Hồi ký
ĐƯỜNG TÔI ĐI - Nửa Đời Cầm Bút (3)
Nguyễn Hữu Thiện
* Để tưởng nhớ những người từng chung những quãng đường đời mà nay đã khuất bóng
ĐƯỜNG TÔI ĐI - Nửa Đời Cầm Bút (3)

Nguyễn Hữu Thiện
* Để tưởng nhớ những người từng chung những quãng đường đời mà nay đã khuất bóng
Gươm Lạc Giữa Rừng Hoa
Rời Tây Ninh cuối năm 1956, gia đình tôi về Sài Gòn tạm trú tại nhà bà ngoại ở hẻm 6 Trương Minh Ký (lúc đó còn gọi là Trương Minh Giảng “nối dài”). Ít lâu sau, qua sự mách bảo của người dượng, bố tôi xin được một chân học việc thợ mộc ở hãng Ba Son, lúc đó vừa được người Pháp bàn giao cho Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, được mang danh xưng chính thức là Hải Quân Công Xưởng.
Với tiền lương (học việc) ít ỏi của bố tôi và giá sinh hoạt ở Sài Gòn, cuộc sống cũng khá chật vật cho nên mẹ tôi có ý định đưa chúng tôi về Hố Nai, Biên Hòa, nơi người chị và người em gái của mẹ tôi đã định cư từ năm 1954, để bố tôi ở lại Sài Gòn một mình.
Ý định này bị bà ngoại tôi ngăn cản. Theo bà, thay vì về Hố Nai mẹ tôi cứ ở lại Sài Gòn mở một cửa “hàng xén” (tiếng Bắc xưa gọi tiệm tạp hóa) ngay trong hẻm 6 này, kiếm được đồng nào hay đồng nấy còn hơn là về Hố Nai không biết làm gì. Bà nói mẹ tôi được ăn học, lại khôn ngoan đảm đang nhất nhà, chẳng lẽ lại thua người ta (ý bà muốn nói những người quen biết chẳng học hành gì mà giàu có nhờ buôn bán).
Về “cơ sơ vật chất”, bà ngoại cho mẹ tôi miếng đất trống đối diện nhà bà để cất tạm một căn nhà vách gỗ mái tôn, khi nào có tiền sẽ xây nhà mới.
Miếng đất trống nói trên nằm trong một khu đất lớn của chính phủ, một phần được người dân sử dụng để trồng rau từ bao đời, còn lại là nơi đổ rác và chỗ cho trẻ con đá banh, thả diều, nay được chính phủ xây nhà bán rẻ cho quân nhân công chức, gọi là Cư xá Kiến Thiết.
Nhưng chỉ ít lâu sau khi việc xây cất cư xá khởi sự từ hướng bắc thì ở phía nam đã có nhiều người dân tự động tới cất nhà, bất chấp những tấm biển với hàng chữ “ĐẤT CHÍNH PHỦ, CẤM CẤT NHÀ”.
Cùng với những người dân nói trên còn có những tay hoạt đầu đưa đàn em tới cắm cọc xí phần trên khu đất công đang trở thành đất “chùa”.
Bà ngoại tôi thấy thế cũng cắm cọc “xí” một miếng đối diện nhà mình, cho trồng rau lang để gián tiếp cho mọi người biết đất… đã có chủ.
Đây là miếng đất có vị trí tốt nhất vì nằm ngay ngã ba hẻm 6 và lối đi lên Cư xá Kiến Thiết, nhưng mấy tay hoạt đầu (có mướn “anh chị” đi theo) không dám đụng tới có lẽ vì nể mặt dượng tôi, lúc đó mang lon trung úy, phục vụ tại Bộ Tổng Tham Mưu, thường được tài xế đưa đón bằng xe Jeep.
* * *
Rất tiếc mẹ tôi đã không nghe theo lời khuyên của bà ngoại để rồi sau đó long đong lận đận một đời!
Theo suy đoán của tôi sau này, ngày ấy mẹ tôi không nghe theo lời khuyên của bà ngoại chỉ vì muốn về Hố Nai cho có chị có em.
Nguyên bên ngoại tôi có một truyền thống gắn bó tới mức tôi cho là cực đoan, bảo thủ! Ông ngoại tôi có năm người con gái, ba người lớn lấy chồng từ ngày còn ở ngoài Bắc (mẹ tôi là người thứ nhì).
Tôi được nghe kể lại điều kiện tiên quyết trong việc chọn rể của ông bà là phải là người cùng làng, vì ông bà sợ con gái làm dâu phương xa sẽ bị… nhà chồng ăn hiếp. Vì thế người chị của mẹ tôi ăn học ở Hà Nội với các Soeur sau đó cũng lấy người cùng làng; mẹ tôi nổi tiếng xinh gái, đảm đang, có học được một đám trên (thành phố) Nam Định về hỏi nhưng ông bà tôi dứt khoát từ chối…
Vì thế ngay từ ngoài Bắc ba chị em đã kề cận, nay bỏ xứ ra đi lại càng thân thiết. Sự gắn bó, yêu thương nhau giữa ba chị em thường trở thành đề tài ca tụng của người cùng giáo xứ, xem đó như một gương sáng.

Nhà thờ đầu tiên của giáo xứ Bùi Chu, Hố Nai, xây năm 1956. Trước đó, giáo dân dự lễ trong một ngôi nhà tôn vách ván
về sau được sử dụng làm hợp tác xã dệt. Trong hình, các cậu bé Nghĩa Binh (sau này gọi là Thiếu Nhi Thánh Thể)
đội mũ bê-rê kiểu thủy thủ Pháp may bằng vải, vành rất rộng, trông không giống ai, về sau bị dẹp bỏ
về sau được sử dụng làm hợp tác xã dệt. Trong hình, các cậu bé Nghĩa Binh (sau này gọi là Thiếu Nhi Thánh Thể)
đội mũ bê-rê kiểu thủy thủ Pháp may bằng vải, vành rất rộng, trông không giống ai, về sau bị dẹp bỏ

Nhà thờ thứ hai của giáo xứ Bùi Chu khánh thành năm 1967, lấy kiểu từ nhà thờ Đức Bà ở Anjou (Notre Dame
d’Anjou), Canada. Sau năm 1975, ngôi nhà thờ này đã bị phá bỏ để xây nhà thờ khác, “hoành tráng” hơn
d’Anjou), Canada. Sau năm 1975, ngôi nhà thờ này đã bị phá bỏ để xây nhà thờ khác, “hoành tráng” hơn

Nhà thờ Đức Bà ở Anjou, Canada
Nhưng với riêng tôi, việc bị mẹ đưa về giáo xứ Bùi Chu ở Hố Nai đã mang lại một hậu quả vô cùng tai hại: “gươm lạc giữa rừng hoa”, tôi bị đưa vào một lớp học toàn con gái, chỉ có một mình tôi là con trai!
Xin được kể đầu đuôi.
Ngày còn ở Tha La tôi đã lên lớp Ba (lớp 4 ngày nay) thì về Hố Nai lẽ ra tôi phải được học tiếp lớp Ba, nhưng vì lớp Ba đã hết chỗ, muốn đi học tôi phải chấp nhận học lại lớp Tư (lớp 3 ngày nay) mới còn chỗ trống.
Trường học nhắc tới ở đây là Trường tiểu học công lập Minh Đức ở ấp Bùi Chu, xã Hố Nai, quận Đức Tu, tỉnh Biên Hòa.
Ấp Bùi Chu, cũng là giáo xứ Bùi Chu, nằm gần cuối vùng Hố Nai nhưng không hiểu vì có dân số đông nhất hay vì có nhiều người có bằng cấp nên được chính quyền tỉnh ưu tiên xây một ngôi trường tiểu học khang trang, tường gạch mái tôn, lớn nhất vùng Hố Nai lúc bấy giờ.

Trường tiểu học Minh Đức. Hình chụp khi đã được xây thêm một dãy phòng học ở cuối hình
Hiệu trưởng kiêm thầy giáo dạy lớp Nhất (lớp 6) là ông giáo Ky, một người quen biết gia đình tôi vì ngày còn ở Hà Nội ông học trên người dì thứ tư (hiện ở Sài Gòn) và người cậu lớn của tôi mấy lớp.
Ông giáo Ý, dạy lớp Nhì (lớp 5) cũng là người Bắc di cư, từ Sài Gòn (Hòa Hưng) về; ông giáo Lan, dạy lớp Ba (lớp 4) cũng Bắc di cư, từ Sài Gòn đưa cả gia đình về Bùi Chu sống; ông giáo Hiếu, người xứ Bùi Chu, tuy chỉ dạy lớp Tư (lớp 3) nhưng lại trông trí thức, sang trọng nhất nhờ dáng vẻ đạo mạo, ăn nói dõng dạc, luôn luôn thắt cà-vạt, đeo kính gọng vàng…
Ngày ấy, học trò ở miền nam VN chỉ học một buổi nên có lớp sáng, lớp chiều; riêng Trường tiểu học Minh Đức vào thời gian tôi về Bùi Chu, từ lớp Tư trở xuống còn chia ra lớp con trai, lớp con gái học riêng.
Bác C, chị của mẹ tôi, lãnh nhiệm vụ dắt tôi tới văn phòng của trường xin học. Bác là người từng ăn học ở Hà Nội, hiện giữ chức Thư ký Hội đồng Giáo xứ Bùi Chu cho nên rất được mọi người nể trọng. Tuy nhiên, uy tín ấy cũng không đủ sức thuyết phục ông giáo Lan nhận tôi vào lớp Ba vì đã chật cứng.
Thấy vậy ông giáo Ky, hiệu trưởng, nói với bác C cứ cho tôi học đỡ lớp Tư, đợi khi nào có một học trò lớp Ba bỏ học, ông sẽ cho tôi lên lớp, trường hợp không có ai bỏ học, sang năm ông sẽ cho tôi “nhảy lớp” lên lớp Nhì, nếu tôi không theo kịp thì mới phải xuống lớp Ba.
Không có lựa chọn nào khác, bác tôi phải theo đề nghị của ông giáo Ky. Nhưng tới khi ông giáo Hiếu lên tiếng thì tôi giật bắn cả người: lớp Tư buổi sáng của con trai đã hết chỗ, tôi sẽ phải học lớp Tư buổi chiều của con gái!
Về nhà, tôi nói với mẹ tôi nhất định không đi học lớp Tư con gái nhưng cuối cùng cũng phải nghe lời mẹ, một phần vì có cô chị họ và cô em họ cũng đang học lớp Tư buổi chiều của ông giáo H, mà tôi thì rất thân với cô em họ này.
Nói cho ngay, ở bậc tiểu học cũng như trung học, trai gái học chung là chuyện bình thường, chẳng hạn lớp Tư và lớp Ba của tôi hồi còn ở Tha La xóm đạo. Thế nhưng ở đây tôi lại là thằng con trai duy nhất trong một lớp toàn con gái.
Không chỉ toàn con gái mà còn có những cô sắp tới tuổi lấy chồng!
Hẳn nhiều người còn nhớ vào thời gian những năm đầu sau cuộc di cư vào Nam năm 1954, đã xảy ra tình trạng trai gái lớn tồng ngồng mới học tiểu học. Nguyên nhân do trước kia gia đình lo chạy giặc, tản cư, di cư, việc học hành của con cái bị gián đoạn, hoặc ngày còn ở ngoài Bắc không được đi học vì nhà nghèo, vừa có trí khôn đã phải phụ giúp cha mẹ trong công việc đồng áng, chăn nuôi, sản xuất, hoặc chỉ đơn thuần vì trong làng không có trường học, không có người dạy học tại tư gia.
Lấy làng Du Hiếu, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định của tôi làm thí dụ điển hình. Làng không có trường học, và trong số bốn ông “bạ” (tức “chưởng bạ”, người có trình độ được chính quyền trao việc trông coi sổ sách về ruộng đất và dân cư ở làng xã) chỉ có ông Bạ Cư, anh trai của ông ngoại tôi, nhận dạy học trò tại tư gia, nên còn được gọi là “ông giáo Cư”.
Học trò của ông đều là con trai. Riêng mẹ tôi may mắn được ông Bạ Phác, người có trình độ cao nhất trong số bốn ông “bạ” và cũng là người trong thân tộc bên ngoại nhận lời làm gia sư, còn bác C (chị gái của mẹ tôi) và các cậu các dì đều phải lên Nam Định hoặc Hà Nội để ăn học.
Tới thế hệ tôi, làng vẫn chưa có trường học. Tôi được mẹ dạy ở nhà bằng một phương cách độc đáo (có thể một số người đã áp dụng nhưng tôi chưa được nghe kể): lấy cái que chấm vào bát nước rồi viết trên nền đất.
Ở thôn quê miền Bắc ngày ấy đa số nhà cửa có nền bằng đất sét. Nhà ông nội tôi (để lại cho bố tôi) và nhà ông ngoại tôi là hai trong số hiếm hoi những ngôi nhà có nền gạch, nhưng ngôi nhà phụ (thường gọi là “nhà ngang”), nơi ăn uống, để cối xay, cối giã gạo thì cũng nền đất.
Những lúc rảnh rỗi, mẹ tôi dạy tôi học chữ, học toán bằng phương tiện “tiền sử” ấy; sau khi di cư vào Nam, tôi mới biết tới tập vở, bút mực.
* * *
Trở lại với chuyện “gươm lạc giữa rừng hoa”, nếu đây là một lớp trung học đệ nhị cấp thì quả thật việc tôi là thằng con trai duy nhất trong một lớp học toàn con gái phải được xem là một diễm phúc, nhưng đây lại là một lớp tiểu học với đa số con gái lớn tuổi hơn tôi, chỉ có vài ba cô bằng tuổi hoặc kém tuổi tôi trong đó có người chị họ và cô em họ.

Cũng “gươm lạc giữa rừng hoa” nhưng tôi không được may mắn, hạnh phúc như cậu bé trong hình
Tôi được ông giáo Hiếu cho ngồi ở bàn đầu nhưng không bao giờ được ông để ý, hỏi han. Một phần vì tôi không gặp “vấn đề” trong việc học hành (lớp Ba học lại lớp Tư mà), một phần vì ông chỉ thích… con gái!
Xin viết ngay tôi không hề có ý liên hệ ông giáo Hiếu với “cha già dân tộc” ấu dâm mà chỉ muốn nói ông rất cưng mấy cô học trò xinh xắn, dễ thương, trong đó có cô trưởng lớp sắp tới tuổi lấy chồng và cô em họ của tôi. Riêng cô em họ của tôi tháng nào cũng có tên trong Top 3 của lớp, không nhất thì nhì, không nhì thì ba; hậu quả, mỗi lần cô về nhà khoe được đứng nhất là tôi lại bị mẹ mắng cho một trận về cái tội học dốt!
Nhưng tôi không buồn và cũng chẳng bao giờ phân trần, tôi tự biết mình học giỏi hơn đám nữ nhi ấy là đủ.
Chỉ có một việc xảy ra, viết cho chính xác là một cái “hận” mà suốt đời tôi không bao giờ quên là việc tôi bị ông giáo Hiếu bắt “thoát y 50%” cho đám con gái chiêm ngưỡng thân hình.
Số là hôm đó tới môn “cách trí” (khoa học thường thức) với đề tài thân thể con người. Thay vì chỉ cần đọc cho học trò viết “Thân thể người ta gồm ba phần: đầu, mình, và tay chân”, ông giáo Hiếu lại nảy sáng kiến bắt tôi lên bục đứng, cởi trần cho bọn con gái thấy… đầu, mình, và tay chân!
Nếu việc này xảy ra tại một nước tây phương vào thế kỷ thứ 21 chắc chắn ông giáo Hiếu đã bị bố mẹ tôi kiện ra tòa về tội “lợi dụng trẻ em” (child abuse) rồi!
Chính vì bị ông giáo Hiếu bắt cởi trần cho đám con gái đếm 24 cái xương sườn mà tới gần cuối năm học tôi đã thừa cơ phục hận!
Nguyên vào khoảng giữa năm, có thêm 4, 5 cậu con trai vào học lớp Tư con gái của ông giáo Hiếu, trong đó có một tay cũng bị học lại lớp Tư như tôi tên là Hùng. Có bạn cùng phái, tôi không còn mặc cảm “gươm lạc giữa rừng hoa” nữa mà nhìn cái đám con gái học dốt bằng nửa con mắt.
Và một cơ hội bằng vàng đã tới để tôi phục hận!
Hôm ấy cả lớp làm toán; như thường lệ, ông giáo Hiếu viết đề toán trên bảng, học trò chép vào vở rồi làm bài giải trong vở, ai xong trước thì đem nộp trên bàn để thầy chấm, chấm xong có hai “đệ tử” đem xuống trả lại cho mọi người.
Toán lớp Tư với tôi dễ như ăn cơm sườn cho nên khi thấy mình bị một con zero to tướng, tôi vô cùng kinh ngạc, đám con trai làm giống tôi cũng bị zero cả lũ.
Tôi chưa kịp có phản ứng gì thì ông giáo Hiếu đã gọi cô học trò trưởng lớp lên bảng viết lại bài giải của cô để ai làm sai thì chép vào vở.
Nhưng hỡi ơi, cô ta làm sai bét. Tôi liền “double-check” với Hùng và hai thằng đi tới kết luận chắc chắn 100% cô ta làm sai mà được 10 điểm trong khi chúng tôi làm đúng lại bị ăn trứng vịt!
Thế rồi ông giáo Hiếu hết lời khen ngợi cô trưởng lớp và đám con gái (phần lớn cóp-bi nhau nên làm giống hệt) và chê lũ con trai chúng tôi dốt.
Nhìn cô trưởng lớp đứng trên bục cười toe toét, tôi nóng mặt đứng phắt dậy, lớn tiếng nói cho ông giáo Hiếu biết cô ta làm sai, tôi và đám con trai mới làm đúng, thì bị ông nạt:
- Gớm thật!… Thằng này nó đòi giỏi hơn thầy đấy!
Nhưng sau khi thằng Hùng cũng đứng lên phụ họa với tôi, ông giáo Hiếu ngần ngừ một vài giây rồi nói tôi đưa vở lên cho ông xem lại bài giải…
Quan sát nét mặt “nghiêm và buồn” của ông, tôi biết chúng tôi đã thắng. Một lát sau ông vừa cười vừa nói đùa cho đỡ ngượng:
- Thằng này nó giỏi hơn thầy thật!
Rồi ông nói tôi lên bảng xóa bài giải của cô trưởng lớp và chép bài giải của tôi lên.
Sau vụ này, tôi trở thành người hùng của đám con trai và bị đám con gái xem như “thế lực thù địch”. Báo hại cô em họ của tôi cũng bị đám con gái ghét lây, tẩy chay!
Về phần mẹ tôi, dĩ nhiên bà biết đây chỉ là một “tai nạn nghề nghiệp” của ông giáo Hiếu do quá tin tưởng cô học trò trưởng lớp xinh đẹp, nhưng mỗi lần tôi nhắc lại chuyện này bà đều tủm tỉm cười, chắc hẳn phải thầm hãnh diện trong lòng.
* * *
Tới kỳ hè, tôi được vào lớp học kèm của ông giáo Lan để chuẩn bị “nhảy” lên lớp Nhì (lớp 5).
Xin có đôi dòng về vị thầy đáng kính (và đáng sợ) nhất của tôi thời tiểu học.
Sau khi trở thành giáo viên tại Trường tiểu học Minh Đức, ông giáo Lan, một người theo đạo Phật, đã đưa cả gia đình từ Sài Gòn về ấp Bùi Chu sống. Sau này tôi mới biết người con trai lớn của ông ở lại Sài Gòn là bạn học của người cậu thứ nhì của tôi ở Trung học Võ Trường Toản.
Ông giáo Lan dáng người bệ vệ, mặt đỏ như Quan Công, giọng sang sảng như chuông đồng, dạy giỏi và rất tận tâm. Chính vì tận tâm, cứ tới kỳ nghỉ hè ông lại mượn một phòng học ở trường Minh Đức để kèm học miễn phí cho những học trò quá kém trong lớp Ba của ông đủ sức lên lớp Nhì.
Tôi và thằng Hùng không phải học trò lớp Ba nhưng thuộc trường hợp đặc biệt (lớp Ba bị học lại lớp Tư) nên cũng được ông giáo Lan thu nhận. Trong lớp học kèm năm đó còn có hai người con của ông là chị em Chiêu, Phách.
Chị Chiêu sau này lấy một hạ sĩ quan thông dịch viên người giáo xứ Bùi Chu còn Phách thì tới những năm 1967, 1968 có gặp lại tôi một vài lần ở Đại học Luật khoa Sài Gòn trước khi tình nguyện gia nhập Không Quân lái máy bay trực thăng.
Thế còn đáng sợ?
Xin thưa, ông giáo Lan đáng sợ vì ông rất nóng tính, hay quát mắng và đôi khi bạt tai học trò với 24 thành công lực! Nguyên chính khiến ông nổi nóng không phải vì học trò nghịch phá mà vì không lĩnh hội được những gì ông giảng dạy.
Sau này nhớ lại tôi không chỉ thông cảm với việc hay nổi nóng của ông mà còn cảm nhận được cả nỗi bực tức, khổ tâm của ông khi thấy học trò không hiểu bài, như thể đó là lỗi của ông (dạy dở).
Mỗi khi giảng xong, ông thường kiểm tra những trò dốt nhất để xem chúng có hiểu hay không, nếu không ông kiên nhẫn giảng giải cho tới khi hiểu mới thôi. Trường hợp đã tận lực mà vẫn không có kết quả ông mới nổi nóng, quát mắng và đôi khi cho ăn một bạt tai.
Hai người con của ông không được miễn trừ. Chính mắt tôi chứng kiến Phách bị ăn bạt tai ít nhất một lần, còn chị Chiêu thì khóc vì bị bố quát mắng trong lớp là chuyện thường.
* * *
Nếu ông giáo Lan là người thầy đáng kính sợ nhất thì ông giáo Ý, thầy giáo lớp Nhì, là người thầy đáng mến phục nhất của tôi thời tiểu học. Có thể viết không sợ quá lời, ông đã để lại ảnh hưởng sâu đậm nơi tôi trên con đường học vấn cũng như khi bước vào trường đời.
Ông không áp dụng kỷ luật sắt như ông giáo Lan để buộc học trò phải chăm chú nghe ông giảng bài mà thu hút đối tượng bằng sự hiểu biết, cách giảng bài dễ hiểu kèm theo những câu chuyện bên lề thú vị.
Sau này nhớ lại, tôi vẫn phải phục ông giáo Ý có kiến thức rất rộng, cho nên một cậu học trò lớp Nhì như tôi xem ông là một cuốn tự điển sống cũng là điều dễ hiểu!
Bên cạnh đó, ông còn có tài vẽ. Tôi đoán ông có học hội họa cho nên mới có thể vẽ những bức tranh rất đẹp để minh họa cho những đề tài giảng dạy quan trọng.
* * *
Năm lớp Nhất của tôi ở Trường tiểu học Minh Đức lẽ ra phải là năm nhiều kỷ niệm nhất, đáng nhớ nhất của thời tiểu học nếu như tôi không phải bỏ dở để lên Sài Gòn.
Đây cũng là năm lớp Nhất đúng nghĩa đầu tiên của Trường Minh Đức.
Như đã viết ở trên, vì nhiều nguyên nhân phức tạp, trong những năm mới di cư vào Nam đã xảy ra tình trạng trai gái lớn tồng ngồng vẫn còn học tiểu học. Phải đợi mấy năm sau, khi đám con trai tới tuổi lao động đã nghỉ học để ở nhà phụ giúp cha mẹ, đám con gái tới tuổi dậy thì đã lần lượt lên xe hoa thì học trò trong các lớp học mới tương đối đồng trang lứa; học trò lớp Nhất thường ở vào tuổi 11, 12.
Bên cạnh đó, có thể chỉ là một sự vô tình, lớp Nhất năm 1958 còn được xem là lớp hội tụ nhiều “tinh hoa” nhất của ấp Bùi Chu, niềm hãnh diện của ông giáo Ky mỗi khi nhắc lại thuở ban đầu của Trường tiểu học Minh Đức.
Dù chỉ học ở đây khoảng 2, 3 tháng tôi vẫn còn nhớ những thằng bạn thân sau này tốt nghiệp đại học hoặc mang lon lá trong quân đội, như thằng Bắc tốt nghiệp Sư phạm, thằng Truật Trung úy Hải Quân, anh em Nhu, Thắng thì anh Trung úy Hải Quân, em Trung úy Thủy Quân Lục Chiến, thằng Bách (con ông giáo Lan) thì pi-lốt trực thăng…
* * *
Nguyên nhân khiến tôi phải bỏ dở lớp Nhất ở Hố Nai để lên Sài Gòn là vì bố mẹ tôi lại quyết định đi phương xa lập nghiệp!
Thực ra vào thời gian này gia đình tôi đã tương đối an cư lạc nghiệp. Bố tôi làm ở hãng Ba Son (Hải Quân Công Xưởng), cứ cuối tuần lại về Hố Nai thăm nhà.
Tôi không biết tiền lương của ông (nhân viên phù động, chưa vào ngạch) ít hay nhiều nhưng có điều chắc chắn cũng đủ ăn vì đồng tiền thời Tổng thống Ngô Đình Diệm rất có giá.
Phải đủ ăn ông mới dám tậu một cái máy hát đĩa hiệu RCA Victor của Mỹ, và mua hai đĩa hát Gạo Trắng Trăng Thanh, Trăng Rụng Xuống Cầu của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ do đôi uyên ương Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết song ca.

Máy hát đĩa lên giây thiều hiệu RCA Victor
Ngày ấy phương tiện nghe nhạc chỉ có máy thu thanh (radio) chạy bằng điện, ở Bùi Chu chưa có điện cho nên cái máy hát đĩa chạy bằng giây thiều của bố tôi đã trở thành niềm tự hào vô biên của thằng trưởng nam thích “nổ” như tôi!
Chưa kể bố tôi còn được mọi người gọi bằng phương danh “ông ký Thuyết” do việc ông từng làm Thư ký Hội đồng xã An Hòa ở Trảng Bàng, thay vì “ông xã Thuyết” như ngày còn ở ngoài Bắc.
Cũng xin có đôi dòng về những tước danh “chánh, bá, lý, ký, trương, xã…” đứng trước tên cúng cơm của một số đàn ông miền Bắc.
Trước hết, với những người thực sự nắm giữ chức vụ thì đó là cách gọi tắt chức vụ, thí dụ “chánh” là chánh tổng (ngoài đời), chánh trương (trong xứ đạo), “trùm” là trùm khu (trong xứ đạo), “lý” là lý trưởng, “ký” là thư ký (làm việc trong các cơ quan hành chánh, công quyền), “trương” là trương tuần (chỉ huy đám tráng đinh trách nhiệm an ninh, trật tự trong làng), v.v...
Còn với những người không nắm giữ chức vụ mà cũng có tước danh trước tên gọi thì chỉ là tước “mua”.
Theo sự giải thích của bà ngoại tôi, những tước “mua” này do làng xã bán ra, không phải bán thả cửa (như bằng Tiến sĩ ở VN hiện nay) mà mỗi loại tước được ấn định tối đa có bao nhiêu người để tránh… lạm phát.
Cũng theo lời kể của bà ngoại tôi, vì giá trị tiền bạc ngày ấy ở các vùng thôn quê nhiều khi không thống nhất, thay đổi theo thời cuộc cho nên giá của những tước “mua” ấy được tính bằng thóc (lúa).
Những người có tước “mua” này ngoài việc được mang nó trước tên gọi còn được miễn nhiều công tác đạo, đời, chẳng hạn đắp đê, sửa đường xá, vác cờ quạt, khiêng trống trong các cuộc rước, làm tạp dịch trong các dịp lễ hội…
Vì thế nếu không nắm giữ chức vụ gì trong làng, người ta phải cố mua cho mình một cái tước danh, thậm chí có người còn bỏ tiền ra mua cho các con để cả dòng họ được “ngước mặt nhìn đời”.
Họ nội tôi là một thí dụ điển hình.
Nguyên ông nội tôi là ông Trùm một họ đạo thuộc giáo xứ Quất Lâm, đương nhiên được gọi là “ông Trùm”.
Ông có bốn người con trai, trong đó chỉ có người thứ ba học hành tới nơi tới chốn, tinh thông Hán Việt, được làng phong chức chưởng bạ, gọi là “ông Bạ”, ba người còn lại thì bác cả là thợ may, bác thứ hai buôn bán, bố tôi, con trai út, ở nhà trông coi vườn tược; cả ba người sau khi lấy vợ đã được ông nội tôi mua cho tước “xã”.
Rất có thể vì “xã” là cái tước “mua” rẻ nhất cho nên trong làng tôi có khá nhiều “ông xã” trong đó có bố tôi: “ông xã Thuyết”.
* * *
Nếu hơn ba năm trước đây bố mẹ tôi lên Tha La, Trảng Bàng, lập nghiệp là do nghe lời bà ngoại thì lần này lên Phước Long cũng là nghe lời một người bác họ, con trai của chị ông ngoại mà trước đây chúng tôi đã tá túc ở Thị Nghè.
Bác Ba, cũng trạc tuổi bố tôi, là người thích bay nhảy, đang làm việc tại Bộ Công Chánh khi biết được những ưu đãi của chính phủ dành cho công chức tình nguyện lên Phước Long xây dựng tỉnh mới, đã thuyết phục được bố mẹ tôi đi theo gia đình bác.

Sân bay dã chiến trước Tòa Hành Chánh tỉnh Phước Long, xa xa là núi Bà Rá
Thế là tôi được đưa về Sài Gòn ở với bà ngoại, cùng người cậu út học hành cho có bạn.
(Còn tiếp)

