Thông báo

Collapse
No announcement yet.

Lê Bá Định, vị niên trưởng KQ khả kính

Collapse
X

Lê Bá Định, vị niên trưởng KQ khả kính

Collapse
 
  • Filter
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts

  • Lê Bá Định, vị niên trưởng KQ khả kính

    LÊ BÁ ĐỊNH, VỊ NIÊN TRƯỞNG KQ. KHẢ KÍNH.
    ****



    Trước năm 1975, tôi đã đọc được nhiều bài Phú của niên trưởng Lê Bá Định đăng trên nguyệt san Lý Tưởng của Không Quân VNCH, nhưng chưa gặp mặt ông cho thoả lòng ngưỡng mộ vì những bài Phú đặc sắc của ông.

    Những bài Phú đã gợi cho tôi nguồn cảm hứng để tôi tập tễnh sáng tác bài Phú đầu tiên, tựa đề là “Lời trần tình cùng bà xã” vào khoảng cuối năm 1974, cũng đăng trên nguyệt san Lý Tưởng mà trước đó tôi đã tự tạo cho mình một trường phái gọi là “Thơ Lè Phè” để chọc cười “làng bay”và giai nhân thích lính hào hoa. Đó là bài Phú đầu tiên và cũng bài Phú sau cùng tôi đã viết ở quê nhà. Đến nay, tôi không thuộc lòng được câu nào ma chỉ nhớ đại ý của bài Phú ấy là lời của một “hảo hớn phi hành” phân trần và khuyên lơn bà xã đừng có ghen tuông vớ vẩn khi chàng phải đi biệt phái và tăng phái liên miên giữa lúc VC đang vi phạm Hiệp Định Paris, lấn đất, giành dân, xua quân đột nhập vào miền Nam”.

    Khi ra hải ngoại, tôi mới có cơ hội viết thêm những bài Phú và biến thể của Phú là Văn Tế mà trước kia tôi đã bị cụt hứng sau ngày quốc hận đau thương. Niên trưởng Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh viết lời tựa cho tác phẩm Hoa Hướng Dương của tôi, (in tại nhà xuất bản Cội Nguồn – năm 2004) đã giới thiệu tôi là người độc nhứt sáng tác những bài Phú trong Quân Chủng Không Quân. Nếu nói như vậy ở hải ngoại thì đúng còn ở quốc nội thì NT. Lê Bá Định là người tiên phong viết những bài Phú trong Quân Chủng “Lính Hào Hoa”. Ông nầy là bậc anh cả và cũng là bậc thầy của tôi.

    Nhớ ngày tôi cùng nhà văn Dương Hùng Cường và Chu Tấn từ Sư Đoàn IV Không Quân về Tân Sơn Nhứt tham dự đêm họp mặt 33 tác giả và xuất bản Tập Thơ Tuyện Không Quân Thời Chiến, tôi mới có dịp gặp NT. Lê Bá Định. Đêm đó, trong tiệc vui, MC Hồ Phong đã giới thiệu NT. Lê Bá Định lên sân khấu, đọc bài Phú Hoà Bình cho mọi người nghe. Lúc đó, tôi “chiêm ngưỡng dung nhan” của ông thì quả thật là một hảo hớn Không Quân, oai phong lẫm liệt, có người còn gọi ông là “Hiệp Sĩ Không Gian” nũa! Tôi càng kính nể ông hơn khi được biết ông sắp trình luận án tiến sĩ về Công Pháp Quốc Tế. Bài Phú Hoà Bình của anh vẫn còn được Đặc San Lý Tưởng của Tổng Hội Không Lực VNCH ở hải ngoại đang lại và cũng được anh em thi, văn hữu Không Quân nhắc nhở:

    HOÀ BÌNH PHÚ

    Ô hô!
    Xưa kia lũy Đồng Hới một lần phân tranh Trịnh Nguyễn!
    Nay đây, giòng Bến Hải hai phen cắt đất Việt Nam!
    Nghĩ mà đau lòng!
    Suy thêm nát óc.

    Than ôi! Máu chảy thành sông
    Thây chồng như núi!
    Chiến, tưởng đâu chống Tàu, thắng Pháp
    Bình, những mong phạt Tống, bình Chiêm!
    Xua quân rầm rộ, nghe như tướng Lý đánh hai châu,
    kẻ Bắc quân có thấy lòng thêm tủi lúc tràn qua vĩ tuyến?
    Ngăn giặn thù như vách sắt tường đồng, giống như tướng Trần
    mấy bận chống quân Nguyên,
    người Nam quân có thấy mắt rưng rưng khi chống giữ Đông Hà?
    Ấy vậy mà đã mười tám năm qua đánh đấm,
    Xem thế mà đã năm năm tròn đàm hội nghị
    Bây giờ thì,
    Dù có chửa trâu, chửa bò gì, cũng đã “ba bề bốn bên”
    đẻ ra được mấy dòng ”Ngưng Bắn”,
    Tuy rằng nghẹn họng, nghẹn hầu chi, cũng được”ba phe bốn phía”
    bảo đảm cho hai chữ “Hoà Bình”

    Ôi cha, Hoà Bình!
    Úy mẹ, Hoà Bình!
    Hoà bình ơi! Mi là cái chi chi mà mi khó thế?
    Kẻ nói mi giống như chim cu,
    Người xem mi như đồ trang sức.
    Coi ra thì mấy đứa Hippy mua mi cũng dễ, chúng đeo mi trên cổ, trên đầu...
    trong quần lót!
    Xét thấy thì trự nhà giàu nhai mi không khó, họ
    vào tiệm kêu cháo kêu mì
    xực cho đả rồi liệng xương mi trong sọt rác!
    Vậy mà:
    Gọi mi một ngàn năm!
    Kêu mi suốt thế kỷ!
    Chờ mi hai trăm năm!
    Bây giờ thì mi lò dò mi tới, tới thiệt hay tới giả, nói
    thiệt ta nghe,
    nếu không ta bẻ cổ!
    Phút nầy mi nhấp nháy mi ra, ra luôn hay rụt cổ, nhìn
    nhận cho ta biết
    nếu xạo ta thui lông!

    Này này ta nói cho mà biết!
    Một ngàn năm giặc Tàu nó nhốt mi, ta xực bào ngư vi cá
    xong rồi ta bắt được mi qua khói thuốc phiện!
    Một trăm năm thằng Tây nó giấu mi, ta đớp phó mách
    sữa bò
    xong rồi ta còn tóm được mi qua hơi rược sâm banh!
    Giờ đây, gần hai mươi năm vuột tới vuột lui,
    Mi chớ có hòng giở cái trò năm bốn (1954)!

    Hoà bình bớ hoà bình!
    Nói phải biết nghe, dạy cho biết phép,
    Lần nầy mi rán trở về, sướng gì mà nhìn xáo thịt nồi da?
    Phen ni mi cố ở luôn, tội tình chi mà xé mất bức dư đồ?

    Thôi thôi:
    Ngôn bất tận ý,
    Ta đã nói nhiều lời,
    Nay mi đang lấp ló ngoài song, ta từ tâm cho mi trở lại,
    Giờ mi đang thấp thỏm ngoài hè, ta rộng lương cho
    mi vào cửa,
    Này Hoà Bình!
    Có mi về, ta cũng thắp hương ba lớp, trước bàn thờ Tổ Quốc,
    Ta cúi lạy giống Rồng Tiên thôi ngừng tay kiếm,
    Được mi đây, ta tạm sắp rượu ba chung nhỏ, trên
    mảnh đất Quê Hương,
    ta nguyện cho nước Việt Nam hết đổ máu thù.

    Ô hô! Hoà Bình!
    Lành thay! Tốt thay!

    ***

    Lần thứ hai, tôi gặp NT. Lê Bá Định trong trại tù Z30C Hàm Tân (Thuận Hải) khi chiến cuộc bùng nổ giữa Trung Cộng và CSVN, những trại tù ở gần biên giới phía Bắc được chuyển vào Nam. Ông làm “lao động nhẹ” ở đội đan đồ gia dụng bằng tre như thúng, rỗ... còn tôi ở đội vận chuyển củi do đội lâm sản đốn cây rừng, chặt thành khúc, để sẵn ở bìa rừng bằng xe kéo, hai bánh làm bằng gỗ mà VC gọi là “xe cải tiến!!


    (Từ phải) NT Lê Bá Định, NT Kha Lăng Đa

    Hôm ấy bất ngờ, đội của tôi được điều động về nhà kho dụ trữ lương thực của trại tù để phơi lúa, nếp, đậu, bắp... Đây là dịp may cho chúng tôi được làm việc nhẹ, lén ăn đậu phọng sống đến no nê sau những năm tháng thiếu ăn. Đội đan lát của NT. Lê Bá Định làm việc trong cái nhà nằm cạnh nhà kho dự trữ lương thực. Do đó, lúc đội của tôi nghỉ giải lao, anh em vào xem mấy ông già đan thúng, rỗ, NT. Lê Bá Định hỏi một người bạn tù trong đội tôi là anh Thạch Hơn – Binh Chủng Nhảy Dù:

    _ Trong đội của anh có ai tên Lịch, thường gọi là Kha Lăng Đa không?

    Anh Thạch Hơn vội vã đi tìm và gọi tôi vào gặp anh NT. Định. Lúc tay bắt mặt mừng, tôi vui mừng và cảm động muốn khóc khi thấy ông ốm nhom như tôi, da đen đúa vì phơi nắng cháy, tóc xơ xác, nụ cườo khô héo. Tôi nhìn kỹ thấy ông bị mất nhiều răng, có lẽ vì nhai bo bo không bóc vỏ. Tôi ước lượng ông còn nặng chừng 48,49 kg như tôi!! Còn đâu vóc dáng của một phi công khu trục oai hùng, hào hoa, phong nhã của ngày xưa!

    Tôi và NT. Định chỉ hỏi thăm sức khoẻ của nhau trong giây phút ngắn ngủi rồi phải chia tay để tiếp tục công việc trong ngày.

    Buổi chiều, tất cả các đội lao động được ra suối tắm... thoát y. Tôi gặp lại NT. Định đang tắm suối. Anh đã kể cho tôi nghe những gian nan, khổ ải của anh em tù nhân chính trị bị đoạ đày ở miền Bắc, dưới cái lạnh cắt thịt xé da, lạnh đến nỗi trâu bò còn khuỵu xuống, không đi nổi, huống chi là con người. Anh em bị đói rét, bệnh hoạn không có đủ thuốc thang nên một số người phải mạng vong, thân xác bị chôn vùi trong núi rừng Bắc Việt! Tôi kể cho anh nghe tôi đã hai lần thoát khỏi lưỡi hái của tử thần vì bệnh hoạn. Lần thứ nhứt khi còn ở trại Suối Máu, sau cái khi mười mấy anh em mình chết vì bệnh kiết máu, đến lượt tôi mắc phải bệnh ấy đến thời kỳ sau cùng, tức là đại tiện ra máu, nếu không nhờ anh em thương tình đi quyên góp thuốc trụ sinh để cứu tôi thì tôi đã chết từ năm 1977.
    Lần thứ hai, lúc chuyển lân trại nầy (Z30C), tôi bỉ sốt rét rừng, bệnh trầm trọng đến nỗi tôi cầu nguyện cho mình được chết, may nhờ nhạc sĩ Nhật Bằng và anh Nguyễn văn Hai đã cứu tôi thoát chết.

    Hôm đó, Anh Định đã nói với tôi những ước đoán của anh về tình hình chính trị sẽ diễn tiến như thế nào sau ngày mất nước. Tôi nghe anh nói và có ghi nhớ để kiểm nghiệm sụ việc xảy ra sau nầy.

    Sau một tuần lễ phơi luơng thực của kho dự trữ, đội của tôi lại trở về với công việc nặng nhọc như cũ, không có dịp gặp lại NT. Định ở đội đan lát nữa. Bỗng một hôm , đội tôi tắm cùng “bến tắm” của đội NT. Định. Tôi gặp ông lúc cùng ngâm mình dưới nước, hàn huyên tâm sự. Lúc lên bờ mặc quần áo để về trại, tôi đã trao tặng ông một bó củi do tôi chặt cành cây ở bìa rừng, bó lại, có buộc dây mang đàng hoàng để ông đem về, nấu nướng trong những ngày cuối tuần, nghỉ lao động.

    Tháng sau, tôi được chuyển qua đội văn nghệ để thay thế tay đờn lục huyền cầm đã dược trả tự do. Đội văn nghệ kiêm thêm công việc trồng rau xanh và “bến tắm” cách xa “bến tắm” của đội NT. Định hơn 400m. Do đó mà tôi không còn gặp dược ông nữa. Đến tháng 7 năm 1982 thì tôi được trả tự do. Vì tất cả tù nhân được thả phải gom lại ở trong một dãy nhà (VC gọi là "cách ly”) để làm công tác sinh lợi cho trại một tuần lễ. Mỗi ngày, tôi phải vào rừng đốn 2 cây tre và 30 lá buôn để nộp cho trại. Tôi muốn liên lạc với NT. Định để coi ông có nhắn gởi gì về gia đình không, nhưng không cách nào gặp được!

    ****

    Năm 2002, vợ chồng tôi về quê hương để hỏi vợ cho đứa con trai trưởng nam. NT. Võ Ý (Cựu Phi Đoàn Trưởng PĐ. 118 - Bắc Đẩu) cho tôi biết NT. Định mới xuất viện vì phải qua một ca giải phẩu thay van tim. Chính NT. Ý đã đề nghị Tổng Hội Trưởng Không Lực VNCH Khưu văn Phát trích quỹ của Tổng Hội để gởi cho NT. Định một số tiền tình nghĩa. Anh Ý dặn dò tôi:

    _ Kha Lăng Đa phải nói thế nào cho anh Định nhận tiền của anh em, “của ít lòng nhiều” vì trước đây, anh em cũng có gởi tiền, nhưng anh Định không nhận.

    Tôi lãnh trách nhiệm về VN, gặp NT. Định tại tư gia của ông. Lúc đó, tuy sức khoẻ chưa hồi phục hoàn toàn, nhưng trông ông đã lấy lại nhân dáng và phong cách hào hoa gần như ngày trước. Tôi được biết NT. Định dạy Anh Văn ở những Trung Tâm Sinh Ngữ, nhưng nay bị bệnh, ông không còn đi dạy được nữa. Các con của ông hiện là giáo sư trung học. Thật là một gia đình có truyền thống hiếu học, đỗ đạt thành danh. Cha làm thầy, con cũng làm thầy! Bằng lời nói chân thành, mộc mạc, đơn sơ, tôi nói với NT. Định:

    _ Anh em mình thuộc Tổng Hội Không Lực có gởi cho anh chị một số tiền. Kính mong anh chị vui lòng nhận món quà nhỏ bé nhưng nhiều tình nghĩa nầy cho chúng tôi mừng. Nếu anh chị từ chối nữa, chắc là anh em sẽ buồn lắm!.

    Anh chị Định thoáng vẽ xúc động. Vợ tôi liền trao phong bì cho chị Định. Anh Định (xin gọi bằng anh cho thân mật hơn) gởi lời cám ơn anh em còn nhớ đến anh và nhờ tôi gởi lời thăm tất cả anh em. Tôi ngại ngồi lâu sẽ không tốt cho sức khoẻ của anh Định cần phải nghỉ ngơi nên bảo đứa con trai tôi chụp một tấm hình tôi ngồi bên anh Định để làm kỷ niệm rồi từ giả anh chị để ra vê.

    ****

    Những ngày gần cuối năm 2013, NT. Võ Ý báo tin cho anh em KQ. ỏ hải ngoại biết anh Lê Bá Định đang lâm trọng bệnh phải nằm bệnh viện. Tôi chưa biết thêm tin tức gì nữa thì anh Ý đã về VN làm lễ mãn tang cho thân mẫu của anh. Lúc anh Ý trở qua Mỹ, tôi hỏi thăm bệnh tình của anh Định thì anh cho biết anh Định đã xuất viện, về nhà và sống được ngày nào thì gia đình mừng ngày nấy. Tôi bùi ngùi xúc động nghĩ rằng anh Định sẽ... ra đi! Tuần lễ sau, anh Ý báo tin anh Định đã từ trần để lại sự thương tiếc vô vàn của gia đình và anh em đồng đội.

    Anh Định là một sĩ quan cao cấp của Không Quân VNCH văn võ song toàn, hội đủ đức tính tốt nghĩa, nhân, trí, dũng và hiếu học, tài năng xuất chúng về ngoại ngữ, biện luận, thuyết trình. Anh là một cấp chỉ huy thanh liêm, chính trực, nghèo thì chịu nghèo chớ không làm chuyện bất chính để mưu lợi riêng. Anh thương mến anh em thuộc cấp và không khuất phục thượng cấp quan liêu, lạm quyền, trù dập người cương trực.

    Anh đã cứu vãn và nêu cao danh dự của Không Quân, đã “minh oan”, làm sáng tỏ vấn đề qua việc cố vấn Mỹ John Paul Van của Quân Đoàn II không hiểu rõ thời tiết vùng cao nguyên vào mùa hè, hay có mưa giông, mây mù xuống thấp mà đã vội hàm hồ phê phán phi công khu truc Pleiku “lạnh cẳng”, không dám cất cánh, bay đến giải vây đồn Tân Cảnh ở ngã ba biên giới bị VC uy hiếp (Theo Không Quân Ngoại Truyện “Tin Chết Người” trong tạp văn “Tổ Ấm Ba Về” của NT. Võ Ý)

    Giờ đây, anh Lê Bá Định đã trả xong nợ đời và vĩnh viễn nằm xuống trong lòng đất quê hương. Tôi và anh em, những người ở lại trong kiếp sống lưu vong, còn phải chịu bao lụy phiền của khoảng cuối đời người, rồi một ngày nào đó không xa, cũng sẽ theo anh về bên kia phương trời miên viễn.

    Tôi hướng mắt về phía chân mây mịt mờ, xa thẳm để tượng niệm một người anh khả kính mà từ đây, tôi và anh em không bao giờ được gặp lại anh nữa! Cầu chúc anh an giấc ngàn thu, hương linh của anh được về miền lạc cảnh, xa lánh cõi trần đầy dẫy bợn nhơ. Nếu kiếp nầy, mộng lớn của anh chưa thành, cầu mong kiếp sau anh sẽ được vẹn tròn ý nguyện. Xin vĩnh biệt người anh yêu kính Lê Bá Định!

    KHA LĂNG ĐA
    (St.Louis 5-2-14)
    Last edited by khongquan2; 02-11-2014, 07:34 PM.

  • #2
    Nguyên văn bởi Hồ Danh Lịch View Post
    LÊ BÁ ĐỊNH, VỊ NIÊN TRƯỞNG KQ. KHẢ KÍNH.
    ****







    Anh đã cứu vãn và nêu cao danh dự của Không Quân, đã “minh oan”, làm sáng tỏ vấn đề qua việc cố vấn Mỹ John Paul Van của Quân Đoàn II không hiểu rõ thời tiết vùng cao nguyên vào mùa hè, hay có mưa giông, mây mù xuống thấp mà đã vội hàm hồ phê phán phi công khu truc Pleiku “lạnh cẳng”, không dám cất cánh, bay đến giải vây đồn Tân Cảnh ở ngã ba biên giới bị VC uy hiếp (Theo Không Quân Ngoại Truyện “Tin Chết Người” trong tạp văn “Tổ Ấm Ba Về” của NT. Võ Ý)

    KHA LĂNG ĐA
    (St.Louis 5-2-14)
    [/BLOCK]

    Chờ lâu quá nhưng không thấy quý niên trưởng và các bạn trong PĐ Thái Dương 530 những nhân chứng có tiếng nói trung thực vể anh Lê Bá Định. Hôm nay tôi mạo muội xin bổ túc với hai NT Võ Ý và Kha Lăng Đa về chuyện mâu thuẩn với Vị Cố Vấn QĐ II John Paul Vann.

    Sau hơn hai năm phục vụ dưới quyền anh Lê Bá Định từ chức vụ PĐT/PĐ 530, LĐT/LĐ72TC và KĐT/KĐ 72CT Pleiku tôi gặp anh gần như mỗi ngày, tôi chưa bao giờ chuyện trò riêng rẻ với anh nhưng tôi có duyên là 1 trong những nhân chứng mắt thấy tai nghe. Trong số việc xảy ra ở Pleiku tôi nhận thấy có hai việc đáng ghi nhớ mà anh Định hành xử đối với cấp trên dù người đó là TLQĐ hay Cố Vấn Mỹ đầy quyền lực mà ít người dám làm như anh. Không vì quyền lợi bản thân anh, anh chỉ biết lo lắng và bảo vệ đàn em. Anh như là "gà mẹ" lúc nào cũng vươn đôi cánh quyết bảo vệ "đàn gà con" bằng mọi giá trước nanh vuốt của lũ diều hâu dù người đó là ai quyền uy như thế nào, là TLQĐ hay vị Cố Vấn đầy quyền lực. Nếu anh cho là "phải" thì anh sẳn sàng đối đầu dù phải đánh đổi bằng tương lai hay binh nghiệp của anh.
    Trong bài nầy anh Kha Lăng Đa có đề cập tới chi tiết về phi đoàn khu trục "lạnh cẳng" nên tôi chỉ ghi lại mỗi chuyện nầy mà thôi còn chuyện Th/Tướng Tư Lịnh Phó KQ bay ra Pleiku ngày 29/5/1972 để thu xếp về việc anh Định xin hẹn dịp khác.
    Mọi người đều biết tính nết của ông Cố Vấn John Paul Vann như thế nào. Ngay từ khi bước chân tới Pleiku năm 1970 ông đã phán phủ đầu rằng: "Lính VN tụi bây đánh giặc như con gà chết", dĩ nhiên mọi người không mấy có cảm tình với ông.
    Hoạ từ trời cao giáng xuống ?
    Vào hạ tuần tháng 6 /1971 Tr/Tướng Ngô Dzu TLQĐ II và Vùng II CT báo tin do áp lực của ông cố vấn John Paul Vann, ông phải truy tố Đ/U NHM và Th/uý Nguyễn Ngọc Hùng ra Toà Án Quân Sự Vùng II (Nha Trang) vì tội ném bom vào quân bạn TĐ95BĐQ Biên Phòng (?)tan rã, hơn 300 xác bỏ lại trận địa vùng núi Dak Sang phía Bắc Dakto hơn 30 dặm. (Anh M không nhớ chính xác ngày tháng, cấp bậc anh M và Hùng tự Hùng Hynos lúc bấy giờ, anh Hùng anh dũng hy sinh trong phi vụ thả bom Napalm yểm trợ tiếp cận ở chân đồi Chu Pao ngày 21/5/1972)
    Anh M và Hùng đều xác nhận ngày hôm đó theo sự hướng dẩn của FAC thuộc PĐ Sao Mai 114- Nha Trang trên tần số FM, hai anh đã thả xuống 12 trái bom MK-82 (500 cân Anh) theo yêu cầu của Sao Mai và hoàn toàn không biết đây là vị trí đóng quân của TĐ 95 BĐQ (PĐ 118 đang thành lập tại Pleiku chưa bay hành quân)
    Điều xui rủi hôm đó 2 anh M và Hùng liên lạc Sao Mai trên tần số "giải toả" FM nên không có thâu âm như ở tần số UHF. Mọi người chỉ căn cứ vào kết quả hơn 300 xác bỏ lại tại trận địa, không cần biết lý do hay có ẩn tình gì. Tất cả tội đều đổ vào đầu hai anh M và Hùng. Anh Định PĐT thúc thủ không thể biện giải và tất cả anh em trong PĐ đều chán chường. Đúng là hoạ từ trên trời rơi xuống ? Hai vị bất bình nhiều nhất là Ông Bá Chủ (KĐT) và anh Định. Anh Định cho rằng ông cố vấn nầy có ý muốn "chơi" PĐ 530 vì sự việc liên đới với nhiều người nhưng chỉ có anh M và Hùng của PĐ 530 làm vật tế thần bị truy tố mà thôi và bực tức "Moa mà gặp chiếc trực thăng OH-58 của nó moa bắn hạ ngay không do dự !"
    Mai nhờ Tr/Uý Sáng Nha Quân Pháp Vùng II-Nha Trang, anh họ của Đ/uý Đặng Ngọc Độ PĐ530 giúp đở cố kéo dài thời gian điều tra tới đâu hay tới đó gọi là câu giờ nên 2 anh M và Hùng chưa nếm mùi quân lao Nha Trang ra sao?
    Cơ Hội Phục Thù.
    Vào 1 buổi xế trưa đầu tháng 7 năm 1971 trong lúc anh em đang hóng gió trước cổng PĐ, anh Định chay chiếc xe Jeep tới và thắng gấp. Vừa xuống xe anh bật quẹt mồi 1 điếu thuốc lá, mặt mày hớn hở hỏi M và Hùng Hynos đâu rồi và anh từ từ kể anh vừa đại náo QĐ II:
    Nhận lịnh ông Bá Chủ, anh Định sang QĐ II hợp khẩn cấp với TLQĐII. Khi đến nơi các quan lớn của QĐ II đều có mặt đông đủ chỉ trừ ông cố vấn trưởng John Paul Vann ( vì có tin nên ông chuồn trước) để nghe vị TĐT/TĐ BĐQ tường trình lý do TĐ của ông bị xoá sổ (sau khi băng rừng xuyên núi cả tháng trời mới bò về được Dakto rồi được trưc thăng bốc về QĐ II)

    Ngày ấy 1 phi cơ O-2 quan sát của Mỹ đang theo dỏi và yểm trợ cho TĐ, cho đến trưa thì TĐ bị tấn công từ mọi phía nhưng vị TĐT không thể liên lạc được với FAC của Mỹ nầy để xin KQ yểm trợ. Lính của TĐ hầu hết là người Thượng, khi thấy áp lực của Cộng Quân quá mạnh họ vứt bỏ quân phuc, vũ khí, vận khố chạy vào rừng sâu . Bộ Chỉ Huy TĐ 11 người may mắn trốn trong 1 khe núi. Một thời gian sau nhờ tần số giải toả FM ông liên lạc được với PHĐ của PĐ Sao Mai 114 lên thay thế chiếc O-2 của Mỹ và chính anh đã yêu cầu thả bom xuống mục tiêu là vị trí đóng quân của TĐ trước đó. Ông khẳng định con số hơn 300 xác tại trận địa là Cộng Quân mặc quân phục BĐQ mà các quân nhân người Thượng vừa vứt bỏ trước đó không lâu.
    Vừa nghe xong lời trần tình của vị TĐT nầy anh Định như người bay trên mây như trút được gánh nặng ngàn cân mà anh ôm ấp cả tháng vừa qua nhưng cũng phải trả đũa những gì ông cố vấn gây ra.
    Với tài hùng biện sẳn có, nói tiếng Tây như Đầm anh thao thao bất tuyệt kết tội tắc trách của PHĐ người Mỹ theo dỏi, yểm trợ, TĐ bị CSBV tràn ngập mà không hề hay biết và ông cố vấn QĐ II vu oan giá hoạ cho 2 người phi công của PĐ 530. Ngài cố vấn John Paul Vann ăn nói làm sao giải thích như thế nào với 2 quân nhân (anh M và Hùng) đang nằm chịu khổ trong quân lao bấy lâu nay ? Hơn 300 lính giả BĐQ nầy của CSBV sẻ làm gì nếu không bị ném bom ? Hậu quả sẻ ra sao v...v...
    Sau buổi hợp vị Đ/Tá Mỹ phụ tá cho ông Vann hỏi các vị trong QĐ II: Ông vừa rồi cấp bậc gì vậy ? Tướng từ BTL/KQ mới ra ? Ổng chửi bọn tôi thậm tệ mà chúng tôi không thể biện hộ gì được!
    Ngày hôm đó do sự tình cờ khi đi hợp anh Định mặc bộ đồ 4 túi không lon không lá, còn chiếc ca lô có gắn bông mai bạc thì anh lận giấu phía sau thắt lưng. Đố ai biết anh mang cấp bậc gì ?
    Chiến thắng các mặt trận Phú Nhơn, Căn Cứ Số 5, Căn Cứ Số 6 ... liên tiếp xảy ra, danh tiếng của PĐ Khu Trục A-1 Thái Dương 530 loan truyền tứ phương. Vào trung tuần tháng 8/1971 Tr/Tướng Hoàng Xuân Lãm TLQĐ I và Vùng I CT yêu cầu BTTM tăng phái 1 Biệt Đội của PĐ 530 ra Đà Nẵng trong cuộc hành quân Lam Son 720.
    Và cũng từ đó tôi không nghe nói bất cứ mâu thuẩn nào nữa, ông cố vấn còn có thành kiến với PĐ 530 và KQVNCH hay không nhưng trong trận Charlie ông chứng kiến 4 chiếc A-1 bị bắn cháy trong ngày 12/4/1972 (anh TNNV là 1 trong số). Đặc biệt nhất là trưa hôm đó ông John Paul Vann đích thân lao xuống cứu (rescue) khi thấy chiếc A-1 của Tr/uý Nguyễn Tài Cơ bị bắn cháy và chiếc dù của anh Cơ rơi xuống vùng rừng già Trường Sơn (ngày Cố Đ/Tá ND Nguyễn Đình Bảo hy sinh và 6 giờ chiều Tr/uý Dương Huỳnh Kỳ hy sinh trong phi vụ thả bom Napalm low level để yểm trợ tiếp cận chi TĐ 11 Dù).
    Nhìn lại trận chiến Mùa Hè Đỏ Lữa từ ngày 12/4 đến 27/5/1972 PĐ 530 thiệt hại 18 phi cơ, 3 người hy sinh ( Tr/uý Dương Huỳnh Kỳ, Tr/uý Nguyễn Ngọc Hùng bỏ xác tại trận địa, duy nhất thi hài của Cố Tr/Tá Phạm Văn Thặng được mang về) Tr/uý Nguyễn Đình Xanh nhảy dù và bị bắt tại căn cứ Lệ Khánh- Polei Kleng phía Tây Kontum (quý vị đã đọc trên HQPD vài ba năm trước đây) và gần phân nửa hoa tiêu của PĐ đều được"thực tập" nhảy dù.

    Ông cố vấn John Paul Vann là người ra sao, độc tài như thế nào nhiều người đã viết nhiều về ông, nhất là vụ bỏ rơi Tướng Lê Đức Đạt TLSĐ 22BB ở Tân Cảnh nhưng không một ai phủ nhận công lao, nhiệt tình của ông, ông đã giữ vững mặt trận Kontum, chỉ 1 đêm 26/5/72 ông dùng B-52 đánh tan tác các SĐ CSBV phải ôm đầu máu trốn chạy khỏi thị xả Kontum.

    Về anh Định rất nhiều người viết về anh như anh Hồ Danh Lịch đã ghi lại cũng như trên nguyệt san Lý Tưởng KQ năm 1971 anh Dương Hùng Cường hết lời ca tụng tài thao lược, hô phong hoán vũ của anh Định trong bài "Người Gác Mây" trong trận giải toả căn cứ số 5 vào đầu tháng 6 năm 1971. Riêng tôi, tôi rất hảnh diện được phục vụ dưới quyền anh Định và ông Bá Chủ vì hai vị coi tôi như là 1 trong những đứa em bé nhỏ của đại gia đình.

    Philong 51 cựu Thái Dương 530.
    Last edited by philong51; 02-19-2014, 11:00 PM.

    Comment


    • #3
      Khi lên Pleiku vào cuối năm 1970, tôi có gặp ông Lê bá Định, lúc đó là Thiếu Tá . Khi ấy, Không Đoàn Yểm Cứ Pleiku, Sư Đoàn VI KQ chưa thành lập .
      Sự hiện diện của KQ ở đây chỉ là Căn Cứ 92, bé tẻo tèo teo, từ quan đến lính rặt toàn thành phần không bị đì thì cũng kém kỷ luật(dĩ nhiên ngoại trừ những thằng lính mới tò te như tôi). Hầu hết đều có máu bất mãn kinh niên trong người ,vì "cùng một lứa bên trời lận đận" nên chẳng anh nào nỡ đì anh nào cả, ngoại trừ một vài anh có máu "rếch lô" trong người! Ai cũng nghĩ đây là chốn tận cùng hằng số rồi, còn đâu tệ hơn nữa đâu mà sợ. Tôi nhớ, sau khi bắt thăm phải phiếu lên Pleiku, tôi không biết nó ở đâu cả. Về nhà , hỏi ông cụ, người cũng rất ư mơ hồ, phải giở bản đồ ra để tìm vị trí. Tìm ra Pleiku ở đâu rồi, ông cụ thì thào:" Chết chết , cũng khá xa mày ạ!".

      Dưới trướng của tôi có dăm anh lính. Trong số đó , có 1 anh lính gốc Miên và 1 anh lính người Thượng.
      Anh người Miên thì chuyên lấy lòng tôi bằng bùa yêu:" Thiếu úy ơi, đeo cái vòng này,vào tay đi, gặp cô nào cứ lẩm bẩm 7 câu tiếng Miên này là cổ theo Thiếu úy ngay!." . Có lẽ trong 7 câu đó thể nào cũng có câu: EM XIN PHÉP ĐƯỢC YÊU ANH hoặc ĐỪNG THA EM ĐÊM NAY!

      Chàng tuổi trẻ " vốn dòng hào kiệt" cũng cố thử dăm lần trong các bal de famille cuối tuần. Nhưng đọc xong 7 câu thiệu thì đã thấy em nhẩy tung trời với kẻ khác. Có em kiên nhẫn ngồi nghe thì băn khoăn , không biết cái thằng cha ấm ớ này bị "ấm đầu" hay sao mà có cử chỉ giống như " ngày xưa té giếng" vậy. Biểu diễn màn này được vài lần, thấy chẳng công hiệu chi nên tôi dẹp luôn. Ấy thế mà khi mình hỏi qua loa về cuộc đời tình ái của tên Miên này thì hắn bảo , từ bé tới lớn hắn chẳng biết "cái ấy" hình thù ra sao!. Thế mới" ứa gan " chứ!
      Anh người Thượng thì cứ hay xin đi phép để" bắt cái nước" con vợ tui ( người Thượng gọi vụ đó là BẮT CÁI NƯỚC).
      Mà cái vụ ấy của bọn Thượng lạ lắm. quí vị ạ. Hắn có mời tôi ra nhà hắn chơi vài lần. Vợ chồng con cái, thú vật nuôi như chó , vẹt (đã cắt cánh),kể cả khách khứa đều nằm chung trên sàn. Đến khuya, trằn trọc không ngủ được , tôi thấy hắn làm " nghĩa vụ công dân" . Hắn chỉ có nằm lên trên , theo kiểu trai trên gái dưới, không một cử động, không một tiếng thở, đừng nói đến tiếng rên. Thế mà cũng xong. Nghĩ đến mai đây có " bắt cái nước" một em Thượng nào mà phải tập trung tư tưởng để "giải thoát" như thế này , tôi lạnh cả người!
      Có lần, bực mình vì hắn đi phép quá qui định, ngoài việc không cấp giấy phép cho anh ta nữa, tôi còn gọi cho Trạm Hàng Không Quân Sự để cấm không cho hắn lên máy bay. Biết vậy , hắn lầu bầu: "Thiếu Úy không cho Y Ban này về bắt cái nước với con vợ Y Ban, Y Ban cũng về, Thiếu Úy không cản được con chim này đâu. ". Thế là hắn thản nhiên lội rừng lội suối về bản, không cần đến cái máy bay. Cả tháng trời sau mới thấy đương sự lò mò về, mặt mũi hân hoan mà không có một lời xin lỗi.
      Một anh Sĩ Quan baby lắc như tôi, gặp phải trường hợp này quả là khó xử. Nhốt hắn thì hắn quá thoải mái , vì không phải làm việc. Dọa không cho lên binh nhất cũng chẳng có ép phê với hắn, vì trong đầu óc hắn hoàn toàn không có quan niệm về cấp bậc. Chẳng là khi nghe Điện thoại, ai hắn cũng gọi là thằng. Tướng tá gì cũng được hắn ưu ái gọi là thằng hết. La rầy hắn thì hắn gân cổ cãi lại: " Y Ban biết nó là Đại Tá chứ, Y Ban chưa muốn nói thôi, cái thằngThiếu Úy này ( là tôi chứ còn ai nữa) làm Y Ban đau đầu quá."
      Khi về trình diện, hắn còn biếu tôi 1 cái gùi nhỏ, trong có lá rừng và gan, lòng của 1 con vật nào đó:" Thiếu úy đốt cái này ra thành tro, ghét thằng nào, bỏ vào đồ ăn nó ăn, nó sẽ từ từ ra nhà ma!". Khỏi phải nói, tôi quẳng ngay cái bùa hại người này vào thùng rác.
      Lúc ấy, Pleiku đầy đặc không khí chiến tranh và mùi vị của miền Viễn Tây, chứ không vào khuôn khổ như sau này trở thành Sư Đoàn VI KQ. Con nhà lành 6 giờ chiều là không dám ra đường. Anh em KQ đa số phải mặc đồ civil hoặc đồ bộ binh để ra phố, vì chính Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ cũng khuyên không nên mặc đồ Không Quân ra phố . Tôi bèn chơi ngay một bộ quần áo đen Xây Dựng Nông Thôn cho chắc ăn. Đầu đội nón " bo", tóc để dài ra vẻ bất mãn quân đội, súng Colt nhét trong bụng, chân đi dép, tôi cảm thấy mình như là một Django, mặc dầu suýt rớt mấy lần về bộ môn bắn ở Quân Trường. Thêm một cặp kính "dâm" nữa là đủ bộ. Ông cụ bà cụ tôi sức mấy mà tưởng tượng nổi Quân đội đã biến đổi tôi như rứa. Còn em nữ sinh nhà lành nào mà thấy tôi những chiều tối đó chắc phải tưởng tượng đến một màn hiếp dâm không mấy nên thơ cho lắm.

      Trên con đường chính của Pleiku là đường Nguyễn Huệ, mỗi chiều tối đầy đặc lính của nhiều binh chủng. Có cả lính Mỹ nữa. Đám Biệt Kích gây quan ngại nhất, có anh đeo ở cổ vòng dây tai VC, có anh dắt heo mọi đi nghễu nghện . Heo mọi là loại heo người Thượng nuôi, da đen, thân hình dài hơn heo người mình nuôi một chút. Loại heo này rất khôn, leo cầu thang thoải mái như chó con, sáng sáng lon ton theo chân chủ ra ngoài rẫy.
      Cần sa và crack( ma túy, thứ bột trắng được bỏ vào điếu thuốc lá để hút) được bầy thản nhiên trong các tiệm chạp phô, giá chỉ bằng độ 3 điếu thuốc Pall Mall. Chàng SQ trẻ thất tha thất thểu như tôi bèn nghĩ ngay:" Cocaine không mắc hơn thuốc lá bao nhiêu, vậy hút thuốc lá làm gì , tầm thường quá! Chơi crack có phải lợi hơn không, phê hơn không!.". Cũng may, tôi không bị lôi cuốn vào con đường nghiện ngập như mấy tên bạn Bộ Binh của tôi, suốt ngày ngồi đến nẫu người ra ở quán cà phê Tuyết, nơi có 2 em Tây lai đẹp não nùng.
      Dạo ấy, đám SQ chúng tôi được ở gần với bọn Mỹ. Cứ tối đến thì hoặc ra phố chơi, hoặc vào mấy NCO club với bọn Mỹ . Ngồi trong Câu lạc bộ Hạ Sĩ Quan Mỹ, nhấp nháp ly Vốc Ka và xem Sexy show, tôi lơ mơ nghĩ , hóa ra chốn lưu đầy này cũng đâu có tệ ! Sexy Show của bọn Mỹ cũng " đối xử phân biệt " lắm.Tại NCO Club , các Sexy girl chỉ được cởi phần trên thôi, còn ở Officer Club thì được (hay phải ) cởi tuốt luốt. Thế mới biết, mần Sĩ Quan quả có lý hơn .

      Thỉnh thoảng, VC pháo vào căn cứ. Thế là bọn Mỹ áo giáp nón sắt hùng hục lao vào hầm trú ẩn, lắm anh va phải nhau , motherfucking ầm cả lên. Còn SQ VN trẻ thì cứ nằm dài trên giuờng, mồm lẩm bẩm:" Mẹ, cái số mà, chui vào mà rocket nó rơi trúng hầm thì cũng đi đời nhà ma! Bọn Mẽo chúng nó to thế, huých nhau với chúng nó để tìm chỗ nấp dám bị thương lắm ạ. Chi bằng cứ nằm trên giường thế này mà lại yên tâm, số chết thì trốn cũng chết!"
      Những mối tình ở Pleiku cũng ly kỳ lắm. Biết rằng thời gian phục vụ của anh em Sĩ Quan Binh Sĩ ở Pleiku chỉ là 2 năm rồi thăng ( hoán chuyển qua đơn vị khác), các em gái hậu phương đều chấp nhận sự kiện này. Nghĩa là, yêu ai cũng chỉ yêu trong 2 năm thôi. Sau đó, nếu không lấy được chàng thì cũng đành ngậm ngùi tìm quên trong cuộc tình mới. Bởi thế, chúng tôi, những Sĩ Quan trẻ người non dạ cũng hớn hở chấp nhận những cuộc tình này mà không hề thắc mắc. Đa số coi Pleiku chỉ là nơi tạm trú trong đời binh nghiệp, nên chẳng ai muốn dính líu sâu đậm với người nữ nào.
      Nói thế, không có nghĩa là không có những mối tình tuyệt đẹp ở đây, giữa những SQ KQ và những nữ sinh trung học Pleiku. Những mối tình này kết thúc rất có hậu, họ lấy nhau , sinh con đẻ cái và " live happily forever" , dù phải trải qua bao khốn khổ. Vài người bạn cùng khóa của tôi may mắn rơi vào trường hợp này.
      Tôi không được cái may mắn ấy. Khi về phép SG, bà cụ hỏi: " Con có tính lấy vợ không, hay cứ lang bang mãi?". Tôi ấp úng: " Vâng, con có quen 1 con nhỏ!"

      -Ở đâu, người gì , đạo gì, làm nghề gì hả con ? Bố mẹ nó ra sao?.
      - Dạ, người Trung, đạo Thiên Chúa, hiện còn đi học, thỉnh thoảng phụ bố mẹ bán bún bò giò heo. Bà cụ cô ấy nghiện thuốc nặng, lúc nào cũng vắt vẻo điếu Cẩm Lệ trên môi. Còn ông cụ cũng rít thuốc như máy, lại là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng nữa. Thành thử ra, họ thấy con hút thuốc cũng chả nói gì!
      Bà cụ tôi thở dài cái thượt. Là 1 Phật tử thuần thành, tiêu chuẩn con dâu của cụ phải là: Người Bắc, đạo Phật, gia đình công chức ( như nhà mình), học giỏi và cũng phải biết buôn bán( hình như 2 tiêu chuẩn này chõi nhau), biết nghe lời chồng ( nhưng khi thấy con gái mình chỉ huy đức ông chồng thì cụ lại hài lòng ra mặt.).
      Thế là mối tình đầu tiên và nguy nga của tôi, mối tình lãng mạn không thua gì Romeo and Juliet, Tristan and Yseult, tan vỡ ngay. Tụi tôi cũng đã thề thốt nghiêm trang, đại loại, anh mà không lấy được em là anh chết, em sẽ chết nếu cuộc tình mình" biến chứng". Sau đó, tụi tôi vẫn sống khỏe mạnh, chẳng ai dại dột tìm cái chết cả!
      Khi ấy, tôi làm ở Văn Phòng Chỉ huy Trưởng Căn Cứ, Thiếu Tá Định làm Trưởng Phòng Chiến Tranh Chính Trị, coi trên dưới 10 thằng vừa lính vừa Sĩ quan nên công việc rất nhàn nhã. Người thường đứng ngoài sân, nhìn theo mấy cánh chim sắt tung trời mà cảm khái cho thân phận mình, bỗng chốc phải chỉ huy 1 đám chim cánh cụt! Mà cái đám này thì có cả dân bay bị cắt cánh hay được cắt cánh và dân chẳng bay. Dân bay thì tự cao vì mình dù sao đã là pilot. Dân không bay thì hãnh diện vì học thức của mình ( đằng nào cũng xuất thân Sinh Viên). Bởi thế, chỉ huy cái đám này, chỉ có ông Định là có thể khiến họ tâm phục khẩu phục. Vì ông bay bổng chẳng thua ai mà học vấn, văn nghệ cũng ít người theo kịp.
      Ông Định người tầm thước, thuộc loại đẹp trai, là 1 tay ăn chơi có hạng. Chẳng thế mà lại có vợ cũng là dân chơi. Hai vợ chồng nhẩy Valse và Swing rất đẹp. Lê bá Định đúng là 1 biểu tượng cao đẹp của Không Quân, ăn chơi nhưng có tâm hồn văn nghệ cũng như học thức. Ông sáng tác truyện, thơ, những bài phú hoặc văn tế rất hay. Về học vấn, nghe đâu ông sắp sửa làm Tùy viên Ngoại Giao thì bị hủy bỏ và tống lên Pleiku. Có thể nói ông là người văn võ toàn tài, bọn Sĩ Quan trẻ chúng tôi lắm thằng coi ông là thần tượng! Ông lại không có cái trò nịnh trên nạt dưới, nên tụi tôi càng quý ông hơn!
      Tài bất phùng thời, vì phải tiếp xúc với lắm kẻ ít học ( so với ông) trong quân chủng, nên ông lúc nào cũng có cái cao ngạo của loài chim Hồng chim Hộc phải miễn cưỡng sống chung với đám chim sẻ. chim ri. Cuộc đời binh nghiệp của ông vì thế cũng chẳng được xuông xẻ mấy. Tôi xin đan cử vài thí dụ sau:
      _Hồi còn ở Căn Cứ 92, khoảng năm 71, ông Định lấy tư cách là Sĩ Quan Chiến tranh Chính trị, vì vậy phải làm sáng tỏ các lời đồn đại gây ảnh hưởng cho tinh thần binh sĩ. Ông đề cập trong buổi họp Sĩ Quan mà tôi làm thư ký, đến 1 tin đồn rằng có sự ăn thông của Phòng Kiến Tạo KQ và Khối Không Cụ, có thể có cấp cao hơn, đem vật liệu xây dựng bán ngoài phố.
      Vụ tố cáo này khiến Trung Tá Phúc ròm , CHT Căn Cứ bực mình vô cùng, vì ông ta là 1 vị chỉ huy khá trong sạch. Ông chỉ thị cho An Ninh KQ Căn Cứ điều tra, nhưng không thấy vết tích gì. Cho rằng Thiếu Tá Định tính bêu xấu mình, trong 1 buổi họp SQ thu hẹp, ông lớn tiếng hỏi Thiếu Tá Định có bằng chứng nào về tin đồn đó không? . Thiếu Tá Định ú ớ, không đưa ra được bằng chứng nào cả. Tôi còn nhớ Trung Tá Phúc nghiêm sắc mặt nói: " Anh là Trưởng phòng CTCT mà phao tin đồn nhảm như thế, không biết tự ngượng với mình à. Tôi sẽ phạt anh nín thở, anh biết không?" Sau đó , Thiếu Tá Định phải lãnh 1 số ngày trọng cấm . Theo thiển ý, trong vụ này, Thiếu Tá Định khá lý tưởng .

      2/Khi làm Chỉ huy Trưởng Không Đoàn 72 Chiến Thuật cũng ở Pleiku, trong một buổi họp Quân Đoàn , khi trận chiến Tân Cảnh đang sôi sục, Thiếu Tá Định đã quyết liệt công kích Tư Lệnh Quân Đoàn II đã cố tình đưa các Pilot của Không Đoàn vào chỗ chết và từ chối thi hành lệnh điều quân của Quế Tướng Công, vì biết chắc chắn nhiều pilot của Không Đoàn sẽ vong mạng vì những lệnh lạc thiếu suy xét này. Hơn thế nữa, nghe nói, ông còn đòi bỏ bom Quân Đoàn II .
      Hậu quả của việc cưỡng lệnh Tướng Toàn: Vợ chồng con cái Trung Tá Lê bá Định được lệnh phải rời bỏ Pleiku trong vòng 24 tiếng đồng hồ, no excuse! Thế là cuộc đời binh nghiệp của 1 SQ ngoại hạng đã tan tành như bọt nước. Có lẽ, ngoài 2 món ăn chơi là phạt trọng cấm, đuổi cổ khỏi Quân khu, còn 1 món nữa mới đủ bộ: CẤM KHÔNG CHO GIỮ BẤT CỨ MỘT CHỨC VỤ QUAN TRỌNG NÀO.
      Khoảng 1988, tôi có về VN , và có gặp ông xếp cũ là Đại Tá Võ Quế. Nhân nói về Trung Tá Định, ông Quế cho biết, ông Định vì thù ông bạn Đồng Minh phản bội chúng ta, nên nhất quyết không đi Mỹ dù có phương tiện. Ông ở lại VN, sống thoải mái bằng 2 nghề: dậy Anh Văn và dậy nhẩy đầm.
      Bây giờ, ông đã ra đi. Chúc ông yên vui nơi một vùng trời nào đó an bình. Với bọn Sĩ Quan " trẻ" chúng tôi, ông lúc nào cũng hiện diện trong ký ức của chúng tôi, dù đó là một ký ức càng ngày càng thu hẹp vì mất mát theo ngày tháng! Trung Tá Lê bá Định, người có một tâm hồn lý tưởng trong một hệ thống Quân đội đầy đố kỵ, lúc nào, với chúng tôi , cũng là một thần tượng .

      NGUYỄN GIANG
      Khóa 7/68 KQ

      Comment



      Hội Quán Phi Dũng
      Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




      website hit counter

      Working...
      X