Hồi ký
ĐƯỜNG TÔI ĐI - Nửa Đời Cầm Bút (7)
Nguyễn Hữu Thiện
*Để tưởng nhớ những người từng chung những quãng đường đời mà nay đã khuất bóng
ĐƯỜNG TÔI ĐI - Nửa Đời Cầm Bút (7)

Nguyễn Hữu Thiện
*Để tưởng nhớ những người từng chung những quãng đường đời mà nay đã khuất bóng
Hẻm 6 Trương Minh Ký (tt)
Cùng với việc tự do rong chơi, tôi còn được hấp thụ những cái hay ho, những sự hiểu biết, đôi khi trước tuổi, từ các cậu các dì.
Nguyên họ ngoại tôi tuy phát xuất từ một vùng quê ngoài Bắc nhưng chịu ảnh hưởng tây học nên có nếp sống rất thoải mái, hòa đồng giữa các thế hệ. Gia đình dì TN và bà, các cậu dì ở hai căn nhà khác nhau nhưng ăn cơm thì ăn chung. Những bữa cơm thân mật luôn luôn kèm theo những đề tài sôi nổi đã mang lại cho tôi vô số kiến thức trong đủ mọi lĩnh vực, từ văn hóa nghệ thuật tới giải trí, từ giao tế tới ăn diện, từ chuyện đời (các vụ xì-căng-đan) tới chuyện đạo (nhà thờ nào có ca đoàn hát hay, có cha giảng ngắn, làm lễ nhanh…).
Cũng không thể không nhắc tới những trải nghiệm, những dấu ấn không bao giờ phai mờ mà những đợt người thuê nhà, đến rồi đi, để lại trong đầu óc như tờ giấy trắng của một cậu bé 11, 12 tuổi.
Ngày ấy, người ở nhà thuê đương nhiên không phải người giàu có, nhưng đủ khả năng thuê một căn nhà, căn gác rộng rãi tươm tất như nhà bà ngoại, nhà dì TN của tôi thì cũng phải là người đủ ăn đủ mặc, và thường là có trình độ.
Lấy thí dụ nhà bà ngoại tôi, trước sau đã có một đôi uyên ương ca nhạc sĩ, một gia đình nhà báo mướn dưới nhà, sau đó một cặp vợ chồng Trung úy Không Quân mướn trên lầu (sau khi chúng tôi dọn xuống tầng dưới); kể cả hai cô ca-ve mướn trên lầu sau đó cũng là ca-ve… có đẳng cấp!
Việc được tiếp xúc, chứng kiến những gì xảy ra trong cuộc sống cá nhân của những thành phần khác nhau trong xã hội không chỉ khiến tôi thích thú mà dường như còn khiến tôi khôn sớm, nghĩa là hiểu biết những gì mà bọn trẻ cùng tuổi không biết, hoặc không quan tâm tới.
Chẳng hạn đôi uyên ương ca nhạc sĩ mướn tầng dưới. Cả hai là người Bắc, cô vợ là một nữ ca sĩ trẻ đẹp nhưng hát không được hay cho lắm (bởi nếu hát hay thì đã có tên tuổi), người chồng là nhạc sĩ chơi đàn contrebasse (doulbe bass), cũng khá bảnh trai với dáng dấp và mái tóc nghệ sĩ.
Họ yêu nhau rất hồn nhiên, chẳng hạn khi chàng nổi hứng đệm đàn cho nàng hát xong một bản hai người lại hôn nhau (hôn môi) rồi cười đùa như đôi trẻ. Nhưng cũng có khi chúng tôi đang ở trên lầu thì nghe hai vợ chồng to tiếng với nhau, rồi chửi nhau thậm tệ, có khi đánh nhau kịch liệt, rồi có tiếng chân cô vợ chạy lên cầu thang gỗ (ngoài sân):
- Cụ ơi cứu con với, nó đánh con chết mất!
Nhưng họ không bỏ nhau. Mỗi đêm khuya, nghe tiếng xe Lambretta của chàng chạy vào cổng cùng với tiếng cười nói vui vẻ của hai người, tôi lại cảm thấy yên tâm, nhủ thầm: nghệ sĩ họ yêu nhau như thế đấy!
Người thứ hai mướn tầng dưới nhà bà ngoại tôi là một nhà báo tên tuổi, và cũng khá lớn tuổi cho nên bà ngoại bắt tôi và cậu út gọi là “bác Quang”. Bác Quang người Hà Nội, chung sống với một phụ nữ đã có một con trai riêng trạc tuổi tôi, cũng dân Hà Nội, khá đẹp, lịch thiệp, đáng mến, “chỉ phải cái tội hút thuốc lá” (bình luận của bà ngoại). Hai người có một đứa con chung khoảng một tuổi.
Bác Quang đi về thất thường nhưng mỗi khi bác ở nhà thì luôn luôn có khách, không đồng nghiệp tới bàn chuyện thế sự cũng bạn xoa mạt chược!
Bác Quang có một thói quen hơi lạ là ăn cơm không bao giờ ngồi vào bàn mà lấy một tô cơm với thức ăn rồi ngồi trên võng, vừa ăn vừa trò chuyện với vợ con hoặc ngồi trên bàn làm việc vừa ăn vừa đọc báo.
Chỉ sau này khi đã trưởng thành tôi mới nghiệm ra vừa ăn vừa đọc báo, hoặc vừa đánh máy (viết bài) quả là một cái thú!
Bác Quang rất cởi mở, vui tính, thường hỏi chuyện tôi về những đề tài thời sự hoặc kiến thức tổng quát để thử trình độ của tôi, rồi kể cho tôi nghe đủ thứ chuyện trên cõi đời này; bác cũng thường nhắc nhớ Hà Nội năm xưa, những lúc ấy giọng bác trầm hẳn xuống như thể muốn sống lại những ngày tháng cũ, khi mà “ngồi trên ghế đá bên bờ hồ hút điếu thuốc Cotab sao nó thơm thế mà vào trong Nam hút nửa điếu đã muốn quăng”.
Có thể nói bác Quang là người đầu tiên đã gieo vào đầu tôi những tư tưởng lãng mạn (không nhất thiết phải trong lĩnh vực tình cảm), sự khao khát tìm hiểu thế giới chung quanh, nhất là thú đọc sách. Tôi nhớ mãi một câu nói của bác, đại ý: không mấy ai có khả năng đi khắp thế giới nhưng đọc sách để tìm hiểu đông tây kim cổ thì ai cũng có thể, nếu muốn!
Sau này khi đã dọn đi nơi khác rồi, vợ chồng bác Quang thỉnh thoảng vẫn trở lại thăm bà ngoại tôi, cho tới khi chúng tôi dời nhà vào phía trong ấp Tây Ba, gần bờ kinh Nhiêu Lộc.
* * *
Sau khi bà ngoại và chúng tôi dọn xuống tầng dưới thì người đầu tiên thuê trên lầu là vợ chồng một Trung úy Không Quân. Cả hai đều còn trẻ nhưng trong khi dì út và các cậu của tôi gọi là anh chị thì bà ngoại lại bắt tôi gọi là chú Quý, cô Thúy, có lẽ vì tôi là vai cháu.
Chú Quý cao ráo đẹp trai, thường mặc đồ ka-ki vàng đi làm cho nên tôi đoán là chú sĩ quan văn phòng chứ không phải phi công, còn cô Thúy thì vừa đẹp vừa sang. Hai vợ chồng sống khá kín đáo nhưng chúng tôi cũng được biết một điều là cô Thúy bị hiếm muộn và đang uống thuốc bắc; mỗi tuần cô lại nhờ tôi sang chợ Bùi Phát tới tiệm thuốc bắc của ông lang X lấy thuốc cho cô, lâu lâu cô lại dúi cho tôi tờ giấy bạc 10 đồng (10 ly đậu đỏ bánh lọt!). Chưa hết, mỗi khi tới tiệm lấy thuốc tôi còn được ông lang X tặng hai trái táo tầu mà theo ký ức của tôi, rất thơm ngon và khá lớn chứ không nhỏ như táo tầu trong ly sâm bổ lượng.
Rất tiếc, cho tới khi cô Thúy và chú Quý dọn đi tôi vẫn còn con nít nên không để ý tới việc cô đã có bầu hay chưa.
Về phần chú Quý, có lẽ cũng muốn “trả công” tôi cho nên sau khi biết tôi thường đạp xe vào phi trường Tân Sơn Nhất xem phi cơ lên xuống, đã mấy lần gọi tôi lên lầu cho xem cuốn album hình chụp chú lúc du học bên Mỹ, trong đó có nhiều hình chụp tại các viện bảo tàng hàng không, các trung tâm trưng bày phi cơ của Không Quân Hoa Kỳ với những chiếc phản lực nổi tiếng nhất.
Tôi vô cùng thích thú vì cả đời tôi cho tới lúc đó (1959, 1960) làm gì đã được thấy phi cơ phản lực. Mỗi lần vào phi cảng Tân Sơn Nhất leo lên lầu quan sát cũng chỉ thấy mấy chiếc DC-3, DC-6 của Hàng Không Việt Nam đậu ở ga hành khách, còn máy bay của Không Quân Việt Nam lâu lâu mới thấy một chiếc “bà già” (phi cơ quan sát Morane 500), L-19 hay “phóng pháo” (B-26, F8F, AD6) cất cánh, hoặc hạ cánh rồi chạy mất tiêu về khu vực đậu phi cơ quân sự.
.jpg)
Phi cảng Tân Sơn Nhứt đầu thập niên 1960

Máy bay “phóng pháo” F8F Bearcat của KQVN cuối thập niên 1950 đầu thập niên 1960 (minh họa của Giang Ky)
Còn phản lực thì chỉ được nghe tiếng gầm thét chứ không nhìn thấy phi cơ. Nguyên vào năm 1959 (hay 1960 tôi không nhớ rõ), Việt Nam Cộng Hòa tổ chức Đại Hội Không Quân có sự tham dự của một số nước đồng minh, trong đó có Không Lực Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) với phi đội biểu diễn Lôi Hổ (Thunder Tigers) sử dụng phản lực cơ F-86 Sabre, và Không Lực Pháp với phản lực siêu thanh Mystère IV.
Vì không có người lớn dẫn đi, tôi và cậu út phải ở nhà ra ban-công nhìn về hướng phi trường Tân Sơn Nhất hy vọng sẽ nhìn thấy từ xa, nhưng rốt cuộc chẳng nhìn thấy gì.
Riêng mấy chiếc phản lực siêu thanh Mystère IV của Pháp sau khi phi diễn thay vì về đáp Tân Sơn Nhất ngay lại làm mấy vòng trên không phận Sài Gòn, rồi bay trên sông biểu diễn vượt bức tường âm thanh tạo thành tiếng nổ thật lớn làm rung chuyển cả thành phố, nhiều cửa sổ kính của khách sạn Majestic ở bến Bạch Đằng nhìn ra bờ sông và trụ sở hãng hàng không Mỹ Pan Am ở đường Tự Do bị bể kính!
Riêng tôi và cậu út ở nhà chỉ nghe thấy tiếng phản lực gầm thét chứ không nhìn thấy mấy chiếc Mystère.

F-86 "Lôi Hổ" của Không Lực Trung Hoa Dân Quốc
Mystère IV của Không Lực Pháp

Một ngày nọ, khi cô Thúy đang bận nấu nướng dưới bếp, ấy tôi đứng trên ban-công phía sau nhà ngắm trời mây, chú Quý gọi tôi vào phòng. Sau khi cho tôi xem hình phi cơ như thường lệ, chú lấy từ hộc tủ một phong bì dày, mở ra đưa cho tôi xem. Thoạt nhìn, tôi tá hỏa: hình màu chụp các cô gái Mỹ khỏa thân 100%!
Thú thật, giờ này hồi tưởng lại tôi cũng không nhớ phản ứng của tôi lúc đó ra sao, chỉ biết một điều chắc chắn là tôi chưa cảm thấy thích thú, kích thích như sau này xem hình khỏa thân trên tạp chí Playboy khi đã bước vào tuổi dậy thì.
Về phần chú Quý có lẽ nghĩ lại thấy tôi còn… ngây thơ vô tội cho nên sau này không khoe hình khỏa thân nữa. Về sau chú dọn vào cư xá sĩ quan trong phi trường Tân Sơn Nhất với cấp bậc sau cùng là Trung tá.
Sau khi vợ chồng chú Quý dọn đi, có hai cô ca-ve hạng sang tới mướn trên lầu.
Hiện nay ở Việt Nam hai chữ ca-ve (tiếng Pháp “cavalière”) bị xem là đồng nghĩa với “gái ngành” nhưng trước năm 1975 chỉ có nghĩa là “vũ nữ (gái nhảy), ngoài ra các cô có làm gái bao (tương tự vũ nữ Cẩm Nhung, người bị tạt át-xít) hay không là tùy người. Riêng hai cô ca-ve mướn nhà bà ngoại tôi thì cô đàn em (còn rất trẻ) có lẽ là vũ nữ “chân chính”, riêng cô đàn chị thì lâu lâu mới “nhảy dù” một lần với khách quen.
Lúc đó tôi còn con nít ranh nhưng biết được điều này nhờ cậu Mãi, một người bạn học của cậu lớn từ ngày còn ở Hà Nội, sau này mướn một nửa trên lầu nhà dì TN (tức là chung vách với hai cô ca-ve), theo dõi “sinh hoạt” của hai cô rồi kể lại cho mọi người nghe.
Theo đó, đêm nào cô ca-ve đàn chị đưa kép về thì cô đàn em phải về nhà mình ngủ với… mẹ!
Ban ngày, thỉnh thoảng cũng có những đấng nam nhi “mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao” đi xế hộp hoặc Vespa tới thăm hai cô; vì thế chúng tôi mới biết hai cô thuộc thành phần ca-ve cao cấp.
* * *
Sau khi viết chuyện trong nhà xin kể chuyện ngoài đường, tức hẻm 6.
Hai căn nhà lầu bà ngoại tôi xây có sân trước khá rộng, hàng rào là tường gạch phía trên có song sắt, kín cổng cao tường đúng nghĩa. Cho nên có thể viết tôi và cậu út không có một thằng bạn thân nào ở cùng hẻm; bạn gần nhà nhất là một tên học cùng lớp Nhất thì cũng ở tận đường rầy xe lửa, nằm trên lộ trình đi lễ nhà thờ Bùi Phát của chúng tôi.
Thêm vào đó là việc chúng tôi (tôi và cậu út) bị cậu S “kìm kẹp”.
Khi tôi lên Sài Gòn ở với bà ngoại, cậu S - con trai thứ hai của bà – còn đang học lớp đệ Tứ nhưng đã rất chững chạc, một phần vì mồ côi cha từ ngày còn ở ngoài Bắc, di cư vào Nam được ít lâu thì người anh lớn tình nguyện vào Khóa 13 Võ Bị Đà Lạt, một phần vì bản thân cậu rất khó tính, bà ngoại gọi chúng tôi hơi lớn tiếng một chút cũng bị cậu cự nự…
Vì thế, việc kết bạn cũng như đi chơi của tôi và cậu út bị cậu S kiểm soát chặt chẽ, trong đó có việc cấm chúng tôi chơi với bọn trẻ trong hẻm.
Sau này nhớ lại tôi phải cảm phục và nhớ ơn cậu, bởi vì sau khi tôi lên Sài Gòn, hẻm 6 nói riêng, ấp Tây Ba nói chung, càng ngày càng trở nên xô bồ với nhiều thành phần cư dân khác nhau – thượng vàng hạ cám.
Nguyên nhân chính là việc chính phủ xây cư xá Kiến Thiết.
Có thể độc giả sẽ thắc mắc: chính phủ xây cư xá nhà gạch mái ngói bán rẻ cho quân nhân, công chức phải là một điều tốt, sao lại gây tình trạng xô bồ?
Xin được dài dòng như sau:
Vào thời gian tôi mới lên Sài Gòn (1958), đường Trương Minh Ký từ ngã tư Trương Minh Ký – Nguyễn Huỳnh Đức đi lên hướng bắc còn khá hoang vắng, phía bên trái là những khu đất trống của chính phủ được người dân “mượn đỡ” để trồng hoa màu, kéo dài lên tới tận ngã tư Trương Minh Ký – Thoại Ngọc Hầu (biên giới giữa hai xã Phú Nhuận và Tân Sơn Hòa).
Tới năm 1959, khi chính phủ bắt đầu xây cư xá Kiến Thiết ở ấp Tây Ba phía bên trái đường Nguyễn Huỳnh Đức, khởi đầu từ hướng bắc, thì ở phía nam, trên khu đất trống trước kia trồng hoa màu, cũng là nơi bọn trẻ thường kéo nhau ra đá banh, thả diều, đã có nhiều người dân tự động tới cất nhà, bất chấp những tấm biển có hàng chữ “ĐẤT CHÍNH PHỦ, CẤM CẤT NHÀ”.
Cùng với những người dân “tự nhiên như người Hà Nội” đa số thuộc tầng lớp bình dân ấy còn có những tay hoạt đầu đưa đàn em tới cắm cọc xí phần trên khu đất công đang trở thành đất “chùa”.
Trong thành phần thuộc tầng lớp bình dân có hai gia đình Bắc di cư ở cách nhau mấy căn trên lối đi lên Cư xá Kiến Thiết. Không hiểu hai gia đình này - một cách chính xác là hai bà vợ sồn sồn, tạm gọi là bà A và bà B - có ân oán với nhau từ kiếp nào mà cứ lâu lâu lại đại chiến… bằng mồm.
Bà A bao giờ cũng là người khai chiến trước và sử dụng ngôn ngữ rất tục tĩu, một hồi bà B mới mở cửa bước ra phản pháo. Tới hồi gây cấn, bà A thường ưỡn người, lấy tay vỗ phành phạch vào phía dưới bụng và bảo bà B “Ăn cái l… bà này!”
Bà B luôn luôn có cô con gái khoảng 16, 17 tuổi đứng phía sau hậu thuẫn, liền ra lệnh cho cô nhào tới tham chiến, con thì ôm ghì địch thủ mẹ thì kéo quần địch thủ tụt xuống, phơi bày cặp mông bành ky, trắng ởn.
Trong khi lũ con nít đứng chung quanh vỗ tay hoan hô thì mấy bà hàng xóm có lẽ thấy chướng mắt quá tiến vào can ngăn, lôi bà A bà B ai về nhà nấy.
Về sau rút “kinh nghiệm chiến trường”, hễ thấy cô con gái của bà B chuẩn bị nhào tới tham chiến, bà A liền bỏ chạy về trước cửa nhà mình, nếu thấy mẹ con bà B rượt theo thì chạy tọt vào nhà đóng cửa lại, nhưng lạ một điều, nếu mẹ con bà B không rượt theo, bà A sẽ đứng lại trước cửa nhà mình, xoay lưng về phía địch thủ, chổng mông tụt quần, tay vỗ vào mông, miệng nói “Mẹ con chúng mày liếm đ… cho tao”, sau đó mới kéo quần lên bỏ vào nhà đóng sập cửa lại!
Nghĩa là trong các trận đại chiến bằng mồm giữa hai người đàn bà này, một là bà A bị hai mẹ con bà B lột quần, hai bà A tự động tụt quần!
Riêng tôi và cậu út chỉ chạy ra xem một lần duy nhất, sau khi bị bà ngoại cấm ngặt, chỉ đứng trên ban-công dự khán.

Mông phụ nữ VN qua nét vẽ của danh họa Bùi Xuân Phái. Hình
chỉ để thưởng lãm, không có mục đích minh họa nhân vật
chỉ để thưởng lãm, không có mục đích minh họa nhân vật
Cũng may, chỉ khoảng một năm sau, gia đình bà A dọn nhà đi nơi khác. Người lớn thở phào nhẹ nhõm, trẻ con tiếc nhớ những buổi giải trí… không lành mạnh!
Người lớn đã như thế, trẻ con làm sao nhà lành được! Chỉ cần một phần tư trẻ con trong xóm tối ngày cãi nhau, đánh lộn, chửi thề… cũng đủ khiến các gia đình đàng hoàng cấm con cái giao du.
Cho nên vừa lên trung học, tôi và cậu út đã bị cấm tham gia các trò chơi với bọn trẻ trong hẻm như đá banh, đá cầu, đá dế, tạt lon, thẩy lỗ…
* * *
Năm 1961, khi tôi đang học lớp đệ Lục (lớp 8 ngày nay), con hẻm 6 Trương Minh Ký vốn chưa bao giờ được giới truyền thông nhắc tới nay bỗng trở thành địa điểm săn tin của các tờ báo chuyên khai thác tin giật gân sau khi một bi kịch xảy ra làm rúng động làng giải trí ở Hòn ngọc Viễn đông: nữ ca sĩ Diệu Anh tự tử chết vì chuyện tình trắc trở với nam danh ca Anh Ngọc.
Xin trở lại với căn nhà thứ nhất dì TN mua vào năm 1955 tôi mà đã nhắc tới trong một kỳ trước. Đó là căn đầu tiên trong một dãy mấy căn nhà mái ngói tường gạch đã khá cũ nằm ở khoảng 2/3 hẻm tính từ đường Trương Minh Ký đi vào.
Trước kia, người đứng ra xây dãy nhà này có lẽ nhắm vào tầng lớp trung lưu cho nên các căn nhà khá rộng rãi, mỗi nhà có một lối đi bên hông, có mái hiên, sân trước đủ rộng để trồng vài cây kiểng, một giàn hoa giấy… cho nên từ bên ngoài hàng rào nhìn vào khá kín đáo.
Sau căn đầu tiên của dì TN cách một căn tới nhà của chị em cô Trầm, một người họ hàng xa của dượng tôi, chuyên buôn thuốc lá và rượu ngoại quốc từ Lào về VN qua đường hàng không. Chị em cô có một người anh họ vốn là bạn học với dì TN và cậu lớn của tôi từ ngày còn ở Hà Nội, nay đang ngắm nghé dì út của tôi.
Cách nhà cô Trầm một căn tới nhà nữ ca sĩ Diệu Anh.
Ngày ấy tôi tuy không còn ở cái tuổi chơi tạt lon thẩy lỗ với bọn con trai trong xóm nhưng cũng chưa đủ lớn để có được một tâm hồn lãng mạn, biết thưởng thức nhạc tình cảm Việt Nam.
Tên tuổi duy nhất trong giới ca sĩ tôi quan tâm là Minh Hiếu, vì hai nguyên nhân: (1) nhà cô ở đường Nguyễn Huỳnh Đức gần lối vào hẻm 6, (2) cô thường được các bà dì của tôi nhắc tới không phải vì mê giọng hát của cô mà vì cô được báo chí ca tụng nhan sắc, có những nét đẹp, sang giống nữ minh tinh Mỹ nổi tiếng đương thời Elizabeth Taylor.

Minh Hiếu với những nét hao hao giống Elizabeth Taylor
Ngày ấy Minh Hiếu đã khá nổi tiếng; cô chạy một chiếc xe mui trần màu đỏ, sau này bán lại cho chú Quý, tức ông trung úy Không Quân từng mướn trên lầu nhà bà ngoại tôi (và cho tôi xem hình “tươi mát”).
Tuy được xem là một thần tượng thời bấy giờ, nhưng Minh Hiếu không trải qua những mối tình ồn ào, và sau khi về nâng khăn sửa túi cho tướng Vĩnh Lộc, đã vĩnh viễn từ giã ánh đèn màu.
Cùng với việc trở thành thần tượng của nhiều người ái mộ, cho tới nay người ta tin rằng ngày ấy Minh Hiếu còn là nguồn cảm hứng của một số nhạc sĩ trong đó có Lam Phương, Trần Thiện Thanh...
Trước hết là Lam Phương, bài viết “Những bóng hồng trong cuộc đời nhạc sĩ Lam Phương” của tác giả Đăng Bách được nhiều tờ báo trong nước và trang mạng của người Việt hải ngoại đăng tải cho biết (nguyên văn):
“Bóng hồng thứ hai trong cuộc đời của nhạc sĩ Lam Phương là ca sĩ Minh Hiếu. Bà gây ấn tượng bởi khuôn mặt xinh đẹp, quyến rũ cùng giọng ca đặc biệt…Trong một buổi nhạc hội ở Nha Trang, nhạc sĩ Lam Phương đã đến làm quen và rủ ca sĩ Minh Hiếu ra bãi biển đi dạo sau khi chương trình kết thúc. Nhờ khoảnh khắc này, ông đã sáng tác nên ca khúc thơ mộng Biển tình. Tiếp đến, ông còn sáng tác loạt nhạc phẩm kỷ niệm mối tình này như: Biết đến bao giờ, Em là tất cả (Thao thức vì em)…” (ngưng trích)
Tôi chưa bao giờ đọc hồi ký của Lam Phương (nếu như ông có viết) hoặc theo dõi các cuộc phỏng vấn ông nên không biết quan hệ ngày ấy giữa ông và Minh Hiếu có đủ để gọi là “mối tình” như tác giả Đăng Bách viết hay không; tuy nhiên cho dù đôi bên không có quan hệ tình cảm, việc một nhạc sĩ đưa “thần tượng” của mình vào tác phẩm cũng là chuyện thường xảy ra xưa nay.
Nhưng những gì các trang mạng rẻ tiền, các YouTuber, Facebooker sống nhờ “view”, “like”, và các tờ báo quốc doanh trong nước chuyên bôi nhọ nghệ sĩ miền Nam trước năm 1975 đăng tải thì phần lớn là bịa đặt.
Thí dụ điển hình nhất là “chuyện tình tay ba” giữa Minh Hiếu, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh và tướng Vĩnh Lộc.
Hiện nay lên mạng người ta vẫn thấy nhiều bài viết trong đó có bài “Danh ca Minh Hiếu: ‘Nàng thơ’ bước ra từ những nhạc phẩm bolero huyền hoại thập niên 1960” của tác giả Hải Long trên trang mạng MOLISTAR, được nhiều trang mạng, báo online trong nước đăng lại.
Theo đó, vào đầu thập niên 1960, Trần Thiện Thanh và tướng Vĩnh Lộc cùng theo đuổi Minh Hiếu; cuối cùng người đẹp đã chọn ông tướng (về làm đời vợ thứ hai), Trần Thiện Thanh ôm “hận tình” và bộc lộ tâm sự qua ca khúc Hoa Trinh Nữ (1966), trong lời hát có câu “Tôi không phải là vua nên mộng ước thật bình thường…” như lời trách móc của “một người lính xa nhà, thấy hoa nhớ người yêu rất xa”.

Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh

Chuẩn tướng Vĩnh Lộc
Cứ tạm thời cho rằng ngày ấy Trần Thiện Thanh có theo đuổi Minh Hiếu và người nữ danh ca không đáp lại, thì nguyên nhân (không đáp lại) cũng không dính dáng gì tới tướng Vĩnh Lộc mà chỉ đơn thuần vì lúc ấy Trần Thiện Thanh đã vợ con sờ sờ ra đó, cả cái đất Sài Gòn ai cũng biết!
(Còn tiếp)
(Hồi ký ĐƯỜNG TÔI ĐI - Nửa Đời Cầm Bút được lưu trữ trong Forum Văn Nghệ, Sub-Forum Trang Thành Viên)

