Airforce Echo News
- Details
- Category: Chuyện 30.4
- Hits: 574
Bảo Ðịnh Nguyễn Hữu Chế
“Anh hùng tử, khí hùng bất tử”
Lịch sử dân tộc Việt không thiếu những Anh Hùng - Liệt Nữ. Năm 43, sau khi bại trận trước quân xâm lăng Nam Hán, Hai Bà Trưng đã gieo mình xuống sông Hát Giang mà tự tận, không để lọt vào tay giặc.
Khi quân Nguyên sang đánh nước ta lần thứ hai (1284), quân nhà Trần kém thế, thua trận liên miên, vua Nhân Tông thấy thế giặc mạnh, sợ chống không lại thì nhân dân bị tàn hại, nên có ý định hàng giặc để cứu muôn dân. Nhưng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã khẳng khái tâu: “Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước”.
Tháng 4 năm 1975, khi Tổng Thống 48 giờ không do dân bầu Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng quân CSBV, QLVNCH lại sản sinh ra nhiều vị anh hùng “thà chết không hàng giặc”. Đó là các Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, và Phạm Văn Phú. Người đời xem năm vị tướng anh hùng này là “Ngũ Hổ Tướng”.
Sau khi bỏ ngỏ Đà Nẳng, quân và dân Vùng I tìm cách trốn chạy vào Nam bằng mọi phương tiện sẵn có. Người dân VNCH, nhất là người dân Cố Đô Huế không bao giờ quên được thảm cảnh của Tết Mậu Thân năm nào, khi quân CSBV chiếm kinh thành Huế trong 26 ngày, và chúng đã sát hại hơn sáu ngàn người dân lành vô tội, do những tên đao phủ Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường và em là Ngọc Phan tung hoành ngay chính bà con, và bạn bè của chúng. “Đắc xin các đồng chí giải phóng có mặt ở đó được giải quyết mối thù riêng…Tý đứng dưới hố, cứ mỗi lúc Đắc đưa súng lên nhắm vào trán Tý mà bóp cò, Tý lại nhắm mắt, khuôn mặt lạnh lùng chờ đợi…” (Giải khăn sô cho Huế, Nhã Ca)

Huy hiệu Phi Ðoàn 247
Hoàng Bôi quê ở làng Lai Hà, một ngôi làng bé nhỏ, nằm ven bờ Tây ngạn phá Tam Giang. Phá Tam Giang nổi tiếng, không những vì là con phá lớn nhất của đất nước, mà nổi tiếng nhờ qua những câu thơ:
“Ðường vô xứ Huế quanh quanh,
Non xanh nước biết như tranh họa đồ.
Yêu em, anh cũng muốn vô,
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”
Làng Lai Hà thuộc quận Quảng Ðiền, tỉnh Thừa Thiên, dù không có một lịch sử lâu dài, chỉ mới thành hình kể từ sau khi Chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng đất Thuận Hóa năm 1558, dưới đời vua Lê Anh Tôn, nhưng cũng đã sản sinh ra nhiều anh hùng hào kiệt. Ðiển hình là một người thuộc vào hàng chú bác của Bôi, vào khoảng thập niên 1930, hoạt động chống chính quyền Bảo Hộ Pháp, bị bắt, nhưng đã tuyệt thực cho đến chết ở trong nhà lao Hỏa Lò, Hà Nội. Năm 1945, khi quân viễn chinh Pháp, theo thỏa hiệp sơ bộ với chính phủ Hồ chí Minh, đưa quân vào Việt Nam để lập lại sự đô hộ, một người thuộc vào hàng ông của Bôi bị giặc Pháp bắt, không chịu đầu hàng, đã hô câu: “Việt Nam muôn năm” trước khi một tràng đạn oan nghiệt của quân xâm lược nổ vào người ông, kết liễu cuộc đời của một lão nông anh dũng.
Làng Lai Hà đã cưu mang con cháu họ Nguyễn thuộc hệ phái Tiền quân Nguyễn Văn Thành, một trong những vị khai quốc công thần nhà Nguyễn.
Phía Bắc của làng là Chí Long, quê hương của cụ Nguyễn Tri Phương, một vị đại thần anh hùng của nhà Nguyễn. Khi quân Pháp hạ thành Hà Nội, con là phò mã Nguyễn Lâm tử trận, cụ bị thương nặng, bị giặc Pháp bắt, nhưng cụ không chịu buộc thuốc và nhịn ăn mà chết vào năm 1873. Những tấm gương anh hùng đó đã ăn sâu vào tâm khảm của Bôi, và nó đã định hướng cuộc đời của Bôi, cuộc đời của một vị anh hùng “Thà chết không hàng giặc.”
Là phi công trực thăng, trước khi trở thành phi công lái Chinook, anh đã từng bay yểm trợ cho mặt trận vùng giới tuyến, anh đã bay qua phá Tam Giang, nơi chôn nhau cắt rốn. Bài hát “Chiều Trên Phá Tam Giang” của Trần Thiện Thanh phổ nhạc, thơ Tô Thùy Yên, làm cho anh chợt nhớ Sài Gòn, chợt nhớ làng quê nhỏ bé đang điêu linh vì cuộc chiến vô nghĩa do bọn Cộng Sản Bắc phương đang tiến hành từ mấy chục năm nay. Ngôi giáo đường Lai Hà, và trường trung học Tam Giang ẩn mình sau lũy tre xanh, nơi đã chôn giấu biết bao kỷ niệm của thời niên thiếu, với vị linh mục khả kính, Cha Nguyễn Phùng Tuệ, giờ chỉ còn trơ lại những bức tường loang lổ. Dấu vết chiến tranh đang tàn phá làng quê anh.
Những ngày cuối tháng 3 năm 1975, thành phố Ðà Nẵng hầu như lính nhiều hơn dân. Dưới quyền tư lệnh của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, đáng lý phải xảy ra một trận thư hùng giữa quân CSBV với quân của Tướng Trưởng, mà phần thắng bại chưa biết nghiêng về bên nào, dù quân viện do ông bạn đồng minh Hoa Kỳ cắt giảm, nhưng lòng anh dũng, ý chí quyết chiến quyết thắng của người lính Cộng Hòa vẫn có thừa. Nhưng cuối cùng… Ðà Nẵng đã bị bỏ ngỏ, toàn quân, toàn dân đành tháo chạy. Hoàng Bôi cũng như tất cả mọi người, tháo chạy trong cảnh bát nháo, hỗn loạn, hơn cả những ngày tháng của mùa Hè đỏ lửa năm 1972, khi quân CSBV, với xe tăng và đại pháo, ngang nhiên vượt sông Bến Hải, ranh giới chia đôi đất nước theo Hiệp định Ðình Chiến Geneva tháng 7 năm 1954.
Sáng sớm ngày 29 tháng 3 năm 1975, trời Ðà Nẵng trở mưa. Cơn mưa Xuân cuối mùa lất phất nhẹ, như những cơn mưa phùn dầm dề xứ Huế, nhưng cũng đủ thấm ướt và làm lạnh lòng những ai phải rời thành phố, ra đi trong vội vã trước làn sóng đỏ đang đổ ập vào từ phương Bắc, như cơn đại hồng thủy, đang nhận chìm một đô thị rộng lớn vào hàng thứ hai của nước Việt Nam Cộng Hòa. Sân bay Ðà Nẵng hỗn loạn, đạn khói mù trời. Người dân từ các vùng lân cận, từ Huế đổ vào, tìm cách vào phi trường kiếm một chỗ bay để thoát thân.
Những ngày trước, chính phủ đã thuê bao nhiều chuyến bay của máy bay ngoại quốc để di tản dân tỵ nạn, nhưng số lượng người đông đảo, chen lấn nhau, ai cũng muốn nhanh chóng được ra đi, nên đã xảy ra nhiều cảnh thương tâm. Trung Tá Hùng, thuộc Trung Tâm Hành Quân Sư Ðoàn 1 KQ, sau khi không còn liên lạc được với ai – gọi qua quân đoàn hay các đơn vị bạn, chỉ nghe tiếng chuông reo, không có ai trả lời – anh vội vã chạy ra phi đạo, ẵm theo hai đứa con thơ, vì vợ anh đã tử nạn trong một trận pháo kích của Cộng quân. Anh leo lên một chiếc L19 còn sót lại, nhưng không thể nào khởi động được máy. Anh vội tìm một chiếc xe để câu bình điện. Cuối cùng, máy bay nổ máy, anh bay được, thoát vào Nam (theo lời kể lại của Hùng, khi ở tù chung một đội tại thành Ông Năm, Hóc Môn, năm 1975).

Ðại Úy Hoàng Bôi và một số đồng đội cùng thân nhân của họ lên một trong những chiếc Chinook cuối cùng vội vã rời bến. Khi phi cơ của anh bay ngang bãi biển Sa Huỳnh, bị súng VC bắn lên trúng đạn, không thể bay tiếp, đành phải đáp khẩn cấp. Ðó là một xóm làng ven biển, thuộc thôn Vĩnh Tuy, xã Phú Thạnh. Ngoài phi hành đoàn, còn có 17 hành khách. Hầu hết họ là quân nhân thuộc SÐ1KQ và thân nhân. Một toán VC gồm du kích địa phương và quân CSBV tiến ra kêu gọi đầu hàng. Trong hoàn cảnh không thể chống cự, đụn cát trắng trống trải không nơi ẩn núp, tất cả hành khách đành tuân thủ. Nhưng phi hành đoàn gồm Ðại Úy Hoàng Bôi và một thiếu úy, hoa tiêu phó, đã “thà chết, không hàng giặc.”
Hoàng Bôi là một tín đồ Thiên Chúa Giáo ngoan đạo. Theo giới luật, người tín hữu Thiên Chúa Giáo không được tự sát. Anh không muốn phạm vào giới luật. Nhưng đứng trước tình thế khẩn trương, một bên là giới luật, một bên là danh dự của một sĩ quan QLVNCH. Anh bắt buộc phải có sự lựa chọn. Là người dân xứ Huế, đã trải qua những giờ phút kinh hoàng hồi Tết Mậu Thân năm 1968, với những cảnh giết người không gớm tay của bọn Việt Cộng, nhất là đối với những quân nhân, công chức VNCH khi bị lọt vào tay giặc. Linh Mục Bửu Đồng, Thượng Nghị Sĩ Trần Ðiền, những vị giáo sư người Ðức dạy tại Ðại hHọc Y khoa Huế, cùng hàng ngàn người dân vô tội đã bị giặc bắt đi chôn sống. Một thoáng suy nghĩ trôi qua. Quyết định của anh là chọn lựa cái chết.
Người lính ra đi không hẹn ngày về. Là một sĩ quan QLVNCH, với lời thề bảo vệ “Tổ Quốc,” tôn trọng “Danh Dự,” và chu toàn “Trách Nhiệm,” anh đã “Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.” Ðại Úy Hoàng Bôi và người hoa tiêu phó, rút vội khẩu súng lục tùy thân đang đeo trước ngực ra, mở khóa an toàn, kê vào đầu của nhau (có nghĩa là anh đã không tự sát!), và đếm: 1, 2, 3. Hai tiếng nổ chát chúa nhưng nghe như một vang lên, hai viên đạn cùng rời khỏi nòng súng một lượt. Hai thây người gục ngã. Máu của họ ướt đẫm đất Việt, tô thắm màu cờ vàng ba sọc đỏ. Thân xác của họ làm phân bón cho quê hương nghèo xơ nghèo xác vì đạn bom của chiến tranh.
Trong số hành khách, có một thiếu phụ là vợ của một HSQ/KQ cùng phi đoàn (nghe nói người thiếu phụ hiện đang sống tại Mỹ). Người thiếu phụ khẩn khoản tên du kích có vẻ là tên chỉ huy, sau này được biết là tên Lê Tiền, và một du kích gái tên Phan Thị Cư, biếu họ hai chỉ vàng, xin được chôn cất tử tế hai người lính vừa chết. Một trong số những hành khách, Trung Sĩ Kháng, thuộc một đơn vị ÐPQ cùng vài người khác, sau khi được bọn du kích cho phép, đào vội hai cái hố. Hai nấm mồ chôn vội, không có gỗ ván để làm quan tài, chỉ là bộ đồ bay làm cổ áo quan (theo lời kể lại của người anh người quá cố, một đại đội phó Cảnh Sát Dã Chiến, hiện định cư tại Orange County, và anh Nguyễn Ðiền, từ Việt Nam). Như là một chiến lợi phẩm, tên du kích mang hai chiếc nón bay về nhà.
Ngày 5 tháng 4 năm 1975, những quân nhân và công chức còn kẹt lại Ðà Nẵng được lệnh tập trung để nghe Ủy Ban Quân Quản thành phố nói chuyện… Nhưng rồi họ được chở đi những nơi nào không ai biết. Vài tháng sau, trong số những cựu quân nhân được gọi đi “thi hành nghĩa vụ lao động,” có anh Nguyễn Văn Linh, BÐQ, Nguyễn Ðiền, QC, được điều động đi sửa chữa đường sắt ở vùng Sa Huỳnh, được phân chia ngủ nghỉ ở nhà một tên du kích. Tình cờ họ thấy hai chiếc nón bay trong cái tủ thờ của người chủ nhà. Ðến gần nhìn kỹ, họ sững sờ khi thấy bảng tên đề “Hoàng Bôi.” Họ là những người bạn học của Bôi, thỉnh thoảng vẫn gặp nhau nhậu nhẹt tại Ðà Nẵng, tìm cách lân la làm quen người chủ nhà để tìm hiểu. Người chủ nhà cũng là tên du kích, đã kể lại toàn bộ câu chuyện, và còn hướng dẫn hai người lính ra ngoài đụn cát ven biển, chỉ hai nấm mồ “vô chủ ai mà viếng thăm.” Nhưng lạ lùng thay, ngoài sự tưởng tượng của hai người lính. Hai nấm mồ vô chủ, nhưng không phải như nấm mồ Ðạm Tiên của cụ Nguyễn Du:
“Sè sè nấm đất bên đường,
Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.”
Hai nấm mồ đã được tên du kích, thôn đội trưởng, đắp cao, và có mộ bia (bằng gỗ) đàng hoàng. Có một lý do nào đó lớn lao như một phép nhiệm mầu đã biến đổi một tên du kích vô thần thành một gã giữ “từ đường,” lo hương khói, mồ mả cho đến ngày cải táng.
Biến cố 30 tháng 4 năm 75 đã làm sụp đổ toàn bộ cuộc sống của người dân miền Nam, mà nạn nhân trực tiếp là thân nhân, gia đình “ngụy quân ngụy quyền.” Vợ của Bôi, một giáo viên tốt nghiệp trường Sư Phạm Qui Nhơn, đang dạy học, bị đuổi việc, ôm đứa con còn đang măng sữa tìm về nương tựa nơi nhà ngoại. “Tấn về nội, thối về ngoại.” Nhưng khốn nỗi, ngôi nhà ngoại đã bị kẻ chiến thắng chiếm đoạt – cho đến bây giờ. Bên nội cũng ly tán. Người đi tù, kẻ đi “kinh tế mới,” một số trở về quê. Quê nội, một làng quê nhỏ, cách kinh thành Huế lối nửa ngày đường. Những ngày Hè, gió nồm lồng lộng thổi từ phá Tam Giang, xua đi cái nóng bức do cơn gió hạ Lào nung nấu. Sau những tháng năm điêu tàn vì chiến tranh, giờ quê nội cũng đang chịu khốn khổ vì bọn VC ngu dốt tập kết trở về trong việc làm thủy lợi, bắt đập và ngăn phá, làm cho ruộng đồng khô cằn. Quê hương miền Trung nghèo, vốn cày lên sỏi đá, nay sỏi đá cũng không còn để mà cày! Người dân phải tha phương cầu thực.. Người sống đã không lo được miếng cơm manh áo, làm sao lo được cho người chết. Cũng có vài lần, những người thân tìm đến mộ phần của anh thăm viếng và có ý muốn cải táng. Nhưng người dân địa phương tìm cách ngăn cản không cho di dời, vì họ tin vào những ơn ích có được mỗi khi họ đến cầu xin.
Thời gian đã đi qua khá lâu, vợ con và thân nhân của Ðại Úy Bôi quyết định cải táng, nhất quyết đem nắm xương tàn về gởi gấm nơi cố hương. Người nhà đã đến gặp tên chủ tịch xã, cũng chính là tên du kích, thôn đội trưởng ngày xưa. Chẳng biết có đút lót hay quà cáp gì không, nhưng hắn đã dễ dàng đồng ý, với sự thân thiện khác thường. Thay bộ áo quần đang mặc (không còn chân đi dép râu, đầu đội nón tai bèo), trịnh trọng trong chiếc áo dài đen, khăn đóng, dẫn đoàn người hướng về độn cát ven biển. Vừa đi, hắn vừa kể lại những gì đã xảy ra từ 30 năm trước. Câu chuyện sống động tưởng chừng như thể mới xảy ra hôm qua. Giọng kể đều đều, pha đôi chút ngậm ngùi, ăn năn. Hắn xin phép gia đình được thắp nén hương, và lâm râm khấn nguyện trước phần mộ. Sau đó hắn lại xin phép được tự tay đào tìm hài cốt vị anh hùng, như để đền bù lại cái ngày hắn đã “say men chiến thắng” một cách lầm lỡ, với những xúc động nghẹn ngào…
“Hơn 30 năm, bộ áo bay còn giữ màu cứt ngựa, gói trọn bộ xương tàn của một người thỏa chí tang bồng” (‘Lối Về’, Ðặc San Phượng Hoàng, Nguyễn Văn Thống, người anh em bà con). Mộ phần của viên thiếu úy hoa tiêu phó đã được cải táng trước – rất tiếc, người viết không được tin tức gì về vị anh hùng này.
Hai người phi công tuẫn nạn đã được người dân địa phương thờ phụng, và hương khói quanh năm. Và chính tên chủ tịch xã cũng rất sùng bái hai “tên sĩ quan ngụy” mà hắn đã trút hết những hận thù năm xưa! Nhưng bây giờ đã trở thành hai vị Thần Làng.
Michigan, Mùa Tuyết phủ
Bảo Ðịnh Nguyễn Hữu Chế
- Details
- Category: Chuyện 30.4
- Hits: 889

Năm thứ nhất sau khi VNCH bị bức tử
Thành phố trở nên xa lạ ngay trong mắt lũ con nít. Cùng là tiếng Việt, nhưng tiếng Việt của người từ Bắc vô Nam xa lạ, từ ngữ lạ lùng với người miền Nam. Chẳng hạn "đăng ký" (dùng để chỉ việc ghi danh, ghi tên), tĩnh từ ghép "hồ hởi phấn khởi"(nghĩa là hào hứng).
Trật tự của đời sống bị đảo lộn, ngay cả một số động từ cũng bị "phe thắng cuộc" đảo ngược thứ tự, như "bảo đảm" bị gọi thành "đảm bảo". Cùng với sách báo bị đốt, bị tịch thu, chừng như người ta muốn tiêu hủy cả một nền văn hóa của miền Nam.
Quái đản nhất là đồng hồ có một ô vuông cho ngày tháng, và hai kim dài, kim ngắn được người thắng cuộc gọi là đồng hồ có "một cửa sổ và hai người lái".
Người miền Nam, nhất là lũ con nít chúng tôi, nghe tiếng Việt mà cứ như nghe ngoại ngữ, vừa nghe, vừa đoán. Rồi còn phải quen dần với những từ mới toanh như "hộ khẩu" mà người miền Nam với óc khôi hài sẵn có đã nói lái thành "hậu khổ".
Trong lúc bà Nhà Văn Dương Thu Hương (lúc đó mới 28 tuổi) ở một lề đường nào đó trong Thành phố Sài gòn "ngồi xuống vỉa hè ôm mặt khóc như cha chết, một cảm giác vô cùng hoang mang và cay đắng", vì thấy mình đã bị lừa dối: Sài gòn không hề đói rách, cơ cực, bị "Mỹ Ngụy" kìm kẹp cần được giải phóng như những câu hát đầy kích động "giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước"... thì có cả triệu người miền Nam mắt hoen lệ, hay cố nuốt nước mắt vào lòng.
Chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975, tiếng hát của ông Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn vang lên từ đài phát thanh Sài gòn, ông hát một ca khúc nổi tiếng của chính mình "Nối vòng tay lớn". Trong bối cảnh tan hoang, hoài nghi lúc đó, người Sài gòn tự hỏi vòng tay lớn có thực sự được nối lại không khi mà thủ đô của miền Nam cũng bị mất tên?
Niên khóa 1974-1975, anh Hợp đang học lớp 12 ban Toán. Là con đầu lòng, "đầu máy xe lửa, kéo theo những toa xe lửa khác", anh hiểu đầu máy mà trật đường rầy thì những toa xe lửa theo sau cũng văng khỏi đường rầy, nên anh cố gắng học. May mà anh được thừa hưởng gen giỏi Toán từ bên ngoại, lẫy lừng nhất là ông cậu em út của Mẹ được lãnh phần thưởng danh dự toàn trường Trung học Võ Tánh từ Tổng Thống, rồi đậu vào cả Quốc Gia Hành Chánh, Sư Phạm, lẫn Phú Thọ. Cậu chọn học Phú Thọ vì giỏi Toán. Anh Hợp biết mình chưa bằng Cậu được, nhưng suốt 12 năm đi học, anh luôn được phần thưởng. Những tờ giấy bóng kính đủ màu đỏ (cho hạng nhất),vàng (hạng nhì), và xanh (hạng ba) một cách nào đó đã tô màu cho tương lai của các học sinh được phần thưởng. Đó là thời Đệ nhị cộng hòa (1964-1975), hồ sơ xét tuyển du học cho các học sinh đậu Tú Tài hạng Bình (tương đương B plus ở Mỹ) chỉ có thành tích biểu của lớp 12, và một bài essay nói lên ước vọng của người dự tuyển.
Không có hồ sơ lý lịch ba đời như những năm sau tháng 4 năm 1975. Nên xuất thân từ gia đình nào không quan trọng, cứ học giỏi là đường tương lai thênh thang rộng mở. Nếu khả năng ngoại ngữ giỏi, thì học bổng toàn phần bốn năm du học nằm trong tầm tay. Thời đó, học sinh lớp mười hai, nhất là các nam sinh, có một năm cuối trung học miệt mài đèn sách. Anh cũng không ngoại lệ, tự hứa với lòng là "đầu máy xe lửa" sẽ kéo được đoàn tàu đến nơi cần phải đến.
Anh đã nhắm đến học bổng du học, hay ít nhất cũng vào được Phú Thọ (là Đại học Bách khoa sau này). Ăn Tết Ất Mão xong, anh đã lao đầu vào học hơn mười hai tiếng mỗi ngày, học với Thầy Cô ở trường, tự học ở nhà, và chịu khó đi xe lửa từ Biên Hòa vô Sài Gòn mỗi cuối tuần để luyện giọng ở Hội Việt Mỹ, ở Trung tâm Văn hóa Pháp. Nhưng "mưu sự tại nhân thành sự tại thiên", chưa kịp thi Đệ Nhị Lục Cá Nguyệt (tương đương second midterm ở Mỹ), đất nước đổi chủ. Những người chủ mới xét tuyển tất cả mọi thứ dựa trên lý lịch, theo nguyên tắc "hồng thắm chuyên sâu". "Hồng" là lý lịch ba đời màu đỏ như màu cờ búa liềm, lý lịch không thuộc "thành phần cơ bản", bản thân người mới tốt nghiệp Trung học không phải là "Đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản" đã khó vô Đại học. Trường hợp của anh, Ba là cựu Sĩ quan Quân lực VNCH, đang bị "học tập cải tạo dài hạn", bị chế độ mới xếp vào thành phần thứ 14 trong một xã hội có 15 thành phần thì tương lai bỗng chốc tối đen như đêm ba mươi bị mất điện
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Chưa đến hai mươi tuổi, anh Đăng trông già như một người gần ba mươi, da sạm đen sau vài tháng hành nghề lơ xe, một công việc mà anh chưa bao giờ nghĩ là mình sẽ phải làm, và làm tốt hơn nhiều người lơ xe khác. Vì anh biết cách sửa những bệnh vặt của một chiếc xe đò chuyển từ chạy bằng xăng qua chạy bằng than. Khách đi xe đò thời đó, đa số là những người đi buôn đường dài liên tỉnh, có thiện cảm với anh lơ xe dù hốc hác, đen sạm vẫn còn phảng phất nét thư sinh, rất lễ phép, nhanh nhẹn, luôn giúp đỡ họ mà không hề vòi vĩnh xin tiền tip.
Khách đi xe đò cảm thấy một chút bình yên sau cuộc đổi đời vì có những người như anh Đăng. Họ không ngạc nhiên vì sau tháng 4 năm 1975 đến giữa năm 1985, mười năm ròng rã, người dân miền Nam đã quen với hình ảnh những người làm công việc tay chân, nhưng mặt mày sáng sủa, và hành xử rất lịch thiệp. Họ cũng đã từng lên những chiếc xích lô mà người phu xe mặt mũi rất trí thức, khi ngồi chờ khách vẫn đọc những quyển Readers' Digest.
Trật tự xã hội đảo lộn đến quái dị: các ông bà cán bộ của "bên thắng cuộc" vào tiếp quản miền Nam, nhiều người viết chữ xấu, đôi khi sai lỗi chính tả căn bản, nhưng đều giống nhau ở chỗ nói những giáo điều giống nhau, giọng đều đều, ngắt câu không đúng chỗ, như một cô, cậu học trò học thuộc lòng bài học, mà không hiểu nội dung của bài học.
Là con đầu lòng của gia đình, đang học năm thứ ba ở Đại học Dược Khoa Sài gòn, chị Thảo hiểu mình không thể tiếp tục học trình sau khi phải làm bản tự khai lý lịch để nộp cho những người lãnh đạo mới của trường. Chị khai chân thật Ba là Sĩ quan tham mưu cao cấp của Quân Khu I, Mẹ là nhân viên Ty Bưu Điện Huế. Dù bản thân không chưa hề đi làm, chị Thảo cũng bị Đoàn Thanh niên ở trường "để mắt cẩn thận". Đời sống sinh viên khác xa trước tháng 4 năm 1975, họ phải đi lao động nhiều hơn đi học. Phòng thí nghiệm đóng cửa im ỉm, không biết lúc nào mới mở lại. Đến khi Ba của Chị phải vào trại cải tạo tập trung, Mẹ chị cũng phải đi học tập cả tháng ở địa phương thì Chị Thảo quyết định bỏ học, về nhà thay cha mẹ nuôi các em.
Căn nhà nhỏ có hoa phượng, có hoa giấy, có cây cau trong cư xá Sĩ quan nơi gia đình Chị sống hạnh phúc gần mười năm qua cũng bị chính quyền mới lấy lại. Chỉ một tuần sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền cách mạng đến từng nhà trong cư xá đọc "quyết định đuổi nhà".
Như câu nói của ông bà ngày trước "nước mất nhà tan". Nhờ một người thân cho ở nhờ trong một căn phòng nhỏ ở Sài gòn, gia đình chị Thảo bắt đầu cuộc sống đổi đời với đủ nghề để sống. Thoạt đầu, Chị làm bánh bao, bánh ít để bán. Bánh thì có ngon nhưng dạo đó chừng như không ai làm ra tiền, nên người ta ăn sáng bằng cơm nguội, hay sang hơn thì cơm chiên, nên các em chị Thảo phải ăn bánh trừ cơm.
"Bần cùng tất biến", chị Thảo theo bạn bè, những người dân miền Nam cùng cảnh ngộ, đi buôn đường dài trên những chuyến tàu Bắc Nam. Những chuyến tàu dạo đó nhếch nhác và tội nghiệp như những người thua cuộc, đầy dẫy người buôn hàng chuyến. Những chuyến tàu đầy người và đủ thứ hàng hòa, ban đêm không có đèn, lấp lánh ánh dạ quang của những cái đồng hồ đeo tay (cũng là một loại hàng hóa) như ánh ma trơi trong những đêm không trăng sao ngoài nghĩa địa. Điều duy nhất sáng trên những chuyến "tàu chợ" năm đó là khuôn mặt của những người đi buôn vì "thời thế, thế thời phải thế" (1) như chị Thảo.
Chính quyền mới lên án những người buôn bán nhỏ là thành phần không biết sản xuất, ăn bám xã hội. Xã hội nào nuôi con cái của ngụy quân, ngụy quyền??? Trong khi cha mẹ của họ là những người tù không tội. Họ bị xếp vào thành phần thứ 14 trong 15 thành phần của xã hội. Họ bị xếp loại là công dân bậc hai của xã hội, "chính quyền cách mạng" không cho họ đi học, cũng không cho đi làm (vì suy bụng ta ra bụng người, sợ bị phá hoại?).
Bằng tuổi chị Thảo, anh Phiến đang học năm thứ Ba khoa Toán ở trường Đại Học Khoa Học. Ba anh nguyên là Tỉnh Trưởng một tỉnh miền Tây, đã tử trận trong một lần đi thị sát mặt trận bị quân miền Bắc đặt mìn trên đường đi vào những năm cuối cuộc chiến. Xác ông và hai đồng đội hòa tan cùng đất của quê hương. Các con của ông (anh em của anh Phiến) được vào học trường Quốc Gia Nghĩa Tử, nơi nuôi dạy con của những lính tử trận. Là trưởng nam, anh Phiến hiểu mình phải học giỏi để thay Cha giúp Mẹ nuôi dạy, làm gương cho các em. Anh là một trong những học trò cưng của Giáo Sư Đặng Đình Áng.
Biến cố 30 tháng Tư năm 1975 làm đảo lộn mọi thứ, anh Phiến thất vọng đến độ tự kết liễu đời mình vào tháng 9 năm đó, đúng ngày sinh nhật 21 tuổi của anh. Trong nỗi đau mất con của Mẹ anh, chính quyền địa phương cho người đến nhà anh, với danh nghĩa là giúp đỡ gia đình anh trong cảnh tang gia bối rối, nhưng thật ra là để rao giảng về "đạo đức cách mạng", họ còn "kết tội" người quá cố là "chết ngu".
Trên bàn thờ mới lập, di ảnh của anh Phiến được phóng to từ thẻ sinh viên của anh, với hai con mắt thông minh, to tròn, chừng như đang có nét buồn phiền khi thấy chính quyền địa phương vẫn không chịu để yên cho người quá cố.
Một lần nữa, gia đình anh Phiến, cùng cả xóm bất mãn, nhưng cam chịu như họ đã từng nhẫn nhục từ tháng Tư.
Ngày đưa anh Phiến về lòng đất, cả xóm bùi ngùi đưa tiễn, trong ánh mắt hằn học của những người mang băng đỏ ở địa phương. Các Thầy Cô giáo ờ trường Tiểu học nơi anh theo học ngày xưa, mắt hoe đỏ nhìn qua khung cửa sổ lớp học, nhớ đến người học trò cũ thông minh, bạc mệnh của mình.
Có bao nhiêu người đã tự kết liễu đời mình sau cái chết của Việt Nam Cộng Hòa. Chắc là cả trăm người? Hay nhiều hơn nữa? Không ai biết chính xác nhưng hẳn là con số không nhỏ.
Tháng 4 năm 1975, Dũng và Huân đang học lớp Một. Hai thằng nhóc cùng sinh ra trong cư xá, nhà ở cạnh nhau, học cùng lớp nên rất thân nhau. Cứ tưởng là sẽ học cùng lớp ít nhất là hết bậc Tiểu học, nhưng biến cố tháng 4 năm 1975, tách rời hai đứa nhỏ vì gia đình cùng bị chính quyền mới đuổi ra khỏi cư xá. Chưa đến bảy tuổi, không hiểu nhiều về tình hình đất nước, nhưng nhìn cha mẹ, hàng xóm, người lớn ai cũng buồn, Dũng và Huân tự nhiên cùng tắt tiếng cười. Hai đứa nhỏ không hiểu điều gì đang xảy ra, nhưng cùng hiểu là cha mẹ mình đang lo lắng, Dũng và Huân đều tự lo thân, ngoan ra, không dám làm điều gì để cha mẹ phải phiền lòng. Cả hai đều cố gắng những việc nhỏ khi gia đình dọn nhà ra khỏi cư xá.
Bước vào niên khóa 1975-1976, ngôi trường Tiểu học Nguyễn Du đã bị đổi tên thành trường cấp một Lê Văn Tám, một cái tên lạ hoắc lạ huơ không những đối với học trò mà còn đối với người dân miền Nam. Học trò Tiểu học đến trường không chỉ để học, mà còn phải sinh hoạt trong đội thiếu nhi quàng khăn đỏ. Môn công dân giáo dục cũng "được giải phóng" khỏi chương trình học, được thay bằng môn chính trị. Con nít miền Nam, phần lớn là con của "ngụy quân, ngụy quyền" khôn ra, hiểu là cha anh mình không hề xấu như những bài học chính trị ở trường, hay ở địa phương.
Vào trường, khăn quàng đỏ đeo lên, nhưng ra khỏi trường, học trò tháo khăn ra đút túi.
Khi bị chất vấn về điều này, học trò dưới mười tuổi đã trả lời rất lễ phép, rất khôn ngoan:
- Thưa em phải giữ kỹ khăn quàng, vì nếu khăn dơ sẽ không có xà phòng để giặt.
Ít ra chính quyền cách mạng đã thành công trong việc làm cho tụi con nít khôn ra, trưởng thành hơn tuổi thật của mình.
Tháng 5 năm 1975 là tháng trăng mật của một số dân nghèo thành thị với chính quyền mới của bên thắng cuộc.. Một số ít người lao động nghèo chào đón các anh "giải phóng quân" đội mũ tai bèo, mặt mày ngơ ngác (vì Sài gòn và miền Nam không nghèo đói như họ được dạy) bằng chân tình. Họ tưởng đổi chế độ là đổi đời, cuộc sống mình sẽ khá hơn, tương lai sẽ tươi đẹp hơn, nhưng tháng trăng mật chấm dứt nhanh chóng. Chưa thấy đổi đời như thế nào nhưng việc buôn bán của họ ế ẩm hơn trước. Thúng xôi, xe bánh mì, rổ trái cây không còn bán được như trước, người miền Nam không còn công việc ổn định, không còn tiền để mua quà sáng. Họ ăn sáng bằng cơm nguội, hay bằng sắn, khoai tự nấu.
Chưa hết, đội quản lý thị trường cũng đeo băng đỏ cũng không cho họ bán hàng rong, vận động họ đi lao động sản xuất, khai hoang ở các vùng kinh tế mới. Đâu rồi các khuôn mặt giải phóng quân, cán bộ nằm vùng thiểu não nhờ họ giấu truyền đơn, đôi khi cả vũ khí dưới đôi quang gánh của họ?
Những người này trở về xóm lao động xưa, mặt mày vênh váo, nhìn họ bằng nửa con mắt, làm mặt lạ như chưa từng gặp nhau. Có bà cụ miền Nam bộc trực, đã nói lớn giữa chợ:
- Biết vậy hồi đó cơm gạo tiếp tế cán bộ nằm vùng, tao nuôi heo còn có lợi hơn.
Người miền Nam bảo nhau họ đã “sáng mắt sáng lòng”. Như thế đó, những người dân lao động ở miền Nam nhanh chóng nhận ra "Cứu vật, vật trả ơn/Cứu nhân, nhân trả oán".
Tháng trăng mật nhanh chóng chấm dứt, chỉ còn nỗi uất ức vì đời sống khó khăn hơ
n nhiều. Ca dao đương thời ở miền Nam có câu:
“Đả đảo Thiệu Kỳ mua gì cũng có
Hoan hô cách mạng, mua cái đinh cũng xếp hàng"
Đậu vào lớp Sáu ngôi trường công lập lớn nhất miền Đông Nam phần, từ xã Tân Vạn về tỉnh lỵ đi học khá xa, Chuyên được Ba mua cho một chiếc xe Mobylette Cady màu vàng nâu làm phương tiện đi học. Nửa thế kỷ trước, dân số không đông như bây giờ, đường vắng, nên Chuyên đi học bình yên. Chiếc Cady đó là "niềm mơ ước bốn mùa" của cả lớp, nên Chuyên cho các bạn cùng lớp thay phiên nhau chạy Cady trên một con đường nhỏ gần trường vào mỗi giờ ra chơi. Cả lớp quý cả Chuyên lẫn chiếc xe.

Chiếc xe gắn máy mini đó chỉ có con nhà giàu như Chuyên mới có. Chuyện giàu nghèo đối với học trò lớp bảy không phải là chuyện đáng lưu tâm. Nhưng không ngờ chỉ vài tháng sau biến cố 30 tháng 4 đó lại là chuyện lớn. Ngày 22 tháng 9 năm 1975, bên thắng cuộc cho đổi tiền: 500 đồng của miền Nam chỉ đổi được một đồng của miền Bắc. Cuộc sống dĩ nhiên là không còn như xưa. Chưa dừng ở đó, đợt "đánh tư sản mại bản" đầu tiên là một ký ức không bao giờ phai trong tâm trí những người chứng kiến. Cùng nghe/ đọc lại ký ức của một em bé mười tuổi vào năm 1975:
"Khi đó tôi lên 10 nhưng tôi nhớ rất rõ là bị đánh thức vào lúc 2 hay 3 giờ sáng gì đó… và rồi người ta đã sục sạo nhà tôi. Họ kiểm tra từng viên gạch, từng bát nhang trên bàn thờ, từng chân nến, từng khe cửa, từng bộ quần áo. Và chúng tôi ra khỏi nhà đúng nghĩa là hai bàn tay trắng.” (2)
Năm đó, Chuyên 13 tuổi, không chịu nỗi nghịch cảnh, nhìn cha mình (một ông chủ nhà máy sản xuất gạch được tiếng nhân từ) bị giải giao khỏi nhà như một tội phạm. Tiền bạc, của cải bị tịch thu, cả gia đình bị đuổi đi "vùng kinh tế mới", Chuyên uống thuốc ngủ tự tử. Lúc đó, lớp 7/1 của Chuyên cũng tan tác theo vận nước. Không đứa nào biết chuyện để đến tiễn Chuyên lần cuối, chỉ biết gửi lời cảm ơn vào hư không về chuyện chiếc Cady ngày nào, và thầm cầu nguyện cho Chuyên được thanh thoát ở một nơi không còn hận thù, không còn áp bức.
Nhiều, nhiều năm sau này, những cô bé lớp 7/1 năm xưa còn ở lại thành phố cũ, mỗi lần đi qua nhà Chuyên - đã trở thành Xí nghiệp sản xuất gạch ngói của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa từ cuối năm 1975- vẫn không hiểu tại sao Chuyên hiền lành, tốt bụng năm xưa lại vắn số như vậy!!!???
Giữa tháng 3 năm 1975, trong khi rút khỏi Pleiku, ba của anh Hiển, một Sĩ quan QL VNCH tử trận, thân xác ông hòa vào đất đỏ của cao nguyên. Gia đình anh Hiển chưa kịp nguôi ngoai với mất mát đó, chỉ bốn mươi lăm ngày sau, đất nước cũng không còn. Năm đó, anh Hiển học lớp 12, chuẩn bị thi Tú Tài. Tuổi 18 của anh không còn nhỏ nên anh hiểu rõ vị thế của gia đình mình trong xã hội mới. Nhưng tuổi 18 cũng chưa phải là người lớn để có thể vạch ra một hướng đi cho riêng mình. Nhìn quanh, ai cũng đang lo buồn tập thích nghi với xã hội mới, anh Hiển thu mình ở một góc nhà gặm nhấm tang chung của Việt Nam Cộng Hòa, tang riêng của gia đình.
Như một con đà điểu chúi đầu vào cát, anh Hiển chúi đầu vào mấy quyển Giải tích, và Hình học của lớp 12B (tài sản quý giá nhất còn sót lại của anh) giải các đề Toán, không phải để chuẩn bị thi vào Đại học như ước vọng mới mấy tháng trước, mà là để tìm quên, để quên đi thực tại. Không thể chia sẻ với ai, vì ai cũng đang ngổn ngang trăm mối, buồn bã và bế tắc lấy dần đi tinh anh, và sáng suốt của anh.
Trầm cảm như thế khoảng một năm, anh Hiển mất dần trí nhớ dù vẫn vẽ các đường tiệm cận của Parabol, Hyperbol rất đẹp, và vẫn có thể giải các phương trình Lượng giác. Buồn thay, sau khi Mẹ anh qua đời, không thể chăm sóc cho em, các anh chị của anh (ai cũng nặng nợ áo cơm với gia đình riêng) đành gửi anh Hiển vào Dưỡng trí viện Biên Hòa.
Trầm cảm vì thay đổi lớn của đất nước và gia đình trong khoảng 45 ngày, đã biến anh Hiển khỏe mạnh, tinh anh, thông minh, vui vẻ trở thành một người điên ốm yếu, xanh xao phải sống những ngày còn lại của cuộc đời trong thế giới của người mất trí…
Những năm đầu của Xã Hội Chủ Nghĩa ở miền Nam
Nhiều năm sau này, chúng tôi vẫn còn nhớ cảm giác đói triền miên vì cả một thời nhỏ dại, sau năm 75, không có gì để ăn sáng. Ăn tối từ sáu giờ chiều hôm qua, sáng ngủ dậy ôm cặp đi học với cái bụng rỗng, nên khoảng mười giờ sáng là "trường ca bụng rỗng" cùng hòa âm từ hầu hết bạn học cùng lớp. Chúng tôi cứ đùa, ai đói nhiều nhất được cử làm nhạc trưởng. Đó cũng là cách để "cười quên đói".
Những đứa trẻ miền Nam như chúng tôi - có cha đang trong tù cải tạo, mẹ vất vả ngược xuôi nuôi chồng, nuôi con nhỏ- khôn ra nhiều, không dám than thở sợ mẹ buồn. Ăn uống thì thiếu thốn, đời sống tinh thần cũng không có. Sách báo của con nít như báo Thiếu nhi, báo Tuổi hoa cũng bị cán bộ mang băng đỏ tịch thu, và đốt sạch.
Trong lớp thì bị cán bộ Đoàn (ở bậc Trung học) và cán bộ đội (ở bậc Tiểu học) để ý từng hành động của những học sinh có cha đang đi "học tập cải tạo". Khi một đứa trẻ dưới mười lăm tuổi phải nghe các thầy cô dạy Chính trị ra rả mỗi ngày cha của mình có "nợ máu với nhân dân" thì đứa trẻ đó không thể có tuổi thơ !!!
Các anh chị lớn hơn thì sau khi ra Bắc thăm cha trong các trại tù cải tạo ở núi rừng miền Bắc, họ hiểu là mình không còn chốn dung thân ngay trên quê hương mình. Người cha cao lớn, hiền từ, uy nghi trong quân phục ngày xưa, bây giờ trông nhếch nhác tội nghiệp trong bộ đồ tù chính trị vá chằng, vá đụp, ốm yếu, già trước tuổi.
(Vì vậy, nhiều em bé dưới mười tuổi đã thốt lên "không phải ba" như trong huyền thoại "vợ chàng Trương" năm xưa.)
Họ hoàn toàn kinh ngạc và thất vọng với lối nói chuyện ngạo mạn, thiếu văn hóa, thiếu lễ độ của các cán bộ, thanh niên ở miền Bắc, với câu nói trên đầu môi "Mày có biết Bố mày là ai không?".
Nhất là sau khi gặp lại cha mình chỉ sau gần ba năm trong tù cải tạo, họ không thể tin ở mắt mình.
Như thế đó, chúng tôi lần lượt vượt biển ra đi, để tìm một chỗ dung thân cho mình, tìm được một nơi chốn mình có thể được học hành đàng hoàng, không bị xếp vào thành phần thứ 14 trong 15 thành phần của xã hội.
Cùng với những người tìm đường ra biển lớn, một lượng lớn chất xám Việt Nam cũng theo đại dương đến quê người.

Như "bóng câu qua cửa sổ”, 50 năm trôi qua như một giấc mơ dài, có nước mắt nhiều hơn nụ cười, có nhẫn nhục, cam chịu nhiều hơn là hạnh phúc, ước mơ.
Nhiều người trong số những thuyền nhân năm xưa (đang ở khắp mọi nơi trên thế giới tự do) chọn cách không quay lại nơi chôn nhau cắt rốn của mình như câu hát "một lần đi là một lần vĩnh biệt", một số người đã gửi thân nơi quê người.
Nửa thế kỷ trôi qua, chúng tôi đã tha thứ cho những người đã chia cách gia đình chúng tôi, đã đẩy chúng tôi ra biển lớn, sống đời lưu vong. Tha thứ từ rất lâu, nhưng quên thì chắc chẳng bao giờ quên những ngày u ám năm xưa. Và cho đến bây giờ cũng chưa hề nghe thấy một lời xin lỗi chính thức với cả ngàn cựu Công chức, cựu Sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa chết trong các trại tù cải tạo, hay với ít nhất là 250 ngàn thuyền nhân đã gửi thân vào lòng Thái Bình dương trên đường tìm tự do.
Chưa nghe được một lời xin lỗi chính thức, hẳn là thân nhân, con cháu của những người bất hạnh luôn có một "nỗi niềm mang theo".
Nếu người ta biết đặt mình vào vị trí của người khác thì đời sống sẽ bình an và hạnh phúc hơn nhiều...
Nguyễn Trần Diệu Hương
Tháng 4 năm 2025
Footnote
1) Vì có thù riêng, Đặng Trần Thường kiêu hãnh ra vế câu đối cho Ngô Thời Nhiệm như sau: “Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai”. Vế đối hiểm hóc ở chỗ có 5 chữ ai và có một chữ “trần” là tên đệm của Đặng Trần Thường.
Vừa nghe xong, Ngô Thời Nhiệm khảng khái đáp ngay rằng: “Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế”. Vế đối lại cũng có 5 chữ thế, nói lên được hoàn cảnh và khí phách của người anh hùng. Và vế đối cũng có chữ “thời” là tên đệm của Ngô Thời Nhiệm.
2) https://www.rfa.org/vietnamese/in_de...018145622.html
Kẻ Đi Dự Tiệc, Người Vào Nghĩa Trang

những người lính của phía Chính phủ VNCH đã khuất
Tôi còn nhớ ngày đơn vị Sư 320 B của tôi đánh vào Sài Gòn, chúng tôi có qua đây, thấy nghĩa trang này rất khang trang, sạch và đẹp. Ai ngờ giờ đây điêu tàn như thế này rồi.
Thật đáng buồn rằng, họ đã để Sài Gòn thất thủ, rơi vào tay những con người muông thú và mọi rợ như lũ chúng tôi. Đánh xong thì chúng tôi không được ở lại mà rút ra Bắc ngay, để đơn vị khác vào tiếp quản. Thế là từ năm 1975 đến giờ, tôi không có dịp trở lại Sài Gòn nữa.
Thống nhất đất nước thì ai chả muốn, nhưng giá như Hà Nội thất thủ thay cho Sài Gòn thì đất nước của chúng ta giờ đây đã hơn cả Nhật rồi. Chúng ta đã giải phóng, nhưng đáng tiếc rằng, đó là cuộc chiến tranh giải phóng NGƯỢC!
Mà thực ra, cuộc chiến tranh Nam Bắc là do Cộng Sản tự sinh sự, không muốn tổng tuyển cử mà có. Chứ năm 1945 lẽ ra chúng ta đã có hòa bình và thống nhất rồi. Chính phủ của ông Hồ đã sai lầm, để mãi sau này mới nhận ra: "Ta đánh Mỹ là ta đánh cho Liên Xô và Trung Quốc" (Lê Duẩn). Giá như ngày đó ông Hồ không ích kỷ, không theo Mao và Quốc tế CS; Ông đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu thì ông đã kết hợp với Chính phủ Trần Trọng Kim và Ngô Đình Diệm thì tuyệt vời biết bao.
Ngày 30 tháng tư là một ngày buồn thê thảm - Ngày quyết định số phận đen đủi cho dân tộc chúng ta. Để giờ đây, người ta đuổi người hiền trong sạch như Nhà sư Minh Tuệ ra đi và mời kẻ thù ngoại bang đến dự tiệc.
Nền đạo đức VN xuống dốc không phanh, bệnh ung thư thì nhiều vô kể. Hỏi vui thú nỗi gì? Phải nói là, cả hai bên đều là thua cuộc; chứ không có ai thắng cả. Bởi đó là một cuộc chiến vô nghĩa và ngu xuẩn. Đáng tiếc và buồn là trong cuộc chiến này có sự tham dự và chứng kiến của tôi, để tôi ân hận đến bây giờ...!
@**@Nguyễn Doãn Đôn
50 Năm Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa
(Kể từ 1975- 2025)
Hỏi nắng Biên Hòa gió Dĩ An
Bao nhiêu năm dài đã thân quen
Nắng gió về Nghĩa Trang Quân Đội
Xin một lần cho tôi quá giang.
50 năm tàn cuộc chiến trường
Những mộ tử sĩ ở lại buồn
Bức tượng Thương Tiếc không còn nữa
Tôi sợ mình đi sẽ lạc đường.
Hỏi Đền Tử Sĩ, Cổng Tam Quan
Có đợi người về thắp nén nhang?
Lạnh lùng lá khô rơi trên lối
Tiêu điều thềm cũ bóng thời gian.
Hỏi Nghĩa Dũng Đài, Vành Khăn Tang
Có còn nghe tiếng khóc đau thương?
Ngậm ngùi từng cành cây ngọn cỏ
Những lúc mưa chiều lúc nắng lên.
Hỏi mộ vô danh nằm ở đây
Nỗi sầu chinh chiến có nguôi ngoai?
Những ngôi mộ xanh rêu hoang phế
Người lính năm xưa, anh là ai ?
Hỏi người lính trẻ mộ bia tên
Trận địa nào anh đã hy sinh?
Mang theo những mộng đời dang dở
Có chạnh lòng không, ai cố nhân ?
Hỏi Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa
50 năm thời cuộc đã qua
Nghĩa trang đã đổi tên xa lạ
Có ngủ yên không những nấm mồ?
Các anh nằm đây như một nhà
Những tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa
Dù ai hương khói, không hương khói
Vẫn ấm tình đồng đội bên ta.
Bốn mùa hàng cây cao nghĩa trang
Lá khô rơi chuyện trò cùng anh
An ủi 16 ngàn ngôi mộ
Ru hồn tử sĩ giấc ngàn năm.
Nguyễn Thị Thanh Dương
(Viết cho Tháng Tư 2025)
- Details
- Category: Chuyện 30.4
- Hits: 1240

Nơi tôi ở, bên này bờ Thái Bình Dương xa thẳm, một nơi chốn thật yên bình, nơi mà người dân được quá nhiều tự do (vẫn có ít điều cần giới hạn) từ trong nhà ra tới ngoài xã hội, một nơi rất đông người Việt tị nạn đang sinh sống, nơi có quá nhiều phương tiện truyền thông, báo chí phục vụ “Free” cho đồng hương. Bởi lẽ đó, mỗi năm nhân ngày “Quốc Hận Tháng Tư Đen” ban chấp hành cộng đồng (có ứng cử-bầu cử đàng hoàng), vẫn tổ chức tưởng niệm ngày đau buồn đó.
Nhưng bên cạnh những uất nghẹn thương đau, cần và cần thiết phải thắp những nén hương, ngọn nến ngồi im lặng mà tưởng niệm, thì các tổ chức, các hội cựu quân nhân muốn qui tụ đồng hương lại càng đông càng tốt, nên hầu hết phải “mướn ca sĩ chuyên nghiệp” ở các trung tâm băng nhạc lớn về. Có những ca sĩ hát rất hay, nội dung bài hát nói lên đươc nỗi đau, hay tinh thần bất khuất của những chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ngày nào, dám hy sinh thân mình để bảo vệ quê hương, đất nước. Nhưng có vài ca sĩ lên sân khấu cũng không biết mình hát cho ngày gì? hát bài gì cho thích hợp với nội dung ngày đau buồn, nên cứ tha hồ… “... nhiều đêm chăn gối bên người không quen biết?” hay “Lâu Đài Tình Ái”…. chẳng hạn. Thật hết ý.
Lại có quá nhiều chương trình trên truyền thanh, truyền hình nhắc nhở nhiều kỷ niệm về Tháng Tư Đen. Người ta kể đến những trận di tản từ miền Trung, miền Cao Nnguyên, những con đường kinh hoàng như Tỉnh lộ 7 ở Hiếu Xương-Phú Yên, xác chết chồng lên xác chết, những bãi biển xác người trôi lềnh bềnh, phần tấp vô bờ thì ít, mà làm mồi cho cá chắc nhiều hơn. Đã bao nhiêu năm qua rồi, người ta vẫn còn tìm gặp những bộ xương có mang những tấm thẻ bài còn nguyên vẹn vùi nông nơi bãi cát (không hiểu anh linh của những chiến sĩ bị hy sinh một cách oan uổng, tức tưởi này có sớm được siêu thăng, hay vẫn còn vất vưởng đâu đó vì một nỗi uất hận chưa vơi? Một nén nhang thắp muộn vẫn là tấm lòng của một nữ thường dân còn nợ ơn Người!)..
Người ta kể lại những trận đánh kinh hồn của những chiến sĩ can đảm Nhảy Dù, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân…, quyết tâm gìn giữ mảnh đất bao lâu nay đã tốn biết bao mồ hôi nước mắt, bao xương máu, ngay cả thân xác của những người lính đã hy sinh. Cuối cùng thì vẫn phải chạy và lột bỏ quần áo nhà binh và xin thường phục của người dân mặc vào để chạy!!!!. (?)
Người ta còn sưu tầm cả tiếng nói của vị “Tổng Thống cuối cùng” ban lệnh đầu hàng, phát lại cho thính giả nghe. Có người nặng lời “chửi bới” quan ngài đã dâng đất cho giặc. Phải chi ngày đó ông đừng có … bàn giao chính thể quốc gia cho cộng sản ? Dù biết rằng Đại tướng cũng chẳng làm được gì khi giặc đã vào… sát nách mà có một đám quan to, tướng lớn lại yếu hèn đã cuốn gói chuồn êm tự lúc nào. Bao nhiêu năm tháng nắm quá nhiều chức tước, binh quyền mà không làm gì được, để bọn giặc Hồ đem chủ nghĩa cộng sản ngoại lai vào tuyên truyền áp đặt lên người dân miền Bắc bấy lâu nay, giờ đang tràn xuống xâm chiếm miền Nam và cái đám mệnh danh “trí thức” miền Nam cũng theo đóm ăn tàn, nối giáo cho giặc. Người ta nhắc và nhắc những kỷ niệm buồn đau, kèm theo những chuyến vượt biên hãi hùng, từ đường bộ đến đường biển, xác người vùi trong rừng sâu Campuchia, xác làm mồi cho cá mập trên biển cả và nhiều trẻ em, phụ nữ đã là nạn nhân của bọn hải tặc Thái lan dã man hung tợn… Hằng năm và hằng năm tiếp nối chắc không bao giờ kể hết chuyện.
Người ta hát những bài "Nhớ Về Sài gòn, Sàigòn Niềm Nhớ Không Tên, Sài gòn Vĩnh Biệt", nghe cũng buồn ray rứt dù nội dung lời ca thường là những cuộc vui chơi, ca hát ở vũ trường, và dù hiện tại người về Sài gòn hằng năm đông như đi chợ (?). Nhưng sao người ta cứ vẫn nhớ về Sài gòn nhỉ? Sài gòn làm gì có trọn Tháng Tư Đen năm ấy? Nghe nhiều người di tản vào Sài gòn, sau ngày “mất nước” trở về kể lại rằng cả tháng tư người dân Sài gòn vẫn còn chính phủ VNCH, người dân vẫn tự do đi lại, vẫn hát vẫn hò, vẫn ngồi uống cà phê vỉa hè, vẫn vào rạp REX xem xi-nê, có chộn rộn chăng là vì có một số người “lánh nạn cộng sản” từ các miền đất nước chạy về, khiến những người có thân nhân đang ở nước ngoài, những nhà giàu có, những người làm việc trực tiếp cho người Mỹ phải nôn nao chạy đôn chạy đáo tìm đường thoát ra khỏi nước và họ đã ra đi rất sớm trước ngày Tổng Thống (có quốc hội chuẩn nhuận) tuyên bố đầu hàng.
Và nhiều người còn thấm thía nỗi đau khi nghe được chính giọng nói của một người nhạc sĩ nổi danh (nay về bên kia thế giới rồi), đã tỏ lộ nỗi mừng vui khôn xiết, đã “hồ hởi-phấn khởi” tuyên bố ăn mừng trên đài phát thanh quốc gia vừa mới bị “tiếp quản”, và kêu gọi mọi người dân đừng bỏ…cộng sản để ra đi, hãy ở lại dựng xây đất nước với bọn chúng, rồi hăng hái hát suông bài “nối vòng tay lớn” của chính tác giả. Tiếc thay! “Em ra đi nơi này mất hết! ”. Sài gòn và cả nước mất hết, chứ không phải nơi này…vẫn thế mà “ngài nhạc sĩ” đã bênh vực cho chế độ mới và một số ca sĩ vẫn … lải nhải, tung hê!
Nhưng chắc chắn phải nhắc đến Sài gòn, vì Sài gòn là thủ đô của cả nước, nơi chính quyền đặt dinh cơ để điều hành guồng máy lãnh đạo đất nước, nếu thủ đô mất vào tay giặc, có nghĩa là đất nước, chính thể không còn nữa. Nhưng nếu nhắc đến tháng tư đen ngòm, phải nhắc đến những tỉnh, những vùng đã bị quân cộng sản chiếm trọn tháng Tư, như Nha Trang, thành phố biển thân yêu của chúng tôi, mới thấm thía được cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của ba chữ “Tháng Tư Đen”.
Người di tản tràn đến, từng đoàn người, từng đoàn xe từ Ban Mê Thuột, từ Phú Bổn, các tỉnh miền Trung đổ về vào những ngày giữa tháng Ba. Trường Nam tiểu học, nơi cô trò chúng tôi gặp gỡ hằng ngày, đã không còn bóng dáng học sinh, vì trường đã biến thành “trung tâm tiếp cư”. Các thầy cô giáo chạy đôn chạy đáo tìm thức ăn, gạo muối, quần áo, vật dụng cần thiết vv..vv... để phân phối, giúp đỡ những người đang xơ bơ, xấc bấc, lếch thếch, hốt hoảng buồn rầu đang ngồi ủ rủ trong các phòng học làm nơi tạm trú.
Một buổi chiều, vừa từ trường về, người bạn đã chạy ào vào nhà, và báo tin: cháu chị U đã chết cháy rồi. Tin thật buồn với sự chết chóc đã đến gần sát. Người vừa ra đi là một Pilot Trực thăng, và đơn vị đang hành quân ở Ban Mê Thuột. Tàu anh đã trúng đạn phòng không của địch quân, bùng cháy như cột lửa ở trên không. Chạy đến nhà chị U, nhìn chị và bà con trong nhà khóc than, cả bọn chúng tôi vừa đến cũng chụm đầu lại khóc.
Về nhà lại gặp một người bạn Không Quân tìm đến thăm, khi biệt đội của anh từ Cần Thơ, biệt phái ra để phụ giúp với các đơn vị bạn. Đáng lẽ ở căn cứ Pleiku, nhưng vì đơn vị trên đó cũng đã di tản, nên các anh lại kéo xuống phi trường Nha trang. Ngồi nghe Anh kể những bữa đổ quân khó khăn với quá nhiều phòng không địch, những chuyến hành quân tiếp tế, và đặc biệt là cứu “dân chạy loạn”. Từng đoàn người, đoàn người từ các tỉnh cao nguyên chạy về, phải đi bằng đường rừng, vì quốc lộ đã bị VC chiếm mất. Họ băng rừng, vượt suối bồng bế gánh gồng mà đi, có người đàn bà đã sanh rớt trên đường chạy loạn, may mà trực thăng đã nhìn thấy nên đáp xuống chở về nhà thương. Có hôm anh phải bay thật thấp để hướng dẫn đoàn người đi lạc trong rừng sâu có thể đi ra con đường mòn lớn hơn mà về được Khánh Dương.
Nhiều người đổ dồn về và cũng có lắm kẻ ra đi. Người Nha Trang cũng bắt đầu tìm đường tháo chạy, bằng máy bay, bằng xe hơi, xe hai bánh và chủ yếu là ghe thuyền đường biển.
Một vài ngày cuối tháng Ba, trung tâm tiếp cư đã vơi người, một phần người tị nạn có thân nhân đến đón về, một lớp nữa họ tiếp tục xuôi Nam, những Thầy cô giáo cũng xôn xao nhiều vì người đi kẻ ở,Từ làn sóng radio phát đi chương trình tiếng Việt BBC Luân đôn, cho tin quân dân miền Nam đang …thua xiểng liểng, quá nhiều nơi giặc chưa đến đã không còn người lãnh đạo? cơ sở bỏ tan hoang. Và đường phố Nha trang đã có một lớp người mới đến, họ “hung hăng, dữ tợn” vô cùng. Với súng đạn có sẵn trên tay, họ có quyền cướp xe, bắt phụ nữ và làm nhiều điều xấu, người ta bảo “họ là toán lính” vừa đổ bộ lên bờ từ tàu Hải Quân cặp bến cảng Cầu Đá? Chẳng ai dám ra đường thường xuyên nữa, trong số đó có tôi.
Tâm trạng hoang mang giữa đi và ở. Ở lại sẽ như thế nào trước tin đồn quân giặc quá dã man. đàn bà con gái sẽ bị “rút móng tay”, bị bắt đi làm “hộ lý” cho bộ đội, đàn ông con trai sẽ bị bắt đi tải đạn, nếu lính tráng bị bắt, mạng sống sẽ không còn, nhiều tin rất hãi hùng mà người thành phố phải để ý đến. Nhưng đi thì đi về đâu? bằng phương tiện gì, nơi chốn nào để đến, hay cũng lang thang lếch thếch như những đoàn người đang nối đuôi nhau trên Quốc Lộ số Một kia. Cuối cùng Ba Má tôi chọn giải pháp có chết thì cũng sẽ chết chung ở nhà mình, vì gia đình quá đông người, lại có thêm mấy gia đình bà con ở vùng ngoài chạy vào tị nạn, mặc dù cá nhân tôi đã được người bạn sẵn dành cho phương tiện để ra đi đêm cuối cùng của tháng ba khi đơn vị anh trở về căn cứ ở miền Tây...
Buổi sáng ngày một tháng Tư, sau khi đưa người anh trai, nguyên là sĩ quan đang làm việc tại bộ Tổng Tham Mưu, là một trong những thành viên của phái đoàn về Nha Trang dự họp với Tướng Phu mấy hôm trước. Cuộc họp không đi đến đâu và cuối cùng phải trở lại SG. Quang cảnh phi trường Nha trang hỗn loạn không thể tưởng tượng nổi, cổng đóng, Quân Cảnh cầm súng lăm lăm, có thể nã đạn vào ai đó bất cứ lúc nào, nếu không tuân thủ mệnh lệnh, người và người chen lấn nhau, người la kẻ khóc, lớp trong lớp ngoài. May quá, anh tôi vào được bên trong vì còn “sự vụ lệnh” và đang đi bên cạnh một ông quan lớn.
Tôi quay đầu xe trở về nhà mà lòng buồn khôn xiết, chán nản tột cùng. Vừa về đến nhà, đã thấy người bạn phi công phản lực vừa từ Phan Rang chạy về, anh hỏi tôi có muốn di tản theo anh không? vì không còn nhiều thời gian nữa. Tôi từ chối và đang nói lời chúc Anh trên đường về Sài Gòn được bình yên, thì người chị bà con xuất hiện, tôi đẩy chị lên yên sau xe cùng đi với anh, và “tặng” chị chiếc khăn quàng Hướng đạo Sinh tôi đang đeo trên cổ để chị làm kỷ niệm. Tôi nhìn theo mà mắt cay cay, miệng vẫn lầm thầm cầu nguyện cho hai chị em đến nơí an toàn, dù gì, chị cũng từng là “chị kết nghĩa” của anh ấy.
Mới tối qua, ngay phòng khách nhà tôi, vài ông Tá cấp cao, vài ông úy cùng ngồi “bàn chiến sự”. Họ trấn an ba má và gia đình tôi rằng: cả nhà đừng có lo, nếu có chuyện xấu xảy ra, thì “Đèo Cả” sẽ là lằn ranh Quốc Cộng, chia hai phần lãnh thổ như Bến hải ngày xưa. Chúng tôi biết đó là những lời nói…vô thưởng vô phạt, nói để có chuyện chứ họ cũng đâu biết gì hơn. Khi họ đi rồi, ruột gan tôi héo hon quặn thắt, nhất là mỗi khi nghe tiếng máy bay cất cánh rời xa dần phi đạo xé nát không gian, hay những tiếng trực thăng xành xạch rồi nhỏ dần về hướng biển…
Buổi xế chiều ngày một tháng Tư, một người anh họ mặc đồ Lính đến gõ cửa, anh vô nhà mà cánh tay đang quấn băng trắng dính đầy máu khô. Thì ra, lúc di tản từ ngoài Tuy Hòa vào, cả đơn vị bị thất lạc hết, anh bị trúng đạn, tìm đường về nhà tôi để buộc lại vết thương. Nhưng chưa ngồi yên chỗ, anh đã nhìn dáo dác và bắt gặp mấy chị em tôi đang ngồi ủ rũ, anh hét toáng lên: “Sao không tìm đường đi đi, bấy giờ ở dưới phố đang hỗn loạn lắm, cả một đám tù nhân hung dữ vừa phá cửa nhà tù và tràn ra đường cướp phá!”.
Cả nhà tôi thất kinh, chưa kịp có phản ứng gì, thì một người hàng xóm chạy về la toáng lên: “nhà ai có con gái lớn phải tìm cách trốn đi, cả một đám tù ở quân lao vừa mới tràn ra đường, họ đang tủa ra nhiều đường phố cướp phá đó...”
Không còn chần chừ nữa, ba tôi vội vàng dắt chiếc Honda 50 phân khối của tôi ra cửa, chiếc xe tôi vừa đưa anh tôi đi buổi sáng, vẫn còn đầy bình xăng, chị lớn tôi chạy đi xúc vài ký gạo, em tôi đi bốc vội vài bộ quần áo, cái mền, thế là 3 chị em phóng lên xe chạy vô Suối dầu, nơi ba má tôi có mảnh vườn trồng nhiều cây trái, với căn nhà nhỏ.
Trong cơn hỗn loạn, muốn tìm con đường sống, tiềm năng sức mạnh trong mỗi một con người đã thể hiện, vượt qua những sinh hoạt thường ngày mà không ai ngờ tới. Với cái xe nhỏ xíu, mang đến ba con người, thêm gối mền gạo mắm, vậy mà tôi phóng rất nhanh khi không có vật cản trên xa lộ số Một, rồi len lỏi, luồn lách qua một đoạn đường dài lên Thành với hằng hà sa số xe cộ từ xe GMC, xe Jeep, xe hàng, xe nhà, xe hai bánh đủ loại..… và một đoàn người gồng gánh, vai mang, gậy chống, võng khiêng… rồng rắn nối đuôi nhau. Họ âm thầm lặng lẽ lách qua đoàn xe đang nghẹt cứng trên đường.
Lách mãi, tôi cũng qua được đoạn đường Thành, đang dáo dác tìm lối lách nữa, bỗng nghe có tiếng gọi tên mình. Thì ra, nguyên cả một đoàn xe của Trung Tâm Huấn luyện Lam sơn cũng trong đoàn người di tản, và đang di chuyển nhích nhích nơi đây vì kẹt cây cầu đàng trước.
Chia tay với quí anh, những người đã từng đem mồ hôi và nước bọt để huấn luyện cho những tân binh trước khi ra chiến trường chống địch, giờ này cũng đang tham gia vào cuộc di tản vô trật tự, một cuộc “tháo chạy” mà không biết sẽ ra sao ngày sau?
Xe chạy và chen lấn mà chạy, qua ngang cầu Lùng, một cảnh tượng thương tâm xảy ra, một xe Honda 90 phân khối, hình như chở đến 7 con người ta lớn nhỏ(?), người tài xế bị lạc tay lái và ngã cái rầm, người văng tung ra, nhưng chẳng mấy ai chịu dừng lại để giúp đỡ người bị thương, có thể chết không chừng(?). Đoàn người cứ tránh qua mà chạy, coi như chẳng thấy gì. Tình nhân loại, lòng nhân ái đã “bị bỏ quên” khi chính mình cũng đang đi tìm lối sống? Hoá ra hình ảnh mấy hôm trước trên TV còn chiếu cảnh những người… đạp đầu nhau để tìm một chỗ ngồi trên tàu di tản là chính xác. “Mạnh được yếu thua” đang diễn ra mọi nơi mọi chỗ trên quê hương tôi? Và trong đó có cả chính bản thân tôi. Buồn thật!
Cơn mưa chiều hung bạo, xối xả tự nhiên đổ ập xuống. Mưa và gió đập rầm rầm vào mấy bức vách của căn nhà nhỏ, nơi chúng tôi vừa đến chẳng bao lâu. Những hạt nước mưa nặng nề rơi xuống như muốn cuốn trôi dùm nỗi uất nghẹn trong tim của những con người bất lực, đang thua chạy mà không biết tại sao mình bị thua? Nhìn ra đường, đoàn người ướt nhẹp vẫn lóp ngóp đi hai bên lề dưới cơn mưa, xe cộ vẫn chen nhau mà chạy, đoạn đường này ngoài những khu vườn trồng cây với căn nhà nhỏ để ở tạm, không có nhà cửa hai bên đường, nên người đi bộ không thể nào có chỗ núp mưa, nên họ cứ lầm lũi mà đi, như những đám ma trơi mùa tháng Bảy…(?)
Mưa tạnh bớt, một người nhà vườn bên cạnh chạy sang, họ yêu cầu chúng tôi góp tiền mua chiếu để chôn hai người vừa bị xe tông chết ở trên đường Quốc lộ. Thương thay hai người Lính đèo nhau trên chiếc xe Honda, và đã bị chiếc xe nào đó đụng phải, họ ngã xuống đường và chết liền tại chỗ, máu loang đỏ cả mặt đường trộn lẫn nước mưa, Dù sao hai người Lính này vẫn có được nén nhang cúng bái và nấm mồ dù chỉ đắp bằng đất, và cả tên tuổi ghi rõ bằng những mảnh gỗ đóng trên đầu mộ.
Sáng ngày 3 tháng Tư, ba tôi vào gọi các con về vì “quân giải phóng” đã vào chiếm thành phố Nha Trang hôm qua. Ba tôi nói có một nhóm người đã ra tận đèo Rù Rì để đón mừng(?) và hú hồn vì chúng tôi đã đi thoát đêm đó. Nếu ở lại nhà, không biết chuyện gì sẽ xảy ra, khi mà đám tù nhân hình sự, chuyên cướp của giết người, lẫn những người tù “bất trị” ở quân lao họ túa ra đường phố, đến phá cửa những nhà buôn nào họ nghĩ là có thể cướp được, nhà nào có con gái họ bắt để hãm hiếp. Về sau có nhiều người kể lại, các cô gái phải chui trốn ở những nơi dơ bẩn nhất, trên gác xép, dưới gầm giường, nhà xí v..v…Cũng hên là sau khi vơ vét được mớ tiền của thì họ bỏ đi, cùng lúc, những căn cứ quân sự, những cơ sở chính quyền, nhà dân bị bỏ trống, đã bị nhiều nhóm người khác nhau đến “hôi của” đốt phá. Thành phố đã hỗn loạn giờ thêm cảnh điêu tàn, nhếch nhác..
Bấy giờ mới thật sự là những ngày hãi hùng của “Tháng Tư Đen” khi bộ đội miền Bắc đã đem xe tăng vào thành phố. Những chiếc xe “Molotova” kềnh càng, lù lù chạy ngang chạy dọc trên đường, trên xe chở đầy những bộ đội mặc quần áo màu cứt ngựa và nón cối đội đầu, cả người và xe đều cắm đầy lá như những “cánh rừng “ biết đi. Người dân bình thường đứng nhìn bọn “khỉ rừng xanh” xuất hiện trong lo âu sợ hãi, trong khi những tên nằm vùng xuất đầu lộ diện ăn mừng chiến thắng (?).

Giọng nói “chanh chua–chát chúa- the thé- sắc lạnh” từ miền Bắc xa xôi nào đó truyền đi qua làn sóng đài Phát Thanh, với “bảy điểm của ủy ban quân quản” cứ làm người nghe rờn rợn, nổi gai ốc cùng mình. Những lúc ra đường gặp phải những bộ đồ màu cứt ngựa, đôi dép râu và cái nón cối mặt ngơ ngơ ngáo ngáo, nhìn xiêng nhìn xéo trầm trồ, nói chuyện với nhau bằng thứ giọng lơ lớ như người miền núi mà thở dài ngao ngán và tự hỏi: những người chiến thắng đây sao?. Mặc dù người thành phố đã cải dạng, quần áo thường ngày đã đem giấu kỹ, chỉ còn những bộ đồ đen đúa hoặc nâu đà, nhưng vẫn bị nhìn với cặp mắt soi mói, ác cảm.
Chuỗi ngày tiếp theo thành phố bị tắt ngúm đèn điện ban đêm, nhà nhà đóng kín cửa, leo lét ngọn đèn dầu. Tháng Tư Đen đúng nghĩa. Thành phố trống vắng, hoang lạnh tiêu điều. Mới hôm nào những con đường phố đông vui nhộn nhịp, những bộ quân phục từ các quân trường, từ nhiều đơn vị về đây, trai thanh gái lịch dìu nhau đi trên phố, trên bãi biển những buổi chiều lộng gió, phố xá sáng trưng, sinh hoạt tấp nập, giờ còn lại một thành phố chết, vắng hoe. Đã vậy những tiếng súng phòng không được đặt khắp nơi cứ bắn lên nổ rền trời, tiếng súng đại bác bay xé không trung, xé trời và xé cả lòng người. Buồn đau và sợ hãi là tâm trạng của những người dân trong thành phố, dù mọi sách báo, tài liệu, của cải hiếm quí đã đem dấu cất, phi tang.
Những tiếng máy bay ầm ĩ bay trở lại thả bom vào mỗi đêm, nơi đã bị bắt buộc phải treo cờ “Mặt Trận giải phóng miền Nam”. Những tiếng nổ long trời lở đất cứ dội lại, rền ra xa, những giấc ngủ chập chờn, khi trên đài phát thanh “quân giải phóng” ra rả loan tin “bọn Mỹ Ngụy” càng ngày càng thất trận. Lệnh của “uỷ ban quân quản” ban ra: “cách mạng sẽ khoan hồng nếu quân dân cán chính Mỹ Ngụy ra đầu thú”. Một người anh họ, chỉ là một “Cán bộ Xây Dựng Nông Thôn” của một xã ngoài Phú yên, chạy vào nhà tôi tạm trú, ba má tôi lo sợ đã bảo trốn đi vào Nam, nhưng vì nghe lời gia đình của vợ bảo ra trình diện sẽ được “khoan hồng”, bị “cách mạng dẫn độ” về Tuy Hoà và bị chặt đầu không chút nương tay. Ngày liệm xác phải chờ xin lại.. cái đầu bị chặt để ráp lại cho nguyên vẹn hình hài. Có người thanh niên ăn trộm vặt vì đói quá, bị “bộ đội” bắt đem ra bãi biển “xử tử” để làm gương, dù người bị mất cắp năn nỉ van xin bộ đội khoan hồng đừng xử bắn. Nhưng những con người vô cảm vẫn thi hành mệnh lệnh. Người dân thành phố cảm nhận được nỗi mất mát tột cùng nhưng không biết làm gì hơn.

Những Thầy Cô giáo như chúng tôi, vào những ngày sau đó, buổi sáng bị bắt buộc phải trở lại trường để “học tập chinh trị”. Nhưng buổi chiều, cứ khoảng hai giờ là leo lên xe đạp, đèo theo chiếc mùng và vắt cơm nguội, đạp xe lên tận trên Thành, hoặc khu Đại điền xin ngủ nhờ qua đêm, chọn những gia đình có “hầm trú ẩn”. Vì cha mẹ già sợ bom đạn từ máy bay “Mỹ Nguỵ” của đám “giặc lái” trở về thả bom, tai bay hoạ gửi chẳng biết đâu mà tránh.
Dù đã đi khỏi thành phố, nhưng nhiều khi đang ngủ chập chờn, còi báo động rú lên liên hồi, dai dẳng đến rợn người, thế là ba chân bốn cẳng phải chạy chui vội xuống hầm, ngồi bó gối chờ cho đến sáng, khi biết chắc rằng “máy bay Nguỵ” không còn trở lại thăm viếng tặng bom.
Hỡi ơi! Khi “tháo chạy”, những người “có thẩm quyền” đã không chịu hủy bỏ những gì cần hủy, như tài liệu văn phòng, những hồ sơ cần thiết, hay những cây cầu chiến lược để xe giặc khỏi đi qua. Giờ đã lọt vào tay giặc, họ ra lệnh đem bom về thả chính nơi họ vừa mới bỏ ra đi. Thành phố như đã chết, giờ càng ghi đậm thêm nỗi chết, khi quá nhiều nơi “ăn” bom đạn của chính quân mình, từ ngoài xóm Bóng, đến đường Tô hiến thành, và cả ngôi trường thân thương của chúng tôi cũng lãnh nhiều quả đạn. Gia đình một người ”chạy giặc” chưa kịp tìm phương tiện trở về lại quê xưa, thì người vợ trẻ và đứa con trong bụng đã chết tức tưởi ngay trong phòng học vì quả đạn trúng sập căn phòng .
Buổi sáng trên đường đi đến trường để dọn xác chết và gạch ngói ngổn ngang, chiếc xe đạp cà tàng của chị bạn bị đứt dây sên, hai chị em vừa dắt xe chạy mà vừa khóc vì đường vắng đến lạnh người, lại tủi thân, xót phận của người bỗng chốc thành kẻ thua cuộc, lại phải đi ngang qua khúc quanh trước cửa trường Nữ trung học, nơi có ba xác chết nằm sấp đó thật hôi thối, mà chưa có người dọn dẹp khiêng đi mai táng….
Thú thật hồi đó cứ mỗi một đống gạch vụn khiêng đi đổ, là khiêng đổ cả mồ hôi và nước mắt, nhưng đã giữ lại trong tôi nỗi đau và sự tức giận đối với những người vừa là bạn, là phe mình mới hôm qua. Những quán ăn Thọ Lộc, Hoài Linh còn ấm cái ghế ngồi, chẳng lẽ hôm nay đã trở thành…thù địch?. Thương và giận luôn giằng co theo từng bước chân đi. Bao nhiêu ngày của Tháng Tư Đen, là ngần ấy ngày chúng tôi sống trong lo âu sợ hãi, khủng hoảng tinh thần. “Cách mạng” luôn đưa người đến tận nhà “bắt buộc” các thầy cô giáo phải đến trường, nhưng có lúc mới đi đến giữa đường đã phải chạy về vì tiếng súng phòng không nổ đụp đụp liên hồi. Mãi đến khi trên làn sóng đài phát thanh chát chúa oang oang “Mặt trận lâm thời giải phóng miền Nam thông báo là quân dân ta đã chọc thủng chốt cản của Mỹ Ngụy tại phi trường Phan Rang và đang tiến nhanh theo gót bọn chúng đang tháo chạy…” thì không còn nghe tiếng ù ù của “những chuyến bay đêm!. Nhưng ngoài nỗi đau, sự hoang mang sợ hãi giờ mang thêm niềm thất vọng tột cùng.
Ôi Tháng Tư Đen! đời đen như cục than đen bắt đầu từ những ngày tháng đó. Cho đến một ngày cuối tháng Tư cả nước cùng nghe chung một tiếng loa của “phe thắng trận” với “đại thắng mùa Xuân”! Những ngày mà “đôi dép râu dẫm nát đời son trẻ, nón tai béo che khuất nẻo tương lai ”bắt đầu một chế độ mới. Tiếp theo là những ngày ăn cơm độn với gạo mục, bo bo, mì sợi, với mỗi tháng một cái tem phiếu đi cửa hàng lương thực chờ chực cả ngày mới mua được vài ký rau muống….. Người thì bị đi tù mút chỉ không biết ngày ra, quá nhiều gia đình ly tán. Người tuổi trẻ bị bắt vào đội “thanh niên xung phong” lên rừng chặt cây lồ ô, đi lao động khổ sai tiếp diễn, chịu bao nỗi khổ ảỉ đắng cay. Đã vậy thêm lớp người mới mang băng đỏ, chuyên đi lùng sục bắt bớ những người “chưa chịu tuân thủ” lệnh của chính quyền mới, vào nhà vơ vét tài sản của dân lấy cớ tịch thu “sản phẩm đồi trụy của Mỹ Nguỵ” đã tạo thêm nỗi kinh hoàng cho những người dân vừa bị đổi chủ…, những tháng ngày không thể nào quên, và mãi mãi không dễ gì quên….
Lê Thị Hoài Niệm
- Details
- Category: Chuyện 30.4
- Hits: 696