Airforce Echo News

- Details
- Category: Truyện Ngắn
- Hits: 460

Năm đó, khi đất nước bước vào giai đoạn đói khổ ghê gớm chưa từng thấy, một thời kỳ khốn nạn nhất trong mọi thời kỳ vì những người cộng sản lên nắm chính quyền; họ chỉ được dạy căm thù và giết chóc, chẳng có một chút kiến thức nào về kinh tế để lèo lái đất nước, rủi thay họ lại là phe chiến thắng trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Vừa mới may mắn chiếm được miền Nam, chính quyền cộng sản ở trung ương vẫn còn lúng túng không biết điều hành đất nước ra sao; ở thành phố thì họ tha hồ cướp bóc và chuyên chở tài sản từ Nam ra bắc, ở làng quê, những anh nông dân cả đời chân lấm tay bùn, mới hôm qua còn đi làm thuê làm mướn, nay nhảy lên nắm chính quyền, lại càng ngu ngơ hơn. Ở trên dạy làm sao, họ theo làm vậy và khi thừa hành thì làm theo cảm tính của một anh nông dân không có học.
Thằng Xiểng và tôi vừa là anh em họ cô cậu ruột vừa là đôi bạn thân, chúng tôi hay đi chơi chung với nhau, uống cà phê, nghe nhạc, và cả đi tán gái cùng làng ở cuối sân nhà thờ vào những ngày trăng sáng. Cả hai đứa chúng tôi vừa tròn 17 tuổi. Gia đình tôi từ ngoài miền Trung chạy loạn về cái làng quê điêu tàn này vì không biết phải sống ở đâu trong buổi giao thời hoang mang. Ba má tôi đã nếm mùi cộng sản từ trước năm 1954, phải di cư vào miền Nam, ông bà tin rằng chỉ có chạy về miền quê làm ruộng rẫy, may ra mới không phải chết đói, và thêm nữa, ở đây có vài người bà con ruột thịt bên má tôi.
Trong đám anh em họ của tôi, còn có thằng Sông, con ông bác, anh ruột của má tôi; vì vai vế họ hàng, tôi phải kêu nó là anh và kêu thằng Xiểng, con ông cậu ruột, là em. Ba đứa chúng tôi sinh cùng một năm, cùng một tuổi, nên dễ làm bạn với nhau hơn. Ngày đó còn trẻ nên chúng tôi chẳng bao giờ phân biệt hơn thua, giàu nghèo hay định kiến tao tỉnh thành, mày nhà quê. Nhưng tôi thích chơi với thằng Xiểng hơn vì nó hiền lành, nhường nhịn, và thẳng tính, trong khi thằng Sông thì cáu kỉnh, ghim gút và hay giận dỗi, có chuyện gì không thích cứ lầm lì không nói ra.
Cuộc sống cả nước cơ cực lầm than. Đất đai, ruộng vườn ở vùng sông ngòi nước lợ như làng tôi bị vào hợp tác xã, năm đó mất mùa nặng vì ở trên không biết thổ nhưỡng địa phương ra sao, cứ bắt phải tuyệt đối theo lệnh trung ương đắp đê ngăn nước mặn; còn ở dưới, tuy biết sai, nhưng không dám cãi “nghị quyết của đảng” từ trên đưa xuống. Một đất nước điều hành bởi người không hiểu biết và bởi nghị quyết chứ không phải bởi luật lệ và kiến thức chuyên môn, thì sớm muộn gì cũng dẫn đến suy vong.
Người dân quê chúng tôi phải chèo xuồng đi vào rừng Sác dùng tất cả những dụng cụ tự rèn được như dao phãng và con dao quắm, hoặc rựa để phát quang rừng Sác lấy đất đai làm ruộng thêm. Lúc đó mạnh ai nấy làm, gia đình nào đông con thì phá nhiều, hưởng nhiều. Làn sóng người đi tìm đất ngày càng đi sâu và đi xa hơn. Thằng Xiểng và tôi thường đi làm chung với nhau, chúng tôi thuộc lòng các con sông rạch trong vùng và sông Lòng Tàu như trong lòng bàn tay. Chúng tôi càng thân nhau, quý mến nhau như hai anh em ruột.
Rồi đất cũng hết vì càng đi xa, nước càng mặn muối vì gần với biển hơn. Chúng tôi bàn nhau nên mua một chiếc ghe lớn hơn có thể chở được ít nhất là 12 đến 15 thước củi; chúng tôi sẽ đi chặt củi Đước hay củi Mắm ở rừng Sác đem về bán ở Sài Gòn. Năm đó chúng tôi vừa tròn 18 tuổi mà đã phải lo bương chải làm ăn nuôi gia đình. Cả hai gia đình hùn nhau, gom góp, vay mượn, mới mua được một chiếc ghe kiểu Cần Thơ, thằng Xiểng và tôi mướn thêm một thằng bạn quen tên Thân Văn Liệu, đi theo phụ chặt củi Đước. Mỗi chuyến đi chặt củi mất một tuần. Ba đứa vừa chặt, vừa khuân vác ra ghe phải mất 4 ngày mới được 12 thước củi, thay nhau chèo tay thâu đêm suốt sáng mất một ngày về Sài Gòn để bán, rồi gần một ngày theo con nước ròng thả xuôi về nhà, nghỉ ngơi một ngày rồi lại tiếp tục đi làm chuyến khác.
Cuộc đời cơ cực, sướng khổ có nhau như vậy nên chúng tôi càng gắn bó và thân thiết nhau hơn. Nghề chặt củi Đước và củi Mắm không phải là một công việc dễ dàng gì dù chúng tôi đang ở cái tuổi sung sức nhất của người thanh niên. Ăn uống kham khổ, chỉ cá khô nướng, muối mè, mắm tôm mắm ruốc kho lèo tèo vài miếng thịt ba rọi, hoặc vài hũ chao ăn với cơm mà phải làm quần quật như trâu cả ngày. Bây giờ nghĩ lại mới thấy sức người kinh khủng thật, không hiểu sao ngày đó tôi có thể làm được những công việc quá sức của mình.
Rừng Sác là loại rừng ngập mặn chỉ thích hợp cho những loại cây có khả năng giữ và bồi đắp đất và cũng là loại đất sình bùn mềm và nhão. Trong rừng có nhiều loại cây khác như cây Da, Sú, Bần, hay Dừa Nước mọc xen kẽ nhau, nhất là cây Đước, rễ của nó mọc đan xen vào nhau dầy hơn mạng nhện, có như vậy nó mới giữ được đất bồi không bị sói mòn trôi theo ra biển.

Trước khi chặt nguyên cây Đước cao cả chục mét, chúng tôi phải chặt hết những cái rễ tua tủa xung quanh nó, sau đó hạ nguyên cây xuống, rồi chặt thành từng khúc 8 tấc (80 cm). Dùng giây leo tết thành sợi thừng, chúng tôi quàng quanh bó củi lớn gấp 4 lần kích cỡ một người, đưa nó lên vai, chân không giày nhưng phải lựa đường bước qua những rễ cây chằng chịt khắp nơi, thỉnh thoảng lại bước hụt chân vào chỗ bùn lỏng, bị sình lầy ngập tới háng, phải lăn bó củi xuống, lóp ngóp bò ra khỏi chỗ đất sụt, lấy hết sức kéo bó củi lên chỗ đất cứng hơn, vác lại lên vai rồi đi tiếp ra bờ con rạch chỗ ghe đậu.
Nhiều người đi chặt củi như mình nên càng ngày chúng tôi phải đi bộ xa hơn vào bên trong mới mong có củi để mà chặt. Cuộc sống ngày một khó khăn hơn. Bây giờ nghĩ lại mới thấy mình vô tình góp tay tàn phá cả một vùng rộng lớn môi trường sinh thái ngập mặn với đủ các loài thủy sinh khác nhau đang sống ở đó; đặc biệt cây Đước là loại cây gỗ cứng, than của nó cháy đượm lâu, nó cũng giúp giữ cho đất khỏi bị lở và cũng là nơi các loại tôm, cua, ốc bám vào thân cây sinh sống, một loại cây có nhiều lợi ích mà lúc đó chỉ lo cái bao tử của mình, đâu có hay. Thời đói khổ, con người phải làm bất cứ cái gì để sống còn mà không hề nghĩ đến hậu quả sẽ ra sao.
Ban ngày, chúng tôi chăm chỉ và cần cù làm việc như những con rái cá, ban đêm, những làn gió nhẹ từ mặt sông thổi mơn man làm tươi mát cái thân xác mệt nhoài; chúng tôi chèo thuyền trên những sông rạch chằng chéo đan vào nhau như một màng nhện. Những đêm chở củi về Sài Gòn, cánh buồm no gió ngoài biển thổi vào đưa con nước lên, chúng tôi gác cả hai mái chèo, tay tôi cầm cần lái điều khiển con thuyền khẳm mấp mé nước. Thằng Liệu nhóm bếp nấu nước trà, thằng Xiểng lấy thuốc ra vấn hút, nó mồi lửa và đưa cho tôi điếu thuốc rê cháy đỏ; ánh lửa điếu thuốc lập lòe soi sáng ba khuôn mặt khắc khổ của chúng tôi. Con thuyền cứ thế trôi đi trong thinh lặng của đêm hòa lẫn với âm thanh róc rách của nước vỗ nhẹ hai bên mạn thuyền, cùng với màu ánh trăng bàng bạc trải dài trên sông nước mênh mông. Tinh thể muối tạo thành một vệt dài những đốm sáng lấp lánh như lân tinh vụn vỡ, rẽ ra hai bên, trôi nhanh về phía sau, rồi tan trong bọt nước xuôi theo đằng lái ghe. Những giây phút ấy, tôi sững sờ, lặng im chiêm ngưỡng bức tranh tuyệt tác của thiên nhiên sông nước, tạm quên đi những nhọc nhằn của kiếp lầm than.
Lần đó, sau khi bán xong 12 thước củi Đước ở bến Thị Nghè, chúng tôi đi vào chợ mua thêm thực phẩm cho chuyến đi sắp tới. Xong mọi việc, theo thói quen, ba thằng chúng tôi gởi ghe cho vựa củi và đi ăn phở, tự thưởng công cho mình. Khi trở lại thuyền, chúng tôi cất đồ đạc đâu vào đó xong thì trời sắp về chiều, ánh nắng còn hơi gay gắt, soi bóng nghiêng nghiêng. Thằng Xiểng nôn nóng muốn về nhà, nhưng con nước vẫn đang lớn, có nghĩa là chúng tôi phải chèo ngược nước rất vất vả. Thằng Liệu và tôi đề nghị lên bờ chơi, đợi vài giờ nữa nước ròng, mình sẽ nương theo con nước, thả trôi về nhà. Thằng Xiểng nhất định không nghe nên chúng tôi phải rời bến và chèo ngược dòng để về nhà.
Vừa ra đến cửa sông lớn, chúng tôi bất ngờ nhìn thấy chiếc ghe máy đuôi tôm của anh em thằng Khanh, Thắng, và Ốc-Phù đang lên ga xịt khói đen chạy đằng sau. Tụi nó vượt lên và cặp song song hai chiếc ghe vào với nhau rồi đề nghị chúng tôi buộc giây vào ghe nó để kéo chúng tôi về luôn cho tiện, chúng tôi chỉ cần góp ít tiền xăng. Thế là chúng tôi đồng ý gác mái chèo, qua ghe tụi nó, xúm lại hút thuốc lào, uống trà, cà phê, và nhai kẹo đậu phộng, trong khi thằng Thắng lo nắm lái chiếc đuôi tôm. Bạn bè gặp nhau tha hồ tán dóc, kể nhau nghe chuyến đi chặt củi của mình, chỗ nào còn củi nhiều, chỗ nào có chốt tụi kiểm lâm chặn lại ăn cướp cạn, chỉ tội nghiệp cho Ốc Phù chẳng góp được chuyện gì vì anh bị câm điếc từ nhỏ, khi muốn nói chỉ biết chu miệng lại thổi hơi nghe phù phù, nên cả nhà đặt tên anh là Ốc Phù.
Mặt trời vẫn còn ửng đỏ với ráng chiều xa xa phía chân trời, tiết trời đầu tháng Giêng cũng bắt đầu se se lạnh nên chúng tôi ai về ghe nấy. Trở lại ghe mình, thằng Liệu lấy cái mền quấn quanh người, ra đằng sau ngồi ôm cần lái, tôi và thằng Xiểng đốt lò lên nấu cơm chiều; bên kia Ốc Phù thay phiên cầm lái và điều khiển máy đuôi tôm. Hai chiếc ghe phăng phăng rẽ sóng trên đường về nhà. Bỗng đâu một con cá Đối to gần bằng cổ tay từ dưới nước phóng lên rơi ngay vào lòng thằng Xiểng làm nó hết hồn. Nó nói cái này chắc là Manna (1) từ trời rơi xuống, sẵn bếp lửa và chảo dầu, nó cho con cá vào chiên chung với mấy con cá khô. Hai đứa chúng tôi cùng cười vang. Thằng Liệu bỗng lên tiếng:
- U tao hay nói “chim sa, cá liệng” là điềm gở đó, coi chừng.
Tôi phản đối:
- Gở đâu không thấy, chứ cá chiên tươi rói kiếm đâu ra.
Ba đứa chúng tôi xúm lại ăn bữa chiều rất ngon miệng với món cá Đối chiên dằm nước mắm.
Ăn xong, trời đã tối hẳn, con nước xoay chiều, bắt đầu ròng và rút ra phía biển nên Ốc phù giảm tay ga, cả hai chiếc ghe chúng tôi đều xuôi dòng thả trôi. Bên kia, Khanh thay Ốc Phù, cầm cần lái, để hai thằng kia ngủ, máy đuôi tôm vẫn nổ nhỏ và đều để bẻ bánh lái; bên đây Xiểng thay Liệu cầm lái. Tôi trải cái chiếu xuống giữa ván sàn ghe để hai thằng nằm ngủ. Thỉnh thoảng tôi lại ngồi dậy hút thuốc rê và coi ghe đang về tới đâu. Khanh cho hay bây giờ gần nửa đêm rồi và ghe đã về gần tới Rạch Mả, có nghĩa là chỉ vài giờ nữa là chúng tôi về đến nhà. Tôi nhìn lên trời sao lấp lánh và nhìn quanh, nhận thấy nước đã xuống thấp hơn nửa sông rồi, ghe đang trôi rất nhanh, và trời lạnh lắm. Tôi nằm xuống, tay với cái mền lên che mặt, và ngủ tiếp.
Rạch Mả là một nhánh sông nhỏ ngoằn ngoèo và nguy hiểm vì chỗ này nước xoáy mạnh, phải rất chú ý ở những khúc quanh và bắt buộc giảm tốc độ vì cây cối um tùm che khuất tầm nhìn; nhánh sông này là lối đi tắt về nhà gần nhất nên dân đi ghe rành rẽ thường chọn con rạch này. Cái tên Rạch Mả là do dân địa phương đặt tên vì nơi đây ngày trước là rừng rậm, nơi Việt cộng chôn cất lính của họ. Hiện còn rất nhiều ngôi mộ vô chủ, chẳng thấy thân nhân nào đến nhận xương cốt đem về. Người dân làm ruộng ở đây, né các ngôi mộ đó ra, cứ cấy lúa sát bên; thỉnh thoảng những ngày rằm, họ thương tình cắm cho mấy cây nhang để sưởi ấm linh hồn người vô danh.
Đang say ngủ, bỗng tất cả chúng tôi bị đánh thức vì nhiều tiếng la hét hoảng hốt vang lên, tôi chưa kịp định thần thì âm thanh của một sự va chạm dữ dội và thân ghe rung lắc mạnh, khiến tôi phải chụp lấy thành ghe để giữ thăng bằng. Tôi thoáng nhận ra một đoàn ghe khoảng gần một chục chiếc cặp lại với nhau thành hàng 2 đi ngược chiều với ghe chúng tôi, cả hai bên đều vừa quẹo quanh một khúc cua thật gắt nên không kịp tránh nhau. Cú chạm mạnh làm hai bên bị đẩy giạt ra xa nhau trong một thoáng chốc.
Khi chúng tôi định thần lại được thì 2 đoàn ghe đã cách nhau một khoảng khá xa, không thấy ghe nào bị chìm hay hư hại gì nặng nên đường ai nấy đi. Chúng tôi đang bàn tán xôn xao về chuyện vừa xảy ra, chợt nghe tiếng Ốc Phù ú ớ, vẻ hoảng sợ và chỉ tay về phía lái ghe của tôi. Tất cả đều đưa mắt về phía tay Ốc Phù chỉ và không thấy thằng Xiểng đâu hết, chỉ còn cái mền nửa trên ghe, nửa phết xuống mặt nước. Tôi la lớn át tiếng máy đuôi tôm:
- Xiểng ơi, mày đang ở đâu?
Tất cả đều im lặng để chờ nghe tiếng trả lời, nhưng chung quanh vẫn im lặng. Tôi và thằng Liệu thay nhau hét thật to kêu tên thằng Xiểng nhiều lần, chỉ có tiếng máy đuôi tôm vẫn nổ dòn kêu lạch tạch. Tôi bỗng ớn lạnh, nổi da gà, kêu thằng Khanh tắp ghe vô bờ, tắt máy, và cắm sào tại chỗ. Trong màn đêm im lặng tịch mịch, trời còn tối đen, không còn âm thanh nào khác ngoài tiếng hơi thở và nhịp tim gấp gáp của chúng tôi. Sau vài phút bàn bạc, chúng tôi đều đồng ý là thằng Xiểng bị té xuống sông do cú va chạm mạnh, nhưng chúng tôi hy vọng nó chỉ bị dòng nước cuốn đi xa theo nước ròng vì nó bơi rất giỏi, và có thể giờ này nó đã bơi được lên bờ ở chỗ nào xa nên không nghe tiếng chúng tôi kêu.
Tôi tháo dây cặp thuyền và nói anh em thằng Khanh đứng tại chỗ quan sát, chúng tôi chèo ghe theo con nước ròng đi kiếm thằng Xiểng. Thời đó làm gì có đèn pin nên chúng tôi phải căng mắt quan sát từng chút trên mặt sông, săm soi từng bụi dừa nước, bụi Ô Rô, và các bụi cỏ Lác. Vừa kiếm vừa la to mong thằng Xiểng nghe tiếng và đáp lại. Tìm một lúc lâu, vẫn không thấy có động tĩnh gì, chúng tôi thất vọng, hoảng hốt và bắt đầu tin rằng Xiểng đã chết chìm.
Tôi nhờ Liệu đốt cho một bếp lửa trong khi cởi áo ra và mặc mỗi cái quần đùi, tôi nhảy xuống sông và lặn thật sâu để kiếm xác nó. Nước lạnh làm tôi rùng mình. Mở mắt ra dưới nước, tôi chẳng thấy được gì, hai tay cứ quơ tứ phía, hy vọng có thể đụng vào xác nó đang trôi đâu đó trong bóng tối mờ ảo đó. Tôi cứ ngụp lặn và trồi lên liên tục cả giờ đồng hồ, người mệt lả đi vì lạnh nhưng vẫn không thấy xác của thằng Xiểng. Tôi lên ghe ngồi sưởi ấm. Thằng Liệu nhảy xuống thay tôi, cũng không có kết quả gì. Hai thằng bèn chèo ngược dòng lên găp anh em thằng Khanh, tụi nó cho hay cũng không có chút tăm hơi nào. Hai chiếc ghe lại chèo vòng quanh nơi xảy ra tai nạn, rồi lại chèo đi xa hơn vì nghĩ rằng xác nó có thể đã bị nước cuốn đi. Chúng tôi chèo nát khúc sông Rạch mả, hết ngang rồi dọc, hết lên rồi lại xuống, nhưng vẫn vô vọng.
Cuối cùng, chúng tôi nhờ Thắng đi bộ lên bờ, kiếm con đường gần nhất, đón xe về báo tin cho ba má thằng Xiểng hay trong khi chúng tôi ở đây vẫn tiếp tục tìm kiếm. Tất cả chúng tôi tách ra làm hai hướng, cởi trần nhảy xuống tiếp tục mò. Trời đã gần sáng, ai nấy đều lạnh run cầm cập nhưng vẫn cố gắng lặn xuống tận đáy sông chạm đến lớp bùn nhão, vừa quơ tay tìm kiếm mong đụng được xác của Xiểng.
Mặt trời sắp ló dạng thì gia đình Xiểng cùng với thằng Thắng vừa tới được bến sông, gia đình nó đi dọc theo bờ sông mắt dõi xuống từng bụi cỏ, bụi cây hay những góc khuất tìm kiếm. Gia đình Xiểng vốn là người công giáo ngoan đạo, họ quỳ gối ngay bờ sông, làm dấu thánh giá, đọc kinh, và khấn nguyện ông thánh Martin De Porres (2). Chúng tôi vẫn chèo, mắt dán trên dòng nước chảy xiết tìm kiếm. Khi mặt trời vừa rọi những tia nắng ấm đầu tiên, thằng Ốc Phù vừa la ú ớ vừa thổi phù phù, chỉ tay về phía bên kia bờ sông, tất cả chúng tôi nhìn theo và thấy một cái xác nổi vật vờ xen lẫn mấy thân dừa nước bập bềnh tắp vào bờ sông. Chúng tôi chèo thật nhanh về hướng đó, khi đến gần, tôi nhảy ùm xuống nước, bơi lại gần, và ẵm xác thằng Xiểng trên đôi cánh tay.
Chúng tôi đem xác nó đặt nằm giữa lòng ghe, gương mặt nó nhợt nhạt, mắt nhắm lại như đang ngủ rất bình yên. Tôi vén mớ tóc xỏa của nó qua một bên và phát giác ra một vết cắt bên thái dương trái. Tôi chỉ cho mọi người xem. Ai nấy đều ngỡ ngàng và hiểu ra, khi va chạm, cần lái bị dặc mạnh, xoay ngang gạt thằng Xiểng rớt xuống sông và cái quạt vịt (chong chóng) của máy đuôi tôm chém vào thái dương làm nó chết trước khi bị uống nước. Tôi lấy cái mền đắp lên xác nó, rồi cả hai ghe lại cặp vào nhau, theo con nước xuôi tiếp tục về bến nhà.
Về đến bến ghe, gia đình của Xiểng đã chờ sẵn ở đó, có cả má nó đứng trên bờ, dù gia đình đã cố ngăn không cho bà đi theo. Khi thấy xác con, bà cất tiếng khóc đau đớn thảm thiết của người mẹ mất đứa con ở tuổi hoa niên. Tôi ngồi kế bên xác nó, bỗng thấy máu tươi từ miệng và mũi nó ộc ra không ngớt. Tôi vội lấy cái khăn nhỏ lau mặt nó, máu thấm ướt hết cả cái khăn. Gia đình phụ tôi đem xác Xiểng lên chiếc xe Lam đã chờ sẵn ở bến để đem nó về nhà. Tôi vác đôi mái chèo trên vai, đi bộ về nhà, chân bước như người mộng du, lòng buồn tê tái vì vừa mất đi thằng bạn thân nhất của mình.
Hôm sau, công an địa phương mời tất cả chúng tôi lên trụ sở, tách riêng chúng tôi ra, và hỏi cung từng người để lấy lời khai coi câu chuyện có giống nhau không. Sau này, tôi được biết gia đình Xiểng ngờ rằng chúng tôi gây lộn, đánh nhau với đoàn ghe bên kia nên Xiểng bị người ta đánh té xuống sông chết. Tôi hoàn toàn không trách họ vì trong lúc đau thương tột cùng, họ giả dụ chuyện đó có thể xảy ra. Nhất là Ốc Phù, anh này bị chấn động mạnh tâm lý, bằng lối diễn tả riêng của người câm điếc, anh ta vung tay múa chân, cố diễn tả lại cái biến cố kinh hoàng đêm hôm đó, làm cho gia đình Xiểng càng hiểu lầm hơn.
Vài ngày sau, khi nỗi buồn lắng xuống phần nào, tôi vác mái chèo, vai đeo cái túi nhỏ đi xuống bến, đẩy ghe xa khỏi bờ và chèo ra sông lớn. Tôi cứ chèo mà không biết đi về đâu, chèo một mình, chèo cho đến lúc kiệt sức; tôi buộc ghe vào một cành Bần, thả hồn theo khói thuốc, cầm chai rượu, rót uống một mình, dốc cạn ly, dốc từng giọt buồn thê lương, nhớ thằng bạn thân. Tôi chợt để ý có mấy con ruồi vo ve đậu xuống ván thuyền giữa ghe, nơi bạn tôi nằm, mùi máu tanh vẫn còn phảng phất đâu đây. Tôi lấy gàu múc nước và rửa sạch các vết máu, rồi tát nước cho cạn khô. Tôi làm đi làm lại như vậy nhiều lần đến khi không còn mùi tanh của máu. Tôi lẳng lặng chèo về bến. Từ đó, tôi không bao giờ trở lại nghề sông nước.
Nguyễn Văn Tới (Lãng Tử)
Tháng 6/2022
CHÚ THÍCH
1. https://www.merriam-webster.com/dictionary/manna.
2. https://en.wikipedia.org/wiki/Martin_de_Porres.
- Details
- Category: Truyện Ngắn
- Hits: 402

Nó đến Mỹ cùng cha mẹ diện HO. Căn cứ theo tuổi trên giấy tờ, nó được xếp vào lớp tám. Ngày đầu đi học, má nó bới cho hộp cơm trưa, bà không biết nó mới qua thuộc diện con nhà nghèo, được ăn miễn phí. Cơm trắng và tôm bạc rim nước mắm là món ăn “quí tộc” mà hồi ở Việt Namnó không mấy khi có dịp được ăn. Những ngày đầu ở Mỹ, nó chỉ thích mỗi món cơm trắng với tôm kho, ăn đến no chứ không bao giờ biết chán. Buổi trưa nó cầm hộp cơm theo các bạn đến nhà ăn của trường. Kiếm một chỗ ngồi, nó mở hộp ra, kê mũi vào đó hít một hơi. Đang đói, mùi tôm kho nước mắm và mùi cơm trắng hấp dẫn làm nó chảy nước miếng.
Nó xúc một muổng cơm kèm với con tôm, sắp sửa đưa lên miệng thì nghe tiếng đứa ngồi kề bên nói lớn: – Ê, mùi gì mà “stink,” thúi quá vậy tụi bay?
Nó xoay qua thấy cái thằng đen thui cùng lớp một tay bịt mũi, tay kia quạt lia lịa. Một thằng, có lẽ là dân Á châu, chạy lại nhìn vào hộp cơm của nó, mũi khịt khịt:
– À, đồ ăn của thằng này, có mùi “fish sauce,” nước mắm, chứ chi mà ồn thế!
Thằng bên cạnh nó bèn la lên, mặt nhăn nhó:
– “Yuck!” Nước mắm! Gớm quá đi!
Nó ngẹn ngào, muổng cơm chưa kịp đưa vào miệng đã phải bỏ xuống. Nó lật đật đem hộp cơm đổ ập vào thùng rác rồi lầm lũi bước đi. Đàng sau tiếng thằng da màu la lớn:
– The “Fish Sause!” A ha! Thằng “Nước Mắm!” và bọn nhóc cười vang phụ họa.
Về nhà nó không dám nói lại, sợ má nó buồn. Nó thương má lắm. Những ngày ba nó đi tù, nhà nó bị đưa đi kinh tế mới. Bà Nội tuổi già sức yếu không chịu được nước độc rừng thiêng nên bịnh hoạn triền miên. Má nó vất vả làm rẫy để nuôi nó và bà Nội, vừa thăm nuôi ba. Nhưng rồi bà Nội mất mà không kịp nhìn mặt ba nó, người con độc nhất của bà. Một tay má nó lo việc tang ma cho bà Nội. Nhà không có tiền nên nó chưa bao giờ ăn được miếng cá miếng thịt cho ngon, ngoài mấy mớ cá “giã cào” kho quẹt với rau lang hoặc cải làng mọc dại. Lâu lâu khi bán bớt mớ bắp mớ khoai, má nó nhín tiền mua vài con tôm bạc về kho, đó là thực đơn “vương giả” nhất trong quảng đời ấu thơ của nó. Vậy mà hôm nay nó đành lòng vất vào thùng rác cái món ăn “cực phẩm” ấy.
Một tuần học đã trôi qua. Giờ ra chơi nó ngồi dưới gốc cây nhìn tụi trẻ nô đùa. Nó chưa có bạn, một phần vì tiếng Anh giới hạn – dù nó đã học được hơn hai năm tiếng Anh và thuộc rất nhiều từ vựng ba nó dạy – một phần vì mặc cảm bị chế nhạo bỡi cái món nước mắm kho tôm, nên giờ “break time” nó thường ngồi một mình. Chợt nghe tiếng “bình bịch” đàng sau, nó quay lại thấy một thằng bự con đang rê banh ào ào về phía sân bóng rổ. Quần jean kéo lê dưới đất, bụi bay mù mịt quanh chân, chiếc áo thun màu xám rộng thùng thình “treo” tòng teng không che được hai cái đầu gối “lọ nồi” nhô ra từ hai chỗ rách. Mái tóc hắn xoăn tít, lởm chởm dưới cái mũ Lynynd Skynyrd đội ngược. Nó nhận ra đó là thằng Jack cùng lớp, cái thằng đã chế nhạo nó hôm nào.
Theo lời thằng Bob và thằng Andrew, Jack chơi bóng rổ rất “cừ,” hắn ném cú nào là vào cú nấy. Jack ở trong đội bóng rổ của trường, thầy cô nói hắn rất có tương lai nên hắn lên mặt “ta đây” lắm. Bạn bè nể phục những cú ném bóng “thần sầu” của hắn, đặt cho cái nick name “Hooper Cooper” và hắn rất tự hào về cái biệt hiệu đó.
Nhồi banh đến cái mức trong sân, Jack dạng chân, hai tay nâng banh ngang trán. Mắt nhìn thẳng lên cái rổ, hắn cong cùi chỏ bên phải, nhún đầu gối xuống rồi bất thình lình phóng lên cùng lúc thả lỏng trái banh, tay phải đẩy mạnh một phát thẳng cánh. Trái banh lao chính xác lên trên miệng rổ, đứng sựng lại, rồi lọt tỏm vào cái vòng, rơi xuống đất.
– “Whoa!” Tuyệt thật! Hooper Cooper! Bob và Andrew chạy lại vỗ tay la ầm ĩ.
Thằng Jack nở mũi ném mấy trái liên tục, trái nào cũng vào rổ đẹp hết biết. Bọn trẻ hò hét, kéo lại thật đông. Nó ngồi xem mà thấy khâm phục thằng Jack vô cùng. Nó cũng mê chơi banh lắm nên định khi nào thằng Jack bớt ác cảm với nó, nó sẽ xin hắn tập chơi.
Tiếng Anh nó chưa giỏi, nhưng toán thì “khỏi chê!” Nó giải được hết những bài tập thầy cho. Có nhiều bài nó giải xong, thầy nói nó giải ngắn hơn cách của ông vài bước. Một hôm, ông thầy bỗng nhiên giao cho nó một nhiệm vụ. Khổ nỗi, cái nhiệm vụ đó lại làm cho thằng Jack nổi khùng. Thế là chẳng những cái mộng học chơi bóng rổ của nó tiêu tùng, nó còn bị thằng Jack lôi vào “vòng ân oán.”
Hôm đó đến giờ toán. Ông thầy gọi nó:
– Hiệp! Tất cả bài tập em đã làm xong. Bây giờ em hãy đi vòng vòng giúp cho các bạn, nhất là Jack, hãy đến giúp bạn ấy!
Cực chẳng đã, nó bước lại chỗ Jack và nói, giọng tiếng Anh nặng trịch âm Việt:
– “Yu nít hép?” Bạn cần giúp không?
– “Nah!” Hắn gầm gừ và ném cho nó một cái nhìn giận dữ.
Nó quay lại bàn giúp cho Bob, Andrew, và các bạn chung quanh. Với toán không cần nói nhiều tiếng Anh nên nó giúp không mấy khó. Cuối cùng tụi bạn nhìn nó rạng rỡ biết ơn. Kể từ hôm đó, nó trở thành “tutor” của lớp toán.
Nhưng không phải với Jack. Hắn chả cần sự giúp đỡ của nó. Hắn ngồi gạch gạch, xóa xóa đến hết giờ cũng chỉ xong được có mấy bài. Khi Bob và Andrew chạy lại rủ đi ra ngoài, hắn điên tiết quẳng cây bút xuống:
– “Damn it!” Đồ khốn kiếp! Phân số với lại phương trình! Chả như bóng rổ, ném một phát là xong ngay!
Thằng Bob cười hì hì:
– Kêu thằng Hiệp nó giúp cho, mày sẽ làm nhanh lắm! Nó đã giúp tụi tao hiểu được nhiều phép giải rất “thần kỳ.”
– Mày câm đi! Tao, một “Hooper Cooper,” mà để cái thằng khù khờ nói tiếng Anh ngọng nghịu đó làm thầy hả? “No way!”
Ra ngoài, gặp nó ở một khúc quanh, Jack thộp cổ áo nó và dứ dứ cái nắm đấm:
– Ê! “Nước Mắm!” Bày đặc làm giỏi hả? Đừng bao giờ làm cho tao cảm thấy ngu ngốc trước mặt mọi người nghe! Liệu hồn đấy!
– Tôi…tôi…Nó xanh mặt, nhìn quanh cầu cứu. May mà thằng Jack bỏ đi.
Ba nó ngày xưa từng làm việc với cố vấn Mỹ nên tiếng Anh cũng tạm “đủ xài.” Ông xin làm ở một trạm xăng, má nó đi phụ bếp nhà hàng. Nhưng bán xăng được một thời gian thì bị cướp nên ông sợ quá xin nghỉ việc và đi bỏ báo. Tuy phải chạy đôn chạy đáo với việc làm nhưng ba má nó lúc nào cũng dành thời gian dạy dỗ nó. Tối nào ba nó cũng xem bài vở, nhắc nhở nó làm bài tập và rèn luyện tiếng Anh. Nó kể ba má nghe những chuyện ở trường, như là thư viện có nhiều sách đọc đã luôn và ông thầy kêu nó kèm toán cho các bạn. Nhưng nó không dám kể chuyện bị thằng Jack bắt nạt và cái tên “Nước Mắm.”
Lên lớp chín, lớp nó có hai thằng “nhất” được thầy cô và bạn bè nể mặt. Nó học giỏi nhất, thằng Jack ném bóng rổ giỏi nhất. “Một rừng không thể có hai cọp,” thằng Jack nổi điên mỗi khi nó được thầy cô khen. Hắn bẹo má nó:
– Hey, “Con tôm!” Cái đầu mày bé tẹo thế này, chỗ đâu mày chứa nhiều con số thế?”
Nó đã chịu đựng thằng Jack một năm rồi. Nhưng nó học càng giỏi thì hắn ngày càng làm tới, khi véo mũi, lúc kéo tai, hoặc ca bài “Nước Mắm” để chọc cười cho bọn nhãi. Dần dà nó cảm thấy sợ hãi mỗi khi đến lớp. Đi đâu, làm gì nó cũng nơm nớp ngó trước nhìn sau để xem thằng Jack ở đâu mà tránh. Nó luôn bị ám ảnh bỡi cái mặt đen sì và cái nắm đấm của hắn. Trong cơn mệt mỏi, tuyệt vọng, nó muốn nghỉ học để đi phụ bỏ báo với ba.
Nhưng rồi có một việc xảy ra với nó. Hôm đó nó ôm trái banh cũ ra chơi một mình. Đang rê banh chạy loanh quanh, thình lình một thằng choai choai mặc đồng phục ở đâu chạy tới tung vào nó. Hai thằng ngã lăn ra đất. Ông Jim hàng xóm lật đật chạy ra:
– Trời ơi! Sao lại thế này? Mấy đứa có bị gì không?
Nó cười, nói không sao và giúp phủi bụi cho thằng nhóc Logan, con ông ấy. Ông thấy nó hiền nên bắt chuyện:
– Chú thấy cháu thường chơi một mình, cháu có muốn đi xem các bạn Hướng Đạo sinh họp đội không? Nếu cháu thích, chú sẽ đến nhà xin ba má đưa cháu đi chơi.
Nhìn thằng Logan mặc đồng phục rất oai, nó mừng quá liền nói cám ơn lia lịa.
Gần tối, ông Jim qua nhà nói chuyện với ba nó. Ông là một “Troop Leader,” trưởng đội Hướng Đạo thành phố. Hai người nói chuyện thật tâm đắc. Họ bàn luận về tiêu chí của Hướng Đạo, là phụ giúp gia đình và học đường rèn luyện cho thanh thiếu niên được mạnh mẽ, cường tráng từ tinh thần đến thể chất, có trách nhiệm, biết trọng danh dự, và biết thích nghi với mọi hoàn cảnh để thành công dân hữu ích cho đời. Đặc biệt, giúp đào tạo bọn trẻ trở thành những lãnh đạo giỏi trong tương lai.
Tối đó ông Jim giới thiệu nó với đội Hướng Đạo và nó được chào đón rất niềm nỡ. Nó khoái quá, bèn xin ba má ghi danh vào đội ông Jim và trở thành một Hướng Đạo sinh ngay tuần sau đó. Ba nó được mời dự lễ tuyên thệ gia nhập đoàn. Ông vui mừng nhìn nó rạng rỡ trong bộ đồng phục, nâng tay chào và đọc theo lời tuyên thệ “Hoàn thành thật tốt nhiệm vụ đối với Thượng Đế và Quốc gia, chấp hành mọi luật lệ của Hướng Đạo, luôn giúp người, giữ gìn thân thể khỏe mạnh, tâm trí trong sáng, đạo đức, ngay thẳng.”
Từ ngày tham gia Hướng Đạo, nó cảm thấy tự tin, mạnh mẽ, tinh thần rất ổn định. Công tác đầu tiên của nó là theo đội đi volunteer tại một trung tâm homeless. Nhìn cuộc sống của những kẻ không nhà, nó chợt nhận ra là phải nhất quyết học để thành người hữu dụng. Và chẳng biết tự bao giờ, nó không còn cảm thấy run sợ trước thằng Jack nữa.
Nó tốt nghiệp cấp hai, hồi đó là lớp chín, hai năm sau khi đến Mỹ, và được đề cử đọc bài diễn văn. Má nó đã vui đến rơi lệ khi nhìn nó đọc rất hùng hồn và nhiều lần bị ngắt quãng bởi những tràng vỗ tay nồng nhiệt.
Lên lớp Mười, nó tưởng sẽ tránh khỏi cái “nợ đời” Jack. Ngờ đâu “ma dẫn lối quỷ đưa đường,” hắn lại một lần nữa ngồi cùng lớp với nó và thằng Bob. Nhưng hình như từ khi biết nó là một Hướng Đạo sinh, và nó cũng đã cao lớn, thằng Jack bớt “động thủ tay chân,” chỉ thỉnh thoảng phá nó bằng cách gào lên “Thằng Nước Mắm.”
Hè đến, ngoài việc lấy lớp “advance” ở trường college, nó theo đội đi leo núi, cắm trại, tập bơi, gây quỹ giúp người nghèo, hổ trợ US Army, và luyện kỹ năng sống trong hoang dã. Hoạt động nhiều, nó “ăn như hổ, ngủ như heo”và nó lớn nhanh như thổi. Ngày xưa, mỗi lần nó đem “report card” về khoe thì ba cõng nó chạy một vòng. Bây giờ, mỗi lần nó đem “report straight A” về, nó ẵm ba nó xoay một vòng, vì nó không nỡ để cái lưng còng của ba phải khòm thêm vì nó! Nó đã cao hơn ba rồi còn gì!
Thằng Jack vẫn gầm gừ với nó như “trâu trắng với trâu đen.” Nhưng lên cấp ba bận rộn và thi đấu thường xuyên, hắn ít có thời gian để quậy nó. Ngày kia, thằng Jack ném trật trái banh ra lề cỏ. Hắn bị quê với đám bạn nên vội phóng theo. Bất ngờ ống quần Jean của hắn móc vào cái trụ nước tưới làm hắn té nhào. Hắn đứng dậy nhưng lại ngã tiếp.
– Oh God…Trời ơi, tao bị gãy chân rồi! Hắn lăn lộn dưới đất la oai oái.
Mấy đứa con gái lật đật gọi 911.
Nó bước lại xem. Bàn chân phải của thằng Jack sưng vù nơi mắt cá, nó biết là hắn đã bị trẹo gân. Hồi còn ở Việt Nam, bác của nó làm nghề sửa trặc có chỉ nó cách “nắn gân” và nó thường dùng mỗi khi bạn nó đá banh bị trặc. Thấy thằng Jack rên la đau đớn, nó tội nghiệp và cái tâm Hướng Đạo “luôn giúp người” trổi dậy, nó ngồi xuống:
– Để tao xem thử.
Thằng Jack đang nhắm tít mắt kêu gào nên không biết là ai đã nói.
Nó cầm lấy bàn chân của hắn, xoa xoa nắn nắn, rồi bất thình lình giật mạnh.
– Úi da…Chết tao rồi! Thằng Jack rống lên. Mở mắt ra nhìn thấy nó, hắn thét lớn: – “Son of a bitch!” Thằng khốn kiếp! Mày muốn giết tao hả? Rồi hắn dùng bàn chân kia đạp vào mặt nó. Nó bật ngửa, choáng váng mặt mày, máu mũi tuông ra.
Khi xe cứu thương đến, thằng Jack đứng dậy đi tỉnh bơ. Nó thì bị đưa vào nhà thương may hai đường bên dưới mũi. Thằng Jack nói nó bẻ chân hắn để trả thù. Người lớn cũng có vẻ tin thế khi bọn trẻ khai “hai đứa không thích nhau từ lâu.” Vậy là từ ân nhân nó trở thành phạm nhân! Nó ức lắm, nhưng không thèm giải thích. Nhà trường vì nể tình hai đứa trò “đặc biệt” nên chỉ ra hình phạt “cấm đứa nọ lại gần đứa kia.” Sau này nó kể Bob nghe về cái nghề “sửa trặc” và bị hắn chửi, sao hồi đó không chịu nói ra. Bob có nói lại với thằng Jack, nhưng vì lúc ấy sắp tốt nghiệp nên mọi việc rồi cũng trôi qua.
Sau việc này, ba má nó la cho một trận. Sống ở Mỹ khi gặp chuyện, muốn giúp người thì gọi 911, không được đụng đến nạn nhân mà “ách giữa đàng mang vào cổ.” Nhưng việc ấy lại hóa hay cho nó! Không còn phải lo thằng Jack, nó lo “gặt” thành tích học tập ở trường và “hái” huy chương (merit badges) ở Troop Hướng Đạo, quyết chí lấy cho được cái đẳng cấp cao quí “Hướng Đạo Đại Bàng.” Nó luôn học “straight A” và lập rất nhiều thành tích khác. Tên nó được list trong Who’s Who book hàng năm.
Khi nộp đơn lên đại học, thành tích tốt của nó gồm một cái list thật dài. Đầu tháng Năm năm cuối lớp 12, nó được giấy báo cả bốn trường đại học nó nộp đơn đều nhận. Nó nhảy cẩn lên vì cái giấy báo của đại học Stanford. Nó cũng hoàn tất đủ 21 “badges,” chuyên hiệu yêu cầu cho cấp “Hướng Đạo Đại Bàng” trước khi nó18 tuổi. Trong buổi lễ trọng thể gắn huy chương “Eagle Scout Award,” ba má nó được hai Hướng Đạo sinh danh dự “hộ tống” lên khán đài. Họ cũng được vinh danh, và nhận chứng chỉ “Eagle Scout” cho nó cùng lá thư tuyên dương từ ông “Chief Scout Executive”của Hướng Đạo Hoa Kỳ.
Nó xếp hạng thủ khoa toàn khối 12 và được phát thưởng đặc biệt cùng với chín bạn khác, một ngày trước lễ tốt nghiệp High School. Nhà trường tuyên dương nó về thành tích học tập, tham gia nhiều hoạt động, volunteer, và đặc biệt, họ rất hãnh diện vì nó được nhận vào đại học danh tiếng Stanford. Má nó lại khóc khi nó đọc bài diễn văn tốt nghiệp.
Ngày nó tốt nghiệp Cử nhân cũng là ngày nó nhận việc tại một hảng computer. Ban ngày đi làm, ban đêm học tiếp, và nó tốt nghiệp Master cùng lúc vị hôn thê của nó vừa xong Dược sĩ. Vậy là “Tam hỉ lâm môn,” đại-tiểu-đăng-khoa nhập chung một cuộc. Nó đám cưới với cô Dược sĩ “khác họ cùng làng” rồi mua một ngôi nhà thật khang trang, có hồ bơi và vườn cây ăn trái, ở gần San Jose. Nó bàn với vợ, trở lại vừa học vừa làm để lấy bằng Tiến sĩ trong khi chờ đợi “thằng cu Tý” chào đời.
Tình cờ nó gặp lại Bob tại cuộc diễn hành “Holiday Parade” ở down town San Jose. Là fan hâm mộ, vợ nó muốn đi xem cho tận mặt ngôi sao ca nhạc kiêm nhạc sĩ tuổi “teen” Celeste Kellogg. Mãi lo chen lấn, nó lạc cô vợ, và giật nẩy mình khi Bob chụp lấy nó. Hai đứa mừng rỡ trò chuyện râm rang, quên luôn “super star” Celeste Kellogg đang trình bày bài “Handcuffed To Your Heart” cô mới vừa sáng tác. Bob kể đã tốt nghiệp kỷ sư điện tử, đi làm, và hiện sống gần đó. Tâm sự một hồi, đột nhiên Bob hỏi:
– Mày còn nhớ thằng Jack “Hooper Cooper” không?
– Trong mũi tao vẫn còn cái sẹo, làm sao quên được!
– Ừ, hồi đó nó quá đáng thật! Nhưng bây giờ nó tội nghiệp lắm! Lò mò nó cũng xong được Computer soflware Engineer. Nó làm cho hảng X. từ đó đến giờ, có vợ có con, rồi mua nhà ở gần nhà tao. Nhưng hảng của nó vừa mới bị phá sản. Giờ thì vợ bịnh con đau, tiền nhà khất mãi, điệu này vài bữa nữa nhà băng sẽ kéo thôi! Nó đang lên cơn điên, chạy kiếm job tứ tung. Nó nói chắc có ngày nó phải đi “cướp nhà băng” quá!
Thằng “Hooper Cooper,” cái biệt danh“Nước Mắm,” những tháng ngày bị bắt nạt, và cú đạp như trời giáng từ cái bàn chân đen thùi của hắn. Nó quên sao được mà quên!
Cuối tuần nghỉ sớm, nó lái xe rời hảng. Dừng lại chỗ bảng Stop trước cổng, nó bỗng cảm thấy hơi buồn vì cây thông già không còn lấp lánh ánh đèn Christmas. Người ta đã gỡ hết sau Tết Tây, mấy tuần rồi mà nó vẫn còn thấy nhớ. Ai cũng nói cây thông này là biểu tượng của công ty. Đúng vậy. Cây cao chọc trời, đứng ngạo nghễ giữa nắng lửa mưa dầu và luôn vươn lên xanh tốt. Cũng như cái hảng này. Dù nền kinh tế toàn cầu chao đảo ngã nghiêng, hảng vẫn tồn tại vươn lên cùng các chi nhánh khắp thế giới. Đó là nhờ công sức của mọi người, ai nấy đều cống hiến hết mình cho sự sống còn của hảng. Và họ đã được đền bù xứng đáng. Tháng trước, ông boss đã nói “You deserve it” khi trao cho nó cái “Certificate” và tờ check “Bonus” mà nếu ai nhìn thấy cũng phải “phát ghen.” Nó được chọn là một trong mười manager giỏi nhất năm, từ tất cả các chi nhánh trên toàn thế giới.
Ra khỏi Xa lộ 101, nó quẹo vào đường Tully, San Jose. Chỉ vài ngày nữa là đến Tết Nguyên Đán của người Việt nên khu LionPlazarất nhộn nhịp, tấp nập kẻ ra người vào. Hàng Tết, hoa quả, bánh mức đủ sắc đủ màu chưng bày tràn ra tận cửa. Nó đến tiệm giò chả Đức Hương để mua bánh tét bánh chưng đem về cho cha mẹ hai bên ăn Tết. Má nó thường nói “bánh chưng bánh tét là những thứ không thể thiếu trên bàn thờ ngày xuân,” nên nó ghé mua trước kẻo cận ngày sẽ hết. Cầm giỏ bánh còn nóng hổi trên tay, nó chạnh lòng nhớ lại cái Tết ngày xưa ở vùng kinh tế mới. Cuối tháng Chạp năm đó nó theo bọn trẻ trong làng, lên rừng chặt một khúc củi to cho má nấu bánh chưng, vác về giữa đường gặp một con trăng to rằn ri trông rất khiếp, nó hốt hoảng quăng luôn khúc củi, chạy thục mạng về tay không.
Ngang qua khu hội chợ của cộng đồng Việt, “Tet Festival,” đèn màu rực rỡ cùng tiếng náo nhiệt vọng ra làm nó thấy lòng vui khôn tả. Nó sẽ đưa cả gia đình đi xem hội chợ. Ai cũng nói đến Bắc Cali vào dịp Tết mà không đi xem hội chợ thì thật “uổng một đời,” vì chợ Tết San Jose đổi mới hàng năm với những màn múa lân múa rồng độc đáo, nào thi Hoa Hậu, trình diễn Thời Trang, rồi thì Paris By Night, lúc lại Trung Tâm Asia ca nhạc.
Lên đến down town, vợ nó bỗng gọi nói thèm ăn Big Mac. “Bà bầu” có khác, thèm là phải được ăn ngay, nếu không sau này “thằng cu sẽ chảy nước dãi,” má nó nói vậy. Nó tấp vào McDonald, order một cái Big Mac rồi ngồi chờ. Chợt có tiếng sột soạt ở bàn bên, nó nhìn sang thấy một gã dáng vẻ thiểu não, miệng ngậm cái ống hút, hút xoèn xoẹt vào cái ly đã cạn, mắt chăm chú nhìn tờ báo trước mặt, tay liên tục khoanh tròn. Thấy gã có vẻ quen quen, nó nhìn kỹ, nhận ra đó là thằng Jack. Nó đứng dậy, liếc thấy những chỗ khoanh tròn: Cần người dọn dẹp, làm vườn, phụ bếp…
– Hey Jack! Khỏe không?
Gã giật mình, ngước lên:
– Xin lỗi…you là…
– Thằng… “Nước Mắm”!
Jack trố mắt nhìn nó chằm chằm. Nó không còn là thằng “Nước Mắm” cà tong, rạm nắng ngày nào. Nó cao lớn, trắng trẻo, mặc com lê, xách cặp, dáng oai vệ lãnh đạo.
Nhớ lại chuyện cũ, gã ấp úng:
– Tao…tao…thật xin lỗi…hồi đó…
– Chuyện xưa rồi, bỏ đi! Nó nói, rút tấm danh thiếp trong túi đưa cho gã: – Mày đang tìm việc phải không? Lên trang web này, lấy hồ sơ xin việc điền vào, rồi mang resume đến gặp tao, tao sẽ nộp giúp! Nói xong, nó lại lấy cái Big Mac và bước ra xe.
Jack sững sờ dõi mắt theo chiếc Lexus vừa rời khỏi parking, rồi quay lại nhìn đăm đăm vào hàng chữ trên tấm danh thiếp:
“Hiep Le– Senior Engineering Manager”
Nhìn một hồi, gã bất chợt cười toe, rồi đưa tấm danh thiếp lên môi hôn một phát, nước mắt lấp lánh trên đôi gò má đen bóng, gã hét lớn:
– “God bless you!” Thằng “Nước Mắm!”
Phương Hoa
- Details
- Category: Truyện Ngắn
- Hits: 301
Thiên Ân
Trong mấy chục năm qua, biến cố xảy ra vào đêm Giáng Sinh 1978 ở trại tù Suối Máu, thường được gọi là “cuộc nổi loạn đêm Giáng Sinh 1978”, đã được khá nhiều nhân chứng sống ghi lại, trong đó có những bài viết rất chi tiết được phổ biến trên các báo Việt ngữ cũng như trên Google.
Riêng tôi lúc đó mới bị đưa từ Phước Long về K2, Suối Máu được mấy tháng, không biết nhiều về tình hình và diễn tiến trên toàn trại, chỉ xin ghi lại những gì mắt thấy tai nghe để hoài niệm đêm Giáng Sinh khó quên nhất trong đời, và cũng để tưởng nhớ hai anh em Không Quân đã góp phần trong cuộc “nổi loạn” ấy nay đã ra đi vĩnh viễn: Thiếu tá phi công khu trục Lê Thanh Hồng Vân, cựu Phi đoàn phó Phi Đoàn 530 ở Pleiku, và Trung úy Phan Lạc Giang Đông, Văn Phòng Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị BTL/KQ.
* * *
Trại tù cải tạo Suối Máu nằm ở xã Tân Hiệp, cách trung tâm thành phố Biên Hòa khoảng 4 km, là nơi giam giữ trên dưới 5000 tù cải tạo (thời điểm 1978), chia ra làm năm khu, gọi là K. Khoảng tháng 8/1978, tôi và một số anh em “nặng tội” (an ninh tình báo, chiến tranh chính trị...) bị đưa từ Phước Long về Suối Máu, tôi được phân phối tới nhà 19, K2.

K2 trước kia là nơi giam giữ cấp tá (từ Thiếu tá tới Đại tá), trong đó có Trung tá Lê Bá Định, sếp cũ của tôi ở Pleiku (Trưởng Khối CTCT) sau làm Không đoàn trưởng KĐ72CT, nhưng sau đó hầu hết bị đưa ra Bắc, chỉ còn lại thành phần “nhẹ tội” trong đó có mấy ông Thiếu tá KQ ngành kỹ thuật cùng đơn vị với tôi, và Thiếu tá “giặc lái” Lê Thanh Hồng Vân, một trường hợp đặc biệt.
Cuối tháng 10/1978, vì nhu cầu chiến trường ở biên giới Tây Nam (đánh nhau với Khmer Đỏ) đơn vị bộ đội coi tù cải tạo ở Suối Máu bàn giao cho công an. Trong thời gian công an chưa nắm vững tình hình, chưa thiết lập được một hệ thống ăng-ten mới, cuộc sống trong cảnh cá chậu chim lồng của tù cải tạo ở Suối Máu trở nên khá thoải mái.
Một số anh em lén chui hàng rào kẽm gai sang các K khác để liên lạc, móc nối, thành lập các “Ban đại diện quân binh chủng”, đồng thời mỗi K còn thành lập một “Ban hành động” - danh xưng chính thức là “Ban Bảo Vệ Danh Dự Sĩ Quan QL/VNCH” - để giữ gìn trật tự trị an và đối phó với tình hình khi “hữu sự”.
Anh Lê Thanh Hồng Vân làm Trưởng Ban hành động K2.
Công việc đầu tiên của các Ban hành động là đánh cảnh cáo một số tù cải tạo làm ăng-ten dưới thời bộ đội.
Tiếp theo, Ban hành động ở K3, nơi có nhiều vị linh mục tuyên úy Công giáo bị đi tù cải tạo, đã kết hợp với một số anh em bạn tù theo Công giáo tiến hành việc tổ chức Thánh lễ vào đêm Giáng Sinh, và được hai linh mục nhận lời đứng ra cử hành thánh lễ.
Chiều 24/12/1978, vào lúc 6 giờ, hai cha bắt đầu cử hành Thánh lễ ngoài trời ở K3, anh em Công giáo ở các K khác (tiếp giáp với K3) ra sát hàng rào hướng về K3 tham dự thánh lễ. Cha cử hành lễ tới đâu, có anh em đứng bên hàng rào K3 thông báo để mọi người cùng hiệp thông.
Khi thánh lễ kết thúc thì màn đêm cũng buông xuống, anh em từng nhóm chơi thân với nhau, Công giáo cũng như không Công giáo, bắt đầu “tiệc Giáng Sinh”: nồi chè do mỗi người đóng góp một chút, bình cà-phê, bình trà, ít bánh kẹo để dành từ hôm thăm nuôi..., cùng nhau mừng ngày Chúa ra đời và hồi tưởng những mùa Giáng Sinh xưa.
Sau đó là chương trình văn nghệ Giáng Sinh... Tới giờ đi ngủ theo nội quy trại (10 giờ), chương trình văn nghệ chấm dứt.
Nhưng khoảng 10 giờ rưỡi, khi phần lớn anh em vẫn còn thức, trò truyện thì có tiếng hát từ K1 vọng sang: “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời...”
Tiếng hát càng lúc càng lớn, hình như của rất nhiều người, hát đi hát lại... Thắc mắc không hiểu chuyện gì đang diễn ra, tôi và một số anh em ra bên ngoài nghe ngóng.
Khoảng 10 phút sau, có tiếng xôn xao, tiếng chân người đi tới từng nhà kêu gọi mọi người ra sân bóng chuyền nghe Ban hành động thông báo tin tức khẩn cấp.
Khi đã có khoảng hơn 100 người tụ tập ngoài sân bóng chuyền cạnh nhà 19 của tôi, và một số khác đứng ở lối đi giữa các nhà, anh thiếu tá Phó trưởng ban hành động K2 (tôi không nhớ tên) tường thuật những gì đang diễn ra, theo đó cách đây gần một tiếng đồng hồ, trong lúc bên K1 đang diễn ra buổi lễ mừng Giáng Sinh thì một tay trung úy công an cùng toán tuần tiễu ập vào, đập phá tượng ảnh, hang đá, máng cỏ, đồng thời bắt ba anh đứng gần bàn thờ phụ trách buổi lễ đem ra ngoài trại.
(Vì K1 không chung hàng rào với K3, anh em không thể hiệp thông Thánh lễ Giáng Sinh, cho nên Ban hành động và anh em tù Công Giáo bên đó đã dựng một hang đá Giáng Sinh, đắp tượng Chúa Hài Đồng, trang trí hoa đèn để tổ chức mừng lễ)
Ngay sau đó, Ban hành động K1 đã kêu gọi toàn thể tù cải tạo K1 ra tập trung ở sân bóng chuyền trước cổng ra vào đối diện với khu nhà của Ban giám thị trại để phản đối, dùng loa giấy yêu cầu thả ba người bị bắt trở vào trại.
Đồng thời Ban hành động K1 cũng kêu gọi tất cả các K khác ủng hộ bằng cách cùng ra sân ngồi hát các ca khúc Giáng Sinh...
Lúc đó, anh Lê Thanh Hồng Vân, Trưởng Ban hành động K2, và một số đại diện Ban hành động các K khác đã đi sang K1 để tìm hiểu tình hình; sau khi thảo luận, các anh đã đi tới quyết định chung: cả năm K sẽ ra ngoài sân ngồi biểu tình bất bạo động bằng cách hát các ca khúc Giáng Sinh cho tới khi Ban giám thị thả ba người của K1 bị bắt.
* * *
Tại K2, sau khi anh thiếu tá Phó trưởng ban hành động tường thuật các diễn tiến bên K1 và yêu cầu toàn thể anh em tù cải tạo K2 tụ tập ngoài sân bóng chuyền ngồi biểu tình bất bạo động, đông đảo anh em đã hưởng ứng.
Một người bắt giọng bản thánh ca “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời...” và mọi người cùng hát theo. Tiếng đồng ca của mấy trăm người đã có sức lôi cuốn hầu hết anh em K2 còn ở trong nhà kéo nhau ra bên ngoài, ngồi chen chúc trên sân bóng chuyền, hoặc đứng, ngồi ở lối đi giữa các dãy nhà.
Điều đáng nói là cả năm K đều hát bản “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời...”, có lẽ vì đây là bản thánh ca Giáng Sinh quen thuộc và dễ hát nhất.
Tiếng hát của gần 5.000 con người từ trại tù Suối Máu vang ra tận các xứ đạo của vùng Hố Nai gần đó, vọng lên không trung như thể hòa cùng tiếng các thiên thần hát mừng ngày Chúa giáng trần, nhưng với rất nhiều anh em tù cải tạo, trong đó có tôi, lời hát “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời...” khi ấy đã trở thành những lời phản kháng!
Sau khi cả năm K đồng loạt ra ngoài sân ngồi hát thánh ca, toàn thể lực lượng công an ở Suối Máu được lệnh báo động. Từ doanh trại phía bên kia đường đối diện các K, đám bò vàng hò hét, kéo nhau ra nhảy xuống giao thông hào dọc theo bên đường, tất cả mọi họng súng chĩa vào trong trại.
Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, có tiếng cọc cạch từ hệ thống loa phóng thanh trong trại. Tiếp theo là tiếng viên Giám thị trại tên Bằng:
- Ban giám thị trại yêu cầu tất cả trại viên cải tạo trong các K giải tán trở vào nhà ngủ, sáng mai Ban giám thị sẽ cho ba trại viên bị bắt trở vào trại.
Toàn thể tù cải tạo nhao nhao đáp lại:
- Phải thả người vào trước!... Thả người vào trước... Thả người vào trước!
Giám thị Bằng lập lại lời kêu gọi vài lần rồi im bặt, chỉ còn tiếng hát “Đêm đông...” tiếp tục vang dội một góc trời!
Vào khoảng nửa đêm, do sự cầu cứu của đám công an, bộ đội ở Biên Hòa đưa xe tăng tới Suối Máu để tăng cường. Tiếng xích sắt của xe tăng nghiến trên mặt đường bên ngoài cổng như hăm dọa.
Mấy phút sau, bỗng có mấy tràng đại liên nổ dòn dã xé tan màn đêm, tiếng đạn rít nghe rợn người phía trên các nóc nhà giam!
Nghe tiếng súng, anh em xôn xao, một vài người bỏ vào nhà nhưng đa số, trong đó có tôi, vẫn tiếp tục ngồi lại.
Tôi nhắm mắt lại, bắt khối óc của mình làm việc. Không hiểu sắp tới đám công an có dám bắn thẳng vào hàng ngàn tù cải tạo đang ngồi ngoài sân hay không, bởi nếu việc đó xảy ra, chắc chắn sẽ thất lợi cho chế độ về mặt tuyên truyền, nhưng tôi vẫn phải giả sử việc đó xảy ra để tìm giải pháp tốt nhất cho bản thân mình!
Tôi cũng không thể đoán trước nếu việc đó xảy ra, Ban hành động sẽ phản ứng, điều động ra sao, nhưng nếu phải phá rào để vượt thoát chúng tôi chỉ có một hướng duy nhất là hướng bắc: băng qua quốc lộ 1 chạy vào giáo xứ Phúc Hải hoặc các giáo xứ gần đó của người Công giáo di cư. Bởi ba hướng còn lại đều trống trải, rất dễ bị truy lùng, chưa kể có thể bị bắn gục ngay trong lúc đang vượt rào.
* * *
Sau mấy tràng đại liên đe dọa, không khí trở nên ngột ngạt, căng thẳng, nhưng chưa đầy một phút sau, tiếng hát “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời...” lại tiếp tục vang lên.
Vừa hát, mọi người vừa hồi hộp chờ đợi phản ứng quyết liệt của công an và bộ đội trên xe tăng. Một cuộc tắm máu không chừng!... Nhưng đợi một hồi lâu vẫn không thấy động tịnh gì.
Sau này chúng tôi được biết tay Giám thị Bằng (tôi không biết cấp bậc) chỉ là người thay mặt viên Giám thị trưởng là Trung tá công an Đào Lưỡng mỗi khi viên trung tá này đi về nhà ở Sài Gòn, cho nên rất có thể ông ta (Giám thị Bằng) lo ngại nếu đàn áp mạnh bằng súng đạn, lỡ mấy ngàn tù cải tạo đồng loạt phá rào chạy ra ngoài, trà trộn vào giáo dân Hố Nai đang dự lễ ở các nhà thờ thì vô phương giải quyết, và ông ta sẽ phải lãnh toàn bộ trách nhiệm!
* * *
Khoảng 1, 2 giờ đêm (tôi không nhớ đích xác), khi mọi người vừa tiếp tục hát “Đêm đông...” vừa chờ đợi phản ứng kế tiếp của Ban giám thị trại thì một người trong Ban hành động của K2 từ K1 chạy về báo tin phe ta... đại thắng: ba anh em K1 bị bắt đã được thả vô điều kiện!
Tôi như không tin vào đôi tai của mình. Các anh em khác cũng thế, phải mất mấy chục giây đồng hồ, mọi người mới hết ngạc nhiên sững sờ, rồi đồng loạt vỗ tay reo hò trước chiến thắng bất ngờ của tập thể tù cải tạo Suối Máu.
Sau này tôi được biết diễn tiến chi tiết như sau:
Sau khi cho bắn mấy tràng đại liên hăm dọa mà tù cải tạo vẫn không nao núng, đích thân Giám thị Bằng đã xuống văn phòng giám thị K1 để tìm phương cách giải quyết. Trước hết viên giám thị lập lại những gì đã nói trên loa phóng thanh, nhưng một anh trong Ban hành động K1 trả lời vọng ra:
- Chúng tôi chỉ giải tán sau khi ba anh em bị bắt được thả vào trại!
Sau hai ba lần đôi co, Giám thị Bằng nhường trước một bước:
- Nếu tất cả trại viên K1 giải tán trở vào nhà ngủ, Ban giám thị sẽ cho ba trại viên trở vào trại ngay sau khi làm kiểm điểm, không cần đợi tới sáng mai!
Để anh em tù cải tạo thêm tin tưởng, Giám thị Bằng còn nói một khi các cải tạo viên bắt đầu đứng dậy giản tán thì ngoài này các xe tăng cũng quay đầu rời trại.
Ban hành động K1 liền yêu cầu tất cả anh em tù cải tạo tạm thời trở về nhà mình. Khoảng 10 phút sau, tiếng xe tăng xa dần; đợi thêm 20 phút có tiếng mở khóa cổng K1: cả ba anh em bị bắt được thả về!
* * *
Tập thể tù cải tạo ở Suối Máu nói chung đã “thắng đẹp” trong vụ nổi loạn đêm Giáng Sinh 1978, nhưng bù lại anh em trong các Ban hành động, Ban đại diện quân binh chủng cùng với các vị linh mục tuyên úy Công giáo đã phải trả một giá khá đắt.
Sau hơn hai tuần “làm việc khẩn trương” của một toán điều tra đặc biệt của Bộ Công An, với sự hợp tác tích cực của đám ăng-ten (mới được công an "tuyển mộ") hầu như toàn bộ anh em nói trên và các linh mục bị đưa về nhà giam Chí Hòa để khai thác, sau đó bị đưa đi các trại tù hắc ám ở Xuân Phước (A20), Xuyên Mộc, Gia Trung, Tống Lê Chân..., và nhiều người đã bỏ mình nơi những địa danh khét tiếng ấy!
* * *
Trong số những người may mắn trở về có anh Lê Thanh Hồng Vân và Phan Lạc Giang Đông, một thành viên Ban hành động K1.
Trung úy KQ (kiêm nhà thơ) Phan Lạc Giang Đông là một người bạn thân của tôi, cùng học một khóa Sĩ Quan Chiến Tranh Chính Trị ở Đà Lạt năm 1970, chức vụ sau cùng: Trưởng ban Giáo dục Chính trị, Phòng Kế hoạch & Chính huấn, VP/TMP CTCT, BTL/KQ.
Phan Lạc Giang Đông (trái) và người viết, Đà Lạt 1970
Ít lâu sau khi đi HO sang Hoa Kỳ, Đông qua đời vì bạo bệnh tại Seattle, tiểu bang Washington, ngày 9 tháng 11 năm 2001, vào tuổi 62. Anh Lê Thanh Hồng Vân cũng đã qua đời cách đây khoảng 10 năm sau một thời gian dài sống trong nursing home.

Biên Hòa 1966. Những tinh hoa của Phi Đoàn 514 “Phượng Hoàng”; hàng ngồi, từ trái:
Chế Văn Nghĩa (Chỉ huy trưởng), Lê Thanh Hồng Vân, Dan Hoài Bửu...; hàng đứng,
Phạm Đăng Cường bìa phải, Hoàng Thanh Nhã (Chỉ huy phó) giữa hình
- Details
- Category: Truyện Ngắn
- Hits: 344