Hôm nay chính là ngày 6 tháng Giêng Âm lịch ( TẾT Nguyên Đán cổ truyền).
Để tưởng nhớ về ngày lễ giỗ hai vị nữ anh tài nước Nam, tôi xin gởi bài viết HAI BÀ: TRƯNG TRẮC, TRƯNG NHỊ.
Cảm ơn Admins. Cảm ơn quý anh chị ghé đọc bài do tôi viết.
Kính chúc Ban Quản Trị, thành viên và gia đình nhiều sức khỏe, vui tươi, cát tường, viên mãn, thân tâm an lạc nhé.
Quý mến và trân trọng
*
TƯỞNG NIỆM HAI BÀ TRƯNG ANH THƯ NƯỚC VIỆT
Tình Hoài Hương
*
Vào năm Giáp Ngọ 34, thế kỷ thứ Nhứt sau Công Nguyên, vua Hán Quang Vũ (Tàu) sai thái thú Tô Định từ bên Tàu qua nước Nam (lúc đó chúng gọi nước ta là Giao Chỉ). Giặc Tàu cai trị dân ta, Tô Định là một tên thái thú vô cùng dã man, tàn ác kinh khủng. Năm 40, Tô Định đã giết ông Thi Sách là dân ở quận Châu Diên, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên. Thi Sách là chồng bà Trưng Trắc. Bà Trưng Trắc có em gái là Trưng Nhị, hai chị em là con vị Lạc tướng ở làng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên.
Hai Bà chiêu mộ quân sĩ từ những làng: Cửu Chân, Hợp Phố, Nhật Nam, Lĩnh Ngoại. Dân chúng thời bấy giờ rất khổ sở, nên ai ai cũng căm hờn thù oán giặc Tàu. Họ đã nồng nhiệt hưởng ứng lời kêu gọi chống giặc của Hai Bà Trưng. Quân binh đồng một lòng tôn Hai Bà làm nữ tướng. Họ cùng Hai Bà hăng say nổi lên quyết chí đánh đuổi bọn Tàu.
Sĩ khí quan binh lúc bấy giờ lên rất cao. Mặc dù chỉ có giáo, mác, gậy gộc thô sơ, nhưng với sự đồng tâm và ý chí chống giặc bảo vệ giang sơn, toàn dân nhất quyết xông pha chiến đấu chống giặc thù xâm lăng. Tuy vô cùng gian khổ, nằm gai nếm mật, nhưng họ anh dũng đánh tan bè lũ Tàu Ô xâm lăng ở nhiều nơi, hạ được 65 thành giặc.
Dân Việt ta đều hết lời trầm trồ ca ngợi chiến công của hai vị nữ tướng can trường. Tô Định thua to, phải chạy trốn về quận Nam Hải. Từ đó dân chúng tôn Hai Bà lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh. Hai Bà yêu nước, thương nhà, mến quân, đồng tâm rửa nhục mất nước xưa, quyết xây dựng giang sơn sự nghiệp của các vua Hùng. Lòng yêu nước quyết chống quân Đông Hán đã thể hiện:
"Một xin rửa sạch nước thù.
Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng.
Ba kêu oan ức lòng chồng.
Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này"
Nữ lưu anh tài như vậy, khiến vua quan giặc Tàu ngày đêm thấp thỏm lo sợ, chúng tìm đủ gian kế để sát hại Hai Bà, và dân tộc ta.
Năm Tân Sửu 41, Hán Quang Vũ lại sai Mã Viện là lão tướng Đông Hán còn mạnh khỏe, hai phó tướng Lưu Long và Đoàn Chỉ, sang đánh nước ta.
Bọn Tàu chia đoàn quân đông đảo ra hai nhánh tiến sang nước Việt: một nhánh đi men theo bờ biển, một đạo quân đi phá núi rừng, làm đường xuyên sơn Tàu - Việt. Hai bên Tàu - Việt đã đụng độ nhiều phen, đã đánh nhau rất gay cấn, ác liệt.
Quân của Mã Viện là đoàn quân đông đảo được huấn luyện lâu năm, thiện chiến, chúng đã từng đi xâm lăng đó đây, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu.
Quân của Hai Bà Trưng là quân tân binh còn ô hợp, chưa từng trải chiến chinh, nhứt là vũ khí thô sơ. Tuy họ cầm cự giao chiến nhiều phen, nhưng rồi dần dà binh yếu, lương thực cạn kiệt, nên Hai Bà đành phải rút quân về Cẩm Khê một thời gian.
Trùng chấn chưa được bao lâu thì Mã Viện lại đến đánh. Lần nầy, tướng của Hai Bà Trưng là Đô Dương giữ ở Cư Phong (quận Cửu Chân) bị Mã Viện tiến đánh rất gắt gao, không chống nổi phải ra đầu hàng. Quân binh của Hai Bà từ từ tan vỡ.
Hai Bà phải chạy về xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây. Nhưng vẫn bị quân Tàu hùng hậu tiến đánh, chúng bao vây chặt chẽ, thẳng tay chém giết dân ta rất dã man, bạ đâu giết đó. Uất ức vì cuộc xâm lăng cướp phá trắng trợn, nhất là sự thống trị ác ôn của giặc Tàu khi xâm chiếm đất nước.
Năm Quý Mão 43, do không muốn bị bắt làm nhục, Hai Bà Trưng đã anh dũng nhảy xuống sông Hát Giang tuẫn tiết (đó là nơi khoảng sông Hồng và sông Đáy ngày nay).
* * *
Sử cũ tương truyền đã ghi rằng: sau khi Mã Viện dã man đàn áp được quân của Hai Bà Trưng, thì việc thứ nhất hắn làm là: tom góp vũ khí, đồ đồng, vàng bạc châu báu, để đúc riêng cho hắn một con ngựa đồng, vì hắn rất mê ngựa.
Việc thứ nhì, hắn sai đúc một trụ đồng to lớn chôn xuống đất gần khu vực biên giới, trên cột đồng khắc sáu chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (cột đồng ngã, Giao Chỉ chết).
Hắn bắt dân Việt nếu ai có việc cần đi ngang qua đó, phải ném một hòn đá vô gốc của trụ đồng, để giữ cho cột trụ đứng vững mãi mãi. Lâu đời, bây giờ trụ đồng ấy đã bị vùi lấp, không tìm thấy nữa.
Hai vị nữ lưu khí phách oai hùng như Hai Bà Trưng Trắc, Trưng Nhị là tấm gương chói sáng đáng tôn kính muôn đời của dân tộc chúng ta. Con cháu dòng giống Lạc Hồng phải ghi nhớ, không thể quên bài học lịch sử nầy, nhứt là không quên ơn trọng của Hai Bà Trưng.
* * *
Tình Hoài Hương
Bài viết cô đọng dựa theo lịch sử Việt Nam, từ:
Sách trong Bộ Giáo Dục VNCH.
Việt Nam Sử Lược (Trần Trọng Kim).
Đại Cương Lịch Sử Việt Nam (Nguyễn Khắc Thuần)
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Đào Duy Anh)
Sách “Tây Sơn thực lục”.
Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Muc
*
Tình Hoài Hương
Hình mượn trên internet, xin miễn thứ bản quyền.
Để tưởng nhớ về ngày lễ giỗ hai vị nữ anh tài nước Nam, tôi xin gởi bài viết HAI BÀ: TRƯNG TRẮC, TRƯNG NHỊ.
Cảm ơn Admins. Cảm ơn quý anh chị ghé đọc bài do tôi viết.
Kính chúc Ban Quản Trị, thành viên và gia đình nhiều sức khỏe, vui tươi, cát tường, viên mãn, thân tâm an lạc nhé.
Quý mến và trân trọng
*
TƯỞNG NIỆM HAI BÀ TRƯNG ANH THƯ NƯỚC VIỆT
Tình Hoài Hương
*
Vào năm Giáp Ngọ 34, thế kỷ thứ Nhứt sau Công Nguyên, vua Hán Quang Vũ (Tàu) sai thái thú Tô Định từ bên Tàu qua nước Nam (lúc đó chúng gọi nước ta là Giao Chỉ). Giặc Tàu cai trị dân ta, Tô Định là một tên thái thú vô cùng dã man, tàn ác kinh khủng. Năm 40, Tô Định đã giết ông Thi Sách là dân ở quận Châu Diên, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên. Thi Sách là chồng bà Trưng Trắc. Bà Trưng Trắc có em gái là Trưng Nhị, hai chị em là con vị Lạc tướng ở làng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên.
Hai Bà chiêu mộ quân sĩ từ những làng: Cửu Chân, Hợp Phố, Nhật Nam, Lĩnh Ngoại. Dân chúng thời bấy giờ rất khổ sở, nên ai ai cũng căm hờn thù oán giặc Tàu. Họ đã nồng nhiệt hưởng ứng lời kêu gọi chống giặc của Hai Bà Trưng. Quân binh đồng một lòng tôn Hai Bà làm nữ tướng. Họ cùng Hai Bà hăng say nổi lên quyết chí đánh đuổi bọn Tàu.
Sĩ khí quan binh lúc bấy giờ lên rất cao. Mặc dù chỉ có giáo, mác, gậy gộc thô sơ, nhưng với sự đồng tâm và ý chí chống giặc bảo vệ giang sơn, toàn dân nhất quyết xông pha chiến đấu chống giặc thù xâm lăng. Tuy vô cùng gian khổ, nằm gai nếm mật, nhưng họ anh dũng đánh tan bè lũ Tàu Ô xâm lăng ở nhiều nơi, hạ được 65 thành giặc.
Dân Việt ta đều hết lời trầm trồ ca ngợi chiến công của hai vị nữ tướng can trường. Tô Định thua to, phải chạy trốn về quận Nam Hải. Từ đó dân chúng tôn Hai Bà lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh. Hai Bà yêu nước, thương nhà, mến quân, đồng tâm rửa nhục mất nước xưa, quyết xây dựng giang sơn sự nghiệp của các vua Hùng. Lòng yêu nước quyết chống quân Đông Hán đã thể hiện:
"Một xin rửa sạch nước thù.
Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng.
Ba kêu oan ức lòng chồng.
Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này"
Nữ lưu anh tài như vậy, khiến vua quan giặc Tàu ngày đêm thấp thỏm lo sợ, chúng tìm đủ gian kế để sát hại Hai Bà, và dân tộc ta.
Năm Tân Sửu 41, Hán Quang Vũ lại sai Mã Viện là lão tướng Đông Hán còn mạnh khỏe, hai phó tướng Lưu Long và Đoàn Chỉ, sang đánh nước ta.
Bọn Tàu chia đoàn quân đông đảo ra hai nhánh tiến sang nước Việt: một nhánh đi men theo bờ biển, một đạo quân đi phá núi rừng, làm đường xuyên sơn Tàu - Việt. Hai bên Tàu - Việt đã đụng độ nhiều phen, đã đánh nhau rất gay cấn, ác liệt.
Quân của Mã Viện là đoàn quân đông đảo được huấn luyện lâu năm, thiện chiến, chúng đã từng đi xâm lăng đó đây, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu.
Quân của Hai Bà Trưng là quân tân binh còn ô hợp, chưa từng trải chiến chinh, nhứt là vũ khí thô sơ. Tuy họ cầm cự giao chiến nhiều phen, nhưng rồi dần dà binh yếu, lương thực cạn kiệt, nên Hai Bà đành phải rút quân về Cẩm Khê một thời gian.
Trùng chấn chưa được bao lâu thì Mã Viện lại đến đánh. Lần nầy, tướng của Hai Bà Trưng là Đô Dương giữ ở Cư Phong (quận Cửu Chân) bị Mã Viện tiến đánh rất gắt gao, không chống nổi phải ra đầu hàng. Quân binh của Hai Bà từ từ tan vỡ.
Hai Bà phải chạy về xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây. Nhưng vẫn bị quân Tàu hùng hậu tiến đánh, chúng bao vây chặt chẽ, thẳng tay chém giết dân ta rất dã man, bạ đâu giết đó. Uất ức vì cuộc xâm lăng cướp phá trắng trợn, nhất là sự thống trị ác ôn của giặc Tàu khi xâm chiếm đất nước.
Năm Quý Mão 43, do không muốn bị bắt làm nhục, Hai Bà Trưng đã anh dũng nhảy xuống sông Hát Giang tuẫn tiết (đó là nơi khoảng sông Hồng và sông Đáy ngày nay).
* * *
Sử cũ tương truyền đã ghi rằng: sau khi Mã Viện dã man đàn áp được quân của Hai Bà Trưng, thì việc thứ nhất hắn làm là: tom góp vũ khí, đồ đồng, vàng bạc châu báu, để đúc riêng cho hắn một con ngựa đồng, vì hắn rất mê ngựa.
Việc thứ nhì, hắn sai đúc một trụ đồng to lớn chôn xuống đất gần khu vực biên giới, trên cột đồng khắc sáu chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (cột đồng ngã, Giao Chỉ chết).
Hắn bắt dân Việt nếu ai có việc cần đi ngang qua đó, phải ném một hòn đá vô gốc của trụ đồng, để giữ cho cột trụ đứng vững mãi mãi. Lâu đời, bây giờ trụ đồng ấy đã bị vùi lấp, không tìm thấy nữa.
Hai vị nữ lưu khí phách oai hùng như Hai Bà Trưng Trắc, Trưng Nhị là tấm gương chói sáng đáng tôn kính muôn đời của dân tộc chúng ta. Con cháu dòng giống Lạc Hồng phải ghi nhớ, không thể quên bài học lịch sử nầy, nhứt là không quên ơn trọng của Hai Bà Trưng.
* * *
Tình Hoài Hương
Bài viết cô đọng dựa theo lịch sử Việt Nam, từ:
Sách trong Bộ Giáo Dục VNCH.
Việt Nam Sử Lược (Trần Trọng Kim).
Đại Cương Lịch Sử Việt Nam (Nguyễn Khắc Thuần)
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Đào Duy Anh)
Sách “Tây Sơn thực lục”.
Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Muc
*
Tình Hoài Hương
Hình mượn trên internet, xin miễn thứ bản quyền.


