Lạc dực

Collapse
X
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • 6Mao
    Người Thân
    • Mar 2008
    • 21

    #1

    Lạc dực

    Điểu bối liên ba dực hiệp phi
    Xuân quang cường bán bất phân ly
    Cuồng phong hốt khởi điêu trù tán
    Các dực ai thương trụy bất chi

    6M

    Cứ mỗi biết được có anh nhem nào bắt đầu khật khừ hay đi...chơi,
    thì 6M này lại nhớ lại bài ...thơ năm cũ , thật là chạy trời không
    khỏi nắng...từ từ từng em một....tuổi già sao tàn độc quá!.

    (Xoải cánh
    Đàn "chim" liền cánh cùng bay chơi
    Hơn nửa đời trai vẫn chẳng rời
    Chợt nổi cuồng phong "chim" tán loạn
    Đau thương từng cánh chẳng ngừng rơi...)
  • ThDaiHan
    Người Thân
    • Dec 2007
    • 241

    #2
    Thanks 6M ..

    Comment

    • chimtroi
      Moderator

      • Dec 2007
      • 1263

      #3
      Xin bái phục...túc nho.

      Bác 6Mao ơi,
      Bác có bài "Tỳ Bà Hành" của Bạch Cư Dị hôn?

      "Tầm Dương giang đầu dạ tống khách..."

      Tui muốn tặng bài nầy cho người bạn thân để nhớ về những đêm trăng thanh gió mát trên chiếc thuyền lắc lư giữa dòng sông Hương thơ mộng...

      Comment

      • 6Mao
        Người Thân
        • Mar 2008
        • 21

        #4
        Tỳ "Ba` ha`nh"

        Không biết Cán có bị lật ghe không?


        Tầm Dương giang đầu dạ tống khách
        Phong diệp địch hoa thu sắt sắt
        Chủ nhân hạ mã khách tại thuyền
        Cử tửu dục ẩm vô quản huyền
        Tuý bất thành hoan thảm tương biệt
        Biệt thời mang mang giang tẩm nguyệt
        Hốt văn thuỷ thượng tỳ bà thanh
        Chủ nhân vong quy khách bất phát
        Tầm thanh âm vấn đàn giả thuỳ
        Tỳ bà thanh đình dục ngữ trì
        Di thuyền tương cận yêu tương kiến
        Thiêm tửu hồi đăng trùng khai yến
        Thiên hô vạn hoán thuỷ xuất lai
        Do bão tỳ bà bán già diện
        Chuyển trục bát huyền tam lưỡng thanh
        Vị thành khúc điệu tiên hữu tình
        Huyền huyền yểm ức thanh thanh tứ
        Tự tố bình sinh bất đắc chí
        Đê mi tín thủ tực tực đàn
        Thuyết tận tâm trung vô hạn sự
        Khinh lung mạn nhiên mạt phục khiêu
        Sơ vi Nghê thường hậu Lục yêu
        Đại huyền tào tào như cấp vũ
        Tiểu huyền thiết thiết như tư ngữ
        Tào tào thiết thiết thác tạp đàn
        Đại châu tiểu châu lạc ngọc bàn
        Gian quan oanh ngữ hoa để hoạt
        U yết tuyền lưu thuỷ hạ than
        Thuỷ tuyền lãnh sáp huyền ngưng tuyệt
        Ngưng tuyệt bất thông thanh tiệm yết
        Biệt hữu u sầu ám hận sinh
        Thử thời vô thanh thắng hữu thanh
        Ngân bình sạ phá thuỷ tương bính
        Thiết kỵ đột xuất đao thương minh
        Khúc chung thu bát đương tâm hoạch
        Tứ huyền nhất thanh như liệt bạch
        Đông thuyền tây phảng tiễu vô ngôn
        Duy kiến giang tâm thu nguyệt bạch
        Trầm ngâm phóng bát sáp huyền trung
        Chỉnh đốn y thường khởi liễm dung
        Tự ngôn bản thị kinh thành nữ
        Gia tại Hà Mô lăng hạ trú
        Thập tam học đắc tỳ bà thành
        Danh thuộc giáo phường đệ nhất bộ
        Khúc bãi tàng giao thiện tài phục
        Trang thành mỗi bị Thu Nương đố
        Ngũ Lăng niên thiếu thanh triền đầu
        Nhất khúc hồng tiêu bất tri số
        Điễn đầu ngân tì kích tiết toái
        Huyết sắc la quần phiên tửu ố
        Kim niên hoan tiếu phục minh niên
        Thu nguyệt xuân phong đẳng nhàn độ
        Đệ tẩu tòng quân a di tử
        Mộ khứ triêu lai nhan sắc cố
        Môn tiền lãnh lạc xa mã hy
        Lão đại giá tác thương nhân phụ
        Thương nhân trọng lợi khinh biệt ly
        Tiền nguyệt Phù Lương mãi trà khứ
        Khứ lai giang khẩu thủ không thuyền
        Nhiễu thuyền nguyệt minh giang thuỷ hàn
        Dạ thâm hốt mộng thiếu niên sự
        Mộng đề trang lệ hồng lan can
        Ngã văn tỳ bà dĩ thán tức
        Hựu văn thử ngữ trùng tức tức
        Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân
        Tương phùng hà tất tằng tương thức
        Ngã tòng khứ niên từ đế kinh
        Trích cư ngoạ bệnh Tầm Dương thành
        Tầm Dương địa tích vô âm nhạc
        Chung tuế bất văn ty trúc thanh
        Trú cận Bồn giang địa thế thấp
        Hoàng lô khổ trúc nhiễu trạch sinh
        Kỳ gian đán mộ văn hà vật
        Đỗ quyên đề huyết viên ai minh
        Xuân giang hoa triêu thu nguyệt dạ
        Vãng vãng thủ tửu hoàn độc khuynh
        Khởi vô sơn ca dữ thôn địch
        Âu á triều triết nan vi thính
        Kim dạ văn quân tỳ bà ngữ
        Như thính tiên nhạc nhĩ tạm minh
        Mạc từ cánh toạ đàn nhất khúc
        Vị quân phiên tác Tỳ bà hành
        Cảm ngã thử ngôn lương cửu lập
        Khước toạ xúc huyền huyền chuyển cấp
        Thê thê bất tự hướng tiền thanh
        Mãn toạ trùng văn giai yểm khấp
        Toạ trung khấp hạ thuỳ tối đa
        Giang Châu tư mã thanh sam thấp.

        Di.ch nghia~

        Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách
        Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu
        Người xuống ngựa khách dừng chèo
        Chén quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc ti
        Say những luống ngại chi chia rẽ
        Nước mênh mông đượm vẻ gương trong
        Đàn ai nghe vẳng bên sông
        Chủ khuây khoả lại khách dùng dằng xuôi
        Tìm tiếng sẽ hỏi ai đàn tá
        Dừng dây tơ nấn ná làm thinh
        Dời thuyền ghé lại thăm tình
        Chong đèn thêm rượu còn dành tiệc vui
        Mời mọc mãi thấy người bỡ ngỡ
        Tay ôm đàn che nửa mặt hoa
        Vặn đàn mấy tiếng dạo qua
        Dẫu chưa nên khúc tình đà thoảng hay
        Nghe não nuột mấy dây buồn bực
        Dường than niềm tấm tức bấy lâu
        Mày chau tay gảy khúc sầu
        Dãi bày hết nỗi trước sau muôn vàn
        Ngón buông bắt khoan khoan dìu dặt
        Trước Nghê thường sau thoắt Lục yêu
        Dây to dường đổ mưa rào
        Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng
        Tiếng cao thấp lựa chen lần gẩy
        Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu
        Trong hoa oanh ríu rít nhau
        Nước tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh
        Nước suối lạnh dây mành ngừng đứt
        Ngừng đứt nên phút bặt tiếng tơ
        Ôm sầu mang giận ngẩn ngơ
        Tiếng tơ lặng ngắt bây giờ càng hay
        Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước
        Ngựa sắt giong xô xát tiếng đao
        Cung đàn trọn khúc thanh tao
        Tiếng buông xé lụa lụa vào bốn dây
        Thuyền mấy lá đông tây lạnh ngắt
        Một vầng trăng trong vắt lòng sông
        Ngậm ngùi đàn bát xếp xong
        Áo xiêm khép nép hầu mong giải lời
        Rằng xưa vốn là người kẻ chợ
        Cồn Hà Mô trước ở lân la
        Học đàn từ thuở mười ba
        Giáo phường đệ nhất chỉ đà chép tên
        Gã thiện tài so phen từng khúc
        Ả Thu Nương ghen lúc điểm tô
        Ngũ Lăng chàng trẻ ganh đua
        Biết bao thê thảm chuốc mua tiếng đàn
        Vành lược bạc gãy tan dịp gõ
        Bức quần hồng hoen ố rượu rơi
        Năm năm lần lữa vui cười
        Mải trăng hoa chẳng đoái hoài xuân thu
        Buồn em trảy lại lo dì thác
        Sầu hôm mai đổi khác hình dong
        Cửa ngoài xe ngựa vắng không
        Thân già mới kết duyên cùng khách thương
        Khách trọng lợi khinh đường ly khách
        Mải buôn chè sớm tếch nguồn khơi
        Thuyền không đậu bến mặc ai
        Quanh thuyền trăng dãi nước trôi lạnh lùng
        Đêm khuya sực nhớ vòng tuổi trẻ
        Chợt mơ màng dòng lệ đỏ hoen
        Nghe đàn ta đã chạnh buồn
        Lại rầu nghe nỗi nỉ non mấy lời
        Cùng một lứa bên trời lận đận
        Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau
        Từ xa kinh khuyết bấy lâu
        Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai
        Chốn cùng tịch lấy ai vui thích
        Tai chẳng nghe đàn địch cả năm
        Sông Bồn gần chốn cát lầm
        Lau vàng trúc võ âm thầm quanh hiên
        Tiếng chi đó nghe liền sớm tối
        Cuốc kêu sầu vượn hót véo von
        Hoa xuân nở nguyệt thu tròn
        Lần lần tay chuốc chén son ngập ngừng
        Há chẳng có ca rừng địch nội
        Giọng líu lo buồn nỗi khó nghe
        Tỳ bà nghe dạo canh khuya
        Dường như tiên nhạc gần kề bên tai
        Hãy ngồi lại gảy chơi khúc nữa
        Sẽ vì nàng soạn sửa bài ca
        Đứng lâu dường cảm lời ca
        Lại ngồi lựa phím đàn đà kíp dây
        Nghe não nuột khác tay đàn trước
        Khắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi
        Lệ ai chan chứa hơn người
        Giang Châu tư mã đượm mùi áo xanh

        Comment

        • chimtroi
          Moderator

          • Dec 2007
          • 1263

          #5
          Tỳ Bà Hành

          Cám ơn bác 6Mao nhiều lắm.
          Tỳ bà hành là bài thơ dài 616 chữ của Bạch Cư Dị về cuộc đời trôi nổi truân chuyên của kẻ ca kỷ đàn tỳ bà. Bài này được Phan Huy Vịnh dịch sang chữ Nôm, là một trong những tuyệt tác văn học ngày trước.
          Sẵn dịp xin trích bài nghiên cứu dưới đây liên quan đến đề tài để thân tặng các bạn lãm tường.

          Trích bài nghiên cứu về Tỳ Bà Hành và Bạch Cư Dị của Hải Đà

          Hải Đà sưu tập và biên soạn
          (http://www.vuonghaida.com/thohaida/T...anhSuukhao.htm)



          Đàn Tỳ Bà:

          Đàn Tỳ Bà (pipa) là loại đàn “luýt” (lute) , nhạc cụ dây, thân có hình trái lê, chơi bằng cách gảy ngón tay , và gồm có 4 dây (four-stringed lute), được gảy bằng 2 ngón tay . Đời nhà Hán (206-220), đàn Tỳ Bà có 4 dây và 12 phím đàn . Tuyên Phủ (đời Tấn ) đã viết “ Đàn Tỳ Bà xuất hiện, được dùng nhiều vào cuối đời Tần (222-207), khi dân chúng bị triều đại phong kiến bắt đi lao động khổ sai để xây dựng Vạn Lý Trường Thành và họ đã gảy đàn Tỳ Bà để dùng tiếng đàn thê lương ảo não nói lên sự than oán uất nghẹn trong lòng mà họ không được quyền nói ra bằng lời “.

          Cái kỹ thuật của đàn Tỳ Bà được diễn tả đòi hỏi khéo léo bằng những ngón tay và trình độ điêu luyện của người nghệ sĩ. Những âm thanh rung lên kéo dài tạo tiếng vang rền , hòa lẫn với các đọan nhạc bật (pizzicato), tiếng vỗ nhịp bằng tay, thêm vào phần hòa âm rung động, với những tiếng động hoặc âm thanh chát chúa của vũ khí thêm vào âm điệu của bài thơ diễn tả những cảnh chiến trường như những trận đánh nổi tiếng trong thế kỷ thứ hai BC giữa Sở (Hạng Võ) và Hán (Lưu Bang) như bài “Thập Diện Mai Phục” .

          Tiếng đàn tỳ bà đó cũng thấy trong những bài thơ tả cảnh biên tái, chiến trường thê lương, diễn tả những cảm xúc hùng tráng hiên ngang của người chiến binh lên đường, cũng như những tư duy ngậm ngùi thầm kín chấp nhận cho số phận an bài trước cảnh chia ly não nùng :

          Lương Châu Từ (Vương Hàn)

          Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
          Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
          Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
          Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi



          Rượu ngon thơm ngát chén ngà
          Ly chưa cạn, tiếng tỳ bà giục đi
          Sa trường say, mỉa làm chi
          Xưa nay chinh chiến mấy khi trở về
          (Hải Đà phỏng dịch)

          Nhà thơ Bạch Cư Dị:

          Bạch Cư Dị , tự Lạc Thiên, hiệu Hương Sơn Cư Sĩ, người Thiểm Tây , có bản chất thông minh từ nhỏ, năm 6 tuổi đã bắt đầu học làm thơ . Ông đã lớn lên trong một bối cảnh lịch sử triền miên khói lửa binh đao, nên ông gần gũi và thông cảm với nỗi khốn khổ, nghèo khó và cảnh cơ hàn cay đắng của tầng lớp lao động do vương triều phong kiến gây ra, cũng như ông đã đồng tình với niềm ước vọng và phẫn uất của người dân lao động. Những sự cảm thụ đó đã ảnh hưởng rất nhiều đến sự nghiệp thi ca của ông. Bạch Cư Dị đỗ tiến sĩ năm 20 tuổi, được bổ làm quan trong triều đình giữ chức Tả thập di . Ông đã sống trong một thời kỳ đen tối, lúc mà xã hội Trung Quốc đang trên con đường suy thoái, những mâu thuẫn của các phe cánh thống trị trong triều đình khó hàn gắn được . Với bản tính trung thực dám nói thẳng (dù với tinh thần tôn quân), ông đã dám phê phán gay gắt và can đảm đấu tranh cho chính nghĩa, nên ông đã làm mất lòng vua và các quan đại thần. Nhiều kẻ nịnh thần căm ghét, dèm pha, và hạch tội ông . Ông bị giáng chức làm tư mã Giang Châu (815-818) , là một chức vị nhàn rỗi, không có công việc gì làm, mang một tâm sự buồn bã chán ngán thế thái nhân tình . Trong thời gian nầy ông sống trong một mái nhà tranh bên ngôi chùa, và dành nhiều thì giờ để tu tiên học đạo . Bài thơ nổi tiếng Tỳ Bà Hành của ông đã được sáng tác trong giai đoạn nầy, được phổ biến rộng rãi trong quần chúng bình dân và được xã hội đón tiếp thưởng thức quí trọng. Đó là bài thơ mang khía cạnh nhân sinh, xã hội, hiện thực đã được truyền tụng trong nhân gian, gắn liền với tên tuổi của nhà thơ . Trên bước đường phiêu bạt, ông đã thấy nhiều khách thập phương yêu thơ ông đã ghi chép lại những bài thơ trên bờ tường của trường làng, chùa chiền, quán trọ, quán rượu, cũng như dán trên mui thuyền và những hội quán thi phú, tập văn của các nho sinh . Ông rất vui sướng, lạc quan tin rằng thơ ông gần gũi với dân chúng và được nhiều người quí trọng và ưa thích. Bạch Cư Dị đại diện cho dòng thơ hiện thực phê phán vì khi ông đã phải sống qua một giai đoạn lịch sử đen tối của chế độ quan liêu phong kiến đồi trụy, Bạch Cư Dị đã dùng thi ca với những lời lẽ giản dị thành thực để mạnh dạn đấu tranh và tố cáo những hành vi áp bức, những bất công trong xã hội, cũng như sự bóc lột của bọn quan lại quý tộc. Thơ của ông phản ảnh được nỗi lòng uất nghẹn và nỗi trầm luân thống khổ của dân chúng trước thế sự thời cuộc ba chìm bảy nổi..

          Bạch Cư Dị chủ trương đổi mới thi ca, ông muốn thi ca phải gắn bó với đời sống, phản ảnh hiện thực xã hội, tràn đầy tư tưởng nhân đạo, nhân văn . Bạch Cư Dị đã nói “ Làm văn phải vì thời thế mà làm, làm thơ phải vì thực tại mà viết “ (Văn chương hợp vi thời nhi trước, thi ca hợp vi sự nhi tác ). Thơ Bạch Cư Dị phù hợp chủ nghĩa hiện thực theo con đường “phục cổ để cách tân”, muốn nói lên những thảm cảnh đen tối, xấu xa ngăn cản bước tiến của xã hội và đất nước. Bài Trường Hận Ca của ông diễn tả mối tình đẹp của Đường Minh Hoàng và Dương Quí Phi, nhưng cũng có những ý tưởng sâu sắc thầm kín mỉa mai …

          Bài Tỳ Bà Hành của ông có tình tiết mạch lạc, khúc chiết và sinh động, theo lối “ thuật hoài” (miêu tả), cảm ngộ, để gửi gắm tâm sự, nỗi buồn riêng tư thầm kín của tác giả như một người mang số phận hẩm hiu , để mà thông cảm xót thương như người ca nữ trong câu truyện, gặp nhiều cảnh éo le, không may mắn trên đường đời . Bài thơ ngân vang một cảm xúc ngậm ngùi, một nỗi buồn thắm thía …Ông đã nói “ sự việc dẫn dắt ở ngoài, tình lý rung động bên trong, theo cảm xúc mà diễn đạt ra lời ngâm vịnh …” Đó là những lời bộc bạch chân tình, nói lên cái tâm huyết của một người trí thức muốn bày tỏ tấm lòng ưu thời mẫn thế, cũng như nỗi bi phẫn của tác giả bị chèn ép, bạc đãi trong một xã hội phong kiến đầy dẫy bất công. Bài thơ giàu chất trí tuệ, sâu sắc cảm động đã gióng lên tiếng chuông cảnh cáo một chế độ phong kiến đã chà đạp lên nhân phẩm, tình cảm, hạnh phúc, và quyền sống của người phụ nữ . Nhà thơ đã tìm thấy một tâm hồn đồng điệu, một tương thức tri âm qua người kỹ nữ gặp trên sông Tầm Dương. Bài thơ có những giao động của nhịp điệu, cái trữ tình của ngữ điệu, và cái xao xuyến của nhạc điệu, tạo nên một phong cách đặc biệt, thể hiện cái phong cốt và thần thái của người nghệ sĩ tài hoa, cũng như quan niệm và thái độ của tác giả về đời sống. Bạch Cư Dị trong một lá thư gửi người bạn đã nói lên những suy nghĩ sâu sắc về thi ca : “ Cái cảm hóa được lòng người chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì đi trước được ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa . Với thơ gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa “ (Nguyễn Khắc Phi dịch) . Bài thơ Tỳ Bà Hành đã tạo nên một phong cách mỹ thuật, tư duy thâm thúy bằng cách kết hợp đầy đủ các yếu tố : tình cảm, ngôn ngữ, âm thanh và ý nghĩa .


          Năm Nguyên Hòa thứ 10 (815) Bạch Cư Dị bị giáng chức và đổi đi làm Tư Mã Giang Châu....

          Bài Tỳ Bà Hành được viết vào thời gian nầy (lúc Bạch Cư Dị bị giáng chức làm Tư mã Giang Châu), bài thơ gồm 616 chữ được sáng tác ngay trên thuyền . Giang Châu có núi Khuông Lư, bến Tầm Dương đều là nơi danh lam thắng cảnh . Một bữa xuống thuyền thong dong dạo chơi, trong một đêm trăng thu vằng vặc, sóng nước bập bềnh, ông nghe một tiếng đàn thánh thót văng vẳng, lúc biến hóa lâm ly, lúc dạt dào xúc động xao xuyến, lúc ngưng bặt luyến tiếc từ một chiếc thuyền lơ lửng trôi gần đó . Ông ghé thuyền, và gặp người kỹ nữ đang gảy đàn tỳ bà. Bạch Cư Dị đã cảm thấy mình đồng cảnh ngộ với người kỹ nữ lưu lạc trên bến sông đêm thanh vắng .Cô đào đã gảy cho Bạch Cư Dị nghe những khúc đàn tuyệt hảo, trầm bổng xao động người nghe .Sau đó người kỹ nữ sụt sùi thương tiếc số phận hồng nhan đa truân và đã bộc bạch thổ lộ tâm tình riêng tư của mình cho ông nghe . Cảnh và tình hòa hợp . Âm đàn và tâm trạng chan hoà cảm xúc, cảnh ngộ . Mỗi tiếng đàn ngân lên như nỗi niềm nuối tiếc xốn xang của người ca nữ hòa mình với nhịp đập bồi hồi thổn thức của con tim người thơ . Chợt có mối đồng cảm, đồng tình giữa người thơ long đong trên bước đường sự nghiệp công danh với cuộc đời trôi dạt, bị bỏ rơi quên lãng của người ca nữ đáng thương. Giữa nguồn cảm xúc lai láng tuôn tràn, Bạch Cư Dị đã tài hoa sáng tác một mạch bài Tỳ Bà Hành đầy nhừng hình ảnh tâm trạng thực và sinh động, và ông ngâm bài thơ luôn cho cô nghe. Xúc động trước chân tình tha thiết của nhà thơ, người nghệ sĩ lại đưa những ngón tay mềm mại lên phím đàn để tạ ơn người viễn khách trên sông. Trăng vẫn sáng trên sao, sóng nước vẫn bập bềnh, sương khói lãng đãng che phủ khoan thuyền . Trời không lất phất những hạt mưa .. nhưng sao mưa vẫn rơi thánh thót gieo vang những âm điệu buồn vời vợi trong lòng ai ?

          Bản dịch Tỳ Bà Hành của Phan-Huy-Vịnh* được nhiều người công nhận là bản dịch xuất sắc nhất . Bài thơ nguyên tác chữ Hán gồm 88 câu 7 chữ hay 616 chữ. Phan Huy Vịnh dịch Nôm theo thể song thất lục bát (7-7-6-8), thành 22 đoạn, giữ nguyên số lượng (616) chữ .Theo tác giả Trần Thị Băng Thanh (Từ Điển Văn Học – nxb Khoa Học Xã Hội) : “ … cho đến nay, những người yêu thích văn chương biết đến Phan Huy Vịnh là nhờ bản dịch của bài Tỳ Bà Hành … nguyên tác là của Bạch Cư Dị . Tỳ Bà Hành miêu tả tâm trạng quan Tư Mã Giang Châu họ Bạch trong đêm nghe người ca nữ đã luống tuổi ở bến Tầm Dương, đánh đàn tỳ bà và kể chuyện cuộc đời chìm nổi của mình . Bản dịch gồm 22 khổ thơ song thất lục bát … Đóng góp lớn nhất của Phan Huy Vịnh là sử dụng tiếng Việt . Cũng là những từ ngữ thông thường, những thủ pháp tu từ quen thuộc, nhưng sự chọn lọc tinh tế và sắp đặt sáng tạo, đã làm cho tác phẩm có sức truyền cảm đặc biệt và đạt đến đỉnh cao về nghệ thuật dịch . Từ lâu bản dịch Tỳ Bà Hành đã được phổ cập rộng rãi và coi là một tác phẩm văn học xuất sắc, có đời sống độc lập với nguyên tác. Nó đã chứng minh khả năng diễn đạt và nhạc tính phong phú của ngôn ngữ Việt Nam “ ...

          __________________
          *Tức bản dịch bên trên

          Tỳ Bà Hành - Bản chữ Hán

          Comment

          • 6Mao
            Người Thân
            • Mar 2008
            • 21

            #6
            thi'ch...

            Ca'm on Chim...troi...

            Comment

            • pilot261
              Người Thân
              • May 2008
              • 39

              #7
              WOW, Bá Nha gặp Tử Kỳ rồi chăng!?




              (Mấy cha nội này sao rành Hán Nôm quá nhỉ?!?!?

              Comment

              • 6Mao
                Người Thân
                • Mar 2008
                • 21

                #8
                trù...

                Ối cán Pilot 9 nút ơi, xin đừng trù ẻo như dzậy, Bá Nha, Tử Kỳ
                kẻ chết người bỏ đờn...tụi này chỉ muốn cùng sống nhậu sương
                sương thôi.

                Comment

                Working...