Nhà Thơ Cung Trầm Tưởng

Collapse
X
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • chieutim
    Moderator
    • Sep 2009
    • 794

    #16



    Về Đây* - thơ Cung Trầm Tưởng - nhạc Phạm Duy - ca sĩ Thanh Lan






    * Phạm Duy đặt tựa Đường Xưa Lối Cũ

    Comment

    • TAM73F
      Super Moderator
      • Apr 2009
      • 2321

      #17
      Bắc Đẩu Võ Ý nhớ lại những kỷ niệm trong tù với Cung Trầm Tưởng

      Hai giờ chiều ngày thứ Bảy, 21 tháng Bảy, 2012 tại Viện Việt Học, thành phố Westminster miền Nam California, nhà thơ Cung Trầm Tưởng ra mắt tác phẩm “Cung Trầm Tưởng, một hành trình thơ (1948-2008)”. Khoảng trên 100 quan khách tham dự buổi sinh hoạt, và một trong ba diễn giả chính là Bắc Đẩu Võ Ý, cựu Trung tá Phi đoàn trưởng Phi đoàn Bắc Đẩu 118 thuộc Không Lực Việt Nam Cộng Hòa.

      Dưới đây là nguyên văn bài phát biểu của Bắc Đẩu Võ Ý.

      Kỷ Niệm Trong Tù Với Cung Trầm Tưởng

      Bắc Đẩu Võ Ý

      Nhân hội ngộ hôm nay, tôi xin phép được gợi lại vài kỷ niệm về tình đồng đội trong tù và thơ tù liên quan với nhà thơ CTT. Tính ra, chúng tôi có 6 năm cùng lao nhục trong các trại tù Suối Máu (1975), Liên Trại 6 Hoàng Liên Sơn (1976-1979) và trại Hà Tây (1979-1981). Năm 1981, trại Hà Tây giải tán, CTT chuyển về trại Hàm Tân, tôi về trại Xuân Lộc. Năm 1985, CTT ra tù. Ba năm sau, tôi ra tù.

      Cùng hoạn nạn là đã thương nhau rồi, huống hồ cùng màu cờ sắc áo. Chỉ mấy câu thơ tại trại Suối Máu đã đi vào tiềm thức của tôi từ 1976 cho đến bây giờ: “Nắng nhói như kim thêu thương tích/ Thuyền mây từng mảng vỡ lênh đênh/ Trên trăm ngàn mảnh trời kia vỡ/ Có một đời ta trôi bấp bênh”. Tết 1976, khi nghe chuông nhà thờ Tam Hiệp gióng lên lúc giao thừa, CTT nhỏ lệ vì thân phận tù đày và ông viết Lệ Chuông để tặng tôi: “…Trời nuôi dông bão chim không biết/ Ngơ ngác bay vào lưới bủa vây/ …/ Nay muốn bay lên không có trời/ Trong lồng gẫy cánh nằm im hơi/ Chim vốn là tim, trời là máu/ Không máu tim nào chẳng héo rơi…/”. Lệ chuông ngân nga tình đồng đội trong tù, từ đó.



      Nhà thơ Cung Trầm Tưởng trò chuyện với khách tham dự buổi sinh hoạt (Hình: Ngọc lan/Người Việt)

      Sau tết 1976, chúng đóng hộp tù Suối Máu chuyển ra các trại giam Hoàng Liên Sơn, CTT “biên chế” vào đội nông nghiệp còn tôi thuộc đội cưa xẻ. Đội cưa xẻ được phép “cải thiện” sắn. Hàng ngày tôi dành vài củ sắn luộc hoặc vài bánh sắn cho KQ CTT và KQ Nguyễn Minh Công. KQ Công được phân công chuyển phần trưa cho bạn tù lao động cách xa trại từ 3 đến 10 cây số. Công thường ghé toán cưa xẻ để nhận thêm chút tình tù ngoài tiêu chuẩn. Một bận, trên đường chuyển hom sắn lên đồi, gặp con suối xiết, mọi người cố vượt qua, ngoại trừ CTT vẫn lóng cóng bên bờ. KQ Công cõng CTT qua con suối và bài thơ Chim Công ra đời: “Cám ơn chim công/ Cõng ta qua sông/ Mấy mùa nước lũ/ Lận đận mưa ròng/ Công bay lên trời/ Vẫn nhìn nhớ đất/ Công chuyền cành quất/ Vẫn không quên trời”. (1978). Trung Tá Nguyễn Minh Công, nguyên Giám Đốc Trường Mưu Sinh Thoát Hiểm/TTHLKQ/Nha Trang, ra tù 1988, mất 1989. Trong ngày di quan, bà Công xin nguyên bài thơ Chim Công chép tay để trên bàn thờ người bạn đời yêu dấu của mình: “Lên trời tìm Đạo/ Xuống đất tìm Nhân/ Tìm thấy chân thân/ Trong trời đất thuân”

      Năm 1979, tù Hoàng Liên Sơn được chuyển về Trại Hà Tây vì Tàu cộng hăm đánh. CTT “biên chế” vào đội mộc, tôi đội rau xanh cách nhau một ao nuôi cá. Lợi dụng xuống ao rửa “phân xanh”, tôi lẻn qua trại mộc để nhặt từng vỏ bào của CTT: “bằng vài giạng đứng thế chân, bào cho lên nước đường vân của lòng”…Tôi như con nghiện, tìm cách lội qua ao tù vào xưởng mộc mỗi ngày để được chích vào tĩnh mach những đường vân ma túy có tên gọi Kỳ Cùng: ”Có sông nhưng mà người không nước/ Nước bán xon rồi, bán lấy chi?/ Một núi hư vô lầm chủ thuyết/ Bốn bên mây phủ kín màu chì/ Nó cõng vua Lê và chúa Mác/ Về quê cha giết mẹ hiền lành/ Tang sô bạc xóa đầu con trẻ/ Cỏ ngút sân trường, chợ vắng tanh” .

      Ngoài cai tù, người tù còn đối mặt với kẻ thù kiết lị, phù thũng, ghẻ chóc và lao phổi. Tôi may mắn xử dụng một số thuốc tây của CTT (do Hội Văn Bút Thụy Điển gởi tặng), để trị bệnh kiết li. Nhưng liều thuốc cần thiết giúp cho tôi và bạn tù vượt qua tuyệt vọng chính là những vần thơ phản kháng của CTT mà Giáo sư Nguyễn Ngọc Diễm gọi là nộ thi: “Mồ hôi tuột cán cuốc trơn/ Nắm cho chặt cán căm hờn nầy nghe/ …/ Một nhát quắm sâu dang đứt phựt/ Nghe vùi hun hút một phiền âu/ Hai nhát tông bay rên xiết nứa/ Nghe chôn u uất bốn buồn rầu/ …/ Một quắm. Hai tông. Ba phạt núi!/ Bốn tông. Năm quắm. Sáu băng rừng/ Từng ấy rừng băng chân cứng đá/ Mai về đạp vỡ cửa lao lung/…/ Hãy chặt chặt sâu tông phắt phắt/ Hãy phang phang gắt quắm ào ào/ Mai về đạn nhảy ngay nòng súng/ Trực chỉ đầu thù nổ thật mau”…Nộ thi là tạc đạn do người tù CTT sáng chế để tự vệ ngay trong lò cừ của quỷ, qua cái bảng hiệu Trại Cải tạo treo đầu dê bán thịt chó!

      Ẩn hiện trong tính phản kháng, là tính trữ tình. Tính trữ tình như thể đa sinh tố, không những bồi bổ sinh lực cho người tù mà cho cả tù phụ nữa: “Nhớ em ngong ngóng hằng đêm/ Màn lay tưởng tóc, gối mềm tưởng da/ …/ Đất buồn khó có tình vui/ Chát chua quen vị, ngọt bùi kiêng khem/ …/ Em về giữa lúc khuya sang/ Mênh mông đức hạnh, dịu dàng ưu tư/ Em đoan trang dáng hiền từ/ Tóc rừng thu liễu rũ bờ vai thương/ Em gồm chín cõi xanh dương/ Lồng đôi mắt thẫm khôn lường vị tha/ …/ Mai sau ngủ gốc cây sồi/ Làm thiên thu chiếc miếu ngồi thờ em”. (Đường Vào Thiên Thu, 1984).

      Tính trữ tình đã giúp thánh hóa những nàng Tô Thị ngày nay qua thơ CTT:“Có chồng mà tưởng như chồng mất/ Hương nhan đã cháy ở trong lòng/ …/Em đứng ôm con bồng mưa nắng/ Sắt son dũng cảm đến Kỳ Cùng/…/ Em đứng thay nam tròn chữ hiếu/ Thờ cha phải đạo, dưỡng mẹ già/…/ Em là lửa ấm đêm đông rét/ Trận gió đem mưa đến hạn hè/ Em giăng mộc thảo xanh triền núi/ Ly cách lòng anh khỏi lũ trào/ Biển động thuyền lay em vững lái/ Anh thương hạt gạo xẻ làm đôi/…/ Tình nghĩa em như sau bão thổi/ Bãi yên bể lặng cát về bồi” / Tóc vấn phong ba em đứng mũi/ Một thuyền léo lái cõi càn khôn/ Em vẫn đoan trang từng lóng trúc/ Vút voi quất ngã kẻ thù người/.”(Kỳ Cùng, Trại Hà Tây, 1982). Quả vậy, thơ tù của CTT là cây gậy Phùng Quán, giúp người tù vịn câu thơ mà đứng uy nghi trong lao tù cộng sản!

      Vừa ra khỏi tù, CTT âm thầm viết Bài Ca Níu Quan Tài (BCNQT), một tâm sử thi thu âm tiếng khóc, chụp lại hình ảnh tận cùng bi thiết của cái gọi là XHCNVN sau 04/1975. BCNQT được viết tay vào một tập vở học trò như một quả bom nghìn tấn được cất dấu tại từng 3 một chung cư ngay trung tâm Sai Gòn: “Kinh bang sao chép Nga Tầu/ Bình quân là chặt cái đầu cao hơn/ Một bầy tán tận lương tâm/ Ăn hồ, ăn giể, ăn vần ngày công/ An tranh trẻ đói lọt lòng/ Ăn lường tiếng khóc khép vòng tử sinh/ Ngón đòn lý lịch ly kỳ/ Cha là “ngụy”, phạm trường quy con rồi/ Mẹ xưa khóc níu quan tài/ Nàng giờ ai vãn lại lời mẹ xưa”.

      Cá nhân tôi được đọc BCNQT tại Sài Gòn và tôi nghĩ ngay đến việc làm sao giúp tập thơ vượt biên qua Mỹ! Vào thời điểm ấy đang có chương trình HO và ODP cho phép thân nhân và cựu tù chính trị đủ điều kiện được định cư Mỹ quốc. Sẽ là chuyện điên rồ nếu nhờ những đồng đội sắp xuất cảnh mang theo BCNQT. Chúng tôi nghĩ cách an toàn hơn là nhờ các “bộ nhớ” xuất sắc trong tù sắp ra đi theo diện HO, chịu khó học thuộc lòng tập thơ. Cuối cùng, Thiếu Tá Lâm Tùng Nguyên, Trưởng Phòng Quân Báo Sư Đoàn 4 KQ nhận lời học thuộc lòng khúc “Ai Vãn” cả ngàn câu thơ trong vòng một tháng trước khi gia đình anh đi Mỹ theo diện ODP vào năm 1989. BCNQT xuất bản tại Mỹ năm 2001. Thơ tù của CTT, di sản văn hóa của dân tộc, đã được đồn g đội cưu mang trong tình nghĩa như vậy đó!

      Để cám ơn nhiệt tình của quý vị hiện diện hôm nay, tôi xin đọc bài thơ Biểu Tượng của CTT để tặng quý vị mà tôi thuôc lòng từ rừng núi Hoàng Liên Sơn từ năm 1976 cho tận ngày nay: “Lòng ta đứng vững như vầu/ Thân cao lóng thẳng dưới bầu trời xanh/ Xum suê cây hút nhựa lành/ Nguồn sâu đất dưới hóa thành lá trên/ Cực hình thú ác gây nên/ May bằng nứa tép đứng bên vầu già/ Mỗi ngày vầu mỗi lớn ra/ Đổi thay lá mới, đậm đà lóng tươi/ Vầu đanh như thép sáng ngời/ Nắng mưa thì cũng trọn đời đứng ngay”.

      Cây vầu cùng họ cây tre cây trúc, đều “tiết trực tâm hư”, là biểu tượng của người quân tử. Cây Vầu là biểu tượng khí phách của người chiến sĩ QLVNCH, dù bất cứ đâu, bất cứ trong hoàn cảnh nào! Xin cám ơn quý vị đã lắng nghe!

      --------/////--------
      Last edited by Chopper; 03-05-2016, 10:53 PM.

      Comment

      Working...