ĐƯỜNG TÔI ĐI - Nửa Đời Cầm Bút (4)

Collapse
X

ĐƯỜNG TÔI ĐI - Nửa Đời Cầm Bút (4)

Collapse
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • Nguyen Huu Thien
    Moderator

    • Jul 2014
    • 1314

    #1

    ĐƯỜNG TÔI ĐI - Nửa Đời Cầm Bút (4)

    Hồi ký

    ĐƯỜNG TÔI ĐI - Nửa Đời Cầm Bút (4)




    Nguyễn Hữu Thiện
    * Để tưởng nhớ những người từng chung những quãng đường đời mà nay đã khuất bóng


    Nắng Trương Minh Giảng

    Học lớp Nhất niên khóa 1958-1959 tại Trường tiểu học Minh Đức ở Hố Nai, Biên Hòa được mấy tháng, tôi lên Sài Gòn ở với bà ngoại ở hẻm 6 Trương Minh Giảng “nối dài”.

    Mặc dù sau này đường Trương Minh Giảng “nối dài” được đổi tên thành đường Trương Minh Ký nhưng người ta vẫn gọi đây là “khu Trương Minh Giảng”, dân cư vẫn là “dân Trương Minh Giảng”, có lẽ vì tên gọi Trương Minh Giảng đã trở nên quá quen thuộc.

    Trong bài thơ “Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn” viết tại Hoa Kỳ năm 1978 (sau đó được nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc thành ca khúc có cùng tựa), nhà thơ Du Tử Lê đã chỉ nhắc tới một địa danh và hai con đường trong đó có Trương Minh Giảng:

    Nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
    Nắng Trương Minh Giảng trưa hè Tự Do…


    Tôi không phải là một người yêu thơ cho nên chỉ biết tới câu thơ này sau khi Phạm Đình Chương phổ nhạc bài thơ, và hơi ngạc nhiên (cộng với chút hãnh diện) trước việc “nắng Trương Minh Giảng” được nằm trong ký ức của nhà thơ.



    Du Tử Lê

    Thực ra trước năm 1975, Du Tử Lê (1942–2019) chưa phải một tên tuổi lẫy lừng, tôi chỉ biết ông qua nhà thơ Phan Lạc Giang Đông (1940-2001), một người quen biết sau trở thành bạn thân của tôi khi cùng phục trong ngành Chiến Tranh Chính Trị (CTCT) của quân chủng Không Quân.

    Còn Du Tử Lê, tên thật là Lê Cự Phách, xuất thân phóng viên chiến trường, phục vụ tại Cục Tâm Lý Chiến, Tổng Cục CTCT, với cấp bậc, chức vụ sau cùng là Đại úy, Thư ký nguyệt san Tiền Phong của quân đội.

    Nhà Phan Lạc Giang Đông ở phía trên đường Thoại Ngọc Hầu, gần Ngã Ba Ông Tạ, tức là không nằm trong khu vực Trương Minh Giảng; rất có thể ngày ấy ông Du Tử Lê đã lui tới nhà các đồng nghiệp khác ở khu Vườn Xoài, cổng xe lửa số 6, hay Cư xá Kiến Thiết (Phú Nhuận) nên mới nhớ “nắng Trương Minh Giảng” chăng!

    * * *

    Trong kỳ đầu tiên của thiên hồi ký tôi đã mô tả khái quát về đường Trương Minh Giảng + Trương Minh Ký, kỳ này tôi bắt đầu lần lượt đi vào chi tiết từng nơi chốn, ngõ ngách, những nhân vật có liên quan hoặc vô tình hiện hữu trong đời tôi từ tuổi niên thiếu cho tới năm 1975.

    Viết về nơi chốn cũ, tôi sẽ sử dụng những tên đường xưa, chỉ trong trường hợp cần chú thích mới nhắc tới những cái tên xa lạ sau 1975.

    Khởi đầu từ đường Trần Quý Cáp đi về hướng bắc (Lăng Cha Cả), qua các ngã tư Phan Đình Phùng, Phan Thanh Giản, Tú Xương, Hiền Vương, tới ngã tư Trương Minh Giảng - Yên Đỗ.

    Phía tay trái, nằm trên đường Yên Đỗ là cơ sở của Dòng Tên (Jésuites), về sau xây Trung Tâm Đắc Lộ gồm nhà thờ, tu viện, thư viện, đài truyền hình Đắc Lộ, cư xá sinh viên, trung tâm hướng nghiệp, và cuối cùng trở thành Giáo xứ Đắc Lộ, mà theo tôi là giáo xứ có ca đoàn hát hay nhất Sài Gòn ngày ấy!



    Trung tâm Đắc Lộ

    Ngay sau biến cố 30 tháng Tư 1975, thư viện và tu viện bị Đài Truyền Hình nhà nước mượn đỡ. Tới năm 1980, trong đợt “tổng công kích” cơ sở vật chất của các dòng tu Công Giáo tại miền Nam VN, toàn bộ cơ sở còn lại của Trung Tâm Đắc Lộ gồm nhà thờ, đài truyền hình Đắc Lộ, cư xá sinh viên, trung tâm hướng nghiệp… đã bị nhà cầm quyền cộng sản tịch thu (chung số phận với Giáo Hoàng Học Viện ở Đà Lạt), toàn bộ tu sinh (những người đang tu tập) nằm trong tuổi nghĩa vụ quân sự bị cưỡng bách gia nhập các đơn vị bộ đội hoặc thanh niên xung phong.

    Phải đợi hơn 30 năm sau, ngày 10 tháng 05 năm 2006, nhà cầm quyền cộng sản mới “ưu ái” trả lại những gì Đài Truyền Hình nhà nước đã mượn đỡ trước đây (thư viện và cơ sở tu viện) còn những gì bị tịch thu sau đó thì coi như mất luôn.

    * * *
    Tại ngã tư Trương Minh Giảng - Yên Đỗ quẹo phải là đường đi sang đường Hai Bà Trưng và khu Tân Định, Dakao.

    Đây là con đường rất quen thuộc với tôi vì ngày còn nhỏ thường bị hai bà dì nhờ đạp xe sang mua thuốc Cam hàng Bạc, bánh đậu xanh Bảo Hiên Rồng Vàng, ô mai cam thảo (ô mai Bắc Việt) nổi tiếng ở đây; khi bắt đầu lang thang thì hay sang Tân Định xem phim ở rạp Kinh Thành (lúc đó chưa có rạp Văn Hoa), lớn hơn chút nữa thì xem phim ở Văn Hoa, ngồi đồng nghe nhạc ngoại quốc ở quán cà-phê Văn Hoa (cùng chủ, ngay bên cạnh), khi nào đi với “em” thì mất thêm một chầu thạch chè Hiển Khánh gần rạp Casino Dakao; cũng không thể quên mấy tháng rảnh rỗi năm đệ Tam tập tành võ nghệ tại Viện Nhu Đạo Quang Trung của Thượng tọa Thích Tâm Giác ở đường Phạm Đăng Hưng…

    Già đầu hơn một chút thì lên tận cà-phê Thu Hương ngồi ngoài vườn đấu láo với các đàn anh văn nghệ sĩ.

    Sau cùng, không thể không nhắc tới nhà thờ Tân Định, một trong những ngôi thánh đường cổ kính, đẹp nhất Sài Gòn, tuy không bề thế như Nhà Thờ Đức Bà ở trung tâm thành phố nhưng có cái sân phía bên trái khá rộng, nơi đã chứng kiến biết bao cuộc tình - thành hay bất thành - vào mỗi mùa Noel trong đó có tình tôi với “nàng” của tôi.



    Nhà thờ Tân Định – ngôi nhà thờ duy nhất ở VN được sơn màu hồng phấn

    Mỗi dịp đi phép từ Pleiku về Sài Gòn, tôi đều đưa nàng đi lễ vào chiều Chủ Nhật.

    Viết là “đi lễ” nhưng chúng tôi thường “lịch sự” đứng ngoài sân để nhường chỗ trong nhà thờ cho các con chiên ngoan đạo (và những anh chàng ngoại đạo theo đuổi con chiên ngoan đạo). Thành thử vào đêm Noel 1969, mang tiếng là đi lễ nhưng tôi chớ hề nhìn thấy hang đá với tượng Chúa Hài Đồng trong nhà thờ, mà từ đầu tới cuối chỉ đứng ngoài sân ngắm “tà áo đêm Noel” (tựa đề một ca khúc hơi… sến nhưng rất ăn khách trước năm 1975).

    * * *
    Trở lại với đường Trương Minh Giảng, đi qua ngã tư Trương Minh Giảng – Yên Đỗ vài trăm mét tới ngã ba Trương Minh Giảng – Kỳ Đồng.

    Đường Kỳ Đồng nằm ở phía tay trái, là một con đường khá ngắn, đi tới đường Đoàn Thị Điểm, đường Bà Huyện Thanh Quan rồi chấm dứt tại đường Nguyễn Thông.

    Tại ngã tư Kỳ Đồng - Bà Huyện Thanh Quan phía bên phải là tu viện Dòng Chúa Cứu Thế và Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, một ngôi thánh đường xây năm 1952 với kiến trúc độc đáo, không mang những nét cổ kính, trang trọng của các nhà thờ ở tây phương mà cũng không “nửa đình nửa chùa” (sẽ trở thành một cái mốt thời thượng sau năm 1975).



    Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp

    Đối diện với nhà thờ và tu viện Dòng Chúa Cứu Thế, bên kia đường - góc Kỳ Đồng & Bà Huyện Thanh Quan - tới thập niên 1960 có trường Anh ngữ Ziên Hồng của hai anh em ông Lê Bá Kông & Lê Bá Khanh, vốn là hai giáo sư Anh văn kiêm tác giả tự điển Anh-Việt nổi tiếng từ ngày còn ở Hà Nội.

    Đường Kỳ Đồng chấm dứt tại ngã ba Kỳ Đồng & Nguyễn Thông, quẹo trái đi về hướng thành phố, quẹo phải thì đi vào khu du đãng khét tiếng nhất nhì Hòn ngọc Viễn đông gần bờ kinh Nhiêu Lộc, từng được nhà văn Duyên Anh đưa vào tiểu thuyết của ông. Trong suốt mười mấy năm sống ở Sài Gòn tôi chỉ dám đi vào khu này một lần duy nhất: ngồi trên xe Honda của một anh bạn người nhái Hải Quân rất được đám du đãng nể mặt!

    * * *

    Từ ngã ba Trương Minh Giảng Kỳ - Đồng đi về hướng bắc, trước khi tới cầu, ở phía bên phải có một con hẻm khá rộng đi vào xóm chùa Miên. Gọi như thế vì phía bên trong gần bờ kinh có một ngôi chùa Miên (Khmer) tên là chùa Chantarangsay, còn gọi là chùa Candaransi, được xem là một trong hai ngôi chùa Miên lớn nhất, đẹp nhất ở Sài Gòn.




    Chùa Chantarangsay

    Xóm chùa Miên còn có một lối vào khác từ đường Yên Đỗ, rộng rãi, sạch sẽ hơn, cư dân đa phần thuộc hàng trung lưu. Tôi biết được điều này vì có một tay bạn thân “đẹp trai con nhà nghèo học dốt” nhưng có tâm hồn nghệ sĩ, say mê một tiểu thư trong hẻm mang những nét đẹp của nữ diễn viên Audrey Hepburn, được nàng đáp lại một cách rất ư là… văn nghệ (có tiếng không có miếng) cho tới ngày lên xe hoa với một anh chàng không đẹp trai nhưng con nhà giàu.

    Đi thêm vài chục mét tới cầu Trương Minh Giảng bắc qua kinh Nhiêu Lộc, là khúc cuối của rạch Thị Nghè.


    Kinh Nhiêu Lộc - rạch Thị Nghè dài khoảng 9 km, là một nhánh của sông Sài Gòn bắt đầu từ Thị Nghè ngay bên cạnh hãng Ba Son (Hải Quân Công Xưởng), chảy lên hướng bắc rồi tây bắc, lần lượt đi qua Quận 1, Quận Bình Thạnh, Quận Tân Bình, Quận 3 rồi chấm dứt tại khu chăn nuôi của chính phủ ở Tân Sơn Nhất (phía bắc đường Thoại Ngọc Hầu, gần Ngã Tư Bảy Hiền).

    Hiện nay dưới chế độ mới, kinh Nhiêu Lộc - rạch Thị Nghè được gọi chung là kinh Nhiêu Lộc - Thị Nghè nhưng trước năm 1975 được phân định rõ ràng. Trong một bản đồ chính thức của Đô thành Sài Gòn, đoạn từ Thị Nghè tới cầu Công Lý gọi là “rạch Thị Nghè”, từ cầu Công Lý trở đi là “kinh Nhiêu Lộc”.

    Nhưng cho dù gọi là rạch hay kinh, dòng nước này cũng đã gắn bó với họ ngoại chúng tôi từ đầu, khi vừa di cư vào Nam năm 1954, tạm trú gần cửa rạch Thị Nghè để rồi sau đó an cư lạc nghiệp tại Phú Nhuận bên bờ kinh Nhiêu Lộc cho tới những ngày cuối cùng của VNCH.

    * * *
    Trước năm 1975, không phải người dân Sài Gòn - Gia Định nào cũng biết rõ “lộ trình” của rạch Thị Nghè - kinh Nhiêu Lộc nhưng những cây cầu bắc ngang thì hầu như ai cũng nghe tên, hoặc đã từng đi qua, khắc ghi bao kỷ niệm.

    Khởi đầu từ Thị Nghè, trước hết là cầu Thị Nghè, nối liền đường Hồng Thập Tự của Quận 1 với đường Hùng Vương của quận Bình Thạnh. Vừa qua cầu, phía bên phải là đường vào chợ Thị Nghè, cạnh chợ là một vườn hoa, từ đây có cây cầu bê-tông dành cho người đi bộ sang Thảo cầm viên.

    Nhân dịp lễ mừng lễ Quốc Khánh 26/10/1957, chính quyền tổ chức hội chợ tại Thảo cầm viên, tới khi bắn pháo bông, dân chúng từ hai đầu cầu lũ lượt kéo nhau lên cầu xem cho rõ, người càng lúc càng đông, gây ra cảnh hỗn loạn trên cầu.



    Cầu đi bộ từ Thị Nghè sang Thảo cầm viên

    Thấy thế, cảnh sát phải can thiệp bằng cách bắn chỉ thiên để giải tán bớt số người đang chen lấn nhau lên cầu nhưng vô ích, cuối cùng đưa tới cảnh dẵm đạp lên nhau, khiến số người thiệt mạng trên mặt cầu cùng số người rơi xuống sông chết đuối lên tới 17 người.

    Thời gian này gia đình bà ngoại tôi đã an cư ở Phú Nhuận, hai người cậu nhỏ có đi hội chợ nhưng không ai có mặt trên cầu vào lúc xảy ra tai nạn.

    Ngày ấy, tỷ lệ dân chúng đọc báo chẳng có là bao, đa số chỉ nghe tin tức truyền miệng cho nên mấy chục năm sau vẫn có người kể về vụ “sập cầu Thị Nghè”.

    Thực ra cây cầu cho người đi bộ sang Thảo cầm viên vẫn còn đó nhưng đã bị đóng cửa vĩnh viễn, hai đầu cầu có cổng sắt khóa kín (nhưng mấy cậu học trò tiểu học nhỏ con vẫn có thể lách qua được).

    Đi qua con đường vào chợ khoảng 100 mét, cũng phía bên phải là nhà thờ Thị Nghè, một ngôi nhà thờ khá nhỏ nhưng có những đẹp riêng, nơi tôi thường theo bà ngoại đi dự lễ ngày mới di cư vào Nam. Bên trái nhà thờ là ngôi trường Phước An nguy nga bốn tầng lầu, trước kia là Đại chủng viện Sài Gòn. Tôi từng được bà ngoại đưa tới gặp các bà Sœur áo trắng để xin học nhưng sau đó lại lên Tha La xóm đạo lập nghiệp.



    Nhà thờ Thị Nghè và trường Phước An

    Kế tới là cầu Phan Thanh Giản, cây cầu dài nhất trên rạch Thị Nghè, một cây cầu bê-tông hiện đại được xây vào năm 1961 để nối liền thành phố với xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa vừa được khánh thành. Vì là cửa ngõ Sài Gòn, cầu Phan Thanh Giản rất đông xe cộ nhưng khu vực này không có nhiều hàng quán, cửa tiệm buôn bán.

    (Chính tại cây cầu này, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám Đốc CSQG, đã bị trọng thương trong trận Mậu Thân 1968, đợt 2)

    Cây cầu thứ ba bắc qua rạch Thị Nghè cầu sắt Dakao trên đường Bùi Hữu Nghĩa. Cây cầu không lớn nhưng mang những nét cổ xưa độc đáo, làm bằng sắt đen, vừa có đường rầy xe lửa (không còn sử dụng) và xe cộ các loại vừa có lối nhỏ cho người đi bộ.



    Cầu sắt Dakao (tranh vẽ)

    Đặc biệt, không hiểu vì nguyên nhân gì, nước ở khúc này rất trong, cứ tới chiều đám trẻ con lại leo lên lan can cầu rồi nhảy ùm xuống rạch, nô đùa trông rất vui mắt.

    Với người Sài Gòn – Gia Định năm xưa, cầu sắt Dakaonày là một phần ký ức, không chỉ vì gần cầu có nhà nữ ca sĩ Hoàng Oanh (nổi tiếng như cồn với ca khúc Tha La Xóm Đạo) mà còn có trường Thánh Mẫu, nhà thờ Gia Định trước khi tới chợ Bà Chiểu…


    Sau cầu sắt Dakao là cầu Bông, nối liền đường Đinh Tiên Hoàng, Quận 1 với đại lộ Lê Văn Duyệt thuộc quận Bình Thạnh, Gia Định. Có lẽ đây là cây cầu quen thuộc nhất, nổi tiếng nhất trong số những cây cầu bắc ngang rạch Thị Nghè. Chẳng thế mà khi “chế” lời hát trong ca khúc Gạo Trắng Trăng Thanh của Hoàng Thi Thơ người ta không quên đưa cả cầu Bông vào:

    “Ai đang đi trên cầu Bông rớt xuống sông ướt cái quần ni-lông…”


    Cầu Bông

    Cầu Bông là đường đi tới Lăng Ông Bà Chiểu, và trước đó là trường nữ Trung học Lê Văn Duyệt, được ghi nhận là trường nữ trung học công lập lớn thứ ba ở Sài Gòn – Gia Định sau Trưng Vương và Gia Long, tuy nhiên có lẽ vì cái tên trường không được thơ mộng cho lắm cho nên các cô nữ sinh Lê Văn Duyệt ra vẻ không có giá bằng các bạn Trưng Vương, Gia Long, cho dù đất Gia Định không thiếu hoa khôi.

    Kế tới là cầu Kiệu, nối liền đường Hai Bà Trưng (một bên đường là Quận 1, một bên là Quận 3) với đại lộ Võ Di Nguy (Phú Nhuận, quận Tân Bình). Cầu Kiệu là một trong những cây cầu lâu đời nhất ở Sài Gòn – Gia Định, có từ thời vua Gia Long.


    Cầu Kiệu

    Hai Bà Trưng - Võ Di Nguy là tuyến đường dài nhất băng qua rạch Thị Nghè, từ bến Bạch Đằng chạy lên tới gần Tổng y viện Cộng Hòa cho nên cầu Kiệu cũng được xem là quan trọng nhất trong số những cây cầu bắc ngang con rạch này.

    Riêng tôi còn “may mắn” được chứng kiến một hoạt cảnh khá vui mắt tại cầu Kiệu. Đó là vào khoảng năm 1966 hay 1967, nam ca sĩ Nhật Trường (nhạc sĩ Trần Thiện Thanh) sau khi nhập ngũ và tốt nghiệp Hạ sĩ quan về phục vụ tại Cục Tâm Lý Chiến, đã mặc quân phục mang lon Trung sĩ tới cầu Kiệu để “gác cầu” cùng với anh em binh sĩ Địa Phương Quân thuộc Tiểu khu Gia Định, được người ái mộ vây quanh.

    Dĩ nhiên, đây chỉ là một màn trình diễn để cho mọi người thấy chàng ca sĩ kiêm nhạc sĩ là lính thiệt chứ không phải… lính kiểng!

    Từ cầu Kiệu, rạch Thị Nghè chảy về hướng tây khoảng nửa cây số thì tới cầu Công Lý và trở thành kinh Nhiêu Lộc.

    Trước khi viết về cầu Công Lý cũng xin có đôi dòng về đường Công Lý.

    Thời Pháp thuộc, đường Công Lý được gọi là đường Mac-Mahon, đặt theo tên Thống chế Patrice Maurice de Mac-Mahon, làm Tổng thống Pháp từ năm 1873 tới năm 1879, được người Việt phiên âm thành "Mặt má hồng”.

    Lúc đầu, đường Mac-Mahon chỉ chạy từ bến Chương Dương tới đường Hiền Vương (tên cũ là Mayer), phải đợi tới cuối thập niên 1930, sau khi phi cảng Tân Sơn Nhất khai thác các chuyến bay quốc tế, nhà cầm quyền thuộc địa mới cho xây dựng đường Mac-Mahon “nối dài” (rue Mac-Mahon prolongée) để làm trục lộ chính kết nối phi cảng và trung tâm thành phố Sài Gòn.

    Cây cầu bắc ngang kênh Nhiêu Lộc cũng được đặt tên là cầu Mac-Mahon. Thế nhưng bên cạnh những người gọi đây là cầu "Mặt má hồng” lại có nhiều người (đa số thuộc tầng lớp bình dân) kêu là cầu “Bạc má hồng”.

    Tại sao cùng một cái tên tiếng Pháp “Mac-Mahon” mà con đường thì gọi là "Mặt má hồng” còn cây cầu thì kêu là “Bạc má hồng”?

    Không có câu trả lời chính thức. Một số nhà báo ra vẻ hiểu biết giải thích như sau: vì cầu là nơi các cô gái bị thất tình thường tới nhảy xuống sông tự tử cho nên gọi là cầu “Bạc má hồng” ra vẻ có lý hơn là cầu "Mặt má hồng”.

    Tôi hoàn toàn không chấp nhận lối giải thích này bởi vì muốn nhảy xuống sông để tìm cái chết người ta phải nhảy xuống một dòng sông sâu, chẳng hạn cầu Bình Lợi trên sông Sài Gòn ngày ấy nổi tiếng có nhiều cô bị sở khanh tặng bầu rồi quất ngựa truy phong tới để tự tử, trong khi mực nước của kinh Nhiêu Lộc dưới cầu “Bạc má hồng” khi nước rút chỉ còn một hai gang tay thì làm sao “trầm mình” được (đây cũng là nguyên nhân khiến tay đặc công VC Nguyễn Văn Trỗi bị bại lộ khi âm mưu đặt mìn dưới cầu Công Lý để ám sát Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert McNamara vào năm 1964).


    Năm 1955, sau khi giành được độc lập, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cho đổi tên đường Mac-Mahon từ bến Chương Dương tới cầu Mac-Mahon thành đường Công Lý, từ cầu đi lên phi cảng Tân Sơn Nhất thành Đại lộ Ngô Đình Khôi (là tên người anh cả của TT Ngô Đình Diệm bị Việt Minh chôn sống cùng với con trai là Ngô Đình Huân trong cuộc “cách mạng mùa thu”).

    Riêng cầu Mac-Mahon thì được đổi tên thành cầu Công Lý; từ đó hai cái tên "Mặt má hồng” và “Bạc má hồng” dần dần chìm vào quên lãng.


    Cầu Công Lý

    Sau cuộc đảo chánh lật đổ TT Ngô Đình Diệm ngày 1/11/1963, các tướng lãnh cho đổi tên Đại lộ Ngô Đình Khôi thành Đại lộ Cách Mạng 1-11, còn cây cầu và đường Công Lý (từ cầu tới bến Chương Dương) vẫn giữ tên Công Lý.

    Sau biến cố 30 tháng Tư năm 1975, chính phủ lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (của Mặt Trận Giải Phóng) nhập hai đường Công Lý và Cách Mạng 1-11 thành một và đặt tên là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, từ đó cùng với việc đường Tự Do bị đổi tên thành đường Đồng Khởi trong dân gian đã có câu vè:

    Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý
    Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do.

    Mười năm sau, Thành ủy TP.HCM ra lệnh cắt đôi đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, đoạn từ cầu Công Lý lên Tân Sơn Nhất (đại lộ Cách Mạng 1-11 trước đây) được đặt tên đường Nguyễn Văn Trỗi, tay đặc công Việt Cộng bị xử bắn năm 1964.

    Như tôi đã viết ở kỳ đầu, trong số ba con đường chính nối trung tâm thành phố Sài Gòn với vùng ngoại ô phía bắc - gồm Công Lý, Trương Minh Giảng, Lê Văn Duyệt - đường Công Lý đẹp, sang, yên tĩnh, có nhiều biệt thự, cư dân đa số thuộc thành phần trung lưu, thượng lưu, nhưng chẳng có gì thu hút người qua lại. Riêng tôi chỉ thỉnh thoảng mới ghé nhà H, một thằng bạn học con nhà giàu ở dãy nhà lầu trước cầu khoảng 100 mét, phía bên trái hướng đi vào Sài Gòn.

    Cho tới khi Thượng tọa Thích Tâm Giác xây chùa Vĩnh Nghiêm ở dưới chân cầu phía bên phải thuộc Quận 3, khu vực này mới tấp nập thiện nam tín nữ tới chiêm bái, dập dìu tài tử giai nhân tới ngoạn cảnh.

    (Tôi sẽ viết về ngôi chùa đẹp và nổi tiếng bậc nhất Sài Gòn và Thượng tọa Thích Tâm Giác ở một phần sau)

    * * *

    Sau cầu Công Lý tới cầu Trương Minh Giảng, cây cầu cuối cùng trên thủy lộ rạch Thị Nghè - kinh Nhiêu Lộc.


    Khác với những cây cầu đã kể ở trên được xem là ranh giới thiên nhiên giữa Sài Gòn và Gia Định, cầu Trương Minh Giảng qua bờ phía bắc vẫn còn thuộc Quận 3 của Đô thành Sài Gòn, phải đi qua nhà thờ Vườn Xoài mới bắt đầu thuộc xã Phú Nhuận, quận Tân Bình, tỉnh Gia Định.

    Như tôi đã đề cập tới ở đầu thiên hồi ký này, có một chi tiết liên quan tới đường Trương Minh Giảng - Trương Minh Ký mà cho tới nay cả trang mạng Wikipedia lẫn một số tác giả vẫn viết sai, đó là ranh giới Sài Gòn - Gia Định trên con đường này.

    Wikipedia viết ranh giới ấy là cầu Trương Minh Giảng, một số tác giả, người tham gia bình luận cũng viết như thế, có lẽ họ suy ra từ việc vào năm 1985, nhà cầm quyền CSVN đã cho đổi tên đường Trương Minh Giảng từ cầu trở về đường Trần Quý Cáp (Võ Văn Tần) thành đường Trần Quốc Thảo, còn từ cầu đi lên Lăng Cha Cả là đường Lê Văn Sỹ.

    Trong khi đó lại có một tác giả tên tuổi viết chắc ăn như bắp ranh giới ấy là cổng xe lửa số 6, từ đây đường Trương Minh Giảng mới trở thành Trương Minh Ký.

    Vì thế, tôi xin phép khẳng định một lần nữa: ranh giới Sài Gòn - Gia Định, tức chỗ đường Trương Minh Giảng đổi tên thành Trương Minh Ký là con hẻm họp chợ Vườn Xoài, tức là đi qua nhà thờ Vườn Xoài, và trước khi tới cổng xe lửa số 6.

    Đọc tới đây, dân Trương Minh Giảng, Trương Minh Ký cựu trào từng chứng kiến cuộc “đổi đời” sẽ nhớ chi tiết sau đây: sau 30 tháng Tư năm 1975, cả hai con đường này được hợp lại và mang tên Nguyễn Văn Trỗi, tới năm 1985 mới chia đôi (tại cầu) để mang hai tên Trần Quốc Thảo, Lê Văn Sỹ.
    Sở dĩ ngay sau 30 tháng Tư năm 1975 người ta lấy tên Nguyễn Văn Trỗi đặt cho con đường Trương Minh Giảng - Trương Minh Ký và cả cái chợ Trương Minh Giảng là vì trước kia tay đặc công Việt Cộng này sống ở khu vực Vườn Xoài.

    Mãi tới năm 1985, cùng với một chiến dịch vinh danh “liệt sĩ” Nguyễn Văn Trỗi ở miền Nam với các tượng đài, công viên, nhà lưu niệm…, tên của y mới được lấy để đặt cho đoạn đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa từ cầu Công Lý đi lên Tân Sơn Nhất (riêng chợ Trương Minh Giảng vẫn giữ tên chợ Nguyễn Văn Trỗi).

    * * *
    Tới đây tôi xin phép ra ngoài đề để viết đôi dòng về nhân vật Nguyễn Văn Trỗi, không phải để tuyên truyền cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa mà với mục đích để thế hệ sinh sau đẻ muộn được biết những gì đã thực sự xảy ra tại tòa án xét xử Nguyễn Văn Trỗi, cũng như tại pháp trường nơi anh ta bị xử bắn, cho tới nay vẫn bị truyền thông của CSVN xuyên tạc, bịa đặt một cách trâng tráo.


    Nguyễn Văn Trỗi (NVT) sinh năm 1940 tại làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam trong một gia đình có bốn người con.

    Sau khi người cha bỏ vợ con vào Sài Gòn làm ăn rồi đi luôn, NVT bị mồ côi mẹ từ năm 10 tuổi, tới năm 13 tuổi vào Đà Nẵng kiếm sống; và tới năm 16 tuổi vào Sài Gòn, ở trọ cùng nhà với một người họ hàng cùng quê, ban đầu đạp xích lô để kiếm sống, về sau học thêm nghề thợ điện và trở thành công nhân tại Nhà máy điện Chợ Quán.

    Sống ở khu Vườn Xoài, năm 1963 NVT được Việt Cộng nằm vùng dụ vào một tổ đặc công (VC gọi là “biệt động thành”) với ba người cùng quê làng Thanh Quýt.

    Qua năm 1964, được tin phái đoàn của của Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert McNamara sẽ tới Sài Gòn vào ngày 11 tháng 5, NVT và ba người được lệnh đặt bom tại cầu Công Lý với mục đích ám sát ông McNamara.

    Sau khi chất nổ được lén đưa tới một vị trí dưới gầm cầu, tối 10/5/1964, NVT và một đồng bọn được phân công tới gài dây điện vào bom, nhưng vì nước đã rút cạn, thay vì dầm mình xuống nước đã phải lội bì bõm trên sình nên gây ra tiếng động và cuối cùng bị lộ, cả hai bị cảnh sát vây bắt.

    Ra tòa, NVT bị kết án tử hình và bị xử bắn tại sân sau Khám Chí Hòa sáng ngày 15/10/1964, trước sự chứng kiến của nhiều phóng viên trong nước và ngoại quốc.

    Ngay sau đó, NVT đã được CSVN, CS Cuba và truyền thông thiên tả trên thế giới xưng tụng như một người hùng. Tại miền Bắc VN, từ năm 1964 tới năm 1969 đã có tới ba tác phẩm văn học (một của Tố Hữu), hai tác phẩm âm nhạc, hai tác phẩm điện ảnh ca tụng NVT.

    Về phía các thế lực phản chiến ở tây phương, “ruồi bu” nhất phải là việc cô đào Mỹ Jane “Hanoi” Fonda lấy trên “Trổi” (phiên âm thành “Troy”) đặt cho con trai: Troy Garity.



    Vợ chồng Jane Fonda + con trai

    Hiện nay, tìm đọc tiểu sử của NVT trên trang mạng Wikipedia được viết theo tuyên truyền của CSVN, độc giả sẽ thấy anh ta được xưng tụng là “chiến sĩ cách mạng anh hùng trên tất cả mọi anh hùng”.

    Nhưng trên thực tế, mặc dù NVT có hô “Hồ Chí Minh muôn năm” sau khi bị tòa tuyên án tử hình, trước đó trong lúc bị Ủy viên Chính phủ buộc tội, anh ta đã khóc lóc, chửi những kẻ xúi dục anh ta là “bọn chó đẻ”.



    Nguyễn Văn Trỗi (trái) và tòng phạm Nguyễn Hữu Lợi trước tang vật

    Đáng nói nhất là trước khi bị bắn, NVT đã “vãi đái” ướt sũng cái quần trắng trước mắt bao phóng viên và Luật sư Nguyễn Văn Chức, người được chỉ định biện hộ cho anh ta. (1)

    (Còn tiếp)

    CHÚ THÍCH

    (1) Luật sư Nguyễn Văn Chức là người được Luật sư đoàn Sài Gòn chỉ định biện hộ cho Nguyễn Văn Trỗi vào năm 1964, và một tay đặc công khác vào năm 1965 là Trần Văn Đang, bị bắt trước khi kịp cho nổ bom tại Câu lạc bộ sĩ quan Mỹ ở đường Võ Tánh, quận Tân Bình.

    Về sau ông Nguyễn Văn Chức đã viết một bài rất chi tiết về hai cuộc biện hộ này, trong đó ông không dấu sự thương cảm dành cho Trần Văn Đang, người mà ông rất muốn cứu mạng, và sự khinh thường đối với Nguyễn Văn Trỗi.
    Xin đọc bài viết theo link dưới đây:


    https://hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/th%E1%BB%9Di-s%E1%BB%B1/s%C6%B0u-t%E1%BA%A7m-bi%C3%AAn-kh%E1%BA%A3o/16136-t%E1%BB%AD-h%C3%ACnh-kh%E1%BB%A7ng-b%E1%BB%91-vc-tr%E1%BA%A7n-v%C4%83n-%C4%91ang-t%E1%BA%A1i-ph%C3%A1p-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-c%C3%A1t
    Last edited by Nguyen Huu Thien; hôm nay, 05:19 PM.


Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter

Working...