đời sống bây giờ ở Sài Gòn - November 2010‏

Collapse
X
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • TAM73F
    Super Moderator
    • Apr 2009
    • 2321

    #16
    Lời tâm huyết của thế hệ trí thức trẻ 8x, trong nước .

    Tôi viết bài này như một lời tâm tình với tất cả trí thức trẻ Việt Nam và hải ngoại. Mục đích duy nhất bài viết là mong muốn trí thức Việt Nam hãy làm điều gì đó để cứu lấy Việt Nam, cứu lấy chính mình. Tôi là một người Việt trẻ sinh trong thời bình, với kiến thức hạn hẹp nên tôi rất mong được sự góp ý của tất cả các bậc tiền bối. Tôi xin nhấn mạnh một điều: Bài viết của tôi chỉ là một lời chia sẻ gửi đến trí thức mang dòng máu Việt Nam.

    Việt Nam hiện nay có nhiều điều kiện để trở thành nước có nền kinh tế phát triển: nguồn lao động trẻ, thuận tiện giao thông, có nhiều loại tài nguyên. Tuy vậy, nước ta vẫn trong cái vòng luẩn quẩn của nghèo nàn, lạc hậu. Nguyên nhân chính là do đất nước chúng ta không tôn trọng tri thức.

    Một xã hội bảo thủ, coi thường sư tiến bộ của khoa học dương nhiên sẽ tụt hậu. Và Việt Nam đã tụt hậu. Nếu chỉ so sánh trong Đông Nam Á chúng ta cần tới 18 năm để đuổi kịp Indonesia, 34 năm với Thái Lan và 197 năm với Singapore. Hậu quả của một chính phủ xem thường trí thức.
    Ngay trong định hướng của đảng: “Giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo” đã sai lầm trầm trọng, phản khoa học.

    Vấn đề đầu tư vào giáo dục luôn quyết định hưng, suy của một quốc gia. Nền giáo dục của Việt Nam và cả xã hội Việt Nam làm nhân tài không có đất dụng võ. Với bằng cấp tràn lan, người Việt có khi ảo tưởng về mình. Mỗi năm chúng ta có rất nhiều kỹ sư, cử nhân, tiến sĩ, giáo sư mới nhưng nền kinh tế của chúng ta èo uột, đất nước chúng ta lạc hậu. Hoàn toàn thiếu một sản phẩm Việt sánh ngang tầm các quốc gia khác trên thế giới. Nhắc đến Samsung, Hyundai, người ta nghĩ đến Hàn Quốc, nhắc tới Sony nhớ tới Nhật… Thực tế này cho thấy chất xám Việt đang bi lãng phí.

    Có thể nói Việt Nam đã tụt hậu, người lãnh đạo đất nước không phải là tinh hoa của dân tộc, học thứckém xa nhiều người trong xã hội. Bằng cấp Việt Nam không có giá trị quốc tế. Theo tôi, đã đến lúc trí thức Việt Nam nhìn thẳng vào chính mình, nhìn nhận thực tế và thực hiện vai trò của mình để cứu chính mình và cứu xã hội. Thực tế cần phải chấp nhận: nước ta là nước nghèo nàn, lac hậu. Và nếu chúng ta không khắc phục được sự yếu kém của đất nước nạn nhân cũng chính là chúng ta.

    Bất cứ xã hội nào, trí thức và tinh thần dân tộc luôn dẫn đầu để đưa đất nước đi lên. Nước Mỹ phồn vinh với giấc mơ Mỹ, Người Hàn Quốc chấp nhận “ăn mày chất xám” ở phương tây, tinh thần Samurai của Nhật… Các dân tộc khác đã làm rạng danh dân tộc họ. Việt Nam kém phát triển chứng tỏ trí thức Việt chưa phát huy được vai trò của mình. Trí thức Việt đang bị gông cùm, bị cuốn vào vòng xoáy của xã hội lưu manh và mất đi trí thức, ý chí.

    Là một người sinh sau 75, tôi chỉ nêu ra cái vòng xoáy mà người trí thức trẻ phải chịu. Sau năm 75, thế hệ 8x là lực lượng trí thức đông đảo nhất. Rất tiếc, không ít phải thỏa hiệp với cái lưu manh trong xã hội “hành hạ nhau mà sống”. Xã hội mà trí thức vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm. Tôi đưa ra vài ví dụ cho thấy cái vòng luẩn quẩn mà chí thức phải chịu:
    VD: Một bác sĩ với mức lương chết đói, anh ta tìm cách làm khó bệnh nhân để nhận “lót tay”. Nhưng khi anh ta sử dụng các dịch vụ khác, anh ta lại bị làm khó lại.

    Vụ sập cầu Cần Thơ, những kỹ sư làm việc trên công trình đó đã làm hại hoặc tiếp tay cho người khác làm hại rất nhiều người. Sẽ ra sao nếu như những kỹ sư này đứng dưới công trình của chính họ.

    Mỗi người trong xã hội tự hại mình và hại người khác. Có thể nói trí thức Việt Nam cũng như bao người Việt khác là nạn nhân của nhau, nạn nhân của định hướng xã hội, nạn nhân của sự lãnh đạo tồi tệ. Một nền giáo dục tồi tệ.

    Khi một người nước ngoài nói: “Giáo dục Việt Nam tồi tệ”, chúng ta phải công nhận họ đúng. Nền giáo dục của chúng ta mang tính chất bịt miệng, giáo điều. Học sinh phổ thông học khổ hơn đi cày. Học, học như điên, như bị ma đuổi. Học sinh cố gắng vào trường A, trường B mà đôi khi không biết học ngành đó làm gì, ngành đó ra sao, mình có thích ngành đó hay không. Học sinh bị nhồi vào đầu những kiến thức mang tính giáo điều. Ngay cả văn chương, nhạc họa cũng sặc mùi đảng, đảng, đảng..... Họ không được cung cấp kiến thức xã hội để có thể định hướng cuộc đời. Phương tiện truyền thông đưa những thông tin láo khoét. Cứ coi điểm chuẩn của các trường đại học sẽ thấy nực cười. Có ngành năm trước cao ngất, năm sau xấp xỉ xuống sàn. Học sinh chạy theo ngành nghề đang nổi. Những năm gần đây, kinh tế lên ngôi, sự bùng nổ của ngân hàng, chứng khoán làm mức lương ngành này cao ngất và đương nhiên điểm chuẩn tăng theo. Bên cạnh đó, nhiều ngành kỹ thuật lại không phát triển, lương kỹ sư bèo bọt. Có thể nói giáo dục không định hướng, nền giáo dục ăn theo. Nhìn nhận lại nền giáo dục, chúng ta thấy hầu như các trường đào tạo theo kiểu đem con bỏ chợ, lãng phí thời gian và tiền bạc của sinh viên. Việt Nam có rất nhiều trường thuộc bộ nhưng ngành chính thì mờ nhạt so với các ngành khác.

    Các trường này chỉ biết cấp bằng còn sinh viên ra trường sẽ như thế nào họ không quan tâm. Sinh viên bị buộc đóng tiền và lãng phí rất nhiều thời gian cho các môn vô bổ hoặc vô lí. Triết học Mác- Lê tốn khá nhiều thời gian, kinh tế chính trị, học xong bỏ xó, lịch sử đảng tách thành 1 môn riêng biệt. Có những trường đào tạo Anh Văn cho sinh viên với giáo trình cơ bản mà học sinh phổ thông đã học qua. Nếu tính số tiền đầu tư cho một sinh viên đại học ta thấy sự lãng phí rất lớn, cái bằng không có giá trị thực thụ. Bốn năm học tiêu tốn cả trăm triệu và sau ra trường phải đi “đào tạo lại”.

    Điều chắc chắn là nếu giáo dục không được đầu tư đúng sẽ rất lãng phí thời gian, tiền bạc và chất xám.Thực tế là kỹ sư Việt Nam có rất nhiều người làm bảo trì nhưng nếu máy hư, kỹ sư chỉ được phép gỡ, chờ kỹ sư nước ngoài. Có người đã nói : Kỹ sư Việt Nam thầy không ra thầy, thợ không ra thợ.

    Cả xã hội đang đuổi theo một thứ rất hư ảo: Bằng cấp. Một thứ mà ngay tại Việt Nam cũng chưa được tôn trọng. Nếu những năm trước đây, tiến sĩ, giáo sư hiếm thì nay tràn lan. Có vẻ như bậc đại học bây giờ chỉ là phổ cập. Cả xã hội đua bằng cấp trong khi giá trị của cái bằng lại ngày càng giảm. Tư tưởng học lấy bằng rất đáng lo ngại.

    Với hệ thống giáo dục tệ hại, người Việt không phát huy được năng lực, không sánh tầm được với đồng nghiệp thế giới. Trí thức Việt sống trong môi trường thiếu lành mạnh, khoa học.

    Đảng cộng sản Việt Nam và hệ thống truyền thông nô dịch đã lừa bịp toàn dân. Họ làm cho người dân tưởng đất nước đang đi lên một cách mạnh mẽ bằng cách đưa ra những con số mị dân trên phương tiện truyền thông.

    Nhưng nếu chúng ta thử đặt bên cạnh những con số khác thì sẽ ra một kết quả cười ra nước mắt. Ví dụ: tăng trưởng 7% bên cạnh lạm phát 11%. Nhà nước ra rả nói đã thoát nghèo nhưng trên VTV1 ngày 21-1-2011, khi nói về một gia đình “cận nghèo”, thu nhập 300 ngàn/ người/tháng. Mức cận nghèo là 0.5 USD/người/ngày. Nhiều người vì không để ý đã tin tưởng vào thông tin họ nghe thấy và ảo tưởng về Việt Nam.

    Điều đáng tiếc là vẫn còn nhiều trí thức trẻ đang tiếp tay cho sự dối trá. Về mục đích, họ cũng vì mưu sinh. Họ chấp nhận mua việc làm ở các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước với cái giá không nhỏ và tin tưởng rằng họ sẽ ổn định. Họ bước vào vòng xoáy, đầu hàng nghịch lí. Nhưng nếu xét kỹ họ cũng không khá hơn được. Ai hiểu về cơ quan, doanh nghiệp nhà nước đều phải công nhận rằng càng ngày xin chỗ làm càng khó, giá càng cao. Trong khi hoạt động của doanh nghiệp nhà nước yếu kém còn nguồn nhân lực tăng nhanh (do con cháu, quen biết trong ngành) thì việc hiếm là đương nhiên. Với 40% tổng vốn của nền kinh tế quốc doanh chỉ tạo ra 26 % GDP. Vinashin là bài học nhãn tiền.

    Nhìn sâu vào hoạt động của các tập đoàn nhà nước, chúng ta có thể thấy các tập đoàn này đang tìm mọi cách để giành giựt lợi nhuận của nhau. Việc các tập đoàn kinh doanh đa ngành không nói lên sự phát triển: Dầu khí, EVN, nhảy vào viễn thông. Viettel, VNPT cũng giành giựt nhau từng ngày. Các tập đoàn đang bế tắc, tìm cách kiếm tiền bằng cách đầu tư vào ngành đang ăn khách. Hiện tại, Vinashin đang gây ảnh hưởng lớn đến sự tồn vong của các tập đoàn khác. Trái phiếu chính phủ xuống hạng rác, các tập đoàn khó khăn với ngân hàng nước ngoài. Nếu như các tập đoàn này phá sản như Vinashin, những trí thức đã mua việc vào cảnh tiền mất tật mang. Họ cũng khó thích ứng với công việc ngoài quốc doanh.
    Nhiều trí thức chọn con đường du học. Họ đi và phải tìm cách ở lại nước ngoài vì so với mức đầu tư của họ, mức lương trong nước không thích ứng được. Họ vào cảnh tha phương cầu thực.

    Vài trí thức bước vào con đường của doanh nhân và không ít đã bị gẫy nặng trước một cách thức làm ăn lưu manh. Trí thức Việt bị bít đường sống.
    Với hiện trạng, tôi nghĩ đến tư tưởng của Lỗ Tấn: Chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần. Đã đến lúc người trí thức Việt phải tự giải cứu mình để trở thành trí thức thực thụ, để nhận đồng lương một cách công khai, xứng đáng và không phải áy náy với bất cứ ai. Trong lịch sử, các cuộc cách mạng thường được một lực lượng trí thức dẫn đầu. Trong dân tộc cũng có những người đã từng đưa thanh niên đi du học để giải phóng đất nước.

    Tôi nghĩ trí thức Việt nên nhìn nhận xã hội và hành động thiết thực bằng cách đưa tin tức chân thực đến với mọi người. Truyền thông luôn đóng vai trò quan trọng để thay đổi xã hội. Chúng ta hãy tự đào tạo mình, hãy viết suy nghĩ của mình, hãy phân tích bẻ gẫy luận điệu dối trá của đảng. Gửi những thông tin, bài viết có giá trị về tình hình đất nước cho bất cứ ai qua email hay bất cứ phương tiện nào có thể. Tôi mong muốn những trí thức ở hải ngoai hãy giúp đỡ trí thức trong nước bằng những tài liệu, giáo trình của các đại học tân tiến trên thế giới qua internet để người muốn học có cơ hội tiếp cận. Chúng ta sẽ có một lực lượng mạnh nếu đoàn kết. Đảng cộng sản xử dụng chiêu chia rẽ, đưa vào chúng ta những ranh giới: hải ngoai- trong nước, khen người này chê người kia nhằm ngăn cản sự đoàn kết. Chúng ta hãy sát cánh bên nhau để trí thức tiền bối chỉ dạy trí thức trẻ, một khối đại đoàn kết Việt Nam. Tôi góp ý vài điều mà bất cứ ai cũng có thể làm:

    - Tích cực tự học hỏi và chia sẻ tài liệu cho người khác, xích lại gần nhau qua email (chúng ta không cần biết nhau, chỉ cần là người Việt )
    - Viết báo, phân tích báo chí nô dịch để vạch mặt kẻ nói dối.
    - Tham gia tuyên truyền (Gửi email cho bất cứ ai)

    Hãy cùng tôi tích cực dọn đường cho sự thay đổi của Việt Nam. Vì chính chúng ta, vì Việt Nam, để không còn nỗi nhục nhược tiểu, để không có cảnh phụ nữ Việt phải đi lấy chồng ngoại, trẻ em Việt bị mua bán, bị đẩy vào các nhà chứa, để trí thức Việt không còn phải tha phương cầu thực, nông dân, công nhân không phải vất vả và còng lưng trả nợ cho kẻ cầm quyền. Chúng ta hãy hành động. Tự cứu mình và cứu những người khác nữa. Vì tương lai, xin tất cả hãy tìm cách liên kết với nhau trong tình dân tộc.

    Nguyễn Nguyễn

    ------------------ooooooooooo------------------

    Comment

    • TAM73F
      Super Moderator
      • Apr 2009
      • 2321

      #17
      "ở VN là thế !"‏

      Đau đầu vì điện
      Điên Đầu vì đô
      Ngây Ngô vì vàng
      Ngỡ ngàng vì đất
      Ngất vì tỉ giá
      Ngã vì lãi suất
      U uất vì lương
      Hết đường với thuế
      Ế vì lạm phát
      Nát vì giá xăng.!
      Tăng xông vì giá chợ
      Ở đợ vì Ngân hàng
      Tàng tàng vì hàng hóa
      Khóa mỏ vì thức ăn ....

      ------------oooooooooo------------

      Comment

      • TAM73F
        Super Moderator
        • Apr 2009
        • 2321

        #18
        đời sống bây giờ ở Sài Gòn

        Phúc Trình của Đại Học Harvard: ( Sưu-tầm tiếp theo kỳ trước )

        Nền giáo dục tại Việt Nam - Khủng hoảng suy sụp và phản ứng


        By Hoàng Hiếu • Catégory: Giáo Dục, Massachusetts, Sinh Hoạt


        Phúc Trình của Đại Học Harvard về Hiện Trạng Nền Gíáo Dục Cao Đẳng-Đại Học tại Việt Nam: Khủng Hoảng Suy Sụp và Phản Ứng



        I. Dẫn nhập:
        Vào đầu năm nay các Uỷ Viên Hoa Kỳ thuộc Ủy Ban Đặc Nhiệm song phương về Giáo Dục Cao Đẳng tại Việt Nam đã nhận được phúc trình của các chuyên gia nghiên cứu từ Harvard Kennedy School về hiện trạng khủng hoảng suy sụp của nền giáo dục cao đẳng - đại học tại Viêt Nam.
        Phúc trình này tập trung vào hai phạm vi:
        1. Phân tích tầm mức nghiêm trọng của hiện trạng khủng hoảng suy sụp và các nguyên nhân gốc rễ tạo ra khủng hoảng;
        2. Lượng định về phương cách phản ứng của các tác nhân chủ động để đối phó với khủng hoảng: từ chính quyền Nhà Nước, từ nhân dân Việt Nam và từ cộng đồng quốc tế.
        Phúc trình này kết luận bằng cách nhấn mạnh vào tầm quan trọng của sự canh tân mọi thể chế của hệ thống giáo dục đại học là yếu tố tối cần để làm nền tảng cho một công cuộc cải tạo có hiệu quả.




        II. Tầm mức của hiện trạng khủng hoảng suy sụp:

        Bản phúc trình thú nhận rằng, quả thật khó mà phóng đại hơn được nữa mức độ sâu rộng và nghiêm trọng của hiện trạng khủng hoảng suy sụp trong hệ thống giáo dục cao đẳng mà Việt Nam đang đối đầu.
        Các chuyên gia nghiên cứu tin rằng nếu không có một công cuộc cải tổ cấp thời từ thể chế cho hệ thống giáo dục đại học thì Việt Nam sẽ thất bại hoàn toàn trong mục tiêu đạt đến các tiềm năng to lớn của quốc gia này.
        Sự phát triển kinh tế của vùng Đông Á và Đông Nam Á cho thấy một mối liên hệ mật thiết giữa sự phát triển quốc gia và nền giáo dục cao đẳng.
        Mặc dầu mỗi một quốc gia phồn thịnh trong vùng như Nam Hàn, Đài Loan, Singapore và gần đây hơn nữa là Trung Quốc đã đi theo những đường lối phát triển cá biệt, nhưng chủ đề chung trong sự thành công của họ là công cuộc chuyên tâm đeo đuổi sự ưu việt trong lãnh vực khoa học và nền giáo dục cao đẳng-đại học.
        Các quốc gia tương đối kém thành công trong vùng như Thái Lan, Philippines và Indonesia cho thấy một sự kiện cần lưu ý. Những quốc gia này, môt cách tổng quát, không đạt được sự xuất sắc trong nền giáo dục cao đẳng và đã thất bại trong công cuộc phát triển kinh tế tân tiến.
        Thực là một điều chẳng lành cho tương lai Việt Nam vì các đại học ở Việt Nam còn sa sút quá xa đàng sau ngay cả đối với những nước lân cận kém mở mang.
        Bảng Tổng Kê bên cạnh lượng định tiềm năng của hệ thống giáo dục đại học tại các quốc gia trong vùng:
        Việt Nam thiếu ngay cả MỘT đại học đơn lẻ có phẩm chất được công nhận.
        Không có một đại học nào ở Việt Nam xuất hiện trên bất kỳ các bảng xếp hạng phổ thông thường kỳ nào của các đại học có phẩm chất tại Á Châu.
        Về phương diện này, Việt Nam thua sụt đối với ngay cả các quốc gia ở Đông Nam Á. Phần lớn các quốc gia này cũng khoa trương ít nhất một vài học viện đứng đầu của họ trong các bảng xếp hạng này.
        Đại học Việt Nam phần lớn bị tách biệt ra khỏi các dòng kiến thức quốc tế, như số liệu nghèo nàn tồi tệ của ĐH Việt Nam về các công trình khảo cứu được xuất bản từ Bản Tổng Kê (Table 1).
        Đại học Việt Nam không sản xuất được một lực lượng lao động có giáo dục để đáp ứng cho nhu cầu kinh tế và xã hội Việt Nam.
        Các cuộc khảo sát do các cơ quan liên hệ với Nhà Nước cho thấy có tới 50 phần trăm các chuyên viên VN tốt nghiệp ĐH không thể tìm được việc làm trong ngành nghề chuyên môn của họ, bằng chứng cho thấy một sự gián đoạn to lớn giữa lớp học và thị trường công việc.
        Với mức độ 25 phần trăm giáo trình ĐH bị bắt buộc tập trung vào giáo điều chính trị (political indoctrination) thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi sinh viên Việt Nam chỉ được chuẩn bị một cách tồi tệ cho cuộc sống chuyên viên hoặc cho các học trình cao đẳng ở nước ngoài.
        Sự kiện Công ty Intel đã phải lăn lộn vất vả để mướn các kỹ sư cho cơ sở sản xuất của họ ở TP HCM là một ví dụ điển hình. Khi Công ty này tiến hành một cuộc khảo hạch cho 2,000 ứng viên IT của Việt Nam thì chỉ có 90 ứng viên, tức 5%, đạt tiêu chuẩn. Và trong nhóm này, chỉ có 40 ứng viên vừa hội đủ trình độ Anh ngữ để có thể mướn được.
        Công ty Intel “khẳng định” rằng đây là kết qủa tồi tệ nhất mà họ gặp phải trong bất kỳ quốc gia nào mà họ đầu tư vào.
        Các doanh gia quốc tế đều than phiền là sự thiếu hụt quản trị viên và công nhân lành nghề là trở ngại chủ yếu cho sự phát triển bành trướng của các công ty.

        Sự nghèo nàn về phẩm chất của nền giáo dục ĐH Việt Nam còn mang lại nhiều tai hại khác nữa: trái ngược với sinh viên Ấn Độ hoặc Trung Quốc, sinh viên VN không thể cạnh tranh nổi để được thâu nhận vào những chương trình cao học tinh túy tại Hoa Kỳ và Âu Châu.
        (Bên trái là bảng tổng kê số Bằng Phát Minh của các quốc gia trong vùng Đông Á - với Việt Nam nằm ở hàng cuối cùng mang con số zero)


        III. Nguyên nhân tạo ra khủng hoảng suy sụp:
        A. Di sản lịch sử:


        Những vấn nạn Việt Nam đang đối đầu trong hệ thống giáo dục cao đẳng ngày nay một phần là do hậu quả từ một lịch sử cận đại bi thảm của đất nước.


        Chế độ thực dân Pháp trong hậu bán thế kỷ 19 cho đến năm 1945 đã đầu tư rất ít vào hệ thống giáo dục cao đẳng, ngay cả khi đem so sánh với các thế lực thực dân khác như Anh và Tây Ban Nha. Hậu quả là Việt Nam đã vuột mất cơ hội khi làn sóng canh tân thể chế giáo dục cao đẳng tràn quét phần lớn lục địa Châu Á, trong những thập niên đầu của thế kỷ 20. Đây là thời gian rất nhiều học viện hàng đầu được thành lập tại vùng này.
        Hậu quả là sau khi thu hồi độc lập, VN chỉ có một thể chế giáo dục cao đẳng rất yếu kém để làm căn bản xây dựng. Đây là một điểm tương phản rõ rệt so với Trung Quốc, nơi mà, cho đến ngày nay, phần lớn các trường ĐH hàng đầu đã được thành lập rất lâu trước cuộc cách mạng Cộng Sản. Trong thời kỳ này tại Việt Nam, sự tổn hại trước hết do chiến tranh, và kế đến là do giai đoạn cai trị độc tài nặng nề của chế độc xã hội chủ nghĩa, đã không có chỉ đạo trong việc xây dựng những học viện có phẩm chất cao cho nền giáo dục cao đẳng.


        B. Đường lối cai trị của Nhà Nước:

        Nguyên nhân cận kề tức khắc tạo nên khủng hoảng suy sụp của nền giáo dục đại học ngày nay là sự thất bại sâu rộng trong chính sách cai trị của Nhà Nước.

        Các đại học có phẩm chất cao từ Boston cho đến Beijing đều được thụ hưởng những đặc quyền nhất định mà Việt Nam hiện nay không có.

        Vấn đề tự trị và tự quản tại đại học:
        Tất cả mọi học viện cao đẳng và đại học tại Việt Nam đều lệ thuộc vào một hệ thống tập quyền trung ương với sự kiểm soát cao độ. Chính Nhà Nước quyết định con số sinh viên được tuyển nhận, và tại các trường công lập, mức lương của các giảng viên. Ngay cả những quyết định về điều hành cũng như việc thăng thưởng của các Khoa Ban đều lệ thuộc vào sự kiểm soát trung ương. Hệ thống kiểm soát này gạt bỏ ra ngoài những khuyến khích cần thiết cho việc cải tổ và tiến thủ của các đại học.
        Lương thưởng được dựa trên thâm niên và lương chính thức thấp kém đến nỗi các giảng viên phải làm việc phụ trội vượt mức mới đủ sống. Ngược lại với Trung Quốc, Việt Nam chưa có chế độ hậu đãi những chuyên viên tốt nghiệp từ nước ngoài.
        Cơ cấu tuyển chọn dựa vào thành quả:
        Tham nhũng tràn lan và việc mua bán bằng cấp, tước vị là điều quá phổ biến. Hệ thống nhân viên cán bộ thì mập mờ và mọi sự thăng thưởng đều dựa trên những tiêu chuẩn bên ngoài khả năng học thuật, như mức độ thâm niên, lai lịch chính trị, lai lịch gia đình, cũng như sự móc nối cá nhân.
        Giảng viên các Khoa và Ban quản trị cao cấp của hệ thống đại học có khuynh hướng bị thống trị bởi những cá nhân được huấn luyện từ Liên Sô hoặc Đông Âu, không nói được Anh ngữ và thường có ác cảm với các đồng nghiệp trẻ tuổi hơn được giáo dục từ Tây Phương.
        Tiêu chuẩn quốc tế và sự liên kết quốc tế:
        Phát sinh kiến thức là một công trình không biên giới, nhưng các học viện tại VN thiếu hẳn những mối liên hệ quốc tế. Thực tế là các học giả trẻ, được đào tạo từ nước ngoài thường viện dẫn mối lo ngại là họ không thể giao lưu được với những nguồn kiến thức đương thời, khiến họ tránh né các ngành nghề giảng dạy tại ĐH Việt Nam.
        Như GS Hoàng Tụy (một nhà toán học lỗi lạc của Việt Nam và cũng là nhà phê bình thường xuyên chỉ trích thẳng thắn hệ thống ĐH Việt Nam) mô tả, các học viện tại VN rất hướng nội và không lượng giá chính mình dựa trên tiêu chuẩn quốc tế.
        Giám định và Thanh tra:
        Đại học VN không phải báo cáo hoặc chịu trách nhiệm trước các cơ quan thanh tra từ bên ngoài. Trong hệ thống ĐH công cộng, các nguồn tài trợ không dựa vào phẩm chất hoặc thành qủa của ĐH. Tương tự như thế, tài trợ của Nhà Nước cho các công trình nghiên cứu được phân phát không dựa trên khả năng nhưng như là một hình thức lương bổng phụ trội.
        Bởi vì số chỗ dành cho tuyển sinh trong các ĐH rất thấp nên chỉ có 1 trong 10 học sinh thuộc lứa tuổi ĐH được nhận vào ĐH. Do đó, ĐH Việt Nam không bị ép buộc phải cải tổ.
        Tự do trong giáo trình:
        Ngay cả khi so sánh với Trung Quốc, ĐH Việt Nam rất nổi bật về mức độ thiếu sót trầm trọng trong lãnh vực năng động tri thức. Ngay cả khi các viện đại học VN được dần dà cởi mờ hơn, một mạng lưới kiểm soát chính thức cũng như trá hình vẫn còn vây bọc, khiến các ĐH Việt Nam vẫn ở trong tình trạng suy tàn về tri thức.
        Có rất nhiều hàm ý xuất phát từ những tham luận trên đây:
        Thứ nhất, chướng ngại chủ yếu cho sự cải tiến trong nền giáo dục cao đẳng không nhất thiết là vấn đề tài chánh. Thực ra, như là bách phân của GDP, Việt Nam tiêu dụng nhiều hơn các quốc gia khác trong vùng cho giáo dục. Nhưng cách sử dụng các nguồn tài chánh đó như thế nào là một vấn đề khác.
        Thứ hai, đầu tư vào du học nước ngoài không đủ để cải tiến hệ thống. Trừ khi môi trường sinh sống và làm việc cho chuyên viên được cải tổ, thật là khó mà quy tụ được hơn một nhúm chuyên viên được đào tạo tại nước ngoài muốn trở về làm công tác giảng dạy ĐH.

        IV. Phản Ứng
        A. Chính Sách của Nhà Nước:
        Phần lớn thời gian trong giai đoạn từ 1986 khi VN bước vào giai đoạn Đổi Mới, quá trình cải cách kinh tế và mở cửa, tốc độ của việc cải tổ nền giáo dục cao đẳng vẫn ở trong tình trạng đóng băng. Trong giai đoạn này, phẩm chất giáo dục của những môn khoa học căn bản đã bị tụt hậu.
        Trong ba năm vừa qua, Nhà Nước đã đưa vấn đề cải tổ giáo dục cao đẳng vào ưu tiên cao hơn. Năm 2005 Nhà Nước nêu lên chủ trương áp dụng Nghị Quyết 14 cho việc cải tổ toàn diện nền giáo dục cao đẳng vào năm 2020. Đây là một bước ngoặt kêu gọi cải cách trong việc điều hành, bao gồm mức độ cao hơn cho việc tự trị và hệ thống tuyển chọn dựa vào thành quả. Mặc dầu rất khó để theo dõi diến tiến của quá trình này, nhưng tốc độ thay đổi vẫn rất chậm.
        Gần đây hơn, chính quyền đã loan báo những dự kiến để thiết lập những học viện với các đối tác quốc tế với nguồn tài chánh được chính quyền vay mượn từ World Bank. Trong khi những hoạch định này là dấu hiệu tốt trong việc nhận ra nhu cầu thiết yếu của các học viện cao đẳng, rất nhiều vấn nạn vẫn tồn tại.
        Thứ nhất, Các chức quyền giáo dục tại VN vẫn còn ôm giữ quan niệm Nhà Nước là trọng tâm trong các công trình đối tác này, lẽ ra phải là các học viện. Tiến trình tiếp cận này rất khó phù hợp để đối tác với hệ thống phân quyền cao độ của hệ thống đại học Hoa Kỳ, trong đó, các học viện là nhân tố chính và chính quyền chỉ giữ một vai trò rất hạn chế.
        Thứ hai, Nhà Nước vẫn phô bày một não trạng “kế hoạch trung ương” trong việc hoạch định những chương trình này, ngay cả các Khoa Ban và chuyên ngành mà các học viện này sẽ phát triển. Dự án khởi đầu gợi ý về các ngành liên quan đến khoa học và kỹ thuật, loại trừ các khoa Nhân Văn và rất nhiều các ngành Xã Hội Học.
        Thứ ba, mặc dầu các dự án được hoạch định trên căn bản là các đối tác quốc tế sẽ cung cấp các quản trị viên và nhân viên giảng huấn, nhưng cách thức phân phối các nguồn tài chánh như thế nào thì không được xác định, không ai biết các đối tác quốc tế có được dành ra những khoản tiền vay mượn này hay không. (Phần lớn các các học viện này vẫn chỉ có phẩm chất đồng bộ rất thấp).
        Cuối cùng, phải chờ xem mức độ tự trị và tự quản mà các học viện này thực sự được cho phép như thế nào. (“Vietnam Germany University” là một trong những học viện mới này.)

        B. Trao Đổi Sinh Viên:
        Sinh viên VN đã ra du học nước ngoài với con số gia tăng lớn từ năm 1986. Trong những năm đầu của Đổi Mới, phần lớn các sinh viên du học qua các chương trình học bổng song hoặc đa phương như các chương trình Fullbright hoặc chương trình World Bank… Với xã hội VN trở nên khá giả hơn, gia đình VN đã bắt đầu cho con cái đi du học với phương tiện tự túc. Những năm gần đây, con số sinh viên VN đi du học tại Mỹ gia tăng nhanh chóng một cách đặc biệt. VN nằm trong số 20 quốc gia hàng đầu gửi SV đến Hoa Kỳ du học. Các kinh tế gia VN ước lượng các gia đình VN đang tiêu dùng ít nhất 1 tỷ đô-la mỗi năm cho việc du học.
        Du học nước ngoài là một phản ứng quan trọng trước khủng hoảng của nền giáo dục cao đẳng tại VN, nhưng nó không thể nào là một giải pháp được.
        Trước tiên và chính yếu nhất đó chỉ là một lựa chọn cho một thiểu số cực nhỏ cho những gia đình có khả năng trang trải hoặc những ai may mắn trúng được học bổng. Đang có một sự chênh lệch to lớn và ngày càng gia tăng giữa thành thị và nông thôn, giữa một thiểu số giàu có tột đỉnh và một tuyệt đại đa số dân chúng vẫn còn nghèo túng. VN là một nước lớn và không thể nào “khoán trắng” nền giáo dục cao đẳng cho các trường ĐH nước ngoài.
        Thứ hai, ngày nào mà các ĐH tại VN vẫn còn tiếp tục duy trì tình trạng làm việc thảm hại thì các chuyên viên được đào tạo từ nước ngoài vẫn tránh né các ngành nghề giảng huấn tại ĐH.
        C. Nhân Tố Quốc Tế:
        Các cơ quan tài trợ quốc tế đã hỗ trợ các chương trình trao đổi SV trong nhiều năm qua. Do yêu cầu của chính phủ VN, các cơ quan này đã đầu tư rất nhiều vào hê thống giáo dục cao đẳng.
        Các chuyên gia tại Harvard cho rằng, các nỗ lực của các cơ quan nói trên trong lãnh vực này không có hiệu quả, bởi vì các cơ quan này không đả động gì đến vấn đề điều hành và quản trị ĐH. Các khoản tài trợ này đã không được phân phối trên tiêu chuẩn khả năng và các học viện cũng không được tham khảo về thể thức các tài khoản này được sử dụng.
        Các ĐH quốc tế đã được khuyến khích để thiết lập các chương trình huấn luyện tại VN, hoặc độc lập hoặc bằng cách đối tác với các học viện trong nước. Với một vài ngoại lệ, các dự án này chỉ nhằm mục tiêu trục lợi và do đó chỉ nhắm vào những ngành thực dụng đã sẵn có nhu cầu. Việc tuyển lựa SV phần lớn dựa vào khả năng trả học phí và phần lớn vượt quá tầm tay của đại chúng. Những học viện này không đáp ứng được nhu cầu giáo dục cao đẳng có phẩm chất cao.
        Chính quyền VN rất nhạy bén trong việc thu hút sự tham gia hợp tác của những đại học hàng đầu trên thế giới, đặc biệt là các ĐH tại Hoa Kỳ. Các chuyên gia nghiên cứu tranh luận rằng có ít nhất ba chìa khóa để đạt được mục tiêu này.
        Thứ nhất, chính quyền phải nhận ra rằng, các ĐH có phẩm chất cao sẽ không vào VN như là những công ty đầu tư. Hơn nữa, trong cuộc chạy đua toàn cầu để tìm tài năng xuất sắc, các ĐH Hoa Kỳ luôn luôn là những đối tác được đeo đuổi. Nói thẳng ra là, VN phải chấp nhận trả giá cao.
        Thứ hai, cũng quan trọng không kém, các chuyên gia Harvard nhấn mạnh rằng, các trường ĐH danh tiếng sẽ không tự làm hại hạ thấp tiêu chuẩn của họ nếu chính quyền VN không có quyết tâm đạt tới quy cách điều hành tồt cho hệ thống giáo dục ĐH, bao gồm sự cho phép tự do trong giáo trình và chế độ tự quản tự trị cho ĐH mà hiện nay không có.
        Thứ ba, bởi vì hệ thống giáo dục đại học cao đẳng tại Hoa Kỳ mang bản chất phân quyền cao độ, chính phủ Hoa Kỳ chỉ đóng một vai trò hạn chế trong việc cổ võ cho sự tham gia hợp tác từ các viện ĐH Hoa Kỳ vào vấn đề này.
        IV. Kết Luận:
        Nhu Cầu thiết yếu cho công cuộc Cải Tạo từ Thể Chế hệ thống Giáo Dục Đại Học-Cao Đẳng

        Cải tổ toàn bộ thể chế điều hành của hệ thống là chìa khóa để cải tiến nền giáo dục cao đẳng tại VN. Tuy nhiên, cải tổ các học viện giảng huấn ở bất cứ nơi đâu là một tiến trình lâu dài. Đây là lý do các chuyên gia Harvard xác quyết rằng, VN bắt buộc phải xây dựng một học viện kiểu mẫu mới với thể chế điều hành tốt nằm trong DNA của nó. Những nỗ lực như thế sẽ tạo nên những tác động chuyển biến vào hệ thống giáo dục cao đẳng.
        Một học viện mới như thế sẽ cung cấp một cái “nhà” cho các học giả và khoa học gia trẻ mà hiện nay chẳng có tha thiết gì trong việc đeo đuổi các ngành nghề giảng huấn tại VN.
        Thứ hai, một học viện mới như thế sẽ là kiểu mẫu cho các học viện khác học hỏi và thi đua cũng như là nguồn cho sự cạnh tranh tốt đẹp đang rất mực cần thiết.
        Các chuyên gia Harvard tin rằng Ủy Ban Đặc Nhiệm về giáo dục cao đẳng có một vị trí độc nhất vô nhị cả về mặt xúc tiến khóa trình cải cách cũng như việc phát triển một lược đồ toàn diện cho công cuộc cải tạo toàn bộ thể chế cho hệ thống tại Việt Nam.
        Một Ít Nhận Xét về Bản Phúc Trình:
        Chúng tôi xin mượn lời của Giáo Sư Hoàng Tụy trong nước diễn tả hiện trạng của trí thức VN hôm nay:
        “Chúng ta có biết bao tiến sĩ, giáo sư và gần đây rộ lên cả mấy tá viện sĩ (chức danh này chưa có ở VN, nhưng nếu muốn trưng ra thì cả nước hiện nay cũng có thể trưng ra cả nghìn viện sĩ kiểu này chứ không ít), rồi lại có cả những “bộ óc vĩ đại thế kỷ 21”, nhiều nhân vật trí thức xuất chúng đến nỗi đang có kế hoạch phải dành 25 hecta đất vào thời buổi đất quý hơn vàng, để xây một Văn Miếu hiện đại mới đủ chỗ vinh danh bấy nhiêu bậc đại trí. Thế nhưng có ai dám chắc cái gia tài trí thức lớn ấy sau này sẽ được con cháu hoan nghênh khi đất nước đến hồi hưng thịnh?”
        (Trí thức VN): Dễ bị lâm vào thế ếch ngồi đáy giếng, dễ mắc bệnh vĩ cuồng, không hòa nhập vào dòng chảy văn minh của thời đại, không chấp nhận luật chơi quốc tế, rồi ngày càng tụt hậu mà vẫn tự ru ngủ mình, tự đánh lừa mình, và đánh lừa nhân dân mình với những thành tích không có thật. Chạy theo danh hão, chạy theo quyền lực, chạy theo chức tước, là căn bệnh thời đại của trí thức VN. Chưa bao giờ trong

        xã hội ta có nhiều Xuân Tóc Đỏ như bây giờ.
        (Nguồn: Tia Sáng)
        Chẳng cần nhìn đâu xa, chúng ta có thể thấy ngay đó chính là sản phẩm trực tiếp của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, là con đẻ của Đạo Đức Hồ Chí Minh.
        Đến hôm nay thì có lẽ Ngài Phó Giáo Sư – Tiến Sĩ Nguyễn Văn Huy cùng với tập đoàn của ông sắp hoàn thành công trình “Công Viên Văn Miếu Đương Đại” để bảo tồn và vinh danh con số zero tròn trịa trong Bảng Innovation Index.
        Qua phát biểu tại hội nghị khởi động, Ngài Phó Giáo Sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy phô bày trọn vẹn nét dối trá trâng tráo đến trơ trẽn tột độ. Ngài là hiện thân của một tầng lớp Phó Giáo Sư – Tiến Sĩ Tự Phát … Khùng đầy rẫy tại Đất Nước Công Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Lầm Than…
        Và do mù lòa từ dốt nát, kiêu căng và dối trá, họ cùng với tập đoàn lãnh đạo của Đảng đang đẩy toàn khối dân tộc vào kiếp nô lệ cho ngoại bang Bắc phương… một cách hồ hởi phấn khởi.
        1. Vietnam Higher Education: Crisis and Response. Thomas J. Vallely- Ben Wilkinson. Harvard Kennedy School
        2. Peril and Promise: The Challenge of Higher Education in Developing Countries. Henry Rosovsky

        Comment

        • TAM73F
          Super Moderator
          • Apr 2009
          • 2321

          #19
          Cái gì gây ra lạm phát ở ViệtNam?


          Thời Sự Kinh Tế
          Ngô Nhân Dụng


          Tình trạng kinh tế ở Việt Nam được diễn tả trong một bài ca dao đang phổ biến như sau:
          Ðau đầu vì điện
          Ðiên đầu vì đô (đô la)
          Ngây ngô vì vàng
          Ngỡ ngàng vì đất

          Điện không biết lúc nào bị cúp; ngay một khách sạn quốc tế ở giữa thủ đô cái máy pha cà phê cũng ngưng chạy vì cúp điện. Giá đô la Mỹ trên thị trường chợ đen lúc nào cũng chạy vọt lên nhanh hơn giá do nhà nước chính thức quy định. Nhà nước vừa mới phá giá đồng tiền Việt Nam xuống thêm hơn 8%, phá giá lần thứ ba trong vòng 12 tháng. Ðây là lần phá giá tiền thứ sáu kể từ hai năm rưỡi nay; nhưng vẫn như các lần trước, giá chính thức vừa được công bố thì giá mua đô la trong các cửa hàng vàng Hà Nội đã vươn lên qua mặt nữa rồi.
          Vì dân chúng không tin tưởng vào đồng tiền, những người có tiền trong tay tìm cách tống khứ cái khuôn mặt in trên đó đi càng nhanh càng tốt, bằng cách đổi lấy đô la Mỹ hay mua vàng. Vàng thì nặng, khó giữ và khó chuyển ra ngoài, cho nên giới quan chức lớn và doanh nhân có tiền thật đều tích trữ đô la. Tại sao người ta chuộng những tờ giấy 100 đô la mới, sẵn sàng trả giá cao hơn? Vì khi đem hối lộ, được hoan nghênh hơn! Quí quan cũng biết rằng đem đô la đi lại nó nhẹ nhàng hơn vàng nhiều.
          Trong khi giới có quyền và có tiền điên đầu vì đô la và vàng, thì những nông dân lại “ngỡ ngàng vì đất.” Ðồng bào tỉnh Hà Nam đã kéo nhau lên tận Hà Nội biểu tình đòi đền bù đất xứng đáng, nhưng chưa ai tổ chức tập hợp được tất cả các đoàn nông dân mất đất cùng đi khiếu kiện một lúc!
          Sau phần “Ngỡ ngàng vì đất” bài ca dao đọc tiếp:

          Ngất vì tỷ giá
          Ngã vì lãi suất
          Uất vì giá xăng

          Cả ba hiện tượng: Tỷ giá đô la so với đồng tiền Việt Nam, lãi suất, và giá xăng quy tụ vào một điểm là “lạm phát phi mã.” Trong tuần rồi, giá xăng đã tăng vọt lên hơn 17%, gần 20,000 đồng một lít; và giá diesel tăng 24%,lên hơn 18,000 đồng. Giá xăng lên là một phần trong cảnh vật giá leo thang, tức là lạm phát. Ngày 25 tháng Hai vừa rồi, nhật báo Wall Street Á Châu loan tin đặc biệt về lạm phát ở Việt Nam, cho biết tỷ lệ giá sinh hoạt (CPI) tăng là 12.31%; nhắc nhở rằng đây là tỷ lệ lạm phát cao nhất ở Á Châu. Hai món chính tăng giá là thực phẩm và nhà cửa, trong đó có giá vật liệu xây cất. Ðó là hai nhu cầu thiết yếu của dân, đặc biệt là dân nghèo thì hầu hết đồng tiền kiếm được chỉ đổ vào chuyện ăn với ở!
          Nhưng không ai tin rằng mức lạm phát sẽ dừng chân ở vị trí 12%. “Ngất vì tỷ giá” là một lý do. Ðồng đô la Mỹ lên giá sẽ thúc lạm phát lên cao nữa. Vì mọi thứ hàng nhập cảng, khi mua phải trả bằng đô la, sẽ đắt hơn khi tính ra tiền Việt Nam. Ngoài ra, còn “Uất vì giá xăng.” Giá xăng dầu vừa mới lên sẽ khiến cho tất cả những thứ hàng hóa và dịch vụ cần dùng đến xăng dầu phải tăng giá theo (Có món nào không cần chuyên chở bằng xe tầu chạy xăng không?) Riêng hai thứ đô la và xăng thôi cũng đủ khiến cho giá cả nhiều món hàng bắt buộc tăng giá trong thời gian tới. Cho nên nhà kinh tế Matt Hildebrandt thuộc công ty tài chánh JP Morgan đoán rằng trong mấy tháng tới tỷ lệ lạm phát ở nước ta sẽ lên 14%, và giữ mức đó cho cả năm 2011. Nhiều người lo ngại lạm phát sẽ lên tới 15%. Trong khin đó, nhà nước cộng sản Việt Nam vẫn không thay đổi chỉ tiêu của họ là giữ lạm phát ở mức 7% cho năm nay. Ðúng là họ sống trong một thế giới ảo, khác đám chúng sinh đang đi lại ở ngoài đường.
          Trước tình hình lạm phát đe dọa đó, dân đang “Ngã vì lãi suất” vì Ngân Hàng Nhà Nước phải cho tăng lãi suất nhiều lần để giảm bớt số lượng tiền lưu hành. Như nhận xét của Tiến Sĩ Trần Du Lịch, thành viên Hội Ðồng Tư Vấn Chính Sách Tài Chính Tiền Tệ Quốc Gia, trong một bài đăng trên mạng lưới của nhà nước, Việt Nam đang lâm vào một thế bí, là phải lo chống lạm phát trong lúc lãi suất đang rất cao.
          Bình thường, khi muốn ngăn chặn lạm phát thì người ta phải tăng lãi suất. Lãi suất tăng sẽ khiến dân bớt tiêu thụ đi và các xí nghiệp cũng bớt đầu tư; do đó số cầu giảm và giá cả các món hàng sẽ hạ bớt. Nhưng khi lãi suất đã cao lắm rồi, thì khó ai dám tăng lãi suất nữa. Tức là Ngân Hàng Nhà Nước mất một thứ dụng cụ để giảm bớt lạm phát. Cho nên ông Trần Du Lịch nói thẳng về viễn tượng kinh tế Việt Nam: “Qua 2 tháng đầu năm 2011, có thể thấy tình hình kinh tế vĩ mô gặp khó khăn hơn năm 2010 và nghiêm trọng hơn chúng ta dự đoán.” Cho đăng những nhận xét của ông trên mạng lưới nhà nước, cho thấy đảng Cộng Sản Việt Nam muốn báo trước cho toàn thể mọi người biết cả nước sắp vất vả! Mặt khác, họ cũng muốn chối tội về những biện pháp mới thi hành: tăng giá xăng và phá giá đồng bạc. Bởi vì, đó chính là những điều mà Tiến Sĩ Trần Du Lịch đưa ra đề nghị phải làm ngay “cả gói!” Nếu dân phải chịu khổ, hãy trút tội lên các chuyên gia kinh tế đưa ý kiến, đừng buộc tội đảng và nhà nước!
          Nhưng cuối cùng, chính nhà nước và đảng Cộng Sản đã gây ra cái cảnh lạm phát phi mã hiện nay, không thể nào đổ tội cho ai được!
          Cái tội chính đã được ghi trong cương lĩnh, chính sách của những kỳ đại hội đảng từ mấy lần rồi. Ðó là “Lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo.”
          Tại sao có lạm phát? Vì tiền đổ ra nhiều quá mà sức sản xuất hàng hóa không tăng theo kịp. Tại sao lại đổ ra nhiều tiền như vậy? Vì các ngân hàng của nhà nước đưa tiền cho các xí nghiệp nhà nước tha hồ tiêu xài. Trong năm 2010, số tiền do các ngân hàng cho vay đã tăng thêm 28%, lên tới con số vay nợ lớn bằng 140% Tổng Sản Lượng Nội Ðịa (GDP). Nên biết, năm 1997, ngay trước khi Thái Lan bị khủng hoảng tài chánh, tổng số nợ của họ cũng chỉ lớn bằng 130% GDP! Hiện nay mỗi năm Việt Nam phải dùng 30% của Tổng Sản Lượng Nội Ðịa chỉ để trả tiền lãi và trả góp vốn các món nợ vay của người nước ngoài. Tại sao cần nhiều tiền đến như vậy? Vì có khi nhà nước đứng ra vay đô la từ nước ngoài, tức là đem tài sản cả nước ra làm vật thế chấp, rồi đưa tiền đó cho doanh nghiệp nhà nước sử dụng. Ðó là câu chuyện Vinashin đi vay 750 triệu đô la, ai cũng biết.
          Những doanh nghiệp nhà nước làm ăn bết bát thế nào ai cũng biết. Nhưng chính sách của đảng Cộng Sản vẫn là đem tiền của toàn dân cho các cán bộ kinh tế của đảng tha hồ tiêu pha lãng phí. Tiến Sĩ Nguyễn Quang A năm ngoái đã viết một bài phân tích tường tận về cái lỗ thủng khổng lồ, cái thùng không đáy là các doanh nghiệp nhà nước.
          Hiện nay cán cân mậu dịch của Việt Nam bị thâm thủng trên một tỷ đô la mỗi tháng. Trong các nước Ðông Nam Á, nước nào mua bán với Trung Quốc cũng thặng dư, tức là bán nhiều hơn mua; trừ Việt Nam là chịu thâm thủng, tiền ra nhiều hơn tiền vào! Ai gây ra cái nạn thâm thủng đó? Ông Nguyễn Quang A tính có 3 lãnh vực, các công ty ngoại quốc đầu tư ở Việt Nam thì bao giờ cũng đem tiền vào Việt Nam nhiều hơn là đem ra. Các xí nghiệp tư nhân trong nước thường cũng như vậy, ít nhất là không bị thâm thủng. Chính các doanh nghiệp nhà nuớc là nguồn gốc gây ra cảnh thâm thủng!
          Các doanh nghiệp nhà nuớc được chính quyền ưu đãi, hưởng chế độ ưu đãi khi đi vay tiền của các ngân hàng, cũng do cán bộ điều khiển. Nhưng nó lại đóng góp rất ít vào kinh tế quốc dân. Ông Nguyễn Quang A cho biết: “số lao động làm việc trong doanh nghiệp tư nhân trong nước đã tăng hơn 3 lần trong những năm 2000-2006, từ hơn 1 triệu lên hơn 3 triệu người. Tương tự, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp FDI (ngoại quốc đầu tư ở Việt Nam) đã tăng hơn 3 lần, từ hơn 407 ngàn người năm 2000 đã tăng lên hơn 1,4 triệu người năm 2006. Số lao động làm việc trong các DNNN chỉ còn chiếm 28% tổng số lao động trong doanh nghiệp; giảm hơn một nửa (59,1%) so với năm 2000.”
          Còn phần đóng góp của các doanh nghiệp nhà nuớc vào ngân sách quốc gia thì sao? Tiến Sĩ Nguyễn Quang A ghi nhận các doanh nghiệp nhà nuớc chỉ góp trên 10% vào tổng số thu của nhà nước, còn 88.65% là do các doanh nghiệp khác, tư nhân trong nước và nước ngoài đóng góp!
          Với những thành tích của các doanh nghiệp nhà nuớc như thế, đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn bảo vệ các doanh nghiệp nhà nuớc! Họ đem tiền của dân cho đám cán bộ sử dụng dù không có hiệu quả. Vì đó doanh nghiệp nhà nước là nơi họ nuôi các cán bộ đảng!
          Khi tiền nhiều quá, sinh lạm phát, thì toàn dân phải chịu!

          ------------------------ooooooooooooooooooo--------------------------
          Lời Bàng:

          Nói một cách tóm tắc, theo tôi nghỉ, bài phân tích của ô NND có triển vọng ... đúng nhiều hơn sai. Có thể có một vài chỗ sai nho nhỏ, ví dụ như ô Dụng nói Vinashin đi vay 750 triệu USD, theo chổ tui biết hình như là 4 tỷ USD. Nhưng dans l'ensemble, these của ông Dụng co vẻ đúng:

          Lạm phát là do khối tiền tệ (masse monétaire) quá nhiều.
          Tại sao khối tiền tệ VN quá nhiều ? Vì thâm thủng ngân quỷ (déficit budgétaire) và cán cân thương mại thiếu hụt (déficit de la balance commerciale). Khi bị nhiều thiếu hụt như vậy thì chính phủ nào cũng có 2 biện pháp:
          1- Thiếu nợ quốc nội (mượn tiền người dân trong nước qua trung gian phiếu quôc trái) hoặc quốc ngoại (mượn tiền ngoại quốc, làm dette étrangère tăng lên. Hiện nay số nợ của VN là 140% tổng sản lượng GDP, như vậy là rất cao. Mỹ hình như là 100%, và Nhật là 200%)
          2- In tiền đề bù vào số thâm thủng đó
          Có lẽ vì số nợ đã quá cao nên VN đành phải in tiền hơi nhiều, làm khối tiền tệ chương phình lên, gây ra lạm phát.

          Vì sao có déficit budgétaire ? Vì nhiều lý do, nhưng nguyên nhân gần là Thu ít hơn Chi. Tham nhủng là một lý do có thể làm Chi nhiều hơn Thu. Xài tiền một cách dễ dải cho các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là một lý do khác làm cho cán cân chi phó mầt thăng bằng.

          Tại sao có déficit commercial ? Vì xuất cảng ít hơn nhập cảng. Số thiếu hụt cùa VN hiện nay là khoản 1 tỷ USD một tháng. Và nguyên nhân của sự thiếu hụt này, theo ô Dụng, cũng là các DNNN. Bằng chứng ô. Dụng đưa ra là, trong lúc số công nhân các DNNN là 28% tổng số công nhân, các xí nghiệp này chỉ góp phần có 10% tổng số thu (GDP thì đúng hơn). Nói một cách khác, năng suất (productivité) các DNNN quá 'pịnh' so với xí nghiệp tư nhân và xí nghiệp ngoại quốc FDI. Điều này hoàn toàn đúng (Tui đã biết những số này qua các tài liệu khác).

          Ô. Dụng không biết có là Tiến Sĩ hay không, nhưng bài của ô hay hơn và chính xác hơn bài của nhiều TS khác nhiều.

          ---------------ooooooooooooooooooooo-----------

          Ông NN.Dụng là một nhà văn và nhà báo có đầu óc và làm recherches hết sức đứng đắn trước khi viết.
          Nếu Ai có thì giờ có thể đọc các bài khác của Ông ta.



          ------------------------ooooooooooooooooooooooo-----------------------

          Comment

          • TAM73F
            Super Moderator
            • Apr 2009
            • 2321

            #20
            Đánh thuế tiền gởi về VN

            Posted on Tháng Ba 21, 2011

            Đảng Nhà Nước CS Hà nội mới đây ban hành nghị quyết 11 chống đô la hóa, vàng hóa trong kinh tế, cụ thể là cấm tư nhân kinh doanh đô la và vàng miếng. Nghị quyết này thiệt hại rất nhiều cho người Việt hải ngoại gởi tiền về VN: coi như phải đóng thuế thêm cho CS Hà nội ngồi không mà hưởng. Vạn vật vô thường, cái gì cũng thay đổi. Nhưng đối với người dân sống trong xã hội, dưới mọi thể chế chánh trị, có hai cái không thay đổi, đó là cái chết và thuế má, ai cũng lo sợ. Những nhà thuế vụ và những nhà làm ngân sách biết điều đó. Nên quí vị này hay dùng thuế gián thu là cách nhổ lông mà con vịt ít kêu la nhứt.
            Người dân móc tiền túi đóng thuế trực thu ai cũng nhăn mặt nhíu mày, lầm bầm ta thán. Nhưng mỗi lần đi chợ, mỗi lần đổ xăng, ăn một tô phở, trả tiền người dân đều phải trả thuế, nhứng ít ai để ý đến việc trả thuế. Thực sự phần lớn, đều có, đã có trả thuế.
            Và bây giờ CS Hà nội bắt đầu gián tiếp nhổ lông vịt “Việt Kiều” khi gởi tiền về nước với cái nghị quyết 11 nghe rất ư bảo vệ danh dự quốc gia là chống đô la hóa, vàng hóa trong kinh tế, cấm tư nhân kinh doanh đô la và vàng miếng.
            CS Hà nội không ra sắc thuế gián thu hay trực thu đánh trên số tiền Việt Kiều gởi về. Việt Kiều sẽ kêu la, chống đối, có thể không gởi hoặc giảm gởi một năm bảy tám tỷ Đô la, ngoại tệ mạnh, mà CS rất cần nữa, thì vô cùng bất lợi cho Đảng Nhà Nước CS Hà nội. Hoặc vì kẹt phải giúp gia đình nghèo túng, bịnh hoạn, có thể phải gởi chui, thì ngoại tệ không sớm vào tay nhà nước nữa. Lúc đó Đảng Nhà Nước không đủ ngoại tệ để xài. Đảng viên cán bộ và số người ăn thiếu ngoại tệ để gởi ra ngoại quốc dấu đút như những nhà độc tài Ben Ali, Mubarak và Gadhafi đã gởi dấu ở ngoại quốc hàng chục chục tỷ Đô la cuớp của nước và dân.
            Cán bộ đảng viên và những người ăn theo thiều tiền ngoại quốc liền cho con du học thí ít mà và du hí thì nhiều và nhập cảng xa xí phẩm một năm 10 tỷ nữa cho họ chưng diện cho đúng “mô de”.
            CS Hà Nội không dùng biện pháp thuế khoá bị kêu ca mà dùng biện pháp hành chánh không cho tư nhân giữ, đổi, dùng ngoại tệ nữa, điều mà từ lâu CS Hà nội thả nổi để thu hút ngoại tệ trong dân chúng VN trong ngoài nước và đễ cho ngoại quốc dầu tư vào VN.
            Biện pháp hành chánh này mới nói nghe rất hợp lý, rất quốc gia chủ nghĩa, rất tôn trọng danh dự quốc gia, khó mà phê bình chỉ trích.
            Gần đây nhơn danh chống lạm phát, chống vật giá gia tăng, Thủ Tướng VC Nguyền tấn Dũng đã ban hành Nghị quyết 11 để kiểm soát vấn đề lạm phát, nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, và góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Theo tinh thần và nội dung nghị quyết này chỉ có các phòng giao dịch của ngân hàng mới được phép giao dịch ngoại tệ. Cấm không cho tư nhân thanh toán bằng đô la, buôn bán vàng miếng là hai loại bản vị bảo đảm đồng tiền VN vừa dùng đô la bản vị hay kim bản vị.
            Thế là “Việt Kiều” ở hải ngoại và thân nhân ở quốc nội VN từ nay phải chấm dứt việc đòi hỏi những nơi gởi tiền gởi bằng Đô trả Đô, gởi giấy 100 phải trả bằng Đô giấy 100 nữa. Đảng Nhà Nước buộc cơ sở phải đổi ngoại tệ gởi từ hải ngoại ra tiền Đồng VN để trả cho khách hàng.
            Chỗ này là chỗ Đảng Nhà Nước CS Hànội móc túi thêm Việt Kiều.. Ai cũng biết tỷ giá của Đô la ở thị trường tự do đổi ra tiền Đồng VN lúc nào cũng cao hơn tỷ giá chánh thức của ngân hàng đổi ra. Đô la giấy 100 giá cao hơn đô la giấy nhỏ. Nếu Ngân hàng Nhà Nước phát ra thì chỉ có một thứ giá không phân biệt giấy lớn nhỏ gì cả, chỉ theo một hối suất do Nhà Nước qui định mà thôi. Giành quyền đổi Đô la, giao dịch Đô la cho Nhà Nước, là ĐảngNhà Nước trực tiếp và gián tiếp đánh thuế trên người gởi tiền về VN hay có tiền Đô la đem đổi thành tiền VN hay gởi kiếm lời ở ngân hàng.
            Còn nếu các cơ sở gởi tiền muốn trả bằng Đô la cho dân như trước khi TT Dũng ra lịnh, thì cơ sở phải làm chuyện bất hợp pháp, hẹn giờ, ngày, chỗ đem lén tới nơi. Làm ăn lớn ít cơ sở nào chịu phiêu lưu như thế. Mà có làm thì phải tăng lệ phí rất cao để bù trừ rủi ro bị bắt phải lo lót.
            Còn việc Đảng Nhà Nước CS Hà nội cấm tư nhân buôn bán vàng miếng; tức giá tiếp không cho tư nhân trữ vàng nghe rất “kinh tế”, hợp lý nhưng không hợp tình đối với người dân không tin tưởng nhà nước. E đó chỉ là chuyện “duy ý chí” mò kim đáy biển thôi. Ai cũng biết rất hợp lý kinh tế 1$ xài qua tay ba nơi giá trị kinh tế sản xuất, tiêu thụ như 3$. Nhưng đó là lý thuyết trong nền kinh tế vững mạnh, người dân tin chánh quyền, dùng tiền tiết kiệm để đầu tư. Còn ở VN các công ty sản xuất kinh doanh phần lớn là của Đảng Nhà Nước và ngoại quốc, người dân đâu có chỗ đứng trong việc chung vốn dưới hình thức hợp doanh hay vô danh. Người dân chỉ còn cách gởi tiền tiết kiệm ở ngân hàng để kiếm lời. Nhưng không ai đám để nhiều vì bóng mà dổi tiếng, có người có cả triệu cũng chỉ lấy ra đươc 200 – hãy còn ám ảnh người dân Việt trong thời CS.
            Thêm vào đó nạn trữ vàng là thói quen lâu đời của người Việt. Thời CS làm cho thói quen đó trở thành một thứ phòng xa hữu hiệu. Người dân thấy nếu không có vàng dấu đút thì sau khi CS chiếm được Miền Nam, thì làm sao vượt biên được, làm sao thực hiện “thủ tục đầu tiên” uốn mình qua ngỏ hẹp nhà Hồ được, làm sao có thể sống sót với nạn độc tài đảng trị toàn diện của CS và tham nhũng thành quốc nạn thời CS.
            Tóm lại tính già hoá non; CS Hà nội qua nghị định 11 muốn “nắm” tiền nước ngoài và vàng lại như thời CS gọi là “bao cấp” trở lại. Việc này chắc chắn thất bại. Thị trường tự do Đô la và vàng sẽ phát triễn ngoài vòng kiềm soát của Đảng Nhà Nước. Nạn tham nhũng sẽ giúp cho thị trường tư do bành trướng. Người Việt hải ngoại sẽ giảm gởi tiền về nước vì lệ phí tăng và ghét bị chế độ “chặt chém”.

            Vi Anh

            http://www.vietbao.com/D_1-2_2-66_4-172195_15-2/

            Comment

            • TAM73F
              Super Moderator
              • Apr 2009
              • 2321

              #21
              Nghịch lý của Việt Nam là đời sống kinh tế càng đi lên thì nền đạo đức xã hội lại càng đi xuống.

              Việt Nam khác Nhật là lẽ thường. Bởi, lịch sử, văn hóa, nền giáo dục của mỗi dân tộc một khác. Vấn đề ở đây là tại sao lại khác đến như vậy, trong khi cùng ở châu Á, cùng máu đỏ da vàng. Tại sao không chỉ khác nhau ở văn hóa ứng xử mà còn ở đạo đức xã hội?
              Trong những ngày qua, khi những trận động đất làm rung chuyển nước Nhật thì ở ngay nơi tâm chấn điêu tàn và đổ nát, nhiều câu chuyện đã làm rung động lòng người.
              Người ta truyền nhau bức thư gửi từ Nhật Bản của một người gốc Việt đang làm việc cách nhà máy điện hạt nhân Fukushima khoảng 25 km. Anh đi trợ giúp người Nhật nhưng công việc chính là thu lượm và chôn cất những người xấu số.
              Trong bức thư này, Hà Minh Thành- tên người viết- kể về một đứa bé 9 tuổi, có lẽ đã mất cả cha lẫn mẹ lầm lũi đứng, trong gió rét, với bộ quần áo mong manh, giữa hàng người rồng rắn để chờ lấy khẩu phần ăn bé nhỏ. Cảm thương với em và sợ em khi đến lượt sẽ chẳng còn thức ăn, người đàn ông đã khoác lên tấm thân bé nhỏ của em chiếc áo và đưa em gói lương khô khẩu phần của mình. Thằng bé khom người cám ơn nhưng không ăn ngấu nghiến – như phản ứng bình thường của một đứa trẻ đang đói – mà lẳng lặng đem lên nộp lại cho người phân phát rồi quay lại đứng tiếp vào hàng.
              Hay chuyện không hề có cướp phá, hôi của ở Nhật. Chuyện dòng người dài, xếp hàng im lặng để lấy nước, lấy thức ăn, dầu thắp sáng… không hề chen lấn, xô đẩy, cãi cọ. Người khỏe tự giác chăm sóc, giúp đỡ người già yếu, có những người già được cõng trên lưng hàng km. Chuyện 30 đứa bé mồ côi ở một trường học vẫn lặng lẽ chờ cha mẹ tới đón mà mỗi tiếng kẹt cửa có thể làm lóe lên những hy vọng mong manh của chúng, chúng im lặng chịu đựng mà không hề than khóc dù có thể đã biết bố mẹ mình không bao giờ quay lại đón chúng nữa. Hay 50 kỹ sư và công nhân Nhật tình nguyện bám trụ ở nhà máy điện hạt nhân sau khi 4 tổ máy đã phát nổ và hàng trăm ngàn người cũng như hầu hết công nhân nhà máy phải sơ tán. Trong số người tình nguyện ở lại, có người chỉ còn 6 tháng nữa về hưu. Người công nhân sắp hưu trí ấy đã nhắn với lại vợ mình, “Em đừng buồn, nếu anh không về“. Những người tình nguyện ở lại đều biết rằng mình có thể hy sinh. Rồi hình ảnh những người gói hàng cứu trợ làm việc hết sức khẩn trương. Các đội tìm kiếm nạn nhân miệt mài không kể đêm ngày, hối hả, lo lắng như đang tìm chính thân nhân của mình. Còn nhiều lắm những câu chuyện cảm động…

              Vặt và cướp hoa trong lễ hội hoa Anh Đào
              Báo chí Việt Nam cũng đưa tin khá đầy đủ và có nhiều bài viết ca ngợi tinh thần Nhật bản, bày tỏ sự khâm phục người Nhật và không ít người đã ngậm ngùi so sánh với Việt Nam.
              Có người đặt câu hỏi, nếu Việt Nam động đất thì sao nhỉ? Ừ nhỉ, thì sao?
              Thì:
              - Động đất có khi chết 200 nhưng giẫm đạp lên nhau mà chạy, chết thêm nghìn nữa.
              - Các ban ngành sẽ họp bàn cách cứu hộ từ ngày này qua ngày kia.
              - Cướp giật hôi của sẽ phổ biến, hoa người ta còn cướp giật nói chi tới đồ ăn hay tiền bạc vào lúc hỗn quan hỗn quân như vậy. Người đi hôi của sẽ nhiều hơn người đi cứu trợ.
              - Nếu có phát khẩu phần ăn sẽ chẳng có hàng lối gì, bà già trẻ nhỏ sẽ bị chen cho bẹp ruột, ai thắc mắc hay nhìn đểu mấy kẻ chen lấn, thì “bố cho mày mấy chưởng”.
              - Sẽ xuất hiện đủ loại cò: Cò mua, cò bán, cò di tản, cò cứu trợ, cò bệnh viện… tha hồ chặt chém đồng bào.
              - Tiền và hàng cứu trợ sẽ vào tay dân thì ít, cửa quan thì nhiều.
              - Ai muốn người nhà mình đang kẹt trong đống đổ nát được đào bới, tìm kiếm trước thì hãy chi đẹp cho đội cứu hộ.
              - Khu nào có quan chức ở thì được ưu tiên cứu hộ trước, khu nào dân đen sinh sống thì cứu sau.
              - Cửa hàng sẽ thi nhau tăng giá, bắt chẹt những người khốn khổ.
              - Tổ chức nào, tôn giáo nào muốn cứu trợ thì phải được sự đồng ý của Mặt trận Tổ quốc và các cấp chính quyền kẻo các “thế lực thù địch” lợi dụng.
              .v.v.
              Bức tranh toàn cảnh động đất ở Việt Nam, nếu có, nó sẽ na ná như vậy. Nhiều người nhức lòng tự hỏi, sao dân Việt Nam lại tha hóa như thế, có khi cả thế kỷ nữa họ cũng không theo kịp nước Nhật về văn hóa ứng xử…
              Nhưng sao họ không đặt câu hỏi, quan chức Việt Nam ra sao, giáo dục của Việt Nam thế nào? Em bé 9 tuổi kia chắc chắn được dậy dỗ trong một nền giáo dục đầy nhân bản, nơi cha mẹ em không phải đi tết lễ, đút lót thầy cô để em được đối xử tốt hơn, được điểm cao hơn, không bị liếm ghế khi phạm lỗi; nơi thầy hiệu trưởng của em không mua dâm hàng chục học trò; nơi giáo viên không chửi học sinh như hát hay bằng những từ “thằng nọ”, “con kia”; nơi các anh chị lớp trên không đấm đá hội đồng, giật tóc, lột áo nhau trong những giờ ra chơi; nơi em đi học không phải qua những con đường xây ẩu đầy hổ tử thần bẫy người hay những cây cầu bị rút ruột thay bằng xi măng cốt tre bởi những quan chức như Huỳnh Ngọc Sĩ.v.v.
              Người dân Việt Nam chắc chắn sẽ tốt hơn, nhường nhịn, trật tự và tương thân tương ái hơn nếu họ không sống trong một xã hội chụp giật, mua quan bán chức, tham nhũng từ trên xuống dưới; nơi kẻ có quyền hành tha hồ vơ vét cho đầy túi tham; nơi quan chức sở hữu hàng hecta đất, nhà nọ nhà kia, mỗi căn hàng triệu đô mà trẻ em phải đu dây đi học; nơi quan bố chưa nhấc đít khỏi ghế, quan con đã nhăm nhắm ngồi vào; nơi vào cửa đồn công an thì ra cửa nghĩa địa, công an đánh chết dân như đập ruồi; nơi mỗi mét rừng đầu nguồn bị đám quan tham đem bán bằng những món tiền ít hơn tiền mua mớ rau muống.v.v. Quan như thế, sao đòi hỏi dân phải mẫu mực, phải liêm khiết, không hôi của, không cướp giật?

              Giám đốc sở điện lực Tokyo khóc. Ảnh AP
              Người dân Nhật như vậy vì họ đượng hưởng nền giáo dục nghiêm khắc và trong sạch; vì họ có những quan chức biết đau nỗi đau của dân, biết khóc cùng dân như ông giám đốc sở Điện lực Tokyo dù sự cố xảy ra là do thiên tai, chứ không phải do lỗi ở ông; vì họ có những vị bộ trưởng như Ngoại trưởng Seiji Maehara, từ chức và xin lỗi dân vì đã nhận số tiền ủng hộ của một nữ doanh nhân nước ngoài trị giá (chỉ có) 610 đô la trong một hoạt động gây quỹ; bởi họ có vị thủ tướng rớm rớm nước mắt từ xin từ chức vì không thực hiện được một trong các cam kết của mình… Ở Việt Nam có những quan chức mẫu mực như vậy không? Câu trả lời là một ngàn lần không! Thủ tướng Việt Nam vẫn tại vị sau hàng loạt các bê bối. Quan chức ta không ai chịu trách nhiệm khi thủy điện xả lũ chết dân, khi dân hàng ngày sập bẫy tử thần. Ông Lê Đức Thúy vẫn là chủ tịch Ủy Ban Giám sát Tài chính Quốc gia và lên Ti vi trả lời phỏng vấn về chính sách tiền tệ khi báo chí Úc đã không ít lần nhắc tên ông trong vụ nhận hối lộ 10 triệu đô la in tiền Polymer. Bác Nguyễn Trường Tô vẫn đủ can đảm ngày ngày xách cặp tới cơ quan làm việc khi cả nước biết chuyện chủ tịch tỉnh cởi truồng…
              Thôi, đừng trách móc, đòi hỏi người dân nếu quan chức của ta như vậy! Đúng là nhà dột từ nóc dột xuống!
              Còn tại sao ư?
              Hồ Chí Minh khi sinh thời từng nói: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Dân tộc ta đã 81 “có” đảng. Như vậy, đại đa số dân chúng Việt Nam hiện nay là những người sinh ra và trưởng thành – như cách chúng ta thường nghe- “dưới ánh sáng của đảng”, “dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng”. Vậy họ là sản phẩm từ sự gieo trồng của đảng mà ra. Không lẽ nói rằng tại đế quốc hay thế lực thù nghịch ư? Không lẽ ‘thành tích’ đánh đuổi đế quốc, thực dân , giành độc lập dân tộc, tăng trưởng kinh tế… là do đảng lãnh đạo, còn suy đồi đạo đức là do thiên tai? Xưa rồi, bây giờ không phải thời kỳ nói lấy được mà người ta vẫn tin.
              Hồ Chí Minh khi sinh thời từng nói: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”……..nhưng khổ một nỗi là ông Hồ cùng đồng bọn tay sai đảng CSVN đã đem vào VN những hạt giống hư thối quặt quẹo. Kết quả sau nhiều năm trồng cây và trồng người trên đất VN do ông Hồ chí minh và đảng CSVN chủ trương, là cây cũng mọc không nổi, còn người thì toàn là Đồ Đểu
              Nghịch lý của Việt Nam là đời sống kinh tế càng đi lên thì nền đạo đức xã hội lại càng đi xuống.
              Đó là bi kịch của dân tộc.
              Chẳng biết bi kịch đó còn làm ai băn khoăn nữa không?

              --------------------------ooooooooooooo--------------------------


              Trả lời tại sao có cách ứng xử khác biệt giữa người Nhật và người Việt hay người quốc gia khác trước các thảm họa thật sự rất khó khăn. Chắc phải phân tích rỏ văn hoá và xả hội của mổi bên mới tìm được câu trả lời chính đáng cho bài về nghịch lý này và để cải cách giáo dục và xả hội một cách thích đáng và phù hợp cho dân Việt Nam.

              Nhưng thấy vài bài sau đây đề cập tới vấn đề này cũng hay, xin mời bà con đọc chơi cho vui.

              Bài I:
              Quan niệm về cái chết ”đẹp” của Người Nhật.

              Khi bạn xem một bộ phim để khám phá hết cái hay của nó thì chúng ta cần hiểu người tạo ra bộ phim muốn đưa người xem về đâu, muốn chia sẻ suy nghĩ gì. Phim của các nước khác thường có phần giải thích nguyên nhân vì sao các nhân vật đi đến những suy nghĩ như trong phim. Nhưng phim Nhật đôi khi rất kiệm lời và ít chú ý giải thích điều đó. Có rất nhiều người hỏi tôi vì sao các nhân vật trong phim lại có những suy nghĩ cực đoan như trong phim cả về cái chết và văn hóa sex. Họ không đồng tình với ý nghĩ đó và thấy nó không hay… Vì thế mục đích tôi viết bài này là để chia sẻ một số điều mình biết về cách suy nghĩ của người Nhật về cái chết. Tôi không phải là nhà nghiên cứu văn hóa Nhật, những điều tôi viết dưới đây chỉ là những hiểu biết có giới hạn về văn hóa Nhật mà thôi, tuy có tham khảo qua một số sách báo nói về tâm lý người Nhật nhưng chắc không tránh khỏi một số thiếu sót, mong các bạn thông cảm…


              Quan niệm về cái chết đối với người Nhật khá cực đoan, nhưng nếu tìm hiểu kỹ càng về văn hóa Nhật, bạn cảm nhận được điều đó không cực đoan mà còn có một ý nghĩa đặc biệt. Quốc hoa của người Nhật là hoa anh đào (sakura) và không phải ngẫu nhiên mà người Nhật lại chọn loài hoa này làm vật tượng trưng cho cái đẹp của đất nước mình. Người Nhật tìm được sự tương đồng của mình với hao anh đào vậy: tinh tế, và biết rụng rơi khi hương sắc vẫn đang tuyệt mĩ nhất. Mọi việc đều có nguyên nhân của nó nên không phải tự nhiên người Nhật lại có ý nghĩ như thế, quan niệm này sẽ được giải thích thông qua hoàn cảnh sống của người Nhật.

              Không biết bạn biết các vấn đề tôi liệt kê dưới đây về cách người Nhật đối diện với cái chết chưa:

              - Võ sĩ vào trận chỉ một là chiến thắng hai là mổ bụng tự sát (harakiri, sappuku).

              - Người già Nhật Bản ngày xưa vào núi ở tuổi 70, chết trong núi để khỏi ảnh hưởng đến con cái (bạn có thể xem tác phẩm Truyện kể núi Narayama để rõ hơn vấn đề này).

              - Nam nữ yêu nhau không lấy được nhau, rủ nhau đến vùng xa xôi nào đó, trao thân rồi cùng tự sát (xem truyện Tự sát ngày đính hôn).

              - Các nhà văn Nhật Bản có truyền thống tự sát vì tuổi già sộc đến, cái đẹp họ suốt đời tìm kiếm đã rời xa. Cảm thức thẩm mĩ không cho phép họ níu kéo sự sống. Và họ muốn ra đi vào lúc trong lòng vẫn vẹn nguyên cái đẹp, và trong con mắt của mọi người họ đang được sự ngưỡng mộ nhất.

              - Trong bối cảnh xưa, người Nhật không kiểm soát được việc phá thai. Nếu người mẹ sinh đứa con mà cảm thấy không nuôi nổi thì thường giết. Họ cho rằng thà để đứa con chết đi còn nhân đạo hơn để nó sống trong cực nhục…

              Có thể lý giải nguyên nhân để người Nhật có những suy nghĩ như trên là do sự thích nghi với hoàn cảnh sống của họ:

              1.Người Nhật sống trong vùng đất với thiên tai với động đất, núi lửa, sóng thần, bão tố. Cái chết xảy ra bất cứ lúc nào. Con người thường xuyên đối mặt với cái chết và vì vậy người ta hiểu giá trị của sự sống hơn bao giờ hết. Vì thế người Nhật chọn hoa anh đào là quốc hoa của mìnht , 1 loài hoa thoắt nở thoắt tàn. Chính vì cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp nhưng cũng giống như hoa anh đào quá mong manh khiến lòng người trở nên rất tinh tế và nhạy cảm hơn về cái chết và quan điểm cái chết ”đẹp”.

              2.Qúa trình phát triển của nước Nhật trong lịch sửu có rất nhiều cuộc nội chiến , tranh đoạt quyền lực liên miên giữa các dòng họ dây ra tình trạng đất nước lúc nào cũng chìm trong không khí tang tóc và đau thương nên con người ta chấp nhận và đối diện với cái chết một cách bình tĩnh hơn, như một nỗi sợ hãi được tập dần thì bạn sẽ cảm thấy can đảm để đối diện với nó hơn

              3. Về tôn giáo bản địa thì ngừoi Nhật bị ảnh hưởng bởi Thần đạo, Phật giáo, Thiền tôn thờ cái hư không, tính chất vô thường của cuộc sống ( Dứới đây là câu mở đầu truyện kể Heike: “Chuông đền Gion rung lên ngân trong trái tim mọi người luôn nhắc ta rằng tất cả đều phù du. Những bông hoa héo tàn của những cây bồ đề bên chiếc giường nơi Đức Phật nhập Niết Bàn đã làm chứng cho một chân lý: đời có thịnh ắt có suy…”.).

              Và chính vì những lý do trên nên quan niệm của ngừoi Nhật về cái chết là họ hướng đến một cái chết ”đẹp”, một cái chết có ý nghĩa khi sự sống đã đến lúc phải kết thúc.Con người thấu hiểu sinh-tử là lẽ thường của mọi sự sống, là con người giác ngộ. Đồng thời cũng thấu hiểu quy luật của sự phát triển. Có thịnh ắt có suy và có sống ắt có chết , sự sống là không thể cưỡng cầu. Chính điều này làm người Nhật cảm thấy thật buồn cười cho những người cứ mong tìm thuốc trường sinh, hay nghiên cứu về gen chống lão hóa. Bởi vì người Nhật nghĩ mỗi thế hệ có nhận thức khác nhau, và tư duy con người tới lúc sẽ trở nên già cỗi bởi Tự Nhiên chỉ giao cho mỗi thế hệ làm được một chút gì đó rồi nhường lại cho thế hệ kế cận làm tiếp công việc của mình.

              Cụ thể hơn là đến lúc nào đó tư duy của thế hệ trước sẽ cứng lại trước những đổi thay của xã hội, hoàn cảnh, không thể tiếp thu mọi tư tưởng mới. Từ đó dẫn đến tính bảo thủ tăng lên. Nếu thế hệ đó không chết đi, không ngã xuống thì sự bảo thủ sẽ gây trì trệ xã hội và làm chậm bước phát triển của đất nước và nhân loại. Vì thế cái chết là cần thiết để xã hội tiếp tục phát triển. Khi sự sống không còn hữu ích thì cái chết mang tới giá tric cao hơn.

              Người Nhật tâm niệm rằng biết chết sẽ biết sống. Khi thường xuyên đối mặt với cái chết, được giáo dục về cái chết và sự mất mát, người ta sẽ yêu sự sống hơn, yêu những gì đang có và có ý thức giữ gìn nó hơn. Họ ý thức về cái chết để hiểu rõ giá trị của sự sống chứ không phải để ủ rũ và chìm trong thất vọng và sợ hãi.

              Người Nhật nghĩ không sợ chết nên không có gì đáng sợ với người Nhật. Vì không sợ chết nên họ có thể vượt qua các nỗi sợ hãi khác kiềm chế sự phát triển của đất nước và thế giới. Họ đã sống hết mình bằng ý chí và sự nỗ lực tột cùng, tạo nên sự phát triển của Nhật rất nhanh để trở thành cường quốc.

              Người Nhật có quan niệm về cái chết khá sâu sắc nên khi bạn xem phim bạn sẽ cảm nhận rất rõ về điều này ở cách họ đón nhận thông tin về cái chết, ở cách họ chấp nhận cuộc sống với cái chết đầy bản lĩnh, ở cách họ ra đi mà không muốn người bên cạnh mình đau khổ vì mình và ở ước mơ tươi sáng về một ngày mai luôn tươi đẹp.

              nguồn st
              source: http://vnsharing.net/forum/showthread.php?t=247826

              Bài II: Cập nhật lúc : 2:36 PM, 14/03/2011
              Sự bình tĩnh của người dân

              Sendai, Nhật Bản. Nơi đây từng có một tòa nhà (ảnh Kyodo/Reuters)
              (VOV) - Rất có thể thảm họa còn lớn hơn, kinh khủng và bi đát hơn nhiều nếu sự cuồng bạo của thiên nhiên được hỗ trợ bởi cơn hoảng loạn của con người
              Tất cả các tờ báo, các đài phát thanh, truyền hình trong những ngày vừa qua đều không thể bỏ qua những tin tức về thảm họa động đất, và sóng thần tại Nhật Bản. Trong một trận động đất lên tới 8,8 độ richte, và sự đe dọa từ những cơn dư chấn bất tuyệt liên miên, thật khó hình dung người ta có thể bình tĩnh đến như thế. 01h sáng ngày 12/3, 10 giờ sau khi trận động đất đầu tiên xảy ra, nhà báo Vân Anh, đang công tác tại Tokyo, xếp hàng chờ tàu điện ngầm để về nhà, tranh thủ cập nhật thông tin: Không thể bắt taxi, tại các bến tàu điện là những hàng người xếp hàng dài cả cây số, nặng nề, nhưng trật tự. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, và cả hệ thống điện thoại liên tục xuất hiện khuyến cáo của Chính quyền: Xin mọi người hãy bình tĩnh! – Và sự bình tĩnh đó đã được thể hiện trên cả những gương mặt mệt mỏi nhất.
              Ở nước Nhật, những trận động đất không hề là xa lạ. Đó cũng là đất nước sở hữu những công nghệ cảnh báo và phòng chống động đất tiên tiến nhất thế giới. Nhưng, điều đó cũng phải bất lực trước sự cuồng bạo của thiên nhiên. Đã có gần 1000 người thiệt mạng, khoảng 1 vạn người khác mất tích và có thể cũng không còn sống. Công nghệ sự cẩn trọng đã không thể cứu đượchọ. Nhưng, rất có thể thảm họa đó còn lớn hơn, kinh khủng, và bi đát hơn nhiều khi sự cuồng bạo của thiên nhiên được hỗ trợ bởi cơn hoảng loạn của con người. Điều đó đã không xảy ra ở Nhật Bản, khi người dân bình tĩnh để tìm đường sống sót.
              Khi hình ảnh những hàng người trật tự xếp hàng nhận cứu trợ ở thành phố Sendai, nơi có nhiều người thiệt mạng nhất, được phát đi trên khắp thế giới, hẳn nhiều người sẽ nhớ đến một hình ảnh khác được phát đi năm ngoái. Đó là hình ảnh hàng trăm người xấu xố bị thiệt mạng trên cây cầu ra đảo Kim Cương trên đất Campuchia. Khi đó, hàng vạn con người hoảng loạn đã dẫm đạp lên nhau trên một cây cầu nhỏ. Họ sợ điều gì? Không phải một trận động đất, cũng không phải thông tin về một quả bom sắp phát nổ, chỉ là sự rung rinh của cây cầu dây văng khiến người ta sợ rằng nó sẽ sập. Cây cầu không sập, nhưng niềm tin sụp đổ đã lấy đi mạng sống của gần 400 con người.
              Vì sao tại Nhật Bản người ta có thể bình tĩnh chờ đợi để đến lượt về nhà khi mặt đất dưới chân vẫn tiếp tục rung lên, và khi người thân còn chưa có tin tức? Phải chăng đó là mặt tích cực của tinh thần võ sĩ đạo Nhật Bản, hay đó là sự tự trọng được hình thành từ bề dày văn hóa? Có thể, đó là những yếu tố làm nên tính cách Nhật. Song, con người ở nền văn nào cũng vẫn luôn là những thực thể cá nhân, và niềm ham sống, sợ chết, lợi ích cá nhân luôn tồn tại và bùng nổ trong những thời điểm khó khăn và tuyệt vọng. Do đó, phải có một cách lý giải khác về hàng người bình tĩnh kia. Đó là niềm tin. Người dân Nhật Bản đã bình tĩnh vì họ tin rằng họ không bị bỏ rơi. Họ tin con cái họ ở trường sẽ được các thầy cô bảo vệ, niềm tin đó chắc chắn như việc con cái họ biết rằng phía sau ghế ngồi luôn có tấm đệm để che đầu khi động đất, và các giáo viên dẫn chúng vào nhà tập thể dục vì nơi đó an toàn. Họ tin, nếu người thân chưa thể về nhà thì cũng không thể bị đói, rét bởi các khu trại tị nạn đã nhanh chóng được dựng lên ở khu vực công cộng. Họ tin tưởng vì Chính quyền luôn cung cấp thông tin chi tiết về những nguy cơ có thể sẽ đến, cả những thông tin nhạy cảm về nhà máy điện hạt nhân có thể phát nổ.
              Niềm tin được hình thành như thế nào? Chắc chắn sẽ không có một con đường chung dẫn đến niềm tin của tất cả mọi người. Song, sự thật là điều không thể thiếu để có được niềm tin. Đó cũng là lý do mà ưu tiên số 1 của chính quyền các thành phố ở Nhật Bản trong thời gian diễn ra động đất chính là cung cấp thông tin đầy đủ cho người dân. Tại các studio của đài phát thanh và truyền hình luôn có tấm bảng thông báo động đất để phát thanh viên có thể ngừng chương trình và đọc nó bất cứ lúc nào để hướng dẫn dân chúng đến nơi an toàn. Thông tin cũng được gửi đến máy điện thoại cá nhân về mọi điều cần biết khi hoảng loạn. Và đó là những thông tin tuyệt đối chính xác, đủ để những tin đồn không còn đất sống trong tâm trạng xã hội. Và tin đồn chính là thứ xúc tác mạnh mẽ nhất cho sự hoảng loạn.
              Hàng triệu người dân Nhật Bản đã được an toàn bởi chính sự bình tĩnh của họ, và sâu xa hơn, bởi những nỗ lực đảm bảo thông tin của chính quyền. Đây là một bài học cho bất cứ quốc gia, dân tộc nào. Nếu người dân ở Mỹ Đức, Hà Tây 3 năm trước sớm có được những thông tin chính xác từ các cơ quan chức năng, họ sẽ không phải sợ hãi vì tin đồn có kẻ giết trẻ em lấy nội tạng để từ nỗi sợ hãi đó mà xúm vào đánh trọng thương 1 người lạ qua đường. Đó là những câu chuyện khác nhau về niềm tin. Một thứ giác quan kỳ lạ với giá trị kỳ lạ. Cùng là niềm tin, nhưng khi nó hình thành bởi sự thật, nó sẽ giúp người ta mạnh mẽ hơn, còn khi niềm tin được hình thành từ sự mù quáng, nó sẽ dẫn con người tới tự diệt vong./.
              Lão Phạm

              Source: http://vovnews.vn/Home/Su-binh-tinh-...113/169246.vov

              Theo báo chí cho tin về thảm họa Fukushima, niềm tin này có vẻ bị hơi sứt mẻ vì người dân Nhật bắt đầu nghi ngờ vài thông tin của chủ hảng điện Fukushima là TEPCO.
              Bài III:

              Giải mã sự bình tĩnh "lạnh lùng" của người Nhật
              Bản in ấn Email
              Cỡ chữ
              (Tamnhin.net) - Tại sao người Nhật ngay cả trong thảm cảnh vẫn bình tĩnh một cách lạ thường? Hệ thống dân phòng được coi là xuất sắc nhất thế giới hoạt động ra sao? Cái gì chứa đằng sau cái gọi là “danh dự Samurai” và người Nhật đào tạo trẻ em theo hướng đó như thế nào?



              Người dân Nhật Bản xếp hàng mua nhu yếu phẩm, tuyệt đối không xảy ra tình trạng hôi của.

              Dưới đây là lý giải của Phó giáo sư Dmitry Evstafyev, Chủ nhiệm Khoa Quan hệ quốc tế Trường Đại học Quốc gia Xanh Pêtécbua (LB Nga):

              Người Nhật lặng thinh nhìn những cơn sóng hung dữ phá tan nhà cửa và xoay tròn xe cộ như chiếc lá cây. Người Nhật úp chậu lên đầu, chạy ra khỏi những căn nhà sắp đổ sụp một cách trật tự. Tất cả những ai không phải là người Nhật coi đây là điều phi thực tế. Từ đâu mà người Nhật có được sức chịu đựng và tính quy củ trong bối cảnh “đất sụt, trời sập”?

              Meivaku là gì?

              Khái niệm meivaku là một phần của lối sống Nhật. Meivaku có nghĩa là làm phiền những người xung quanh bằng hành vi của mình. Hút thuốc ở nơi công cộng là xấu bởi anh đang gây ra meivaku cho tất cả những ai không có lý do để hít khói độc. Chẳng hay gì việc gây meivaku bằng cách buôn chuyện qua điện thoại trong văn phòng hay trên các phương tiện giao thông, ho và hắt hơi “đình đám”. Ngay cả những đứa trẻ cũng được dạy rằng tiếng khóc ầm ĩ của chúng gây meivaku cho mọi người. Chính đây là nguyên nhân đáng kể dẫn đến hành vi “không bộc lộ sự hoảng loạn ra ngoài mặt”. Người Nhật quá tự trọng và quá tôn trọng người khác nên không cho phép mình để cho cảm xúc sai khiến.

              Gần một tuần trôi qua kể từ khi xảy ra trận “siêu động đất” ngày 11/3 nhưng chưa có một bài báo, mẩu tin nào từ Nhật Bản viết về nạn hôi của hay trộm cắp, cướp bóc. Các chuyên gia cho rằng xã hội Nhật được kiến tạo theo kiểu tính trung thực được tôn rất cao.

              Người Nhật cũng biết vui sống và không nỡ chối bỏ cảm giác “phê” từ những “giọt cay”. Nhưng “rượu ngon” họ chỉ uống khi có “bạn hiền”, chủ yếu nhâm nhi vào tối thứ Sáu. Điều đáng nói là không ai tự rót cho mình cả - chén của mình để cho bạn rượu rót và ngược lại. Điều này có hàm ý “tôi say hay không là do bạn đấy”. Đây cũng là một cách giáo dục tinh thần trách nhiệm trước mọi việc.

              Người Nhật quay phải, người Âu quay trái

              Theo ông Dmitry Evstafyev, dĩ nhiên là nhà cửa và kiến trúc của Nhật Bản khác với ở Nga và châu Âu. Mỗi năm tại Nhật xảy ra 1.500 cơn địa chấn, hơn nữa chỉ có 16% lãnh thổ đất nước là thích hợp cho cuộc sống con người. Trên một diện tích hạn hẹp và trong tình trạng từng giây từng phút phải sẵn sàng đối mặt với động đất thì nhà cửa thường “bé như cái kẹo”. Nhiều người Nhật không đủ tiền để mua căn hộ để ở, phần đông vẫn phải thuê nhà.

              Tuy nhiên, người Nhật có những quy chuẩn rất nghiêm ngặt về điều kiện vệ sinh – môi trường. Ở Đất nước mặt trời mọc ta có thể uống nước lấy ngay từ vòi. Song, người Nhật đặc biệt tiết kiệm nước. Họ không thả mình vào bồn tắm theo kiểu người Mỹ hay người Âu mà cả nhà xếp hàng để ngâm mà không thay nước nóng. Dĩ nhiên trước đó ai cũng phải tắm vòi hoa sen cho sạch sẽ. Gian bếp thì bé tẹo, chủ yếu dùng bếp ga đôi. Đây là thói quen tiết kiệm mặt bằng, tiết kiệm thiên nhiên và hẳn là tiết kiệm cả tiền.

              Hãy hành động như tôi!

              Phó giáo sư Dmitry Evstafyev khẳng định rằng cần phải học ở người Nhật ý thức đối phó với thiên tai. Người Nhật đã chờ đợi trận động đất của ngày 11/3 suốt 20 năm nay, chỉ có điều không thể đoán trước ngày, giờ.

              Theo cách tích của các nhà nghiên cứu địa chấn Nhật Bản thì cứ khoảng 80 năm lại xảy ra một trận “siêu động đất” ở Đất nước mặt trời mọc. Trận “siêu động đất” năm 1923 ở tỉnh Kanto chỉ kém chút ít về cường độ so với “người em” của nó cách đây gần một tuần. Nó san phẳng hầu như toàn bộ các thành phố Tokio và Iokogama, cướp đi sinh mạng của hàng trăm nghìn người. Sở dĩ trận thiên tai địa chấn vừa rồi ít gây thiệt hại về người hơn là nhờ nước Nhật thường xuyên chuẩn bị đối phó. Người dân ý thức rất rõ rằng họ đang sống “trên thùng thuốc nổ”.

              Trận động đất năm 1923 xảy ra vào giờ trưa, khi nhiều gia đình đang nấu nướng. Vì vậy phần lớn nạn nhân chết là do hỏa hoạn. Bây giờ một trong những nguyên tắc đầu tiên khi bắt đầu cơn địa chấn là tắt bếp, khóa bình ga.

              Người Nhật được tập luyện kỹ để đối mặt với thiên tai địa chấn. Các “máy lắc” được chở đến từng trường học để trẻ em chui vào đó và làm quen với tình trạng rung rinh như khi xảy ra động đất. Bởi thế, khi thiên tai xảy ra thì ngay cả học sinh tiểu học cũng không hoảng loạn.

              Trong mỗi gia đình người Nhật đều có một chiếc va ly đựng những vật dùng tối cần thiết phòng khi gặp họa. Trong đó có cả những bộ quần áo chuyên dụng được cuộn chặt, gọn như hộp diêm. Hệ thống báo tin động đất và cảnh báo sóng thần hoạt động rất hiệu quả, trong đó có thông qua truyền hình và cả những biển quảng cáo trên đường phố.


              Trần Quang Vinh

              (theo Newsland source: http://forum.hiv.com.vn/default.aspx?g=posts&m=250613 )

              Sưu-Tầm

              Comment

              • TAM73F
                Super Moderator
                • Apr 2009
                • 2321

                #22
                Việt Nam '' ăn xài bạo’' nhất thế giới‏

                Một thằng chi mười thằng chết.

                Việt Nam ‘chi bạo’ nhất thế giới
                Đỗ Hiếu, phóng viên RFA
                2011-03-19
                “Người Việt Nam tiêu xài lạc quan nhất thế giới”, đó là tựa một bài viết đăng trên báo Saigon Tiếp Thị nói rằng ở Việt Nam, làm ra một đồng thì xài tới 2, 3, 4 đồng. Vì sao người Việt được đánh giá và xếp hạng cao như vậy?

                AFP

                Cửa hàng bán các loại xe hơi hạng sang

                Ông Nguyễn Văn Giàu, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, năm nay người dân Việt mình ăn Tết Tân Mão lớn chưa từng thấy. Bên cạnh đó, tổ chức cung cấp thẻ tín dụng toàn cầu Master Card Worlwide cũng phổ biến kết quả khảo sát cho thấy qua thăm dò ý kiến trên 10 ngàn người thuộc 24 quốc gia, vùng lãnh thổ thuộc Châu Á, Thái Bình Dương, Châu Phi, khu vực Trung Đông thì nói về ăn chơi, giải trí, người Việt dẫn đầu so với các nước Hàn Quốc, Hồng Kông, Australia.

                Mặt khác, người Việt khi sang thăm người thân tại các nước Hoa Kỳ, Australia, Singapore đều nhận thức rõ về tinh thần tiết kiệm của dân chúng các quốc gia được xem là sung túc ấy.

                Vẫn căn cứ vào những số liệu thống kê thì sức mua, tiêu xài tiền của người Việt Nam tăng rất nhanh, mỗi năm tăng tới 20% tương đương với 53 tỷ đô la, thị trường bán lẻ đứng thứ tư trên thế giới chỉ sau các nước được xem là “cường quốc” có đông dân, gồm có Ấn Độ, Nga và Trung Quốc. Cũng có lẽ vì bản xếp hạng này mà người Việt Nam được đánh giá là “tiêu xài lạc quan nhất thế giới”.

                Lời cảnh tỉnh, mỉa mai


                Thương xá TAX. RFA photo.

                Góp ý về sự đánh giá này, Giáo sư Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội Việt Nam nhấn mạnh:
                “Nói như vậy có lẽ đó là một lời phê phán, cảnh tỉnh thì đúng hơn; họ nói đúng ‘chi bạo’ hay nói cách khác là nhiều khi không lượng được sức mình, trong nhiều chuyện lắm.

                Cái cách của mình không phù hợp với thực lực mà mình có, Việt Nam hiện nay là một đất nước đứng thứ 13 về dân số, trên thế giới. Ở một nước mà thiên nhiên không lấy gì làm ưu đãi cho lắm, nếu muốn phát triển thì có lẽ phải học như người Nhật, dạy cho con em họ biết rằng, Nhật là một nước nghèo về tài nguyên, khoáng sản, vì vậy chỉ có một cách là phải cắn răng lại để mà làm việc, lao động, có như vậy nước họ mới phát triển được.

                Trong lúc đó, Việt Nam, dân số rất đông, trình độ kinh tế rất thấp so với các nước khác trong khu vực và so với thế giới, muốn phát triển, người Việt Nam phải cần cù, biết cách vừa làm, vừa dành dụm để tạo nên cơ nghiệp.”

                Nói như vậy có lẽ đó là một lời phê phán, cảnh tỉnh thì đúng hơn.
                GS Tương Lai

                Giáo sư Tương Lai tự đặt cho mình câu hỏi : “Ai chi bạo…”?

                Và chính ông cũng tự đi tìm cho mình lời giải đáp:

                “Nói cho cùng, không phải tất cả mọi người đều ‘vung tay quá trán như thế đâu’, nhưng nếu nhìn một cách thật nghiêm khắc thì phải nói đây là một nhược điểm của riêng mình, vì vậy khi người ta nhận định về mình như thế, là người ta chê và sự chê bai đó là đúng, người Việt cần phải thấy rõ cái nhược điểm ấy của mình, để biết cách tằn tiện, biết lượng sức để mà đưa đất nước mình đi lên. Trong chuyện đó, phải giáo dục cho con em mình ngay từ khi còn bé, ở ghế nhà trường cần phải có ý thức đó, nếu không làm được như vậy, thì Việt Nam khó mà đuổi kịp được với thế giới.”

                Kẻ ăn không hết, người lần không ra

                Người bán hàng rong ngồi an trưa bên cạnh một cửa hàng bán mỹ phẩm sang trọng tại Sài Gòn. AFP Photo.
                Chi xài quá mức vốn liếng mà mình làm ra được, dễ đưa tới những tệ đoan xã hội, ăn xài hoang phí, ông Quý một người dân sinh trưởng ở Bồng Sơn, Miền Trung VN thấy rõ điều đó, khi đón nhận tin “người Việt tiêu xài lạc quan”:

                “Câu này có ý mỉa mai, bản chất của người Việt Nam là ăn tiêu dè xẻn, dùng sức lao động và mồ hôi để làm ra tiền, như người ta thường nói ‘khéo ăn thì no, khéo co thì ấm’.

                Phải dành dụm, tiết kiệm, để lo xây dựng gia đình, lo cho con cái ăn học. Tuy nhiên trong thời buổi bây giờ, có nhiều giới chức kiếm được tiền rất dễ dàng, hoặc vì có chỗ ngồi rất tốt, nhận được tiền hối lộ, lo lót, họ tiêu xài tiền như ‘ném qua cửa sổ’. Thứ hai là có những người ‘móc ngoặc’ công việc làm ăn suông sẻ, kiếm được rất nhiều tiền nên ăn chơi, một đêm có thể tiêu xài hai, ba chục triệu đồng tiền Việt Nam.”

                Theo ông, có những địa phương trên đất nước Việt Nam, dù làm việc cật lực, người dân cũng chưa đủ ăn:

                “Ở miền quê, nhất là vùng Bồng Sơn của chúng tôi, có những người suốt đời còng lưng, làm việc trên những thửa ruộng, trên nắng, dưới nóng, mà một ngày không có đủ hai bữa cơm cho no bụng, vậy mà ở thành phố con ông, cháu cha, những người móc ngoặc đã vung tiền, tiêu xài.

                “Ở miền quê, nhất là vùng Bồng Sơn của chúng tôi, có những người suốt đời còng lưng, làm việc trên những thửa ruộng, trên nắng, dưới nóng, mà một ngày không có đủ hai bữa cơm cho no bụng.
                Ông Quý

                Nếu là người hiểu biết, họ cho đó là một câu chế nhạo, bởi vì đồng tiền kiếm được không do mồ hôi, nước mắt, là một . Thứ hai là họ không tin ở ngày mai, bây giờ có tiền thì cứ xài, không biết rằng ngày mai, họ còn ngồi ở chỗ đó nữa hay không, còn xài được tiền hay không, xài được ngày nào hay ngày ấy.”

                Theo báo chí nước ngoài thì hình như người Việt Nam đang sống theo kiểu cách ‘ném tiền qua cửa sổ’, vì dư luận vẫn thường nghe kể lại rằng, có bao cây cầu xây mà không ai đi qua, bến cảng dựng lên mà không tàu thuyền nào cập vào, sân bay thẳng tấp không máy bay nào tới đáp, hàng lô biệt thự, cao ốc vô chủ ở Hà Nội và Saigon bỏ trống lâu nay.

                Còn người dân ‘thấp cổ bé họng’ thì thường nói ‘'có những món hàng mà người mua không bao giờ dám đụng tới’' và ‘'có những thứ hàng cao cấp bạc triệu mà người dùng không bao giờ phải mua sắm cả’'.

                -----------------oooooooooooo-----------------

                Comment

                • TAM73F
                  Super Moderator
                  • Apr 2009
                  • 2321

                  #23
                  đời sống bây giờ ở Sài Gòn - November 2010‏

                  NGHỊ QUYẾT 11 VỀ VÀNG VÀ ĐÔ-LA:

                  MỘT NGHỊ QUYẾT ĐỘC TÀI TIỀN TỆ



                  Web: http://VietTUDAN.net

                  Ngày 21.03.2011, Phóng viên VI ANH đưa Tin về Nghị Quyết 11 về Vàng và Đo-la như sau:

                  “Gần đây nhơn danh chống lạm phát, chống vật giá gia tăng, Thủ Tướng VC Nguyền tấn Dũng đã ban hành Nghị quyết 11 để kiểm sốt vấn đề lạm phát, nhằm ổn định kinh tế vĩ mơ, và gĩp phần đảm bảo an sinh xã hội. Theo tinh thần và nội dung nghị quyết này chỉ cĩ các phịng giao dịch của ngân hàng mới được phép giao dịch ngoại tệ. Cấm khơng cho tư nhân thanh tốn bằng đơ la, buơn bán vàng miếng là hai loại bản vị bảo đảm đồng tiền VN vừa dùng đơ la bản vị hay kim bản vị.“



                  Như vậy, Nhà Nước CSVN lấy quyền độc đoán hai Thị trường Vàng và Ngoại tệ mà lý do được Nhà Nước đưa ra là để chống Lạm phát giá của đồng Tiền VN. Đồng Tiền VN không còn được định trên bản vị Vàng (Régime Etalon-Or) hay bản vị Đo-la (Régime Etalon-Devise (Đo-la)), mà được thả trôi nổi (Flexible) theo tương đương Hàng hóa hay Dịch vụ (Régime du Pouvoir d’Achat), nghĩa là theo thăng trầm của Kinh tế quốc gia.



                  Thực ra, cái lý do chính yếu không phải là chống Lạm phát, mà là sự tụt dốc của nền Kinh tế quốc doanh khiến Nhà Nước cạn kiệt Ngoại tệ, nên Nhà Nước muốn sử dụng mọi biện pháp để cướp tiết kiệm Vàng và Ngoại tệ của Dân chúng vào trong tay Nhà Nước.



                  Chúng tôi bàn những điểm sau đây để cho thấy rằng Nghị Quyết 11 chỉ là Nghị quyết Độc tài Tiền tệ và nhằm cướp bóc Tư hữu của Dân chúng:



                  => Tiền bạc là Tư hữu của Dân

                  => Những lý do Lạm phát phi mã tại Việt Nam

                  => Độc tài Tiền tệ làm mất lòng tin của Dân vào Tiền quốc gia

                  => Chủ mưu cướp giựt Vàng và Đo-la





                  Tiền bạc là Tư hữu của Dân



                  Đồng Tiền của một Quốc gia được định nghĩa như phương tiện chuyên chở Hàng hóa hay Dịch vụ trao đổi (Moyen de véhiculer des Marchandises ou des Services échangés). Đồng Tiền mang những Đặc tính thiết yếu sau đây:



                  * Đặc tính Khả chia (Divisibiléité) để làm trung gian trao đổi Hàng hóa hay Dịch vụ dù nhỏ.

                  * Đặc tính Khan hiếm (Rareté) để bảo đảm giá trị nội tại của đồng Tiền

                  * Đặc tính Kéo dài trong Thời gian (Durabilité) để tích lũy Tài sản cho tương lai

                  * Đặc tính Phổ quát (Universalité) nghĩa là được nhiều người chấp nhận

                  * Đặc tính An toàn (Sécurité) để tránh giả mạo.



                  Chúng tôi nhắc ra những Đặc tính thiết yếu này để xét xem Tiền Đồng VN đáng được Dân chúng tin tưởng đến mức nào.



                  Đồng Tiền mà người Dân có được không phải là do Nhà Nước phát không cho Dân chúng, mà do sức lao động của dân cung cấp (Salaire), do Lợi tức từ Vốn đầu tư (Intérêt) và Lợi nhuận thặng dư Kinh doanh (Profit). Tóm lại, đó là do sinh hoạt Kinh tế mà kiếm được. Như vậy hiển nhiên Tiền bạc mà Dân chúng có được là Tư hữu của Dân. Người Dân đóng thuế chia một phần Tư hữu cho Nhà Nước để lo những công việc chung phục vụ cho Dân. Số Tiền Tư hữu còn lại hoàn toàn do Dân được tự do quyết định sử dụng Tư hữu vào Tiết kiệm (Epargne) hay Tiêu dùng (Consommation).



                  Chính vì tính cách Tư hữu của Tiền tệ như vậy, mà việc quản trị giao cho Quyền lực Tiền tệ (Autorité Monétaire) mang tính cách độc lập với Quyền lực Chính trị (Pouvoir Politique).



                  Nếu Quyền lực Chính trị độc đoán in bừa Tiền ra, đó là phạm vào Đặc tính Khan hiếm. Cũng vậy, nếu Dân chúng tích lũa Tài sản dưới dạng Tiền tệ, mà Nhà Nước phá giá đồng Tiền, đó là phạm vào Đặc tính Kéo dài trong Thời gian. Dân chúng có quyền chọn lựa đồng Tiền, đó là Đặc tính Phổ quát. Khi đồng Tiền không giữ vững Giá trị trong thời gian, nghĩa là phá giá thường xuyên, Dân chúng có quyền tích lũy Tài sản cho tương lai dưới dạng Vàng, Đất Đai hay một đồng Tiền vững giá.



                  Vào những thập niên 1980, Quyền lực Chính trị của các quốc gia Phi châu và Nam Mỹ đã in bừa Tiền ra và gây Lạm phát Tiền tệ tàn phá Kinh tế quốc gia. Khi đồng Tiền quốc gia bị Quyền lực Chính trị dùng độc tài phá giá nhiều lần để trở thành giấy lộn, thì Dân chúng tìm cách giữ Tiết kiệm bằng Ngoại tệ vững giá, hoặc dưới dạng Vàng hoặc đất đai. Dân không thể bỏ Ngoại tệ hay Vàng vào nền Kinh tế để thu vào đồng Tiền quốc gia liên hồi phá giá làm tiêu tan Tài sản tích lũy của mình.



                  Hãy hỏi chính những Lãnh đạo Nhà Nước CSVN hiện nay xem họ dám tích lũy Tài sản cho tương lai của họ bằng đồng Tiền VN liên tục phá giá hay không.





                  Những lý do

                  Lạm phát phi mã tại Việt Nam



                  Có những lý do Lạm phát liên quan đến tình trạng tăng vật gia chung quốc tế như năng lực dầu lửa hay nguyên vật liệu chẳng hạn.



                  Riêng đối với một Quốc gia, người ta cũng phân biệt Lạm phát vui sướng (Implation heureuse) khi nền Kinh tế phát triển và Lạm phát buồn đau (Implation malheureuse) khi lý do là tụt dốc Kinh tế.



                  Từ cuối năm 2010, những Ngân Hàng và Tổ chức Tài chánh quốc tế cảnh báo tình trạng tụt dốc Kinh tế thê thảm của Việt Nam. Lạm phát, Vật giá tăng có nghĩa là cùng một đơn vị Tiền tệ mà Dân chúng chỉ nhận được tương đương hàng hoá hay dịch vụ nhỏ hơn trước, hay nói cách khác cùng một món hàng hay một dịch vụ mà bây giời phải trả với giá tiền cao hơn nhiều.



                  Lý do thứ nhất: Thất bại của Kinh tế quốc doanh



                  Các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh được Nhà Nước đổ Vốn vào một cách bừa bãi. Nếu số Vốn đổ vào mà hiệu quả sản xuất tăng cao tương đương, thì không có lạm phát. Nhưng hiệu quả sản xuất của những Tập đoàn quốc doanh không những không tăng tương đương, mà còn kém sút đi:



                  * Số vốn đổ vào dồi dào tự nó tăng chi tiêu cho làm tăng lạm phát

                  * Những Tập đoàn quốc doanh tham nhũng thâm thụt vốn

                  * Những Tập đoàn này chi tiêu lãng phí

                  * Thay vì cố gắng tự sản suất Linh kiện hoặc Thiết bị, họ nhập cảng từ nước ngoài để ráp nối. Việc nhập cảng này làm giảm dự trữ ngoại tệ đồng thời nhập cảng Lạm phát nước ngoài vào.

                  * Khi mà hiệu quả tự sản xuất hàng hóa hay dịch vụ giảm xuống, những Tập đoàn này cho vào Giá thành những thua lỗ để lấy lại. Hàng hóa ít đi, mà giá thành lên cao, thì đó là lạm phát.



                  Lý do thứ hai: Quyền lực Chính trị phá giá Tiền tệ



                  Khi Ngân sách Nhà Nước thiếu hụt, các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh thua lỗ, nhưng Nhà Nước CSVN không chịu Dân chủ hóa Kinh tế, mà “kiên định“ Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế, thì Nhà Nước CSVN buộc lòng phải phá giá đồng bạc, cho in bừa Tiền ra để cung cấp cho các Tập đoàn quốc doanh và cho chi tiêu của Ngân sách. Đây là việc Lạm phát trực tiếp bằng phá giá Tiền tệ.



                  Chúng tôi xin trở lại tỉ dụ Quyền lực Chính trị các quốc gia Phi châu và Nam Mỹ thời thập niên 1980 đã làm Lạm phát, tàn phá Tiền tệ của mình.



                  Tỉ dụ một Sĩ quan tại Phi châu, trong rừng bò ra làm Đảo chính để lên làm Nguyên thủ Quốc gia. Kinh tế quốc gia ngưng trệ. Sĩ quan chỉ lo quân đội và công chức để củng cố quyền cai trị. Kinh tế ngưng trệ thì làm sao Sĩ quan ấy có đủ thu nhập cho Ngân sách mà nuôi lính và công chức. Một giải pháp dễ nhất là Sĩ quan chĩa súng vào Thống đốc Ngân Hàng, bắt phải in Tiền mới ra để trả lương. Nhưng khối tiền mới để trả lương này lại không có hàng hóa và dịch vụ tương đương. In tiền mới hết đợt này đến đợt kia, thì Tiền quốc gia trở thành giấy lộn vì không có hàng hóa và dịch vụ tương đương.



                  Nói tới tình trạng Lạm phát của những nước Phi châu và Nam Mỹ vào những thập niên 1980 -- Ba Tây lạm phát tới 1’000% -- Giáo sư Florin AFTALION viết về những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài:



                  ”... dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, page 2)



                  (... tại những nước đang phát triển, việc kiểm soát phát hành tiền tệ thường nằm trong tay của quyền lực chính trị, và không ở những ngân hàng trung ương độc lập. Lạm phát là một cách thế tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn tăng lương và trợ cấp các Công ty, cho phép bỏ dầu vào guồng máy.)





                  Độc tài Tiền tệ làm mất lòng tin

                  của Dân vào Tiền quốc gia



                  Đối với Dân, có bao nhiêu cái Độc tài thì Nhà Nước CSVN giữ hết khiến Dân chúng không nói ra, nhưng căm thù. Đó là yếu tố đang thúc đẩy cho cuộc NỔI DẬY sắp tới:



                  => Độc tài về Phát biểu



                  Nhà Nước CSVN cấm đoán mọi Phát biểu không thuận với việc làm của mình. Cấm tụ họp biểu tình bầy tỏ nguyện vọng. Cấm tự do viết lách. Cấm sử dụng truyền thông Internet để thông tin cho nhau về những sai trái của Nhà Nước. Nhà Nước dùng Báo Đài để chỉ ca ngợi mình.



                  => Độc quyền quản lý Đất Đai



                  Đây là việc độc tài để cướp Nhà Đất không phải chỉ đối với Dân Oan mà còn đối với các Tôn Giáo. Nhà Nước tha hồ trưng dụng mặt bằng để tham nhũng nhượng cho ngoại lai sử dụng. Nhà Nước cũng độc quyền tham nhũng khai thác tài nguyên quốc gia.



                  => Độc quyền nắm chủ đạo Kinh tế



                  Những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh được Nhà Nước đổ vốn cho để nắm chủ yếu sinh hoạt Kinh tế quốc gia. Những Tập đoàn này lại có Độc tài Chính trị che chở. Vinashin thất thoát vốn tới USD.4.4 tỉ mà được đảng và Nhà Nước tha thứ, thậm chí không tìm xem số tiền khổng lồ ấy vào túi riêng những ai.



                  => Độc tài Tiền tệ



                  Như trên chúng tôi đã nói, Tiền tệ mà Dân giữ là TƯ HỮU của Dân chứ không phải của Nhà Nước. Nhưng Nhà Nước giữ quyền Độc tài trên TƯ HỮU ấy bằng những quyết định tỏ tường đơn phương sau đây:



                  * Tự ý quyết định phá giá đồng Tiền, nghĩa là tự ý đánh hạ giá Tư hữu của Dân. Điều hệ trọng hơn cả đó là Tư hữu được Dân chắt bóp tích lũy cho tương lai để bảo đảm cuộc sống khi về già hay bệnh tật. Đây là độc tài cướp bóc vô nhân đạo.



                  * Khi mà Nhà Nước có quyền độc tài phá giá Tiền bạc, thì làm thế nào Dân có thể tin tưởng vào đồng Tiền mà giá trị của nó hoàn toàn nằm trong tay quyết định độc đoán của Nhà Nước.



                  * Không tin tưởng vào đồng Tiền bị phá giá liên hồi như vậy, Dân có quyền chọn lựa Vàng hay Đo-la để tiết kiệm bảo đảm tương lai, thì Nghị Quyết 11 mới đây về Vàng và Đo-la lại cấm đoán Dân tự do tích trữ Tài sản bảo đảm tương lai. Nghị Quyết 11 chính là một Nghị Quyết độc tài vậy. Như chúng tôi đã trình bầy trên đây về những lý do Lạm phát tại Việt Nam, việc Nhà Nước lấy cớ chống Lạm phát để ra Nghị Quyết 11 chỉ là việc nói láo che đậy hành động biển thủ.





                  Chủ mưu cướp giựt

                  Vàng và Đo-la



                  Thực chất của Nghị Quyết 11 về Vàng và Đo-la không phải là chống Lạm phát, mà là một mưu kế được che đậy nhằm thâu lấy Vàng và Đo-la về cho Nhà Nước. Đây đúng là câu tục ngữ đã nói: “TÚNG LÀM LIỀU“.



                  Thực vậy, Tụt dốc Kinh tế quốc doanh, Ngân sách thiếu hụt, dự trữ ngoại tệ cạn kiệt, vay mượn nước ngoài không ai cho vì muốn quỵt nợ, nên Nhà Nước TÚNG quẫn thực sự và dùng độc tài để LÀM LIỀU mưu toan cướp giựt Tư hữu của Dân.



                  Bản Tin sau đây nói về tình trạng “TÚNG LÀM LIỀU“ của Nhà Nước CSVN:



                  “HANOI -- Kinh tế VN thê thảm, và đồng bạc liên tục mất giá; đó là lý do dân chúng đổ xô mua vàng và đô là, và rồi chính phủ VN phảỉ cấm buôn vàng miếng và hạn chế buôn đô la.



                  Đó là các thông tin trên bài phân tích của David Dapice, giáo sư Đaị Học Harvard, qua bài “Here we go again: Vietnam’s spiral of credit and devaluation” (Lại xảy ra: phá giá và tín dụng trồi sụt ở VN).



                  Tác giả nói rằng VN mới phá giá để còn 21,000 đồng cho một đôla. Hồi cuối năm 2008, tỉ lệ naỳ là 17,000 đồng -- tức là mất giá 24% trong vòng 2 năm.



                  Thực tế, giá “thị trường tự do” bây giờ là hơn 22,000 đồng/đôla, và nhiều người muốn mua đôla là phải chịu giá này. Giá đó có nghĩa là VN phá giá gần 30%. Và vì lãi suất trên việc ký thác nhà bằng tiền đồng chỉ có 15%, thế nên an toàn là phải giấu đôla dưới giường, còn hơn là để tiền VN nằm trong ngân hàng.



                  Nguy hiểm là, VN đang gần như hết sạch dự trữ ngoại tệ -- con số chính xác là bí mật, nhưng có lẽ chỉ đủ khoảng 6 tuần lễ nhập cảng, và bằng phân nửa dự trữ ngoaị tệ của cùng thời kỳ năm ngoái.



                  Có nhiều lý do, theo Dapice. Lý do đầu tiên là chính sách kinh tế tập đoàn quốc doanh chủ đạo. Như thế là đốt tiền, hoang phí đất.“





                  Độc tài cấm Phát biểu, thì Dân có thể tạm yên tiếng mà nhịn. Độc tài cấm Tự do Tôn giáo, thì Dân có thể tự cầu nguyện tại gia. Nhưng độc tài đụng đến NỒI CƠM của Dân, cướp giựt Tiết kiệm bảo đảm lúc bệnh tật hay khi về già phải ĐÓI BỤNG, thì chắc chắn Dân phải NỔI DẬY bảo vệ cho Tư hữu chắt bóp từ mồ hôi nước mắt của mình.


                  Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

                  Geneva, 24.03.2011

                  Comment

                  • TAM73F
                    Super Moderator
                    • Apr 2009
                    • 2321

                    #24
                    GS Mỹ Báo Nguy Kinh Tế VN:
                    Cạn Đôla, Viễn Ảnh Mờ Mịt

                    HÀ NỘI (VB) -- Kinh tế VN thê thảm, và đồng bạc liên tục mất giá; đó là lý do dân chúng đổ xô mua vàng và đô là, và rồi chính phủ VN phảỉ cấm buôn vàng miếng và hạn chế buôn đô la.
                    Đó là các thông tin trên bài phân tích của David Dapice, giáo sư Đaị Học Harvard, qua bài “Here we go again: Vietnam’s spiral of credit and devaluation” (Lại xảy ra: phá giá và tín dụng trồi sụt ở VN).
                    Tác giả nói rằng VN mới phá giá để còn 21,000 đồng cho một đôla. Hồi cuối năm 2008, tỉ lệ naỳ là 17,000 đồng -- tức là mất giá 24% trong vòng 2 năm.
                    Thực tế, giá “thị trường tự do” bây giờ là hơn 22,000 đồng/đôla, và nhiều người muốn mua đôla là phải chịu giá này. Giá đó có nghĩa là VN phá giá gần 30%. Và vì lãi suất trên việc ký thác nhà bằng tiền đồng chỉ có 15%, thế nên an toàn là phải giấu đôla dưới giường, còn hơn là để tiền VN nằm trong ngân hàng.
                    Nguy hiểm là, VN đang gần như hết sạch dự trữ ngoại tệ -- con số chính xác là bí mật, nhưng có lẽ chỉ đủ khoảng 6 tuần lễ nhập cảng, và bằng phân nửa dự trữ ngoaị tệ của cùng thời kỳ năm ngoái.
                    Có nhiều lý do, theo Dapice. Lý do đầu tiên là chính sách kinh tế tập đoàn quốc doanh chủ đạo. Như thế là đốt tiền, hoang phí đất.
                    Thêm nữa, VN bây giờ vào danh sách các nước thu nhập trung bình, nên tiền vay sẽ không nhẹ lãi suất như xưa. Và tín dụng trong nước bây giờ giới kinh doanh ưu tiên bơm vào điạ ốc và cho vay xây cất. Thế nên đất Hà Nội lên tới giá 10,000 đôla/mét vuông, cao hơn cả Bắc Kinh. Đất lại không bị thuế, nên nhiều người vào đầu tư điạ ốc thay vì đưa tiền vào thị trường chứng khoán, nơi có trị giá chưa tới phân nửa trị giá thời năm 2007.
                    Con đường kinh tế phía trước của VN quả nhiên là mờ mịt, theo lời giaó sư Dapice.

                    VÀI Ý KIẾN CỦA BẠN ĐỌC:
                    Được gửi bởi Người trong nước (Guest) vào 03/24/2011
                    Theo tôi,biện pháp siết chặc tiền tệ(nghị quyết 11 cấm mua bán trao đổi ngoại tệ) không thể nào ngăn cản lạm phát mà có tác dụng ngược là lạm phát càng lớn!Thị trường đen vẫn là "xương sống" của sinh hoạt nhân dân.Có một điều phi lý và bất công là cấm người dân trao đổi ngoại tệ còn các ông quan tư bản đỏ thì tha hồ mua tiền đô của nhà nước(với giá rẽ hơn thị trường) để gửi cho con em học đang du học với số lượng lớn đến nổi nhà nước bị chảy máu ngoại tệ .Nghị quyết 11 là Bất công.

                    Được gửi bởi David (Guest) vào 03/23/2011
                    Thử làm con tính nha quý vị! Mỗi Du học sinh sang Mỹ thì mỗi năm cha mẹ chúng(những cán bộ đảng viên các cấp ,những tư bản đỏ) gửi cho chúng 17500 đôla (theo yêu cầu của các trường nhận chúng học) .Hiện tại Mỹ hằng năm có 14000 du học sinh từ VN sang.Vậy một năm số tiền đô la cha mẹ chúng bắt buộc gửi cho chúng sẽ là :17500đô X 14000SV= 245 triệu đô la.Số đô la chảy máu từ trong nước trốn thuế này từ đâu ra nhỉ? Từ tiền của Việt kiều gửi về thân nhân chúng ta đấy .Thân nhân chúng ta đổi ra tiền đồng để xài theo giá rẽ mạt so với chợ đen hiện tại là chúng ta đã đóng thuế cho chúng rồi! 100đô gửi về đổi ra chỉ còn 90 đô thôi! Nếu hết tiền đồng để đổ,chúng in thêm! Để rồi sau này đổi 100 đô tính lại chỉ còn 80 đô .NGƯNG GỬI TIỀN VỀ trong lúc này là góp bàn tay cho CSVN Phá sản bà con ơi!

                    Được gửi bởi Phó thường Dân (Guest) vào 03/23/2011
                    Sau giáo sư kinh tế học Tân Gia Ba là David Koh đã tiên đoán là VN đang sắp sửa phá sản thì nay thêm một giáo sư kinh tế Đại Học Harvard Mỹ nữa cùng một nhận định! Vậy thì bà con Việt kiều nên nhân cơ hội này,mỗi người mỗi bàn tay,KHÔNG GỬI TIỀN ĐÔ về VN trong chỉ 3 thang từ đầu tháng 4/2011 thôi thì chúng không còn có khoản nào để cựa quậy nữa.Chỉ 3 tháng thôi mà bà con là CSVN sẽ PHÁ SẢN. Kính mong bà con vui vẽ hưởng ứng !

                    Được gửi bởi cach mang hoa sen (Guest) vào 03/22/2011
                    đồng bào chúng ta hãy chấm chứt gởi tiền về vietnam, để cho mấy ông chủ tịch nước ổng chống chèo kinh tế , có vậy khi không còn làm gì được nữa, thì dân mình mới có đa nguyên đa đãng, ai giỏi thì nắm chính quyền mang quyền lợi cho dân.


                    Sau đây là tin tức bổ túc thêm:

                    David Dapice, giáo sư Đaị Học Harvard, qua bài “Here we go again: Vietnam’s spiral of credit and devaluation” (Lại xảy ra: phá giá và tín dụng trồi sụt ở VN).


                    http://www.eastasiaforum.org/2011/03...d-devaluation/
                    Asia Pacific Economic Outlook

                    Economy 2011 Witnessing Optimistic Outlook
                    http://www.uni-bros.com/en/news.php/...id=16853/cid=4

                    -------------------------oooooooooooooooooo-----------------------
                    Last edited by TAM73F; 03-30-2011, 02:54 PM.

                    Comment

                    • TAM73F
                      Super Moderator
                      • Apr 2009
                      • 2321

                      #25
                      Cơn sốt vàng tiếp tục leo thang đến bao giờ?
                      Ngay sau khi giá vàng thế giới lập kỷ lục 1.400 USD/ounce, giá vàng trong nước bán ra vọt lên 35,35 triệu đồng/lượng. Cơn sốt vàng tiếp tục leo thang đến bao giờ?

                      Rất nhiều chuyên gia trên thế giới đã cảnh báo tình trạng “quả bóng vàng” sẽ xì hơi do giá trị của chúng bị định giá quá cao so với thực tế.

                      Vì Thông tư 22?
                      Mặc dù là ngày cuối tuần nhưng giá vàng sáng ngày 6/11 mua vào 35,25 triệu đồng/lượng và bán ra 35,35 triệu đồng/lượng, tăng gần 350 nghìn đồng/lượng so với ngày 5/11.
                      Trong khi đó, ở bên kia bán cầu, vài ngày sau cuộc họp chính sách tiền tệ tháng 11 của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED), sau khi có thông tin FED tuyên bố bơm ra thị trường 600 tỷ USD, lập tức đẩy giá vàng giao ngay tại New York tiệm cận 1.400 USD/ounce, đạt kỷ lục chưa từng có trong lịch sử.
                      Lý giải nguyên nhân giá vàng trong nước tăng giá, các doanh nghiệp kinh doanh vàng cho rằng, yếu tố đầu tiên là do giá thế giới tăng.
                      Lâu nay, các doanh nghiệp vẫn tính toán rằng, nếu giá trong nước chỉ cần cao hơn giá thế giới khoảng 80 nghìn - 150 nghìn đồng là có lãi và họ sẽ nhập về; ngược lại, nếu thấp hơn con số nói trên họ sẽ không nhập và nếu thấp hơn nữa, họ sẽ xuất ngược.
                      Đem giá vàng thế giới ngày 6/11 quy đổi ra VND qua cầu USD, tương đương 34,89 triệu đồng/lượng (đã tính thuế và phí) so với giá trong nước thì giá thế giới thấp hơn 450 nghìn đồng/lượng. Như vậy, giá vàng trong nước đã vượt quá xa so với giá thế giới và không loại trừ yếu tố làm giá từ những đầu mối nắm giữ cơ số vàng lớn.
                      Nguyên nhân tiếp theo được cho là từ khi Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 22/TT-NHNN về quản lý hoạt động huy động và cho vay bằng vàng đối với các tổ chức tín dụng đã khiến cho nguồn cung vàng trên thị trường bị khan hiếm nên đẩy giá leo cao.
                      Về vấn đề này, ông Nguyễn Ngọc Bảo, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) khẳng định: việc ban hành Thông tư 22 là cần thiết nhằm ổn định thị trường tiền tệ. Trong đó, một lượng vàng rất lớn từ dân cư sẽ được chuyển đổi thành tiền, để tái đầu tư cho nền kinh tế, sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội. Đồng thời, khi thực hiện chính sách này, hệ thống ngân hàng gần như đứng ngoài sự “nhảy múa” của vàng khi giá vàng thế giới lên xuống thất thường. Nhờ đó, rủi ro tín dụng bằng vàng sẽ không còn; đồng thời cũng triệt tiêu hành vi từ một số tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn bằng tiền chuyển đổi để quay vòng đầu cơ vàng, ngoại tệ, ảnh hưởng xấu đến thị trường ngoại hối cũng như tỷ giá.
                      Trước cơn sốt vàng, rất nhiều chuyên gia trên thế giới đã cảnh báo tình trạng “quả bóng vàng” sẽ xì hơi do giá trị của chúng bị định giá quá cao so với thực tế, trong khi yếu tố “giá trị sử dụng” của vàng rất thấp.

                      Người Mỹ được gì?
                      Không phủ nhận rằng, giá vàng gần đây tăng chóng mặt là do giá trị đồng USD bị giảm sút nghiêm trọng khi chính phủ Mỹ tiếp tục thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ với mong muốn phục hồi kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm.
                      Xung quanh chính sách này của Mỹ, giới phân tích tài chính nhận xét: sở dĩ Mỹ không lo sợ đồng USD giảm giá vì đồng tiền này hiện ngự trị trong toàn bộ nền kinh tế thế giới, từ dự trữ quốc gia đến dự trữ của các tổ chức tài chính quốc tế (WB, IMF…), đồng thời đó còn là công cụ thanh toán chủ yếu trong giao thương quốc tế.
                      Còn theo ông Phí Đăng Minh, nguyên Phó vụ trưởng Vụ Quản lý Ngoại hối (Ngân hàng Nhà nước), hiện nay số dự trữ vàng của Mỹ lên tới 8.000 tấn, khi USD giảm giá, cả thế giới sẽ lo sốt vó đi tìm các công cụ bảo toàn giá trị tài sản và vàng là sự chọn lựa số 1. Vì thế, khi thực thi phá giá đồng USD, Mỹ vẫn khôi phục được kinh tế, trong khi giá trị các khoản nợ và thâm hụt thương mại giảm và điều quan trọng hơn là tài sản quốc gia lại tăng lên nhờ vàng tăng giá.
                      Một số người bi quan rằng, có thể đây là khởi đầu cho cuộc chiến tiền tệ và sau đó là chiến tranh thương mại trong một tương lai không xa. Bởi lẽ, với chính sách này, xuất khẩu của Mỹ sẽ thành công và nhập khẩu thu hẹp lại, trong khi các nước trên thế giới sẽ là nơi tiêu thụ hàng hóa cho Mỹ. Hiện tại, rất nhiều nước có đồng tiền mạnh ra sức bảo vệ đồng tiền của mình nhằm tránh sa vào cái bẫy tiền tệ nói trên.
                      Những ngày này, ở đâu cũng râm ran dự đoán tương lai ảm đạm của nền kinh tế thế giới vì lo ngại xuất hiện những dấu hiệu tương tự như cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1930-1931. Và có vẻ như tất cả đang nín thở chờ đợi sự phục hồi của kinh tế Mỹ hơn là chứng kiến nhiều quốc gia đang nỗ lực bảo vệ giá trị đồng tiền của mình không cho tăng giá so với USD.

                      Câu chuyện của Việt Nam
                      Theo số liệu từ Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, hiện tại, số lượng vàng tích trữ trong dân lên tới 1.000 tấn. Mặc kệ số vàng nói trên là bao nhiêu, ma lực từ vàng vẫn khiến người dân bất chấp rủi ro, tiếp tục lao vào vòng xoáy đầu cơ, tích trữ, kể cả khi giá trong nước cao hơn giá thế giới cả nửa triệu đồng/lượng. Tại sao có hiện tượng như vậy?
                      Một lãnh đạo của Ngân hàng Nhà nước thừa nhận rằng, mấu chốt vấn đề ở đây một phần là do giá vàng trên thế giới tăng nhưng ở Việt Nam, yếu tố lạm phát là một trong những nguyên nhân chính khiến người dân đầu cơ tích trữ vàng để bảo toàn giá trị tài sản của mình.
                      Theo Tổng cục Thống kê, CPI năm 2008 tăng 22,97%, năm 2009 tăng 6,88% và 10 tháng đầu năm tăng 8,75%, tối ngày 6/11, tại phiên họp thường kỳ, Chính phủ khẳng định CPI năm nay dưới 10%; cộng dồn, chỉ trong vòng chưa đầy 3 năm, giá trị đồng tiền đã bị tổn thương ít nhất 38,53%, tính đến nay.
                      Lý thuyết kinh tế vĩ mô cho rằng, lạm phát thường là hệ quả của 3 yếu tố: tiền tệ, chi phí đẩy và cầu kéo. Đối với trường hợp Việt Nam hiện nay, các chuyên gia đều nhấn mạnh lạm phát phần lớn là do yếu tố tiền tệ mà nguyên nhân sâu xa là bội chi ngân sách quá mức, nhưng không tạo thêm nhiều việc làm và của cải như kỳ vọng. Bởi thế, lực lượng tiền tệ này đã quay trở lại tấn công vào hàng hóa thiết yếu, tiêu dùng, tác động xấu đến đời sống và làm trầm trọng thêm tâm lý găm giữ, tích trữ tài sản (vàng, USD) trong xã hội.
                      Từ thực tế này, có thể thấy, để vàng đóng góp giá trị thực sự cho nền kinh tế, một trong những vấn đề cốt lõi vẫn là kiềm chế lạm phát ở mức thấp nhất và ổn định giá trị đồng tiền. Còn nếu ngược lại, nền kinh tế sẽ phải sống chung với sự nổi loạn của vàng, chấp nhận thực tế dòng tiền bị rối ren, bên cạnh một chút lợi ích từ nghề... sản xuất, buôn bán két sắt mà vàng mang lại!
                      Theo Nguyễn Hoài
                      VnEconomy

                      source: http://dantri.com.vn/c76/s76-435391/...en-bao-gio.htm

                      Comment

                      • TAM73F
                        Super Moderator
                        • Apr 2009
                        • 2321

                        #26
                        VIỆT NAM sắp có lệnh :
                        BUỘC MỌI NGƯỜI VÀO VIỆT NAM PHẢI ĐỔI LẤY VND TẠI SÂN BAY .



                        Vài bình luận trong và ngoài nước:

                        Xin lỗi các bạn thấy khó chịu vì các câu viết hoa, nhưng tôi không hề làm để chơi, các câu này cực kỳ quan trọng đến túi tiền các bạn.
                        Tại sân bay, mọi người vừa xuống máy bay phải lật túi đổi ra VND, có bao nhiêu ngoại tệ đều phải đổi ra hết, BẮT BUỘC chứ không phải khuyến khích.

                        Không biết họ vô hồ sơ làm sao, hay đưa cho tờ biên nhận, khi trở ra ngoại quốc thì được mua lại với số ít hơn hoặc bằng số bán ra cho họ.

                        Ai làm mất tờ biên nhận này thì mang họa, ôm 1 đống VND vô giá trị ra ngoại quốc nếu còn dư lại lúc xuất cảnh. Ngoài ra còn giá ngoại tệ, không biết họ tính sao, và bán ra, mua vô, giá chênh lệch ra sao.

                        Họ có thể vô computer để khỏi có biên nhận, dùng số passport làm "account number". Nhưng cũng khó vì nhiều loại passport khác nhau, và nếu computer bị down thì kẹt to, hoặc bị crash mất data.

                        Nhiều người như từ Anh quốc vừa có EUR, vừa có Bảng Anh, có khi có cả USD, thì rắc rối to.

                        Kiều bào đang cancel vé máy bay, hoặc chưa mua thì không mua, cho mùa hè này, và có thể cả Noel, Tết năm sau.
                        ==============================

                        Sau này, công an "gặp đô la, vàng là tịch thu", và bắt cả người.

                        Tôi nghĩ họ không giựt, nhưng sẽ cho thời gian đổi lấy "trái phiếu vàng", "trái phiếu USD", có thể chuyển nhượng, lời bằng VND; còn nếu bán thì CSVN sẽ mua bằng VND.

                        Như vậy, ai có 100 lượng vàng thì có trái phiếu 100 lượng, năm sau lời giá trị bằng 1, 2 lượng bằng VND. Trái phiểu 100 lượng vẫn còn đó, có thể đổi ra VND khi đáo hạn, hoặc mua lại trái phiếu vàng tiếp theo.

                        Qua thời hạn nào đó, cho là 30 ngày bán cho CP hoặc đổi ra trái phiếu, thì Vàng Lá là hàng quốc cấm tại VN, ai có 1 lượng cũng bị tịch thu.

                        Quá thời hạn này, Vàng trang sức và USD thì chỉ có giới hạn rất thấp, ví dụ tổng cộng không quá 3 lượng vàng trang sức/ người, và không quá 1000 USD/ người. Ai có quá thì bị tịch thu.

                        ==================

                        If this is true one would be stupid to carry USD or foreign currency. One is better off to obtain as much cash he needs with an ATM card. Otherwise you end up with a lot of worthless VND that is devaluating by the day.

                        The VN gvt is desperate to find ways legal or not to pay off the Vinashin debt. In no time tourism is going to falter. This will sink the economy in no time. Do the commies think people are as stupid as they are ?


                        =================

                        Comment

                        • TAM73F
                          Super Moderator
                          • Apr 2009
                          • 2321

                          #27
                          Giáo sư người Mỹ nói chuyện về tình hình VN ( bằng tiếng Việt)

                          Kính chuyển đến các Niên Trưởng

                          Comment

                          • TAM73F
                            Super Moderator
                            • Apr 2009
                            • 2321

                            #28


                            Cướp giật rình rập du khách
                            Tác giả: Theo Thanh Niên
                            Bài đã được xuất bản.: 09/05/2011 10:00 GMT+7


                            Tại cuộc gặp với lãnh đạo TP.HCM cuối tháng trước, Phó chủ tịch Phòng Thương mại Mỹ Christopher C.Twomey khuyến cáo lãnh đạo địa phương cần có biện pháp để ngăn chặn nạn cướp giật, nếu không sẽ mất danh tiếng là điểm đến an toàn.


                            Ngồi ăn cũng bị giật đồ


                            Theo Công an TP.HCM, các vụ cướp giật tài sản của du khách diễn ra muôn hình vạn trạng. Ngày 3.3, ở góc đường Phạm Ngũ Lão - Nguyễn Thị Nghĩa (P.Phạm Ngũ Lão, Q.1), chị Anna Julia Urban, du khách người Đức, đang đi bộ thì bị 2 đối tượng đi xe gắn máy ép sát giật túi xách. Rất may, Công an Q.1 trên đường tuần tra đã phát hiện và bắt giữ, trả lại tài sản cho khách.
                            Mới đây, tại giao lộ Đồng Khởi - Mạc Thị Bưởi (P.Bến Nghé, Q.1), bà Kanda Michiyo (Nhật) đang đi thì bị hai thanh niên chạy xe gắn máy giật túi xách nhưng không thành. Hậu quả bà Kanda Michiyo té xuống đường, bị thương nặng, hôn mê.
                            Có nhiều vụ khách bị cướp khi đang ngồi trong quán. Ngày 4.3, anh Toru Yamada, du khách Nhật Bản, đang ngồi ở tiệm internet số 38 Tôn Thất Tùng (P.Bến Thành, Q.1) thì bị giật túi xách, bên trong có nhiều đồ đạc giá trị. Ngày 10/2, trên đường Phạm Ngũ Lão, Q.1, anh Shuichi Kitahara, cũng người Nhật, đang ngồi ăn phở thì bị người đi xe máy giật túi xách. Người dân đuổi theo giật lại được túi, nhưng thủ phạm tẩu thoát. Ngày 12/4, trên đường Trần Quý, P.6, Q.11, ông Liu Rui Zeng và vợ là bà Yuan Mei Xia, khách du lịch Trung Quốc, đang đi bộ băng qua đường đã bị 2 thanh niên chạy xe gắn máy giật túi xách.



                            Đối tượng cướp giật thường rình lúc du khách qua đường để ra tay



                            Các khu vực phức tạp, khách dễ bị giật đồ nhất là chợ Bến Thành, xung quanh Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, trước Bưu điện Thành phố... Anh Lê Hoài Nhơn - nhân viên Đội bảo vệ du khách, thường được gọi là "áo xanh", trực chốt ở Bưu điện thành phố - cho biết mới đây khi đang trực thì anh nhận được tin từ đồng nghiệp báo là đối tượng vừa giật đồ của du khách đang phóng xe về hướng bưu điện, anh và đồng nghiệp phối hợp đón lõng. Truy đuổi đến gần dinh Thống Nhất thì các anh bắt được thủ phạm và giao cho công an. Tang vật là sợi dây chuyền vàng 3 lượng. Nạn nhân - một du khách Thái Lan - cho hay lần trước mình tới TP.HCM du lịch cũng bị giật mất điện thoại.
                            Tình trạng này - theo anh Nguyễn Minh Tuân - "áo xanh" trực chốt Bảo tàng Chứng tích chiến tranh - khiến du khách Nhật rất cảnh giác, hầu như chẳng muốn người lạ tới gần. "Thấy họ dò đường, tôi tới để giúp đỡ nhưng họ xua tay", anh Tuân nói.
                            "Hễ thấy khách đeo dây chuyền là tôi khuyên họ tháo ra cất ngay. Vậy mà có người không nghe, mới vừa băng qua đường thì bị giật mất", anh kể.
                            Theo các "áo xanh", đối tượng thường lợi dụng lúc du khách băng qua đường, lo nhìn xe cộ là ra tay.


                            Làm xấu hình ảnh quốc gia

                            Ông Phạm Xuân Anh, giám đốc một công ty du lịch chuyên về khách tàu biển, cho rằng thời gian gần đây nạn cướp giật tài sản của du khách diễn biến phức tạp hơn trước. Cướp giật xảy ra ngay trong trung tâm thành phố, nơi có đông người qua lại, do du khách chủ quan vì nghĩ rằng đây là nơi an toàn.
                            Vì thế, câu cửa miệng của các hướng dẫn viên khi đưa khách đến điểm tham quan là "hãy cẩn thận, đi trên vỉa hè, dây máy chụp ảnh cột chặt trong tay, gửi dây chuyền và tài sản có giá trị ở khách sạn".
                            Du khách sau khi bị cướp giật đã phản ánh với công ty du lịch nước ngoài (đơn vị đối tác đưa khách cho công ty Việt Nam); đồng thời lên các diễn đàn về du lịch phản ánh. Sau mỗi bài viết là hàng trăm bình luận của nhũng người khác. "Việt Nam là một điểm đến tuyệt vời. Nhưng trong rất nhiều năm đi du lịch của mình, đây là lần đầu tiên tôi bị cướp giật, địa điểm gần khách sạn Rex. Do vậy, những lần sau đi ra đường, tôi chẳng dám mang theo thứ gì giá trị", một du khách nước ngoài viết trên trang tư vấn du lịch nổi tiếng Tripadvisor.
                            Theo ông Trần Vĩnh Lộc, Giám đốc Công ty du lịch Lạc Hồng Voyages, trong du lịch, thông tin truyền miệng là rất quan trọng, tác động lớn tới việc du khách quyết định chọn điểm đến. Do đó, nếu không có biện pháp hạn chế nạn cướp giật, du khách sẽ "một đi không trở lại", các kế hoạch quảng bá du lịch cũng khó đem lại hiệu quả.
                            -----------------//-------------------

                            Comment

                            • TAM73F
                              Super Moderator
                              • Apr 2009
                              • 2321

                              #29
                              Khách Vietnam Airlines tố bị hành hung trên máy bay
                              Dân Việt - Ca sĩ Quang Hà cho biết, trong chuyến bay đêm 18.4.2011 của Vietnam Airlines từ Hà Nội vào TPHCM, anh Lê Minh Khương, HLV trưởng đội tuyển Taekwondo Việt Nam đã bị nhân viên an ninh hành hung.

                              Tối 18.4 ca sĩ Quang Hà đi trên chuyến bay VN1169 của hãng hàng không Vietnam Airlines, từ Hà Nội vào TP.HCM.

                              Quang Hà kể: “Lẽ ra chuyến bay sẽ cất cánh rời sân bay Nội Bài lúc 21 giờ 45 phút nhưng đến 22 giờ 05 phút mới khởi hành. Khi bay đến TPHCM, tiếp viên trưởng thông báo: Vì lý do thời tiết, mưa lớn nên máy bay không thể hạ cánh được. Máy bay phải bay tới, bay lui rất nhiều vòng trên bầu trời TPHCM.

                              Một lúc sau, tiếp viên trưởng tiếp tục thông báo: Máy bay buộc phải quay lại sân bay Đà Nẵng vì không thể nào hạ cánh được.


                              Quang cảnh nhốn nháo trên chuyến bay VN1169 đêm 18.4 rạng sáng 19.4. Ảnh do ca sĩ Quang Hà cung cấp.

                              Chờ ở sân bay Đà Nẵng khoảng 30 phút, tất cả chúng tôi được thông báo là thời tiết ở TP.HCM đã tốt, chuyến bay sẽ cất cánh sau ít phút nữa. Đợi mãi, không thấy động tĩnh gì, tôi mới hỏi một cô tiếp viên, thì được cô này giải thích: Có một hành khách đòi xuống, không chịu tiếp tục bay nữa.

                              Tiếp viên này còn cho biết thêm, nếu hành khách này không bay, cả chuyến bay sẽ bị ảnh hưởng vì sẽ mất thời gian kiểm tra hành lý, trước khi vị khách đó bước xuống".

                              Ca sĩ Quang Hà kể tiếp: "Tôi và anh Quang Cường nóng ruột, muốn về TPHCM sớm nên đã tìm gặp vị khách đó, với mục đích thuyết phục anh này tiếp tục chuyến bay. Tôi được biết anh ấy tên là Lê Minh Khương, một huấn luyện viên môn Taekwondo.

                              Theo nhận xét công tâm của tôi, anh Khương là một người rất lịch sự và nhã nhặn. Anh Khương cho biết là anh không có ý đòi xuống, không bay nữa mà chỉ yêu cầu cô tiếp viên trưởng trả lại cho anh cuống vé so ghế ngồi và nên ăn nói nhã nhặn với khách hàng.

                              Sau đó, tôi và anh Quang Cường đã kiên nhẫn gặp cô tiếp viên trưởng, nói rõ yêu cầu của anh Khương, với mong muốn mọi việc sẽ tốt đẹp, chuyến bay được tiếp tục bình thường. Nhưng sau đó, cửa máy bay mở, một nhân viên an ninh tên C.T bước lên.

                              Thay vì hỏi nguyên nhân thế nào, anh này đã có thái độ quá đáng, nạt nộ mời Khương xuống máy bay. Anh Quang Cường quá bất bình đã phản ứng: “Anh không được đối xử bất lịch sự với anh Khương như thế!”, C.T. hầm hè, rời máy bay.


                              Ca sĩ Quang Hà mệt mỏi tại sân bay Đà Nẵng đêm 18.4

                              Năm phút sau, có khoảng 20 nhân viên an ninh bước lên, đồng loạt xúm vào khống chế anh Khương. Một người cầm dùi cui điện đánh vào bụng, bẻ tay anh trước mặt hàng trăm hành khách. Mọi người đều rất bất bình và cảm thấy sợ hãi trước cách hành xử này.

                              Bố của anh Khương là một bác sĩ, hơn 70 tuổi, cũng bị một nhân viên an ninh bẻ quặt tay ra sau và phải nghe những lời nặng nề.

                              Thấy sự hung hăng, thô lỗ của họ, tôi, anh Quang Cường, người trợ lý và một số hành khách đã quyết định không tiếp tục bay nữa, chuyển sang chuyến khác. Chúng tôi đã lang thang, vật vạ ở sân bay đến 6 giờ sángthì đáp chuyến bay VN1305 của Vietnam Airlines, rời sân bay Đà Nẵng".

                              "Luật sư của anh Khương vừa gọi điện thoại cho tôi, hỏi tôi có thể làm chứng cho vụ kiện này không. Tôi đã hứa là tôi sẽ làm chứng vụ này, với mong muốn Vietnam Airlines sẽ có thái độ nhã nhặn, tôn trọng khách hàng của mình hơn”, ca sĩ Quang Hà khẳng định.

                              Tối 19.4, phóng viên Dân Việt đã liên hệ với anh Lê Minh Khương, HLV trưởng đội tuyển Taekwondo Việt Nam. Qua điện thoại, HLV Lê Minh Khương đã xác nhận sự việc và cho biết sẽ có ý kiến chính thức về việc này.
                              Lê Ngọc Dương Cầm - P.V

                              Comment

                              • TAM73F
                                Super Moderator
                                • Apr 2009
                                • 2321

                                #30
                                Lại chìm tàu trên Vịnh Hạ Long

                                28 du khách Pháp thoát nạn

                                Khoảng 3 giờ chiều ngày 8 tháng 5, một chiếc tàu du lịch đột ngột chìm trong khi đang neo đậu trước hang vịnh Hạ Long.

                                Khoảng 28 du khách quốc tịch Pháp lúc đó đều đang ở trong hang nên may mắn thoát nạn.

                                Vịnh Hạ Long cảnh đẹp nhưng không an toàn.

                                Theo VNExpress, công ty Hải Long sở hữu chiếc tàu du lịch nói trên. Đại diện công ty này cho biết không có thiệt hại về người mặc dù hầu hết thủy thủ đoàn Pháp có mặt trên tàu lúc tai nạn xảy ra.

                                Người ta đang trục vớt tàu và thu hồi hành lý, giấy tờ, tư trang của du khách Pháp để đoàn có thể tiếp tục cuộc hành trình đến thành phố Đà Nẵng ngay ngày hôm sau.

                                Tất cả 28 du khách quốc tịch Pháp đều đã được đưa về khách sạn ở Bãi Cháy để tạm trú chờ nhận lại hành lý, giấy tờ tùy thân…

                                Trước khi bị chìm, tàu của công ty Hải Long neo đậu cách đảo Ti Tốp khoảng 300m. Một số nhân chứng nói rằng chiếc tàu Hải Long đã bị một chiếc tàu khác chở nước đâm phải làm vỡ thân tàu. Trong vòng 30 giây sau, chiếc tàu Hải Long bị dựng đứng thẳng và chìm hẳn xuống đáy vịnh.

                                Đây là vụ chìm tàu thứ hai xảy ra từ đầu năm 2011 đến nay tại vịnh Hạ Long, tức chưa đầy 3 tháng sau.

                                Vụ đắm tàu Trường Hải 6 hôm 17 tháng 2 tại vị trí tương tự, cũng cách đảo Ti Tốp vài trăm thước làm thiệt mạng 11 du khách và một hướng dẫn viên người Việt Nam.

                                Vụ chìm tàu Trường Hải đã gây xúc động dư luận khắp thế giới vì các nạn nhân bị thiệt mạng thuộc 8 quốc gia khác nhau, không kể Việt Nam.

                                Sau vụ này, số lượng du khách Pháp đến Vịnh Hạ Long giảm hẳn. Rất nhiều tours bị hủy. Nhiều du khách Pháp chọn các khách sạn ở bãi biển để trú ngụ qua đêm thay vì ngủ trên tàu neo đậu ở vịnh.

                                Cuộc kiểm tra được tiến hành sau vụ chìm tàu đáng tiếc nói trên cho thấy phần lớn tàu du lịch đưa đón du khách đi thăm các hang động của Vịnh Hạ Long không bảo đảm an toàn.

                                Nhiều tàu không kín nước vách chắn thủy, hoặc thiếu vật dụng cứu hỏa, cứu nạn; hệ thống điện dễ trục trặc, cháy nổ; thậm chí có tàu không đủ áo phao cho du khách sử dụng khi cần thiết…
                                Last edited by TAM73F; 05-14-2011, 12:54 AM.

                                Comment

                                Working...