ĐƯỜNG TÔI ĐI - Nửa Đời Cầm Bút (5)

Collapse
X

ĐƯỜNG TÔI ĐI - Nửa Đời Cầm Bút (5)

Collapse
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • Nguyen Huu Thien
    Moderator

    • Jul 2014
    • 1319

    #1

    ĐƯỜNG TÔI ĐI - Nửa Đời Cầm Bút (5)

    Hồi ký

    ĐƯỜNG TÔI ĐI - Nửa Đời Cầm Bút (5)



    *Nguyễn Hữu Thiện
    * Để tưởng nhớ những người từng chung những quãng đường đời mà nay đã khuất bóng


    Nắng Trương Minh Giảng (tt)

    Trở lại cầu Trương Minh Giảng và đi về hướng bắc (một cách chính xác là bắc tây bắc). Vừa qua khỏi cầu, phía bên phải là một đống rác khổng lồ, bề ngang cỡ vài chục mét.

    Đúng ra phải gọi đây là bãi rác, bởi vì đó là nơi người dân đem rác tới để đổ một cách thoải mái (thường chở bằng xe ba gác) bất chấp tấm biển CẤM ĐỔ RÁC; lâu lâu lại có xe rác của Sở Vệ Sinh Đô Thành tới chở bớt rác đem đi đâu đó.

    Sau này tìm hiểu, tôi được biết nguyên chính không phải dân Trương Minh Giảng bất chấp lệnh cấm đổ rác mà vì dưới thời Pháp thuộc, khu vực Trương Minh Giảng phía bắc kinh Nhiêu Lộc là một vùng đất trống để đổ rác, gọi là “Sở Rác”.

    Sau đống rác là một con đường đất đi vào bờ kinh Nhiêu Lộc; đầu đường là một khu đất trống trên đó tới giữa thập niên 1960 xây viện Đại học Vạn Hạnh của Phật giáo và Ký nhi viện của Hội Nữ Hướng Đạo Việt Nam.

    Phía bên trái, sau một dãy phố lầu 4, 5 căn tới chợ Trương Minh Giảng.

    Đây là một ngôi chợ mới xây vào giữa thập niên 1950, không có những nét độc đáo của những ngôi chợ xưa cũ, chẳng hạn chợ Tân Định, nhưng bù lại rộng rãi, quy mô, sáng sủa, sạch sẽ hơn.



    Chợ Trương Minh Giảng giữa thập niên 1960

    Có thể nói chợ Trương Minh Giảng là khu chợ tấp nập, nhộn nhịp bậc nhất của Quận 3, không chỉ vì tính cách đa dạng, không thiếu một mặt hàng nào mà còn nổi tiếng với vô số hàng quán hai bên và xe bán thức ăn phía trước chợ, được xem là một trung tâm ẩm thực nổi tiếng với nhiều món ăn độc đáo của ba miền, giá cả phù hợp với túi tiền của giới bình dân.

    Sau này khi viện Đại Học Vạn Hạnh đã xây xong (1966) nhà thơ Bùi Giáng thường xuất hiện tại khu vực chợ Trương Minh Giảng – Vạn Hạnh. Lúc đó ông chưa bị cho là “điên”, vẫn còn ăn mặc lịch sự (cho dù không được sạch sẽ cho lắm); đôi lần theo bạn bè lên Vạn Hạnh chơi, tôi có dịp gặp ông và nhà thơ Phạm Thiên Thư (khi ấy còn mặc áo thầy chùa, chưa hoàn tục).



    Nhà thơ Bùi Giáng

    Sau năm 1975, nhiều người tin rằng Bùi Giáng điên thật nhưng cũng có người cho rằng ông chỉ giả điên để sống nốt kiếp người dưới chế độ mới; ông tới khu vực Trương Minh Giảng – Vạn Hạnh thường xuyên hơn, có khi “qua đêm” ở chợ hoặc trong sân trường. (PHỤ LỤC)

    * * *

    Qua chợ khoảng 4, 5 trăm mét tới ngã ba (về sau trở thành ngã tư) Trương Minh Giảng – Trần Quang Diệu, quẹo phải là đường đi sang Phú Nhuận. Gần tới ngã tư Trần Quang Diệu - Nguyễn Huỳnh Đức là ranh giới giữa Quận 3 và Phú Nhuận (quận Tân Bình), từ đây trở đi gọi là đường Trương Tấn Bửu chạy tới đường Võ Tánh có nhà thờ Phú Nhuận ở góc đường và tiệm phở Quyền nổi tiếng.

    Trên đường Trần Quang Diệu - Trương Tấn Bửu có một tiệm phở gà khá nổi tiếng là phở Nam Xuyên, mà giờ này tôi không nhớ đích xác là nằm ở Trần Quang Diệu hay Trương Tấn Bửu?

    Tôi không phải người sành điệu nhưng cứ theo lời người dượng út của tôi – một người có thể ăn phở thay cơm - thì phở gà Nam Xuyên thua xa phở gà Hiền Vương, đã vậy lại còn “béo” (nước phở nhiều mỡ).

    Trở lại đường Trương Minh Giảng, qua ngã ba Trần Quang Diệu khoảng 100 mét là hẻm Lê Bảo Tịnh bên tay phải. Đây là một đường hẻm khá lớn, phía trong có trường Trung Học Lê Bảo Tịnh do các linh mục Công Giáo di cư vào Nam năm 1954 thành lập, tương tự trường Nguyễn Bá Tòng ở đường Bùi Thị Xuân, Quận Nhì.

    Nữ sinh Lê Bảo Tịnh cũng có nhiều cô tài hoa, xinh đẹp, nhưng nói chung không nổi tiếng, có giá bằng nữ sinh Nguyễn Bá Tòng.

    Hẻm Lê Bảo Tịnh còn được biết tới với nhiều cư dân thuộc giới trí thức khoa bảng và văn nghệ sĩ tên tuổi.

    Qua hẻm Lê Bảo Tịnh, tới giữa thập niên 1960 chính phủ cho xây trường Tiểu học Trương Minh Giảng, có lẽ là trường tiểu học công lập lớn nhất thủ đô Sài Gòn. Tòa nhà 4 tầng lầu, mấy chục phòng học, lớp sáng lớp chiều mà vẫn không đủ chỗ cho học sinh, đưa tới việc từ năm 1966 (hay 1967), phải mở thêm lớp tối.



    Trường tiểu học Trương Minh Giảng

    Tôi tin rằng ngày ấy ở Sài Gòn, không mấy người nghe nói bậc tiểu học có lớp tối, trừ dân Trương Minh Giảng!

    Khu vực trường Tiểu học Trương Minh Giảng về sau có thêm một số trường trung tiểu học tư thục, lớp dạy Anh văn, vườn trẻ của các nữ tu Công Giáo, trong đó có trung học Thời Đại đối diện trường Tiểu học Trương Minh Giảng.

    Cũng trong khu vực trường học, phía bên trái có hẻm Lưu Luyến. Con hẻm này cũng có số như bất cứ con hẻm nào khác trên đường Trương Minh Giảng nhưng vì ngoài đầu hẻm có Photo Lưu Luyến, tiệm chụp hình nổi tiếng nhất trong vùng, cho nên mọi người quen miệng gọi là “hẻm Lưu Luyến”.

    Đây cũng là một đường hẻm khá rộng và đẹp, nhà cửa đa số là nhà lầu mới xây, và điều này đã khiến các bóng hồng trong hẻm Lưu Luyến nói chung vốn có tiếng xinh đẹp càng thêm có giá, cho dù nhà của em có là… nhà trệt!

    Cũng bên tay trái, đi qua hẻm Lưu Luyến một quãng thì tới rạp chiếu bóng Văn Lang mới xây được 2, 3 năm. Nghe kể lại thì trước đó chỉ có một rạp chiếu bóng lộ thiên, được vây quanh bằng những tấm thiếc cao để con nít không thể công kênh nhau lên coi cọp.

    Vì mới xây trên một khu đất rộng cho nên rạp Văn Lang khá lớn, mặt tiền cao ráo, sáng sủa, hai bên rạp có những xe bán thức ăn, thức giải khát được ưa chuộng, từ bánh cuốn tới tới hủ tiếu, mì, bò viên…, từ sinh tố, kem tới sâm bổ lượng… cho nên rất tấp nập.

    Từ rạp Văn Lang trở đi, khung cảnh, nhà cửa hai bên đường là những khu lao động đúng nghĩa.

    Phía bên phải có một xưởng cưa máy khá lớn, chung quanh là những căn nhà mái lá vách ván lụp xụp. Vào năm 1959, nơi đây đã xảy ra một vụ hỏa hoạn kinh hồn, thiêu rụi cả xưởng cưa lẫn xóm nhà lá. Tôi và người cậu út chạy bộ từ cổng xe lửa số 6 tới nhập bọn với đám con nít vừa xem cháy nhà một cách thích thú vừa bình luận sôi nổi.

    Xưa nay chẳng ai mong hỏa hoạn xảy ra nhưng có một thực tế (tốt đẹp!) là những khu lao động lụp xụp chẳng may bị thần hỏa thiêu rụi sau đó sẽ trở thành những khu phố, khu dân cư khang trang, lớp lang, sạch sẽ!

    Đó cũng là những gì đã xảy cho khu xưởng cưa ở đường Trương Minh Giảng. Nhưng phía bên kia đường, tức bên trái, thì vẫn cũ kỹ, lụp xụp, trong đó có ngôi nhà thờ mái tôn vách ván thảm hại của họ đạo Vườn Xoài, tức giáo xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam mà trước năm 1957 được gọi là “giáo điểm Vườn Xoài – Sở Rác”.



    Nhà thờ Vườn Xoài vào năm 1961

    Xin mở ngoặc để viết về nguồn gốc của hai địa danh “Vườn Xoài - Sở Rác”.

    * VƯỜN XOÀI

    Cho tới nay không có một tài liệu chính thức nào viết về nguồn gốc địa danh “Vườn Xoài”, còn theo lời truyền tụng thì do việc Đức cha Bá Đa Lộc… thích ăn xoài!

    Nghe kể lại ngày ấy, cuối thế kỷ 18, Đức cha Bá Đa Lộc (1741-1799), tên tiếng Pháp là Pigneau de Béhaine, vị giám mục thứ 7 của giáo phận Đàng Trong (miền Nam), thường tới vùng Chí Hòa thuộc xã Tân Sơn Nhất, nơi Đức cha có một nhà nghỉ mát ở một vùng đất cao ráo khí hậu mát mẻ, cảnh đẹp, tĩnh mịch.

    Là một người thích ăn trái cây, thích trồng các loại cây trái nhất là xoài, Đức cha đã đem các giống trái cây từ ngoại quốc, trong đó có xoài, về trồng chung quanh nhà nghỉ mát, nhà nguyện, rồi cho trồng khắp vùng Chí Hòa. Sau này, người ta còn thấy nhiều gốc xoài rất lớn 50-60 tuổi chung quanh nhà thờ Chí Hòa.

    Từ đó, một vùng rộng lớn từ Chí Hòa, Hòa Hưng vòng lên đến Phú Nhuận vốn là vùng hoang vắng, trở thành những gò xoài, vườn xoài. Hàng trăm năm sau, khi xoài đã vắng bóng vẫn còn một khu vực vài cây số vuông dọc theo đường Trương Minh Giảng – Trương Minh Ký được gọi là “Vườn Xoài”.

    * SỞ RÁC

    Dưới thời Pháp thuộc, cho tới năm 1920 con đường Eyriaud des Vergnes (đường Trương Minh Giảng sau này) chỉ chạy từ ngã ba Testard (Trần Quý Cáp) lên tới đường Mayer (Hiền Vương). Sau đó, không biết vào năm nào, họ đã kéo dài, làm cầu bắc ngang kinh Nhiêu Lộc và sử dụng vùng đất ở phía bắc làm chỗ tập trung rác của thành phố, gọi là “Sở Rác”.

    Hai địa điểm tập trung rác vẫn còn tồn tại tới thập niên 1950 là khu đất sau này xây dựng chợ Trương Minh Giảng và khu đất phía đông kinh Nhiêu Lộc về sau trở thành giáo xứ Bùi Phát của người Bắc di cư.

    Trên vùng đất được gọi là Sở Rác ấy, có vài chục gia đình Công Giáo lều tranh vách lá lụp xụp, sống bằng nghề lượm rác, ve chai hoặc nuôi bò.

    Theo tài liệu “Lịch sử giáo xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam”, vào năm 1947 Linh mục Giuse Phạm Văn Thiên, cha sở họ đạo Chí Hòa, đề nghị Đức cha Jean Cassaigne, Tổng Giám mục Giáo Phận Sài Gòn, cho lập một giáo điểm tại đây và được Đức cha chấp thuận, ủy thác Linh mục Anrê Nguyễn Văn Đại, cha sở họ đạo Phú Nhuận, việc thành lập và chăm sóc đời sống tinh thần cho giáo dân.

    Giáo điểm được đặt tên “Giáo Điểm Vườn Xoài - Sở Rác”. Tên gọi này được sử dụng trên giấy tờ sổ sách của giáo điểm, cũng như trong sổ rửa tội của giáo dân vẫn còn lưu giữ tới ngày nay.



    Giấy chứng nhận rửa tội tại Giáo Điểm Vườn Xoài - Sở Rác (bằng tiếng La-tinh)

    Tới năm 1957, tức là sau khi người Bắc di cư đã thành lập giáo xứ Bùi Phát ở bên trong đường Trương Minh Giảng bên kinh Nhiêu Lộc, Tòa Giám mục Sài Gòn mới chính thức công bố thành lập “giáo xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam”, thường được gọi là “họ đạo Vườn Xoài”.

    Nhà thờ Vườn Xoài còn được giáo dân gọi một cách ngắn gọn là “nhà thờ Nam” để phân biệt với nhà thờ Bùi Phát của người Bắc di cư.

    Địa danh “Sở Rác” dần dần chìm vào quên lãng, dấu tích duy nhất còn lại chỉ là đống rác khổng lồ ở đầu cầu Trương Minh Giảng.

    * * *

    Tiếp tục đi về hướng Lăng Cha Cả, qua nhà thờ Vườn Xoài là một miếng đất trống rồi tới chợ Vườn Xoài họp ở đầu một con hẻm, bên cạnh là tiệm thuốc lào 888 Tiến Phát. Sau khi di cư vào Nam, trong gia tộc tôi ở Sài Gòn không có ai hút thuốc lào, sở dĩ tôi nhớ tiệm 888 Tiến Phát chỉ vì tới đây là ranh giới giữa Quận 3 của đô thành Sài Gòn và xã Phú Nhuận, quận Tân Bình, tỉnh Gia Định.

    Từ ranh giới này trở lên hướng bắc, đường Trương Minh Giảng được gọi là Trương Minh Giảng “nối dài”, tới khoảng năm 1959, 1960 mới được đặt tên riêng là đường Trương Minh Ký. Tuy nhiên để tránh gây nhức đầu cho độc giả, ngay từ đoạn này tôi sẽ gọi là đường Trương Minh Ký.

    Đi lên hướng bắc khoảng 200m là cổng xe lửa số 6, qua đường rầy hơn 50m tới hẻm 6 của tôi ở phía bên trái, qua mấy căn nhà nữa thì tới ngã tư Trương Minh Ký – Nguyễn Huỳnh Đức.



    Bản đồ Sài Gòn: hai ngôi sao xanh ở đầu rạch Thị Nghè và cuối kinh Nhiêu Lộc
    là nơi họ ngoại tôi sinh sống trước năm 1975

    Vào thời gian tôi mới lên Sài Gòn (1958), từ ngã tư này đi lên hướng bắc còn khá hoang vắng, phía bên trái là những khu đất trống của chính phủ được người dân “mượn đỡ” để trồng rau, phía bên phải là những căn nhà xập xệ, đi qua hẻm chùa Giác Ngạn tới tu viện Dòng Đa-minh mới xây (năm 1957) trên một khu đất khá lớn, về sau xây thêm Trung học Thánh Thomas và Nhà thờ ba chuông.

    Qua khu đất này là ngã tư Trương Minh Ký - Huỳnh Quang Tiên.

    Huỳnh Quang Tiên là một con đường nhỏ và ngắn, phía bên phải chưa được tráng nhựa, chạy tới đường Nguyễn Minh Chiếu, từ đó có lối đi sang đường Công Lý; phía bên trái thì được tráng nhựa từ ngày chính phủ xây cư xá Kiến Thiết, nhưng chỉ đi qua ngã ba Nguyễn Huỳnh Đức - Huỳnh Quang Tiên tới công xi heo (lò sát sinh) thì thu hẹp dần, trở thành lối đi bộ và cho xe hai bánh, chấm dứt tại một ngã ba mà quẹo trái là Cầu Sạn đi sang Hòa Hưng, quẹo phải là khu Chuồng Bò là đầu đường Bùi Thị Xuân đi lên Lăng Cha Cả.

    Gần Cầu Sạn là nhà một tay bạn “dân chơi” của tôi, sau làm cảnh sát chìm, còn khu Chuồng Bò (chắc ngày xưa ở đây nuôi bò) thì tuy cái tên nghe không được văn hoa cho lắm lại khá sạch sẽ, nhà cửa tương đối con mới, nơi có “nhị Kiều” sau trở thành hiền nội của hai chàng sĩ quan Không Quân trong đó có một tay bạn thân của tôi.

    Từ ngã tư Trương Minh Ký - Huỳnh Quang Tiên tiếp tục đi lên hướng bắc, trước khi tới ngã tư Trương Minh Ký – Thoại Ngọc Hầu, phía bên phải có cư xá Nông Tín Cuộc (không biết tôi nhớ tên có đúng không) rất khang trang do chính phủ xây; tới đầu thập niên 1960 ở ngoài mặt đường có phở Quỳnh Tín, ăn chỉ tạm được nhưng khá đông khách vì khung cảnh lịch sự và biết cách quảng cáo.

    Phía bên trái thì từ Huỳnh Quang Tiên lên tới Thoại Ngọc Hầu chưa có khu “ống cống Tân Lập” với những dãy nhà lầu chủ yếu cho Mỹ thuê như sau này, mà còn là những thửa đất trống để trồng hoa mầu. Mỗi lần đi ngang khu này, được thấy những giếng nước sử dụng cần vọt để kéo gầu nước lên, tôi lại chạnh nhớ những hình ảnh quen thuộc của ngày còn ở Tha La, Trảng Bàng.



    Giếng nước với cần vọt

    Tại ngã tư Trương Minh Ký – Thoại Ngọc Hầu, quẹo phải sẽ tới đường Nguyễn Minh Chiếu rồi Võ Tánh, quẹo trái sẽ gặp đường Bùi Thị Xuân, rồi tới một cái cầu nhỏ bắc ngang đoạn cuối của kinh Nhiêu Lộc.

    Qua cầu là khu Ngã Ba Ông Tạ. Ở phía bên trái, tới giữa thập niên 1960 người ta xây một rạp xi-nê khá lớn và tân kỳ là rạp Đại Lợi nhưng chẳng có mấy người tới xem phim vì Ngã Ba Ông Tạ là một khu buôn bán và “ăn hàng” của các mợ Bắc kỳ hơn là một khu giải trí, vì thế sau đó rạp Đại Lợi đã được cho Mỹ thuê để làm cơ sở gì đó có lính gác.

    Trở lại ngã tư Trương Minh Ký – Thoại Ngọc Hầu, từ đây đi lên hướng bắc không thuộc xã Phú Nhuận nữa mà thuộc xã Tân Sơn Hòa; vừa qua ngã tư, phía bên trái là giáo xứ Tân Sa Châu của người Bắc di cư.

    Nguyên Sa Châu là một giáo xứ lớn ở ngoài Bắc, cùng huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định quê tôi, nơi có Đền Thánh nguy nga xây từ thời Pháp thuộc. Sau khi di cư vào Nam năm 1954, người dân Sa Châu rủ nhau tới đây lập nghiệp.



    Đền thánh Sa Châu, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

    Tên gọi “Tân Sa Châu” có người giải thích là “giáo xứ Sa Châu mới”, lại có người nói là “Sa Châu” ghép với chữ “Tân” trong tên xã Tân Sơn Hòa.

    Đi qua giáo xứ Tân Sa Châu tới ngã tư Trương Minh Ký - Bùi Thị Xuân rồi tới Lăng Cha Cả. Tại đây, đường Trương Minh Ký đụng đường Võ Tánh là chấm dứt, nhìn về hướng tay phải sẽ thấy “lăng” của “Cha Cả”, tức mộ của Đức cha Bá Đa Lộc, gần đó là cổng Phi Long của căn cứ không quân Tân Sơn Nhất.

    Quẹo trái là đường đi tới Ngã Tư Bảy Hiền, phía bên phải là một khu đất trống sau này xây trường Quốc Gia Nghĩa Tử, kế tới là Nghĩa Trang Quân Đội của Pháp, nơi Đại tá Không Quân Lưu Kim Cương, Tư lệnh Không Đoàn 33 Chiến Thuật, bị tử thương trong trận Mậu Thân 1968 (đợt 2), được nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tưởng nhớ qua ca khúc Cho Một Người Nằm Xuống, nổi tiếng qua tiếng hát Khánh Ly.

    Việc Trịnh Công Sơn, một nhạc sĩ phản chiến, chơi thân với đám sinh viên thân cộng hoặc cộng sản nằm vùng, lại sáng tác một ca khúc tiếc thương một sĩ quan Không Quân Việt Nam Cộng Hòa đã được một số người giải thích như sau:

    Ông Lưu Kim Cương là một người có máu văn nghệ (điều này ai cũng biết), mê tiếng hát Khánh Ly (điều này chỉ một số người biết), mê tới mức đã tìm cách giúp Trịnh Công Sơn trốn quân dịch một cách hợp pháp, thậm chí có lần còn cấp phi cơ chở họ Trịnh ra Huế tổ chức đêm nhạc phản chiến với đám sinh viên “trâu đánh” ngoài đó… Cho nên sau khi ông nằm xuống, nhà nhạc sĩ cảm kích ân nghĩa nên viết ca khúc này; cũng có người nói họ Trịnh viết Cho Một Người Nằm Xuống theo “đơn đặt hàng” của Khánh Ly. Cả người viết lẫn người hát tôi đều không quen biết, chỉ xin ghi lại những gì mình được nghe.



    Ông Lưu Kim Cương khi còn mang cấp bậc Trung tá

    Phía bên trái, đối diện với trường Quốc Gia Nghĩa Tử, tới giữa thập niên 1960 có một tòa nhà 4, 5 tầng rất đẹp được xây làm trụ sở của công ty xe gắn máy Đặng Đình Đáng (chuyên ráp hiệu xe Puch của Áo), ai đi ngang qua cũng phải trầm trồ. Nhưng chỉ vài tháng sau, kỹ sư Đặng Đình Đáng tự tử chết, công ty đóng cửa.

    Nguyên nhân: xe gắn máy của Nhật (Honda, Suzuki…) được Tổng Cục Tiếp Tế dưới thời chính phủ Nguyễn Cao Kỳ cho nhập ồ ạt vào Việt Nam với rất giá rẻ so với xe gắn máy Âu Châu khiến ông Đặng Đình Đáng bị phá sản!



    Xe Puch 3 đèn, mơ ước của thanh thiếu niên Sài Gòn trước khi xe gắn máy của Nhật được nhập cảng

    Ngày ấy việc ông Đặng Đình Đáng tự tử đã được báo chí Sài Gòn tận tình khai thác, dĩ nhiên không quên thêm mắm thêm muối cho lâm ly bi đát. Đọc những bài báo này tôi chỉ cười thầm vì bà Đặng Đình Đáng là chỗ quen thân với gia đình một thằng bạn của tôi, sau khi bi kịch xảy ra tôi có dịp gặp bà và các con một hai lần; bà vẫn còn ăn diện, vẫn chạy xe hơi.

    Hiện nay, trên Internet vẫn còn phổ biến một số bài viết như thế, trong đó một tác giả viết “ông chủ của hãng này đã chở vợ con lao xuống cầu Bình Lợi tự tử vì bị cạnh tranh đến phá sản”; một tác giả khác ra vẻ “am tường” hơn, viết “toàn bộ tài sản của ông bị tịch biên vẫn không đủ trả nợ. Vợ ông phải đi bán rau muống ở chợ Ông Tạ”!

    * * *

    Đi qua tòa nhà của công ty Đặng Đình Đáng là khu nghiên cứu chăn nuôi của chính phủ, cũng là nơi nuôi thử nghiệm các giống gia súc được đưa từ ngoại quốc về, chẳng hạn bò sữa.

    Qua khu chăn nuôi tới Ngã Tư Bảy Hiền, quẹo trái là đường Lê Văn Duyệt đi về trung tâm Sài Gòn, quẹo phải là đường đi lên giáo xứ Tân Việt, cổng trại Hoàng Hoa Thám (Nhảy Dù), xa hơn nữa là hãng dệt Vinatexco ở gần cầu Tham Lương, Bà Quẹo…

    Đường Võ Tánh chấm dứt tại Ngã Tư Bảy Hiền, qua phía bên kia trở thành đường Nguyễn Văn Thoại chạy sang Phú Thọ. Những năm đầu thập niên 1960 con đường này còn hoang vắng, hai bên là rừng cao-su, phía bên trái có trại Phạm Công Quân, bản doanh của Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù (cổng chính nằm ở đường Lê Văn Duyệt).

    Mỗi lần chạy xe ngang đây, tôi lại bùi ngùi tướng nhớ cố Thiếu tá Ngô Xuân Soạn, vị đàn anh của dượng út tôi, bị sát hại trong cuộc đảo chính hụt ngày 11 tháng 11 năm 1960.



    Ngã tư Bảy Hiền vào năm 1960, phía trước là đường Nguyễn Văn Thoại đi sang Phú Thọ, bãi đất trống
    phía bên trái về sau xây bệnh viện Vì Dân, xa xa là rừng cao-su nơi vùi xác cố Thiếu tá Ngô Xuân Soạn

    Đại úy Ngô Xuân Soạn nguyên là một sĩ quan xuất sắc trong binh chủng Nhảy Dù, Tiểu Đoàn 5 do ông làm Tiểu đoàn trưởng đã đạt được nhiều chiến công trong chiến dịch Hoàng Diệu, tấn công lực lượng Bình Xuyên tại Rừng Sát.

    Trước khi diễn ra cuộc đảo chính, người cầm đầu là Đại tá Nguyễn Chánh Thi - mới được TT Ngô Đình Diệm vinh thăng Đại tá và bổ nhiệm làm Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy Dù - đã triệu tập bộ tham mưu và các vị tiểu đoàn trưởng tới họp tại trại Phạm Công Quân. Đại úy Ngô Xuân Soạn không đồng ý tham gia đảo chánh và đòi bỏ ra về, liền bị ông Nguyễn Chánh Thi ra lệnh cho thuộc hạ bắn chết tại chỗ, vùi xác ngoài rừng cao-su phía sau bản doanh của Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù.

    (Còn tiếp)

    (Hồi ký ĐƯỜNG TÔI ĐI - Nửa Đời Cầm Bút được lưu trữ trong Forum Văn Nghệ, Sub-Forum Trang Thành Viên)


    PHỤ LỤC

    BÙI GIÁNG – giai thoại và huyền thoại


    Bùi Giáng (1926-1998) là một trong những nhà thơ, dịch giả, nhà phê bình văn học có tầm vóc của Việt Nam thời cận đại; đồng thời ông cũng để lại vô số giai thoại, huyền thoại.

    Sau đây tôi chỉ xin viết về hai trong số những giai thoại, huyền thoại ấy.

    (1) “nhánh Thạch nam” thành “hoa thạch thảo”


    Có thể nói tôi yêu thích văn học tây phương cận đại một phần qua đọc những truyện dịch của Bùi Giáng, điển hình là hai cuốn Khung Cửa Hẹp (La Porte Étroite) của André Gide và Hoàng Tử Bé (Le Petit Prince) củaAntoine de Saint-Exupéry.

    Về thơ dịch, tôi chỉ biết một bài duy nhất là L’Adieu của Guillaume Apollinaire được ông dịch sang tiếng Việt với tựa Lời Vĩnh Biệt.

    Tôi không phải người yêu thơ, sở dĩ ngày ấy - năm 1970 - tôi được biết Bùi Giáng đã dịch bài thơ này là nhờ việc ông Phạm Duy bị nhiều người cho là đã “chôm” một câu trong bản dịch của ông Bùi Giáng để đưa vào ca khúc Mùa Thu Chết, bài hát ăn khách nhất năm 1970 qua tiếng hát Julie, cô con dâu của nhà nhạc sĩ.

    Nguyên vào giữa năm 1970, ít lâu sau khi Julie thu băng Mùa Thu Chết, nhà xuất bản nhạc Tiếng Hát Đôi Mươi của Jo Marcel đã ấn hành ca khúc này. Ngoài bìa chỉ ghi tên tác giả là Phạm Duy, còn ở trang trong, phía bên trên nội dung ca khúc có ghi một bài thơ ngắn tựa đề Adieu của thi sĩ Pháp Guillaume Apollinaire, nguyên văn:

    Adieu

    J'ai cueilli ce brin de bruyère
    L'automne est morte souviens-t'en
    Nous ne nous verrons plus sur terre
    Odeur du temps brin de bruyère
    Et souviens-toi que je t'attends"


    Bên cạnh là bản dịch của Phạm Duy:

    Mùa Thu Chết

    Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
    Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi
    Đôi chúng ta chẳng còn nhìn nhau nữa trên cõi đời

    Hương thời gian mùi thạch thảo
    Em nhớ cho rằng ta vẫn chờ em.

    Bản dịch này đã được Phạm Duy sử dụng cho 16 câu hát trong ca khúc Mùa Thu Chết.



    Trang trong bản nhạc Mùa Thu Chết của Phạm Duy

    Lập tức trong dư luận đã có những lời chê trách Phạm Duy “sao y bản chánh” câu số 2 trong bản dịch của Bùi Giáng.

    Nguyên trước đó 5 năm (1965), Bùi Giáng đã dịch bài thơ L’Adieu của Guillaume Apollinaire với tựa đề Lời Vĩnh Biệt thành ba bản dịch khác nhau
    (Tựa đề bài thơ trong nguyên tác của Apollinaire là L’Adieu, Phạm Duy viết thiếu chữ L’ thành Adieu)

    Ở đây tôi chỉ đề cập tới phiên bản 1:

    Lời Vĩnh Biệt

    Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
    Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi
    Chúng ta sẽ không tao phùng được nữa
    Mộng trùng lai không có ở trên đời
    Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi
    Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó.


    Cho dù đối chiếu hai bản dịch một của Phạm Duy một của Bùi Giáng, người ta thấy chỉ có câu số 2 (Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi) giống nhau 100%, nhiều người vẫn kết luận Phạm Duy đã “vay mượn”.

    Phải chi ngày ấy nhà nhạc sĩ ghi chú “Câu này mượn từ bản dịch của Bùi Giáng” có phải tốt đẹp hơn không!

    Nhưng trên đây chỉ là chuyện bên lề, còn đề tài của tôi là Bùi Giáng đã biến “thạch nam” thành “thạch thảo”.

    Chữ “bruyère” (tiếng Anh: briar) trong câu thơ đầu tiên (J'ai cueilli ce brin de bruyère) trước đó đã được các tự điển Pháp-Việt, Anh-Việt dịch là cây “thạch nam”, là một loại cây có hoa mọc thành bụi (shrub), thân “mộc”, có gai; cây hồng dại, cây tầm xuân là những cây thuộc chi thạch nam.

    Thạch nam mọc nhiều ở vùng Địa Trung Hải, gốc và rễ của nó rất cứng, được sử dụng làm ống vố thạch nam (briar pipe), giá có khi lên tới hàng ngàn đô-la.



    Một ống vố Dunhill “White Spot” bằng gốc thạch nam, hiện nay giá 2559 Úc kim

    Trong khi “thạch thảo”, tên tiếng Pháp là astère (tiếng Anh: aster) thuộc họ cúc (Asteraceae), thân “thảo”, dân gian còn gọi là cúc cánh mối (vì cánh hoa mỏng, nhẹ như cánh mối).

    Nguyên nhân nào đã khiến Bùi Giáng không dịch “bruyère” là “thạch nam” mà lại dịch là “thạch thảo”? Theo suy đoán của tôi (và nhiều người khác), Bùi Giáng cố tình dịch… sai để nghe cho thêm phần thơ mộng, và sau đó được Phạm Duy bắt chước.

    Có khác chăng là trong khi Bùi Giáng cố gắng tôn trọng nguyên tác (Ta đã hái nhành lá cây…) thì Phạm Duy lại “chế” tối đa (Ta ngắt đi một cụm hoa…)

    Và cũng vì chữ “ngắt” ấy, mọi người nhận ra họ Phạm bị bí chữ!

    Xưa nay người ta chỉ viết, nói ngắt một bông hoa, ngắt một nụ hoa chứ chẳng ai viết, nói ngắt một cụm hoa cả; bởi vì muốn “dớt” cả cụm người ta phải “đánh” (thành ngữ “hoa thơm đánh cả cụm”).

    (2) Đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào…

    Nhắc tới thơ Bùi Giáng, cũng không thể không đề cập tới hai câu thơ “bất hủ” được truyền tụng là của ông sau ngày miền Nam được “giải phóng”:

    Đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào,
    Đánh cho chết mẹ đồng bào miền Nam!


    Mấy chữ “đánh cho chết mẹ” ở đây được hiểu theo nghĩa đen, và “đồng bào miền Nam” trong đó có cả Bùi Giáng: sau năm 1975, ông đã nhiều lần bị bọn “30 tháng Tư” đánh đến thân tàn ma dại!

    Nguyên sau năm 1975, ông tạm trú ở chùa Già Lam bên Gò Vấp, ngày ngày mặc một bộ đồ không giống ai, vá chằng vá đụp bằng nhiều mảnh vải đủ màu, vai vác một cái gậy có treo một nải chuối, đi lang thang khắp nơi, thường nhất là khu chợ Trương Minh Giảng.



    Bùi Giáng giả điên (?) sau 1975

    Cũng có khi ông mang trên mình đủ các thứ nồi, niêu, xoong, chảo, vành bánh xe đạp, đầu đội mũ sắt, tay cầm gậy đứng giữa đường, thổi còi, điều khiển giao thông… Ai cũng cho là ông bị điên!

    Nhưng khi làm thơ châm chọc chế độ mới, ông không điên một chút nào. Năm 1980, khi viên phi công Phạm Tuân được sang Liên Xô làm “lơ” phi thuyền bay lên không gian, Bùi Giáng mang một tấm biển đi rong qua các đường phố, trên có hai câu thơ viết tay:

    Hoan hô đồng chí Phạm Tuân
    Khi không anh bỗng nhẩy tưng lên trời


    Vì thế, đám “30 tháng Tư” được công an thành Hồ bật đèn xanh, muốn đánh cho sướng tay cứ việc đánh!

    Người ta kể lại rằng sau một lần bị đánh bò càng, ông ra giữa chợ Bến Thành nghêu ngao:

    Đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào,
    Đánh cho chết mẹ đồng bào miền Nam!


    Cảm hứng từ hai câu thơ đó, một số cao thủ ẩn danh đã cùng nhau sáng tác thêm hơn 20 câu nữa, thành một bài thơ châm biếm chế độ, và nói tác giả là Bùi Giáng.

    Kết quả nhiều người, trong nước cũng như ở hải ngoại, đã bị… xí gạt, tin rằng toàn bộ bài thơ “Đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào” là của Bùi Giáng.

    Nhưng cũng chẳng chết con giáp nào. Ai tin là của Bùi Giáng cứ tiếp tục tin và phổ biến (để giúp vui cho đời), bởi những người yêu thơ và mến mộ Bùi Giáng đều nhận ra đây không phải lời thơ, hồn thơ của một bậc trí giả.

    ĐÁNH CHO MỸ CÚT NGỤY NHÀO

    Đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào,
    Đánh cho chết mẹ đồng bào miền Nam!

    (Bùi Giáng?)

    Đánh cho khoai sắn thành vàng,
    Đánh cho dép lốp phải mang thế giầy.
    Đánh cho Bắc đoạ Nam đày,
    Đánh cho thù hận giờ này chưa tan.
    Đánh cho cả nước Việt Nam,
    Áo ôm khố rách xếp hàng xin cho.
    Đánh cho hết muốn tự do,
    Hết mơ dân chủ hết lo quyền người.
    Đánh cho dở khóc dở cười,
    Hai miền thống nhất kiếp người ngựa trâu.
    Đánh cho hai nước Việt Tàu,
    Không còn biên giới cùng nhau đại đồng.
    Đánh cho dòng giống Tiên rồng,
    Osin, nô lệ, lao công xứ người.
    Đánh cho chín chục triệu người,
    Thành dân vô sản thành người lưu vong.
    Đánh cho non nước Lạc Hồng,
    Tiến lên thời đại mang gông mang cùm.
    Đánh cho cả nước chết chùm,
    Đánh cho con cháu khốn cùng mai sau.
    Đánh cho Bác Đảng Nga Tàu,
    Triệu dân nô lệ ngàn năm căm hờn.

    (Ẩn danh)
    Last edited by Nguyen Huu Thien; hôm nay, 04:59 PM.


Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter

Working...