Cảm ơn Admins. Cảm ơn anh chị ghé đọc bài do Hoài Hương viết.
Năm mới Dương Lịch 2026, mặc dù nay đại gia đình Hoài Hương đã sống nơi đất khách rất đầy đủ, thoải mái, nhưng, tôi cần nhắc lại chuyện cũ, cho con cháu ghi nhớ, và so sánh về các thể chế và hình ảnh đã trải qua ở Miền Nam chúng ta, (chế độ xã hội chủ nghĩa), và hình ảnh hiện tại ở Hoa Kỳ, khác nhau như thế nào.
Chúc quý vị luôn vui khỏe bình an, và có muôn điều toại ý nhé.
Thân ái và quý trọng.
*
TÔ CHÁO NGÀY TẾT ĐỘN TẤM, CÁM HEO VÀ RAU ĐẮNG
Tình Hoài Hương
*
Bây giờ, tôi xin kể hầu quý vị chuyện cũ nhân ngày Tết Dương Lịch: tô cháo độn tấm, cám heo và rau đắng.
Mẹ chồng tôi là người Bắc di cư năm 54, tuy ngoài 70 tuổi, nhưng Mẹ thông thạo chữ Quốc Ngữ, điều đó thật hiếm thấy vào thời ấy, chứng tỏ gia thế Mẹ lúc bấy giờ rất khá giả, vững vàng.
Chồng tôi con một, nên Mẹ thương con dâu như con ruột (tôi dân Đà Lạt, sống với mẹ chồng tính ra còn nhiều năm hơn sống với Ba Má của mình). Mẹ chồng con dâu luôn ôn hòa vui vẻ đầm ấm, thương quý nhau không hề nặng lời to tiếng, không vắng bóng nhau ngày nào.
Một buổi chiều Mẹ đi ruộng mò bắt được mấy con ốc, bốn con rạm, một con cá lóc nhỏ bằng ngón chân cái. Về ngang bờ sông, Mẹ hái thêm năm dọc môn.
Sau năm 1975, tôi làm nghề ở đợ "vá dù" cho bà Ba Sún trên chợ Hóc Môn (vá dù là một nghề mới toanh vừa mọc lên hai tay của tôi sau khi "đổi đời". (Tôi sẽ xin hầu chuyện cùng quý vị ở một chương khác).
Câu nói nguyên văn Mẹ biểu tôi:
- Con nấu nồi cháo sền sệt một tị nhá, chứ nhà ta luôn ăn cháo lõng bõng, ruột mẹ nó cồn cào, xót thế nào ấy. Xót lắm cơ!
Vâng lời Mẹ, rất chu đáo và công phu tôi cẩn thận nấu nồi cháo độn, gồm: hai phần vỏ của củ khoai mì, một tô bo bo đã hầm nhừ, hai phần dáu môn (mấy thứ nầy tôi đi "ở đợ" thì bà Ba Sún cho tôi), mớ rau đắng và dọc môn dại Mẹ đã hái, và một ít cám (vét trong cái nón sắt nhà binh, và cái chày gỗ do con trai làm bằng tay, để giã lúa do Bà Nội đi mót về).
Ra giếng công cộng tắm rửa xong, các con nhỏ gánh về hai thùng nước, tôi múc ra sáu tô cháo để xuống nền xi măng loang lổ vết đạn pháo cày xới. Sau khi các con mời Bà Nội, mời Mẹ, cả nhà vui vẻ cùng nhau ăn cháo. Các con hí hửng cười reo dưới ánh trăng, không xài đèn dầu làm chi cho phí của! Thật ra là không có tiền mua dầu hôi. Nếu ngày nào không có trăng sáng, cả nhà lo ăn uống sớm. Các con hân hoan bưng tô cháo thơm phức đưa lên miệng húp rột rột, khá ngon lành.
Bỗng, các con đồng thanh hét to, đứa quăng tô xuống nền nhà, đứa nằm lăn lộn trên nền nhà lỗ chỗ, dùng hai bàn tay cào móc cổ họng. Các con vật vã rên rỉ, la khóc inh ỏi. Mẹ già kêu rú quá to, Mẹ dựa lưng vô tường trợn trắng mắt, thở dốc và ho sặc sụa.
Tôi đã húp ba muỗng cháo, tự dưng cổ họng rát bỏng, ngứa điên cuồng, tôi cào móc khạc nhổ thế nào cũng không bớt. Mặt, môi, lưỡi, cổ họng, đều phồng rộp, sưng vù đỏ choét.Mọi người đều đau nhức cổ họng ngứa rần rần, lưỡi và môi đỏ hoét, lồi ra như mỏ con heo, kinh khủng ghê rợn lắm.Thì ra chúng tôi đã bị ngộ độc. Có phải bị dị ứng do ăn phải mấy dọc môn dại, hoặc do ăn vỏ của củ khoai mì, hay không?
Chóng mặt dật dờ xiểng niểng như người say rượu, bụng cồn cào, tôi quơ tay vịn vô tường lừ đừ đi ra thùng thiếc lật đật múc hai gáo nước vô cái xô nhựa. Trở vô nhà tôi khuấy muối, vắt mấy trái chanh đưa cho Mẹ súc miệng trước. Tôi kéo các con tới gần thùng nước, cứ như vậy tôi bắt chúng móc họng ói ra, súc miệng nhiều lần. Thân thể chúng tôi đều bần thần, bụng cồn cào ói ra mật xanh mật vàng, ai nấy đau bụng ghê lắm. Bị đói nên càng mệt rã rời, hầu như nghẹt thở, run cầm cập tay chân bại xụi.
Cả nhà nằm trên những miếng táp-lô (mà tôi gọi "cái giường" cho nó oai) khoảng hơn một giờ. Suốt mười mấy năm dài đằng đẵng, gia đình tôi nằm co ro trên cái giường táp-lô nầy, bị đau đớn quá độ, không tiền thuốc thang). Hôm nay cũng vật vã ôm bụng nhịn đói rồi bịnh luôn, mẹ con bà cháu tiều tụy hốc hác gầy xọp, thấy thảm!
Sau đó chúng tôi lọt tọt dìu nhau đi ra giếng tắm giặt. Lòng tôi buồn xo và đau như xé ruột lòi gan. Ôi! khổ nỗi một miếng ăn độn tồi tàn còn thua nồi cám heo của mụ Thân, vậy mà không thể nuốt trôi vô khỏi cuống họng trong ngày Tết Dương Lịch.
Tôi không thể ăn nồi cháo đặc để rị mọ làm thân trâu ngựa, đi làm thủy lợi, đi nông trường vất vả lao động nặng nề, mà không có tiền công! Thiệt là nhà nước bóc lột sức lực con người. Ôi! Bài học về chuyện ăn cháo ở tận đáy xã hội, khiến tôi ghi nhớ suốt đời. Ấy là lúc xuân xanh của tôi chỉ mới ngoài hai mươi:
Trai ba mươi tuổi còn xoan.
Gái ba mươi tuổi đã toan về già,
Bác Hồ chết phải giờ trùng,
Mẹ con chúng tớ nay khùng mai điên... (1)
Dù không muốn khóc nhưng hai hàng nước mắt tuôn rơi, tôi tiếc nhớ những năm tháng huy hoàng giàu sang xưa cũ, nào xe hơi nhà bốn tầng lầu. Nay thì tôi xin "thật thà khai báo" và bảo đảm: ở trong "cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa" nầy, hầu như đi khắp Miền Nam Việt Nam không nơi đâu có những người vợ, những người con của những người tù "cải tạo" quá sức khổ cực như chúng tôi: Mẹ chồng nàng dâu con cháu đi mót bịch ni-lông hôi thúi, sống cuộc đời đắng cay nghiệt ngã dưới đáy xã hội, hèn mọn cực nhọc trăm bề suốt bao năm qua.
Nhưng cũng có biết bao nhiêu người trong Miền Nam chúng tôi vẫn "thủy chung", cố bám lấy nhau chịu đựng để sống, vượt qua hoạn nạn cam khổ mà vươn lên. Vậy thì, kính gởi quý anh chị xin thông cảm về nỗi đau đớn của người vợ tù “cải tạo” ngày ấy.
Anh thương ơi! Bấy giờ anh ở tù nơi nao? Hẳn là anh thấu hiểu hoàn cảnh đau thương, bi đát, khốn cùng của bà cháu mẹ con em rồi, anh sẽ thông cảm tại sao gia đình mình ít có dịp đi thăm nuôi anh! Tất nhiên em:
Chăn đơn nửa đắp nửa phòng,
Cạn sông lở núi ta đừng quên nhau.
Từ ngày ăn phải miếng trầu,
Miệng ăn môi đỏ dạ sầu đăm chiêu.
Biết rằng thuốc giấu bùa yêu,
Làm cho ăn phải nhiều điều xót xa… (3)
Ôi! Mùa xuân qua, ngày hạ lết tới tàn thu, rồi cuối đông gió táp mưa gào suốt từ năm 75 tới 90 ... Thiệt là ngàn nỗi truân chuyên, âu lo, gian nan, điêu đứng, chua xót, khổ cực trăm bề. Em biết diễn đạt làm sao cho tròn ý! Còn nơi chốn ngục tù kia, có lẽ tâm tình anh cũng giống như anh bạn tù "cải tạo" thân thiết của chúng ta đã viết bản nhạc rất hay:
Như một người già ngồi nuối tiếc dĩ vãng xa xưa...
Như một danh tướng ôn lại những chiến tích oai hùng!
Như chim trong lồng ai oán nhìn bầu trời bao la.
Tôi mất Sài Gòn, nhưng thành phố vẫn sống mãi trong tim tôi.
Nhưng tôi không là người già, thì vẫn còn tương lai.
Tôi không là danh tướng, nên chẳng chiến công nhiều.
Tôi không là chim trời mãi mãi mất tự do.
Tôi chỉ là con bệnh trong cơn đau chung nầy. (2)
***
Tình Hoài Hương
(1) Lượm lặt sưu tầm
(2) Lời và nhạc: Cung Mi
(3) ca dao.
Hình 1/ "nhà" tôi sau ngày mất nước 1975. 2/ Nhà tôi ở Mỹ. 3/ Hình mượn trên internet.

Năm mới Dương Lịch 2026, mặc dù nay đại gia đình Hoài Hương đã sống nơi đất khách rất đầy đủ, thoải mái, nhưng, tôi cần nhắc lại chuyện cũ, cho con cháu ghi nhớ, và so sánh về các thể chế và hình ảnh đã trải qua ở Miền Nam chúng ta, (chế độ xã hội chủ nghĩa), và hình ảnh hiện tại ở Hoa Kỳ, khác nhau như thế nào.
Chúc quý vị luôn vui khỏe bình an, và có muôn điều toại ý nhé.
Thân ái và quý trọng.
*
TÔ CHÁO NGÀY TẾT ĐỘN TẤM, CÁM HEO VÀ RAU ĐẮNG
Tình Hoài Hương
*
Bây giờ, tôi xin kể hầu quý vị chuyện cũ nhân ngày Tết Dương Lịch: tô cháo độn tấm, cám heo và rau đắng.
Mẹ chồng tôi là người Bắc di cư năm 54, tuy ngoài 70 tuổi, nhưng Mẹ thông thạo chữ Quốc Ngữ, điều đó thật hiếm thấy vào thời ấy, chứng tỏ gia thế Mẹ lúc bấy giờ rất khá giả, vững vàng.
Chồng tôi con một, nên Mẹ thương con dâu như con ruột (tôi dân Đà Lạt, sống với mẹ chồng tính ra còn nhiều năm hơn sống với Ba Má của mình). Mẹ chồng con dâu luôn ôn hòa vui vẻ đầm ấm, thương quý nhau không hề nặng lời to tiếng, không vắng bóng nhau ngày nào.
Một buổi chiều Mẹ đi ruộng mò bắt được mấy con ốc, bốn con rạm, một con cá lóc nhỏ bằng ngón chân cái. Về ngang bờ sông, Mẹ hái thêm năm dọc môn.
Sau năm 1975, tôi làm nghề ở đợ "vá dù" cho bà Ba Sún trên chợ Hóc Môn (vá dù là một nghề mới toanh vừa mọc lên hai tay của tôi sau khi "đổi đời". (Tôi sẽ xin hầu chuyện cùng quý vị ở một chương khác).
Câu nói nguyên văn Mẹ biểu tôi:
- Con nấu nồi cháo sền sệt một tị nhá, chứ nhà ta luôn ăn cháo lõng bõng, ruột mẹ nó cồn cào, xót thế nào ấy. Xót lắm cơ!
Vâng lời Mẹ, rất chu đáo và công phu tôi cẩn thận nấu nồi cháo độn, gồm: hai phần vỏ của củ khoai mì, một tô bo bo đã hầm nhừ, hai phần dáu môn (mấy thứ nầy tôi đi "ở đợ" thì bà Ba Sún cho tôi), mớ rau đắng và dọc môn dại Mẹ đã hái, và một ít cám (vét trong cái nón sắt nhà binh, và cái chày gỗ do con trai làm bằng tay, để giã lúa do Bà Nội đi mót về).
Ra giếng công cộng tắm rửa xong, các con nhỏ gánh về hai thùng nước, tôi múc ra sáu tô cháo để xuống nền xi măng loang lổ vết đạn pháo cày xới. Sau khi các con mời Bà Nội, mời Mẹ, cả nhà vui vẻ cùng nhau ăn cháo. Các con hí hửng cười reo dưới ánh trăng, không xài đèn dầu làm chi cho phí của! Thật ra là không có tiền mua dầu hôi. Nếu ngày nào không có trăng sáng, cả nhà lo ăn uống sớm. Các con hân hoan bưng tô cháo thơm phức đưa lên miệng húp rột rột, khá ngon lành.
Bỗng, các con đồng thanh hét to, đứa quăng tô xuống nền nhà, đứa nằm lăn lộn trên nền nhà lỗ chỗ, dùng hai bàn tay cào móc cổ họng. Các con vật vã rên rỉ, la khóc inh ỏi. Mẹ già kêu rú quá to, Mẹ dựa lưng vô tường trợn trắng mắt, thở dốc và ho sặc sụa.
Tôi đã húp ba muỗng cháo, tự dưng cổ họng rát bỏng, ngứa điên cuồng, tôi cào móc khạc nhổ thế nào cũng không bớt. Mặt, môi, lưỡi, cổ họng, đều phồng rộp, sưng vù đỏ choét.Mọi người đều đau nhức cổ họng ngứa rần rần, lưỡi và môi đỏ hoét, lồi ra như mỏ con heo, kinh khủng ghê rợn lắm.Thì ra chúng tôi đã bị ngộ độc. Có phải bị dị ứng do ăn phải mấy dọc môn dại, hoặc do ăn vỏ của củ khoai mì, hay không?
Chóng mặt dật dờ xiểng niểng như người say rượu, bụng cồn cào, tôi quơ tay vịn vô tường lừ đừ đi ra thùng thiếc lật đật múc hai gáo nước vô cái xô nhựa. Trở vô nhà tôi khuấy muối, vắt mấy trái chanh đưa cho Mẹ súc miệng trước. Tôi kéo các con tới gần thùng nước, cứ như vậy tôi bắt chúng móc họng ói ra, súc miệng nhiều lần. Thân thể chúng tôi đều bần thần, bụng cồn cào ói ra mật xanh mật vàng, ai nấy đau bụng ghê lắm. Bị đói nên càng mệt rã rời, hầu như nghẹt thở, run cầm cập tay chân bại xụi.
Cả nhà nằm trên những miếng táp-lô (mà tôi gọi "cái giường" cho nó oai) khoảng hơn một giờ. Suốt mười mấy năm dài đằng đẵng, gia đình tôi nằm co ro trên cái giường táp-lô nầy, bị đau đớn quá độ, không tiền thuốc thang). Hôm nay cũng vật vã ôm bụng nhịn đói rồi bịnh luôn, mẹ con bà cháu tiều tụy hốc hác gầy xọp, thấy thảm!
Sau đó chúng tôi lọt tọt dìu nhau đi ra giếng tắm giặt. Lòng tôi buồn xo và đau như xé ruột lòi gan. Ôi! khổ nỗi một miếng ăn độn tồi tàn còn thua nồi cám heo của mụ Thân, vậy mà không thể nuốt trôi vô khỏi cuống họng trong ngày Tết Dương Lịch.
Tôi không thể ăn nồi cháo đặc để rị mọ làm thân trâu ngựa, đi làm thủy lợi, đi nông trường vất vả lao động nặng nề, mà không có tiền công! Thiệt là nhà nước bóc lột sức lực con người. Ôi! Bài học về chuyện ăn cháo ở tận đáy xã hội, khiến tôi ghi nhớ suốt đời. Ấy là lúc xuân xanh của tôi chỉ mới ngoài hai mươi:
Trai ba mươi tuổi còn xoan.
Gái ba mươi tuổi đã toan về già,
Bác Hồ chết phải giờ trùng,
Mẹ con chúng tớ nay khùng mai điên... (1)
Dù không muốn khóc nhưng hai hàng nước mắt tuôn rơi, tôi tiếc nhớ những năm tháng huy hoàng giàu sang xưa cũ, nào xe hơi nhà bốn tầng lầu. Nay thì tôi xin "thật thà khai báo" và bảo đảm: ở trong "cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa" nầy, hầu như đi khắp Miền Nam Việt Nam không nơi đâu có những người vợ, những người con của những người tù "cải tạo" quá sức khổ cực như chúng tôi: Mẹ chồng nàng dâu con cháu đi mót bịch ni-lông hôi thúi, sống cuộc đời đắng cay nghiệt ngã dưới đáy xã hội, hèn mọn cực nhọc trăm bề suốt bao năm qua.
Nhưng cũng có biết bao nhiêu người trong Miền Nam chúng tôi vẫn "thủy chung", cố bám lấy nhau chịu đựng để sống, vượt qua hoạn nạn cam khổ mà vươn lên. Vậy thì, kính gởi quý anh chị xin thông cảm về nỗi đau đớn của người vợ tù “cải tạo” ngày ấy.
Anh thương ơi! Bấy giờ anh ở tù nơi nao? Hẳn là anh thấu hiểu hoàn cảnh đau thương, bi đát, khốn cùng của bà cháu mẹ con em rồi, anh sẽ thông cảm tại sao gia đình mình ít có dịp đi thăm nuôi anh! Tất nhiên em:
Chăn đơn nửa đắp nửa phòng,
Cạn sông lở núi ta đừng quên nhau.
Từ ngày ăn phải miếng trầu,
Miệng ăn môi đỏ dạ sầu đăm chiêu.
Biết rằng thuốc giấu bùa yêu,
Làm cho ăn phải nhiều điều xót xa… (3)
Ôi! Mùa xuân qua, ngày hạ lết tới tàn thu, rồi cuối đông gió táp mưa gào suốt từ năm 75 tới 90 ... Thiệt là ngàn nỗi truân chuyên, âu lo, gian nan, điêu đứng, chua xót, khổ cực trăm bề. Em biết diễn đạt làm sao cho tròn ý! Còn nơi chốn ngục tù kia, có lẽ tâm tình anh cũng giống như anh bạn tù "cải tạo" thân thiết của chúng ta đã viết bản nhạc rất hay:
Như một người già ngồi nuối tiếc dĩ vãng xa xưa...
Như một danh tướng ôn lại những chiến tích oai hùng!
Như chim trong lồng ai oán nhìn bầu trời bao la.
Tôi mất Sài Gòn, nhưng thành phố vẫn sống mãi trong tim tôi.
Nhưng tôi không là người già, thì vẫn còn tương lai.
Tôi không là danh tướng, nên chẳng chiến công nhiều.
Tôi không là chim trời mãi mãi mất tự do.
Tôi chỉ là con bệnh trong cơn đau chung nầy. (2)
***
Tình Hoài Hương
(1) Lượm lặt sưu tầm
(2) Lời và nhạc: Cung Mi
(3) ca dao.
Hình 1/ "nhà" tôi sau ngày mất nước 1975. 2/ Nhà tôi ở Mỹ. 3/ Hình mượn trên internet.



