Hỏi Đáp về việc con Ác Thú Stasi
của Đông Đức đã huấn luyện cho đệ tử Cộng sản Bắc Việt những gì, trong bao nhiêu năm.
by Le Tung Chau & Google AI Gemini Plus, Oct. 4, 2026
{ Như thường lệ, phần Hỏi Đáp là bằng Anh ngữ, và tôi dịch lại qua Việt ngữ để hầu quý độc giả. Vì nếu hỏi Gemini bằng Việt ngữ thì user sẽ bị chộ cái kho Data đểu cáng của Việt Cộng. }
___________
|| Sau khi Saigon thất thủ Apr. 1975, Stasi vẫn còn làm ông thầy tiếp tục huấn luyện dạy nghề cho Công an mật vụ Việt Xã Nghĩa kéo dài đến khi Đông Đức bị dân chúng vùng lên kéo đổ sập vào Nov. 9, 1989. ||
___________ Hỏi:
Nhân tiện, xin bạn cho biết vắn tắt quá trình Stasi đã huấn luyện tay nghề của mình cho cán bộ Bắc Việt như thế nào để Bắc Việt có thể trở thành một phó bản của Satasi?
By the way, could you briefly describe the progress that Stasi has made in preparing North Vietnamese cadres to be its replicas?
Đáp:
Từ năm 1965 cho đến khi Bức tường Berlin sụp đổ vào năm 1989, Stasi đã là một vai trò chủ lực – ông trùm lớn trong việc huấn luyện cho Công an Bắc Việt và tối tân hóa bộ máy Công an Bắc Việt. Cho dẫu từ trước, Công an Bắc Việt đã có cách riêng tự bén rễ sâu cho bộ máy của nó rồi, nhưng "nguồn yểm trợ từ các nước Cộng sản anh em" do Đông Đức mang lại đã để lại một tầm ảnh hưởng sâu rộng đến năng lực kỹ thuật của Công an Bắc Việt, biến Bộ Công an này thành một khí cụ tinh vi vô song trong việc giam lỏng và canh chừng toàn dân trên mọi mặt của đời sống xã hội. [1, 2]
Căn cứ nơi kho tài liệu lưu trữ của Trung tâm Wilson, thì việc hợp tác giữa hai nước Cộng sản anh em đó đã ghi một vết hằn trong lịch sử giữa Đông Đức với Bắc Việt, có dính dáng tới mấy thành tố chủ chốt khác nữa, sau đây là điểm lược tiến trình và bản chất của việc hợp tác đó:
1. Đem Cán Bộ Bắc Việt qua Đông Đức để Huấn luyện tay nghề chuyên môn
Stasi không chỉ đưa đoàn cố vấn của nó đến Hà Nội; mà còn tuyển lựa cán bộ Bắc Việt rồi đem qua Đông Đức để đào tạo nâng cao tay nghề gián điệp, pháp y và kỹ thuật phản gián. [1, 3]
▶ Các chức vụ hàng đầu: Những thực tập sinh như Nghiêm Sỹ Tạo và Châu Diệu Ái khi về nước đã leo cao chức vụ trong guồng máy an ninh mật vụ của Bắc Việt. Về sau, Tạo làm Phó Cục trưởng Cục Kỹ thuật Nghiệp vụ, còn Ái là Viện trưởng Khoa học Hình sự, trực tiếp thực thi các phương pháp nghiệp vụ đã được Stasi dạy dỗ. [4]
▶ Phát tán Kỹ thuật: Nhờ Stasi mà Bắc Việt đã nổi lên thành một đại ca truyền nghề công an chìm ở vùng Đông Dương. Sau khi học được các ngón nghề do Stasi chỉ dạy, đại ca Công an Bắc Việt đã đem những kỹ thuật theo dõi, rình mò đó truyền lại cho lực lượng an ninh mật vụ cộng sản tại Ai Lao và Cao Miên sau năm 1975. [5]
2. Làm giấy tờ giả và đánh cắp thẻ Căn Cước ở Việt Nam Cộng Hòa
Trong Chiến tranh Việt Nam, Stasi là ông thầy hết sức đắc lực giúp cho Bắc Việt việc làm giả thẻ Căn Cước Việt Nam Cộng Hòa, nhờ đó các đặc công gián điệp Cộng sản Bắc Việt dễ trà trộn thâm nhập vào Việt Nam Cộng Hòa. [6]
▶ Thẻ Căn Cước màu xanh có hình con Rồng chìm: Stasi đã trực tiếp truyền nghề cho cán bộ Bắc Việt cách làm giống y hệt thẻ Căn Cước của Việt Nam Cộng Hòa. Nhờ ngón nghề này, các cán bộ Cộng sản cao cấp hoạt động tại miền Nam có được một vỏ bọc hợp pháp và dễ qua mắt hàng rào an ninh của Cảnh sát Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa. [6]
▶ Viện trợ Kỹ nghệ: Để quá trình này có thể tự chạy ngay tại chỗ ở Bắc Việt không cần phải vươn tay qua Đông Đức xa xôi, Đông Đức đã chở qua Bắc Việt nguyên một dàn máy móc, trang thiết bị chuyên nghiệp và sau rốt là xây cất cho Bắc Việt một nhà xưởng chuyên sản xuất ra loại giấy chuyên dùng trong việc làm giả giấy tờ; xưởng máy này tới năm 1980 mới xây xong. [6]
3. Truyền nghề rình mò, theo dõi và nghe lén
Stasi đã xuất hàng viện trợ sang Bắc Việt các loại hình và máy móc kỹ thuật theo dõi giám sát chuyên nghiệp trị giá lên tới hàng triệu đồng tiền Mark Đông Đức. Việc viện trợ kỹ thuật này gồm có kỹ thuật kiểm soát đọc lén thư tín, thiết bị nghe lén điện thoại, các thiết cụ đặt trong phòng nhà ở, tư gia … để ghi âm và nghe lén, cộng với cả một mạng lưới liên lạc viễn thông bí mật riêng, không cho công chúng biết. Việc xuất hàng viện trợ cho Bắc Việt với số thiết cụ kỹ thuật quy mô lớn như thế đã thả cửa cho Bộ Công an mật vụ Bắc Việt mặc sức thực thi các guồng máy rình mò, giám sát và kiểm soát toàn dân trong nước, hệ guồng máy đó được dựng lên không khác gì một bản sao in hệt bố với con với hệ thống giám sát toàn diện khép kín của chính Stasi. [1, 2, 5, 7]
4. Nghi ngờ trong bụng và thân thiện ngoài mặt
Vào tháng 10 – 1980, mối hợp tác hữu nghị giữa Đông Đức và Bắc Việt đã chính thức công khai hóa khi Giám đốc Stasi là Erich Mielke và Bộ trưởng Nội vụ Việt Nam Xã Nghĩa Phạm Hùng ký kết với nhau một thỏa ước hợp tác toàn diện, chuyên vào việc kiểm soát, canh chừng nghiêm ngặt toàn dân và thêm một điều gọi là “bảo vệ kinh tế” { * }. [1, 8]
Tuy nhiên, nếu nói là Đông Đức và Bắc Việt là hai bản sao rập khuôn nhau thì đó là thứ bản sao bất toàn do cả hai đều ngấm ngầm và dai dẳng không tin nhau. { ** }
Cũng theo nguồn tài liệu thu thập được ngay tại cơ quan đầu não Stasi, người ta thấy rằng, song song với việc đào tạo cán bộ mật vụ cho Việt Nam, cả Stasi lẫn Công an tình báo Bắc Việt đều rất siêng năng hăng hái thực hiện công tác gián điệp với hàng ngàn sinh viên và công nhân Việt Nam đang sinh sống tại Đông Đức, do bởi mối lo sợ rằng, từ trong con số ngàn người này sẽ bất thần có những vụ nhảy rào tư tưởng hoặc các biến tướng làm gián điệp dọ thám cho Tây phương. [2, 5, 9]
Sau khi Saigon thất thủ Apr. 1975, Stasi vẫn còn làm ông thầy tiếp tục huấn luyện dạy nghề cho Công an mật vụ Việt Xã Nghĩa kéo dài đến khi Đông Đức bị dân chúng vùng lên kéo đổ sập vào Nov. 9, 1989.
___________
LTC chú thích:
{ * }: tập ngữ “bảo vệ kinh tế” là một chứng tích về cái não trạng quái đản hết sức riêng chỉ ở các nước Cộng sản mới có.
Để vắn tắt cắt nghĩa tập ngữ “bảo vệ kinh tế” này sau đây tôi xin sơ lược phần ý chánh, chứ nếu giải nghĩa cho đầy đủ thì phải mất vài trang giấy.
Não trạng quái đản ấy vốn được đẻ ra ngay từ thời Staline bên Nga sô kể từ năm 1924 trở đi, trong đó, Nga cộng (Staline) dầu biết rõ mười mươi là nền kinh tế chỉ huy (command economy) hay còn có cái tên khác là kinh tế tập trung [ trái ngược hoàn toàn với nền kinh tế thị trường (Market Economy) hay còn gọi là kinh tế tự do ] của Nga là suy yếu, bệnh hoạn nếu không nói là một nền kinh tế thất bại, nhưng không thể nào cải cách nó đi để thay vào đó bằng Market Economy, bởi vì một khi cho vận hành Market Economy thì chủ thuyết Cộng sản (đểu cáng, bịp bợm và phỉnh gạt dân) sẽ bị đổ nhào dẫn tới hệ quả là chế độ Cộng sản cũng nhào đổ theo bởi vì lý thuyết đó nó tai hại, phi lý và phi thực tế. Mà mục đích của chế độ Cộng sản là độc đảng toàn trị bất cần biết dân đói no ra sao, vì thế dẫu nó lỡ dựa vào chủ thuyết Karl Marx sai lầm, tai hại, bịp bợm và phi thực tế đi nữa, chế độ Cộng sản cũng cứ cố bám vào Marx, ca tụng Marx, đưa Marx lên bàn thờ để còn khoác cái lớp áo «có lý do chính đáng» đặng còn đứng được, vì hễ mở miệng buông chủ thuyết Karl Marx ra là chế độ Cộng sản tiêu vong ngay.
Từ thực tế thất bại kinh tế đó, Nga cộng mới lập ra một lớp an ninh mật vụ gọi là công an kinh tế, cốt nhắm tới bất cứ những ai chê bai, đả phá command economy và chống đối chủ thuyết Karl Marx, hay những ai dám đem kinh tế tư bản – Market Economy ra so đọ, đối chiếu, phân bì với kinh tế Cộng sản – command economy, nghĩa là những ai có ý muốn «vượt rào» dù là bằng lời nói hay hành động, ví dụ như nông dân, công nhân làm việc ươn lười, chểnh mảng trên nông trường hay hãng xưởng, lập tức bị kết tội là «phá hoại kinh tế». Một khi đã bị kết án tội «phá hoại kinh tế» dù là tội hạng nhẹ thôi thì nạn nhân phải bị án tù mười năm, hai mươi năm khổ sai là thường. Còn tội hạng nặng là bị đưa về Pác Pó đoàn tụ ngay!
Vào Giai đoạn Đại thanh trừng (hay Đại khủng bố) do Staline tung ra [ từ 1936 – 1938 ] để triệt hạ đối thủ chính trị và dọn đường để một mình y ta độc nắm quyền hành ở Nga cộng, thì người ta thường thấy trong hầu hết các phiên tòa xử những đồng chí cao cấp cựu trào cùng thời với Lenine, nạn nhân đều nhận tội là «phá hoại kinh tế».
Bạn đọc có thể liên tưởng và đối chiếu cái bàn thờ Chủ nghĩa xã hội, bàn thờ Hồ tặc ở Việt Xã Nghĩa thời nay với cái bàn thờ Karl Marx thời Cộng sản Đông Âu thì sẽ thấy nó giống y chang nhau như đúc!
{ ** }: lý do chánh là Bắc Việt đi theo Tàu cộng, làm đệ tử trung thành của Mao. Còn Đông Đức thì thuộc khối Cộng sản Đông Âu do Nga cộng làm trùm. Staline chết năm 1953, Khrushchev lên thay. Năm 1956, Khrushchev chính thức phát động cải cách đường lối của Nga cộng, phê phán Staline mắc tội ác dã man tàn bạo và mở màn chủ trương xét lại nghĩa là Cộng sản không việc gì phải đối đầu quân sự trực diện với khối tư bản Tây phương nữa và muốn «sống chung hòa bình» với Mỹ và Tây phương.
Hanoi đã làm đầy tớ của Mao, bị Hoa Lục siết cổ quá chặt không dám hó hé cho nên trong não trạng cũng nhìn Đông Đức là kẻ cần phải dè chừng bởi vì Đông Đức là đệ tử của Liên Sô [ USSR = the Union of Soviet Socialist Republics = Lên bang Cộng hòa Xã hội Sô Viết ].
___________
Những link nguồn này là do Gemini trưng dẫn.
[1] https://www.wilsoncenter.org
[2] https://www.academia.edu
[3] https://en.wikipedia.org
[4] https://www.tandfonline.com
[5] https://www.tandfonline.com
[6] https://www.wilsoncenter.org
[7] https://www.academia.edu
[8] https://www.tandfonline.com
[9] https://www.gis-reseau-asie.org
Nguyên Văn:
From 1965 until the fall of the Berlin Wall in 1989, the Stasi played a substantial role in modernizing and training the North Vietnamese Ministry of Public Security (MPS). While the Vietnamese security apparatus was already deeply rooted in its own methods, East Germany's "fraternal aid" heavily influenced its technical capabilities, turning the MPS into a highly sophisticated tool for social control and surveillance. [1, 2]
The progress and nature of this historical cooperation involved several key elements according to archival research by the Wilson Center:
1. Specialized Cadre Training in East Germany
The Stasi did not just send advisors to Hanoi; it brought selected North Vietnamese cadres to East Germany for advanced training in espionage, forensics, and technical counterintelligence. [1, 3]
* Key Appointments: Trainees like Nghiêm Sỹ Tạo and Châu Diệu Ái became high-ranking figures within Vietnam’s security network. Tạo went on to become the deputy head of Vietnam's Technical Operations sector, while Ái headed the Forensic Institute, directly implementing Stasi-taught operational methodologies. [4]
* Technological Dissemination: The Stasi effectively turned Vietnam into a regional hub for secret police training. After learning Stasi tactics, the Vietnamese MPS subsequently passed these surveillance techniques down to communist security forces in Laos and Cambodia after 1975. [5]
2. Document Fabrication and Identity Theft
During the Vietnam War, the Stasi provided critical assistance in forging identities to help communist agents infiltrate South Vietnam. [6]
* "Green Dragon" Cards: The Stasi explicitly trained Vietnamese cadres on how to duplicate South Vietnamese identity cards. This enabled high-level communist cadres to operate covertly in the south without being detected by South Vietnamese police. [6]
* Industrial Support: To make this process self-sustaining, East Germany shipped specialized equipment and ultimately helped build a document fabrication paper factory in Vietnam, which was completed in 1980. [6]
3. Transfer of Surveillance and Bugging Technology
The Stasi exported millions of East German Marks' worth of specialized surveillance technology to Hanoi. This included postal control techniques, phone-tapping equipment, room-bugging hardware, and secret telecommunications networks. This massive tech transfer allowed the Vietnamese security apparatus to implement deep domestic social control and surveillance systems modeled closely on the Stasi's own panoptic system. [1, 2, 5, 7]
4. Formalization and Mutual Distrust
The relationship was fully institutionalized in October 1980 when Stasi chief Erich Mielke and Vietnamese Minister of the Interior Phạm Hùng signed a comprehensive cooperation agreement focused on strict social control and economic protection. [1, 8]
However, they never became perfect "replicas" due to a persistent undercurrent of mutual mistrust. Stasi records show that while they trained Vietnamese cadres, both the Stasi and the North Vietnamese intelligence services actively spied on the thousands of Vietnamese students and guest workers living in East Germany, fearful of ideological deviations or rogue espionage. [2, 5, 9]
của Đông Đức đã huấn luyện cho đệ tử Cộng sản Bắc Việt những gì, trong bao nhiêu năm.
by Le Tung Chau & Google AI Gemini Plus, Oct. 4, 2026
{ Như thường lệ, phần Hỏi Đáp là bằng Anh ngữ, và tôi dịch lại qua Việt ngữ để hầu quý độc giả. Vì nếu hỏi Gemini bằng Việt ngữ thì user sẽ bị chộ cái kho Data đểu cáng của Việt Cộng. }
___________
|| Sau khi Saigon thất thủ Apr. 1975, Stasi vẫn còn làm ông thầy tiếp tục huấn luyện dạy nghề cho Công an mật vụ Việt Xã Nghĩa kéo dài đến khi Đông Đức bị dân chúng vùng lên kéo đổ sập vào Nov. 9, 1989. ||
___________ Hỏi:
Nhân tiện, xin bạn cho biết vắn tắt quá trình Stasi đã huấn luyện tay nghề của mình cho cán bộ Bắc Việt như thế nào để Bắc Việt có thể trở thành một phó bản của Satasi?
By the way, could you briefly describe the progress that Stasi has made in preparing North Vietnamese cadres to be its replicas?
Đáp:
Từ năm 1965 cho đến khi Bức tường Berlin sụp đổ vào năm 1989, Stasi đã là một vai trò chủ lực – ông trùm lớn trong việc huấn luyện cho Công an Bắc Việt và tối tân hóa bộ máy Công an Bắc Việt. Cho dẫu từ trước, Công an Bắc Việt đã có cách riêng tự bén rễ sâu cho bộ máy của nó rồi, nhưng "nguồn yểm trợ từ các nước Cộng sản anh em" do Đông Đức mang lại đã để lại một tầm ảnh hưởng sâu rộng đến năng lực kỹ thuật của Công an Bắc Việt, biến Bộ Công an này thành một khí cụ tinh vi vô song trong việc giam lỏng và canh chừng toàn dân trên mọi mặt của đời sống xã hội. [1, 2]
Căn cứ nơi kho tài liệu lưu trữ của Trung tâm Wilson, thì việc hợp tác giữa hai nước Cộng sản anh em đó đã ghi một vết hằn trong lịch sử giữa Đông Đức với Bắc Việt, có dính dáng tới mấy thành tố chủ chốt khác nữa, sau đây là điểm lược tiến trình và bản chất của việc hợp tác đó:
1. Đem Cán Bộ Bắc Việt qua Đông Đức để Huấn luyện tay nghề chuyên môn
Stasi không chỉ đưa đoàn cố vấn của nó đến Hà Nội; mà còn tuyển lựa cán bộ Bắc Việt rồi đem qua Đông Đức để đào tạo nâng cao tay nghề gián điệp, pháp y và kỹ thuật phản gián. [1, 3]
▶ Các chức vụ hàng đầu: Những thực tập sinh như Nghiêm Sỹ Tạo và Châu Diệu Ái khi về nước đã leo cao chức vụ trong guồng máy an ninh mật vụ của Bắc Việt. Về sau, Tạo làm Phó Cục trưởng Cục Kỹ thuật Nghiệp vụ, còn Ái là Viện trưởng Khoa học Hình sự, trực tiếp thực thi các phương pháp nghiệp vụ đã được Stasi dạy dỗ. [4]
▶ Phát tán Kỹ thuật: Nhờ Stasi mà Bắc Việt đã nổi lên thành một đại ca truyền nghề công an chìm ở vùng Đông Dương. Sau khi học được các ngón nghề do Stasi chỉ dạy, đại ca Công an Bắc Việt đã đem những kỹ thuật theo dõi, rình mò đó truyền lại cho lực lượng an ninh mật vụ cộng sản tại Ai Lao và Cao Miên sau năm 1975. [5]
2. Làm giấy tờ giả và đánh cắp thẻ Căn Cước ở Việt Nam Cộng Hòa
Trong Chiến tranh Việt Nam, Stasi là ông thầy hết sức đắc lực giúp cho Bắc Việt việc làm giả thẻ Căn Cước Việt Nam Cộng Hòa, nhờ đó các đặc công gián điệp Cộng sản Bắc Việt dễ trà trộn thâm nhập vào Việt Nam Cộng Hòa. [6]
▶ Thẻ Căn Cước màu xanh có hình con Rồng chìm: Stasi đã trực tiếp truyền nghề cho cán bộ Bắc Việt cách làm giống y hệt thẻ Căn Cước của Việt Nam Cộng Hòa. Nhờ ngón nghề này, các cán bộ Cộng sản cao cấp hoạt động tại miền Nam có được một vỏ bọc hợp pháp và dễ qua mắt hàng rào an ninh của Cảnh sát Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa. [6]
▶ Viện trợ Kỹ nghệ: Để quá trình này có thể tự chạy ngay tại chỗ ở Bắc Việt không cần phải vươn tay qua Đông Đức xa xôi, Đông Đức đã chở qua Bắc Việt nguyên một dàn máy móc, trang thiết bị chuyên nghiệp và sau rốt là xây cất cho Bắc Việt một nhà xưởng chuyên sản xuất ra loại giấy chuyên dùng trong việc làm giả giấy tờ; xưởng máy này tới năm 1980 mới xây xong. [6]
3. Truyền nghề rình mò, theo dõi và nghe lén
Stasi đã xuất hàng viện trợ sang Bắc Việt các loại hình và máy móc kỹ thuật theo dõi giám sát chuyên nghiệp trị giá lên tới hàng triệu đồng tiền Mark Đông Đức. Việc viện trợ kỹ thuật này gồm có kỹ thuật kiểm soát đọc lén thư tín, thiết bị nghe lén điện thoại, các thiết cụ đặt trong phòng nhà ở, tư gia … để ghi âm và nghe lén, cộng với cả một mạng lưới liên lạc viễn thông bí mật riêng, không cho công chúng biết. Việc xuất hàng viện trợ cho Bắc Việt với số thiết cụ kỹ thuật quy mô lớn như thế đã thả cửa cho Bộ Công an mật vụ Bắc Việt mặc sức thực thi các guồng máy rình mò, giám sát và kiểm soát toàn dân trong nước, hệ guồng máy đó được dựng lên không khác gì một bản sao in hệt bố với con với hệ thống giám sát toàn diện khép kín của chính Stasi. [1, 2, 5, 7]
4. Nghi ngờ trong bụng và thân thiện ngoài mặt
Vào tháng 10 – 1980, mối hợp tác hữu nghị giữa Đông Đức và Bắc Việt đã chính thức công khai hóa khi Giám đốc Stasi là Erich Mielke và Bộ trưởng Nội vụ Việt Nam Xã Nghĩa Phạm Hùng ký kết với nhau một thỏa ước hợp tác toàn diện, chuyên vào việc kiểm soát, canh chừng nghiêm ngặt toàn dân và thêm một điều gọi là “bảo vệ kinh tế” { * }. [1, 8]
Tuy nhiên, nếu nói là Đông Đức và Bắc Việt là hai bản sao rập khuôn nhau thì đó là thứ bản sao bất toàn do cả hai đều ngấm ngầm và dai dẳng không tin nhau. { ** }
Cũng theo nguồn tài liệu thu thập được ngay tại cơ quan đầu não Stasi, người ta thấy rằng, song song với việc đào tạo cán bộ mật vụ cho Việt Nam, cả Stasi lẫn Công an tình báo Bắc Việt đều rất siêng năng hăng hái thực hiện công tác gián điệp với hàng ngàn sinh viên và công nhân Việt Nam đang sinh sống tại Đông Đức, do bởi mối lo sợ rằng, từ trong con số ngàn người này sẽ bất thần có những vụ nhảy rào tư tưởng hoặc các biến tướng làm gián điệp dọ thám cho Tây phương. [2, 5, 9]
Sau khi Saigon thất thủ Apr. 1975, Stasi vẫn còn làm ông thầy tiếp tục huấn luyện dạy nghề cho Công an mật vụ Việt Xã Nghĩa kéo dài đến khi Đông Đức bị dân chúng vùng lên kéo đổ sập vào Nov. 9, 1989.
___________
LTC chú thích:
{ * }: tập ngữ “bảo vệ kinh tế” là một chứng tích về cái não trạng quái đản hết sức riêng chỉ ở các nước Cộng sản mới có.
Để vắn tắt cắt nghĩa tập ngữ “bảo vệ kinh tế” này sau đây tôi xin sơ lược phần ý chánh, chứ nếu giải nghĩa cho đầy đủ thì phải mất vài trang giấy.
Não trạng quái đản ấy vốn được đẻ ra ngay từ thời Staline bên Nga sô kể từ năm 1924 trở đi, trong đó, Nga cộng (Staline) dầu biết rõ mười mươi là nền kinh tế chỉ huy (command economy) hay còn có cái tên khác là kinh tế tập trung [ trái ngược hoàn toàn với nền kinh tế thị trường (Market Economy) hay còn gọi là kinh tế tự do ] của Nga là suy yếu, bệnh hoạn nếu không nói là một nền kinh tế thất bại, nhưng không thể nào cải cách nó đi để thay vào đó bằng Market Economy, bởi vì một khi cho vận hành Market Economy thì chủ thuyết Cộng sản (đểu cáng, bịp bợm và phỉnh gạt dân) sẽ bị đổ nhào dẫn tới hệ quả là chế độ Cộng sản cũng nhào đổ theo bởi vì lý thuyết đó nó tai hại, phi lý và phi thực tế. Mà mục đích của chế độ Cộng sản là độc đảng toàn trị bất cần biết dân đói no ra sao, vì thế dẫu nó lỡ dựa vào chủ thuyết Karl Marx sai lầm, tai hại, bịp bợm và phi thực tế đi nữa, chế độ Cộng sản cũng cứ cố bám vào Marx, ca tụng Marx, đưa Marx lên bàn thờ để còn khoác cái lớp áo «có lý do chính đáng» đặng còn đứng được, vì hễ mở miệng buông chủ thuyết Karl Marx ra là chế độ Cộng sản tiêu vong ngay.
Từ thực tế thất bại kinh tế đó, Nga cộng mới lập ra một lớp an ninh mật vụ gọi là công an kinh tế, cốt nhắm tới bất cứ những ai chê bai, đả phá command economy và chống đối chủ thuyết Karl Marx, hay những ai dám đem kinh tế tư bản – Market Economy ra so đọ, đối chiếu, phân bì với kinh tế Cộng sản – command economy, nghĩa là những ai có ý muốn «vượt rào» dù là bằng lời nói hay hành động, ví dụ như nông dân, công nhân làm việc ươn lười, chểnh mảng trên nông trường hay hãng xưởng, lập tức bị kết tội là «phá hoại kinh tế». Một khi đã bị kết án tội «phá hoại kinh tế» dù là tội hạng nhẹ thôi thì nạn nhân phải bị án tù mười năm, hai mươi năm khổ sai là thường. Còn tội hạng nặng là bị đưa về Pác Pó đoàn tụ ngay!
Vào Giai đoạn Đại thanh trừng (hay Đại khủng bố) do Staline tung ra [ từ 1936 – 1938 ] để triệt hạ đối thủ chính trị và dọn đường để một mình y ta độc nắm quyền hành ở Nga cộng, thì người ta thường thấy trong hầu hết các phiên tòa xử những đồng chí cao cấp cựu trào cùng thời với Lenine, nạn nhân đều nhận tội là «phá hoại kinh tế».
Bạn đọc có thể liên tưởng và đối chiếu cái bàn thờ Chủ nghĩa xã hội, bàn thờ Hồ tặc ở Việt Xã Nghĩa thời nay với cái bàn thờ Karl Marx thời Cộng sản Đông Âu thì sẽ thấy nó giống y chang nhau như đúc!
{ ** }: lý do chánh là Bắc Việt đi theo Tàu cộng, làm đệ tử trung thành của Mao. Còn Đông Đức thì thuộc khối Cộng sản Đông Âu do Nga cộng làm trùm. Staline chết năm 1953, Khrushchev lên thay. Năm 1956, Khrushchev chính thức phát động cải cách đường lối của Nga cộng, phê phán Staline mắc tội ác dã man tàn bạo và mở màn chủ trương xét lại nghĩa là Cộng sản không việc gì phải đối đầu quân sự trực diện với khối tư bản Tây phương nữa và muốn «sống chung hòa bình» với Mỹ và Tây phương.
Hanoi đã làm đầy tớ của Mao, bị Hoa Lục siết cổ quá chặt không dám hó hé cho nên trong não trạng cũng nhìn Đông Đức là kẻ cần phải dè chừng bởi vì Đông Đức là đệ tử của Liên Sô [ USSR = the Union of Soviet Socialist Republics = Lên bang Cộng hòa Xã hội Sô Viết ].
___________
Những link nguồn này là do Gemini trưng dẫn.
[1] https://www.wilsoncenter.org
[2] https://www.academia.edu
[3] https://en.wikipedia.org
[4] https://www.tandfonline.com
[5] https://www.tandfonline.com
[6] https://www.wilsoncenter.org
[7] https://www.academia.edu
[8] https://www.tandfonline.com
[9] https://www.gis-reseau-asie.org
Nguyên Văn:
From 1965 until the fall of the Berlin Wall in 1989, the Stasi played a substantial role in modernizing and training the North Vietnamese Ministry of Public Security (MPS). While the Vietnamese security apparatus was already deeply rooted in its own methods, East Germany's "fraternal aid" heavily influenced its technical capabilities, turning the MPS into a highly sophisticated tool for social control and surveillance. [1, 2]
The progress and nature of this historical cooperation involved several key elements according to archival research by the Wilson Center:
1. Specialized Cadre Training in East Germany
The Stasi did not just send advisors to Hanoi; it brought selected North Vietnamese cadres to East Germany for advanced training in espionage, forensics, and technical counterintelligence. [1, 3]
* Key Appointments: Trainees like Nghiêm Sỹ Tạo and Châu Diệu Ái became high-ranking figures within Vietnam’s security network. Tạo went on to become the deputy head of Vietnam's Technical Operations sector, while Ái headed the Forensic Institute, directly implementing Stasi-taught operational methodologies. [4]
* Technological Dissemination: The Stasi effectively turned Vietnam into a regional hub for secret police training. After learning Stasi tactics, the Vietnamese MPS subsequently passed these surveillance techniques down to communist security forces in Laos and Cambodia after 1975. [5]
2. Document Fabrication and Identity Theft
During the Vietnam War, the Stasi provided critical assistance in forging identities to help communist agents infiltrate South Vietnam. [6]
* "Green Dragon" Cards: The Stasi explicitly trained Vietnamese cadres on how to duplicate South Vietnamese identity cards. This enabled high-level communist cadres to operate covertly in the south without being detected by South Vietnamese police. [6]
* Industrial Support: To make this process self-sustaining, East Germany shipped specialized equipment and ultimately helped build a document fabrication paper factory in Vietnam, which was completed in 1980. [6]
3. Transfer of Surveillance and Bugging Technology
The Stasi exported millions of East German Marks' worth of specialized surveillance technology to Hanoi. This included postal control techniques, phone-tapping equipment, room-bugging hardware, and secret telecommunications networks. This massive tech transfer allowed the Vietnamese security apparatus to implement deep domestic social control and surveillance systems modeled closely on the Stasi's own panoptic system. [1, 2, 5, 7]
4. Formalization and Mutual Distrust
The relationship was fully institutionalized in October 1980 when Stasi chief Erich Mielke and Vietnamese Minister of the Interior Phạm Hùng signed a comprehensive cooperation agreement focused on strict social control and economic protection. [1, 8]
However, they never became perfect "replicas" due to a persistent undercurrent of mutual mistrust. Stasi records show that while they trained Vietnamese cadres, both the Stasi and the North Vietnamese intelligence services actively spied on the thousands of Vietnamese students and guest workers living in East Germany, fearful of ideological deviations or rogue espionage. [2, 5, 9]

