanke ko ra biện pháp để thu hồi số hiện kim dư thừa.
    - Về vấn đề nhập siêu (deficit commercial, nhập cảng nhiều hon xuất cảng), hiệu quả là số hiện kim dự trử (réserves en devises etrangeres) của VN sẽ bớt đi (năm 2010: bớt 1 tỷ dollars mỗi tháng). Nhưng điều mà nhiều kinh tế gia 'tài tử' quên là: số dự trử này, ngược lại, được tăng lên do 2 nguồn hiện kim ào ào đổ vào VN ngày càng nhiều. Hai nguồn đó là: tiền Việt Kiều về VN ăn xài, đầu tư và tiếp tế thân nhân (8 tỷ một năm), và tiền người ngoại quốc viện trợ và đầu tư vào VN (Foreign Direct Investment FDI), năm 2009 là 21.5 tỷ $

    http://www.vietpartners.com/Statistic-fdi.htm

    2 nguồn ngoại tệ này cộng lại (khoảng 30 tỷ $), vượt xa số thâm thùng do ngoại thương gây ra (12 tỷ một năm). Do đó, kinh tế VN vẫn tiếp tục tăng trưởng (khoảng 6% năm 2011) và ... sống nhăn răng !
    Hởi ôi, những người đang mong đợi VN sẽ 'sụm' vì kinh tế (như BS N.Đăng Quế) sẽ phải đợi ... hơi lâu !!!

    --------//-------

    Comment

    • TAM73F
      Super Moderator
      • Apr 2009
      • 2321

      #3
      Chỉ trên phương diện kinh tế, VN hiện nay đã lệ thuộc TQ rất nhiều, vì VN nhập cảng nhiều nhứt từ TQ, đó là chưa nói đến FDI từ TQ. Nếu nói đến sự lệ thuộc hơn nửa, chỉ có một possibilité là TQ hoàn toàn áp đảo chính sách k.t. của VN. Trong trường hơp đó, Mỹ sẽ 'bất lợi' trên 2 phương diện:

      1/ FDI:
      Mỹ sẽ ko thể đầu tư nhiều vào VN như hiện nay, hoặc ko thể đầu tư gì ráo vào VN. Nguồn lợi từ FDI (cho Mỹ) sẽ cạn. Trong FDI phải kể cả những xí nghiệp mà Mỹ 'outsourcing' lao động (mướn người VN thay vì mướn dân công Mỹ)

      2/ Nhập cảng Mỹ:
      VN xuất cảng nhiều nhứt là vô ... Mỹ ! Vì vậy, Mỹ có thể mất đi một fournisseur à bon marché. (Về mặt xuất cảng: Mỹ ko bán được bao nhiêu hàng cho VN)

      Tóm lại, đồ nhập cảng của Mỹ sẽ mắc hơn. Tuy nhiên, VN chiếm một phần rất nhỏ trong cán cân thương mại Mỹ, vì vậy hậu quả toàn diện trên k.t. Mỹ sẽ không đáng kể.

      Hậu quả đáng kể hơn, là trên phương diện chính trị: Mỹ sẽ mất ảnh hưởng trên một 'tay chơi' (joueur) đáng kể trong Đông Nam Á.

      ------//------

      Comment

      • TAM73F
        Super Moderator
        • Apr 2009
        • 2321

        #4
        Kinh tế không người lái
        Friday, September 16, 2011 6:11:00 PM

        Ngô Nhân Dụng

        Nếu người dân Việt Nam ai cũng thông minh, hiểu biết như các đại biểu Quốc Hội của họ thì chính phủ Nguyễn Tấn Dũng sẽ chẳng phải lo lắng gì về kinh tế cả.
        Mạng Vneconomy mới dẫn ra mấy lời tuyên bố của một ông đại biểu Sài Gòn tên là Ðỗ Văn Ðương. Theo Vneconomy, ông Ðương phát biểu như thế này: “Tôi không nghĩ lạm phát ở nước ta cao nhất khu vực... Theo tôi phải xem lại chỗ này. Tôi đi các nước thấy giá tiêu dùng đắt đỏ, một đĩa rau muống xào ở Thượng Hải tới 200 nghìn (đồng Việt Nam), nhưng ở Việt Nam chỉ mấy chục (nghìn)... Cần xem lại đánh giá chỉ tiêu lạm phát này xem có đúng không, theo tôi (lạm phát ở Việt Nam) không phải là cao nhất.”
        Ðó là ông Ðỗ Văn Ðương chưa sang du lịch bên Nga đấy nhé. Ở Saint Petersburg, trong Quán Việt-Cafe chúng tôi được Trần Nguyên Thắng mời tới ăn cho đỡ nhớ cơm, một đĩa rau muống xào nếu tính ra tiền Việt Nam giá tới 300 ngàn đồng lận! Gắp một cọng rau muống lên, cho vào miệng, cứ tưởng như mình đang nhai cả mớ tiền, xót cả ruột! Ðối với dân ăn rau muống, ở Việt Nam sung sướng như trên thiên đường rồi! Muốn biết lạm phát ở Việt Nam thấp đến thế nào, mời ông Ðương thử qua Ðan Mạch chơi. Trước cửa quán Le Le Nhà Hàng bản thực đơn ghi một tô phở giá 135 đồng tiền bản xứ, tính ra thành 27 đô la Mỹ. Hơn 350 nghìn đồng Việt Nam một bát phở Trời Ðất ạ! Hay là qua Little Saigon, một ly “cà phê trong suốt” tính đến (nghe nói) 5 đồng đô la, chắc đắt gấp trăm lần ly cà phê ở Sài Gòn chứ chẳng ít!
        Ông Ðỗ Văn Ðương đã đậu bằng Tiến Sĩ Luật. Không biết ở trường chúng nó dậy ông những cái gì ngoài tư tưởng Mác-Lê Nin mà ông lú lẫn, dốt nát về kinh tế đến thế! Nhưng đại đa số người Việt Nam may mắn không có bằng tiến sĩ cho nên vẫn chưa đến nỗi lú lẫn. Họ chỉ cần tính giá mớ rau muống ngày hôm nay so với tuần trước là đủ biết thằng lạm phát nó cắn vào túi tiền của họ như thế nào.
        Sáng 14 tháng 9 tại Hà Nội, Ngân Hàng Phát Triển Á Châu (ADB) họp, báo cáo họ dự đoán lạm phát của Việt Nam trong năm 2011 ở mức 18.7%. Mức lạm phát như vậy là có giảm xuống so với năm ngoái, nhưng vẫn cao nhất trong khu vực Á Châu. Ngân hàng ADB cũng hạ thấp dự đoán tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong năm 2011. Năm tháng trước đây họ tính kinh tế Việt Nam sẽ lên thêm 6.1% đến 6.7%, nay nghĩ lại thấy chắc chỉ tăng được 5.8% mà thôi.
        Bình thường, khi tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế xuống thấp hơn thì sẽ giảm áp lực lạm phát, ít khi thấy kinh tế vừa đình trệ lại vừa lạm phát. Nhưng kinh tế Việt Nam là một trường hợp đặc biệt. Muốn bớt lạm phát, tất cả mọi người phải giảm chi tiêu. Số tiền lưu hành trong nước phải giảm xuống. Trong khi nhà nước bớt nhiều việc chi tiêu phí phạm để kinh tế không phồng lên một cách giả tạo nữa, thì những người dân bình thường thì vẫn phải ăn, phải uống, phải dùng xăng chạy xe ngoài đường, và buổi tối vẫn phải bật đèn điện. Giá điện, giá xăng đều được chính ông Dũng cho tăng lên; riêng giá thực phẩm thì tự động tăng không giảm, vật giá vẫn kéo nhau lên, mà không đổ tội cho một thế lực thù nghịch nào cả. Giá sinh hoạt chung vẫn tăng, riêng trong đám dân nghèo mà phần lớn tiền kiếm được đều chi vào việc ăn uống, tỷ lệ lạm phát thật còn cao hơn 20%. Nhưng phần chi tiêu của đảng và nhà nước, nếu nó cứ tăng thì người dân không chịu trách nhiệm!
        Ðầu tháng 3 năm 2011, ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký nghị quyết số 11 ra lệnh guồng máy tài chánh đẩy tỷ số lạm phát xuống cho chỉ còn một con số, dưới 10%, khoảng 7%, 8% thôi. Ông Dũng dùng tất cả các khí cụ ông nắm trong tay để đẩy: Ngân Hàng Nhà Nước, các ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp nhà nuớc, vân vân. Tất cả cùng nhau đẩy. Nhưng, như chúng ta thấy, sau 6 tháng tác dụng của cái nghị quyết 11 cũng giống như người ta cố đẩy một sợi dây thừng vậy. Nó nhích đi được một chút, rồi thun lại, ỳ ra, không nhúc nhích, không còn công hiệu nào nữa.
        Tình trạng bi đát đến nỗi một nhà phân tích kinh tế trong nước vừa mới nhận định: “Kinh tế Việt Nam thật sự đang ngắc ngoải trong tình trạng đình lạm,” (stagflation, tức là sản xuất đình trệ trong khi lạm phát vẫn cao, hai hiện tượng thường không xẩy ra cùng một lúc). Nhà kinh tế này còn tiên đoán: “Chính Phủ Việt Nam đang rất tuyệt vọng, từng bước thăm dò phản ứng để có thể kết hối (tịch thu USD) và kết kim (tịch thu vàng) bất cứ lúc nào.” Ðể dẫn chứng cho mối lo tịch thu vàng, bài nhận định trên nêu ra bản tin (Vnexpress, 23/8/2011) nói Thống Ðốc Ngân Hàng Trung Ương Nguyễn Văn Bình đã “gợi ý” rằng: “Ngân Hàng Nhà Nước sẽ giữ vàng giùm cho dân.” Một câu nói đó có thể khiến cho vàng cũng mọc cánh bay thật nhanh ra ngoại quốc, tất nhiên chỉ những người có tài chắp cánh cho vàng mới chạy của thoát!
        Nghị quyết 11 đã được khen là “một bước ngoặt lớn về chính sách” vì ông Nguyễn Tấn Dũng đã bỏ chính sách cũ là cứ tung tiền ra cho các doanh nghiệp nhà nuớc chi tiêu thoải mái. Bây giờ, các ngân hàng kềm chế lại, số tiền cho vay không được tăng tới 20% so với năm ngoái; ngân sách nhà nước phải tăng thu khoảng 7%-8% vân vân. Và bản nghị quyết cũng không quên căn dặn: “Ðẩy mạnh thông tin-tuyên truyền;” cho guồng máy kinh tế nó lắng nghe rồi chạy theo tiếng hô các khẩu hiệu.
        Nhưng guồng máy kinh tế nó điếc. Phương pháp điều hành kinh tế bằng khẩu hiệu thời ông Mao Trạch Ðông không còn hiệu quả nào trên kinh tế cả.
        Muốn bớt lạm phát thì phải giảm bớt chi tiêu, hàng hóa sẽ bớt tăng giá hung hãn. Có hai khâu chính trong việc sử dụng tiền ở nước ta, là nhà nước và dân. Ông nhà nước ra lệnh cho các ông nhà nước khác bớt chi tiêu, nhưng chưa chắc họ đã làm được. Còn những anh chị dân đen thì phần lớn những món chi tiêu của họ là “tối thiểu,” không chi không sống được. Nhu cầu của một gia đình dân, những ăn uống, quần áo, xăng dầu, không tăng hay giảm theo nghị quyết của nhà nước. Còn về phần các bộ phận của nhà nước, thì có khi họ muốn mà cũng không giảm chi tiêu được.
        Thí dụ, ngân sách chính phủ vẫn thâm thủng 120 ngàn tỷ đồng Việt Nam, tức là tiền chi ra nhiều hơn tiền thu vào, nhưng không bỏ được. Nhà nước lại chi ra 15 ngàn tỷ đồng để cứu mấy ngân hàng nhỏ bị đe dọa phá sản, không chi cũng không được. Lại còn cứu các thị trường chứng khoán nữa. Lo cho các đại gia mua chứng khoán bị đang lỗ, nhà nước đã bỏ ra 70 ngàn tỷ đồng để nâng giá các cổ phần. Ngoài ra, còn những món tiền mà Ngân Hàng Nhà Nước đem chi hoặc cho phép các ngân hàng thương mại đưa vào thị trường, ngoài tất cả dự liệu của Nghị Quyết 11, phải nói là phản lại bản nghị quyết này!
        Theo lệ cũ, các ngân hàng thương mại chỉ được đem 80% tiền ký thác của thân chủ mà cho vay. Nhưng theo thông tư số 22 của Ngân Hàng Nhà Nước mới đổi, từ ngày 1 tháng 9, 2011, các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác sẽ được đem tất cả tiền người ta gửi ra cho vay. Như vậy thì không khác gì cho số tiền lưu thông tăng vọt lên nhiều lần, không còn thấy cái giới hạn 20% của ông Nguyễn Tấn Dũng đâu nữa! Theo công ty Bảo Việt thì với thông tư 22 này, từ đây tới cuối năm, số tiền được phép tung ra cho vay sẽ lên tới 460 ngàn tỷ đồng! Cái thông tư 22 coi như đã hủy bỏ mọi tác dụng của nghị quyết 11! Cho nên, ngân hàng Standard Chartered tiên đoán trong bốn tháng cuối năm nay lượng tiền tệ lưu hoạt (M2) ở Việt Nam sẽ tăng tới 196 ngàn tỷ, so với năm ngoái chỉ có 172 ngàn tỷ. Càng có nhiều tiền trong kinh tế thì lạm phát càng cao. Người dân biết vậy, cho nên ai có tiền cũng lo đi mua vàng, mua đô la!
        Rồi lại thêm chính sách lãi suất nữa. Ông thống đốc Ngân Hàng Trung Ương ra chỉ thị số 2, bắt các ngân hàng thương mại không được trả lãi suất trên 14% cho các người gửi tiền. Giữa tháng 9, các ngân hàng báo cáo người ta ào ào rút tiền ra khỏi ngân hàng. Trong một tuần, có ngân hàng bị rút 1,000 tỷ đồng. Chưa tới cảnh “tiền bỏ chạy” (bank run) nhưng cũng mấp mé. Nhưng họ rút hàng tỷ đồng rồi đem đi đâu? Không ai báo cáo, nhưng ai cũng hiểu: Người ta đi mua vàng và đô la. Các đại gia bán vàng và đô la rồi họ đem tiền cất đi đâu, sao không thấy chúng trở lại với các ngân hàng? Cái này thì chỉ các đại gia mới biết!
        Nhưng khi Ngân Hàng Trung Ương bắt các ngân hàng thương mại “giảm lãi suất” xuống dưới 14% thì đó là một bước hoàn toàn đi ngược lại với mục tiêu chống lạm phát của nghị quyết 11. Vì xưa nay, khi muốn chống lạm phát thì ở đâu người ta cũng tăng lãi suất cho người ta bớt vay được tiền mà chi tiêu, không ai giảm lãi suất bao giờ! Chắc chỉ có đại biểu Quốc Hội Ðỗ Văn Ðương mới có thể nghĩ ra cách chống lạm phát bằng cách giảm lãi suất, sau khi đi Thượng Hải nếm rau muống Tàu!
        Cái chỉ thị đặt mức lãi suất tối đa (trần lãi suất) đã vô hiệu, vì nhiều ngân hàng vẫn lén trả lãi suất cao hơn 14% để có tiền kiếm ra tiền khác, nhất là các ngân hàng ở xa thì không sợ ai cả. Các quan đầu tình cũng không sợ lệnh từ trung ương. Họ phải phê duyệt càng nhiều dự án trong địa phương mình càng tốt. Càng nhiều dự án thì càng thêm cơ hội chấm mút, trước khi phải đổi đi nơi khác. Quan đầu tỉnh bảo ngân hàng trong tỉnh cho vay thì ai dám cãi chỉ tiêu lạm phát là mấy phần trăm cũng chẳng ai cần biết tới!
        Nhìn thấy những nghị quyết và thông tư với khẩu hiệu và hành động trái ngược nhau, cuối cùng không biết ai đang cầm tay lái cho con tầu kinh tế Việt Nam. Có thể gọi là một nền kinh tế không người lái. Trong khi đó thì những nguồn ngoại tệ đang giảm, số đầu tư trực tiếp của nước ngoài cho tới số tiền người Việt ở ngoài gửi về đều bớt đi. Cán cân thương mại trong tám tháng đầu năm 2011 đã bị thủng 10 tỷ đô la, so với khoảng 8 tỷ trong cùng thời gian năm ngoái.
        Ông Tomoyuki Kimura của Ngân Hàng Phát Triển Á Châu, mới nói trong phiên họp ở Hà Nội, rằng muốn “giải quyết những nguyên nhân gốc rễ của tình trạng lạm phát cao thì phải có những nỗ lực lớn hơn trong việc cải cách cơ cấu nền kinh tế”. Nhưng nếu không thay đổi chính trị thì ai thay đổi cơ cấu kinh tế bây giờ? Những đại biểu Quốc Hội như Tiến Sĩ Ðỗ Văn Ðương có sẵn sàng đứng ra lèo lái con tầu kinh tế nước nhà hay không?

        Comment

        • TAM73F
          Super Moderator
          • Apr 2009
          • 2321

          #5
          17.jpg

          images-2.jpg

          Bằng Thiệt, Bằng Dỏm !

          1. Hình ảnh sưu tầm trên internet chỉ có tính cách minh họa.
          2. Bài đọc suy gẫm: Nhân chuyện toàn thể báo đài quốc nội hô hoán ầm ỹ lên về việc Thứ trưởng Bộ Y-Tế Việt Nam xài bằng giả nhưng quan chức thiệt và siêu sao này lại có rất nhiểu “sự cố” vấn đề bê bối trong quá trình công việc điều hành bộ. Blog 16 xin tuyển đăng bài viết dí dỏm Bằng Thiệt, Bằng Dỏm hay “Tại Tôi…Không May của X-cafe Netter Phương “N”. 16 xin chân thành cám ơn quý anh chị đã chuyển những bài đọc hay từ khắp nơi đến kèm theo chú thích đề nghị đăng trên blog 16 từ trước tới nay.

          Bằng “dỏm” của trường đại học nổi tiếng Harvard được cấp cho chú “Gúk”


          Tại tôi… không may
          Phương “N”


          Ở Việt Nam người ta hay nói đến bằng A, bằng B, bằng C để định mức cho trình độ ngoại ngữ tiếng Anh được học ở các “Trung Tâm Đào Tạo” (TTĐT) ngắn hạn, hoặc bằng cử nhân Anh Văn cho bậc đại học chính quy dài hạn 4 năm.
          Tiếng là bằng cấp hay đúng hơn là một loại chứng chỉ (certificate) của các TTĐT ngắn hạn (vocational centre) nhưng đừng xem thường nó à nha!.
          Như đã kể ở bài trước, có một dạo tôi làm việc cho một công ty của Thụy Sĩ có chi nhánh ở Việt Nam . Quanh năm ngày tháng tôi hết ở Hà Nội rồi đến Sài Gòn, những lúc ở Sài Gòn, buổi tối tôi cũng thường hay la cà bụi đời nơi mấy cái quán bar ở Phạm Ngũ Lão (Sài Gòn) để nhìn “tây ba lô” cho đỡ nhớ xứ “xứ người”. Lúc đó, ngồi đía dóc với mấy người đẹp chân dài làm pha chế cho quán bar ở đây, tôi đã vài lần được các nàng cho biết các nàng cũng đang theo học bằng B, bằng C tiếng Anh ở các TTĐT trong phố. Để chứng minh, các nàng còn “khè” cho tôi coi một số bài tập của thầy cho đem về nhà làm. Nhìn các bài tập này tôi thấy nó khó dàn trời mây luôn đối với một thằng đã ở Úc trên 10 năm, và cũng có chút học hành lem nhem ở đây như tôi.
          Tình thật mà nói nếu cho tôi làm một bài luận văn của học viên đang học tiếng Anh ở mức bằng C ở trong nước thì tôi… bí lù. Làm được chết liền! Vậy thì trình độ ngoại ngữ của dân mình ở trong nước phải giỏi lắm chứ. Bởi vì hầu như ai cũng có vài cái bằng cấp phải học bằng ngoại ngữ hết. Bằng B, hay bằng C là loại “lôm côm” nhất chứ người ta còn có đến bằng Thạc sĩ hay Tiến sĩ , Giáo sư đào từ các đại học ngoại nữa kìa…
          Cho đến một hôm, công ty (nước ngoài) nơi tôi đang làm việc có nhu cầu tuyển thêm một số nhân viên địa phương mới. Thằng sếp thấy tôi là (gốc) Việt Nam , lại biết nói tiếng Việt “very well” (rất nhiều “vi kê” khác về nước làm không biết nói tiếng Việt đâu nha!) nên đẩy cho tôi ôm cái công việc mà tôi không khoái tý nào, đó là phỏng vấn các ứng đơn xin việc để tuyển người.
          Phải công nhận là ở Việt Nam mình chuyện gì thì chậm chứ chuyện đăng báo tuyển người thì vô cùng hiệu quả, rất là nhanh. Mẩu quảng cáo đăng lên báo chỉ có 1 ngày thôi thì phòng nhân sự đã nhận được trên 40 hồ sơ xin việc. Công ty tôi chỉ tuyển có mấy người nên sếp giao cho tôi làm cái chuyện khó nuốt là chuyện sàn lọc để loại bớt.
          Ngày phỏng vấn, tôi chỉ cho hẹn chục 12 người, chọn lựa những ai có đơn xin việc tương đối thích hợp nhất mà tôi đã tham khảo trước…
          Thú thật là lần đầu tiên xem hồ sơ của các bạn trẻ trong nước tôi có chút ngạc nhiên là sự đồng bộ giống y khuôn nhau trong các hồ sơ xin việc. Người nào cũng có một cử nhân hay cao đẳng hệ chính quy nào đó, ai cũng có vài chứng chỉ ngoại ngữ tiếng Anh bằng B hay C, và ai cũng có thêm vài bằng vi tính loại sử dụng thành thạo các thứ Office Word, Excel, Power Point, Asset v.v… Người này giống y chang người kia.
          Đọc xong xấp hồ sơ của các ứng viên tôi mới thấy cái khó cho người chọn lựa. Ai cũng như ai thì biết chọn… ai đây? Vì vậy tôi đành phải xem qua mấy… tấm hình dán trong đơn xin việc để làm tiêu chí mà “sàn lọc” bớt số đơn thặng dư. Tôi xin thành thật mà nói là tôi biết rõ các công việc của công ty tôi đang muốn tuyển chẳng có liên quan gì đến chuyện hình ảnh xấu đẹp của ứng đơn hết, nhưng tôi đành phải “tội nghiệp ” cho những ai đi xin việc ở trong nước (nhất là mấy cô) mà không có “ngoại hình” loại “điện nước đầy đủ” (dễ nhìn).
          Đại học danh tiếng của quận Cam, University of California, Irvine nằm sát nách Little Sài-Gòn của Mít tị nạn. Theo Blogger Nguyễn Văn Tuấn, trường đại học Irvine bị cơ sở kinh doanh bằng cấp “dỏm”, ăn cắp những chương trình, thời gian học, ban giảng huấn, phương cách giáo dục,… tạo ra chuyện Irvine University tưng hợp tac vơi Đại học Quôc gia Hà- Nội, đào tạo thạc sĩ quản trị kinh doanh!(MBA). Các quan cứ thế lấy tiền của dân, ị lên đầu dân, mua bằng “dỏm” xài “búa xua”.


          Đành rằng có rất nhiều công việc tuyển dụng chẳng có chút xíu liên quan gì đến … điện nước của mấy nàng, nhưng như đã nói khi mà hai ứng đơn giống nhau y chang về văn bằng, về chứng chỉ chuyên môn thì người tuyển chọn chỉ còn biết “trông mặt mà bắt hình dong” thôi chứ làm cách nào khác giờ.
          Cuối cùng tôi cũng chọn ra hơn chục bộ hồ sơ loại “ngon cơm” nhất, và nghĩ là buổi phỏng vấn chỉ cho có lệ, chỉ gặp để nhìn rõ “dung nhan” của nhau thôi chứ người nào trong nhóm xin việc này cũng có trình độ toàn hàng “chiến đấu” không hà. Nhất là cái khoản tiếng Anh và vi tính, nhìn cả đống bằng cấp và những chứng chỉ mà họ đính kèm thì tôi biết mấy thứ này họ giỏi hơn tôi là cái chắc rồi chứ còn phỏng vấn phỏng viếc làm gì nữa.
          Ấy! Nghĩ vậy mà không phải vậy đâu bạn mình ơi! Tôi không biết khi đi xin việc ở nơi khác người ta phỏng vấn ra sao. Còn tôi thì như đã nói, tự biết “tài” của mình, nên tôi không dám ba xí ba tú hỏi lôi thôi sẽ dễ bị lộ tẩy mấy cái dốt của tôi trước mặt các ứng viên. Hơn nữa phần vi tính các công việc mà tôi đang tuyển không cần phải đòi hỏi trình độ cao siêu để biết cách đút “phần mềm” vào hay rút “phần cứng” ra (khi nó không còn… cứng nữa) khỏi ổ máy v.v… Tôi chỉ cần họ biết đánh văn bản trên computer thôi, vậy là đủ. Vì vậy tôi không dám múa rìu qua mắt thợ (ở Việt Nam rất nhiều bạn trẻ rất giỏi về computer), tôi chỉ đẩy cái laptop của tôi đang xài cho anh chị ứng viên đang phỏng vấn xin việc, và nhỏ nhẹ … nhờ “em gõ dùm cho tôi chừng 10 câu, một bài ca, bài thơ hay bất cứ cái gì mà em thuộc”.
          Tôi tin rằng chỉ cần nhìn người nào dạo chừng 2 câu trên bàn phím thôi chứ đừng nói gì đến 10 câu là tôi có thể biết được khả năng đánh máy của họ như thế nào rồi chứ cần gì nhìn cái bằng cấp ghi là một phút mấy chữ.
          Vậy mà các bạn có biết chuyện gì xảy ra không? Thiệt là không tưởng tượng được trong 12 người dự phỏng vấn với Word, Excel, Power Point thứ gì họ cũng có bằng cấp chứng chỉ, với chú thích đạt yêu cầu loại “khá”, nhưng khi cần gõ máy thì họ nhìn cái bàn keyboard như nhìn cây “thiên ma cầm” trong phim chưởng vậy. Dấu chấm, dấu phẩy, xuống dòng v.v… Họ chăm chú tìm trên bàn phím như thầy pháp tìm bùa lỗ bang.
          Đó là chưa kể trong buổi phỏng vấn này tôi đã khám phá thêm vài “bí kiếp” tuyển dụng chắc là khá “đại trà” ở trong nước. Nếu như các cô chân dài có lợi điểm dùng ngoại hình để đánh bại đối thủ khi đi xin việc thì phía các anh cũng biết tận dụng thủ tục “đầu tiên” (tiền đâu) để lót tay người phỏng vấn.
          Hôm đó tôi thực hiện buổi phỏng vấn với riêng từng người, và trong phòng riêng khi chỉ có “sếp” và người xin việc thì đã có hai ứng viên nam, một mạnh dạn đẩy cái bao thơ (tiền) về phía tôi với câu chào mở đầu “Sếp cho em gửi các cháu ăn quà..” , còn anh thứ nhì đã quên luôn mục đích của anh đến gặp tôi là để phỏng vấn xin việc làm, anh thân thiện đến bất ngờ, cứ nằn nì rủ rê tôi (như rủ bạn anh vậy) chiều tan việc đi uống bia với anh. Anh giới thiệu là “có biết có cái quán mới mở ở Tân Định toàn “hàng” (nữ tiếp viên) chiến đấu không hà… sẵn sàng phục vụ từ A đến Z”
          Còn phía “chân dài” các nàng cũng không lép vế, không phải ai cũng vậy nhưng một vài nàng đã biểu diễn vài “chiêu” thật ngoạn mục. Các nàng gọi “sếp” bằng anh xưng em ngọt như mía lùi. Đứng lên ngồi xuống luôn thể hiện kiểu cách y như đang đi thi hoa hậu. Có một nàng trong nhóm xin việc hôm đó, cứ chống tay lên cầm mà nhìn ông “sếp” đang phỏng vấn mình cười cười mỉm mỉm thiệt là đẹp mê hồn làm cho tim tôi nhảy muốn rớt ra ngoài luôn.
          Còn chết người hơn nữa là cái cách của nàng này nhìn người đang phỏng vấn nàng, là tôi đây, y chang như trong tiểu thuyết ba xu của Mỹ gọi là nhìn kiểu “love at first sight”, còn tiếng Việt mình các nhà văn trữ tình cũng diễn tả đó là “tiếng sét ái tình” hay “yêu ngay lần đầu” gì đó… Kể luôn cụ Nguyễn Du thi nhân đại tài của nhà mình năm xưa cũng đưa kiểu nhìn này vô tác phẩm Đoạn trường tân thanh của cụ. Đó là “Người đâu gặp gỡ làm chi, trăm năm biết có duyên gì hay không…”
          Má ơi! Cũng may là “sếp” (dỏm) này chưa được công ty cho tiêu chuẩn tuyển thư ký riêng cho mình nên đành vừa tụng kinh vừa ngó lơ chỗ khác để tránh ánh mắt “ba đào dị nịch nhân” đắm đuối đến làm người ta chết chìm được của cô em chân dài đi xin việc hôm đó…
          Kết quả có 8 ứng viên trong số 12 đơn có đủ các loại văn bằng chuyên môn về “phần cứng phần mềm” nhưng không gõ được vài dòng chữ cho liền lạc bằng keyboard…
          Phần tiếng Anh cũng vậy, như đã nói, tôi vốn hơi “ớn ợn” với trình độ tiếng Anh của mấy trung tâm ngoại ngữ trong nước nên cũng chẳng dám hỏi han gì nhiều mà chỉ yêu cầu các ứng đơn “xin bạn kể cho tôi nghe bằng tiếng Anh, sáng giờ bạn làm gì. Thí dụ bạn thức dậy lúc mấy giờ, ăn sáng món gì, bạn đi bằng cách gì đến đây, bạn có thể chỉ đường cho tôi đi từ đây ra hồ… con rùa hay không””
          Chỉ đơn giản vậy thôi. Tôi nghĩ rằng nếu anh chị nào đó có thể nói được cho tôi nghe chừng năm ba câu thôi thì tôi có thể nhắm mắt mà phê đại mấy chữ “đạt yêu cầu” vô phần tiếng Anh của họ cái cho rồi.
          Nhưng tiếc thay! Cũng như phần vi tính, phần tiếng Anh cũng hầu như không ai thể hiện được điều gì như trình độ của các bằng cấp hay chứng chỉ mà họ có. Cuối cùng chỉ có 3 anh chị giọng nói tuy chưa được hay lắm, nhưng khả năng Anh ngữ của các anh chị này cho tôi tin là họ có học thật chứ không phải loại có bằng thật mà học dỏm.



          Ngài Thứ trưởng Y-tế nước CHXHCNVN bị uýnh tơi tả vì chức thiệt mà bằng giả, Blog Khai Trí đòi hỏi giùm cho hơn 80 triệu dân, vì sức khỏe và sinh mệnh của họ có thể bị ảnh hưởng bởi chất lượng “tri thức” của ông, rất cần ông trả lời trên báo chí. Riêng Web Hà Tĩnh Mình Thương còn đưa ra danh sách các quan đỏ nào đang xài bằng gỉả. Ôi nhân tài như lá mùa thu ở nước ta! Mùa “Thương Khó” của các đại gia…
          Thì ra, sau buổi phỏng vấn tôi mới hiểu tại sao các hồ sơ xin việc lại có nhiều sự đồng bộ như vậy. Rất nhiều các loại chứng chỉ ngoại ngữ, chứng chỉ vi tính được các trung tâm đào tạo “bán” cho người xin việc như người ta bán một cần thiết phải có trong đơn xin việc chứ không cần chất lượng của bằng cấp hay chứng chỉ đó. Rất nhiều TTĐT ở trong nước chỉ cần có học viên ghi danh, có đóng đủ học phí là có chứng chỉ, không nhất thiết là phải có học hay khảo sát (thi) đạt yêu cầu…
          Điều này đã làm cho trình độ của các chủ nhân của bằng cấp chứng chỉ thành đồng bộ, và đã làm cho rất nhiều người tuyển chọn phải lấy những tiêu chí không liên quan đến chuyên môn để mà chọn lựa như “ngoại hình”, “điện nước”, “”bao thơ” v.v…Trong đó mém chút nữa là cũng có tôi luôn.
          Hôm đó nếu không kịp nhớ lại tôi vừa tự mình ký bản án chung thân với một “tiger” biết nói tiếng người, bây giờ đang làm mẹ của 2 đứa con gái tôi, thì tôi đã tuyển cô nàng “love at first sight” kia vô công ty chỗ tôi đang làm rồi.
          Thế thì, có lẽ các bạn đang thắc mắc là bộ mấy ông chủ tuyển dụng nhân sự hoặc các sếp phỏng vấn nào cũng nhận bao thơ hay “tiếng sét ái tình” (như tôi) và để cho mấy cái bằng dỏm “lướt” đi một cách dễ dàng vậy sao?
          Không hẳn là vậy, nhưng sự thật thì cũng có rất nhiều sếp không có trình độ (vi tính hay tiếng Anh) như các loại bằng cấp chứng chỉ thể hiện, nên không có khả năng khảo sát chất lượng thật của người “đã học” các loại bằng cấp này là học thiệt hay học dỏm.
          Chuyện này cho đến hôm nay vẫn còn khá phổ biến ở nước mình. Đó là những bằng dỏm và bằng giả, bằng cách nào đó, đã len lỏi vào lực lượng nhân sự của tất cả mọi vị trí trong đủ các loại ngành nghề ở phía chính quyền lẫn tư nhân, và được chấp nhận y như bằng… thiệt.
          Xin mở ngoặc ở chỗ này để quý bạn đọc ở nước ngoài hiểu thêm, ở nước mình bây giờ người ta phân biệt hai chữ “bằng dỏm” và “bằng giả” là hai loại khác nhau. Việc này đã được một “cao nhân” sử dụng bằng dỏm (hay giả) tự định nghĩa một cách rõ ràng cách đây cũng khá lâu. Đó là vị Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên, một tỉnh nằm cạnh Nha Trang ở đâu đó ngoài miền Trung.
          Nếu tôi nhớ không lầm là năm 98 hay 99 gì đó. Khi bị báo chí phanh phui là bằng cấp ông này đang sử dụng, là một cần thiết cho chức vụ Chủ tịch mà ông đang làm – hình như là bằng tốt nghiệp phổ thông lớp 12 thì phải – là bằng giả. Ông chủ tịch của mình đã “nổi dóa” đăng đàn mở họp báo lớn tiếng ong óng cãi lại là:
          “Tôi công nhận tôi không có học mà có bằng là vi phạm, nhưng bằng này là bằng thật chứ không phải bằng giả. Con dấu thật, chữ ký thật do Giám đốc sở giáo dục tỉnh Đồng Nai cấp đàng hoàng (không tin hỏi ổng coi!) sao lại gọi là giả được”.
          Sự việc được “khui” thêm ra là 2 ông chức sắc ở tỉnh Phú Yên và tỉnh Đồng Nai đó đã áp dụng tính ưu việt của nền “kinh tế đối lưu” trong thời bao cấp trước đây. Lúc còn bao cấp người ta ít khi xài tiền, mà là dùng hàng hóa để trao đổi (như thời… đồ đá vậy). Ông Phú Yên có biển, có rừng nên cho ông Sở Giáo Dục Đồng Nai ít gỗ vụn để xây nhà, xây dư thì bán đi cho người ta làm củi chụm cũng được mà. Có… vài ngàn mét khối thôi chứ mấy.
          Ngược lại ông Đồng Nai có cái Sở Giáo Dục hàng năm “búng” ra cả vài chục ngàn cái bằng trung học phổ thông thì tiếc gì không “búng” cho bạn mình một cái. Bằng thiệt, chữ ký thiệt đàng hoàng ai dám bảo là bằng… giả đâu.
          Bó tay luôn phải không quý vị! Lúc đó báo chí trong nước đã bầu cho câu nói của ông Chủ tịch Phú Yên là “câu nói hay nhất trong năm” của quan chức nước mình. Và (có lẽ) từ đó chữ “bằng dỏm” được ra đời để chỉ loại bằng có con dấu thiệt, chữ ký thiệt, có lưu chiếu vào sổ bộ thiệt đàng hoàng, nhưng chủ nhân của nó không cần do học (thiệt) mà có. Và cũng từ đó trong lý lịch của một số quan chức trong phần trình độ văn hóa học vấn, nhiều vị khai tốt nghiệp cử nhân kinh tế, cử nhân luật v.v… Có vị cẩn thận hơn đã mở ngoặc đóng ngoặc mấy chữ (có học thiệt) để chú thích phân biệt với các loại bằng, cũng thiệt y như của họ, nhưng là học dỏm.
          Còn loại bằng giả khác với bằng dỏm vừa kể là bằng giả không có con dấu thiệt, không có chữ ký thiệt, không có lưu chiếu. Người có được (bằng giả) là do in ấn nháy hiệu cho giống y thiệt, rồi lấy củ khoai tây tự khắc thành con dấu giả, nháy theo dấu thiệt, như đồng hồ nháy hiệu vậy, hoặc cạo sửa từ bằng thiệt của người khác rồi bỏ đại (mẹ) tên mình vô.
          Như vậy thì người xài bằng giả và bằng dỏm về hình thức thì khác nhau, nhưng có một điểm giống nhau là cả hai không ai cần phải đi học (thiệt) để có bằng.
          Ngày nay ở nước mình, sự kiện bằng dỏm & và bằng giả không chỉ ở những loại “lôm côm” như mấy cái chứng chỉ vi tính hay bằng B, bằng C của tiếng Anh để đi xin việc, hoặc bằng tốt nghiệp trung học phổ thông như ông chủ tịch Phú Yên năm xưa mà còn “leo cao” hơn đến các bằng Thạc sĩ, Tiến sĩ, Giáo sư v.v… đã không còn là chuyện hiếm thấy…
          Bằng dỏm và giả với học vị càng cao thì người sử dụng nó, thường là có chức quyền hay tiền, nên càng dễ đạt được yếu tố “tiêu cực” lúc dự tuyển bổ nhiệm vào các chức vụ cao (đa số là viên chức, công chức cấp cao của nhà nước), hoặc là vì bằng ở loại học vị cao nên nơi nhận (việc) cho các loại bằng cấp này, vì không có trình độ khảo sát nên đã dễ dàng để bằng dỏm hay giả biến thành bằng… thiệt.
          Trong tháng (7-2010) vừa qua, chắc quý bạn đọc cũng đã biết rồi, báo chí trong nước lại lùm xùm lu xa bu thêm hai bằng Tiến sĩ “dỏm” do không học mà có, mà lại còn ác liệt hơn nữa, các bằng Tiến sĩ dỏm kỳ này ngoài chuyện có chữ ký thật, con dấu thật nhưng lại được mấy trường đại học “không có thật” (trường ma) cấp.
          Không biết các chủ nhân của hai bằng Tiến sĩ này có mạnh miệng cãi là “bằng của tui là bằng thật có con dấu thật, chữ ký thật chỉ do trường… dỏm cấp mà thôi nên không thể gọi là bằng giả được…” như ông Phú Yên năm xưa hay không.
          Hai bằng Tiến sĩ mà báo chí mới phanh phui kỳ này. Một là của ông Giám đốc Sở “Văn hóa & Du lịch” Phú Thọ, và bằng thứ hai là của ông Phó bí thư Tỉnh ủy tỉnh Yên Bái.
          Theo báo chí trong nước thì ông “Sở văn hóa” Phú Thọ có bằng Tiến sĩ được đào tạo ở nước ngoài, nghĩa là phải học bằng tiếng Anh, mà khả năng tiếng Anh của ông thì lại “xem xem” với mấy anh xin việc mà tôi phỏng vấn lúc trước.
          Nghĩa là ông không kể được bằng tiếng Anh hồi sáng này ông ăn sáng món gì, tối hôm qua ông đi bia ôm ở quán nào, có vụ… A đến Z với mấy cô tiếp viên ở đó không… chứ đừng nói gì đến việc ông làm luận án khoa học bằng tiếng Anh để được cấp bằng Tiến sĩ…
          Và ông Phó Yên Bái thì còn “thần đồng” hơn nữa, từ lúc ông có quyết định lãnh tiền của nhà nước hỗ trợ cho ông đi học cho đến lúc ông “khè” cái bằng Tiến sĩ ra cho thiên hạ ớn chơi chỉ có… 6 tháng.
          Chuyện mà báo chí trong nước thấy đáng nói là cả hai bằng Tiến sĩ này đều có giá “học phí” (dù chẳng cần đi học) là 17,000 đô Mỹ để có. Cả hai đều nằm trong tiêu chuẩn sử dụng tiền “quỹ hổ trợ” của nhà nước dành cho cán bộ hiếu học muốn nâng cao trình độ để lấy cái bằng này.
          Chuyện của hai ông Tiến sĩ dỏm ở Phú Thọ và Yên Bái lấy tiền nhà nước, không đi học mà vẫn có bằng dường như đã làm ức lòng đến hai ông Tiến sĩ (thiệt) đang làm việc tại các đại học và viện nghiên cứu của Úc đó là Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuấn (Sydney) và Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc (Melbourne)
          Giáo sư Tuấn qua bài viết “Thêm bằng chứng về bằng giả trường dỏm” cho rằng ông Phó bí thư Yên Bái bị (trường dỏm) lừa gạt, hay là ông sẵn sàng (để cho) bị lừa gạt khi tốn 17 ngàn để lấy cái bằng ở một trường đại học không có thật, và cái bằng đó chỉ là một tấm giấy lộn chứ không có giá trị gì hết.
          Và ở một bài khác “Bằng tiến sĩ dỏm giá 17,000 đô – Hãi” Ông Tuấn cho biết lý do người sử dụng bằng dỏm (ở trong nước) không chỉ mục đích lòe thiên hạ cho oai mà còn là một nhu cầu cho chức quyền.
          Đồng lúc đó Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc cũng viết 2 bài “Bằng giả và bằng dỏm” và “Tiến sĩ dỏm ở Việt Nam”
          Ông Quốc cho là xài bằng giả để lòe thiên hạ cho sướng thì vấn đề chỉ là tâm lý và đạo đức chứ không liên quan đến pháp luật, chính quyền không can thiệp nhưng nếu sử dụng cái bằng dỏm hay giả ấy để mưu lợi thì lại khác. Ví dụ để xin dạy trong các trường học hoặc để thăng quan tiến chức như ông Phó bí thư Yên Bái thì: Nó trở thành một hành động lừa bịp…
          Và cũng cùng lúc này tờ báo mạng TuanVietnam.net ở trong nước cũng có bài châm biếm sự giải trình của chính chủ nhân cái bằng Tiến sĩ dỏm không biết tiếng Anh là ông Giám đốc Sở văn hóa Phú Thọ.
          Cũng như ông Chủ tịch Phú Yên năm xưa. Ông giám đốc Sở Phú Thọ này cũng đăng đàn họp báo, ông đến tận tòa soạn báo TuầnViệtNam.Net, nhờ tiếng nói của tờ báo này để giải trình qua hình thức phỏng vấn hỏi đáp về việc ông tốn 17,000 đô để “học” cái bằng Tiến sĩ ở nước ngoài mà không cần biết một chữ tiếng Anh
          Trong bài hỏi đáp của TuầnViệtNam.net ông Giám Đốc Sở Phú Thọ này hé lộ me mé ra là còn đến… 10 quan chức khác cũng có bằng Tiến sĩ ở cùng trường “dởm” với ông. Mấy ông học bằng cách “online” (hàm thụ từ xa qua mạng) và nơi dạy không yêu cầu người học phải biết tiếng Anh. Ông khai những người khác (cũng là quan chức nhà nước ở Phú Thọ và Hà Nội) cũng học cùng “lò” nơi ông học, cũng được cấp bằng như ông, nhưng người ta không ai bị gì cả, còn ông chỉ là…
          “Tại tôi không may thôi!”
          Đúng là “pó toàn thân” luôn chứ không thèm “pó tay” nữa với chuyện “quê nhà xứ huyện” của nước mình phải không quý vị? Dùng tiền của nhà nước (là tiền của dân) “mua” một bằng cấp là một “tấm giấy lộn không giá trị gi hết” để “thăng quan tiến chức” và “mưu lợi” cho cá nhân mình. Khi bị đổ bể đối với mấy ông không là “một hành động lừa bịp” mà chỉ là “Tại tôi không may thôi!”
          Không biết câu nói này có nên bầu là “câu nói hay nhất trong năm” của quan chức mình lần nữa không các pác nhẩy!
          Phương “N”
          Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

          Links:
          1.  Hình ảnh sưu tầm trên internet chỉ có tính cách minh họa. 2.  Bài đọc suy gẫm:  Nhân chuyện toàn thể báo đài quốc nội hô hoán ầm ỹ lên về việc Thứ trưởng Bộ Y-Tế Việt Nam xài bằng giả nhưng qua…




          __._,_.___

          Comment

          • TAM73F
            Super Moderator
            • Apr 2009
            • 2321

            #6
            Hãy Nhìn Những Gì Nguyễn Tấn Dũng Làm...

            Ngày 25/9/2011 kỷ niệm 10 năm Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu qua đời. Lẽ đương nhiên là Tổng Thống và Tổng Tham Mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, ông phải chịu trách nhiệm đã để quân Bắc Việt lấn chiếm miền Nam. Việc đánh giá ông là việc của người viết sử và sử sách sẽ công bằng cho một người luôn quyết tâm chống lại Bắc Phương. Riêng việc ông ra lệnh nổ súng vào tàu chiến Trung cộng đã gởi một tín hiệu đến thế giới, đến các thế hệ mai sau Trung cộng chỉ là bọn xâm lược và Hòang Sa mãi mãi là của Việt Nam.

            “Đất nứơc còn, còn tất cả. Đất nước mất, mất tất cả !” lời của Tổng Thống vẫn văng vẳng nhắc nhở chúng ta trong hòan cảnh đất nước hiện nay. Nhân kỷ niệm ngày Tổng Thống qua đời, người viết xin tri ân sự đóng góp của ông và những người đã chiến đấu để bảo vệ giang san.

            Tổng Thống Thiệu còn để lại cho chúng ta một châm ngôn “Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”, bài viết này xin được tiếp tục phân tích cùng bạn đọc những gì Thủ Dũng đại diện đảng Cộng sản đã và đang làm.

            Nhà cầm quyền Trung cộng ăn làm sao nói làm sao với dân Tầu ?

            Trong khi ông Thiệu, một người quốc gia, lấy Tổ Quốc Danh Dự và Trách Nhiệm là phương châm. Thì ngược những lãnh đạo cộng sản như Phạm văn Đồng lại lấy tình đồng chí anh em trong thế giới đại đồng làm cương lĩnh. Vì mối liên hệ như trên, nếu phải nhừơng cho đàn anh Trung cộng một vài hòn đảo thì những đảo này vẫn thuộc phe vô sản, còn hơn để cho “ngụy quyền” đóng giữ. Chính vì nghĩ như thế Bộ Chính Trị đảng Cộng sản mới chấp nhận và Phạm văn Đồng mới ký Công Hàm 1958 ghi nhận và tán thành Bản Tuyên Bố về hải phận của Trung cộng, bao gồm cả Hòang Sa và Trường Sa.

            Do hành động bán nước này, phía Trung cộng liên tục sử dụng bức Công Hàm để giáo dục dân Tầu về chủ quyền của họ trên Biển Đông. Trung cộng cũng lấy đó làm cớ để đánh chiếm Hòang Sa 1974, đánh chiếm Trường Sa 1988, rồi tuyên bố Biển Đông thuộc về Trung cộng. Trong tình thế như vậy bạn có tin rằng phía Trung cộng sẽ chịu đối thọai “hòa bình” với giới chức Việt Nam về chủ quyền Biển Đông hay không ? Họ đã chiếm Hòang Sa, chiếm Trường Sa và đang mở rộng kiểm sóat Biển Đông. Họ sẽ ăn nói ra sao với người Tầu khi phải nhừơng lại một mẩu đất một mảnh biển cho phía Việt Nam .
            Gần đây vì cần khai thác tài nguyên trong khu vực, Trung cộng sẵn sàng đối thọai với Phi Luật Tân, nhưng chẳng ngó ngàng gì đến đàn em cộng sản Việt Nam . Đã biết thế nhưng giới chức Hà Nội vẫn đưa tin, vì phía Trung cộng không chấp nhận đối thọai về quần đảo Hòang Sa, bởi thế không có những tiến triển khả quan giữa hai bên. Tin tức kiểu này cũng được một số người tin. Phía Trung cộng lại luôn luôn lớn tiếng tuyên bố: "Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi với các đảo ở Biển Đông và vùng nước xung quanh…” và tiếp tục lấy Công Hàm 1958 như một chứng cớ hiển nhiên buộc cộng sản Việt Nam chỉ còn ẻo lả "hót" cho qua chuyện.
            Thực tế lại cho thấy Trung cộng chỉ sử dụng võ lực khi bắn, khi bắt ngư dân Việt, lúc cắt cáp tàu khảo sát… hay làm áp lực để các công ty ngọai quốc không thể khảo sát và khai thác tài nguyên trên thềm lục địa Việt Nam. Nhà cầm quyền Hà Nội ngược lại chỉ im lặng đến độ hèn nhát, họ tìm mọi cách để kềm chế mọi tiếng nói dân sự liên quan đến Biển Đông.

            Nói rõ ra nếu còn hai chế độ cộng sản Việt Nam Trung Hoa thì đừng mong lấy lại Hòang Sa – Trường Sa - Biển Đông.

            Thủ Dũng bán đứng Hòang Sa
            Ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990, Phạm Văn Đồng (cũng lại Phạm văn Đồng), Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười đã bí mật sang Tàu diện kiến Giang Trạch Dân và Lý Bằng. Chuyến đi vô cùng bí mật dấu cả Ngọai Trưởng Việt cộng Nguyễn cơ Thạch. Đại diện hai “Đảng” bí mật ký với nhau Hiệp ứơc Thành Đô. Cho đến hôm nay người dân Việt vẫn chưa biết họ đã ký cái gì với phía Trung cộng. Chỉ thấy càng ngày Việt Nam lại càng bị khống chế bởi người Tầu.
            Mười năm sau hai “Đảng” lại ký với nhau hai Hiệp Định về Biên Giới 1999 và 2000. Ngòai lãnh đạo cao cấp cộng sản, người mình chưa ai được thấy mặt mũi hai Hiệp Định nói trên. Hậu quả là Việt Nam mất Bản Giốc, mất Ải Nam Quan, mất hằng ngàn cây số vuông lãnh thổ, hằng chục ngàn cây số vuông Vịnh Bắc Bộ.

            Đã thế mà Bắc Phương vẫn chưa thỏa lòng lại tiếp tục mè nheo thêm 227 cây số vuông lãnh thổ Việt Nam. Phải đợi đến cuối năm 2008 khi sang Tàu, Thủ Dũng mới quyết định “cưa đôi cho tiện”. Phe Thủ Dũng vui mừng tuyên truyền: “ta lấy lại 113 cây số vuông lãnh thổ”. Người dân thì lắc đầu ngao ngán than rằng “mất mẹ nó 113 cây số vuông lãnh thổ do ông cha để lại”.

            Xuất thân từ nghề cắt bỏ (y tá cộng sản), Thủ Dũng cũng vô tư cắt bỏ lãnh thổ lãnh hải ông cha để lại. Miễn sao việc dâng đất, dâng biển có lợi cho Thủ Dũng và Tập Đòan Cộng Sản. Phương cách hành xử vô cùng đơn giản nêu trên, cho chúng ta thấy nếu Trung cộng chịu để Tập Đòan Thủ Dũng khai thác dầu, thì Hòang Sa -Trường Sa – Biển Đông không phải là vấn đề để Thủ Dũng phải bám theo Mỹ, không cần phải “Quốc Tế Hóa”.

            Nói rộng ra nhường đất nhường biển cho giặc là chủ trương của đảng Cộng sản Việt Nam và quyết đinh kiểu “cưa đôi cho tiện” là nhờ có một lãnh đạo “vô tư” như Thủ Dũng.

            Thủ Dũng và Đồng Bọn cũng biết sợ

            Hành Động vừa phò Tầu vừa bám Mỹ của Thủ Dũng đã đưa Dũng vào sổ đen những tên phản bội Bắc Kinh. Tình trạng tệ hại hơn khi Wikileaks công bố và Báo Mạng BBC lại đưa tin “Tướng Hưởng than phiền về Biển Đông”. Ngay mở đầu bản tin cho biết: “Tài liệu do Wikileaks công bố cho thấy Thượng tướng công an Nguyễn Văn Hưởng khi còn tại chức đã tỏ ý trách cứ Hoa Kỳ không đứng về phía Việt Nam ở Biển Đông trong cuộc gặp với Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ John Negroponte.” (Xin gởi đến bạn đọc nguyên văn Anh ngữ để dễ dàng kiểm chứng “VM Huong expressed his views on China's territorial claim in the South China Sea and lamented the lack of U.S. support for Vietnam's position.”)

            Trong tài liệu Wikileaks công bố nêu trên và đựơc Báo Mạng BBC loan tin "Ông Hưởng thể hiện ý kiến rằng an ninh khu vực, hòa bình và thịnh vượng không thể có được nếu không có sự hiện diện của Hoa Kỳ và nói thêm sự có mặt của Hoa Kỳ có thể điều phối quan hệ trong khu vực.” (Nguyên văn Anh ngữ “Huong expressed the view that regional security, peace and prosperity cannot be accomplished without the presence of the U.S., adding that the U.S. presence can help regulate relationships in the region.”)

            Và "Ông nhấn mạnh rằng Việt Nam muốn có quan hệ tốt với tất cả các nước, nhất là các nước láng giềng, nhưng Việt Nam không thể chấp nhận tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông." (Nguyên văn Anh ngữ: “He emphasized that Vietnam seeks good relations with all countries, particularly its neighbors; however, Vietnam cannot accept China's territorial claims in the South China Sea.”)

            Nguyên Bản tiếng Anh cho thấy Báo Mạng BBC đã loan tin hòan tòan trung thực. Được biết trong cuộc gặp gỡ Trung Tướng Công An Cộng sản Nguyễn văn Hưởng vào ngày 11/9/2008 ngòai Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Negroponte, còn có các ông Scott Marciel, Phó trợ lý Ngoại trưởng và ông Michael Michalak Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam. Đây là một cuộc gặp gỡ quan trong không có lý gì Bản Từơng Trình có thể sai lạc. Xin vào http://wikileaks.org/cable/2008/09/08HANOI1044.html để xem tòan Bản Từơng Trình.
            Mọi người đều biết Tướng Hưởng là vây cánh của Thủ Dũng và là người đã được Thủ Dũng giao trọng trách thực hiện “Chiến lược Biển” đã được phân tích trong bài “Chỉ Tại Cái Công Hàm 1958 !!!”. Đi đêm với Mỹ thật khó. Một cuộc họp cao cấp như thế, một chuyện “tối mật” như vậy lại để lọt vào tay của một tên phản động “Úc thòi lòi” Julian Assange để làm phiền lòng “Thiên Triều”.

            Xưa nay đảng Cộng sản rất ít đính chính tin “địch”. Thế mà lần này Tướng Hưởng lại phải mượn tay đàn em chính thức lên tiếng: “Tôi (Nguyễn Như Phong, Đại tá an ninh, nguyên là Phó tổng biên tập Báo Công an Nhân dân, phụ trách chuyên đề An ninh thế giới tuần) – là người được dự nhiều cuộc gặp giữa Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với phái đoàn Hoa Kỳ, cũng rất ngạc nhiên trước sự việc này.” Ông Phong cho biết “Chúng tôi cũng có trong tay hai bức điện của Đại sứ quán Hoa Kỳ và thấy nội dung cuộc họp đã không được phản ánh trung thực, bởi lẽ Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng chưa hề có lời nào như thế (hoặc tương tự như thế), trong các cuộc gặp với John Negroponte và Scott Marciel cùng Đại sứ Michael Michalak.”

            Thứ Ba 27/09/2011, Nguyễn Như Phong có đưa ra một bản dịch chưa cho biết nguồn từ đâu. Chính vì vậy người viết mới phải đính kèm nguyên văn Anh ngữ của tài liệu để bạn đọc tường. Ông Phong quen viết trên báo Công An nên chưa hiểu bạn đọc càng ngày càng khó tính không thể bịa chuyện tuyên truyền.

            Ngay cả nếu các tài liệu ông Phong có được cũng do Wikileaks công bố thì ông Phong lại quên rằng cùng một cuộc họp biên bản có thể đã được cắt bớt những phần “tế nhị” để có thể phổ biến rộng rãi hơn. Việc làm của ông Phong chỉ tạo thêm sự chú ý của dư luận, nhất là chú ý từ Cơ Quan Tình Báo Bắc Kinh.

            Sự kiện còn cho thấy Tướng Hưởng không chịu học hỏi từ Lê Duẩn. Theo một tài liệu do phía Trung cộng đưa ra có lần Lê Duẫn đã tranh cãi với Mao Trạch Đông. Ba tuần sau đó khi gặp Chu Ân Lai, Lê Duẩn đã đổ cho thông dịch viên dịch sai nên Duẫn đã hiểu lầm. Nếu ông Hưởng nói tiếng Anh thì cứ đổ cho tại Mỹ không hiểu ông. Dễ giải quyết như thế mà ông Hưởng lại nhờ đàn em lên tiếng đính chính.

            Đính chính một mặt tạo chú ý, mặt khác chỉ rõ sự sợ hãi của Thủ Dũng và Tướng Hưởng. Không sợ sao được khi biết bao người đang mạnh như “trâu” đột ngột được “Đảng” cử hành đại lễ “Quốc Táng”. Thủ Dũng và Tướng Hưởng là hai hung thần của những người đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam . Họ ác với dân nhưng lại rất hèn với giặc.

            Nhắc đến Lê Duẫn lại nhắc đến thời chiến tranh, từ 1965 tới 1968 có tổng cộng 327,000 quân Trung Cộng giả làm công nhân xây dựng để bảo vệ miền Bắc Việt Nam, để Bắc Việt có thể chuyển quân vào Nam. So với hôm nay, sự hiện diện của hằng triệu “công nhân” Tầu đang họat động rải rác trên tòan cõi Việt Nam. Đội quân này sẵn sàng nổ súng vào dân hay quân đội Việt Nam, khi những người này muốn đứng lên giải thể chế độ cộng sản. Xét ra công của Thủ Dũng với “Thiên Triều” vẫn lớn hơn nhiều so với tội bám Mỹ nêu trên.

            Bauxit Tây Nguyên – Chủ Trương lớn của “Đảng”

            Đến thế kỷ thứ 21, sự phát triển quốc gia đều dựa vào những thông tin chính xác nhờ đó mới có được những quyết định đúng đắn. Khổ nỗi cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục họat động như ngày nào trên hang Pắc Bó. Chủ Trương lớn của “Đảng” quyết định cả vận mệnh dân tộc vẫn chỉ có Bộ Chính Trị biết. Chả thế ngày 22/10/2008, tại Bắc Kinh Thủ Dũng đã âm thầm chuyển nhựơng Tây Nguyên cho Tàu.

            Về nước mặc cho giới chuyên gia Việt Nam khuyên can. Nào là dự án chả lợi gì cho đất nứơc. Để dành cho con cháu mai sau khi kỹ thuật tiến bộ hơn có lợi hãy khai thác. Bây giờ thực hiện nó là phá hủy cả Tây Nguyên một phần văn hóa Việt Nam, là tiêu diệt các sắc tộc thiểu số một thành phần của dân tộc, là tiêu diệt môi trường sống của cả dân tộc, là đặt một trái bom bùn đỏ trên đầu dân tộc, là rước ngọai xâm về “dày mả tổ”, là …, là …, là …

            Thủ Dũng như có đôi tai gỗ, đã ra công văn số 650/TTg-KTN, chỉ đạo các bộ ban ngành phối hợp triển khai dự án bauxite Tây Nguyên. Thủ Dũng cho biết đây là một Chủ Trương lớn của “Đảng”. Cần biết cũng trong năm 2008, vì tai hại của việc khai thác bauxite, Trung cộng đã đóng cửa tất cả các mỏ bauxite trên toàn cõi Trung Hoa. Thiếu quặng bauxite thì để bọn chư hầu Tấn Dũng cung cấp.

            Thủ Dũng phải thực hiện Chủ Trương lớn của “Đảng” vì Tập Đòan Cộng sản cần Tiền ! Tiền ! Tiền !!! Thiếu ngọai tệ thâu được từ bán tài nguyên đất nứơc là thiếu tiền nuôi dưỡng các bộ máy “Đảng”, bộ máy công an, bộ máy Tư Bản đỏ … Nói trắng ra chế độ Cộng sản Việt Nam chỉ sống nhờ tiền bán đất, bán người, sống trên xương máu của nhân dân, của bao thế hệ ông cha đã hy sinh gìn giữ.
            Trở lại với Bauxit Tây Nguyên, chỉ sau 6 tháng hoạt động, từ bể trộn của mỏ Tân Rai thuộc tỉnh Lâm Ðồng hóa chất đã rò rỉ, chảy lan ra ngoài làm ô nhiễm 200 ha đất chung quanh. Thêm vào đó các xe vận chuyển bauxite từ quặng về nhà máy khai thác cày nát tuyến đường dài 227 cây số, trong đó có quốc lộ 20 gây phẫn nộ cho dân cư trong vùng và những người thường xuyên sử dụng tuyến đường này.

            So với Biển Đông, Quân Đội Trung cộng chỉ ở sát cạnh sừơn. Thời chiến tranh chỉ tập trung các tỉnh gần biên giới phía Bắc. Còn Tây Nguyên, địa điểm chiến lược của Việt Nam, đã có hằng chục ngàn “công nhân” phục vụ, đa số đều còn trẻ và vừa được “giải ngũ”. Cả sư đòan “Quân Đội Giải Phóng Trung Quốc” đang sẵn sàng “giải phóng” Việt Nam .

            Đó mới chính là chủ trương lớn của “Đảng”. Ngày nay “Đảng” sợ thế lực thù địch tấn công nên mới mời “công nhân” Trung cộng sang trợ giúp bảo vệ chế độ. Thế nên lương của các “công nhân” này đều được trả nhiều lần cao hơn công nhân Việt làm cùng một công việc. Lẽ đương nhiên quặng Bauxite được khai thác là để trả công cho việc bảo hộ này.

            Ngay cả đến báo chí ngọai quốc như tờ Financial Times ngày 06/05/2009 cũng cho rằng dự án Bauxite Tây Nguyên nói lên tính phụ thuộc của nhà cầm quyền Hà Nội với Trung cộng, và dự án này là một "món quà" của Thủ Dũng khi "triều kiến Bắc Kinh".

            Có nguồn tin cho rằng Nông Đức Mạnh đã nhận $300 triệu Mỹ Kim, còn Nguyễn Tấn Dũng nhận $150 triệu Mỹ Kim từ Chủ Trương lớn của “Đảng” cho khai thác Bauxit Tây Nguyên. Rõ ràng mạng sống của người Việt đã bị bọn Mạnh Dũng bán rẻ cho Tàu.

            Luật Rừng Lại Hòan Luật Rừng

            Sau ngày chiếm miền Nam, cộng sản từ Bắc vào hay từ rừng ra xem tài sản của dân miền Nam như chiến lợi phẩm. Người thì bị họ bắt bỏ tù. Nhà thì bị họ cướp. Nhiều chuyện tang thương đã xẩy đến khó mà quên được. Mà quên làm sao được khi nó vẫn xẩy ra và nó lại xẩy ra theo lệnh của Thủ Dũng.

            Số là ngày 11-6-2009, Tiến sỹ Luật Học Cù Huy Hà Vũ đã gửi đơn kiện Thủ Dũng. Ông Vũ cho rằng việc Thủ Dũng ký quyết định khai thác quặng bauxit ở Tây nguyên là vi phạm pháp luật Việt Nam, vi phạm các luật về bảo vệ môi trường, luật về bảo vệ di sản văn hóa.
            Nhờ vụ này Thủ Dũng trở thành vị thủ tướng đầu tiên của Nhà nước Cộng sản bị khởi kiện vì tội vi hiến. Thế mà không cám ơn Tiến sỹ Vũ, Dũng lại đê tiện bắt người cướp nhà.

            Việc ông Vũ bị Dũng bắt thì hầu như ai cũng biết. Chuyện ông Vũ bị Thủ Dũng cướp nhà thì bà Nguyễn Thị Dương Hà, vợ của ông Cù Huy Hà Vũ, chỉ mới được thông báo cách đây vài hôm. Mặc dù quyết định đã ký từ đầu tháng Chín năm 2010, hai tháng trước ngày ông Vũ bị bắt.

            Chuyện bắt người cướp nhà chỉ còn có thể xẩy ra tại Việt Nam và dưới triều đại Thủ Dũng. Chuyện bắt người cướp nhà lần này lại xẩy ra ngay trung tâm Hà Nội để đón mừng sinh nhật thứ 1001.

            Tòan Đảng chào Mừng “Quốc Khánh” Một Tháng Mười

            Thấm thóat đã 1 năm kỷ niệm ngày “Ngàn Năm Thăng Long” 1/10/2010. Khai mạc ngày này cũng là Chủ trương lớn của “Đảng” nhằm Chào Mừng Quốc Khánh “Thiên Quốc”. Hằng chục tỷ Mỹ Kim đã được chi ra cho lễ “hội nhập” này. Sau Đại lễ Việt Nam trở thành một quốc gia ngập nợ và quịt nợ. Năm nay Hà Nội cũng tưng bừng đón mừng “Quốc Khánh” Trung Hoa.

            Rời Hà Nội đến tỉnh Lào Cai, đảng bộ Thành Phố Lào Cai đã ra chỉ thị bắt dân phải treo "đèn lồng đỏ kiểu Trung Hoa" để đón mừng “Quốc Khánh” nứơc người. May thay người dân Lào Cai đã sớm nhận ra đây là một việc làm không phù hợp với văn hóa Việt Nam . Tỉnh Hòa Bình nghe đâu cũng sẽ tưng bừng mở Hội vào đầu tháng 10 này.

            Vừa rồi khi Đới Bỉnh Quốc sang Việt Nam Tổng “Lú” Nguyễn Phú Trọng đã công khai phát biểu như sau: "Hai Đảng và Chính phủ có chung lý tưởng, có lợi ích chung, vận mệnh gắn liền với nhau, không có lý do gì không cố gắng thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển tốt đẹp". Vui thì phải vui chung còn chết phải chết chung. Việc tòan “Đảng” chào mừng Quốc Khánh Trung Hoa vì thế đâu có gì là lạ mà phải làm như “mèo dấu c..”.

            Càng nghĩ về Thủ Dũng và Tập Đòan Cộng sản lại càng có nhiều điều cần chia sẻ cùng bạn đọc. Bài tới người viết sẽ trình bày cùng bạn đề tài “Nguyễn Tấn Dũng Xây Dựng Nền Kinh Tế Khát Tiền”. Xin hẹn bạn vào bài tới.

            Nguyễn Quang Duy

            Melbourne, Úc Đại Lợi29/9/2011

            Các bài khác về Nguyễn Tấn Dũng xin tìm trên google.

            Nguyễn Quang Duy, 9/2011, “Nguyễn Tấn Dũng than “Chỉ Tại Cái Công Hàm 1958 !!!

            Nguyễn Quang Duy, 8/2011, “Nguyễn Tấn Dũng: Tập Đòan Tư Bản Đỏ”Nguyễn Quang Duy, 6/2011, “Phân Hóa Nội Bộ - Hoa Kỳ Chửa Đánh Đã Thắng”

            --------//--------

            Comment

            • TAM73F
              Super Moderator
              • Apr 2009
              • 2321

              #7
              Đời sống bây giờ ở Saigon - September 2011

              TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG
              CSVN VÀ NGƯỜI VIỆT HÃI NGOẠI

              THẾ YẾU CỦA CHÁNH QUYỀN CSVN
              Con người sinh ra, lớn lên rồi chết đi là cái lẽ biến thiên của cuộc đời. Một chế độ dựng lên rồi sập xuống cũng là cái lẽ biến thiên của cuộc đời. Nó có thể lâu hay mau, bền vững hay chết non là do nhiều sự kiện cộng lại. Nhưng một chế độ không thể ở lỳ hoài được. Nhưng ngoài cái lý do sinh diệt bình thường, chế độ CSVN còn có những lý do riêng biệt để mà tự hủy lẹ hơn.
              Sau hơn 36 năm cầm quyền đảng CSVN đã có quá dư thời gian để chứng tỏ rằng mình không có khả năng đem đến hạnh phúc cho nhân dân, đưa đến nước mạnh dân giàu Ngoài chuyện tàn phá tài nguyên, phí phạm tiền viện trợ quốc tế, không bảo vệ nổi lãnh thổ của cha ông để lại, xã hội xô bồ, đạp lên nhau mà sống, người CS còn làm thêm một tội tầy trời, đó là làm nhục nước.
              Trong bất kỳ chế độ nào, cũng có khi chính người nguyên thủ hay một vài ‘đại gia’ bất tín, bất nghĩa. Nhưng chưa từng có một chế độ nào mà 2 triệu đảng viên từ cấp thấp nhứt đến cấp cao nhứt đều ăn nói ngang ngược với dân một cách tỉnh queo. Sau hơn 36 năm hống hách với nhân dân cho sướng miệng, người CS đối với ngoại quốc lại vẫn chưa bỏ được tâm lý đi ăn mày và đổ thừa tất cả cho chiến tranh.
              Những cái thích thú khuếch khoác khoe khoan, ăn ngược nói ngạo, bội tín, bội nghĩa, lưu manh gạt gẫm, bịa đặt vu oan, nói một đường làm một ngã - lúc đầu tưởng đâu là vô tội vạ vì có ai dám cải với cây AK - không dè với thời gian nó trở thành chứng bịnh ung thư. Đối với người dân trong nước dưới tay mình hay đối với người ngoại quốc đến làm ăn với mình, người CSVN đã tạo ra một ấn tượng khó bôi: họ là những người bán khai, thô lổ, không thể tin được. Họ đã tự mình loại mình ra khỏi tập thể có phép tắc cư xử văn minh. Và nếu muốn nước Việt Nam tiến lên, CSVN không thể nào tiếp tục đại diện cho chữ thành tín để đi giao tiếp. Muốn người ta lại tin vào VN nữa thì phải nhờ đến người khác. Cùng một lúc tàn phá đất nước về mặt vật chất, người CSVN cũng tàn phá đất nước về mặt tinh thần và văn hóa. Các dấu hiệu của sự tan rả của chế độ đã quá rõ rệt.
              Trong cái bối cảnh suy đối này, CSVN bây giờ đang lung túng cả về đối ngoại lẫn đối nội. Phải đương đầu với Trung quốc vì những tranh chấp đất đai và hãi đảo. Phải đương đầu với dân chúng vì những cuộc biểu tình.
              Trong tương lai, kết quả của những đối phó này sẽ ra sao?
              Đối với Trung quốc, CSVN bị lép vế vì hai lý do.
              Thứ nhứt, Trung quốc quá mạnh về kinh tế và quân sự so với Việt Nam cho nên mặc dầu có những luật lệ quốc tế để phân xử các tranh chấp giữa các quốc gia, nhưng trên thực tế, ngay cả ngày nay, ai có khả năng chiếm đất trước và giữ được nó là của họ (Anh quốc thắng Argentina ở Falklands).
              Điểm thứ hai là cái nợ ân tình. Trung Quốc đã bỏ tiền của, súng đạn giúp CSVN chiếm lấy miền Nam thì bây giờ CSVN phải hồi báo lại thì mới đúng là tình hữu nghị.
              36 năm là quá dài để cho Trung quốc dư thời gian đưa cán bộ tình báo qua Việt Nam để cấu kết với cán bộ VN thân Trung Quốc và lập kế loại trừ những cán bộ không thân thiện. Cho nên đảng CSVN bây giờ nằm gọn trong tay của Trung Quốc rồi. Quyền lực, tiền tài, cơ sở làm ăn mà bây giờ các người đang cai trị VN có, là nhờ có Trung Quốc xấp xếp. CSVN đâu có cách nào quỵt nợ ân tình được. CSVN đâu có thể nào làm nghịch ý Trung Quốc được. Chỉ khi nào Việt Nam có một chánh thể khác thì cái nợ ân tình này mới có thể đem ra bàn lại.
              Còn các cuộc biểu tình ở các thành phố thì sẽ ra sao?
              Lý do trước mắt là sự nhượng bộ về chủ quyền các hãi đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng nếu ta đi hỏi người dân ở Cần Thơ hay ở Bắc Lạng các đảo đó ở đâu thì hầu như không ai biết nó ở đâu cả. Những người biết các đảo đó ở đâu là đa số là các giáo sư Sử Địa, các sinh viên và một số trí thức khác. Tổng cộng lại, họ không phải là đa số quần chúng và họ cũng không thể tự động đi biểu tình. Đứng đàng sau lưng, phải có người đạo diễn. Những ngưòi này có thể vì lòng yêu nước chân thành hay cũng có thể có những lý do khác mà lòng yêu nước chỉ là tấm bình phong.
              Liên can trong vụ này, CSVN là đảng cầm quyền phải chịu trách nhiệm với lịch sử VN về tội không bảo vệ được lãnh thổ. Trong tương lai xa hơn, VN có thể mất phần tài nguyên mà các vùng đó có thể đem tới. Nhưng trực tiếp bị thiệt thòi trước mắt chỉ là những ngư phủ đánh cá bằng tàu lớn. Xưa kia họ tự do ở vùng biển của mình, bây giờ ra đó đánh cá là bị bắt. Tỷ lệ của số ngư phủ này so với dân số cả nước là một tỷ lệ nhỏ nhoi.
              Cho nên mặc dầu cái chánh nghĩa là có, nhưng cái thế nhân dân thì không. Các cuộc biểu tình này sẽ không kéo dài được lâu. Nhưng nó không phải là vô ích. Nó giúp cho quần chúng ý thức được ai là tội phạm phản quốc. Nó là những cuộc tập trận cần thiết. Nó giúp cho quần chúng có kinh nghiệm tổ chức, lòng tự tin và tính dứt khoát lúc thời cơ đã chính mùi. Chừng nào?
              Khi nhà trường không có đủ chỗ cho con nít đi học, khi nhà thương bó tay, để người bệnh la liệt không còn thuốc thang để trị bịnh, khi người ăn xin và người thất nghiệp tràn lan ngoài phố, khi người dân đóng không nổi sưu cao thuế nặng nữa, khi bà con thân thuộc ở tù nhiều quá . . . thì người dân sẽ đi biểu tình. Nghẹt thở quá, không biểu tình thì chết, nổi dậy thì may ra có hy vọng. Nhưng lần này không cần trí thức giựt dây, lần này đọng chạm tới chén cơm và cuộc sống hằng ngày của người dân, lần này mới là sức mạnh của nhân dân. Lần này là lần thiệt.
              Quân đội nhân dân, công an nhân dân, cảnh sát nhân dân sẽ được huy động để chống nhân dân. Nhưng không phải toàn bộ quân đội, công an, cảnh sát tham gia trực tiếp đàn áp. Chỉ một bộ phận tham gia và trong cơn say máu, họ sẽ thẳng tay.
              Cuộc dằn co này có thể kéo dài lê thê hay ngắn gọn trong vài ngày. Nhưng phải có người đổ máu. Không nhiều thì cũng phải có ít, vì CS không dễ chịu thua liền, và máu là cái giá phải trả cho tự do.
              Những bộ phận quân đội, công an. cảnh sát còn lại đứng ngoài nhìn, họ sẽ thấy bà con, anh em, cha mẹ trong đám biểu tình bị đánh, bị đập. Họ sẽ bắt đầu suy nghĩ. Khi họ suy nghĩ xong thì chế độ tiêu liền.
              Đó là những cái gì đã thật sự xảy ra ở Tunisie, Egypte, Yemen .v.v. Có ông Tổng thống bỏ của, chạy lấy mạng, có ông Tổng thống bị bắt ở lại chờ ngày ra tòa. Đừng nói chi đến những Tổng Bộ Trưởng khác.
              Trước đây, CS đoạt được chánh quyền là 50% nhờ súng đạn của Liên Xô và Trung Cộng còn 50% là nhờ một kỹ thuật vận động quần chúng xuất sắc đã gạt được người dân. Ngày nay chính người dân mở mắt ra biết mình đã bị lợi dụng nên không thể nào gạt họ lần thứ hai. Người CS không còn xử dụng thế nhân dân được nữa. Thế nhân dân bây giờ đang chống lại họ.
              Người CSVN đang ở trong thế kẹt.

              THẾ MẠNH CỦA NGƯỜI VIỆT HÃI NGOẠI
              Người Việt hãi ngoại đã thành công lớn trong mọi lãnh vực. Từ công ăn việc làm của từng cá nhân đến việc học hành đổ đạt của con cái, từ đời sống vật chất sung túc đến cái khung cảnh an lạc thoải mái, không bị khuấy nhiểu của một chế độ tự do dân chủ, từ cái luật pháp công minh, đến cái châm sóc ân cần của hệ thống an sinh xã hội nhân bản, dầu cho họ có biết hay không, họ cũng đã thực sự ở ‘thiên đường’ trần gian rồi.
              Với số lượng mấy triệu dân ở khắp năm châu, người Việt hãi ngoại là một tiềm năng vĩ đại có đủ khả năng đưa nước Việt Nam ra khỏi vũng lầy hiện nay. Do đó người Việt hãi ngoại đang ở thế thượng phong. Với điều kiện:
              Người Việt hãi ngoại là một tập hợp nhiểu thành phần khác nhau, trong đó có những chủ tiệm phở, tiệm may. Trong đó cũng có nhũng kỷ sư, bác sĩ, mà trong đó cũng có người đi làm thuê, làm mướn. Trong đó cũng có những người thất nghiệp sống nhờ trợ cấp xã hội, mà trong đó cũng có những nhà tỷ phú dollars.
              Người Việt hãi ngoại chỉ thành lực lượng khi họ hành động như một khối.
              Câu này là chìa khóa của vần đề, Làm sao để cộng đồng người Việt Hãi ngoại hành động thành một khối? Thành lập một Hội Đồng? Ứng cữ? Đề cữ? Bầu phiếu? Cái đó tôi không biết. Nhưng chắc chắn có nhiều người nghĩ ra nhiều cách rồi. Cái mà tôi biết là sự việc một Hội Đồng Chỉ Đạo Người Việt Hãi Ngoại QUÁ KHÓ THÀNH LẬP không phải chỉ vì người Việt không thể hợp tác với nhau được và CSVN tìm cách phá thối. Ngoài hai lý do trên ra, còn có một lý do quan trọng không kém đó là có những thế lực ngoại quốc cũng không muốn người Việt Hãi Ngoại mạnh lên và có những người da vàng nói tiếng Việt nhưng làm việc cho các thế lực đó. Tất cả những yếu tố bên trong và bên ngoài đó đã đưa cộng đồng Người Việt Hãi Ngoại đến tình trạng rắn không đầu ngày nay. Dầu có bị thọc gậy bánh xe bao nhiêu, việc không tập hợp được vẫn là trách nhiệm chánh của những người trí thức thật tâm yêu nước. Không có cái Hội Đồng này thì không có tiếng nói chung, nghĩa là không có lực lượng, nghĩa là không thể làm gì để giúp nước được.
              36 nhà trí thức nhắc nhở VC dùng đến ‘sức mạnh dân tộc’
              Sức mạnh dân tộc là gì? Sức mạnh nhân dân là gì? Sức mạnh của quần chúng là gì? Sức mạnh của đồng bào là gì? Đương nhiên, khi lấy kiến hiển vi ra soi thì mỗi cụm từ có chút sai biệt, nhưng trong đại thể thì nó cũng chỉ nói đến sức mạnh của một số đông người. Chúng ta bàn luận nghiêm túc nên không để mấy chữ này làm bị rối trí nhe.
              Trước đây có Giáo Sư Phó Bá Long, sau đó là đến Tướng Nguyễn Cao Kỳ, bây giờ lại đến 36 người tự nhận là trí thức tìm cách tiếp xúc với VC. Những người này đều đã bị lực lượng hãi ngoại chối bỏ thậm tệ. Giáo Sư Phó Bá Long và Tướng Nguyễn Cao Kỳ được hân hạnh bắt tay với vài người lãnh đạo CS rồi thôi. Nếu CS chơi thâm, chánh thức mời rềnh rang 36 nhà trí thức về VN uống trà và ngợi khen họ, thì họ sẽ hãnh diện lắm hay mới biết mình bị lợi dụng và bị chọc quê?
              Thật ra, một vài tướng lãnh cũ của VNCH hay 36 nhà khoa bảng VN đối với CS không là cái gì cả. Những người trí thức này tự đánh giá mình quá cao. Họ tưởng CS sẽ xem trọng chữ nghĩa. Dầu cho có 360 người khoa bảng đi nữa, đối với CS, trí thức phải đầu hàng giai cấp, nói một cách khác, trí thức phải nghe lời đảng. Trí thức không có gì để bàn với đảng. Trí thức trong nước vì ở trong thế kẹt nên phải chịu thua để mà sống thì ai cũng hiểu được mà thương tâm. Nhưng trí thức đã ra hãi ngoại rồi mà chịu đầu hàng giai cấp thì làm sao hiểu đây?
              Nhưng nếu những người trên đây được người Việt Hãi ngoại nhiệt liệt ủng hộ thì sao?
              Chừng đó CS sẽ thay đổi thái độ. CS sẽ mừng lắm, vì họ đã bỏ tiền ra rất nhiều để làm cái công tác hãi-ngoại-vận này lâu rồi. Bây giờ đã có kết quả thì còn muốn gì hơn? Nhưng ở trong thí dụ đó, các nhà trí thức đừng tưởng bở, nếu CS chịu săn đón các ông chẳng qua là tại cái lực lượng phía sau lưng chớ không phải cái bằng cấp trước mặt. Nói một cách khác, bất cứ một chủ tiệm phở, thợ hớt tóc, ca sĩ trẻ, ký giã già nếu họ được người Việt hãi ngoại ủng hộ thì họ cũng sẽ được săn đón tương tự.
              Cái tiếu lâm trong vụ này là các ‘thiên kinh vạn quyển’ không hiểu cái gì họ nói. Họ không biết tự mình tìm hậu thuẩn của người Việt Hãi Ngoại - đó cũng là một sức mạnh dân tộc - lại đi dạy VC là chuyên viên thượng thặng dùng sức mạnh dân tộc để cướp chánh quyền. Nhưng thời thế đã đổi thay, bây giờ sức mạnh dân tộc đã quây 180 độ rồi!

              KHI HAI BÊN NÓI CHUYỆN VỚI NHAU
              Cứ để tự nhiên, chế độ CS ở VN sẽ bị quần chúng đứng lên dẹp bỏ. Đó là điều chắc chắn. Nhưng trong quá trình dẹp bỏ đó, sẽ có rất nhiều tổn thất về vật chất và xương máu.
              Để tránh tình trạng tồi tệ này, bài toán Việt Nam chỉ có thể giải quyết tốt đẹp nhứt bằng cách hai bên nói chuyện với nhau.
              Nhưng mỗi bên có những ý định khác nhau. VC muốn người Việt Hãi Ngoại xóa bỏ hận thù. Còn người Việt Hãi Ngoại thì muốn xóa bỏ chế độ CS.
              Mục tiêu của hòa đàm là giải quyết cái chánh trị bế tắc hiện nay. Do đó, nó không phải là tìm cách cải tiến để củng cố chế độ CS hiện nay (chế độ này hết thuốc chữa rồi) mà nó cũng không phải là dẹp bỏ đảng CS vì đó là trái với tinh thần tự do dân chủ. Mục tiêu thực tế là thỏa thuận những bước cần thiết để chuyển giao độc quyền cai trị của đảng CS lại cho nhân dân. Cái ưu việt của chế độ dân chủ không phải ở chỗ nó tự nhiên chọn được những người cai trị hoàn hảo, mà nó nằm ở chỗ người dân nếu rủi ro chọn lầm người thì chỉ phải ráng chịu đựng có một nhiệm kỳ (3 hay 5 năm) chớ không phải 36 năm hay hơn nữa như bây giờ.

              PHÁI ĐOÀN CS
              CSVN ở trong một thế phải chọn lựa khó khăn.
              Người CS yêu nước muốn tìm cách giải quyết quốc nạn bằng cách thảo luận với mọi thành phần chống đối trước hết phải thắng được sự ù lỳ của các đồng chí bảo thủ. Những người này đang hưởng lợi lộc mà quyền hành đã ban cho, họ sung sướng quá rồi nên không muốn có thay đổi.
              Và sau đó là phải qua mặt Trung Cộng. Đa số thành phần đang cai trị VN đã bị Trung Cộng khống chế rồi. Mà Trung Cộng đâu bao giờ muốn một nước VN hùng mạnh. Cho nên dầu cho biết rằng vì quyền lợi của Tổ Quốc, CSVN phải nhờ người Việt Hãi Ngoại tiếp tay để tăng nội lực, họ cũng không dám làm vì đừng nói đến quyền hành và tài sản họ đang có, ngay cả tính mạng của họ cũng không được an toàn.
              Cho nên vì quyền lợi của quốc gia, ai cũng thấy phải có thương thuyết càng sớm càng tốt. Nhưng xác suất của triển vọng này rất ít.
              Phải biết chờ đợi. CSVN sẽ bị bắt buộc phải thương thuyết chỉ khi nào họ không còn cách nào cựa quậy nữa. Cho nên phải chờ đến khi nào CSVN thật sự bí lối. Họ phải bị nằm trong một thế ‘hoặc thay đổi hoặc chết’. Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Quan tài thì sẽ thấy. Hoặc thấy trước thì còn vớt vát chút đỉnh. Thấy quá trễ thì sẽ sạch túi. Chuyện này chỉ có thể xấp xếp giữa người CS với nhau mà thôi.

              PHÁI ĐOÀN HÃI NGOẠI
              Người Việt hãi ngoại đi thương thuyết với CS ở trong thế mạnh chỉ khi nào họ có đa số người Việt hãi ngoại ủng hộ. Và nếu họ thật sự yêu nước và muốn làm việc có kết quả thì họ phải nhận nhiệm vụ từ tập đoàn người Việt hãi ngoại. Người CS chỉ nhượng bộ trước áp lực của nhân dân. Chỉ có người đại diện thật sự của tập đoàn người Việt Hãi Ngoại mới có thể đặt kiều kiện với CS. ‘Chịu điều kiện thì giúp, không chịu thì thôi. Tôi đi về!’
              Trong lúc CSVN chưa có dấu hiệu gì thay đổi chánh sách thì vì quyền lợi Tối Thượng của Tổ Quốc, người Việt Hãi Ngoại phải tự mình chuẩn bị sẳn sàng đi, những người Việt Hãi Ngoại nhứt là những người có danh vọng phải hiểu rằng xé lẻ vọng động là làm trở ngại sự tiến triển của ván cờ.

              Hồ Tấn Vinh
              4/10/2011

              Comment

              • TAM73F
                Super Moderator
                • Apr 2009
                • 2321

                #8
                Việt kiều là ai? Định nghĩa của 2 chữ Việt Kiều !!!.....


                Saigon Echo sưu tầm


                Bất kỳ người Việt nào CÒN MANG QUỐC TỊCH VIỆT CỘNG, MANG THÔNG HÀNH VIỆT CỘNG, TẠM THỜI NGỤ CƯ Ở NƯỚC KHÁC (ngoài Việt Nam,) gọi là NGOẠI TRÚ NHÂN thì mới gọi là Việt kiều.
                Một số khác, khoảng nửa triệu người, phần đông là từ vĩ tuyến 17 trở ra miền Bắc, cũng tìm cách trốn chạy cộng sản bằng đủ mọi phương cách khác với phương cách TỴ NẠN CỘNG SẢN, như “xuất khẩu lao nô”, lấy vợ, lấy chồng, du sinh, nghiên cứu sinh v.v… qua các nước Đông Âu và Nga sinh sống và không muốn quay về. Vài trăm ngàn người, phần đông từ dưới vĩ tuyến 17 vào Miền Nam đến tận mũi đất cuối cùng của quê hương: Cà Mâu, đã tìm qua các nước Á châu: làm dâu Đại Hàn, Đài Loan, Nhật, Thái Lan, Singapore, Philippines, Indosenia, Malaysia, Cambodia và ngay cả Trung cộng qua hiện tượng buôn người, buôn thân xác phụ nữ, trẻ em. Họ rời bỏ chốn địa ngục trên quê hương để bước vào những địa ngục trần gian khác, tàn bạo không kém. Một số khác nữa, xuất khẩu lao nô” đi “ở đợ” (làm đầy tớ, Việt cộng gọi là “Ôsin”) bên các xứ Trung Đông: Iran , IraQ, Libanon, Saudi Arabia, v.v…

                Những người nầy vẫn còn là thân phận “Việt kiều”: mang quốc tịch Việt cộng, xử dụng thông hành CHXHCNVN (Chẳng Hề Xấu Hổ Chút Nào Vì Ngu), do Việt cộng cấp, vẫn còn là công dân của cái gọi là CHXHCNVN, sinh sống ở nước ngoài (Nga, Đông Âu và Á châu), vẫn bị khống chế bởi NHỮNG “Ổ CHUỘT CHÙ” NGOẠI GIAO VIỆT GIAN CỘNG SẢN có tên gọi là “Tòa Đại sứ” hay “Tòa Tổng lãnh sự Việt cộng”.
                Vì thế, họ đành im lặng, chỉ lo cho đời sống cá nhân và gia đình, hoàn toàn không dám vọng động một phần bởi tâm thức sợ hãi chế độ gian manh Việt gian cộng sản còn đeo đẳng; phần khác, vì bị nhồi sọ và tiêm nhiễm quá lâu chủ thuyết vô luân cộng sản, không biết gì về lịch sử hào hùng của dân tộc và hoàn toàn không có một chút ý thức gì về quê hương, dân tộc, đất nước (tất nhiên trừ một số biệt lệ). Đây đích thị là những VIỆT KIỀU (những người mang quốc tịch Việt cộng và Thông hành do Việt cộng cấp,) theo đúng nghĩa đen của danh từ nầy.
                Ở đây xin mở dấu ngoặc để nói về danh từ “Việt kiều”: Việt cộng gọi cộng đồng gốc Việt TỰ DO – TỴ NẠN CỘNG SẢN là “Việt kiều” là theo chính sách cô hữu, mập mờ đánh lận con đen, gian manh, bịp bợm, và ngay cả do bản chất ngu dốt của loài quái vật cộng sản (không hiểu danh từ hán-việt “Việt kiều”) theo đó, “Việt” là người VẪN CÒN MANG quốc tịch Việt cộng, công dân Việt cộng, mang thông hành Việt cộng, “kiều” là người nước này TẠM NGỤ CƯ ở một nước khác vì một lý do nào đó, như nhân viên của chế độ trong các cơ cở ngoại giao — ổ chuột chù ngoại giao Việt cộng,– du sinh, thương gia Việt cộng đi giao dịch thương mại trong một thời gian 5, 7 tháng, v.v…
                Tóm tắt, bất kỳ người Việt nào CÒN MANG QUỐC TỊCH VIỆT CỘNG, MANG THÔNG HÀNH VIỆT CỘNG, TẠM THỜI NGỤ CƯ Ở NƯỚC KHÁC (ngoài Việt Nam,) gọi là NGOẠI TRÚ NHÂN thì mới gọi là Việt kiều.
                Còn những người GỐC VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN, lúc ở trại tỵ nạn đã khai là “stateless” (vô quốc tịch), lúc nhập cư vào quốc gia tỵ nạn trở thành “thường trú nhân” của xứ đó (khác với đám Việt kiều nói trên là ngoại trú nhân là công dân Việt cộng tạm ngụ cư).
                Sau một thời gian “làm thường trú nhân” 3 năm (ở Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi – Canada, Australia,) hay 5 năm (Mỹ) thì được xin nhập tịch trở thành công dân chính thức của quốc gia tị nạn, họ là công dân tại quốc gia tỵ nạn có gốc gác VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN, thí dụ Công dân Mỹ GỐC VIỆT, công dân Canada GỐC VIỆT, công dân Úc GỐC VIỆT, v.v… (US citizen Vietnam origin, Candian citizen Vietnam origin, Australian citizen Vietnam origin, etc.,) chứ không bao giờ họ là Việt kiều như Việt cộng vẫn gọi một cách ù lì, đần độn, ngu dốt, trơ trẽn, lưu manh và mập mờ, vì Việt cộng hay chế độ Việt gian cộng sản cũng chỉ gồm toàn những CON VẬT MANG MẶT NẠ DA NGƯỜI, chứ chúng không phải là người nên chúng không phân biệt được tiếng người hay ý nghĩa chữ viết của loài người nên không hiểu hay chỉ hiểu một cách lờ mờ, u mê, đần độn cộng với bản chất lưu manh bịp bợm muôn thưở, cố tình mập mờ một cách trơ tráo.
                Một số người, ngay cả những người gọi là trí thức, nhà báo không để ý hay thành phần trẻ không hiểu tiếng hán-việt, vẫn lặp lại những từ ngữ Việt cộng thường dùng trong đó có danh từ “Việt kiều” khi nói về cộng đồng người tỵ nạn cộng sản gốc Việt. Việt cộng là loài dã thú không hiểu tiếng người, không đáng trách – Đáng trách chăng là chính chúng ta vì chúng ta lặp lại theo chúng trên các phương tiện truyền thông của ta. Vì vậy, chúng ta nên hết sức quan tâm TRÁNH XỬ DỤNG hay LẶP ĐI LẶP LẠI những từ ngữ sai lầm của Việt cộng!
                Xin đóng ngoặc ở đây.

                --------------//---------------

                Comment

                • TAM73F
                  Super Moderator
                  • Apr 2009
                  • 2321

                  #9
                  Tiến Sỉ Lê Đăng Doanh: “Đến lúc nhìn thẳng vào sự thật”

                  Café F – 30 9 2011 -

                  Hỏi T.S có bi quan quá không khi nói rằng: “không nghi ngờ gì nữa, tình hình KT-XH nước ta đang ở tình trạng xấu nhất từ năm 1991 đến nay”, ông liền hỏi lại, “thế bạn thấy có ai phản đối không?”.
                  Câu chuyện giữa VnEconomy với TS. Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, diễn ra khi không khí của cuộc hội thảo về các vấn đề kinh tếvĩ mô do UBKT Quốc hội tổ chức cuối tuần qua tại Tp.HCM vẫn còn đang “nóng hổi”.

                  Là diễn giả đăng đàn thứ ba với chủ đề “Điều chỉnh kế hoạch 5 năm 2011 - 2015, tái cơ cấu và cải cách kinh tế” tại hội thảo này, ông Doanh đã hơn một lần nhấn mạnh rằng cần phải nhìn thẳng vào sự thật và “cần có đổi mới lần hai” một cách sâu sắc, toàn diện.

                  Phải nói thẳng

                  Thưa ông, nhận định nền kinh tế đang ở tình trạng “xấu nhất từ năm 1991” đã được “kiểm nghiệm” ở diễn đàn nào chưa?

                  Chưa đâu, đây là lần đầu tiên tôi đưa ra nhận định này.

                  Các ý kiến tại hội thảo đều rất dễ dàng thống nhất là nền kinh tế đang rất khó khăn, song nếu khái quát như ông thì liệu có vội vàng quá không?

                  Thì bạn đã nghe cả tại hội thảo rồi đấy. Phải nói thẳng là tình hình đang rất xấu.

                  Xét về tất cả các tiêu chí kinh tế vĩ mô như lạm phát, bội chi ngân sách, thâm hụt thương mại, cán cân thanh toán quốc tế, nợ nước ngoài và nợ công, tỷ giá đồng tiền Việt Nam cũng như sự giảm sút niềm tin của người dân, nhà đầu tư trong nước và ngoài nước… đều đang ở mức trầm trọng.

                  Đáng chú ý là sức khỏe của hệ thống ngân hàng bộc lộ nhiều vấn đề, tỷ lệ nợ xấu tăng lên. Mức tín nhiệm của Việt Nam bị các công ty nước ngoài hạ thấp đến mức B-, tức là mức thấp nhất trước mức C.

                  Xếp hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam bị giảm 6 bậc trong năm 2011, xuống vị trí 65 trên 142 nền kinh tế. Tích lũy từ nội bộ kinh tế liên tục giảm sút, để duy trì mức đầu tư cao, nước ta đã tăng vay mượn nước ngoài, không chỉ qua nguồn ODA mà còn cả qua các kênh bán trái phiếu chính phủ trên thị trường tài chính quốc tế và bảo lãnh cho doanh nghiệp nhà nước vay mượn thương mại với lãi suất cao. Số nợ của khu vực doanh nghiệp nói chung, kể cả doanh nghiệp tư nhân kinh doanh bất động sản cũng tăng cao rồi.

                  Nợ nước ngoài lên đến 42% GDP, cao nhất từ 1998 đến nay. Nếu tính thêm nợ của các doanh nghiệp nhà nước mà chính phủ bảo lãnh và phải trả nợ thay khi doanh nghiệp chưa trả được, như trường hợp xi măng Đồng Bành vừa qua, thì tổng số nợ đã vượt quá 100% GDP.

                  Một vấn đề nữa rất đáng chú ý hiện nay là chênh lệch giàu-nghèo tăng lên rõ rệt. Đặc biệt, bên cạnh những người nghèo gặp khó khăn rất lớn trong đời sống, chữa bệnh, cho con đi học..., đã xuất hiện những hiện tượng phô bày sự giàu có, xa hoa theo kiểu trọc phú, rất xa lạ với truyền thống dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước.

                  Rồi, tội ác hình sự, các hành vi bạo lực và các tệ nạn xã hội tăng nhanh, tình hình trật tự xã hội có diễn biến rất phức tạp, người dân lương thiện cảm thấy kém an toàn khi đi ra đường hay đến nơi đông người.

                  Nhưng thưa ông, chúng ta vẫn thường nghe các đánh giá là kinh tế - xã hội đang có chuyển biến tích cực?

                  Tất nhiên hiện thực là bức tranh nhiều màu sắc. Bên cạnh những “khoảng tối” như tôi vừa nói thì cũng có điểm sáng, như sản xuất nông nghiệp đạt khá, xuất khẩu, trong đó có xuất khẩu gạo… vẫn tăng.

                  Bên cạnh hàng nghìn doanh nghiệp phải ngừng sản xuất thì cũng có doanh nghiệp làm ăn được. Ví dụ doanh nghiệp Mỹ Lan ở Trà Vinh chế ra vật liệu nano xuất khẩu, hay gốm sứ Minh Long cũng có công nghệ tiên tiến, sản phẩm có năng lực cạnh tranh…

                  Những điểm sáng như vậy có thể tìm thấy ở tất cả các lĩnh vực, các địa phương, nhưng chính những doanh nghiệp này cũng đang gặp khó khăn vì lãi suất cao, lạm phát làm chi phí đầu vào tăng nhanh.

                  Những điểm sáng đó mình phải thừa nhận, song một vài con én nhỏ không làm nên mùa xuân, không làm thay đổi được cục diện.

                  Vậy nên đã đến lúc nhìn thẳng vào sự thật, phải có sự chuyển hướng chiến lược để khôi phục lại niềm tin của dân và các nhà đầu tư.

                  “Đổi mới lần thứ hai”

                  Xin mạn phép hỏi ông, ông nghĩ sao khi có ý kiến cho rằng, dù sao khi đã nghỉ hưu rồi thì cũng dễ “nói mạnh” hơn khi còn đương chức?

                  Với tôi thì không phải, tôi luôn luôn nói sự thật, vì thế nhiều phen sóng gió lắm rồi đấy, nhưng chắc bạn không biết rõ vì khi ấy bạn còn trẻ.

                  Còn ở tình thế hiện nay thì tôi thấy cả các anh đương chức cũng nói thẳng là chúng ta không nên ảo tưởng nữa, và nếu không điều chỉnh cho sát thực tế hơn thì kế hoạch 5 năm tới sẽ không thể thực hiện được.

                  Theo tôi thì đã đến lúc Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất cần có quyết định cải cách mạnh mẽ, mà tôi tạm gọi là đổi mới lần thứ hai, để tránh khủng hoảng.

                  Như đã nói, cần điều chỉnh kế hoạch 5 năm tới. Trước mắt, cần có kế hoạch ổn định kinh tế vĩ mô gắn liền với tái cơ cấu và cải cách toàn diện trong ít nhất là hai năm 2012-2013, trước khi tiếp tục thực hiện các mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2011-2015.

                  Mục tiêu của kế hoạch này là giảm lạm phát, bội chi ngân sách, nhập siêu, cải thiện rõ rệt các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô bằng những cải cách mạnh mẽ trong thu-chi ngân sách, cắt giảm mạnh mẽ đầu tư công, thực hiện công khai minh bạch trong chi tiêu ngân sách, hoạt động đầu tư, thực hiện tinh giảm bộ máy nhà nước đã phình to lên nhanh chóng trong thời gian qua, cắt giảm biên chế hành chính.

                  Cần sửa đổi, bổ sung Luật Ngân sách, giảm hẳn các khoản chi tiêu còn để ngoài ngân sách, thực hiện sự giám sát đầy đủ, chặt chẽ của Quốc hội và các cơ quan dân cử về chi tiêu ngân sách. Cần sửa đổi, bổ sung Luật Mua sắm công, ban hành Luật Đầu tư công nhằm hạn chế tham nhũng, lãng phí, chia chác trong nhóm lợi ích.

                  Khâu trọng tâm là cải cách các tập đoàn kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, đẩy mạnh cổ phần hóa, thực hiện mô hình quản lý‎ dựa trên kết quả, công khai minh bạch như những công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán.

                  Khác với lần đổi mới thứ nhất - chủ yếu là cởi trói và giải phóng sức sản xuất, được sự ủng hộ của đông đảo nông dân và quảng đại quần chúng - đổi mới lần này đỏi hỏi phải nâng cao chất lượng của bộ máy, chính sách, phải tiến hành phẫu thuật, cắt bỏ những ung nhọt đang gây ra những căn bệnh kéo dài của nền kinh tế và xã hội.

                  Có thể, một số nhóm lợi ích đang được hưởng lợi lớn sẽ không ủng hộ một cuộc đổi mới như vậy. Đó là nhiệm vụ khó khăn cần phải vượt qua, và cũng là sứ mệnh vẻ vang của thế hệ lãnh đạo hiện nay.

                  Phản biện chính sách cần được làm chu đáo hơn

                  Trong số các giải pháp để “chữa bệnh” bất ổn, nhiều ý kiến đặc biệt nhấn mạnh đến việc giảm thu, giảm chi và tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước, ông có chia sẻ?

                  Giảm thu, giảm chi thì rất đúng rồi. Tập trung ổn định vĩ mô và phải khoan sức dân, bớt thuế bớt chi tiêu đi.

                  Tôi cho rằng cần phải phát động phong trào toàn dân cần kiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một vị giáo sư người Nhật nói với tôi trước đây ông ấy đến Việt Nam thì được mời rượu Johnnie Walker đỏ, còn bây giờ thì họ mời Chivas giá mười mấy triệu. Và ôtô người Việt đi cũng sang hơn trước đây nhiều. Ở Nhật, không bao giờ một quan chức nào có thể mời bạn uống rượu sang như vậy bằng tiền ngân sách.

                  Vì thế cần phải tiết kiệm, trong đó thì cơ quan nhà nước cần gương mẫu trước.

                  Còn về tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước thì tôi đã nói nhiều lần là cơ chế quản lý của doanh nghiệp Việt Nam rất kém, nhưng không phải là không khắc phục được.

                  Đi Trung Quốc, tôi được Phó thủ tướng phụ trách công nghiệp của Trung Quốc cho biết là đã áp dụng chế độ quản lý theo hiệu quả, nhưng doanh nghiệp nhà nước bên đó cũng còn rất nhiều vấn đề.

                  Hỏi thế làm thế nào để khắc phục thì ông ấy cho biết là yêu cầu một nhóm các nhà khoa học, các chuyên gia khảo sát và đề ra1 hệ tiêu chí, như phải tăng năng suất bao nhiêu, đổi mới công nghệ thế nào, lương thưởng bao nhiêu… sau đó công khai đăng lên. Ai có phương án thì gửi đến, rồi mời hội đồng nghe báo cáo, bỏ phiếu kín, người được phiếu cao nhất thì bổ nhiệm làm lãnh đạo 3 năm. Năm đầu làm không tốt thì không lên lương, năm thứ hai vẫn không làm được thì hủy hợp đồng không cho làm nữa và thay băng người khác.

                  Tại sao họ làm được mà Việt Nam mình chưa làm được?

                  Nhân nói đến vai trò của các nhà khoa học và chuyên gia kinh tế, có chuyên gia tự phê là ý kiến nào cũng nhấn mạnh phải tái cơ cấu nền kinh tế, nhưng để góp ý cho Chính phủ tái cơ cấu bắt đầu từ đâu thì đội ngũ các nhà khoa học cũng chưa làm được nhiều. Ông có thấy “chạnh lòng” không ạ?

                  Lần gần đây nhất được mời đến hội nghị tham vấn cho Chính phủ thì tôi lại đang hội thảo ở nước ngoài nên không dự được, rất tiếc.

                  Đóng góp cá nhân thì có cũng có thể chưa đáp ứng được yêu cầu, nhưng tôi nghĩ chúng tôi luôn cố gắng đóng góp.

                  Chỉ có điều vai trò phản biện cũng chưa được coi trọng đúng mức, thể hiện ở cách làm vội vã. Thông báo trước hai ngày bảo mời anh đến thì làm sao mà chuẩn bị tốt được. Lẽ ra anh phải đặt hàng trước một số vấn đề để người tư vấn có thời gian chuẩn bị thật tốt. Sản phẩm 24 tiếng dĩ nhiên phải khác với sản phẩm được nghiên cứu nghiêm túc trong 2, 3 tháng chứ.

                  Cho dù như vậy thì có còn hơn không, thưa ông?

                  Rõ ràng chứ, chỉ có điều cần mở rộng hơn nữa. Tôi tin là nếu có quyết tâm cải cách, chúng ta sẽ làm được, làm tốt.

                  Theo Nguyên Hà
                  Vneconomy
                  ----------//------------


                  Lời bàn :
                  Lần đầu tiên mình được nghe một (cựu) viên chức kinh tế cao cấp trong chính quyền VN nói lên sự thật, nên cảm thấy rất phấn khởi, may ra đã đến lúc chính quyền VN chịu khó nhìn vào sự thật, và 'đổi mới' thực sự cho dân chúng VN bớt nghèo đói chăng ?

                  Bài TS LĐD xác nhận những điều mình đã biết từ lâu về tình trạng bi đát của nền kinh tế VN. Như trong một bài trước mình viết, nếu ko có đầu tư nước ngoài (FDI) và viện trợ của việt kiều hải ngoại, số ngoại hối dự trử (reserves en devises étrangères) của VN đã cạn từ lâu và k.t. VN càng thêm bi đát.

                  Bài TS LĐD rất đầy đủ, khó có thể bổ túc được gì. Mình chỉ nhân cơ hội này để nhắc lại một cuộc tranh luận về mức nợ công (dette publique) của chính phủ VN. Lúc đó, khi bác NKHuy đưa ra số nợ công là 54% GDP, mình đã không mấy tin tưởng (nếu không muốn nói là nghi ngờ !), và mình đã đưa ra giả thuyết là số đó không gồm số nợ các xí nghiệp nhà nước (XNNN). Hôm nay, TS LĐD đã xác nhận là đúng như vậy: nếu tính luôn các món nợ của các XNNN, số nợ công sẽ lên gấp đôi, tức là hơn 100% GDP !

                  Nợ nước ngoài lên đến 42% GDP, cao nhất từ 1998 đến nay. Nếu tính thêm nợ của các doanh nghiệp nhà nước mà chính phủ bảo lãnh và phải trả nợ thay khi doanh nghiệp chưa trả được, như trường hợp xi măng Đồng Bành vừa qua, thì tổng số nợ đã vượt quá 100% GDP.


                  Một con én không làm nên mùa Xuân. Chỉ mong sao con én LĐD sẽ tồn tại để lôi kéo nhiều đồng chí khác, để dân chúng VN đở khổ.

                  -------ooooo-------

                  Comment

                  • TAM73F
                    Super Moderator
                    • Apr 2009
                    • 2321

                    #10
                    Đời sống bây giờ ở Saigon - September 2011

                    Lòng nhẹ dạ ! Có tiền mua Tiên !

                    Việt kiều Mỹ đòi ‘siêu người mẫu’ hoàn trả $14.4 triệu
                    Wednesday, October 05, 2011 300 PM

                    SÀI GÒN (NV) - Một vụ án đòi lại tài sản sau khi ly dị giữa một Việt kiều Mỹ và một “siêu người mẫu” trị giá khoảng 14.4 triệu đô la đang gây xôn xao dư luận tại Sài Gòn. http://tintuc.xalo.vn/00-1610407338/...nh.htmlNguyên đơn trong vụ này là một Việt kiều Mỹ, ông Nguyễn Ðức An, 51 tuổi, kiện người vợ cũ là Phạm Thị Ngọc Thúy, tức “siêu người mẫu” Ngọc Thúy, 31 tuổi, nhỏ hơn ông An 20 tuổi, ngụ tại phường Bến Nghé, quận 1, Sài Gòn.

                    Một nguồn tin của Người Việt cho hay, ông Nguyễn Ðức An là người Mỹ gốc Việt ở miền Nam California và từng tổ chức đám cưới với “ Siêu người mẫu ” Ngọc Thúy tại cả hai nơi là Sài Gòn và Quận Cam . Theo báo Tiền Phong , ông Nguyễn Ðức An hiện có nhà ở phường Bến Nghé, quận 1, đã đâm đơn kiện bà Ngọc Thúy ra tòa án thành phố Sài Gòn vào ngày 5 tháng 10, 2011 với lý do tranh chấp quyền sở hữu nhà cửa, đất đai, xe cộ ... hiện đang do bà Thúy đứng tên.

                    Theo đơn kiện , ông An và “ siêu người mẫu ” Ngọc Thúy kết hôn vào năm 2006. Liên tiếp hai năm sau đó , ông Việt kiều đã bỏ tiền ra mua nhiều biệt thự, đất đai tại Sài Gòn, Phan Thiết, Vũng Tàu ... để cho bà Thúy đứng tên giùm.

                    Số tài sản này theo đơn kiện gồm 10 biệt thự và nhà ở quận 1, Bình Thạnh và 13 lô đất ở Phan Thiết, Vũng Tàu; 4 chiếc Mercedes và 31% cổ phần cũng như cổ phiếu, tiền gửi ngân hàng... với tổng trị giá lên tới 14.4 triệu đô la. Ðáng nói là trong tổng số tài sản nêu trên có hai khoản vay lên tới trên 3.7 triệu đô la.

                    - Nguyên đơn, ông An, cay đắng tâm sự với báo Tiền Phong : “ Tôi đã yêu cầu cô Ngọc Thúy rất nhiều lần xin cô trả lại tài sản mà cô đứng tên cho tôi theo phán quyết của tòa án Mỹ . Cô không chịu trả mà ngược lại đang cố tẩu tán bằng cách bán lấy tiền , hoặc chuyển quyền sở hữu cho người nhà của cô .”

                    Trước đó , ông An cũng khởi kiện cô vợ cũ “ Siêu người mẫu ” tại Tòa án quận 1 và tòa này đã chuyển đến Tòa án thành phố Sài Gòn để thụ lý và phân xử đúng thẩm quyền.

                    Theo “ lệ thường ,” những vụ kiện tranh chấp tài sản tại Việt Nam kéo dài rất lâu. Kể cả khi đã có phán quyết của tòa án thì việc chấp hành án cũng chậm chạp , không biết chừng nào mới xong !!! ( P L)

                    Ngọc Thuý nói gì về “ đám cưới scandal ” của mình ?
                    http://tintuc.xalo.vn/00-1610407338/Ngoc...
                    Hanoinet - Hơn một năm sau đám cưới bất ngờ và ồn ào, tôi gặp lại Ngọc Thuý ở quán cà phê thuộc hàng sang trọng bậc nhất Sài Gòn .

                    ----------//----------

                    Comment

                    • TAM73F
                      Super Moderator
                      • Apr 2009
                      • 2321

                      #11
                      Xã hội VN gắn liền với vần "L"- Xin đừng nghĩ bậy‏ !

                      Liều, lỗ, lừa, lách, lươn lẹo…
                      Trần Kỳ Trung

                      Cái vần “ L” tưởng khó ghép nhiều từ, ấy thế trong thực tế xã hội ta, nó lại được nhiều người nhắc đến.
                      Sao ở nước ta giờ lắm thằng “liều” thế! Một vần có “L” nhé. Có thằng chưa đến tuổi thành niên, thế mà dám cầm dao lao vào tiệm vàng chém chết ba người để cướp… Chuyện không đội mũ bảo hiểm, bị công an giữ lại. Không sợ! lao luôn xe vào cảnh sát để tìm cách đào thoát… thậm chí dám đâm chết công an khi bị bắt… còn nhiều chuyện “ liều” bất chấp luật pháp, bất chấp người thực thi công vụ, không ngày nào báo chí không đưa tin đủ các lĩnh vực từ giao thông, xã hội, kinh tế…
                      Nghĩ kinh cả người.
                      Còn chuyện “ Lỗ ”, cũng thêm một vần “ L” thì khủng khiếp! Nhất là mấy Tổng công ty nhà nước từ đóng tàu, xi măng, cảng, xăng dầu, xây dựng… toàn thấy “ Lỗ” , không phải lỗ nhẹ, mà lỗ nặng, lỗ hàng nghìn tỷ đồng. Lỗ toàn tiền nhà nước mà thực chất là tiền của dân, ăn cướp của dân…
                      Đọc xong bảo không bi quan mới là chuyện lạ. Không biết cứ như thế này thì kinh tế Việt Nam sẽ đi về đâu!
                      Rồi đến chuyện “lừa” trong xã hội, vần “ L”có lẽ nghe đã quen tai. “ Lừa” đủ kiểu, đủ ngành… từ bảo hiểm, đến vay nợ, mua bán bất động sản, bán hàng đa cấp, chữa bệnh của phòng khám bệnh Trung Quốc, lừa cả ngân hàng… có vụ lừa đảo lên đến cả hàng trăm tỷ đồng. Chưa kể những vụ lừa đảo mang yếu tố nước ngoài làm cho dân ta điêu đứng như vụ dưa hấu, trồng sắn, chuối…
                      Chẳng lẽ xã hội chúng ta có luật pháp, có công an, tòa án… mà để thế ư!
                      “ Lật lọng” mới ghê! Người dân nghèo nghe vần “ L” này chỉ còn sự căm tức. Khi lấy đất của dân nghèo để quy hoạch khu CN hay làm khu du lịch, mấy tay chủ dự án hứa với dân rất nhiều từ chuyện đền bù đến chuyện tạo công ăn việc làm…đến chuyện giải quyết khó khăn kinh tế. nhưng đến khi lấy xong đất của dân rồi, lật lọng không thực hiện lời hứa… mặc cho đời sống dân nghèo thậm khổ…
                      Không công ăn việc làm, không đất, con cái thất học…nỗi khổ của dân kêu trời không thấu.
                      Lo lót ! Vần “ L” này nhắm mắt cũng nhìn thấy.
                      Chỗ nào chẳng phải lo lót. Lo lót diễn ra dưới nhiều hình thức, nhiền kiểu từ chuyện xin việc , chạy chức, lên lương, chuyển công tác, chạy án, xử phạt hành chính, xử phạt giao thông…... Cứ có tiền là sẽ giải quyết được mọi vấn đề, đến độ thành câu cửa miệng: “ Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn !”.
                      Lo lót trở thành một tập quán sống, một thói quen…Tại sao lại hình thành một một thói quen xấu đó ? Hỏi tức là trả lời !
                      Vần “ Lách” ư ! Cái vần “ L” này xuất hiện nhiều trên câu cửa miệng của mấy nhà doanh nghiệp khi nói chuyện làm ăn. Lách thuế, lách hải quan nhập hàng, lách cảnh sát giao thông khi chở hàng… nghĩa là lách đủ kiểu để mưu cầu lợi ích cá nhân. Không bằng cấp, cũng tìm cách có bằng cấp để an tọa chức vụ. Chẳng thế mới có chuyện, một ông tiếng Anh, một chữ bẻ đôi không biết vẫn có bằng “ tiến sỹ” bên Mỹ cấp. ( cho dù đó là bằng giả). Rồi tìm cách “lách” khai man tuổi, để tại vị lâu hơn… Mà kinh khủng nhất là “ lách” luật, để tạo điều kiện cho cấp dưới buôn lậu, cho các công ty tư nhân trong nước và nước ngoài khai thác tài nguyên vô tội vạ, phá rừng tràn lan, cướp đất của dân dưới danh nghĩa “quy hoạch, giải tỏa”… Nhìn chỗ nào cũng thấy, báo chí ngày nào cũng có bài về vấn đề này.
                      Cứ “ lách” như vậy, thử hỏi lòng dân có yên không ?
                      Còn “ lươn lẹo”, vần “ L” này hay được người đời nhận xét khi nghe các“ quan” nói. Các quan nói một đằng, làm một nẻo, nói mà không làm, đổ vấy cho người khác, thậm chí sẵn sàng xuyên tạc, bóp méo sự thật… không chịu nhận ra lẽ phải, phủ nhận lòng tốt của người khác, tìm cách bạo biện những khuất tất, những điều dân phản đối…
                      Chuyện này có rất nhiều, đến độ người ta chán không muốn nói, không muốn nghe nữa bởi những cái miệng “ lươn lẹo”.
                      Đến “ Lấp liếm” thì khỏi nói ! Mấy ông có chức có quyền khi bị phanh phui ra những vụ tham nhũng, ăn chơi trụy lạc… làm bản kiểm điểm hay bị truy tố ra tòa không bao giờ nhận tội mà lấp liếm rất nhanh, đổ hết do “trình độ hạn chế”, hoặc như “bị kẻ xấu lừa !” ,thậm chí còn nói “ Những thế lực thù địch tìm cách phá hoại…” để cố bào chữa tội ác của mình. Cuối cùng được cấp trên bao che, mấy ông này nhận những bản án nhẹ hều gây nên sự phẫn nộ trong dư luận…
                      Nói tóm lại, nếu là nhà nước văn minh, tiến bộ, dân chủ với luật pháp thượng tôn, Quốc Hội có quyền thực sự và nhất là Đảng cầm quyền bản chất đúng là vì dân, nghe dân, coi sự tồn vong của dân tộc lên trên hết thì những vần “ L” trên không có điều gì đáng sợ!
                      Còn không phải thế, không làm được, thì chỉ có “ Loạn”.
                      Mà đến như thế thì vận mệnh đất nước nguy to !

                      __._,_.___

                      Comment

                      • TAM73F
                        Super Moderator
                        • Apr 2009
                        • 2321

                        #12
                        Nguyễn Tấn Dũng Xây Dựng Nền Kinh Tế Khát Tiền.


                        Khai mạc Hội Nghị Ban Chấp hành trung ương, ngày 6/10/2011, Nguyễn Phú Trọng cho biết: “Tình hình kinh tế - xã hội của đất nước lại đang có những khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Trung ương. Vì vậy, Bộ Chính trị đề nghị Trung ương dành thời gian thích đáng cho nội dung này.” Lý do triệu tập Hội Nghị xác nhận đảng Cộng sản đang gặp bế tắc trong việc điều hành nền kinh tế Việt Nam.

                        Trong lời khai mạc Ông Trọng còn tiết lộ đã có những khác biệt ý kiến trong Bộ Chính Trị về việc điều hành kinh tế của Thủ Dũng đến độ phải công khai mang ra bàn thảo: “Vừa qua, các báo cáo, tài liệu của Ban cán sự đảng Chính phủ đã được chuẩn bị công phu, nghiêm túc; đã lắng nghe, tiếp thu được nhiều ý kiến đóng góp của các ngành và các cơ quan, các chuyên gia, các nhà khoa học. Bộ Chính trị cũng đã dành một ngày để nghe và cho ý kiến. Tuy nhiên, do đây là vấn đề lớn và rất hệ trọng, không ít nội dung còn có ý kiến khác nhau …”

                        Ông Trọng đề nghị Ban Chấp hành trung ương: “cần trả lời câu hỏi, hiện nay kinh tế - xã hội nước ta đang ở đâu; đã vượt qua thời điểm khó khăn nhất chưa; xu hướng sắp tới thế nào ? Nhận định, đánh giá chuẩn xác tình hình và dự báo đúng xu hướng phát triển là căn cứ rất quan trọng để có quyết sách đúng.” Ông còn tự hỏi “Phải chăng sắp tới chúng ta vẫn phải tiếp tục ưu tiên hàng đầu cho việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội, duy trì mức tăng trưởng hợp lý gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; tạo tiền đề vững chắc cho tăng trưởng cao hơn ở những năm tiếp theo của kế hoạch 5 năm.” Câu nói cho thấy chính cá nhân ông cũng không còn tin tưởng vào khả năng điều hành kinh tế của ............ Ông còn xác nhận những phân hóa trầm trọng đang xảy ra giữa 14 thành viên Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam.

                        Kinh Tế Thị Trường Chỉ tồn tại dưới Thể Chế Dân Chủ
                        Kinh tế và Chính trị là hai lãnh vực luôn gắn bó bên nhau. Thể chế chính trị dân chủ vì dân do dân và của dân. Vậy phải chăng nền kinh tế tự do cũng là của dân do dân và vì dân ? Đúng vậy kinh tế quốc dân là tổng hợp tài sản, cả vật chất lẫn tinh thần, của tất cả các thành viên sống trong cộng đồng quốc gia. Do đó sự phát triển của một nền kinh tế là từ thành quả đóng góp của mọi thành viên và vì lợi ích chung của cộng đồng dân tộc. Dân có giàu thì nước mới mạnh.
                        Ông Adam Smith đưa ra lý thuyết về một nền kinh tế lý tưởng, ở đó mọi cá nhân được hòan tòan tự do quyết định và hành động kinh tế để tối đa lợi ích cá nhân. Ông tự ví kinh tế tự do như cánh tay vô hình tạo nên sự thăng tiến xã hội.

                        Trên thực tế quyền lợi và quyền lực cá nhân lại là động cơ thúc đẩy con người hành động. Cá nhân lại thường quên đi hay không biết đến quyền lợi của xã hội và của các thế hệ tương lai. Từ suy nghĩ ích kỷ dẫn đến họat động kinh tế không mang đến lợi ích tối ưu, mà có khi còn làm hại cho xã hội. Thị trường tự do lý tưởng không tồn tại trên thực tế.

                        Xã hội càng tiên tiến thì những mặt trái của thị trường tự do càng bộc lộ. Từ đó chính phủ được giao cho trách nhiệm điều chỉnh các yếu kém của thị trường tự do nhằm mang lại lợi ích tối ưu cho cộng đồng dân tộc. Dưới thể chế dân chủ người dân sẽ tự do chọn lựa người đại diện để bảo vệ và tranh đấu cho quyền lợi của mình.
                        Thể chế dân chủ cũng phát sinh hệ thống truyền thông độc lập và chuyên môn, thông tin các sai sót của thị trường tự do để chính phủ và cá nhân nhanh chóng giảm thiểu mối nguy hại đến xã hội.

                        Chính vì thế nền kinh tế thị trường phải được xây dựng trên nền tảng của một thể chế dân chủ. Vì thế trong cùng hòan cảnh và điều kiện, nước nào càng dân chủ thì dân tộc đó càng thịnh vượng văn minh.

                        Kinh Tế Kế Họach Hóa Cộng Sản
                        Ngược lại với thể chế dân chủ là độc tài tòan trị cộng sản. Ở đó mọi quyết định xuất phát từ một cá nhân (Stalin, Mao Trạch Đông …) hay từ một nhóm người (Bộ Chính Trị, Trung Ương Đảng…). Trên lý thuyết mọi người được nhà nước cộng sản lo cho từ miếng cơm, manh áo, đến giáo dục, công việc làm, thậm chí cả việc dựng vợ gả chồng sinh con đẻ cái.

                        Trên thực tế cá nhân thường ích kỷ quên đi, hay thiếu nhận thức được quyền lợi của xã hội và của các thế hệ tương lai. Và khi nhà nước quyết định mọi vấn đề thì các cá nhân cũng mất đi động lực thăng tiến, họ trở thành thụ động, không muốn tiến thủ, sống bám vào xã hội, dần dần đưa đất nước đến suy thoái khủng hỏang. Cán bộ đảng viên thì lạm dụng quyền lực vơ vét tài sản quốc gia và kết quả là sụp đổ tòan bộ hệ thống như đã xảy ra tại Đông Âu và Liên Sô. Một vài quốc gia còn bị cộng sản chiếm đóng như Việt Nam cũng đang bước vào con đường sụp đổ.

                        Mô Hình Trung Cộng
                        Cuối thập niên 1970, Trung cộng đã bắt đầu áp dụng một mô hình cởi mở kinh tế nhưng vẫn xiết chặt guồng máy chính trị. Mô hình này khởi đầu bằng việc Trung cộng cho thiết lập một số khu chế xuất với vốn đầu tư nước ngòai sử dụng nguồn lao động rẻ, tập trung cho xuất khẩu.

                        Từ đó đến nay nhà cầm quyền Trung cộng luôn tìm mọi cách để trợ giúp tối đa cho việc xuất khẩu. Cụ thể nhất là việc kềm giữ đồng Nguyên (nhân dân tệ). Nhờ nỗ lực này hàng Trung cộng rẻ hơn thực giá để có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Hàng hóa sản xuất và xuất khẩu đã tạo thêm công ăn việc làm và thúc đẩy thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Việc gia tăng xuất khẩu lại tạo ra một cán cân thương mãi thặng dư. Thặng dư này lại được đầu tư vào các ngành công nghệ xuất khẩu tạo thêm công ăn việc làm và cứ thế họ cho là phát triển bền vững và ổn định.

                        Thế nhưng việc giữ giá đồng Nguyên làm giá hàng sản xuất rẻ hơn thực giá dẫn đến việc tài nguyên thiên nhiên bị tận dụng và nhân công đã không được bồi hòan lao động, tiền lương rất thấp. Nói cách khác phương cách điều hành kinh tế của Trung cộng là lạm dụng tài nguyên và bóc lột lao động.

                        Vì được nhà nước bảo trợ, các nhà sản xuất mất đi động lực cạnh tranh về lâu dài chỉ còn khả năng sản xuất các mặt hàng rẻ tiền kém phẩm chất. Ngược lại hàng hóa nhập cảng phẩm chất cao thì lại mắc hơn thực giá, dẫn đến việc người dân chỉ được tiêu thụ các hàng hóa nội địa kém phẩm chất, hàng tồi, hàng xấu, hàng độc hại. Cũng chính vì những lý do trên hầu hết các quốc gia phát triển đã cho thả nổi đồng tiền để hàng hóa nước họ được tự do giao thương trên thị trường quốc tế và ngược lại. Giữ giá đồng tiền là một phương cách lỗi thời đã được đào thảo từ ba thập niên qua.

                        Mô hình kinh tế Trung cộng dẫn đến hai hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Thứ nhất Trung cộng cạn kiệt tài nguyên và nhu cầu nguyên nhiên vật liệu cần cho sản xuất càng ngày càng gia tăng. Thứ đến để tiếp tục gia tăng sản xuất Trung cộng bằng mọi cách phải giữ các thị trường sẵn có và tìm mọi cách xâm chiếm các thị trường mới. Sẵn bản chất bá quyền Trung cộng trở nên một mối đe dọa cho nền kinh tế tự do và hòa bình thế giới.

                        Thặng dư về ngân sách và ngọai thương đã dẫn đến việc giới cầm quyền địa phương vay mượn nợ công để đầu tư vào các công trình thiếu thực tế. Nhiều công trình lớn đựơc hòan tất nhưng phẩm chất kém hay không mang lại các lợi ích thiết thực cho xã hội. Nhiều tài nạn đã xẩy ra trên các tuyến đường sắt cao tốc nói lên đựơc thực trạng kỹ thuật Trung cộng. Nhiều thành phố được xây dựng không người ở, mặc dù dân Tầu vẫn thiếu nhà ở phải chui rúc trong các khu ổ chuột. Nhiều Tập Đòan kinh tế cũng được thành lập từ tiền vốn chính phủ và đều họat động không mang lại những lợi ích thiết thực cho quốc gia. Thậm chí lại lỗ và trở thành gánh nặng quốc gia.

                        Các công trình càng lớn, các tập đòan càng to thì việc tham ô của công càng lớn. Khỏang cách giữa cán bộ giàu có và người dân nghèo khổ càng ngày càng mở rộng. Mọi đầu tư, mọi tập đòan, mọi kỹ nghệ lại tập trung vào các thành phố lớn đào sâu khỏang cách chênh lêch phát triển giữa nông thôn và thành thị. Khi kinh tế càng tăng tốc thì bất công, bất mãn, chống đối càng gia tăng và guồng máy chính trị phải sử dụng bạo lực trấn áp.
                        Vì áp dụng mô hình này tình trạng tại Việt Nam còn tệ hại hơn và như Việt Nam Trung cộng đã trở thành một trái bom chưa biết nổ lúc nào.

                        Chiến Tranh Kinh Tế Hoa Kỳ Trung Cộng
                        Việc Trung cộng kềm giá đồng Nguyên ảnh hưởng đến công ăn việc làm tại các quốc gia tiêu thụ hàng hóa nước này. Việt Nam cũng định giá thấp đồng tiền nhưng vì thiếu ngọai tệ nên ít khả năng hơn.

                        Theo ước tính so với Mỹ kim đồng Nguyên được định giá thấp hơn chừng 20 đến 40 phần trăm. Trong khi ấy đồng Việt lại chỉ trong vòng trên dưới 10 phần trăm. Đây chính là lý do hàng hóa Trung cộng đã giết chết nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Sống cạnh nước lớn các nhà họach định kinh tế luôn cần quan tâm đến mọi thay đổi của nước lớn. Vì các thay đổi này sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến quốc gia của mình.

                        Ngày 11/10/2011 vừa qua, Thượng viện Mỹ bỏ phiếu thông qua Đạo luật giám sát tỷ giá giao dịch tiền tệ. Đạo luật này cho phép chính phủ Hoa Kỳ áp dụng thuế quan trên các sản phẩm nhập cảng vào Hoa Kỳ từ các nước định giá thấp đồng tiền của họ. Đạo luật này chủ yếu buộc Trung cộng phải tăng giá đồng Nguyên để cạnh tranh công bằng trên thị trường hàng hóa Hoa Kỳ. Nếu được Hạ Viện thông qua Đạo luật này sẽ làm giảm số lượng hàng hóa nhập khẩu vào Hoa Kỳ, như thế sẽ giảm sản xuất, giảm nhân dụng và giảm mức độ tăng trưởng Trung cộng.

                        Việt Nam cũng định giá thấp đồng Việt nên cũng sẽ bị chi phối bởi Đạo Luật này. Trong vòng 5 năm qua, Trung cộng còn sử dụng Việt Nam như một cửa khẩu để chuyển hàng của họ ra thế giới tự do. Nhiều mặt hàng dán nhãn sản xuất tại Việt Nam nhưng thực ra là hàng hóa được sản xuất bên Tàu. Tình trạng này càng ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Nhiều quốc gia trên thế giới đã cảnh cáo sẽ trừng phạt Việt Nam vì những gian dối nói trên.
                        ..................................

                        ............................


                        Kinh Tế Việt Nam Một Nền Kinh Tế Khát Tiền
                        Trước năm 1990, nền kinh tế Việt Nam chủ yếu dựa vào ngọai viện và vay mượn từ khối cộng sản. Năm 1990, khi Liên Sô và Đông Âu sụp đổ đảng Cộng sản quyết định quay lại thuần phục Trung cộng, áp dụng mô hình phát triển Trung cộng, đồng thời dựa vào vay mượn và đầu tư quốc tế để sống còn.

                        .................................................. ..
                        .................................................. ...

                        Xây dựng một nền kinh tế là phải xây dựng niềm tin của dân, của các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước. Tấn Dũng lại quá tự tin vào tài in tiền đồng. Tiền càng in thì càng mất giá. Lạm phát phi mã lại làm mất niềm tin vốn đã rất ít.

                        Rồi xuất cảng thì chỉ tập trung vào hàng hóa rẻ tiền và nguyên nhiên liệu thô. Trong khi ấy lại phải nhập cảng những hàng hóa cao cấp phục vụ các Tập Đòan Tư Bản Đỏ, cán cân ngọai thương đâm ra thâm hụt.

                        Đặc biệt là hàng hóa của Trung cộng đã tràn ngập thị trường Việt Nam. Hằng năm cán cân giao thương giữa hai nước nghiêng về phía Việt Nam đến hàng chục tỷ Mỹ Kim. Đó là con số thống kê, số thực tế cao hơn nhiều. Nhiều tỉnh ở cực Bắc Việt Nam sử dụng đồng Nguyên làm phương tiện thanh tóan chính thức. Lý do chính do thiếu Mỹ Kim dự trữ và như thế thiếu khả năng để kềm giá đồng bạc Việt Nam. Trong năm qua Việt Nam đã phải nhiều lần phá giá đồng tiền.

                        Thiếu khả năng cạnh tranh đầu tư ngọai quốc vì thế cũng sút giảm. Đầu tư còn lại đa phần đến từ Bắc Phương Trung cộng. Càng nhận tiền đầu tư từ Trung cộng Việt Nam càng lệ thuộc và càng chóng bị đồng hóa bởi Bắc Phương.

                        Hết sức khách quan trong vòng 5 năm đổ lại nền kinh tế Việt Nam đã hòan tòan bị khống trị bởi người Tàu. Từ hàng hóa tiêu dùng, đến nhà máy sản xuất, đến công trình khai thác tài nguyên, công trình đầu tư, đều do người Tàu chủ động. Người Việt mất cả công ăn, việc làm và đang thất thế ngay trên chính quê hương của mình.

                        Việt Cộng Chưa Bao Giờ Họach Định Kinh Tế Tự Do
                        Được đào tạo và làm việc trong nghành kinh tế, người viết tự tin để nói rằng Việt cộng chưa bao giờ có chính sách để họach định kinh tế tự do.

                        Họach định kinh tế vĩ mô là họach định ngắn hạn, sáu tháng đến hai năm. Muốn họach định cần phải dựa trên những phân tích và tiên đóan chính xác về tình hình kinh tế xã hội chính trị và quốc tế. Chính sách vĩ mô muốn có hiệu quả cần được đưa ra từ cả năm trước thì mới có thể điều hướng được các chỉ tiêu vĩ mô. Mọi thay đổi tại Việt Nam chủ yếu phát xuất từ ................. chỉ thấy sai thì sửa, sửa vẫn sai, sai lại sửa, sửa rồi lại sai, càng sửa càng sai.
                        .............................................
                        .................................................. .


                        Chưa có khả năng họach định vĩ mô, làm sao những cái đầu chỉ biết tranh giành quyền lực chính trị lại có thể họach định kinh tế vi mô. Họach định kinh tế vi mô là họach định thế chiến lược cần người biết nhìn xa nhìn rộng cần viễn kiến.

                        Như đã nói ở phần trên kinh tế là của dân do dân và vì dân, vì thế khi đã mất đi niềm tin của dân là đã mất đi khả năng họach định. Giới cầm quyền Việt Nam cuối cùng chỉ lo chống đỡ để bảo vệ đặc quyền đặc lợi của họ. Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm.

                        Cải Cách Vi Mô
                        Trở lại với Hội Nghị Trung Ương Đảng nói ở đầu bài và theo tạp chí VNEconomic hôm 30 tháng 9 thì Việt Nam cần có một cuộc đổi mới thứ nhì. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho biết nếu cuộc đổi mới lần thứ nhất đã giúp cho Việt Nam thoát được cảnh đói nghèo triền miên của thời bao cấp, thì cuộc đổi mới lần thứ hai được coi là nhu cầu bức thiết để giúp Việt Nam thoát khỏi một cuộc khủng hoảng tài chính đang cận kề.

                        Được Đài Á Châu Tự Do phỏng vấn, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nhấn mạnh: “Cuộc đổi mới lớn nhất đã đem lại cho Việt Nam các bước phát triển vượt bậc như trong thời gian vừa qua. Nhưng đến nay thì những động lực đó không còn đủ nữa, và trong thời gian qua thì Việt Nam thấy rõ là gặp thách thức lớn. Vì vậy cho nên đợt đổi mới lần hai này là cần phải gắn liền với việc cải cách guồng máy nhà nước, gắn liền với cải cách các tập đoàn doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước khác. Cũng như cải cách quản lý về tài nguyên, về đất đai của đất nước để cho nền kinh tế phải nâng cao được hiệu quả và có năng lực cạnh tranh cao hơn.” Nói vắn tắc Việt Nam cần cải cách vi mô (microeconomic economic reform)

                        Cải cách vi mô thật sự rất cần thiết cho Việt Nam. Đây là phương cách để mang nền kinh tế Việt Nam thoát khỏi mô hình Trung cộng. Vấn đề ở đây là làm như thế nào để tối ưu lợi ích xã hội.

                        Trong bài này người viết chỉ xin đưa ra vài vấn đề. Cải cách vi mô sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống của hằng chục triệu người đang làm việc trong các khu vực được cải cách. Ai sẽ chịu trách nhiệm bồi hòan, an sinh và huấn luyện lại tay nghề cho những người kém may mắn bị mất việc ? Làm như thế nào để cải cách vi mô ? Nếu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước thì tiền có được là tài sản quốc gia sẽ được sử dụng như thế nào ? Trả nợ, lo cho người bị mất việc ?

                        Hay chỉ vì .............. đang khát tiền nên bán rẻ tài sản quốc gia để chi tiêu hoang phí trong các công trình hòanh tráng không mang lại lợi ích thiết thực cho dân. Tệ hại nhất là tài sản quốc gia lại biến hóa thành tài sản cá nhân lọt vào tay các tư bản đỏ ......................... Có thêm tiền bọn chúng lại có thêm quyền lực và dân Việt lại tiếp tục sống trong gông cùm của thiểu số nắm được quyền lực.

                        Trong lần đổi mới trước đây, Ông Trần Xuân Bách nhấn mạnh việc cải tổ chính trị cần tiến hành song song với cải cách kinh tế: “…vấn đề quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là thế nào? Có nước tự cho mình không cần đổi mới, đã bị bục vỡ. Có nước coi đổi mới kinh tế phải làm nhanh, còn đổi mới chính trị thì chầm chậm cũng bục chuyện. Có nước chỉ đổi mới kinh tế, không đổi mới chính trị, đã bục to. Có nước làm cả hai, nhưng không nhịp nhàng, gặp khó khăn. Hai lãnh vực này phải nhịp nhàng, không chân trước chân sau, không tấp tểnh đi một chân.” Mặc dù ông Bách chỉ đề nghị cải cách chính trị trong nội bộ đảng Cộng sản, ông hòan tòan không chủ trương đa đảng và dân chủ tam quyền. Thế nhưng đảng Cộng sản đã chọn “tấp tểnh đi một chân” để cuối cùng......................................
                        .................................................. .....


                        Trước đây Tiến sỹ Lê Đăng Doanh và nhiều trí thức Việt Nam đã báo động về tình trạng xâm thực kinh tế của người Tàu. Trong guồng máy cộng sản hy vọng ông Doanh và giới trí thức đều nhận ra nguyên nhân vì không có dân chủ. Vì không có dân chủ người dân đã không được chọn lựa những người có khả năng xây dựng một nền kinh tế do dân vì dân và của dân. Vì vậy việc tối ưu không phải là cải cách kinh tế mà chính là thay đổi hệ thống chính trị. Có tự do có dân chủ Việt Nam mới có thể thóat khỏi cơn khủng hỏang và vươn lên để hòa nhập với cộng đồng thế giới.

                        Cứu nước cứu dân hay cứu chế độ cộng sản là câu hỏi mỗi chúng ta cần phải tự trả lời.

                        Nguyễn Quang Duy
                        Melbourne, Úc Đại Lợi
                        13/10/2011

                        Comment

                        • TAM73F
                          Super Moderator
                          • Apr 2009
                          • 2321

                          #13
                          Nghị Quyềt 36 Không Thể Chọc Thủng Văn Hóa Cộng Đồng Mỹ Gốc Việt Hải Ngọai .

                          tác giả Vi Anh

                          - Bộ Chánh Trị Đảng CSVN từ khá lâu đã ban hành Nghị Quyềt 36 với “ ý đồ ” nhuộm đỏ cộng đồng người Việt hải ngọai qua các công tác địch vận , dân vận , văn hóa vận bằng các hình thức tuyên truyền đen , trắng xám của họ . Nhưng đã mấy năm trời , CS Hà nội tốn bao nhiêu tiền bạc mà không thể chọc thủng nổi cộng đồng người Việt hải ngọai .

                          Tiêu biểu , là công đồng người Mỹ gốc Việt đông nhứt trên thế giới chỉ sau cộng đồng người Việt ở trong nước , CS tập trung nỗ lực , thọc nhiểu mũi dùi tấn công mà không hề hấn gì cả . Thí dụ như năm 2009 , nhà cầm quyền CS Hà nội tung ra gần như đồng loạt kế họach là mở lãnh sự quán ở Houston , tiểu bang Texas của Mỹ vào tháng 9 và đưa giáo viên , đem chương trình và cấp sách giáo khoa ra nước ngoài qua dạy tiếng Việt cho trẻ em gốc Việt ở các nước Miên , Lào , Tiệp , Nga , Canada , USA , và kết quả ... không co' kết quả .

                          Lạnh lùng phân tích cho thấy Lãnh sự quán Houston ... nhu đìu hiu , vắng vẻ chùa Bà Đanh , trở thành mục tiêu chống đối của cộng đồng Mỹ gốc Việt . CS không làm công tác kiều vận được , và còn bị người Mỹ gốc Việt lùa vào tòa lãnh sự ru rú như con dán ngày bên trong vậy . Còn việc dạy tiếng Việt và CS tốn tiền đem sách giáo khoa cho các lớp Việt ngữ bị người Mỹ gốc Việt và gia đình tẩy chay triệt để . Điều đó cho thấy bất cứ kế hoạch chiến tranh chánh trị nào nếu không hợp thời cơ , địa lợi , nhân hoà – ắt sẽ đại bại .

                          Chiến dịch kiều vận và văn hóa vận nói trên , qua mấy năm đã cho thấy cũng như bao nhiêu chiến dịch khác mà CS Hà nội tung ra hải ngoại đều thất bại . Thất bại như qua chiến dịch CS Hà nội vận động “ Việt Kiều ” xin miển chiếu khán nhập cảnh , và đưa cac' đoàn văn công DDVN sang ngoại quốc . Người Việt ở hải ngoại lại có thêm lý do để đồng tâm hiệp lực chống Cộng mạnh hơn , vì thấy CS Hà nội muốn xâm nhập sâu sát , lũng đọan cộng đồng VN ở hải ngoại . Bằng cách lợi dụng thế bang giao và nhu cầu bảo tồn tiếng Việt đồi với trẻ em gốc Việt ở hải ngoại .

                          Về việc CS Hà nội mở lãnh sự quán ở Houston. Nước nào có bang giao với Mỹ là có thể thương lượng mở lãnh sự quán . Hà nội có bang giao với Washington , thì có thể thương lượng điều ấy . Hà nội mở lãnh sự quán ở Houston, thì Mỹ mở ở Đà nẵng . Nếu nói về lợi hại kinh tế, chánh trị , xã hội thì Mỹ ở thế thượng phong . Đà nẵng có lợi cho Mỹ nhiều hơn so Houston đối với Hà nội . Đà nẵng gần Cam Ranh là một vịnh an toàn trú bão , có tính chiến lược trên con đường hàng hải cho Mỹ đi Á châu Thái bình Dương . Đà nẵng là trung tâm kinh tế, chánh trị của Miền Trung VN .

                          Còn về phương diện xã hội , lãnh sự quán Houston hoàn toàn có hại cho CS Hà nội . CS khi mở công sở ngoại giao này ... nói ở Houston có 85,000 người Việt đang sinh sống . CS mở lãnh sự quán ở Houston để tuyên truyền dụng danh đạt quả hơn là hiệu năng công vụ ngọai giao , kiểu vận thực tế . Thực tế có 85,000 người nhưng là Mỹ gốc Việt, công dân hay thường trú nhân Mỹ gốc Việt , coi quốc kỳ VN nền vàng ba sọc đỏ là hồn thiêng sông núi VN , không bao giờ tự coi mình là thần dân của chế độ CS Hà nội . Những người này đâu có cần sự bảo vệ kiều dân của CS Hà nội , là nhiệm vụ căn bản của lãnh sự quán .

                          Lãnh sự quán lớ quớ , đưa cán bộ đảng viên đội lốp ngoại giao , ra câu móc tổ chức đảng CS , thu thuế , làm tình báo ... ngưòi Mỹ gốc Việt nếu không đánh đuổi thì cũng báo cho FBI bắt trục xuất vì hiệp ước bang giao và giao thương nước nào cũng cấm điều đó . Phương chi đạo luật McCarthy của Mỹ hãy còn giá trị . Nhập quốc tịch Mỹ, người của bất cứ sắc tộc nào cũng phải có lời khai hữu thệ rằng trước không dính líu sau không dính líu với hai đảng độc tài Quốc xã và CS .

                          Nếu tốn mỗi năm hàng trăm triệu để có một lãnh sự quán, treo cây cờ CS ru rú , như gián ngày trong khuôn viên , cửa đóng im lìm ... nhưng lại tạo điều kiện và cơ hội cho người Mỹ gốc Việt nay biểu tình, mai biều tình – thì coi như CS Hà nội đã đem tiền thuế của người dân Việt đốt ở Mỹ chơi mà thôi .

                          Đó là chưa nói Lê Dũng miệng lằn lưỡi mối khi làm phát ngôn Bộ Ngoại giao mà đưa qua làm người đứng đầu Tổng lãnh sự quán VN tại Houston , sẽ là cơ hội cho ngườùi Mỹ gốc Việt thêm lý do chứng minh cho lớp trẻ Mỹ gốc Việt sanh ở Mỹ thấy cán bộ CS là những người nói láo như Vẹm ...

                          Về việc CS đưa giáo viên , sách vở ra hải ngoại qua dạy tiếng Việt cho trẻ em gốc Việt . Trước nhứt không thể đưa tiếng Việt vào chương trình giáo dục công lập của các nước được . Nước nào cũng có chuyển ngữ ( vehicle language ) riêng cho chương trình giáo dục quốc gia , được coi là một lối thể hiện chủ quyền của nước đó . Ngay như ở Mỹ một nước tự do , dân chủ nhứt nhì hoàn cầu , với một xã hội đa văn hoá , đa chủng tộc , tiếng Anh vẫn là chuyển ngữ bó buộc . Tiếng Tây ban Nha , Pháp , Đức , Hoa , Nhựt , Việt , chỉ là sinh ngữ ,chỉ học sinh trung học và sinh viên ở cấp đại học nhiệm ý chọn học thôi . TB Cali đông người Việt , vận động mạnh tiếng Việt mới được dạy trong vài trường trung học rất hiến hoi , tiểu học là không có .

                          Tiếng Việt nếu có dạy thì cũng dạy ở các cộng đồng hay gia đình người Mỹ gốc Việt là chánh yếu . Bao nhiêu trường hợp đã xảy ra trong cộng đồng VN , khi thấy cây cờ CS Hà nội , cô giáo Mỹ đưa ra để tượng trưng cho VN , học sinh dù lớp nhỏ cũng về nhà mét ba , mét má . Ba má bực mình, nói phải quấy với thầy cô và báo cho cộng đồng can thiệp . Hầu hết các trường hiểu biềt và thay cờ VN nền vàng ba sọc đỏ vào . Sau này việc hạ cờ máu của CS và thay bằng cờ VN nền vàng ba sọc đỏ người Mỹ gốc Việt yêu cầu các trường, các công ty , và cơ quan Mỹ như Bưu Điện , tương đối dễ vì đã có cả chục tiểu bang ra quyết định công nhận cờ VN nền vàng ba sọc đỏ là di sản , niềm tin , biểu tượng tự do , dân chủ của người gốc Việt . TB Cali lớn nhứt Mỹ ra cả một sắc lịnh và thành sắc luật sau đó là sự công nhận này .

                          Nhu cầu duy trì tiếng Việt ở hải ngoại rất cao . Cộng đồng và gia đình người gốc Việt ở hải ngoại đã giải quyết , đi trước CS Hà nội lâu lắm rồi , trước ít nhứt cũng hơn 30 năm , từ sau khi định cư ở các nước . Cộng đồng và gia đình VN đã nối tiếp dòng văn hoá VN , rất dị ứng với những “ từ CS” nặng mùi Tàu , cách phát âm the thé , nuốt chữ , ghép chữ như muốn cướp lời mà CS đã biến thành ... cách ăn nói của con người xã hội chủ nghĩa . Cộng đồng đã có những trung tâm Việt ngữ , ở khắp nơi, thậm chí chùa , nhà thờ , thánh thất , hội đoàn đồng hương đều có lớp dạy tiếng Việt rất gần gũi , quen thân . Các trung tâm Việt ngữ bây giờ lo thiếu học sinh .. chớ không sợ thiếu thầy , thiếu lớp .

                          Còn về phương diện chuyên môn sư phạm , giáo viên , chương trình , cách dạy , sách vở từ trong nước “ xuất khẩu ” ra khó mà được tập thể người chấp nhận . Chắc chắn khi giáo viên trong nước ra dùng tiếng ngoại quốc để so sánh , giảng giải bài tiếng Việt , học sinh học quen với giọng chính thống , chuẩn mực của chuyển ngữ khó mà hiểu . Phuơng pháp dạy tiếng Việt ở hải ngoại cũng khác ở VN là nơi tiếng Việt là chuyển ngữ . Phương pháp dạy tiếng Việt ở hải ngoại như dạy sinh ngữ , phải so sánh từ cách phát âm , ghép vần , đến văn phạm với ngôn ngữ chánh.

                          Còn chương trình dạy ở VN hải ngoại phải thích hợp với hoàn cảnh của môi trường đa văn hóa , không có chuyện giáo án , đáp án phải đi bên lề phải , qua do ban giám hiệu buộc và duyệt trước như ở VN . Tương quan giữa học sinh và giáo viên khác với VN , thầy cô chỉ là bạn hay anh chị , chớ không phải là người lên lớp dạy đời , đọc chép như ở VN . Ở hải ngoại nhứt là tại các nước có đông người Việt định cư đã có nhiều giáo viên , giáo sư giàu kinh nghiệm dạy tiếng Việt , có khoá tu nghiệp, đã có bộ sách giáo khoa sọan rất công phu và thích hợp từ lớp 1 đến trung học đệ nhứt cấp rồi.

                          Còn sách giáo khoa của CS đưa ra ngoại quốc khá lâu rồi , bán ngoài chợ , có khi cho không , cũng không ai lấy vì nội dung rất dị ứng đối người Việt hải ngoại . Sau cùng, nói tới thì cũng phải nói lui ... Hai “ ý đồ ” nói trên của CS Hà nội -- lập lãnh sự quán ở Houston và đưa giáo viên, sách vở ra ngoại quốc dạy tiếng Việt -- cũng có cái lợi ; đó là lợi cho cán bộ đảng viên CS ở ngoại quốc .

                          Đây là cơ hội những cán bộ có quyền thế trong đảng nhà nước đưa người của mình ra ngoại quốc , trong đó chánh yếu là “ con cháu , các cụ cả ”. Trước là để hưởng thụ ở ngoại quốc . Kế là tạo một đầu cầu để rửa tiền , chuyển tiền ra ngoại quốc . Con em của cán bộ đảng viên trong ngành ngoại giao , ngoại thương có người “ kềm cặp ” khỏi tốn tiền túi học ở quốc gia công tác.

                          Chớ ý đồ xâm nhập cộng đồng bằng công tác lãnh sự và dạy tiếng Việt chắc chắn thất bại như đã thấy . Ngay những người Việt hải ngoại về VN làm ăn , hay những chánh trị salon đón gió trở cờ ... muốn hoà giải hoà họp kia còn “ chém vè ” trước tập thể người Việt ở hải ngoại , huống gì qua những cán bộ đảng viên đỏ lòm do CS Hà nội “ điều ” ra ngoại quốc . Đó là chưa nói một vài phần tử bị CS móc nối , mới ngo ngoe , ọ ẹ là bị các đòan thể, cộng đồng người Mỹ gốc Việt bằng cách này hay cách khác phản ứng tức thì ....

                          Dr. Martin Luther King đả nói : Intelligence plus Character- That is the Goal of True Education !

                          Không biết những đảng viên Cộng Sản Việt Nam có hiểu Câu nầy không nứa ?

                          Comment

                          • Cantho63
                            Tân Khách
                            • Oct 2011
                            • 6

                            #14
                            Bắc thang lên hỏi ông ...trời

                            Comment

                            • TAM73F
                              Super Moderator
                              • Apr 2009
                              • 2321

                              #15
                              NGHỊ QUYẾT 36 và NHỮNG HỆ LỤY HÌNH SỰ

                              * Ðỗ Thái Nhiên

                              I - MỞ ÐỀ

                              “ Ðừng nghe những gì Cộng Sản nói , hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm ” . Ðó là
                              “ câu nói để đời ” của ông Nguyễn Văn Thiệu , vị Tổng Thống Ðệ Nhị Cộng Hòa của miền Nam Việt Nam . Qua lời phát biểu kia có nghĩa là Cộng Sản , hay qua cach' nói 1đường , va` làm một nẻo khac ' . Cộng Sản nói đen tức là trắng , nói đàm tức là đánh , nói yêu tức là ghét .

                              Muốn hiểu lời lẽ của Cộng Sản , chúng ta cần hiểu ngược lại những gì họ đã nói . Ðọc nghị quyết 36 , người đọc ghi nhận bộ Chính Trị của đảng CSVN đã qua 4 lần nhấn mạnh lời kêu gọi người Việt hải ngọai hãy tôn trọng luật pháp của các quốc gia sở tại
                              ( xem nghị quyết 36 , phần II , đoạn 2 và 3 ; phần III, đoạn 4 ).

                              Tại sao Bộ Chính Trị CSVN lại phải ân cần đưa ra lời kêu gọi như vậy đến 4 lần trong một nghị quyết ? Theo định tắc hiểu ngược vừa nêu ra , điều đó hàm ý rằng : trong quá trình biến nghị quyết 36 thành hành động cụ thể , những người Việt hải ngoại bằng lòng hợp tác với CS sẽ bị CS dẫn dụ đi vào con đường vi phạm luật pháp của quốc gia sở tại .

                              Con đường phạm pháp đó ... chạy ngoằn ngoèo theo những địa đạo nào ? Qua con đường phạm pháp đó có bao nhiêu hầm chông ? mìn bẫy? Muốn trả lời các câu hỏi vừa nêu một cách chính xác , chúng ta cần phải qua cach' chọn lựa khung cảnh pháp lý cụ thể của một quốc gia , có cộng đồng người Việt định cư . Bài viết này, xin chọn qua mối quan hệ giữa luật pháp và người Việt nhập cư tại Hoa Kỳ làm đối tượng trọng yếu cho cuộc khảo sát .

                              II-VÀO ÐỀ

                              Trên bình diện nghĩa vụ pháp lý , mỗi người có hai nghĩa vụ căn bản :
                              1/ tôn trọng luật pháp quốc gia và tôn trọng những khế ước mà cá nhân đã ký kết với người khác , tập thể khác . Căn cứ vào hai nghĩa vụ vừa kể , chúng ta hãy xét xem khi một người Việt tại Mỹ hợp tác với CSVN đúng theo lời kêu gọi của nghị quyết 36 thì đương sự sẽ nhận lãnh những hậu quả pháp lý nào ?

                              A-Nghĩa vụ tôn trọng khế ước :

                              Muốn trở thành công dân Hoa Kỳ , mỗi ứng viên phải qua đích thân điền vào mẫu đơn N-400 . Ðặc biệt tại phần 10 , khoản B, đương đơn phải thành thực trả lời “ có ” hay la`
                              “ không ” các câu hỏi sau đây :

                              */ Câu 9 : bạn có đang hay đã từng là qua đảng viên hay liên hệ dưới bất cứ hình thức nào ( trực tiếp hay gián tiếp ) với :

                              a/. Ðảng Cộng Sản
                              b/. Bất kỳ đảng độc tài nào khác ?
                              c/. Một tổ chức khủng bố ?

                              */ Câu 10 : Bạn có đang hay đã từng ủng hộ , hay bênh vực ( gián tiếp hay trực tiếp ) sự lật đổ chánh phủ bằng vũ lực hay bạo động ?

                              */ Câu 11 : bạn có đang hay đã từng hành hạ ( trực tiếp hay gián tiếp ) một người nào đó vì lý do chủng tộc , tôn giáo , cội nguồn quốc gia , thành viên của một hội đoàn xã hội hay vì lý do quan điểm chính trị ? ( Xin xem nguyên bản bằng Anh ngữ : US Department of Justice – Application for Naturalization – form N-400 (Rev 07/23/02 ) N page 7)

                              Mặt khác, sau khi thi đậu quốc tịch , ứng viên sẽ nhận được giấy gọi đi tuyên thệ quốc tịch, ( form N- 455A, Notice of Final Naturalization Hearing ) . Trên giấy gọi này , ứng viên sẽ phải trả lời một số câu hỏi có nội dung tương tự như các câu hỏi số 9, 10, 11 của Form N-400. Tuy nhiên qua giấy gọi N- 455A nhấn mạnh : các câu hỏi kia chỉ muốn biết có điều gì thay đổi hay không ... kể từ ngày ứng viên qua nộp đơn xin nhập tịch cho đến ngày ứng viên đi tuyên thệ .

                              Cả hai mẫu đơn N- 400 và N- 455A đều yêu cầu ứng viên xin nhập tịch phải xác nhận mối liên hệ . Nếu có , giữa ứng viên với đảng Cộng Sản , các tổ chức độc tài chuyên chế , các đơn vị khủng bố . Sự thể này chứng tỏ một cách mạnh mẽ rằng quốc gia Hoa Kỳ tuyệt đối không muốn ban cấp quốc tịch Mỹ cho những người có liên hệ dưới bất cứ dạng thức nào với các tổ chức vừa nêu . Vì vậy , qua một cách thông thường , để cho thủ tục nhập tịch được trôi chẩy , các ứng viên quốc tịch đều trả lời “ không ” đối với các câu hỏi 9, 10, 11 của N- 400 và các câu hỏi tương tự của N- 455A .

                              Bây giờ mang những chữ “ không ” vừa nêu so chiếu với hành động của vài người Việt quốc tịch Mỹ đang hăng hái chấp hành nghị quyết 36 , chúng ta thấy một cuộc xoay chiều 180 độ . Có lẽ do mải mê xoay chiều , các người Mỹ gốc Việt kia đã quên đi một số nguyên tắc quan trọng của luật pháp dân chủ .

                              - Họ quên rằng N- 400 và N- 455A là hai khế ước họ đã tự nguyện ký kết với chánh phủ Mỹ để đổi lấy sự việc họ được ban cấp quốc tịch Hoa Kỳ .

                              - Họ quên rằng mỗi công dân có hai nghĩa vụ pháp lý căn bản . Một là tôn trọng pháp luật quốc gia . Hai là tôn trọng những khế ước mà một cá nhân đã ký kết với cá nhân hay tập thể khác , tập thể công cũng như tập thể tư . Khế ước chính là luật pháp đối với những người đã ký kết .

                              - Họ quên rằng : quyền tự do tư tưởng là một trong những quyền tự do thuộc hàng tối thượng tại Hoa Kỳ . Thế nhưng , chiếu theo các khế ước N- 400 và N- 455A , tự do tư tưởng không có nghĩa là tự do theo Cộng Sản , tự do hỗ trợ cho một chế độ độc tài toàn trị , tự do chà đạp tín ngưỡng của người khác , tự do bao che những ổ khủng bố...

                              Ðời sống của mỗi người là một cuộc trả giá bất tận , trả giá cơm, trả giá nhà ... Khi qua ký khế ước nhập tịch Mỹ để rồi xoay chiều 180 độ chạy theo nghị quyết 36 , xoay chiều như vậy giá là bao nhiêu ? câu trả lời xin đặt ở phần cuối của bài viết này .


                              B - Nghĩa vụ tôn trọng luật pháp quốc gia .

                              Bên cạnh nghĩa vụ tôn trọng khế ước quốc tịch , người Việt mang quốc tịch Mỹ còn có nghĩa vụ , cùng với những người không có quốc tịch Hoa Kỳ sinh sống trên lãnh thổ Hợp Chủng Quốc , tôn trọng luật pháp Hoa Kỳ . Phương cách tôn trọng luật pháp một cách tích cực và hữu hiệu nhất chính là nỗ lực phân tích, xác định và xa lánh mọi ngõ ngách dẫn đến hành động phạm pháp . Bằng vào những ngõ ngách nào ... qua nghị quyết 36 sẽ biến một người vốn là công dân lương hảo trở thành kẻ phạm pháp ? Sau đây là ba ngõ ngách chủ yếu :

                              *- / Ngõ ngách 1 : cuộc hội ngộ với các tổ chức Hồi Giáo khủng bố .

                              Biến nghị quyết 36 thành hành động cụ thể hiển nhiên là một việc làm chính trị . Nói tới chính trị là nói tới tiên liệu . Hoạt động chính trị , nhưng xem nhẹ khả năng tiên liệu chẳng khác nào một người đi biển không mang theo hải bàn . Mặt khác , kể từ sau biến cố tháng 9/11/2001 , cá nhân nào , tập thể nào đứng ở vị trí đồng minh với các tổ chức Hồi giáo khủng bố , họ đều là kẻ thù của nước Mỹ. Bây giờ căn cứ vào một số dữ kiện đáng quan tâm, chúng ta hãy tiên liệu xem có hay không mối liên hệ giữa CSVN và Hồi Giáo khủng bố. Những dữ kiện đó như sau:

                              - Ngay sau biến cố 9/11 tại New York , một số sinh viên Hà Nội đã tổ chức biểu tình chào mừng chiến thắng của Al Qaeda . Hiển nhiên đây là một cuộc biểu tình do đảng CSVN đạo diễn .

                              - Vào những năm cuối của chế độ Sadam Hussein , CSVN đã năm lần bẩy lượt hăm dọa là sẽ gửi chí nguyện quân qua giúp Iraq “ chống Mỹ cứu nước ”.
                              - Theo kinh Koran , Thiên Chúa Allah xác định “ ta sẽ gieo kinh hoàng nơi trái tim của kẻ ngoại đạo . Các con hãy chặt đầu chúng và hãy cắt rời tất cả các đầu ngón tay của chúng ” (Surat 8:12) . Vẫn theo kinh Koran: “ Tất cả những kẻ ngoại đạo đều đáng bị chặt đầu hoặc bị bỏ tù ” ( Surat 47:4 ) .

                              Hai đoạn kinh Koran vừa trích dẫn cộng với những vụ khủng bố tràn lan khắp thế giới cho thấy Hồi Giáo quá khích vô cùng thù ghét kẻ ngoại đạo , đặc biệt là ngoại đạo Tây Phương . Thế nhưng, tại VN , với vô số khách sạn và những tiện nghi sang trọng khác, CSVN đã và đang rộn rịp tiếp đón đông đảo du khách cùng doanh nhân phương Tây .

                              Nghành du lịch của CSVN không ngừng đưa ra lời quảng cáo tự tin rằng VN là nơi an toàn nhất đối với du khách từ mọi quốc gia trong cộng đồng thế giới . Tại sao CSVN không bao giờ là đối tượng của Hồi Giáo khủng bố , dầu chỉ là một lời đe dọa ? Câu trả lời chỉ có thể tìm thấy trong những quan hệ bí mật giữa CSVN và Hồi Giáo quá khích .

                              Qua thế giới đều biết : Trung Cộng có rất nhiều mối liên hệ mật thiết với Trung Ðông: xăng dầu , gạo, chất liệu và kỹ thuật chế tạo vũ khí nguyên tử ... CSVN đã trung thành với Trung quốc đến độ qua dâng đất dâng biển cho Bắc triều . Với lòng trung thành đó , nếu CSVN trở thành đồng minh với Hồi giáo khủng bố , theo lệnh của Bắc Kinh , thì đó không phải là ... điều khó hiểu .

                              Các dữ kiện có tính cách gợi ý nêu trên đã phát ra tín hiệu rằng chính trị là hoạt động muôn mặt trong đó mặt này liên hệ chặt chẽ với muôn mặt kia . Và rằng những người hợp tác với VC hãy tự tiên liệu một cách có căn cứ là trong tương lai không xa , những người này sẽ nằm hẳn trong khối liên kết giữa VC và khủng bố Hồi Giáo . Khi sự việc này xẩy ra : những kẻ làm tay sai cho CS thông qua nghị quyết 36 sẽ đương nhiên trở thành kẻ thù của nước Mỹ .

                              *-/ Ngõ ngách hai : Tác vụ tình báo chống lại Hoa Kỳ :

                              Cách đây hơn 3200 năm , vua Agammennon của xứ Hy Lạp sai sứ giả qua mang tặng thành Troy một con ngựa gỗ khổng lồ . Ðây là món quà biểu tượng cho tình hữu nghị giữa Hy Lạp và Troy . Thế nhưng ngay trong đêm đầu tiên , sau khi thành Troy tiếp nhận quà hữu nghị , thành này đã bị đánh phá tan tành . Lực lượng đánh phá là qua những cảm tử quân Hy Lạp ẩn nấp trong bụng con ngựa gỗ . Tác vụ tình báo , bao giơ cũng khởi đầu bằng những kịch bản rất thân hữu , rất lịch sự . Nghị quyết 36 do VC gửi cho “ khúc ruột ngàn dặm ” hiển nhiên là một quà tặng kiểu ngựa gỗ thành Troy , gọi là ngựa gỗ 2004 . Trong bụng ngựa gỗ 2004 , chất chứa rất nhiều âm mưu , trong đó âm mưu tình báo là âm mưu nham hiểm nhất . Thông thường một tác vụ tình báo gồm hai bước căn bản :

                              - Bước 1 : tạo liên hệ thân thiết hướng về đối tượng mà nhân viên tình báo VC cho là có khả năng săn tin .

                              * Nghị quyết 36 làm thân với người Việt hải ngoại bằng cách “ thân thương ” qua cach' xác nhận : “ Ðảng và nhà nước ta luôn luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam ” . Nghị quyết 36 làm thân với người Việt hải ngoại bằng cách hứa hẹn “ đãi ngộ thỏa đáng đối với những chuyên gia , trí thức người Việt Nam ở nước ngoài .” ( Nghị quyết 36 , phần III, đoạn 2) .

                              Dĩ nhiên khi đi vào hành động cụ thể , VC sẽ có qua 1001 phương thức làm thân khác nhằm vào những con mồi mà VC đã chọn . Những con mồi đó là ai ? Nghị quyết 36 trả lời : họ là những người “ có vị trí nhất định trong đời sống kinh tế ,chính trị , xã hội ở nước sở tại , qua cach' tác động ở mức độ khác nhau cho tới mối quan hệ giữa nước đó với VN ” ( NQ 36 phan I đoạn 1 ).

                              Bước 2 : cài đặt con mồi ở vào thế phải làm tình báo cho Việt cộng . Phương pháp cài đặt có thể là mỹ nhân kế , tài chánh kế , thương mãi kế , ma túy kế , danh vọng kế ...

                              Ðối với những con mồi thông minh và khó tính , không chấp nhận làm tình báo , VC sẽ bố trí mọi cơ hội thích nghi để tạo vết đen hình sự trong hồ sơ cá nhân của đương sự . Những vết đen kia như những lá bài tẩy để VC gây sức ép buộc con mồi phải ngoan ngoãn bước vào con đường tình báo . Xin đừng quên rằng, qua tin tức tình báo do VC thu lượm được tại Mỹ có thể mang bán cho Trung quốc , cho Hồi giáo khủng bố , cho bất kỳ thế lực nào có âm mưu chống lại nước Mỹ .

                              Phương pháp tốt nhất giúp một người không bao giờ bị nhiễm “ bệnh dịch ” làm tình báo cho VC là người đó tuyệt nhiên không giao dịch với VC dưới bất kỳ hình thức nào .


                              *- / Ngõ ngách 3 : đồng lõa tội cưỡng chiếm công quỹ và tán trợ những hành động phạm pháp khác .

                              Chế độ CSVN là chế độ cướp chính quyền , chế độ xây dựng trên những cuộc bầu cử gian lận , chế độ mạo nhận danh nghĩa đại diện người dân . Xuất phát từ cội nguồn phi chính thống vừa kể , mỗi hành động chi tiêu ngân quỹ quốc gia của VC là một hồ sơ phạm pháp . Trên diễn trình thi hành nghị quyết 36 , những kẻ hợp tác với CS có thể sẽ được CSVN ban phát một vài món tiền gọi là sở phí và/hoặc thù lao .Va` những món tiền kia chính là tang vật của tội trộm công quỹ .

                              Mặt khác , lịch sử của CSVN là lịch sử của tội ác : qua cach' sát hại lương dân để đoạt thủ tài sản , dâng biển hiến đất cho ngoại bang để củng cố quyền hành , qua thủ tiêu những người yêu nước để độc chiếm quyền lãnh đạo quốc gia . Do đó bên cạnh tội cưỡng chiếm công quỹ , CSVN không bao giờ từ bỏ bất kỳ con đường kinh tài phi pháp nào . Tài sản của đảng CS là thành tích của vô số tội phạm : tham ô nhũng lạm , qua buôn bán vũ khí , cần sa , ma túy , buôn bán tin tức tình báo , bí mật tán trợ khủng bố theo kiểu xui nguyên dục bị để thủ lợi .

                              Nhằm tẩy xóa nguồn gốc phi pháp của đồng tiền thu lượm được . CSVN phải “ qua cach' rửa tiền ”. “ Rửa tiền ” là che đậy nguồn gốc “ không lành mạnh ” của đồng tiền bằng chiếc áo khoác ngoài hợp pháp . Trong thực tế hoạt động kinh tế , rửa tiền được diễn ra dưới muôn hình vạn trạng . Những người làm tay sai cho CS rất dễ trở thành can phạm của tội “ rửa tiền ” : qua một dạng thức của tội tẩu tán tang vật hình sự .

                              Không còn nghi ngờ gì nữa : kẻ nào hợp tác với CSVN biến nghị quyết 36 thành hành động cụ thể, kẻ đó sẽ phải gánh chịu hai hậu quả pháp lý sau đây :

                              - 1 là : quốc tịch Mỹ của đương sự sẽ là đối tượng của thủ tục thu hồi.
                              - 2 là : kẻ làm tay sai cho CSVN sẽ phải đối diện với các vấn đề hình sự như : qua cach' đồng lõa khủng bố , làm tình báo cho ngoại bang , tẩu tán tài sản phi pháp.

                              Câu hỏi được đặt ra là : đến bao giờ và trong hoàn cảnh nào quyền công tố của Hoa Kỳ sẽ khởi động ?

                              * Hành vi phạm pháp và sự khởi động của quyền công tố :

                              - Hình sự tố tụng của hầu hết quốc gia trong cộng đồng quốc tế đều dành cho cơ quan công tố quyền tùy nghi truy tố . Quyền này có nghĩa là : đứng trước một vụ phạm pháp , vì nhiều lý do khác nhau , luật pháp cho phép cơ quan công tố : hoặc là truy tố khẩn cấp , hoặc là tiếp tục điều tra , hoặc là tạm xếp hồ sơ . Vì vậy từ khi vụ phạm pháp xẩy ra cho đến ngày quyền công tố thực sự khởi độn g, thời gian ngắn hay dài khác nhau rất xa tùy theo tình huống pháp lý và /hoặc chính trị của mỗi vụ án.

                              Có những vụ án công tố quyền phải dành nhiều năm theo dõi để có thể bắt giam toàn bộ can phạm , từ con chốt thí đến tướng sĩ tượng . Có những vụ án quyền công tố chỉ thực sự khởi động sau khi bàn cờ chính trị quốc tế để lộ những chuyển biến đáng quan tâm . Vụ án nghị quyết 36 , qua cach' ẩn chứa hai cội nguồn .

                              Cội nguồn thứ nhất là tính chất thuần túy hình sự . Cội nguồn thứ hai , là những di biến động trên trận địa tình báo giữa : Trung Cộng – Việt cộng – Hồi giáo quá khích – các thế lực chống phá Hoa Kỳ và guồng máy an ninh của Hợp chủng Quốc . Sự khôn ngoan đòi hỏi người Việt sinh sống tại Hoa Kỳ ... đừng nhìn những kẻ làm tay sai cho VC trên đất Mỹ - nhưng chưa bị truy tố – để cho rằng làm tay sai cho VC là hợp pháp .

                              - Hợp pháp hay bất hợp pháp phải được xác định bởi kết luận rút ra từ kỹ thuật lý luận chung quanh các yếu tố tội phạm , chứ không bởi sự kiện nghi can đã bị truy tố hay chưa ?

                              III- KẾT LUẬN.-

                              Nhiều năm về trước có thể có một số người đi theo CS vì lý tưởng Mac Lenin . Ngày nay l... cai' lý tưởng kia đã vỡ vụn theo sự sụp đổ của CS thế giới . Ngày nay CSVN đang cố gắng thổi phồng một mớ tư tưởng vụn vặt , lẫm cẩm , phản khoa học lý luận của Hồ Chí Minh để làm bức tranh trang trí cho chế độ độc tài .

                              Ðằng sau bức tranh nham nhở kia chính là bộ mặt Mafia của CSVN . Ngày nay không có sự chối cãi rằng ... qua những người chấp nhận làm tay sai cho VC hiển nhiên chỉ là những kẻ chạy theo đồng tiền . Ðối với thành phần này , đồng tiền vừa là sự khởi đầu , vừa là điểm kết thúc của đời sống .

                              Trong không khí nồng nặc mùi tiền đó, chúng ta không thể viện dẫn tình quê hương, tình đồng bào để thuyết phục CS và tay sai hãy cải tà quy chánh . Tình đã đi qua rồi . Phương tiện thuyết phục chỉ còn là lý .

                              Lý , ở đây là hậu quả hình sự của nghị quyết 36 . Lý , ở đây là những âm mưu tình báo thâm hiểm ẩn nấp bên dưới nghị quyết 36 . Lý , ở đây là cuộc hội ngộ buồn thảm giữa hai bên . Bên này là công lý hình sự của Hoa Kỳ , bên kia là các can phạm đã bị thâu hồi quốc tịch Mỹ . Những lý lẽ vừa được trình bày ... đã trở thành động lực tâm lý, đồng thời , cũng là qua căn bản lý luận để dẫn tới sự việc bài viết này được hình thành.

                              -----------------//------------------

                              Comment

                              Working...