Góc Truyện Tình HOÀI HƯƠNG...

Collapse
X
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • Tinh Hoai Huong
    Senior Member
    • May 2009
    • 1081

    #121
    Cách huấn luyện CHIM & CHÓ


    Cách huấn luyện CHIM & CHÓ



    Ngôi nhà ngói ba má tôi đã sinh sống cao năm bậc cấp, có ba gian hai chái, thềm sân rộng lát gạch tàu, bên một gian chái là giàn hoa thiên lý treo chiếc lồng cu gáy sơn son thiếp vàng, chúng đang gù gáy bạn đời, nghe thật hay. Lồng bên cặp cưỡng đen tuyền đang nhảy nhót, chim hót don dỏn giọng tiếng Việt, nghe líu lo. Ngoài những giờ bận rộn, ba tôi có thú tiêu khiển điền viên tao nhã, tri thức mỗi khi trà dư tửu hậu; ấy là ba cùng vài bạn tri âm ngồi dưới giàn hoa thiên lý cạnh hàng hiên bên giại nứa, họ đầm ấm hiền hòa ngâm thơ, vịnh nguyệt, trồng cây kiểng, nuôi sáo, nuôi cưỡng, huấn luyện bồ câu đưa thư, và nuôi chó quý. Họ bàn thảo với nhau về kinh nghiệm nuôi, chọn chim: Chim mà có mỏ quắp, là chim hung dữ, đáng sợ . “Chim hồng chim hộc cất cánh bay cao, là nhờ lông cánh. Lông to dưới bụng, lông nhỏ trên lưng, mọc thêm một nắm, bay chẳng cao hơn, Rụng mất một nắm, bay chẳng thấp hơn”. (Hàn thi ngoại truyện).

    Ba tôi có biệt tài nuôi chim và giàu kinh nghiệm khi huấn luyện loại chim bồ câu đưa thư, cũng như nuôi dạy chó khôn đưa tin đi xa. Trước khi muốn nuôi chim bồ câu, ba tôi tự cưa cây, bào gỗ làm một cái chuồng xinh xắn khá to lớn, chuồng sơn xanh sơn đỏ, vẽ hoa lá cành, nóc lợp ngói, có hành lang song gỗ tròn chạy chung quanh chuồng chim. Ba làm việc gì cũng khéo tay, coi thật cầu kỳ, đẹp lạ thường. Chuồng chim núp dưới bóng mát của những tàng cây rợp lá, chuồng đặt trên một cây cột cao, có rào kẽm gai ở dưới (đề phòng mèo rình bắt chim con). Chuồng có những “ngăn phòng” riêng biệt đóng kín, chỉ có một cửa ra vào hình tròn, mỗi “phòng chim” rộng khoảng 30cm, mỗi bề mặt của các ô cửa có tấm màn lưới mỏng treo lơ lửng.

    1./ Chọn mua vài ba cặp bồ câu có chân đỏ, mỏ đỏ, mắt đỏ, bộ lông mịn trắng (cũng có khi chọn bồ câu lông màu nâu, màu xám). Khi tôi vãi lúa, bắp khô ra sân rộng, nhìn cảnh gia súc: gà, vịt, ngỗng, ngan… vui vẻ nhộn nhịp “tưng bừng nhậu nhẹt”, coi thật thú vị lắm. Đặc biệt ở cạnh trên bốn góc chuồng bồ câu cao, loài chim thông minh nầy được ăn thêm: đậu xanh cà hột giả dập dập, rồi nhào trộn với cám hơi nhão, (do có tẩm xíu nước, để các thứ ấy dính với nhau). Sau khi từng cặp chim bồ câu lớn lên, trở thành “có đôi có cặp”, (việc chọn và biết con chim nào là con trống, con chim nào là chim mái, cũng công phu, phải hiểu biết và có kinh nghiệm). Chim đẻ trứng, ấp trứng nở ra con. Có nhiều cách huấn luyện bồ câu đưa thư:

    2./ Khi bồ câu đã có con, và “bồ câu nhí” mở mắt, ra ràng, ta để cho bồ câu nhí làm quen và thân thiết với ổ của mình, thì sau đó thả cặp “bồ câu cha mẹ” ra ngoài ổ.

    3./ Kéo tấm lưới ngăn lại (cho bồ câu nhí không thể bay ra khỏi chuồng, chúng chỉ quanh quẩn ở trong tổ). Bồ câu cha mẹ sẽ đứng ở ngoài tấm lưới mắt cáo, để chúng có thể thò mỏ vô mớm mồi cho hai con nhỏ ăn, uống, dễ dàng.

    4./ Đem nhốt một trong hai con chim nầy (bồ câu cha, hoặc bồ câu mẹ) ở một cái lồng khác. Chừa lại một con chim ở ngoài trời, Vì cha (hoặc mẹ) không được ở gần con, nên nó luôn luôn quyến luyến, nhớ thương (vợ, hoặc chồng, và con) mà chim sẽ quanh quẩn bên chuồng, bên con.

    5./ Đem bồ câu cha đã nhốt trong lồng mới, xách lồng đi thật xa chuồng cũ sơn son thiếp vàng kia, để lồng chim ở đó một ngày đêm. Ngày hôm sau, thả con bồ câu nầy ra. Bồ câu cha (hoặc mẹ) lập tức bay về chuồng cũ, và chung thủy “tìm vợ, tìm con”. Ta sẽ thay đổi vị trí, kiên nhẫn làm lại y như thế nhiều lần (với bồ câu cha, mẹ kia).

    6./ Từ đó, ta sẽ kéo đường dài (kéo cây số) đi một khoảng cách khá xa xa. Ví dụ trước kia khoảng cách giữa chuồng chim ở nhà, và lồng chim là 50 mét, nay bồ câu đã quen bay lui bay tới chuồng, thì tuần lễ sau, ta sẽ kéo dài khoảng cách thêm xa xa thành 100 mét. Ở góc khuất rất xa đó, ta thả bồ câu ra, cho nó tìm đường bay về tổ. Vân vân…

    7./ Cặp bồ câu nhí không nên thả ra cùng một lúc, vì cả hai con nhí nầy khi đã được bay nhảy, thì tung tăng ngoài bầu trời thênh thang và tự do, chúng sẽ hẹn nhau bay đi xây tổ ấm “mút mùa lệ thủy”, chim bay đi… một bay không trở lại.

    8./ Hai con nhí đã trưởng thành, (mọc đủ lông cánh) thì ta kéo tấm lưới sắt lên, cho “cha mẹ con cái” sống chung một nhà, để cha mẹ chúng huấn luyện con cái tập bay chuyền, bay bổng, và nhập đàn với bạn trong một thời gian dài.

    9./ Cách phân ly khác: Tách bồ câu trống ra khỏi chuồng, đem một con bồ câu trống cũ nầy thả cho nó bay ra ngoài trời. Ta nhốt một con bồ câu trống xa lạ khác vô trong chuồng, cho nó ở chung với “con vợ cũ”. “Thằng chồng bồ câu cũ” đang cảm thấy mình bị phản bội, bị kẻ khác ve vãn và sẽ cướp đoạt mất vợ, nên nó điên cuồng nổi cơn ghen, cứ lẩn quẩn bên chuồng chim. Ta vẫn làm “cái sách cũ”, nghĩa là cột một cái ống trúc khô, nhẹ, nhỏ, ở cổ chân chim, sau đó nhốt con trống (hoặc mái) vô trong lồng bịt kín, đem lồng chim đi thật xa, xa hẳn chuồng. Ở địa điểm mới, ta thả bồ câu ra, nó sẽ tung cánh lên cao, liền vội vã bay về tổ ấm. Thế là thành công. Ba tôi còn bẫy chim sáo, nhồng, cưỡng… cho chim ăn ớt, ăn bắp xay, lúa… nuôi dạy chúng biết nói tiếng người. Nghe líu lo hay lắm.

    Ba tôi còn có một “ngón nghề” tuyệt vời nữa là: cách huấn luyện nuôi dạy chó đưa thư, loại giống chó berger khôn thế nầy:

    1./ Đại cương về cách chọn giống chó: Không chọn giống chó chấm lông ở ngay chính giữa trán, và bị chấm lọ (bất cứ màu gì) ở đuôi, thì không nuôi giống ấy. Nhưng phía trên, gần hai mắt ở cạnh lông mày của chó, nếu có hai chấm tròn, lông xoáy (vàng, đen, hoặc trắng… khác với màu lông của thân thể chó), là giống tốt “đốm đầu thì nuôi, nhưng đốm ở đuôi thì thịt”. Đặc điểm cần chọn của giống chó tốt: Đuôi chó luôn ở bên trái. Lưỡi chó có đốm đen dài. Bốn chân chó cứng cáp trên thân hình chó vạm vỡ. Có nghĩa là ngực nở to, nhưng phần bụng phải thon gọn. Hai tai chó luôn đứng thẳng, chó thính tai nghe rõ (tai chó không cụp qua một bên). Muốn hai lỗ tai chó thẳng đứng và tinh khôn, (vì hai tai chó đứng thẳng, thì nó nghe rất thính) một tuần vài lần, ta nên cho chó ăn trứng gà tươi trộn phổi bò.

    2./ Chọn giống chó: Nên chọn chó mõm dài. “bạch cẩu hoàng đầu lưng bối nguyệt” = Thân có lông trắng, đầu lông vàng, lưng chó có lông như hình trăng rằm, mắt to đen láy, mũi hồng, lưỡi dài có đốm đen, tứ túc huyền đề. Giống chó nầy đặc biệt rất quý hiếm, ít thấy.

    3./ Thân chó lông màu đen, bốn chân lông màu trắng, giống như ở chân chó mang đôi vớ trắng (tất), gọi là = “hắc cẩu tứ bạch”.
    - Toàn thân chó có màu lông vàng óng ả, gọi là = “hoàng cẩu”.
    - Lông xoáy ở trên lưng chó mọc xuôi từ đầu chạy về đầu đuôi, gọi là = “Bối kiếm cẩu”.

    a./ Ngoài bốn chân chó, có thêm bốn cái móng đeo nhỏ lủng lẳng ở mỗi chân, gọi là = “Tứ túc huyền đề”.
    b./ Ngoài bốn chân chó, có thêm hai đeo nhỏ ở mỗi chân trước, và một đeo ở mỗi chân sau. Gọi là = “Lục hợp cẩu”.
    c./ Ngoài bốn chân chó, mỗi chân chó có thêm hai móng đeo nhỏ. Có 8 móng đeo ở bốn chân, gọi là = “bát long cẩu”.
    d./ “Lưỡng cẩu” = là bốn chân chó chỉ có hai móng đeo ở hai chân.

    4./ Ta thân thiện với “chó nhí” từ khi chúng còn nhỏ. – Biết tính nết chó – Đặt tên chó & gọi tên nó mỗi ngày nhiều lần, cho chó quen biết tên của nó - Huấn luyện chó nhí từ việc nhỏ nhất, ví dụ: thường xuyên dạy chó đứng – ngồi – nằm - bắt tay mình – dạy chó ăn, uống khi nào được cho phép – cùng chó đá banh - ném banh, ném lon ra xa, ta và chó đi nhặt về, nhiều lần. Sau đó để chó tự đi nhặt về đưa cho mình. Mỗi lần chó “làm việc giỏi”, ta thưởng cho chó món ăn mà nó ưa thích.

    5./ Sau đó ta dần dần huấn luyện thêm những việc khó hơn, ví dụ: dạy chó giữ nhà. Chó biết phân biệt người thân và khách lạ, (chó thông minh, chính vì thế mà chó ưa sủa rần trời, mỗi khi có người lạ, hoặc nhà có kẻ trộm rình). Dạy chó phân biệt gia súc của nhà mình nuôi, khác với gia súc của hàng xóm. Dẫn chó đi săn bắt: chuột, chim, gà rừng, vân vân… Dạy chó đi nhận thư ở nhà nầy đến nhà khác: Ta cùng chó đi gửi thư ở bưu điện nhiều lần, cho chó quen hơi người lạ ấy, ta gọi tên của ông ấy hoài, cho chó ngửi mùi người ấy, sẽ quen hơi. Nó biết nơi chỗ cần đến. Sau đó, một mình ta cột thư ở cổ chó, và dẫn chó đến cho người sẽ nhận thư (người mà chó quen hơi biết mặt trước kia), ta vỗ vỗ vào đầu chó, thân thiện vuốt ve và gọi tên chó: “To Bi… hãy để ông (tên X…) mở túi xách ở cổ ra, nhận thư”. Nhiều lần như thế, tất nhiên con chó thông minh, tinh khôn, và hiểu ra ngay.
    Ba tôi kiên nhẫn dạy chó, chim (tận tụy, giống như ba tôi đã kiên cường trong việc chữa trị bệnh nhân), nên ba tôi rất thành công trong việc nuôi dạy chim & chó.

    ***
    Tình Hoài Hương
    Last edited by Tinh Hoai Huong; 06-15-2014, 09:12 PM.
    Bút trần nào tả được lưu luyến!
    Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
    Tình Hoài Hương

    Comment

    • Tinh Hoai Huong
      Senior Member
      • May 2009
      • 1081

      #122
      CHA MẸ Tôi (đã từng) Nén Lại Chân Quê




      CHA MẸ Tôi (đã từng) Nén Lại Chân Quê
      THH xin cống hiến quý độc giả HQPD bài viết về CHA.
      Thân quý,

      ***

      “Tinh thần gia đình là gì?
      Đó là: Pha trộn tình mến sợ cha. Tình âu yếm sợ mẹ. Kính trọng cả hai. Thán phục nhân đức của cha lẫn mẹ. Bỏ qua các lỗi lầm. Ghi nhớ công ơn. Thông cảm đau khổ. Cảm kích các hy sinh của cha lẫn mẹ” (P. Janet).


      Ba tôi là người con thứ tư sinh trưởng trong một gia đình bề thế, giàu có, ở Làng Hưng Nhơn, thuộc Tổng An Thơ, Phủ Hải Lăng, Tỉnh Quảng Trị. Ba làm nghề thầy thuốc Đông Y, lương thiện, ân cần và đạo đức, chu đáo tận tụy trị bệnh nhân khá mát tay. Đúng là “lương y như từ mẫu”. Ngoài ra, ba tôi còn có vài ba nghề tay trái nữa là: nghề cưa xẻ cây gỗ, làm nông, và mở một trang trại ươm cây giống rất to lớn. Dĩ nhiên, mọi công việc nặng nhọc về vườn tượt, đồng áng, ba tôi có nhờ lực điền, tá điền & quản gia phụ việc.

      Nhắc về ba, tất nhiên tôi phải nói lướt sơ sơ ti tí về má. Má tôi sanh ở Làng Thuận Nhơn rợp bóng hai hàng cây sát bên con sông xanh êm đềm uốn khúc, nước sông rất trong, ngon và ngọt. Làng nầy thuộc Tổng Cù Hoan, Huyện Hải Lăng, Tỉnh Quảng Trị. Ông ngoại là một võ quan rất giỏi trong triều đình Huế thời xưa. Gia đình ông bà ngoại khá giàu có, ruộng lúa cò bay thẳng cánh. Má tôi lớn lên công dung ngôn hạnh vẹn toàn và hiếu học, biết chữ. Má sinh ra trong một gia đình đông con, nhưng rồi ông bà ngoại tôi chỉ may mắn còn lại cậu Cửu Ổn và má, mà thôi. Má tôi luôn tôn trọng chồng, nhỏ nhẹ, đôn hậu, hòa nhã yêu thương chồng con hết lòng.

      Ba Má tôi rất hiền, đạo đức và giống nhau là có lòng nhân ái, phúc hậu, (mà các con ưa nói ba má có tính tào lao: ăn cơm nhà vác ngà voi). Ba má tôi sống cuộc đời khá hoàn thiện, ngày nào họ cũng xem là ngày cuối cuộc đời trước mặt Chúa: Họ không gian dối, không thất đức, không lừa gạt ai, họ chỉ biết sống bác ái, ôn nhu, an lành, yêu tha nhân, tận tình giúp đỡ người cùng khốn, cần mẫn tận tụy chăm chỉ làm việc.

      Ba tôi có hẹn với đại gia đình anh chị em tôi khi ba ở Đà Lạt là: “ba sẽ ra Huế để lo thu xếp công chuyện, chuyển giao việc trại ươm cây và đồng áng lại cho người thân. Sau đó ba má sẽ vào sống yên ổn ấm no ở Đà Lạt với các con, cháu”. Ấy thế mà… đâu vẫn hoàn đó, ba má chưa rứt ra nỗi.

      Điển hình nhất là ba má bị quật ngã biết bao phen trong cuộc đời thăng trầm sướng khổ, cay cực, mà không chịu lùi bước. Ba má tôi khi đã đắn đo suy nghĩ quyết chí làm một việc gì, thì họ đồng tâm hiệp sức phải thực hiện tạo thành cơ nghiệp ấy cho kỳ được. Dù gian truân đến đâu mặc lòng. Ở quê nhà nay chỉ còn hai ông bà cụ lom khom lui cui đi ra đi vào thui thủi. Tôi cảm thấy ba má sống thật neo đơn, vắng vẻ buồn rầu không ít. Thế mà hầu như ba má không lấy đó làm phiền bên ngọn đèn dầu hột vịt tù mù tỏa sáng, đầu ba tôi luôn suy tư cúi xuống quyển sổ bệnh nhân dày cộm, mà cuộc sống của ba má vẫn cùng khó, đạm bạc, khiêm nhường… là sao thế hở ba?

      Cuộc đời ba má hầu như cắm rễ khá sâu vào miếng đất gia tiên; gắn liền với ruộng nương, vườn sắn, ao bèo, gốc tre, bụi chuối. Chúng tôi chưa có cách gì gỡ ba má ra nỗi trong cái “tam sơn, tứ hải, nhất phần điền” nầy. Dù chỉ một phần điền tẻo teo, bé tí nị, mà ba má vẫn trìu mến ưa thích nén lại chân quê. Nơi mái nhà xiêu vẹo mà ba má đang ở đó, tôi thiết nghĩ đó là chân trời mở ra một cửa ngỏ buồn thảm, không hứa hẹn vui vẻ, tươi sáng, bình an gì hơn, lúc thời kỳ bắt đầu có chiến tranh.

      Dù có những viên đạn xoáy tít trong không gian tối đen, tạo thành những luồng vàng sáng, loé ánh lửa rực đỏ xẹt xẹt bay vút qua vút lại trên đầu. Thì sự sụp đỗ của một gia đình bề thế do chiến tranh đã bị uốn cong gập, như con đại bàng gãy cánh trên những đống hoang tàn. Mặc cho mặt trời pha máu lửa đỏ chói từ phương Đông lan qua phương Tây. Mặc súng đạn gieo tang tóc lầm than, khốn đốn dày xéo đến bao gia đình, rồi tàn bạo kéo nhau đi nơi khác. Mặc bệnh tật đói rách ở lại, đau thương và khốn nạn trăm điều điêu đứng vẫn còn đây. Ấy vậy mà ba tôi vẫn điềm nhiên ngồi bốc thuốc, vẫn cầm cuốc, cuốc lại từng lát cuốc trên đất cứng pha sỏi đá khô cằn nứt nẻ, với hy vọng bừng lên.

      Cũng thế, ba má tôi luôn đắn đo, chần chờ, do dự mãi; nếu họ dọn đi ra khỏi vùng Mỹ Chánh, nơi chó ăn đá gà ăn muối, thì ba má thấy thương quá là thương những người dân quê cần cù lao động quá nhọc nhằn, quanh năm cư dân vẫn đói khổ, rách rưới triền miên. Ốm đau bệnh nạn, họ chỉ có nước nằm đó ngáp ngáp quằn quại chịu trận, mà chờ chết. Nếu họ có ba tôi thường lui tới, đi lại an ủi vỗ về, chăm lo, giúp đỡ, săn sóc, thuốc men (có nhiều lần ba tôi làm việc thiện, bỏ công sức và tiền của hoàn toàn không tính toán), thì tình trạng khốn khổ của từng bao nhiêu người đã được vỗ về, an ủi, họ cũng giảm bớt nỗi đau rất nhiều. Họ không có gì đền trả… ngoài sự tận tụy làm việc kiếm sống, niềm tin tưởng, tấm chân tình cưu mang ơn trọng nghĩa cao với ba tôi, bằng cách chia sẻ ngọt bùi, nụ cười thân thiện ấm nồng trìu mến tình quê.

      Ngoài nghề chính là nghề thầy thuốc, những thì-giờ còn lại, ba tôi muốn vận động cơ thể khỏe mạnh xí, nhưng trên hết là do ba tôi rất yêu đất, mến vườn; nên ba tôi thích đi làm việc bằng tay chân, tùy theo tháng năm chất chồng, chiếc áo cần lao của ba ngày trước còn mịn và mới, do thời gian đã bào mòn sức lực con người, mà những chiếc áo ấy trở thành vá chằn vá đụp, dày cui, khô và cứng đơ. Mỗi lần ba tôi cử động, nó kêu sột soạt như mo cau cọ siết rít vào nhau, tiếng kêu hãnh diện, đắc thắng của người dạn dày kinh nghiệm làm đất đai phải thuần thục.

      Ba chế ngự mọi thử thách gian khó bằng hai bàn tay “thư sinh lẫn cần lao” cần cù, cùng sự từng trải, thấu hiểu. Hai tay làm việc thoăn thoắt, vất vả, ấy vậy ba má tất bật, chân nầy chưa kịp đặt xuống, chưa kịp bén đất thì chân kia đã nhấc lên. Nhiều lần mãi mê làm việc, ba má tôi quên cả ăn uống. Việc đồng áng nhờ có kiến thức và giàu kinh nghiệm, nên ba tôi có thể truyền đạt lại cho những bạn bè thân hữu nông dân cùng quê khá tốt. Đó là kết quả một đời ba má lao lực, suốt ngày đêm phơi mình giữa nắng mưa khuya chiều, cuốc cuốc cày cày đất cứng khô cằn nứt nẻ không ngơi tay.

      Ba má tôi thật vất vả nhọc nhằn quá chừng. Khiến một người tao nhã, khôn ngoan, dạn dày kinh nghiệm, trí thức như ba, đôi khi trở thành trầm lặng, lầm lì, cáu gắt, nghiêm nghị và khó tính. Đã một đời ba vì đất vì đai, vì dân quê làng xã, vì bệnh nhân cùng đinh nghèo khổ đói rách tả tơi rồi. Từng ấy nhọc nhằn khốn đốn, mà ba tôi chưa thất kinh, vẫn không chịu ngồi yên. Nay ba lại bươn bả đi mở đất khai hoang, mong đem bình an ấm no cho bao nhiêu người. Đó là niềm tự hào dân tộc, là niềm vui duy nhất còn sót lại trong đời, khi ba tôi tuổi già sức cạn. Tôi nghe quá đắng cay chua xót trong lòng.

      Làm sao mà ba có thể mang hết cuộc đời, cả gia tài khiêm nhường dành dụm gần suốt đời người, để lo cho bá tánh nghèo khổ quá đông đúc, cho nỗi hỉ!? Hở ba? Khi tôi tận mắt nhìn thấy ba má xắn tay áo lên, lo cho người thương tật, ốm đau, mà ba má không cảm thấy gớm, ghê, không một lời thở than. Niềm vui đó có phải do ba tôi đã vắt cạn kiệt ra từ chất xám để chia sẻ ban tặng cho đời thụ hưởng!?

      Ba tôi thường lấy câu của bậc tiền bối, thánh hiền, để răn dạy con cái. Ví dụ như: “Tam nhân hành, tất hữu ngã sư yên. Trạch kỳ thiện giả, nhi tòng chi. Bất kỳ thiện giả, nhi cải chi”. (Ba người cùng đi, tất nhiên có người là thầy ta. Hãy theo đó mà bắt chước từ thiện. Nhìn người xấu, nên tự sửa mình). Hoặc những câu: “Lễ. Nghĩa. Liêm. Sỉ: là bốn rường cột để duy trì, giữ vững quốc gia. Bốn rường cột ấy nếu không căng được lên, có nghĩa là người trong nước mà vô lễ, vô nghĩa, vô liêm sỉ - thì quốc gia phải sụp đổ, và diệt vong mất. (Quan Tử).

      Đôi khi mộc mạc đơn sơ bình dân hơn: “Tiên học lễ, hậu học văn”. “Nhân bất học bất tri lý, ấu bất học lão hà vi”. “Sĩ phu mà ba ngày không đọc sách, thì soi gương mặt mũi đáng ghét. Nói chuyện nhạt nhẽo, khó nghe”. (Hoàng Đình Kiên). Ba tôi ưa nói câu của cổ nhân để gián tiếp răn dạy con cái:
      - “Nếu ta có đứa con phải giáo dục. Ta sẽ lo cho nó cái gì? Tạo cho nó thành thiện nhân, hay vĩ nhân?” Ta tự đáp: - “Phải tạo cho nó thành thiện nhân”.


      Có một lần, tôi và anh trai ngồi học bài ở phòng bên, hai anh em nói chuyện lung tung về việc học hành trong lớp. Sau đó tôi to tiếng phê bình giáo sư của mình thế nầy:
      - “Ông ta đã thiên vị, và trắng trợn có tình ý riêng tư thân mật đặc biệt với một con nữ sinh nọ, có bầu rùi”.

      Thế là hai anh em say sưa hí hửng, vui vẻ thao thao bất tuyệt nói xấu, chế nhạo “con nhỏ kia, và vị giáo sư khả kính”. Chúng tôi không ngờ ba tôi đang làm việc ở phòng kế bên, đã nghe rõ mồn một. Lúc khá lâu, ba tôi gọi:
      - Hai đứa con: Dzoãn và Tuyết Thụy mau qua bên nầy, ba biểu.

      Chúng tôi chưa biết ba gọi các con qua phòng tiếp bệnh nhân của ba để làm gì, nhưng hai anh em vâng dạ rõ to, và vui tươi hí hửng dắt nhau đi qua phòng ba, vừa đi anh em khúc khích tươi cười về chuyện “ông giáo và con nhỏ” ấy. Ở trong phòng làm việc của ba đã vắng khách, nhưng ba tôi cúi xuống trên quyển sổ bệnh nhân một hồi lâu. Ba còn cặm cụi làm việc, dường như ba không quan tâm về sự hiện hữu của con cái. Chúng tôi đứng xớ rớ gần cửa sổ, anh Dzoãn xích lại sát bên em, khều khều vào tay tôi, thì thầm:

      - Chắc là ba sẽ thưởng cho anh em mình ha… vì anh và em đều có tên trong bảng danh dự tháng nầy đó em.
      - Dạ… phải.

      Một lúc sau, ba tôi xếp quyển sổ dày cui và cất trong hộc tủ. Ba tằng hắng vài cái, rồi ba tháo mắt kính xệ xuống ; (vì cái kính lão bị bể mất một bên tròng, khiến bên có mắt kính bị nặng, cọng kính lỏng lẽo kéo đã xệ xuống, bên trống lổng không có mắt kính, thì treo lên cao, nhẹ hẩng, coi thật tức cười). Ba tôi ngẩng lên nhìn hai con:
      - Hai đứa ngồi xuống đó.
      - Dạ, thưa ba.
      - Hồi nãy có khách ở đây, nên ba không tiện kêu hai đứa vô nói chuyện. Bây giờ, hai đứa kể lại việc “ông thầy giáo” cho ba nghe rõ coi nà.

      Hai anh em liếc nhìn nhau, tôi len lén thò tay qua cào béo vào đùi anh mấy cái, cảm thấy phập phồng, hồi hộp… không biết có chuyện gì đây! Như thế, chắc chắn là chẳng phải do anh trai em gái học giỏi, sẽ được ba “thưởng” cho rồi. Anh ấp úng:
      - Dạ, thưa ba… con… con…
      - Sao? Hồi nãy hai đứa ngồi bên phòng học, không lo học, mà chuyên nói xấu người thứ ba, nói xấu người vắng mặt. Hừ… Khách và ba đã nghe rõ mồn một mà. Tại sao bây giờ tụi bây lại im re, hả?
      Anh em chúng tôi lo lắng cúi gầm đầu, anh Dzoãn lí nhí:
      - Dạ, con… biết lỗi.
      - Biết lỗi sao!?
      - Dạ, …thưa ba.
      - Vậy tốt. Con… (ba chỉ vào anh trai) đi ra ngoài chuồng vịt, bắt hai con vịt mái, nhớ là bắt con vịt mái thôi nghe, đem vô đây. Còn con Thụy xuống dưới bếp lấy muối, cây đèn, cái rổ, con dao, rồi đem lên đây luôn. Mau.

      Chúng tôi vâng vâng, dạ dạ… dù có băn khoăn, bỡ ngỡ, ngạc nhiên, thắc mắc… nhưng anh em hí hửng chạy đi làm việc ba sai. Lòng tôi cảm thấy vui vẻ lạ thường, vì nghĩ ba đã bỏ qua chuyện “nói xấu”, ba tha lỗi cho “con dại… cái mang”. Ba sẽ du di xí xóa chuyện con nói hành nói tỏi, nói xấu… và ba sẽ “khao” cho hai anh em đã học giỏi, nên được ba cho ăn thịt vịt, mà ăn thịt vịt mái tơ… thì có trứng non, trứng già, có bộ lòng mềm cùng cái “dồi trường” thơm ngon bá cháy! Khi hai anh em lí lắc cười reo khệ nệ bưng các thứ vô phòng làm việc của ba, hai con vịt bị anh Dzoãn xách cánh, xách chân, thì chúng luôn dẫy dụa kêu la inh ỏi. Thiệt là điếc con ráy quá đi! Ba ra lệnh:
      - Con Thụy cắt cổ con vịt.
      - Ôi, dạ… con không thể cắ… cắt… cổ vịt… Con sợ…
      - Vậy cứ để con vịt sống như vậy, mặc kệ nó kêu la, hai đứa ngồi xuống nhổ lông (khi con vịt còn sống). Sau khi nhổ lông vịt, thả hai con vịt ra, cho nó chạy về chuồng, mặc nó bị trọc lóc thân thể, mà đau đớn kêu la, và bị đồng bọn vịt bu lại đấu đá, cắn xé, vì con vật không cùng chủng loại dị hợm kia. Thì tụi bây bỏ lông vịt trong cái rổ nầy, đem lông vịt đi vất ra ngoài trời, cho lông vịt bay đi mọi nơi. Sau đó, hai đứa bây đi lượm lại đầy đủ, lượm sạch lông vịt, đem về đây. Ba sẽ thưởng công cho.

      Tôi kinh ngạc, làm sao có thể đi lượm lại đầy đủ lông vịt khô? Anh Dzoãn chưng hửng vì nghĩ rằng: “Chắc ba đã già, nên khù khờ, lù đù, lẩm cẩm rồi chăng. Vậy mà ba cũng làm ông thầy thuốc, chắc là ba sẽ cà tửng “bóp cổ, diệt” hết bệnh nhân chết queo rùi. Anh “trả treo” :
      - Muốn nhổ lông con vịt, thì phải cắt cổ vịt, cho nó chết, và trụng nước sôi. Nếu để vịt sống mà nhổ lông, thì không thể nào! Ba nói con đem lông vịt khô ráo, thả ra ngoài trời, thì lông bị gió cuốn bay đi hết, làm sao con đi lượm lặt lại được. Ba.
      - Không làm được như ba đã nói, hay sao?
      - Dạ phải.
      - À… Vậy thì… hai đứa bây đã biết có lỗi gì chưa?
      - Lỗi… ?
      - Vẫn không biết mình đã phạm lỗi gì à?
      - Dạ… thưa ba không.
      - Hừ… Hứ!... Tụi bây xúm lại a dua nói xấu người ta khi họ vắng mặt, mà không cảm thấy xấu hổ nhục nhã hay sao? Lời nói vọt ra từ cửa miệng, bay xa… ai ai cũng nghe, cũng biết; thì giống như con vịt bị trọc lóc, lõa lồ, không còn lông… đang quang quác kêu la đó. Lời nói xấu thoát ra khỏi miệng, cũng giống như những cái lông vịt khô bay đi, thì tụi bây có lượm lại được không? Hả!?
      “Câu nói như mủi tên, không nên bắn bậy. Tên đã lọt vô tai ai, thì không tài nào rút ra được”. Về việc “muối” và “cây đèn”, thì... Thịt. Cá nếu không ướp muối, thì thịt, cá sẽ bị ươn, thúi. Cây đèn khi đốt lửa là cho ta ánh sáng, (tượng trưng cho sự thông minh của trí tuệ). Nếu các con không thấm nhuần nền giáo dục chu đáo, có căn bản từ gia đình, học đường, xã hội, không có đức dục và rèn luyện trí dục. Không tri thức, không có ánh sáng, thì các con sẽ hư đốn, như cá không ăn muối, như cây đèn không tỏa sáng vậy.

      Chúng tôi cúi gầm đầu im re. Dạ, con hiểu rồi! Hai anh em đã bị ba phạt một ngày. Anh Dzoãn lớn hơn tôi, nên anh đi cuốc đất làm vườn trà. Ba “đì” tôi đi nhổ cỏ cú, cỏ chỉ, cỏ ống, cỏ tranh. Thiệt là quá nhọc nhằn, mệt muốn đứt hơi, tôi quá thất kinh vì cái tội vạ miệng “ăn mắm ăn muối, nói bậy bạ” nên ngồi “lam lũ” ở ngoài nắng. Đáng kiếp! Ôi! Cái chuyện “nhổ lông vịt” muôn đời đáng ghi nhớ ấy… là bài học quý giá hơn trăm ngàn vàng, chẳng thể quên!

      Anh, chị, em chúng tôi đã được sự giáo dục rất mực tôn nghiêm và chu đáo của mẹ cha. Tôi học hỏi nhiều điều bổ ích từ ơn cha nghĩa mẹ sinh thành dưỡng dục. Con xin trân trọng cảm ơn cha mẹ vô vàn. Tôi nguyện muôn đời ghi nhớ, sau nầy tôi hy vọng… sẽ truyền đạt kinh nghiệm sống và hữu ích lại cho con cháu mình noi theo gương lành.

      Lòng buồn khi bước về phố cũ
      Con ra đi đời lãng tử mộng trăng thềm
      Mơ hồng trần theo sông nước cảnh chiều êm
      Con nhớ lắm khi trăng lên xóm nhỏ
      Chân bước ngại ngần mây tím đổ
      Chiều về khắc khoải áo hồng vương
      Mẫu thân bên xoan đỏ phía sau vườn
      Cha dạy: Lý. Văn. Cửu chương. Hóa. Sử cũ
      Giờ đất khách tri ân mẹ cha trên phím chữ
      Hiển đạt đời con, ấp ủ mẫu phụ thân
      Vinh sang hạnh phúc bội phần
      Công cha dưỡng dục muôn vàn khắc sâu
      Nghĩa mẹ ngàn thuở bền lâu… (THH)
      * * *

      Tình Hoài Hương
      Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-14-2017, 12:30 AM.
      Bút trần nào tả được lưu luyến!
      Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
      Tình Hoài Hương

      Comment

      • BachMa
        Moderator
        • May 2009
        • 1293

        #123
        Nguyên văn bởi Ai Uu Du View Post

        (từ BM, phải có nhạc...)


        CHA MẸ Tôi (đã từng) Nén Lại Chân Quê
        Happy Father' Day. Happy. Happy...
        THH xin cống hiến quý độc giả HQPD bài viết về CHA.
        Thân quý,
        ***


        “Tinh thần gia đình là gì?
        Đó là: Pha trộn tình mến sợ cha. Tình âu yếm sợ mẹ. Kính trọng cả hai. Thán phục nhân đức của cha lẫn mẹ. Bỏ qua các lỗi lầm. Ghi nhớ công ơn. Thông cảm đau khổ. Cảm kích các hy sinh của cha lẫn mẹ” (P. Janet).


        Ba tôi là người con thứ tư sinh trưởng trong một gia đình bề thế, giàu có, ở Làng Hưng Nhơn, thuộc Tổng An Thơ, Phủ Hải Lăng, Tỉnh Quảng Trị. Ba làm nghề thầy thuốc Đông Y, lương thiện, ân cần và đạo đức, chu đáo tận tụy trị bệnh nhân khá mát tay. Đúng là “lương y như từ mẫu”. Ngoài ra, ba tôi còn có vài ba nghề tay trái nữa là: nghề cưa xẻ cây gỗ, làm nông, và mở một trang trại ươm cây giống rất to lớn. Dĩ nhiên, mọi công việc nặng nhọc về vườn tượt, đồng áng, ba tôi có nhờ lực điền, tá điền & quản gia phụ việc.

        Nhắc về ba, tất nhiên tôi phải nói lướt sơ sơ ti tí về má. Má tôi sanh ở Làng Thuận Nhơn rợp bóng hai hàng cây sát bên con sông xanh êm đềm uốn khúc, nước sông rất trong, ngon và ngọt. Làng nầy thuộc Tổng Cù Hoan, Huyện Hải Lăng, Tỉnh Quảng Trị. Ông ngoại là một võ quan rất giỏi trong triều đình Huế thời xưa. Gia đình ông bà ngoại khá giàu có, ruộng lúa cò bay thẳng cánh. Má tôi lớn lên công dung ngôn hạnh vẹn toàn và hiếu học, biết chữ. Má sinh ra trong một gia đình đông con, nhưng rồi ông bà ngoại tôi chỉ may mắn còn lại cậu Cửu Ổn và má, mà thôi. Má tôi luôn tôn trọng chồng, nhỏ nhẹ, đôn hậu, hòa nhã yêu thương chồng con hết lòng.
        Ba Má tôi rất hiền, đạo đức và giống nhau là lòng nhân ái, phúc hậu, (mà các con ưa nói ba má có tính tào lao: ăn cơm nhà vác ngà voi). Ba má tôi sống cuộc đời khá hoàn thiện, ngày nào họ cũng xem là ngày cuối cuộc đời trước mặt Chúa: Họ không gian dối, không thất đức, không lừa gạt ai, họ chỉ biết sống bác ái, ôn nhu, an lành, yêu tha nhân, tận tình giúp đỡ người cùng khốn, cần mẫn tận tụy làm việc.

        Ba tôi có hẹn với đại gia đình anh chị em tôi khi ba ở Đà Lạt là: “ba sẽ ra Huế để lo thu xếp công chuyện, chuyển giao việc trại ươm cây và đồng áng lại cho người thân. Sau đó ba má sẽ vào sống yên ổn ấm no ở Đà Lạt với các con, cháu”. Ấy thế mà… đâu vẫn hoàn đó, ba má chưa rứt ra nỗi. Điển hình nhất là ba má bị quật ngã biết bao phen trong cuộc đời thăng trầm sướng khổ, cay cực, mà không chịu lùi bước. Ba má tôi khi đã đắn đo suy nghĩ quyết chí làm một việc gì, thì họ đồng tâm hiệp sức phải thực hiện tạo thành cơ nghiệp ấy cho kỳ được. Dù gian truân đến đâu mặc lòng. Ở quê nhà nay chỉ còn hai ông bà cụ lom khom lui cui đi ra đi vào thui thủi. Tôi cảm thấy ba má sống thật neo đơn, vắng vẻ buồn rầu không ít. Thế mà hầu như ba má không lấy đó làm phiền bên ngọn đèn dầu hột vịt tù mù tỏa sáng, đầu ba tôi luôn suy tư cúi xuống quyển sổ bệnh nhân dày cộm, mà cuộc sống của ba má vẫn cùng khó, đạm bạc, khiêm nhường… là sao thế hở ba?

        Cuộc đời ba má hầu như cắm rễ khá sâu vào miếng đất gia tiên; gắn liền với ruộng nương, vườn sắn, ao bèo, gốc tre, bụi chuối. Chúng tôi chưa có cách gì gỡ ba má ra nỗi trong cái “tam sơn, tứ hải, nhất phần điền” nầy. Dù chỉ một phần điền tẻo teo, bé tí nị, mà ba má vẫn trìu mến ưa thích nén lại chân quê. Nơi mái nhà xiêu vẹo mà ba má đang ở đó, tôi thiết nghĩ đó là chân trời mở ra một cửa ngỏ buồn thảm, không hứa hẹn vui vẻ, tươi sáng, bình an gì hơn, lúc thời kỳ bắt đầu có chiến tranh. Dù có những viên đạn xoáy tít trong không gian tối đen, tạo thành những luồng vàng sáng, loé ánh lửa rực đỏ xẹt xẹt bay vút qua vút lại trên đầu. Thì sự sụp đỗ của một gia đình bề thế do chiến tranh đã bị uốn cong gập, như con đại bàng gãy cánh trên những đống hoang tàn. Mặc cho mặt trời pha máu lửa đỏ chói từ phương Đông lan qua phương Tây. Mặc súng đạn gieo tang tóc lầm than, khốn đốn dày xéo đến bao gia đình, rồi tàn bạo kéo nhau đi nơi khác. Mặc bệnh tật đói rách ở lại, đau thương và khốn nạn trăm điều điêu đứng vẫn còn đây. Ấy vậy mà ba tôi vẫn điềm nhiên ngồi bốc thuốc, vẫn cầm cuốc, cuốc lại từng lát cuốc trên đất cứng pha sỏi đá khô cằn nứt nẻ, với hy vọng bừng lên.

        Cũng thế, ba má tôi luôn đắn đo, chần chờ, do dự mãi; nếu họ dọn đi ra khỏi vùng Mỹ Chánh, nơi chó ăn đá gà ăn muối, thì ba má thấy thương quá là thương những người dân quê cần cù lao động quá nhọc nhằn, quanh năm cư dân vẫn đói khổ, rách rưới triền miên. Ốm đau bệnh nạn, họ chỉ có nước nằm đó ngáp ngáp quằn quại chịu trận, mà chờ chết. Nếu họ có ba tôi thường lui tới, đi lại an ủi vỗ về, chăm lo, giúp đỡ, săn sóc, thuốc men (có nhiều lần ba tôi làm việc thiện, bỏ công sức và tiền của hoàn toàn không tính toán), thì tình trạng khốn khổ của từng bao nhiêu người đã được vỗ về, an ủi, họ cũng giảm bớt nỗi đau rất nhiều. Họ không có gì đền trả… ngoài sự tận tụy làm việc kiếm sống, niềm tin tưởng, tấm chân tình cưu mang ơn trọng nghĩa cao với ba tôi, bằng cách chia sẻ ngọt bùi, nụ cười thân thiện ấm nồng trìu mến tình quê.

        Ngoài nghề chính là nghề thầy thuốc, những thì-giờ còn lại, ba tôi muốn vận động cơ thể khỏe mạnh xí, nhưng trên hết là do ba tôi rất yêu đất, mến vườn; nên ba tôi thích đi làm việc bằng tay chân, tùy theo tháng năm chất chồng, chiếc áo cần lao của ba ngày trước còn mịn và mới, do thời gian đã bào mòn sức lực con người, mà những chiếc áo ấy trở thành vá chằn vá đụp, dày cui, khô và cứng đơ. Mỗi lần ba tôi cử động, nó kêu sột soạt như mo cau cọ siết rít vào nhau, tiếng kêu hãnh diện, đắc thắng của người dạn dày kinh nghiệm làm đất đai phải thuần thục. Ba chế ngự mọi thử thách gian khó bằng hai bàn tay “thư sinh lẫn cần lao” cần cù, cùng sự từng trải, thấu hiểu. Hai tay làm việc thoăn thoắt, vất vả, ấy vậy ba má tất bật, chân nầy chưa kịp đặt xuống, chưa kịp bén đất thì chân kia đã nhấc lên. Nhiều lần mãi mê làm việc, ba má tôi quên cả ăn uống. Việc đồng áng nhờ có kiến thức và giàu kinh nghiệm, nên ba tôi có thể truyền đạt lại cho những bạn bè thân hữu nông dân cùng quê khá tốt. Đó là kết quả một đời ba má lao lực, suốt ngày đêm phơi mình giữa nắng mưa khuya chiều, cuốc cuốc cày cày đất cứng khô cằn nứt nẻ không ngơi tay.

        Ba má tôi thật vất vả nhọc nhằn quá chừng. Khiến một người tao nhã, khôn ngoan, dạn dày kinh nghiệm, trí thức như ba, đôi khi trở thành trầm lặng, lầm lì, cáu gắt, nghiêm nghị và khó tính. Đã một đời ba vì đất vì đai, vì dân quê làng xã, vì bệnh nhân cùng đinh nghèo khổ đói rách tả tơi rồi. Từng ấy nhọc nhằn khốn đốn, mà ba tôi chưa thất kinh, vẫn không chịu ngồi yên. Nay ba lại bươn bả đi mở đất khai hoang, mong đem bình an ấm no cho bao nhiêu người. Đó là niềm tự hào dân tộc, là niềm vui duy nhất còn sót lại trong đời, khi ba tôi tuổi già sức cạn. Tôi nghe quá đắng cay chua xót trong lòng. Làm sao mà ba có thể mang hết cuộc đời, cả gia tài khiêm nhường dành dụm gần suốt đời người, để lo cho bá tánh nghèo khổ quá đông đúc, cho nỗi hỉ!? Hở ba? Khi tôi tận mắt nhìn thấy ba má xắn tay áo lên, lo cho người thương tật, ốm đau, mà ba má không cảm thấy gớm, ghê, không một lời thở than. Niềm vui đó có phải do ba tôi đã vắt cạn kiệt ra từ chất xám để chia sẻ ban tặng cho đời thụ hưởng!?

        Ba tôi thường lấy câu của bậc tiền bối, thánh hiền, để răn dạy con cái. Ví dụ như: “Tam nhân hành, tất hữu ngã sư yên. Trạch kỳ thiện giả, nhi tòng chi. Bất kỳ thiện giả, nhi cải chi”. (Ba người cùng đi, tất nhiên có người là thầy ta. Hãy theo đó mà bắt chước từ thiện. Nhìn người xấu, nên tự sửa mình). Hoặc những câu: “Lễ. Nghĩa. Liêm. Sỉ: là bốn rường cột để duy trì, giữ vững quốc gia. Bốn rường cột ấy nếu không căng được lên, có nghĩa là người trong nước mà vô lễ, vô nghĩa, vô liêm sỉ - thì quốc gia phải sụp đổ, và diệt vong mất. (Quan Tử).
        Đôi khi mộc mạc đơn sơ bình dân hơn: “Tiên học lễ, hậu học văn”. “Nhân bất học bất tri lý, ấu bất học lão hà vi”. “Sĩ phu mà ba ngày không đọc sách, thì soi gương mặt mũi đáng ghét. Nói chuyện nhạt nhẽo, khó nghe”. (Hoàng Đình Kiên). Ba tôi ưa nói câu của cổ nhân để gián tiếp răn dạy con cái:
        - “Nếu ta có đứa con phải giáo dục. Ta sẽ lo cho nó cái gì? Tạo cho nó thành thiện nhân, hay vĩ nhân?” Ta tự đáp: - “Phải tạo cho nó thành thiện nhân”.


        Có một lần, tôi và anh trai ngồi học bài ở phòng bên, hai anh em nói chuyện lung tung về việc học hành trong lớp. Sau đó tôi to tiếng phê bình giáo sư của mình thế nầy:
        - “Ông ta đã thiên vị, và trắng trợn có tình ý riêng tư thân mật đặc biệt với một con nữ sinh nọ, có bầu rùi”.
        Thế là hai anh em say sưa hí hửng, vui vẻ thao thao bất tuyệt nói xấu, chế nhạo “con nhỏ kia, và vị giáo sư khả kính”. Chúng tôi không ngờ ba tôi đang làm việc ở phòng kế bên, đã nghe rõ mồn một. Lúc khá lâu, ba tôi gọi:
        - Hai đứa con: Dzoãn và Tuyết Thụy mau qua bên nầy, ba biểu.

        Chúng tôi chưa biết ba gọi các con qua phòng tiếp bệnh nhân của ba để làm gì, nhưng hai anh em vâng dạ rõ to, và vui tươi hí hửng dắt nhau đi qua phòng ba, vừa đi anh em khúc khích tươi cười về chuyện “ông giáo và con nhỏ” ấy. Ở trong phòng làm việc của ba đã vắng khách, nhưng ba tôi cúi xuống trên quyển sổ bệnh nhân một hồi lâu. Ba còn cặm cụi làm việc, dường như ba không quan tâm về sự hiện hữu của con cái. Chúng tôi đứng xớ rớ gần cửa sổ, anh Dzoãn xích lại sát bên em, khều khều vào tay tôi, thì thầm:

        - Chắc là ba sẽ thưởng cho anh em mình ha… vì anh và em đều có tên trong bảng danh dự tháng nầy đó em.
        - Dạ… phải.

        Một lúc sau, ba tôi xếp quyển sổ dày cui và cất trong hộc tủ. Ba tằng hắng vài cái, rồi ba tháo mắt kính xệ xuống ; (vì cái kính lão bị bể mất một bên tròng, khiến bên có mắt kính bị nặng, cọng kính lỏng lẽo kéo đã xệ xuống, bên trống lổng không có mắt kính, thì treo lên cao, nhẹ hẩng, coi thật tức cười). Ba tôi ngẩng lên nhìn hai con:
        - Hai đứa ngồi xuống đó.
        - Dạ, thưa ba.
        - Hồi nãy có khách ở đây, nên ba không tiện kêu hai đứa vô nói chuyện. Bây giờ, hai đứa kể lại việc “ông thầy giáo” cho ba nghe rõ coi nà.

        Hai anh em liếc nhìn nhau, tôi len lén thò tay qua cào béo vào đùi anh mấy cái, cảm thấy phập phồng, hồi hộp… không biết có chuyện gì đây! Như thế, chắc chắn là chẳng phải do anh trai em gái học giỏi, sẽ được ba “thưởng” cho rồi. Anh ấp úng:
        - Dạ, thưa ba… con… con…
        - Sao? Hồi nãy hai đứa ngồi bên phòng học, không lo học, mà chuyên nói xấu người thứ ba, nói xấu người vắng mặt. Hừ… Khách và ba đã nghe rõ mồn một mà. Tại sao bây giờ tụi bây lại im re, hả?
        Anh em chúng tôi lo lắng cúi gầm đầu, anh Dzoãn lí nhí:
        - Dạ, con… biết lỗi.
        - Biết lỗi sao!?
        - Dạ, …thưa ba.
        - Vậy tốt. Con… (ba chỉ vào anh trai) đi ra ngoài chuồng vịt, bắt hai con vịt mái, nhớ là bắt con vịt mái thôi nghe, đem vô đây. Còn con Thụy xuống dưới bếp lấy muối, cây đèn, cái rổ, con dao, rồi đem lên đây luôn. Mau.

        Chúng tôi vâng vâng, dạ dạ… dù có băn khoăn, bỡ ngỡ, ngạc nhiên, thắc mắc… nhưng anh em hí hửng chạy đi làm việc ba sai. Lòng tôi cảm thấy vui vẻ lạ thường, vì nghĩ ba đã bỏ qua chuyện “nói xấu”, ba tha lỗi cho “con dại… cái mang”. Ba sẽ du di xí xóa chuyện con nói hành nói tỏi, nói xấu… và ba sẽ “khao” cho hai anh em đã học giỏi, nên được ba cho ăn thịt vịt, mà ăn thịt vịt mái tơ… thì có trứng non, trứng già, có bộ lòng mềm cùng cái “dồi trường” thơm ngon bá cháy! Khi hai anh em lí lắc cười reo khệ nệ bưng các thứ vô phòng làm việc của ba, hai con vịt bị anh Dzoãn xách cánh, xách chân, thì chúng luôn dẫy dụa kêu la inh ỏi. Thiệt là điếc con ráy quá đi! Ba ra lệnh:
        - Con Thụy cắt cổ con vịt.
        - Ôi, dạ… con không thể cắ… cắt… cổ vịt… Con sợ…
        - Vậy cứ để con vịt sống như vậy, mặc kệ nó kêu la, hai đứa ngồi xuống nhổ lông (khi con vịt còn sống). Sau khi nhổ lông vịt, thả hai con vịt ra, cho nó chạy về chuồng, mặc nó bị trọc lóc thân thể, mà đau đớn kêu la, và bị đồng bọn vịt bu lại đấu đá, cắn xé, vì con vật không cùng chủng loại dị hợm kia. Thì tụi bây bỏ lông vịt trong cái rổ nầy, đem lông vịt đi vất ra ngoài trời, cho lông vịt bay đi mọi nơi. Sau đó, hai đứa bây đi lượm lại đầy đủ, lượm sạch lông vịt, đem về đây. Ba sẽ thưởng công cho.

        Tôi kinh ngạc, làm sao có thể đi lượm lại đầy đủ lông vịt khô? Anh Dzoãn chưng hửng vì nghĩ rằng: “Chắc ba đã già, nên khù khờ, lù đù, lẩm cẩm rồi chăng. Vậy mà ba cũng làm ông thầy thuốc, chắc là ba sẽ cà tửng “bóp cổ, diệt” hết bệnh nhân chết queo rùi. Anh “trả treo” :
        - Muốn nhổ lông con vịt, thì phải cắt cổ vịt, cho nó chết, và trụng nước sôi. Nếu để vịt sống mà nhổ lông, thì không thể nào! Ba nói con đem lông vịt khô ráo, thả ra ngoài trời, thì lông bị gió cuốn bay đi hết, làm sao con đi lượm lặt lại được. Ba.
        - Không làm được như ba đã nói, hay sao?
        - Dạ phải.
        - À… Vậy thì… hai đứa bây đã biết có lỗi gì chưa?
        - Lỗi… ?
        - Vẫn không biết mình đã phạm lỗi gì à?
        - Dạ… thưa ba không.
        - Hừ… Hứ!... Tụi bây xúm lại a dua nói xấu người ta khi họ vắng mặt, mà không cảm thấy xấu hổ nhục nhã hay sao? Lời nói vọt ra từ cửa miệng, bay xa… ai ai cũng nghe, cũng biết; thì giống như con vịt bị trọc lóc, lõa lồ, không còn lông… đang quang quác kêu la đó. Lời nói xấu thoát ra khỏi miệng, cũng giống như những cái lông vịt khô bay đi, thì tụi bây có lượm lại được không? Hả!? “Câu nói như mủi tên, không nên bắn bậy. Tên đã lọt vô tai ai, thì không tài nào rút ra được”. Về việc “muối” và “cây đèn”, thì... Thịt. Cá nếu không ướp muối, thì thịt, cá sẽ bị ươn, thúi. Cây đèn khi đốt lửa là cho ta ánh sáng, (tượng trưng cho sự thông minh của trí tuệ). Nếu các con không thấm nhuần nền giáo dục chu đáo, có căn bản từ gia đình, học đường, xã hội, không có đức dục và rèn luyện trí dục. Không tri thức, không có ánh sáng, thì các con sẽ hư đốn, như cá không ăn muối, như cây đèn không tỏa sáng vậy.

        Chúng tôi cúi gầm đầu im re. Dạ, con hiểu rồi! Hai anh em đã bị ba phạt một ngày. Anh Dzoãn lớn hơn tôi, nên anh đi cuốc đất làm vườn trà. Ba “đì” tôi đi nhổ cỏ cú, cỏ chỉ, cỏ ống, cỏ tranh. Thiệt là quá nhọc nhằn, mệt muốn đứt hơi, tôi quá thất kinh vì cái tội vạ miệng “ăn mắm ăn muối, nói bậy bạ” nên ngồi “lam lũ” ở ngoài nắng. Đáng kiếp! Ôi! Cái chuyện “nhổ lông vịt” muôn đời đáng ghi nhớ ấy… là bài học quý giá hơn trăm ngàn vàng, chẳng thể quên! Anh, chị, em chúng tôi đã được sự giáo dục rất mực tôn nghiêm và chu đáo của mẹ cha. Tôi học hỏi nhiều điều bổ ích từ ơn cha nghĩa mẹ sinh thành dưỡng dục. Con xin trân trọng cảm ơn cha mẹ vô vàn. Tôi nguyện muôn đời ghi nhớ, sau nầy tôi hy vọng… sẽ truyền đạt kinh nghiệm sống và hữu ích lại cho con cháu mình noi theo gương lành.

        Lòng buồn khi bước về phố cũ
        Con ra đi đời lãng tử mộng trăng thềm
        Mơ hồng trần theo sông nước cảnh chiều êm
        Con nhớ lắm khi trăng lên xóm nhỏ
        Chân bước ngại ngần mây tím đổ
        Chiều về khắc khoải áo hồng vương
        Mẫu thân bên xoan đỏ phía sau vườn
        Cha dạy: Lý. Văn. Cửu chương. Hóa. Sử cũ
        Giờ đất khách tri ân mẹ cha trên phím chữ
        Hiển đạt đời con, ấp ủ mẫu phụ thân
        Vinh sang hạnh phúc bội phần
        Công cha dưỡng dục muôn vàn khắc sâu
        Nghĩa mẹ ngàn thuở bền lâu… (THH)

        * * *

        Tình Hoài Hương
        Cô Ba xem tin nhắn BM gởi.
        Last edited by BachMa; 06-16-2014, 01:47 AM.
        " không thành công .... thành gà"

        Comment

        • Tinh Hoai Huong
          Senior Member
          • May 2009
          • 1081

          #124
          Cám ơn ANH BẠCH MÃ

          Nguyên văn bởi BachMa View Post
          Cô Ba xem tin nhắn BM gởi.
          ***


          Anh Bạch Mã ui!
          Thiệt tình, là HH đã SỬA cả buổi vẫn không xong.
          Link HH đã post về CHA ME TÔI... (old) không có nhạc, chắc chắn là SAU KHI anh BM vô đó SỬA GIÚP rồi, nên nó mới chạy nhạc kèm theo.
          Cám ơn "anh không thành công" thì đã "thành PHƯỢNG" RỒI ha. Phượng tuyệt vời hơn hết!

          Chúc anh chị hạnh phúc & dồi dào sức khoẻ nhe
          HH
          Bút trần nào tả được lưu luyến!
          Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
          Tình Hoài Hương

          Comment

          • Tinh Hoai Huong
            Senior Member
            • May 2009
            • 1081

            #125
            Kinh thành HUẾ Thơ & Lăng Tẩm




            Kinh thành HUẾ Thơ & Lăng Tẩm

            “Đi bộ thì khiếp Hải Vân
            Đi thuyền thì khiếp sóng thần hang Dơi”...


            Khi đoàn xe mỏi mệt "bò" rất chậm xuống khỏi đèo Hải Vân Bắc, ai nấy đều cảm thấy nhẹ nhỏm, tuy lúc nầy thì khí hậu ở vùng dưới chân đèo phía Bắc đã thay đổi hẳn, nghiã là ở đây khá nóng, còn trên đỉnh đèo Hải Vân luôn luôn rất lạnh.

            Xe đi một đoạn ngắn là tới Làng *LĂNG CÔ nằm về phiá tay phải, sát cạnh quốc lộ 1. Bãi biển Lăng Cô còn gọi là "Vịnh Lăng Cô” an lạc giữa đèo Phú Gia và chân đèo Hải Vân Bắc. Lăng-Cô nép mình dọc rặng núi Bạch Mã hùng vĩ. Lăng Cô nơi suốt tháng năm biển xô sóng bạc đầu ì ầm gào thét, nước biển trong vắt, bãi cát mịn màng tuyệt đẹp. Lăng Cô nổi lên trên ba hướng biển bao bọc như một cù lao bồng bềnh, nhấp nhô uốn lượn sóng vỗ ngày đêm xôn xao nỗi nhớ thương dìu dặt. Lăng Cô gần giống chiếc thuyền trăng lả lướt trôi đi trôi về trong đại dương bao la. Thấp thoáng đó đây bao lọng dừa xanh, hàng thùy dương nhã nhạc dìu dịu êm êm, vi vu dưới bầu trời vần vũ mây trắng lãng đãng bay bay.

            Xa xa rừng *BẠCH MÃ với đường xe hơi ngoằn ngoèo leo lên núi dài 19km. Nơi đây có khoảng hơn một trăm ba mươi ngôi biệt thự được người Pháp xây dựng từ lâu. Núi Bạch Mã có 172 bậc cấp nện đất cứng dẫn tới thiền viện Linh Sơn Trúc Lâm. Khí hậu trên núi trong lành thoáng mát. Mặt trời ban mai nhảy nhót lung linh lóe lên những chùm nắng vàng anh, đan trong biển nước xanh xanh, tạo thành màu xanh cổ vịt lấp lánh. Đôi khi hừng lên màu cánh cam sáng chói, rực rỡ như chiếc cầu vồng uốn cong trên bầu trời thênh thang gió lộng. Xe ghé lại Lăng Cô, khách lữ hành mua tôm hùm, tôm sú, tôm vằn, tôm đất, mực khô, cua, ghẹ, sò huyết. Các loại cá biển vừa tươi ngon, lại rẻ nhất vùng. Họ khệ nệ bưng lên xe để mang về nhà làm quà biếu.

            Thoáng chốc xe đã chạy ngang qua vùng đất dọc ven biển: *THỪA LƯU, *CẦU HAI, *TRUỒI ở xã Lộc Hoà, huyện Phú Lộc; bờ biển có nhiều bãi đá nhỏ to chồng chất xếp lớp ven bờ. Truồi có những dòng suối mát lạnh và trong vắt. Rồi *HƯƠNG THỦY, qua phi trường *Phú Bài là một trong những phi trường lớn ở miền Trung, cách đất Thần Kinh không xa mấy (khoảng mười bảy, mười tám cây số). Qua cầu An Cựu là ta chính thức bước vào cửa ngỏ HUẾ thơ!
            “Núi Ngự Bình trước tròn sau méo
            Sông An Cựu nắng đục mưa trong” .


            Đúng là sông An Cựu mùa nắng nước đục, mùa mưa nước trong, kỳ lạ đặc biệt, dễ ghét mà rất dễ thương, sông nước là thế mà núi thật lạ lùng: Núi Ngự phiá trước trọc trọc tròn tròn, lơ thơ cây cỏ, phiá sau có méo méo thiệt dị dạng; nhưng mang tính đặc thù bí ẩn làm sao! Núi Ngự cao 105 mét, kèm hai bên núi đất nho nhỏ là tả Phù Sơn và hữu Phù Sơn. Thuở trước xa xưa núi Ngự có tên là Bằng Sơn (hoặc Bình Sơn). Sau nầy vua Gia Long đổi tên núi là Ngự Bình.

            Sông Hương bắt nguồn từ dãy núi Bạch Mã chảy dài dài qua dọc theo nhiều thác nguồn, rồi hợp lưu với Tả Trạch, Bằng Lãng, Hữu Trạch. Sông Hương trải rộng và chạy dài uốn lượn xanh thẳm giữa kinh thành, nước xuống nước lên lúc giận dữ cuộn sóng xô bờ, khi êm đềm nước thong dong chảy lặng lờ êm xuôi về Kim Long, Nguyệt Biều, Vỹ Dạ, Gia Hội, Đông Ba, Bao Vinh; tạo thành dòng Hương Giang dài ngoẵng mênh mông lượn lờ trong thành phố Huế. Sông Hương yêu kiều không kém phần thi vị và lãng mạn:
            Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
            Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên,
            Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
            Lá trúc che ngang mặt chữ điền

            Gió theo lối gió, mây đường mây
            Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay...
            Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
            Có chở trăng về kịp tối nay?

            Mơ khách đường xa, khách đường xa,
            Áo em trắng quá nhìn không ra...
            Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
            Ai biết tình ai có đậm đà?
            (HMT)

            *HUẾ ! di sản đặc biệt quý giá là tặng phẩm độc đáo của Trời ưu ái ban tặng, và cũng là sính lễ sang trọng của vua Chiêm Thành khi cưới công chúa Huyền Trân. Huế là vùng khí hậu nhiệt đới, có bốn mùa rõ rệt: Mặt trời luôn rót nắng vàng hanh chảy xuống Đại Nội. Mùa đông buồn lặng, đìu hiu ướt át, lụt lội gió bão mịt mù.

            Mùa Xuân xanh tươi, mát mẻ êm êm, trời trong xanh mây trắng nhẹ lâng lâng bay bay khắp đường đi nẽo về & đầy mùi hoa thơm. Mùa Hạ rực nắng tình hè, trời hâm hấp nóng nực kinh hồn với những hàng phượng Vỹ đỏ rực soi mình trên sông Hương, phượng nghiêng mình đứng bên hồ Tịnh Tâm. Ít ra từ mỗi sân trường, từng xóm làng… đâu đâu cũng có thể thấy hoa phượng rực rỡ tươi màu giữa nắng gió khuya chiều rộn rã tiếng ve sầu.

            Mùa Thu gợi nhiều lãng mạn, hiu hiu gió heo may đưa đẩy lá vàng hững hờ rụng lả tả bay bay.

            Mùa Đông buồn lặng, đìu hiu ướt át, lụt lội gió bão mịt mù, ảm đạm, não nề ốm nắng, trần mây xuống thấp, mưa bão triền miên, nhiều ngày lụt lội dâng cao. Dù gió lạnh buốt xương sống, nhưng thanh niên nam nữ vui thích ưa mặc áo mưa đi ra phố, họ đứng đông đúc xếp lớp dọc hai con phố chính là: đại lộ Trần Hưng Đạo và Phan Bội Châu, để nhìn thiên hạ bì bõm lội nước lụt.

            Nhắc đến Huế, nghe tên Huế… sao lòng mình cảm thấy rạt rào rung cảm, luyến thương dập dồn đến thế không biết!? Mười xin nói với Huế, nghĩ về Huế, ghi lại hình ảnh quần thể di tích lịch sử Huế từ những kỷ niệm long lanh lắng sâu trong hoài niệm. Mười thương Huế thuở còn rất nhỏ (lần đầu tiên với gia đình ba má từ Đà Lạt trở về quê cũ). Mười được thân nhân họ hàng anh chị cho du lãm rong chơi khắp kinh thành cổ kính trầm mặc đó đây: Cô nhỏ (trong mắt trẻ thơ) ngơ ngác nhìn dãi mây mềm mại vàng óng, vắt ngang lớp lớp hàng cau, chen cánh những hàng dừa trong hoàng hôn nghiêng bóng. Nhất là lúc nhìn thấy tổng thể kinh thành Đế Đô Huế quá mới mẻ lạ lùng, đầy tráng lệ nguy nga, ấy là lúc cô nhỏ cảm thấy choáng váng, bàng hoàng.

            Từ năm 1775 Đế-đô Huế được các vua chúa Nguyễn chọn nơi nầy làm Kinh-đô. Huế là một chỉnh thể kỳ quan, xây dựng tuyệt hảo nhất từ triều đại vua Gia Long. Huế có giá trị về văn-học-sử, cung điện vàng son mang đậm nét đặc thù, dân tộc tính, có những tên nghe khá “oai, hách, đài các, vinh sang” như: Điện Cần Chánh, Đại Cung Môn dành riêng cho hoàng gia. Càn Thanh là nơi vua nghỉ ngơi. Thái Bình Lâu đọc sách gần vườn Ngự Uyển.

            Trước tiên là kỳ đài, sân đại triều rộng lát đá xanh có cửu đỉnh, điện Thái Hoà là nơi an ngự và làm việc của vua, nơi quan trọng tổ chức các buổi thiết triều. Có ao sen cầu vồng, hồ cá hòn non bộ lung linh dưới nước khi chiều tà xế bóng. Đại nội có hệ thống kiến trúc cung đình, đền đài, chùa miếu rất hoành tráng, tuyệt mỹ, kiên cố, cổ kính, vĩ đại: từ kèo, cột, câu đầu, thượng lương, vân vân... Có Hoàng Thành là vòng thành thứ nhì. Tử Cấm Thành tách bạch với bên ngoài. Cửa chánh khởi đầu là cửa Ngọ Môn coi bề thế. Trên vòm cổng là lầu Ngũ Phụng. Cửa Thượng Tứ, cửa Đông Ba, cửa Chánh Tây, nhà Đồ, cửa Ngăn, cửa Hiển Nhơn, Chương Đức, cửa Hậu. Nội Thành trang nghiêm kín đáo có hai ổ súng thần công: Một bên là: Kim, Mộc, Hoả, Thủy, Thổ. Bên kia là: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Hồ Tịnh Tâm vời vợi tình luyến thương hoài cổ, ngậm ngùi thương cảm một thời hưng thịnh.

            Thời vàng son vua chúa có những nghi thức và cung cách riêng, biệt lập cùng những tên gọi nghe “rất kêu; rất hách và đỏm đáng” như: Hoàng hậu, qúy phi thì ở trong cung có tên gọi “Không Thái”. “Duyệt Thường Thị” là phòng dành cho mọi người xem văn nghệ; nơi đặc thù văn hoá kết hợp sít sao giữa giao-ca dân dã tình tứ, có thứ tự, hài hoà, bài bản, lớp lang với giao-ca cung đình khuê các. “Thái Y Viện” là trung tâm y tế. “Thượng Thiện” là nhà bếp.
            * * *

            Phía Nam sông Hương và phía Tây núi Ngự là khu quầng thể lăng tẩm, tích tụ nhiều lối điêu khắc tinh vi, có cửu đỉnh đúc đồng thau kỷ thuật tinh xảo, mỗi đỉnh mang một tên riêng, tượng trưng cho mỗi vì vua. Đỉnh có 18 hoạ tiết phong cảnh, hoa chim, khắc chữ nổi mang tên mỗi đỉnh, như: Cao. Nhân. Chương. Anh. Nghị. Thần. Tuyên. Dụ. Huyền. Cao Đỉnh cao 2m rưỡi là to lớn bề thế nhất. Huyền Đỉnh cao 2m,31phân, nhỏ nhắn xinh xinh. Bên phải có miếu Triệu, Thái, Hưng, Thế, Phụng Thiên. Mái nhà lợp ngói hoàng lưu ly, cột chạm rồng to uốn khúc giác vàng kim nhũ. Trần phi vân. Vách khắc kỳ công, chạm trổ tinh vi, có giá trị vô cùng phong phú.

            Từ những hình bát mã, bạch tượng, kỳ lân, tứ linh, tứ quý, quan văn, quan võ, đại thần phân chia rõ thứ hạng, phẩm trật từ các lăng: Minh Mạng. Thiệu Trị. Đồng Khánh. Tự Đức. Gia Long. Khải Định… vân vân… Lăng tẩm Đế Đô đất Thần Kinh nghìn năm vang bóng, gồm hai phần chính: Lăng là mộ phần. Tẩm là nơi thờ cúng.

            1./ Lăng GIA LONG (tên thật vua: Nguyễn Phúc Ánh, 1762-1819, miếu hiệu: Thế Tổ Cao hoàng đế). Lăng xây ở làng Định Môn, xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, xa trung tâm kinh thành Huế khoảng 16 km về hướng Bắc – Nam, quần thể “hiệp lăng” do quy tụ có nhiều người thân tộc đã chết trước, sau, chôn rải rác quanh vùng, nên chu vi rộng 2.875ha; (riêng lăng 1800m, 20ha) có 43 ngọn núi đại Thiên Thọ chầu quanh mộ chính, thuộc quận Nam Hoà, lăng về hướng Nam đơn sơ xây từ 1814 rộng thênh thang, đơn giản, bao la trầm mặc, buồn thiu bên bờ Tả Trạch, có sông nhỏ nước chảy lặng lờ. Có hồ bán nguyệt đầy sen. Hàng quan văn= 5 tượng đá. Võ sĩ quan= 5 tượng đá đứng thẳng tắp với hai con rồng ở các tầng cấp của bậc sân đắp gạch vôi. Hai con ngựa to, hai con voi đá lớn ở Bái Đình. Sân sau rợp bóng cây cổ thụ chằng chịt.

            Lăng Gia Long đặc biệt độc đáo bởi có hai mộ táng phẳng lì, màu nhờ nhợ đen đen than đá bình dị, đơn sơ, không chạm trổ của thi hài vua và hoàng hậu nằm song song yên nghỉ bên nhau. Lăng Gia Long xa xôi bao bọc núi rừng trùng điệp âm u, chen lẫn đồng bằng bị mài mòn bởi tiếng thổn thức của thời gian. Cảnh trí lăng hài hoà im lắng, thâm sâu, không có la thành, tuy thế vẫn hùng tráng, đơn điệu ngó thật quá buồn phiền sao đâu. Khi vua Gia Long đã thu phục giang sơn từ Bắc xuống Nam, vua đã đặt tên nước: Việt Nam, lúc bấy giờ chính trị trong nước đỗ nát, mọi việc cần phải chỉnh đốn, sửa sang.

            Triều chính trải qua những khó khăn, khốn đốn rất nhọc nhằn, vất vã, gian nan vô cùng, nào là: thưởng, phạt, tặng phong, làm đền thờ cho chiến sĩ tử vong. Phát huy và xây dựng đất nước, từ các việc: - Tổ chức lại thuế đinh bạ, điền bạ. Mở sở đúc tiền đồng, kẽm, nén bạc, nén vàng. Vua chuẩn định lại thước đo, cái cân chính xác. Sửa sang quan lộ, đường sá, đắp đê điều, cầu cống, sông ngòi, xạy chợ, nhà thương, v.v… Tới việc in sách làm ra luật pháp. Mở mang trường học gồm các trường: võ, văn, quốc sử, địa dư. Song song với việc an cư trong nước, vua Gia Long đã mở rộng bang giao với: Tàu. Chân lạp. Xiêm La. Anh Cát Lợi. Pháp. Thời kỳ thịnh trị của vua Gia Long có những tháng năm phú cường, (sau chiến tranh giành thắng, vua đã nghe lời nịnh thần xiểm nịnh, mới ra nông nỗi… !!!

            a./ [*Vua Gia Long có tài trí mở mang bờ cõi, khôn ngoan, lừng danh trong thời chinh chiến gian truân, đã thống nhất giang sơn, khôi phục nghiệp lớn là thế. Tuy nhiên, ngài có yếu điểm là sự “căm thù tột đỉnh” (nghe lời nịnh thần)… khi vua (Thế Tổ) về kinh thành năm Nhâm Tuất 1802, thì vua Gia Long đem vua tôi nhà Tây Sơn về kinh, làm lễ hiến phù ở đền Thái Miếu xong, vua Gia Long đem họ ra pháp trường trừng trị. & Ông cho quật mả vua Nguyễn Nhạc & vua Nguyễn Huệ lên, vứt thây đi, còn đầu lâu thì đem giam ở trong ngục tối* (*)=ít trích dẫn từ Việt Nam Sử Lược, (VNSL, Trần Trọng Kim),trang 172)].

            b./ ông Nguyễn Văn Thành phải uống thuốc độc chết. Nguyễn văn Thuyên bị chém. Ông Đặng Trần Thường bị bắt bỏ ngục xử tội giảo (trích dẫn VNSL trang 187).

            2.- Lăng MINH MẠNG (tên vua Nguyễn Phúc Đảm 1791-1840, miếu hiệu: Thánh Tổ Nhân hoàng-đế) Bao quanh núi Cẩm Khê, và có núi Kim Phụng án chầu, lăng xây năm 1840, xa trung tâm kinh thành Huế 12km, ở La Khê Bãi, xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, lăng về hướng Tây-Đông rộng 1732m, 15ha. Bửu thành xây hình tròn, tường thành cao cỡ 3m, có ba cửa vào lăng.

            Tổng thể lăng Minh Mạng nhìn phần trước thì rộng, thoáng và phóng khoáng, bề mặt đăng đối, uy nghiêm, đường bệ. Nhưng càng bước tới khu chính điện thì chu vi và chiều dài khu lăng sâu hun hút, vời vợi. Càng vào gần lăng thì lối kiến trúc lại dày, quy mô. Lăng đường bệ an ngự trong vùng đầm phá đất cổ thoáng mát, núi đồi, sông ngòi, khe suối, có hồ Trừng Minh nước xanh mơ màng đầy sen đung đưa trong gió thoảng mùi hương dìu dịu, và cầu Hữu Bật nhịp nhàng tiết tấu với hàng tượng đá phân chia thứ hạng, phẩm trật, quần thần. 5 quan văn đá= (có năm bậc, gọi là ngũ phẩm). 5 quan vỏ đá (có bốn bậc, gọi là tứ phẩm). Có hai voi, hai ngựa chầu thánh điện.

            Quan tài vua Minh Mạng chôn tại Bửu Thành. Vua Minh Mạng là người tài trí, thông minh, văn hay chữ tốt, uyên thâm nho học. Chính vì vua là người rất sùng đạo giáo, trọng đạo Khổng, Mạnh, coi đạo nầy là chính đạo. Vì thế vua nghiêm khắc, chuyên chế, nhiều cương ít nhu, rất uy quyền, bạo tàn trong việc cấm ngặt người Việt theo đạo Ki tô, vua ra nhục hình cho người Việt có đạo Thiên Chúa, ít độ lượng khoan dung bằng các nhục hình dã man, nếu họ không chịu từ bỏ đạo, thì họ phải bị: lăng trì, cho ngựa xé, voi dày, giết họ đến chết không tha, (vì cái tội mình là người Việt lại theo “tả đạo, là đạo ngoại lai Tây phương”).

            Đối ngoại thì Vua thân chinh đi ngàn dặm xa xôi muôn ngàn cách trở mà đánh Xiêm La, Lào, ổn định bờ cõi Việt Nam. Vua thành công trong việc nâng cao đời sống cho dân giàu nước thịnh sửa sang việc nhà, việc nước. Tuy nhiên vua Minh Mạng là người rất hết lòng lo cho quốc thái dân an, luôn sống trọn vẹn vì tổ quốc vì dân, ngài muốn nâng dân trí lên cao, hiếu học. Vua mở Quốc Tử Giám, vào những năm: tí, ngọ, mẹo, dậu thì có trường thi Hương.

            Năm: thìn, tuất sửu, mùi, thì mở trường thi Hội, Đình, cho giám sinh có điều kiện học hành, dễ dàng có cơ hội thi thố tài năng, và tuyển chọn xứng đáng người khoa bảng ưu tú mỗi năm. Ngài nghiêm cấm và xử luật những kẻ cường hào ác bá, chuyên bắt nạc dậm dọa bá tánh hiền dân. Kẻ cờ bạc, rượu trà say sưa phải trừng trị thỏa đáng. Ngài lập ra nhà dưỡng tế cứu giúp bần nông cùng đinh nghèo khổ.
            (… ít trích dẫn ghi vắn tắt: …)… Vua Minh Mạng, quan tướng, binh sĩ vất vả vô cùng diệt “giặc trong khởi loạn” khi nhiều dư đảng đang nhiễu loạn khuấy rối trong nước, như: Phan Bá Vành. Lê Duy Lương. Nông Văn Vân. Lê Văn Khôi (con nuôi của tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt). Tuy rằng Lê Văn Duyệt là một đại công thần đã chết, nhưng do bè đảng nịnh thần ác ý bới móc dâng sớ liên tiếp tấu trình, nên vua Thánh Tông đã ra chiếu dụ rằng:

            Nhổ từng cái tóc Lê Văn Duyệt mà kể, cũng không hết, nói ra đau lòng, dù có bổ quan-quách mà giết thây, cũng là đáng tội. Song nghĩ hắn chết đã lâu, đã truy đoạt quan tước, xương khô trong mả, không bỏ gia đình. Vậy, cho tổng đốc Gia Định đến mả hắn san bằng thành đất phẳng, dựng bia khắc lên câu: “Chỗ nầy là nơi quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp” ; trẫm chỉnh tội danh cho kẻ đã chết, tỏ phép nước về đời sau làm gương cho kẻ quyền gian muôn đời”… ).

            Mãi đến nhiều năm sau có quan đại học sĩ đông các tên Võ Xuân Cẩn làm sớ tâu trình xin vua gia ân cho các ông “nghịch tặc” trên ấy… như sau: “thân lại đại tướng, quận công, ví dù cậy công mà làm thành tội, có tội thì tội đã trị rồi, mà có công thì không ai nói đến, chẳng hóa ra đem công lao bách chiến bách thắng của Lê Văn Duyệt làm thành cái tàn hồn phải bơ vơ như ma quỷ ngoài đồng, không ai thờ cúng không?”. Sau nầy vua Dực Tông xem sớ ấy, rất cảm động, bèn truy phong phẩm hàm cho con cháu họ. (Than ôi!!!)


            3.- Lăng THIỆU TRỊ (tên vua: Nguyễn Phúc Miên Tông 1807-1847, miếu hiệu: Hiến Tổ Chương hoàng-đế ). Lăng về hướng Đông-Nam Tây-Bắc, rộng 1000m, 6ha. Lăng có chân núi Thuận Đạo cận tiện, núi Chằm, núi Kim Ngọc, núi Ngọc Trản “tả long hữu hổ” chầu và động Bàu Hồ, có đồi Vọng Cảnh ở Làng Cư Chánh, Xã Thủy Bằng, Huyện Hương Thủy. Lăng xa trung tâm kinh thành Huế 7,5km, có đường hầm để đưa quan tài vua vô huyệt mộ (gọi là đường toại-đạo). Lăng Thiệu Trị trầm mặc, tuy đơn sơ khiêm nhường an phận nhất trong các lăng, nhưng không vì thế mà kém bề thế, dồi dào kiến trúc tinh xảo, sắc cạnh… với 2 voi, 2 ngựa, 10 người đá oai hùng gần ba hồ Nhuận Trạch, Ngưng Thúy, hồ Điện.

            Cũng trong chu vi khu đất nầy còn có ba lăng mộ là: Hiếu Đông (bà Hồ thị Hoa, mẹ vua) – Xương Thọ Lăng (bà Từ Dũ, vợ vua) và những khu mộ con vua (bị chết lúc còn nhỏ gọi là “tảo thương”). Thế nên nhà nghiên cứu G.Langland (Pháp) đã nói: “Le tombeau de Thieu Tri peut être considéré comme une des réalisations les plus originales de l’art annamite du XIXe siècle” (Lăng Thiệu trị có thể nghệ thuật được xem là một trong những thành tựu độc đáo nhất của nền mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XIX).

            4.- Lăng TỰ ĐỨC (tên vua: Nguyễn Phúc Hồng Nhậm 1829-1883, miến hiệu: Dực Tông Anh hoàng đế). Lăng xây 1864 trên núi Khiêm Sơn, Động Án về hướng Tây-Đông, thuộc Dương Xuân Thượng, (thôn Thượng Ba), xã Thủy Xuân, xa trung tâm kinh thành Huế 7km. Khu lăng có 2 voi đá, 2 ngựa đá, và 8 tượng đá quan thần. Rừng thông reo vui trong gió ngút ngàn, đất đai phì nhiêu rộng vài chục mẫu. Thành quách cao uốn lượn hài hòa bao bọc theo địa hình khuôn đất màu mỡ và phóng khoáng, có hồ Lưu Khiêm, thủy tạ sinh động, hào, cây cảnh tạo hình, hồ sen bạt ngàn hoa, đắp đất thành đảo Tịnh Khiêm soi bóng xuống mặt hồ trong xanh, nhà bia được bài trí hài hòa bởi rừng thông ngút ngàn ngày đêm reo vi vu, nơi nầy vua cùng các quan văn, võ ưa làm thơ phú, hoặc bàn chuyện chính trị. Trong hậu cung xây nhiều tòa nhà ngang dọc đền đài nho nhỏ xinh xinh.

            Vua Tự Đức tâm tính hiền lành, nhân hậu, có tiết tháo và phẩm cách cao quý. Ngài vô cùng hiếu thảo với cha mẹ và thương quan, dân, như con. Vua uyên thâm nho-học, đa cảm mà đầy nghệ thuật tính. Vua giỏi: sử, triết, văn, thơ. Vua làm 600 bài văn, nhất là vua thi sĩ trữ tình có 4.000 bài thơ chữ Hán, 100 bài thơ Nôm rất hay). Vua chú trọng đến việc nước, nhất là Sĩ: chăm lo về việc giáo dục, học hành, thi cử. Nông: chuyên làm ruộng. Công: dạy nghề, học những nghề căn bản tiểu công nghệ, dệt vải, thợ mộc, thợ rèn, v.v….

            Thương buôn bán nhỏ từ trên thuyền, dưới bến đường bộ, đường núi. Những phẩm chất cao quý của vua Tự Đức rất đáng trân trọng, tuy nhiên do việc triều đình vua Tự Đức không mở cửa buôn bán với ngoại quốc, việc nghiêm cấm người Việt theo đạo Kitô và giết những giáo sĩ: Y Pha Nho. Bonard. Charbonnier. Matheron… khiến mối giao hảo Pháp-Việt đã nhạt nhẽo, bất hòa, càng thêm rạn nứt trầm trọng (xin xem thêm “Histoire de la Cochinchine” – tác giả P. Cultru).

            5.- Lăng DỤC ĐỨC (tên vua: Nguyễn Phúc Ưng Chân 1853- 6-10-1883, miến hiệu: Cung Tông Huệ hoàng đế). Lăng ở đông–tây Phường An Cựu, xa kinh thành Huế chưa đầy 3km. Lăng thuở trước rất bé nhỏ, đơn sơ, nhưng sau nầy vua Thành Thái xây lại coi cũng không đến nỗi nào bé. Từ khi vua Tự Đức chết, thì cái ngai vàng oái oăm ấy đã trở nên vô cùng rối rắm, hỗn loạn vô biên với 3 và thêm 4 đời vua (những người thuộc các hệ khác của hoàng tộc Nguyễn Phúc… thay phiên nhau lên ngôi chỉ trong vòng 4 tháng: Dục Đức. Hiệp Hòa. Kiến Phúc. Khốn thay lại có thêm 4 đời vua ngắn ngủi nữa: Hàm Nghi. Đồng Khánh. Thành Thái. Duy Tân).

            {Ở giai đoạn lịch sử triều đình Việt Nam lúc bấy giờ quá rối rắm, phức tạp, do bọn chuyên quyền gian ác phụ chính đại thần trong triều thao túng, gây ra đẫm máu. Vua Dục Đức là hoàng trưởng tử khi lên ngôi lúc 32 tuổi, chỉ làm vua 3 ngày, là bị phế, bị quản thúc, bị giam. Sau 1 tuần họ không cho vua ăn, uống, nên ngài bị chết đói. Vua chết mà trong triều không cho gia đình của vua biết tin, chỉ bó tấm chiếu sơ sài, có một ông lính canh, và hai người gánh thi hài vua đi giữa trời mưa gió lạnh lẽo, đến một khe mương thì chiếu bị đứt dây, vua Dục Đức rơi xuống vũng nước. Thế nên họ đào đất sơ sơ rồi chôn vua tại đó}.

            - (ít trích dẫn trên là rất đại cương, vắn tắt. Mời xem thêm từ “Lăng tẩm Huế, một kỳ quan. Phan Thuận An).

            6./ Lăng ĐỒNG KHÁNH – (Tên vua: Nguyễn Phúc Ưng Đường, 1853-1883 - miến hiệu: Cung Tông Huệ hoàng đế). Lăng về hướng Đông Nam–Tây Bắc, tại thôn Thượng Ba, xã Thủy Xuân, cách xa kinh thành Huế 7,5km. Lăng có lối kiến trúc tương đối dày, có lan can xây chung quanh, trước khu vực tẩm lăng có một hồ bán nguyệt đầy sen, mây in hình trên mặt nước hồ êm ả, mây bay ngang qua núi Thiên Thai. Cửa Nghi Môn dựng ở mặt trước sân lát gạch giữa sân chầu có 2 voi, 2 ngựa, và 8 quan viên gầy và cao đã đắp vôi gạch (khác hẳn với lăng tẩm khác đã tạc bằng đá, khổ người đá lùn, thấp). Tại các tầng sân tế, Bi Đình, Bái Đình, Bửu Thành đều sử dụng gạch carô, xi măng, gạch hoa màu tráng men. Cửa Nghi-môn ở Bái Đình, có hàng tượng văn võ quan viên lát gạch giữa sân chầu, có bài văn bia của vua Khải Định viết và khắc ở hai mặt bia.

            Tòa nhà kép được pha trộn mỹ thuật kiến trúc Á-Âu tuy nhiên lối thiết kế, tạo hình đặc sắc, hội họa, thủ công tinh xảo ấy đã ghép vào các nơi rất tuyệt từ: vì kèo hình chữ tam mắc máng xối ở chính giữa và chảy xuống một bên hè. Nội thất điện Ngưng Hy là tòa nhà lộng lẫy có kính màu lắp vào các ô cửa. Trên bờ quyết, nóc, đầu hồi, cổ diêm… sơn son thiếp vàng, đa số làm đất nung tráng lớp men màu ngủ sắc. Chung quanh các vách tường, cây cột… thường: khắc, viết, vẽ, trên pa-nô, những hình ảnh sống động nổi ra, lộ ra bên ngoài tường, vách, tường, cột khảm xà cừ, đất nung tráng men màu, điêu khắc tuyệt hảo với nhiều màu sắc chói lọi, từ: chuyện cổ truyền dân gian, chuyện “Nhị thập tứ hiếu”, “ngư tiều canh mục”, cây cỏ hoa lá, cầm kỳ thi tửu, rắn, tắc kè, gà, ngựa, voi, v.v… Quan tài vua quàn tại điện Ngưng Hy ngày 18.4.1889.

            7.- Lăng KHẢI ĐỊNH (tên vua: Nguyễn Phúc Bửu Đảo, sinh 1885-1925, miến hiệu Hoằng Tông Tuyên hoàng-đế). Lăng Khải Định uy nghi trên ngọn đồi khá cao lồng lộng gió. Thiên nhiên hùng vĩ với rừng thông ngút ngàn, và ngoại cảnh hữu tình êm ả, hồn nhiên an ngự trong tư thế hổ phục rồng chầu bên tả hữu lăng. Lăng an ngự hướng Đông-bắc Tây-nam, tại làng Châu Chử, xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, cách xa kinh thành Huế 10km. Có dòng khe Châu Ê chẻ ra hai phía loanh quanh khu đồi, rồi tụ lại theo phong thủy “chi huyền thủy”, có núi Kim Sơn & Chóp Vung làm bối cảnh.

            Lăng đứng sừng sững ở mé núi Châu Chử có khe Châu Ê nhiều nước độc, nên dân gian thời đó đã có câu: “Châu Ê ơi hỡi Châu Ê. Khi đi thì có. Khi về thì không”. Từ dưới chân đồi ta phải đi lên 127 bậc cấp, và chia ra thành 5 tầng cấp có những con rồng ngồi trên bờ tường rào gạch dài và rộng. Lăng an ngự trên sườn núi kiến trúc theo kiểu mới (éléments modernes) như một tòa lâu đài rộng rãi, nguy nga, tráng lệ nhất được tô điểm hài hòa khéo léo từ kiến trúc cảnh quan hơn các lăng kia (landscape architecture). Biến tấu giữa thiên nhiên cẩm lệ và toà lâu đài độc đáo, tráng lệ, hùng vĩ, đồ sộ, theo kiểu tân thời đúc bê tông cốt sắt, ngói ardoise, xi măng, cửa sắt, cột thu lôi (paratonnerre), đèn diện, vật liệu… phải mua bên Pháp chuyển về. Loại sành ngang chở đến xây từ Hà Đông. Vỏ chai, sứ tốt, thủy tinh tân thời được nhập về từ Nhật và Tàu. Bậc cấp đá hoa cương dẫn lên chính điện đẹp. Trên bậc sân vẫn có 2 voi, 2 ngựa và 20 người đá to lớn bằng người thật, 10 quan văn đội mũ có thẻ ngang, 10 quan võ đội mũ tròn và cầm gươm, mà thi sĩ Pháp Charles Patris đã ghi:

            Voici tes éléphants, armés pour la bataille. (Đây là voi, sẵn sàng ra chiến trận)
            Et tout auprès, dressés en leur très haute taille. (Và đây là các tướng lãnh hiên ngang)
            De ton palais futur les nobles maréchaux. (Ta nhận ra, qua nghi biểu nghiêm trang)
            Je reconnais tel vieux ministre à son air grave. (Quan thượng thư già, nhà thơ đức độ)
            Ce fin lettré, modeste, et si maigre et si hâve. (Người tiều tụy, mặt gầy gò, khắc khổ)
            Dans sa rigueur d’ ascète allait à pas déchaux. [(Giữa sân chầu đang lê bước chân không. (‘Lời Việt PTA’)]

            Chính điện lăng Khải Định có nền lăng láng xi măng xanh xám, những bức họa long vân trên trần rộng dài và rộng ở ba gian chính uốn lượn tinh xảo, nhịp nhàng. Tường vách, vẽ chim chóc bay lượn, thú vật nhảy nhót, hoặc khắc mai, lan, cúc, trúc. Bát bửu. Ngũ phúc. Hoa văn làm mô hình đắp nổi chữ vạn thọ, phúc… Tường ghép thủy tinh, sành sứ màu xanh, đá tai mèo. Tượng vua Khải Định ngồi trên ngai vàng vua ngự có mạ một lớp vàng bên ngoài, do hai do ông người Pháp: ông P. Ducuing tạc, và ông F.Barbedienne đúc.

            Phía sau ngai vàng là một hình phong cảnh buổi hoàng hôn mặt trời đỏ ối bên núi đồi sông nước và gió thổi bờ tre cây cành nghiêng bóng. Còn một bức tượng toàn thân vua Khải Định đang đứng thì đặt tại Bi Đình do một ông lính thợ Việt Nam quê ở Quảng Nam đúc. Những di tích còn để lại ở lăng Khải Định còn chưng bày áo mão, nhung y lễ phục, tủ giường, bàn ghế, v.v… khay trà, cơi trầu, bình vôi, hộp thuốc, trắp cẩn xà cừ, đèn, gương soi mặt, mắt kính, sách vở, bút mực…

            Ở trong miền Nam Việt Nam thì có các lăng:
            - Lăng Thượng Công Lê Văn Duyệt ở tại chợ Bà Chiểu.
            - Lăng Phò Mã Hậu Quân Võ Tánh nằm trong vùng đất quân sự.
            - Lăng Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu ở trên đường Trương Tấn Bửu.
            - Lăng Bình Giang Bá Võ Di Nguy ở Phú Nhuận.
            - Lăng Bá Đa Lộc thường gọi là Lăng Cha Cả ở Tân Sơn Nhứt.
            - Lăng Nguyễn Văn Học được người Pháp gọi là "Tombeau du Marechal Nguyễn Văn Học".
            - Lăng Ông Nhiêu Lộc trong sân bay Tân Sơn Nhứt).
            * * *

            Kinh thành Huế có Phú Văn Lâu nổi cao trên mặt thành. Chợ Đông Ba là ngôi chợ lớn nhất nơi xứ Huế an ngự bên dòng sông Hương, dướI bến ghe thuyền chở đầy cá tôm lên bờ, trên đường người vô kẻ ra tấp nập, ồn ào huyên náo. Họ nói nhỏ nhẹ ríu rít dập dìu như những tiếng chim, như điệu hò mái nhì, điệu nam ai. Hầu hết nhà nhà đều có vườn cây hoa trái tốt tươi. Nhiều giọng nói ân tình nghe rất nhẹ ríu rít lao xao trong chợ Đông Ba chộn rộn. Mười xuống đò xuôi mái chèo lần theo ven bờ sông Hương, lên cầu Bạch Hổ văng vẵng nghe hồi chuông Thiên Mụ (xây năm 1601 có tháp Phước Duyên xây 7 tầng) ngân nga vang vọng:
            “Gió đưa cành trúc la đà.
            Tiếng chuông Thiên Mụ canh ga Thọ Xương”.


            Và một bài thơ về Huế:
            * Lâu chưa về thăm… nhớ Huế
            Nắng hồng vương Vĩ Dạ ấp hàng cau
            Áo màu sim em khép nép qua cầu
            Tay giữ nón ngang Phú Vân Lâu phượng đỏ.

            Núi Ngự chiều dâng chim kiếm tổ
            Sông Hương trăng luyến khách đưa đò

            Nắng ngày xưa nay trôi giạt nơi mô?
            Đường phố cũ và cơn mưa dầm Thượng Tứ.
            Làn gió thoảng hồi chuông từ cổ tự
            Ngả bên sông Tháp Thiên Mụ in dòng
            Hương Giang sóng vỗ trong lòng
            Xa nhau từ đó hết Đông lại Hè
            Nhớ sao phượng đỏ lời ve...
            (*THH)

            Bờ môi Mười trào dâng vị ngon, tuổi thích mè xững, ô mai xí muội, me chua khế ngọt, ổi đào, cầm trên tay trái cóc ngâm muối đường chua chua ngọt ngọt chấm muối ớt, cắn vào răng hít hà hít hít… cay cay mà ngon ơi là ngon, làm chết thèm mấy đưá bạn đứng nhìn mình chảy nước miếng ròng ròng chớ chẳng chơi! Dẫu có nhắm mắt, lớn nhanh lên hay đã già, Mười tin mình vẫn hình dung được dĩ vãng trôi về trong hiện tại, khi xe đi ngang qua cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp nầy.

            Ngày ấy, Mười, nữ sinh lớp Đệ Thất ríu ra ríu rít trong đồng phục trắng, cô đơn, (vì “ẻm” ở xứ lạnh mới về, chưa hề quen trường mới, không có bạn mới, từ trường nữ Trung học Đồng Khánh ở đường Jules Ferry, chân Mười mang guốc vông lẹt đẹt, vành nón lá kéo nghiêng che muôn sợi mưa li ti, bay bay, phủ mờ nhoà thành phố, khi mùa Đông mưa gió, lụt lội tràn về. Tóc thề mướt mát, nặng trong gió, Mười ôm cặp kè kè bên hông, thân co ro, môi run run bởi gió rét mưa phùn buốt lạnh. Khi muà Xuân tới mặt trời nhú dạng trên những lùm cây, Mười cùng hàng hàng lớp lớp nữ sinh, tâm hồn thanh thản, nhẹ nhàng, trong sáng, vui tươi bước đi hân hoan dưới những vòm cây rợp bóng, có lọng dừa lọng cau bao bọc tứ bề. Mùa Hạ về Mười cùng bạn Huế có giọng nói chính gốc nội thành, khi họ cất tiếng oanh vàng thỏ thẻ thì nghe thanh tao, nhã nhạc như reo vui với tuổi trẻ an thư hồn nhiên.

            Họ tung tiếng cười bay theo tiếng ve ra rã trên chùm phượng vỹ cao vời vợi, hoa đỏ thắm nhuộm đầy vùng trời Đế Đô. Mấy bạn xứ Huế ưa chọc ghẹo con nhỏ Đà Lạt là: …“khách ngất ngây khi hoa nở trên má, … nhớ hoa đào trên má ai…, màu hoa in trên má, làm khách lưu luyến mãi…”
            Khiến con nhỏ tức tưởi hờn dỗi nghĩ rằng:

            - “Mình nào có làm cho đôi má hồng hồng, đôi môi mòng mọng tươi tắn đâu, mà là do Trời ưu ái ban cho các cô gái Đà Lạt xinh xinh đẹp đẹp tự nhiên đều như thế! Chứ nào phải tự ên dồi phấn thoa môi son”! Các bạn lại tha hồ quệt quệt vô má con nhỏ mà lêu lêu mắc cỡ: Khiến con nhỏ òa khóc ngon lành, và trốn biệt xứ Huế thơ mộng, để trở về Đà Lạt chui vô nội trú trong trường Couvent des Oiseaux. Vì,:
            Chi lạ rứa chiều nay tui muốn khóc
            Ngó chi tui loài cỏ mọn hoa hèn
            Nhìn chi tui hình đom đóm trong đêm
            Cho thêm tủi bên ni bờ cô tịch
            (NTH)


            Lòng Mười dạt dào niềm luyến thương cảm mến vô tận với Huế. Chỉ vì, cô bé trước kia là cư dân sinh trưởng ở vùng Đà Lạt nho nhỏ xinh xinh, hiền hoà, (không kém phần thi vị, thơ mộng). Nay quay gót về kinh thành Huế rộng thênh thang, ngây dại bảng lảng trước phách lá hồn hoa: Mộc lan, mẫu đơn, hoàng lan, hoa sen, hoa súng, hoa lục bình, hoa cau, hoa ổi, hoa ngâu, hoa lài, hoa trang, hoa quỳnh, hoa hướng dương, hoa me li ti, hoa phượng đỏ rực rỡ. Huế nên thơ trầm lặng, len lỏi trong lòng cô bé chớm lớn niềm an thư sạch trong, sáng ngần… chẳng hụt vơi tình xanh. Cô em cứ tưởng đời mãi mãi là một màu xanh, xanh xanh trên con đường thiên lý thênh thang ngút ngàn. Ai ngờ… con nhỏ Đà Lạt ngu-ngơ chẳng hiểu anh xứ Huế ghé tai… "noái chi, mô, tê, răng... mà lạ lùng dị dạng rứa… hè:

            Để nghe len lén duyên tình giăng tơ.
            "Mua lửa" thì thật phải lo
            Vì là mua chịu ai cho "lửa" hoài

            "Mắc lửa" là thiếu nợ dài
            "Lửa" chi không thiếu, chẳng phai "lửa tình"
            "Sáng mơi" là lúc bình minh
            Của ngày kế tiếp, nong tình đem phơi

            "Bữa tê" em hẹn lại chơi
            Quên bẵng cái việc em mời bữa kia
            Bữa tề" mang lịch ra chia
            Bữa tể" là trước bữa kia hai ngày

            "Bữa ni" là bữa hôm nay
            Là lúc đương nói hàng hai đây nì
            "Mần chi" ai hỏi làm chi
            Em muốn làm gi`, "răng hoải mần chi?"

            Thế này thì nói "ri nì"
            "Rứa tề", thế đó mần chi đây hè?
            Cái cây thì noái cái "que"
            Còn ở trước hè lại nói cái "cươi"

            Cái "ôn" bản mặt tươi tươi
            Ưa đi tán bậy là người vô duyên

            ---

            (*) Thơ Tình HOÀI HƯƠNG
            (**) Tác giả: Cai Vĩnh có bản quyền đăng kí - Không "đạo văn”
            ***

            Tình HOÀI HƯƠNG
            Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-14-2017, 07:36 PM.
            Bút trần nào tả được lưu luyến!
            Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
            Tình Hoài Hương

            Comment

            • thien ly
              Người Thân
              • Oct 2012
              • 66

              #126
              CHA MẸ Tôi (đã từng) Nén Lại Chân Quê
              Happy Father' Day. Happy. Happy...
              THH xin cống hiến quý độc giả HQPD bài viết về CHA.
              Thân quý, ***


              “Tinh thần gia đình là gì?
              Đó là: Pha trộn tình mến sợ cha. Tình âu yếm sợ mẹ. Kính trọng cả hai. Thán phục nhân đức của cha lẫn mẹ. Bỏ qua các lỗi lầm. Ghi nhớ công ơn. Thông cảm đau khổ. Cảm kích các hy sinh của cha lẫn mẹ” (P. Janet).

              Chị Hoài Hương quý mến

              Những kỷ niệm viết về người cha kính yêu của chị thật là chi tiết và đầy tình cảm. Sao chị nhớ nhiều và viết dễ dàng đến thế. Em cũng đã và đang viết một bài về ba mình mà do trí nhớ kém cỏi, em viết hoài không xong. Cám ơn chị đã chia xẻ một bài viết gây xúc động lòng người (như em) làm em nhớ ba em quá! Em nghĩ, nếu không có người cha bên cạnh thì những đứa con sẽ không bao giờ trưởng thành.
              Kính chúc chị luôn vui khoẻ để sáng tác nhiều hơn.
              Quý mến
              TL

              Comment

              • Tinh Hoai Huong
                Senior Member
                • May 2009
                • 1081

                #127
                THH gửi Thiên Lý

                Nguyên văn bởi thien ly View Post
                CHA MẸ Tôi (đã từng) Nén Lại Chân Quê
                Happy Father' Day. Happy. Happy...
                THH xin cống hiến quý độc giả HQPD bài viết về CHA.
                Thân quý, ***


                “Tinh thần gia đình là gì?
                Đó là: Pha trộn tình mến sợ cha. Tình âu yếm sợ mẹ. Kính trọng cả hai. Thán phục nhân đức của cha lẫn mẹ. Bỏ qua các lỗi lầm. Ghi nhớ công ơn. Thông cảm đau khổ. Cảm kích các hy sinh của cha lẫn mẹ” (P. Janet).


                Chị Hoài Hương quý mến

                Những kỷ niệm viết về người cha kính yêu của chị thật là chi tiết và đầy tình cảm. Sao chị nhớ nhiều và viết dễ dàng đến thế. Em cũng đã và đang viết một bài về ba mình mà do trí nhớ kém cỏi, em viết hoài không xong. Cám ơn chị đã chia xẻ một bài viết gây xúc động lòng người (như em) làm em nhớ ba em quá! Em nghĩ, nếu không có người cha bên cạnh thì những đứa con sẽ không bao giờ trưởng thành.
                Kính chúc chị luôn vui khoẻ để sáng tác nhiều hơn.

                Quý mến
                TL

                Thiên Lý thân mến,
                Tình HOÀI HƯƠNG hân hạnh khi quen một bạn nhỏ "có tâm hồn thi-văn-sĩ" (tuy tuổi trẻ nhưng có hoài bão, lập trường & kiến thức sâu rộng).
                Càng hơn nữa THH vui lắm được TL đọc và ghi lời nhận xét, tôi cảm động vì như TL cũng biết: Lúc chúng ta ngồi gò lưng để tự viết bài (chẳng biết TL thì sao), nhưng riêng tôi nghĩ: mình đã mòn mỏi, hụt hơi... vắt cạn kiệt chất xám ; mà có người đọc... ân cần chia sẻ. Quả thật hạnh phúc. THH biết ơn về những khích lệ ấy, xin sẽ cố gắng.


                THH
                Last edited by Tinh Hoai Huong; 07-22-2014, 12:02 AM.
                Bút trần nào tả được lưu luyến!
                Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                Tình Hoài Hương

                Comment

                • thien ly
                  Người Thân
                  • Oct 2012
                  • 66

                  #128
                  Chị Hoài Hương quý mến

                  Cám ơn chị đã dành cho em nhiều ý nghĩ tốt đẹp quá, nhưng em cảm thấy mình thật chưa xứng đáng. Về kiến thức em hãy còn yếu kém lắm, em không có nhiều kinh nghiệm sống cũng như kiến thức sách vở để mang vào các bài viết của mình. Em chỉ có một khối tâm tình chất đầy lòng, sẵn sàng trút ra trên giấy khi có cảm xúc buồn vui nào đó bất chợt đến. Những chuyện thật thì em viết rất nhanh và dễ dàng, nhưng chuyện mà cần có chút hư cấu (như chuyện tình yêu) thì khó khăn vô cùng .Vì thế, sau mỗi lần viết xong một truyện ngắn là em phải uống thuốc hạ áp huyết.

                  Em rất thích những bài viết về phong cảnh quê hương đất nước của chị. Em ao ước sẽ có dịp nào viết về những nơi mình đã đi qua với vài kỷ niệm như thế. Tiếc thay cuộc sống đơn điệu chỉ có từ nhà đến chỗ làm và ngược lại, nên em không biết viết gì xa hơn ngoài đề tài gia đình. Hầu hết thời giờ còn lại trong ngày thì em đi du lịch bằng sự tưởng tượng qua đọc các bài viết trên net, trong đó có những bài viết của chị.

                  Hôm nay em đọc bài “Kinh Thành Huế Thơ & Lăng Tẩm” thì mới nhận ra hết được cái kiến thức sâu rộng kèm theo trí nhớ tuyệt vời, mà đã được chị diễn tả rất đẹp, rất sống động về những Lăng Tẩm, đền, chùa, các triều đại vua quan…Đọc qua đoạn giới thiệu:

                  "*HUẾ ! di sản đặc biệt quý giá là tặng phẩm độc đáo của Trời ưu ái ban tặng, và cũng là sính lễ sang trọng của vua Chiêm Thành khi cưới công chúa Huyền Trân. Huế là vùng khí hậu nhiệt đới, có bốn mùa rõ rệt: Mặt trời luôn rót nắng vàng hanh chảy xuống Đại Nội. Mùa đông buồn lặng, đìu hiu ướt át, lụt lội gió bão mịt mù. Mùa xuân xanh tươi, mát mẻ êm êm, trời trong xanh mây trắng nhẹ lâng lâng bay bay khắp đường đi nẽo về & đầy mùi hoa thơm. Mùa hạ rực nắng tình hè, trời hâm hấp nóng nực kinh hồn với những hàng phượng Vỹ đỏ rực soi mình trên sông Hương, phượng nghiêng mình đứng bên hồ Tịnh Tâm. Ít ra từ mỗi sân trường, từng xóm làng…" khiến cho em vốn đã yêu đất Huế giờ lại còn yêu thêm. Xứ Huế thơ mộng đã sinh sản ra nhiều nữ sĩ tài năng như chị.

                  Hèn chi chị HH biết không, chàng cựu SVSQ Không Quân nhà em rất yêu cô gái Huế, và chàng đã từng mơ ước có một nàng Huế về “ nâng khăn sửa túi” cho chàng suốt cuộc đời còn lại, nhưng xui xẻo làm sao chàng lại gặp em không phải là cô gái Huế … Riêng em, hồi còn trẻ cũng mơ một chàng Huế đó chứ, để được chàng “làm thơ tình em đọc”… Thế mà sự đời tréo ngoe hết!!!

                  Dài dòng với chị nhiều quá rồi, em xin gửi lại đây lòng mến mộ, và sự khâm phục một bút pháp rất công phu. Đúng là chị đã “vắt cạn kiệt hết chất xám” để gửi đến người đọc một bài viết hay, có giá trị lịch sử.

                  Em xin gửi tặng chị một bó hoa hâm mộ và một ly sữa dâu tươi “ bồi dưỡng” chất xám chị nhé.



                  Mến chúc chị luôn vui khoẻ để sáng tác dồi dào hơn.
                  Quý mến
                  TL

                  Comment

                  • Tinh Hoai Huong
                    Senior Member
                    • May 2009
                    • 1081

                    #129
                    Chuyến Bay Đầu Tiên (của Khóa-sinh Không-Quân)


                    Last edited by Tinh Hoai Huong; 02-21-2017, 02:19 AM.
                    Bút trần nào tả được lưu luyến!
                    Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                    Tình Hoài Hương

                    Comment

                    • Tinh Hoai Huong
                      Senior Member
                      • May 2009
                      • 1081

                      #130
                      Giấc Mộng Phù Vân



                      Giấc Mộng Phù Vân


                      Các bạn cùng tôi lững thững đi dưới rừng thông muộn phiền giao nhánh dưới đài mây bồng bềnh trôi trên không trung. Nơi xa xôi trên đỉnh đồi có cây mimosa buông lã theo tiếng gió rì rào qua kẽ lòng tôi ngất ngây buồn... Tôi đi bên cạnh những thiếu nữ xuân-thì: có người yêu hoa mimosa, có người yêu hoa pensé, có người yêu hoa hồng… yêu hoa violete, cũng có người không yêu hoa chi hết.

                      Họ lững thững thả bộ bên luống cải xanh rờn, ríu ra ríu rít, tíu ta tíu tít chuyện trò vanh vách, vui cười thân thiện; đôi lúc nhí nha nhí nhảnh, lườm nguýt, thọc lét hay húc cùi chỏ vào hông nhau. Đã thân quá rồi nên có lần họ không ngại nói xoen xoét huỵch toẹt ra những điều ẩn kín khúc mắc trong lòng, mà không hề ngượng miệng.

                      Do vài lần chúng tôi gặp nhau trong Võ Bị, đặc biệt là Thúy Mai tự tới làm quen tôi trước, nàng mến thích tôi. Lúc ấy tôi có đôi chút ngỡ ngàng, bỡ ngỡ; nhưng sau khi trò chuyện, tôi cũng có phần mến Mai vậy. Khí lạnh thấm dần đôi má hồng thắm, qua vai gầy, rung rinh mái tóc thề đen nhánh và óng mượt của Thúy Mai (cô bạn gốc người Huế tôi mới quen, tóc thề mướt mát, dáng mảnh khảnh, Mai hay đau ốm nên có vẽ liêu trai thế nào ấy). Tuy Mai không đẹp nhưng dễ nhìn. Tính tình Mai đôi lúc dễ thương, và bốc đồng lên thì cô “khíu chọ” chi lạ! (sau nầy hơi thân thân với Mai, tôi mới biết Mai bị đau nặng, nhưng dấu nhẹm bạn bè chuyện cô bị viêm gan). Thúy Mai ưa có cử chỉ nhún nhẹ đôi vai khi nói về người cô yêu; là Mai trề môi dưới ra:
                      - Tao biết là Tấn chưa chắc thật tình với tao, miệng mồm anh ta liếng thoắng, Tấn có vẻ giả dối, đểu đểu làm sao. Tao rõ Tấn như thế, nhưng tao không tài nào giải thích cho tụi bây hiểu. Tấn nghe lời gia đình hơn. Tao thất vọng, dù yêu Tấn, nhưng tao không hề tin Tấn.
                      Quỳnh nhìn bạn, e dè:
                      - Mầy phải biết cách lèo lái nó chứ. Ai biểu mầy không chịu:
                      “Quất ông tơ cái trót.
                      Ổng nhảy tót lên ngọn cây bần.
                      Biểu ông xe mối chỉ năm bảy lần, ổng hổng xe”
                      (cd)

                      - Mầy nói nghe chán thấy mồ. Tao hỏi mầy nhe: Từ ngày Tấn ra quân trường Võ Bị, đến nay đã quá lâu, mầy biết không, Tấn chỉ gửi về vài ba lá thư viết bâng quơ. Tao công nhận thư Tấn viết hay. Tao nghĩ Tấn ích kỷ không muốn mất tao; làm như tao là “cái bồ tình hờ” Tấn để dành xơ cua! Tấn không muốn thân thiết càng thiết tha, hoặc hứa hẹn gì. Rồi Tấn sẽ không bao giờ về thăm Đà Lạt, không một lần về thăm ai, chớ đừng nói là gặp lại tao. Mầy hiểu không?
                      - Cầu xin sao tao được sống lâu, xem chàng xử trí thế nào.
                      - Số tao độc thân đến chết, e rằng lúc đó cũng không gặp Tấn đâu.
                      - Đừng bắt chước ông Chu Công ba ngàn năm trước đã đặt ra mười can. Mầy hãy xoè hai bàn tay đếm đủ: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Qúy. Rồi mầy giơ thêm bàn tay và chân ra bói quẻ con: Tí, Sữu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi - cho tao nghe, chán phèo!
                      - ...
                      - Không tin hả? Số mạng mầy nói lên sự thật đó hì. Mầy không biết ngày ấy, năm ấy chồng mầy là ai. Vậy, cái ngày đầu tiên mầy quen Bào, mầy có thấy ông ta xấu tính xấu nết không?
                      - Thôi bà thầy ơi! Dĩ nhiên là họ dấu nhẹm tật xấu đi, chớ ai muôn phơi ra, để bị mất bồ à! Ngày nào cũng đẹp cũng tốt cả. Buổi sáng tao thấy mặt trời mọc phương đông, chiều lặn ở phương tây. Chớ ngày giờ ấy khi quen Bào, tao không thấy nó mọc ở phương tây, và lặn ở phương bắc. Mầy đừng dị đoan quá! Mau già nhe:
                      Số giàu đem đến dửng dưng.
                      Lọ là con mắt tráo trưng mới giàu.
                      Số giàu tay trắng cũng giàu.
                      Số nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo.
                      (cd)

                      - Mầy không tin con người có số à?
                      - Trường hợp tao, tự tao quyết định chọn lấy con đường tương lai. Thú thật tao thấy ngày tao gặp Bào, hiểu Bào xa Bào trong nỗi nhớ, là ngày giúp tao xoay ngược ván cờ.
                      - Thành công hay thất bại?
                      - Do mình thôi. Chén bát trong sóng có khi cũng xao động mà.
                      - Nói chuyện chồng con, tao ớn lên tới cần cổ.
                      - Độc thân vui tính như mầy, tao thấy tự do thoải mái kinh khủng.
                      - Ui xà! Khi về già thì mầy sẽ thấy có đủ cảnh khổ, biết trông chờ ai hả? Ráng bò đi lo lấy một mình. Tứ cố vô thân à.

                      Chưa đi, chân mỏi! Chưa trông, mắt mờ!
                      Ðêm nằm chưa ngủ đã mơ.
                      Cơm chưa đụng đũa đã no ngang rồi!
                      Áo quần xốc xếch lôi thôi.
                      Nhớ quên, quên nhớ... chuyện đời nhi nhăng.
                      Nói to cứ ngỡ nói thầm.
                      Tay run cứ ngỡ phải cầm... ba toon.
                      (2)

                      - Đằng nào cũng chán. Mỗi người có một cảnh khổ riêng, không ai giống ai. Sóng bước bên nhau im lặng hồi lâu, Mai buồn rầu nói:
                      - Vô nhà đi. Con mầy khát sữa, chắc nó đã khóc lòi rún rồi.
                      * * *

                      Mai thả gót giày xuống lòng đường quạnh vắng, tiếng giày kêu lóc cóc… văng vẵng những âm quen quen, nghe mà buồn. Trên phố lạnh lâu thật lâu mới thấy vài lữ khách bước vội trong đêm. Ôi! Người đàn ông phong trần phiêu lãng nơi phố khuya giá rét kia là ai?! Chàng đội mũ phớt đen, mặc quần jean cũ, áo da đen, mang giày sport, vai vắt chiếc áo manto đen. Chàng đã dừng lại trên con dốc uốn lên uốn xuống ướt đẫm sương đêm, chàng lần tay vào túi quần, tìm gói thuốc lá và hộp điêm. Chàng khum khum hai bàn tay để che gió, ánh diêm lóe sáng tỏa làn khói nhạt mờ mờ, khói vật vờ uốn éo bay lên hòa lẫn vào vũng sương mù.

                      Thỉnh thoảng chàng dừng chân ngửa cổ thả ngụm khói vo tròn hình chữ O lên cao, khiến Mai càng nôn nao nhìn “thi-sĩ thả hồn trong sương khuya”. Ngửa cổ nhã cụm khói, húng hắng ho, chàng kéo cao cổ áo da đen, tiếng gót giày của chàng lại đơn điệu chậm rãi gõ lộp cộp, ngân vang trên đường nhựa ướt nhẹp in ánh trăng bóng loáng, cùng giọt sương long lanh rung rinh ở đầu phiến lá.

                      Mai trông chàng có vẻ ung dung nhàn hạ, dường như giống... lại vừa không giống Tấn!? Nhìn hình ảnh phong lưu thong thả nầy, Mai cảm thấy người ấy dường như gần gũi quen thân tự thuở nào?! Mai trông mong người ấy đi kế bên, để Mai có thể tò mò muốn nhìn thấy mặt anh ta một xí, thì hay biết mấy. Biết đâu đó là một sự tình cờ hữu duyên “thiên lý tương năng ngộ” với Tấn thì sao... như thuở xưa Tấn ưa chơi trò ú tim với nàng thiệt vui biết mấy.

                      Khi đã đến gần cánh cổng nơi ngỏ nhà mình, Mai tư lự, tần ngần, do dự, băn khoăn lẫn chút bối rối đứng khựng lại, cố ý chần chờ... nàng làm bộ mò mò... vờ tìm tìm trong giỏ xách hồi lâu, rồi Mai chậm rãi loay hoay mở ổ khóa cổng lách cách, mà đôi mắt Mai luôn lom lom liếc liếc nhìn lui người khách lạ đang đi đến cột đèn đường.

                      Người thanh niên đã đi đến gần cổng nhà Mai, chàng thong dong tà tà tiếp bước, như tìm những áng thơ và cả một tương lai dài ngoẵng trên dòng đời xô sóng. Khi đến gần nàng, chàng chỉ thoáng nhìn Mai rồi lơ đễnh nhìn về hướng khác, dường như “anh” dửng dưng, không hề lưu ý trên đường vắng đang có thêm một người. Ôi! Không phải là Tấn rồi! Người ấy không nói, chẳng mỉm cười khi Mai quay phắt lại, anh ta thản nhiên thả gót giày vui vui theo từng nhịp bước lao xao trên mặt sỏi vụn kêu rào rạo ven lề. Khiến Mai cảm thấy thất vọng và chợt buồn da diết.
                      Thân tui thui thủi một mình.
                      Đêm đêm lạnh lẽo buồn tình lang thang.
                      Nếu ai nghĩ chuyện đá vàng.
                      Tôi xin được dạo cung đàn tình chung.
                      (cd)

                      Ôi! Chuyện tình yêu giữa Mai và Tấn lấp ló lững lơ như tơ trời, không báo hiệu niềm vui, hay có điều gì tốt lành, hứa hẹn ngày mai tươi vui quang đãng, mà có thể bị hất lại nỗi thất vọng đột ngột ê chề. Tấn ở trong quân trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, anh quen và “yêu” Mai… Tình cảm họ đã đi qua lòng nhau, gợn lên êm ái, không kém phần say đắm, choáng ngợp, nồng nàn. Bên nhau, họ cũng có bao phen yêu đắm đuối, giận hờn, ghen tuông. Tôi nghĩ: Trong tình yêu và sự ghen tuông vốn dĩ không có tội. Tuy nàng ghen nhiều, thì sự thấu hiểu về nhau hay hạnh phúc có thể sẽ giảm đi tí chút. Biết thế, nhưng Mai không thể không buồn bã khi thấy Tấn đến thăm và tặng món quà cho vài người con gái khác.

                      Mai không thích như vậy, nàng muốn bụng của Tấn phải to, nhưng trái tim anh ta chỉ chứa đựng mỗi hình ảnh duy nhất riêng mình. Riết rồi Mai cảm thấy mệt mỏi… chán ngán và oán hờn Tấn, lẫn ghen ghét “kẻ kia” thậm tệ… như hai con gà mái tức nhau vì tiếng gáy của con gà trống. Mai cũng cần kênh kiệu: làm cao, làm giá, làm le, làm dóc, làm lơ, ra vẻ ta đây bất cần Tấn. Nếu Mai có xuống âm tào địa phủ cũng hả dạ! Nàng không còn tíu tít chuyện trò ríu rít thân mật mỗi khi Tấn ghé qua nhà Mai nữa. Mai nghĩ: “Bây giờ nếu Tấn cứ thay đổi tình lia chia, hay muốn tỏ ra ta đây là đào hoa, bay bướm, cua đào dễ dàng... thì có lẽ trái tim Tấn sẽ để lại vết vẹo đau đớn, cả đời chẳng có bến đậu bình yên nào”!

                      Ngược lại, Tấn cũng nghĩ: “Em trao cho tôi đấu gạo nào, thì tôi sẽ gửi lại em bằng ấy”... Rồi khi Tấn ra trường, người trai ấy đi biền biệt ở phương trời nào không rõ, Tấn ra đi ươm mộng theo nhịp bước hải hồ, lãng du phiêu bạt thời chinh chiến rày đây mai đó dặm trường dong ruỗi. Lâu thật lâu hình như chợt nhớ ra, Tấn gửi đến Mai những trang thư kể chuyện sông hồ núi non gió biển, anh viết ít chuyện chiến chinh cùng đời sống bạn bè trong quân ngũ. Nhạt nhẽo thế thôi! Anh có lắm khát vọng dãi dầu gió sương lả lướt tung bay phỉ chí tang bồng, lãng du vào những bến bờ xa lạ, như ngày xưa khi còn ở bên nhau Tấn đã từng nhẹ nhàng nhắn nhủ gần xa với nàng:
                      - Anh chỉ muốn sống đời giang hồ, chinh chiến, cần nhất không vướng bận, anh phải độc thân, em tin đi, anh sẽ không bị vợ con ràng buộc. Thôi thì:
                      “Trăm năm đành lỗi hẹn hò.
                      Cây đa bến cũ con đò khác đưa”...
                      (cd)

                      Vô vàn trống vắng xót xa, khi lời Tấn gián tiếp nhắn nhủ với Mai đấy. Mai ở lại chốn cũ đồi xưa, xếp tơ lòng giữa tiếng ồn ào xe pháo, giữa muôn người bàng quan hờ hững đi lại trong nắng gió khuya chiều. Tình cảm của họ trở nên lờ mờ đơn điệu và vô cùng buồn bã… Hai người dần dần xa cách, chênh vênh... theo mây lơ lững trôi về nơi vô định. Rồi theo thời gian tháng năm nhẹ nhàng bay đi, tình cảm họ thực sự lùi vào câm nín, lãng quên… Bức tường thời gian và không gian ngăn trở mịt mùng, xa xôi cách chia biền biệt, trăm sông nghìn núi nhấp nhô chập chùng, càng xa quá xa. Tình yêu hai người đã bị bức chắn khổng lồ dựng lên hố thẳm phân ly chia biệt mất rồi. Tấn rất ngán vì Khóa 19 Võ Bị của Tấn có 394 sĩ quan tốt nghiệp, trong đó có thủ khoa Võ Thành Kháng vừa tốt nghiệp mươi ngày, là bạn thân của Tấn đã tử trận ở chiến trường Bình Giả.
                      * * *

                      Nhân ngày tôi về Sài Gòn dự đám cưới chú em họ, Mai năn nỉ ỷ ôi nhờ tôi đến nhà trao tận tay Tấn món quà. Ấy là một phong thư mà Mai đã thức ròng rã biết bao đêm để viết rồi xé, xé lại nắn nót viết từng chữ, nàng gói ghém tình cảm từng câu trong lá thư màu xanh đầy kín tám trang giấy. Mơ mộng và thi vị hoá cuộc tình, cũng do Mai tiêm nhiễm về những chuyện tình thời cổ xưa từng đọc trong tiểu thuyết, hoặc coi trên các màn ảnh những phim chuyện Tàu lâm ly bi đát.

                      Mai đã cắt lọn tóc dài óng mượt đen tuyền tẩm đầy nước hoa, nàng gói tóc trong vài chiếc khăn tay trắng, Mai thêu hai chữ T.M quấn quít những sợi chỉ màu đỏ âu yếm bện chặt lấy nhau bên cuối góc trái, có cành hoa mai vàng nõn lá xanh. Kèm theo một chiếc cà vạt màu xanh biển hình trái tim. Một xâu đựng chìa khóa và kéo bấm móng tay. Một tấm ảnh bán thân cuả Mai. Hộp dâu Đà Lạt. Những thứ quà nho nhỏ đó Mai trang trọng cất vào chiếc hộp giấy, bên ngoài cột sợi nơ đỏ xinh xinh.

                      Tôi thương bạn lắm! Dù bận thế nào, tôi cũng cố gắng đi taxi loanh quanh tìm nhà Tấn và ở lại gần nửa ngày. Tìm đến đúng nhà Tấn, tôi ngồi trong phòng khách vừa đủ rộng, trang hoàng tiện nghi lịch sự không phô trương. Hai bà chị khoảng ngoài ba mươi tuổi, phong cách đài các, thanh lịch, tao nhã. Thỉnh thoảng hai chị thay nhau ngồi tiếp chuyện với tôi, họ thư thả đi ra đi vào phòng khách, ghé ngồi trên sofa trao đổi vài ba câu xã giao dí dỏm, chị tươi cười hỏi tôi vớ vẩn về Đà Lạt, về sương rơi gió lạnh với ly nước trà đá. Tôi hóm hỉnh tươi cười đáp lễ, thầm nghĩ là chị em họ muốn ra đây sơ giao, để nhìn mặt tôi cho biết cô gái Đà Lạt nầy, là ai? Có phải là bồ bịch lăng nhăng lít nhít tòn ten gì với “ông qúy tử hà sa” đào hoa bay bướm của chị em nhà họ không mà thôi.

                      May mắn làm sao, tôi rất mừng vì kịp lúc gặp Tấn đóng quân ở tiền đồn về nhà nghỉ phép một tuần. Hai bà chị đã rút vô sau bức rèm lụa. Khi gặp Tấn, tôi niềm nở chào hỏi ân cần, trang trọng trao tận tay Tấn kỷ vật giúp bạn. Tấn vui vẻ hỏi thăm tôi về thời tiết nắng mưa Đà Lạt. Tôi nói chuyện tếu rất lâu với Tấn. Tôi ỡm ờ dò ý hỏi thăm Tấn:
                      - Anh lên tới chức Đại-úy rồi, sao anh không lập gia đình nhỉ!?
                      Tấn cười khoan khoái, vui vẻ xoa hai tay ngâm nga:
                      Lấy vợ xin lấy vợ sún răng.
                      Đỡ tiền nha sĩ, ngại sâu ăn.
                      Sáng, trưa, chiều, tối em ăn cháo.
                      Khỏi phải mua bàn chải đánh răng.
                      Lấy vợ xin anh lấy vợ hô.
                      Lỡ sau mà có gặp côn đồ.
                      Em cười, chúng tưởng Chung Vô Diệm.
                      Hồn xiêu phách lạc cõi hư vô.
                      (2) - Nhờ Thụy làm mai cho tôi một em giống y chang như thế nha. Nếu không có ai như tôi thích, tôi nguyện sống độc thân suốt đời.

                      Hai người hồn nhiên hân hoan cười ngất. Chúng tôi nhắc lại bao chuyện cũ vui thật vui, kể cả chuyện Tấn dẫn hai bạn cùng khóa đến nhà Mai, lúc đó Qúy có thể ngà ngà say? nên anh ấy tỏ ra suồng sã vồn vã với tôi quá lố. Tấn cười xòa vui vẻ nói:
                      - A ha! Hồi đó tôi biết hết, thấy hết những cử chỉ “mặn nồng âu yếm” của riêng Qúy với “ai kia”, mà tôi cố làm tình vờ, cố ý ngó lơ, không hề tỏ thái độ gì, cốt ý cho hắn có cơ hội chấm mút tị. Vã lại tôi biết Thụy đã có bồ rồi. Nào ngờ hắn chả được gì sớt, mà dị hợm, thật quê một cục. Ai biểu hắn còn học trong Võ Bị, mà muốn đi kiếm vợ con làm gì! Phần tôi, tôi muốn dò xem cá tính phụ nữ thế nào, để phòng xa… chỉ sợ sau nầy tôi rước phải một “công nương sư tử”, thì đời trai tàn mất. Thụy nghe nha:
                      Không biết định nghĩa vợ là chi đây.
                      Vợ là quả ớt chín cây.
                      Đỏ tươi ngoài vỏ rất cay trong lòng.
                      Vợ là một đoá hoa hồng.
                      Vợ là "sư tử Hà Đông" trong nhà. (2)

                      Nhắc lại kỷ niệm xưa coi Tấn vui
                      vẻ hẳn lên, anh ta ý nhị nháy mắt nheo mày, tủm tỉm cười, rồi hình như khoái chí về điều gì đó, Tấn cười ha hả, rất hồn nhiên thoải mái. Tấn bảo:
                      - Sau lần ấy, thằng Qúy nó thường năn nĩ tôi... làm sao cho nó gặp lại Thụy, dù chỉ một lần, để nó xin lỗi về cái tội vô tình lếu láo, bất nhã, làm mất thể diện sinh viên sĩ quan con nhà tướng đấy. Nó thật tình mến Thụy. Nhưng tôi không hứa hẹn, sợ nó lại bốc đồng lên, nổi hứng quá “làm ẩu tả” thì mất mặt bầu cua. Đàn ông con trai… ai mà chả có "máu ngứa nghề khỉ đột" ha, dê dê xồm xồm khi tận mắt “nom” thấy người đẹp bằng xương bằng thịt đang nhúc nhích hở. Ha ha ha...
                      - Thôi, anh đừng kể nữa, dạo ấy tôi nghe anh ấy nói tiếng Tây muốn điên rồi. Bây giờ anh có thích tôi điên không nào!?
                      - Chả dám. Ah... Thụy biết không, coi chừng chứ có ngày điên vì vợ, tôi cũng bị tuột da thì nguy to, nên cho tôi xin ế vợ, kíu từ vợ cho rùi!
                      Tôi không thể nhịn được cười. Vui ơi là vui quá chừng giống như ngày cũ hồn nhiên trong sáng xa xưa. Nhưng khi tôi sốt ruột nhắc khéo lại Tấn lần thứ ba:
                      - Thúy Mai đã gửi nhờ tôi trao món quà đến tận tay anh, và nóng lòng đợi anh hồi âm nè.
                      Tấn lại cười cười:
                      Thân trai cũng mười hai bến nước,
                      Nặng nỗi lo vô phước gặp “chằng”.
                      (2)

                      Đọc mấy câu thơ tiếu lâm xong, Tấn nghiêm mặt lại, cử chỉ ung dung nhưng mà thờ ơ, anh từ tốn mở gói quà ra xem. Trước đó tôi đã nhiều lần “gợi giấc mơ xưa” giúp đôi bạn ấy. Bây giờ tôi kín đáo quan sát Tấn. Thỉnh thoảng đọc thư Mai, Tấn chỉ nhíu đôi mày, mấy đường nhăn in trên trán, mắt lướt nhanh trên những trang thư và nhếch mép cười ruồi. Anh ta đọc xong thư của Mai (viết gì trong ấy mà dày cộm đến thế không biết). Tấn xếp thư lại quăng lên bàn, phong thư chạy tuồn tuột tới một đoạn xa ở góc bàn, thư gần rơi xuống nền gạch. Tôi so sánh Tấn và sự trân trọng khi Mai nhờ tôi trao giúp gói quà. Nó dặn đi dặn lại tôi:

                      - Phải cẩn thận, mầy đừng để cái hộp bị móp méo, đừng để cho lọn tóc trong hộp bị lệch lạc, mầy hãy để ý nhìn coi lúc Tấn đọc thư, thái độ Tấn ra sao. Mầy về tả lại cho tao nghe nha!

                      Nhìn cung cách và cử chỉ của Tấn lúc nầy, khiến tôi mủi lòng thay bạn. Thật buồn và thất vọng đa! Tấn tinh ý nhìn tôi tươi cười khôn khéo lái qua chuyện khác, ỡm ờ cười cười gật gật… Quả thật Tấn rất bình tĩnh, không tỏ lộ trên nét mặt phong trần điều vui hay buồn. Nhưng rồi sau hơn một giờ trao đổi chuyện trò, tôi nghiệm ra rằng: “Cả đời Mai trọng tình. Còn cả đời Tấn thì chỉ trọng tiền, binh nghiệp và danh vọng”. Tấn im lặng đắn đo suy nghĩ, rồi xin phép tôi hãy cố nán lại xí, anh lên lầu hồi lâu, sau đó trở xuống phòng khách, Tấn cười cười:
                      - Nhờ Thụy vui lòng chuyển cho Thúy Mai một bài thơ vui vui về giấc mộng phù vân: Lịch* (của) O Mèo !?
                      Thân anh khổ thế Mèo kia!?
                      Chi bằng lịch lãm ôm bia nốc nè!
                      O Mèo đứng núi cà kê.
                      Con Dần quá phục đi về gốc sung.

                      Ai đi dẫn tớ theo cùng.
                      Mua vui chốc lát không khùng cũng điên.
                      Chẳng qua lịch sự vì tiền.
                      Cơm ngon cá mặn ra hiên nốc vào.

                      Ăn rồi kháo chuyện tào lao.
                      Cao bay khéo nhỉ lao xao nhập nhằng.
                      Rồi đây câu chuyện lăng nhăng.
                      Tôi đây ảnh đấy băn khoăn có thừa.

                      Tình lang nhớ chứ sớm trưa!?
                      Sa đà lỡ hẹn lưa thưa tháng ngày.
                      Lịch trình tớ đã ghi đây.
                      Ngày ngày tháng tháng năm nầy hẹn nhau.

                      Thề non hẹn biển bấy lâu.
                      Tôi về nối nhịp bâng khuâng chỉ vì...
                      Em ơi khách sáo điều chi?
                      Qua cầu lặng lẽ đông thì gió bay...

                      Thương em Mẽo cứ lên non.
                      Năm nay Tết nhất lon ton Nhảy Dù...
                      Dù rồi Mẽo sẽ đi tu...
                      Mùa xuân chí tới mùa thu chết thèm...

                      Mi thèm Mẽo có mơ em?
                      Đầu năm bạn biếu cân nem nhậu cùng.
                      Quên chi quá lạ quên lùng.
                      Tôi đây có phải không khùng cũng ngơ!

                      Hay chăng tại mết chàng Thơ.
                      Giờ đây lạc lõng giây tơ phiến lòng...
                      Thương thân núi đá bào mòn.
                      Mèo trơ cặp mắt giờ còn lung tung?!

                      Đôi ta nhiều buổi trong cung.
                      Ăn no nếm mật tiêu tùng phát ho.
                      Ui cha Mẽo nhậu phần to.
                      Mèo em tí nị buồn xo quá rầu!

                      Thang đâu bắc hỏi ông Trời.
                      Vì sao trái tím mồng tơi rã hàng?
                      Do em đớp “phở” chàng mang.
                      Bầu to Mẽo đã lên đàng tuốt dông.

                      Hành trình thẳng đến mùa đông.
                      Mèo già răng rụng lông đuôi chẳng còn.
                      Chừ còn cục nợ tí hon
                      O ơi thấy hỡi là con Lịch Mèo!?
                      (3)

                      Ui Trời đất qủy thần thiên địa tông ti ông bà cố nội ơi! Tấn đã muốn to nhỏ nhắn nhe với Thúy Mai điều gì trong bài thơ tiếu lâm kia đấy nhỉ!? Theo quan niệm của tôi: Tình yêu là một tình cảm vô cùng đặc biệt, tin yêu, trang trọng và chân thật, thủy chung. Cho dù người mình yêu không thể (hay chưa thể) hồi đáp về ta... những ước mong hạnh phúc lứa đôi. Riêng đối với tôi thì tôi đã tin yêu, chân thật, trọn nghĩa, trân trọng tình.

                      Tôi bỗng so sánh “mối tình say đắm” của tôi và “mối tình đắm say” của Mai: *Tình yêu của tôi giống như biển cả đem lại sự tuyệt vời của bình minh hay hoàng hôn, đang nhún lên nhún xuống ở chân trời, như giọt sương khuya rung rinh và long lanh trên phiến lá giao mùa. Dù chẳng biết sẽ trơn tuột rụng rơi lúc nào. Đồng thời tình yêu cũng dạy cho tôi biết thế nào là sự ghen tuông (ghen tuông tựa như sự ...giận dữ gào thét cơn thịnh nộ của biển quét lên trái tim tôi; nếu tôi biết “người ấy” phản bội). Đồng thời, tôi vẫn rộng lòng tha thứ, kiên nhẫn, bao dung cho kẻ đã bội tín, kẻ nhẫn tâm chà đạp lên sự đau khổ nầy. Cho đến lúc nào đó không thể tha thứ nữa (vì người ấy bê tha, có tật xấu không chịu sửa đổi, lừa dối tình và tiền), thì tôi khinh bỉ buông ngay và quyết liệt dứt tình.

                      Vẫn nhưng mà… Giá mà Mai sống an lành và vui vẻ hạnh phúc, thì nàng sẽ không nhớ tới “ai”. Với Mai thì nàng khác hẳn tôi ở chỗ là tình yêu của Mai da diết đấy, vẫn ghim gút và nuôi dưỡng sự căm giận! Tôi cảm thông bạn Mai sầu héo xếp lớp buồn tủi lăn tăn trong bước độc hành, đơn điệu, làm thời gian chất chồng bao sầu héo nhăn thêm vầng trán suy tư.
                      “Tóc mai sợi vắn sợi dài.
                      Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm”.


                      Mỗi lần Mai đến thăm bạn cũ, thì từ trong tiềm thức quá khứ vô cùng xa xôi ấy, tưởng đã mờ nhòa nhạt phai, bỗng lóe lên tia chớp rực vàng. Khiến nàng khó ngăn lại nỗi khao khát, cuồng quay trở về lối xưa, để trả thù với người đã khiến nàng thương tổn dày vò đau đớn. Thế nhưng Mai không thèm hạ mình hạ giọng “năn nỉ” Tấn lời nào.

                      Ôi từ đó đến giờ... suốt quãng đời dài lê thê đến vậy, mà Tấn không có một ngày nhàn rỗi để về thăm Mai sao?! Sợi dây liên lạc mong manh như tơ nhện giăng mắc trong vũng sương khuya, hẳn là đứt phựt mất rồi. Tấn không một lần về thăm Mai thật. Chua chát thay! Còn đâu tình yêu phù hoa hai người (có một thời tốp bạn trai gái chúng tôi nhìn họ, mà hy vọng và ao ước mình sẽ giống như họ, chúng tôi tôn hai anh chị Tấn Mai là thần tượng tình yêu!).

                      Tôi không bao giờ gặp lại Tấn (sau một lần duy nhất tôi ghé qua nhà anh, để trao giúp Mai lọn tóc thề). Tôi cũng không hề biết bây giờ Tấn đi chinh chiến -sống hoặc chết, vợ con thế nào?- Nhưng, cuộc đời vô vị cùng số phận khe khắt dẫn Mai đi bước thấp bước cao, không ngờ tràn đầy cay đắng, cô độc. Mai từng nói với bạn:
                      - “Thuyền ơi có nhớ bến chăng.
                      Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”
                      (cd). Nếu có chết, tao cũng bu đeo theo Tấn, để quậy cho hắn sợ mà.

                      Hôm nay, tháng Tám là ngày giỗ Thúy Mai, nàng đã thả lỏng đôi tay giăng soãi bình an nằm trong lòng đất lạnh xứ Đà Lạt càng giá rét, với mối chung tình xưa ủ kín ở kẽ lòng: những uẩn khúc phù phiếm vùi sâu tận huyệt mộ đẫm ướt sương đêm, qua từng đợt gió lạnh sớm mưa khuya chiều. Mai vẫn là cô gái độc thân 37 tuổi “khíu chọ”. Lớp bụi phớt hồng mỏng tanh mịn màng bốc lên gót chân tôi, rải đều trên đôi giày trắng, khi tôi ghé qua mộ Thúy Mai đặt lên nấm mồ hoen màu bó hoa tươi. Tôi thắp nén nhang nghi ngút bay bay trong gió lộng trên khu nghĩa trang Số 4. Lớp bụi đỏ lại nhè nhẹ về nằm nghỉ yên nơi mặt đất cạnh luống hoa phù dung.
                      *
                      (1) (cd) = ca dao
                      (2) Thơ tiếu lâm lượm lặt & Chuyện vui sưu tầm.
                      (3) Thơ tiếu lâm Tình Hoài Hương (Lịch* = Lịch trình của O Mèo)
                      * * *

                      Tình Hoài Hương
                      Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-13-2017, 11:13 PM.
                      Bút trần nào tả được lưu luyến!
                      Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                      Tình Hoài Hương

                      Comment

                      • Tinh Hoai Huong
                        Senior Member
                        • May 2009
                        • 1081

                        #131
                        Hai bà: Trưng Trắc, Trưng Nhị & bà Triệu Thị Chinh :




                        Từ khi Việt Nam rơi vào ngày 30 tháng Tư 1975 mất nước, thì hầu như tất cả trường, lớp, chẳng có giờ học về môn: Công Dân Giáo Dục & Sử Ký & lịch sử Việt Nam nữa. Hôm nay, trước tiên tôi xin mạn phép kể hầu cùng quý vị độc giả… (và sau rốt là do đã hứa cùng các con, cháu, tôi sẽ ghi lại những chiến tích oai hùng, những kỳ công anh dũng, và quật cường của tổ tiên ông cha chúng ta, họ đã dày công xây dựng và giữ gìn non sông gấm vóc Việt Nam hưng thịnh trường tồn đến bây giờ).
                        Nay tôi xin kể hầu tiếp quý vị về: hai bà Trưng Trắc Trưng Nhị ; chuyện bà Triệu Thị Chinh.

                        Tình Hoài Hương

                        Hai bà: Trưng Trắc, Trưng Nhị & bà Triệu Thị Chinh
                        ***

                        Thời gian quá dài lặng lẽ trôi qua khi cuộc sống đơn điệu và gia đình tôi vẫn hèn kém như mọi ngày. Học đường leo heo, sân lớp bẩn thỉu. Thầy trò thưa thớt, rời rạc, eo xèo vắng vẻ đìu hiu. Trong khu đông cư dân nghèo khó, bần cùng ở tại nơi chúng tôi cư ngụ, họ làm quần quật như con trâu suốt tháng năm, vẫn không đủ sống, không manh vải che thân. Cơm độn chưa có ăn, lấy đâu ra có thì giờ cho con đi học. Trẻ con thất học mù chữ không ít, chúng thường đi lang thang nơi đầu đường xó chợ, để bới móc nhặt nhạnh bọc ni lông, ăn cắp vặt, sự gian manh mánh mung thì khôn lanh trước tuổi, hầu tự kiếm sống. Các con em trở thành những tên bụi đời lúc nào chả rõ.

                        Bà Ngôn rất “bình dân giáo dục” trong xóm, đã lôi thằng cu Ba Môi xềnh xệt tới trường, bà Ngôn chửi cô giáo ra rã:
                        - Con tui không có cơm ăn, thì có tiền mô mà cô bắt hắn mua sách, đi học hỉ?
                        Cô giáo tên Tốt hiền lành nhỏ nhẹ:
                        - Bà bác cố gắng cho các cháu đi học ạ.
                        - Tui nói cho biết nghe: Chẳng thà nó ở nhà mù chữ, còn hơn nhịn đói, phải đi học. Học để làm chi hử? Có béo ra không?
                        - Học cho lắm cũng ăn mắm với cà.
                        Học tà tà cũng ăn cà với mắm.
                        Học cho lắm cũng đi tắm cởi truồng.
                        Học luồn xuồn cũng cởi truồng đi tắm.
                        (st)

                        Sẵn có mặt ở trường, bà Cát là người “nhanh nhẩu đoảng” đã tằng hắng:
                        - Học trò ngày nay quậy tới trời.
                        Mười thằng đi học chín thằng chơi.
                        Ba thằng đến lớp hai thằng ngủ
                        Còn lại thằng kia cũng gật gù
                        (st)
                        Cô giáo chỉ lí nhí nói với học trò:
                        - Bé thấy không, dù cô đã già; thế nhưng cô vẫn ôm sách đến trường. Càng học, thì cảm thấy mình vẫn ngu dốt, nhiều lỗi lầm đáng chê. Trường học và trường đời tương tự nhau, có chiều sâu như nhau.
                        Bà Ngôn đốp ngay:
                        - Trường chi cũng không bằng ruột trường có chứa đựng nhiều thức ăn.
                        Chính ông bố cán bộ gốc ở xã hội chủ nghĩa thấy cậu con trai có hai cuốn vở mới, liền hỏi:
                        - Con lấy tiền đâu mà mua?
                        Con trai trả lời:
                        - Ði qua phòng giáo vụ nhà trường, thấy một chồng vở để trên bàn, không có ai, tiện tay con cầm hai cuốn về dùng.
                        Ông bố nổi cáu, quát tháo ầm ĩ:
                        - Làm vậy con còn mặt mũi nào nữa cơ chứ. Ai dạy con đi ăn cắp... hử? Nếu con cần vở thì bảo bố chứ. Ðể mai bố mang ở xí nghiệp về cho con hai bịch, tha hồ mà dùng!
                        (st)

                        Học… “ăn trộm ăn cướp” ở XHCN cha dạy con “giỏi” như trên đấy, nhưng tại gia đình, cha mẹ, học đường, ở lớp học trong chế độ Hồ Chí Minh lại chả bao giờ dám dạy Văn, Sử, Địa… (thì sách ở miền Nam Việt Nam đã bị nhà nước tịch thu, bị đốt sạch, như thuở xưa Tần Thủy Hoàng đốt sách chon học trò ... Bây giờ số đông do cha mẹ không có mảy may tí thì giờ, và ở ngoài Bắc không có sách luận bàn về các vị anh hùng Việt Nam đâu ra mà đọc).

                        Nhất là trường lớp ở thời điểm sau ngày 30 tháng Tư mất nước, thì học sinh miền Bắc, Trung, Nam… không bao giờ được học, đọc văn, thơ… nổi tiếng: truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm. Nhị Độ Mai, thậm chí các em chả biết chuyện Tấm Cám, Trầu Cau, Sơn Tinh Thủy Tinh… là gì. Nhất là các em không hề hay biết môn địa lý, lịch sử, nguồn cội tổ tiên anh dũng, những hào kiệt từng diệt ngoại xâm của chúng ta là ai.

                        Vì thế, mặc dù mỗi ngày tôi rất khổ sở trăm bề, quần quật đi “lao động là vinh quang” ở ngoài ruộng, ngoài đồng; tối về… sau khi lo cho gia đình ăn uống sơ sài, qua loa, dọn dẹp xong, tôi gọi các con ngồi xuống bên nhau ở ngoài bậc thềm, (nhiều lần có cả đám trẻ con ở trong xóm dé dé choai choai xúm xít rất đông). Do các con tôi đã và đang học ở mấy trường mang tên: Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Lý Chính Thắng, Lý Thường Kiệt…, mà các con. cháu chẳng hề biết tí gì về những bậc anh tài tuấn kiệt đó; Thế nên tôi bắt đầu dạy con học về lịch sử Việt Nam, trước hết là chuyện Hai Bà Trưng: Tôi sẽ nói rất vắn tắt, và tóm lượt về những điểm chính yếu của các vị anh hùng hào kiệt, nổi bật nhất và xưa cũ trong lịch sử Việt Nam:

                        ***

                        1.- Hai bà: Trưng Trắc & Trưng Nhị:

                        Vào năm Giáp Ngọ (34) thì vua Hán Quang Vũ (Tàu) sai thái thú Tô Định (ở bên Tàu) qua Việt Nam (lúc ấy nước Việt gọi là Giao Chỉ), chúng thường xuyên quấy nhiễu và cai trị dân ta. Tô Định là một tên tàn ác, bạo ngược, vô cùng dã man. Năm 40 bọn hắn đã giết ông Thi Sách là dân ở quận Châu Diên, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên. Thi Sách là chồng bà Trưng Trắc. Trưng Trắc (và em gái là Trưng Nhị, hai chị em là con vị lạc tướng ở làng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên). Hai bà chiêu mộ quân sĩ từ những làng: Cửu Chân, Hợp Phố, Nhật Nam, Lĩnh Ngoại…

                        Dân chúng thời bấy giờ rất khổ sở, nên ai ai cũng căm hờn oán than bọn Tàu, họ đã nồng nhiệt hưởng ứng lời mời gọi của hai bà, quân binh đồng lòng tôn vinh hai bà làm nữ tướng. Họ cùng hai bà nổi lên đánh đuổi bọn Tàu. Sĩ khí quan binh bấy giờ hùng dũng, mặc dù chỉ có dáo, mác, gậy gộc thô sơ, nhưng họ đồng tâm hợp ý, cùng nhất quyết xông pha nơi đầu đạn mũi tên gian khổ vô cùng, họ đồng lòng giẹp tan bè lũ Tàu Ô xâm lặng, nên họ đã hạ được 65 thành giặc.

                        Mọi người dân đều hết lời trầm trồ ca ngợi. Tô Định thua to, phải chạy trốn về quận Nam Hải. Thế là họ tôn vinh hai bà lên làm vua được ba năm, đóng đô ở Mê Linh. Hai bà mến quân, yêu nước, thương nhà… đồng quyết tâm rửa nhục mất nước xưa, quyết xây dựng giang sơn sự nghiệp của vua Hùng Vương:
                        Một xin rửa nhục quốc thù
                        Hai xin lập lại nghiệp xưa vua Hùng
                        (1).

                        Nữ lưu hào kiệt anh tài tuyệt vời như thế, khiến vua quan nhà Tàu chệt ngày đêm thấp thỏm rất lo sợ. Năm Tân Sửu (41) nhà Hán Quan Vũ lại sai Mã Viện là danh tướng Đông Hán tuy ngoài 70 tuổi, ông vẫn còn mạnh khỏe. Phó tướng Lưu Long và Đoàn Chỉ; bọn Tàu đem đoàn quân đông đúc chia ra hai nhánh đi xâm lăng nước Việt: một đoàn đi men theo bờ biển, một đạo quân khác đi phá núi rừng, làm đường xuyên sơn Tàu Việt. Hai bên Tàu Việt đã đụng độ nhiều phen, đã đánh nhau khá gay cấn, ác liệt.

                        Xét cho cùng thì quân Mã Viện là đoàn quân đông đúc đã từng tham chiến, đi xâm lăng đó đây, ắt có kinh nghiệm. Còn quân của hai bà Trưng là quân ô hợp mới kết nạp, chưa từng trải về việc chiến chinh, vũ khí thô sơ, tuy cầm cự giao chiến nhiều phen, nhưng rồi binh yếu, lương thực khô cạn, nên hai bà đành phải rút về Cẩm Khê một thời gian. Tu chỉnh chưa được bao lâu thì Mã Viện lại đến đánh.

                        Lần nầy, tướng của hai bà Trưng là Đô Dương giữ ở huyện Cư Phong (quận Cửu Chân) bị Mã Viện tiến đánh gắt gao, phải ra đầu hang. Quân binh của hai bà tan đàn rệu rã, hai bà phải chạy về xã Hát Môn, (huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây) vẫn bị đoàn quân Tàu hùng hậu bao vây chặt chẽ, chúng thẳng tay chém giết dân ta dã man, bạ đâu giết đó. Uất ức vì sự xâm lăng cướp phá trắng trợn, nhất là sự thống trị ác ôn của bọn Tàu chệt lúc chiếm lĩnh sơn hà. Năm Quý Mão (43) ngày mồng 6 tháng Hai, do không muốn bị bắt làm nhục, hai bà Trưng đã anh dung nhảy xuống sông Hát Giang tuẫn tiết (nơi khoảng sông Hồng & sông Đáy).

                        Tương truyền do sử cũ ghi rằng: sau khi Mã Viện dã man đàn áp được quân hai bà Trưng, thì việc thứ nhất hắn đã tom góp vũ khí, đồ đồng, vàng bạc… để đúc riêng cho hắn con ngựa đồng, vì hắn rất mê ngựa). Việc thứ nhì hắn sai đúc một trụ đồng to lớn chôn xuống địa danh nước Việt, khắc chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (cột đồng gãy, Giao chỉ chết).

                        Hắn bắt dân Việt nếu ai có việc cần đi qua đó, phải ném một hòn đá vào trụ đồng. Lâu đời, lâu năm… bây giờ trụ đồng ấy đã bị vùi lấp, không tìm thấy nữa. Các con cháu à, những vị nữ lưu phi thường xứng đáng là những vị kỳ tài kiệt xuất, đầy khí phách, oai hùng như hai bà Trưng Trắc, Trưng Nhị… Triệu Ẩu… thật rất đáng kính trọng mến phục lắm thay.

                        Mỗi lần nghe tôi kể chuyện cổ tích, thì các con (và các cháu con hàng xóm) đều im lặng há hốc miệng chăm chú lắng tai nghe từ đầu đến cuối. Nhưng khi tôi kết thúc câu chuyện, thì các con cháu tiu nguỷu, rồi đột ngột xuýt xoa, tíu tít nhao nhao lên:
                        - Ồ… hết chuyện rồi sao mẹ! Con muốn nghe mẹ kể tiếp nữa… Mẹ.
                        - Còn chuyện Bà Triệu Ẩu đẻ ra trăm trứng, lạ quá phải không mẹ?!
                        - Bậy bạ nà. Đó là sự tích của vua Lạc Long Quân và bà Âu Cơ.
                        - Có phải bà Triệu là do bà ấy ẩu-tả, nên người ta mới đặt cho bà tên Triệu Ẩu không mẹ?!
                        - Tầm bậy tầm bạ hết sức!
                        - Vậy thì… xin mẹ kể nốt cho con nghe đi mẹ.
                        Buộc lòng tôi phải uống ngụm nước lọc, rồi tằng hắng cất giọng:

                        2. Triệu Thị Chinh
                        .-

                        Lúc ấy tại Cửu Chân có dân ta nổi dậy rầm rộ, lớn nhất, trong đó có ông Triệu Quốc Đạt và em gái là bà Triệu Thị Chinh. Họ quê ở huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Bà Triệu là người có sức khỏe dồi dào, có chí khí, rất kiên cường và tri thức. Thuở nhỏ cha mẹ mất sớm, anh ruột là Triệu Quốc Đạt có vợ, nhưng bà Triệu vẫn sống với họ cho đến năm bà hai mươi tuổi, do nhiều lần chị dâu (của bà Triệu) quá khắt khe, tàn ác, và độc đoán.

                        Bà Triệu dám giết chị dâu, rồi bà Triệu vô rừng chiêu mộ quân sĩ đông đúc, được quân binh tín cẩn tôn bà lên làm tướng. Họ vào sống trong núi, ngày đêm kham khổ, kém ăn khát uống vẫn bền chí luyện tập không mệt mỏi. Anh Triệu Quốc Đạt biết cô em là người can đảm, có nghĩa khí, anh lo sợ khuyên can em chưa nên phục thù, nhưng bà nói:

                        - Em muốn cỡi gió, chém cá kình biển đông, đạp lên sóng dữ, quét sạch bọn Đông Ngô ra khỏi bờ cõi nước ta, để cứu dân thoát khỏi ách nô lệ, khổ sở, xiềng xích của Tàu Ô. Chứ em không thèm cúi đầu cong lưng làm tì thiếp người khác.

                        Vua Đông Ngô (Tàu) cho quân tràn qua đánh nước ta nhiều lần, nhưng mấy phen đã bị thua to. Khiến trong nước có nhiều nơi đồng loạt nổi dậy, mong đánh đuổi bọn Tàu ra khỏi đất nước. Thế nên chúng điên cuồng tàn sát dân ta càng dã man hơn. Cuối cùng, năm Mậu Thìn 284 nhà Ngô sai thứ sử Lục Dận qua đàn áp Giao Châu (nước Việt). Anh Triệu Quốc Đạt khởi binh đánh bọn xâm lăng, được bà Triệu Thị Chinh đem quân đến tiếp ứng, hết lòng giúp anh. Lúc xông pha ra trận chiến bà Triệu mới 23 tuổi, bà vấn tóc cao, đội khăn vàng, hàm răng hạt huyền bóng đen, miệng bỏm bẻm nhai trầu, mình mặc áo giáp vàng, bà cỡi voi, tay cầm đao, tự xưng là "Nhụy Kiều tướng quân".

                        Hai bên Tàu – Việt ngày đêm đánh nhau hơn nửa năm. Nhưng quân ta ít, mà dân Ngô quá đông chúng đã lấy thịt đè người, quân binh ta đành phải thua trận.

                        Thật ra, trong sử cũ ở miền Nam Việt Nam đã ghi: Nước mất nhà tan, thất bại của anh em bà Triệu lần nầy, không nhất thiết vì một phần binh lính mất dần mòn (khi anh của bà đã tử vong), lương thực khô cạn. Mà do sự thâm độc, nham hiểm, trắng trợn của Lục Dân một phần lớn mà ra, ông ta đã dùng thủ đoạn biển người, nghĩ ra một kế “quái chiêu” bẩn thỉu; không biết phải diễn tả thế nào, cho công bằng…

                        Nghĩa là Lục Dân bắt binh lính nhà Ngô phải trần truồng như nhộng khi ra trận chiến, (không cho lính Tàu mặc một thứ gì, các thứ lủng lẳng coi thiệt man rợ). Thế nên do bất ngờ, kinh ngạc, và quá xấu hổ, mắc cỡ tột cùng, nên bà Triệu và quân binh bèn chạy về xã Phú Điền, huyện Mỹ Hóa. Bà Triệu chia tay họ, và bà đã tự tử.

                        - Ui Trời, có chuyện kỳ cục thô bỉ vậy sao? Mẹ!
                        - Phải, rất dị hợm, nhưng đó là chuyện sử cũ đã ghi thật.
                        - Mẹ kể chuyện khác nữa đi.
                        - Ồ… Khuya lắm rồi. Các con cháu phải ngủ, ngày mai còn dậy sớm đi học.
                        - Nhưng đi học mà con không được nghe chuyện lịch sử của nước Việt Nam, đi học bây giờ chán thấy mồ.
                        - Ráng đi học cho giỏi, mẹ hứa sẽ kể cho các con, cháu, nghe nhiều chuyện lịch sử khác nữa.
                        - Tối mai, mẹ cho chúng con nghe chuyện Đức Trần Hưng Đạo, mẹ nhe.
                        - Ừa, nếu các con ngoan.
                        - Dạ… Dạ!
                        ***

                        (1)= Thiên Nam Ngũ Lục
                        (2) st= sưu tầm
                        ***

                        Tình Hoài Hương
                        Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-13-2017, 11:59 PM.
                        Bút trần nào tả được lưu luyến!
                        Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                        Tình Hoài Hương

                        Comment

                        • Tinh Hoai Huong
                          Senior Member
                          • May 2009
                          • 1081

                          #132
                          Đôi Lời Phi Lộ của Đại Úy Không Quân Trần Văn Phúc (Phi-tuần Trưởng PT Khu-trục Phi-

                          Đôi Lời Phi Lộ của Đại Úy Không Quân Trần Văn Phúc (Phi-tuần Trưởng PT Khu-trục Phi-Long 51)


                          Nhân dịp 30/4/2011 đọc các báo và các mạng Quốc Nội (CSVN) bốc phéc trong bài phỏng vấn tên hàng giặc Tr/u Trần Văn On, người phi công hèn, bay cùng tên phản bội Nguyễn Thành Trung dội bom phi trường Tân Sơn Nhứt lúc 06 giờ chiều ngày 28/4/1975, nào là bom 1.000 kg, 500 kg, 2 phi đạo bị huỷ v...v... và v...v..., Tác giả Tình Hoài Hương có hỏi tôi “ngày hôm đó thật sự chuyện gì đã xảy ra”?
                          Vì là một nhân chứng, tôi đã kể lại chi tiết những gì tôi đã nhìn thấy. Sau đó tác giả Tình Hoài Hương đã ghi lại và đăng trên web :



                          Chính nhờ web Văn Tuyển nầy, tôi đã được đọc quyển sách "gối đầu giường" của nhiều người trên toàn thế giới - Tháng Tư Nghiệt Ngã của ký giả người Pháp, Todd Olivier do Đ/tá Dương Hiếu Nghĩa dịch. Hàng ngàn chi tiết tôi hoàn toàn không hề biêt, nhưng riêng chương 21 – “Sài Gòn Thất Thủ” về những việc xảy ra tại phi trường TSN và KQVNCH, là 1 nhân chứng đã dự phần trong phi vụ chống pháo kích hôm đó, tôi vô cùng bất nhẫn và cảm thấy xấu hổ thay cho ký giả, sử gia Todd Olivier. Mang danh là nhà viết sử mà ông Todd Olivier lại bẻ cong sự thật, hoàn toàn sai lạc, cố tình nhục mạ QLVNCH (KQVNCH).

                          Thay mặt những vị anh hùng Vị Quốc Vong Thân, Th/tá Trương Phùng, Tr/uý Trang Văn Thành cùng Phi Hành Đoàn Tinh Long, tôi, Phi Long Trần Văn Phúc lên án người ký giả Todd Olivier là 1 ký giả, sử gia bất xứng, nhất là Th/tá Trương Phùng đã không màng an nguy chính bản thân anh, bằng mọi giá anh đã cất cánh tại Tân Sơn Nhứt 1 phi cơ khu trục A-1 Skyraider trong cơn mưa pháo, để bảo vệ hàng vạn đồng đội và đồng bào tại phi trường Tân Sơn Nhứt cũng như thủ đô Sài Gòn và sau khi hoàn tất phi vụ diệt pháo của Cộng Quân ở Phú Lâm anh bị mất tích vào giây phút cuối cùng.
                          Thật nực cười khi đọc câu :"phi tuần tôi chỉ có 1 (Một) trái bom"???

                          Chúng tôi hãnh diện mà nói rằng chúng tôi đã làm tất cả những gì mà chúng tôi có thể để bảo vệ Tổ Quốc không hèn như ông ký giả, sử gia người Pháp nầy nhục mạ.

                          Thành khẩn nhờ tất cả anh em của các phi hành đoàn của chiếc Tinh Long 06, những chiếc trực thăng hiện diện trên vùng trời Phú Lâm sáng sớm ngày 29/4/75, các nhân viên của các đài Ground Control, Saigon Tower và Kiểm Báo Paris hãy bổ túc sự thiếu sót nầy. Xin đa tạ.

                          Tôi xin gởi đến quý BBT bài Phi vụ của tác giả Tình Hoài Hương.
                          Sau đó được đăng trên web Việt Land



                          Phúc Trần

                          ******
                          Phi vụ Oanh Liệt Cuối Cùng

                          Tình Hoài Hương chân thành cám ơn Đại úy Không Quân Trần Văn Phúc {(Phi-tuần Trưởng PT Khu-trục Phi-Long 51) hiện ở Cali} đã chuyển tải:..sự thật trung thực, chính xác, nóng bỏng về ngày 28 & 29 tháng Tư năm 1975 vô cùng đen tối hắc ám của lịch sử... Việt Nam.

                          * * *
                          Chiều ngày 28/4/1975 - khoảng 5:45’- trong phi vụ hộ tống Trung-tá Nguyễn Văn Mạnh SĐ3 KQ và toán chuyên viên Vũ-khí & Đạn-dược đặt chất nổ, để phá hủy các cơ sở của Bộ Chỉ Huy Kỹ-Thuật & Tiếp-vận KQ (Biên–Hoà). Tôi, (Trần Văn Phúc) và Trung-úy Nguyễn Thành Bá bay từ Dốc Sỏi ngang qua Cầu Mới Biên Hòa. Tôi vừa quẹo trái từ hướng Tây sang hướng Đông, đột nhiên tôi thấy 4 chiếc A37 với đầy đủ bom đạn trong một đội hình dị thường, nghĩa là không giống ai, phi diễn không ra phi diễn, chiến đấu không ra chiến đấu, đang từ hướng Đông Bắc lao tới cùng một cao độ với chúng tôi. Tôi cứ lầm tưởng là phi cơ của các phi đoàn bạn (từ miền Trung di tản về Tân Sơn Nhứt tháng trước) đang bay hành quân, nên tôi vội vã kéo cần lái, cho phi cơ mình bốc vọt lên cao, để tránh hai bên đụng nhau trong gang tấc. Đồng thời tôi hét trong vô tuyến để lưu ý anh Bá, (bay chiếc số 2 theo tôi trong đội hình chiến đấu):
                          - Hai theo một! Coi chừng bốn A37 hướng 10 giờ!
                          Rồi tôi bay đảo lại và nhìn theo 4 chiếc A37 bay xa dần, tôi ngạc nhiên, thông thường một phi tuần khu trục đi bay hành quân chỉ có hai chiếc, hôm nay là ngoại lệ, đặc biệt vì có tới 4 chiếc. Tôi nói tiếp với Bá:
                          - Giờ nầy mà mấy thằng "ma gà" A37 còn mang bom đạn đi lang thang kìa!
                          Chúng tôi đã suýt đụng nhau với chúng nó trên sông Đồng Nai, mà không thể nào ngờ đó là bọn phản tặc! Trời lúc đó vẫn còn sáng tỏ, tôi chúi mũi cho phi cơ xuống thấp, bay dọc theo quốc lộ 1 đến Thủ Đức, tôi quẹo trái theo xa lộ Biên Hòa đến Long Bình rồi về Biên Hòa đọc theo Quốc Lộ 1. Nhìn xuống dưới, tôi thấy dọc suốt lề đường có rất nhiều xe thiết giáp đậu cách nhau từng trăm thước một. Muốn khích lệ tinh thần cho các chiến hữu Bộ Binh, nên tôi bay rất thấp, vì vậy khi bọn phản tặc dội bom ở Tân Sơn Nhứt, tôi đã không trông thấy. Nếu tôi bay ở cao độ 5.000 bộ, chắc chắn tôi sẽ thấy những cột khói đen bốc lên từ Tân Sơn Nhứt (TSN). Chừng 20 phút sau, Chuẩn-tướng Huỳnh Bá Tính Sư–Đoàn-Trưởng SĐ3KQ báo cho chúng tôi biết:
                          - Có một phi tuần ba chiếc A37 vừa dội bom Tân Sơn Nhứt!
                          Tôi điếng hồn nghĩ ngay đến phi tuần A37 mà mình vừa gặp, nên tôi “chỉnh“ lại ông trên tần số:
                          - Như vậy phải là bốn chiếc A37, vì chúng tôi đã gặp bọn chúng cách đây không lâu! (mãi về sau nầy, khi tôi kiểm chứng với nhà nghiên cứu sử Nguyễn Hùng Kiệt, anh đã xác nhận: phi tuần của đám phản tặc nầy có tất cả 4 chiếc A-37, nhưng không biết vì lý do gì chỉ có 3 chiếc dội bom Tân Sơn Nhứt mà thôi !?). Vào thời điểm Tân Sơn Nhứt bị dội bom, chiếc trực thăng của Tướng Tính chuẩn bị đáp xuống TSN, nên ông đã chứng kiến toàn bộ sự việc. Đối chiếu với thông tin của sử gia Nguyễn Hùng Kiệt, cả hai người (Tướng Tính & tôi) đều nói đúng sự thật! Chúng tôi vội vã bay trở về Tân Sơn Nhứt, thì bọn phản tặc đã chuồn đi mất tăm biệt tích. Khi bay trên không phận TSN, Đài Kiểm-soát Không-lưu (Sài Gòn Control Tower) báo cho chúng tôi biết: “phi trường chỉ bị thiệt hại nhẹ. Vài chiếc C-47 bị trúng bom (1 chiếc gần phi đạo đang cháy như chúng tôi thấy), vài cơ sở bị hư hại như hậu trạm cũ, nơi trước đây chứa các phi cơ A-1, mới vừa dời về khu Tây lúc 1 giờ trưa, cạnh bãi đậu của A-37. Nhưng thật may mắn (?) hai phi đạo không hề bị trúng bom”.
                          Sau mấy vòng bay quanh Tân Sơn Nhứt, chúng tôi biết chắc chắn phi trường và nhất là hai phi đạo vẫn an toàn, không cần thiết phải bay đi Cần Thơ, nên tôi yên tâm mà bay trở lại Biên Hòa, để tiếp tục thi hành phi vụ hộ tống Trung-Tá Mạnh và toán chuyên viên vũ khí. Mãi đến tận ngày hôm nay, tôi vẫn cảm thấy hối tiếc: vì Trời đã cho tôi một cơ hội ngàn vàng, để tôi có thể bắn hạ bọn phản tặc ác ôn (tôi đã học kỷ thuật không chiến Dogfight trong khoá Phi Tuần Trưởng với Trung-tá Nguyễn Văn Huynh PĐP PĐ 518), mà tôi lại vô tình để vuột mất cơ hội ngàn năm một thuở! Trong trường hợp “tao ngộ chiến“ hy hữu đó, bọn chúng không trông thấy chúng tôi, vì bị chói ánh mặt trời chiều nên không có phản ứng né tránh nào, mà chúng vẫn ung dung bay thẳng tới. Hoặc chúng tôi chỉ cần lách sang một bên, bật nút ARM - ON và bóp cò súng, bắn ngang hông ở phía sau bọn chúng, thì 800 viên đại bác 20 ly trên mỗi chiếc A1 của chúng tôi sẽ không tha bọn chúng. Hoặc lúc đó tôi gọi Paris (đài Kiểm Báo Không Lưu TSN) để báo động khẩn cấp. Các phi cơ F5-E đang ứng trực ở đầu phi đạo TSN, sẽ tức tốc cất cánh lên xơi tái bọn chúng, thì bọn chúng chẳng còn mạng, để sau nầy vung vít mà “bốc phét”! Đây có phải là vận mệnh thảm khốc đau buồn của đất nước Việt Nam đã an bài phải là ngày 30/4/1975 !?
                          Sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ hộ tống Trung-tá Mạnh qua khỏi cầu Bình Triệu an toàn, chúng tôi mang đầy đủ bom đạn về hạ cánh lúc 8 giờ tối. Tôi gặp các anh bay F5 và họ cho biết là:
                          - Đang chờ lệnh đi ném bom trả đũa ở phi trường Phan Rang.
                          …nhưng điều đó đã có bao giờ xảy ra ? -không biết vì lý do gì- !?
                          Tôi thấy nhiều anh em trong Tân Sơn Nhứt có phần giao động tinh thần vì cuộc dội bom vừa qua. Do Radar không thể phát hiện nếu bọn phản tặc bay thấp như lần vừa rồi, nên nhiều người lo sợ chẳng biết có thêm lần dội bom kế tiếp nào nữa hay không?
                          …Khi trở vào biệt đội khu trục lúc nửa đêm, tôi thấy các anh em thuộc PĐ 514 và 518 đang nằm sắp lớp như cá mòi ngay trên nền nhà. Tôi lặng lẽ nằm xuống một chỗ trống còn lại bên cạnh cái điện thoại dã chiến mới vừa móc dây. Tôi nằm đó, nghiêng qua trở lại rất lâu mà không thể nào ngủ được, vì trong lòng ngổn ngang những tiếc nuối & hối hận, cắn rứt tim tôi: khi mãi nhớ lại cơ hội ngàn năm có một, mà tôi đã vô tình để nó trượt thoát khỏi tay, tiếc thay, tôi đã không bấm cò đại bác bắn thẳng vào lũ phản tặc A37 lúc ban chiều (sau nầy, khi biết tên Nguyễn Thành Trung chính là kẻ đã “rước giặc vào nhà“, bay dẫn đường cho đám phản tặc A37 đó, tôi lại càng hối hận & tiếc nuối nhiều hơn nữa!).
                          Quá mệt mỏi tinh thần và rã rời thân thể tôi vừa chợp mắt tí xíu, là đã phải choàng tỉnh ngay lập tức vì những tiếng nổ vang trời. Phi trường bị pháo kích! Hàng loạt hỏa tiễn 122ly rít xé bầu trời điên loạn lao xuống, nổ tung lên cùng khắp trong căn cứ & phi trường TSN, nơi đang tập trung dày đặc những quân nhân KQ và gia đình của họ mới vừa đổ dồn từ ngoài vùng I, vùng 2 di tản về. Điện bị cúp. Nhưng cho dù điện không cúp thì tất cả vẫn chìm trong bóng tối như địa ngục, vì sức ép nổ của những quả hỏa tiễn rơi quá gần, làm vỡ tung những bóng đèn trong biệt đội khu trục chúng tôi... Thật là may mắn đến kỳ lạ khi mọi người đang nằm sát nhau dưới nền nhà đều bình an vô sự!
                          Điện thoại reo! Do nằm sát gần điện thoại, tôi bốc máy lên nghe và chuyển lệnh điều động cất cánh khẩn cấp đến Thiếu-tá Lê Văn Sang, Trưởng Phòng Hành Quân PĐ Phi Long 518. Trong bóng tối dày đặc, không nhìn thấy mặt bất cứ ai, mà chỉ nghe tiếng nói của tôi vừa chuyển lệnh. Thiếu-Tá Sang hỏi luôn:
                          - Phúc đó hả, Phúc đi bay được không?
                          Theo đúng Huấn Thị Khu Trục, tôi mới bay xong phi vụ yểm trợ rút quân hồi đầu hôm, nên tôi có quyền từ chối đề nghị này của Thiếu-Tá Sang, nhưng hình như cái mặc cảm “tội lỗi“ (vì thiếu cảnh giác đã để bọn phản tặc A37 vượt thoát) của tôi đang chờ có một cơ hội “chuộc lại lổi lầm“, đã bật lên tiếng nói thay cho tôi:
                          - Đương nhiên là được, nhưng wingman (phi tuần viên) là ai?
                          Chưa có ai kịp lên tiếng, thì từ trong bóng tối cuối phòng, tiếng Thiếu Tá Trương Phùng vang lên:
                          - Trâu đạp cũng chết, chó đạp cũng chết. Tao đi với mi, xem coi có chết thằng Tây nào không!?
                          Phi trường đang bị pháo kích dữ dội nên lúc đó không có xe đưa đón Phi Hành Đoàn. Không thể chậm trễ, anh Phùng gọi tôi leo lên chiếc xe Jeep dân sự của anh phóng ra bãi đậu phi cơ. Anh Phùng lái xe như bay:
                          -… mẹ nó! Tao chưa hề thấy tụi nó pháo dữ dằn như hôm nay! Tụi nó định “dứt điểm” mình bữa nay sao cà?
                          Rồi anh nói tiếp:
                          - Bất cứ giá nào mình cũng phải lên (cất cánh), hy vọng có thể bảo vệ bao nhiêu người vô tội ở đây. Nếu như mình bị hy sinh, âu cũng là dịp để mình đền ơn Tổ Quốc.
                          Nhìn anh lái xe vun vút như bay, tôi thầm cảm phục người đàn anh gan lỳ, quả cảm, người hùng của mặt trận Quảng Trị 1972 với chiến tích lẫy lừng đã “nướng sống“ 15 chiếc xe Tăng T-54 của bọn Cộng Phỉ! Đến bãi đậu A-1, các anh em phi đạo đã ứng trực sẵn sàng, anh Phùng hét lớn trong tiếng nổ vang rền của đạn pháo:
                          - Nổ máy là “chock out” ngay (rút những khúc gỗ chận bánh xe phi cơ ra) rồi các bạn tìm chỗ núp! Mặc kệ chúng tôi, đừng để chết chùm hết cả đám đấy!
                          Máy vừa quay tròn vòng thì có nhiều tiếng nổ long trời ở bãi đậu A-37 kề bên, nhiều quần lửa như cây nấm khổng lồ cuồn cuộn bốc phụt lên cao. Không chần chờ, tôi cho phi cơ di chuyễn ra khỏi ụ. Anh Phùng vẫn còn đứng cạnh máy bay. Anh ra dấu cho tôi biết là bình điện của phi cơ anh bị hư. Vì vậy, tôi quyết định cất cánh một mình như đã Briefing trước đó. Tôi ra hiệu cho anh Phùng biết, và gọi Đài Saigon Ground Control (Đài Kiểm Soát Diện Địa Sài Gòn) để xin di chuyễn ra phi đạo, đài trả lời ngay:
                          - Phi Long 51 (PL51)! Phi đạo sử dụng 25, gió hướng Nam 4 knotts, áp suất 29.92…
                          Nhận thấy gió ngang gần như thẳng góc với phi đạo và rất nhẹ (4 knotts), tôi có thể cất cánh bất cứ hướng nào. Nhưng tôi không thể dùng PĐ25 sẽ vô cùng nguy hiểm; vì khi bay lên, sẽ chui ngay vào đạn đạo của địch đang pháo kích. Nếu cất cánh PĐ 07, tôi quẹo trái để đến đầu PĐ 07, thì phải di chuyển ngang qua bãi đậu A37 đang cháy rực lửa, cũng rất nguy hiểm. Vì vậy tôi có ý định quẹo phải theo Taxi way #3 để cất cánh PĐ 07, nghĩa là ngược chiều PĐ sử dụng, và tôi chỉ có thể dùng ½ chiều dài phi đạo còn lại. Cứu binh như cứu lửa, không còn phương cách nào khác, tôi quyết định gọi:
                          - Saigon Ground Control! PL51 request taxi ra Whisky number three và cất cánh PĐ 07
                          (ngược chiều phi đạo sử dụng).
                          Ngay khi được phép, tôi di chuyển nhanh ra phi đạo 07 R, miệng lẩm bẩm:
                          - Người đẹp của tôi ơi! Em ráng giúp anh thêm một lần nữa! Đừng ho hen nha cưng! (Pilot chúng tôi xem chiếc máy bay mình lái như là người vợ, người tình muôn thuở, đặc biệt là em Skyraider tuổi già sức yếu nên đôi khi ưa “nũng nịu, nhỏng nhẽo“).
                          Sau khi thử máy (dù biết động cơ chưa nóng ), tôi xin đài Saigon Tower cho phép cất cánh khẩn cấp. Vì chỉ còn lại ½ phi đạo, nên tôi phải dùng phương cách “Maximun Peformance Take Off“, và cất cánh lúc 04 giờ 25 phút sáng ngày 29/4/1975.
                          Vừa rời khỏi phi đạo, lòng tôi rộn rã một niềm vui mừng khó tả, và cảm tạ Ơn Trên cho tôi cơ hội cứu nguy cho mọi người trong Tân Sơn Nhứt. Sang tần số Paris (đài Kiểm Báo Sài Gòn) tôi báo:
                          - Paris ! PL 51 vừa cất cánh một chiếc A1 với 10 trái MK 81. Xin nhận chỉ thị.
                          Đài Paris chưa kịp trả lời, tôi đã nghe:
                          - PL 51! Đây Tinh Long 06 (TL06), bạn đến Phú Lâm ngay! Chỗ có nhiều trái sáng. Bao lâu bạn tới?
                          - TL06! PL 51 mang 10 trái MK 81, sẽ có mặt trong 5 phút và request Random Attact! OK! (đổi hướng tấn công)

                          Khi lên tới Phú Lâm, tôi được Trung-úy Trần Văn Bảo, Trưởng Phi Cơ của chiếc AC-119K hướng dẫn oanh kích, mục tiêu là hai làn khói của hai giàn pháo 122 ly. Tôi rất ngạc nhiên, mục tiêu chỉ cách đài Radar Phú Lâm hơn 500 mét về hướng Tây. Nhờ lặng gió nên hai làn khói này vẫn còn la đà trên mặt đất. Lập tức, tôi vừa lao xuống vừa gọi:
                          - PL51 in hot và thả từng trái một!
                          Sau khi thả trái bom xuống mục tiêu thứ nhì, tôi ngưng lại và chờ đợi. Trong thời gian nầy, tôi nghe giọng Tướng Kỳ trong vô tuyến:
                          - Phi Long 51 trút hết bom đạn xuống target! Tối nay ghé nhà tôi nhậu!
                          Tôi hỏi lại:
                          - Giới chức vừa ra lệnh cho Phi Long 51, xin cho biết danh hiệu.
                          - Tôi Thần Phong 01, Thiếu Tướng Kỳ đây!
                          - Thần Phong 01! PL51 lên một mình với 10 trái bom 250 cân Anh, tôi có kinh nghiệm chống pháo kích. Thần Phong 01 an tâm. Tôi có thể ở đây thêm ba giờ nữa.
                          Khoảng 15 ; 20 phút sau, có lẽ bọn Cộng Phỉ nghĩ tôi đã hết bom, nên chúng bắt đầu pháo trở lại. Tôi nhìn thấy rõ nhiều giàn pháo, mỗi giàn 4 khẩu 122 ly liên tục phóng lên. Liếc nhìn về hướng Tân Sơn Nhứt và Sài Gòn có nhiều quầng sáng nháng lên, tôi liền lao xuống thả bom và thầm gọi:
                          - Anh Phùng ơi! anh ở đâu, sao không lên tiếp tay với tôi? Một mình tôi làm không xuể đâu! Anh Phùng ơi!
                          Năm ba phút sau, khi định nhào xuống thả bom, tôi thấy có vài đám nổ dưới mục tiêu, tôi tưởng lầm là rocket của trực thăng võ trang bắn xuống, tôi liền cự nự Trung-úy Bảo:
                          - TL06! Bạn cho tôi đánh random attack, sao bạn lại cho gunship (trực thăng võ trang) vào “ăn có”? Nó bay cao độ thấp, lỡ tôi không thấy, nện ngay trên đầu nó, thì phiền lắm!
                          Anh Bảo liền cãi chánh:
                          - Không phải đâu PL51, tôi đã đuổi tụi nó qua bên Quốc Lộ 4 rồi. Để tôi quan sát kỹ lại.
                          Lúc đó có khoảng ba bốn chiếc trực thăng quây quần phía Đông Bắc Phú Lâm. Sắp nhào xuống thả bom lần kế tiếp, tôi lại thấy có ánh lửa nổ tung và tiếng anh Bảo la lên:
                          - Ê ...PL 51! Tôi thấy có một chiếc dường như là A-1 vào đánh phụ với bạn đó! Chắc chắn không phải là gunship đâu!
                          Tôi liền nghĩ ngay tới anh Phùng, nên trả lời anh Bảo:
                          - TL06! chắc là Thiếu Tá Phùng! Có thể anh Phùng bị trục trặc về vô tuyến! Bạn an tâm, monkey see monkey do (thấy tôi thả bom ở đâu, anh ấy sẽ thả bom ở đó).
                          Nhờ sự yểm trợ hỏa châu của TL-06, chúng tôi dễ dàng “lượm” những giàn pháo như lấy kẹo trong túi. Thanh toán xong các giàn pháo nầy, thì tôi cũng vừa hết bom.

                          - TL06, tất cả giàn pháo đã “clear“ (bị hủy diệt sạch) tôi giao ở đây cho bạn, PL 51 để dành 800 viên 20ly phòng thủ phi trường. Vì muốn biết người phụ tôi diệt pháo vừa rồi, có đúng là anh Phùng không? nên tôi sang tần số của Đài Sài Gòn:
                          - Saigon Tower! Đây PL51. Bạn cho biết: sau tôi còn có chiếc A1 nào cất cánh không?
                          Tôi được trả lời:
                          - Tụi nó pháo quá, chúng tôi núp dưới hầm trú ẩn, vừa lên nên không biết gì hết bạn à!
                          Khoảng 5:25’ sáng tôi về tới Tân Sơn Nhứt, trời vẫn còn tối đen như mực, ngoại trừ những ánh đèn phi đạo và taxi way còn có hai đám cháy: một đám ở bãi đậu A37 như đã nói ở trên, còn đám cháy thứ hai dù tôi đã đảo nhiều vòng, nhưng vẫn không nhận ra chính xác là nơi nào. Nhưng sau ít phút nhờ ánh sáng lờ mờ bập bùng còn lại của đám cháy, tôi vừa nhận ra là ở phía Nam của dinh Tướng Kỳ độ chừng trăm mét. Tự nhiên trán tôi rịn mồ hôi, tay run lẫy bẫy, tim đập dồn dập và ứ nghẽn lồng ngực muốn nghẹt thở, vì hình như đám cháy là ở khu cư xá C-7, nơi vợ con tôi tạm trú, miệng tôi không ngớt cầu nguyện:
                          - Cầu xin Ơn Trên che chở cho vợ con của con, và những người khác được bình yên.
                          Ngay lúc đó, trong lòng lòng tôi bùng lên một cơn giận dữ & căm thù đám Cộng Phỉ trong trại Davis, (Võ Đông Giang và đồng bọn).Nếu vợ con tôi có mệnh hệ nào, tôi thề sẽ thí mạng với bọn chúng! (Võ Đông Giang và đồng bọn).
                          Mươi phút sau, tôi thấy chiếc TL07 cất cánh lên, để thay thế chiếc TL06 về đáp. Tôi tiếp tục bao vùng trên không phận Tân Sơn Nhứt, cho đến khi bình minh có ánh sáng lờ mờ, tôi nhận ra đám cháy chính là cư xá Nữ Quân Nhân. Tôi nóng lòng muốn đáp xuống, nhưng chưa có phi tuần nào lên thay thế. Vài phút sau, tôi nhìn sang cánh phải: thấy có một chiếc AD-5 còn treo hai trái bom cứ bám sát theo phi cơ tôi. Tôi sang tần số và gọi đài Saigon Tower một lần nữa, để xác định chiếc AD-5: “có phải là của anh Phùng không”. Câu trả lời vẫn là “Không biết”. Vừa lúc đó, “anh bạn dễ ghét” như muốn chơi trò trốn tìm “ú tim” với tôi, nên anh ấy cho phi cơ hết lòn sang trái lại chui qua phải. Tôi bất ngờ cắt bán kính, quẹo vòng thật gắt định ra sau chiếc phi cơ nầy. Nhưng anh bạn “dễ ghét” là một cao thủ tuyệt đỉnh, lúc nào anh cũng bám riết theo sau, khi sang trái khi sang phải cố ý trêu đùa tôi. Nếu là dog fight (không chiến) thì tôi bị tay lão luyện nầy “dớt rụng càng” rồi!
                          Trên tần số Paris, tôi nghe giọng của Thiếu-tá Hồ Ngọc Ấn Phi Đoàn Phượng Hoàng 514 liên lạc với TL07, cho biết: “phi tuần 2 chiếc A1 của anh đang ở Long An, trên đường tiến về Sài Gòn.( Đại-uý Nguyễn Tiến Thuỵ bay chiếc số 2). Khoảng mười phút sau, Trung-uý Trang Văn Thành, Trưởng Phi Cơ của TL07 gọi trên tần số:
                          - Phượng Hoàng 11, tôi nghi ngờ có một toán đặc công độ năm bảy tên, định cắt hàng rào kẽm gai phía Bắc phi trường, chỗ miếng đất trống hình tam giác ở An Nhơn. Bạn cho 1 trái ngoài hàng rào, đánh trục Đông sang Tây. Tôi giữ cao độ 5.000.
                          Vì biết phi tuần anh Ấn chưa đến nơi, nếu cần thiết tôi có thể dùng 4 cây đại bác 20 ly bắn dọc theo vòng rào. Tôi bay tới đó, mặt trời vừa ló dạng, trời tỏ hơn nhưng ở độ cao 4.000 bộ, nên tôi không thấy gì cả. Thình lình anh Phùng lao xuống thả một trái bom. Thì có tiếng anh Thành la lên:
                          - Số 1 thả bom “như để “. Số 2 đánh dài hơn vài mươi thước.
                          Trái thứ nhì rơi dài hơn năm chục thước. Anh Thành hoảng hốt:
                          - Phượng Hoàng 11 Hold High And Dry (ngưng thả bom). Số 2 của bạn đánh gần nhà dân quá!
                          Thiếu tá Ấn liền lên tiếng:
                          - TL07! Ai khác đánh đó, chớ không phải Phượng Hoàng 11! Tôi chỉ mới tới Bến Lức, làm sao thả bom ở đó được!
                          Thì ra anh Thành lầm lẫn phi tuần của tôi là phi tuần anh Ấn. Tôi vội lên tiếng:
                          - TL07! Đây PL 51. Đó là Phi Long 52 (chiếc số 2 của PL51) nó hư vô tuyến, chỉ còn 2 trái, vừa thả hết rồi. Còn tôi đã “Empty” (hết bom).
                          Nhận ra tiếng của tôi, Đại-uý Thụy (người bạn cố tri cùng PĐ Thái Dương 530 với tôi ở Pleiku) gọi tôi:
                          - Ê Phúc! Mày về Cần Thơ đi, đáp ở đó (TSN) nguy hiểm lắm!
                          Nhìn đồng hồ xăng có 800 lbs, vừa đủ để bay đi Cần Thơ nhưng tôi đã có quyết định đáp Tân Sơn Nhứt từ trước, nên trả lời:
                          - Vợ con tao còn kẹt lại đây, giá nào cũng phải đáp TSN. Tình hình ở đây chưa đến nỗi nào đâu.
                          Đột nhiên anh Phùng gọi tôi:
                          - Ê ...PL51, đi Cần Thơ nha! Bay với mi gần 3 tiếng, chừ mới liên lạc được một xí. Tao nghe được nhưng bị câm. Bực mình quá!
                          Tôi vội bấm máy trả lời:
                          - Không! Tôi chỉ còn 600 pounds xăng, vả lại vợ con tôi kẹt ở đây. Anh đi Cần Thơ một mình trước nghen!

                          Lúc bấy giờ chiếc TL07 đang bay 5.000 bộ nên anh Thành muốn xuống thấp để dễ quan sát và nhìn thấy rõ hơn, nên anh báo cho chúng tôi biết:
                          - PL51! TL07 xuống cao độ để nhìn rõ hơn. Tôi không muốn đánh lầm vào nhà dân, tội họ lắm!
                          Không ngờ mấy phút sau, khi chúng tôi bay trên Lăng Cha Cả ở Cao độ 1.500 bộ, anh Phùng gọi tôi:
                          - Ê một! Mình đáp xuống Tân Sơn Nhứt đi!
                          Lo ngại vô tuyến bất thường của anh hư, nên tôi nhường cho anh Phùng đáp trước. Nhưng trước khi Touch Down (chạm bánh), anh Phùng lại gọi tôi:
                          - Một! Mi đáp trước đi, tao Go Around (bay lên lại). Mi chờ ít phút, tao về chở mi vô!.
                          Nóng lòng vì vợ con ở kế bên đám cháy (cư xá Nữ Quân Nhân) nên tôi không bay theo anh Phùng như thông lệ. Tôi tiếp tục vào Final (cận tiến), thì Sài Gòn Tower báo cho chúng tôi:
                          - PL51, có SA7 bắn lên. Tôi thấy mấy cục lửa bằng cườm tay bay lên!
                          Vì tôi đã chứng kiến SA-7 bắn ở Kiến Đức vào cuối năm 1973, nên tôi có ý nghi ngờ:
                          - Saigon Tower, SA-7 bắn lên lúc đầu là một vùng lửa to màu cam, sau đó đổi sang màu trắng xanh, và bay lên rất nhanh. Bạn quan sát kỹ chưa?
                          Anh bạn nầy có vẻ bất bình trả lời:
                          - PL51, tôi báo cho bạn biết, mà bạn không tin, nếu bị bắn, bạn ráng chịu nha!
                          Tự nhiên tôi nhớ đến Trung-tá Phạm Văn Thặng Fulro khi ông "xỉn", ông thường ngâm nga... nên tôi nghêu ngao trên tần số:
                          - Làm sao… giết được… người trong mộng …1 …2 …3…touch down! (bánh đáp chạm phi đạo)
                          Di chuyển về bãi đậu lúc 6 giờ 55 phút, các anh em phi đạo reo mừng, công kênh tôi như đón một một vị cứu tinh! Rồi chúng tôi cùng nhau theo dõi chiếc TL07 đang nghiêng cánh trái ở cao độ chừng vài ngàn bộ, và xạ kích xuống mục tiêu. Từng tràng đại bác 20 ly (Minigun 6 nòng) nã xuống như mưa, tiếng kêu như bò rống. Tôi trấn an các anh em:
                          - Target đó ở ngoài vòng rào và chỉ là tình nghi thôi! Ông Trung-uý Thành muốn biểu diễn cho mọi người coi chơi cho vui vậy mà!
                          Tôi vừa dứt lời, thì đột nhiên chiếc TL07 trúng hoả tiễn tầm nhiệt SA-7, đuôi phải gãy lìa. Có một vật màu đen đen rớt xuống(*), động cơ bên phải phát hoả và nổ tung, cánh phải gãy xuống, đồng thời phòng lái bốc cháy. Phi cơ ngoặc đầu qua trái, lao xuống và rơi vào spin (xoay tròn như bông vụ). Tất cả mọi người xung quanh tôi hoảng hốt hét lớn:
                          - Nhảy dù đi…
                          - Nhảy dù…
                          - Nhảy dù nhanh lên.
                          Nhưng quá trễ, tôi không thấy cánh dù nào kịp bung ra, chiếc phi cơ đã cắm phụp đầu xoáy xuống đất rất nhanh. Những cột khói đen lửa đỏ cuồn cuộn bốc phụt lên cao hàng trăm mét. Toàn bộ phi hành đoàn đều hy sinh. Tất cả anh em chúng tôi bàng hoàng sửng sốt, đứng chết lặng mà nước mắt tuôn trào. Một lúc sau, mọi người lặng lẽ trở về làm nhiệm vụ của mình. Từ giờ phút nầy phi trường TSN thật sự không còn an toàn nữa, vì sự xuất hiện của SA-7 khắc tinh của tất cả các loại máy bay. Riêng tôi, ngồi bệt xuống bãi cỏ bên lề phi đạo, mắt vẫn hướng về những cột khói đen bốc lên cao, như anh linh của Phi Hành Đoàn TL07 đang siêu thoát. Tôi hy vọng Thiếu-Tá Trương Phùng bay đi Cần Thơ, tuy nhiên tôi vẫn có ý trông đợi anh Phùng trở về. Tôi chờ mãi tới khi anh tài xế xe bồn tiếp xăng giục tôi lên xe, để trở vô biệt đội khu trục. Trong lòng tôi thầm nghĩ:
                          - Đúng rồi, anh Phùng nên bay đi Cần Thơ là hợp lý nhất!

                          Sau 9:30’ giờ sáng ngày 29/4/75 bọn chúng bắt đầu nã đì đùng bằng đại pháo 130 ly, đặt ở Nhơn Trạch gần Thành Tuy Hạ - Cát Lái. Nhưng lúc bấy giờ không ai thèm màng tới việc diệt pháo đang nhỏ giọt vào Tân Sơn Nhứt nữa. Trong phi trường thỉnh thoảng đạn 130 rơi rớt đâu đó, may mắn sao không trúng tôi. Ha ha ha... Cả căn cứ Tân Sơn Nhứt không một bóng người, bầu trời vô cùng u ám, một phần vì thời tiết chuyển mưa, một phần vì những làn khói đen lan toả la đà từ chiếc TL-07 đang bốc cháy. Tôi có cảm tưởng như mình lạc vào trong bãi tha ma lúc hoàng hôn. Sau khi Quân Cảnh không cho tôi ra cổng (Phi Long) và không được nói một lời gì với vợ con (họ theo gia đình Vân về nhà).
                          Tôi trở vào Trung Tâm Hành Quân Không Quân chờ lịnh. Nữa giờ sau, tôi định đi ra ngoài bằng cổng trại Hoàng Hoa Thám; nhưng khi đến cuối sân banh, tôi gặp Thiếu-tá: Bạch Diển Sơn, Lê Bình Liêu và Đ/U Lê Xuân Châu PĐ 530, họ đang chạy ngược chiều và kêu tôi:
                          - Ê Phúc! được lệnh đi Cần Thơ. Nhanh lên!.
                          Tôi chạy theo họ ra bãi đậu, chiếc AD-5 của Thiếu-tá Hồ Văn Hiển PĐ 514 đang chờ. Tôi là hành khách bất ngờ bất đắt dĩ và cuối cùng thứ 20 hơn. Chúng tôi rời Tân Sơn Nhứt lúc 11 giờ trưa. Lúc bấy giờ trong Tân Sơn Nhứt có lẽ không còn phi cơ nữa (sau khi yểm trợ quân bạn ở Bến Cát xong, trên đường về Cần Thơ Thiếu-tá Hiển đáp xuống, để rước chúng tôi). Khi đến Cần Thơ, tôi vội vã đi tìm anh Trương Phùng khắp nơi, nhưng tìm hoài không thấy anh Phùng đâu cả!

                          * * *
                          Ghi chú thêm: trước 30/4/1975 và sau... 2010:

                          *.- Thiếu-tá Không-quân Hồ Ngọc Ấn Phi Đoàn Phượng Hoàng 514 (hiện ở Dallas).
                          *- Thiếu-tá Hồ Văn Hiển và Đại-uý Nguyễn Tiến Thuỵ hiện giờ ở Houston.
                          *- Thiếu-tá Bạch Diển Sơn hiện ở Panama City- Florida.
                          *- Thiếu-tá Lê Bình Liêu hiện ở Oklabama.
                          *- Đại-úy Không-quân Trần Văn Phúc (Phi-tuần Trưởng PT Khu-trục Phi-Long 51) hiện ở Cali.
                          * - Trung-uý Nguyễn Thành Bá hiện ở Dayton-Ohio

                          *1.- Trên không phận Sài Gòn lúc bấy giờ (29/04/75) chỉ có 3 chiếc phi cơ là: TL-07, phi cơ anh Phùng và phi cơ của anh Phúc. (TL 07 chỉ xuất hiện sau 6 giờ sáng. Phi tuần 2 chiếc A-1: của Thiếu-tá Ấn & Đại–úy Thụy trên đường về Sài Gòn).
                          *2.- Có lẽ vì sợ SA-7 nên ông Đại Sứ Martin phải nói dối trước Quốc Hội Mỹ là: “Hai phi đạo bị trúng pháo kích, hư hại nặng nề, và ông ra lịnh di tản người Mỹ bằng trực thăng”?
                          *3.- ... đột nhiên chiếc TL07 trúng hoả tiễn tầm nhiệt SA-7, đuôi phải gãy lìa. Có một vật màu đen đen rớt xuống(*)... Mãi đến năm 2010, khi vừa mới cải táng cho PHĐ TL07 xong, chúng tôi mới liên lạc được với Th/Sĩ I Nguyễn Văn Chín tự “Chín Dơi“, Gunner của TL07, là người duy nhất nhảy dù ra sống sót, anh chính là “vật” (hi hi hi) màu đen rơi xuống từ chiếc TL 07, mà anh em còn ở đó trong phi trường TSN đều thấy.
                          *4.- Vì Phi Hành Đoàn TL07 có rất nhiều người tình nguyện đi bay trong lúc khẩn cấp, nên hầu hết nhân viên trong PHĐ không ghi đúng tên trong phi lệnh. Tôi chỉ biết có: Trung-uý Trang Văn Thành (Trưởng phi cơ), xuất thân từ Thiếu Sinh Quân, nhập ngũ ngày 12/9/1967 khoá 68A TTHLKQ Nha Trang. Anh Thành là cháu rể của Cố Thiếu-Tướng Võ Xuân Lành, TLP KQ. Anh Thành có 2 biệt danh: ở quân trường Nha Trang anh có tên “Thành Thụt”, vì đôi mắt sâu thẩm, tánh tình anh rất cương trực, hăng say, năng nổ trong mọi công việc. Khi về PĐ C119 anh Thành có thêm một biệt danh là: “Thành Kampuchia” (vì màu da ngâm ngâm của anh). Đêm 28/4/75 anh Trung uý Trang Văn Thành tình nguyện bay thêm phi vụ Extra TL 07, mặc dù trước đó anh đã bay phi vụ TL01 hồi đầu hôm rồi.
                          - Trung uý Tào Thuận, hoa tiêu phụ.
                          - Thiếu uý Phạm Tấn Đức.
                          Họ vĩnh viễn ra đi... nhưng để lại sự thương tiếc kính phục vô cùng của hàng vạn người trong và ngoài Tân Sơn Nhứt.

                          *5- Sau 3 năm 3 tháng phục vụ trong PĐ Thái Dương 530 – Pleiku trấn thủ Cao Nguyên, tháng 4 năm 1974 tôi trở lại Biên Hoà và được đưa về PĐ Phượng Hoàng 518, KĐ 23 Chiến Thuật, SĐ3KQ. Sau đó tôi thường đi biệt phái ở Biệt Đội Khu Trục tại Tân Sơn Nhứt cho đến tháng 9 năm 1974, tất cả phi cơ A1 bị “đình động”(vì uống Xăng?). Vì vậy thời gian quen biết, chuyện trò cùng Th/tá Trương Phùng không nhiều. Tôi chỉ nhớ:
                          Th/tá Trương Phùng sanh năm 1943 tại Thừa Thiên, anh gia nhập Không Quân vào đầu năm 1964, khóa 64B SVSQKQ Nha Trang, tốt nghiệp khóa L- 5 Quan Sát. Sau đó anh được tuyển chọn xuyên huấn T28 và A-1 Skyraider tại Hoa Kỳ. Trở về nước, anh phục vụ tại Phi Đoàn 110 Quan Sát, sau cùng là Phi Đoàn 518 Phi Long - Khu Trục A-1, KĐ 23CT, SĐ3 KQ Biên Hòa.
                          Anh là mẫu người hùng KQ từng tham dự hầu hết các chiến trường khắp 4 vùng chiến thuật, là người hùng diệt 15 xe tăng Cộng quân trong 2 tuần lể vào đầu tháng 4 năm 72 ở Quảng Trị, là một người đầy nhiệt quyết, không bao giờ từ chối bất cứ một phi vụ nào dù nguy hiểm. Anh là một phi tuần trưởng, vị Sĩ Quan gương mẫu, lấy phương châm: Tổ Quốc, Danh Dự và Trách Nhiệm.

                          Tuy nhiên tôi được hân hạnh cùng bay chung với anh 2 lần:
                          - Lần đầu tiên: Phi Vụ Trời Giúp ?
                          Vào tháng 8/1974, khi CSBV vi phạm Hiệp Định Ba Lê, chúng pháo kích vào phi trường Biên Hòa, để trả đũa hành động nầy, Đại Tá Hoàng Thanh Nhã, KĐT KĐ23CT, SĐ 3 KQ chỉ thị 2 phi tuần, mổi phi tuần 2 chiếc Khu Trục A-1 Skyraider, mổi chiếc mang 6 trái bom CBU-25, thi hành một nhiệm vụ đặc biệt là oanh tạc Tổng Hành Dinh của MTGPMN ở đồn điền cao su, gần Lộc Ninh. Phi tuần số 1 do Th/tá Phùng và Tr/u Đinh văn Đức. Phi tuần thứ 2 do tôi ( Đại úy Trần Văn Phúc) và Tr/u Nguyễn Tứ Đức.
                          Bom CBU - 25 là loại bom dùng để chống chiến thuật biển người, phá giao thông hào, mổi trái cân nặng 500 cân Anh (lbs), gồm 7 ống thẳng, dài độ 4 mét, buộc lại thành một khối tam giác, mổi ống chứa 25 quả bom nhỏ như trái lựu đạn, có loại nổ trên mặt đất, có loại nổ chậm.
                          Muốn đạt hiệu quả tối đa, nên thả bom nầy theo cách Skip bom, nghĩa là bay thật thấp, thì các trái bom nhỏ nầy được phóng xuống đất. Nếu thả bom từ trên cao thì không thể nào chính xác, càng cao các quả bom nhỏ nầy càng rải rộng ra, nếu thêm sức gió có thể thổi bay đi xa cách mục tiêu hàng ngàn mét. Để bảo vệ vùng trời Lộc Ninh, nơi bọn CSBV trá hình MTGPMN đặt Bộ Tổng Hành Dinh, ngoài hoả tiển tầm nhiệt SA-7 bọn CSBV còn bố trí rất nhiều khẩu đại bác phòng không 37 ly hay 57 ly điều khiển bằng radar, nếu bay dưới 11 ngàn bộ, chúng tôi sẻ trở thành những “target sống” để bọn Cộng Phỉ tha hồ thực tập tác xạ. Vì vậy sau khi thảo luận và đồng ý chọn lối đánh mạo hiểm nhất nhưng an toàn nhất, chúng tôi xin Đ/Tá Nhã:
                          -” Đ/Tá ra lịnh chúng tôi đi dội bom ở đó thì xin Đ/Tá cho phép chúng tôi được chọn cao độ bay. Nếu như bay cao 12 hay 13 ngàn bộ để tránh phòng không thì thả bom không thể nào chính xác được, coi như không. Vì vậy chúng tôi xin chọn lối đánh Truy Kích”.
                          Ông đồng ý và nhấn mạnh thêm về tầm nguy hiểm:
                          -”Nếu có ai gặp phải bất trắc, các bạn chịu khó trốn tránh qua đêm cho đến sáng mai mới có phi vụ rescue, còn các bạn khác lập tức bay về đáp, không được ở lại cover”.
                          Vì tầm quan trọng của phi vụ nấy, là cảnh cáo cho bọn Cộng Phỉ biết:
                          ”Không có bất cứ nơi nào trên lảnh thổ VNCH là bất khả xâm phạm đối với Không Lực Việt Nam Cộng Hoà. Quân Đội VNCH sẳn sàng trả đủa những vi phạm Hiệp Định Ba lê của chúng”.
                          Nên sau cơm trưa sớm hơn thường lệ (11 giờ), chúng tôi bắt đầu nghiên cứu những tấm không ảnh (chụp những cơ sở nguỵ trang dưới hàng cây cao su) và thảo kế hoạch, tính toán giờ giấc, hướng bay một cách rất cẩn thận từng chặn đường. Để giảm thiểu sự nguy hiểm cho phi tuần thứ nhì (bay sau) của tôi, Th/tá Phùng đề nghị nhập 2 phi tuần lại thành 1 hợp đoàn 4 chiếc; dùng chiến thuật truy kích với yếu tố bất ngờ, chớp nhoáng, bay lướt trên ngọn cây, khi bọn chúng thấy thì chúng tôi đã bay mất rồi, không kịp bắn chúng tôi. Với lối bay nầy đòi hỏi người Leader phải có một khả năng, kinh nghiệm, bình tĩnh, sáng suốt, cũng như gan dạ, vì thỉnh thoảng một mình anh Phùng (Leader) phải “trồi lên lặn xuống” năm, ba trăm bộ, để nhận dạng những "check point" (điểm chuẩn) để tránh bay lạc. Anh Phùng phân chia nhiệm vụ cho từng người và lập lại nhiều lần, là mổi chiếc phi cơ chỉ thả 1 lần và chiếc kế nối tiếp với nhau.
                          Theo phi lịnh, chúng tôi cất cánh đúng 2 giờ trưa nhưng bắt đầu 1 giờ bổng dưng trời mưa như trút nước (có thể ông trời giúp chúng tôi ?) tưởng chừng như phi vụ bị huỷ bỏ, cho đến sau 5 giờ chiều cơn mưa tạnh hẳn. Chúng tôi được lịnh cất cánh khẩn cấp, anh Phùng nhắc lại:
                          -“Phi vụ của chúng ta rất quan trọng và rất nguy hiểm nhưng tôi (anh Phùng) tin tưởng vào chiến thuật mà mình đã thảo ra, như các bạn đã biết tụi mình không bay thẳng tới đó mà mình bay vòng về hướng Bắc. Các bạn bớt căng thẳng đi! Có thể ông trời đã giúp mình hôm nay, nên đổ mưa mấy tiếng đồng hồ, vì vậy khi mình tới target mặt trời cũng sắp lặn, bảo đảm tụi nó không ngờ mình tới đâu!. Chắc chắn mình phải bay đêm, các bạn cẩn thận coi lại tất cả các đèn phi cụ”.
                          Như trong phi trình đã hoạch định chúng tôi “joint up” ở 2.000 bộ với hợp đoàn chiến đấu (Tactical Formation), tất cả phi cơ bay bên cánh phải của anh Phùng và lấy Lai Khê làm điểm xuất phát, bay thật thấp về hướng Bắc, bên phải Quốc Lộ 13, qua khỏi Tống Lê Chân 5 dặm, đổi sang hướng Tây. Như dự đoán, chúng tôi bắt đầu lướt trên nhiều ổ phòng không, nhìn xuống chúng tôi thấy từng cụm năm ba tên Cộng Phỉ cố quay vòng những họng súng để bắn vói theo phi cơ chúng tôi. Tôi gặp ít nhất 5 khẩu phòng không trên đoạn đường dài chừng 20 dặm nầy.
                          Khi thấy Lộc Ninh bên phải và nhận định mục tiêu, anh Phùng ra lịnh:
                          -“Tất cả Phi Long coi lại Mills (độ của máy ngắm) lên cao độ 1.500 bộ, target 1 dặm, hướng 10 giờ “
                          (quẹo trái về hướng Nam để thả bom vào bên hông địch).
                          Lần lượt:” số 1 Rolling Hot”, rồi số 2, số 3 và số 4 Rolling Hot trong ánh sáng vàng nhạt cuối cùng trong ngày.
                          Chúng tôi đã vượt qua rất nhiều hàng rào phòng không dày đặc, trên đường đi ngay cả đường về, rất nhiều lần chúng tôi lướt trên những ổ cao xạ, nhìn thấy bọn chúng quay vòng những họng súng để bắn vói theo (quá trể rồi! lúc đó chúng tôi đã khuất dạng). Khi chúng tôi bay về gần tới Tây Ninh thì trời đã tối hẳn.
                          Nhờ vào sự can đảm phi thường, nhờ sự thông thạo địa hình và đầy kinh nghiệm của Th/tá Phùng, chúng tôi đã hoàn thành sứ mạng và an toàn về đáp lúc 8 giờ tối. Cám ơn ông trời đã ban cho chúng tôi 1 cơn mưa và giúp chúng tôi hoàn thành phi vụ một cách tốt đẹp.
                          Khi đáp xong, tôi ghi nhận thêm: Th/tá Phùng thà ngậm đèn bấm soi sáng những phi cụ để bay, nhưng nhứt định không chịu hủy bỏ phi vụ dù rằng trong phiên họp buổi trưa Đ/Tá Nhã đã lưu ý 2 lần:
                          - " Nếu có gì bất trắc các bạn rán chịu đựng qua đêm, sáng mai mới có trực thăng rescue".
                          Anh Phùng cười rằng;
                          -Mấy chuyện lẻ tẻ làm sao làm khó dể tao được. Ngày mai tụi mình đi gặp Đ/Tá Nhã, xin ông cho tụi mình bay lên đó diệt phòng không, ít nhất mình cũng “lượm” hàng tá cao xạ 37 hay 57 ly. Đứa nào bay với tao thì theo tao tới câu lạc bộ Trần Thế Vinh ???”

                          *6.- Để nhớ ơn người anh hùng vị quốc vong thân: cố Thiếu-Tá Không-quân Trương Phùng, có nhiều thân hữu quân dân góp sức truy tìm tung tích anh Phùng. Sau gần bao năm lặn lội tìm kiếm... Trong cơ duyên nhờ anh linh của cố Thiếu-tá Trương Phùng dẫn dắt, ngày 2 tháng 12 năm 2008, cựu KQ Nguyễn Toại Chí đã mang hài cốt Thiếu-Tá Không-quân Trương Phùng (vùi sâu dưới 5 thước đất, gần cầu Bình Điền, Long An; trở về với gia đình). Hài cốt của cố Thiếu-tá Trương Phùng được hoả táng và đem về thờ phượng tại chùa Bữu Quang. Theo nhân chứng là cụ H. (cụ còn ở Việt Nam, 90 tuổi, xin tạm dấu tên) kể rõ rằng: “Động cơ của chiếc máy bay bị ra khói, buộc lòng anh Phùng phải đáp khẩn cấp xuống ruộng, gần cầu Bình Điền. Anh Phùng bị bắt khoảng 7 giờ sáng ngày 29/4/75. Ngay tối hôm đó bọn Cộng Phỉ khát máu đã hành quyết anh Phùng cạnh giao thông hào”.

                          *7.- Cũng sau nhiều năm tháng vất vã ngược xuôi tìm kiếm, ngày 21-7- 2010 có một nhóm thân hữu Dân Quân Chánh, gia đình Thiếu-uý Phạm Tấn Đức, cùng cựu Không-quân Nguyễn Toại Chí đã tìm được nhiều hài cốt của PHĐ 07 trong vòng đai của căn cứ Tân Sơn Nhứt. Họ đã mang hài cốt qúy vị ấy về an vị tại nghĩa trang An Khánh - Thủ Thiêm. (KQ NTC phụ trang).

                          *8.- Cư xá Nữ Quân Nhân ở kế bên chưa đầy mươi mét, đã biến thành tro. Tôi (Phúc) vội vã lái xe Honda phóng nhanh trở về cư xá C-7 thăm vợ con. Vào phòng cư xá C-7 thì không thấy ai, hoảng hốt tôi đi vòng theo sidewalk để tới hầm trú pháo. Vô cùng may mắn khi tôi thấy một trái 122 ly không nổ đã cắm sâu xuống nền ciment, cách phòng của vợ con tôi chừng ba thước, (nơi đó vợ con tôi & gia đình Trung-uý Phạm Trung Vân PĐ C7- 431; là em rễ vợ tôi). Trước kia tôi thấy cái hầm nầy đã bỏ hoang lâu năm, bên trên chỉ có vài lớp bao cát mục nát, tôi nghĩ chúng tôi không nên ở lâu, vả lại tôi lại không quen “đường sá” trong khu Tân Sơn Nhứt. Vì vậy bất đắt dĩ tôi phải dời gia đình qua dinh Tướng Kỳ lánh tạm, dù sao ở đó cũng kiên cố hơn... Tôi chứng kiến chiếc trực thăng đáp xuống (khoảng sau 9 giờ sáng) Trưởng Phi Cơ là Thiếu-tá Quí, anh em Trung-tá Nguyễn Quốc Hưng & Trung-tá Nguyễn Quốc Thành, mỗi người cầm một cây M16. Tướng Kỳ vào nhà, ông cứ đi ra đi vô phòng làm việc nhiều lần. Khi ông bước ngang chỗ tôi đứng, tôi mạo muội hỏi:
                          -Thưa Thiếu Tướng, Thiếu-Tướng định làm gì bây giờ?
                          Ý của tôi hỏi Tướng Kỳ là tôi muốn biết có di tản về Cần Thơ, (như lời ông kêu gọi tại đây đêm 25/4/75) là: “cần đánh một trận oai hùng cuối cùng”? Chẳng biết ông có nhận ra tôi hay không, ông lắc đầu than:
                          - Anh em đã bỏ đi hết rồi, lấy ai mà đánh hở?!
                          Tôi đồng ý với Tướng Kỳ về việc nầy, vì sau khi tôi đáp xuống Tân Sơn Nhứt chừng 20 phút, tôi nghe rất nhiều tiếng phi cơ đủ loại ào ào cất cánh bay lên... Khoảng 9 giờ 30 phút Tướng Kỳ từ phòng làm việc bước ra, khi đi ngang tôi, Tướng Kỳ nói:
                          - Mỹ đã từ chối cho tôi (Tướng Kỳ) một chiếc C-141. Nhờ cậu thông báo các thân hữu của tôi tự tìm đường thoát thân sang DAO, hay xuống bến Bạch Đằng. Bây giờ tôi đi rước Tướng Trưởng bên Tổng Tham Mưu.
                          Ngay sau khi Tướng Kỳ lên máy bay, tôi liền đi chuyển lời của ông cho một số người ở trong nhà nầy, lúc bấy giờ tôi mới biết: có hàng trăm người khác đang “tá túc” trên lầu, trong số đó có cựu Dân Biểu Nguyễn Văn Cử. Điều may mắn là mọi người đã thoát khỏi nguy hiểm, dù có rất nhiều trái pháo rơi xung quanh dinh, không quả nào lọt vô dinh Tướng Kỳ.

                          - Vị trí đặt pháo 122 ly của Cộng Quân.
                          Theo Quốc Lộ 4 về Miền Tây, trước khi đến đài Radar Phú Lâm gặp ngả ba quẹo phải là đường mang tên : Đường Tên Lửa, đi khoảng hơn 500 mét là Khu Tên Lửa. Đây là vị trí đặt các giàn pháo của Công Quân Khi xưa.
                          ***

                          Tình Hoài Hương
                          Last edited by Tinh Hoai Huong; 07-21-2014, 11:52 PM.
                          Bút trần nào tả được lưu luyến!
                          Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                          Tình Hoài Hương

                          Comment

                          • Tinh Hoai Huong
                            Senior Member
                            • May 2009
                            • 1081

                            #133
                            Đức TRẦN HƯNG ĐẠO Vương (& Những Chiến Trận Lẫy Lừng)



                            Đức TRẦN HƯNG ĐẠO Vương
                            (& Những Chiến Trận Lẫy Lừng)



                            Từ khi Việt Nam rơi vào ngày 30 tháng Tư 1975 mất nước, thì hầu như tất cả trường, lớp, chẳng có giờ học về môn: Công Dân Giáo Dục & Sử Ký & lịch sử Việt Nam nữa. Hôm nay, trước tiên tôi xin mạn phép kể hầu cùng quý vị độc giả… (và sau rốt là do đã hứa cùng các con, cháu, tôi sẽ ghi lại những chiến tích oai hùng, những kỳ công anh dũng, và quật cường của tổ tiên ông cha chúng ta, họ đã dày công xây dựng và giữ gìn non sông gấm vóc Việt Nam hưng thịnh trường tồn đến bây giờ).
                            Tiếp theo chuyện hai bà Trưng Trắc Trưng Nhị ; chuyện bà Triệu Thị Chinh đã ghi. Nay tôi xin kể hầu tiếp quý vị về: Đức HƯNG ĐẠO Vương TRẦN QUỐC TUẤN:
                            Tình Hoài Hương

                            ***


                            Thời xa xưa ấy, giặc Nguyên Mông (Tàu) luôn luôn tìm mọi cách sang quấy nhiễu, phá phách, xâm chiếm nước An Nam. Mặc dù ông cha chúng ta chẳng hề làm gì sai trái, mà chỉ muốn giữ trung dung, nhân hậu, an phận thủ thường, hiếu hòa, nhún nhường với nước Tàu bành trướng đại lân bang, và tuân phục đi cống hiến lễ vật hậu hĩ. Nhưng nhà Nguyên cậy lớn ăn hiếp bé, o ép mọi bề, độc đoán rất hà khắc. Sau nhiều triều đại, họ chuyên bức bách dân tình ta khổ sở cay đắng trăm điều. Tiếp sau đó Tướng Mông Cổ là Ngột Lương Hợp Thai (Wouleangotai) sai sứ giả nhà Nguyên qua An Nam (nước Việt) nói với vua Trần Thái Tông:
                            - Nước An Nam ngươi phải thuần phục Nguyên Mông, phải cống hiến mọi thứ cho nước ta.

                            Vua Thái Tông là người anh dũng đã cương quyết không chịu phục tùng, và vua cho bắt nhốt sứ giả Nguyên. Vua Thái Tông sai Trần Quốc Tuấn đem quân đi giữ ở mạn Bắc. Về hướng Nghệ An thì Thượng-tướng Trần Quang Khải đem quân trấn giữ chỗ trọng yếu, cố ý không cho quân Toa Đô ra lối nầy. Ngột Lương Hợp Thai (Tàu chệt) liền kéo hai toán quân: - một đoàn từ Vân Nam xuống ranh địa An Nam (Việt Nam). - Một đoàn Tàu-chệt khác men theo sông Thao (Hưng Hóa), chúng lấy đại bác bắn phá các trại nam ngạn sông Hồng Hà.

                            Thoát Hoan thừa thắng xông lên đánh đâu được đó, họ đóng đô tại Bắc Ninh, Thiên Trường. Quân Mông làm cầu phao bắc qua sông vô thành Thăng Long. Quân Nguyên Mông thấy ba sứ giả vẫn bị trói giam trong ngục, có một người chết, thì Ngột Lương Hợp Thai tức giận, y cho quân đi cướp phá giết hại nam phụ lão ấu các vùng: Võ Ninh, Gia Lâm, Đông Ngạn… & nơi nơi. …

                            Khi quân Mông tràn vô bờ cõi An Nam, tại thành Thăng Long, vua Thái Tông cùng quân sĩ ra nghinh chiến giặc Nguyên hoài mãi không được, mà binh khí lính tráng ngày càng tổn thất hao mòn dần. Vua & quân đành lui binh chạy về đóng ở phía đông huyện Thượng Phúc, sông Nhị Hà. Ông Trần Quốc Tuấn: vì ít quân, đánh bọn ngoại xâm đông đúc và man rợ chịu không nỗi, nên ông phải lùi về đóng quân ở Sơn Tây.

                            Trần Quốc Tuấn phù giá vua Thái Tông ngày đêm lặn lội núi đèo sông nước đi lánh nạn… Một thời gian sau, khi vua Trần Thái Tông vừa mất, nhà Nguyên lại cho sứ giả qua An Nam quấy rầy, Sài Thung đi từ Hồ Bắc, qua Quảng Tây, chẳng cần trình báo có phép tắc gì, y lên mặt vênh váo hiu hiu, tự kiêu tự đắc cỡi ngựa xông thẳng tới cửa Dương Minh (nước Nam). Sài Thung đưa thư trách mắng vua Nhân Tông, ý rằng:

                            - Không xin phép triều đình Nguyên, mà dám tự lập. Nay phải sang chầu thiên triều hoàng đế Nguyên ngay. Nếu vua ngươi không sang chầu, thì phải đưa vàng bạc, ngọc ngà, và nộp mỗi hạng hai người: hiền sĩ, thợ giỏi, thầy âm dương bói toán...

                            Vua Nhân Tông đành phải đưa Lê Mục, Lê Tuân và chú họ là Trần Di Ái đi sứ. Nhưng ý đồ của nhà Nguyên chỉ muốn xâm lăng chiếm đoạt nước Nam, và độc tài cai trị dân Việt, chúng đặt để người Tàu tới giám thị ở các châu huyện ở nước An Nam. Vua Nhân Tông không nhận, đuổi về. Nhà Nguyên tức giận, cho Sài Thung dẫn 1.000 quân đi An Nam, bắt phong Trần Di Ái làm An Nam quốc vương. Lê Tuân làm Thượng-thư, Lê Mục làm Hàn-lâm. Nhưng khi bên nhà Nguyên biết tin cấp báo về cho hay:

                            - Trần Như Ái trở về quê Việt bị bắt, và đày đi làm lính thú. Nhất là khi thấy Sài Thung chạy trở về Tàu: bị quân An Nam bắn trúng tên, hắn thương tích đầy mình và đã mù chột một mắt, thì nhà Nguyên tức giận vô cùng, quyết tìm cách đi xuống phương Nam để phục thù.

                            Năm 1284, vua Nhân Tông ngự thuyền trên sông Đuống, nơi giao nối với sông Thái Bình, ngài hội họp võ tướng, vương hầu: để bàn mưu tính kế chống ngoại bang. Trong phiên họp, có người lo âu bàn ra, kẻ xôn xao bàn vào, hoặc có người thấp thỏm bàn... lui bàn tới; nên tiếp tục đem lễ vật hậu hĩ sang Tàu cống hiến, mà làm kế hoãn binh, cho yên thân.

                            Riêng các ông: Trần Khánh Dư & Trần Quốc Tuấn nhứt quyết xin vua cho đem quân đi tiêu diệt bè lũ xâm lăng. Vua đã ưng thuận và phong cho ông Trần Quốc Tuấn là Trần Hưng Đạo vương tiết chế thống lĩnh toàn quân, đi diệt trừ quân Nguyên xâm lược. Ngày kia tại bến Đông Bộ Đầu, đức Trần Hưng Đạo vương đứng trước bá quan văn võ, và 20 vạn thủy quân & bộ quân mà truyền:
                            - Bản nhân phụng mệnh vua đi phá giặc Nguyên. Tướng sĩ và vương hầu cần phải giữ phép tắc: Việc quân có luật. Phép nước giữ nghiêm minh. Không được nhiễu hại dân. Phải đồng lòng quyết chí đánh giặc. Không thấy thua mà nao núng ngã lòng. Chớ thấy thắng mà tự đắc tự kiêu.

                            Thế rồi, Trần Hưng Đạo vương truyền cho các tướng đi trấn giữ ở những điểm quan trọng chủ yếu trong nước:
                            - 1./ Tướng Trần Khánh Dư: đem quân đi tới Vân Đồn, Quảng Yên.
                            - 2./ Tướng Trần Bình Trọng: đem quân đi đóng ở Bình Than.
                            - 3./ Phần đức Trần Hưng Đạo vương thì dẫn đại quân đi tới làng Kiếp Bạc, Vạn Kiếp (thuộc Hải Dương) ; đây là nơi rất quan trọng, có thể tiếp ứng cho mọi cánh quân đã đóng giữ trên lãnh thổ An Nam.

                            Trong khi đó, vua Nhân Tông biết tin cấp báo:
                            - Quân Nguyên ở Hồ Quảng đã rầm rộ kéo quân qua Lạng Sơn.
                            Vua lo ngại bên ta ít quân, yếu thế, binh khí thô sơ, thì không thể chiến đấu, vua liền sai sứ mang lễ vật qua Tàu xin hoãn binh, ngỏ hầu có cơ may thương nghị, hòa hảo. Nhưng nhà Nguyên hống hách la mắng, nhiếc móc đủ điều - không chịu. Vua (Nguyên) vẫn sai Thoát Hoan tiến binh chia ra làm hai đạo quân: - Một đại quân do Thoát Hoan đi đến ải quan Lạng Sơn (thuộc An Nam). Rồi sai sứ mang thư đến vua An Nam, nói láo lấy cớ:
                            - Mượn đường để đi đánh Chiêm Thành.

                            - Còn đạo quân thứ hai do tướng Toa Đô (Mông Cổ) dẫn 10 vạn quân từ Quảng Châu theo đường biển dọc hướng Chiêm Thành, (đoàn quân nầy trước kia do Toa Đô đi đường biển đánh Chiêm, nhưng đánh Chiêm không được. Nhà Nguyên bèn sai Toa Đô quay qua đường bộ xuống An Nam), Toa Đô hợp với Thoát Hoan, cùng Ô Mã Nhi, đi đường biển tới tiếp ứng dẫn 50 vạn quân đi phương Nam, giả vờ kiếm cớ mượn đường đi, để đem quân qua đánh Chiêm Thành.

                            Thoát Hoan đuổi theo quân An Nam đánh tiếp, lần nầy Trần Hưng Đạo thua, phải chạy về Bái Tân. Quan tướng Yết Kiêu, Dã Tượng, Trần Hưng Đạo cùng nhau thu nhặt tàn quân các nơi, họ xuống thuyền chạy về Vạn Kiếp. Thoát Hoan tiến đánh Kỳ Cấp, Lộc Châu, Khả Ly mấy phen, chưa phân thua thắng. Thế rồi ngày tháng dần dần trôi qua… phen nầy Lộc Châu, Khả Ly bị thất thủ, quân An Nam phải rút về ải Chi Lăng.

                            {Về việc ông Trần Bình Trọng giữ đất nước ở Thiên Trường, quân Nguyên đem quân ra đánh ở khúc sông Đà Mạc rất hăng. Nhưng chẳng may ông Trần Bình Trọng bị bắt sống. Thoát Hoan biết Trần Bình Trọng là tướng tài có chí khí, y muốn chiêu dụ ông, cốt ý điều tra mà hỏi mọi việc nước Nam, nên cho chúng nghinh tiếp thiết đãi yến tiệc cho Trần Bình Trọng linh đình v.v… Làm cách gì… thì Trần Bình Trọng cũng chẳng thèm ăn uống, không tham dự, không trả lời. Thoát Hoan hỏi:
                            - Có muốn làm vương đất Bắc không?
                            Lúc đó Trần Bình Trọng ngẩng cao đầu, quắc mắt hét to:
                            - Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc. Nay ta đã bị bắt, thì ta quyết chết, không can gì đến bọn bây mà hỏi lôi thôi.

                            Thoát Hoan biết không thể chiêu dụ Trần Bình Trọng, nên lập tức đem ông Trần Bình Trọng đi chém đầu. Từ vua quan binh tướng nước An Nam ai nấy nghe tin Trần Bình Trọng tuẫn tiết, họ đều rụng rời, bàng hoàng đau xót, và vô cùng tiếc thương}.
                            ***

                            Trong khi đó ở triều, vua Nhân Tông tiếp được thư của Thoát Hoan, lập tức cho họp bô lão trong nước, để bàn luận về việc:
                            - Trước việc nước lâm nguy, nên hòa hay nên chiến?
                            Tất cả mọi người đều đồng thanh hô to: QUYẾT CHIẾN.
                            Lúc bấy giờ thiếu niên Trần Quốc Tuấn vì còn ít tuổi, nên không được vô bàn hội nghị để tham dự cùng vua và các vị bô lão. Ông Trần Quốc Tuấn trong lòng đầy phẫn nộ tức giận bọn giặc Nguyên, trong tay ông cầm trái cam mà uất ức đã bóp nát nó lúc nào, không hề biết. Ông vô cùng căm phẫn và buồn bã quay về doanh trại.

                            Vua Nhân Tông đăm chiêu suy nghĩ khi thấy quân binh của mình đã thua, liền ngự thuyền tới Hải Dương gọi Trần Quốc Tuấn đến luận bàn rằng:
                            - Thế giặc rất đông, quá mạnh, mình chống không nỗi, thì e dân ta sẽ bị sát hại, điêu đứng khổ sở rất nhiều. Nay Trẫm muốn hàng, cốt để cứu muôn dân.
                            Trần Quốc Tuấn tâu:
                            - Lời nói của bệ hạ thật là nhân đức. Nhưng xã tắc tôn miếu nếu đã mất rồi, thì sao? Nếu bệ hạ muốn hàng, trước hết xin hãy chặt đầu tôi. Sau đó sẽ hàng.

                            Vua nghe Trần Quốc Tuấn nói cương quyết, lẫm liệt, có trung nghĩa như thế, trong lòng vua cảm thấy bình yên, bớt lo lắng. Vua phong cho ông Trần Quốc Tuấn là Trần Hưng Đạo Vương.
                            Trần Hưng Đạo vương tập họp quân binh tại Vạn Kiếp hơn 20 vạn người. Ông đã làm tờ hịch (nguyên bản Hán-văn, dịch ra Quốc-ngữ rất dài - tác giả chỉ xin ghi lại đại ý chính) như sau:

                            - Ta nghe chuyện Kỷ Tín liều thân chịu chết cho vua Cáo Đế. Do Vu lấy thân dỡ ngọn giáo cho vua Chiêu Vương. Dự Nhượng nuốt than để báo thù cho cố chủ. Thân Khoái chặt tay để cứu nguy đất nước. (vân vân … & …). Các bậc trung thần nghĩa sĩ ngày xưa bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả sử mấy người ấy cứ bo bo theo lối thường tình chết già ở xó nhà, thì lưu danh sử sách nghìn đời như thế sao được? Nay các người thuộc dòng dõi vũ tướng không hiểu chuyện cổ tích: nửa tin nửa ngờ. Ta không nói làm gì - (vân vân… & …). Ta đây ngày quên ăn, đêm quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa.

                            Chỉ căm tức chưa được sả thịt, lột da của quân giặc, dẫu thân nầy phơi ngoài nội cỏ, xác nầy gói trong da ngựa, thì cũng đành lòng. Các ngươi cùng ta giữ binh quyền cũng đã lâu ngày, không có áo thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho ăn. Quan còn nhỏ thì ta thăng thưởng, lương còn ít thì ta tăng cấp. Đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa. Lúc hoạn nạn cùng nhau sống chết, lúc nhàn hạ cùng nhau vui cười. Những cách cư xử đó, so với Vương Công Kiên, Đường Ngột Ngại ngày xưa, nào chẳng kém gì!?

                            Nay các ngươi trông thấy chủ nhục, mà không biết lo, trông thấy quốc sỉ, mà không biết thẹn. Thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức. Tai nghe nhạc để hiến sứ, mà không biết căm. Các ngươi lấy việc chọi gà làm vui đùa, lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển, hoặc có thú vui về vườn ruộng, quyến luyến về vợ con, nghĩ về lợi riêng, mà quên việc nước. Ham săn bắn mà quên việc binh. Thích rượu ngon, mê tiếng hát, nếu có giặc đến, thì cựa gà trống đâm sao thủng được áo giáp? Mẹo cờ bạc không dùng nỗi được quân mưu. Dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, thân ấy nghìn vàng không chuộc lại vợ bìu con díu.

                            Nước nầy trăm sự nghĩ sao, tiền của đâu mà mua cho được đầu giặc? Chó săn ấy thì địch sao nỗi quân thù! Chén rượu ngon không làm cho giặc say chết. Tiếng hát hay không làm cho giặc điếc tai. Bấy giờ chẳng những là thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc của các ngươi cũng hết. Chẳng những là gia quyến của ta bị đuổi, vợ con các ngươi cũng nguy. Chẳng những là ta chịu nhục bây giờ, mà trăm năm về sau tiếng xấu nầy vẫn còn mãi mãi, mà gia đình các ngươi chẳng khỏi mang tiếng nhục. Đến lúc bấy giờ các ngươi dẫu muốn vui vẻ có được không? (vân vân… & …).
                            Nay ta soạn hết binh pháp của các nhà danh gia hợp lại, gọi là “Binh Thư Yếu Lược”. Nếu các ngươi biết luyện tập từ sách nầy theo lời dạy bảo, thì thật phải đạo thần tử. (vân vân… & …).
                            * * *

                            Các tướng sĩ nghe lời Trần Hưng Đạo vương khuyên răn, vô cùng cảm động, ngày đêm họ đã hết lòng quyết chí lo luyện tập, họ liền lấy mực xâm vô cánh tay hai chữ “SÁT DÁT”, quyết đồng lòng phục hận nước lâm nguy nhà tan biến. Do cũng từ vua Nhân Tông tới quan binh vương tướng đều chung một lòng đoàn kết, cương quyết diệt quân Nguyên xâm lăng, nên lần nầy đoàn quân Trần Hưng Đạo vương đã phá được trận chiến, ông khôi phục giang sơn, rước vua Nhân Tông trở về Thăng Long.

                            Thoát Hoan rút về Tàu, nhận bao cay đắng sỉ nhục, trong lòng rất uất hận, họ sửa soạn lại binh khí để nhanh chóng phục thù. Vua Nhân Tông được mật tin, liền cho triệu Trần Hưng Đạo vương đến hỏi:
                            - Thoát Hoan bị nhục thua trận trở về nước, chắc chắn sẽ đem nhiều quân xuống báo thù. Ta làm sao chống đỡ?

                            Vua Nhân Tông rất mừng rỡ khi nghe Hưng Đạo Vương tâu:
                            - Xưa kia nước ta thái bình, thì dân chúng an cư không tập tành chiến đấu, nên quân Nguyên dễ dàng vô cướp nước. Nay công dân nước ta đã trải qua bao phen điêu đứng khổ cực vì bọn tàn ác xâm lược dã man, chắc chắn họ đã thấu hiểu. Còn tướng quan binh lính của chúng ta đã trường kỳ nằm gai nếm mật chiến đấu, ắt đã kiên cường hơn, có dồi dào kinh nghiệm. Về bên quân Nguyên, từ khi thấy Lý Quán, Lý Hằng, Toa Đô tử trận, trong lòng họ bối rối lo âu. Nay nơi ngàn dặm xa xôi, quân Nguyên lại trèo đèo vượt biển mỏi mệt, phong thổ không quen, họ sẽ đau yếu, không ít nhiều vẫn họ lo lắng, sợ hãi, băn khoăn và nãn lòng. Theo ý tôi: nếu quân Nguyên sang An Nam lần nầy, ta đánh thì có thể dễ dàng hơn.

                            Tháng Hai năm 1287 – từ nguyên do nhà Nguyên lập mưu viện cớ đưa Trần Ích Tắc về nước Nam, để đưa lên phong ngôi làm An Nam quốc vương, nhà Nguyên sai các người: Thoát Hoan. Áo Lỗ Xích. Phàn Tiếp. A Bát Xích. Ô Mã Nhi… chọn 500 chiến thuyền, 6.000 quân, đi từ Vân Nam. 15.000 quân ở ngoài biển và chuyển tải 17.000 lương thực tới các châu thuộc hướng đi An Nam.

                            Tin trên về, các quan tướng An Nam xin tuyển thêm binh lính, thì Trần Hưng Đạo vương nói:
                            - Binh lính cốt giỏi, tinh nhuệ, không cần nhiều. Nếu nhiều mà không giỏi như Bồ Kiên, thì dù có trăm vạn quân, cũng chẳng ích gì!
                            Trần Hưng Đạo sai tiền quân đi đóng ở ba đồn: Từ.- Sa.- Trúc &
                            - Các tướng đem quân đi trấn giữ cửa sông Đại Than.
                            - Trần Nhật Duật, Nguyễn Khoái đem 30.000 đi giữ Lạng Sơn.
                            - Các quan tướng: Trần Quốc Toản, Lê Phụ Trần đem 30.000 quân vô giữ Nghệ An.

                            Vua Nhân Tông liền đưa thư (cho sứ giả Nguyên) trả lời với Thoát Hoan, ý rằng:
                            - Từ bản quốc của tôi đi qua Chiêm Thành, thì các đường: thủy, lục, bộ đều không thuận tiện.
                            Thoát Hoan nổi lô cồ giận dữ, sai A Lý qua An Nam, dụ:
                            - Bản súy ta chỉ nhờ đường Nam quốc nhà ngươi, để đi qua đánh Chiêm Thành, & nhờ nhà ngươi giúp ít lương thảo. Chứ ta không có bụng gì. Khi phá xong Chiêm Thành, Bản suý ta sẽ trọng tạ về sau. Nếu kháng cự, ta sẽ không dong tình, sẽ phá tan bờ cõi (An Nam). Có hối lại không kịp.

                            Trần Hưng Đạo vương đuổi A Lý về Tàu, liền chia tướng binh đi giữ ải Lộc Châu và Khả Ly. Phần ông dẫn đạo quân đi đóng ở núi Kỳ Cấp, chiến thuyền đóng ở thượng lưu sông Lục Nam (Bái Tân). Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn nghe tin quân Nguyên đến, ông liền chỉ xuống sông Hòa Giang, oai dũng mà thề:
                            - Nếu trận nầy không phá tan giặc Nguyên, thì ta quyết không về đến sông nầy nữa.

                            Hưng Đạo vương sai các tướng:
                            - Nguyễn Chế Nghĩa, Phạm Ngũ Lão dẫn đoàn quân đi nằm phục ở Lạng Sơn (ải Nội Bàng) chờ quân Nguyên sẽ chạy về lối ấy, mà đánh.
                            - Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn lại cho đoàn quân Nguyễn Khoái đi tắt lên mé thượng lưu, ngày đêm làm rất nhiều cọc gỗ vót nhọn, đầu nhọn bịt sắt cắm sâu đầy xuống giữa lòng sông Bạch Đằng.

                            Làm xong đâu đấy phục binh An Nam bình yên nằm yên đó chờ đợi; khi thủy triều dâng lên, thì quân An Nam lên thuyền khiêu chiến, quân An Nam vừa đánh vừa nấn ná, giả vờ yếu kém từ từ rút lui binh, họ cốt ý nhữ cho quân Ô Mã Nhi đi qua lối thủy đạo đã cắm cọc nhọn khá xa.
                            Đến khi thủy triều rút xuống, thì quân Nguyễn Khoái quay toàn bộ thuyền lại, ồ ạt như vũ bão xông lên đánh quân Nguyên rất hăng. Đúng lúc đó quân của Hưng Đạo vương đến tiếp ứng, hợp sức với quân Nguyễn Khoái oai dũng quyết liệt hăng hái chiến đấu.

                            Các tướng bên quân Nguyên thấy mình đóng ở những chỗ hiểm yếu đã bị mất hết, bèn bàn với Thoát Hoan:
                            - Nên rút quân về - vì ta không thể cử người về nước xin cầu viện và chuyển lương thực tới tiếp tế.
                            Cuối cùng Thoát Hoan nghe lời, phải đành cho Phàn tiếp rút quân về lối sông Bạch Đằng. Trình Bằng Phi dẫn quân đi đường bộ. Trương Quân đi tập hậu vào tháng Ba năm 1288. Ô Mã Nhi & Phàn Tiếp thấy không thể cự nỗi, bèn quay thuyền lui binh tháo chạy, thì thuyền bị kẹt cứng ở bãi cọc nhọn, thế là Phàn Tiếp, Ô Mã Nhi, Cơ Ngọc, Tích Lệ, đã bị bắt sống; trên thuyền dưới nước quân Nguyên máu nhuộm đỏ sông, thây phơi chết la liệt như rạ.

                            Thoát Hoan biết tin quân mình đại bại ở sông Bạch Đằng, liền dẫn A Bát Xích, Áo Lỗ Xích, Trình Bằng Phi, Trương Ngọc, Trương Quân chạy đường bộ về Ải Nội Bàng, bị tướng Phạm Ngũ Lão chém chết, và quân binh của Trương Quân bị mai phục của Phạm Ngũ Lão đánh tan tác.

                            Bọn Nguyên chạy về phía núi Kỳ Cấp, nghe tiếng quân An Nam ầm ầm rượt đuổi theo, Thoát Hoan trốn trong ống đồng sợ hãi bắt lính khiêng đi, rồi sai Trương Ngọc, A Bát Xích đi trước mở đường máu. Đoàn quân Trình Bằng Phi che chở cho Thoát Hoan đi đoạn giữa, để chạy tới Đan Kỳ, Lộc Châu, tàn binh lẻn đi đường tắt về Tư Minh, rồi Yên Kinh. Đoàn quân Áo Lỗ Xích đi tập hậu. Nào ngờ quân An Nam mai phục ở hai bên sườn núi bắn tên độc xuống như mưa. Bọn bại tướng Ô Mã Nhi, Tích Lệ, Cơ Ngọc, Phàn Tiếp: đều bị bắt sống.

                            Phàn Tiếp hãi hùng lo sợ quá, sinh bệnh mà chết. Vua Nhân Tông thật nhân từ cho hỏa tang, rồi chu cấp đầy đủ cho vợ con hắn đem tro cốt về Tàu. Ô Mã Nhi là tên tàn ác được quân An Nam giải lên thuyền, đi nửa đường bị đắm tàu mà chết. Cơ Ngọc, Tích Lệ được vua tha, cho lính giải về Tàu. Quân Nguyên đại bại trận nầy thiệt là thua to quá thảm hại, nhục nhã chưa từng thấy.
                            ***

                            Thánh nhân HƯNG ĐẠO Vương TRẦN QUỐC TUẤN sinh 10–12–1228, Mậu Tý, huyện Tức Mặc. Nam Định. Từ trần 20–8-1300, Canh Tý tại Vạn Kiếp, Chí Linh. Hà Nội.
                            Ông là con của An-sinh vương Trần Liễu (cha của Trần Quốc Tuấn là anh ruột vua Trần Thái Tôn), quê ở làng Tức Mặc, phường Lộc Vượng, phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định. Ông Trần Quốc Tuấn diện mạo khôi ngô, tuấn tú, thông minh kỳ vĩ. Thời thiếu niên ông học rộng, tài cao - năm lên 6 tuổi ông đã làm thơ ngũ ngôn hay, tuy còn nhỏ ông đã biết chơi đồ bát trận. Ông đọc hết các sách lục thao, tam lược. Ông thật là thơ, văn, võ... uyên thâm song toàn khác thường.

                            Tuy dòng dõi vương quan, nhưng tính tình ông Trần Quốc Tuấn giản dị, bình dân, khoan hòa. Ông Trần Quốc Tuấn vì trọng tình nước đã quên thù nhà, ông thương người và bao dung, độ lượng. Ông Trần Hưng Đạo vương đúng là một bậc thánh nhân lừng lẫy, phi thường, kiệt xuất. Ông TRẦN HƯNG ĐẠO vương Trần Quốc Tuấn rất xứng đáng để mọi người trân trọng ngợi khen và bội phần kính phục.

                            Các vị danh tướng oanh liệt ngàn năm một thuở xa xưa, danh tiếng vang dội lẫy lừng khắp bốn bể năm châu, muôn đời trên thế giới vẫn nễ phục. Họ lưu danh thiên cổ trong sử sách cho hậu thế noi theo: Mặc dù thuở đó vũ khí mộc mạc, thô sơ, nhưng họ đã anh dũng, kiên cường, quyết đồng lòng tiêu diệt bọn ngoại xâm. Ngỏ hầu đem lại an vui bình yên vinh sang cho dân tộc, và góp phần xây dựng quê hương đất nước trường tồn giàu mạnh thời ấy… Rất đáng trân trọng tôn vinh và kính phục dường bao!

                            Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử VIỆT NAM buồn vui vinh nhục… tang thương & rối ren… Ngày hôm nay đây, biết có mấy ai dám mạnh dạn đứng lên giành lại giang sơn, tổ quốc, quê hương như: Hai bà Trưng, bà Triệu, vân vân… & vân vân… giống như nhiều vị anh hùng lẫm liệt, oai phong thuở xa xưa khác của chúng ta không?

                            Có ai giống như đức Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã hiên ngang, dũng khí đánh đuổi bọn Tàu Chệt, (bài học nhục nhã nhớ đời về trận Bạch Đằng giang, khiến chúng xấu hổ bưng mặt cúi đầu lũi trốn về Tàu.

                            Cái bọn Tàu dã man ấy, ngày nay đã, vẫn giành đất nước quê hương Việt Nam dấu yêu của chúng ta, phải mất Ải Nam Quan & lấn chiếm đất, cướp biển… Trường Sa, Hoàng Sa, cùng sát hại rất nhiều ngư dân Việt Nam vô tội) - (!?).
                            * * *

                            Tình Hoài Hương


                            * THH biên soạn bài viết theo lịch sử Việt Nam, từ:
                            * ít sách trong Bộ Giáo Dục V N C H
                            * Việt Nam Sử Lược (Trần Trọng Kim).
                            * Nam Hải Dị Nhân (Phan Kế Bính).
                            * Đại Cương Lịch sử Việt Nam (Nguyễn Khắc Thuần).
                            * Notion d’ Histoire d’ Annam, par Maybon et Ruissier.
                            * Abrégé de l’ Histoire d’ Annam, par Shreiner.
                            * L'Empire d' Annam, par Goselin.
                            * L'ínurrection de Gia Dinh, par J. Silvestre.
                            * ít nghiên cứu từ Wikipedia.
                            - Sử quán triều Nguyễn, "Đại Nam thực lục".
                            - Sách “Tây Sơn thực lục”.
                            - Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ...
                            (Đại Nam chính biên liệt truyện).
                            ***
                            Tình Hoài Hương

                            * * *
                            Last edited by Tinh Hoai Huong; 09-28-2019, 10:06 PM.
                            Bút trần nào tả được lưu luyến!
                            Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                            Tình Hoài Hương

                            Comment

                            • muahong
                              Người Thân
                              • Mar 2009
                              • 89

                              #134
                              Đức Trần Hưng Đạo Đại Vương

                              .




                              Đời nhà Trần chúng ta thật nhiều tướng tài như Trần Quốc Tuấn , Trần Quang Khải , Trần Bình Trọng , Trần Nhật Duật , Trần Khánh Dư ..., trong đó nổi bật nhất là tướng Trần Quốc Tuấn - Hưng Đạo Đại Vương . Nhờ tài thao lược của Ngài mà quân ta đã đánh bại quân xâm lược Nguyên Mông , dù đội quân này nổi tiếng hùng mạnh bậc nhất thế giới thời bấy giờ . Nhiều nơi trong nước đã lập đền thờ Ngài , gọi một cách kính cẩn là Chùa Thánh .
                              Đọc bài Trần Hưng Đạo Vương của THH , người đọc cảm thấy như có luồng sinh khí chạy rần rần trong cơ thể . Xin cám ơn tác giả .
                              Last edited by muahong; 09-18-2014, 02:28 AM.

                              Comment

                              • Tinh Hoai Huong
                                Senior Member
                                • May 2009
                                • 1081

                                #135
                                Bé Lọ Lem & Tình Người Xa Lạ





                                Bé Lọ Lem & Tình Người Xa Lạ
                                Sau khi đi thăm em ở Pennsylvania, New York, Ohio, Canada... về,
                                THH thương tặng nhân vật chính:
                                Trương thị Thu Huyền (Hoa) một loạt bài viết về câu chuyện thật của em tôi.

                                ***

                                Với lứa tuổi ngây thơ dại khờ của bé Hoa lọ lem… qua những tháng ngày ở nhà ôn mệ Bộ Tri Cúc, nơi đây họ có một vườn ươm cây tối tân, bao la, đầy đủ tiện nghi, sung túc nhất miền Trung thời bấy giờ (tại thôn Thượng Phước, xã An Đôn thuộc quân Triệu Phong, Quảng Trị) trang trại ấy an ngự bên dòng sông Dư Lệ mơ màng, có hàng tre nghiêng mình êm đềm soi bóng nước, có những con đò ngang dọc khua mái chèo dậy sóng mỗi sáng trưa khuya chiều, có rặng dừa thẳng tắp, có đồi trà bao la và từng luống cà phê xanh um ngút ngàn.

                                Rồi sau nầy gia đình ôn mệ dời nhà vô lập vườn ươm cây mới nữa tại khu đồi sim bạt ngàn ở Mỹ Chánh, thì Hoa thật sự hạnh phúc: mỗi tối Hoa được nằm ngủ bên mệ, được tinh nghịch rờ vú mệ, được mệ vui vẻ trìu mến nhìn mình âu yếm kể chuyện cổ tích, được mệ ví mình xinh đẹp và ngoan hiền như chị Thùy Mến (con gái út của mệ)…

                                Thế rồi hình ảnh mơ hồ của chị ấy cũng thâm nhập vào tim Hoa. A! té ra ta có nét giống chị ấy, nên được ôn mệ thương ha. Mãi sau nầy khi lớn khôn hơn, Hoa mới nhận ra rằng: chẳng phải do mình giống chị có đôi mắt to, sóng mũi cao, miệng cười tươi lộ hai hàm răng trắng đều nho nhỏ, mái tóc dài quăn tự nhiên, nên Hoa mới nhận được tình thương mến, ân cần, âu yếm của họ về một đứa trẻ thơ không cùng huyết thống. Mà do họ thương cảm Hoa, vì mình chỉ là đứa trẻ non nớt đang lâm vào cảnh đoạn trường khổ sở, vất vả nhọc nhằn, ngỏ hầu đứa trẻ nầy gánh vác gia đình cha mạ và bầy em của mình bớt cảnh nghèo khó. Thì ra là vậy.
                                Ngó đâu ngó đó thì vui
                                Ngó về phụ mẫu bùi ngùi nhớ thương*.
                                (*).

                                Đúng là Hoa nghĩ như thế, chắc có lẽ cha mạ buồn. Nhưng không phải lỗi của cha mạ do nghèo xơ nghèo xác đâu. Chẳng qua là vì hoàn cảnh ngặt nghèo mà cha mạ nuốt tủi ngậm hờn: cha lính tráng “cấp bậc binh nhì hèn mọn”, mà tụi bạn nhỏ của Hoa khi đó ưa lêu lêu trêu chọc: “mi là con của ông đơ dem cùi bắp” hết đổi đi đây đó, lại đi xa nhà chinh chiến liên miên, cái chết treo ở đầu tơ kẽ tóc, lòng dạ cha ngổn ngang trăm mối tơ vò:
                                Nhà vách nát mưa luồn gió tạt
                                Nhớ đến mình chua chát lòng qua*.
                                (*)

                                Mạ “mình hạc xác ve” một nắng hai sương vất vả với cơm áo gạo tiền, nên quần vo áo vận, suốt ngày mạ quần quật vẫn lam lũ. Buôn bán thì không vốn liếng, nên mạ chỉ làm thuê cuốc ruộng, mạ khó khăn vất vả nuôi các con nhỏ dại. Nhất là khi mạ cấy lúa đỏ, là những nơi nước ngập lên thấu háng! Hoa không điêu ngoa khi tả cảnh nước ngập quá đáng đâu, mà sự thật là nước lên tới háng thiệt. Mạ sợ đỉa, sợ trun chun vô chỗ kín, mạ sợ sâu… thế mà người thiếu phụ trẻ ở nông thôn phải làm nghề cấy lúa. Thật quá khổ cực nhọc nhằn trên:
                                “Quê em óng ánh tơ vàng.
                                Ruộng nương thẳng tắp ngút ngàn dâu xanh”:
                                Nghèo đến nỗi có giường không chiếu
                                Lo nồi cơm sớm lại thiếu nồi chiều*
                                (*)

                                Ôi những ngày buồn! Mạ đầu tắt mặt tối... không có thì giờ chăm sóc dạy dỗ con cái nheo nhóc. Chao ơi là tội! Đôi lúc Hoa nhớ lại những ngày mùa đông trời gió bão rét mướt, lạnh thấu xương; các con ngóng cổ đợi mạ mỗi ngày mặc áo “tơi chợ” , là loại áo tơi chằm bằng vài lớp lá kè mỏng, có sợi mây xâu vô lá nhẹ tênh. Không có tiền, nên mạ chỉ mua loại áo tơi nầy rẻ, khi dùng áo tơi lâu ngày sẽ bị mục, lá rơi xuống mà sợi mây vẫn còn đeo bám ít chỗ chưa bị mục, mưa gió thấm vào thân thể, mạ càng lạnh thấu xương. Vậy mà mạ cần cù nhẫn nại lom khom đi làm thuê cấy mướn, tối về mạ run rẩy đùm mấy lon gạo trước vạt áo dài cũ sờn vai… Những lúc Hoa và các em không thấy tay mạ ôm vạt áo dài trước bụng, thì chị em đều biết tối đó cả nhà không có cháo ăn, mà chỉ chia sớt nhau ăn vài mụn khoai sắn bé tí tẹo, uống nước vối cho qua bữa, bụng dạ cồn cào sôi sục kêu réo lục ục suốt đêm, không làm sao ngủ yên!
                                Ngày nào trời nắng chang chang
                                Mẹ con đốt củi kiếm than, no lòng.
                                Trời làm một trận mênh mông
                                Mẹ con nhịn đói nằm không ba ngày*.
                                (*)

                                Tuy khổ cực như thế, nhưng Hoa chẳng bao giờ nghe mạ than:
                                Người ta chân dép chân giày
                                Em đây làm lụng cả ngày lấm chân*
                                (*)

                                Và em bé Hoa: Không ai có thể ngờ rằng một con bé mới năm sáu tuổi đầu non nớt, đã kín đáo lân la bên người lớn là O Câu để chăm chỉ chuyên cần học nghề chằm nón lá. Sau đó mình về cẩn thận chu đáo dạy lại cho mạ làm từng chi tiết. Hoa vui mừng hãnh diện biết mạ bớt làm lụng nặng nhọc vất vả, vì bi chừ mạ đã có tay nghề vững vàng như ai. Tục ngữ đã có câu: “ruộng bề bề không bằng có một nghề trong tay”, quả không sai, huống hồ chi ruộng đây chẳng phải là của riêng mình!

                                Tuy đôi mắt mạ mờ do khóc nhiều, không còn tinh anh như những lớp người đồng trang lứa với mạ, mạ chằm nón chậm, nhưng đường chằm mủi đột khéo léo, coi khá đẹp. Vài ngày mạ bán được một cái nón bài thơ hai ba đồng, thì mạ tạm nuôi con đủ sống qua ngày. Mùa đông bão lụt, mạ không còn đội tơi mưa nón rách áo cánh mong manh, mà lặn lội đi xa mấy cây số, ngâm mình khom lưng cả ngày dưới đồng ruộng nước sâu! Cho nên. . . dù ở môi trường nào, lĩnh vực nào thì Hoa biết: “Ơn cha thênh thang tựa biển. Nghĩa mẹ dài dằng dặc tựa sông” (*) Hoa phải lớn nhanh lên vượt thời gian trước tuổi thơ với tình thương của người xa lạ.

                                Thế là Hoa thút thít, không dám khóc đâu mà hai hàng nước mắt tuôn trào, em đã ôm ít quần áo lẽo đẽo ra đi theo cậu Thuận… lăn vô đời mạnh dạn làm nghề “ở đợ” không hề xấu hổ. Ngay từ tuần lễ đầu tiên bước vô nhà cậu Thuận, mợ đã không thích con bé quá nhỏ, (chỉ mới chín tuổi), thì làm nên trò trống gì. Mợ nghĩ: “nuôi nó, tốn cơm, ta không nhờ vã sai bảo được gì”. Nhưng rồi thấy Hoa thông minh, lễ phép, siêng năng làm việc nhà, mợ Thuận tự ý bàn với cha mạ Hoa cho nó tiếp tục đến nhà mình giữ em, khi rãnh rang mợ sẽ dạy Hoa học chữ. Mợ hứa với cha mạ sẽ thương Hoa như con cháu. Thời gian Hoa ở đây, sẽ khấu trừ khoảng nợ mà cha mạ Hoa đã mượn trước. Cha mạ của Hoa rất đắn đo suy nghĩ, băn khoăn, lo sợ:

                                - Con gái tui sống ở quê nghèo không chữ không nghĩa giữa vùng xôi đậu, chiến tranh liên miên lộn xộn, nhất là kiếp nghèo đeo đẵng và đói khát triền miên. Thật đau lòng khi con không có tương lai. Nếu con sống ở thành phố Huế, trước tiên là con thoát ra khỏi vùng chiến tranh, sau là không bị đói khát, đau ốm thuốc thang dễ dàng xí. Không như ở nơi nhà quê hẽo lánh, chẳng có bệnh viện, trạm y tế xa nhà bốn cây số, thuốc men leo teo, khiêm tốn đơn sơ. Cho con đi theo họ, con biết chữ càng tốt. Dẫu sao cũng đỡ đần tấm thân.

                                Nào ngờ… khi Hoa túm ít bộ áo quần cũ để chính thức sống trong gia đình nầy, mợ không giữ lời hứa, Hoa làm con ở, hết gánh nước lại bồng em, phụ mợ làm việc nấu cơm canh, quét dọn, giặt giũ, mọi việc đều giống hệt như người lớn, Hoa làm việc không hề ngơi tay. Con đầy tớ nhỏ không lương luôn bị mợ đánh đập những điều vô cớ và rất vô lý: Hoa không hề có lỗi do chính mình tạo ra; mà nguyên nhân là do mợ ghen bóng ghen gió cậu với ai ai ở ngoài đường, chẳng rõ. Cứ ba bốn lần trong tháng, khi cậu đi làm về, mợ hết càu nhàu cằn nhằn, mợ ngắt nhéo cậu bầm tím cho đã, nhưng vẫn chưa thỏa lòng, mợ quay ra kiếm chuyện với Hoa, rồi mợ cú đầu khỏ trọ Hoa đau điếng. Lần nào, trước sau gì cũng thế! Hoa không thể hiểu được sự đối xử dã man, ác ôn dễ sợ, không nguyên cớ chính đáng, cũng chẳng do mình gây ra! Tội nghiệp cậu lắm, những lúc đó cậu len lén nháy mắt nhẹ hất hàm như ngầm bảo Hoa (cậu đã dặn dò Hoa nhiều lần trước):
                                - “Con hãy bồng em mà chạy trốn ra khỏi tầm mắt của mợ nghen”.
                                Mỗi lần như thế, Hoa bế thằng con cuả họ lo chạy tuốt ra cuối ngỏ, ôm em mà khóc lóc thảm thiết. Hoa được cậu Thuận thương, Hoa chẳng bao giờ bị cậu la rầy, đôi lúc cậu còn nhét vào tay Hoa vài viên kẹo, cậu bảo rằng:
                                - Cháu không nên cho mợ biết nghen”.

                                Có những lần chú Quyền (em của cậu Thuận) ở Sơn Trà sang thăm, cậu cũng xoa đầu nhìn mình với đôi mắt mến mến. Mấy lần Hoa được cậu mợ cho ra nhà ôn mệ (cha mẹ của cậu Thuận) nghỉ hè, ở nhà quê không khí trong lành thoáng mát. Hoa đang bồng em Thiện (con của cậu mợ chủ) đứng chơi trước sân, bỗng Hoa nhìn lên trên đồi sim, thấy có hai bóng người xa xa thấp thoáng trên triền dốc đi xuống, người con gái mặc áo dài tím, quần trắng, đầu đội nón lá, tay xách valy nhỏ, đang đi với người con trai cũng xách mấy thứ cồng kềnh. Mình kêu to:
                                - Mệ ơi, có ai đến nì?
                                Mệ nhìn lên và nheo mắt lại, một chút sau mệ nói:
                                - Không lẽ hai đứa nó lại về thăm!?
                                Mình hỏi mệ:
                                - Ai rứa mệ?
                                Mệ nói:
                                - Con của mệ.

                                Hai người ấy đã đến trước sân, họ mừng mừng, nói nói. Em Thiện thì sợ nên nó khóc, Hoa phải đưa em đi chỗ khác, để mệ vui mừng gặp con của mệ. Sau đó người con gái đến sau lưng Hoa và dịu dàng xoa đầu, hỏi:
                                - Em là bé Hoa xinh xinh phải không?
                                Hoa ngại ngùng cúi đầu “dạ” nho nhỏ. Chị ấy nói:
                                - Chị là Thùy Mến, ôn có nói với chị về em. Chị đã mua quà cho em nè.
                                Chị đưa cho Thiện bánh quy. Hoa thì bọc kẹo mè xững thơm mùi gừng, và mấy bộ áo quần mới. Hoa nghe thêm nữa là tiếng của người con trai khoảng mười tám hai mươi tuổi, anh ấy thanh lịch nói giọng Huế ngọt ngào:
                                - À, em Hoa đây hả? anh là Dzoãn, ôn kể về em với anh. Thì ra tóc em cũng quăng xoắn như ri hì?
                                - Dạ… thiệt ra em không phải tên Hoa, mà tên là Chắt. Tên Hoa là do ôn đặt cho em nà.
                                - Ôn đặt cho em tên Hoa là phải, em xinh như hoa. Biết không?

                                Cúi đầu e thẹn, với chị Thùy Mến thì Hoa sung sướng khi nghe lời khen ấy, nhưng với anh Dzoãn sao Hoa cảm thấy hai má bừng bừng, bẽn lẽn, ngại ngùng run run làm sao ấy? Rồi ôn đi thăm bệnh nhân ở xóm mới trở về. Hai ôn mệ mừng con cái, nên cả nhà vui vẻ rộn rịp, họ huyên thuyên kể chuyện nầy sang chuyện khác. Chợt thấy Hoa đang bồng em đứng xớ rớ gần anh chị, ôn tới xoa đầu và nựng Hoa câu:
                                - Tổ cha con tóc quăng: cháu giống ai, con ai… mà ôn thương dữ rứa hè.

                                Mỗi lần ôn nựng Hoa câu đó, Hoa vui thích đến ngẩn ngơ mà lòng rộn ràng xúc động, đôi mắt long lanh… Đến giờ ăn trưa, Hoa trải chiếu giữa khu nhà ngang, nơi có gió lộng rất mát và có giàn thiên lý tỏa mùi thơm thoang thoảng. Hoa được ngồi ăn chung mâm với gia đình sang quý của họ, một việc mà “phận hèn tôi tớ” như Hoa, ít khi được chủ nhà đặc biệt ưu ái ban tặng. Nhưng gia đình ôn mệ không hề phân giai cấp! Hai anh chị ấy hay gắp thức ăn bỏ lên chén cho Hoa. Mình vui sướng quá, cảm thấy nghèn nghẹn ở cổ, hình như tay mình bị run? ăn uống chẳng thấy ngon và biết mùi vị ra sao, vì tâm Hoa rộn ràng với hạnh phúc mới, và lo sợ cho ngày vui sẽ chóng tàn.

                                Ngày nào Hoa cũng được gần bên chị ấy, nhất là những lúc em Thiện ngủ, chị đưa Hoa ra dưới những rặng phi lao lộng gió, nơi chân đồi sim gần bờ suối, có làn nước trong xanh mát lạnh uốn mình chảy róc rách suốt tháng ngày. Sau khi hai chị em tắm gội giặt giũ xong, chị em ngồi trên tảng đá thòng đôi chân xuống vọc nước, dòng nước thoa nhẹ trên đôi chân bé bỏng, Hoa có cảm giác nước mơn man da thịt mình êm dịu lạ lùng. Hoa được chị chải tóc và bắt chí cho. Chị rầy rà:
                                - Em ở dơ quá! ghê thật! em không lo tắm rửa, chí cắn hết máu, chết cho mà xem.
                                - Ôi ghê rứa? Chí nhỏ rứa mà cũng giết mình được hở chị?
                                Chị cười rất xinh, đôi mắt mơ màng trông đẹp làm sao, khuôn mặt chị hiền lành dịu dàng và nụ cười tươi thắm. Có lẽ chị hù cho em sợ, vì cái tật… không phải em “ở dơ”; mà do chị thương em bận bịu nhọc nhằn, tại cái chuyện “ở đợ” mà ra.
                                - Ừa, nó hút hết máu, thì ghẻ lở, nhiễm trùng, sinh bệnh, có thể chết người, chứ sao!
                                - Mà chị nè, em không là cái chi, răn chị thương em nhiều rứa?
                                - À… có nhiều lý do.
                                - Lý do gì hả chị?
                                - Thì do em… tóc quắn nè. Ngoan nè. Ha ha ha…
                                - Tóc của mấy anh chị cũng quắn mà.
                                - Em xinh xắn, thông minh, khôn ngoan, lễ phép, và… do chị là út, nên thích em làm em gái chị. “Em tôi” tuy còn nhỏ tuổi, nhưng khổ trước tuổi và khôn trước tuổi. Ba má chị rất yêu thương Hoa, coi em như con cháu ruột, không hề phân biệt đối xử đâu. Em biết không.
                                - Dạ… dạ.

                                Hoa cảm động đến nghẹn ngào ứa hai giọt nước long lanh bên khóe rồi lăn dài xuống má. Hoa không nhớ anh chị ấy ở lại với cha mẹ của họ và mình được bao lâu? Ngày tháng ở Mỹ Chánh trôi qua êm đềm trong tình thương của ôn mệ, anh chị, cùng niềm vui lớn lao nữa là: thỉnh thoảng có mạ của mình ở ngoài làng Trường Sanh vào Mỹ Chánh thăm con. Vì những ngày ở Mỹ Chánh, ôn mệ tro6ng coi em Thiện dùm, có cho Hoa về quê thăm nhà, ở lại nhà mấy ngày. Ngày trở vô Mỹ Chánh mình dẫn đường cho mạ biết nơi ôn mệ ở đây.

                                Cứ mỗi lần mạ, hoặc ôn xoa đầu Hoa, là đứa bé nầy cảm thấy sung sướng vui vẻ hạnh phúc nhất trên đời. Khi mạ, ôn mệ… rời khỏi Hoa, là đứa bé buồn nhất trên đời! Mỗi lần như thế Hoa khóc cả mấy ngày mới thôi! Kỳ lạ, sao mình hay khóc nhè quá đi! Sau này chị đến với em cũng thế. Những ngày được gần bên chị, Hoa như đứa em út yên ấm trong vòng tay yêu thương của chị. Thời đó chị là một nữ sinh thanh nhã đoan trang đài các học trường Tây kia mà, sao chị lại thương con bé lọ lem như em, hở chị?

                                Em còn nhớ mùi hương thơm phơn phớt từ da thịt chị gần bên em khi cả nhà đi hái sim. Mặc dù chị còn rất trẻ nhưng thỉnh thoảng chị viết văn, ngâm những bài thơ chị làm cho Hoa nghe, chị kể chuyện mối tình đầu non dại, trong sáng, tự chị muốn chia ly, đã tan vỡ cho mình nghe nữa. Hoa nhớ lại ngoài làng An Đôn Thượng Phước, O Sáu (chị lớn thứ 6 của chị Thùy Mến) ưa hát: “ai có về trên bến sông Tương, nhắn người bên ấy tôi thương…”. O Sáu cũng có kể mối tình tan vỡ như thế cho mình nghe. Ồ… sao mối tình đầu ưa tan vỡ thế không biết. Chắc họ còn nhỏ dại nên không biết cách trân quý giữ gìn chăng?

                                Những ngày tháng trôi qua thật êm đềm trong tình thương của họ đối với Hoa như ruột thịt, tưởng không bao giờ chấm dứt. Thì một ngày kia chị và anh trai của chị phải từ giã em, để về lại một nơi chốn nào đó thật xa xôi! Chị an ủi Hoa và lau những hàng nước mắt tuôn trào đầy xúc động trên má bé lọ lem! Chị dặn dò đủ thứ:
                                - Em đừng buồn, là em kết nghĩa với chị mà lo gì ha. Bây giờ chị phải trở vô trường nội trú học. Kỳ Tết hoặc nghỉ hè, chị lại về thăm ôn mệ, thăm em mà. Em nhớ ở cho sạch, đừng để chí hút hết máu, nhớ không ra ngoài ban đêm, vì đây có cọp. Chị về lần sau, sẽ cho em quà và áo quần mới đẹp nhiều hơn...
                                - Trường nội trú là chi, ở đâu hả chị?
                                - À, trường nội trú Couvent des Oiseaux do những bà xơ cho học sinh đi học, ăn ngủ ở lại trong trường, em à.

                                Khi chị đi học xa, mình biết là sẽ lâu lắm mới hy vọng chị sẽ về thăm nhà, nên Hoa đứng bịn rịn tiếc thương buồn bã nhìn chị khuất bóng sau đồi sim bạt ngàn, lúc ấy trong lòng Hoa như cả thế giới sụp đỗ, Hoa mới khụy xuống sân gạch ôm mặt khóc nức nở! Mệ thấy Hoa khóc như vậy, cũng bùi ngùi khóc theo. Mặc dù chị về quê thăm gia đình và ở với Hoa mấy tháng ngắn ngủi, thế mà chị thương Hoa như em ruột. Khi chị bỏ em đi học, Hoa khóc hoài. Rồi thời gian xa cách, Hoa cứ mang theo hình bóng chị và tình thương ấy như là hơi thở cần thiết cho sự sống của mình. Có đôi lúc nhớ chị quá, Hoa không biết phải làm sao, nên tự nói và tự trả lời dường như an ủi với mình: chị Thùy Mến vẫn ở bên em, chị là người chị đầu tiên trong đời thơ trẻ của em, chị không biết đâu, chị vô tình mang đến cho em cây hạnh phúc to lớn nhất. Em chỉ là đứa bé chín tuổi, đứa bé sống buồn tủi quạnh quẽ, thấp hèn đang chập chửng từng bước rụt rè vào đời, mà bất cứ đứa bé nào vào tuổi ấy cũng nhút nhát, sợ sệt khi không có người thân, bất cứ đứa bé nào ở tuổi ấy cũng cần tình thương. Thế mà ôn mệ và chị đã trìu mến yêu thương em, ôn mệ và chị là vị thánh trong tim Hoa thời ấy.

                                Hoa vẫn nhớ bàn tay búp măng của chị ưa vuốt tóc em, Hoa nhớ chị la em không chịu gội đầu, để chí hút hết máu. Nhưng sao chị không gớm khi đầu em đầy trứng chí, lúc nhúc chí mén, chí cồ, hở chị? Hoa nhớ hồi đó chị ưa ôm em vào lòng và hôn lên mái tóc quăn của em chùn chụt. Những tháng ngày ngắn ngủi bên chị, nhưng cho Hoa trở về giây phút thần tiên nơi dòng sông Dư Lệ, nơi có đồi cà phê, đồi trà của ôn mệ bạt ngàn nhấp nhô tại Thượng Phước, An Đôn… Quảng Trị, và dốc đồi sim tím có suối nước trong xanh tại làng quê Mỹ Chánh, nơi mà gia đình ôn mệ, anh, chị… đã gieo trồng trong lòng đứa em thơ dại chuỗi hạt giống tình thương bền chắc, rực rỡ, tinh tuyền và đẹp hơn chuyện thần thoại. Hoa trân quý mang theo làm hành trang trọn cuộc đời. Ngày ấy em chưa biết chi về kiếp trước kiếp sau, vài năm sau khi biết rồi, em cứ ngửng mặt lên trời xin nguyện: “kiếp sau xin cho con được dịu dàng như chị ấy ngài nhé”. Hoa quyết tâm noi theo tấm gương sáng của ôn mệ, của chị Thùy Mến… Nghĩa là em bé lọ lem sẽ quyết chí mang tình thương chận thật chan hòa đi rải khắp mọi nơi.

                                Anh Dzoãn và chị Thùy Mến đã ra đi ít lâu, sau đó cậu Thuận về Mỹ Chánh, Hoa thật vui mừng khi gặp lại ông chủ mà mình gọi bằng cậu, nhưng Hoa nghe cậu nói với ôn mệ là cậu đổi vào làm việc ở Đà Nẵng, một nơi nào đó nghe lạ lùng và xa thẳm đối với mình! Cậu về đây đón bé Thiện vào Huế, để dọn nhà đi. Ôi! Hoa nghe rồi như trời long đất lở, rụng rời, run rẩy… bèn òa lên khóc thật lớn. Ôn mệ thấy vậy thương Hoa, ôn nói với con trai:
                                - Con cứ đưa gia đình đi Đà Nẵng trước đi, để cháu Thiện ở với ba mẹ thêm một thời gian nữa. Con thấy không, cháu ra đây hợp khí hậu, nên cháu Thiện mập mạp ra nì.
                                Cậu không chịu:
                                - Nếu con còn ở Huế thì được, nhưng nay con đổi đi xa, thì cách trở đi về bất tiện.

                                Suốt đêm đó mình ôm mệ mà khóc, khóc không nói được những gì muốn nói! Hoa rất sợ phải trở về bên mợ! Thế là mình phải theo cậu lên chuyến xe vào Huế. Hoa sực nhớ: “sao hôm qua không xin cậu Thuận cho mình về làng thăm mạ và mấy em, để báo tin này cho mạ biết mình phải vô Đà Nẵng nhỉ? Tại sao mình không trốn về với gia đình, rồi chuyện gì đến hãy tính sau! Bi giờ đã lỡ hết rồi! Khi xe dừng tại một đoạn đường nào đó, ngồi trên xe Hoa nhấp nhỏm ngó lui nhìn tới tính nhảy xuống xe, bỏ chạy. Cậu biết ý, giữ tay mình, khuyên:
                                - Thôi con cứ đi với cậu, khi mọi chuyện ổn định, cậu cho con về thăm cha mạ con nghen.

                                Nghe vậy Hoa cũng cảm thấy có chút yên tâm. Vào lại Huế, cả gia đình ở nhà ngoại, (cậu đi trước vô Đà Nẵng để mướn nhà, sắp đặt chỗ ở xong, cậu về đón cả nhà mợ đi sau). Hoa không nhớ được mấy ngày về ở dưới quê ngoại Cầu Ngói Thanh Toàn. Nơi chốn ấy khác xa với nhà ôn mệ! Họ là những người sống hời hợt, quá bình dân mà luôn luôn ồn ào và bài bạc tứ sắc, vị kỷ, chẳng có chút tình cảm ruột thịt đối đãi với nhau! Hoa cảm thấy quá xa lạ càng lạc lõng, bơ vơ, cô độc vô cùng. Hằng ngày Hoa cứ lo giặt giũ, nấu cơm rửa chén, ngồi chò hỏ dưới bếp ăn sau chót, và bị mấy người em của mợ chủ ăn hiếp, sai vặt, la hét ỏm tỏi. Thật điếc tai, thấy mà ghét! nhưng bản tính Hoa cố đè nén chịu đựng cho qua ngày tháng.

                                Rồi cậu Thuận về đón gia đình vào Đà Nẵng. Lần đầu tiên xa nhà, đi trên đường Hoa cảm thấy lạ lùng bỡ ngỡ, nhưng nhìn cảnh vật thật đẹp, rừng núi, đèo Hải Vân cao chót vót nhìn xuống biển đẹp ơi là đẹp. Khi xe bắt đầu vào thành phố, mình đoán đây có lẽ là Đà Nẵng? Ôi chao là người và người chen lấn đông vui, tiếng máy xe nghe ồn ào hơn ở Huế. Đến nhà cậu thuê ở tạm không biết mấy tháng, Hoa không nhớ rõ. Sau đó thì gia đình họ dời đến một ngôi nhà rộng rãi khang trang hơn ở Thanh Bồ Đức Lợi, nhà nầy có mặt tiền là đại lộ Đống Đa, mặt sau nhà gần đường xe lửa, có hồ, ruộng nương. Thời gian này Hoa bị mợ, (tức là bà chủ) trở lại quá khó chịu, ác ôn như lúc trước khi còn ở Huế. Hoa buồn quá, đêm đêm chỉ biết lăn lộn trên xó giường ôm mặt buồn tủi khóc rấm rứt một mình.
                                ***
                                Thế rồi tháng năm buồn thảm trôi qua, một ngày kia có người đàn bà tuổi cỡ 24-25, khuôn mặt phúc hậu, tay chị ẵm đứa nhỏ, tay xách hành lý, chị ấy bước vào nhà mợ chủ, và tự giới thiệu:
                                - Tôi tên Lộc, là chủ căn nhà mà chị muốn mua nè.

                                Hai bên mặc cả giá tiền mua bán nhà, họ thỏa thuận để Lộc tạm thời ở chung ít ngày (mà làm giấy tờ mua bán nhà). Trong thời gian đó người nầy rất dễ thương, Lộc thường đến bên Hoa lân la vui vẻ chuyện trò. Người ấy không cho mình gọi bằng cô bằng bà chi hết, Lộc bảo Hoa cứ gọi là chị. Ngày nọ mợ Thuận đi chợ, Hoa ở nhà một mình với Lộc, chị đã hỏi:
                                - Em có muốn thoát ly không?
                                Hoa mới có mười tuổi đầu, còn non nớt thì làm sao hiểu, chẳng thể nào hiểu hết nghĩa của chữ “thoát ly” nghe văn chương “huyền bí và cao sang” đó là gì, nên mình hỏi lại, và được chị ấy giải thích:
                                - Thoát ly nghĩa là em bỏ trốn nơi nầy, để đi nơi khác...

                                Hoa không tin, vì sợ rằng “họ âm mưu với nhau” để mợ chủ viện cớ Hoa trốn thoát, lôi mình ra đánh nhiều thêm. Lộc biết được ý tưởng của Hoa, nên chị cầm tay và nói lời thương yêu, để em tin. Thế là Hoa bằng lòng nghe lời Lộc “bỏ nhà trốn đi”. Lộc cho Hoa tiền ăn, tiền xe đi đường kha khá, chị viết giấy mách chỉ đường đi nước bước từng mục rõ ràng: từ Đà Nẵng lên Pleiku. Trước hết là Hoa phải có cơ hội:

                                Chờ mợ chủ đi chợ vắng, nhưng ở trong nhà phải có người lớn (anh em của mợ) ở nhà, Hoa nhờ họ trông coi nhà và giữ em Thiện, thì họ sẽ không vu vạ mình ăn trộm của họ, và cái tội “con ở làm mất em”. Lộc căn dặn Hoa cất giấy ghi chú, tiền bạc cẩn thận, kín đáo, không sơ hở cho ai biết; Ở Đà Nẵng ra đi, em mặc vô trong người ba bốn bộ áo quần, trên tay không cầm theo bất cứ cái gì. Em đón xe xích lô ra bến xe đi Pleiku. Mua vé, lên xe, khi xuống xe trên Pleiku, em tìm xích lô nhờ ông ta coi địa chỉ, mà chở Hoa đến nhà chị.

                                Sau vài ba tuần, kể từ ngày Lộc đi. Lúc nầy quả thật Hoa thấp thỏm lo lắng, sợ sệt, bối rối vô cùng. Trăm thứ âu lo dằn vặt ấp ủ trong lòng, Hoa không biết thố lộ cùng ai, chỉ im lìm ngoan ngoãn mà câm như hến. Ngộ lỡ như cuộc “đào tẩu thoát ly” nầy bất thành, chắc hẳn là mình sẽ bị mợ hành hạ, đánh cho thịt nát xương tan ra nhừ tử, chứ chẳng chơi. Rồi cơ hội đến, lúc đó em của mợ là cậu Nam tới nhà chơi, cậu chủ đi làm, mợ đi chợ vắng. Hoa lẽn vô phòng mặc chồng lên người bốn bộ quần áo cũ, nhét tiền Lộc cho vô túi áo cẩn thận với tờ giấy dẫn đường. Hoa không quên lấy kim băng gài lên túi áo, cho chắc cú.

                                Hoa e dè rón rén… lo lắng hồi hộp ra nhờ cậu Nam trông coi nhà, coi dùm cháu, cho “con đi ra ngoài kia một xí”. Mười tuổi Hoa đã biết thế nào là “thoát ly” và nhìn trước ngó sau, bạo dạn, hổn hển thở, cắm đầu cắm cổ chạy một mạch ra khỏi góc đường Đống Đa, lúc đó Hoa kêu xích lô đi lên bến xe. Ngồi trên xích lô Hoa vẫn nhấp nhỏm, hồi hộp, bồn chồn lo âu đầy ắp, trong lồng ngực nghe nhịp tim đập thình thịch.
                                Thời gian hơn hai năm ở nhà Lộc, Hoa vui mừng hớn hở làm nhiệm vụ bồng bế, tắm rửa cho đứa con bé bỏng của Lộc, cùng em “ăn chơi”, Hoa được sung sướng hơn ở nhà cậu mợ Thuận. Lộc nói:

                                - Chị cho em chút ít tiền xài vặt thôi. Lúc nào em muốn về thăm nhà, chị sẽ đưa hết tiền cho em mang về cho cha mẹ”.
                                Nghe Lộc nói “về thăm nhà” bỗng dưng Hoa nhớ ôn mệ, anh Dzoãn, chị Thùy Mến cha mạ và các em kinh khủng! Hoa không nhớ hai anh chị ấy ở lại với mình được bao lâu, mà tình chị trong em đã vượt trội lên cao ngút, niềm tin yêu đằm thắm ngự mãi trong lòng em êm ái xiết bao! Hoa thấy gia đình ôn mệ nội (của em Thiện) hiền hòa tri thức quá. Ai ai cũng văn chương, ai ai cũng phúc hậu, ai ai cũng đầy ắp tình người đối với người (chỉ trừ mợ con dâu trưởng của họ! Chao ôi là sợ…). Mai mốt mình lớn lên cũng quyết chí học theo ôn mệ như thế, để mang hạnh phúc đến cho đời.

                                Sống với Lộc hơn hai năm, đến nay Hoa hơn mười ba tuổi. Hoa cảm thấy nhớ thương cha mạ các em vô vàn, nhớ làng quê, chả phải chị Thùy Mến đã nói "em là một người giàu tình cảm, nếu em biết làm thơ nữa, thì thiệt lãng mạn" hay sao! nên Hoa xin Lộc cho em trở về nhà. Lộc nhận biết em gái đã lớn, thương em, nên Lộc muốn em về nhà, để tự họ quyết định tương lai em, chẳng lẽ Hoa cứ đi ở đợ hoài sao! Nay Lộc đã tích trữ cho Hoa ít vốn liếng kha khá, thiết tưởng em cũng nên về quê. Lộc sắp xếp mua sắm nhiều quà bánh cho Hoa đem về biếu cha mạ và các em. Hoa bịn rịn chia tay gia đình Lộc, hân hoan vui vẻ lên đường. Trở về nhà! Ôi hạnh phúc xiết bao! mừng rỡ trong những vòng tay ôm quấn qúit trìu mến siết chặt, mặn mà tình yêu thương chân thật của gia đình.
                                * * *

                                Tình Hoài Hương
                                Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-09-2017, 08:52 PM.
                                Bút trần nào tả được lưu luyến!
                                Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                                Tình Hoài Hương

                                Comment

                                Working...