17/04/2026

Bản đánh máy lời ca khúc “Revolution,” với những ghi chú viết tay của John Lennon.
Vào ngày 28/02/2026, Mỹ và Israel đồng loạt tấn công Iran, khởi động cuộc chiến tranh chống lại quốc gia Hồi Giáo vốn là kẻ thù nguy hiểm nhất của Israel trong khu vực. Ngay từ ngày đầu cuộc chiến, tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nhiều lần tuyên bố chiến thắng; kêu gọi đồng minh hỗ trợ không thành rồi chuyển sang sỉ nhục; đe dọa xóa sổ nền văn minh Iran… Tính đến ngày 10/4, Aljazeera tổng kết có khoảng trên 2,000 người Iran, 26 người Isarel, 13 người Mỹ, hơn 1,800 người Lebanon thiệt mạng. NBC ước tính Mỹ đã chi từ 28 đến 45 tỉ đô la cho cuộc chiến. Vào ngày 17 tháng 3 năm 2026, Joe Kent, Giám đốc Trung tâm Chống khủng bố Quốc gia của Mỹ đã tuyên bố từ chức để phản đối cuộc chiến. Theo ông, không có mối đe dọa nào trực tiếp từ Iran; Mỹ gây chiến chỉ là vì Israel.
Theo dõi tình hình chính trị của nước Mỹ trong hiện tại, tự nhiên tôi nghĩ đến những ca khúc phản chiến thời chiến tranh Việt Nam. Những ca khúc này ra đời vào khoảng cuối thập niên 1960s, khi phong trào phản chiến ở Mỹ bùng phát dữ dội, là một trong những nguyên nhân khiến chính quyền Mỹ quyết định rút quân ra khỏi Việt Nam vào năm 1973.
Nghe lại nhạc phản chiến thời chiến tranh Việt Nam, tôi lại tiếp tục lần mò sâu hơn về quá khứ để tìm nghe những ca khúc chiến tranh với hình ảnh chính nghĩa hào hùng. Trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, hầu hết người Mỹ đều cho rằng cuộc thế chiến là cần thiết, đáng tự hào, khi nước Mỹ dẫn đầu phe đồng minh đánh bại cả Đức Quốc Xã và Phát Xít Nhật. Một ca khúc tôi mê từ năm mới hơn mười tuổi ở Việt Nam là “The Longest Day”, nhạc chính của cuốn phim kinh điển cùng tên về ngày đồng minh đổ bộ lên bãi biển Normandie vào ngày 6/6/1944 để giải phóng Châu Âu. Giai điệu của nó là một khúc quân hành đơn giản, hào hùng. Đoạn cuối của phim là hình ảnh chiếc nón sắt của một người lính bỏ lại trên bãi biển Normandi, trên nền nhạc là phần đồng ca của những người lính:
Many men came here as soldiers
Many men will pass this way
Many men will count the hours
As they live the longest day
Many men are tired and weary
Many men are here to stay
Many men won't see the sunset
When it ends the longest day…
(Tóm dịch: Bao người đã đến đây trong quân phục, sẽ đi qua con đường này, sẽ đếm từng giờ trôi khi họ sống qua ngày dài nhất. Bao người đàn ông đang mệt mỏi rã rời, có người sẽ mãi mãi ở lại nơi đây, có người sẽ chẳng còn thấy ánh hoàng hôn khi nó khép lại ngày dài nhất…)
Ca khúc ghi mãi vào tâm trí của người nghe với lòng tri ân, ngưỡng mộ hàng triệu người lính đã ngã xuống vì hòa bình của nhân loại.
Một ca khúc chiến tranh hào hùng nữa, cũng là nhạc phim của một cuốn phim để đời khác về Đệ Nhị Thế Chiến, đó là Bridge Over The River Kwai (Cầu Sông Kwai). Cuốn phim kể một câu chuyện đầy kịch tính về một nhóm tù binh Anh Mỹ, bị quân đội Nhật bắt và buộc phải xây dựng một cây cầu chiến lược bắt qua giòng sông Kwai. Đoạn phim gây ấn tượng mạnh khi giai điệu chính “Cầu Sông Kwai” vang lên qua tiếng huýt sáo, tiếng trống và tiếng kèn quân nhạc. Trong giai điệu lạc quan là nhịp bước của đoàn tù binh chỉnh tề, đi theo nhịp quân hành trở về trại giam sau một ngày lao động khổ sai xây dựng cây cầu.
Phần kịch tính, bi tráng nhất của phim diễn ra ngay trước khi phim kết thúc. Một sĩ quan Mỹ đã vượt qua muôn vàn gian khổ để trốn thoát khỏi trại giam. Khi trở về Mỹ, ông lại được giao nhiệm vụ dẫn đường toán lực lượng đặc nhiệm trở lại khu vực này, đánh sập cây cầu trước khi nó được sử dụng để chuyển binh tiếp viện quân đội Nhật ngoài chiến trường. Khi một tù binh trong trại nhận ra người bạn tù của mình trở lại và chết trong khi thi hành nhiệm vụ, ông đã phải thốt lên “Thật điên rồ! Thật điên rồ!” Trong một cuộc chiến đầy chính nghĩa, những người lính vẫn thấy được sự phi lý của chiến tranh!
Trở lại với những ca khúc phản đối chiến tranh Việt Nam. Một ban nhạc tiêu biểu của thập niên 1960s là Creedence Clearwater Revival (CCR) với nhiều ca khúc pop rock để đời như “Who'll Stop the Rain", "Have You Ever Seen the Rain… "Fortunate Son” được viết vào năm 1969, được xem là một trong những ca khúc phản chiến kinh điển của thời bấy giờ. Vẫn với câu “hook” guitar và nhịp trống đặc trưng của CCR, ca từ là lời chỉ trích mạnh mẽ đối với chế độ quân dịch bắt buộc, sự bất bình đẳng giàu nghèo trong xã hội Mỹ thời chiến tranh:
Some folks are born made to wave the flag
Ooh, they're red, white and blue
And when the band plays "Hail To The Chief"
Ooh, they point the cannon at you, Lord
It ain't me, it ain't me, I ain't no senator's son, son
It ain't me, it ain't me; I ain't no fortunate one, no…
…Some folks inherit star-spangled eyes
Ooh, they send you down to war, Lord
And when you ask 'em, "How much should we give?"
Ooh, they only answer, "More! More! More!" Yo
It ain't me, it ain't me, I ain't no military son, son
It ain't me, it ain't me; I ain't no fortunate one, one…
(Tóm dịch: Có những kẻ sinh ra dường như chỉ để vẫy cờ; họ mang trọn sắc đỏ, trắng và xanh của quốc kỳ. Nhưng khi chiến tranh đến họ lại chĩa nòng pháo thẳng vào chính bạn. lạy Chúa tôi! Đó chẳng phải là tôi; tôi không phải là con trai của một thượng nghị sĩ; tôi đâu phải là người được số phận ưu ái…Có những kẻ thừa hưởng đôi mắt lấp lánh những vì sao. Họ đẩy bạn ra chiến trường. Và khi bạn hỏi họ rằng: "Chúng tôi cần phải hy sinh bao nhiêu nữa?" họ chỉ đáp lại rằng: "Nữa đi! Nữa đi! Nữa nữa đi!"…)
Có những kẻ chuyên vẫy cờ cổ vũ chiến tranh, nhưng bản thân họ và con cái chẳng bao giờ cầm súng. Những người lính Mỹ bị đẩy ra chiến trường thường không có may mắn là con của một ông thương nghị sĩ nào đó! Những câu hát này gợi ra sự thực của hiện tại, khi tổng thống Trump từng trốn lính trong thời chiến tranh Việt Nam nhưng lại hùng hổ nói về thánh chiến. Có nhiều người mỉa mai trên mạng xã hội rằng cậu ấm Baron Trump lẽ ra phải nhập ngũ để làm đúng nguyện vọng chiến tranh của cha mình!
Nói đến phản chiến thì không thể không nhắc đến John Lennon. Người nhạc sĩ Beatles sáng tác "Give Peace A Chance" vào năm 1969, ca khúc đã trở thành một trong những biểu tượng cho phong trào phản chiến tại Mỹ. Nhiều đoàn biểu tình phản chiến đã hát vang ca khúc này trên đường, mà tiêu biểu là trong cuộc tuần hành nhân Ngày Ngừng chiến tại Việt Nam (Vietnam Moratorium Day) năm 1969 ở Washington, D.C.
Ca khúc này gần như chỉ có một câu hát với giai điệu đơn giản “All we are saying is give peace a chance”, rất thích hợp để đám đông biểu tình cùng hát thay cho hô khẩu hiệu. Những câu còn lại của bài hát chỉ là những lời nói theo kiểu rap, lời ca dường như vô nghĩa với những từ ngữ đơn độc. Chúng vô nghĩa như những ngôn từ sáo rỗng mà những chính trị gia thường dùng trong những bài diễn thuyết để tô điểm cho cuộc chiến mà họ gây ra: chủ nghĩa, tôn giáo, chính trị, cách mạng…
Ev'rybody's talking about
Bagism, Shagism, Dragism, Madism, Ragism, Tagism
This-ism, that-ism, is-m, is-m, is-m.
All we are saying is give peace a chance (2)
Ev'rybody's talking about Ministers,
Sinisters, Banisters and canisters
Bishops and Fishops and Rabbis and Pop eyes,
And bye bye, bye byes.
All we are saying is give peace a chance (2)
Let me tell you now
Ev'rybody's talking about
Revolution, evolution, masturbation,
Flagellation, regulation, integrations,
Meditations, United Nations,
All we are saying is give peace a chance…
(Tóm dịch: Mọi người đang bàn tán về chủ nghĩa này, chủ nghĩa nọ. Tất cả những gì chúng tôi muốn nói là: hãy trao cho hòa bình một cơ hội. Mọi người đang bàn tán về các bộ trưởng, những kẻ tàn ác, các giám mục, những con buôn, giáo sĩ Do Thái và cả Popeye, và những lời tạm biệt, chia tay. Tất cả những gì chúng tôi muốn nói là: hãy trao cho hòa bình một cơ hội. Mọi người đang bàn tán về cách mạng, tiến hóa, thủ dâm, quy định, hội nhập, thiền định, Liên Hợp Quốc. Tất cả những gì chúng tôi muốn nói là: hãy trao cho hòa bình một cơ hội…)
Cho đến ngày nay, bài hát vẫn duy trì như một biểu tượng phản chiến trên toàn cầu. Vào năm 2022, hàng trăm đài phát thanh tại châu Âu đã phát sóng ca khúc này nhằm phản đối cuộc xâm lược Ukraine của Nga.
Bob Dylan cũng là một ca sĩ tiêu biểu khác của thập niên 1960s với nhiều ca khúc phản chiến. “Master of War” được viết vào năm 1963. Bob Dylan hát chỉ với một cây đàn thùng với giai điệu như oán trách, với lời ca lên án gay gắt các tập đoàn công nghiệp vũ khí cấu kết cùng những chính trị gia để trục lợi từ chiến tranh. Họ tuyên chiến, họ đẩy người lính ra chiến trận, họ tuyên bố chiến thắng trên những xác người; nhưng bản thân họ ngồi sau bàn giấy, sống trong những dinh thự sang trọng:
Come you masters of war
You that build the big guns
You that build the death planes
You that build all the bombs
You that hide behind walls
You that hide behind desks
I just want you to know
I can see through your masks…
…You fasten all the triggers
For the others to fire
Then you set back and watch
When the death count gets higher
You hide in your mansion'
As young people's blood
Flows out of their bodies
And is buried in the mud…
(Tóm dịch: Hỡi những kẻ chủ chiến, những kẻ chế tạo súng lớn, chế tạo phi cơ tử thần, chế tạo bom đạn nhưng lại ẩn nấp sau những bức tường, ẩn nấp sau bàn giấy. Ta chỉ muốn các ngươi biết rằng có thể nhìn thấu những chiếc mặt nạ của các ngươi… Các ngươi cài đặt mọi cò súng rồi giao cho kẻ khác bóp cò, sau đó ngồi lùi lại và quan sát. Khi số người chết ngày một leo thang, các ngươi ẩn mình trong những tòa dinh thự, trong khi máu của những người trẻ tuổi tuôn trào khỏi thân xác họ và vùi mình xuống bùn đất…)
Có phải bài hát này khiến người nghe liên tưởng đến người đứng đầu nước Mỹ ngày nay? Bài hát vẫn còn nguyên ý nghĩa với cuộc chiến tranh Iran, khi mà những lãnh đạo hiếu chiến, tham lam vẫn tiếp tục đặt lợi nhuận, quyền lực lên trên giá trị sinh mạng con người.
Ở Việt Nam, Trịnh Công Sơn là ca sĩ viết nhạc phản chiến nổi tiếng nhất, với những Ca Khúc Da Vàng để đời: Gia Tài Của Mẹ, Hát Trên Những Xác Người, Người Con Gái Việt Nam Da Vàng, Một Buổi Sáng Mùa Xuân… Nhạc phản chiến của TCS không mang tính cách phản kháng, lên án mạnh mẽ, mà chỉ phác họa thân phận bi thảm của những con người trong chiến tranh: người mẹ, người lính, người dân, người con gái, đứa trẻ thơ ra đồng đạp trái mìn nổ chậm… Nhạc sĩ Phạm Duy cũng viết nhiều nhạc phản chiến, nhưng có tính chất phê phán, châm biếm mạnh hơn. Ngụ Ngôn Mùa Xuân là bài Số 5 trong 10 bài Rong Ca (Hát Cho Năm 200), được sáng tác vào khoảng cuối thập niên 1980s. Chính tác giả trình bày ca khúc này như là lời kể của một chứng nhân lịch sử. Sau khi chiến tranh kết thúc hơn 10 năm, cái nhìn của Phạm Duy về sự phi lý của chiến tranh Việt Nam vẫn không đổi. Cả hai miền Nam Bắc - những người Việt trực tiếp giết nhau trên chiến trường- lại không thực sự có tiếng nói, chỉ chết thay cho những cường quốc trong một cuộc chiến tranh mang tính ý thức hệ:
Có hai thằng mù đánh nhau ngoài ngõ
Cả hai thằng đều sứt trán, sứt tai
Có hai thằng câm cãi nhau giữa chợ
Cả hai thằng đều rát lưỡi, bỏng môi
Có hai thằng mù đã câm, lại điếc
Có hai thằng điếc ngồi nghe nhạc Tầu
Nhạc Tây, nhạc Mỹ, nhạc Nga
Có hai thằng mập đánh nhau thì chết
Cả hai thằng bèn cất võ khí đi
Có hai thằng kia gờm nhau quá độ
Cả hai thằng bàn ký kết làm ngơ
Bắt hai thằng gầy đánh nhau hộ nó
Bắt hai thằng yếu cùng nhau giải hoà
Bằng xương, bằng máu, thịt, da…
Khi cuộc chiến kết thúc với phe thắng cuộc là miền Bắc, người thua chung cuộc vẫn chính là một đất nước Việt Nam bị tàn phá, là những gia đình VIệt Nam mất đi người thân trong chiến tranh:
…Có khi mù này đánh lui mù đó
Hả hê về nhà, mắt ốc ngước lên
Có khi thằng câm thắng cơn cãi lộn
Hả hê về nhà ú ớ, mừng rên
Có khi thằng mù, gã câm, thằng điếc
Gác chân, tự đắc, ngồi trong chòi nghèo
Buồn thiu, mà ngỡ lầu cao
Có nghe gì chuyện nước tan, nhà nát
Chẳng nghe được gì tiếng khóc, tiếng than
Có đâu nhìn ra mầu khăn goá phụ
Làm sao nhìn được mắt bé mồ côi…
Chiến tranh là tang thương, chết chóc. Nhưng nhân loại vẫn triền miên trong chiến tranh từ hàng ngàn năm trước. Thời nào cũng có kẻ ủng hộ, người chống chiến tranh. Là một người Việt ở Mỹ, đã từng nhận ra sự vô lý của cuộc chiến tranh Việt Nam, nghe lại những ca khúc phản chiến viết từ 60 năm trước, tôi nhận thấy thông điệp của chúng vẫn còn nguyên giá trị…
Doãn Hưng

