Góc Truyện Tình HOÀI HƯƠNG...

Collapse
X
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • Tinh Hoai Huong
    Senior Member
    • May 2009
    • 1081

    #211
    Mây Xám Vắt Ngang Đời



    Mây Xám Vắt Ngang Đời


    Đàn bươm bướm trắng xanh vàng nâu lí lí lắc lắc, chập chờn, nhởn nhơ, trêu trêu, ghẹo ghẹo mấy đài hoa dã qùy e lệ nép mình dọc con sông um tùm lau sậy lô nhô. Cỏ lau bông trắng bay đầy bãi ruộng lúa chỉ còn trơ gốc rạ vàng lởm chởm. Trên chiếc cầu gỗ cũ được mang tên Cầu Bông ở Nhị Tân thuộc Huyện Hốc Môn lấp loáng nhiều giọt nắng lung linh, long lanh từ mặt nước trong vắt, phản chiếu muôn tia nắng rạo rực luôn lấp lánh đổi màu. Bầu trời lơ lửng năm ba đám mây trắng dài lê thê, dài ngoẵng như sợi tơ len. Mây kéo từ thôn nầy vắt qua thôn khác, in xuống lòng sông biếc xanh. Phút chốc bóng mây trăng trắng dài lướt thướt loang tỏa ra trùm kín bầu trời, mây đổi thành màu xám đen nặng trĩu đang lững thững trôi về nơi vô định.

    Tôi lặng nhìn đám mây trắng xám im sửng trên trời, dường như mây giống một dải màn sô tang trắng viền chỉ len màu lam xám đã và đang vắt ngang kiếp đời gia đình tôi cơ cực. Rồi bỗng đâu mây đen ùn ùn kéo cơn mưa dầm ào ạt trút xuống đời suốt mấy ngày đêm, làm nặng nề thêm bầu trời u ám của:
    “Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý.
    Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do”
    . (1)

    Chúng tôi đã rớt xuống vực thẳm sâu hun hút, úp mặt xuống tận đáy xã-hội chủ-nghĩa. Dẫu vậy, các con trai tôi học hành ưu tú, xuất sắc. Hai con lớn dưới mười tuổi, nhưng ba giờ sáng các con đã thức dậy, lo chạy bộ đến lò bánh bò, lò cà rem, xa khoảng bốn cây số. Các con ngồi co ro cúm rúm ngoài vỉa hè, để chầu chực chủ mở cửa, hy vọng con có hàng bán chạy rong mời khách. Tháng nắng ngày mưa các con đều khổ cực lầm than như nhau. Ngày ế-ẩm, bánh bò bị thiu, cà rem chảy nước. Chúng tôi lặng-lẽ ngồi ở góc nhà, nhịn khát, nhịn đói, khóc thầm. Vì chồng, cha, là lính “ngụy” bị ở tù “cải tạo” (tôi dùng chữ "cải tạo" phải có hai ngoặt kép). Ai dám giúp! Nhưng, thiệt khổ là hầu như đa số dân lành cũng không có ăn, có mặc, thì lấy gì mà ai giúp ai!?

    Ba năm sau, thì con trai đầu mỗi buổi sáng con đi học, chiều con đi bán bánh bò, cà rem, tối tối con theo chủ ra tận Long Khánh, Hàm Tân, Phan Thiết…, con cùi cụi vác trấu thuê, vác bó mía thuê. Con leo lên nóc nhà dỡ tôn, dỡ nhà, (do chủ mua) và chủ tớ đem đi bán. Con làm bất cứ việc gì dù nặng nhọc, khổ sở, miễn sao con có tiền đem về cho mẹ mua gạo nuôi nhau sống lây lất qua ngày. Ngày hè không đi học, các con phải đi nông trường Nhị Xuân lo trồng thơm, trồng mía. Hoặc con làm dân công thủy lợi đi đào kênh rạch trên Lê Minh Xuân. Tối về, Đảng phát cho một tờ phiếu, dân tự vét tiền túi ra mua gạo, mua mắm (dĩ nhiên!). Ráng đi các con ôi! Mẹ mang ơn con trai quá khó nhọc vất vã khổ sở trăm bề, để lo cho gia đình mình có miếng ăn đơn sơ & đạm bạc. Con trai thứ hai đi học luôn luôn đứng đầu lớp, nhưng con vẫn đi bán cà rem phụ mẹ lo cho gia đình mình, mẹ cảm động và thương con yếu ốm biết ngần nào! Và con trai thứ ba đi học về cũng đi bán cà rem giống hai anh lớn. "Cả nhà anh em ta" đều là "dân chuyên nghiệp bán cà rem" nhưng trong Huyện nầy chẳng có ai bì kịp việc học và việc làm của các con, vì các con kiếm sống bằng một nghề lương thiện và trong sạch, chính đáng ở chỗ các con dù đã khôn lớn, nhưng các con đi bán gặp bạn "đồng môn" vẫn vui tươi, hiền hoà, thân thiện, các con chẳng hề cảm thấy xấu hổ vì một nghề "bán cà rem" là thấp hèn. Mẹ chân thành cám ơn và ghi ơn các con, rất hãnh diện vì từ thuở nhỏ các con đã nên người hữu ích. Mẹ mong rằng:
    Phượng hoàng ở chốn cheo leo.
    Sa cơ lỡ vận phải theo đàn gà.
    Bao giờ gió thuận mưa hòa.
    Thay lông đổi cánh lại ra phượng hoàng.
    (1)
    ***

    Con mẹ Thân là vợ của một sĩ quan Nhảy Dù ở “chế độ cũ”, miếng thịt Thân còn nhét trong kẽ răng, ấy thế mà bà ta đã toa rập với bọn cán bộ làm trong Xã ̀phản bội, lừa thầy phản bạn. Chúng cắt bòn rút lương thực của dân đen đi làm thủy lợi biết bao nhiêu mà kể cho hết. Dân muốn chết đói mà con mẹ ấy vẫn sống nhăn răng, phè phỡn và đú đa đú đởn với bọn kia. Thật xấu hổ vì con đàn bà người chẳng giống người mà giống ngợm! Sau giờ lao động nhọc nhằn, bà con lối xóm hò nhau xách tụng chạy đi, chen lấn vô cửa hàng, mắng nhiết nhau inh ỏi, vì sợ hết giờ không có bo bo đổ vô nồi. Bà Muôn, bà Cát, bà Liêm ơi ới gọi tôi:
    - Cô giáo đi mua gạo “liên xô”. Mau lên kẽo hết. Nhịn đói thì chết.
    - Vâng.

    Tôi lo ba chân bốn cẵng chạy theo mấy bà hàng xóm. Tôi rù rì nói nhỏ vào tai bà Cát, bà ta là người đàn bà đanh đá, chì chiết, hai hàm răng luôn nghiến lại, bà nói chuyện không hở môi. Bà luôn mồm nhắc tôi “giữ bí mật”. Ấ́y thế mà chính miệng bà ta bi bô không giữ được, và “bật mí” phun xì ra. Í dà da! Bà ta thèo lẽo, tò mò tọc mạch như con ma xó! Tôi trách chi bà.
    - Sao chị dám nói là gạo Liên Xô hử?
    - Chứ cô không thấy có bao giờ mình được mua gạo đàng hoàng, từ tốn đâu. Không “liên” tục chen lấn, giành giật, “xô” đẩy nhau, mà rách toạt cả quần ra, là gì!
    Chị Dung cười toe:
    - Ồ! Thì để cho… ông trùm sò dê Bảy De thèm một xí.
    Tôi thật thà hỏi:
    - Dê Bảy De là ai, hở chị Muôn?
    - Là cái thằng cha mặt ngựa mỗi ngày rả rả trên “loa” phóng thanh, hắn ưa nói Dóc. Nói Dai. Nói Dở. Nói Dổm. Nói Dối. Nói Dốt… í mà.
    - Ai vậy cà?
    - Bộ thích ổng rồi hay sao, mà cô cứ hỏi tới dữ dậy he?!
    - Hổng dám đâu.
    - Bà Liêm, bà Muôn nhìn nhau nháy mắt, trêu tôi:
    - À, cô giỏi văn, vậy tui nhờ ổng “nhất ngoặc, nhì thân, tam thần, tứ chế”. Ổng có thần thế, sẽ giới thiệu cô vô ngành giáo dục he.
    - Hừ! Em mà giỏi cái nỗi gì.
    - Cô nói láo một cây xanh dờn hén.
    - Em hỏi chị chớ: Thầy cô đi dạy, ít ra cũng phải có ba bốn bộ đồ, để thay đổi. Còn em, chỉ có hai bộ dính da. Trời mưa em giặt đồ phơi không kịp khô. Thì làm ăn cái nỗi gì!
    - Tại vì: “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.
    Áo quần bán trước, cửa nhà bán sau.
    Bác Hồ khuyên ăn cơm rau.
    Đừng ăn thịt cá, mà đau dạ dày”
    (1). Nghe ra chưa?
    - Ui Trời! Chị dám rên la he. Em… hổng dám à nha.
    Bà Liêm háy nguýt một cái dài lê thê, chanh chua:
    - Cô nghe cho rõ nè:
    Một năm hai thước vải thô.
    Nếu đem may áo, cụ Hồ ló ra.
    May quần thì hở lá đa.
    Chị em thiếu vải, hóa ra lõa lồ.
    Vội đem cất ảnh bác Hồ.
    Sợ rằng bác thấy tô hô, bác thèm.
    Có áo mà chẳng có quần.
    Lấy gì hạnh phúc hỡi dân cụ Hồ?
    Có đói mà chẳng có no.
    Lấy gì độc lập, tự do hỡi người?
    (1)
    Bà Cát:
    - Mắc mớ gì mà rên la. Tui có làm nên chế độ chế đá chi. Cô hổng thấy bên Tây, người ta có thịt, cá, ê hề, đầy nhóc, nhưng mà họ chỉ thèm ăn rau toàn là rau thôi, dù rau mắc hơn thịt gà thịt heo, thịt bò... đó sao.
    - Thôi. Đừng nói nữa, không khéo nói lung tung beng, mang tội chống báng chế độ, thì bị tù mọt gông đa, mấy chị ui.
    - Tui có hai cái cùi chỏ. Sức mấy dám “chống” đối ai. Chống gậy đi thủy lợi, thì có. Ai không đi thủy lợi, thì không có phiếu lương thực đã đành. Còn phải lên Ấp, lên Huyện “học tập cải tạo tư tưởng”. Hứ! Học tập cái ngữ gì hổng biết, một chữ bẻ đôi không rành, không biết, dốt còn hơn con bò tót, mà đòi đi dạy dỗ những tay trí thức học tập “cải tạo” toàn tướng tá bác sĩ kỹ sư không hà, cải tạo ai hử!? Đừng nên dùng chữ cải tạo nếu không có dấu ngoặt kép à nha.
    - Đúng thế!
    * * *

    Có lần tôi bị đau nặng không đi thủy lợi được, thì họ bắt bà mẹ già cuả Luật đi làm việc “bù” không công. Mẹ chồng hơn bảy mươi tuổi lặn lội mót lúa, mót sắn, mót khoai… Vì “lao động là vinh quang”, mẹ đi bắt ốc mò cua, tửng bưng sáng mẹ mò mẫm ra đi khi trời còn đầy bóng tối. Rồi, tối mịt mù mẹ lò mò đội lúa trên đầu, mệt mỏi trở về. Mẹ làm việc nặng nhọc, cực khổ, nhưng mẹ luôn ăn cháo, không đủ sức “lao động phấn-đấu”. Nên đặc biệt ở trong nhà tôi chỉ một mình mẹ già được ăn cơm tấm pha ít cám chấm muối mè gói trong tàu mo cau! Sự thật 100%.

    Hôm sau, hai đứa con nhỏ bé nhất của tôi có bổn phận phơi lúa, trở lúa, cào quét lúa đem vào nhà, không để mất sót hạt ngọc Trời ban. Chiều chiều, mấy mẹ con tôi lo giả gạo trong cái nón cối sắt (quý phẩm độc đáo cuả “tàn dư đế quốc Mỹ & Nguỵ” ấy là mũ nón “nhà binh”). Dù quân nhân khả kính chế độ cũ nay không còn, nhưng mỗi lần xử dụng chiếc nón sắt của anh quân nhân nào đó, tôi thấy cảm động bùi ngùi và nghẹn ngào thường âm thầm trào nước mắt.

    Tuy lúa tươi phơi chưa khô, nhưng vì nhiều ngày không có tí gì ở trong bụng, nên chúng tôi tốn nhiều thì giờ phải giả lúa mót được ra thành gạo. Sàng sảy thế nào vẫn bị trấu, cám, bám chặt vô hột tấm, vì lúa còn tươi, nghĩa là chưa phơi khô còn mầm sữa, thì hạt gạo đã vỡ nát. Đói quá, chúng tôi đành nấu nồi cháo tấm cám nham nhám độn củ mì rau dền, rau lang, rau đắng mọc hoang. Chúng tôi luôn luôn ăn nồi cháo độn, bữa ăn quá sức tệ; thua bầy heo mập ú của nhà “con mẹ cán bộ xu thời xu thế Thân”. Mỗi khi húp chén cháo nham nhám lẫn lộn vỏ trấu và hột tấm cám nầy, ai nấy trong gia đình tôi đều nghẹn ngào cúi mặt não nùng mà không thể khóc, nước mắt lưng tròng nhưng không trào ra khoé mi. Giòng nước mắt trẻ già đều khô cạn!?

    “Nhà tôi” là một căn gia binh bỏ hoang trống-trơn từ trước ra sau, nhỏ và dài như cái hộp hình chữ nhật, mặt trước và mặt sau không có cánh cửa lớn, và mặt tiền có khung cửa sổ nhỏ, còn những cánh cửa thì bị ai đó chôm chỉa tháo gỡ hết từ bao giờ, chẳng rõ! Hoàn toàn trống trơn từ trước ra sau, không bàn, chẳng ghế, tủ, giường. Chúng tôi chỉ có: một thau giặt, một thau rửa chén, một cái rổ, hai cái nồi đem theo từ ngày ở nhà thờ Huyện Sỹ: Nồi lớn chuyên dùng để nấu cháo, họa huần lắm mới có một bữa cơm tấm pha xí cám và khoai sắn độn. Một cái nồi nhỏ dùng luộc rau, hoặc kho tí muối quẹt. Một cái bình nhôm to để nấu nước sôi. Đôi thùng thiếc gánh nước. Sáu tô nhựa lớn, sáu muỗng, sáu đôi đũa, vài cái dĩa sứt vành. Một bao quần áo mặc thường ngày. Một bao cói đựng đồ vặt, một bao cói đựng hai chiếc mùng đôi màu xanh. Cái mền làm bằng bao cát Mỹ. Một valy da sang trọng mang theo từ ngày ở Đà Lạt di tản về đây (vì hồi xưa gia đình tôi ngồi trên nhung lục giàu sang với nhà lầu ba tầng gạch đúc, có xe hơi Peugeot 404 mới toanh; Nhưng nhờ bác và "đảng ưu việt giải phóng”, nên tôi đã bỏ lại hết để... ra đi là chết trong lòng một ít! (Partir, c' est mourir un peu!). Đó là tất cả gia tài quý giá của gia đình tôi trong XHCN. Chúng tôi phải giữ bo bo chằng chằng bên người những đồ vật cũ mèm ấy bất ly thân, vì hở ra một xí là bị mất trộm chiếc nón sắt liền, kẻ cắp vờn quanh xóm nghèo như rươi!

    Nằm dưới manh chiếu cũ nát láng đen và thô thiển, ngửa mặt nhìn trên nóc nhà, tôi thấy ngàn ánh sao xuyên qua lỗ tôn xi măng thủng vì bom đạn. Ngày nắng chói chang thì mặt trời soi rọi xuống vạt chiếu, khiến chiếc chiếu càng dòn đã bể nát vài chỗ, chiếu và nền xi măng hầm hập nóng muốn lột da lưng. Mùa mưa ở trong nhà thì nước lụt ngập lên gần bắp chân. Nước trên mái tôn lủng trút xuống ào ào như thác Preen, nước ngoài sân cao hơn nền nhà ở tứ phía tràn vô. Mẹ, con, bà, cháu lội lủm bủm, bì bõm, chúng tôi cùng thi nhau cúi cúi tát tát nước trong nhà ra ngoài sân, như tát ao, tát đìa. Đó cũng là môn thể dục... "dục với dịch" trong XHCN. Chúng tôi cố gắng làm tận sức, vã mồ hôi hột trong cơn mưa, vẫn không thể ngăn nỗi cơn lũ ào ạt tràn vô căn nhà bị thấp hơn mặt đường. Trong nhà nầy đã trở thành một cái ao. Nhiều lần chúng tôi đành chịu thua, bà cháu mẹ con vịn nhau, đứng dựa lưng vào tường, ngâm chân trong nước bùn hôi thối, mệt lử mà ngủ gà ngủ gục. Thế là bệnh thấp khớp cả nhà tôi "phát sinh từ khi có bác Hồ"! Sự thật quá bi đát và não nùng luôn phơi bày không thể che dấu sự nghèo nàn thảm thiết!

    Mãi về sau này (1980) biết khôn hơn, năm mẹ con tôi đi tìm các nhà gia binh bỏ hoang, con trai lớn mượn cái “búa tạ tày xồi” của ông bà Hùng, con dùng búa đập tường. Mẹ con khệ nệ ì ạch bưng từng viên gạch táp lô về kê lên cao cao, để làm thành “cái giường”, hầu tránh nước lụt. Khổ nỗi, khi đã có cái giường “siêu tổ chức xã hội chủ nghiã” nầy, thì rệp, rận, gián, và muỗi núp dưới các khe hở nhiều vô số kể, chúng luôn bòn rút máu của chúng tôi. Đó là “nhà của chúng tôi” về mùa Hè luôn luôn nóng hầm hập như lò lửa. Mùa mưa ngập thành một cái ao bùn đầy nước bẩn. Đó là nơi nương thân của những kẻ không có tương lai, không có cuộc đời tươi sáng, không có ngày mai hứa hẹn hạnh phúc, tốt đẹp hơn trong xã hội đương thời 1975 > 1985.

    Một hôm tửng bưng sáng mẹ già đi ruộng mò bắt được mươi con ốc, năm ba con cua, và một con cá lóc nhỏ bằng ngón chân cái. Về ngang bờ kinh, mẹ hái thêm chục dọc môn dại. Hôm đó, khi tôi đi "vá dù" về nhà, (vá dù là một nghề mới toanh của tôi sau khi "đổi đời", tôi sẽ xin hầu chuyện cùng quý vị ở một chương sau)- mẹ chồng bảo tôi:
    - Con nấu nồi cháo đặc, thật đặc nhá, chứ cả nhà ta luôn luôn ăn cháo lỏng bỏng, ruột mẹ cứ cồn cào, xót xa thế nào ấy.

    Vâng lời mẹ, tôi cẩn thận nấu nồi cháo: độn một bó rau muống, ba phần củ sắn mì, hai phần dáu môn, và một phần gạo tẻ (gạo là do đi lượm mót lúa ngoài đồng, con trai đội về, tôi và con nhỏ dùng cây cột bờ rào của một nhà bỏ hoang, đem về rửa sạch, dùng cây cột nầy làm thành cái chày mà giả bằng tay trong chiếc nón sắt, rất chu đáo và công phu). Các con tôi ra giếng công cộng tắm rửa xong. Các con gánh về hai thùng nước. Tôi múc ra sáu tô cháo, để xuống nền xi măng loang-lỗ vết đạn cày xới.

    Sau khi mời bà nội, mời mẹ, anh em vui vẻ mời nhau ăn cháo. Các con tôi hí-hửng cười reo dưới ánh trăng tròn, (chúng tôi sống ở “trong bóng tối”, chỉ nhờ trăng soi sáng, thì dùng đèn dầu làm chi, cho hoài phí của đi! Nếu ngày nào không có trăng tỏ, thì chúng tôi lo ăn cơm sớm). Cứ thế, các con của tôi sung sướng bưng tô cháo, hí hửng đưa lên miệng, húp rột rột, (vì hôm nay đặc biệt có thêm mùi vị của con cá lóc) coi thật ngon lành. Bỗng, các con đồng thanh hét to. Đứa quăng tô xuống nền nhà. Đứa nằm lăn lộn trên nền nhà lỗ chỗ. Đứa dùng hai bàn tay cào móc cổ họn. Các con vật vã rên siết la làng, khóc lóc tru tréo inh ỏi. Mẹ già kêu rú lên quá to, bà dựa lưng vào tường, trợn trắng mắt, thở dốc và ho sặc sụa. Tôi đã húp ba bốn muỗng cháo, tự dưng cổ họng rát bỏng, ngứa cồn cào, ngứa điên cuồng, tôi cào móc khạc nhổ thế nào, cũng không bớt. Mặt, môi, lưỡi, họng, cả nhà chúng tôi đã phồng rộp, sưng vù, đỏ choét. Thì ra, chúng tôi bị dị ứng hay suýt bị ngộ độc, vì ăn phải mấy dọc môn dại hay sao!?

    Tôi vội chạy ra thùng thiết dật dờ múc gáo nước, khuấy muối, vắt mấy trái chanh đưa cho mẹ già. Tôi kéo các con chạy đến thùng nước thứ nhì, cứ như thế, tôi bắt các con móc họng ói ra, súc miệng, nhổ đi nhổ lại nhiều lần. Bà cháu, mẹ con chúng tôi đều bị đau nhức cổ họng, ngứa rần rần cuống cổ và môi miệng sưng vù, đỏ hoét, kinh khủng ghê lắm. Thân thể chúng tôi đều bần thần, bụng cồn cào vì ói ra mật xanh mật vàng, và nhịn đói nên càng mệt rã rời, hầu như bại xuội rị mọ vất vưỡng lọt tọt dìu nhau đi ra giếng tắm giặt. Lòng buồn xo như xé tâm tư.

    Ôi! khổ nỗi một miếng ăn độn tồi tàn hơn nồi cám (của con mẹ Thân) cho heo ăn, thế mà cả nhà chúng tôi cũng không thể nuốt trôi vô khỏi cuống họng! Ngày Tết Nguyên Đán cũng như ngày thường suốt cả tháng mười năm dài đằng đẵng, gia đình tôi nằm co ro trên cái giường táp lô, chúng tôi bị đau đớn quá độ, không tiền thuốc thang, đành vật vã ôm bụng nhịn đói. Chúng tôi không thể ăn nồi cháo đặc khổ qua con cò rị mọ làm thân con rùa. Ôi! Bài học ăn cháo đặc ấy trong tận đáy xã hội, chúng tôi ghi nhớ suốt đời. Ấy là lúc xuân xanh của tôi vừa tròn:
    “Trai ba mươi tuổi còn xoan.
    Gái ba mươi tuổi đã toan về già”
    &
    Bác Hồ chết phải giờ trùng (1)
    Mẹ con chúng tớ nay khùng mai điên...
    Khùng điên vì chẳng có tiền
    Sống trong "chủ nghĩa"... không điên cũng khùng...

    Tôi "thật thà khai báo" và bảo đảm rằng ở trong "xã hội chủ nghĩa đổi mới tư duy" nầy, thì hầu như "đốt đuốc đi khắp miền Nam Việt Nam sẽ không có "người vợ tù cải tạo" nào quá sức khổ cực đi mót bịch ny lông hôi thối, cam chịu sống cuộc đời đắng cay nghèo khổ, hèn mọn trăm bề như tôi, cùng mẹ chồng, cùng con ngược xuôi suốt bao nhiêu năm qua. Chúng tôi vẫn "thuỷ chung" cùng nhau vượt qua trở ngại căm go để vươn lên. Vậy thì... kính gửi quý anh chị... & xin thông cảm về nỗi đau của người vợ tù “cải tạo” ngày ấy. Anh thương ơi! Bây giờ (1985) anh ở tù “cải tạo” nơi nao!? Hẳn là anh thấu hiểu cho hoàn cảnh đau thương, bi đát, khốn cùng của bà cháu mẹ con em bây giờ rồi, hở anh!? Ôi! Mùa Xuân qua ngày Hạ suốt từ năm 75 - 85!!! thật trăm bề gian nan: Hoặc là anh đang giống như:

    Như một người già ngồi nuối tiếc dĩ vãng xa xưa...
    Như một danh tướng ôn lại những chiến tích oai hùng!
    Như chim trong lồng ai oán nhìn bầu trời bao la.
    Tôi mất Sài Gòn, nhưng thành phố vẫn sống mãi trong tim tôi.
    Nhưng tôi không là người già, thì vẫn còn tương lai.
    Tôi không là danh tướng, nên chẳng chiến công nhiều.
    Tôi không là chim trời mãi mãi mất tự do.
    Tôi chỉ là con bệnh trong cơn đau chung nầy.
    Rồi sẽ hết, rồi sẽ hết những tháng năm đau thương trong cuộc đời!
    Rồi sẽ khỏi, rồi sẽ khỏi. Hãy uống chén thuốc đắng nầy.
    Rồi sẽ thấy, rồi sẽ thấy những tháng năm đau thương trong cuộc đời.
    Rồi sẽ khỏi, rồi sẽ khỏi. Hãy uống chén thuốc đắng nầy. (2)
    ***


    Tình Hoài Hương

    (1) Lượm lặt sưu tầm
    (2) “Uống chén đắng” Lời và nhạc: Cung Mi
    *
    Last edited by khongquan2; 07-11-2017, 05:59 AM.
    Bút trần nào tả được lưu luyến!
    Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
    Tình Hoài Hương

    Comment

    • Tinh Hoai Huong
      Senior Member
      • May 2009
      • 1081

      #212
      Mẹ Đi Thăm Con ở chốn Lưu Đày.


      Mẹ Đi Thăm Con Ở Chốn Lưu Đày.


      Từng dòng lịch sử và dòng thời gian dài lê thê vùn vụt trôi qua theo tiếng còi tàu tốc hành hú từng hồi lát gừng, giống như tiếng nấc cụt, con tàu từ từ xục xịch ục ịch rên siết, hì hục, lết lết, rọt rẹt chuyển bánh. Con tàu dường như nhão mục, rền rĩ rung chuyển, rung rinh, lắc lư thụt lui thụt tới, cạ quẹt, nghiến trên hai thanh tà vẹt hoen màu rỉ sét. Khói toả thành một lằn dài ngoẵng, khói bay mù mịt cả một góc trời, than khói đen đen xám xám kéo theo đoàn va-gông cũ kỹ, xập xệ lắc lư. Tôi nghe thật nhức óc và điếc con ráy quá chừng! Bởi do:
      Có phải Đảng đã trả thù ác độc
      dân miền Nam, sau khi cướp miền Nam
      Nhãn "cải tạo", mác "khoan hồng, học tập"
      Thực chất giết người quỷ quyệt, dã man?
      (Ngô Minh Hằng)

      Vẫn những toa tàu chật như nêm chở đầy nhóc hàng hoá cồng kềnh ngổn ngang. Hành khách hỗn độn từ ga Sài Gòn đi về miền Nha Trang lố nhố bu đầy trên bậc cấp, trên mui trần, bên những ô cửa. Họ la hét, xô đẩy, giành giựt chỗ ngồi náo loạn. Tất cả những toa xe đều huyên náo, ồn ào kinh khủng. Nhân đó nạn sờ mó, móc túi, cướp bóc tràn lan trong toa tàu. Dù có tên công an Tiểu-đoàn đường sắt chống trộm cướp thủ củ súng và cây dùi cui lăm le trong tay, ông ta đập cây dùi cui chan chát trên ô cửa, lớn tiếng oang oang la không ngớt, tay chỉ chỏ ra lệnh đóng hết cửa tàu. Cuối cùng ổng đứng áng ngữ ở bậc thang cửa lên xuống tàu, ổng cũng không thể ra oai; mà đành ngao ngán giương mắt trơ ra nhìn.

      Bà mẹ chồng, các con trai, & tôi đang ngồi trên tàu lửa chật như nêm, họ nhét chúng tôi ngồi chung với bầy súc vật ngổn ngang: Gà, vịt, ngỗng, ngan nhảy lên đầu lên cổ chúng tôi kêu quang quác, heo eng éc, chó tru; chúng đồng loạt kêu la rần trời, nghe quá đinh tai nhức óc. Không những thế, mà áo quần chúng tôi bị trét đầy phân heo, phân chó hôi thối khủng khiếp. Khổ nhất là khi chúng tôi đáp tàu chuyến, tàu chợ, xuống tàu để lên xe vô Xà Bang cách Bà Rịa 28Km về hướng Bắc Đông Bắc, xa Xã Cẩm Mỹ 6Km về hướng Nam. Xà Bang nằm cạnh Liên Tỉnh Lộ số 2, (từ Ngã ba Tân Phong, Quận Xuân Lộc, thuộc Tỉnh Long Khánh) thăm Luật.

      Về sau nầy Luật bị chuyển trại ở Long Giao, vô Z 30. Không có tiền, nên nhiều lần mẹ con bà cháu trụt xuống tàu lửa, hay xuống xe tại ngả ba Ông Đồn, Xuân Lộc, rồi đi bộ ngang qua trại “tù cải tạo” Z 30 C, Gia Rai (chúng tôi phải đi ngang qua trại tù Z 30 C ở đồi Phượng Vỹ. Hồi xưa do Trung-đoàn 48, thuộc Sư-đoàn 18 Việt Nam Cộng Hoà trấn giữ.) Muốn đi vào trại tù Z 30 A – hay Z 30 B - xa rất xa. Rất xa. Mưa ào ạt đổ xuống khu rừng rậm, thế nên thiên nhiên được kỳ cọ rửa sạch cây cối, và những láng trại tù, nóc nhà tôn, nhà lá... Rừng cây trở nên dịu dàng vì vừa qua trận mưa to đã tắm mát núi rừng.

      Mẹ con tôi vội vàng lẽo đẽo theo sau những chị vợ tù, mẹ con tù. Họ từng đi thăm nuôi chồng, cha, con... trên đường rừng đồi nương nầy có ngỏ tắt thì sẽ đốt giai đoạn, sớm vào láng trại tù nhanh hơn trước khi trời chuyển mưa, hay trời chóng sập tối. Mẹ con bà cháu chúng tôi cố rảo bước, chỉ sợ chậm lại thì sẽ bị lạc mất những người ấy và không thể tìm đường đi. Cỏ tranh cao lút đầu bọn trẻ đã cào xướt vô da những lằn dài đỏ tươm máu và rát bỏng. Hoa mắc cỡ và cỏ may rậm cũng cao gần đến bụng con, bông cỏ xâu vô hai ống quần, chích vào chân chúng tôi ngứa ngáy, khó chịu dường bao. Ve chó, ve đất, châu chấu, cào cào, ruồi trâu và muỗi cứ bay ào lên từng đoạn, mỗi khi chúng tôi bước qua khu đường tắt trong rừng sâu.

      Trại tù Z 30 là một trong muôn vàn trại tù mọc lên đông đen nhiều vô số, ấy là thành trì cốt cán chặt chẽ, độc ác tróc khảo, lột da con người kinh khủng, do đảng và nhà nước dựng lên, để cai trị tù “cải tạo”. Tù nhân "chính kiến" bị dời đổi đi luôn luôn, xáo trộn lung tung tùng phèo lên như thế. Vì đảng, nhà nước, cán bộ rất sợ! Họ không muốn người tù ở lâu một nơi, cùng nhau ở chung một chỗ, thì tù nhân sẽ dễ dàng kết thân với nhau, sẽ bí mật “tạo phản, phục hồi danh dự, và phục quốc, phục quê”. Chả phải trai tráng đi “học tập cải tạo” (Reeducation Camp) nghe "rất kêu" như voi rống hổ gầm trong rừng sâu nước độc gì sớt! mà trăm ngàn tốp tù chuyên môn đi khổ sai “lao động là vinh quang”.

      Tốp tù kia ở trong vòng rào thì lo đào ao, tốp khác phải đi gánh phân, múc nước đái tưới rau tươi để gieo trồng. Trong lều bên góc trại có dựng lên một lò rèn thô sơ bằng tay, để tù nhân vào đó rèn rựa, rèn dao. Tù phải tự làm thợ rèn dao, rựa, cuốc, xẻng, cào; để đi cuốc đất, trồng ngô khoai đem cho đảng và cán bộ ăn. Tù vác xẻng đi đào mương khai cống rãnh. Tốp tù được đi rừng, nghĩa là đi ra ngoài vùng người dân đang sinh sống, thường có phần "thong thả và tự do" hơn chút chút so với những anh tù ở trong láng trại, vì họ có thể đi ra ngoài rừng chặt cây, lấy củi, chặt tre đốn gỗ để làm nhà tù. Dĩ nhiên có mấy tên công an kè kè súng theo sau. Họ làm thành nhà tù xong thì tự nhốt mình trong những láng trại xa xôi hẽo lánh: mùa nóng thì nóng lột da, mùa lạnh thì lạnh thấu xương.

      Nơi tiếp tân của trại tù: trên bàn quản giáo có chiếc hộp để “Góp ý”. Thật ra, đấy là nơi dùng để làm “cần câu”, theo dõi, đấu tố nhau, điềm chỉ “cho chắc cú thấu triệt” hơn. Muốn thăm tù thì tại đấy có nhiều thủ tục đơn từ khai báo lỉnh kỉnh, lẩm cẩm, rườm rà, và mỏi mòn chờ đợi. Chúng tôi bồn chồn nôn nóng lo âu chờ đợi vài giờ, nhón gót dáo dác nhìn quanh, mẹ con cứ đi ra lại đi vô. Trong hàng rào phân định làm thành mô hình chữ U, là bảy dãy nhà tù lợp tôn, lợp lá đối diện nhau. Phân đôi giữa những dãy tù là khoảng sân vừa đủ rộng. Đi xuống dãy nhà bếp và bốn dãy nhà tù biệt giam. Nơi đây tù nhân bị mang gông cùm lởm chởm, cornex thì ở tít sau mé xa cuối cùng trong vòng kẽm gai, nơi đó các anh bị đọa đày khổ cực, khốn cùng đắng cay, đau đớn thân xác, khổ sở vô vọng hết biết. Tù nhân bị tù không bao giờ biết ngày tuyên án, chẳng biết lúc nào ra khỏi nơi qủy khóc thần sầu!

      Đến giờ "được phép thăm nuôi" khi tôi đặt những túm quà lên bàn, thì cán bộ lấy cây que tăm xe đạp thọc vào moi móc tỷ mỷ khám xét những thỏi kem đánh răng, rất lâu. Nhưng, thành thật mà nói thì mẹ con tôi sợ tên quản giáo (mà chúng tôi rỉ tai nhau: "Hắn có bộ mặt “Lucifer”) coi ở phòng khách, ai nấy đểu sợ gấp trăm lần sợ người mang bệnh cùi lở loét. Chỉ sơ suất một điều gì, thì kể như chúng tôi không được cho phép thăm viếng, không thể chuyện trò với chồng, con, cha, gì sớt. Nhưng nói cho cùng, không phải cán bộ trông coi trại giam, là ai ai cũng "ác ôn côn đồ độc ác" cả đâu. Bằng chứng là có duy nhất một cán bộ tên Nhượng biết điều, ông ta đối đãi với tù khá tôn trọng, từ-tâm, dễ dãi, có tình người hơn nhiều người cán bộ công an cộng-sản khác.

      Chúng tôi nhìn qua khe hở hàng rào gỗ cao lút đầu mình, tôi thấy đoàn tù khoảng mười lăm người đang lần lượt nối gót nhau ra nhà khách. Trên mặt họ chảy dài những giọt mồ hôi hột, sau lưng và trước ngực áo ướt đẫm mồ hôi, những vệt mồ hôi trong ngày tháng cũ bạc phơ, đang sột soạt từng đám, đã bện chung với những đám hô hôi mới rịn ra hôm nay. Trong cơn bấn loạn, sợ hãi, và băn khoăn tột độ, mẹ con chúng tôi dáo dác nhìn quanh, cố tìm khuôn mặt người thân. Tôi lặng người nhìn những khuôn mặt vàng bũng, nhận ra nét cằn cỗi, già nua, hốc hác, bơ phờ và ốm đói, mỏi mệt, từ những lằn nhăn bên khóe miệng người tù, trên đuôi mắt hằn lún những đường rãnh trên vầng trán phong sương cao cao sạm nắng gió khuya chiều, mà bỗng dưng tôi cảm thấy mình chới với bủn rủn.

      Nhà khách im phăng phắc nghe cán bộ đọc tên tù "cải tạo" và ông ta ấn định cho tù ngồi đúng chỗ xong, những anh tù vừa ngồi xuống dãy ghế gỗ, thì mọi nơi, mọi chỗ, mọi người đồng loạt rộ lên tiếng nói rộn ràng lao xao, ríu rít như bầy ong vỡ tổ. Người người bùi ngùi, thân thiết mừng rỡ trong nghẹn ngào, nức nở xúc động bồi hồi chào mừng nhau, rưng rưng nghẹn ngào hỏi thăm, an ủi nhau, vỗ về nhau, tay me con chúng tôi luôn quệt nước mắt, trào tuôn hai hàng nước mắt. Nhưng những anh tù "cải tạo" ngậm ngùi uất nghẹn cúi đầu mà không thể khóc, miệng họ cố mỉm cười méo mó, để che dấu nỗi chua cay xót xa, đầy đắng chát tủi nhục vô trong lòng.

      Tôi và Luật có khác gì nhau, chúng tôi đều ở giữa hai vòng ngục tù quê hương. Gia đình tôi (nói riêng và đa số gia đình bạn tù nói chung, cùng đồng bào thì ở tại vòng ngục tù bao la ngoài chấn song vô hình, khổng lồ đồ sộ và vô cùng kiên cố). Tù "cải tạo" thì từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, lan ra tận Phú Quốc, Côn Sơn, đều giống nhau. Trước kia Luật đã ở các trại tù: Suối Máu - Ra Phú Quốc - Về trại Long Giao…vân vân… Sau đó chuyển tới trại Z 30 A. Rồi chuyển qua Z 30 B. Gia Rai – Xuân Lộc. Chồng tôi ở vòng tù trong địa ngục, và đôi khi anh bị cùm trong vòng tù thứ ba là nơi chuyên giam nhốt ai có “trọng tội”, bị xiềng xích hai tay hai chân, khi bọn cán bộ hành hạ tra tấn "tù" xong, thì bị nhốt vào nơi cùm gông dành riêng cho "thứ dữ".

      Quả thực, hồi nhỏ ông chồng tôi, có tên cúng cơm rất là dễ sợ, do bố mẹ đã đặt cho ảnh cái tên: “Phạm Trọng Luật” thật. Nhưng khi lớn lên, Luật đi học đến lớp Nhất, thì bị thầy giáo vui tính gọi bố mẹ lên, thầy ôn tồn nói:
      - Tên gì cụ không đặt, lại đặt cho con cụ có cái tên kinh khủng đến thế. Nếu cậu ấy không có "tội", thì cũng vì "phạm trọng…" mà vô tù, nghiã là đi tù ây.
      Ông thầy giáo “làm phụ thầy bói" như thế mà linh! Nay ảnh đã bị “phạm trọng luật” (!, ?), mà đi tù ngót 10 năm, bị học tập "cải tạo" sao ta!? Có lần chồng tôi cười cười trêu đùa:
      - Em ơi! Anh có muốn đổi tên thật phí, vẫn bị lừa như thường.
      - Mắc gì đổi tên mà bị… ai lừa nào!
      - Thì anh không đổi tên họ, mà vẫn phạm trọng luật, (!?) đi tù, thì xong béng đời trai là cùng chứ gì!

      Chúng tôi hết sức lo lắng về tình trạng bệnh sốt rét của Luật, nhất là đôi bàn tay anh đã lở loét, bàn chân anh làm độc dạo trước, (do bị cán bộ y tế trại kêu anh vào làm thí nghiệm, ông ta lấy con dao bầu cắt rau trong nhà bếp, cứa cứa vào chỗ đau, xịt máu mủ ra. Chẳng có sát trùng, sát triết gì. Không có thuốc tê, thuốc bại gì ráo. Luật đau đến ngất thì thôi). Mặc dù Luật đã ở tù mươi năm rồi, mỗi tháng anh đều được giấy cho đi thăm nuôi, nhưng gia đình tôi quá nghèo. Một năm chúng tôi chỉ chia nhau đi thăm nuôi Luật khoảng năm bảy lần. Có năm chúng tôi không đi nỗi.

      Cho đi thăm nuôi tù, thật ra nhà nước chẳng ưu ái khoan hồng, tử tế hay tốt lành gì. Cho phép người ở vòng tù ngoài đi thăm nuôi vòng tù trong, chẳng qua là đảng muốn tù ngoài gánh vác đỡ bớt gánh nặng nuôi miệng ăn ở tù trong. Mặc dù tù “cải tạo” ăn ngày non bữa, bỏm bẻm chỉ có một muỗng cơm lạt độn bo bo hoặc sắn khoai với vài hột muối. Do số lượng tù quá sức đông, nếu chiết tính sơ sơ, đảng cũng nát óc điên đầu, nhà nước khó khăn, nan giải trong vấn đề gạo thóc mắm muối của đảng, thì dù tí cơm gạo tẻo teo cho tù nhân; cũng là chuyện không thể. Luật thấy rõ hai túm quà bé tí nị, mà gia đình mang vào cho anh, nhưng quý giá gấp mười lần cá, thịt: Đó là tất cả sức cần lao, đói khát, gian khổ, từ mẹ già răng long tóc bạc. Từ những bàn tay các con gầy bé tí xíu, từ người vợ mảnh mai. Họ đã nhịn đói, nhịn khát, thiếu thốn trăm bề ngỏ hầu góp nhặt từng xu, từng đồng, họ cố gắng dành dụm, cúp nũm mang vào trại tù, cho anh ăn tạm qua cơn đói rã ruột.

      Dĩ vãng vinh sang xưa, anh: xe pháo rủng rỉnh, nhà cửa đình huỳnh sung túc an vui, thình lình ồ ạt chảy về trong hiện tại đầy ứ, quá khứ phản bội khiến anh xốn xang chóng mặt đến hụt hơi. Vì, chuỗi lao tù cay cực kéo dài trước hàng chữ: “Không có gì quí hơn độc lập tự do”. Mỗi lần gặp mẹ ruột, vợ, con: mệt mỏi đến thăm, Luật chỉ ôm chúng tôi khóc ròng. Anh khóc, không vì cảnh “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”. Mà bởi anh rõ hơn ai hết, khi nhìn mẹ gầy trơ xương, nhìn vợ ốm yếu, nhìn đàn con nheo nhóc khẳng khiu, yếu xìu, xanh lướt kia đang rưng rưng giọt lệ mừng vui cuống quýt. Luật lặng người nhận ra nét già khú đế trên khuôn mặt mẹ xếp lớp lăn tăn. Anh đau đớn nhìn những hố mắt con thơ còn quá nhỏ trũng sâu. Và, nơi khuôn mặt cô vợ hoa hậu diễm kiều mặt hoa da phấn năm nao, bàn tay búp măng nõn nà thuở xưa quá xinh. Nay “em tôi” có từng đường gân xanh nổi cồn bên thái dương, nơi bàn chân nứt nẻ, tróc lở, ở bàn tay sần sùi của “nàng”! Luật mủi lòng chẳng sợ ai cười chê, anh đã úp mặt vô hai bàn tay nứt nẻ mà khóc tướng lên, như trẻ thơ.
      ***

      Lui cui dọn dẹp mấy bọc ni lông đựng túm xôi đậu xanh, tôi nhồi thêm ít đậu phụng rang vào thau xôi, để lát nữa sau khi hết giờ thăm nuôi, Luật sẽ xách vô trại để cùng anh em bạn tù chia nhau tí quà, (thay vì Luật và mẹ con tôi ngồi ở đây, vừa ăn vừa nói chuyện, sẽ mất thì giờ, mà không nói được chuyện gì), thì tôi sửng sốt chợt thấy một đoàn hai chiếc xe hơi, từ ngoài con đường đất đỏ từ từ lăn bánh vào, và dừng lại ngay bên ngoài cổng trại Z 30. Trên xe lố nhố kẻ đứng người ngồi, đa số là người mặc áo tang, tôi nghe họ khóc than thảm thiết lắm. Tên cán bộ trại liền ra lệnh cho những người đang thăm nuôi dồn lại ở một cái bàn dài trong góc cùng. Tôi còn ngơ ngác và lo lắng nhìn quanh, Luật thì thầm:

      - Anh Trung-úy Long, tù ở trại Z 30 B, hiện làm tại tổ than của trại tù. Anh Long được tin mẹ ở Khánh Hội đã chết. Dù có giấy báo tử, anh Long tức tốc xin phép trại trưởng, cho anh về nhà một ngày, để phục tang. Nhưng họ kiên quyết không cho. Nên hôm nay, thân nhân của anh Long đưa mẹ về quê an táng tại Phan Thiết. Trên đường đi về quê, xe tang ghé qua trước cổng trại, họ xin phép trại trưởng cho anh Long ra đứng bên trong cổng, ngay dưới hàng chữ: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, để lạy chào mẹ lần cuối cùng.

      Bần thần chua xót và vô cùng cay đắng, uất nghẹn đến nghẹt thở, khi tôi tận mắt chứng kiến cảnh anh Long xanh lướt, thân thể anh héo hon thất thểu ra cửa trại tù. Anh chập choạng ủ rủ như người mất trí, như người say, anh như thân cây sắp ngã. Anh Long lê từng bước thấp bước cao ra tới bàn quản giáo. Anh run run ký tên vào sổ thăm nuôi. Đôi mắt anh Long sưng chù vù, mọng đỏ. Lúc ấy người nhà mang vào cho anh Long bộ đồ tang trắng, họ quấng lên đầu anh mảnh khăn tang, anh buông thỏng hai tay, đứng bất động như trời trồng. Anh Long để mặc họ xỏ áo thả gấu xỏ quần trắng cho mình như cậu bé con. Hai người thân kè xốc anh Long ở hai bên cánh tay, dìu đưa anh bước thấp bước cao ra cỗ áo quan mẹ lạnh giá. Như cái xác không hồn, anh Long run rẩy cầm ba cây nhang quỳ xuống mặt đường đất đỏ gồ ghề. Bỗng anh Long khóc rống tướng lên. Nghe thảm thiết lắm. Anh Long sì sụp lạy mẹ và bất thần rệu xuống. Chuyện nầy ai ai trong trại tù Z 30 cũng biết, có thật 100%.

      Bỗng dưng, từ thinh không rót vào tim tôi cảm giác rờn rợn, đau đau, phiền phiền uất ức, nghẹn ngào đau buốt rất vớ vẩn. Tôi để tiếng lòng ngân trong chiều Thu nhưng vẫn hầm hập nóng rần, dù gió heo may hái lá so đũa rụng đầy sân tù. Ôi! Vô vàn đau xót, chua cay và đắng chát nghẹn ngào, thương tâm dường bao! Những người đi thăm tù đang chứng kiến cảnh não nùng vĩnh biệt ly tan nầy, đều bưng mặt khóc. Nhìn mây trắng bồng bềnh trôi, như từng lọn bông gòn xôm xốp thao thức giữa hoàng hôn đượm buồn, tôi òa vỡ hàng nước mắt chảy ròng ròng xuống má. Cổng đập đã mở toang hoang, mọi nỗi niềm đau đớn được dịp tuôn trào. Tôi khóc vì quê hương lầm than. Khóc vì chồng đoạ đày khốn khổ trong ngục tù cộng sản. Khóc vì anh Long tuy xa lạ, mà có phần gần gũi do đồng cảnh ngộ và vô vàn thân thiết. Khóc vì mọi nhánh tình lưu vong bi lụy, người tù đoạ đày trên chính quê hương Việt Nam dấu yêu. Khóc mẹ chồng già nua khổ sở. Khóc các con thơ ốm yếu cơ cực đói khát. Khóc chính thân tôi rục rả ủ rủ tàn úa trước thời gian. Khóc ròng! Chuyện mẹ đến thăm con trong tù “cải tạo” cuả anh Long, đã có thật qua lời thơ của anh tù “cải tạo” Lê Xuân Nho:
      Xưa mẹ đến thăm con giữa chốn lưu đày,
      Thời gian leo lét cháy trên tóc bạc như mây.
      Tình mẹ thiên thu. Nhưng đời mẹ chỉ còn tháng ngày.
      Mẹ thường đến thăn con như mưa xuống cỏ cây.
      Trưa hôm nay nắng nhiều hơn cả gió!
      Có chiếc xe tang phủ đầy bụi đỏ N
      Trong chiếc quan tài, mẹ lại đến đây,
      Mẹ lại đến đây giữa chốn lưu đày
      Dù môi mẹ không còn hơi thở!
      Gió trong con nhiều hơn giông tố.
      Dù tim mẹ không còn nhịp thở.
      Đất lung lay, trời cũng xoay xoay.
      Mắt con lệ mờ, hay sương khói xa bay?

      ***

      Thạch sùng tróc lưỡi lỏ mắt nhìn gia đình tù dở sống dở chết, khi đất nước đổi đời. Số phận dân đen vùi dập trong bùn, sau ngày 30 tháng 4 mất nước. Đồng bào ngoài tù đói khổ lầm than. Luật ở tù trong một chế độ phi nhân, tàn bạo, dã man đáng nguyền rủa suốt kiếp. Suốt kiếp! Gây cuồng nộ triệu triệu con tim, làm kinh hoàng thế giới! Chúng tôi phải sống thầm lặng, đói nghèo, cơ cực suốt mười tám năm tẻ nhạt, hèn mọn, dưới tận đáy xã hội, giữa sự lạnh lùng, độc ác, phân biệt đối xử đầy bất công. Một sự thiếu thông cảm, không đức độ, hèn hạ trả thù dân tộc trắng trợn, chẳng vị tha và hoàn toàn không có sự đồng cảm, tương thân tương trợ trong lúc khốn cùng.

      Chao! Trời cao đất dày ơi! Xin Trời ở trên cao ngó xuống. Đất ở dưới ngóng lên. Hai bên giá vai có hai thánh linh biên chép, soi xét: Chứ, chúng tôi nào làm gì nên tội, sao phải gánh chịu cảnh đoạ đày, tù tội oan nghiệt, ô nhục đến thế nầy? Quá khứ chồng chất lên dĩ vãng quá đầy, quá nặng, quá đau. Tôi không thể tom góp ít chuyện đau buồn vào từng ấy nét phác họa sơ sơ, ghi vỏn vẹn trên năm bảy trang giấy, kể hầu quý vị nghe hết nỗi cùng cực, cay đắng, khiếp đảm xiết đỗi trên chính quê hương tôi. Dạ thưa! Không thể! Vã chăng, giờ nầy tôi ghi lại dòng “lịch sử đổi đời”, không mục đích để bôi nhọ làm xấu xí thêm trang giấy. Câu chuyện TÙ “cải tạo” rành rành ra đấy, cũng chả cần phải trách móc chế diễu ai. Tuyệt nhiên tôi không muốn lên án một cá nhân, hay chế độ nào. Tôi xấu hổ khóc thầm cho số phận hẩm hiu, thân khổ-qua con cò lò mò, con rùa cơ cực bẽ bàng quá đỗi đau xót. Thế thôi!
      ***

      Tình Hoài Hương


      ----

      Do một số đông thân hữu khẩn thiết nhờ THH tìm anh tù “cải tạo” có tên Long, năm 1982 anh Long đã bị tù ở trại Z 30 Gia Rai – Xuân Lộc. Vâng lời bạn, THH xin post bài viết đúng sự thật nầy. Tác giả chỉ biết tên anh Long, & không thể biết “Họ” và tên đệm của anh Trung-úy Long, tù "cải tạo" ở trại Z 30 B, làm tại tổ than của trại tù. Vậy, nếu tình cờ anh Long (hoặc thân nhân của anh Long) có đọc được bài viết nầy, xin vui lòng nhắn gửi tin trên HQPD nhé anh. Có nhiều anh bạn tù “cải tạo” trong Z 30A + B vẫn ân cần nhiệt thành hỏi thăm tin tức và bệnh tình của anh Long đấy ạ.
      Kính anh Long,
      THH
      E-mail đại diện nhóm bạn nay đã thay đổi :
      honuisong@yahoo.com
      Last edited by khongquan2; 07-24-2017, 09:05 PM.
      Bút trần nào tả được lưu luyến!
      Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
      Tình Hoài Hương

      Comment

      • Tinh Hoai Huong
        Senior Member
        • May 2009
        • 1081

        #213
        Đà Lạt Xưa và Nay… Ôi! Niềm Đau!







        Đà Lạt Xưa và Nay… Ôi! Niềm Đau!


        Thật khó diễn tả hết nỗi lòng ưu tư cảm xúc lâng lâng luôn dày vò tâm trí tôi về nỗi bâng khuâng, xao xuyến... khi đứng trên đỉnh đèo nhìn xuống khu vực Krong Pha: phong cảnh hữu tình ngút ngàn, bát ngát mênh mông, thơ mộng cận đường đèo quanh co uốn khúc gập ghềnh, nhấp nhô điệp trùng, cao tận lưng trời chót vót mây trắng ùn ùn bay bay dưới gót chân mình. Đèo Ngoạn Mục hùng vĩ thơ mộng nơi hạ giới xa xa... đã gieo vào lòng tôi bao tình khúc phong trần hoài cảm êm đềm, bâng khuâng suy tưởng mông lung. Tôi đang đứng trên vừng mây vờn sương muối quyện quanh gót chân “nơi bồng lai cao nguyên”, y hệt như trong tranh hồ thủy, tôi mơ màng nghĩ về bình nguyên và cánh đồng lúa lao xao bên dòng sông cạn xa xa ở lưng trời năm cũ.

        Nhìn lại ngọn đèo cao ngút ngàn lúc xe đò hổn hển thở khói phì phò đi qua với sự luyến tiếc vô vàn; vì có thể đây là những khoảng lắng phiêu bồng: sau nầy tôi chẳng bao giờ còn cơ may quay trở về chốn nầy, dù là niềm kiêu hãnh vinh quang trong dĩ vãng, dù chỉ thêm một lần im lắng xót xa luyến lưu trong hồi tưởng! Bởi vì 30-4 gia đình tôi lê lết trở về lại thành phố núi, sau ngày mất Đà Lạt, là tôi bị “mất dạy” ; từ khi đổ̉i đời, không còn làm nghề “gõ đầu trẻ”. Thế nên bị thất nghiệp, buộc lòng tôi đưa gia đình đi Sài Gòn, xuống tại Thành Ông Năm, Hóc Môn, để rồi trở nên đói khát dài dài...

        Đà Lạt cuốn hút tôi ngàn đời nhung nhớ hoài vọng ước ao. Nơi bỏ ngỏ trái tim tôi dại khờ ấp ủ mộng ngày xanh vui tươi nhí nhảnh mà lại đa tình. Đà Lạt xưa khoan dung dịu dàng mở rộng vòng tay trìu mến, nơi từng ôm trọn tôi vào vũng sương mù lả lướt, buông thả, dạt dào nỗi nhớ niềm yêu trong mỗi phím loan. Tôi nhớ da diết những cánh hoa muôn màu chen chân khoe sắc thắm trong nhiều ngôi nhà ấm áp xinh xinh, nhà nhà trên triền đồi hoặc dưới ven dốc chập chùng ẩn hiện nép mình bên vườn cây ăn quả trĩu trái. Có cây bưởi hoa trắng muốt toả mùi thơm ngào ngạt. Cây hồng mơn mởn. Cây chanh mọng nước. Cây quả mượt-mà ngày ấy cho tôi cảm giác vui vui, lâng lâng êm đềm, thi vị quá chừng!

        Trên đường phố quê hương Đà Lạt thân yêu nầy, ngày xưa tôi vẫn đi lại tung tăng, hồn nhiên, vui vẻ nhởn nhơ như cánh bướm buổi sáng mai gặp nắng tươi. Tôi ươm nhiều mộng đẹp như thời son trẻ mới chớm lớn, lòng dạt dào nung nấu sự hoài mong tưởng nhớ: Xin cho tôi được một lần tìm về cội nguồn. Nơi đó mẹ dấu yêu đã à ơi ru con lớn khôn trong chiếc nôi đời ấm áp, đơn sơ hồng hoang mà trữ tình ngọt dịu thân thiết trìu mến dường bao! Tôi nhớ lắm thầy Cao Cự Phúc phổ bản nhạc: "Ngày nào dừng chân phiêu lãng. Khách tới đây khi hoa đào vương lối đi Màu hoa in dáng trời Tình hoa lưu luyến người Bồi hồi lòng lữ khách thấy chơi vơi Ngày nào đường xuân phơi phới Khách ngất ngây thấy hoa nở trên má ai Rồi yêu hoa trên má Mà ghi câu luyến nhớ thành bài thơ … Nhưng rồi mùa hoa tàn. Người hoa sao vắng mãi Bao chiều lòng mong chờ. Đường hoa sao hững hờ Để lòng lữ khách tê tái. Cất bước đi nhớ hoa đào trên má ai Màu hoa in trên má Làm khách lưu luyến mãi Đà Lạt ơi"!

        Khi tôi đã thực sự đứng ở thành phố quê hương Đà Lạt ngàn đời dấu yêu nầy, thì tôi không thể nào ngờ! Đà Lạt trong không gian bảng lảng dáng thu bàng bạc trên thành phố buốt giá bây giờ sau 75 - 93 quá lạnh lẽo. Buồn thiu. Ôi! bao năm qua, nay lần đầu tiên tôi nôn nao trông ngóng xôn xao trở về quê cũ, thì... những âm thanh đơn điệu, buồn tênh dội lại lòng mình niềm tiếc thương thác lũ. Gợi lên biết bao điều đau xót, tôi ưu phiền, chán ngán, bơ vơ bàng hoàng khôn xiết. Biển cả đã hoá thành nương dâu, nước mắt bỗng dưng chảy hoài, khiến tôi trở thành một người xa lạ, lạc lõng, cô độc với chính mình. Bước chân lao xao rộn rã tìm về lối cũ đường xưa, mà một thị dân chôn nhau cắt rốn như tôi, từng đi đi về về trong thành phố thơ mộng ấy, giờ đây cảm thấy quê tôi lạ hoắc, lạnh lùng. Tôi lạc bước trên con đường cũ thân thương xưa lòng trống rổng cô độc kinh khủng. Thành phố dấu yêu xưa sao bây giờ trở thành xa lạ với tôi đến thế? Hoài phí đi những mơ tưởng đâu đâu không sát thực tế chút nào.

        Quang cảnh thành phố Đà Lạt bây giờ như thành phố chết ngoài nghĩa điạ! Không giống những bộ mặt thân quen xiết đỗi mà ngày xưa tôi thân mật vẫn đi về. Đà Lạt không còn sống động, không nên thơ, chả quyến rũ... vì không có những anh Võ Bị oai phong. Những anh Chiến Tranh Chính Trị kiêu hùng. Không thấy sinh viên Viện Đại-học lịch lãm văn nhã! Không có những nam sinh choai choai, dé dé vui vẻ hân hoan vô tư lự huýt gió lúc đến trường Trung Học. Còn đâu nữ sinh hồn nhiên xinh lịch tung tăng với những tà áo dài tha thướt lượn bay, cặp ôm ngang ngực thong thả đi trên con đường mòn đất đỏ ngoằn ngoèo uốn lên uốn xuống ở đồi thông im mát.

        Đà Lạt xưa có những công tư chức ngày xưa cao sang chuyên mặc áo da, áo len đan tay đắt tiền, hoặc mặc bộ veston đen tối tân, sơ mi trắng nõn lủng lẳng cà vạt màu, chiếc quần tây thẳng nếp li và đôi giày thời trang... Đâu rồi những anh lính Nhảy Dù mũ đỏ, những anh Hải-quân với bộ quần áo trắng cao sang. Những anh Biệt Động-quân mũ nâu, Thiết giáp, Thủy-quân Lục chiến, Pháo-binh, Bộ-binh oai dũng... trong những lần họ nghỉ phép, đã ghé tạt về thăm Đà Lạt? Những anh phi công bay bướm lả lướt phong trần ung dung bay lượn trên bầu trời Lâm Viên bãng lãng dáng chiều thênh thang. Họ đi đâu mất hết rồi trên thành phố huyền thoại ngày nào!?

        Không gian Đà Thành phai dáng thu bàng bạc bây giờ lạnh tanh. Họ hàng thân quyến, những bạn thời sinh viên, hoặc bạn cùng dạy học với tôi, giờ đây họ lưu lạc phương nao xa hun hút, tôi đã mất tầm nhìn, có thể biền biệt chân trời xa thẳm, xa mất đất rồi chăng?! “Lối cũ ta về dường như nhỏ lại. Trời xanh xanh mãi một màu ấu thơ. Lối cũ ta về, vườn xưa có còn. Hoàng hôn buông xuống thoảng hương ngọc lan. Dù gió có trút lá úa xuống vườn chiều. Bước chân ai đem lang thang về cô liêu. Chốn xa xôi kia mang bao kỷ niệm cũ. Em đã quên hay là vẫn mang theo. Dù cho bên anh nay em không còn nữa. Biết chăng trong con tim anh luôn hằng nhớ. Người yêu ơi nay em đã bỏ anh đi. Sao em nỡ bỏ anh đi mãi…"
        ***

        Ngày nay đàn ông Đà Thành thay bộ cánh khác đang đổ xô ra đường kiếm sống, chụp giựt bằng “lao động là vinh quang” một nghề mới toanh thoạt nghe thiệt “kêu, và lạ” : “làm người thồ”, nghề đi vá xe đạp, gánh thuê, vác mướn: Áo quần họ mặc hầu hết tơi tả, cũ mèm, ố vàng, nhàu nát. Mỗi người bạn trai đồng môn của tôi đều có một cây đòn gánh, hai chùm dây dừa cột chặt ở hai đầu gánh. Hành khách chưa kịp xuống xe đò chật như nêm, là lập tức những người đàn ông gánh thuê bu đông đen nơi thành cửa xe, họ kêu mời khách lạ. Mặc cả kỳ kèo giá tiền thuê vác xong, hành khách đi bộ về nhà, người thuê kẽo kẹt quang gánh nặng gồnh mình gánh trên vai gầy, họ im lặng chịu đựng cúi đầu rảo bước.

        Toàn người đi bộ là đi bộ. Cả thành phố lác đác chỉ có một vài chiếc xe đò cọc cạch, xe chạy giới hạn từ Thị-xã Đà Lạt đi các nơi. Ở Đà Lạt là nơi nhiều đèo núi, nên ít người mua sắm xe đạp. Ai có xe đạp là chỉ có nước “làm tôi mọi” cho vật. Người ta cỡi lên xe đạp thì ít, mà vác nó lên trên lưng leo dốc cao thì nhiều. Thế nên hồi trước đa số công tư chức ai có tiền chỉ mua xe hơi, honda. Bây giờ trạm xăng không bán một giọt, thì xe với cộ, honda hôn điếc chi cũng bù trớt, nằm ù lì một đống như đống sắt vụn. Chỉ có lèo tèo mấy xe đạp làm xe thồ ọp ẹp, hoặc những “tay cua-rơ” có chiếc xe đạp loại thường thường dùng tập dượt, hầu mong tranh tài trong các chương trình thi đua thể thao toàn quốc trước kia, nay làm xe thồ.

        Khu phố Hoà Bình ngày xưa nhộn nhịp, đông vui, sang trọng là thế! Nay tiệm nào cũng cửa đóng then cài im lìm. Hàng hoá đồ đạc thu dọn đâu hết. Sạch bách. Trơ lại những nhúm người ngồi trên vĩa hè, mặt mày lơ láo, họ rù rì to nhỏ, dáo dác nhìn ngược ngó xuôi, mắt mất thần. Họ tụm năm tụm ba ở góc nầy góc kia, dáo dác len lén bày bán những món đồ cũ, đơn sơ và khiêm nhường thấy tội. Đàn bà con “gái... theo thơ Lệ Khánh: "Gái Đà Lạt trời sinh đều đẹp cả”, nay một số qúy bà mặc quần áo lôi thôi lốc thốc, nghèo nàn, họ xuống đường tần tảo bán bưng thúng mẹc bên lề. Họ ngồi bệt trên những bậc tam cấp bán bòn những củ cà rốt, khoai lang, rau rợ bầm dập. Vài ba bà cải nhau om tỏi, chỉ vì những con cá ươn sình vương vãi ra trên vệt nức bên vệ đường. Ngẩn ngơ ngồi xuống mé đường lựa những trái hồng trong mẹt. Tôi nghe bạn hàng xầm xì:
        Bà con toàn thể xã ta
        Ðồng tâm phấn khởi trồng cà dái dê
        Dái dê to mập dài ghê
        Năm sau ta cứ dái dê ta trồng
        (2)

        - Mèn ơi! Con tao bệnh, không có tiền mua thuốc uống. Ở đó mà mua phân, mua giống để trồng cà dái dê. Rồi nuôi heo, nuôi gà, tăng gia sản xuất cái nỗi gì! Nhà nước bắt mẹ con tao bưng máy đan của mình, dô trong hợp tác xã đan áo len gởi đi Liên Xô ráo trọi. Cái gì của mình là của “liên bang Xô Viết” mà mầy. Nếu mầy không có máy đan, thì tới đó dùng hai que tre, que gỗ mà đan. Rồi mầy coi, cái tập thể ni lọt dô túi bọn đó mất tiêu. Bọn mình chẳng còn con khỉ khô gì ráo trọi á. Chỉ còn trợn trắng con mắt, cúi đầu và hai bàn tay cầm que đan đan, đâm đâm, thọt thọt... Nghe.
        - Thỉnh thoảng trên hợp tác xã đan móc may mặc có phân phối chút thịt heo bụng, ba chỉ, hoặc cẵng chân, đầu cánh gà mà?
        - Xời. Đi gánh phân heo để tưới rau ăn, thì có. Bởi vậy nên người ta thèm thịt, nhỏ từng cục nước miếng, thì phải đi ăn trộm, ăn cắp biết nhiêu mà kể xiết, mất cắp ở trong mấy cửa hàng bách hoá như rươi. Của chung mà mầy. Ở nhà dân cũng bị cắp, trộm.
        - Mầy hổng thấy sao ke! Con chó nhà tao năm nào ú nù, ú nần, tướng mập mạp đi hổng nỗi. Nay nó ốm tong ốm teo, lông lá rụng xơ xác, đầy ghẻ chóc, rụng hết răng, cũng bị bọn trộm rinh dìa làm thịt mất toi rồi. Mất chó giữ nhà, riết rồi cả xóm không còn chó sủa. Thế nên ai có chút của cải, cũng bay mất toi theo thằng ăn trộm hết. Đảng có mù, đảng cũng thấy chớ.
        - Coi chừng nghe mầy. Nói tào lao, tai vách mạch rừng á.
        - Bởi dậy... mới có chiện cán bộ lùng bắt người và chó. Người trộm cắp thì cho dô tù. Chó thì cho dô nồi bự. Trời quơi! Nước non chi lạ, dưới dân mất chó, mất heo gà. Trên nhiễu sinh ra đủ thứ chiện cướp cạn tham nhũng, hổng biết sao ta?
        - Đừng chọc quê, tao không phải là đứa “cần câu nhân dân”. Mầy đừng lo.
        - Ha ha! Tao không có tội mà trở thành có tội, vì cái miệng bép xép. Đời nay có nhiều loại công an nhân dân làm cần câu, đó nghe.
        - Trời! Nói cái gì tầm bậy tầm bạ dị hợm vậy. Mầy! Dân cũng nghèo rớt mồng tơi như công an công yết. Chắc có lẽ ai làm “công an nhân dân” thì có đặc biệt nhiều tiền hơn hỉ?!
        - Mẹ ui! Nếu được nhiều tiền thì công an nhân dân đâu mặc quần áo có mấy miếng ti vi to tổ chảng đắp trên đầu gối hỉ!
        - "Kiểu tân thời" á mầy.

        Tôi nhóm chân len lén nhìn qua khu vườn cũ. Hồi ấy tôi đã trồng nhiều hàng hoa hồng rực rỡ màu sắc thành hàng lối thẳng tưng. Những vòm cây ăn quả thắm đẵm sương đêm mọng hạt nước lung linh trên ngọn lá rung rinh. Ngôi nhà thân yêu nầy do tự sức cần lao của ba mẹ làm lụng vất vã. Và, của chính tôi khi chưa lập gia đình đã bán phổi dạy học, dành dụm mà có ngôi biệt thự Mimosa tươm tất. Qua hàng rào gạch thưa, cổng sắt đóng kín cửa có tấm bảng đề “coi chừng chó dữ”.

        Đang ngơ ngáo len lén nhìn quanh, thì tôi giật nẩy người khi con chó Bìm Bìm tru hú từng tiếng rít từng cơn trong cổ. Nó mừng như điên cong đuôi chạy lui chạy tới ngoắt lia lịa. Nó chạy mấy vòng trong sân, bỗng chốc chồm hẳn hai chân trước lên ngực tôi, nó quay quắt mừng rỡ, cuống quít khi gặp lại chủ cũ. Nó thò mỏ qua khe rào gạch, cố tìm cách liếm liếm bàn tay tôi. Ngày di tản, tôi không thể mang con chó theo, nên tôi đã cho bác Tân hàng xóm nuôi, (nhà tôi sát vách tường nhà bác, chung một hàng rào xây bằng gạch song thưa). Tôi lòn tay qua song cửa cổng sắt xoa đầu nó hoài. Lúc đó, nó mới chịu đứng yên giây lát, nó rên ư ử đuôi vẫn ngoắt lia lịa. Bác Tân nghe tiếng chó sủa vang đã đi ra sân. Bác càng mừng rỡ chạy tới mở cửa cổng, bác đon đả rối rít chào hỏi tôi. Con Bìm Bìm lanh lẹ chui qua khe hở giữa hai nhà, nó cuộn tròn dưới thềm gạch, mỏ gác lên chân tôi. Mắt nó liếc qua liếc lại, hai tai vểnh lên nghe ngóng. Con chó mà thật có tình nghĩa! Ngoài những đau đớn, hụt hẫng, ngậm ngùi đáng hổ thẹn, nay tôi không còn gì! Thật chẳng còn gì để cho con vật, dù chỉ là một củ khoai tẻo teo!

        Có gì đâu. Còn gì đâu nữa! Từ trên đỉnh bình yên an vui ngày hai buổi đi dạy học, nay tôi đã hụp xuống vực thẳm giữa cơn xoáy đục ngầu đen bạc. Hy vọng vỡ tan trong mối thất vọng chua cay, tổn thất dập dồn do thương tổn tình đời để lại. Tôi lặng lẽ ưu phiền ngồi điếng lặng hằng giờ trong góc tối cô đơn, suy nghĩ hết cách mong tìm kế sinh nhai. Tôi giống con chó hoang trốn vào hang hốc, mòn mỏi liếm vết thương mình. Kể từ ngày “đổi đời”, sự sống của gia đình tôi kể như "vong gia thất thổ nổi trôi theo dòng đời chảy xiết". Cuộc cách mạng 75 đã đẩy bật chúng tôi ra khỏi thành phố Đà Lạt. Xa những núi đồi thân yêu, vắng những thác nước suối nguồn mộng mơ. Tôi không còn thấy những hàng hoa anh đào thắm sắc ôm bóng dưới mặt hồ loáng bạc như tráng men.

        Nhất là chẳng thể lặng yên vui vẻ nhìn những cụm mây ngà, hồng thắm bồng bềnh bay bay. Mỗi độ hoàng hôn mây óng vàng mịn mượt e ấp rủ nhau về quỳ gối bên ao hồ soi bóng. Chao! Gia đình tôi lâm vào ngỏ cụt không lối thoát, mà số phận tàn nhẫn nghiệt ngã vẫn bám riết lấy chúng tôi. Dù bằng sự can đảm phi thường mẹ trẻ con thơ dắt díu nhau chạy về Sài Gòn, cố gắng "tái thiết" cuộc đời sống lây lất thấp hèn đến độ thê lương trong trại gia binh bỏ hoang. Danh dự vẫn còn, tôi sống thanh liêm và dùng hai bàn tay không cầm ngòi viết, mà dùng làm “cây chĩa ngũ đoản thập toàn”, để tự bới móc tìm cái ăn ngoài xó xỉnh ruộng đồng!

        Tôi nâng mình lên cao hơn mặt đất xí xi, hầu hòa đồng cùng những người cùng khổ không manh áo cơ hàn khác. Chúng tôi rất nghèo, đói rách tả tơi thấy thảm thiết lắm. Chính những tháng ngày âm thầm đi trong vũng tối, từ những con đường đất đen đen lên nông trường Lê Minh Xuân không đèn soi, không trăng tỏ, tôi mới có đủ thời gian suy tư kiểm nghiệm những thăng trầm chồng chất muôn vàn đắng cay đời mình dâng cao ngút. Chồng bị “đi tù cải tạo”. Các con lây lất lang thang tả tơi áo quần ngắn củn sờn rách, co ro trên vĩa hè phố Sài Gòn.

        Những đứa con của tôi và tuổi thơ vô tội tự bươn bả moi móc mọi thứ để kiếm sống, con đói khát ngủ chập chờn bên hóc tối (để cho bầy con kẻ khác mặc nhiên tới chiếm ngự ngôi nhà đồ sộ của mình, họ thô thiển vui đùa dưới hàng hiên ở ngay nhà của chúng tôi đây). Tôi không hận, không nghe thấy gì, chẳng còn chút sinh khí nào ngoài nỗi điếng lặng lo sợ cồn cào đói khát, đau ốm đang dày vò ruột gan tôi và các con. Nỗi lo sợ bà nội, mẹ con bị bệnh đau, ghẻ chóc, truyền nhiễm dâng đầy ắp, mà không có tiền thuốc men- Hơn là tôi sợ hãi bất cứ thứ mất mác vật chất gì.

        Lòng tôi chao đảo vì chiến tranh tương tàn, đùng đùng nổi giận vì những mất mác vô cớ, mà các con thơ mẹ già vợ yếu bỗng dưng vô tình cúi đầu gánh chịu, như tai ách mạch đời ở đâu trút ào ào xuống đầu mình. Trách nhiệm từ ai? Tại sao? Bởi vì đâu? Vì những “dày vò” của ông bà cố tổ mẹ cha chú bác? của những người có trọng trách giữ nước, giữ quê? hay là do trầm thống điêu linh tổ quốc suy tàn, chẳng còn, nên con cháu họ đã ra nông nỗi, làm bàng hoàng sụp đổ cả một chính phủ trong tích tắc thời gian!?
        ***

        Tôi cúi đầu uất nghẹn! Đà Lạt diễm kiều quyến rũ một thuở nên thơ tràn lan thi vị, nay không còn là thành phố duyên dáng, hữu tình nữa rồi. Đâu rồi tiếng thông reo vi vu thì thầm cùng gió, sương rung rinh nhè nhẹ thở hơi mát, phả vào không gian bảng lảng dáng thu bàng bạc trên thành phố lạnh lẽo! Tôi đi giữa hai hàng cây anh đào trơ trụi, vài chiếc lá úa lững lờ chao lượn dưới làn sương mỏng là là bay, cuốn theo những hạt mưa bóng mây ẩm lạnh trong không gian ngút ngàn buốt tê. Dường như tôi cảm thấy ngu ngơ, lơ láo nhìn ngó, băn khoăn, thổn thức đớn đau dày vò và cảm thấy thất vọng kỳ lạ. Không tài nào nhấc bước chân lên khỏi mặt đường lồi lõm, tôi cứ đứng lì ở một góc phố như trời trồng, mà mất hồn mất vía. Tôi cảm thấy mình bị lún dần, lún dần vào cõi lạ. Dường như có ai ở dưới vũng bùn sình nặng nề đang giơ tay kéo lôi giật, tôi trì trệ hụp xuống cùng.

        Đôi mắt tôi có hai ngấn nước lặng lờ hơi sương, mờ nhoà, mờ hẳn... giọt sương lăn tăn li ti hòa quyện cùng giọt nước mắt xót xa đã chảy xuống hai gò má. Thành phố của tôi ngày xưa ôi là xinh lịch vui tươi, truyền cảm, quyến rũ, thơ mộng là thế. Giờ đây sao quá ngao ngán buồn!? Trước mắt tôi, hiện tại với khoảng trống băng giá, cùng gánh nặng gia đình quầng siết lấy đôi vai gầy đang còng xuống những cố gắng vĩ đại, ngỏ hầu chới với quơ bàn tay gầy cố vươn lên, thấp thỏm giành lại cho mình một tí, dù một tí thôi những gì đã mất. Tôi ngồi bên lề phố Hoà Bình ngửa mặt lên trời mà khóc, mà cười, cười khẩy, vì không sao hiểu nỗi “đời”! Tâm hồn tôi hằn lên vết rạn nứt đau xót khôn tả xiết, xếp lớp lăn tăn bềnh bồng lâng lâng giữa trạng thái nửa tỉnh nửa mê theo sóng đời cơ cực. Gia đình tôi đã lầm than khốn cùng tụt xuống dưới tận đáy xã hội phù phiếm mất rồi.

        Đà Lạt xa xưa tự thuở hồng hoang xinh lịch thơ mộng êm mơ là thế, rồi... có một “thời gian điêu đứng vật vã” nên quê tôi đã nghèo nàn và ê chề cũng kinh khiếp đến thế. Nhưng rồi… càng bàng hoàng thảng thốt thay khi Đà Lạt của tôi hôm nay (2016) đã biến mất các rừng thông xanh thẳm, những con suối uốn lượn quanh co dọc triền núi và thác nguồn ngày xưa hoang dã, tự nhiên và thơ mộng êm đềm, thì nay “sinh chứng dị hình xây dựng” những kiểu cách “gán ghép bắt râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Những nhà cao ốc chen chúc, chi chít chen lấn cùng những nhà bần nông lụp xụp (vì các "dịch vụ, nhu cầu sinh kế khẩn thiết" cần "triệt để khai thác" cho ngành du lịch phồn thịnh!!!); nên đâu đâu cũng "tự chế" ra phòng trọ, "mô teo, hô teo..." nườm nượp mọc lên, "lâu đài nguy nga" trên đồi trọc không còn tiếng thông reo vi vu… triền miên (vì chẳng còn cây cối nào có thể sống) không theo quy trình kiến thiết đô thị, thì Đà Lạt bây giờ vụng về và nóng ơi là nóng! Đà Lạt lộn xộn trơ trẽn như bộ mặt của con mèo vá.

        Ôi Đà Lạt của tôi… không còn sinh khí hồn nhiên của mạch rừng hoang dại, dường như Đà Lạt nghẹt thở do những nét chấm phá từ bao ngôi nhà nhấp nhô to nhỏ giống "nấm men, nấm hương, nấm mốc, nấm rơm, nấm chó nấm mèo” trên bức tranh thiên nhiên đã loang lổ. Đã thế, số người tôi vừa gặp : thanh niên thiếu nữ trai trẻ, cụ già em bé ngày nay ra đường đều ồn ào, náo nhiệt chen lấn và nói năng cười đùa tự do như chỗ không người, "vui vẻ thái mái; tự nhiên như... người Hà Nội!". Thì quê tôi chìm mất nét hấp dẫn trữ tình và trìu mến trong tim mình! Thế nên tôi đành bùi ngùi, xót xa tiếc ngẩn... và nghẹn ngào ngoảnh mặt quay bước không thể trở về lối cũ đường xưa…
        * * *

        Tình Hoài Hương
        Last edited by Tinh Hoai Huong; 08-09-2017, 12:30 AM.
        Bút trần nào tả được lưu luyến!
        Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
        Tình Hoài Hương

        Comment

        • Tinh Hoai Huong
          Senior Member
          • May 2009
          • 1081

          #214
          Thiên Thần Mũ Đỏ: HOÀNG NGỌC BẢO


          Thiên Thần Mũ Đỏ: HOÀNG NGỌC BẢO


          Chiến binh Nhảy Dù Hoàng Ngọc Bảo sinh và sống tại thành phố Đà Lạt, từ nhỏ đến lớn Bảo đã học tại trường dòng A’ Dran (Tabert), sau đó Bảo đăng vô lính từ năm 1964, (khi vừa 18 tuổi). Mặc dù Bảo bị cha mẹ, và cô bồ xinh xinh phản đối kịch liệt, Bảo vẫn biết mạng sống con người rất qúy trọng và cần thiết, chiến trường thì nguy hiểm gian khổ dường bao. Nhưng Bảo vẫn hân hoan vui vẻ lao mình đến với đồng đội:
          Tôi nhớ mãi nét hào hùng binh chủng
          Nhớ những ngày đầu nhập trại Hoàng Hoa
          Thấp thỏm chờ đợi lệnh phòng Ba
          Mong cho chóng có tên đi học nhảy
          Màn mở đầu là màn thi chạy
          Rồi nhảy đài, hít đất kéo xà ngang.
          Rồi... kéo dây, nhảy xổm thập bát ban.
          Phần sức khỏe dĩ nhiên là qua thoát!!!
          (Mũ Đỏ 198)

          Bảo dự khoá huấn luyện quân sự căn bản ba tháng ở Tiểu Đoàn Khoá-sinh Vương Mộng Hồng tại Trung-tâm Huấn-luyện Quang Trung. Trắc nghiệm thể dục cốt yếu rèn luyện thân thể khoẻ mạnh, cường tráng, đôi chân dẽo dai. Tập chạy bộ từ 800m đến 1500m, mang theo trang bị cá nhân xong. Sau đó, cán bộ khối bổ sung sẽ đưa tân binh khoá sinh đến Trung-tâm huấn-luyện Nhảy Dù Hoàng Hoa Thám để:
          - Huấn luyện kỷ thuật về cách lên phi cơ nhảy dù.
          - Mang dù (mặc dù) khám dù, bảo trì dù, v.v…
          - Trang bị cần thiết khi hành quân.
          - Học cách nhảy từ trong lòng phi cơ ra ngoài phi cơ (làm quen với phi cơ, làm quen với độ cao):
          - Học điều khiển cách lái dù theo ý mình.
          - Học các thế đáp (té, lăn…) tránh nguy hiểm bản thân.
          - Học cách thu lượm dù nhanh, gọn.
          - Học cách tránh bị dù lôi, kéo, quấn (khi trời gió, bão, bị dù lôi kéo lết… thì không thể đứng dậy).
          - Học nhảy cao 11m để làm quen với độ cao không bị choáng ngợp, không có cảm giác sợ hãi (gọi là chuồng cu); chuồng cu là một cái đài giống chuồng… Cao khoảng 11,5m, trên đó có bốn sợi dây cáp dài và to.
          - Học nhảy từ 12m (dây tử thần); tập đáp từ trên cao xuống khi va chạm dưới đất. Chụm hai tay ôm dây dù sát vô ngực, đầu cúi xuống thấp, khi nhảy ra khỏi lòng phi cơ thì không nguy hiểm, vì đầu bị đập ngửa ra sau ót.
          - Học nhảy ngày (5 lần, + 1 lần mang trang bị cá nhân) & 1 lần ban đêm:
          Màn kế tiếp ba tuần liền dưới đất
          Tập chuồng cu, kéo gió, chống dù lôi
          Đài mười thước, rồi nhảy, nhảy chuồng cu!
          Thì... cũng kệ... nghe GO... nhắm mắt phóng...

          - Học Nhảy Dù với ba loại phi cơ: C 47 - C 119 – C 123.
          Tuần lễ cuối... mới là tuần gay cấn nhảy sô đầu C47 hom hem.
          … Dây SOA dài thót ruột... chết cha...
          Ầm ầm... rồi im lặng dù mở to
          Mới sựt nhớ mình 'quên' đâu có đếm
          Sô thứ hai nhảy C119
          … Từ sô thứ bốn ta GO ngon ra phết
          Mần sáu sô... khóa dù nào đã hết
          Nghỉ một ngày... dưỡng sức nhảy sô đêm
          C123 gầm thét phóng vụt lên
          (Mũ Đỏ 198)

          Sau đó khoá sinh được trở về khối bổ sung, cán bộ khối bổ sung sẽ điều động tân khoá sinh đi các đơn vị cần. Bảo hân hoan vui vẻ hạnh phúc cùng bạn đồng khoá được vinh dự mang danh xưng “Thiên Thần Mũ Đỏ” với khẩu hiệu “Nhảy Dù sát cộng”. Bảo được chuyển đến Lữ-đoàn III Nhảy Dù, quân phục rằn ri mang phù hiệu sư đoàn Nhảy Dù bên tay áo trái, đội mũ beret màu đỏ có gắn phù hiệu Dù.

          Bảo đổi đi nhiều nơi khác trong toàn miền Nam Việt Nam. Bảo từng bị thương bốn lần: Lần đầu tiên vào năm Mậu Thân khi Bảo nhảy từ trên trời xuống mục tiêu tại miền Trung, thì Bảo bị bắn lủng ruột, bị mỗ. Bảo được cứu thương nằm trong bệnh viện Cộng Hoà ba tháng. Hai năm sau, lần thứ nhì Bảo bị bắn xuyên qua phổi, may mà không vào chỗ hiểm. Bảo được cấp cứu vào bệnh viện nằm trị liệu mấy tháng. Rồi Bảo lại trở ra đơn vị Nhảy Dù, tiếp tục sống cuộc đời giang hồ phong sương qua bốn bể… mà “nhảy”. Do Bảo vẫn yêu mến binh chủng: “nơi nào cần, Nhảy Dù có. Nơi nào khó, có Nhảy Dù”: Ngang dọc đó đây, vì Bảo yêu đồng đội và tha nhân, dù bao nguy hiểm thiệt thòi có về mình, cũng thì-thầm cầu nguyện:
          Lạy Chúa, xin cứ dùng con theo ý Chúa,
          làm chân tay cho những người què cụt,
          làm đôi mắt cho ai phải đui mù,
          làm lỗ tai cho những người bị điếc,

          làm miệng lưỡi cho người không nói được,
          làm tiếng kêu cho người chịu bất công.
          Lạy Chúa, xin cứ gởi con ra đồng lúa,
          để đem cơm cho người đói đang chờ,

          và đem nước cho người họng đang khô,
          đem thuốc thang cho người đang đau ốm
          đem áo quần cho người đang trần trụi,
          đem mền đắp cho người rét đang run.
          (1*)

          Có nhiều đêm Bảo cùng bạn nằm lì tại Cầu Lòn, họ lần mò đi trong đêm khuya, qua nghĩa điạ Trí Bưu u ám hoang tàn hắt hiu (Quảng Trị). Bảo lom khom cúi đầu đi dưới đường Duy Tân, rồi lính Nhảy Dù phối hợp cùng anh em lính Thuỷ-quân Lục-chiến oai dũng hào hùng đánh chiếm đại thắng cổ thành Đinh Công Tráng ở Quảng Trị ngày 6-6-1972. Trong trận nầy, đây là lần thứ ba Bảo bị đạn ghim vào tay. Bảo đã nhìn sửng ngọn cờ vàng ba sọc đỏ phất phới lồng lộng trong gió tung bay trên nền trời xanh bao la. Vì đất nước quê hương và dân tộc con rồng cháu tiên. Bảo cũng như đồng bạn tận tụy hết lòng hy sinh vì Tổ Quốc, quyết bám lấy quê hương chiến đấu đến giờ phút cuối cùng.

          Rồi… Lần tham chiến cuối cùng tại khu vực dưới sườn tây Bắc Yankee, và khoảng Delta hướng đông của Charlie, Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù (được thành lập ngày 1-11-1968) kẹp giữa vùng chiến tuyến nầy. Tỉnh Kon Tum có ngọn đồi mang tên Charlie; Charlie tiếp giáp giữa huyện: Sa Thầy, Ngọc Hồi, Đắc Tô). Nơi đây Bảo bị thương khá nặng vì đạn pháo bọn địch lại ghim tứ tung vô thân thể mình, mất một mắt trái, một bàn chân bên phải của Bảo cụt lên tới dưới đầu gối, cộng với những vết thương mới và cũ bị nhiễm trùng, toàn thân Bảo đầy vết thẹo, đau nhức bệnh tật liên miên… Bảo phải vào nằm ở bệnh viện Cộng Hoà và được các bạn đồng đội chia máu hoài, nhưng sức khỏe vẫn chưa thể khá.

          Bạn đồng ngành và Bảo bị chiến tranh vùi dập tan hoang, và đời tàn ác bỏ quên, hất hủi Bảo trong cơn hấp hối tột cùng đau. Biệt nghiệp nầy há chẳng qua Bảo vay của Đời quá nhiều, mà Đời trả chẳng là bao!!? Thế rồi, Bảo bị ném ra đường giữa ngày 1 tháng 5 năm 1975. Bảo lấm lét len lén chôm được sự sống… mà lấp ló lây lất lê lết bên nghĩa trang Phú Thọ Hòa. Người sống và kẻ chết -không phân biệt đối xử- đều bị san bằng, khai quật như nhau. Người sống nằm ngủ dưới hố mồ kẻ chết, thây ma bất động bị kẻ đói móc lên, người ốm đói tìm kiếm lấy quần áo (và mừng húm nếu có vòng vàng!!!).

          Có khác chăng ở chỗ là: Thương binh ấy còn có một mắt và trái tim rực lửa, luôn bị chao đảo ray rứt, dày vò, khi Bảo tận mắt nhìn ông già, phụ nữ, trẻ con, bị tập trung đi bóp phân người, chân đạp cứt, vai gánh phân tưới rau xanh trên nông trường, mong lợi tức tăng gia, nhờ phân bón đặc biệt thu hoạch mùa màng mà có cái ăn tươi tốt, để chúng mừng thắng lợi chào đón dâng Bác và Đảng. Ngậm ngùi nhìn lại thân phận người lính khi tàn chiến chinh, Bảo và bạn cùng trang lứa đau đớn chẳng khác chi nhau:
          Tôi, người lính Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù
          Năm 75, 29 tháng Tư
          khi đoàn tàu chở đơn vị tôi
          chuẩn bị rời Vũng Tàu hướng ra Đông Hải

          Thương cha mẹ già, đàn em dại
          tôi bước lên bờ ở lại quê hương
          nhưng cha mẹ già chưa được gặp
          cũng chưa thấy mặt đàn em

          các anh, những người chiến thắng
          súng dí sau lưng
          đẩy tôi vào trại tập trung
          rồi bằng những lời dối trá

          trái tim vô tình tia nhìn thù hận
          các anh cướp mất của tôi
          những tháng năm đẹp nhất cuộc đời
          (2*)
          * * *

          Bảo rất vui mừng khi biết tin mẹ con tôi trôi giạt về ở Hốc Môn, nghĩa là từ hốc mộ Phú Thọ Hoà nơi Bảo "tạm trú" đến nhà tôi cũng gần, đi xe đò chỉ mất khoảng hai mươi phút. Thỉnh thoảng Bảo có thể từ trên khu nghĩa trang xuống Thành Ông Năm thăm chúng tôi. Các con tôi rất qúy anh họ của chúng, bé Tuấn mừng rỡ ôm chầm lấy anh, vui vẻ nói:
          - Anh có khỏe không?
          - Nhìn anh, thì em biết rồi.
          - Chân cẵng, ruột, và bao tử của anh, ra sao rùi?
          - Một chân cụt nè. Một mắt đã đi chào bá tánh dưới lòng đất nè. Lũng ruột nè. Bao tử đau liên miên. Em còn muốn hỏi gì nữa?
          - Thật khổ thân anh. Đó là cái đại nạn của anh và dân tộc mình á.
          - Đời mà em.
          Bé Dzũng ái ngại nhìn anh:
          - Anh bỏ hút thuốc đi, là vừa!
          - Sao vậy?
          - Anh đã như vậy, có hại sức khỏe lắm.
          - Em nói chuyện đến hay. Chỉ vài hơi thuốc lào, mà bệnh sao?
          - Anh sẽ ho lao, giảm tuổi thọ nữa.
          - Sống chết có số. Anh chẳng còn tin gì.
          Bé Huy vít cổ anh, cười hì hì:
          - Đau ốm đủ thứ như anh, phải uống sâm cao ly, mới kéo dài tuổi thọ à.
          - Chuyện! Vậy chớ đứa con nít mới sanh, chẳng may nó ngoẽo, chắc tại nó ưa hút thuốc lào, và không uống sâm i,́ ha em?
          - Anh nầy thiệt á.
          Bé Hoàng bu vào lưng Bảo, bắt anh cõng:
          - Nhà giàu họ uống sâm đầy ra đó. Anh Bảo.
          - Vậy họ có thoát chết không nà?
          - Anh thèm thuốc lào, nên nói tào lao vậy mà.
          - À há! Bây chừ anh còn chi để thèm hơn là thèm hít. Anh mừng khi các em đã có ít hành trang: vào đời đắng cay, chua xót. Em cứ mạnh dạn tỏ bày. Có thể anh sẽ nghe lời khuyên hữu ích.
          Bé Tuấn lại sà vô lòng anh. tay xoa xoa cái chân cụt:
          - Anh phải nghe, không thì anh chết sớm là cái chắc!
          - Anh đã trả nợ thân anh cho non sông rồi, thì còn gì nữa đâu em. Anh chả còn gì để luyến tiếc với đời mà sợ chết với chóc!

          Nghe mà nghẹn đắng, xót xa, chua chát cõi lòng tôi. Thỉnh thoảng Bảo cũng như tôi, hai dì cháu có lên Sài Gòn gia nhập vào đám “Thương-Binh Du ca da cu bè” của các anh lính VNCH què cụt tổ chức lậu (của nhiều binh chủng & đơn vị cũ hợp thành). Họ đã bầu tôi: --
          - Trong đám mù-chột nầy, thì chỉ có chị là có vẻ “dễ nhìn” hơn hết; mong chị làm vua cho đám “lu xu bu” kia nha. Chị Mười!

          Các anh ơi! Các anh nào biết, tôi đã mang bệnh trầm-kha bất khả tri-luận, còn đau đớn gấp trăm lần phế binh nữa ấy, các anh à. Chúng tôi ca toàn những bản “nhạc vàng”, hay lúc đó "phe kia" gọi nhạc của miền Nam Việt Nam là nhạc “đồi trụy”, nhạc tù ca (khi không thấy bóng dáng bọn “công an áo vàng”). Thật tức cười, nhạc mà cũng có màu sắc: vàng, đỏ, xanh, nữa há? Thật ra mấy anh ca bè rất hay. Ca hay thì tiền càng nhiều, “bổng lộc” do dân nghèo thương mà giúp. Ông bà cô bác đi chợ khát khao nhạc thời trước, nhạc cũ… họ thường ghé lại coi chúng tôi trình diễn. Họ vui đùa có ngụ ý ám chỉ gọi chúng tôi là: “Thương phế Binh Ngũ Linh”, hoặc nhóm “Bè da cu du ca”.

          Cái tên ấy do dân mến thương đặt ra, vậy mà nghe thật là chí lý! Bây giờ những thương binh ấy chỉ còn da bọc xương, trên răng dưới dái, thân thể là nơi tập họp những thứ tật nguyền: mù chột, cụt tay, cụt chân, lũng ruột, bụng còn băng đầy máu. Họ bị quăng ra khỏi y-viện, chỉ có trên răng rụng dưới teo tóp... thì, chả còn da với cu là gì! chả còn gì. Thật chẳng còn gì!

          Lính chiến trận trở về (sau ngày mất nước) không tìm thấy gia đình, không thân nhân, mất tin tức không liên lạc, người ta tan tác trên mọi ngã đường. Lính lê lết chống gậy đi tìm nhau từ các vùng khỉ ho cò gáy, nơi thâm u cùng cốc: chỉ có muỗi, ruồi trâu, vắt, đĩa, hút máu người, và luôn truyền cho bệnh cấp tính sốt rét da vàng cao độ, ho lao, thổ tả, kiết lỵ triền miên. Cho đến lúc tàn hơi mà toi mạng cùi! Họ phải lê lết hành khất từ vùng kinh tế mới nơi chó ăn đá, gà ăn muối, bò lê bò la… rị mọ lặc lìa lặc lọi mò mò về tới thành phố.

          Nào ngờ họ lại lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, ăn xin ở ngoài đầu đường, ngủ ở xó chợ! Những thương binh ấy đã bỏ lại một bàn chân, một cánh tay, một hai con mắt trên vùng giao chiến hung tàn. Họ trở về dưới mái nhà xưa thì biếng nói, không cười, sống lặng lẽ âm thầm nức nở, đớn đau mà nghiến chặt cục sạn giữa hai hàm răng, suốt ngày họ lầm lì, đăm chiêu, suy tư trong dòng sông chảy xiết riêng mình từng cơn đau mệt lã, dày vò ân hận và phiền muộn khôn xiết.

          Nhưng, có anh lính nào may mắn còn gia đình, thì các bà mẹ, bà chị, vợ con của họ vui mừng, hớn hở lăng xăng quanh thằng con trai tật nguyền cùng khắp. Bà mẹ mủi lòng mừng con trở về mà vui hơn bắt được ngọc ngà. Lính què cụt đui mù phải đùm túm nương tựa vai vợ con, với cha mẹ già, thương mến an ủi nhau và lây lất sống. Ngày trước họ đi lính, do chiến tranh tàn nhẫn gậm nhấm hết cơ thể. Nay thì người lính chột đi đạp xích lô. Người cụt bán bánh mì, bán vé số, người mù đi xin ăn. Họ vừa rao, vừa đánh đàn, thổi sáo, gỏ trống hát dạo ngâm nga bài thơ:
          Tao cụt một chân, mất một tay
          Nhưng còn một tay
          Để viết thơ dùm cho thằng mù hai mắt
          Nghe nói ở xứ người chúng mày "cày" như trâu
          Nhưng không quên đồng đội
          Chia đô-la cho chúng tao, như chia máu ngày nào...
          Tao cũng sớt cho mấy thằng bạn: phế binh Việt Cộng!
          Chúng cũng què đui sứt mẻ như nhau
          Bởi Đảng của chúng bây giờ là lũ đầu trâu...
          (3*)

          Có những lần nhóm tôi đang hát nhạc tiền chiến, nhạc tù ca, thì thấy ba công an đi trờ tới, (công an có lệnh diệt tận gốc: “Trí, phú, địa, hào” mà)! Anh thương binh Mẫn còn một bàn tay thật và tay giả trong chiếc găng tay da, rất nhạy bén nhanh miệng anh liền chuyển tông qua bài hát tếu hài ngay. Mẫn vừa khua tay múa kiếm làm trò thật vui tai, vui mắt, ai nghe cũng nực cười:
          - Bác Hồoo… cho em cây viết. Em vẽ con dao găm, em đâm thằng lính Mỹ. Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra, con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó, con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi Thanh Niên Xung Phen. Em theo chủ nghĩa siêu Việt phồn vinh cuả Móc-Cu Ra Đớp ở Liên Xô. Hỡi..oi õi… đồng bầu! Hãy đi Thanh niên xung pheng. Tùng Tùng Tùng!!! Bảo vệ tổ quốc! Bèng béng bèng!!! Từng tứng tưng… tằng tắng tăng...
          - Ủa! Cổ động viên nè! Hoổ…ong có ai dỗ tay cả hé?
          Thương binh Bảo nhanh nhẫu chế-biến câu ca tiếng Việt liền tiếng Pháp, (vì hồi nhỏ đến lớn khôn, Bảo đã học ở trường dòng A’ Dran, nên Bảo nói tiếng Tây, lẫn sinh ngữ Anh lưu loát), nghe như gió thật.

          I've just closed my eyes again
          Climbed aboard the dream weaver train
          Driver take away my worries of today
          And leave tomorrow behind
          Ooh dream weaver
          I believe you can get me through the night
          Ooh dream weaver
          I believe we can reach the morning light
          Fly me high through the starry skies
          Maybe to an astral plane
          Cross the highways of fantasy
          Help me to forget today's pain …

          Bảo còn kêu tên các ca sĩ nổi danh ở thập niên 70 ra “ca” có âm điệu và khảy đờn trống rùm beng… từng tứng tưng…, bùm búm bum... bèn béng beng…: - À Á a... Le moi sensibe = cái tôi tình cảm. Ám sát tinh thần = assasitnat moral. Đời! C’est la vie! Tình tinh tang! C’est la mour. Thầy chùa sans cheveux. Bà xơ sans cooc xê, end sans xi-níp!! Ha ha ha!!! - Johnny Halliday… O oh ho… Sylvie Vartant… É é é… Francoise Hardy. Vicky Leandros nổi tiếng L’amour c’est pour rien… từng tứng tưng… Oh! Mon Amour. Ối ối a… Poupée de cire poupée de son. Bùm búm bum… Adieu jolie Candy…. Là lá la… Aline. Christophe. tằng tắng tăng… La vie c’est une histoire d’amour… chát chát chát… tùng tùng tung… phèng phéng phèng…

          Thiệt là tầm bậy tầm bạ, dấm dớ, ú ớ ngố ngáo, ngu ngơ dật dờ, vớ vẩn... hết sức ba xàm ba láp! Thế mà khán giả bình dân thích thú, khoái trá cười rõ to; nghe "rất đễu" để trả lời cho ba tên công an đang đứng ngẩn người lỏ mắt há mồm ra vì mê mẩn..., nụ cười bằng mười thang thuốc bổ thời nay, để chưởi vô mặt bọn cán ngố (tiếng Việt một chữ bẻ đôi còn chưa rành, huống gì nghe họ hát tiếng Anh tiếng Tây) ngu như con bò tót mà. Dân vổ tay rần rần… rầm rầm rầm… bụp bụp bụp! Có đám thanh niên choai choai dé dé cho hai ngón tay vô miệng huýt lên thật kêu. Họ hể hả bỏ tiền lẻ vô chiếc mũ vải. Cứ thế, chúng tôi cúi đầu lạy tạ, san sẻ, bù qua sớt lại cho nhau mà sống trong đậm đà tình nghĩa, thành thật mến thương hèn mọn. Tôi có bổn phận vừa “ca-bè” vừa cầm mũ vải đi xin tiền quý vị khách thập phương hảo tâm. Có người nhận ra mình:
          - Oai Oái! Không ngờ bà ấy ngày xưa lừng danh là một hoa hậu, giàu sang và tri thức. Nay bà ta lê lết làm kẻ ăn mày, coi kìa!

          Thực ra, bây giờ trong chế độ nầy, tôi đang chìa nón đưa tay ra lạy ông đi qua, lạy bà đi lại, ngỏ hầu xin tiền bố thí, thì có hơn gì ả ăn mày nào! So sánh phận hèn tôi ở xã hội nầy, có cái gì khiến tôi mủi lòng, se se từng cơn quặn thắt nghẽn đắng trong lồng ngực cuồng quay. Có cái gì đau đau, cay cay, xót xót, đắng nghét trên bờ mi tôi vụng dại? Sao ông Trời nỡ đi chơi đâu vắng, ông không cúi xuống nhìn đời chút xíu, sao tôi không lột xác, không biếng dạng méo mó ít nhiều cho mình đỡ xấu hổ ha?

          Tôi và nhóm thương binh chế độ cũ bị Đời quên lãng vẫn âm thầm lặng lẽ, nhẫn nhịn âm thầm chịu nhục mà bò lê trên đường cần cù kiếm sống. Cho đến ngày 6 tháng 2 năm 1985, tôi đang làm cỏ ngoài ruộng, thì Bảo leo xe đò xuống Thành Ông Năm cho biết tin: tại chợ Bà Chiểu đã diễn ra trận đấu đá kinh hoàng giữa “công an và phế binh đỏ”, (phế binh đỏ, chứ không phải thương phế binh Việt Nam Cộng Hoà “du ca da cu bè”). Công an đã bắt đám đờn ca “phế binh đỏ”. (Vì “đỏ” là cờ máu Việt-cộng) mà họ chuyên hát toàn nhạc “vàng”. Do thời buổi nầy hát nhạc vàng mới ăn khách. Đỏ mà ca hát “nhạc vàng” tức là trắng trợn thành “Ngụy” rùi! Thành thật mà nói thì “nhóm đỏ” kia họ cũng có xí tài khảy đờn, ca hát giọng Bắc khi trầm ấm lúc véo von, tha thiết ngọt ngào; nghe cũng hay ra phết. Đồng bào đứng ngồi tám lớp vòng trong vòng ngoài, say mê thèm khát nghe “nhạc vàng”.

          Công an thì như vòng siết của Kremlin, luôn vươn tỏa vòi bạch tuột ra, quấn lấy “nhóm phế binh đỏ” và rượt người dân ngu khu đen tay giơ cao cờ trắng chạy té khói. Họ có đủ quyền hành để thao túng, dân ai chậm chạp có chạy đi đâu vẫn không thoát. Ấy là tôi đang nói từ những thập niên 75- 85 í nha. Công an là ông trời con ưa tùy tiện bắt giam, khảo xét, lục soát bất kỳ nơi đâu họ muốn. Dính dáng tới họ, chỉ có nước đi tới đường cùng, chết treo trong cùm, hoặc mất tích mất tang thân thể.

          Trong Điều 7 của Đạo Luật Rome đã định nghĩa: “Tội thủ tiêu mất tích Người” (Enforced Disappearance of Persons) như sau: Thủ tiêu mất tích người có nghĩa là: bắt giữ, giam giữ hay bắt cóc người ta với sự cho phép, sự hỗ trợ hoặc sự chấp thuận của một quốc gia, hoặc một tổ chức chính trị. Sau đó không nhìn nhận sự tước đoạt tự do của người ta, cũng không thông báo tin tức về số phận hoặc nơi giam giữ, với chủ tâm tước đi quyền được luật pháp bảo vệ của những người này trong một thời gian lâu dài. (Enforced disappearance of persons means the arrest, detention or abduction of persons by, or with the authorization, support or acquiescence of a State or a political organization, followed by a refusal to acknowledge that deprivation of freedom or to give information on the fate or whereabouts of those persons, with the intention of removing them from the protection of the law for a prolonged period of time.).

          Thế là từ đó nhóm “Bè du ca da cu” của chúng tôi mất đất sống, tan hàng rã đám, biệt tích giang hồ! Khổ …khổ hết biết! Khi ấy nạn cướp bóc giựt dọc luôn xảy ra tại các khu thị tứ, các trạm xe bus. Người ta bị cướp trắng trợn, giật sạch, mất trắng tay chẳng còn gì. Ai có la làng, khóc lóc, có nhảy tưng tưng, thì cũng huề cả làng. Đôi khi công an đi qua đó cũng ghé lại, làm biên bản nguệch ngoạc. Người bị cướp đứng xớ rớ, công an điệu về bót cung khai lý lịch lấy lệ, rồi xù xì bỏ đi. Bù trớt (chính tôi đã từng bị mất sạch nhiều lần).

          Đồng thời lúc nầy nạn thanh niên nam nữ ốm đói nghiện xì ke, chích ma túy công khai trên các con hẽm ở Bàn Cờ, bên khu Gò Vấp, Khánh Hội... ôi thôi không thể đếm hết. Có vài lần tình cờ đi qua khu nhà Phùng, tôi đã trông thấy nơi góc hẽm vào một sáng sớm: có bốn thanh niên đang dùng chung một ống chích. Tên con trai cầm cây kim tiêm thuốc xong, đưa cho một tên bạn đã ngồi bệt xuống đất, hắn lấy sợi dây lưng quần cột chặt cánh tay trái, và chụp nơi tay thằng đang cầm cây kim, tự nó lụi vào tay mình, máu từ mũi cây kim tuông ra thành một dòng dài trên cánh tay hắn, không có bông gòn và thuốc sát trùng sát triết chi. Một tên khác hình như thiếu thuốc, hay đến cơn ghiền dữ dội, đã nằm vật ra bên lề đường, hắn sùi bọt mép, tay chân co giật từng cơn vật vã. Tôi hoảng hồn mất vía, lo sợ tột cùng, vội vàng lủi đi thật nhanh.

          Từ khi chộn rộn sau năm 1975 bỗng đâu lại sinh ra nhiều bọn xíu xíu, dé dé, choai choai, nho nhỏ… đi đứng le te, ỏng ẹo, giọng nói ồ ồ, râu ria lởm chởm, nhưng chúng lại mặc đồ đàn bà, mặc xú chiên giả nhồi độn ở ngực hai quả bóng nhựa ti tí. Chúng thoa son dồi phấn, kẽ lông mày, trông bọn nhỏ cũng xinh xắn ra phết. Bọn “bóng lại cái” nầy đa số là con nhà khá giả, thỉnh thoảng chúng tập trung ở Bình Triệu, chẳng hiểu sao chưng diện rất đẹp, ưa giả dạng “nữ nhi đào tặc”, để trốn không đi Thanh Niên Xung Phong, hoặc bị bắt đi Nghĩa Vụ Quân Sự.

          Thế là nạn đồng tính luyến ái rần rần xảy ra, lan từ thành phố Sài Gòn về tận các miền quê. Con trai tôi ở trong ban văn nghệ cuả Huyện, mới đầu con trai tưởng bọn họ là con gái mặt hoa da phấn phè phỡn thật (khi có đoàn hát trên Sài Gòn về trong Huyện, Xã, thường có mấy “en Gay”) con cũng như ai thấy gái đẹp ngu sao không mê! xề lại, hai bên rù rì hủ hỉ ríu ra ríu rít chuyện trò vanh vách, thân mật da diết! Nhưng khi con trai bị mấy tển “bê-đê” cao lêu khêu đúng là “đĩ đực rựa”, tối đến khi tan văn nghệ, chúng cùng con ngủ chung phòng, (con lúc đó học vừa đi bán bánh bò, đi làm thuê dỡ nhà, dỡ tôn với chủ, đi xây nhà do chủ thầu mướn, con cũng có biệt tài đi đờn giỏi và hát rất hay cho ban văn nghệ Huyện, để kiếm sống). Thì nửa khuya đang say ngủ, con bị một tên đẹp nhất trong bọn cạy miệng nút lưỡi, mò cu tới tấp. Con trai hoãng sợ, la hét, tung mùng ôm quần áo chạy chạy chạy... có cờ. Nhưng, cũng thật thà mà nói có nhiều “ẻm” trông yểu điệu thục nữ, mảnh mai, duyên dáng, xinh đẹp và ca hát, múa đèn, vũ múa điệu Thái, điệu Lào rất dẽo. Giọng ca các “en” nức nở, trữ tình, nghe khá tuyệt!
          * * *

          Ở trên cõi đời ô trọc nầy, Bảo luôn bị những căn bệnh cũ hành hạ thân xác càng đau đớn và điêu đứng. Nay hoà bình về, dòng sông tình được thuyền đời trôi đi. Nhưng rồi cũng có khi thuyền bất ngờ bị sóng vùi dập, và lật úp thuyền! Bảo thật sự chới với điêu đứng khi bạn bè chiến đấu tri kỷ thân thuộc chỉ còn lác đác mấy người trên đầu ngón tay. Bảo không biết thổ lộ tâm sự cùng ai mong thông cảm, nên Bảo rất đau buồn! Có thêm cơn bệnh trầm kha ẩn dưới đôi lông mày khiến Bảo luôn nhíu lại... mà không có thuốc chữa.

          Chuyện hồi xưa và ngày nay, Bảo mang trong trái tim cuồng nhiệt xót xa và thổn thức. Bảo biết đói khổ, đau đớn từng giờ, từng ngày. Nỗi đắng cay oan nghiệt, rền rĩ siết chặt giữa hai hàm răng khát khao nghiến lại. Sự đớn đau luôn cào xé dày vò tâm trí và thân thể Hoàng Ngọc Bảo, người lính trung thành với chính phủ Việt-Nam Cộng Hoà, đã không e dè đem thân xác mình làm bục kê, làm bàn đạp để người khác dẫm lên. Chiến sĩ ấy âm thầm lấy lưng đỡ đạn, cùng đồng đội quyết chí ở lại trên chiến tuyến đến giờ phút quê hương lâm chung, mà van lơn người đã ra đi, thống thiết van xin người bỏ nước ra đi tìm tự do:
          Hãy gửi về cho chúng tao vũ khí
          Thằng cụt tay sẽ chỉ cho thằng mù mắt bấm cò
          Thằng còn chân sẽ cõng thằng què quặt
          Trận chiến sau cùng này sẽ không có Dương Văn Minh
          (3*)

          Dù tật nguyền cùng khắp thân thể, nhưng mặt mày Bảo vẫn đẹp trai, ăn nói tao nhã duyên dáng, nhất là Bảo có tài kể chuyện đời lính “oai hùng, hùng hồn và mất hồn” đó đây rất hấp dẫn. Bảo kể chuyện tiếu lâm khá có duyên, khiến người nghe say sưa, thỉnh thoảng Bảo ha hả cười rất thoải mái, mà quên tiệt bụng co thắt từng cơn đau bao tử và đang cồn cào đói kha1 vẫn như thế. Ở gần bên tôi không còn người cháu thân thiết hiền lành vui vẻ và cùng nhau chia xẻ ngọt bùi! Tôi đã xa Bảo, Bảo về Phan Rang rồi, tôi lại càng nhớ đến cháu Bảo thân yêu vô cùng! Sau năm 1998 cuộc sống gia đình Bảo rất đạm bạc, bần hàn, nếu không nói là quá nghèo khổ nơi xứ chó ăn đá gà ăn muối. Bảo dựng tạm một căn chòi bé nhỏ lụp xụp ngay sát khu nghĩa địa tại Phan Rang, một góc nhà bên hướng phải đã kê lên trên mấy ngôi cổ mộ. Chung quanh nhà Bảo toàn là mồ, đúng là một bãi tha ma u ám đầy bóng tối và kinh dị. Ấy thế mà Bảo và vợ con họ không hề sợ ma. Có phải chăng từ khi đổi đời thì họ “sống” giữa “người chết”, coi bộ “âm ty địa tào” còn hiền lành hơn trăm lần sống trên trần thế?! Hay là bởi tự cái số kiếp oái uăm, bắt Bảo phải sống “tử thủ” với mồ mã ông bà cha cố người đã chết; kể từ khi Bảo lột khỏi thân thể bộ áo lính Dù, để đổi đời!!?

          Bảo lui về quê vợ ở Phan Rang, sống ẩn dật (mãi về sau nầy khi gia đình tôi đi Mỹ, tôi có chuyển cho Bảo vài ngàn, nên Bảo đã mua một chiếc xe cúp, Bảo làm nghề “xe ôm” bằng một chân giả, một chân thật, cộng với một mắt thật trông chừng con mắt giả, để nhìn rõ đời không bị giả tạo thêm)!!! Năm 2005 Bảo lâm trọng bệnh, Bảo có em trai là Thịnh và vợ là Hạnh ở Mỹ liên tục chuyển tiền hậu hỉ về nhà, để một thằng em trai nữa tên Toàn đem Bảo đi ra đi vô Sài Gòn - Phan Rang không biết bao nhiêu lần.

          Căn bệnh trầm kha từ ngày chinh chiến ấy đã gậm nhấm, đào xới, bào mòn, tướt đoạt đi của Bảo nhiều miếng thịt: trong phổi, trong tim, trong chân tay… bây giờ hoạn nạn bệnh tật đã đối mặt lây lan khắp thân thể Bảo, nó hoành hành ăn tươi nuốt sống Bảo mất rồi. Bảo bị mù cả hai mắt, không còn nhìn thấy Đời. Toàn thân và tay chân Bảo sưng phù, nhớt nhau nước nhờn chảy ra trên lưng Toàn (em trai là sĩ quan VNCH bị tù "cải tạo" bốn năm), Toàn thương anh tật nguyền, em không nở ra đi, mà em tình nguyện ở lại Việt Nam ngày ngày em vẫn cùi cụi cõng Bảo đi ra đi vô bệnh viện). Bảo “nằm lì” trên tấm lưng thằng em ruột, rầu rĩ đọc bài thơ:
          Tao bị thương hai chân
          Ngày "giải phóng miền Nam"
          Vợ tao "ẳm" tao như một đứa trẻ sơ sanh...!
          Ngậm ngùi rời "Quân-Y-Viện"
          Trong lòng tao chết điếng,
          . . . Vợ tao: như "thiên thần" từ trên trời rơi xuống...
          Nhìn hai đứa con ngồi trong căn chòi gió cuốn, bụi đất đỏ mù bay!
          Tao thương vợ tao yếu đuối chỉ có hai tay
          Làm sao "ôm" nỗi bốn con người trong cơn gió lốc.
          Cái hay là: Vợ tao dấu đi đâu tiếng khóc.
          Còn an ủi cho tao, một thằng lính què!
          Tao đóng hai cái ghế thấp, nhỏ bằng tre,
          Làm "đôi chân" ngày ngày đi lại
          Đời lính gian nan sá gì chuyện gió sương...
          (Trang Y Hạ)

          Bảo lặng lẽ âm thầm nghiến cục sạn giữa hai hàm răng mà không hề oán trách số phận quá tàn ác! Một ngày kia Bảo đã không thể chịu đựng cơn đau đớn hành hạ thể xác lẫn tinh thần hơn, Bảo từ trần vào ngày 19 tháng 8 năm 2005. Trước khi lìa đời, trong cơn đớn đau kinh hoàng chới với mê sãng, Bảo vẫn luôn miệng nhắc tới tên những vị chỉ huy, nhắc tới vị tướng Trần Quốc Lịch mà Bảo tôn kính, miệng Bảo kêu tên những đồng bạn, họ vì tổ quốc và quê hương đã ra đi khỏi tầm mắt của Bảo.

          Nhưng họ không ra khỏi lòng Bảo một giây phút nào; dù đôi mắt Bảo mù lòa vĩnh viễn khép lại từ lâu, và lòng Bảo đã đóng chặt cửa. Nhất là Bảo chẳng khi nào có ý ngoảnh mặt phản bội quê hương, để đi ra khỏi lãnh thổ Việt Nam có hình chữ S dấu yêu. Quê hương đã ôm trọn Hoàng Ngọc Bảo vào lòng. Đất mẹ không từ bỏ hất hủi Bảo bao giờ (khi mộng ước của Hoàng Ngọc Bảo đã không thành!) như Nguyễn Trường Tộ đã nói:
          “Nhất thất túc thành thiên cổ hận.
          Tái hồi đầu thị bách niên thân” .
          (Một bước lỡ để nghìn năm mang hận.
          Ngoảnh đầu trông lại đã trăm năm)
          (*)
          Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
          Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh
          (**) (*)

          Bảo dư biết ý đó nghĩa là:
          (*) Từ xưa đến nay hỏi rằng ai không chết? Hãy để lòng son chiếu sử xanh. Đây là hai câu thơ tiếng Hán của một tướng lãnh Trung Hoa, tên Văn Thiên Tường.
          (**) Hai câu thơ sau của Nguyễn Công Trứ. Hoàng Ngọc Bảo cũng biết ý tác giả là: “người ta chưa chắc ai hơn ai, mà chỉ biết ai anh hùng sau khi thời thế đã xảy ra”.

          Giống như bài thơ “Chiến Mã Ca” của anh tù học tập “cải tạo” Lê Xuân Nho trầm uất ai oán được anh tù “cải tạo” Trần Lê Việt phổ thành nhạc rất tuyệt vời, (vì có mấy lần Bảo đã về Hốc Môn ở lại nhà tôi sáu tháng). Bảo nghe nhóm “Tù ca Xuân Lộc Z 30 A” bạn chúng tôi, khi ra tù mỗi tháng họ đều hẹn hò họp bạn tại nhà tôi, để đàn ca. Bản nhạc nầy Bảo rất thích và đã thuộc lòng. Trước lúc vĩnh viễn từ bỏ cuộc đời đành buông thỏng hai tay, bất chấp những dày vò trong tâm tư, cùng những cơn đau thể xác triền miên hành hạ, Bảo chấp nhận số phận mình đã “thua cuộc chơi” (chứ chẳng phải mình là người lính “thua cuộc chiến”). Bảo đã não nuột cầm cây đàn mà ca rất hay:
          Vàng phai trên thanh gươm.
          Người mái tóc điểm sương.
          Ngựa tung vó trong mưa buồn trên quê hương sầu thương.
          Đường mây vỡ tan thành mộng cô đơn còn mơ sa trường.
          Bóng xô nghiêng hoàng hôn.
          Mài gươm trong cô đơn người nuốt những hờn căm.
          Ngựa nuôi móng non thay bờm trên quê hương cuồng phong.
          Đường xa dẫu xa muôn trùng trong đêm nay
          Ngựa phi sa trường bóng dõi bóng quê hương.
          Chiến mã tiến đến sát dòng sông
          đêm quê hương mênh mông sao chưa hừng đông?
          Chiến mã rất khát nước trong trên quê hương tang thương.
          Ai qua trường giang !!! ??? (4*)
          *

          (1*) TP
          (2*) Phạm Đức Nhì
          (3*) Nguyễn Cung Thương
          (4*) Trần Lê Việt & Lê Xuân Nho...
          ***

          Tình HOÀI HƯƠNG

          (dì HH tưởng nhớ cháu Bảo:
          19 tháng 8 từ giã cuộc đời…)
          Last edited by Tinh Hoai Huong; 08-16-2017, 11:35 PM.
          Bút trần nào tả được lưu luyến!
          Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
          Tình Hoài Hương

          Comment

          • Tinh Hoai Huong
            Senior Member
            • May 2009
            • 1081

            #215
            Anh Tài Nghĩa Dũng: MAI THÚC LOAN

            Từ khi Việt Nam rơi vào ngày “mất nước” 30 tháng Tư 1975, thì hầu như tất cả trường, lớp, chẳng có giờ học về môn: Công Dân Giáo Dục & Sử Ký & lịch sử Việt Nam nữa (1975 – 1993…)
            Hôm nay, tôi xin mạn phép cùng quý vị độc giả… kể những chiến tích oai hùng, những kỳ công anh dũng, và quật cường của tổ tiên ông cha của chúng ta. Họ đã dày công xây dựng, giữ gìn non sông gấm vóc Việt Nam hưng thịnh trường tồn đến bây giờ.

            * Tiếp theo chuyện hai bà Trưng Trắc Trưng Nhị - chuyện bà Triệu Thị Chinh - Đức HƯNG ĐẠO Vương TRẦN QUỐC TUẤN - Danh Nhân Kiệt Xuất: NGUYỄN TRÃI đã ghi.
            Nay tôi xin kể hầu tiếp quý vị về - Anh Tài Nghĩa Dũng: MAI THÚC LOAN -
            *
            {THH xin trân trọng cám ơn giảng sư Nguyễn Văn Trung … đã dạy tôi học môn Sử, (Địa) VIỆT NAM.
            * THH biên soạn bài viết theo lịch sử Việt Nam, từ:
            * ít sách trong Bộ Giáo Dục V N C H
            * Việt Nam Sử Lược (Trần Trọng Kim).
            * Nam Hải Dị Nhân (Phan Kế Bính).
            * Đại Cương Lịch sử Việt Nam (Nguyễn Khắc Thuần).
            * Notion d’ Histoire d’ Annam, par Maybon et Ruissier.
            * Abrégé de l’ Histoire d’ Annam, par Shreiner.
            * ít nghiên cứu từ Wikipedia}
            Tình Hoài Hương
            ***

            Anh Tài Nghĩa Dũng: MAI THÚC LOAN



            Tương truyền thì nguyên gốc bà mẹ của ông Mai Thúc Loan, rằng: bà sinh sống tại Thạch hà, Hà Tĩnh. Bà mang thai con (nhưng không có chồng), nên bà di dời gia đình đi sống ở vùng Nam Đàn, Nghệ An. Bà đã sinh ra ông Mai Thúc Loan. (Không ghi ngày sinh. Chỉ có ghi ngày tử: năm 772).

            Theo (Wikipedia) thì Mai Thúc Loan sinh tại làng Hương Lãm, Huyện Nam Đường. Nam Đàn. Tỉnh Nghệ An. (1) & theo truyền thuyết: ông Mai Thúc Loan sinh tại thôn Ngọc Trừng, Hoan Châu. Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (2). Nhưng theo “Việt Nam Sử Lược” của Trần Trọng Kim quyển 1, trang 64, thì Mai Thúc Loan là người huyện Thiên Lộc, (Can Lộc) Tỉnh Hà Tĩnh … {(1), (2), (3) "mỗi nơi một ý thì... biết đâu mà… mò”, !!!}

            Mẹ con bà nhà nghèo ở gần biển, làm nghề muối, con trai lên rừng mót củi, chăn trâu. Thuở nhỏ khi ông mới mười tuổi, thì mẹ mất sớm, ông lam lũ làm thuê mướn khá vất vả, khổ sở, nhưng ông vẫn không hề quản ngại. Ít lâu sau ông được dưỡng phụ Đinh Thế nhận nuôi. Dù mặt mũi ông đen sì, nhưng vóc dáng to cao, rất khoẻ mạnh. Đặc biệt tính tình đôn hậu, hiền lành, ông chuyên cần, chăm chỉ, học hành khá giỏi, lại có ý chí cao. Sau khi trưởng thành, ông được dưỡng phụ gã con gái cưng là Ngọc Tô tính tình đoan trang, dịu hiền và đảm đang, vì nàng Ngọc Tô có:
            Cổ tay em trắng như ngà
            Con mắt em liếc như là hoa cau
            Nụ cười chúm chím hoa ngâu
            Cái khăn đội đầu như thể hoa sen
            (ca dao)

            Tuy "con mắt em liếc"... và có "nụ cười chúm chím"... duyên ơi là duyên như thế, nhưng quả thật nàng đoan trang, nết na và thuỳ mị! Nhờ vợ có tài tháo vát đảm đang trong gia đình, chăm chỉ làm ăn, vã chăng bà là con nhà gia giáo, biết được tâm ý chồng muốn làm những việc hữu ích cho giang sơn, giúp dân bớt lầm than điêu đứng:
            Con quốc kêu khắc khoải mùa hè
            Làm thân con gái phải nghe lời chồng
            Sách có chữ rằng: Phu xướng phụ tuỳ
            Làm thân con gái lấy chồng xuất gia...
            (ca dao)
            Khi gặp thời vận tốt bà hăng hái động viên khuyến khích chồng nên tuỳ cơ ứng biến.
            - Tháng Tư năm 713, ông Mai Thúc Loan, và phu phen vất vả nhọc nhằn băng rừng vượt dốc để gánh quả, vải, thóc lúa v.v… vì họ phải lo đem đi nộp cho quân Đường (thời thịnh trị của Huyền Tông Đường Minh Hoàng). Nhưng quân tướng bọn nhà Đường chúng quá ác ôn, dã man, côn đồ, chúng luôn hống hách đánh đập dân ta không hề thương xót.

            Thuở ấy bọn quan quân nhà Đường lại bạo ngược, tàn ác, bắt dân An Nam (Việt Nam) nộp siêu cao thuế nặng; khiến dân chúng điêu đứng, khốn khổ điêu linh trăm bề, vẫn không dám ca thán. Thế mà dân ta vẫn không có miếng ăn, đói khát và nhục nhằn triền miên, áo quần họ tả tơi rách rưới như xơ mướp... Nhục nhã xấu hổ và lầm than trăm bề thân trâu ngựa! Thời đó đã có bài hát chầu văn trong dân gian:
            Nhớ khi nội thuộc Đường triều
            Giang sơn cố quốc nhiều điều ghê gai
            Sâu quả vải vì ai vạch lá
            Ngựa hồng trần kể đã héo hon
            .

            Ông Mai Thúc Loan luôn luôn sống trong nỗi uẩn ức muộn phiền, trong lòng ông canh cánh mối lo âu dày vò sâu lắng, vì con cờ thế cuộc là nỗi ám ảnh ray rứt trong tim, khiến ông bối rối và trăn trở khôn nguôi. Bất bình vì bọn Tàu độc ác tham tàn, ông Mai Thúc Loan thường kết thân với các bậc anh tài nghĩa dũng trong nước, kết tâm giao với các bạn chung chí hướng. Người người yêu thương nhau trong tình huynh đệ sắt son, chung chí hướng nghĩa đồng bào tương thân tương trợ nhau như tri ngộ tri kỷ.

            Mọi người quan, tướng, dân chúng, các phường săn và phu phen… đều đồng tâm hợp lực (có sự yểm trợ của ngoại bang Chân Lạp, Cham Pa, & Lâm Ấp, Malaysia). Họ đã giúp ông thành công trong việc chiêu mộ binh sĩ lên tới vài ba chục vạn người tại các châu: Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá... cộng chung tất cả có 32 châu. Thế lực càng lúc càng mạnh & vững vàng hơn, ngày ngày quân dân lo làm vườn làm ruộng, sau giờ lao động chân tay, họ chuyên cần hăng say ráo riết rèn luyện võ nghệ tại núi Rú Rậm, là vùng đất hiểm trở gần sông Lam. Họ một lòng nuôi dưỡng mối phục hưng, quân dân đóng trại ở Vệ Sơn, xây thành đắp luỹ đài kiên cố dài hơn ngàn mét dọc bờ sông Lam. Nơi đây là chỗ tích lũy vũ khí, lương thực, và nơi huấn luyện quân sự an toàn trong việc chỉ huy của hai đạo quân: Thủy-quân và Bộ-binh từ quanh vùng: Vệ Sơn, Biểu Sơn, Ngọc Đoái Sơn, Liêu Sơn.

            Một ngày kia họ đồng tâm hiệp trí, quyết chí đứng lên mưu cầu việc đánh đuổi bọn nhà Đường ra khỏi đất nước. Họ đã nổ ra vụ khởi nghĩa kháng chiến quyết liệt, ấy là lần đầu tiên xuất phát từ Rú Đụn:
            Anh em cốt nhục đồng bào
            Kẻ sau người trước phải hầu cho vui
            Lọ là ăn thịt ăn xôi
            Qúy hồ ở nết tới lui bằng lòng
            (ca dao)

            - Năm Giáp Dần (714), đoàn quân Mai Thúc Loan thừa thắng xông lên, sau trận ấy ông Mai Thúc Loan lên ngôi vua, lấy hiệu là Mai Hắc Đế. Vua, quan, và nghĩa quân đi đánh quân nhà Đường đang đóng tại thành Tống Binh (Hà Nội bây giờ). Bọn giặc Tàu và chủ tướng Quang Sở Khách không chống cự nỗi, phải bỏ thành Tổng Binh co giò rút cổ chạy thục mạng về nước Tàu. Quân dân ta chiến thắng vẻ vang, lúc bấy giờ :
            Ngang lưng thì thắt bao vàng
            Một tay thì cắp hỏa mai
            Một tay cắp giáo quan sai xuống thuyền
            Thùng thùng trống đánh ngũ liên
            (ca dao).
            ***
            Năm Khai Nguyên I đời Đường, vua Huyền Tông của Trung Hoa bèn sai Dương Tư Húc, (còn có tên là Dương Tư Miễn) & Dương Sở Khách đem một đạo quân đông gấp mười lần quân ta, chúng theo đường biển đi trở lại xâm lăng nước ta. Tại thành Tống Binh, nhiều phen từ sông Hồng tới sông Lam hai bên đánh nhau ác liệt. Bên Tàu ỷ thế mạnh hiếp người, chúng coi mạng sống con người như rơm như rác, hết lớp nầy gục ngã xuống, thì lớp người khác xông lên. Cuối cùng Mai Hắc Đế không thể đương đầu với chiến dịch biển người của Tàu, (lấy thịt đè người). Phe ta đành thua trận, đàn quân tan rã, thành Vạn An mất vào tay giặc. Còn lại số ít quan, tướng, vua, và binh sĩ phải rút về vào rừng sâu, quyết nuôi ý chí phục thù diệt bọn xâm lăng.

            Thuở ấy quân sĩ ta cầm cung, kiếm, gươm, dao, cờ lịnh để đánh giặc, vũ khí mộc mạc thô sơ, khiêm tốn... và không dồi dào lương thực như bây giờ, nhưng họ không hèn nhác, mà anh dũng chiến đấu. Một thời gian khá dài... do eo hẹp thiếu thốn thực phẩm, thuốc men, và cuộc sống lầm than lao tâm lao lực khổ cực trăm bề, không bao lâu vua Mai Hắc Đế bị đau nặng, và sau đó ông mất vào năm 772. Tại đền thờ xã Diên Vân, huyện Nam Đàn có bài thơ ghi công đức của vua Mai Hắc Đế:
            Hùng cứ Châu Hoan đất một vùng
            Vạn An thành lũy khói hương xông
            Bốn phương Mai Đế lừng uy đức
            Trăm trận Lý Đường phục võ công

            Lam Thủy trăng in tăm ngạc lặn
            Hung Sơn gió lặng, khói lang không
            Đường đi cống vải từ đây dứt
            Dân nước đời đời hưởng phước chung


            Khi xưng vua, ông Mai Hắc Đế rất có công cho xây thành đắp luỹ, lập kinh đô tại Vạn An. Sau mười năm dựng nước và giữ nước, ông đã đem đến cho toàn dân sự an bình, độc lập, có một thời hưng thịnh ấm êm, sung túc.
            ***

            Ngày xưa quân sĩ cầm gươm, dáo, búa, rìu, quần áo đơn sơ, chân trần chỉ chạy bộ… đi diệt quân thù. Ngày nay, ước chi toàn dân Việt Nam đều đồng lòng hiệp lực cầm súng dài, súng ngắn, lựu đạn, bom… leo lên xe hơi, xe tăng, máy bay chiến đấu, phi cơ phản lực… văn minh tiến bộ và tinh vi; chúng ta sẽ hiên ngang oai dũng đứng lên đánh đuổi bọn Tàu chệt có mộng bá chủ toàn cầu, chuyên đi xâm lăng; cướp đất giành biển Đông nói chung, và thôn tính đất nước Việt Nam nói riêng.

            Phải chi giờ đây chúng co giò, cong lưng, cúi đầu, te cò cút ra khỏi bờ cõi Việt Nam thân yêu, để đất Việt hoàn toàn độc lập, thanh bình, và yên vui như thuở xưa, khi “Việt Nam chưa bị mất nước vào tay giặc”… thì tuyệt vời biết bao!: (Như anh tài nghĩa dũng Mai Thúc Loan và toàn quân sĩ đã oanh liệt cầm cung, tên, dáo, mác, họ thô sơ… quyết chống ngoại xâm quan quân nhà Đường bạo ngược, tàn ác thời bấy giờ).

            Thì ngày nay bắt chước tiền nhân, chúng ta buộc chúng phải:
            Trả lại đây núi non xa…
            VIỆT NAM vang bóng sử ca nghìn đời.
            Từ ngày “người lạ” đổi thời.
            HOÀNG SA độn thổ rã rời quắt quay.

            Bên ngoài thế giới có hay?
            NAM QUAN ẢI mất; đọa đày lắm thay!
            Xế chiều tuổi đã vàng bay...
            Núi sông ngậm đắng nuốt cay ai đòi?!

            Ngàn Thu nỗi hận đầy vơi.
            Ước mơ sông núi cuối đời về TA.
            Đồng bào hỡi! Khắp gần xa.
            Đứng lên giành lại sơn hà VIỆT NAM
            .
            (*).

            Vô cùng khát khao ước muốn quê hương mình thực sự có độc lập, tự do, thanh bình và vinh sang; để người người hân hoan thoải mái, vui vẻ nhìn nhau nở nụ cười rạng rỡ đoàn viên hạnh ngộ; không còn cảnh chua xót đắng cay bẽ bàng:
            Nhìn nhau lệ ứa thấm bâu
            Nỗi thương chưa dứt nỗi buồn lại vương
            Nhiễu điều phủ lấy giá gương
            Người trong một nước phải thương nhau cùng.
            (ca dao).

            Dường như ông Huỳnh Thúc Kháng sau thời loạn, cũng muốn nhắn nhủ cùng hậu thế bài thơ:
            Non sông ấy còn chờ ta thêu dệt
            Kìa tụ tán chẳng qua là tiểu biệt
            Ngựa Tái Ông hoạ phúc biết về đâu!
            Một mai kia con tạo khéo cơ cầu
            Thảy bốn bể cũng trong bầu trời đất cả
            Ư bách niên trung tu hữu ngã
            Dẫu đến lúc núi sụp, biển dời, trời nghiêng đất ngã
            Tấm lòng vàng tạc đá vẫn chưa mòn
            Trăng khuya khuyết đó lại tròn.

            ***

            (*) Thơ Tình Hoài Hương.

            Tình Hoài Hương
            Last edited by Tinh Hoai Huong; 11-30-2017, 11:07 PM.
            Bút trần nào tả được lưu luyến!
            Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
            Tình Hoài Hương

            Comment

            • Tinh Hoai Huong
              Senior Member
              • May 2009
              • 1081

              #216
              Đêm NOEL và Những Phím Loan



              Đêm NOEL và Những Phím Loan


              Đêm Noel về thật sâu lắng, sương muối hạt to to, mòng mọng tròn tròn lung linh là đà rơi đầy trên thành phố Đà Lạt trầm lặng nên thơ, thi vị và mơ mộng mà huyễn hoặc. Từng bè mây trắng phiêu lãng thấp thoáng sau những vũng sương mù tan loãng bay bay về cuối rừng, mây cuộn thành từng lọn trắng bồng bềnh nhấp nhô lờ lững trôi trên không trung nhợt nhạt. Gió lồng lộng lũ lượt thổi qua vườn thông sau đồi nhà ba má tôi, nhạc thông reo vi vu nghe lao xao, rì rào và bất diệt. Mùi thơm muôn hoa trong vườn quyện lẫn mùi nhựa thông thoang thoảng đưa vào phòng, bất giác lòng tôi se lại qua khe rèm hở giữa hai cánh cửa chớp. Bầu trời tỏa lạnh cùng khắp mạch núi rừng hoang dại, cái lạnh buốt giá se se xoáy vô thịt da, ăn sâu vào lòng người, nhưng đầy thi vị và hữu tình biết bao!

              Sau khi các bạn đã đi rồi, tôi tỉnh ngủ nhưng vẫn leo lên giường nằm đắp mền kín cổ, nhìn mấy con thạch sùng cắn đuôi nhau chạy quanh ánh đèn néon. Lòng cảm thấy trống trải, ưu phiền, bâng khuâng vô ngần, chen lẫn nỗi buồn chán tiếc nhớ vẩn vơ, nghẹn ngào muốn ứa lệ. Tôi hồi tưởng không biết bao nhiêu buồn vui xếp lớp lăn tăn, và nhịp tim dập dồn đập mạnh, cuồng quay trong những phím loan. Tôi không thể hiểu tôi cần gì, muốn gì!? Bây giờ… Có thể người ta đang tưng bừng rộn rã đón mừng đêm Noel, đang hoà mình vào làn sóng người lượn trên phố như trẫy hội. Chứ chả ai ngu dại trầm mình vào nỗi cô quạnh như tôi. Tôi hiểu rằng: Từng nầy cảm xúc, buồn phiền, tủi hờn, có thể quật ngã một con người khỏe mạnh, vui tươi nhanh chóng như vậy!

              Ừ nhỉ! Lẽ ra mình không nên “ác” với Phú trước mặt các bạn. Không nên diễu cợt tình cảm với Nam đến thế! Để làm gì? Tất cả những thứ đó chỉ là đùa trò trẻ con và lố bịch. Vì những tha thiết mặn nồng yêu thương chân thật, tôi có thể tìm thấy ở Phú (nếu không phải là người xưa, hay là ai khác). Thế nhưng, tại sao tôi lại chối từ Phú? Sao tôi nỡ lòng quay lưng ngoảnh mặt, “tự dày vò và làm khổ nhau” đến vậy không biết?! Tại sao? Hay chả còn bao lâu nữa, tôi sẽ lạnh lùng quay mặt về hướng khác, vứt bỏ sau lưng quãng đời dài thân thiết nhất? Dù những chuyện đó sâu thẳm như thung lũng tình yêu, hấp dẫn đầy ắp như chân trời hứa hẹn một tương lai tươi sáng đang bừng tỉnh?

              Bỗng chú kiến lửa cắn vào cổ tôi nhức nhối đau nhói. Tôi nhăn mặt xuýt xoa, vụt ngồi dậy. Tung mền ra, tôi quay quắt chà xát vào chỗ sưng vù và đau nhiều lần. Sợi dây chuyền vướng vít vào ngón tay đã bị đứt lìa ra hai đoạn. Sợi dây chuyền nầy vào dịp Noel năm xưa cố nhân trao tặng, anh ta đã ưu ái đeo vào cổ tôi, ân cần nói những lời âu yếm nồng nhiệt yêu thương xiết đỗi. Kỷ vật đó suốt tháng năm tôi mang trong cổ, dù thời gian đã trải qua bao giông tố, ấy thế mà tôi vẫn không rời. Sợi dây chuyền vàng có chữ H, là quà tặng đính ước của hôn phu đã nói với tôi điều gì!? Trước mắt tôi là những đợt sóng ngầm lạnh lùng vùi dập, làm tan biến hình ảnh người yêu, nó đã mất hút tầm nhìn vào vùng kỷ niệm tháng ngày qua.

              Nay, dù đã xa rồi nhưng chẳng hiểu sao bừng sống lại, khiến tim tôi đau thắt và sợ hãi kinh khủng. Tôi ngẩn người cầm hai đoạn dây chuyền đưa ra ánh đèn xem xét, lòng cảm thấy tiếc ngẩn tiếc ngơ. Dường như tôi vừa đánh mất một cái gì quý giá nhất đời: mất một cánh tay, một bàn chân, một nhịp thở lỗi nhịp, một mãnh tim vỡ, một chéo mộng quan hoài khiến vết thương lòng thêm héo hắt hơn. Bởi vì chuyện chia xa nầy rất phi lý là: do chính tôi đoạn tuyệt mối tình nên thơ êm đẹp rất trong sáng, đứng đắn đàng hoàng; cả hai người đối với nhau chẳng hề có lỗi lầm nho nhỏ nào (nhưng chỉ vì anh ta ưa có thói buông thả tình cảm lả lơi đùa cợt tíu tít với mấy cô! Do lỗi tại tôi quá ghen, tức bực, nên tự ý giã biệt, mà ra nông nỗi)! Tôi đã muốn như thế, thì lẽ ra tôi đừng khêu to đống tro tàn bên lò sưỡi, đừng đốt thêm ngọn bạch lạp nơi góc phòng xưa.

              Bản tính muôn thuở của tôi vốn dĩ không thích thay đổi, tôi rất mến yêu kỷ niệm, thủy chung. Dư vị quá khứ đắng cay đọng trên lệ nến nầy: Khung ảnh gỗ xinh xinh lồng tấm ảnh anh ta ngày ấy, nay còn trống chỗ vẫn ở trên mặt bàn lạnh từ bao năm, kỷ vật đã yên ổn an vui trong vị trí tôi đặt để: Lọ hoa màu huyết dụ còn cánh nhung hồng đơn lẽ héo úa gục đầu. Bàn viết, ghế dựa, sách vở, bút viết, tạp chí, giấy trắng với bình mực tím vơi cạn. Những phong thư bạn bốn phương nằm im trong hộp đựng. Tủ quần áo, giường nệm độc thân y nguyên chỗ cũ. Chúng lẵng lặng nhìn chân dung tôi có nét ủ dột thẩn thờ đã treo trên bức tường vàng lạnh lẽo. Tôi tin rằng mình không sai lầm khi con búp bê biết cười nói đặt trên giá sách do anh Phong gởi từ Mỹ về. Cạnh ô cửa là chú mèo lông xù của Thắng. Bên đàn gà mẹ gà con lít chít của Đan. Phía dưới là chú nai tơ xinh xắn của Phú ngơ ngác nhìn tôi buồn rầu đau đớn. Cạnh đó là gấu đen của Nam bừng giận lúc tôi chán chê cuộc đời. Mấy cành hoa giấy đỏ của Yến Nga cúi đầu rơi lệ khi tôi khóc. Còn đây, gần khung cửa sổ là những kỷ vật của “người xưa”.

              Những món quà vô tri vô giác nhưng thiết tha trìu mến vô ngần: Chúng từng theo gót chân tôi phong trần đi đó đây suốt quãng đời dài, lẵng lặng đồng cảm cùng tôi vui buồn thương giận, yêu và đau khổ, mà không thốt nên lời chăng!? Sáng, trưa, khuya, chiều, sớm, tối; “chúng” lặng câm chia sẻ nỗi niềm. Tôi yêu chúng, vì chúng đã tận hiến cho tôi bao kỷ niệm đắm say yêu kiều dịu ngọt lẫn vò xé nỗi đớn đau tận cùng. Chúng trọn vẹn tận hiến cho tôi một lần duy nhất trong cuộc đời vô tri, rồi lặng lẽ xếp mình vào niềm vui kỷ vật. Chúng trân trân nhìn tôi đắm chìm trong cơn mê, như muốn nhắn nhủ tôi điều gì!? Gợi lên lòng mình những bài học xót xa đã bị vùi quên vào dĩ vãng lăn lăn sóng gợn. Chúng nhìn tôi như thầm trách bao điều không thể nói được. Vì thế, chúng lạnh lùng câm nín giận dỗi giương đôi mắt nai tơ chối từ thân thiện.

              Cùng với sự giận dữ vô cớ bừng bừng dâng cao, phản ứng tuy vô tình nhưng chớp nhoáng, nhanh hơn nhịp đập tim co giật trong lồng ngực cuồng quay, tôi nhảy phóc xuống giường, chạy đến mở cửa sổ, mạnh tay quăng hai khúc dây chuyền lủng lẳng chữ H vào đêm tối, xa thật xa khu vườn thông rợp bóng đêm. Gió lạnh ùa vào phòng tê buốt, khiến toàn thân tôi co ro, cúm rúm, mặt mày dúm dó, tái xanh, tay chân nổi ốc trâu sần sùi, hai hàm răng lập cập va vào nhau lộp cộp. Tôi bàng hoàng, xúc động, run rẩy ngẩn ngơ tựa lưng vào tường, đăm đăm nhìn giá sách mập mờ đong đưa kỷ niệm vàng son một thuở. Tại sao thế nhỉ?! Nhất cử nhất động hôm nay, là bước lại những bước chân quá thuộc lối trên nẽo đường mòn hôm qua. Ở mỗi lối ngoặt trong cơn lốc đều hiện rõ từng nét mặt thân thiết, ân cần mời gọi, nhớ nhung, mơ hồ, và tuyệt vọng!? Cho dù sóng thần có cuốn phăng đi chân dung người tình và gió bão uà về xua mây mù che khuất nẽo tương lai. Thì cái thế trong tôi vẫn không nao núng! Kỷ niệm xa xưa về cuốn phim tình ẩn hiện chập chờn trên sóng nhấp nhô, bừng sống trong lòng tôi dù trong khoảnh khắc, nhưng rõ đến nỗi tôi nhìn trân trân vào bóng tối, mà hình dung bước tình xưa rón rén bên hiên nhà, có tiếng thì thầm rất khẽ lời tỏ tình vụng dại giữa đêm đông!

              Bầy dế quay cuồng bay lượn reo hoan ca hát trong đêm muôn trùng, rồi bu quanh trên những ngọn đèn đường vàng vọt trước cổng nhà, vòng bay mỗi lúc một nhanh, khi chúng bay toả rộng ra, khi thu nhỏ lại, rồi hình như chóng mặt, bất thần chúng rơi phịch xuống đất. Trên lầu ngay chỗ tôi đứng, một con cánh cam có lớp vỏ cứng, bóng láng, ánh lên màu biếc xanh, trông rất đẹp, nó xòe đôi cánh cứng, bên trong lộ ra hai cánh màu nâu mỏng te, có nhiều sợi gân nổi trên lớp cánh thưa mềm mại như tấm voan xinh xinh. Nó khéo léo uyển chuyển khép dần bốn cánh, coi thật gọn ơ. Nó lại bay vù vù và bỗng dưng đập đầu vào ô cửa kính kêu cái cộp. Tôi mở cửa sổ ra, len lén thò tay nhón bắt con cánh cam, cúi xuống nâng niu trong hai bàn tay khẽ khàng bụm lại. Con cánh cam thừa lúc tôi sơ hở không bụm chặt tay, nó vuột ra khỏi lòng bàn tay tôi, bay đi mất dạng.

              - Ngân Thụy! Làm gì mà ngẩn ngơ ra vậy? Em?

              Giật bắn người, tôi bàng hoàng nhìn xuống đường, ngơ ngác ngó kỹ, tìm kiếm trong bóng đêm khi ngờ ngợ nghe Cảnh gọi. Tôi cứ tưởng người đứng thấp thoáng dưới cánh cổng cao dày kia, là kẻ trộm định leo tường vô nhà mà run run. Những giọt sao đêm Noel qua ô cửa lấp lánh nghiêng mình vẫy gọi tôi vui mừng hân hoan bước xuống lầu. Tôi đi dọc theo khu vườn hoa đã thấm đẵm sương đêm, đôi dép da nghiến lạo xạo trên lớp sỏi trắng, con đường rộng dẫn ra cánh cổng sắt rất to dày và cao lút đầu người. Tôi tới gần cổng ngoài, lách cách mở ổ khoá, tôi do dự có chút ngỡ ngàng giây lát rồi chào Cảnh, nhìn anh chằm chằm, rồi né qua một bên cho anh vào. Cảnh đóng cánh cửa, bấm ổ khóa xong, anh quay nhìn tôi mỉm cười, e dè hỏi:

              - Trong nhà đi lễ hết rồi sao? Em!?
              - Dạ vâng. Chẳng còn ai.
              - Anh đến bất ngờ. Xin lỗi em.
              - Ư hừ…
              - Em dám ở nhà một mình?
              - Sao lại không.
              - Ghê ha.
              - Lẽ là người và ma quỷ thì sợ em, chẳng dám tới đây quậy phá.
              - “Yên hùng” hơn anh rồi.

              Cười tít mắt, tôi đi trước dẫn đường, anh bước vào phòng khách, tôi trêu ghẹo Cảnh:
              - Anh không sợ gì bằng sợ bị ký củ ngày Thứ Bảy, Chủ Nhật. Nên anh thấy em “yên hùng” hơn anh. Ha!?
              - Em nhảy dô trong tim đen của anh rồi còn gì…
              Tôi cười, nụ cười ngọt hơn mía lùi. Tôi nói:
              - Mời anh ngồi tạm, để Thụy đi “pha chút ấm áp” nha.

              Cảnh ngồi vào chiếc ghế bành da cười hì hì. Tôi loay hoay dưới bếp cắm điện, pha cho anh ly cà phê sữa bốc hơi thơm phức. Bưng ly cà phê ra đặt trên bàn, tôi mỉm cười thân thiện mời anh. Cảnh mồi diêm hút thuốc, anh nhả khói thuốc thành từng vòng chữ O uốn khúc bay lượn lên trần nhà. Dường như anh gắn chúng với dòng suy nghĩ, đắn đo nào đó. Tôi lại trở vào bếp làm cho anh bốn miếng French Baguette kẹp thịt nguội quẹt bơ và ba tê. Khệ nệ bưng dĩa bánh ra, tôi vui vẻ ngồi xuống ghế đối diện Cảnh. Chúng tôi nhìn nhau mỉm nụ cười vu vơ. Tôi cũng hồn nhiên ăn lát bánh lạt phết bơ và rắt chút đường. Bất ngờ tôi nghe anh nói:

              - Ngày lễ trọng đại vui vẻ vậy, mà em không đi chơi đâu sao?
              - Biết đi đâu bi giờ! Anh!
              - … Anh được trường cho phép đi ra phố. Cố ý đến thăm em, nhưng anh cứ do dự, lo lo, thắc mắc riết. Anh đi qua đi lại ngoài đại lộ mấy vòng rồi. Anh thấy nhà tối đen, tưởng là không có ai ở nhà. Nào ngờ có em. Vui quá và may mắn thiệt.

              Bây giờ tôi mới để ý thấy trên góc kệ cạnh cái bàn tròn có gói quà nho nhỏ thắt nơ hồng. Cảnh để xuống đó từ lúc nào.
              - Anh có món quà mọn nầy gởi tặng em.
              - Anh đến thăm em, dù bất ngờ... nhưng vui rồi, quà bánh làm gì, anh.
              - Em vui là anh mừng húm.

              Tôi mỉm cười nhìn Cảnh giả vờ trợn mắt lên, rồi nheo nheo chớp chớp. Cảnh cũng không vừa, anh đá lông nheo kịch kịch. Chúng tôi cười to.
              - Thụy nghĩ sao về việc chúng ta được quen biết nhau?
              - “Được” quen biết nhau?!
              - Chính vậy.
              - Nếu anh nói “được”, thì em trả lời “rất hân hạnh”. Còn anh nói “bị”, thì em trả lời “không có chi”.
              - Một câu đáp lễ sâu sắc.
              - Còn anh nghĩ sao khi hỏi em câu đó?
              - Sau bóng mây đen cùng cơn gió lộng, sẽ có trận mưa dầm ấm áp mát mẻ, giống như trời Đà Lạt luôn trong lành, thoáng mát, thi vị ấy em à.
              - Chưa hẳn thích.
              - Bởi vì chưa quen. À... Ngày mừng Tết Dương Lịch, anh có nhã ý mời em vào trường Võ Bị dự buổi dạ tiệc. Hen!
              - Sao anh mời em? Em thiết nghĩ chị Dung thân anh hơn em nhiều.
              - Thân không có nghĩa là thương. Thương lại chưa hẳn là yêu say đắm. Nhất là Dung kia không phải là Ngân Thụy nầy.
              - Em chịu thua.
              - Có nghĩa là em từ chối khéo ha?
              Tôi cười cười, vui vui nhìn Cảnh giả lả:
              - Anh nghĩ sao về việc kia?
              - Dễ thương đến thế là cùng.

              “Dễ thương” theo nghĩa của Cảnh vừa vang lên, nghe hay hay thế nào ấy! Nó ẩn chứa cái gì đó vừa hờn mát, trách yêu lẫn dịu ngọt, hóm hỉnh ân cần vẫy gọi nhau thân thiết, như nước suối rì rào giao hoà, se sẻ chảy qua bờ bụi lau lách. Giống vết điêu khắc thần tiên sống động của nghệ nhân tài ba tạt trên đá. Không có nét dễ thương, thì bức vẽ sẽ không linh động, vô cảm, vô hồn. Tôi biết rằng người thanh niên lịch lãm đối diện với tôi đang thành tâm thật lòng yêu tôi, (chứ chưa hẳn là người tôi yêu). Tuy thế tôi không thể dễ dàng tự do, nhanh chóng, đường đột nhận lời Cảnh đi vào trường Võ Bị ngay. Vì; đây là lần đầu tiên tôi trực diện Cảnh, (trong căn nhà vắng lặng đến rùng rợn, mà "chỉ có hai người ú ớ dật dờ" và… khuya khoắt thế nầy). Tôi dám mời “người ta” vô nhà, trao đổi chuyện trò với một thanh niên mới quen biết vài tháng trước, cũng là điều quá đáng lắm rồi.

              Chúng tôi ngồi nói chuyện về gia đình cha mẹ, bầy em của anh, Cảnh là anh Hai, trai trưởng mà! Tôi cũng nói về gia đình cha mẹ, anh chị, các cháu của tôi. Chúng tôi tếu tếu dí dỏm vui đùa cười nói với nhau những câu vớ vẩn, không thân mà chẳng nhạt, đôi khi đắt ý qua vài vấn đề nào đó, chúng tôi lại nhìn nhau đá lông nheo kịch kịch và khúc khích cười. Thế rồi không ngờ trong “tâm đầu ý hợp” vô tình và vu vơ, pha chút thi vị lãng mạn hữu duyên thật tình cờ kia, chúng tôi chụm đầu vào nhau, luyến lưu viết thành bài thơ: Tình Sương Cỏ

              Muôn thuở tình anh sương về bên cỏ.
              Thao thức đêm trường chuyện ảo không thôi.
              Cọng cỏ rung rinh môi hứng sương rơi.
              Thời gian lắng đọng sương giao tình đó.

              Bẽn lẽn thẹn thùng cùng sương nói nhỏ.
              Trăng tàn sao rụng sương giọt tinh mơ.
              Sương rơi lốt đốp lá cỏ đợi chờ.
              Cỏ ẩn vào sương bên bờ sông ướt.

              Đào Nguyên thơ mộng cỏ non xanh mướt.
              Đà Lạt ru đời hòa nhịp hoan ca.
              Cọng Cỏ dầm sương kết lá đơm hoa.
              Dãi dầu mưa gió giao tình muôn ngả.

              Mộng ước đêm dài luyến thương nhánh cỏ.
              Nhạc sương gieo tình cọng cỏ tơ vương.
              Nhún nhảy dưới trăng hoa cỏ ngậm sương
              Sương rơi rụng ướt cỏ vườn đêm vắng.

              Bông cỏ ngậm sương nở hoa trăng trắng.
              Tình yêu thiên nhiên quyện lẫn cỏ cây.
              Nghê Thường luân vũ tấu khúc đêm nầy.
              Sương tưới cỏ đời ngạt ngào hương ngát...
              (*)

              Chuông giáo đường rộn ràng ngân vang báo hiệu giờ tan lễ nửa đêm Noel. Biết anh chị Tuế đi lễ sắp về, Cảnh từ giã tôi đi ra phố, anh đến tạm nghỉ ở nhà của anh chị bạn ngoài đường Phan Đình Phùng.
              *
              (*) Thơ Tình Hoài Hương
              ***

              Tình Hoài Hương
              Last edited by khongquan2; 12-21-2017, 11:57 AM.
              Bút trần nào tả được lưu luyến!
              Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
              Tình Hoài Hương

              Comment

              • Tinh Hoai Huong
                Senior Member
                • May 2009
                • 1081

                #217
                Hiền Huynh Vui Tính Trong Thời Loạn


                Hiền Huynh Vui Tính Trong Thời Loạn


                Anh Toàn Thắng hiên ngang oai hùng đẹp trai trong bộ quân phục màu vàng ka ki, cà vạt đen, găng tay trắng, mũ két cầm tay, giày đen, dây biểu chương tam hợp móc bên trái, gù vai đỏ. Anh đến nhà đón Hoà đi dự lễ mừng QLVNCH đã chiến thắng diệt tàn quân việt cộng phương Bắc lẽn vô quậy phá miền Nam, trận đánh diễn ra ác liệt tại vùng Tiên Phước, Trà My. (Đà Nẵng, Quảng Nam). Nhân đây cũng là dịp chào đón ngày mồng một Tết Dương Lịch.

                Không phải là chờ xem buổi đại lễ long trọng, mà Hoà cùng dân chúng dám bất bình la ó om sòm, khi trải qua ba giờ chầu chực mỏi mệt, khó chịu dưới ánh mặt trời nắng chang chang. Thì thật là hỗn láo, kỳ thị và bất công! Nhất là có ông Mỹ tên Timothy làm trưởng đoàn cố vấn. Đại tá Tư Lệnh Sư Đoàn II là cố vấn William làm quan khách ngoại quốc danh dự đầu tiên đến Việt Nam, được ông Tỉnh-thị Trưởng kiêm Tiểu-khu Trưởng lo hành chánh và quân sự mời tham dự. Hầu thực hiện việc yểm trợ, tiếp liệu các nhu yếu của Mỹ Quốc Viện Trợ (trong việc thực hiện chương trình tay bắt tay hoà hảo mật thiết. Cờ Mỹ năm mươi ngôi sao lấp lánh, có mười ba sọc gồm sáu trắng bảy đỏ, nền xanh biển in trên hầu hết các nhu yếu phẩm từ Mỹ chuyển về xứ ta). Đó là những kinh viện và quân viện; một nhu cầu chính trị khôn khéo để thực hiện giai đoạn "hoà hảo thân thiện" then chốt đầu tiên. Mỹ giàu thật! Họ đã bay đi viện trợ khắp bốn phương trời! Kể cả nước nghèo và chậm tiến ở bên bờ đại dương nầy, cũng được Mỹ ưu ái đặt mắt nhìn ngắm đến. Không hiểu họ có muốn đổi chác, nghiên cứu, dòm ngó gì tới Việt Nam, hay không kỳ vọng mơ tưởng mảy may... mà họ muốn hào phóng cho đi tất cả (?!).

                Các vị hành pháp, tư pháp (“mũ mão cân đai” chỉnh tề) đi sau vị chủ toạ, những “ôn” quyền uy bệ vệ khệnh khạng đủng đỉnh lên khán đài chính. Quý phu-quân kiêu hùng oai dũng hiên ngang với chiến thắng tài danh lẫy lừng, đã đành thế! Nhưng kèm bên qúy phu nhân thủng thỉnh kiêu sa, đài các qua mái tóc búi quá cao đã làm kỹ ở ngoài tiệm, quần là áo lụa chưng diện sang trọng rực rỡ và thơm tho, theo mốt cổ áo hở toẹt ra vai toác hoác xề xệ như bà Nhu, cốt yếu khoe yết hầu và xệ tới gần hai đường khe của bộ ngực thổn thện đung đưa. Đây cũng là dịp để quý bà phô trương thân hình úc núc giàu bơ sữa, khoe vòng vàng rườm rà từng xâu, từng chùm sáng chói.
                Qúy phu nhân không làm gì, ngoài dựa hơi hám vai vế của chồng, một bước các bà ta nhảy tót lên sàng danh vọng, bộ mặt vênh váo tô trét diêm dúa phấn son dày cui, ưỡn cặp vú bơm silicon, có bà sữa mắt hai mí to to đã lồi và trợn lên như mắt ếch, mũi hếch độn nòng, bơm thừ lừ cặp môi mỏng dính thành “cằm đôi môi chẽ” trề ra. Họ dương dương tự đắt nhoi nhoi lắc lư cái đít sung túc béo bở phì nhiêu lên... coi "khêu gợi khiêu khích" ... sự lả lơi thèm khát "biết nhiu" mà kể!!! thì bố ai chịu cho nỗi hỡi quý “phu nhân”!

                Mặc sức cho đám phu phen, dân ngu khu đen đứng dưới khán đài nầy trơ mắt ếch, há hốc miệng, ngẩn ngơ thộn ra nhìn quý bà chằm chằm; thiệt đã con mắt quá đi, các "ôn thần" chớp chớp mắt nhìn suốt... từ trên xuống dưới bộ quần áo mỏng dính; như kỳ lân đá ngày đêm nhìn trời nhìn đất không hề chớp mắt. Khán giả... đứng chầu ở dưới tha hồ lỏ trăm ngàn con mắt nhìn lên "quý mệ" mà chỉ chỏ, họ nói đủ chuyện: nào là bà nầy vú to, bà kia mắt lộ, bà nọ ỏng ẹo nhoi nhoi cái đít vịt. Ôi thôi… họ bàn tán lộ liễu, trắng trợn và bất lịch sự quá chừng, lấn át tiếng người xướng ngôn viên gào lên trong máy phóng thanh 100 watl đặt trên nhiều cột điện cao thế. Hoà cũng không trách đám "phu phen bình dân giáo dục như mình" làm chi, bởi vì ai ai cũng được coi chùa, tội chi không ngó cho đã! Thì tha hồ dòm ngó cho đã... cái con... mắt nghe!

                Từng đôi một tiến lên khán đài trịnh trọng khệnh khạng và trang nghiêm. Người xướng ngôn viên xướng danh các vị, thì trên khán đài vụt đứng dậy vỗ tay chào đón hoài. Khi quốc thiều và quốc kỳ kéo lên, họ mới chịu im lặng đứng yên. Riêng đám dân gian mãi lo đứng thộn ra ngắm nhìn những cặp vú trái bưởi ưỡn ra trước, những cặp mông diêu nhô phía sau như cái thúng úp vô đít, thì dân gian cũng có vỗ tay đấy, vài ba nơi vang lên lẻ tẻ, nhưng quá rời rạc, lổng chổng. Họ vỗ tay không nhiệt tình hưởng ứng, mà do “bổn phận, miễn cưỡng” của kẻ thấp cổ bé họng, thì đúng hơn. Buổi lễ long trọng càng kéo dài giống như bất cứ buổi lễ nào khác. Gió lộng xô đầu bù tóc rối, áo quần ai nấy đều bám bụi vàng, mặt mày bơ phờ mệt mỏi hốc hác; đồng bào chán ngán thở phào, như trút xong gánh nặng đè vai, họ vội vã tuông về trên các ngả đường nghẹt cứng ứ nghẽn người tất bật lo chạy ngược xuôi kiếm sống.

                Tiện cùng trên một đường đi, nên Thắng mời Hoà rẽ qua nhà anh cho biết. Thắng ở chung với ba anh bạn độc thân vui tính (và một anh vừa cưới vợ còn ở xa). Căn nhà thuê bao đủ tiện nghi, vui vẻ đầy tiếng cười rộn rã. Thảo nào ngày cuối năm ngoái hai anh ấy đi sắm đồ dùng cho bạn: thứ gì cũng có năm màu sắc phân biệt khác nhau, (mà lúc ấy Hoà nghĩ là hai ông khách nầy ưa làm đỏm, chải chuốt mà khó tính).

                Họ đang bàn tán về những lần đảo chánh năm ngoái năm kia: Lần thứ nhất ngày 11-11-1960, do Đại-Tá Nguyễn Chánh Thi, Chỉ-Huy-Trưởng Nhảy Dù + Trung-Tá Nguyễn Triệu Hồng, Vương Văn Đông, các Thiếu-Tá Phan Trọng Chinh, Phạm Văn Liễu, Đại-Úy Phan Lạc Tuyên, Bác-Sĩ Phan Quang Đán... Lần thứ nhì gần nhất do hai phi công Việt Nam: Trung-úy Phạm Phú Quốc và Thiếu-úy Nguyễn văn Cử đã ném bom bắn cháy dinh Độc Lập vào hôm 27 tháng 2 năm l962. Một quả bom không nổ rơi trúng phòng đọc sách của Tổng-thống Diệm, khi cụ đang ngồi đọc sách, thế mà Tổng thống chả việc gì. Bà Nhu bị gãy một cánh tay. Một quả bom khác rơi ra ngoài sân dinh. Một lúc sau phòng-không mới bắn trả lên. Phi cơ ông Quốc bị trúng đạn, nên ông nhảy dù ra, và rớt xuống Nhà Bè. Ông Quốc bị bắt tại trận và cho vô tù. Còn ông Cử bay mút qua bên Nam Vang, nhưng nghe đâu dân chúng bàn tán: ổng cũng bị chính phủ ở bển bắt nhốt vô tù rùi!
                Chuyện dội bom đang gây xôn xao, rúng động dư luận trong nước và ngoại quốc, ảnh hưởng khá nhiều về mặt chính trị, ngoại giao, kinh tế, nhất là đời sống dân cư đang an lành; bỗng chốc ngơ ngáo kinh dị bàng hoàng thêm. Chả hiểu vì sao!? Gia đình Ngô Tổng Thống phải dời sang Dinh Gia Long an vị, chờ kiến thiết lại. Bản vẽ dinh Độc Lập sẽ tu chỉnh do đồ án của kiến trúc sư đô thị gia Ngô Viết Thụ, người đã đoạt giải Khôi Nguyên La Mã đảm nhận.

                Thấy Thắng về với bạn, họ tế nhị chuyển đề tài, niềm nở tiếp chào Hoà. Sau khi giới thiệu nàng với bạn bè ở chung nhà, Thắng nói:
                - Mời Hoà ngồi, anh vào thay bộ quần áo nặng nề nầy, rồi ra ngay. Xin lỗi em!
                - Dạ vâng, anh cứ tự nhiên.
                Bốn chàng còn độc thân, có anh Lê Tiến là đỉnh đạt nhất về tuổi tác cũng như binh nghiệp: Thiếu tá Nhảy Dù, ba mươi hai tuổi. Tuy thế Hoà trông anh còn nét trẻ trung, vui tính. Anh Nguyễn Kháng Chiến: Đại úy Biệt Động Quân. Anh Đào Ngũ Quang: Trung úy Hải-quân. Kế đến là Thiếu úy Đinh Toàn Thắng hai mươi hai tuổi, Bộ-binh. Sau rốt là anh Vương Quốc Tùng: Trung-úy Y sĩ Quân Y vừa có gia đình.
                Anh Tiến nhìn Hoà nháy mắt, để trêu chọc anh Tùng:
                - Hoà biết không! Anh thích làm nghề mỗ xẻ tim gan phèo phổi. Không phải như bác sĩ Tùng đâu. Mà anh í hả! Anh thích mỗ thịt bò, thịt heo, thịt ngựa, thịt dê... cơ!
                - Để làm gì cha nội?
                - Lấy bao tử, ruột non, ruột già làm phá lấu, ăn ngon nhứt nhĩ à nha.
                - Ngưởi thì hôi, nhìn lại ghê quá.
                - Ấy. Sao toa nóng quá vậy, hở Quang? Để yên moa nói tiếp nào. Chưa gì nó đã nhảy phóc dô miệng mình. Còn hứng thú đâu mà kể chuyện tiếp. Moa không thèm nói, thì Quang có bổn-phận-sự, trách-nhiệm-vụ trình bày cho các bạn nghe: Tại sao toa đi lính!? Sao mỗi lần nhận thư nhà, là toa khóc ré như mưa thế?
                Quang (Quang là người đã chở Thắng đi mua sắm Tết, lượn phố Tết, mà Hoà biết mặt) pha ly chanh đá bưng ra mời Hoà. Ngồi trên ghế nệm, anh tủm tỉm cười đùa:
                - Á à a! Chả vì lúc đó tôi lười học, ăn chơi lêu lổng, hoang đàng chi điạ, đếch có tấm bằng nào, dù tuổi mình gần hai mươi. Vẫn ưa ở nhà bu theo bố mẹ, tôi trốn chui trốn nhủi như con dế mèn trong cái lu, lu dấu kín nơi góc phòng tối để luyện "tịch tà kiếm phổ", coi thật chẳng giống con giáp nào. Bao giờ đói, tôi kêu re re ré… inh ỏi. Đã bảo là con dế mèn mà không re re ré sao nhỉ? Thế là có người nhà bưng cơm canh vào hầu tận chỗ hầu. Đã nhe. Ngon lành nhe. Le lói nhe. Mẹ kiếp! Tôi chả trốn được bao lâu, thì cảnh sát đến nhà lục soát. Họ nắm tóc tôi, lôi giật lên, mang tôi về đồn bót. Họ hỏi cung tới tấp:
                - Anh có yêu đồng bào, yêu nước, yêu gia đình không?
                - Yêu.
                - Yêu lính tráng không?
                - Có.
                - Anh sẵn sàng đoàn kết, hy sinh không?
                - Rất sẵn sàng.
                - Hãy chuẩn bị đi lính.
                - Không.
                - Tại sao? Anh nói rằng: anh yêu nước. Anh sẵn sàng hy sinh mà?
                - ... Tôi lỡ dại vãi vào đấy bao nhiêu nước ...tiểu, khiến tôi thân bại danh liệt rồi. Ngài coi tôi bước đi nè: có phải một chân là dấu chấm, một chân chấm phết, lê lết, te tua, tàn tạ, tiều tụy, tả tơi, hay không hì.
                - Đừng có gà mờ, ấm ớ hội tề mí tôi, không được đa. Tôi hỏi anh có yêu Nước không? Chữ "Nước" viết hoa. Có nghĩa là Tổ Quốc. Đất Nước. Quê Hương, chớ không phải là nước uống hay nước đái. Anh nghe ra chưa?
                Lỡ vênh váo rồi, tôi cho tới luôn, tiến lên, dọt lên, hứng lên, chứ có gì mà sợ! mà rét… mà run hì! Có sức chơi, thì có sức chịu, cứ liệu mà chơi:
                - Ô! Ông nói nghe hay đáo để! Tôi mà không yêu Nước à!
                - Anh nầy giỏi quá ta.
                - Có điều tôi chán ghét họ không đùm bọc yêu thương nhau, mà gây thù hận, giết chóc, máu huyết thổ ra có vòi, coi chóng mặt kinh hồn lắm. Tôi không thích tham dự. Thế thôi.
                - Bây giờ, tôi mời anh đi.
                - Đi đâu?
                - Đi lính.
                - Đi thì đi. Chứ sợ gì ai!
                - Họ nghĩ tôi ngông cuồng, hay thần kinh bất ổn bấn loạn, khùng điên, nên có anh kia cho ngay con số tám vào hai cườm tay tôi, kêu cái cộp. Ui cha ơi là đau điếng thấy tới tổ tiên ông bà ông vãi, khiến tôi tỉnh hẳn người. Bố kiếp! Thiên la địa võng ơi, phen nầy mình hết giả đò thương tật, chân không cần đi điệu tango, bì bộp, cha cha cha... nhún nhảy nữa rồi. Cũng may là họ chưa tống cổ tôi vô nhà thương Biên Hoà, nếu bị chích cho vài mũi thuốc, chắc có lẽ tôi ngoẽo thì chết cha đời trai! Bây chừ nghĩ lại tôi còn sung sướng chán. Hơn cả Đường Minh Hoàng bên Tàu, hơn Gia Long, Tự Đức bên ta. Các cậu có biết tại sao không nà!? Giờ ăn cơm tù vẫn có người đem tận chỗ. Giờ đi cầu có lính ôm súng gác lom lom dòm tôi. Lỡ tôi trốn chui trốn nhũi như con nòng nọc lặn sâu tít xuống hồ, thì sao! Giờ ngủ có lính đổi canh. Đó chính là Đào Ngũ Quang, mà bố mẹ ưu ái đặt tên cho ta.
                Ah! Nè các bạn! “Ngũ quang” là có năm con đường tươi sáng rạng rỡ í. Cơ khổ! vì cái họ của tôi trót lỡ là “Đào” do ông cụ lẩm cà lẩm cẩm lại đặt tên đệm là “Ngũ”; thành thử vô tình tôi trở thành tên “đào ngũ” . Cha chả! nó ám ảnh tôi cho tới ngày ra khỏi lu, mà ca những “đồi hoa sim ôi những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt...”. Ấy mà… sau nầy tôi đi lính thì nghiêm trang, đàng hoàng, sự thực “ta” đếch cần đào ngũ đâu nhe. Bởi lẽ là tôi rất yêu mến đồng đội, đoàn kết chiến đấu, một lòng trung quân ái quốc. Tôi mong thăng cấp như thằng Chiến, bạn nối khố nè. Còn về việc khóc hu hu, thì đơn giản thôi, tôi đa tình, lãng mạn, nhớ quê hương, nhớ bố mẹ anh em, và da diết yêu cô bồ nho nhỏ ở phương xa. Tôi không được khóc đấy phổng?

                Họ cười ha ha ha... hả hả hả... hí hí hí... khà… Quang muốn nhảy dựng lên chơi giựt nổi với đời, anh muốn mình là cái đinh, là cái rốn của vũ trụ. Anh thích lên mặt lấy hên dợt le xí, phừng phưng nổ những pha mê ly ghê hồn, nếu không bùi tai, không đẹp mắt, không lé mắt, không dẹo chân ẹo người mà cười vang, thì không ăn tiền. Quang không nổi, thì đời trai kém vui đi. Lạ lùng thay, đến nay anh Đào Ngũ Quang: Trung úy Hải-quân đã thành nhân chi mỹ, khi xong cử nhân văn chương, anh đi lính và anh "sống" ở dưới nước non bồng bềnh nhiều ngày tháng hơn anh đi ở trên bờ, điều mà Hoà rất ngạc nhiên, tưởng anh chỉ lè phè là một võ biền, về mặt giao tế, miệng mồm nhanh nhẫu (“đoãn”), Quang càng lịch lãm, thì khỏi nói rùi.

                Tùng chuyền gói thuốc Quân Tiếp Vụ đến các bạn, anh thở từng hơi thuốc vặt:
                - Quang chọc quê anh đó, khi uống rượu thì phải biết, rất chì. Rượu xịn mà “vô mỏ, vô cơ”, ui đã điếu rồi, hắn nói hết sẫy. Hoà đừng tin hắn, có ngày em vô “ngũ tử” à nha.
                - Dạ. Em biết ảnh có tới năm cửa tử, thì tiêu tùng! Ảnh lém lắm.
                Trong phòng bỗng chốc lặng như tờ. Quang có cảm tưởng các bạn đang nghĩ về chuyện chàng kể, nửa đúng nửa vừa sai. Quang biết hối hận về ngày cũ lêu lổng. Lẽ ra bây giờ anh đã là Thiếu tá hoặc ít ra là Đại-úy rồi. Thời buổi nầy không còn hàn sinh áo mão gánh gạo lên Tỉnh thi Hội, thi Đình. Người trai hôm nay phải có hoài bão, ý chí, lập trường, kiên cường, có lý tưởng cùng vốn kiến thức sâu rộng, để tự vươn lên với đời đích thực hơn. Thắng bước ra phòng trong bộ pirama màu kem viền sọc xanh, Hoà thấy anh trẻ trung tươi mát, coi anh lại giống như một bạch diện thư sinh ngày ngày đi lượn phố Tết hôm nào. Anh cười nói:
                - Trời ơi! Đoàn kết... kiểu thằng Quang á hả; đoàn kết là “đết còn” ấy.
                - Đừng có dốc tổ nghe. Ỷ ta đây “đẹp giai, con nhà ràu, học rỏi” ứ hử! Báo cho mà biết: có chịu đèn chưa, thì bảo!

                Ôi! anh Quang mập mờ lơ lửng lí lắc vu vơ… mà ngụ ý muốn “nhắc khéo ai” vậy cà? Những anh lính chiến phong sương nhuốm bụi trần, mỗi anh một cung cách: dí dỏm, duyên dáng, hóm hỉnh riêng đang hoan hỉ cười vang. Họ vui vẻ, trẻ trung hoà ái vô ngần. Đó là những hiền huynh vui tính trong thời loạn; mà em có cảm tình nồng hậu & rất hân hạnh khi Hoà đã có một thời vàng son vinh dự từng thân quen quý anh. Dù cho… Nếu Anh Là...
                Nếu anh: lính Nhảy-Dù.
                Em cố thành ưu tú.
                Sánh vai ta vui bước.
                Thủy-Quân mình nguyện ước.

                Nếu anh là Binh-Bộ,
                Ngao du giữa sông hồ.
                Ngát hương đời dịu ngọt.
                Pháo-Binh súng đề thơ.

                Trao về nhau tình mơ.
                Nếu anh là cánh buồm.
                Em làm áng mây trôi.
                Thiết Giáp vượt ngàn non.

                Nếu anh là Phi-công.
                Lả lướt trên thinh không.
                Em sẽ là nắng lụa.
                Đàn rung ngân phím loan

                Nếu anh lính Hải Quân.
                Em mơ mình nữ hoàng.
                Nối nhịp cầu tao ngộ.
                Tình yêu xuyên đại dương.

                Nếu anh gieo tình thương.
                Cùng chung một chí hướng.
                Em nguyện làm nữ tì.
                Hương trầm toả khói sương…
                (*)
                *
                (*) thơ Tình Hoài Hương

                Tình Hoài Hương
                Last edited by Tinh Hoai Huong; 01-01-2018, 01:21 AM.
                Bút trần nào tả được lưu luyến!
                Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                Tình Hoài Hương

                Comment

                • Tinh Hoai Huong
                  Senior Member
                  • May 2009
                  • 1081

                  #218
                  Tháng Giêng và Anh lính chiến



                  Tháng Giêng và Anh lính chiến

                  Hoà ráng bện-đơm vào trong tâm chút hương hoa nồng ấm tình quê ở ngay trước mặt, mà xem ra như dật dờ, vời vợi, vò võ, lặng lờ, mênh mông, im lắng mọi thứ đang rời xa khỏi tầm tay mình. Bởi, từ nơi đây là cảnh vật và con người đã thay đổi khác hơn xưa mất rồi! Hoà như con le le tan tác đàn, chấp chới, chờn vờn lạc lối bay giữa vùng trời bao la, lòng hoang dại và đôi cánh mệt mỏi rã rời… Hoà nhìn khu ấp chiến lược dưới chân đồi bây giờ đã khác hẳn, thật buồn bã, vô cùng đơn độc khi nắng mới vừa ươm (hay chiều tà phai nắng lả lơi vắt mình trên đọt tre la ngà). Dù rằng quê hương trọn đời thủy chung không bao giờ phản bội con người; mà chính con người ngoảnh mặt quay lưng lìa xa nơi chôn nhau cắt rốn, và ai đó đành đoạn vô Nam gây ra cảnh chinh chiến tang thương khổ sầu trong lòng đất mẹ Việt dấu yêu?

                  Bóng chòi canh gỗ cao chót vót có người lính phong sương đầu đội nón sắt đang trấn giữ biên phòng suốt từ tháng Giêng đến tháng Chạp chẳng hề nghỉ ngơi, bổn phận anh đang trông coi một vòng cung trách nhiệm, trông anh đơn điệu, im lặng, chơ vơ trên vọng gác nơi phòng tuyến lồng lộng gió, tay anh luôn ghìm chặt bá súng. Mắt anh chăm chú quan sát tứ phía, anh gìn giữ nhiều chặng đường lầy lội, gập ghềnh, lồi lõm bởi xe tăng, xe GMC, xe thiết giáp cày xới, đất đỏ ngợp trời mù bay, khói thuốc súng dày phủ một góc núi. Bụi cây bờ cỏ bị đốt trụi đen thủi đen thui bên sườn dốc, với hàng thép gai nhiều lớp bao bọc ngọn đồi, dẫn đến doanh trại Việt Nam Cộng Hòa chưa chắc hứa hẹn yên ổn, an vui gì. Hoả châu luôn bừng nở trong không gian đẫm sương mù. Sau loạt B 40 và bê ta, nhiều hoả tiễn xè xè vút vút bay, từng chuỗi nổ dồn dập rền rền ngân vọng. Buồn ơi là buồn biết bao! Địa pháo tới tấp rót xuống vùng giao tranh ác liệt, đạn rít bên mang tai rú rền, trời long đất lở điêu tàn đổ nát, mắt anh lính Bô-binh nhòa đi bởi nhiều khối lửa rạch không khí tiến nhanh vun vút về phía nội thù: Xi xi xì... Tạch tạch tạch… Pằng pằng pằng…. Uỳnh. Oằng. Ùm. Đạch đạch… cắc bụp, cắc cắc bụp xè...

                  Sau khi bị pháo kích và quân ta đã phản pháo khá lâu, đầu choáng váng đinh tai nhức óc, leo lên mấy bậc cấp làm bằng bao cát, Hoà lấm lét nhìn ra lổ châu mai: Trên trời luôn có những chiếc phi cơ vun vút bay đi bay lại, ầm ầm hú động quái dị điếc tai, và bay vút vào vùng khói lửa thảm khốc không chút ngại ngần. Theo đà lướt từ mấy chiếc phi cơ có mang theo những quả bom chúi mũi bay xuống tọa độ ấn định khá chính xác. Những cây nấm lửa cuồn cuộn khổng lồ đùn lên, đùn lên cao. Khiến địch im hơi lặng tiếng nhiều giờ.

                  Tàu bay thả lính Dù xuống xa xa, rất xa dưới chân đồi, cuộc tổng tấn công quy mô của quân-nhân Cộng Hòa Việt Nam do Trung Tá Trần Quốc Lịch đích thân chỉ huy. Chân chưa bén đất, lính Dù đã hét vang, sôi bỏng cơn uất giận bùng vỡ. Dường như mắt họ nổi đom đóm, ngực tức đến độ muốn ói máu, những chòm râu tua tủa quanh cằm đựng đứng, hai hàm răng nghiến trèo trẹo, kẽ răng rít lên tiếng thở hổn hển dập dồn. Họ phối hợp cùng quân bạn dưới đất mặc áo giáp, quần áo màu xanh lính nai nịt gọn gàng, thân dắt đầy lá cây, mang giày botte de saut, đầu đội mũ lưới sắt, họ lăm le ghì khẩu súng cổ lỗ sĩ trong tay, từng hàng nịt da đầy băng đạn, vài trái na dắt hai bên mạn sườn, hoặc trên ngực áo thò ra lúc lắc. Lưng chiến sĩ cong cong, cõng ba lô ghi những bài thơ tình nặng trĩu quân hành căng phồng hết cỡ: một tuần lương khô cá nhân gạo sấy mỗi ngày, vài bộ quân phục, chiếu mền, linh tinh... (hoặc anh dùng ba lô để chứa thêm đạn dược? Hoà có bao giờ dám lục lọi đồ dùng cá nhân của ai, nên không rõ). Bổn phận làm trai thời loạn dập vùi men đắng rượu cay đi hái thú đau thương: Trả nợ non sông thật hết sẫy.

                  Thân hình họ cong còng xuống dưới sức nặng kinh khủng của gánh đời nghiệt ngã. Họ đang tiến về cuối làng tiếp cận dãy trường sơn (truy tìm địch đang lén lút về phá hoại an ninh bình yên thôn làng). Chẳng bao giờ họ chịu bó tay chờ chết, cho đến lúc tai tái người gây gây rét từng cơn ớn lạnh luồn vào tủy sống mà chấp nhận thương đau. Chính nhân quân tử hiên ngang anh dũng đi tiêu diệt địch. Nếu lỡ trên đường sạn đạo có lạc vào cửa tử thần (bao trùm cả vùng chiến sử ca). Hoà thấy họ không tỏ lộ nét sợ hãi, băn khoăn lo lắng trên những khuôn mặt cương nghị đượm phong trần nắng gió mưa sương. Mắt họ bừng bừng đỏ từng đường gân máu co giật tóe lửa, cục xương yết hầu mắc họng oan gia suốt bao kiếp, đưa lên đưa xuống đâm vào cuống cổ khát khô bỏng họng. Họ trợn trừng hai con mắt trắng dã, hàm răng nghiến chặt, bắp thịt cuồn cuộn, đôi chân dũng mãnh vững chãi đạp trên đất phù sa, đạp lên gai góc, cát đá; cả nơi bì bõm sình lầy đồng chua nước mặn. Họ chụm đầu cúi mặt chia nhau vụn thuốc nhỏ, hít hít từng hơi thuốc vặt cho bớt lạnh, hai bàn tay khum khum che đóm lửa, không cho ánh sáng le lói thoát ra ngoài. Người lính Bô-binh thì luôn nằm gai nếm mật, ăn bờ ngủ bụi. Nếu họ có được cái giao thông hào ẩm ướt trú chân, là may. Tình đồng đội vào những giây phút tột cùng hiểm nguy, thật vô cùng trân quý. Cảm động đến bàng hoàng cúi mặt lăn chảy giòng nước mắt mằn mặn cay cay.

                  Họ cực khổ quá chừng! Ôi! Đời lính vô cùng xót xa và khốn khó vô vàn! Họ luôn bị đời vô tình lãng quên! Cuộc sống người lính chiến nằm gai nếm mật là thế! Là những ngọn nến trong muôn triệu ngọn nến đời do tự bàn tay người lính âm thầm đốt lên. Và, cuộc sống gian truân phải là sự hy sinh, chấp nhận vẹn toàn gian khổ để bảo vệ quê hương, tổ quốc, tha nhân. Chấp nhận vẹn toàn! Có điều gì linh thiêng, thần bí và cường điệu thôi-thúc họ từ bỏ tất cả: xa hoa quyến rũ trong cuộc đời phù phiếm? mà họ không chút e ngại rụt rè, do dự? như đó là nghề của chàng mà! Thật cảm động đến bàng hoàng thảng thốt ngẩn ngơ. Tại sao người lính xông vào vùng chiến địa tàn khốc điêu linh nầy, thế hử!? Tại sao!? Nếu không phải vì các anh thiết tha yêu thân nhân, yêu đồng đội, yêu đồng bào, yêu đất nước quê hương mình??? & cầu mong ước ao giữ gìn non sông gấm vóc và dân tộc an lành trường tồn đến thế? Phải không, thưa qúy anh rất đáng ngưỡng trọng và kính phục!?
                  * * *

                  Có lẽ đang bắn nhau gần khu nầy lắm hay sao, mà cả ngọn đồi kêu ục ục và rung lên dữ dội. Các cô gái chân ướt chân ráo vừa đứng chưa vững trên sân của bộ chỉ huy hành quân, đã khiếp sợ xính vính lo âu đến tột cùng. Các cô giật mình quýnh quáng hét to, đồng loạt cúi cong người, tay bịt hai tai, vụt chạy vào căn hầm gần nhất, họ chui tọt xuống hầm trú sâu lút đầu người. Các cô chui nhanh vào gầm bàn, gầm giường, họ bò lê bò la, nằm úp mặt xuống nền đất ẩm lạnh, miệng không ngớt kêu gào, thảng thốt, rên rỉ. Như có ai vừa thọc con dao găm sâu lút cán ngoáy ngoáy vô bụng.
                  Trái tim Hoà đập điên loạn trong lồng ngực cuồng quay, đau nhói, co thắt từng hồi muốn nghẹt thở. Dường như có bàn tay vô hình nào đó bấu móng nhọn cắm phụp vào trái tim mình, buồng phổi bóp chặt, làm ứ nghẹt hơi thở muốn bật máu tươi. Hoà tưởng mình mang trong người cơn bệnh trầm kha thoái hóa thần kinh, tế bào thần kinh tiết ra chất dopamine thành bệnh parkinson, làm cho thân thể co siết, dúm dó, tay chân bủn rủn, run lẩy bẩy, lập cập, run rẩy kinh niên, thật đáng ghê sợ. Các cô la ó kêu gào từng hồi thất thanh, giống như con heo bị chọc tiết. Các cô chưa kịp hoàn hồn, đã bị bồi thêm mấy vố nổ kinh dị khác, nhiều đợt chấn động tột cùng khủng khiếp ngân rền. Mặt đất rung rinh chuyển động u u… u ục ục…, như ở trong cơn động thổ bảy tám chấm.

                  Sau loạt đạn chi chi đó xé gió cỡ mươi quả bay đi, súng lớn giới hạn tầm bắn dường như bay ngang đầu, xuyên qua tường ghi sắt chắn bao cát nứt nẽ, khiến gạch vôi vữa, đá dăm, bụi hồ cùng mảnh bể trên mái hầm bị sụp một bên, đã rắt đầy lên đầu lên cổ các cô. Cột sắt bị chạm điện kêu lanh canh, lửa vàng lóe chớp trắng đỏ đỏ kêu xẹt xẹt xẹt, nổ lốp bốp. Bóng đèn bể bụp rơi loảng xoảng. Căn hầm bỗng dưng tối mờ. Gió lùa khói đen cay khét lẹt, quyện lẫn mùi hỗn hợp cuốn thốc bụi đất lẫn lộn tàn tro mù bay tứ phương. Trong bóng tối mờ mờ từ lỗ châu mai dọi xuống, năm cô gái nhìn nhau, ánh mắt xao động hãi hùng, chua cay, xen lẫn chút hào khí đầy phẫn nộ ở lưng tròng mắt.

                  Vừa gù gù đáy thắt lưng ong, nhấp nhô đầu nón sắt sụp xuống quá lông mày, mấy cô dùng hai tay vịn lên góc hầm, lò mò bò bò, thụt thụt thò thò, nhấp nhổm tính leo ra khỏi cửa miệng hầm, sẽ chạy đi tìm nơi an toàn khác; thì một tràng đạn lại ria qua. Lạnh buốt xương sống, họ thất thanh kêu rú, hét tướng lên như con bò rống. Mấy cô lại vội vàng cúi hụp người chui tọt xuống hầm sâu, giống con nhái bén lặn kỹ dưới đáy ao mút mùa lệ thủy. Cả khu đồi sục sôi kêu ục ục, ọc ọc... bụp bụp, ùm ùm, lòng đất nhấp nhô. Nhà cửa phía trên hầm dường như động thổ nên nhấp nhô rung rinh, nghiêng bên nầy, xiêu bên kia. Thật quá dễ sợ dưới đống mưa chì bão lửa. Bao mái tóc một sớm một chiều đã bạc nhanh trong giờ phút đẫm máu kinh hoàng!

                  Nhiều giờ sau, bình nguyên lắng dịu dần dần. Thỉnh thoảng chỉ còn năm ba tiếng súng nổ lẻ tẻ... từ từ nhỏ dần, nhỏ dần, xa dần, xa dần và im bặt. Khi tiếng súng hoàn toàn im bặt, nhưng không gian còn bao trùm mùi khét nồng, oi ả. Khói lửa điêu linh trôi qua khá lâu, các cô mới lóp ngóp rều rệu bò dậy, họ đi không nỗi chẳng phải do quá đói, mà vì còn khiếp sợ. Trúc là cô gái ưa quậy tưng trời mà bây giờ cũng im thin thít, xép re, cô lù đù ngồi bó gối ở một góc! Từng người một rụt rè len lén khum người, chổng mông bò bò bằng hai bàn tay và hai đầu gối… lên khỏi miệng hầm rồi, các cô tự động ngồi phệt ngay xuống đất, duỗi đôi chân ra, họ thừ người ngẩn ngơ, ngố ngáo, ngơ ngơ ngác ngác. Họ chẳng thể cử động trên nền đất khô cứng nham nhở gạch đá bừa bộn, thủy tinh lộn xộn với tro bụi đất cát. Họ không kêu la, không nói, không khóc. Vì sự khiếp sợ hãi hùng đã dâng đầy cổ họng khô bỏng. Mặt mày ai nấy đều tái xanh tái xám như nhuộm chàm. Mặc dù trước đó cô nào cô nấy ỏn à ỏn ẻn, yểu điệu thắt đáy lưng ong, chăm chút tỉa tót tóc tai, họ cẩn thận tỉa lông mày lá liễu, đôi mắt kẻ viền lá răm, mặt hoa da phấn, môi trái tim thoa son tía, nụ cười rõ tươi tuyệt đẹp, làm mát lòng người. Giờ phút thập tử nhất sinh nầy họ đã chà mặt xuống đất; bây chừ trông “qúy ẻm” lem luốc dị hợm, bộ dạng ai nấy giống như con mèo vá. Mồ hôi, bụi bặm, đất cát, khói khét, đã "trổ đồi mồi" màu da “công nương qúy phái đài các diễm lệ” mất rùi. Mà bọn con gái ni không ai thèm nhìn nhau cười nhạo nhau nửa lời.

                  Thấy phái đoàn dừng lại trước cửa hầm quá bất ngờ, các nữ quân nhân xộc xệch quần áo đang ngồi soãi chân, giạng háng, vội vàng đứng phắt dậy nghiêm chào. Đại Tá Phát nhìn thần sắc các cô nhợt nhạt, tái xám, lem luốc, đầu bù tóc rối xù to như tò vò ổ rơm, thân thể dúm dó, co ro cúm rúm, run run như người bị bệnh thần kinh ngố ngáo nặng. Thì ông quay sang Trung Tá Lịch và các sĩ quan tùy tùng... Họ nhìn nhau khẽ nhún vai, nhích cặp lông mày lên một chút, rồi qúy sỹ quan từng trải giàu kinh nghiệm lừ mắt, mím môi dấu nụ cười tươi, họ quay lại nhìn nhìn... mấy cô binh nhì dưới quyền non đời, và hơi nhếch mép thân mến mỉm mỉm gật gù. Chao ôi! Thật thảm thương cho các em! đâu rồi nữ tướng hào kiệt anh tài. (giống như Hoa Mộc Lan thuở xưa!? Có lẽ các nàng lo dông tuốt… chạy bán mạng về bên Tàu mất tiêu). Quê xệ hết sức ha.
                  * * *

                  Vài ba lần khi Đoàn 5 ở Trà Phong, thì Trúc thích rủ Hoà đi tắm đêm ở sông Trà Khúc. Phía xa kia là núi Thiên Ấn ở huyện Sơn Tịnh ẩn hiện dưới vầng trăng lúc tỏ lúc mờ. Từ chân núi có đường xoắn ốc lên trên tóp đỉnh rợp bóng thùy dương xanh mát. Đỉnh núi tà tà rộng rãi và bằng phẳng, nên ta có thể lên đó cắm trại. Dọc ven những bờ sông có nhiều guồng xe nước quay bằng gỗ (hay làm bằng những bè tre già) do nghệ nhân khéo tay đan kín, trám trát lớp dầu ráy, dầu hắc rất công phu, cẩn thận. Xe quay nước mang nghệ thuật độc đáo dẫn thủy nhập điền: từ dòng sông Trà Khúc nước chảy xuống các mương gỗ, rồi nước từ từ luồn lách chảy đi theo từng khe lạch, nước dẫn vào rất nhiều ruộng lúa xanh rì, phì nhiêu. Trúc rất thích ngắm những guồng xe nước nhân tạo độc đáo ở Tỉnh nầy.

                  Tiếng cá vẫy đuôi khỏi mặt sông, cá tung mình nhảy lên đùa giỡn dưới đêm huyền ảo. Trời se lạnh giữa lưng trời gom từng phiến mây bạc phơi phới bay. Chị hằng nga dọi ánh sáng xuống những lượn sóng bạc đầu cuồng nộ, lượn sóng khi trồi lên khi trụt xuống, nhấp nhô theo dòng nước huyền phù; làm vỡ nát ánh trăng soi đôi thân hình trắng nõn ngâm trong nước. Trăng rằm sáng vằng vặc rớt trên đầu, trên vai, và xô sóng nơi bờ ngực trần ẩn dưới nước nỗi hoang vu, sầu lắng. Ánh trăng xanh xao lung linh nhảy nhót và chảy xuống thân thể đã đắm mình trong dòng nước mát, khiến Hoà càng buồn và thất vọng (trước chút riêng tư ngại ngần, e ấp che dấu tấm thân gầy, bỗng oà vỡ tan tành giữa lòng sông lụa trắng). Cuộc đời và cuộc tình chắc rồi sẽ vỡ tan, như bong bóng nước trôi trên dòng sông gợn sóng nầy ư!?

                  Ngâm mình trong dòng sông Trà Khúc khiến Hòa nhớ ơi là nhớ... ôi chao. Ơi... Huế trữ tình với núi Ngự sông Hương! Hòa đã xa Huế mấy mùa hoa Phượng nở rồi hi?:
                  Lâu chưa về thăm… Nhớ Huế
                  Nắng hồng vương Vĩ Dạ ấp hàng cau
                  Áo màu sim em khép nép qua cầu
                  Tay giữ nón ngang Phú Vân Lâu phượng đỏ.
                  Núi Ngự chiều dâng chim kiếm tổ
                  Sông Hương trăng luyến khách đưa đò
                  Nắng ngày xưa nay trôi giạt nơi mô?
                  Đường phố cũ và cơn mưa dầm Thượng Tứ.
                  Làn gió thoảng hồi chuông từ cổ tự
                  Ngả bên sông tháp Thiên Mụ in dòng
                  Hương Giang sóng vỗ trong lòng
                  Xa nhau từ đó hết Đông lại Hè
                  Nhớ sao phượng đỏ lời ve...
                  (*)

                  Hòa nhớ cả Nha Trang thành phố biển tuyệt đẹp với hàng dừa rũ lá ven bờ. Đà Nẵng phồn vinh tấp nập những chàng Hải-quân, Không-quân hào hùng! An Khê, Vũng Tàu luyến nhớ, Bamêthuột rợp bóng tình quê. Thành đô Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông hẳn là vẫn yên ổn! Giờ nầy ở xứ Lâm Viên thơ mộng ngàn đời quyến rũ du khách ra sao nhỉ? Đà Lạt vẫn như một nơi chốn bình an đầy mộng mơ, quyến rũ, mời gọi bước Hoà muốn tất tả xôn xao quay về. Cầu xin cho tất cả mọi người trên quê hương sống thái hòa, êm ấm, an vui và trường tồn.

                  Chú tài xế sau khi tắm rửa, và lo chuyển nước nôi vào cistern đầy đủ. Chú bồng súng đứng gác trên góc kín, nơi xa xa. Chú chở hai cô đi lấy nước, mặc dù sợ trưởng phòng la khi xe đi ra khỏi doanh trại, và trở về quá giờ ấn định, nhất là lo sợ vùng tranh sáng tranh tối xôi đậu lộn xộn nhập nhằng. Nhưng chú phải chở hai cô đi nhiều chuyến và nhiều lần. Mấy ngày tháng ở vùng hành quân, nếu có một bi đông nước cũng quý như vàng, chớ lấy đâu ra mà có nước tắm thoải mái. Hoà và Trúc đi tắm xong, lúc về còn mang theo vài cistern nước cho anh chị em xài, cũng là đi công tác cho Sư Đoàn 2 rồi. Chú tài xế ngại ngùng, lo lắng, thỉnh thoảng nhìn quanh, kêu nho nhỏ:
                  - Hai cô ơi! lẹ lẹ lên, mau mau đi về, kẽo bị đóng cổng bi giờ. Chết đa. Trời à!
                  Bởi chàng rất sợ: mất một dòng sông...

                  * * *

                  (*) Thơ Tình Hoài Hương

                  Tình Hoài Hương
                  Last edited by Tinh Hoai Huong; 01-12-2018, 11:14 PM.
                  Bút trần nào tả được lưu luyến!
                  Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                  Tình Hoài Hương

                  Comment

                  • Tinh Hoai Huong
                    Senior Member
                    • May 2009
                    • 1081

                    #219
                    TÌNH chàng MẠC KÍU & nàng A MUốI

                    Kính thưa độc giả rất quý mến,

                    Dạ, Tết Nguyên Đán chẳng còn bao lâu nữa... sẽ đến.
                    HH xin gởi đến quý vị một câu chuyện có thật về hai người bạn.
                    Mong rằng đây là món quà vui xuân, và quý vị nở "một nụ cười... bằng mười thang thuốc bổ", ngỏ hầu quên đi những năm tháng tha hương tần tảo ở xứ người.
                    Thân quý,
                    HH

                    *

                    ***
                    Xóm Đêm
                    Nhạc và lời: Phạm Đình Chương
                    Giọng hát: TTMD
                    *

                    TÌNH chàng MẠC KÍU & nàng A MUốI


                    Trong phòng làm việc Tâm Lý Chiến có anh Mạc Kíu là người hiền lương chân thật đến mức thật thà, ngây ngô, mà rất dễ thương chịu không nỗi. Kíu thích uống nước đá thật lạnh, nhai nước đá cục rốp rốp. Trong lúc Kíu ăn cơm nóng sốt vừa thổi phù phù vừa húp canh cua rốc rột rột rột. Kíu lại uống ừng ực ly nước đá lạnh ngắt. Răng vẫu thích dừa một ngày anh nạo vài trái, nên hàm răng trên càng nhô ra thành mái hiên, khiến ảnh tức chịu không thấu, Kíu phải quay qua hỏi thăm thằng bạn “loa mồm” về chuyện “răng riết”, hắn cho nhiều ý kiến ý cò, để dựa dẫm nhau mà sống còn trong xã hội văn minh với đời.

                    Quả thật bỗng dưng răng vẫu ấm ức dỗi hờn sưng vếu lên, nó xìu xìu ễn ễn lạnh lùng bỏ “chàng” mà đi. Kíu tức mình quá chừng khi thấy bộ dạng mình coi vếu váo, xấu xí, chàng hăng hái nghe lời thằng bạn loa kia đi bọc chiếc răng vàng, để trám vô ở lỗ trống. Thế là hai hàm răng cũ thấy cái răng vàng khè giàu có, lóng lánh “đẹp giai” kia, so với mình sao xa lạ quá, chúng càng bực bội dỗi hờn thêm, bèn rù rì từ từ rủ nhau xa lánh “anh răng dàng”. Chúng hè nhau a dua tiến lên a chu, khiến răng Kíu rụng gần hết cả hàm dưới. Dù “em răng vàng” cô độc giữa rừng răng sợ một phép chẳng dám lên mặt trêu ngươi! Răng hở thì môi lạnh, môi buồn, môi chán, môi đau... nên mỗi lần ăn cơm, ăn cháo, Kíu cố nhẹ nhàng cho hàm răng trên thân ái đi gặp hàm niếu dưới, ngỏ hầu thăm hỏi xã giao nhau tí chút. Nhưng chúng nó đã thất lạc trong cuộc đời “răng với riết” mất toi rùi. Một chiếc răng vàng cô đơn độc mã không hiểu nhau, thì còn răng mô mà dám cười! Hỉ!?

                    Hàm răng mệt, cái mồm mệt, chàng Kíu không thể nhai thức ăn; cơ thể mệt, bộ óc của chàng cũng dần dà mệt lã theo. Thiệt là phiền toái đa! Cả hàm răng tất nhiên là có nhiều hơn “hai bờ môi tê tái”, nên “cái bè đảng răng” nó rủ nhau “xông pha biểu tình biểu tọt”... lang thang đi tìm trẻ lạc mất răng. Hàm răng bây giờ cái sún, cái bọc vàng, cái ...chỗ nào cũng lổn chổn. Thật dị hợm, khó coi, khó chịu quá chừng chừng à. Kíu không nhớ gì hơn ngoài việc lo lắng cho "cái bộ gió" của mình. Vì “cái răng cái tóc, là gốc con người” mà! Vì và... vì... Kíu còn phải lo canh tân o bế dợt le cho “răng với riết” thành: một hàm răng trắng trẻo cộng một hàm răng vàng le lói, để:
                    Một trà, một rượu, một đàn bà,
                    Ba thứ lăng nhăng nó quấy ta,
                    Chừa được thứ nào hay thứ ấy…
                    Có chăng chừa rượu với chừa trà!

                    Tú Xương xa xưa có bài thơ bất hủ trên, còn đào hoa thanh lịch như thế, huống hồ gì ta là trai thời thế tạo yên hùng thì phải:
                    Rượu nào là rượu chẳng nồng.
                    Trai nào chẳng khoái: Lan, Hồng, Cúc, Mai...
                    (cd)
                    Thằng bạn “loa mồm” vui tính kia còn tỏ vẻ ta đây sành đời, khuyên Kíu:
                    Lấy vợ xin lấy vợ sún răng.
                    Đỡ tiền nha sĩ ngại sâu ăn.
                    Sáng, trưa, chiều, tối em ăn cháo.
                    Khỏi phải mua bàn chải đánh răng.
                    Lấy vợ xin anh lấy vợ hô.
                    Lỡ sau mà có gặp côn đồ.
                    Em cười, chúng tưởng Chung Vô Diệm.
                    Hồn xiêu phách lạc cõi hư vô.
                    (*)
                    Còn Kíu thì chả dại... nghe lời hắn, trái lại chàng sâu sắc hơn, nghĩ khác xa thằng bạn thời “khố rách áo ôm, mồm loa mép dãi kia”:
                    Lấy vợ nên kiêng vợ sún răng.
                    Giận con lè lưỡi tựa bà chằng.
                    Tiệc tùng rủi gặp bò xào giấm.
                    Mắc nghẹn có ngày té ngã lăn.
                    Lấy vợ nên kiêng lấy vợ hô.
                    Hàm răng lởm chởm nói bô bô.
                    Rủi khi bả giận ôm chồng cắn
                    Ưá máu phu quân chạy thấy mồ
                    (*) thì sao nà???
                    *

                    Một hôm được trưởng đoàn phân công, Kíu (là âm thoại viên) cùng bạn công tác tại xóm Nghĩa Hành. Bạn Bé, Châu đi nhanh quá, Kíu có phần bệ vệ vì cái bụng lỡ mang thùng nước lèo khá lớn, (so với chiều cao). Kíu ì à ì ạch leo lên dốc, chàng che tay nhìn ngang nhìn dọc, không thấy hai bạn đâu. Mất hồn mất vía, Kíu ngồi phịch xuống trên gò mối, nghỉ mệt. Đã lo sợ lạc đường, tự dưng cái bụng phệ của Kíu sôi ọc ọc... ục ục, đau bụng thấy mồ... như muốn biểu tình, phản đối giờ cơm đến trễ. Kíu lom khom đứng lên, bỗng máy PRC-25 phát tín hiệu. Kíu lại ngồi vật ra, duỗi hai chân chụp lấy máy mở tầng số liên lạc. Nghe xong, “anh ta ca”:
                    - Cái lày ngộ xin lại ý dui loòng chỉ cho. À, tụi ló lại tẩy chai ngộ, dì cái pụng ngộ ló sôi lọc ọc, pị lau cái pụng quá chời, bạn ngộ lể cho ngộ lứng ở lây, ló li lâu mắc dồi, ló bỏ em lứng dứi gót cay phựng, ngộ li da ngoài duộng mà. Bạn ló hỗng biéc liều a. Em hỏn biéc chỗ lào lễ li dề à. Lần lầu tiên mới dề qua lay, thấy cây cối dzụng hư hại diều lắm. Em hỏn béc dớ cái lường lể đi dề qua a.
                    Thọ, Đan, và Nhã phì cười. Nhã trêu chọc:
                    - Em đi mau mới kịp bạn. Phải biết "giác ngộ" cho tiêu bụng mỡ chứ.
                    - Ngộ béc dát ngộ mờ. Có gì ngộ ngộ, thì ngộ dát dề cho a.
                    Có trời biết làm cách nào Kíu trở về an toàn, khi lưng đeo máy truyền tin, vai đeo ba lô cá nhân, vai kia thêm lưỡi cày, chả biết chàng nhặt ở đâu. Kíu nói:
                    - Nó “giác ngộ” quá, thì “ngộ dát” dề a.
                    Thọ vừa tức vừa vui, anh hóm hỉnh thông báo trên loa phóng thanh: ai mất lưỡi cày, xin cho biết. Phòng mang trả lại ngay.
                    Lần thứ hai khi Kíu đi công tác trong thôn Sơn Hà xong, Trung úy Đan cần kiểm chứng chút việc, đã hỏi Kíu:
                    - Em chỉ cho tôi nhà của ông bà Hai (mà em đã làm việc hôm kia) nhe.
                    - Dạ, Trung úy đi trên đê, thì thấy nhà họ ở trong xóm.
                    - Em không ghi ông Hai đó tên tộc là gì!?
                    - Xin lỗi Trung úy, tại em không ngờ...
                    - Nhà ở xóm ấy đông. Vã lại trong xóm có ba người: “tên thứ là Hai”.
                    - Dạ... vậy sao!?
                    - Em có nhớ đường tới nhà ông bà Hai không?
                    - ... Ơ... Trung úy tới cái nhà có đụn rơm nhỏ xíu, có con trâu nằm đó.
                    - Nhà nào cũng như thế cả. Không có số nhà, không có gì đặc sắc.
                    - Nghĩa là sao!? Trung úy?
                    - Tôi đến mấy nhà em tả. Con trâu ăn bó rơm mà em nói là “đụn rơm nhỏ xíu” xong, nó đã đi mất. Nầy em, đừng đứng đó vò đầu bứt tóc. Chả lẽ em sẽ đi hỏi con trâu hử!?
                    Một lần khác trong phòng đang ăn cơm, thì Chỉ-Huy-trưởng gọi máy dã chiến xuống, bắt anh em nộp bảng: "Dự trù Kế Hoạch A. Tối cần".
                    Kíu quên chưa cúp máy, anh ta láu táu báo trình với Đan:
                    - Xin báo thựng cấp tối cần, “bạng” dự trù kế hạch A, chớ sáng hỏng cần.

                    Ngờ đâu Chỉ-huy-trưởng đã nghe được. Trời ơi! Hậu quả ăn với nói lầm lẫn và hiểu sai nghiã. Kíu bị “an nghỉ” cả tuần trong chuồng cọp. Kíu “được” muỗi đốt thỏa thích. Chàng nằm co rúm chèo queo vỗ bụng “đau đói” bình bịch, để chờ Phòng Nhì điều tra. Toàn Phòng 5 đều gửi “thỉnh nguyện thư” lên Chỉ-huy-trưởng bảo đảm hạnh kiểm, hành vi của Kíu. Sau khi Kíu làm mọi thủ tục tường trình, chàng được tha khỏi chuồng cọp. Từ đó, chàng im re câm như hến, không dám thèo lẻo bép xép cái miệng ăn mắm, ăn muối nữa. Kíu tình nguyện “xuống cấp” để làm hoả đầu quân ở trong Sư-đoàn, cho chắc cú. Kíu nấu ăn thì ngon tuyệt, y như Tàu Hồng Kông vậy. Kíu ưa vỗ vỗ vào cái bụng phệ mà cười ha ha ha: Giàu chủ kho. No nhà bếp rồi thì… chóng chết là vì quản voi he!
                    *

                    Nghe tin Lính Phòng 5 được về hậu cứ sớm hơn dự định, Kíu nổi tiếng là trùm sò chuyên môn cho anh em "ăn mắm mút dòi". Nay chàng là người hào phóng nhất, trước tiên Kíu vác cái bụng phệ đi quăng mùng mền quần áo cá nhân. Kíu cần cho ba lô cá nhân nhẹ bớt ký xí mà. Rồi chàng lấy ly, tô, chén, son, chảo, nồi… ở trong thùng của đoàn 5 ra, trả thù tình và trả thù đời, anh đập bể hết! Kíu xán cho bằng thích hai bàn tay mập ú. Các anh khác cũng bắt chước Kíu làm theo, họ lôi tô chén trong ba lô cá nhân ra, xán bôm bốp xuống nền gạch. Nghe “đã” thiệt ta!
                    Đùng một cái Trưởng-phòng đi họp về báo tin Phòng 5 phải ở lại thêm bốn ngày. Kíu ngồi thộn ra nhăn nhúm, méo mặt như cái nồi son. Lấy gì xào nấu cho anh em ăn đây hở Trời! Thật chán mớ đời. Mấy ngày đó, anh em chịu trận giữa cơn rét rừng luồng vào tủy sống. Các anh chẳng dám mở miệng kêu than nửa lời. Ngày ngày Kíu xin phép Trung úy Đan cho ra nấu ăn nhờ ở nhà dân, chàng đi bắt ốc mò cua, đào măng, hái rau núi, hái rau sam, rau dền, rau đắng mọc hoang, luộc cho anh em ăn tạm với thịt hộp xin của đồng đội bạn đỡ lòng. Thật may vừa có lệnh trên ban hành cho anh em leo lên xe về nghỉ ở hậu cứ. Mấy anh mừng húm.
                    Tất cả câu chuyện về bạn bè thân thiết, cùng hoàn cảnh, không gian và thời gian, thoáng hiện ra trong tư tưởng Đan, dưới ánh sáng màu thiên thanh kỳ diệu. Đan mỉm cười về vài mẫu chuyện vui vui tương tự như thế; hầu quên đi nỗi nhọc nhằn trong đời lính chiến phong sương. Tạm quên bao khổ đau cuộc sống đùn lên trong đời Đan và tất cả quân nhân khác.
                    ***

                    Kíu kể chuyện tình của anh với cô bồ ruột ở Chợ Lớn, vui và cũng buồn hết biết: Kíu đã “phải lòng thật dạ” một cô trông ngồ ngộ kha khá bảnh tỏn ở gần nhà:
                    Năm canh ngớ ngẩn buồn rầu.
                    Nhớ người nhân nghĩa gan sầu ruột đau
                    . (cd)
                    Sau khi Kíu vào nha sĩ bọc thêm những chiếc răng vàng oai vệ đáng bậc “răng nhi” le lói kia xong xuôi. Thế là chàng thong thả đi la cà đó đây làm quen nàng Đào A Muối. Ai ngờ “ẻm” cũng “chịu đèn” mình quá sá cỡ thợ rèn! Thiệt là mừng húm!
                    Nắm tay em tròn như ống chỉ.
                    Lòng dạ anh đây phỉ chí muốn kết duyên.
                    Ngày nay hỏi thiệt bạn hiền: “thương không
                    !?”.
                    Nàng ỏng ẹo “cừi cừi”:
                    Anh ăn ở có lòng, em phải gắng công.
                    Một trăm năm em cũng để phòng không, đợi chờ...
                    (cd)
                    Thế là nhân một ngày gió sớm nhè nhẹ đong đưa lá vàng mùa thu bay bay, để kỷ niệm cách đấy một năm về cái ngày đầu tiên Anh và Em yêu nhau say đắm, hai anh chị vui vẻ hẹn hò đi ăn ở nhà hàng Arc Enciel. Kíu bảo nàng:
                    - Ai đi đợi với tôi cùng.
                    Tôi còn dỡ mối tơ hồng chưa xe.
                    Có nghe nín lặng mà nghe.
                    Những lời em nói như xe vào lòng.
                    (cd)
                    - Em ui, em là Ba Chệt, thì em cứ hiên ngang, can đảm vui vẻ nhận mình là Ba Chệt. Sợ gì ai mà ba má giữ rịt em ru rú ở trong nhà he? Hay em sợ mắc cỡ sẽ ló cái đuôi sam ra ha!? Em hãy mặc áo Thượng Hải, hở ngực, hở nách, xẻ hai bên đùi lên sát bắp vế, thì coi em càng khêu gợi chớ sao! Cho anh sung sướng dẫn em đi dợt le xí. Anh muốn tụi mình nên đi cà nhỏng, cà nhãnh, cà rịch, cà tàng chút xíu. Mình lên mặt làm dáng, làm dóc, làm le, làm tàng nha. Em cứ giựt nổi, chơi trội đi khoe với đời. Em không nổi như cái rốn của trung tâm vũ trụ em kià, thì đời mình mất vui, kém hạnh phúc đi. Nha cưng.

                    “Ẻm” nghe chàng miệng lưỡi ngọt xớt như mía lùi, thì ai mà không mê tít thò lò chớ́. Thế là nàng trẻ người non dạ, õng ẹo đi qua đi lại trước gương soi mà ngắm nghía, và toe toét cười. Đúng là coi mình cũng ngon lành ra phết, như miếng thịt mỡ treo trước mõm mèo. Ngu sao mình không chờ thời cơ, thiếu giống gì mấy chàng trai trẻ sẽ nườm nượp liếc mắt đưa tình he! Nàng lóc chóc hí hửng thích thú mặc xiêm y, thân hình chưa phì lũ lắm, chàng trông nàng ngon lành, coi cũng đẹp hết sẫy í chớ.
                    Kíu vui vẻ "phỉnh" nhẹ nàng thôi, chứ nếu chàng gallant trắng trợn, thì còn ra cái thể thống gì bậc mày râu! Kíu thì mặc bộ áo quần vía veston xám pha sọc đen hồ ủi thẳng nếp li láng cón, đầu chàng chải brillantine bóng mướt, con ruồi đậu trên tóc cũng phải té trợt cà. Kíu mang đôi giày đen nhọn mũi hoắt gót cao.
                    Con cò đi uống rượu đêm
                    Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao!
                    Còn anh chẳng uống hụm nào ...
                    Cũng say ngây ngất ngã vào lòng em!!!
                    (cd)
                    Chèng đét quơi! Cô nàng biết tông ti họ hàng thứ bậc từng gốc to ngọn nhỏ bề thế cuả Kíu là: hậu duệ cháu chiếc đích tôn đích tướng của ông chủ nhà hàng Nhất Dạ Đế Vương như vậy. Nay chính mắt nàng nhìn thấy người hùng lý tưởng diện bộ đồ vía lên, trông chàng càng đẹp ra phết, thì nàng đã nghệch mặt ra, hết dám xí xọn, đỏng đảnh! "Anh em ta” hăng hái leo lên taxi “cho... tới luôn bác tài”.

                    Hai người cười hi hí đủng đỉnh xuống xe, cầm tay nhau dung dăng dung dẽ, cười cười liếc liếc, lí lí lắc lắc… họ ung dung tà tà đi diễu dạo khắp nơi, coi “thái mái” lắm. Lúc họ bước lên cầu thang thì cái bóp đầm của nàng lủng la lủng lẳng đung đưa, có đựng hộp phấn thỏi son và vài đồng bạc lẽ, bỗng bị "bàn tay anh tài” cướp giựt mất, lẹ như chớp. Bị bất ngờ, nên nàng trợt chân té chúi nhũi, chiếc giày cao gót văng lông lốc tuốt dưới chân thang lầu. Đau quá là đau, nàng nghiến răng trèo trẹo ngồi chò hỏ nơi bậc thang, mặt tái xanh không còn chút máu. Mồ hôi hột rịn vã ra ở hai bên thái dương, "ẻm" bủn rủn tay chân, Muối thầm nghĩ:
                    - "Chắc là ma nó xô cho mình bong gân, lọi giò đây. Chứ cái thằng ma-cô cướp cạn, nó ốm nhom ốm nhách: như đồ xì ke, đuổi ruồi còn không thèm bay. Làm gì xô mình lọi giò được ha?". Nàng mơ màng nghĩ đến vần thơ:
                    Em xa mình hổng chết cũng đau.
                    Thuốc bạc trăm không mạnh, mặt nhìn nhau mạnh liền.
                    Thương anh nên mới đi đêm.
                    Té xuống bờ ruộng đất mềm hổng đau.
                    May đất mềm nên mới hổng đau.
                    Phải mà đất cứng, ắt xa nhau phen này.
                    (cd)

                    Vô tình nàng "để quên sự đời em ra". Thây kệ mặc khách tao nhân đi lên, đi xuống cầu thang; họ cứ quay lại liếc liếc nhìn nhìn, cười hi hí, và ngó sững "chỗ nớ" đã đời. Chàng thanh niên choai choai dé dé non đời lóc chóc đã nén giận, Kíu cắn môi chạy xuống chân cầu thang lượm giúp nàng chiếc giày. Kíu đứng xớ rớ dưới chân thang chờ mặc khách tao nhân đã choáng hết lối đi, họ cứ đứng ù lì chen lấn đi lại đông đúc ở cuối bậc thang. Chàng vô tình nhìn lên. Bỗng Kíu thấy “em thân yêu” oăặn… oằn vặn vẹo cả thân người, và “chỗ nớ” hớ hênh chìa ra coi tổn hổn, tển hển, rõ mồn một. Kíu giật thót mình, trái tim co xiết túi bụi, mặt đanh lạI, đỏ tía, tai nóng rần rần như bị ong chích, rắn cắn, hai bên thái dương chàng giật tưng tưng. Kíu mắc cỡ xấu hổ muốn độn thổ, Kíu cầm chiếc giày cao gót sút đế, vụt xô mấy ông vạm vỡ giạt qua một bên, chàng nhảy lên một lần hai ba bậc cấp. Kíu ném chiếc giày vào bụng nàng, kêu cái "biịcch"… Chàng trợn mắt nghiến răng trèo trẹo, kéo giật cánh tay nàng, cằn nhằn:
                    - Đứng lên mau! Con gái, con nai gì không có ý tứ, lại mặc cái "xì níp" rách háng coi trơ trẽn quá. Có thấy thiên hạ đang dòm ngó em không? Hứ! Lại còn ngồi thộn ra… xí xọn, nhí nha nhí nhảnh cừi cừi. Ghê quá ta.

                    Nàng sửng sốt tức giận lên cực điểm, đến tím mặt bầm gan. Đã không dỗ dành khi người ta đau điếng, thì thôi. Còn lên mặt la mắng tui cái nỗi gì giữa chỗ ba quân, hử? Nàng nghiến răng trèo trẹo, liền xổ một tràng tiếng "Háng" văng cả nước bọt khiếm nhã ra:
                    - Ai biểu... tại vì lị lói mí ngộ: là lị thít ngộ đem li phe ra le lói với đời mờ. Ngộ không bét. Ba trợn á. Ay da dà! Cái đồ tồi, dóc tổ a... Oái! cái cẵng chân của lị ló dzụng mất toi dồi. Tô chè a. Xiía...

                    Tự ái dồn dập mà! Tuy nhiên, chàng thấy nàng tái tím xù ra như lông nhím thật sự, Kíu cũng biết điều, lòng chàng dịu hẳn xuống, Kíu nâng cánh tay nàng lên, chàng liền hạ mình hạ giọng, năn nỉ ỉ ôi. Nàng được trớn, càng lên mặt vênh váo, lì lợm, làm le, làm dóc, làm tới, làm tàng, làm liền… không thèm hòa. Nàng xù bộ mặt rất ư dễ ghét coi cà chớn quá ta. Xách chiếc giày sút đế lủng lẳng, nàng vung cùi chỏ thoi vô hông chàng kêu cái “ự” . Nàng chưa đã nư, bồi thêm cú chưởng “độc thủ” hất mạnh tay “người iêu”. Nàng cà niễng cà giật cà thọt một chân cao chân thấp, nàng nhoi nhoi cái đít vịt đi điệu bì bộp, xô-lô-rốc chấm phẩy. “Ẻm” nguýt xéo chàng một cái thiệt dài, đôi môi cong cớn trề ra như mỏm con dê, mà leo lên taxi... cho tới luôn bác tài. Bác ta rồ máy chạy cái vù giữa đám thị dân đang kinh ngạc nhìn theo.

                    Chàng mới té ngửa ra là nàng chẳng phải là thứ vừa, thứ dễ bảo mô nà, trông nàng bây chừ thiệt ngứa mắt quá chừng chừng! Đúng là “thứ Tình Cà”. Thế là Mạc Kíu nổi máu anh hùng lên: bỏ đi một nước, giang hồ biệt tích. Kíu leo lên xe “đi quân dịch là thương nòi giống”:
                    Năm xưa em bảo đợi chờ.
                    Năm nay em lại hững hờ với anh
                    (cd)
                    Thời gian trôi qua, chàng dần dần nguôi ngoai nỗi “sầu đời”, Kíu đã vui vẻ hát điệu… tẩu mã rất linh hoạt của dân ca Huế.
                    Bây giờ tình nghĩa làm sao.
                    Cho chuông chẳng bén bồ lao chẳng bền?!
                    (cd)
                    Thôi! Hãy thả tình trôi theo giòng thời gian... Chả còn gì cho “Anh và Em”. Thật chả còn gì cho mối tình mà chàng nghĩ từ nay đúng là: Thứ cà tửng, cà tàng, cà khịa, cà ná, cà chớn, cà pháo, cà chua... cà dái dê... Khi nàng ù té chạy làng, lê bước chân què để leo lên con đò, ca bài “Sang Ngang” của Đỗ Lễ, cho mối tình xưa đi đứt theo đuôi con nòng nọc, mất toi.
                    Năm nay em phải lấy chồng.
                    Không vui thì cũng bằng lòng mẹ cha.
                    (cd)

                    Ba Tàu style Mạc Kíu đã chạy tới thằng bạn “loa mồm” thở than:
                    Nếu piết rằng lị đã có chồng.
                    Ngộ dề ngộ pán nốt Hồng Kông
                    Mang tiền ngộ đổ vào Chợ Lớn
                    Lời vốn đầu tư ngộ mát lòng!
                    (*)
                    Kíu dứt khoát mọi điều khẳng định là “ngộ” phải quên “lị”. Như đinh đóng cột vào vách. Như ngôi nhà quay mặt về núi. Muôn đời không thèm đối diện với biển cả. Chàng rung đùi, dùng rượu đổ vào cái bụng phệ:
                    Nếu biết rằng em sắp lấy chồng.
                    Anh về bắt vịt nhổ sạch lông.
                    Tiết canh làm được vài ba đĩa.
                    Mượn rượu cho nguôi vết thương lòng.
                    (1)
                    Dù chàng là “ba Tàu” chính cống thứ thiệt, nhưng mình chả phải là thứ tay vừa trong mục “Thơ Tình Cà Tửng Cà Khiạ cuả chàng và nàng”: Em hãy nghe nè Muối:
                    Anh cà ghim sáng tối uống cà phê.
                    Tình cà nhỏng vi vu hết chỗ chê.
                    Củ cà nông thất nghiệp không cà pháo.
                    Thấy cà dại sao giống cà dái dê.

                    Tình cà rem le lưỡi liếm cà rề!
                    Đời cà gai chàng ràng anh cà tong.
                    Khuya cà giựt cà lơ xịch cà đụi.
                    Em cà ri nị chê anh cà khỏng.

                    Ôi tình cà tàng cà kê dê ngỗng!
                    Em lù đù cà lơ thân cà cuống!
                    Chân cà thọt anh lên xe cà xóc.
                    Em đòi đeo cà rá coi cà tửng

                    Anh cà chớn như mấy con cà cưỡng!
                    Em cà khổ không biết anh cà rỡn.
                    Tình cà khịa mình giận nhau từ đó.
                    Bỏ cà mèn anh len lén húp phở.

                    Em cà rốt ngó anh đi cà nhắc.
                    Đau cổ họng anh cà lăm cà lắp.
                    Khêu đủ chuyện kể cà riềng cà tỏi.
                    Em cà chớn cà dừa đi Cà Mau

                    Anh quá sợ mũi em giống cà chua.
                    Về Cà Ná vất cà vạt vô chùa.
                    Ăn cà bát cà chua lẫn cà tím.
                    Củ cà rốt teo dần… cứ mặc ta!

                    Anh hận tình lên núi choàng cà sa.
                    Chân cà niễng anh y đúc cà kheo!
                    Em cà rề cà tang nằm chèo queo.
                    Kể từ đó đôi ta đã... cà dẹo…

                    Mắt em cay vì có anh cà cuống
                    Bởi thế cho nên tình ta nở muộn.
                    Thành cà tửng tình cà chớn sớm khuya
                    Hạnh phúc mất lúc đời ta cà tàn!
                    (2)
                    *

                    Cd = ca dao
                    (*) Thơ sưu tầm, lượm lặt đó đây; không phải thơ của tác giả.
                    (2) Thơ Vui Tình Hoài Hương

                    _ * _


                    Tình Hoài Hương
                    Last edited by Tinh Hoai Huong; 01-15-2018, 04:42 AM.
                    Bút trần nào tả được lưu luyến!
                    Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                    Tình Hoài Hương

                    Comment

                    • Tinh Hoai Huong
                      Senior Member
                      • May 2009
                      • 1081

                      #220
                      Nỗi Yêu Thương Dày Vò LÍNH




                      Nỗi Yêu Thương Dày Vò LÍNH


                      Trên ngọn đồi nhìn xuống thung lũng trước mặt là: bãi phù sa và cồn cát vàng mịn nổi lên mặt nước cù lao rồng giữa dòng sông xanh mênh mông. Mặt sông bồng bềnh có khúc uốn cong đầy bèo, lục bình, lá khô, rác rưới trôi đi trôi về mỗi khi nước xuống, nước lên, nước đứng, nước rút. Con sông xanh nối hai bờ có chiếc cầu gỗ sơn trắng dài ngót một cây số. Cây cầu móc từ bờ nầy sang bờ kia xa thật xa mờ xa mang tên cầu Cộng Hoà… cuốn theo bao mộng ước vui say thời Trọng mới lớn, anh thả mặc tình yêu lững lờ trôi vùi đau đau giữa giòng thác lũ. Trọng xã láng cuộc đời trai trẻ như canh bạc về khuya trên những mưu toan đen đỏ thời cuộc, và rủi may do số phận bọt bèo phiêu lãng đẩy đưa.

                      Trọng ghét ông chú ruột kinh khủng, ghét đến nỗi anh nhập tâm, làm gì đi đâu hay ngủ nghỉ, Trọng vẫn nghĩ tới những trò hề ông chú làm, mà giựt chắt. Trọng khinh thường chú, không phải vì chú ruột có mặt mày bặm trợn, trông cô hồn các đẵng, chuyên “bá đạo” làm thầy cúng, thầy bói, huyện đề đâu... Chỉ vì Trọng nghe ông ta ưa cười gằn, hắng giọng nói:
                      - Tổ choa mi, nói cho bưa cái chi bậy bọa rứa hỉ? Coi mi khờ câm rứa thê! "Đa nghề thì dễ bề hoạt động". Nghen mậy!

                      Câu nói ngụ ý chẳng lành khiến Trọng điên tiết, anh không láu cá hỗn láo, ngang tàng, hay ỷ mình có chút kiến thức mô nà. Bởi, Trọng biết "cái tẩy" ác ôn, lưu manh gian trá của chú, nhưng miệng lưỡi chú ngọt xớt như mía lùi. Bề ngoài con người biểu kiến ấy, không ai đoán biết ông ta thực sự nghĩ gì, trong lòng ông ghim gút rất phức tạp, lại ích kỷ hại nhân, quá qủy sứ. Kiến thức hẹp hòi tâm tư nhỏ nhen, khả năng tầm thường, học chẳng biết “chữ cu chữ cò, mà viết như rồng như rắn”. Ông qua mặt dân hiền "hoạ hổ hoạ bì, nan họa cốt. Tri nhân tri diện, bất tri tâm". Chú mượn cớ là: ta đã "tu nghiệp đa nghề", nay lân la đầu trên xóm dưới nghe ngóng, thu lượm tin tức.

                      Ông (mang nạn gỗ, khi vó nhựa bị sút ra, thì tiếng kêu khô khan lạch cạch lọc cọc, nghe thật chướng, thật chướng tai), ông giả vờ nhậu không say, không xĩn, không về. Việc a dua thọc gậy bánh xe, thì ông lại rành mạch, châm chọc nhiều pha gay cấn, ghê hồn hơn. Thế nhưng, ông không thể qua mắt Trọng bất cứ điều gì. Anh quyết chí phản đối ông kịch liệt. Tội ông chú hãm hại người khác là không thể dung tha, dù hại người hay giết người vì bất cứ lý do gì, trong vùng đang chiến tranh liên miên, cũng là sai. Sinh mạng con người bình đẳng, đầy nhân phẩm, tự do cao qúy, đáng trân trọng như nhau. Không ai có quyền hủy diệt, tước đoạt sự sống hay diệt tự do tư tưởng cuả người khác. Dù ổng bất đồng chính kiến, hay đổ lỗi do liên đới chiến tranh; cũng thế thôi.

                      Ông Sáu rỉ tai phao tin các vườn rau trong làng, xã, bị ai đó rải chất hoá học độc hại, nên rau ở chợ ế ẩm không ai mua, sình thúi. Ông còn phao tin nước ven sông bị bỏ thuốc, khiến cá chết và lũ chuột chù, chuột chũi, chuột cống, chuột hôi, chuột đồng, chuột lang, chuột nhắt chết la liệt. Ông phải làm phước đem đi chôn hết, không có dấu vết. Khiến bà con sợ hãi, không tin tưởng bất cứ kẻ lạ người thân, ông vội vàng đào giếng làm nắp giếng và khoá chặt, không cho người ngoài được ghé tới xài chung, và rỉ tai… "hãy đến nhà tui chia sẻ". Vã chăng bây chừ muốn đào một cái giếng thì tốn bộn tiền. Do cơ hội ấy ông trúng thầu về việc đào giếng đã có lợi một vố kha khá. Nhưng Trọng biết là chú chỉ ba xạo, nói láo, để người khác mang ơn mỗi khi họ quảy đôi thùng tới nhà ông mua nước giếng.

                      Ông Sáu sống sung túc, no đầy phủ phê nhờ bà con làng nước nhẹ dạ, ù ù cạc cạc âm âm u u mê tín dị đoan, chẳng biết răn rứa mô tê chi, khi nghe giọng lưỡi ổng ngọt xớt như mía lùi. Ông Sáu với bộ mặt trơ trán bóng nhẵn thín trổ tài “khuyển mã” khá lưu loát, nên có mấy ai biết mình bị lừa đâu. Nhặt ba thứ lá tầm phào đem về, ông cho tà lọt xắt nhỏ rồi trộn lẫn vào nhau, phơi vài ba nắng. Nếu ai cần, ổng bán với giá cắt cổ. Trọng nghĩ câu ca dao: “Chổi cùn cắp nách khăng khăng. Hễ ai hỏi tới, thì văng nghìn vàng”. Thật đúng cho ông chú nhà mình quá sá. Nắng gió trở trời, ai đau đầu, đau bụng, hắt hơi nhảy mũi, họ chạy đến ông nhờ coi mạch. Lúc đó “phồng mang thầy nổ" lên mặt luyện phù chú: chuyện nhỏ mà! Ai đau ốm nặng nhẹ mặc lòng, ổng bắt đàn bà thắt bín đuôi sam. Đàn ông húi cua, ông Sáu nói:
                      - Để tóc dài che mặt, thần linh không thấy tóc "chọt" vô mắt, đỏ mắt, không còn “đôi méc là cửa lộ” của tâm hồn cho thần linh rọi vào.

                      Bà con làng nước nghe “văn chương" của ông thật bùi tai, sao mà thiệt hay đáo để! Đúng là tóc chọt vô mắt, thì tất nhiên phải đỏ mắt rùi, thần linh chắc chả có mắt làm sao mò vô! Có nhiều nông dân bị đau răng, ông Sáu đủng đỉnh đi xe sợi chỉ, ông quấn một đầu chỉ vào cây đinh mười, (đã đóng sẵn trên cột nhà); đầu kia ông cột sợi chỉ vào chiếc răng. Cứ thế, ông Sáu lôi họ ra bẻ răng. Mặc cho họ dùng cả sức mạnh hai bàn tay mình chổng mông để đẫy cái cột nhà. Chẳng hề có thuốc tê thuốc bại cầm máu cầm mủ chi. Họ ré lên eng éc... é..ec..., như con heo bị thọc tiết, máu miệng phun có vòi.
                      - Bựt!
                      Ông Sáu tự hào vỗ ngực:
                      - Xong rồi! Đồ iả cái rẹt! Sơn Đông Mãi Võ nhổ răng còn thua tui hì!

                      Bị ngất xĩu, ông Sáu cho con Nụ gỉa tép sả, bắt thằng cu Út rặn ít nước tiểu, ổng hoà tí muối, và cho bệnh nhân uống. Bị chảy máu cam, ông ta nhét đầy cục tóc rụng vô hai mũi. Bà con muốn ngộp thở. Không còn tóc rụng, ông Sáu thản nhiên kêu con Mót vô sau hè nhà, ổng cắt túm tóc đuôi gà nhu nhú. Tóc con nhỏ càng ngày càng sát da đầu. Nó tức mình chột dạ nhảy đành đạch khóc ngất... Thiệt chịu thua ông thầy chạy! Vì mấy thằng con trai trong xóm cứ đưa ngón tay trỏ quệt quệt vào má lêu lêu chọc quê nó là:
                      - Ê! Hổ ngươi. Cái đồ bóng lại cái... ái nam không có cu, ái nữ không có húm.
                      Thế là con bé khi lớn lên nó mang đầy mặc cảm và:
                      Mặc cho cha đánh mẹ treo.
                      Đứt dây rớt xuống cũng theo chung tình.
                      (1)
                      Bị ghẻ hờm do vắt, đỉa cắn, ký sinh trùng gây ra ngứa ngáy, đau nhức khó chịu, bưng mủ sưng tấy. Thầy Sáu nổ:
                      - Rứa là, do ăn ở không có đức, mà gây ra.
                      Người ấy thẳng thắng lý sự lại:
                      - Ồ, có bốn thứ: Lé, lùn, hô, sún, thì thầy chiếm hết ba rồi. E là do rứa hì?
                      Mắc cỡ và tức mình, không trả lời được, ông để bụng thâm thù. Ông qua mắt đa số dân quê chất phác, gạt họ tin ông như điếu đỗ. Ông nói voi, họ tin voi. Ông vẽ vượn họ tin vượn. Người giàu có hậu tạ xứng đáng, thôi cũng đành. Còn người nghèo khổ bần hàn thì cố sức bán chát, moi móc chạy vạy, mua thức ngon vật lạ, kết cỏ ngậm vành dâng biếu ông xôi chè, lương đăng trà quả. Nhà giàu thêm gà luộc, heo quay, bò tái, bê thui. Sau khi cúng xong, chủ nhà còn biếu thầy hậu hĩ, kèm theo tiền bạc phủ phê rủng rỉnh dằn túi.
                      Chập chập thôi lại cheng cheng.
                      Có con gà trống đem lên hầu thầy.
                      (1)

                      Ông ngồi trong mát ăn bát vàng, moi tiền bạc của dân bằng thích. Tiền họ đưa ông làm ma chay đình đám, ông ngắt nhéo chỗ nầy một ít, chỗ nọ một ít, nhét đầy vào túi quần. Cất tiền trong bóp ông cứ nơm nớp lo sợ. Nằm ngủ trên võng, một mắt ông nhắm, một mắt mở trừng trừng đề phòng mất cắp. Có tật gian trá thì ổng hay giật mình à. Y như rằng có một lần ông mãi chen lấn vào đám Sơn Đông Mãi Võ coi mê tơi, coi say sưa con khỉ cởi xe đạp. Khỉ ăn cắp bánh bao, thì ông bị mất bóp tiền thật, tiền bạc không cánh mà bay vèo đi lúc nào, ở đâu chả rõ. Ông Sáu lạch bạch đi quét dọn, moi móc khắp mọi xó xỉnh. Tiếc của ngẩn ngơ, ông đi kiểu tăng gô xì lô bộp, cha cha cha nửa mùa đau thương với cây chổi cùn luân vũ. Ông hùng hục đi tìm, vừa chửơi đổng. Nghe dễ mất lòng. Dễ đỗ quạu. Dễ xa nhau. Dễ giận nhau. Dễ ghét nhau. Dễ tức nhau. Dễ đánh nhau. Dễ chém nhau! Khổ ghê đi.

                      Chó là điều ông Sáu đại kỵ, vì ông ta đi đến đâu nó sủa rần trời đến đó. Hình như nó đánh hơi biết được ông ta có “lòng lang dạ thú”, giống đồng loài chó sói không như chó nhà, nên “chó nhà má vườn” không tiếc "lời" gâu… gâu… gâu… tố giác? Tiếc thay! Ít ai hiểu bầy chó muốn "nói" gì. Ông Sáu khóc hụ hụ hụ. Đàn chó trong vườn, nghe tiếng chủ la rống, chẳng những hôm đó chúng không sợ chủ đánh đập tàn nhẫn như mọi ngày. Chúng bắt chước đàn chó hùa theo chủ, tru tréo hú họa từng hồi inh ỏi vang làng vang xóm. Thật kinh sợ hết biết cái đời ông thầy dõm, ông thầy cà chớn. Ai khuyên lơn chi, ông cũng lì lợm ù ù cạc cạc ừ hử, như đàn gải tai trâu, ông Sáu khoái chí biết danh ta nổi như cồn ngoài nhà bà Ba Cu. Bà Ba chịu đèn mê ông ta tít thò lò. Bà có nuôi ba con cu, nên họ gọi bà là “bà Ba Cu”. Ừ, thì quả thật bà điệu nghệ có nuôi chim cu hưởng nhàn. Ai muốn hiểu sao thì hiểu. Chả là cũng có mớ đàn ông xồm xoàm buông lời trêu ghẹo đó chớ:
                      Cầm tay, anh nắm cổ tay.
                      Em đừng hô hoán sự nầy mà to...

                      Nhưng mà bà Ba ỏn ẻn có giả vờ ngúng nguẩy hất tay ông kia ra:
                      Bữa cơm múc nước rửa râu.
                      Hầu cơm, hầu rượu, hầu trầu, hầu tăm.
                      Đêm đêm dắt “cụ” đi nằm.
                      Than thân phận gái ôm lưng lão già.
                      Ông ơi ông buông tôi ra.
                      Kẽo người trông thấy người ta chê cười.
                      (1).
                      Thì ông Sáu liền “túm” ba Ba lại:
                      Chỉ đâu mà bịt ngang trời?
                      Tay đâu mà bịt miệng người thế gian.
                      (1)

                      Tuần sau, ông Sáu có dịp "tạo vốn" khác, tiền lời to gấp ba lần số tiền đã mất. Sung sướng quá, lúc ăn cơm, khề khà tợp ngụm rượu đế, ông ta nói nhỏ với người nhà (Trọng ngồi ở trong phòng riêng), nghe:
                      - Mình lồm en với cái bợn đàn bòa, dưới đất chun ra, ngu như con bò tót ni, rứa mà khá dữ đa! Thật sướng rơn người. Nghe mậy! Tiền bạc nẫu lo cho tau đều chi. Không thiếu một hào, một trự. Đôi khi tau bốc phét lên, làm việc ni thầy lo không xuễ. Phải lo cho cấp sư phụ của thầy. Thì Nẫu tin như điếu đỗ đưa tiền cho tau hậu hĩ. Rứa là tau giả đò mẹc áo, rồi ra nhà bà Cu ở lại mấy bữa. Lại ăn chặn bên ni bên tê một ít, có thêm một mớ. Thiệt sướng rơn người. Nghe mậy. Tha hồ cho mạ con chúng bây và tau nỏ sướng run thì thôi:
                      Cái cò là cái cò kỳ.
                      Ăn cơm nhà dì uống nước nhà cô,
                      Đềm nằm lại ngáy o o.
                      Chưa đi đến chợ đã lo ăn quà!
                      (1)

                      Thượng cẵng tay, hạ cẵng chân, cứ thế, ông vơ vét của dân làng hiền hậu ở nơi thâm u cùng cốc, kể cả bà con ruột thịt, không chừa một ai. Trọng nghe ông nói, lòng bỗng dâng lên nỗi yêu thương ruột thịt và nỗi hận dày vò khôn ta, anh càng khinh ghét chú. Trọng muốn đi ra dộng vô mặt ông ta một cái thẳng cánh, và chưởi ông chú một trận. Tới đâu thì tới. Nhưng… nghĩ đi nghĩ lại bứt dây động rừng, vì Trọng thương cha mẹ già quá. Bạn Trọng đã nói:
                      - Đó là thứ tà lọt tò le mách lẻo, hầu đưa xóm làng đến tận cùng bằng số. Không có gì quý hơn chết chóc, điêu linh mút chỉ cà tha.
                      *

                      Trúc suy nghĩ liên miên khi nhìn xuống chóp mái ngói đỏ au của nhà Trọng, cô lại sựt nhớ tới ông Sáu Linh ở trong Xã nầy. Trúc nghe Trọng than thở, cô cảm thấy càng khinh ghét ông thầy hơn Trọng nữa. Hai tâm hồn: Trúc và Trọng đồng điệu, thu hút quyện mắc vào nhau sít sao như cục nam châm trước bối cảnh lịch sử đối nghịch, bất đồng chính kiến trăm phần trăm. Thì làm sao họ yêu nhau, xe tơ kết tóc, xây dựng tình yêu trên quê mình hoang tàn rách nát tơi tả. Từ trong gia đình ra tới làng mạc, quê hương. Làm sao họ yêu nhau đến cuối cuộc đời? Cay đắng - đau xót dường bao! Thôi thì cứ ước mơ:
                      Anh mong ngóng thật sao?
                      Hay là nói tào lao!
                      Thế mà... em cứ ngỡ…
                      Ta "kháo" chuyện hôm nào.
                      Khiến mình thấy nao nao.
                      * Thâu canh hờn, áo não.
                      Trong dạ nghe xôn xao.
                      Đời “nó” chỉ năm hào.
                      Có gì phải… gầy hao.
                      * Nếu yêu, anh cứ bảo.
                      Thẳng thắng như hôm nào.
                      Anh cùng em tâm sự.
                      Tình yêu trao ngọt ngào.
                      * Sạch trong không hư ảo.
                      Thành thật không điêu ngoa.
                      Hai ta chung mái nhà.
                      Tình đẹp như hằng nga.
                      (2)

                      Bỗng đâu, một con khỉ khá lớn, từ trên nhánh cây rừng to nhảy xuống cái độp. Khiến Trúc giật bắn người. Cô chưa kịp hoàn hồn, thì con khỉ xô Trúc ngả lăn ra đất. Nó vội chộp lấy cái nón sắt thoăn thoắt leo lên cây cao. Nó kêu chí choé, khò khè gãi đầu gãi mông tứ tung, nó trắng trợn lỏ mắt nhìn xuống chỗ Trúc đang ngồi, khoan khoái tè ra xè xè, nó chẳng kiên nễ ai. Đội mũ sắt vào, nó ngồi chồm hỗm trên cây, lại chu mỏ kêu chí choé, nó hí hoáy nhảy nhót, chỉ chỏ xuống đất. Trúc điên tiết, không có cách gì dụ con khỉ quăng mũ xuống, dù cô đã mỏi nhừ hai tay lui cui ném đá xuống đất. Con khỉ chả thèm bắt chước. Ở trong vùng chiến tranh con khỉ “nó ma lanh” còn thua ông chú Sáu. Khỉ ta đội nón lính biến mất tiêu trên những tàng cây rậm trong rừng sâu. Ra chiến trường, Trúc không khôn ngoan, không có mũ sắt. Kể như thua rồi.

                      (1) ca = ca dao
                      (2) Thơ vui Tình Hoài Hương
                      ***

                      Tình Hoài Hương
                      Bút trần nào tả được lưu luyến!
                      Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                      Tình Hoài Hương

                      Comment

                      • Tinh Hoai Huong
                        Senior Member
                        • May 2009
                        • 1081

                        #221
                        Lời Tỏ Tình Ở Góc Đường Thiên Lý…


                        Lời Tỏ Tình Ở Góc Đường Thiên Lý…
                        Thân tặng anh BĐ & qúy quân nhân QLVNCH đã một thời vang bóng trên quê hương chinh chiến.
                        Nhất là vùng: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Mộ Đức, Sa Huỳnh, Minh Long… v.v…
                        THH
                        ***



                        Sau ngày Hiền Hoà hân hạnh đạt danh hiệu rực rỡ: Hoa hậu Cây Mùa Xuân tại Sơn Trà – Đà Nẵng, thì Hoà được mời vào làm việc tại Sư-đoàn 2. Phòng 5. Do đó Hoà quen với Thắng, và khi cả phòng đi công tác lên các vùng điạ đầu giới tuyến, Hoà quen biết thêm nhiều anh chị khác tận miền Quảng Ngãi, Mộ Đức, Sa Huỳnh, Tà Biên, vân vân… Hoà đã quen thân một vị sĩ quan đang trú đóng ở tiền đồn Minh Long xa xôi heo hút, giá lạnh, khói lửa liên miên và buồn vô cùng. Anh ấy là Bửu Đan, tính tình Đan trầm lặng, buồn vui ẩn trong nhiều ý nghĩ sâu sắc, và chắc chắn một điều là Đan... cân nhắc thận trọng khi thổ lộ cùng em qua những trang thư gởi từ chiến trường KBC... nghe dễ thương làm sao: “Anh đã bị em ăn trộm trái tim và khối óc từ lúc anh chính thức biết rằng: anh yêu em rất nhiều và chân thật… Hiền Hòa à ”.

                        Thiệt tình! Một người đã bị mất trộm cả khối óc và trái tim trên chiến trường, ấy thế mà vẫn sống can trường và dũng cảm oanh liệt trong binh đao khói lửa! Thế mới lạ. Hoà ngây ngất với niềm vui & nỗi nhớ nhung vời vợi... dù anh & em chưa một lần tay nắm bàn tay nhau. Chi lạ rưá!? Rồi thì… dưới bóng mát ven khu rừng già, phía trước mặt là ruộng lúa mênh mông đã gặt hái. Lúc trước có vài lần Hoà đến nơi nầy thì ruộng lúa rợp trời, thân lúa kết quả đơm bông vàng rực, óng ánh dưới nắng, lúa oằng cong ngọn nằm ngã mình lả lơi lên nhau, trĩu hạt no tròn mum múp trông quá dễ thương. Nhờ màu xanh cây lá bên bìa rừng cành cây không rậm lá, lộ ra khoảng trời xanh êm mát mênh mông, lọt nắng vàng tươi qua kẽ cành đong đưa theo gió rì rào lao xao, mà cảnh vật trong vùng chiến tranh đỡ tiêu điều, hoang vu và cô quạnh biết mấy.

                        Một chiều xuân bất ngờ, Đan tìm đến Hoà khi em đọc quyển "Một Lần Gặp Nhau" của Châu Trang Long. Anh đưa hoa sen lên môi hôn, rồi ân cần tặng Hoà cánh sen còn tươi rói làn môi. Có lẽ Đan vừa hái ở đâu đó, cuống hoa và cánh hoa mọng nước, sắc hồng điểm màu trắng nhạt ven cánh. Trông tuyệt diệu dưới ráng chiều dắt vàng chan hòa trên cỏ cây nơi vùng hoang dã.
                        Hoa sen ở miền Trung và tại Huế trồng dồi dào nhất. Người ta ưa thích nó về nhiều mặt: Cánh sen ướp với trà uống vào có hương vị thật đặc biệt, trong trà lúc đó có vị chát, vị đắng cuả tim sen, khổ qua. Hoa sen cắm vào lọ chưng bày trên bàn thờ lâu tàn hơn các loài hoa khác. Hạt sen nấu chè thật bùi, hoặc hầm các món ăn, hạt sen còn làm bánh mứt. Thân non làm gỏi ngó sen, lá sen dùng gói hàng. Hầu như sen không bỏ phí đi một thứ gì mà trời đã ban tặng. Sen là loại thực phẩm vừa ngon, vừa đắt, tận dụng, tiện dụng và hiếm quý. Việt Câu Tiễn dâng nàng Tây Thi, cô gái nước Việt sắc nước hương trời, đẹp tuyệt trần sang Tàu triều cống Ngô Phù Sai thâm độc kinh khủng, mục đích làm cho Ngô Vương say mê đắm đuối Tây Thi; khi hoa sen cùng người đẹp Tây Thi xuất thân đến xứ người, thì dân Đế Đô ngàn năm cổ kính đất Thần Kinh càng yêu thích, luyến thương hoài nhớ Tây Thi, nên họ ưa trồng nhiều sen hơn. Thì phải!?

                        Hoà sững sờ nhưng mà vui mừng bỏ quyển sách xuống nệm cỏ xanh, hỏi Đan:
                        - Ồ. Chào anh. Anh đến… có việc gì gấp không? Anh!

                        Đan lắc đầu, anh hóm hỉnh mỉm cười không đáp, anh ngồi xuống bên cạnh Hoà, Đan lấy gói Pallall ra gài điếu thuốc lá lên môi, mồi lửa, Đan chỉ ghiền hút thuốc lá không đầu lọc và uống cà phê đen đậm không đường mà! Anh nheo mắt thở ngụm khói nhỏ, khuôn mặt trầm tư nén bớt vẻ khắc khổ, màu đen trên mái tóc pha màu khói lam, đôi mắt Đan hai mí to đẹp, sáng long lanh nép dưới hàng mi dài dày cong vút rung nhè nhẹ. Vì cặp mắt hai mí to đẹp ấy, mà lần đầu tiên vừa trông thấy anh, Hòa tưởng anh là "lai người Ấn Độ".
                        Hoà thắc mắc nhìn Đan mỉm cười, dò hỏi:
                        - Sao anh biết em ở đây, mà tìm thấy vậy?
                        - Nơi thanh vắng thế nầy hợp với em. Cũng như chỉ có Hoà, mới quyến rũ bước chân hồ hải của anh thôi.
                        Đan mỉm cười, nghiêng đầu ung dung ca nho nhỏ: (…) Thư của lính không xanh màu trời như mơ ước đâu em. Thư của lính không thơm nồng hương, không nét hoa đa tình. Thư của lính ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay. Nhưng thư của lính ghi giữa rừng cây khi nhớ em thật đầy. (1)

                        Vẻ thanh lịch của Đan, có thể nói toát ra từ cử chỉ, dáng dấp ung dung, thư thái, vô hình trung tác động đến Hoà. Tim Hoà bỗng nhiên đập rộn ràng trong lồng ngực, vui vui, say say, và mơ mơ. Đan cầm quyển sách của Hoà đang đọc lên. Vô tình phong thư Hoà viết chưa kịp gởi cho Thắng, rơi xuống nệm cỏ giưã hai người. Có một vài giây, trái tim Hoà co xiết cuồng quay dường như ngừng đập. Hoà e dè dõi mắt liếc nhìn từng cử chỉ Đan thế nào, hầu xác định mối liên lạc tương lai, giữa Hoà và..."ba anh bạn, (bạn đúng nghĩa): Phú. Thắng, & Đan". Hoà ấp úng:
                        - Anh nầy… có nghĩa là anh... anh trai… của Hoà…
                        Đan nhìn phong thư ghi KBC, anh nheo nheo mắt, mỉm mỉm, cười cười, hóm hỉnh rất dễ... ghét:
                        - Lính kèn hả? Hay là lính kiểng?
                        - O… Ô!... Em không hiểu anh muốn nói gì?
                        - ...
                        - Vả lại em hỏi điều nầy, anh đừng trợn mắt lên à nha "lính kèn, lính kiểng" là thế nào, anh ha?
                        - À, là lính thành phố thổi vào tim em bản tình ca muôn thuở. Là lính cảnh, đưa em đi dạo phố phường trước sự chiêm ngưỡng mến phục của mọi người. Đó em!
                        - Ơ... Cái anh nầy.
                        - Coi em kìa: sao em bẽn lẽn, rụt rè, ngập ngừng khiếp vậy?
                        - Anh không làm việc sao, lại đến nơi nầy?
                        - Làm gì nỗi bây giờ? Em!
                        - Vậy sao?
                        - Anh buồn và nhớ... lạ lùng.

                        Tất cả quá khứ thoáng chốc trở về như tia chớp sáng lòa làm choáng ngợp đầu óc Hoà. Chân trời nầy sẽ trở lại rạng rỡ vui tươi, mời mọc, chào đón; Hay thê thảm buồn tênh hơn? Em biết rằng: Tình yêu thật kỳ diệu, nó đang mang hương nồng mới đến. Và, có thể xóa nhòa đi tất cả dĩ vãng ưu phiền lui xa. Hoà chợt nhớ đến chùm hoa “Forget Me Not” màu tím nhạt âm thầm rụt rè khoe sắc trước mùa xuân xưa cũ. “Ai đó” đã cài đoá hoa bẽn lẽn lên mái tóc em?. “Anh ta” nói câu gì ấy nhỉ? Hoà quên bẵng, quên phứt theo tháng ngày mệt nhọc buồn bã cơ khổ niềm nhớ bâng khuâng, lao đao theo chiến cuộc nơi chốn tha phương, ở xứ lạ quê người, rồi sao?

                        Hai người nhìn nhau không chớp mắt. Bỗng Hoà phì cười. Tiếng cười trong veo như mạch suối rừng hoang dại. Đan khẽ mỉm cười, lắc đầu nhè nhẹ, anh kín đáo thở dài. Dụi tắt điếu thuốc trên thân cây, rồi vứt đi. Đan nói:
                        - Em còn trẻ con không chịu được. Anh nói anh buồn, anh nhớ... Mà em cười ngạo anh. Hở?
                        - . . .
                        - Ngày đầu tiên, khi anh lội qua sông Nghĩa Phú, là anh mong ước làm quen với em. Em còn nhớ không?
                        Hoà nhớ “anh lính ấy” vô cùng. Nhớ đến nỗi em e dè cúi mặt xuống, vì bẽn lẽn, thẹn thùng, bối rối. Anh Đan xoay Hiền Hoà như xoay dế thế kia, Hoà không bối rối sao được chứ. Bởi vì, điều êm ái mới lạ đã xảy ra, rộn ràng mở hội trong trái tim muốn bừng lên hơi thở ngất ngây, say nồng lẫn dịu ngọt, trìu mến lạ thường.

                        - Bây giờ cũng vậy. Có khác chăng là ngày ấy anh lội qua sông sâu nước lạnh, dò tìm... Giờ đây, anh băng rừng vượt dốc, để đến bên Hoà. Anh sẵn sàng trả giá cao, để được sống giờ phút êm dịu, ngọt ngào, thi vị, mà anh đã chọn. Em có hiểu không. Hở em?
                        - . . .
                        - Em... Hoà thấy thế nào?
                        - Dạ... Chỉ sợ em không có diễm phúc đạt được ước mơ. Làm sao em biết được, ước mơ nầy sẽ có thật, đến mức độ nào... Anh à.
                        - Vấn đề là còn tùy... ở em đó.

                        Khu rừng bảng lảng ánh hoàng hôn. Gió thì thào trên đầu ngọn cây phong, như ươm vàng dưới ánh chiều nhợt nhạt buông lơi. Từng bè mây xám đục chen lẫn màu huỳnh tía, rồi ngả sang màu hoàng hôn ven đêm. Bầu trời lấp lánh vì sao hôm và những vì sao lác đác trong cảnh hoang tàn còn tươi nguyên dấu vết. Có một cái gì rờn rợn, lành lạnh, lồ lộ, ơn ớn vàng phai trên bình nguyên đang in lằn đạn tai biến. Hai người thu xếp túi xách, về phố nhỏ ăn cơm. Ráng chiều theo dòng men bia 33 rót vào lòng ly của anh. Hôm nay Đan có vẻ ưu tư hơn mọi ngày. Thỉnh thoảng vầng trán rộng in nếp nhăn. Hoà bắt gặp nhiều lần anh kín đáo thở dài nhè nhẹ. Hoà dè dặt liếc liếc nhìn Đan dò hỏi:
                        - Trông anh có vẻ buồn?
                        - Một vài tuần nữa thì chúng ta chia tay. Không biết bao giờ mới gặp lại. Anh muốn xin đổi về hậu cứ, không đi tác chiến nữa... để được gần em.

                        Hoà không biết trả lời sao cho phải, chỉ lặng lẽ nhìn Đan trìu mến, trên môi Hoà nở nụ cười nguyên vẹn tình nồng. Đan dè dặt xin Hoà tấm ảnh. Hoà được anh tặng lại hai tấm ảnh, Đan kèm theo một phong thư dày, (mà anh đã viết sẵn từ hồi nào không rõ):
                        - Lát nữa về trong Đoàn, em hãy đọc nhé.
                        - Không. Em đọc ngay... bi giờ kia.

                        Tính mở ra đọc thật, nhưng em thấy mặt Đan đỏ bừng, như người uống rượu quá say. Cô quân nhân binh nhì, lính mới tò te vừa nhập ngũ, thấy thương thương anh sĩ quan từng trải, nên Hoà không nở trêu phá anh. Hoà tủm tỉm cười thầm nghĩ: [Một anh chàng phong trần, dũng cảm xông pha ngoài chiến trường, không hề sợ súng đạn "diệt" giữa chốn giang đầu, mà chỉ sợ con muỗi Anopheles (như em) đốt cho bị sốt rét rừng, mà sinh bệnh "tương tư", thì khốn!]. Hoà cất thư Đan vào quyển sách, nơi đã có phong thư Hoà định gởi đi cho bạn.

                        Ngồi đối diện với Hoà, Đan chống một tay lên cằm, anh kín đáo nhìn Hoà nói:
                        - Em hãy đọc thư anh một lần. Anh mong chúng mình sẽ mang đến cho nhau niềm vui tràn ngập…
                        - Em biết nói gì bây giờ?
                        - Anh không muốn em nói gì cả, khi em chưa đọc thư anh.

                        Hoà nhìn rõ đâu đây trong quá khứ xa xôi nhạt nhòa niềm hạnh phúc, đau khổ, buồn rầu nào, qua bóng dáng “người xưa” lung linh trong khói thuốc vờn bay tản mạn vào không trung. Tuy buổi chiều đầu mùa xuân nhưng không khí cuối đông còn vương sót lại trên đầu cây ngọn cỏ, nên nắng yếu ớt chiếu xiên, hắt lên tường hai cái bóng cuả Hoà và Đan mờ mờ, chập chờn rung rinh, nhúc nhích. Hoà bỗng thấy lòng trào dâng lên nỗi buồn lâng lâng, man mác, lẫn dịu cảm ngọt ngào. Bởi tại đâu? Hay tại tiếng tơ lòng băn khoăn, xao xuyến, vấn vương do dự chút hạnh phúc từ những con sóng xô về, xếp lớp lăn tăn uốn lên uốn xuống, cùng con nước chảy trên giòng đời dạt dào giao động theo từng phím tơ rung?

                        Trở về phòng, chưa kịp thay quần áo, Hoà vội vàng ngồi xuống ghế bố, tay run hơn bao lần khi mở thư bạn ra đọc. Hai bàn tay Hoà lạnh toát ra mồ hôi. Trái tim đập thình thịch trong lồng ngực, toàn thân em nóng ran, dường như bị lửa đốt. Hiền Hoà đọc đi đọc lại lá thư màu xanh, có nét chữ nghiêng nghiêng, đều đặn rõ ràng và khá đẹp của Đan. Trong căn phòng ngủ vắng lạnh, em đi đi lại lại nhiều lần. Cuối cùng Hoà ngồi phịch xuống ghế bố, nhắm mắt hồi lâu. Có lẽ cánh thư đầy ắp ân tình trìu mến của Đan vừa qua, là cả một sức mạnh đích thực... làm cán cân tình cảm nghiêng hẳn về một phía, mà trước đó Hoà do dự giữa ngả ba đường: Phú. Đan. Thắng.

                        Hoà bối rối, băn khoăn, ray rứt giữa ba hình ảnh đó thật. Nói rằng em "có số đào hoa". Có đúng không!? Nhưng lúc nầy Hoà như cánh hoa rừng vừa chớm nở, không nhiều thì ít, vẫn có hương vị mùa xuân đằm thắm ngọt ngào, quyến rũ, chân thật, dịu êm, mà ai ai cũng trải qua một vài lần: trong thời kỳ mới chớm lớn khôn. Không sững sờ run rẩy sao được! Khi chính Đan viết thư tỏ tình như thế nầy: ... & ... "Nếu Hiền Hoà đồng ý, không từ chối, thì anh về phép vào tháng tới. Anh sẽ bàn tính cùng gia đình xin cưới hỏi Hoà trong dịp Tết năm nay. Em à. Chúng ta sẽ là: Vũng Nắng Ươm Tình nghen:
                        Vũng nắng mây vàng hanh.
                        Đan trong biển nước xanh.
                        Tơ trời bay lác đác.
                        Cành lá reo dịu dàng.

                        Chiều nhớ thương mơ màng.
                        Hoàng hôn ươm hồng hơn.
                        Ráng hà gieo bảng lảng.
                        Chiếu xuống bàn chân son.

                        Da trời áo xanh nhạt.
                        Chắp tay xin nguyện cầu.
                        Hai ta chung làm một.
                        Xây cuộc tình bền lâu.

                        Dẫu mai sau bạc đầu.
                        Mình thủy chung trước sau.
                        Cánh tơ trời có mỏi.
                        Dù thời gian qua mau.

                        Tình yêu lên tiếng gọi.
                        Chiều lặng yên nơi nơi.
                        Thời gian ta vẫn đợi.
                        Khải hoàn ca tuyệt vời…
                        (2)

                        Ôi! Thật sự như thế sao? Hoà như con chim bị thương nhốt trong lồng, bỗng nhiên được trả tự do, đâm ra choáng váng ngỡ ngàng, lúng túng, rụt rè do dự nhìn lại ô cửa quá khứ. Hoà quên mình có đôi cánh tung bay, tự do giữa biển trời lồng lộng! Cách xử thế khác nhau của mỗi một người trai đoan chính thân quen, họ đã cho đời sống và tình yêu của Hoà hạnh phúc ít hay nhiều. Hoà đã sống trong âu lo, run sợ, đau khổ do chiến tranh tàn khốc, chết chóc gần kề miệng vực giữa hai lằn đạn diệt vong. Nay Hiền Hoà nhận nơi Đan nụ cười ấm dịu, tha thiết, thân mật, tình yêu đằm thắm, ngọt ngào, êm ái, ngất ngây. Dù giữa Đan và Hoà hề chưa có một lần tay nắm nhẹ bàn tay ân tình trìu mến. Đan chưa hề hôn lên mái tóc phiêu bồng gợn sóng của Hiền Hoà. Nhưng... Hoà hạnh phúc xiết bao!

                        Mùa xuân nơi đây không nắng gắt oi nồng từng đợt gió chiều thoảng nhẹ, gợi lên trong lòng Hoà nhiều nhớ nhớ. Thương thương. Mến mến. Rưng rưng. Say say dấu tình hoang dại… Hoà nghĩ nhiều đến Đan, và cảm thấy lòng trầm lắng xuống nỗi xúc động dịu êm, ngọt ngào trong bình yên, đỡ quạnh hiu hay buồn vu vơ biết mấy!
                        * * *

                        Đan lái chiếc xe jeep dã chiến bạc phếch bụi đỏ đường hành quân chạy chầm chậm, trên quốc lộ 24B ra một bãi biển cách Quảng Ngãi độ chừng 15 km, thuộc vùng Cổ Lũy thôn. Xe lùa bụi đất mù bay dưới hàng thùy dương lộng gió làm nghiêng ngã lá cành. Ba anh lính ngồi đằng sau ghế quay lưng lại phía Hoà, bá vai vít cổ nhau khoái chí vui vẻ cười to. Đại dương bao la rì rào gió biển. Đường thiên lý dường như ở tận chân trời quang rạng những viền chỉ bạc lóng lánh, ngời sáng tít dặm ngàn hải lý. Nắng chiều hây hây thoi thóp và phe phẩy, nhè nhẹ rơi xuống mặt biển hờ hững. Biển ngủ quên trong niềm thống khổ, trên bao mái nhà ưu phiền đớn nghèo nơi quê hương.

                        Họ xuống xe, nhàn hạ tản bộ trên bãi cát mịn, độ dốc thoải, phía sau lưng là rừng dương bạt ngàn xanh thẳm. Các anh chọn tảng đá nâu vàng nhô mình ra góc biển. Phía xa, làng chài với những tấm lưới Đăng, lưới Rút, lưới Rồng, lưới Rê, lưới Rẽo, lưới Văng, phơi chằng chịt trên bãi cát vàng. Thấp thoáng xa xa có dăm bảy ụ muối trắng, mấy ngư dân đang lúp xúp làm việc: “Chồng chài. Vợ lưới. Con câu. Thằng rể đóng đáy. Con dâu đi mò”. Bức tranh đồng quê hiền hoà lặng lẽ chất phác, quả là tuyệt vời an phận, mà vui.

                        Dưới bãi cát vàng óng, các bạn đang chạy nhảy, nô đùa bơi lội dưới sóng nước. Đan bóc quả cam, tách ra từng múi rồi đưa cho Hoà. Hoà lí nhí nói lời cám ơn, e dè nhón lấy múi cam. Làm như sợ đụng tay chàng trai mà cô em đã phải lòng. Một cảm giác thật êm đềm ấm áp gợn lăn tăn trong lòng anh. Đan nghĩ mãi không ra, quả thật anh ngạc nhiên về chính mình: Anh đã từng trải chuyện yêu đương giữa trai và gái thuở xưa, chứ nào phải anh yêu Hoà là người tình đầu đâu, mà mình vẫn ngại? Tại sao một anh lính phong trần gan lì dũng cảm như Đan, ngồi bên người đẹp cũng có cử chỉ rụt rè, chết nhát, khi diện kiến cùng Hoà? Hay có lẽ tại vì Hoà quá bẽn lẽn, thơ ngây, và xinh đẹp nét tinh khôi, khiến mình e ngại!? Mỉm cười ý nhị, anh lặng nhìn vóc dáng đan thanh của Hoà, Đan đằm thắm nói:
                        - Em có chịu về ở Đà Nẵng, chờ đợi anh về thưa chuyện chúng mình với ba me anh không em?

                        Cúi đầu gật nhẹ mấy cái, Hoà chịu, chịu đến nỗi hai má hồng thắm hây hây như nhấp men say. Bóng dáng thon gọn, nhưng dường như tâm Hoà chứa đựng cả một lòng đại dương gào sóng xao động mạnh. Mắt Hoà ánh lên tia hy vọng mừng rỡ, nụ cười xinh tươi làm ngời sáng khuôn mặt, nhưng em áy náy:
                        - Có điều… sự mong ước và thành tựu, là hai việc khác nhau. Anh Đan à.
                        - Anh biết. Anh nói vấn đề là... còn tuỳ ở em thôi.
                        - Mai em xin đi lên Tà Noát cho anh coi. Tùy em mà.
                        - Bắt đền anh cái gì cũng được. Nhưng cho anh xin. Em đừng đi đâu hết. Em về nhà, chờ anh đôi ba tháng nhe.
                        - Không. Em cứ đi.
                        - Chà. Em tôi cứng đầu, lì lợm ghê à nha. Anh sợ em rồi đó.

                        Biết nói thế nào cho trung thực với lòng Hoà nhỉ! Khi ánh mắt anh thiết tha, nụ cười mời mọc, giọng nói ngọt ngào đầy ắp ân tình, qua cung cách Đan ung dung, điềm đạm, đứng đắn và chân thật đến vậy! Có phải cư xử như thế là anh đang tỏ tình không? Nhưng Đan chẳng làm gì hết. Lạ thật! Sao mà anh ấy đứng đắn quá đi, khiến Hoà cứ tưởng là anh ấy nhút nhát không tha thiết mấy chuyện yêu thương. Anh lính chiến chỉ nói đùa giỡn ngoài miệng cho vui mà thôi. Nào ngờ bây giờ đúng là chuyện thật.
                        Ngập ngừng do dự, Đan mở lời:
                        - Còn hai ngày nữa là mình chia tay. Việc anh ngỏ ý trước đó... là muốn em có thời gian suy nghĩ, trước khi quyết định việc hôn nhân. Hôm nay, em có thể cho anh biết, để anh liệu, rồi anh sẽ về thưa với ba me vào dịp anh nghỉ phép sắp đến không em?
                        - Anh thấy ngôi nhà lai xinh đẹp có tường cao, rào chắn kỹ càng, bên kia đường chứ? Gần kia là căn nhà đất mái tranh xiêu vẹo. Giữa hai nhà, có con đường tráng nhựa rộng thênh thang. Nhà ngói không thể xích lại, ở cạnh chung nhà tranh. Đan à. Anh và Em, có thể bị ngăn cách bởi lý do giản dị, gần như vậy.
                        - Em có ý tưởng lạ lùng. Anh yêu em, và tin rằng: Ba me anh hoàn toàn không phản đối. Các cụ tôn trọng sự tự do lựa chọn của anh. Họ không môn đăng hộ đối, (mặc dù thuộc dòng dõi quý tộc). Anh chị, ba cô em gái, cậu em trai của anh, càng không phản đối. Hoà à.
                        - Em thấy khó khăn, chứ không giản dị như vậy đâu. Anh và em không cùng tôn giáo. Chắc là không... gia đình anh không chịu em đâu.
                        - Điều ấy anh bảo đảm: Không có gì rắc rối.
                        - Còn một việc nữa, em thấy không xứng với anh: Hẳn hai bác không thích có con dâu "xướng ca vô loài".

                        Đan dụi tắt điếu thuốc nửa ngọn không đầu lọc vào gốc cây, rồi vứt xuống cát. Anh hơi phật ý. Đổi tư thế ngồi đối diện với Hoà, nhìn thẳng Hoà, Đan nói:
                        - Ngày chúng mình gặp nhau trên Ô Chai, anh đã nói về việc đó thế nào. Em quên rồi ư? Em không nhớ gì ráo trọi lời anh nói ha? Em ưu phiền đặt nặng vấn đề ấy, khi anh tin yêu em. Hở? Tại sao Hoà?
                        - Anh là... Pháo-binh có cánh lá ngọc... giát vàng bay giữa trời. Em vươn tay ra đón anh. Nhưng, muộn mất rồi. Xin ngã mũ kính chào.
                        - Đừng đùa dai như vậy. Cưng. Đau khổ lắm. Em nói đàng hoàng cho anh nghe. Em nghĩ sao về đề nghị đó?
                        - Em băn khoăn là mình còn quá trẻ, liệu em có mang lại hạnh phúc cho anh? Cho chính mình đi đến bến bờ hạnh phúc dài lâu? Vả lại, em còn xin... lĩnh hội ý kiến của gia đình em nữa.

                        Câu chuyện tình tứ ở một góc đường thiên lý, về giấc mộng vàng bên dãy thùy dương rủ bóng kia reo vui men hạnh phúc, vừa hé mở đã phũ phàng đóng ập lại ngay, làm rung khẽ cánh buồm ước mơ chân thật, mê đắm trong lòng mỗi người. Hoà băn khoăn lo lắng. Băn khoăn thật sự. Mười bảy tuổi đầu, hai bàn tay trắng, ít kiến thức khiêm nhường, hạn hẹp. Cuộc sống là con số không vĩ đại, mà có gia đình? Mỉa mai làm sao!
                        Phần Đan, anh muốn tiến tới việc hôn nhân, lẽ là anh yêu Hiền Hoà chân thành, Đan mong Hoà sống an ổn bình lặng, anh có quyền lo sợ, săn sóc em về mọi mặt. Anh có đầy đủ mọi yếu tố, dồi dào điều kiện thuận tiện... để xây dựng một gia đình hạnh phúc thật sự.
                        Cảm động vô cùng.
                        ***


                        (1) “Tình Thư cuả Lính”: Trần Thiện Thanh
                        (2) Thơ Tình Hoài Hương
                        ***

                        Tình Hoài Hương
                        Last edited by Tinh Hoai Huong; 01-28-2018, 03:25 AM.
                        Bút trần nào tả được lưu luyến!
                        Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                        Tình Hoài Hương

                        Comment

                        • Tinh Hoai Huong
                          Senior Member
                          • May 2009
                          • 1081

                          #222
                          Dáng Xuân tại Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt



                          Dáng Xuân tại Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt


                          * * Trường "Võ Bị Liên Quân Viễn Đông Đặc Biệt" của Pháp thành lập tháng 7-1946 tại Đà Lạt. Trường Sĩ Quan Hiện Dịch thành lập năm 1948 bắt đầu ở Huế, khóa 1 tháng 12. & Khóa 2 tháng 9-1949 tại Đập Đá.
                          * Tháng 4 năm 1949 có một hội-nghị đồng thuận bãi bỏ chế độ thuộc địa (do Pháp cai trị ở nước Việt Nam).
                          * Tháng 5 năm 1950 quốc hội Pháp thông qua dự luật: Cho phép thành lập một đội quân Việt Nam.Thế nên bước khởi đầu thì Thủ Hiến Phan Văn Giáo cho một số trường quân đội Việt Nam ra đời.
                          * Sau ngày 20-07-1954 khi hiệp định đình chiến ký kết tại Genève, Thụy Sĩ; thì trường Sĩ Quan Việt Nam ở Huế; đã được chuyển lên Đà Lạt, bắt đầu Khóa 3, và gọi là École Militaire Inter-Armes de Dalat. (Sát nhập vào trường Võ Bị Liên Quân Đặc Biệt của Pháp. Ngôi trường Võ Bị Liên Quân Đặc Biệt của Pháp, nay đương nhiên phải trao trả lại cho Việt Nam). Trường chánh thức đổi lại thành Trường Võ Bị Liên Quân (sau khi người Pháp rời Việt Nam năm 1955).
                          * Đầu tiên ngôi trường nầy lấy tên là: "Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt". Cuối cùng Trường sĩ quan hiện dịch nầy chính thức đổi tên thành: "Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt Việt Nam" theo sắc Lệnh số 325-QP ngày 10.4.1963.

                          Đất và trường rộng mênh mông tọa lạc giữa vùng khu ấp Chi Lăng và khu Thái Phiên. Gần cổng trường là doanh trại sinh viên, khu Văn Học, khu Bộ Chỉ Huy... Cổng trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt Việt Nam còn có tên là cổng "Nam Quan", nơi nầy luôn náo nhiệt trong những ngày Thứ Bảy, Chủ Nhật, ngày hội, ngày lễ... Những lúc ấy tại Cổng Nam Quan trở nên vui vẻ náo nhiệt như ngày hội lớn, hân hoan tưng bừng hơn với những chàng sinh viên sĩ quan phong trần, cùng bao tà áo dài tha thướt e ấp tung bay trong gió lộng. Thỉnh thoảng ở phòng trực trong trường gọi tên sinh viên sĩ quan (được phát ra từ loa phóng thanh vang vang lên), thì sinh viên sĩ quan nào có tên gọi, hớn hở vui vẻ rảo bước ra Cổng Nam Quan: Đấy là nơi "gặp gỡ của tình thương".

                          Khu doanh trại sinh viên ở gồm: bốn dãy ba-ti-măng có ba tầng lầu. Mỗi ba-ti-măng có hai đại đội sinh viên sĩ quan cư trú. Hai bên nầy là sân cỏ của Trung Ðoàn. Gần dưới thung lũng là khu vườn luôn luôn đầy hoa đẹp và cây cối xanh tươi, do những sinh viên sĩ quan chung vui tay trong tay góp công sức làm nên, tạo thành một khu vườn thật ngoạn mục.

                          Muốn gia nhập vào trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, thanh niên phải có:
                          - Học lực tú tài.
                          - Có sức khỏe tráng kiện.
                          Ban đầu thì sinh viên thụ huấn hai năm (sau nầy trường Võ Bị Đà Lạt đã tăng thời gian cho sinh viên sĩ quan thụ huấn lên bốn năm học). Bao gồm các bộ môn học như: Văn Học. Quân Sự. Thể Chất. Chương trình sinh viên sĩ-quan học gắt gao, rất nặng, ấn định có quy củ rõ ràng.
                          Mỗi ngày, sau giờ học đầy căng thẳng trí óc; và sau bữa cơm chiều, là sinh viên có hai giờ: > từ 6 giờ tối đến > 8 giờ tối, thì sinh viên sĩ quan tự do đi những nơi giải trí tùy thích như: Bên trái là Hội-quán sinh viên có nhiều sofa và bàn ghế tươm tất, để cho mọi người ngồi với nhau thoải mái hàn huyên tâm sự; nghe nhạc sống do ban văn nghệ sinh viên sĩ quan đảm nhận, hay tập dượt văn nghệ. Hoặc giả sinh viên sĩ-quan vào Thư-viện đọc sách. Hay có sinh viên khác đi Câu Lạc Bộ ăn uống. Nhóm sinh viên đến Hội-quán thụt bi-da, uống cà-phê. Có người đi tới sân sau để chơi bóng rổ, bóng chuyền, bóng tròn, bóng bàn, vân vân… Sau đó là giờ tự học. Tiếng kèn 10 giờ đêm là giờ báo đi ngủ. Một số sinh viên lo chuẩn bị đi gác. Trường có tám đại đội sẽ luân phiên nhau canh gác mỗi đêm.

                          Sinh viên sĩ quan đi bộ leo núi, luyện tập quân sự, chinh phục đỉnh Lâm Viên cao 2.163m, nơi luôn luôn có gió lồng lộng và sương mù che khuất dưới chân núi và rất lạnh giá. Đây là nơi rèn luyện sinh viên sĩ quan dũng cảm kiên cường vượt thắng gian truân và chông gai.
                          Khi các sinh viên sĩ quan đi tới đỉnh Lâm Viên học và thực hành xong, họ trở về trường; ấy là lúc chuẩn bị ngày lễ gắn Alpha cho tân khóa sinh. Các cán bộ đến tại phòng của tân khóa sinh để trao: mũ cát kết, đai lưng màu đỏ, thắt lưng đại lễ, đôi găng tay trắng. Tân sinh viên sĩ-quan sẽ đọc lời hứa:
                          - Tôn trọng lá cờ của Trung Ðoàn sinh viên sĩ quan. Bảo vệ danh dự cuả Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam: "Tổ Quốc. Danh Dự. Trách Nhiệm".
                          ... Thì khoá sinh ấy mới được chấp nhận đúng là sinh viên sĩ-quan của Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, Việt Nam.
                          ***

                          Hôm nay là ngày tất niên của trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt - Việt Nam. Tôi cùng Vân, Lan, Tâm, Mai… bao chiếc taxi chạy thẳng vào gần gần ngoài cổng Nam Quan, thăm bạn thân. Đúng lúc đó, tôi gặp Oanh cùng Biên. Hồng cặp tay Đáo. Thúy Mai và Tấn ở Phạn Xá đi ra, (còn gọi là nhà ăn). Chúng tôi hân hoan khôn xiết, nói cười tíu tít biết bao chuyện buồn vui xếp lớp lăn tăn. Chưa dứt câu nầy, bạn đã hỏi câu kia dồn dập. Oanh chỉ vào bạn trai của cô:
                          - Oanh (Nguyễn) đã hứa hôn với Biên rồi.
                          - Hồng sắp làm đám cưới với Đáo.
                          - Cả Lê Oanh và Thuận nữa. Ôi thật là vui quá vui.
                          Oanh mở miệng:
                          - Nầy, còn Ngân Thụy thì sao?
                          Tôi cười buồn:
                          - Oanh có bao giờ ghé qua ngỏ nhà thăm tui đâu, mà biết hỉ!
                          - Xin lỗi nha. Tại Biên hết đó.
                          - Thì phải mà. Bạn có bồ, hổng đi đâu là đúng. Thụy chúc các anh chị sớm thành đạt trong tất cả ý nguyện. Nghen.

                          Họ cười tươi, cám ơn tôi với hạnh phúc hân hoan ùa về. Tôi đến điểm hẹn hò với Cảnh. Thấy tôi, anh nở nụ cười hồng rõ tươi, Cảnh hớn hở đón tôi nồng nhiệt lắm. Trên khuôn mặt và ánh mắt Cảnh hiện rõ sự mãn nguyện khi anh giới thiệu tôi với bạn. Cảnh hãnh diện vì có bạn gái xinh tươi, hồn nhiên mộc mạc, duyên dáng không thua những bông hồng biết nói khác trong đêm hội tưng bừng nầy. Cảnh nhẹ nhàng nắm bàn tay tôi nóng hổi, tôi run run như con chim gãy cánh. Nửa ngập ngừng ưng chịu siết tay anh, nửa tôi toan muốn rút tay về. Đây là cái “nắm tay thân tình đầu tiên”, từ khi chúng tôi quen biết nhau. Cảnh tinh ý nhìn thấy sự vô cớ dằng co và trầm mặc nơi tôi, anh kín đáo cố tìm hiểu nguyên nhân vì sao có sự thay đổi kia. Nhưng, tôi sẽ không kể cho Cảnh nghe, (kể cả những người thân yêu ruột thịt) về nỗi buồn đau vô hạn của mình.

                          Dù tôi rất muốn ngỏ lời tâm sự với ai đó, hầu vơi đi nỗi niềm dày vò, cay đắng ấy đang bóp thắt trái tim tôi. Sung sướng xiết bao, nếu tôi có thể viết lên trời tất cả suy tư của mình, mà có người khác đọc và thông cảm nhỉ! ít ra trong giai đoạn ngắn ngủi nầy, Cảnh là người xứng đáng nắm bàn tay tôi (đang run rẩy vì… "sương gió & giá rét"?!). Khoảng thời gian quen biết qua, anh có hiểu phần nào về tâm tư, nguyện vọng, tình yêu của tôi không? Cảnh có thể lấp được khoảng trống ráo hoảnh trong tâm hồn rét mướt, mà tôi hằng ngất ngây mong đợi cùng "ai đó" xe mộng tương phùng hay chăng?

                          Dọc hai bên đường dẫn lối vào chính điện, và rải rác khắp nơi có những cây thông được trang trí cho mình những "bộ áo" lấp lánh ánh đèn, và "mặc" cho mình những dây kim tuyến, khi gió lùa về thì cành thông và dây kim tuyến đều hoà nhịp lung linh lóng lánh reo vui vi vu, nghe thật hay và trông đẹp ơi là đẹp! Cạnh đó là những sinh viên sĩ quan ứng chiến đứng gác rải rác dưới những chòm cây thông cao ngất và tối đen. Họ đội mũ lưỡi trai, mặc áo jacket, quần treillis màu xanh lá cây sậm, áo quần hồ ủi thẳng nếp, giày đinh cao cổ ôm hai ống quần thon gọn. Họ nhìn thẳng về phía trước đứng nghiêm trang không cử động. Tôi có cảm tưởng họ là những "người máy nhưng... đặc biệt có linh hồn". Trên sân hội, những sinh viên sĩ quan thân hình thẳng tắp, mặc quân phục dạ hội mùa đông, nổi bậc đôi găn tay trắng nõn, gù vai màu đỏ, dây biểu chương màu vàng nghệ pha kim tuyến đỏ, súng dài bồng lên tay, tạo ra âm thanh do sắt thép khua vào nhau, nghe rập ràng đều đặn và chuẩn mực. Súng lại được vài phen kêu lên đều đặn, rập khuôn nhịp nhàng lúc bắt chào, cũng như hạ súng xuống; khi nào có những qúy khách đi vào khu đại lễ.

                          Đến giờ khai mạc đại hội, thì buổi lễ long trọng được diễn ra tuần tự từng nghi thức bắt đầu và thủ tục cuối đã xong. Trước mặt các khán đài đang trình diễn các phân binh chủng: Nhảy Dù, Bộ Binh, Thủy Quân Lục Chiến. Biệt Động Quân. Thiết Giáp. Pháo Binh, xe tăng, thiết giáp, vân vân... diễn hành các xe hoa… Thỉnh thoảng vọt lên trời những ngọn pháo bông đủ màu sắc rực rỡ, đủ hình thể khác nhau. Trông rất đẹp khi có mục biểu diễn nhảy dù tiếp theo. Bao cánh dù hoa bung nở, đủ màu bay lơ lửng trên không trung, lủng lẳng nhiều anh chàng Nhảy Dù lả lướt, bay bướm, trông quá tuyệt vời trên cao tít lưng trời bàng bạc hơi sương, gió rét căm căm cùng tiếng thông rì rào reo vi vu thoảng lại.

                          Không Quân Việt Nam Cộng Hòa biểu diễn những đường bay quá điệu nghệ với dáng vẽ oai dũng riêng biệt: Bay solo, bay ba, bay năm… bay vòng cung, bay vút lên và bay lộn ngược đầu… Ôi! Đủ thứ đường bay oai dũng vẽ những hình ảnh lạ mắt, quá tuyệt vời. Sau đuôi phi cơ kéo theo những làn khói dài lê thê, có đủ màu, rồi từng làn khói tỏa rộng trong bầu trời đêm lấp lánh ánh sao. Trông vô cùng hứng khởi, duyên dáng và ngoạn mục hết biết. Mọi người ngẩng đầu nhìn lên trời cao, mắt họ mở lớn, miệng xuýt xoa trầm trồ vui vẻ không tiếc lời khen ngợi.

                          Những hàng ghế ở khu khán đài B kêu răn rắc, suýt gãy dưới sức nặng của khách ngồi xem mê mãi. Giàn quân nhạc sống vang lên rộn ràng, làm huyên náo góc trời u tịch và giá rét. Giàn nhạc đánh những bản nhạc hùng tráng, cùng tiếng hợp xướng, tiếng đơn ca, đồng ca… vang dậy làm cho người đứng tuổi nghĩ nhiều về mình, đồng thời hồi tưởng lại quá khứ oanh liệt vàng son một thuở. Làm cho người vào độ tuổi tráng niên tạm lãng quên phiền nhọc, bực bội, lo toan, để ôn tồn thoải mái, vui vẻ hoà đồng với đám thanh niên trẻ trung tuấn tú, phong lưu hào hoa phong nhã và lịch lãm trong ngày hội lớn.

                          Một số sĩ quan lão luyện tuổi tác họ khác nhau tay bắt mặt mừng chào hỏi, họ ung dung đi rải rác từng điểm hội. Đa số đàn ông có khuôn mặt đượm phong trần sương khuya gió chiều, khiến mái tóc lấm tấm muối tiêu và thân thể rắn rỏi hơn. Họ mặc quân phục đại lễ mùa đông trông khác nhau, ai nấy đều lịch lãm oai hùng, phong độ theo mỗi dáng kiểu quân phục của từng binh chủng riêng. Nam nhân có những bộ râu quai hàm, râu mép, kính trắng đạo mạo tô điểm cho vầng trán cao, tạo thành khuôn mặt rắn rỏi thêm phần trí thức và trang trọng. Miệng nhiều ông ngậm thuốc lá thơm, hút xì gà, hay bập bập ống điếu.

                          Đó là những cấp lãnh đạo, những cấp chỉ huy có đôi mắt sắc sảo tinh tường. Họ giàu kinh nghiệm, bản lĩnh để hướng dẫn thuộc quyền. Kiểu dáng họ coi ung dung thong dong thư thả pha chút cao ngạo, đôi khi cũng bình dị để hoà đồng vào cuộc vui chung. Họ biệt lập, từng trải về kinh nghiệm chiến trường, và cách điều binh khiển tướng khi xung trận. Bên cạnh bao quân nhân là những mệnh phụ phu nhân kiểu dáng chưng diện quần là áo lụa “đỏm đáng kiêu sa đài các” nom khác người. Cùng phụ huynh của sinh viên sĩ quan đa số thanh lịch, phục sức trông đoan trang mềm mại mà giản dị, không có mấy ai chưng diện loè loẹt hợm hĩnh và lố bịch. Nhìn chung đa số quan khách cao sang, uyển chuyển qua nhiều kiểu cách hợp thời khác nhau.

                          Bỗng nhiên một tiếng nổ giòn tan xé màn đêm, nghe như tiếng lọ thủy tinh gián mạnh xuống nền gạch, rồi nhiều tiếng súng cối bắn đi đâu đó, khiến tôi giật nẫy người, nép sát vào lòng Cảnh. Anh nhìn quanh cũng thảng thốt giây lát, vòng tay Cảnh vội ôm qua thân thể tôi lúc nào, không nhớ. Mọi người nồng nhiệt đứng lên đồng loạt vỗ tay cười vang, có nhiều tiếng hét và la to:
                          - Ấy dá dà…
                          - Tuyệt vời quá!
                          - Giao thừa.
                          - Tiễn biệt năm cũ, chào mừng năm mới.
                          - Chúc mừng năm mới.
                          - Mừng xuân đến.
                          - Tết Nguyên Đán đến rồi.
                          - Happy new year.

                          Giờ phút linh thiêng nầy thật trang nghiêm, trân trọng. Họ nhìn lên bầu trời sáng rực pháo bông đủ mọi màu sắc và hình dáng. Ồ! Thì ra bây chừ đúng là giờ giao thừa: Súng lớn bắn đi để đón chào dáng xuân hồng thắm ngự trên vạn vật. Chỉ có rứa mà cũng khiến tôi giật mình mất hồn mất vía, run rẩy à! Chuyện trò râm rang ồn ào náo nhiệt khắp nơi.

                          Mươi phút sau thì bắt đầu thủ tục khai hội dạ tiệc trong đại sãnh sang trọng. Những thức ăn bốc khói nóng sốt thơm ngon. Những chú bồi bàn vui vẻ, họ đều mặc quần áo trắng, mang giày đen, đầu đội mũ trắng mang táp dề màu đỏ, một tay họ nâng dĩa thức ăn to giơ lên cao, còn một tay họ để sau lưng, họ cẩn thận đặt những dĩa thức ăn trên những dãy bàn dài phủ khăn trắng có nhiều bình hoa lys . Cuối góc phòng treo lơ lửng một con bê thui vàng rộm còn nóng và toả mùi thơm quá hấp dẫn, một cái bàn dài có những chồng dĩa trắng với những dao, nĩa...

                          Đêm dạ vũ tưng bừng và long trọng đã khai mạc. Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt khoản đãi mọi người đến dự tiệc tất niên tống cựu nghinh tân vui vẻ náo nhiệt tưng bừng biết chừng nào. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi được diễm phúc đến trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt nầy, để chia vui cùng tất cả mọi người, với lòng cảm mến và trang trọng biết ơn. Chẳng hiểu sau nầy tôi còn có được diễm phúc đi tham dự những buổi lễ long trọng ấm áp tình người như thế nầy nữa, hay không!?

                          Chúng tôi dìu nhau đi trong đêm giao thừa rộn ràng những tiếng pháo nổ rền vang khắp mọi nơi. Người người hứng khởi đón chào năm mới vui ơi là vui quá chừng chừng. Lòng tôi vui thích, say say theo cung đàn yêu thương, ngất ngây với nỗi ngọt ngào dịu êm lâng lâng từ đâu ập đến. Một giao thừa và năm mới bắt đầu tuyệt vời nhất đời mình. Dù mai tôi sau có xa ơi là xa trong sự già thật là già cỗi vì phong sương gió bụi, tôi vẫn trân trọng và mãi nhớ về lần đầu tiên tôi vinh dự vô Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, để tiễn năm cũ và hân hoan đón chào năm mới, vui vẻ đón xuân cùng với thế nhân.

                          Chúng tôi dìu nhau đi thật chậm giữa khuya chỉ có ánh sao muôn trùng rơi rụng, bên tai tôi vẫn nghe tiếng pháo rộn rã nghinh xuân tưng bừng trong thành phố đang thức thâu đêm. Lòng tôi cảm thấy bình yên vui vẻ kỳ lạ... khi bước chân hai người líu ríu đặt lên từng bậc cấp để vào nhà tôi. Trước thềm năm mới, Cảnh êm đềm trao tặng tôi nụ hôn nho nhỏ phơn phớt trên mái tóc nồng ấm hương xuân đầu năm, rồi anh lại lên taxi trở về trường.

                          Tôi cảm thấy hạnh phúc nhè nhẹ len lén lâng lâng đến trong chân tơ kẽ tóc, và đậu lại trong đời sống riêng mình. Tình cảm ấy tuy nhẹ nhàng, đơn sơ, mà trĩu nặng ân tình trìu mến, thiết tha vẫy gọi nhau biết mấy! Niềm vui thật ngọt ngào trong sáng, cùng sự liên đới kỳ diệu của Trời cao giao hoà tuyệt vời với Đất thấp gợi tình, có muôn hoa ngát hương, cỏ cây hoa lá đâm chồi nẩy lộc giữa thiên nhiên cẩm tú. Đà Lạt thoáng mát, thi vị, nên thơ, lãng mạn, mơ mộng, tuyệt diệu ươm mộng xuân tình từ: trên đỉnh Lâm Viên êm đềm rót xuống lòng thế nhân niềm vui chất ngất xiết bao mặn nồng và ấm áp!

                          _ * _


                          Tình Hoài Hương
                          Last edited by Tinh Hoai Huong; 02-02-2018, 07:48 PM.
                          Bút trần nào tả được lưu luyến!
                          Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                          Tình Hoài Hương

                          Comment

                          • Tinh Hoai Huong
                            Senior Member
                            • May 2009
                            • 1081

                            #223
                            Năm TUẤT, Nói Chuyện Con Cún Chung Tình



                            Năm TUẤT, Nói Chuyện Con Cún Chung Tình


                            Ba tôi có một “ngón nghề” tuyệt vời: huấn luyện nuôi dạy chó đưa thư, loại giống chó berger khôn thế nầy:

                            1./ Đại cương về cách chọn giống chó: Không chọn giống chó chấm lông ở ngay chính giữa trán, và bị chấm lọ (bất cứ màu gì) ở đuôi, thì ta không nuôi giống ấy. Nhưng phía trên, gần hai mắt ở cạnh lông mày của chó, nếu có hai chấm tròn, lông xoáy (vàng, đen, hoặc trắng… khác với màu lông của thân thể chó), là giống tốt “đốm đầu thì nuôi, nhưng đốm ở đuôi thì thịt”. Đặc điểm cần chọn giống chó tốt: Đuôi chó luôn ở bên trái. Lưỡi chó có đốm đen dài. Bốn chân cứng cáp trên thân hình chó vạm vỡ. Có nghĩa là ngực nở to, nhưng phần bụng "eo" phải thon gọn. Hai tai chó luôn đứng thẳng, chó thính tai nghe rõ (tai chó không cụp qua một bên). Muốn hai lỗ tai chó thẳng đứng và tinh khôn, (vì hai tai chó đứng thẳng, thì nó nghe rất thính) một tuần vài lần, ta nên cho chó ăn trứng gà tươi trộn với phổi bò.

                            2./ Chọn giống chó: Nên chọn chó mõ dài. “bạch cẩu hoàng đầu lưng bối nguyệt” = Thân có lông trắng, đầu lông vàng, lưng chó có lông như hình trăng rằm, mắt to đen láy, mũi hồng, lưỡi dài có đốm đen, tứ túc huyền đề. Giống chó nầy đặc biệt rất quý hiếm, ít thấy.

                            3./ Thân chó lông màu đen, bốn chân lông màu trắng, giống như ở chân chó mang đôi vớ trắng (tất), gọi là = “hắc cẩu tứ bạch”.
                            - Toàn thân chó có màu lông vàng óng ả, gọi là = “hoàng cẩu”.
                            - Lông xoáy ở trên lưng chó mọc xuôi từ đầu chạy về đầu đuôi, gọi là = “Bối kiếm cẩu”.

                            a./ Ngoài bốn chân chó, có thêm bốn cái móng đeo nhỏ lủng lẳng ở mỗi chân, gọi là = “Tứ túc huyền đề”.
                            b./Bốn chân chó, có thêm hai đeo nhỏ ở mỗi chân trước, và một đeo ở mỗi chân sau. Gọi là = “Lục hợp cẩu”.
                            c./Bốn chân chó, mỗi chân chó có thêm hai móng đeo nhỏ. Có 8 móng đeo ở bốn chân, gọi là = “bát long cẩu”.
                            d./ “Lưỡng cẩu” = là bốn chân chó chỉ có hai móng đeo ở hai chân.

                            4./ Ta thân thiện với “chó nhí” từ khi chúng còn nhỏ. – Biết tính nết chó – Đặt tên chó & gọi tên nó mỗi ngày nhiều lần, cho chó quen biết tên của nó - Huấn luyện chó nhí từ việc nhỏ nhất, ví dụ: thường xuyên dạy chó đứng – ngồi – nằm - bắt tay mình – dạy chó ăn, uống khi nào được cho phép – cùng chó đá banh - ném banh, ném lon ra xa, ta và chó đi nhặt về, nhiều lần. Sau đó để chó tự đi nhặt về đưa cho mình. Mỗi lần chó “làm việc giỏi”, ta thưởng cho chó món ăn mà nó ưa thích.

                            5./ Sau đó ta dần dần huấn luyện thêm những việc khó hơn, ví dụ: dạy chó giữ nhà. Chó biết phân biệt người thân và khách lạ, (chó thông minh, chính vì thế mà chó ưa sủa rần trời, mỗi khi có người lạ, hoặc nhà có kẻ trộm rình). Dạy chó phân biệt gia súc của nhà mình nuôi, khác với gia súc của hàng xóm. Dẫn chó đi săn bắt: chuột, chim, gà rừng, vân vân… Dạy chó đi nhận thư ở nhà nầy đưa đến nhà khác: Ta cùng chó đi gởi thư ở bưu điện nhiều lần, cho chó quen hơi người lạ ấy, ta gọi tên của ông ấy hoài, cho chó ngưởi mùi người ấy, sẽ quen hơi. Nó biết nơi chỗ cần đến. Sau đó, một mình ta cột thư ở cổ chó, và dẫn chó đến cho người sẽ nhận thư (người mà chó quen hơi biết mặt trước kia), ta vỗ vỗ vào đầu chó, thân thiện vuốt ve và gọi tên chó: “To Bi… hãy để ông (tên X…) mở túi xách ở cổ ra, nhận thư”. Nhiều lần như thế, tất nhiên con chó thông minh, tinh khôn, và hiểu ra ngay.
                            Ba tôi kiên nhẫn dạy chó, chim (tận tụy, giống như ba tôi đã kiên cường trong việc chữa trị cho bệnh nhân), nên ba tôi rất thành công trong việc nuôi dạy chim & chó.
                            ***

                            Lúc rảnh rỗi, khi có thể nhìn về dĩ vãng qua bao lần hồi tưởng òa vỡ cơn vui chất ngất, thì ngày nay trong tôi đã vụt tắt biến nụ cười trên đôi môi khô héo. Từ những đoạn đường quanh co gập ghềnh, với thân phận thấp hèn, nghèo khó, tôi đi tìm miền đất mới mà níu kéo sự sống; cũng làm bùng vỡ trong tim trong óc mình từng cơn phẫn nộ sôi sục trong thể chất yếu đuối. Nhưng tôi trở nên mạnh mẽ, có khí phách ở ý chí, trí óc, và tinh thần quá nôn nao, tôi hằng mong sớm kiếm tìm một cuộc “đào thoát” ra khỏi cảnh đời tăm tối, ủ dột, khi:
                            Bần cư náo thị vô nhân vấn.
                            Phú tại thâm sơn hữu viễn than.
                            (nghèo ở đô thị không ai thăm,
                            giàu ở trong núi thẳm, vẫn đi tìm.
                            (cd)

                            Càng ngày tôi càng tỏ ra ú ớ “đần độn” ngu dốt, cứ tưởng tên “Ngả Năm Chuồng Chó” dị hợm kia, là nơi “chị em ta” ăn chơi sa đọa. Nhưng bây giờ tôi mới hiểu, thật ra nơi đó là một trại huấn luyện “Quân Khuyển” rất độc đáo. Cũng giống như tôi đã nuôi một con chó có bốn mắt, nghĩa là ở nơi hai con mắt thật của nó, lại có hai đốm lông tròn vo, (mà khác màu lông toàn thân của nó). Nó có tứ túc huyền đề. Tôi đặt tên nó là: Jacky (nó là “cháu nội” cuả con Tobi mà ba tôi đã huấn luyện). Jacky cũng có tên Việt mà mấy đứa con tôi rất thương, đã đặt tên là "Ẻm Cún"!

                            Con Jacky là nguồn an ủi của kẻ bần cố nông, cả nhà tôi đều rất qúy nó, chân thật thương nó vô cùng! Ngoài giờ đi học, đi làm, đi bán ra, đa số giờ còn lại các con về nhà ôm chó, nựng chó, vuốt ve hun hít, nói chuyện chơi với chó. Chó ra sức vẫy đuôi mừng rỡ, chồm lên liếm mặt người. Con Jacky không cần phải đi thực tập huấn luyện chu đáo ở trại quân khuyển, nó vẫn rất ngoan khôn, thính, giữ nhà thì khỏi chê. Nó biết phân biệt gia súc của nhà tôi nuôi, với gà vịt của hàng xóm rõ ràng. Nếu khi các con tôi vãi lúa ra sân cho gà vịt ăn, mà gà vịt nhà ai chạy tới mỗ, thì con Jacky phân biệt được ngay, nó sủa rân trời để cảnh cáo, sau đó nó nhào vô sân dùng hai chân trước đẫy gà vịt lạ ra liền. Mâm cơm tôi dọn ra để ở dưới nền xi măng, không cần ai coi ngó, vì đã có con Jacky nằm gần manh chiếu mà trông chừng dùm; thì đố có con mèo, con gà con vịt nào dám vô tha mỗ thức ăn mang đi. Cả nhà ăn cơm xong, nó mới chạy tới bên chỗ cái tộ của nó ở góc cửa lớn, con Jacky nằm đó chờ đến phiên mình ăn. Con Jacky khét tiếng tinh khôn ở khu C nầy, không một kẻ cắp ăn trộm nào dám đi ngang qua nhà tôi.

                            Jacky biết nghe tiếng chủ sai khiến, con tôi vỗ vỗ vô lưng: bảo nó đi ra quán (từ nhà ra quán xa chừng hai mười ba thước), trông coi quán, thì nó lia lịa ngoắt đuôi chạy đi ra, và nó nằm ngay ở cửa để giữ quán, không một ai dám héo lánh tới gần. Có lần con Jacky và các con tôi nô đùa chạy quanh khu nghĩa trang, chẳng may con Jacky bị sụp té xuống cái giếng khô bỏ hoang lâu năm, nhưng giếng sâu khoảng mười mấy thước. Nó tru hú sủa vang, trong khi các con tôi cuống cuồng mất hồn mất vía, lo lắng lăng xăng chạy lui chạy tới la làng.

                            Cả nhà vội vã chạy ra khom lưng cúi nhìn xuống giếng sâu. Con trai lớn là bé Dzũng và bé Huy liền tìm cách leo xuống giếng. Nhưng vì đây là cái giếng khô không có nước, sâu hun hút 16 mét, nên hai bên cỏ dại chằng chịt mọc um tùm. Các con chỉ có thể leo xuống giếng chừng ba thước, thì bị ngộp thở, chịu không nổi, con phải lo bò lên, mặt mày hai con xanh lét! Con Jacky ở dưới đáy giếng sâu nó cào rột rột, hình như các gàu nước rơi từ lâu đã rỉ sét, tạo tiếng khua động leng keng rột rạt. Jacky chồm chồm hai chân trước lên hông giếng, nó cố gắng trèo lên trụt xuống hoài, vẫn tru hú sên siết, thấy thương quá! Sau đó bé Huy chạy vô nhà lấy cái gàu nhôm thường múc nước giếng. Trở ra, con tháo sợi dây dừa làm nút thắt ở mấy đoạn, hai thằng con nằm sấp xuống đất, nó thòng sợi dây dừa dài xuống giếng, con nói với chó mà không ngượng:
                            - Ẻm Cún, nghe anh nè: Cắn sợi dây, để anh kéo em lên, nghen.

                            Con Jacky chẳng hiểu có biết không, nhưng nó ngoặm vô một đầu sợi dây dừa. Hai thằng con tôi liền từ từ kéo nó lên khoảng chừng nửa cái giếng. Nhưng có lẽ do nó khá nặng, hoặc là con Jacky mỏi miệng hay sao, nó hả mõm ra, liền bị rớt tủm xuống, nghe tiếng “bịch”, với tiếng khua động rổn rảng của những chiếc gàu cũ đã rớt ở đáy giếng, cùng tiếng con Jacky rên la sủa om sòm, do đau đớn nó rít rít kêu la ẵng ẵng hoài...

                            Xót ruột và thương nó quá, các con ngồi đó khóc rống lên, một sự... lạ mà tôi chưa từng nghe các con khóc bao giờ! Vẫn không chịu thua, các con cùng nghĩ ra kế khác: Bé Dzũng chạy vô nhà lấy đèn pin đưa cho tôi, con nói mẹ rọi đèn pin xuống giếng. Con đi lấy thêm một sợi dây dừa nữa, làm thành một cái vòng tròn, cột chặt ở mấy nút thắt. Hai con nằm sấp xuống khỏi miệng giếng, Bé Tuấn, bé Hoàng thì ngồi bệt xuống đất mà nắm hai chân mấy đứa anh kia, rị lại (cho hai sợi dây dừa có thể trải thòng sát xuống dáy giếng). Dzũng dụ con Jacky:
                            - Jacky nghe anh nói nè: em bước hai chân vô sợi dây đi. Jacky... bước vô.
                            Nhưng con chó cứ xoay quanh mà rên rỉ, Jacky sợ hãi không nhìn thấy, không nghe gì hoặc bị ngộp thở chăng! (có lẽ nó bị đau vì cú té từ trên cao xuống khi ngoạm vô sợi dây?), thì một chân sau con chó vướng vô sợi dây của bé Huy đang cầm. Lập tức Huy kéo sợi dây căng lên, cho sợi dây siết vô chân con chó. Mấy anh em reo to:
                            - Được rồi. Em giữ chặt sợi dây, không để nó sút ra nghen.
                            - Dạ nhớ.
                            Bé Dzũng nhắc lại:
                            - Jacky... bước hai chân vô sợi dây mau. Jacky.

                            Thằng anh Hai nằm soãi dưới đất và chồm đầu xuống giếng chờ... rất lâu khoảng hơn nửa giờ, khi con Jacky loay hoay bước hai chân vô cái vòng xong, thì bé Dzũng và Tuấn lanh tay kéo sợi dây, cho thắt lại ở đoạn ngực của nó. Bé Dzũng bảo con chó:
                            - Jacky, im, không nhúc nhích. Anh sẽ kéo em lên nghen.

                            Do đã có kinh nghiệm hơn lần đầu, thế là cả bốn anh em đều túm sợi dây dừa, kéo con chó lên khỏi giếng khá nhanh. Lên được khỏi mặt giếng rồi, con Jacky mừng rỡ vừa chạy cà nhắc vừa sủa, vừa rít vang, Jacky chồm lên liếm hết mặt mấy anh em. Đây là sự thật 100% về con chó “tình cảm” và khôn ngoan của nhà tôi. Nó là loại chó săn chuyên nghiệp, chuyên săn bắt chim cút, chim đa đa, cò, ếch, và chuột ngoài đồng, mà đặc biệt nó không hề ăn, con Jacky chỉ tha chim về cho chủ làm thịt; nhờ đó mà thỉnh thoảng trong gia đình tôi có miếng thịt tươi. Cám ơn Jacky.
                            ***
                            Lúng túng hoài tôi không thể xoay trở đi dâu chút nào, chỉ vì:
                            CÁI HỘ khẩu bày, CỐ HẠI dân.
                            HỘ KHẨU từ nay HẬU KHỔ dần.
                            HỠI HỒ chủ tặc, khi HỒ HỞI.
                            ÐỘNG CƠ bốc lột ÐỢ CÔNG nhân.
                            CÁN MẠCH nhân quyền, nào CÁCH MẠNG.
                            CHỈ TRÙ dân tộc, CHỦ TRÌ bàn.
                            THƯỢNG THỜI bán nước, ngay THỜI THƯỢNG.
                            CHẤT LƯỢNG bạo quyền, CHƯỚNG LẬT gian.
                            (st)

                            Một hôm có tên cán bộ Tin đi qua nhà, nghe, thấy, và biết con chó Jacky của chúng tôi nuôi rất khôn ngoan [giống “bẹc-rê” (berger) mà]! Trông tướng tá chó săn ngon lành oai dũng, hắn ta mê tít thò lò con chó. Hắn chui qua hàng dây phơi áo quần ướt đang sà xuống mặt đất. Hắn vờ lảng vảng thăm viếng dân, cho ra vẻ chí tình, thân dân, cán bộ ghé vai gánh đỡ khổ nạn người dân. Đó là ưu việt của xã hội chủ nghĩa í mà. Hắn ta vào năn-nỉ mẹ chồng tôi bán con chó cưng.

                            Hòa bình rồi thì phải đem lại nền cộng hòa tự do, công bằng, hạnh phúc, chân lý thật sự cho dân tộc giảm bớt cùng cực, gian truân cay đắng quá đỗi đau thương, hầu như suốt bốn nghìn năm lịch sử; thì tôi cũng nên vui sống tí hòa bình! Chứ sao lại… khổ sở trăm bề; quần mẹ con bà cháu rách như xơ mướp, trong nhà tôi hết sạch tiền mua gạo, mua mắm muối đã hai ba ngày nay. Mẹ tôi vừa mừng vừa gạt nước mắt, trút nửa chén cơm nguội vô cái tộ chó, đổ chút nước muối lỏng bỏng, để dụ khị con chó ăn. Bà run run chìa tay ra lấy hai trăm bạc của ông ta. Các con tôi thì chạy lui chạy tới, lấp ló giật áo bà nội, giằng co bấm béo, cằn nhằn bà nội, con dậm chân dậm cẵng nhăn nhó không chịu để bà bán chó, cháu chẳng thà nhịn đói, chứ nhất định không chịu bán Jacky. Cháu rất thương chó, nên các cháu đâm ra giận hờn bà nội, cả đám các cháu nằm vật ra nền đất mà lảy đảy đập gót chân xuống đất, cháu vừa hỉ mũi rột rột, vừa rống lên la khóc hụ hụ hụ...

                            Cán bộ Tin vùng vằng làu bàu trong miệng, tay run run móc túi quần lấy sợi dây lòi tói ra, rình lúc con chó đang cúi mõm vô tộ cơm, ông ta rành nghề vội vã cột cổ con Jacky siết chặt, khóa mõm chó và bỏ vô bao bố, rồi túm gọn miệng bao và cột chặt đầu miệng bao cũng từ ở một đầu sợi dây kia. Cán bộ Tin cẩn thận bưng con chó ra xe hon da, ông cài thật kỹ, đặt chó vào hai đùi trước, ông kẹp chặt bao bố chó, rồi ông ung dung rú xe honda chạy vù đi.

                            Mẹ chồng và tôi vội vàng xách hai cái giỏ cói to tướng le te đi chợ. Đúng là “buồn ngủ gặp chiếu manh”. Dù sao cũng mừng rơn trong bụng vì có tiền mua gạo và thức ăn, gia đình sẽ không bị đói rã rời, ít ra cũng có những bữa cháo lót lòng. Tôi phải tính toán so đo chi ly từng chút, dè xẻn kho thịt, kho cá sao cho mằn mặn, chứ nào dám “phung phí”. Hôm nay ăn cho ngon miệng, rồi khi hết tiền chúng tôi không thể “xoáy” đâu ra tiền, sẽ đói meo, thì khốn! Mẹ và tôi khệ nệ tay bưng tay xách vô nhà. Mấy ngày đầu thì các con dỗi hờn không chịu ăn uống gì, chúng chỉ ngồi ở xó nhà rù rì với nhau, ôm nhau mà khóc. Tôi phải năn nĩ dỗ dành và hứa hẹn (lèo) sẽ đi tìm con Jacky về cho chúng hoài.

                            Tôi mua đủ thứ: Gạo. Mắm tôm, mắm tép. Rau muống, cà chua, cá khô, một ký cá nục tươi. Tôi sẽ kho nồi cá với củ cải trắng, (do mẹ đi mót hôm qua). Tôi rẽ qua hàng thịt, mà chỉ dám mua nửa kí lô lòng heo tạp nham, nửa ký thịt heo bụng, cho rẽ. Qua ngày thứ ba thì các con tôi do quá đói và mệt lã, quên chuyện giận bà nội bán chó, các cháu mừng rỡ ùa ra đón hai nải chuối trên tay bà. Chuối là loại trái cây rẽ tiền nhất và bổ dưỡng, ấy thế mà hiếm khi các con tôi được thưởng thức. Các con vừa ăn chuối, vừa ngồi bệt xuống nền đất lổm chổm, viết bài, học bài. Bàn học của các con là những cục táp lô nhặt ở ngoài doanh trại hoang phế về. Các con vui vẻ hỏi đố nhau:
                            - Anh đố các em nè: Nước gì không có cá. Cây gì không lá. Lửa gì không khói. Bông gì không cành?
                            Mãi lâu, tôi nghe bé Tuấn trả lời (Tuấn là con thứ nhì ưa bắt chuồn chuồn trâu, cột sợi chỉ ở đuôi, con ví nó như chiếc máy bay, cho em chơi):
                            - Nước giếng không có cá. Cây chết khô thì không còn lá. Con đom đóm có lửa, mà không xịt ra khói. Cây bông tuyết thì không có cành. Phải không anh?
                            - Ừa… Em giỏi quá. Hèn chi em cứ đứng nhất lớp Mười hoài.

                            Mẹ chồng vội đun bình nước sôi, bà ra sau hè rửa bó trà lá xanh, nấu nước uống. Tôi đặt cái nồi nước to lên bếp lửa, dặn bé Dzũng vừa học, vừa trông chừng giúp mẹ nồi nước. Chờ nước sôi, thì con sẽ gọi tôi, để tôi rang gạo nấu cháo. Tôi lo làm sạch lòng heo. Thịt bụng ba chỉ lèo nhèo, thì tôi xắt nhỏ, để xào thịt với sả, ớt, ruốt, mắm đường; cho thật khô. Món nầy, tôi cất vào cái hủ ni lông to, có dĩa nước lạnh lót dưới đít cho khỏi bị kiến bu, để dành làm món mặn, ăn dần.

                            Năm tháng sau, bỗng dưng cán bộ Tin dẫn công an đến nhà, bắt mẹ tôi lên Ấp Dân Thắng tra hỏi. Rồi họ chuyển bà lên Huyện Hóc Môn. Bà “hầu” về hai tội danh:
                            - Đã bán chó, mà còn “rình mò”, đi “dụ-dỗ” chó về nhà.
                            - Hay bà làm thịt chó, bán rồi?
                            Mặc dù chúng tôi chả biết ông ta mang chó đi đâu, nhà cửa ông ở đâu. Thật là oan hơn oan Thị Kính! Họ lục soát căn nhà trống hoác, lục hết đầu trên xóm dưới, chả thấy chó mèo gì! Thế nhưng, muốn gì… thì hạ hồi phân giải sau, “tội AI đó” làm mất chó ở chỗ nào không biết rành rành ra đấy, nhưng tôi phải chạy đôn chạy đáo lên nhóm anh em “da cu Du-Ca-Bè” hồi xưa, mượn tạm một ngàn đồng, để đóng tiền phạt vạ “thế-chân-chó” trước cái đã, cho mẹ già được tại ngoại, để hầu tra sau. Mẹ tôi đi tới cửa quan khóc lóc van vỉ kêu xin “Tòa”, cho tui về với con cháu. Quan tòa hể-hả cười cười, coi như “xí xóa chuyện chó má nha”!
                            Thời điểm đó đồng tiền Việt Nam được tính như sau:
                            * 1.000$ ! Số tiền khá lớn. Khi hối xuất lúc 1978 bấy giờ là:
                            * 103$ Việt Nam, so với ngoại tệ Mỹ là chỉ ăn = 1$ usd
                            * 1 bảng Anh là = 130$,64 Việt Nam.
                            * 1 quan Pháp là = 12$,64 Việt Nam.
                            - Giá vàng 24k = 1 chỉ, từ 13.000$ đến gần 16.000$.
                            ***

                            Đang quá đau đớn buồn rầu vì chuyện “tiền mất tật mang” oan ơi ông địa, xui xẽo từ đâu ập đến gia đình mình. Bỗng dưng vào buổi đêm hôm khuya khoắt, dưới ngọn đèn dầu leo lét, khi tôi đang lui cui dọn dẹp, bỗng nghe tiếng chó rít rít… tru rú rất quen thuộc, nó cào cào tấm liếp sau lưng nhà. Dè dặt và có chút lo sợ khi mở cửa ra, tôi thấy con Jacky ốm tong ốm teo, gầy nhom nhô bộ xương cách trí lên cao. Nó mừng rỡ, cuống-quít vẫy đuôi chạy quanh nhà.

                            Các con tôi đang nằm ngủ trên những “tấm giường táp lô”, nghe tiếng chó sủa lát gừng, các con ú ớ dụi mắt nhìn quanh. Thế rồi chúng liền chồm dậy, đồng loạt ré lên. Các con mừng rỡ ôm chầm lấy chó. Con Jacky rít rít tru hú và chồm lên liếm liếm vào mặt các con. Nó ngoắt đuôi lia lịa, liếm liếm lung tung tới tấp vô mặt vô tay chúng tôi, nó không ngớt rít rít trong cổ họng, đuôi ngắc tới tấp. Con Jacky nhìn ra phiá cửa rít rít và cào cào xuống đất, thì ra… con Jacky muốn kêu “vợ của nó” đang khép nép lấp ló ngoài tấm vách, nó kêu con kia vô nhà “trình diện”. Cả nhà tôi lỏ mắt há hốc miệng ra mà ... “hả”???

                            Bỗng nhiên "hai đứa nó" dừng lại ngơ ngáo nhìn quanh, rồi chạy xộc ra cửa. Chúng tôi chưa hết bàng hoàng ngơ ngác nhìn nhau không biết nói gì. Lát sau, “vợ chồng chúng nó" cúp đuôi quỵt quỵt bò bò hai chân trước lết lết vô nhà, như tạ lỗi. Xa xa là bầy cún sáu con lút chút nho nhỏ, ăng-ẳng loăng quăng quờ quạng chạy theo sau con mẹ. Chúng tôi vừa mừng vừa sợ, cùng ngồi hụp xuống quanh bầy chó ốm đói, thấy thảm! Các con vui vẻ ôm bầy cún vào lòng hun hít chụt chụt, con mừng rỡ như tìm lại bạn cố tri. Bầy cún tuy ốm nhom nhưng thơm mùi chó con chi lạ, những cái lưỡi nhỏ thò ra, lông con giống màu lông cha, mẹ... nó, nhưng bóng mướt với những bàn chân mum múp, mềm mại, hồng hồng, coi dễ thương quá chừng!

                            Hai hàm răng đi tìm gặp va vô nhau nghe lanh canh lập cập, tôi ngơ ngác lo sợ mà run, vui mừng tột độ làm tôi tịnh khẩu luôn! Tôi vội đi nấu cho bầy cún nồi cháo loãng pha chút muối, tôi đỗ ra cái chảo, luôn tay khuấy cháo, chờ cháo nguội. Tôi vừa để xuống đất, bầy cún xộc vào liếm láp, chỉ trong phút chốc đã hết sạch. Con chó mẹ chạy quanh bầy con, vẫy đuôi lia lịa. Chó cha nằm xuống đứng lên, nước dãi chảy ròng ròng. Tôi đưa tô cháo vào mõm con chó mẹ màu vàng vá những đốm trắng nho nhỏ. Nó chỉ táp táp vài miếng, rồi ve vẫy đuôi, hoan hỉ rít lên, hình như nó muốn nhường phần ăn cho đàn con. Và, nó ve vẫy đuôi rồi chồm lên ngực tôi, như thể hứa sẽ trung thành và biết ơn người chủ mới.

                            Bây giờ thì có lẽ tôi đã hiểu: Dạo trước tên cán bộ chạy tới nhà tôi, là do con Jacky đã bỏ nhà ông chủ mới của nó, để “đi theo gái”. Hoặc là nó đã “phụ” ông chủ nầy, khi biết tin “bạn gái của mình” đã mang bầu, hai đứa nó bèn len lén bỏ nhà ông cán bộ ra đi. Ra đi... còn dẫn theo “vợ” đi hoang núp lén ở đâu đó, sống lây lất qua ngày ở đầu dường xó chợ. Chờ cho “mẹ tròn con vuông” khi mấy đứa con nhí đã mở mắt ra thấy đường đi, thì “vợ chồng con cái” dắt díu nhau trở về “mái nhà xưa”, để tạ tội chúng tôi, con Jacky không quên mang những món quà “hồn nhiên đặc biệt” về cho gia đình chủ cũ, nơi mà nó luôn thương nhớ, vì nó là một con chó trung thành và có nghiã, có tình. Cứ nghĩ xa nghĩ gần như thế, và tôi "phiệu ra" về chuyện con Jacky, mà vui!
                            Bé Tuấn hỏi:
                            - Ông Toà có đến đây bắt bầy cún đi không? Hở mẹ?
                            - Mẹ nghĩ là không đâu, con à.
                            - Thì mình đã đền cho họ một số bạc quá lớn rồi em.
                            - Ổng cán bộ đưa cho nội chỉ hai trăm bạc mua chó, còn mình thì bị mất chó, lại phải đền bạc ngàn, mà em.
                            - Nếu bộ đội Tin đến đây gây sự nữa, đòi chó, thì ổng chơi với chuột, chớ chơi với ai?!
                            - Lần nầy thì anh không nhịn đâu. Em. Anh cà lơ phất phơ sẽ cầm “chơm, đục”, đi thí cô hồn với tên lừa dân cho coi.
                            - Chẳng thà em nhịn đói, chớ không bán chó, để cho ổng lừa mình.
                            - À há. Bán chó cho ông ta, thì con Jacky chỉ có nước là:
                            Nghe vẻ nghe ve…
                            Nghe vè thịt chó.
                            Đứa nào chịu khó.
                            Nấu nước cạo lông.
                            Con chó chút xíu.
                            Chín mười thằng ăn.
                            Đừng có xỉa răng.
                            Sau khi ăn chó.
                            Thịt chó ăn tối.
                            Mát bụng ngủ ngon.
                            (2)
                            * * *

                            Tôi chỉ biết khắc khoải hy vọng và trông chờ; trông chờ và hy vọng… Ngày nào cũng như ngày nấy... khiến lòng tin yêu hy vọng trông chờ đã trổi dậy trong tất cả khát vọng. Tôi nghĩ hết cách, tìm kế sinh nhai vẫn không ra thể thống gì, sau nhờ ông cậu Cương ở ngoại quốc gởi về cho năm trăm dollars. Tôi trở nghề nuôi heo nái, non một năm sau, heo mẹ “sản-xuất” ra bầy con lít chit kêu ụt ịt, tôi mừng rỡ, mình nuôi năm sáu tháng sau sẽ bán heo con, kiếm tiền độ nhật. Nuôi heo nái là một kỳ công, khổ cực trăm bề, khiến tôi đâm ra giận cá chém thớt. Tôi đổ ụp bao bèo ra giữa sân, vô ý cùi chỏ vung mạnh, đã trúng cạnh bàn táp lô đá, đau điếng. Bực dọc, tôi đưa chân đá mạnh chiếc ghế sắt què chân lặt lìa lặt lọi. Chiếc ghế dập ngược lại, phang ngay vào ống quyển mình sưng vù, bầm tím. Tôi co chân xoay mấy vòng, xuýt xoa, đau điếng.

                            Mẹ con tôi vừa lội ngoài mé sông Cầu Bông, vớt bèo ngoài trời nắng chang chang về, mệt rũ người. Tôi ngồi dạng háng giữa lề đường, (nhà nhà cả khu xóm nầy quá chật chội, nên ai ai cũng lấn chiếm của chung ra ngoài lộ, hầu mong có chút sân cỏn con, để xử dụng công việc vặt). Tôi vơ lấy vơ để đống bèo, cứ thế, tôi giáng mạnh con dao phay cùn trên tấm thớt mỏng, tấm thớt nhảy tưng tưng theo từng câu chưởi:
                            - Con đường nào cũng dẫn đến La Mã. Nếu vùng La Mã có treo câu: “Không có gì quý hơn độc lập tự do thật” thì hay lắm. Tiếc thay!

                            Hàng khẩu hiệu trên, há chăng đã treo đầy trên mọi ngỏ ngách, lại đóng cao trên cột cổng trại tù. Ôi! Mỉa mai thay! Từ ngày có câu nầy, đời sống biết bao người và gia đình tôi bị chà đạp, cướp đoạt, bóc lột hết mọi thứ. Bỗng dưng dân tụt xuống đáy vực, không có gì quí hơn sự trần truồng, trụi lủi ban-sơ như thuở đầu mới lọt lòng mẹ là gì! Ấy thế mà, cuộc đời tôi dù lắm bon chen, trải qua muôn vàn trái trở đắng cay, bầy heo con lọt lòng chưa được ba tuần, qua “cơn gió chướng”, bầy heo rũ nhau ra đi theo tam tứ đại họ hàng ông bà ông vải dòng họ giống heo Yorkshire mất tiêu. Chúng tôi chỉ biết ngồi bên nhau khóc ròng.
                            Bà Nga thủ thỉ bên tai tôi:
                            - Nói chung mọi người ở hai miền Nam Bắc đều có ruộng vườn, bạn bè thôn xóm; có mái nhà chui ra chui vào ấm áp, có gia đình vợ con anh em như chúng ta. Nhưng mà… Cô cậu có ăn học cao như thế, sao hồi ấy vợ chồng cô không chịu đào tẩu, dzọt lẹ theo thuyền bè mà ra khơi, cho bầy trẻ nó nhờ. Trụ lại làm gì cái nơi thổ tả nầy, không biết!
                            - Em đâu có ngờ…
                            - Ừa phải! Sao tôi dốt nát quê mùa tệ! Ngay khi đi xếp hàng mua vải vóc, hay thực phẩm, tôi bị lừa. Hàng lậu hàng dỏm từ biên giới vùng chợ trời Tây Ninh chuyển về, mà đám chóp bu cũng bị tráo, bị lừa, nữa là tôi.
                            Các con tôi càu nhàu:
                            - Bà trưởng Ấp nói mẹ con mình lao động cho tốt, thì ba sẽ về hoài, sao mình cứ xách đồ ăn, đi thăm nuôi ba mãi như vậy, hở mẹ?
                            - Ở trường cô giáo cũng nói: Con phải học xuất sắc, tiên tiến, thì ba mau được tha về. Tám chín năm nay, con đứng nhất lớp hoài. Mà sao ba chưa về?

                            Lời nói của các con chẳng khác nào như xô nước bẩn tạt vào mặt tôi, tôi giận run cúi đầu im lặng mà vuốt mặt không xuể. Nhưng giận ai? giận gì? Giận mình đã lừa dối các con thơ ư? Tôi chỉ biết ậm-ự, giả lả chờ ngày mai đến! Ngày mai không bao giờ giết chết niềm hy vọng! Dù nỗi đớn đau dày vò, tâm trí lao đao, mệt nhoài, nhức buốt những suy nghĩ nặng trĩu trong đầu mình. Năm bảy tháng có khi hơn cả năm, mẹ con tôi mới có dịp đi thăm Luật một lần. Trong trại tù, con tôi đã hỏi ba:
                            - Ba nói ba chỉ đi “cải tạo” hai tuần. Nhưng mấy trăm lần hai tuần, rồi cả chín mười năm nay. Ba mẹ lại nói láo với tụi con: “mai mốt ba về”.
                            Tôi nín lặng. Làm sao có thể hứa suông mãi:
                            - Ừ. Hãy ngoan, học giỏi con nhé. Ba sắp về mà.
                            Đi thăm tù. Đi hoài, chỉ có đi mà không có về. Ồ, mà về, về đâu? Về đâu rồi cũng sẽ... chả ra cái thể thống gì! Thân xác anh chồng bây giờ lúc nóng lúc lạnh, váng vất vật vờ theo cơn sốt rét da vàng cao độ, với giấc mơ hãi hùng trôi lềnh bềnh như con sóng vỗ mạnh. Luật giơ những ngón tay gầy quơ cào chới với vào khoảng không, anh oằn người cố hét lên, để thoát ra khỏi giấc mộng dị kỳ. Thân xác anh vã mồ hôi hột, anh đau rất nặng như bị tảng đá đè lên, hai mắt anh mở không ra, ở trại tù không hề cho một viên thuốc, anh càng chìm lún vào vũng tối mê hoảng mênh mông. Vì:

                            Mùa mưa trở lại sao anh không về?
                            Hay đã đi rồi là xa mãi mãi?
                            Chỉ một lần thôi đi dưới mưa khuya.
                            Ai bảo bên nầy thương nhớ bên kia.
                            *
                            Mùa mưa trở lại anh đi không về.
                            Mong tóc anh chừ màu đen vẫn thắm.
                            Chập chờn từng đêm nỗi nhớ lê thê.
                            Tóc vắt ngang trời mưa đẫm cơn mê.
                            *
                            Sợi tóc em vương áo anh ngày cũ.
                            Màu tóc thật đen, đen đến bây giờ.
                            Chờ đã bao lâu, bao mùa mưa lũ.
                            Bạc cả cơn mơ lẫn tóc người chờ.
                            *
                            Giờ thì tóc đen bện cùng tóc trắng.
                            Bắc làm sao qua biết mấy sông hồ!
                            Mùa mưa trở lại giăng trên lối vắng.
                            Ướt cả trong ngoài mà lòng vẫn khô.
                            *
                            Mùa mưa trở lại anh đi không về.
                            Mong tóc anh chừ màu đen vẫn thắm.
                            Chập chùng từng đêm, nỗi nhớ lê thê.
                            Tóc vắt ngang trời, mưa đẫm cơn mê.
                            (2)
                            ***

                            Mười năm sau… khi Luật ra tù "cải tạo", chúng tôi tằn tiện cố dành dụm ít tiền còm, có mở cái quán bé tẻo teo, chiều dài và rộng chỉ có 3m x 2m, bốn bề quây bằng liếp phên ọp ẹp, trên mái lợp lá dừa che nắng che mưa, quán mở nhờ nơi trước sân đất bất hợp pháp của nhà ông bà Ngôn. Trong quán đặt tấm ván ép, vừa dùng là nơi tối Luật nằm ngủ, để canh giữ quán, cũng là nơi đặt một cái máy may cũ, nhận may quần áo lẹt xẹt, ngỏ hầu kiếm miếng cháo sống lây lất qua ngày. Trước cửa sổ rộng toang hoác treo tòn ten những nhánh chuối, bánh ú, bọc kẹo, bánh đa,... vân vân... Dưới gầm tấm ván ép có đóng hàng kệ dùng để chao, mắm, muối, dầu đậu phụng, ớt, hành, ngò, bột ngọt, linh tinh... Tóm lại quán xá chi nghèo nàn leo teo và trống trơn, thấy thảm. Nhưng chúng tôi cố kiên nhẫn chịu đựng để lây lất sống qua ngày.
                            Suy cho cùng, thì gia đình tôi sống trong xã hội chủ nghĩa, thật không có gì quý bằng... nghĩa chó!
                            *

                            Sau nầy, tình cờ tôi đọc được nhiều bài viết về CHÓ rất hay - Thật tình tôi vẫn nhớ thương và tiếc nuối bầy chó nhà tôi, vì tôi không thể mang chúng nó đi Mỹ cùng gia đình. Đồng thời khi tôi đọc bài viết của: Luật Sư George Graham West đã thắng kiện với bài biện luận được coi là bài diễn văn hay nhất thế kỷ, khiến tôi lại càng nhớ thương con Jacky, vì chúng tôi quý nó vô vàn: Luật Sư George Graham West đã nói:
                            ... Thưa quý ngài Hội Thẩm,
                            Người bạn tốt nhất mà con người có được trên thế giới này, có thể một ngày nào đó hóa ra kẻ thù và quay ra chống lại ta. Con cái mà ta nuôi dưỡng với tình yêu thương hết mực, rồi ra có thể là một lũ vô ơn. Những người gần gũi thân thiết ta nhất, những người ta gửi gấm hạnh phúc và danh dự, có thể trở thành kẻ phản bội, phụ bạc lòng tin cậy và sự trung thành. Tiền bạc mà con người có được, rồi sẽ mất đi. Nó mất đi đúng vào lúc ta cần đến nó nhất. Tiếng tăm của con người cũng có thể tiêu tan trong phút chốc bởi hành động dại một giờ. Những kẻ phủ phục tôn vinh khi ta thành đạt có thể sẽ là những kẻ đầu tiên ném đá vào ta khi ta sa cơ.

                            Duy có một người bạn hoàn toàn không vụ lợi mà con người có được trong thế giới ích kỷ này, người bạn không bao giờ bỏ rơi ta, không bao giờ tỏ ra vô ơn hay tráo trở, đó là con chó của ta. Con chó của ta luôn ở bên cạnh ta trong phú qúy, cũng như trong lúc bần hàn, khi khoẻ mạnh lẫn ốm đau. Nó ngủ trên nền đất lạnh dù gió đông cắt da cắt thịt, hay bão tuyết lấp vùi, miễn sao được cận kề bên chủ là được. Nó hôn bàn tay ta, dù không còn thức ăn gì cho nó. Nó canh gác giấc ngủ của ta như thể ta là một ông hoàng, dù ta có là một gã ăn mày. Dù khi ta tán gia bại sản, thân tàn danh liệt, thì vẫn còn con chó trung thành với tình yêu nó dành cho ta như thái dương trên bầu trời.

                            Nếu chẳng may số phận đá ta ra rìa xã hội, không bạn bè, vô gia cư, thì con chó trung thành chỉ xin ta một ân huệ là cho nó được đồng hành, cho được làm kẻ bảo vệ ta trước hiểm nguy, giúp ta chống lại kẻ thù. Và khi trò đời hạ màn, thần chết đến rước linh hồn ta đi, để lại thân xác ta trong lòng đất lạnh, thì khi ấy, khi tất cả thân bằng quyến thuộc đã phủi tay sau nắm đất cuối cùng và quay đi để sống tiếp cuộc đời của họ, thì khi ấy vẫn còn bên nấm mộ ta con chó cao thượng của ta, nằm gục mõm giữa hai chân trước, đôi mắt ướt buồn vẫn mở to cảnh giác, chân thành và chân thực ngay khi ta đã chết rồi.
                            ***

                            Tình Hoài Hương


                            (1) - ca dao
                            (2) (sưu tầm)
                            (3) “Tóc Vắt Ngang Trời” :
                            Thơ Lê XuânN. Phổ nhạc: Đoàn Khôi.
                            *
                            Last edited by Tinh Hoai Huong; 02-13-2018, 03:13 AM.
                            Bút trần nào tả được lưu luyến!
                            Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                            Tình Hoài Hương

                            Comment

                            • Tinh Hoai Huong
                              Senior Member
                              • May 2009
                              • 1081

                              #224
                              Tết Mậu Tuất (2018) nhớ về Tết Mậu Thân (1968)




                              Tết Mậu Tuất (2018) nhớ về Tết Mậu Thân (1968)


                              Muôn ngàn chim én líu lo, xôn xao tưng bừng, ríu rít chao lượn từng đàn đông nghẹt trên mái ngói lầu cao. Từng chòm thông tươi tốt mọc thẳng lên cao vút, xòe táng lá xanh mướt, um tùm, trông cao lớn, phơi phới, mát mẻ lạ thường. Tiết trời quang đãng, trong thanh, ấm dịu, vừa xua tan đêm trừ tịch nơi thành phố Đà Lạt an hòa, thi vị có lắm mộng nhiều mơ. Tự lúc nào không biết gió xuân về mát rượi, khiến tôi cảm thấy trong lòng dâng lên nỗi an thư ngọt ngào lâng lâng, xao xuyến ngất ngây vô vàn. Niềm vui đọng lại trên non ngàn những giọt sương long lanh, rưng rưng nơi cánh hoa anh đào, hoa lan, hoa hồng… và nơi đài hoa mai chúm chím e ấp buổi giao mùa.

                              Kể từ ngày 23 tháng Chạp, mọi người nôn nao đưa Ông Táo về Trời, nhờ ông tấu trình với Ngọc Hoàng công việc làm ăn ở trần thế. Thì, ngày xưa ở cung điện hoàng gia vua chúa nước ta, từ nhất phẩm đến cửu phẩm sắp hàng thứ tự trước điện rồng, để làm lễ bái tạ Trời. Đất. Vua, quan, viên chức uy quyền trong triều đình sắp tới hàng dân dã, ai nấy đều làm lễ trừ tịch, tống cựu nghinh tân. Các lễ trong triều thần quan trọng là: Nguyên Đán. Phất thức. Tịch điền rước thần nông. Tế xuân. Du xuân (hưởng: Xuân, Hạ, Thu, Đông). Cúng tam sinh: Trâu (hoặc, bò, dê). Ngoài ra còn có lễ tế cờ: Có ba bài vị gồm: một viên tướng cờ đi đầu. Sáu vị tướng cờ đi giữa. Năm vị thần cờ đi hai bên.

                              Toàn dân đón xuân náo nhiệt, tưng bừng vui vẻ, linh đình. Người ta bày hương án, bánh trái hoa quả cúng gia tiên, mâm cổ đầy nhóc trên bàn: nào là xôi, gà, vịt, heo, bánh trái, vân vân... Sau đó họ đi thăm mồ mả. Đi lễ chùa hái lộc đầu năm, thăm đình đài lăng miếu. Dân gian được tự do chơi bài Chòi. Tam cúc. Cờ tướng. Xóc dĩa. Bài tây: xì lát, đánh xì tố, xóc bầu cua, vân vân... Sau ngày hạ cây nêu, thì có lễ hoá vàng, đốt vàng giấy, lúc giấy gần tàn, họ đổ ly rượu cúng vào lò đốt, là chấm dứt ngày Tết.

                              Nay thì nghi thức nghinh xuân ấy được đơn giản rất nhiều. Nhưng vẫn theo phong tục cổ truyền Việt Nam, dù bận rộn, đa đoan với muôn vàn công việc chất chồng. Dù cách trở xa xôi đến đâu, thì ba ngày Tết người ta vẫn quay trở về mái nhà xưa, trước tiên mừng ngày trọng đại của cả dân tộc, cùng cúng giỗ thờ kính tổ tiên, sau là ngày sum họp mật thiết rất quan trọng, ngỏ hầu gặp gỡ người thân trong gia đình… tay bắt mặt mừng hân hoan vui vẻ chúc tụng nhau bao ý lành, vui hưởng Tết Nguyên Đán linh thiêng đầm ấm, thong dong đi thăm viếng mọi người. Ngày Tết là ngày hưởng lộc đầu năm, ngày linh thiêng, thế nên ai ai cũng trân trọng, kiêng cữ, không làm điều sai quấy, nói năng bậy bạ.

                              Ngày mồng Một Tết, Mậu Thân. Gia đình tôi đi chúc tết ông bà Cương, và bà con thân nhân bên nội ở trong Hà Đông. Ai nấy chúc nhau:
                              Năm mới Tết đến
                              Rước hên vào nhà
                              Quà cáp bao la
                              Mọi nhà no đủ

                              Vàng bạc đầy hủ
                              Gia chủ phát tài
                              Già trẻ gái trai
                              Sum vầy hạnh phúc

                              Cầu tài chúc phúc
                              Lộc đến quanh năm
                              An khang thịnh vượng.
                              Đong cho đầy hạnh phúc

                              Gói cho trọn lộc tài
                              Giữ cho mãi an khang
                              Thắt cho chặt phú quý…
                              Cung chúc tân niên,

                              Sức khỏe vô biên,
                              Thành công liên miên,
                              Hạnh phúc triền miên,
                              Túi luôn đầy tiền,
                              Sung sướng như tiên.
                              (*)

                              Xế trưa vợ chồng tôi chạy xe lên trên Couvent thăm hai gia đình anh chị Thái, Thiệu, bạn bè xóm làng thân thương, rồi đến khu nhà Bò (Đào Duy Từ), qua bên Nhà Chung gần nhà thờ con gà thăm anh chị bên họ ngoại. Chúng tôi lại ra phố thăm hỏi gia đình anh chi Lê. Đâu đâu pháo cũng nổ dòn: đùng... đùng... đùng... thật vui vẻ rộn rã tưng bừng. Người người hớn hở tay bắt mặt mừng, muôn câu chúc tụng hân hoan ấm nồng luyến thương hoài nhớ. Nhà nhà người nào người nấy tụm lại gây sòng đánh xì phé, đánh chắn, xóc dĩa. Trẻ con chơi lắc bầu cua ở góc hiên nhà. Thanh niên nam nữ và tráng niên lại chúc:
                              Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
                              Phúc lộc đưa nhau đến từng nhà
                              Vài lời cung chúc tân niên mới
                              Vạn sự an khang vạn sự lành.

                              Đầu xuân năm mới chúc BÌNH AN,
                              Chúc luôn TUỔI TRẺ chúc AN KHANG.
                              Chúc sang năm mới nhiều TÀI LỘC
                              Công thành danh toại chúc VINH QUANG.
                              (*)

                              Cận khuya chúng tôi mới lò mò trở về nhà. Nhà tôi ở tại ngả Tư Trần Bình Trọng và Mai Hắc Đế, cạnh bên trái hông nhà tôi là khu Dân Y Viện Đà Lạt, ngược về hướng dòng Domain De Marie (là đi xuống trường Đa Nghiã và Khu số Bốn). Trong tận cùng im vắng của đêm trường đầu xuân mát rượi lẫn ngọt ngào hương vị ngày Tết nồng ấm xiết bao!
                              Bỗng nhiên tôi nghe từ nơi xa xa đạn réo vù vù trên không trung. Súng lớn súng nhỏ đồng loạt khạc đạn, làm rung chuyển mặt đất, tung tóe lửa dữ dội. Khu đồi Domain de Marie yên tĩnh ở phía bên kia vực thẳm, sau lưng nhà tôi dội lại tiếng gầm thét dị kỳ: xì xì, xẹt xẹt… ùm… ùm…, pằng… pằng…, tạch tạch…, cắt bụp, cắt bụp… xè…! Đạn rạch đêm tối vút vút bay qua bay lại, đan chéo qua chéo lại. Những đóm mắt sáng đục hỏa châu lơ lửng trên không trung nở vàng bầu trời khuya. Trái sáng tụt nhanh xuống mặt đất và tắt đột ngột, trả lại bóng đêm tối thui, như khi nó chưa nở rực ra trên bầu trời khuya quạnh vắng đẫm ướt sương mù. Trong màn đêm đầy sương trắng xoá dày đặc bị xé rách bởi lằn đạn tóe lửa. Mặt đất phả ra làn hơi sương nhút nhát, e dè lởn vởn bay bên mấy bụi cây.

                              Ban đầu Lâm ngỡ là mình nằm mơ ngoài trời đốt pháo Tết, nhưng sau khi anh thấy trái sáng rợp trời, súng đạn rạch không khí bay chíu chíu… xịt... xịt, có cả thứ súng “cắt, bụp, xè”; nên anh tỉnh hẳn người. Lâm gọi mẹ, vợ con dậy ngay. Nhanh như chớp, vụt thoáng trong giây lát tôi và Lâm kéo nệm xuống gầm giường, hai chúng tôi lò mò trong bóng tối để giăng mùng cẩn thận, rồi Lâm bế hai đứa con mắt nhắm mắt mở chui vào mùng. Chúng tôi nằm sát bên vách gỗ, đắp kín mền mà tôi vẫn cảm thấy toàn thân lạnh giá vì vã mồ hôi hột, hai hàm răng va vào nhau lụp cụp, tay chân bủn rủn run cầm cập. Tôi sợ hãi gần như nghẹt thở. Súng nổ dập dồn không lúc nào ngơi hung hăng tống vào ngọn đồi thưa, nơi có mấy công xưởng, ty Hiến Binh hồi xưa (nay là chi nhánh của Ty Công An, nằm về phiá tay phải nhà tôi).

                              Lâm bấm bấm vô cánh tay tôi, để ngón tay trỏ lên miệng anh, khoèo vào hông tôi và ra dấu cho tôi bò theo. Chúng tôi mò mẫm lồm cồm bò bò từ phòng ngủ ra phòng khách tối. Lâm nhón người nhẹ vén bức màn voan, nhìn ra đường quan sát. Đường phố im lìm vắng lạnh. Nhà nhà đều cửa đóng then cài cẩn thận. Tuy vậy, tôi thấy nhiều tấm màn bên những ngôi nhà ấy khẽ lay động. Hỏa châu đỏ nở rộ trên trời như những đôi mắt hung thần, soi rõ cảnh vật. Trên trời liên tục bừng sáng và hoả châu rơi xuống, chìm lẫn vào bóng đêm.

                              Do tôi mãi nhìn đường phố vắng lạnh, thì Lâm vội bụm miệng tôi, anh kéo tay vợ nép vào góc tường. Khi ấy tôi thấy khoảng năm sáu tên đội nón cối, mặc đồ đen, đồ xanh rêu cháo lòng, hay mặc đồ lộn xộn, ống quần rộng thùng thình, lụng thụng cột túm vô mắt cá chân. Tay họ cầm súng, lưng đeo đạn. Quanh thân dắt cành lá, họ cúi đầu lom khom lủi lủi gần sát bên hiên nhà của nhà tôi. Họ mò mò cúi khom lủi chạy đi về phía đồn Công-an trên đồi. Họ đêm thành thạo, hình như họ thích hợp, quen thuộc với bóng tối, hay do ý tất thắng chiếm đoạt, muốn vượt qua trở ngại, hầu đạt đến khát vọng xâm lăng điên cuồng? Tiếng kêu lách tách lạch cạch do súng đạn cặp bên hông va đập vào nhau lộp độp theo mỗi bước đi cử động của họ, tôi nghe rõ, rùng rợn, hoảng sợ mà sởn ốc trâu và ớn lạnh! Chúng tôi đã bật ngữa ra: Việt Cộng đang xâm lăng lãnh thổ Đà Lạt, khiến tôi càng rợn người kinh khủng.
                              Giây lát sau tôi nghe ở cửa cổng đồn Công An (rất gần khu nhà dân) có tiếng quát hỏi:
                              - Ai đó???... Đứng lại.
                              - Đứng lại, không tôi bắn.

                              Không trả lời, lập tức đạn nhỏ súng lớn đồng loạt bay vèo vèo Pằng… pằng… pằng… Đùng… Đùng… Đùng… Oằng… Ùm… vút vút bay tới tấp trên đầu người dân. Thành phố Cao Nguyên Lâm Viên truyền cảm xiết bao đã bị xâm lăng, thành phố Đà Lạt nổi danh là thành phố thơ mộng, hiền hoà, một thành phố duyên dáng duy nhất không có đèn xanh đèn đỏ ngăn cản bước chân người, và chận dòng xe lớn nhỏ đều tuần tự nhịp nhàng chuyển động, đã thực sự đã đi vào binh đao, và bùng lên ngọn lửa chiến tranh hung tàn rồi! Đạn nổ lốp đốp, rơi rào rào, loảng xoảng, ào ạt rớt xuống mái tôn nhiều nhà lân cận, nghe sắt và lạnh. Khi chiến cuộc bước vào con đường an cư hòa ái của xứ lạnh hiền hậu nầy, dân cư ngơ ngơ ngáo ngáo và bàng hoàng lo sợ ghê lắm (vì ở nơi nầy yên bình ít khi có chiến tranh).

                              Vài phút sau đó trong xóm tôi kêu gọi nhau chui xuống gầm giường, gầm bàn trốn đạn inh ỏi. Tiếng kêu rú khóc la, xen lẫn tiếng súng bắn, mìn nổ thật gần, nghe rợn xương sống, đinh tai nhức óc, tức ngực quá chừng. Ôi lạy Chúa! Trẻ con bên hàng xóm cứ khóc thét toáng lên từng hồi, giống như có người nào ngắt nhéo chúng, hay cắt tay chặt chân chúng nó vậy. Còn đàn ông con trai thì im thin thít. Bây giờ nếu có tiếng la giọng nói của đàn ông, là càng làm người khác lo sợ gấp ngàn lần. Người ta lo sợ sự giao tranh súng đạn ngoài kia, và tiếng đàn ông núp ở trong xó nhà lắm. Có khác nào mấy ông tự tố cáo "lạy ông tui ở bụi nầy". Việt-cộng sẽ chĩa súng vào ngực họ, mà bắt đàn ông thanh niên đi làm bia đỡ đạn, hay bị bắn cái đùng. Thì khốn.

                              Khi căn nhà gỗ của bác Thao bị sập một bên, càng khiến cư dân trong khu xóm hoảng hốt la to, kêu rống, hét tướng lên… réo gọi tên nhau, kêu khóc ồn ào huyên náo bội phần. Bảy căn nhà vách ván đơn sơ ở xóm nầy đã đứng chênh vênh bất lợi từ mọi phía, lẻ loi, trống trải, cô độc trong địa bàn giao tranh, không ai có một tấc sắt để tự vệ. Biết lấy gì chống đỡ! Họ vẫn phơi bộ mặt cơ hàn, giơ cái bụng lép xẹp ra trước thời gian ở nơi lằn đạn mũi tên thế! Trốn tránh thế nào được! Khu xóm cao chênh chếch như một cù lao đứng giữa hai lằn đạn thì... có mà chạy trốn lên đằng trời. Chưa việc gì mà! Phải! Phải! Nhưng lạy Chúa! Sao tôi run lẩy bẩy, lo sợ tột cùng, miệng lưỡi co cứng, cổ họng đắng chát, khô khốc, hai bờ môi khô lông lốc dính chặt vào niếu, không một giọt nước miếng, không thốt được một âm!

                              Bầu trời đầy sương mù sau sáu giờ sáng bỗng dưng lặng ngắt như tờ, im ắng bao trùm còn đe dọa rùng rợn hơn cả nghe tiếng súng, hoặc có sự chết chóc. Sương mù và bóng tối không đồng loã với bình yên, nó bốc đồng và phản bội con người lúc nào. Chẳng rõ. Bây giờ không còn dòng suối mát, không ao hồ, thác nước thơ mộng đầy quyến rũ mang vẻ duyên dáng nên thơ Đà Lạt với danh lam thắng cảnh xứ hoa đào rồi. Biết đâu sẽ diễn ra “u mê ám chướng chiến tranh”, những lằn đạn chằn chịt theo khói lửa bay về thành phố nổi danh quyến rũ mơ màng! Đạn vèo vèo bay, xoắn tít hình trôn ốc ghim vào lòng đất, khiến địa hình Đà Lạt thi vị trở nên xấu xí, nhăn nhúm, biến dạng lởm chởm hẳn đi. Nhìn thấy nó mình mất cả hồn cả vía, chứ thơ mộng duyên dáng, gợi cảm cái nỗi gì nữa không biết.

                              * * *

                              Ánh nắng rực rỡ bừng lên, lớp sương mù dày đặc đọng lại trên các cành hoa anh đào, chạy suốt con suối cạn gần khu Domain de Marie mọc đầy lùm dã qùy to lá, nhụy nâu vàng hoa nở dọc theo bờ đất lỡ cuối vườn nhà tôi. Nước rỉ rả chảy xuống hố, rồi uốn lượn quanh co trong nhiều đám sậy nhấp nhô. Một ngày mới lại bắt đầu trong cuộc sống bất trắc âu lo. Phiền muộn. Hãi hùng âm thầm mà đau, đầy băng giá, mang mùi vị tởm lợm chết chóc và chiến chinh. Cái chết đe dọa từng giờ trên đầu mỗi người, ở trong thành phố Đà Lạt nổi tiếng hiền hòa thơ mộng xinh đẹp đang bị vây hãm. Súng đạn khiêu khích từng ngày, từng đêm, từng giờ, tệ mạt hơn là người dân phải chịu đựng những cơn xoáy lốc bốc lửa rít lạnh tê người khôn nguôi. Tim mọi người đập thình thịch không ngừng, không vì trận gió từ đỉnh đồi Lâm Viên thổi về. Mà vì nhiều loạt súng của kẻ xâm lăng đùng đùng đùng… Cắt bụp cắt bụp… Xè xè… và loại súng bắn trả: Pằng pằng pằng… Tạch tạch tạch… vang lên tứ phía liên tục luôn mãi, nhức nhối tai.

                              Từ ngày mồng Hai Tết Mậu Thân đến nay, mỗi ngày khoảng ba giờ chiều, bà con cô bác từ các đường: Hoàng Diệu, Trần Bình Trọng, Mai Hắc Đế, Yết Kiêu, Số Bốn, Số Sáu, Hai Bà Trưng, vân vân… lại ùn ùn chạy lên nhà thờ Domain, xin các bà dòng tu cho tạm trú dưới từng hầm. Họ mong tìm đến với nhau cho vơi sợ hãi và quên âu lo. Họ mong xích lại gần nhau tìm chút hơi ấm qua đêm. Sáng sáng họ lại lục tục kéo nhau ra đi, ai về nhà nấy. Từ trên dòng Domain về nhà, tôi nhìn trước ngó sau dáo dác như kẻ trộm. Căn nhà đêm trước bỏ hoang mở toang hoác cửa ngõ, chẳng cần cửa đóng then cài làm chi! Vì đã có súng đạn giữ gìn hộ rồi, chả lo gì mất của cải! Thời buổi nầy, lo giữ gìn bản thân chưa xong, chả an toàn, hơi sức đâu ai thèm đi giữ gìn của chìm của nổi, và hôi của người khác nữa không biết.

                              Tôi nấu vội nồi cơm thật lớn cho cả nhà ăn một hoặc hai ngày, rồi thấp thỏm tất tả chạy ra chợ xép ở đường Hoàng Diệu bòn mót đủ thứ đồ uống thức ăn cho có chất rau tươi. Tôi giành giật ở ngoài chợ mua nhặt từng chục trứng vịt, vài bó rau. Thịt, cá, thì mắc như vàng! (còn khu chợ lầu Đà Lạt to lớn là thế, mà nay leo teo mươi hàng rau đậu héo uá, dập nát). Có bao giờ người dân phố núi nghĩ ra: nơi thành phố thơ mộng quyến rũ nầy, lại có bộ mặt độc ác cuả kẻ xâm lăng vô Nam khuấy nhiễu, gây ra chiến tranh, ngỏ hầu người dân tích trữ thực phẩm khô, trong mùa xuân dồi dào nhựa sống chứ!
                              Các tay đầu tư thì cất dấu thực phẩm thật kỹ, cửa đóng then cài kín mít. Thỉnh thoảng có vài tiệm buôn lớn chỉ he hé cửa ra, họ “bố thí” nhỏ giọt từng ký gạo cho đồng bào, than ôi mình rớ vào muốn phỏng tay với giá tiền cao cắt cổ kinh khủng. Đại lý gạo Sơn Hà lớn nhất thành phố, tuyệt nhiên không thấy xuất đầu lộ diện, không có một hột gạo nào thoát ra khỏi khe cửa. Người ta đồn tiệm nầy là chỗ “kinh tài” cho Việt Cộng (!?) Ô ô hô... gạo thơm để nuôi dân lành cần cù lam lũ làm ăn, hay “nuôi ong tay áo, nuôi khỉ đốt nhà” hử!?

                              Mấy ngày đầu năm mới (trong cuộc chiến Mậu Thân), người ta mang theo vào tầng hầm trú ẩn nào là: bánh chưng, bánh tét, xôi, thịt, cơm gà cá gỏi. Đủ loại mứt, trái cây, hạt dưa, vân vân... Hương vị ba ngày Tết chưa kịp ăn. Nhà nhà đều dư thừa thức ăn ê hề, không thiếu món gì! Sau đó thực phẩm ứ đọng, thiu thối, hư hại sạch. Mọi người hồi hộp lo sợ, băn khoăn ngao ngán, nên chẳng ai nuốt trôi, họ nhịn đói mà khóc, không thể ăn uống bất cứ thứ gì. Họ đem ra đồ ăn vứt sau sườn đồi của nhà thờ Domain cạnh khu trường học, tha hồ cho lũ chuột cống, ruồi bọ tranh nhau lúc nhúc loi nhoi giành ăn.

                              Bất kể lúc nào, hễ nghe tiếng súng dồn dập, xa xa, về hướng Cam Ly. Khu Số 6. Khu Số 4. Dòng Chúa Cứu Thế. Lạc Dương…. Là bà con trong xóm tôi tê tái, hoảng hốt, ơi ới gọi nhau, sẵn sàng tay ôm tay xách, cổ đìu lưng cõng con cháu vụt chạy nhanh lên ngôi nhà thờ kiên cố trên đỉnh đồi, cần sự xích lại tương thân tương trợ ấm áp. Chúng tôi mong xích lại gần nhau, tìm chút an tựa, cần sự lân mẫn tự nhiên của người đồng cảnh ngộ. Khoảng ba giờ chiều, người người lục tục kéo nhau đi đến các nơi kiên cố và đông đúc. Tại khu hầm trú thì mỗi gia đình "xí phần" một góc vừa đủ trải vuông chiếu để ngả lưng sơ sài. Trên manh chiếu nương thân, họ dùng làm chỗ ngồi, ngã lưng nằm, cả nhà ăn uống qua loa chén cơm để cầm hơi. Cũng tại trên vuông chiếu nầy, người ta chồng chất đủ thứ lặt vặt cần thiết đã vội vàng mang theo.

                              Giống như những ngày hôm trước, sáng sáng tản mác mỗi người về mỗi nhà. Họ gồm đủ mọi thành phần trong xã hội, đủ khuôn mặt già trẻ lớn bé, xấu đẹp, ốm mập, đen trắng. Đặc biệt giữa đa số khuôn mặt bình dân thảng thốt ưu phiền, lo sợ, thì có bảy tám thanh niên thiếu nữ choai choai dé dé xinh tươi ở đâu tập họp lại, ưa náo nhiệt. Trước đó quần áo các cô cậu coi hợp thời trang, họ ung dung lượn quanh hầm, vui vẻ cười nói huyên thuyên, móng tay móng chân các cô đỏ chót. Vài ngày sau tôi dòm họ xộc xệch, túi vải lịu địu máng trên vai có tô thêm đất bùn lem luốc. Họ mệt mỏi cố vơ vét tất cả gia tài nhét trong xách da căng cứng bung hết dây kéo. Họ luôn mang kè kè bên hông, họ không khóc được, vì sự kinh sợ đã kéo dài khá lâu, vượt quá tầm mức chịu đựng của con người. Họ hãi hùng kêu tên nhau, i ỉ thút thít, nước mắt cạn khô, ráo hoảnh, ngơ ngáo bất động thì thôi.

                              Riết rồi ngày ngày chung đụng, người ta biết mặt, biết tên nhau, biết biết, quen quen, thân thân, hỏi hỏi, nói nói, ồn ào như vỡ chợ, nhưng nét mặt mọi người mỏi mệt bần thần băn khoăn đầy ngao ngán buồn thiu. Người ta mất ăn từng ngày, mất ngủ từng đêm âu lo tột độ. Sự đông đúc đầy dị hợm bắt đầu tẻ ngắt trong căn phòng chen chúc chật cứng, ngột ngạt như lò hồ quang, thiếu ánh sáng, thiếu không khí, thiếu mọi tiện nghi. Cảnh di tản có đủ thứ chuyện vui buồn. Tin tức nóng bỏng nhất được truyền khẩu trong ngày, trong tuần lan từ đầu nầy đến đầu kia, nhanh như chớp. Không gian và thời gian im lặng tẻ ngắt, đầy ghê rợn suốt buổi trong căn phòng chứa khoảng hơn ba ngàn người. Họ chen chúc ở nơi ngột ngạt, thiếu không khí, thiếu ánh sáng. Đôi lúc trên đầu loé lên tia lửa rạch không khí, bay vù vù trong không gian. Lằn đạn xẹt qua. Hai ba chiếc phi cơ không nhìn thấy rõ bay vút trong bầu trời, qua khung kính trên vòm mái cao. Giây lát sau tiếng rền rú uồm uồm uồm… ghê rợn. Hàng loạt đại bác trút xuống đỉnh đồi, vào khe suối xa xa…

                              Tôi xiết bao kinh hoàng lo lắng, và bồn chồn sợ hãi, vì Lâm đi trực về báo tin nhà ba mẹ tôi ở tại một Villa trên số 2 đường Pasteur, đối diện với Tiểu Khu Đà Lạt bị đốt cháy mất ¼. Ngôi nhà đồ sộ nay chỉ còn bức tường gạch (ở mặt trước đường Yersin), và bên mặt tiền phiá phải cuả ngôi nhà về hướng Pasteur) còn mấy hàng cột trơ trẽn (!?). Sau tiếng súng cắt, bụp, xè… thì mọi thứ bị đốt tan tành. Phố xá hỗn độn, khói lửa hừng hực bốc cao, khét lẹt bao ngày chưa dập tắt, kể từ khi cơn binh biến hùng hổ đến vỗ mãi những âm buồn. Nghe mà thật đau đớn bàng hoàng hốt hoảng và lo âu xiết đỗi. Một ngày kia tôi vội vã chạy về nhà. Đứng trên một góc tầng lầu nhà của ba má tôi đã bị sập gần hết một phần tư, trong nhà tối om, vắng tanh, đồ đạc ngổn ngang hư nát. Ba má và anh chị tôi đi đâu hết rồi? Họ có an toàn không?! Tôi lo lắng, bồn chồn, lấp ló thụt thò, dáo dác len lén nhìn sang phía bên kia đại lộ Pasteur, (đối diện nhà ba má tôi là cổng Tiểu Khu Đà Lạt/Tuyên Đức), hai mặt tiền nhà ba má tôi và Tiểu Khu chỉ cách một đại lộ, gần xịt.

                              Những anh lính trong doanh trại Tiểu-khu vội vã chạy lui chạy tới, lăng xăng, bồn chồn làm cái gì đó, xem có vẻ cấp bách, cần thiết lắm. Việt Cộng đã dùng bangalore phá một góc rào cuả Tiểu Khu. Một chiếc xe thiết giáp bị trúng ba quả B40 vẫn bốc cháy ngay trên đường Pasteur (sát cuối hông vườn sau nhà ba má tôi). Việt Cộng lẻn vào khu nhà xây gần Viện Pasteur để bắn vào Tiểu-khu. Nhưng xem ra không mấy thiệt hại. Kho Quân Tiếp Vụ bốc cháy, sáng rực cả một góc trại. Ty Cảnh Sát Đà Lạt sát bên nhà thờ Chánh Toà cũng bị hư hỏng nặng. Khẩu đại liên 30 đặt đâu đó, có thể là ở khu Quân Cụ thỉnh thoảng quạt một hồi vài tràng bâng quơ, tôi nghe rát bỏng, sợ hãi và điếc ù hai tai.

                              Trên bức rào cuả Tiểu Khu tôi thấy có ba thân thể cháy đen, mà rải rác gần đấy có vài cánh tay, bàn chân lủng lẳng quai dép râu. Những núm ruột người trắng hếu, dài lòng thòng còn lắc lẻo, đung đưa lắc lư vắt trên hàng rào gạch kiêm hàng rào B 40 rung rinh. Ruồi bọ lúc nhúc bu đông đen, rồi vụt ù ù bay lên đáp xuống. Khi ấy có vài người rảo bước liếc nhìn vội vã đi qua. Úi trời ơi! Mùi thúi thì thật hôi ơi là hôi kinh khủng. Khiến tôi bịt hai lỗ mũi, vẫn cảm thấy chịu không nỗi mùi thum thủm thúi hoắt, khiến mình không muốn vẫn nôn ọe ra.
                              Có con chó lài hoang ốm tong ốm teo, lông lá lưa thưa nhô cao bộ xương sườn, từ góc đường Yersin + Pasteur nó rón rén lủi đi kiếm ăn, con chó rụt rè ngơ ngác nhìn quanh, nó vội cụp đuôi vô trong háng, cúi đầu cắm cổ chạy đến bên mấy xác Việt Cộng. Nó liếm liếm khúc ống quyển đen thui, và nó dỏng tai hếch mỏ lên... Trời ơi! Khúc ruột chỗ trắng chỗ đen vắt vẻo trên hàng rào gạch đong đưa, bầy ruồi bay lên, lộ ra khúc ruột dài ngoẵng chui thật nhanh vào hai hàm răng con chó gầm gừ nhe ra.

                              Tôi sợ dựng tóc gáy, xớn rớn, chao đảo, giao động mạnh, dày vò, và đau đớn cào xé con tim, hãi hùng tột cùng muốn xỉu. Hai đầu gối tôi run rẩy va đập vào nhau lộp cộp, như người mắc bệnh parkinson luôn tiết ra chất dopamine, khiến mình bại hoại rã rời tứ chi, lồng ngực tôi nhô lên hụp xuống sâu hơn. Tôi run bần bật ngồi bệt xuống dưới góc balcon, chẳng hiểu sao tôi cứ ói ra nước, rồi ói ra hoài, toàn thân muốn rệu xuống. Mấy tháng trước bà chị của tôi đã làm thịt chó, chị nấu đủ thứ, nào là: Rựa mận. Nướng. Hon. Thui. Thịt tái chanh. Thịt luộc. Xào lăn, vân vân... Hôm ấy có mấy gia đình anh chị em vui vẻ “xơi” thịt chó thơm phức ngon lành, chúng tôi ăn từ đầu chó tới đuôi chó, thậm chí cả bốn móng cẵng chân giò, xương chó cũng chặt ra làm nồi nước lèo xúp chó hầm ngon nhức nhĩ! Sao lúc ấy tôi chẳng thấy nôn oẹ, sợ hãi như bây giờ!?

                              Bỗng dưng tôi sực nhớ tới chuyện rùng rợn ở Tây Tạng, nơi thủ phủ Lhasa đến một vùng hẽo lánh kia, có tục lệ rất kinh dị khủng khiếp. Họ thường làm nghi thức tiễn người chết rùng rợn từ lúc rạng đông: Họ từ tốn lấy dao lóc từng miếng thịt người chết ra miếng nhỏ, rồi để trên những tảng đá cho kênh kênh ăn. Lại có nơi lóc thịt người chết vất xuống nước cho cá ăn. Hoặc họ vạc một phần trên sọ, chẻ sọ người chết ra, dùng sọ người làm chén ăn. Họ nghĩ: hoả táng tốn kém than củi và tăng oxide carbone (CO) thì uổng. Thủy tang hại nguồn nước môi sinh, mất công uống cả xác tro người chết vô bụng. Chi bằng cho loài kênh kênh xực, cá ăn, cho chắc ăn! Do nghĩ như vậy, thịt chó và thịt người chết treo lủng lẵng nơi góc hàng rào kia; khiến tôi càng tởm lợm và nôn ọe ra mật xanh mật vàng!

                              Chiến cuộc từ thời kỳ giặc giã đã tàn phá biết nhiêu mà kể xiết trong đất nước nầy, chiến tranh gây hận thù và chết chóc, bao đau khổ người dân còn kẹt lại trong cái thế trên đe dưới búa. Làm gì được lúc con người gây ra chiến tranh thật phi nhân, phi đạo đức. Làm chi được hỉ với con cáo, con hồ, con cọp, con chó sói, thậm chí cả con chó nhà đang nhe hai hàm răng nhọn, hoặc giống như loài bò sát rắn độc?: nếu ta không biết “thời thế thế thời thời phải thế” khôn ngoan trầm tĩnh thu mình dẽo dai chịu đựng! Mặc dù loài vật hung ác, nhưng nó biết đối xử tốt và bênh đỡ đồng loại. Tuy beo, cọp, chó sói: là giống ăn thịt sống chẳng hạng; nhưng đối với đồng loại chúng vẫn hiền lành lui về hang ổ (nơi an tựa ấm áp, thân tình), chúng biết yêu quý hổ con, sói con cuả mình. Càng hơn nưã chúng nhận biết đồng bọn, luôn trấn giữ bảo vệ bè-đàn cuả mình, không để tên “dị chủng” khác chủng loại xâm phạm.

                              Nhưng khi có “những kẻ” vượt lằn biên qua vĩ tuyến: táo tợn xâm lăng thành phố thơ mộng, chúng ngang nhiên đặt chân vào miền đất hiền hòa, cẩu thả dùng súng đạn bay vèo vèo, ầm ầm, đùng đùng trút trên đầu nhân thế đang vui hưởng ngày Tết, lúc mọi người tưng bừng nôn nao rước tổ tiên ông bà về chung vui với con cháu, và thưởng lãm dáng xuân huy hoàng êm đềm ngự trị trên thế trần. Thì tôi xin mạn phép cho hỏi:
                              - Kẻ đi xâm lăng và xâm phạm tới người khác, tàn ác gây ra cảnh đau thương tang tóc; thì những kẻ ấy thuộc về “hạng gì”?

                              Lo lắng rón rén bò bò trên hành lang nhà, và tụt xuống những bậc cấp, tôi tất tả chạy rõ nhanh về nhà mình, vừa chạy vừa thở hồng hộc, khiến tôi mệt kinh khủng! Từ nhà ba má ở đại lộ Pasteur, tôi cắm đầu cắm cổ chạy bán sống bán chết xuống đường Bà Triệu, tới Cầu Bá Hộ Chúc, qua góc Cường Để và vòng ngược lên đường Thành Thái, chạy qua rạp ciné Ngọc Lan. Tôi thở hổn hển, mệt lử ngơ ngác đi ra phố Hòa Bình: Hai chiếc xe jeep (ở khu Hòa Bình) bị Việt Cộng núp đâu đó bắn mấy quả B40, hai xe nầy cháy rụi. Tất nhiên là có người chết thảm rồi. Tiệm Hồng Châu (ở sát bên cây cầu xi măng cuả Chợ Mới) cũng cháy rụi, đen thui. Mấy tiệm lân cận ở quanh khu Hoà Bình, đường Phan Bội Châu cháy khét, khói lửa mịt mù, mùi hôi kỳ lạ tỏa ra cùng khắp. Phố xá buồn thiu, vắng hoe, tan hoang, lạnh lẽo như một thành phố chết.

                              Lác đác có mấy bộ hành tất ta tất tưởi, dáo dác lấm lét nhìn quanh, rồi dọt lẹ! Bốn người Thượng già: một người vạm vỡ đóng khố sọc rằn ri. Một đàn ông trung niên thân quàng tấm mền len cũ. Một phụ nữ ở trần giơ bộ ngực no tròn có núm vú đen đen ra giữa lộ thiên, và một thằng bé con khoảng ba tuổi trần truồng, khí trời lạnh đến thế mà hình như họ chẳng thấy lạnh, là sao nhỉ? Họ thường bán hoa lan ở trên góc phố, tôi thấy mấy người lớn đang khóc hụ hụ, họ hỉ mũi sột rột, họ bập bập cần tẩu cong cong như chữ S, mùi thuốc lá hăng hắc nồng nồng phả vào không trung mù khói đen xám, quyện lẫn làn sương núi mờ mờ vật vờ bay bay dưới nắng xuân chan hoà. Ông ta khạc nhổ bãi nước miếng văng xuống đất, coi gọn ơ:
                              - Khu Du Sinh trên cuối đường Huyền Trân Công Chúa, đã bị lửa cháy rụi hết, khiến nhà cửa tui tiêu tan. Mất hết! Kể cả gà, chó, ngựa, heo… và con người. Hụ hụ hụ... Các ôn ơi!

                              Thì ra họ bị “các con cháu bác” tớI đây bóc lột hết, chứ chả phải họ không biết lạnh! Tôi phiền não chạy riết về đường Minh Mạng, qua hướng Cẩm Đô, leo lên dốc ở nhà xác cạnh nhà thương. Chạy tắt trên đồi cỏ sau bệnh viện để về nhà. Tôi nằm vật ra giường, thở hổn hển, mắt trợn ngược mở trừng trừng nhìn lên trần nhà, ngao ngán thở dài và lo lắng sầu khổ biết bao!
                              *

                              Tình Hoài Hương

                              (*) Sưu tầm đó đây
                              Bút trần nào tả được lưu luyến!
                              Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                              Tình Hoài Hương

                              Comment

                              • Tinh Hoai Huong
                                Senior Member
                                • May 2009
                                • 1081

                                #225
                                Cuối Tháng Hai Bi Thương Huyết Lệ



                                Cuối Tháng Hai Bi Thương Huyết Lệ


                                Mấy con kiến dương, con cánh cam từ đâu bay vù vào tầng hầm đã bị bể những ô kính, chúng liệng đi liệng lại vài vòng, rồi đâm sầm vào vách tường đá, nghe cái "cộp", lớp vỏ cứng bóng láng ánh lên màu xanh biếc, lẫn màu cánh cam lóng lánh xoè ra, che phủ hai cánh bên trong mỏng te rất duyên dáng hài hòa có nhiều sợi gân nổi trên lớp vỏ mềm mại khép dần. Thế rồi chúng loay hoay cố tìm chỗ thoát ra ngoài, nên bò đi bò lại trên vuông cửa bể.
                                Tôi chợt nhớ ngày xưa ấy, tôi ưa ngồi dựa lưng vào cây thông chạc hai, chạc ba, tôi đong đưa đôi chân trên cây thông lùn tách chẽ thân ra làm đôi, để rình bắt cho bằng được con cánh cam, và bụm nó ở trong hai bàn tay, khum khum mà nương nhẹ, nâng niu. Lúc ấy tôi ngó lên bầu trời xanh lồng lộng gió, nhìn chiếc máy bay lượn trên cao, tôi hy vọng hão huyền, vui vẻ hát nho nhỏ những bài tình ca, khi hai bàn tay tôi thoăng thoắt đan áo thật đều, sợi len lướt nhanh và thành thạo trên cây kim mà tôi chẳng thèm nhìn.

                                Ngày nay, tại tụ điểm lánh nạn có nhiều phi cơ không nhìn thấy rõ vụt bay trên bầu trời, qua khung kính bể dưới vòm mái cao. Thì, câu chuyện hứng khởi về các kỳ công, thành tích của chiến binh giàu kinh nghiệm chiến trường, thường là đề tài bàn thảo đầy hấp dẫn, hứng thú, nuôi dưỡng trong lòng người dân đen niềm sung sướng, hứng khởi và kiêu hãnh khác thường. Chúng tôi đang ăn không ngồi rỗi ở dưới tầng hầm của nhà thờ Domain de Marie nầy. Những chiếc phi cơ thi nhau gào rú trên bầu trời, khẩu minigun sáu nòng có bốn ngàn viên đạn nhấp nháy chỉ vài phút đã khạc lửa ra khỏi nòng đang vút bay đến mục tiêu, khiến lòng tôi càng nôn nao, bồn chồn, cuống quít, lo lắng, sợ hãi xiết bao.

                                Đời có lắm chuyện tôi không hiểu, không thể hiểu nỗi. Từ lúc có “bọn giặc đỏ” về, mỗi ngày chúng tôi phải bồng bế con đội nắng mưa mà đi, vì căn hầm của nhà thờ Domain sẽ đóng khoá cửa. Mấy người trong xóm và gia đình tôi cùng nhau đi ngang qua Tiểu-đoàn lính trấn thủ Thị Xã Đà Lạt, tôi ngẩng nhìn anh hiệu thính viên giữ máy truyền tin AN/PRC 25 đang liên lạc giữa Tiểu-đoàn và Đại-đội. Các chiến sĩ có người cài lựu đạn M 26, mang súng colt 45, có người mặc áo poncho ướt đang mở nắp bi đông uống nước, anh vác khẩu M 16. Bên chiến xa M 48 trọng pháo cơ động, mấy quân nhân nằm lăn lóc trên các nẽo đường, dưới ngọn đồi chiếm đóng, trên cành cây còn ngái ngủ. Người choàng áo ca pốt ngồi sưởi lửa trong cái chốt dựng tạm vài hôm nay, mấy anh hong đôi bàn tay sạm nắng trên bếp than hồng, từ những trái thông khô xẹt tia lửa ly ti nổ tí tách. Cành lá thông tươi chất thêm vào lửa, tỏa khói mù mịt và phả ra mùi nhựa thông thơm hăng hắc, nhưng thật dễ chịu. Họ hong lửa mong xua tan bớt gió rét vì cơn mưa trái mùa. Giá lạnh ban mai làm tê cóng người lính phong sương dãi dầu mưa nắng.

                                Tôi rất quý mến và kính trọng những người lính không quản ngại gian khổ, vì bản tính chiến sĩ đa số thích phóng khoáng, tự do, hăng hái, nhiệt thành, nhất là trọng danh dự lo bổn phận có trách nhiệm. Thời gian lạnh lùng nghiệt ngã trôi qua, họ không tính bằng gian lao cay cực, khó nhọc, hạnh phúc hay hoài bão, ước vọng. Khi mùa hạ tới, thu đi, đông về, xuân đến... đời chiến sĩ phong sương, dãi dầu nắng gió khuya chiều, không gian bàng quan chả nương nhẹ đôi tay: dù phũ phàng, cay nghiệt, và buốt giá. Niềm nhớ thương da diết mỗi lúc một hao gầy trong đớn đau thầm lặng. Khóe mắt lính choáng đọng huyết lệ bi ai cảnh chiến tranh quyết liệt. Chiến sĩ ấy chấp nhận chết ngoài sa trường vì quê hương, vì dân tộc, thì có sá gì cái lạnh rét run run ngoài da và gió buốt vã vô mặt. Nhưng chiến sĩ ấy đã chết lịm trong lòng, vì cảnh huyết nhục tương tàn thật vô nghĩa trước tiên do bọn khát máu “đều têu” gây ra. Họ phải dấn thân, vì rằng:
                                Bất dâng cao sơn, bất tri thiên chi cao.
                                Bất lâm thâm cốc, bất tri điạ chi hậu
                                (không lên núi cao, không biết trời cao đến mức nào.
                                Không xuống hang sâu thì không biết đất dày ra sao)
                                (tục ngữ)

                                Lần đầu tiên vấp phải sức kháng cự không tương xứng với đối phương, các chiến binh không dám ra tay càn quét cộng quân. Bởi vì, nơi vùng sẽ giao tranh tại khu Số 6 và khu Số 4 nầy, còn kẹt lại khá nhiều người dân vô tội trong tầm tay kềm tỏa. Khiến anh lính chiến có chiếc nón sắt rộng, thỉnh thoảng úp xuống tận sóng mũi, che cả cằm đến nồng ngộp nghẹt thở, hơi mỏi mệt, ngỡ ngàng, và bồn chồn xôn xao bâng khuâng làm sao ấy. Lính nằm ngửa trên đám cỏ bồng chờ đợi quyết định của chính phủ, anh bực tức, vác súng đi lui đi tới, bồn chồn đứng ngồi không yên. Người lính chiến biết nghe đạn xoáy rít bên mang tai ù ù, mà không có mũ sắt đội đầu thì e rằng đời đi đon. Anh biết bổn phận làm trai phải trả nợ núi sông. Lính gồm đủ mọi thành phần phong tục khác nhau, đã sống trên miền đất quê hương khác nhau, với hoàn cảnh gia phong và ước muốn càng khác xa nhau hơn.

                                Khung trời Đà Lạt se lạnh giữa lưng núi gom từng phiến mây bạc ùn ùn trôi dưới nắng vàng tươi rói. Mây phơi phới hào phóng bay bay khắp đỉnh đồi thông vẫn reo vi vu, quyện lẫn mùi hương hoa ngâu, hoa lý, hoa lài, hoa bưởi tỏa ra thơm thơm. Gió lồng lộng vỗ vào hàng hiên bên giại nứa sau hè nhà, phối hợp cùng bầy chim én lý lắc ríu rít vút vút bay lên bay xuống. Nắng và gió vô tình lùa tới, thi nhau đẩy khói lửa bốc cao vào cuộc chiến. Cho đến lúc chết vẫn tranh chấp kịch liệt những con đường nhấp nhô trồng nhiều hàng hoa anh đào, hoa xá lị, hoa mimosa óng ả lả lơi uốn khúc, lượn sóng vòng vòng quanh co ven đồi núi Đà Lạt. Khiến ta thèm những đồng bằng ruộng dâu, vườn bông cải su hào, những vườn mận, những đồi trà bạt ngàn đất đai phì nhiêu, cả những luống hoa muôn màu tươi đẹp, bao đồi thông ngút ngàn xanh um bóng mát.
                                Thế nên ta phải giành lại những gì đúng thuộc về riêng ta. Lính VNCH lũ lượt kéo nhau lên đây quyết giữ gìn thành phố Đà Lạt nho nhỏ; nhưng nổi tiếng xinh lịch quyến rũ nên thơ, nơi có những ông già bà lão chất phác thật thà, hiền hậu chăm chỉ làm việc. Nơi ươm nhiều mộng đèn sách chuyên cần và hải hồ phong sương của những chàng trai đơn sơ ôn nhu chớm lớn. Những nữ sinh nề nếp ngoan hiền “một dạ hai thưa”... thùy mị và đặc biệt đa số các cô hồn nhiên với… nụ cười duyên nồng nàn chúm chím, với… đôi mắt hồ thu long lanh tia nhìn trìu mến, với… "hai má nở hoa đào” có lúm đồng tiền rất xinh. Những em bé mủm mỉm ngoan ngoãn hiền lành dễ thương, tay chân mềm mại, các em có đôi mắt đen lay láy, hàng mi cong dài lưa thưa như đôi mắt nai, hai má em phúng phính trắng hồng. Nhìn thấy các em bé, không mấy ai mà chẳng có cảm tình với người Đà Lạt.
                                ***

                                Ngày cuối tháng Hai, cả nhà tôi dù lo lắng sợ hãi trăm bề, nhưng phải lò mò đến chân khu nghĩa trang số 4, vì bị bọn Việt+ lẽn về thành phố quậy phá, nên chúng tôi không thể đi viếng nghiã trang. (Không cứ gì riêng chúng tôi lo sợ, mà phải kể như toàn miền Nam Việt Nam ai nấy đều bàng hoàng thảng thốt lo lắng, khi người dân đang vui vẻ sum họp gia đình để đón Tết). Luật lúi húi đốt hương trầm trên những nấm mồ tổ tiên; nào ngờ có nơi đã phơi ra thi hài lõa lồ lắc lẽo, rửa nát, tanh hôi, sình bủng, không trọn vẹn hình dáng ai rải rác bên vệ đường ở thành phố cao nguyên Lâm Viên, chưa có người kịp nhặt đi chôn. Bỗng nhiên tiếng súng bên kia rau ráu ầm vang nhức nhối nổ thật rát tai, quá kinh thiên động địa, tạo thành một chiến trường bi phẫn, bạt ngàn khói lửa tuông về, chết chóc, rùng rợn, thê thảm sẽ ập đến nữa mà thôi! Chiến tranh ngang nhiên ngốn đi biết bao thanh niên trai tráng, và ông già bà lão trẻ thơ vô tội; kể cả động vật có hai chân, bốn chân, hoặc không có chân nào như giun, rắn... và bất động vật. Bất kể “chủng loại” nào, thế mà “bọn chúng nó” cũng chẳng từ nan. Chiến sự không tốt đẹp gì.

                                Phía Việt Nam Cộng Hòa chưa thể ra tay! Nếu có đề phòng trước, không bị bất ngờ, và có quyền quyết định như người xưa “tiền trảm hậu tấu”, vị tất bên phe ở miền Nam chẳng nhường cho “kẻ dị tộc” tràn vô Nam xâm lăng một tất đất. Lẽ nào chính phủ Việt Nam Cộng Hoà để “người lạ phương xa” tự do ra vào tung hoành, tranh phần lãnh thổ của riêng ta, mặc cho nó thao túng!? Vì chính bọn họ đã ngang nhiên vi phạm quy ước hiệp định “The 1954 Geneva Cease-fire Agreements” đã ấn định: chia đôi đất nước Việt Nam ra làm hai phần: miền Bắc – miền Nam tách bạch (riêng rẽ chủ quyền lãnh thổ). Lấy cầu Hiền Lương, vĩ tuyến 17, con sông Gianh làm mốc chuẩn mực. Dù phải chia lìa quê hương, xa nơi chôn nhau cắt rốn - Ngăn cách đôi bờ xót xa, tủi nhục, một sự tủi hờn điếng lặng đớn đau muôn đời khắc in vết chàm, không bao giờ kỳ cọ gột rửa sạch! Chính phủ miền Nam Việt Nam Cộng Hoà vẫn tôn trọng quy ước, tuyệt nhiên không xâm phạm lãnh thổ của ai. Cũng không so đo chịu chút “lép vế” do đã “nhường & nhịn”… là rõ có lòng nhân đạo tuyệt vời ra sao! Ấy vậy mà, những tên “bố tổ cha bác kia” đã làm động mồ động mả, động những ngôi cổ mộ tôn kính từ lăng Nguyễn Hữu Hào xa tít trên triền núi Cam Ly Thượng, chạy dài xuống nghĩa trang… động cả thánh thần muốn yên nghỉ giấc nghìn thu ngoài nghiã trang khu số 4. Ngay trên bàn thờ mọi gia đình cũng bị lật tung, ông bà tổ tiên bị dựng đứng dậy! Nhất là hương hoa đèn nến nghi ngút toả ra tại các chùa chiền linh thiêng, am tự, nhà thờ, nơi đình đám hội hè, mọi nhà cư dân yên ấm vui vẻ ba ngày Tết Nguyên Đán cổ truyền, đâu đâu cũng bị bốc cháy, rụi tàn.

                                Thảng thốt. Bàng hoàng tột độ. Thật phi đạo đức! Tôi thương những người chân thật, mềm yếu rụt rè, phần nữa là họ cùng tôi có những nét tương giao đồng cảnh ngộ. Mặc dù sự phòng tránh bom đạn ở trong nhà tôi chẳng chắc chắn chu đáo gì, Luật đã kê ở bốn chân giường lên những cục táp lô, rồi chất bao đất cát ở bốn phiá chung quanh giường đôi, làm thành căn hầm tạm trú. Nền xi măng lạnh lẽo được quét sạch và lau đi lau lại bằng khăn lông vắt khô nước. Tôi trải tấm nệm xuống nền nhà để ngả lưng. Mới bốn giờ chiều mà cả nhà lo chui vô “hầm trú” nầy. Buồn không nói nên lời! Ở thời buổi chiến tranh không biết nghỉ mệt, làm sao bây giờ? Không sáng tối nào mà tôi khỏi thấy đầu đạn mới, mìn cày xới trong vườn hoa trước sân nhà, trong phòng ngủ, phòng ăn. Có nhiều hôm đạn ghim vào nệm, vào gối. Dễ sợ chưa! Đầu đạn ghim vào vách ván thì không kể xiết. Tất cả cửa kính bể nát, tha hồ cho gió lạnh lộng hành rít vù vù, lật tung hết mọi trật tự trong gia đình. Mấy cái phuy chứa đầy nước uống đạn xuyên qua, nước chảy cạn xuống đáy thùng. Sáu bóng đèn điện trong nhà cứ vài hôm bị đạn "xơi tái" đi. Riết rồi trong nhà tôi, ngoài ngỏ, nơi đường cái tối thui, không còn một bóng đèn nào, Đà Lạt bấy giờ gần giống như "thành phố chết" ở nghĩa trang buồn khu số 4. Không ai có thì giờ nghĩ đến chuyện dọn dẹp nhà cửa khang trang tươm tất hơn.

                                Thế rồi chúng tôi không thể nằm lì ở nhà, mà phải bồng bế nhau chạy lên khu nhà dòng Domain lánh nạn, vì đạn nổ réo rát tai, tức lồng ngực kinh khủng, cư dân trong thành phố tôi ai ai cũng đi đi về về lánh nạn (người dân ở vùng nào, thì tạm lánh ở những cao ốc an toàn nhất của vùng đó, (ví dụ khu ở nhà Chung, nhà Bò… họ sẽ chạy vô núp trong nhà thờ Chánh Toà). Dưới khu Điạ Dư thì dân vô ngủ nhờ ở trường Grand Lyce’), vân vân... Bảy gia đình ở khu Mai Hắc Đế cuả chúng tôi cư ngụ gần dòng tu Domain de Marie (dòng tu có biệt hiệu là: “dòng Bác Ái của Bà Xơ áo Xanh”, còn có tên là “dòng Nữ Tu Mai Anh”, vì trên khu đồi nầy trồng toàn hoa Mai Anh Đào”). Sau vài ngày sửng sốt bàng hoàng dáo dác lấp ló nhìn nhau; thì mấy ông mồ côi (con nuôi của các Bà Mẹ dòng) không cho “cánh đàn ông ở ngoài Đời” (đây là “từ” mà các con nuôi cuả bà mẹ dòng Domain muốn ám chỉ về: -Những người ngoài đời ấy không phải là con nuôi, con mồ côi “thuộc quyền cai trị” của các bà mẹ dòng tu-). Mấy “ông mồ côi” không cho mấy “ông ở ngoài đời”, vào ngủ nhờ dưới tầng hầm.
                                Mấy “tướng mồ côi” nầy được các bà mẹ dòng Domain đi nhặt nhạnh ở đâu đó trong thành phố, hoặc vài nơi: Tỉnh, Thành nào… đã bị cha mẹ họ dã tâm bỏ rơi con. Rồi các bà dòng bác ái ấy cưu mang, ra tay làm phúc, gây đức, lụm khụm tay bồng tay dắt đùm túm tha nhặt mang trẻ không cha mẹ, tứ cố vô thân về nhà dòng, mà nuôi dạy cho nên người hữu dụng. Khi các bà có “cục cưng” thì ôi thôi họ lo nuôi nấng, ấp ủ cho “đàn con côi cút” có cơm ăn áo ấm mặc, học hành tử tế. Dĩ nhiên “các cưng” được các bà cho ăn cơm ngon và không khỏi với… ăn đòn (khi các con ưa quậy tưng trời)! Đàn con nuôi dần dà lớn lên thành nhân, thành tài, các mẹ dòng lại đứng ra dựng vợ gã chồng “hợp tác” cho con mồ côi có tổ ấm riêng. Các bà dòng làm một dãy nhà gỗ, hoặc nhà xây ở tít dưới thung lũng (khu đất rộng trong khuôn viên dòng). Các bà mong họ sống ấm no thoải mái, sanh con đẻ cháu ở đó cho tới già, tới chết. Khi họ lìa đời, mẹ dòng lại bưng họ đi chôn trong một góc tư điền tư thổ xa xa dòng Domain nầy. Đúng là nhà dòng bác ái Mai Anh!

                                Trở lại chuyện mấy ông: Mặc dù “mấy ông tướng mồ côi” dư biết bảy gia trưởng “ở ngoài đời” là những cư dân sống đàng hoàng, lương thiện, có công ăn việc làm cố định, có nhà cửa, đồng thời họ là hàng xóm láng giềng thân cận với khu đất dòng Domain. Ngày ngày mấy “tướng gia mồ côi” thường lui tới, ra vào nhà mấy ông “láng giềng bạn dân” ngoài kia; đôi bên vui vẻ la cà tưng bừng ăn nhậu lai rai. Chưa say, không đã, không xỉn, không quên nghêu ngao ca hát, đưa lui đưa tới: “anh hân hoan đưa em về, rồi thì em lại dùng dằng chẳng chịu chia tay, lôi kéo nhau… em đưa anh ra”. Họ “khắng khít” với đàn anh ngoài đời thắm thiết, chả chịu bò lết trở về nhà.
                                Thế mà hôm nay lúc bên ngoài súng đạn bay vèo vèo, nhưng “bạn mồ côi ấy” phớt lờ khoá chặt cửa nẽo, bình thản và tàn nhẫn đứng ở trong cửa hầm, vô tư lự nhìn ra nhóm đàn ông ở ngoài cửa. Dù mấy tay đàn ông đứng ở ngoài cửa hết hơi năn nỉ ba ông mồ côi thân quen gác cửa muốn gãy lưỡi, họ vẫn không cho mấy ông ở ngoài trời vào.
                                Luật giận run đã chưởi họ một trận. Anh nổi cộc dùng tay không đấm rõ mạnh vào một ô cửa kính, khiến nó bể nát, mảnh kính ghim vô bàn tay Luật, máu tươi chảy ròng ròng. Tôi xanh mặt, ớn lạnh và run lẩy bẩy không thốt nên lời. Luật xỉ tay vào bên trong cửa kính vừa bể, hét to:
                                - Không cho chúng tôi vào. Hãy mở cửa cho vợ con tôi ra ngay.
                                Bác Hải chống hai tay lên sườn:
                                - Ông không sợ lũ hèn nhát chúng mày. Nhớ nhá!
                                Báu rung mạnh cánh cửa bể:
                                - Bà dòng cho mọi người vào đó ở tạm. Chứ nào phải nơi nầy là của riêng bố tổ ...tổ cha chúng mầy, mà không cho ông vào. Hử?
                                - Chúng mầy là loài liu điu, nở ra dòng liu điu, mà cứ tưởng mình là chó sói, nên thị oai ở rừng ha. Có ngon, thì chúng mầy mở cửa ra đây. Sẽ biết tay ta.

                                May mà mấy cha nội mồ côi đứng lấp ló ở bên trong hầm. Chứ nếu họ đứng gần cánh cửa bể, thể nào cũng bị Luật thộp ngực áo lôi sát tới ngoài tầng hầm, thì... thể nào họ cũng bị “các ông ngoài đời” thẳng tay "nện, dần, đục, tộn" cho một trận nên thân. Kẹt lại bên trong hầm không ra được, mẹ con tôi thấy cảnh tượng Luật bị máu chảy ruột mềm, thì tôi đã chưởi vu vơ nhoi trời đất. Tôi bắt họ mở cửa lớn cho mấy gia đình chúng tôi (ở chung dưới xóm) đi ra. Nhưng tên giữ chìa khóa cửa lớn đã lủi trốn đi đâu, lúc nào không rõ.
                                Đêm đó, bác Hải, Báu và Luật nằm tơ hơ trống huếch trống hoác ngoài trời mà co quắp dưới chân bàn thờ bên hang đá Đức Mẹ, không mền chiếu. Vì có thiết quân luật sau 7giờ tối là không ai được phép đi loạng quạng ra ngoài đường. Trời Đà Lạt lạnh vào khoảng 10/o C. Họ cứng đơ như bị ướp đá. Luật giơ tay vuốt bầy muỗi rơi khỏi khuôn mặt sưng vù, dày cộm, muỗi tha hồ hút máu đông. Họ không còn cảm giác, gần như chết cóng. Dù cuống họng, lưỡi và môi không mấp máy trỗi nhạc, mà hai hàm răng va lộp cộp từng cơn run. Họ thức trắng đêm thì thầm cầu nguyện, mong bình an và cầu trời mau sáng. Nhìn chiến trường bốc lửa từ phía Khu Số 4. Khu Số 6, họ lo sợ kinh khủng!

                                Thỉnh thoảng hoả châu đỏ rực bầu trời suốt từ chập tối đến rạng sáng. Cứ mươi lăm phút thì súng lớn từ hướng Bắc câu đi đâu đó vút vút ầm ầm ầm. Súng nhỏ gần gần trong địa bàn thành phố lại nổ từng hồi pằng pằng pằng… Tạch tạch tạch… đùng đùng đùng. Ầm! Oành! Bầu trời rực sáng màu đỏ tía, do trực thăng bay vòng vòng rất gần đỉnh đầu chúng tôi đã khạc ra những tràng lửa đỏ lòm, những tia đạn dài ngoẵng vút vút lao xuống dưới, rồi bầu trời bỗng tối đen như đêm ba mươi. Trong đêm tối mà chứng kiến tận mắt những tia lửa từ nòng súng khạc ra, mới cảm thấy sự vô tri bạo tàn không kém phần oai dũng cuả súng ống lạnh tanh tua tủa bắn ra, để trừ kẻ gian đi xâm lăng. Khói bay toả trên tít tầng mây xám, không trung quyện lẫn màu khói pha sương mù mịt mùng. Mùi hôi theo gió lùa về khét lẹt, chua chua, thum thủm, hôi chịu không nỗi.
                                Suốt thời gian chiến cuộc, sau vụ Luật đã đấm bể ô kính cửa ở nhà dòng Domain, dù bàn tay anh băng bó rồi, nhưng máu vẫn rỉ ra, ban ngày Lâm đi làm việc, chiều chiều một mình anh đến nhà bác Chiểu ở đường Phan đình Phùng ngủ nhờ. Khi nào không có phiên trực ở Tiểu khu, choạng vạng tối Luật ghé tạt về nhà thăm chừng mẹ con chút xiú, là đi. Nơi chốn nầy khá hẻo lánh, ai nấy đều cảm thấy sợ.
                                * * *

                                Hôm nay thì chúng tôi bồng bế nhau lên ngủ nhờ trong dãy hành lang của Dân Y Viện Đà Lạt. Vào bệnh viện ngưởi thấy mùi nồng nồng, hôi hôi, tanh tanh, mùi thuốc sát trùng thật khó chịu, hầu như ai nấy muốn nôn ọe. Nhưng gia đình chúng tôi phải ráng chịu đựng. Mẹ chồng, tôi và hai con trai nằm đất ẩm ướt lạnh lẽo luôn luôn. Các con bị ho, sỗ mũi, nóng lạnh. Nhất là bé Tuấn ọc sữa thường xuyên. Mặc dù tôi đã mặc cho bé Dzũng và bé Tuấn áo lót, áo cánh, hai áo ấm, quần nỉ dày, mũ len, bít tất, mền bông ủ kín cả người. Nhưng các con bé bỏng đã chịu cảnh gió sương, lạnh lẽo quá chừng không thể ấm hơn, vì hiên ngoài lồng lộng gió và sương muối đặc sệt giăng mắc. Tôi quá đổi buồn phiền, thương các con, lo lắng vô cùng. Tôi thương bé Tuấn chưa tròn hai tháng, con nhỏ xíu còn đỏ hỏn mà ngày ngày tôi bế con đi ngủ nhờ ngoài hành lang lạnh lẽo lắm. Sáng sáng tôi lại bế con về nhà, giữa nắng mưa sương gió khuya chiều lạnh buốt xương sống.
                                Đêm đêm súng đạn vang rền, tại bệnh viện tôi vẫn chứng kiến quá nhiều cảnh đau đớn, rên siết, chết chóc của người già có, trẻ có, đang mang bệnh tật, kể cả thương binh trào máu tươi. Cảnh nào cũng đau đớn khổ sở, đắng cay như nhau. Tôi cảm thấy sợ kinh khủng khi ngủ gần người bệnh đang dẫy đùng đùng vặn mình chờ chết, ngủ gần nhà xác. Khi nghe tiếng súng, mọi người với phản ứng tự vệ tự nhiên, ai ai cũng ngồi bật dậy, lao xuống đất và chui vào gầm giường, gầm bàn. Trước muôn vàn chinh chiến điêu linh tang tóc, khổ sở đã vỡ bung ra trên mọi miền đất nước thân yêu, không một ai vô tình trong cơn quặn đau thắt ruột lịch sử dân tộc Việt Nam, là nỗi nhục nhã ê chề, đớn đau gớm ghiết, tủi hổ tột cùng. Triệu triệu người từng chứng kiến qua nhiều góc cạnh cuộc đời khác nhau, nơi bề trái lịch sử: Tham tàn, cuồng loạn vụng về núp bóng dưới lớp mây đen u tối nghịt trời, đang tỏa sức sống trên vòm trần kính.

                                Thời gian thấm thoát trôi qua… bé Tuấn vừa được ba tháng, con biết lật vào một buổi tối nằm ngủ nhờ ở góc hiên ngoài bệnh viện. Mẹ chồng, tôi và bé Dzũng vui mừng sảng khoái cười la thật to, vỗ tay reo vui hoan hỉ. Đó là niềm vui mừng trong veo, duy nhất có tiếng cười hồn nhiên thoải mái kể từ hôm chạy giặc! Tôi vui mừng hết sức. Tôi cầu mong cho các con hay ăn chóng lớn, gia đình an mạnh một phần. Phần lớn nữa là mong quê hương sớm yên ổn, để chúng tôi và mọi người trở về ngủ dưới căn nhà bé nhỏ đơn sơ, tránh khỏi cảnh ăn đậu ở nhờ nơi đầu đường, xó xỉnh bẩn thỉu và buồn da diết thế nầy. Do vui mừng cười to khi bé Tuấn biết lật, chúng tôi đã quên chuyện đi ngủ nhờ ngoài hành lang bệnh viện, khiến mấy cô y tá trực bệnh viện không hiểu chuyện gì, họ lo sợ mở cửa dáo dác nhìn quanh. Mẹ con bà cháu im bặt, chúng tôi sợ họ bực mình, sẽ đuổi chúng tôi đi không cho tá túc ở xó góc nầy, thì biết trông cậy nương nhờ vào đâu!

                                Kẻ xâm lăng thành phố Đà Lạt như thế đã chiếm tới cuối tháng Hai ròng rã trôi qua… Chiến cuộc cứ thế bên thủ bên nằm, đôi khi quân lực Việt Nam Cộng Hoà tiến lên từng bước, từng bước tiến vào cửa ngỏ loạn ly. Dù lính có kế hoạch quy mô, có sách lược điều quân, và nguyên tắc phối hợp hành quân từ lăng kính thuần tuý quân sự. Nói nôm na hơn là sự tranh giành đất đai, quyền lực “với nhau”, việc nầy không phải đỗ lỗi là vì do chiến tranh, hay không chiến tranh! Phía nào không củng cố, không bảo vệ, không cẩn trọng, là mất! Nói một cách thẳng thắng lạnh lùng hơn: nếu không có bổn phận trách nhiệm, mất cảnh giác– thì sẽ mất tất cả! Nhưng bắt buộc quân nhân Việt Nam Cộng Hoà phải uể oải nằm ù lì phơi nắng phơi sương, dầm mưa nướng mình trên đất cỏ, để chờ đợi lệnh trên ban xuống. Lính ngao ngán mỏi mòn chờ đợi… rồi đợi chờ… lệnh tổng tấn công. “Trò đánh giặc” nầy tương tự như “trò chơi đánh bạc”, ta cay cú vì thua mất tiền trong ván bài ấy, do ta không đoán biết trong lòng cuả cái tô úp trên diã đặt ở manh chiếu kia là: chẵn hay lẻ!? Thì khi ta thua, ta phải nghỉ vài ván, để tìm “đối sách”. Tất nhiên người cầm cái tuyệt đối không muốn nghỉ, (nghỉ là đồng nghiã với thua). Họ nghỉ tức là buông mất cơ hội tốt lành vơ vét tiền khi “con bạc” đang say nước cờ đen đỏ!

                                Lính nằm dưỡng sức trên đám cỏ bồng cũng thế! Muốn thắng địch quân, người Lính TRUNG, TRÍ, NHÂN, DŨNG không những cần có vũ khí, mà còn cần: Kiên nhẫn, dũng khí và ý chí. Từng đường máu cộm phồng co giật bên mang tai người lính phong sương dãi dầu mưa nắng, có một sự kiên định và vững chãi. Một số Lính Thủy Quân Lục Chiến các vùng khác biệt phái, Bộ-Binh, Biệt Động Quân nằm ép bụng sát đất, họ xã láng cuộc đời trên những thăng trầm đen đỏ số phận, xây dựng tình yêu nơi hoang tàn quê hương đổ nát. Mặc bao mưu toan đen đỏ trong cơn lốc chính trị lịch sử dùng dằng đẩy đưa, đầy cay đắng.
                                Về phần dân thị thành Đà Lạt thì bị cô lập mọi mặt, mọi ngã đường ở nơi “khỉ ho cò gáy” chỉ có thông reo triền miên, có một đường “lả lướt lên đào nguyên” thơ và mộng, mà khi muốn về… thành phố, ngộ lỡ như con đường “độc đạo cách trở mấy nhịp cầu bị gãy”, thì kể như thành phố Đà Lạt đã “bế quan”, thì coi như sẽ đói dài dài… vì "ngăn sông cách núi" chẳng có các vựa lúa, xa biển cả đầy cá tôm, không có lối đi tiếp tế lương thực! Cả bầu trời Đà lạt dường như thu gọn lại trong chiếc máy xay sinh tố cũ khô khan kêu cót két, rít rít, ù ù rột rột quay lông lốc, nghe điếc ù cả tai, xốn xang, nghẽn nghẹt buồng tim lá phổi. Ưu điểm của Đà Lạt là thành phố thơ mộng kiều diễm đầy quyến rũ du khách, thành phố núi có không khí trong lành thanh thoáng mát mẻ. Người dân Đà Lạt thân thiện, niềm nở, hiếu khách, vui vẻ an hoà. Yếu điểm của Đà Lạt là chỉ có con đường “độc đạo” -đi và về- một lối quanh co uốn lượn lên chóp đỉnh đào nguyên trong vũng sương mù... Đặc biệt thành phố của tôi mặc dù có ngã ba ngã tư... nhưng không có những cột đèn đường màu vàng màu đỏ màu xanh!

                                Bầu trời bao la càng trống trải, trực thăng bay lừ đừ như con chuồn chuồn ốm, dễ làm mục tiêu cho các họng súng cối ở nơi xa xa dựng đứng dưới đất chĩa thẳng lên trời, súng bắn từng phát (nghe dường như về hướng khu Số 6 hay Tùng Lâm thì phải). Suốt hai ngày đêm, loa phóng thanh trên phi cơ chĩa xuống đất, kêu gọi người dân ai còn mắc kẹt giữa hai lằn đạn, hãy cố gắng di tản ra khỏi mục tiêu sẽ quầng thảo. Họ (Việt Cộng) tự động tổ chức nhân sự bị kẹt lại ở đây, thành từng tổ tam tam. Họ vừa xoa, vừa tuyên truyền, vừa đánh đập, để kích động tâm lý trong lòng “kẻ bại”!? Trong khu Số 4, Số 6 đó, đa số dân lành còn bị kẹt lại vô tình làm bình phong, làm mấu chốt đỡ đạn. Họ bắt dân đen khiêng vác đất đá, đào hầm hố trú ẩn, rất cực khổ, ngỏ hầu trốn bom đạn, mà dân bị nhịn ăn. Vã lại ở trong vùng tạm chiếm nầy, làm gì có họp hành chợ búa, không ai có thể mua lương thực ăn uống!

                                Trời đổ mưa tầm tã, mưa trái mùa suốt từ trưa tới chiều, hạt mưa xiên xiên to tròn nặng hạt rơi lộp độp trên mái ngói mãi hoài không dứt, gió lồng lộng thổi vun vút theo dọc hai hàng hiên. Non vài giờ sau là cả đỉnh núi Lâm Viên tuyệt diệu xứ hoa đào thơ mộng cũng không được chú ý bằng mỏm đồi khu Số 4. “Khu Số Bốn”! Đại danh ngữ ấy mới thoảng nghe qua thiệt “quê quê”, nhưng đầy nồng ấm ngọt ngào mật thiết tình quê hương, dịu dàng êm ả thân mến, chất phác, mộc mạc, đơn sơ gần gũi như tính ngữ danh xưng. Thân & thương làm sao! Nồng thắm trìu mến dường bao! Ấy thế mà suốt bao ngày qua chiến tranh tàn ác đang bám riết lấy nó. “Kẻ lạ” nhanh như sóc, lủi như chuột chù, chuột hôi len lỏi vào mọi ngóc ngách, họ ở lì trong nhiều nhà. Bắt dân đào hầm hố, len lén trèo qua những hàng rào, lủi sâu vào vườn tượt nhà dân. Họ leo trèo lên cây quả, vụng trộm thập thò rình mò dáo dác dòm ngó, coi rất gian, rù rì to nhỏ, nhìn trước ngó sau, lấm la lấm lét như kẻ cướp cạn. Chiến tranh không tốt đẹp gì. Chưa thể phân định đâu đúng đâu sai, đâu là điều hay lẽ phải. Chưa thể, chứ không phải là không thể. Nhưng chắc chắn một điều chính xác là “bên kia” đã hoàn toàn sai trái luật -do vi phạm hiệp định công ước quốc tế-, họ đã cố tình loang vết nhơ, sóng thần cào cuộn từng dòng máu chảy ruột mềm.

                                Trực thăng bay lượn chậm chạp, từ trong lòng phi cơ tung thả vô số truyền đơn xuống đất, che mờ một góc trời miền núi. Thỉnh thoảng có nhiều tiếng súng rời rạc. Ùm… ùm… Ầm ầm… cắt… bụp… xè… rào rạo. Thật chói tai dễ sợ. Thế mà đằng góc trời nầy, mấy chú chuồn chuồn sắt cứ điềm nhiên, tỉnh bơ lượn qua lượn lại trên đầu chúng tôi. Dường như họ coi đó là chuyện nhỏ, chả có gì quan trọng khi cơn binh lửa bừng bừng thổi về! Vì, phi vụ của họ là ủy lạo đồng bào, dùng truyền đơn từ trong lòng phi cơ vừa rải xuống đất, ngỏ hầu chỉ dẫn dân về cách di tản. Ấy là những tấm giấy phép có uy tín, hiệu lực, để mọi người dân còn mắc kẹt trong khu vực Số 4, Số 6, Tùng Lâm... vân vân… bị tạm chiếm, “dân ta” có thể đi ra an toàn khỏi vùng phong tỏa. Đồng thời loa trên trực thăng vẫn kêu gọi “hàng binh” ra đầu thú, thì sẽ được chính phủ Việt Nam Cộng Hoà khoan hồng ưu đãi. Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà luôn khuyên "Vi ci":
                                - Hãy buông tha người dân vô tội đi.
                                * * *

                                Quê hương đầm ấm dịu ngọt đầy chất thơ và nhạc thông trữ tình reo vi vu cuả tôi đó, cũng như nhiều nơi khác trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam đã không thoát khỏi cảnh xâm lược nghịch lý hung tàn của bè lũ Việt+. Khi vấn đề chiến tranh thật sự phức tạp, làm điên đầu các vị nguyên thủ quốc gia. Người khôn ngoan (của người khôn ngoan nhất), bình tĩnh sáng suốt, có lập trường dứt khoát, kiên định, cần giành lại từng tất đất, từng thành phố. Tất nhiên họ nhanh chóng đánh đuổi “bè lũ khát máu” đi khuất dạng (mỉa mai thay người dân da vàng mũi tẹt, đầu đen máu đỏ, sống từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau), từ phương Bắc họ chuyên mò mẫm đi đêm, xâm phạm qua vĩ tuyến 17, để xâm lăng phần đất của miền Nam Việt Nam. Gây nên cảnh chiến tranh tàn khốc, chém giết, nồi da xáo thịt quá kinh hoàng thế nầy ư!? Dân chúng nhìn chiến cuộc xảy ra rất gần, với vẻ tò mò nhút nhát, hiếu kỳ không chịu nỗi. Phải! Bên muôn nấm mồ tàn rụi hương nhang, là sự gặp gỡ giữa trùng trùng lớp lớp khuôn mặt lạ xa, hiện diện trong cuộc chiến phức tạp quá cay đắng. Lính miền Nam Việt Nam Cộng-hoà mang đến cho ta sự hy vọng và niềm tin tưởng bừng sáng, nụ cười rộng mở, ước mong an bình, thư thái, ôn hòa, từng ngày, từng giờ, lẫn trong chung cuộc sớm kết thúc. Dù chắc chắc cuộc sống không hứa hẹn an thư dễ chịu chút nào.

                                Ngoài dãy hành lang của khu bệnh viện Đà Lạt, người người tới tấp tha bùn sình, bê bết đất đỏ bẩn thỉu lê vào trên thềm nhà thương, nền xi măng ướt nhẹp nước mưa bì bỏm, lủng bủng, tanh tanh. Chúng tôi không thể ngủ nhờ ở góc hành lang nầy như mấy ngày qua, nên gia đình tôi đành phải “làm mặt mo” xách chiếu mền lết bết, lội đồi cỏ trũng nước mưa băng qua đường Trần Bình Trọng, để xin vô ngủ nhờ. Vừa chân ướt chân ráo lọt vào được trong khu tầng hầm, tôi mệt mỏi đứng thẫn thờ nhìn quanh. Chưa tìm thấy có chỗ nào còn trống, thì hai cánh cửa lớn kiên cố dẫn vào hội trường sau lưng tôi bị ai đó đóng ập nhanh, khóa chặt. Người giữ chìa khóa đã lủi vào trốn núp trong nhà dòng. Ông ta chẳng bao giờ nở nụ cười thân thiện với người chung quanh, có lẽ do ông nhát hơn cáy! Hoặc không muốn chứa thêm người lạ, sợ "bọn lạ" trà trộn vào ẩn nấp, sẽ thừa cơ hoạt động bí mật chăng?

                                Ba khu tầng lầu của nhà dòng Domain: tất cả cửa sổ nhà thờ có những bức ảnh kính màu thủy tinh trang trí hình các thánh xưa tuyệt đẹp, đều vỡ nát, rơi loảng xoảng khắp mọi nơi, rơi xuống tận khu tầng hầm. Từ dưới mặt đất của tầng hầm khu Domain ngó lên hàng cửa kính, (cao khoảng chừng bốn mét), tường đá phẳng lì, không có thể với tay lên hàng cửa sổ nhỏ ở tít chóp trần trên cao. Dù mấy tay đàn ông to lớn kia đã chồng chất hai cái bàn, họ hy vọng trèo lên đó, dáo dác nhìn ngó lung tung ra bên ngoài, thăm chừng. Người ta, nhất là tôi cảm thấy vô cùng hối hận, vì tại sao ta không tìm nơi thuận tiện; hay mình tự đào hầm đào hố ở nhà riêng, mà ẩn nấp cho an toàn? Hoặc trốn núp tại tư gia nhà ai có hầm hào kiên cố. Có phải là hơn không, mà dồn cục một chỗ đông người như kiến thế nầy. Mình tự chui vào cái hầm nhốt người kín bưng, to khổng lồ, chẳng khác chi tự đem thân vô cửa tử.

                                Dưới tầng hầm thì người đạo Thiên Chúa đang lâm râm đọc kinh cầu nguyện, sám hối, đấm ngực ăn năn tội thống thiết. Đạo Tin Lành úp mặt trên hai bàn tay, run rẩy đọc kinh thánh. Phật Giáo niệm Phật, tụng kinh cầu khẩn Đức Phật Thích Mô Ni Ca rất chân thành. Cao Đài, Hòa Hảo bi thiết gọi tên Trời Phật, gọi tên các giáo chủ. Trong nguy cơ bị hủy diệt tập thể thì lành ít dữ nhiều, người ta không phân biệt giàu nghèo, đảng phái, tôn giáo. Vì tôn giáo nào cũng khuyên con người hướng thiện, luôn làm lành lánh dữ, chia sẻ, dùm bọc, bác ái, yêu thương. Tôn giáo cũng như gia đình là nền tảng của xã hội: có nề nếp gia phong, có tôn ty trật tự, biết tôn trọng tự do và nhân phẩm. Giờ phút thập tử nhất sinh gần kề cửa tử thần, họ tự động mở rộng vòng tay thân ái, ngỏ hầu chia sẻ, tìm đến với nhau, mong vơi hận sầu, thân thiết ôm chặt nhau, tựa vào nhau vỗ về an ủi. Họ thành tâm khẩn cầu van vái xin bình an rót xuống mọi nơi, nồng nhiệt kêu xin ơn Trên hãy ra tay cứu giúp tất cả mọi người.

                                Bây giờ là mười hai giờ trưa, trên trời trực thăng luôn bay lượn ì ầm, loa phóng thanh liên tục gọi đồng bào nhanh chóng tìm nơi ẩn nấp an toàn, vì tụ điểm giao chiến kịch liệt sẽ là chung quanh khu vực nhà thờ Domain de Marie. Ôi Trời ơi! Vậy chết là cái chắc rồi! Non giờ sau… Không thể tưởng tượng nỗi khi lựu đạn ì ì ầm ầm nổ, súng lớn, súng nhỏ rào rạo bay. Đạn vun vút vèo vèo bay xuống, bay lên, bay qua, bay lại: Đùng đùng đùng… Pằng pằng pằng… Róc róc róc… Ùm ùm ùm… Oằng ùm… bay tới tấp trên đỉnh đầu người dân đang ẩn nấp dưới tầng hầm cuả ngôi giáo đường kiên cố, ép lồng ngực mọi người như vỡ tan ra từng mãnh. Ngoài sân nhà thờ đã có tàn quân “Vi ci” nép bên hông trên nhà thờ đang cố tìm đường trốn chạy tháo thân về khu Số Bốn.

                                Thỉnh thoảng mấy tay Việt+ chĩa súng lên trời bắn vài chiếc phi cơ trực thăng, bắn lép tép cắt cắt… bụp bụp… xè xè… từng phát súng nhát gừng nổ vu vơ. Qua những trần kính bể tôi thấy rõ trực thăng bay ầm ầm, tràng đại liên tóe lửa nổ rền rất to. Phi cơ lượn qua lượn lại vòng vòng quanh nóc nhà thờ Domain. Những viên xạ thủ đeo mặt nạ mặc áo giáp ngồi trên ghế chiã họng súng xuống đất, khạc từng tràng rocket róc róc róc… xíu xíu… xít xịt… Nghe tiếng đạn nổ ta có thể phân biệt tiếng súng "phe ta", hoặc tiếng súng "kẻ thù". Dù ban ngày mà toé lửa qua họng súng đỏ lòm, đạn vùn vụt bay xuống hông nhà thờ. Vô cùng chát tai rùng rợn kinh khủng!

                                Thế là trong tầng hầm người ta đồng loạt nhốn nháo, hỗn độn, bừng bừng dâng cao nỗi lo sợ tột cùng: Già trẻ lớn bé không chừa một ai đều rú to, khóc inh ỏi, kêu cứu, rên rú, hét tướng lên to hết biết. Người ta dồn chặt cứng vào một góc chật như nêm, rồi đùn lại với nhau ở cuối tường hầm nhà đá. Họ dày xéo lên nhau, dẫm đạp lên nhau, bất kể người khác tắt thở, chết ngạt. Vài ngàn người tránh những ô cửa bể, nên dồn cục trong góc kẹt xó vách tường đá cho chắc ăn, họ đè nhau bẹp dí thành một đống, chồng chất lên nhau tại một chỗ. Người ta không còn liêm sĩ, chả cư xử nhã nhặn làm gì. Mặc xác! Người nào đang đứng ở bên ngoài, thì cố dằng kéo người đứng ở giữa ra, để họ chui tọt vào đám đông mà ẩn nấp, cho an toàn chính thân, cần riêng bản thân ta an toàn thôi. Nơi xó xỉnh ngột ngạt tối mờ khói thuốc súng, họ không muốn súng đạn nhìn thấy, chỉ cần súng đạn và Việt-cộng trên kia đừng nhìn thấy mình. Bản năng tự phát cần tự bảo vệ sinh tồn là điều tiên quyết, nếu có ai đối xử với đồng loại tàn nhẫn, có tỏ ra thô lỗ, hỗn loạn đến bàng hoàng, âu đó là tất nhiên, cũng đành. Mặc kệ. Ai ai cũng sợ súng đạn hơn cả mọi thứ trên đời! Là đủ.
                                Lạy Trời xin tha thứ. Ấy thế mà súng đạn vô tình cứ bắn càng lúc càng rát bỏng, tai ù ù, điếc đặc. Rồi đạn cay, đạn ói, đạn khói, đạn mữa, khói thuốc súng, lựu đạn hoả mù tuông theo các khung cửa sổ bể tới tấp bay vào dưới tầng hầm. Tại tầng hầm nầy không có người nào có kinh nghiệm trong chiến tranh để hướng dẫn, vã lại giờ nầy không ai chịu nghe ai chỉ huy, mạnh ai nấy bon chen, hầu mong sống còn với đời. Đoàn người tị nạn hỗn độn hết biết (như bầy gà vịt nhốn nháo, bay lung tung, kêu quang quác khi con sói đến cửa chuồng). Nước mắt nước mũi ai ai cũng chảy tùm lum tà la. Họ ói mửa nôn ọe, hỉ mũi sột sột lên đầu lên cổ nhau. Thật kinh khủng và kinh tởm vô cùng.

                                Tôi thật giận Luật, vì hôm ấy tự dưng anh nổi sùng đấm bể một ô khung cửa kính làm chi, (khi anh không được mấy ông mồ côi cuả mẹ dòng Bác Ái Mai Anh cho Luật vô trong hầm trú ẩn), anh trét máu cục đông cứng trên miếng kính bể, máu còn đó; vô tình anh đã làm “đầu têu” làm gì, mà bây giờ mọi cửa kính cuả nhà dòng Domain đã vỡ toang, mùi khét cuốn theo chiều gió bay vào, càng hôi kinh khủng vậy!? Cạnh đống đồ đạc ngổn ngang trong tầng hầm có từng dòng máu tươi của ai đó trây trét bừa bãi; cũng do những bàn chân ai đó vừa đạp lên mãnh kính vỡ, họ tha lê lết đi khắp mọi xó, máu tươi loang ra, loang ra... trộn với nước đái và phân trẻ con ị vãi ra bừa bãi. Người ta lớn giọng la hét, tru hú, rú rên, khóc hụ hụ hụ từng cơn. Nghe rùng mình dựng đứng tóc gáy.

                                Bỗng cánh cửa chính (khu nhà hầm có hai lớp cửa sắt chắc chắn) là cửa ngoài của khu từng hầm bằng sắt dày cui, vừa bị ai đó gài mìn ở phía bên ngoài, đã nổ tung. Toà nhà thờ đồ sộ rung rinh, tiếng rền rền âm âm nghe rất hãi hùng, mái ngói nhô lên hụp xuống rêm rêm, gầm gừ tha hồ rớt xuống rào rạo, loảng xoảng. Gạch đá vôi vữa rơi rào rào, dường như ngôi nhà đồ sộ đang tự đào hố để chôn vùi tập thể dân lành di trú xuống đáy mồ!? Thế nhưng sao tôi thấy cánh cửa sắt trong lớp thứ hai nầy vẫn chưa chịu bung ra? Cảnh ồn ào huyên náo, càng sôi sục, nhốn nháo cồn cào, náo loạn gấp ngàn lần trước. Kinh khủng! Kinh khủng trầm trọng! Người ta lại dày xéo lên nhau, dẫm đạp lên nhau, lôi kéo, giành giựt chỗ trốn, nên họ húc bừa vào nhau. Họ xô nhau chạy qua bên góc tường phía trái của căn hầm, nơi chưa bị rớt gạch và ngói, có cánh cửa phụ. Cửa hông nầy cũng làm bằng sắt dày kín mít. Tự dưng họ lại ùn ùn kéo nhau chạy qua bên phải. Họ cứ huà nhau chạy qua, rồi ùn ùn chạy lại. Xô nhau chạy theo sau lưng nhau, bất kể đàn bà trẻ con ốm yếu chết ngạt dưới chân. Bất kể tiếng la khóc, gào thét vang lên chát chúa. Tôi nghe thật hãi hùng, rùng rợn như nghe con dê, con heo, con bò, con trâu, con cừu bị chọc tiết, đang trợn mắt le lưỡi, rống rú man dại trong khu lò mổ ở ba toa.

                                Gia đình tôi (và mấy gia đình bạn cùng xóm) biết khôn hơn, chúng tôi không chen lấn đến chỗ đông người, nhưng trong lòng cảm thấy rất ân hận, vì mấy mẹ con tôi hôm nay xui rủi làm sao, tự dưng... do nền nhà ở bệnh viện ướt nhẹp, nên chúng tôi lại chui vào ẩn núp trong hầm nầy. Thế mới đau khổ. Chúng tôi ngồi bệt dưới gầm bàn, lỏ hai con mắt ra thật to, miệng há hốc, hai hàm răng va vô nhau lộp cộp, hai đầu gối nhịp nhàng run rẩy, mà thấp thỏm nhìn người đàn ông đang nhảy lên cái bàn khác để đánh trống, tiếng trống dù làm chúng tôi điếc tai nhức óc và choáng váng. Nhưng chúng tôi tránh được cảnh tượng xô đẩy vùi dập nhau đằng kia vô cùng dã man và ác ôn. Đó là người đàn ông trung niên sĩ khí dáng vóc khỏe mạnh, mặc áo sọc xanh, quần tây đen, dù qua nhiều đêm âu lo thức trắng, mái tóc nhuốm bạc. Ông ta thấy cảnh xô xát cuồng nộ thật đáng xấu hổ, nên ông ta bèn nhảy lên mấy cái bàn gỗ chất đầy ghế dựa. Ông ta cầm trên tay một cái vồ, và đánh rất mạnh vào chiếc trống trường học đang treo lơ lửng trên đà ngang. Tiếng trống nghe rất tức ngực và điếc con ráy. Mọi người đứng ở góc tường quay lại, trợn mắt, im bặt, lo sợ rợn tóc gáy, sửng sốt ngó quanh. Họ không biết chuyện gì xảy ra. Ở đâu? Ông ta kêu gọi mọi người cố giữ trật tự, im lặng ngồi xuống tại chỗ, không ồn ào chen lấn. Ông giải thích về sự lâm nguy:
                                - Trước khi chui vô đây, tui đã thấy có người chết cháy đen thùi lùi ở trển. Khi qúy ông bà anh chị em ở trong khu hầm trú dồn nén xô đẩy, dẫm đạp lên nhau, ồn ào. Ta không nghe được động tĩnh bên ngoài kia, thì chẳng khác nào: "lạy ông tui ở bụi nầy", sẽ tạo cơ hội thuận tiện cho Việt-cộng đã đứng rải rác trên sân nhà thờ, họ sẽ phá một cánh cửa nữa, là tràn vô đây. Họ sẽ lấy dân làm bình phong mà đỡ đạn. Thì chết hết cả đám.

                                Nghe thế, mọi người càng nhốn nháo, xì xào, dáo dác, tiếng ồn ào đồng loạt rộ to. Bỗng im bặt như ngọn đèn dầu phụt tắt trước gió. Mặt mày ai nấy xanh lè, tay chân run rẩy, họ cố bám bíu vào nhau… lết nhè nhẹ đến gần chỗ khuất kín hơn, và im thin thít. Đúng là chỉ cần nghe tên "Việt+" là... là mọi người muốn té đái! Khi đó, tôi nghe bên dãy nhà của các mẹ dòng đọc đoạn kinh lạy cha, rồi nhiều tiếng hát nhạc thánh ca cầu xin bình an vang lên. Sự im lặng bao trùm cả căn hầm kéo dài dường như rất lâu, lâu lắm.

                                Ba giờ chiều, trên trời L19 và trực thăng luôn vù vù bay lượn, dưới đất lính Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà và Thuỷ Quân Lục Chiến mặc quân phục, chân đi giày botte de saut, đầu đội nón sắt, lưng đeo đầy đạn, ngực móc hai quả lựu đạn. Họ mang súng máy lên đạn trên nòng, lăm le chĩa mũi súng về đằng trước, ngón trỏ đặt trong nòng. Đoàn quân nhanh chóng leo lên từ hướng nhà Thương, từ hướng Mai Hắc Đế, đường Hai Bà Trưng và Ngô Quyền. Họ tràn lên khu đồi Domain, chia ra bọc hết toàn diện khuôn viên nhà thờ Domain. Sau cùng họ vào hầm trú đang chứa lương dân, đi một vòng lục soát mọi cửa nẽo, ngỏ ngách, xó xỉnh. Rồi lính giàn ra thành hai hàng ngang, một toán lính khác súng vẫn chỉa về hướng chúng tôi, bạn của họ cấp tốc cứu nguy những người bị thương, chết nghẹt, hoặc đã chết. Họ làm việc gọn gàng và nhanh thoăng thoắt.
                                Tất cả dân chúng ở trong căn hầm nầy đều im phăng phắc. Chả bù cho lúc nãy căn hầm ồn ào hơn ong vỡ tổ muốn đinh tai nhức óc. Vị sĩ quan chỉ huy dõng dạc kêu từng gia đình ở trong hầm hãy xếp thành hàng dọc, từ từ từng tốp một, từng người bước chầm chậm ra ở ngoài khu chỗ trống, ngay tại trong tầng hầm của nhà thờ. Khi vị sĩ quan đã đếm tất cả đầu người trong hầm xong, ông ta bảo cánh đàn ông, thanh niên, thiếu nữ, tuần tự đi qua bên góc trái căn hầm. Từng người một riu ríu trình báo giấy tờ tuỳ thân xong, thì làm ơn vui lòng lấy hai tay đan lại, giơ cao để trên đầu, ôm ra sau cổ. Ông già bà lão lụm khụm đàn bà và trẻ con: thì đứng qua bên phía phải, theo hướng chỉ của anh lính phụ tá. Lính yêu cầu những ông bà có con thơ bận rộn ở trong hầm của nhà thờ, sau khi trình diện, từng người một đi ra khỏi tầng hầm của khu nhà thờ Domain.

                                Đồng bào đông đúc đi giữa hai hàng quân lính nghiêm trang đứng bồng súng gác ở ngoài sân. Mọi người tay xách tay mang. Tay bế tay bồng. Họ lục tục ríu rít và trật tự kéo nhau ra cửa. Họ chạy xuống ngồi bên cạnh hang đá Đức Mẹ. Hoặc dân bò từ từ xuống chân nhà thờ, lủi nhanh về hướng Cẩm Đô. Họ chạy qua lối bệnh viện Đà Lạt. Một tay bế con trai Tuấn ba tháng tuổi, khuỷu tay tôi lại kẹp chặt cánh tay bé Dzũng lôi con xềnh xệch theo mình!?, ba mẹ con chạy ra ngoài sân sao nhanh đến thế! Quả thật tôi tự khen tôi tài tình khi quắp hai đứa con nhỏ vào lòng, và cả "gánh” thức ăn, đồ dùng nữa. Từ trên dốc đồi cỏ Domain cao gần như thẳng đứng, tôi ngồi thụp xuống, hai chân chuồi thẳng về trước, lết và tuôn xuống như khúc cây tròn.
                                Trước khi tuột dốc, đầu tôi trùm khăn, với áo len lông xù, áo manto, nên mới thoạt nhìn ai cũng có thể nghĩ là tôi mập ú tét. Toàn thân tôi toát mồ hôi hột giữa nắng xế oi ả, (nhưng tôi lạnh run vì sợ hãi). Chân tôi mang bít tất, chiếc giày thấp run lẩy bẩy trong cổ chân. Còn chiếc kia bay mất lúc nào không rõ. Tôi mặc cả thảy năm chiếc quần mỏng, bị vướng móc vào thép gai, đã rách toạt ra tự bao giờ không biết. Khi cùng những người khác ngồi yên ổn dưới hang đá, lúc đó tôi cảm thấy đau nhức rần rần ở hai mông. Rờ tay vào, tôi mới biết là mông tôi bị chảy máu khá nhiều. Một bàn chân rơi mất chiếc giày, thì ra lúc nãy tôi đã đạp lên xác chết ở trên sân nhà thờ. Chiếc tất trắng nõn dính đầy máu tươi. Ui trời ơi! Tôi sợ mất hồn, mất vía. Tôi đã thấy hai xác người trợn mắt phơi thây mà. Có một ông co quắp. Một ông nằm ngửa tênh hênh trên vũng máu. Chiếc áo màu cải úa chỗ thâm đỏ, chỗ tím bầm. Khô đọng. Ruồi bu đen nghịt trên thân thể họ. Cạnh đấy có hai cây khiêng bằng tầm dông luồng qua lớp võng vải bố, (loại vải bố của bao gạo). Họ dùng mấy thứ nầy làm đòn tải thương. Có lẽ khi vừa đến đây họ bị đại liên trên trực thăng nả cho, nên chết tươi.

                                Bà nội (của các con tôi), mặt mày hốc hác, bà đờ đẫn, mắt đã lạc thần. Bà muốn chết đứng, tay chân bà lắc lư đung đưa run rẩy như cầy sấy. Tay bà ôm bình thủy đựng đầy nước sôi dùng để pha sữa cho cháu, hoặc để trụng mì gói, bà chạy theo đoàn người sơ tán. Chiếc bình thủy vỏ mây mà bà đang ôm trên ngực, bị bể tan, nước sôi chảy ra, hơi nóng bốc lên từ đám cỏ hoa vàng không tên, tàn úa héo dần. Ấy vậy, thật may mắn vì bà không bị phỏng nước sôi. Bà sợ Việt-cộng kinh khủng. Bà đã bỏ quê hương tận ngoài miền Bắc, bỏ làng xóm thân quyến, bà vất hết của cải, bà chạy bán sống thừa chết từ Bắc vào Nam. Bà trốn tránh họ bao năm nay, bà sống hiu hiu mong an vui nhàn hạ đôi chút cho qua kiếp già:
                                Tân niên vạn phúc bình an đến.
                                Xuân nhật vinh hoa, phú quý lai
                                ”, cho khỏi bỏ những ngày lao đao lận đận nơi quê xưa. Bà tưởng thoát nạn, tưởng đã yên ổn tấm thân còm, bà sẽ hạnh phúc nhờ “phước thâm tự hải, lộc cao như sơn”, do ông cha cố tổ của bà ưu ái để lại. Nào ngờ... giờ đây họ đùng đùng xách súng đến bên đít, đuổi bà vắt giò lên cổ mà chạy có cờ! Bà ngồi thụp xuống đất, giống như em bé lên sáu tuổi chơi trò cầu tuột. Bà xoạt hai chân lướt phom phom trên đồi cỏ. Bà bị té nhào hai ba vòng, đầu bù tóc rối xổ ra trải dài lết thết trên đất cỏ. Tôi sợ thắt họng, tưởng bà sẽ bị u đầu bể trán chảy máu, hay ít ra cũng gãy cần cổ, lặt lìa lặt lọi tay chân. Thế mà bà tỉnh bơ không việc gì. Bà chỉ hốt hoảng dáo dác nhìn quanh, đau khổ lo sợ tột cùng, không sao chịu thấu:
                                Sông sâu có thể bắc cầu.
                                Lòng người nham hiểm, biết đâu mà mò”.
                                Vì, “Thà rằng chả biết cho xong.
                                Biết ra, như xúc, như đong lấy sầu
                                ”.

                                Bà than như thế! Tôi phải kính phục bà mẹ chồng vô biên, vì bà thuộc về lớp người từ đầu thế kỷ thứ 19, ở nơi vùng quê Hưng Hiền tận ngoài Yên Mô miền Bắc, thuở xưa ấy mà bà được đi học chữ quốc ngữ thông thạo, đọc chữ làu làu, đúng là mẹ chồng tôi có “văn hay chữ tốt”. Bà nói những câu văn hoa tinh tế. Nhất là bà hát những câu ca đồng dao, quan họ trữ tình luyến nhớ quê hương, thì hay hết biết.
                                Nếu không lầm, thì hơn ba tuần sau ngày bé Tuấn biết lật, Quân đoàn II gởi một Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân. Tiểu Ðoàn của Trung Ðoàn 53 Bộ Binh tăng cường cho Thị-xã Ðà Lạt, để tiêu diệt tàn quân Việt Cộng ẩn nấp trong Khu Số 4. Khu số 6. Tùng Lâm, v.v… Kể từ sau vụ “càng quét” đó, mọi người đã yên ổn bình an. Toàn dân ở Đà Lạt Tuyên Đức nói chung, và riêng khu xóm cùng gia đình tôi nói riêng trân trọng cám ơn qúy quân nhân quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Sau khi bà cháu mẹ con chúng tôi an toàn tuột dốc Domain De Marie nầy, cùng đồng bào trong Thị-Xã Đà Lạt bỏ lại sau lưng những gì quý giá nhất, hầu thoát thân mưu cuộc sống còn. Dù cùng cực đắng cay, lo toan, đớn hèn, đau khổ đối mặt với nỗi cô quạnh muộn phiền bất ngờ không lường trước được, hãi hùng giữa cuộc đời muôn mặt. Nhưng xin cám ơn Trời đã cho thoát khỏi nanh vuốt "cái người" tôi không muốn xác nhận, mà đành phải coi như quân thù.

                                Quá khứ rồi sẽ giống như cánh cửa sắt đóng chặt lại sau lưng tôi. Rồi cũng giống như thau nước hứng mưa dột dưới góc nhà vừa bị sập, tôi đã cong cong lưng bưng thau nước đầy sóng sánh bóng mình trong thau, nhanh nhẹn bước ra hiên nhà, tôi hắt mạnh thau nước vào màn mưa đục ngầu, cho nước hoà tan trong mưa, mất hút, như hắt cả hiện tại và tương lai lui về với quá khứ muộn phiền đắng chát chua cay đau xót vô ngần.
                                ***

                                Tình Hoài Hương
                                Last edited by Tinh Hoai Huong; 02-28-2018, 09:20 PM.
                                Bút trần nào tả được lưu luyến!
                                Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                                Tình Hoài Hương

                                Comment

                                Working...