Những mẫu truyện ngắn...rất cảm động

Collapse
X
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • hung45qs
    Administrator
    • Jul 2009
    • 1417

    #31
    May mà có em



    Quỳnh lấy vé máy bay về Việt Nam một cách vội vàng, mấy ngày nay nàng ăn, nói, đi, đứng như người mộng du. Tình cờ sang Cali dự đám cưới người cháu, Quỳnh gặp lại Trang, người bạn học thân nhất, ngồi cạnh nhau trong giảng đường Văn Khoa. Trang cho Quỳnh biết mới sang Mỹ được hai tháng. Khi Trang về thăm quê nội ở Trà Vinh, nàng đã tình cờ gặp Tân, thương binh cụt một chân, ngồi bán vé số ngoài vỉa hè độ nhật. Nghe tin Tân còn sống, tim Quỳnh co thắt, toát mồ hôi và xây xẩm cả mặt mày. Quỳnh thì thầm như người mất hồn: “Trời ơi! Tân ơi! Anh còn sống sao? Mấy chục năm rồi, Tân ơi! Anh có biết rằng em tiếc thương anh ngần nào không? Cám ơn trời Phật đã cho Tân còn sống.” Dù hoàn cảnh thế nào Quỳnh cũng phải trở về gặp lại Tân! Gặp lại sự sống của chính nàng.


    Theo gia đình, Trang dự lễ mãn Khóa 22 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Ngồi trên khán đài trong Vũ Đình Trường, sau bài diễn văn của Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng, tiếng loa uy nghi dõng dạc:
    - Quỳ xuống, các sinh viên sĩ quan.
    Sinh viên sĩ quan thủ khoa nhận kiếm, cung bắn đi bốn hướng tượng trưng chí trai tang bồng hồ thỉ, sau khi hàng ngàn sinh viên khác nhịp nhàng quỳ xuống thẳng hàng để được gắn cấp bậc sĩ quan.
    - Đứng lên, các tân sĩ quan.
    Chỉ cần hai động tác quỳ xuống, đứng lên với cấp bậc trên cầu vai, họ đã phải bỏ biết bao tháng ngày gian lao, những bữa cơm chan mồ hôi, nước mưa trong rừng cao su... ngoài bãi tập.

    Trên hai mươi năm qua rồi, đêm mãn khóa bập bùng kỷ niệm vẫn còn mới nguyên trong tâm hồn Quỳnh, đêm định mệnh để Quỳnh quen Tân do anh trai Trang; người bạn cùng khóa với Tân giới thiệu.

    Ngồi trong xe cạnh nhau, hai người chỉ trao đổi những lời thăm hỏi xã giao chừng mực. Ở Tân, Quỳnh thấy người con trai đã được tôi luyện qua gian lao, nắng mưa quân trường, tóc hớt cao, nước da bánh mật sạm nắng, tự dưng với tuổi mười bảy của đứa con gái mới lớn, Quỳnh thấy thương và tội nghiệp Tân quá đi thôi. Tân từ biệt mọi người - sau khi xin địa chỉ Quỳnh- ra bến xe miền Tây về quê thăm mẹ! Tân chỉ có hai mẹ con.

    Trước ngày ra đơn vị, Tân chọn binh chủng mũ nâu Biệt Động Quân như lời tâm sự: “Không đi lính thì thôi, đi phải chọn binh chủng xứng đáng và phải đánh đấm ra trò”. Tân có đến thăm Quỳnh đi phố, ăn trưa và trong bóng tối rạp Ciné Lê Lợi, cầm tay Quỳnh, Tân nói lời từ giã:
    - Mai anh đi! Quỳnh ở lại vui! Ráng học giỏi.
    Tân ra đơn vị, Quỳnh thấy hụt hẫng trong lòng vì tình tiết thương tâm trong cuốn phim “Le temps d’aimer et le temps de mourir” (Một thời để yêu và một thời để chết) mà Quỳnh và Tân đã xem! Suốt thời gian dài sau này Quỳnh cứ tự hỏi: “Tại sao có một thời để yêu lại phải có một thời để chết???”

    Chiến trận đã cuốn Tân đi biền biệt! Những địa danh mịt mùng xa xôi: Bình Định, Bồng Sơn, Tam Quan, Sa Huỳnh, Phá Tam Giang... tiếp nối trên đầu mỗi cánh thư đầy ắp yêu thương của Tân gởi về; một thứ hạnh phúc nhỏ nhoi mà nhiều lần Quỳnh đã mang vào giấc ngủ.

    Tình yêu qua những cánh thư đã làm Quỳnh trưởng thành, nàng đọc báo, nghe đài phát thanh, tin tức những trận đánh lớn đã khiến nàng bỏ ăn! Đóng cửa nằm yên trong phòng một mình.

    Quỳnh thường đi chùa! Một lần nghe có ông thầy ở Thủ Đức rất tài; làm phép trong tờ giấy bạc xếp thành hình tam giác, tránh được lằn tên mũi đạn. Quỳnh vội vàng thỉnh phép bọc bằng vải nhung tím, ép nylon gởi cho Tân và nàng bắt buộc Tân phải đeo bên mình, Tân phải sống để yêu thương nàng.

    Lâu lâu, Tân gửi cho nàng gói mè xửng, chiếc nón bài thơ đánh dấu những địa danh chàng đã đi qua. Nhận được quà của Tân gởi về Quỳnh cảm động mừng rơi nước mắt.

    Ra trường chưa được hai năm Tân đã được thăng cấp tại mặt trận hai lần và giữ chức vụ đại đội trưởng. Lần này, đơn vị Tân tham dự hành quân vượt biên sang Lào! Lam Sơn 719. Tiểu đoàn Tân vừa được đổ xuống một đỉnh đồi, xe tăng địch đã nằm sẵn từ chân đồi dàn hàng ngang tiến lên! Cái giá phải trả cho một trực thăng của Bộ Tư Lệnh Hành Quân đã bị bắn rớt, và phóng đồ hành quân đã rơi vào tay địch trước đó hai ngày. Sau hai giờ chiến đấu bằng lựu đạn, đơn vị Tân đã bị tràn ngập. Thân nhân gia đình đến hậu cứ đơn vị hỏi thăm tin tức về chồng con họ một cách nhiệt tình, tự nhiên. Thấy Quỳnh đứng rụt rè bỡ ngỡ, người sĩ quan hậu cứ đến hỏi:
    - Xin lỗi cô tìm ai?
    Quỳnh lí nhí:
    - Dạ! Em muốn biết tin tức Trung Úy Tân, Đại đội Trưởng.
    - Cô là gì của Trung Úy Tân?
    - Dạ! Vợ.
    Má Quỳnh ửng đỏ. Người sĩ quan hậu cứ ranh mãnh trả lời nàng:
    - Đơn vị đang trong vùng hành quân! Có tin tức gì tôi sẽ thông báo cho bà sau.
    Chữ bà đã làm Quỳnh ngượng ngùng làm sao ấy. Nghĩ cho cùng rồi cũng đúng thôi. Quỳnh đã trao đời con gái cho Tân sau lần thăm ở Pleiku, khi Tân đang nằm điều trị ở Quân Y Viện để gắp một mảnh lựu đạn xuyên vào vai. Quỳnh chưa biết đam mê xác thịt, nàng muốn có con với Tân. Nếu lỡ Tân không về nàng còn giữ được giọt máu cho Tân! Cho mẹ Tân có người nối dõi tông đường! Quỳnh không có thời gian chọn lựa trong vòng tay Tân! Tình yêu đếm bằng phút giây với nỗi chết không rời! Tội cho Quỳnh biết bao, khi lỡ có người yêu ngoài mặt trận.

    Quỳnh tỉnh dậy trong nhà thương, khi tuần sau lên hậu cứ và được người sĩ quan trực trả lời:
    - Xin thành thật chia buồn cùng bà! Trung Úy Tân được báo cáo đã mất tích.
    Ba năm trời Quỳnh đi mọi nơi, hỏi không biết bao người đội mũ nâu nhưng nàng không nhận ra được một tin tức nào của Tân.

    Những ngày cuối tháng tư năm 1975, Cộng quân đánh vào Xuân Lộc pháo kích dữ dội vào Biên Hoa; gia đình gồm cha, mẹ Quỳnh và đứa em trai di tản, sau đó định cư tại thành phố Montreal, Canada.

    Chuyện tình nàng và Tân phút chốc thoáng như mơ mà đã gần ba mươi năm! Một nửa đời người rồi còn gì!!!
    Phi cơ ở độ cao, Quỳnh kéo chăn đắp lên ngực và thì thầm với chính mình:
    - Tân ơi! Em phải về gặp anh! Dù thế nào em cũng không thể dối lòng mình được, em yêu anh suốt cuộc đời này.
    Người tiếp viên thông báo, phi cơ đã vào địa phận Việt Nam.


    Trước khi đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, phi cơ đảo đi một vòng lớn, qua khung cửa kính Quỳnh vẫn thấy thửa ruộng, mái tranh lụp sụp, sự nghèo đói làm vòng đai rộng lớn bao quanh thành phố Sài Gòn hoa lệ.

    Qua báo chí, Quỳnh biết rằng hơn bảy mươi lăm phần trăm dân tộc mình là nông dân, suốt đời úp mặt xuống bùn cũng không kiếm đủ miếng ăn cho gia đình! Cộng thêm sự áp bức, bất công! Giàu sang chỉ dành riêng cho thành phần thiểu số cai trị và tất cả thảm trạng đó điều xuất phát ở cấp lãnh đạo có vầng trán quá thấp! Với vầng trán đó, họ đưa một dân tộc cần cù siêng năng thông minh trở nên nghèo đói nhất thế giới. Sài Gòn bây giờ là ô nhiễm, xe cộ đủ loại chen chúc luồn lách vô trật tự! Sự công xúc tu sỉ xảy ra ở mọi gốc cây, nhiều lần Quỳnh phải quay mặt đi vì hổ thẹn.

    Ra xa cảng miền Tây, đón xe tốc hành, Quỳnh về Trà Vinh, thành phố Quỳnh đến lần đầu. Quỳnh xuống xe với hai chiếc va li nặng trĩu. Ngơ ngác cố nhớ lời Trang tả, nàng đi lần về phía đầu chợ; thành phố đã lên đèn.

    Hàng chục anh xe lôi, xúm quanh hỏi Quỳnh về đâu? Nàng hỏi thăm Tân, cụt chân bán vé số ở đầu phố chợ. Có người nhanh nhẩu trả lời:
    - Trung úy Tân! Biệt động Quân bán vé số! Cô lên xe tôi chở đến nhà ổng cho.
    - Tân! Biệt Động Quân! Những tiếng thân thương Quỳnh mừng khôn tả.

    Quỳnh đền ơn người chạy xe lôi hậu hĩnh! Trước khi mở cổng bước vào căn nhà ngói ba gian loang lổ gạch vôi nói lên đời sống khó khăn của chủ nhân nó. Quỳnh đưa tay đè lên trái tim, nén xúc động, Quỳnh gõ cửa. Người đàn ông chống nạng bước ra! Nhìn sững nàng! Miệng há hốc kinh ngạc! Đất như sụp dưới chân Quỳnh.
    Tân không còn tin ở mắt mình:
    - Có phải Quỳnh của anh đây không?
    Nàng phóng tới ôm chầm lấy Tân:
    - Vâng, em đây! Quỳnh của anh đây.
    Ngoài ngõ, hàng xóm và trẻ em thật đông, tò mò nhìn vào. Người đàn bà tóc bạc như cước, từ nhà sau bước ra lắp bắp hỏi Tân:
    - Cô này là ai vậy con?
    Tân trả lời mẹ trong xúc động:
    - Thưa má, Quỳnh bạn con.
    Quỳnh chắp tay lễ phép chào bà. Mẹ Tân bước tới ôm tay Quỳnh vừa mếu máo khóc, vừa nói:
    - Thằng Tân gặp lại con! Bây giờ có chết bác cũng vui lòng.
    Mẹ Tân vén tay áo lau nước mắt. Tân chống nạng phụ Quỳnh mang mấy va li vào nhà.
    Quỳnh đi tắm, thay đồ mát và bữa cơm đạm bạc được dọn ra. Ba người cầm đũa, Quỳnh ăn thật ngon miệng! Mấy chục năm ở Canada làm gì có những món này. Tân và mẹ nhìn Quỳnh ăn một cách ái ngại.
    Gắp cho Quỳnh bông so đũa luộc, mẹ Tân hỏi Quỳnh:
    - Cháu ở đâu về? Lập gia đình được mấy đứa con rồi?
    Nàng liếc sang Tân, hình như anh hồi hộp chờ câu trả lời của Quỳnh.
    - Thưa Bác, con ở Canada về. Con chưa lập gia đình. Dạ thưa bác, nãy giờ con quên hỏi thăm về vợ con anh Tân.
    Tân ngượng ngùng cúi đầu và mẹ Tân cười, niềm vui trong ánh mắt:
    - Bác đã tám mươi tuổi rồi! Thèm cháu nội lắm. Thằng Tân nhiều lần tâm sự với bác, thân nó tật nguyền và suốt đời nói chỉ thương mỗi mình con thôi! Có mấy mối được lắm, nết na có học, nhưng nó đều từ chối. Mỗi chiều bán vé số về tắm rửa cơm nước xong, nó nằm trên võng mắt nhìn lên tấm ảnh nó và con chụp chung chưng trên bàn viết đó. Tay đàn, miệng hát tới khuya. Lần nào bác cũng nghe nó hát bản... Em lây cu... lây cưa... gì đó. Nó hát bản đó hoài sao không chán. Nó nói bản nhạc đó là cuộc đời nó.
    - Nghe xong, Quỳnh buông đũa, ngưng ăn, nắm chặt tay Tân và Quỳnh quay mặt đi để dấu dòng nước mắt tuôn trào. Hồi lâu, nén xúc động, nghẹn ngào Quỳnh hỏi:
    - Anh thương em nhiều đến thế sao Tân?
    Tân xoa xoa vai Quỳnh giọng như muốn khóc:
    - Quỳnh! Em có biết tình yêu và hình bóng em đã nuôi sống cuộc đời tật nguyền của anh.


    Hai người dìu nhau ra ngồi trên băng đá trước hiên nhà. Gió đi lào xào trên tàng cây vú sữa xum xuê trước ngõ, với giọng xúc động, Tân kể lại diễn biến cuộc hành quân sang Lào. Thiết giáp Cộng quân tràn ngập đơn vị, Tân bị đạn đại liên tiện đi mất chân trái. Tân bị bắt làm tù binh, bị giam cầm tại các tỉnh thượng du Bắc Việt, mười ba năm bị giam cầm, cách biệt với thế giới bên ngoài! Mười ba năm ở địa ngục trần gian.

    Năm 1985 họ thả anh, về đây sống với đời buồn tủi tật nguyền, hằng ngày anh đi bán vé số. Hai mẹ con sống cuộc đời cháo rau túng thiếu trong căn nhà kỉ niệm của ba anh, người sĩ quan dù đã chết trong trận Điện Biên Phủ.

    Quỳnh cũng kể cho Tân nghe, từ năm 1972 sau nhiều lần hỏi thăm, kiếm tìm, đơn vị cho biết Tân đã mất tích.
    Tháng 4 năm 1975 gia đình nàng di tản và định cư tại Canada; cha mẹ nàng đã qua đời. Nàng làm việc ở một bệnh viện, em trai nàng đỗ bác sĩ đã lập gia đình được hai con. Riêng Quỳnh vẫn ở vậy.
    “Em nghĩ rằng anh đã chết và em sẽ sống với hình bóng anh suốt cuộc đời này. Bây giờ đang ngồi bên anh em cứ nghĩ mình nằm mơ.”
    Tân cúi xuống, vén tóc Quỳnh, hai người hôn nhau say đắm. Một nụ hôn của ba mươi năm và dài bằng nửa vòng trái đất.
    Buông nhau ra, Quỳnh nũng nịu:
    - Em muốn anh đàn và hát cho em nghe.
    Tân gật đầu và Quỳnh vào nhà mang đàn ra. Dáng hao gầy, gương mặt nhiều nét kỷ hà học, dạo phiếm và Tân cất tiếng hát. Lời bài hát của một thi sĩ té lầu chết trong một cơn say và Phạm Duy phổ nhạc:

    “Phố núi cao phố núi đầy sương
    Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
    Anh khách lạ đi lên đi xuống
    May mà có em, đời còn dễ thương...”



    Tân có ngón đàn thật điêu luyện! Giọng hát khàn đục chuyên chở nỗi niềm chia sẻ, xuyên suốt tim Quỳnh; trôi về thành phố núi của những cô gái má đỏ môi hồng, mái tóc ướt mềm. Thành phố đi năm phút đã về chốn cũ và trong khách sạn Bồng Lai, trên chiếc giường ra trắng muốt, nàng đã trao thân cho Tân trong một đêm mưa kéo dài.

    Trời thật khuya. Trăng thượng tuần sáng vằng vặc. Quỳnh theo Tân vào phòng. Chiếc giường ngủ trải chiếu bong. Quỳnh ngất ngây trong vòng tay Tân. Mùi đàn ông, mùi nếp non rạ mới đã làm Quỳnh phiêu diêu trong hoan lạc tột cùng. Rõ ràng “đêm nay mới thật là đêm - ai đem trăng sáng trải lên vườn chè”.

    Suốt ba tuần lễ ở nhà Tân, Quỳnh và mẹ Tân đi sắm đồ trang trí lại nhà cửa theo sự yêu cầu nhiều lần của nàng. Quỳnh thuê một chiếc xe du lịch đưa mẹ, và Tân ngắm cảnh Ao Bà Ôm. Tân chỉ cho Quỳnh nơi chú Đạt hôn cháu Diễm trong phim Yêu của Chu Tử do tài tử Anh Ngọc và Thanh Lan đóng. Những hàng cổ thụ, rễ dâng cao trên mặt đất! Mặt hồ gió mát! Phong cảnh tuyệt vời. Ba người cũng đi ngắm biển Long Toàn với những đồi cát chập chùng và những bữa ăn cua luộc ngon nhớ đời.

    Bên Quỳnh, Tân như trẻ lại, ăn nói hào sảng như ngày nào khoác áo hoa rừng và đội chiếc mũ nâu.
    Khỏi phải nói! Mẹ Tân thương quý Quỳnh qua cách đối xử phải đạo của nàng! Nhiều lần bà cảm ơn Quỳnh đã mang về đây niềm vui, hạnh phúc cho Tân, đứa con trai duy nhất và cũng là tài sản của đời bà.

    Riêng Quỳnh, sau nhiều đêm ngỏ lời muốn Tân lấy nàng, Tân đã hỏi Quỳnh suy nghĩ kỹ chưa khi chọn một người tật nguyền làm chồng, trước khi chấp nhận, Quỳnh chọn căn nhà cũ kỹ, có giếng nước mát lạnh, tàng cây vú sữa cho bóng mát suốt ngày, làm nơi cư trú suốt đời bên tình yêu nồng nàn của Tân.

    Quỳnh cùng Tân dạo phố, không một mặc cảm ngại ngùng nào “bên người yêu tật nguyền chai đá”. Trái lại, Quỳnh còn thầm hãnh diện có người chồng đã hy sinh một phần thân thể cho quê hương đất nước.

    Trước khi Quỳnh trở lại Canada, gia đình Tân tổ chức một bữa tiệc, mời một ít bà con và một số hàng xóm cạnh nhà để tuyên bố lễ cưới giữa Tân và Quỳnh. Mọi người đều cảm động trước mối tình nồng thắm, cách chia gần ba mươi năm của hai người. Trong tiệc cưới, mẹ Tân đã không cầm được nước mắt khi nhìn thấy hạnh phúc của con trai mình.

    Ba tháng sau, trên chuyến bay Cathay Pacific Airline, Quỳnh đã thu xếp mọi việc ổn thỏa để trở về sống suốt đời ở Việt Nam bên cạnh Tân - chồng nàng.
    Khách cùng chuyến bay ngưỡng mộ nhìn Quỳnh, tay xách túi nhỏ và vai mang một hộp da như đựng nhạc khí kèn đồng.
    Trong quầy khám hành lý, nhân viên hải quan hách dịch hỏi nàng:
    - Sao không thấy bà kê khai hộp da bà mang trên vai. Chúng tôi được lệnh khám xét.
    Quỳnh mở dây kéo, mọi người đều ồ lên một tiếng ngạc nhiên, khi nhìn vào bên trong lớp lót nỉ đỏ. Không có thứ nhạc cụ nào cả mà là một cái chân giả tuyệt đẹp.
    - Bà mang chân giả này về cho ai? Nguyên do nào người này bị tật? Viên hải quan gắt gỏng.
    Quỳnh trả lời một cách bình tĩnh:
    - Nếu ở phi trường nước khác, tôi sẽ từ chối trả lời câu hỏi này. Nhưng ở đây tôi xin trả lời ông: Tôi mang chân giả này về cho chồng tôi! Anh bị thương trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở chiến trường Hạ Lào.
    Sau một lúc bàn thảo, họ đồng ý cho Quỳnh đi. Đẩy xe hành lý bước nhanh một đỗi, Quỳnh còn nghe rõ câu nói hằn học lớn tiếng sau lưng cuả đám Hải quan. Nàngkhông thèm để ý, mỉm cười bước nhanh khi nhìn thấy Tân và mẹ vẫy tay chào nàng ngoài khung của kính bên kia đường.


    Tường Lam
    Last edited by hung45qs; 02-17-2012, 06:27 AM.
    Hung45HTQS

    Comment

    • loc4HTTT
      Người Thân
      • Dec 2011
      • 126

      #32
      câu chuyện quá hay và thật xúc động vô cùng..chuyện tình có kết cuộc như trong mơ, khó có thể xãy ra trong đời thường này...cám ơn Tường Lam...

      Comment

      • hieunguyen11
        Super Member
        • May 2011
        • 2230

        #33
        Chuyện của Tổng Thống Brazil

        Năm 12 tuổi ,vào 1 buổi xế chiều ,có 1 người khách ,là chủ 1 tiệm giặt ủi và nhuộm áo quần đến chiếu cố,3 đứa trẻ chạy lại chào hàng.Ông chủ tiệm nhin vào 3 cặp mắt van xin khẩn khoản đó ,không biết quyết định chọn đứa nào.Cuối cùng ông ta nói : Đứa nào cần tiền nhất ,thì tôi cho nó đánh giầy ,và sẽ trả công 2 đồng „
        Công đánh 1 đôi giầy chỉ có 20 xu ,2 đồng đúng là 1 món tiền rất lớn .3 cặp mắt đều sáng lên.  

        Một đứa nhỏ nói : từ sáng đến giờ cháu chưa được ăn gì cả ,nếu không kiếm được tiền hôm nay ,cháu sẽ chết đói !“
        Đứa khác nói: „ Nhà cháu đã hết thức ăn từ 3 ngày nay ,mẹ cháu lại đang bệnh,cháu phải mua thức ăn cho cả nhà tối nay ,nếu không thì lại bị ăn đòn…“ .

        Cậu Lula nhìn vào 2 đồng bạc trong tay ông chủ-tiệm ,nghĩ ngợi 1 lúc ,rồi nói : “Nếu cháu được ông cho kiếm 2 đồng này ,thì cháu sẽ chia cho 2 đưá đó mỗi đứa 1 đồng !!”

        Câu nói của Lula làm Ông chủ Tiệm và 2 đứa nhỏ kia rất là ngạc nhiên.
        Cậu giải thích thêm: “Tụi nó là bạn thânnhất của cháu,đã nhịn đói hết 1 ngày rồi ,còn cháu thì hồi trưa còn ăn được ít đậu phụng,nên có sức đánh giầy hơn chúng nó, Ông cứ để cháu đánh đi ,chắc chắn Ông sẽ hài lòng”

        Cảm động trước câu nói của thằng nhỏ,Ông chủ tiệm đã trả cho hắn 2 đồng bạc ,sau khi được hắn đánh óng đôi giầy.Và thằng nhỏ Lula giữ đúng lời , đã đưa ngay cho 2 đứa bạn mỗi đứa 1 đồng.

        Vài ngày sau, Ông chủ Tiệm đã tìm đến thằng nhỏ Lula, nhận chú bé cứ sau buổi tan học là đến học nghề ở tiệm giặt nhuộm của ông ta ,và bao cả bữa cơm tối .

        Tiền lương lúc học nghề tuy là rất thấp ,nhưng so với đánh giầy thì khá hơn rất nhiều.
        Thằng bé hiểu rằng :Chính vì mình đã đưa tay giúp đỡ những người khốn đốn ,nên mới đem đến cho mình cơ hội làm thay đổi cuộc đời.

        Từ đó ,miễn là có khả năng,chú bé Lula không ngần ngại giúp đỡ những người sống khốn khổ hơn mình.
        Sau ,Lula nghỉ học đi làm thợ trong 1 nhà máy, để bênh vực cho quyền lợi của những người thợ ,cậu ta tham gia vào công-đoàn ,năm 45 tuổi ,Lula lập ra đảng Lao-Công.

        Năm 2002 ,trong cuộc ứngcử tổng-thống ,khẩu hiệu của Lula là : Ba bữa cơm no cho tất cả những người trong quốc gia này .Và đắc cử làm Tổng Thống xứ Brazil.Năm 2006 đắc cử nhiệm kỳ 2 ,cho 4 năm tới.
        Trong 8 năm tại chức, Ông ta đã thực hiện đúng lời mình đã hứa
        :
        -93% trẻ em và 83% người lớn ở nước này được no ấm.Thực hành đúng tâm niệm : giúp đời !!

        Và nước Ba-tây dưới sự lãnh đạo của Ông đã không còn là "con khủng long nhai cỏ" mà đã trở nên "Con mãnh sư Mỹ Châu". Và xây nên nền kinh tế đứng thứ 10 trên thế giới.

        Luiz Inácio Lula da Silva : đó là tên của vị tổng thống vừa giải nhiệm vào 31.12.2010 này .


        Lula ,sinh ra vào tháng 10 năm 1945,tại 1 gia đình nông dân ở Ba-Tây ( Brazil- Vì nhà nghèo ,nên từ lúc mới 4 tuổi ,thằng nhỏ đã phải đi bán đâu-phụng ngoài đường ,nhưng vẫn quần áo tả tơi ,và thiếu ăn . Sau khi được lên tiểu học ,lúc đó đã dọn lên thủ đô Rio de Janeiro,sau buổi học chú bé thường hay cùng với 2 người bạn cùng lứa đi đánh giầy ở đâu đường ,hôm nào không có khách ,thì coi như là nhịn đói.

        (Sưu Tầm)

        Comment

        • hung45qs
          Administrator
          • Jul 2009
          • 1417

          #34
          Bàn Tay Hy Vọng


          Bức ảnh dưới đây bắt đầu được phổ biến từ tháng 11 vừa qua.Bức ảnh nầy đáng lẽ phải được gọi là” Bức ảnh của năm” hoặc còn có thể gọi “Bức ảnh của thập niên”

          Thật ra, trừ phi các bạn đã có một bản sao của tài liệu được in ra ở Hoa Kỳ, chắc hẵn các bạn chưa được xem.

          Dưới đây là ảnh của bé Samuel Alexandre Armas,được 21 tuần,đang được bác sĩ joseph Bruner giải phẩu…
          Chẩn đoán cho thấy cháu bị dị tật bẩm sinh trầm trọng ở cột sống .
          Mẹ cháu, Julie Armas, là y tá điều dưỡng ở khoa phụ sản tại Atlanta, bà biết phương pháp giải phẩu đặc biệt của bác sĩ Bruner ở Trung Tâm Y Khoa Đại học Vanderbilt ở Nashville.
          Ông giải phẩu em bé từ tử cung của bà mẹ : ông lấy tử cung của người mẹ ra khỏi bụng, ông rạch một đường nhỏ để giải phẩu.

          Trong khi bác sĩ Bruner giải phẩu… bé Samuel đưa ngón tay nhỏ xíu của mình ra từ chỗ đường rạch, ngón tay đã được phát triển toàn vẹn. Ngón tay bé nắm chặt ngón tay của bác sĩ.
          Bác sĩ Bruner kể lại sự kiện nầy như giây phút xúc động nhứt trong đời ông và ông đã phải trải qua một giây bất động hoàn toàn.

          Người nhiếp ảnh đã chớp lấy biến cố đáng ngạc nhiên nầy, anh ta cố gắng chụp một cách rõ nét, sáng rực.
          Các nhà báo đã cho tựa đề ”Bàn tay Hy Vọng”. Bài viết giải nghĩa bức ảnh , bắt đầu bằng:”Bàn tay nhỏ xíu của thai nhi, 21 tuần của Samuel Alexandre Armas ló ra từ tử cung của người mẹ để nắm lấy ngón tay của bác sĩ Joseph Bruner như tỏ ý muốn cám ơn vị bác sĩ đã tặng mình sự sống “…
          Mẹ của Samuel Alexandre Armas nói bà đã khóc mấy ngày trời sau khi thấy tấm ảnh.
          Sau đó bé Samuel sinh ra khỏe mạnh : Cuộc giải phẩu đã thành công 100%.

          Và bây giờ mời các bạn xem bức ảnh : Thật không thể tưởng tượng nỗi và thật xúc động!


          Hung45HTQS

          Comment

          • hung45qs
            Administrator
            • Jul 2009
            • 1417

            #35
            Phép màu giá bao nhiêu?


            Hình thật của cô bé


            Một cô bé tám tuổi nghe cha mẹ mình nói chuyện về đứa em trai nhỏ. Cô bé chỉ hiểu rằng em mình đang bị bệnh rất nặng và gia đình cô không còn tiền. Chỉ có một cuộc phẫu thuật rất tốn kém mới cứu sống được em trai cô bé, và cha mẹ em không tìm ra ai để vay tiền. Do đó, gia đình em sẽ phải dọn đến một căn nhà nhỏ hơn vì họ không đủ khả năng tiếp tục ở căn nhà hiện tại sau khi trả tiền bác sĩ.

            Cô bé nghe bố nói với mẹ bằng giọng thì thầm tuyệt vọng: “Chỉ có phép màu mới cứu sống được Andrew”. Thế là cô bé vào phòng mình, kéo ra một con heo đất được giấu kỹ trong tủ. Em dốc hết đống tiền lẻ và đếm cẩn thận.

            Rồi cô bé lẻn ra ngoài bằng cửa sau để đến tiệm thuốc gần đó. Em đặt toàn bộ số tiền mình có lên quầy.
            Người bán thuốc hỏi: “Cháu cần gì?”
            Cô bé trả lời: “Em trai của cháu bệnh rất nặng và cháu muốn mua phép màu.”
            - Cháu bảo sao? – Người bán thuốc hỏi lại.
            - Em cháu tên Andrew. Nó bị một căn bệnh gì đó trong đầu mà ba cháu nói chỉ có phép màu mới cứu được nó. Phép màu giá bao nhiêu ạ?
            - Ở đây không bán phép màu, cháu à. Chú rất tiếc – Người bán thuốc nở nụ cười buồn và tỏ vẻ cảm thông với cô bé.
            - Cháu có tiền trả mà. Nếu không đủ, cháu sẽ cố tìm thêm. Chỉ cần cho cháu biết giá bao nhiêu?
            Trong cửa hàng còn có một vị khách ăn mặc thanh lịch. Sau khi nghe câu chuyện, ông cúi xuống hỏi cô bé: “Em cháu cần loại phép màu gì?”

            - Cháu cũng không biết nữa – Cô bé trả lời, rơm rớm nước mắt. “Nhưng em cháu rất cần phép màu đó. Nó bị bệnh nặng lắm, mẹ cháu nói rằng nó cần được phẫu thuật, và hình như phải có thêm loại phép màu gì đó nữa mới cứu được em cháu. Cháu đã lấy ra toàn bộ số tiền để dành của mình để đi tìm mua phép màu đó.”
            - Cháu có bao nhiêu? – Vị khách hỏi. Cô bé trả lời vừa đủ nghe: “Một đô la mười một xu.”
            Người đàn ông mỉm cười: “Ồ! Vừa đủ cho cái giá của phép màu”.

            Một tay ông cầm tiền của cô bé, tay kia ông nắm tay em và nói: “Dẫn bác về nhà cháu nhé. Bác muốn gặp em trai và cha mẹ cháu. Để xem bác có loại phép màu mà em cháu cần không.”


            Em trai cùng vị bác sĩ giàu lòng nhân ái.

            Người đàn ông thanh lịch đó là Bác sĩ Carlton Armstrong, một phẫu thuật gia thần kinh tài năng. Ca mổ được hoàn thành mà không mất tiền, và không lâu sau Andrew đã có thể về nhà, khỏe mạnh.

            Mẹ cô bé thì thầm: “Mọi chuyện diễn ra kỳ lạ như có một phép màu. Thật không thể tưởng tượng nổi. Thật là vô giá!”. Cô bé mỉm cười. Em biết chính xác phép màu giá bao nhiêu. Một đô la mười một xu, cộng với niềm tin chân thành của một đứa trẻ, và lòng tốt của người bác sĩ.


            Sưu tầm
            Hung45HTQS

            Comment

            • hung45qs
              Administrator
              • Jul 2009
              • 1417

              #36
              Hai nửa hy sinh


              Khi cô giật mình tỉnh dậy giữa đêm vì lạnh, anh thường ôm chặt cô vào lòng, dùng hơi ấm của cơ thể sưởi cho cô.


              Cô vốn là một người con gái xinh đẹp. “Vệ tinh” xung quanh cô nhiều không kể xiết, nhưng cô bỏ ngoài tai tất cả để chọn anh – một công nhân làm việc ở nhà máy, thu nhập còn không đủ cho 3 bữa ăn hàng ngày. Cô chấp nhận từ bỏ cả gia đình, thậm chí là công việc đầy tương lai của mình để cưới anh.

              Sau khi kết hôn, anh và cô mượn được nhà kho của một người bạn, họ sắp xếp lại thành một tổ ấm giản dị. Mùa đông đến, căn nhà kho trống trải hút gió lại càng trở nên lạnh giá. Khi ấy chưa đủ tiền mua chăn, cô thường bị giật mình tỉnh dậy giữa đêm vì lạnh. Những lúc đó, anh chỉ biết ôm chặt cô vào lòng, dùng hơi ấm của cơ thể sưởi ấm cho cô.

              Một ngày cô trở về nhà với vẻ mặt thất thần nhợt nhạt, anh lo lắng hỏi cô có phải bị bệnh rồi không? Cô chỉ mỉm cười nói: “Em hơi mệt thôi!” rồi hân hoan rút từ trong túi ra một tờ bạc nhét vào tay anh: “Chúng mình có tiền rồi anh ạ, mình đi mua một chiếc chăn thật ấm để đắp nhé.”

              Anh sững người ngạc nhiên nhìn tờ tiền trong tay cô, giọng run run: “Làm sao em lại có nhiều tiền vậy?”
              Cô vui vẻ kể lại cho anh tiền là do cô kiếm được khi đi phát tờ rơi. Cô phải đứng từ sáng đến tối mới được trả ngần ấy tiền. Nói rồi cô vội vàng kéo anh ra khỏi nhà, không cho anh hỏi thêm điều gì nữa. Họ mua môt cái chăn vừa tầm tiền.
              Từ đó, giữa đêm cô không còn bị giật mình thức giấc nữa.


              Vài năm sau, anh tìm được công việc tốt hơn, rồi kiếm được nhiều tiền, tự mở công ty. Không bao lâu anh đã xây cho cô một ngôi nhà khang trang, mua ô tô cùng rất nhiều đồ dùng đắt tiền khác. Anh nói muốn dành cho cô một cuộc sống ấm no đầy đủ bù đắp lại những tháng ngày khó khăn vất vả trước đây. Cuộc sống bỗng vụt thay đổi khiến cô có phần
              bàng hoàng chưa kịp thích nghi với điều kiện mới.

              Ngày chuyển nhà, anh bảo những đồ đạc cũ trong căn nhà kho của họ trước đây anh đều muốn vứt đi không giữ lại bất cứ cái gì. Nhưng cô khăng khăng nói muốn giữ lại cái chăn để đắp. Và rồi một thời gian dài nữa họ vẫn dùng cái chăn cũ ấy, giờ đây nó đã trở nên xù xì cũ kĩ, còn bị rách khá nhiều chỗ.

              Anh không ngừng phàn nàn với cô: “Thôi bỏ cái chăn cũ này đi em, mình có thể mua một cái chăn mới ấm áp và tốt hơn rất nhiều. Em xem cả nhà mình toàn những đồ đắt tiền, nhìn cái chăn cũ này trong nhà trông thật chướng mắt”.
              Nhưng cô vẫn cố chấp nhất quyết giữ lại cái chăn cũ ấy, vì chỉ khi đắp nó cô mới cảm thấy ấm áp và được che chở.

              Một hôm, anh về nhà mang theo một cái chăn mới và nhất quyết bảo cô bỏ cái chăn cũ đi. Lần này dù không nỡ nhưng cô vẫn nghe theo lời anh. Từ đó, hàng đêm cô ngủ không còn ngon giấc nữa, trong lòng cô lúc nào cũng cảm thấy thấp thỏm lo lắng khiến cô lại không ngừng giật mình giữa đêm. Và mỗi lần tỉnh dậy như thế, hai mắt cô lại đầm đìa nước.

              Anh vốn không biết rằng để mua được cái chăn đó cô đã phải đi bán máu lấy tiền chứ không phải đi phát tờ rơi như cô nói với anh. Lần đầu tiên bán máu, biết bao đau đớn, cũng chỉ vì muốn có cái chăn này. Vậy mà anh lại nỡ vất bỏ nó. Cô dần cảm thấy anh không còn yêu cô như xưa nữa.

              Một ngày anh có việc gấp phải ra ngoài, quên mang theo máy tính xách tay quen thuộc. Trên màn hình của anh vẫn hiện lên trang blog anh viết hàng ngày. Và cô bất chợt đọc được dòng chữ anh hình như mới viết không lâu.

              “Ngày hôm ấy em từ đâu về khuôn mặt tái xanh nhợt nhạt khiến cho tôi lo lắng vô cùng. Rồi em nói em đi phát tờ rơi để mua chăn cho hai đứa. Tối hôm đó chúng tôi nằm ngủ ấm áp trong chiếc chăn mới, thấy em nằm cuộn tròn trong lòng tôi say trong giấc ngủ, tôi thương em biết bao.

              Đã bao đêm rồi em không được ngủ ngon đến vậy. Và rồi tình cờ tôi nhìn thấy trên tay em có một vết sưng nhỏ, dường như bị kim tiêm đâm vậy. Tôi bỗng hiểu ra tất cả. Hóa ra em nói dối tôi em đi phát tờ rơi, thực ra em đã đi bán máu để có tiền mua chăn, chỉ vì một cái chăn mà em đã phải khổ sở đau đớn đến vậy. Đêm đó tôi đã khóc vì thương em và cũng thầm hứa sẽ cố gắng làm việc, phấn đấu trở thành một người thành đạt, để có thể bù đắp lại những ngày tháng khốn khó này cho em. Và giờ đây tôi đã thực hiện được lời thề đó. Hôm qua tôi quyết định đến trạm hiến máu, tôi chỉ muốn cảm nhận một chút nỗi đau em từng trải qua. Khi chiếc kim tiêm đâm vào mạch máu, một cảm giác nhói buốt lan dọc khắp cơ thể. Nhưng tôi không thấy đau, ngược lại, rất hạnh phúc. Tôi lấy tiền bán máu và đi mua chiếc chăn mới này. Tôi muốn nó là món quà bất ngờ dành cho em…”


              Nước mắt cô đã ướt đẫm tự độ nào. Hóa ra tình yêu của anh dành cho cô vẫn sâu đậm và lớn lao đến vậy. Mùa đông năm nay anh đã đổi máu của mình tặng cho cô chiếc chăn ấm, có lẽ đó cũng sẽ là chiếc chăn ấm áp nhất cô có trong đời…
              Last edited by hung45qs; 04-11-2012, 11:39 PM.
              Hung45HTQS

              Comment

              • hung45qs
                Administrator
                • Jul 2009
                • 1417

                #37
                Ông Giáo Sư Dạy Sử


                Tác Giả: Vương Mộng Long-K20
                Thứ Hai, 23 Tháng 4 Năm 2012 21:29


                Một chiều cuối năm 1998 tôi vào Trường University of Washington (UW) để đón đứa con gái áp út tan giờ học.


                Tình cờ tôi nhìn thấy một ông già đứng chờ xe bên bến Bus. Có lẽ ông cụ lớn tuổi hơn tôi nhiều. Hỏi chuyện, tôi mới hay, ông cụ đã qua tuổi bảy mươi, ăn tiền hưu, và đang học môn Truyền Thông (Communication) năm Senior. Tôi chợt nghĩ, thời gian này mình cũng không bận lắm, tại sao không trở lại trường? Ít ra cũng học thêm được vài điều hay. Thế là, hôm sau tôi nộp đơn xin trắc nghiệm trình độ Toán và Anh Văn để xếp lớp tại Shoreline Community College (Shoreline C. C.).
                So với các trường đại học cộng đồng quanh vùng, thì học phí của Shoreline C. C. tương đối nhẹ.Thật là, không có gì diễn tả nổi niềm vui sướng tột cùng của tôi buổi đầu được cắp cặp trở lại trường làm học trò. Ba mươi lăm năm sau khi rời ghế nhà trường (1963) để tình nguyện vào quân ngũ, tôi đâu ngờ còn có ngày được ngồi dưới lớp nghe lời thầy giáo giảng? Xung quanh tôi là những người trẻ tuổi vừa qua bậc trung học.Tôi làm việc mười tiếng đồng hồ một ngày, bốn ngày một tuần lễ. Ngày, ngày, vừa tan sở, tôi lại vội lái xe tới lớp. Từ ấy, tôi làm việc full-time, đi học full-time, bận bịu vô cùng. Học kỳ (quater) đầu tiên, tôi ghi danh một lớp Toán, và hai lớp Anh Văn, mỗi lớp 5 tín chỉ (credit). Tôi miệt mài trong công việc suốt ngày, và chuyên cần trong học tập mỗi đêm. Vào mùa thi, tôi thức trắng hai, ba đêm là thường. Tôi ghi danh full-time để thúc đít thằng con út. Thằng nhỏ sợ ông bố theo kịp, nên phải gắng chạy có cờ để thoát lên đại học bốn năm.

                Một niên khóa trôi qua. Con đường học hành của tôi đang có vẻ rộng mở thênh thang, thì bỗng dưng lại quẹo vào một khúc quanh, chỉ vì mùa Fall 2000 tôi đã ghi danh lớp History 274 “U.S. and Vietnam”.
                Tôi “lấy” lớp Sử Ký này với mục đích tìm hiểu xem cuộc chiến tranh vừa qua đã được các sử gia Mỹ ghi chép lại như thế nào? Từ đó, hy vọng biết được phần nào, nguyên nhân vì sao, giữa đường, Mỹ đã bỏ rơi Việt-Nam, vì sao chúng ta đã thua trận.

                Người từ lâu độc quyền phụ trách lớp Sử 274 là thầy Dan. Trong thời gian dài cả chục năm qua, ông giáo kỳ cựu này đã đào tạo hàng ngàn môn sinh. Những học trò của ông sau khi chuyển tiếp lên trường đại học bốn năm, đã trở thành những Thạc Sĩ, Tiến Sĩ. Lâu lâu họ lại ghé về trường xưa, thăm ông thầy cũ.

                Lớp “U.S. and Vietnam” mùa Fall 2000 có chừng hơn hai chục học viên, trong đó da trắng chiếm đa số. Có bốn học trò gốc Châu Á, gồm hai anh Tàu lục địa, một cậu bé H’Mong và tôi. Bạn đồng lớp với tôi còn nhỏ lắm. Họ trẻ hơn mấy đứa con tôi nhiều.


                Tôi cứ tưởng rằng những tài liệu lịch sử mà các thầy giáo đem truyền bá, phải nằm trong chương trình đã kiểm duyệt và cho phép của Bộ Giáo-Dục Hoa-Kỳ. Nhưng thực tế không phải vậy. Nền giáo dục của Mỹ đã đi vào tự trị từ lâu. Thầy giáo có toàn quyền lèo lái, hướng dẫn con thuyền học vấn chở học trò mình tới bất kỳ bến bờ nào mà thày đã chọn. Thầy giáo chỉ định sách giáo khoa nào thầy sẽ dạy để chúng tôi mua. Thầy phổ biến những tài liệu nào mà thầy ưng ý. Trong hai phần ba thời gian đầu của học kỳ Fall 2000, mỗi khi nói tới phong trào Việt-Minh, ông giáo sư dạy Sử không ngớt ca tụng HCM như một lãnh tụ tài ba, và vô cùng sáng suốt đã khôn khéo hướng dẫn dân tộc Việt -Nam tới chiến thắng thoát ách đô hộ của Đế-Quốc Pháp.

                Thầy khẳng định rằng, chính phủ Hoa-Kỳ là nguyên nhân cuộc chiến tranh Đông-Dưong lần thứ hai (1954-1975). Vì theo lời thầy, thì HCM đã năm lần gửi mật thư cho Tổng Thống Harry Truman để xin thần phục và hợp tác, nhưng Tổng Thống Harry Truman đã từ chối. Thầy cho rằng người Mỹ đã lầm lẫn trợ giúp quân Pháp trở lại tái chiếm Đông-Dương trong khi cao trào dân chủ, đấu tranh giành độc lập đang lan tràn trên toàn thế giới, và chủ nghĩa thực dân đã lỗi thời.

                Chúng tôi đã được cho xem những đoạn phim cũ về trận Điện-Biên Phủ, về Hiệp- Định Geneve, và về cuộc di cư năm 1954. Với những trận có âm vang quốc tế như Plei-Me, Khe- Sanh, Kontum, Bình-Long, Long-Khánh vân vân... chúng tôi chỉ được thấy những cảnh thương vong của quân đội Đồng-Minh và Việt-Nam-Cộng-Hòa. Trận Mậu-Thân, chỉ là cảnh... nhà cháy, dân chạy loạn. Tất cả những “tư liệu” này đều có thực, nhưng thầy Dan chỉ trưng bày những phần có lợi cho Việt-Cộng. Tôi chưa nghe được từ miệng thầy một lời nói tốt nào cho phía Việt-Nam Cộng-Hòa. Thầy mô tả Quân- Lực Việt-Nam Cộng-Hòa như một đội quân kém cỏi về cả tổ chức lẫn khả năng tác chiến. Với thầy Dan, chiến tranh Việt-Nam chỉ là một gánh nặng cho ngân sách Quốc-Phòng Hoa-Kỳ, một sự phí phạm công quỹ. Đã có đôi lần tôi dơ tay nêu ý kiến bênh vực quân đội ta, chính quyền ta, thì ông chỉ cười, chỉ tay vào quyển Sử dày cộm,
                “Book said!”

                Cứ cái điệp khúc “Sách dạy!” đó, ông thầy phản chiến đã lịch sự gián tiếp nhắc nhở cho tôi hay rằng, tôi là một học trò, còn ông là một vị giáo sư nói có sách, mách có chứng.
                Thầy hùng hồn thuật lại những lần thầy tham gia biểu tình chống chiến tranh thời 1960s và nặng lời đả kích lệnh động viên ngày đó, đã đưa hàng trăm ngàn thanh niên Hoa-Kỳ vào chỗ chết.

                Kết quả hai lần khảo hạch giữa học kỳ (Mid-Term) tôi đều lãnh điểm (F) bởi vì tôi chỉ làm trót lọt phần A, B, C khoanh, còn về bài tiểu luận (essay) thì tôi bị loại thẳng tay.
                Cả hai bài đều lãnh điểm KHÔNG (0) chỉ vì tôi đã viết không hợp ý ông thày. Ngặt một điều là, lớp History 274 này bị tính điểm đem lên trường đại học bốn năm. Bị đánh rớt lớp này thì giấc mơ chuyển tiếp lên University of Washington của tôi sẽ thành mây khói.

                Tôi theo học lớp này đúng vào lúc nhà trường đang sôi sục với cuộc vận động bầu cử Tổng Thống. Ông thầy dạy Sử không phải là người độc nhất có ác cảm với chiến tranh, mà Tiểu-Bang Washington tôi đang cư ngụ cũng là thành trì của Đảng Dân-Chủ. Tâm sự này kiếm cả trường chắc cũng chẳng có ai thông cảm!

                Thời gian này lòng tôi thật muộn phiền. Tôi tự trách rằng, mùa Fall 2000 có thiếu gì lớp tương đương với History 274 mà sao tôi lại nộp mạng vào cái lớp chết tiệt này? Đúng là bỏ tiền ra ghi danh để ngồi nghe người ta chửi mình, chửi quân đội mình. Càng nghĩ tôi càng thấy tức! Thằng con trai thấy ông bố rầu rầu bèn lân la hỏi chuyện. Khi hiểu nguồn cơn nỗi buồn của tôi, nó mới cho tôi hay, năm ngoái nó cũng ghi danh học lớp này, và đã bị một “vố” đau. Để thoát thân, từ bài thi thứ nhì nó phải viết theo ý ông giáo. Vất vả lắm nó mới kiếm được đủ điểm.

                Sau ngày có kết quả khảo hạch kỳ thứ nhì, tôi bỏ công xuống thư viện nghiên cứu, sao chép những tài liệu sử liên quan tới chiến tranh Việt-Nam. Tôi không màng đến vấn đề chuyển tiếp lên University of Washington nữa. Tôi chờ, nếu có cơ hội là tôi sẽ “choảng nhau” với ông giáo phản chiến này một trận, rồi muốn ra sao thì ra.Tôi lục lạo kệ sách loại chọn lọc (preference) và tìm được một quyển Sử-Ký, trong đó, chứa đựng nhiều tài liệu ghi chép rõ ràng những thành quả mà Việt-Nam Cộng-Hòa đã thực hiện được. Trong số những tài liệu quý giá đó, có cả một bài đề cập tới đơn vị tôi, Liên Đoàn 2 Biệt-Động-Quân. Tôi vui mừng và cẩn thận photo copy những gi thu nhận được để dùng làm bằng chứng khi cãi lý với ông giáo sư dạy Sử. Tôi cũng tận dụng thời gian rảnh cuối tuần để sắp xếp cho có thứ tự những điều cần tranh luận. Tôi ghi sẵn những câu phê bình, những câu chất vấn thẳng thắn với thầy Dan về cung cách giáo dục học trò của ông, và về những tài liệu mà ông đã dùng để trợ huấn.Buổi học áp chót của mùa Fall chúng tôi có một giờ đầu thi A, B, C khoanh. Sau đó thày giáo phát đề bài làm ở nhà. Thời gian còn lại, thày sẽ giảng gợi ý cho bài tiểu luận. Bài tiểu luận sẽ phải giao nộp vào đầu giờ buổi học cuối cùng.Vừa nghe chuông giải lao, tôi tiến tới bàn ông giáo Sử. Dù trong bụng đã chuẩn bị sẵn một mớ ngôn từ đao to búa lớn cho một cuộc đấu khẩu sống mái, nhưng tôi vẫn dằn lòng, nhỏ nhẹ,
                - Thưa giáo sư. Xin giáo sư vui lòng cho phép tôi được trình bày với ông đôi điều liên quan tới sự giảng dạy của ông trong thời gian vừa qua. Tôi có thể làm phiền ông vài phút được không?
                Thầy Dan niềm nở,
                - Dĩ nhiên là được. Ông có điều gì cần cứ nói.
                Thấy câu chuyện đã mở đầu trót lọt, tôi mạnh miệng,
                - Thưa giáo sư, tôi là một người Việt-Nam tị nạn. Tôi là một cựu sĩ quan của Quân-Đội Việt-Nam Cộng-Hòa. Tôi còn nhớ trong bài giảng đầu tiên, thầy có nhắc đi, nhắc lại rằng, phi vụ đầu tiên của pháo đài bay B 52 trên Cao Nguyên Việt-Nam là vụ oanh tạc Thung Lũng Ia-Drang.Thầy có biết không? Cũng vào ngày hôm đó, tôi đang tập dượt lễ mãn khóa sĩ quan Trường Võ-Bị Quốc-Gia Việt-Nam. Và mười năm sau, trước khi tàn cuộc chiến, vùng đất mà tôi chịu trách nhiệm trấn giữ cũng bao gổm cả cái Thung Lũng Ia-Drang đó.


                Thầy chỉ biết tới những trận đụng độ đẫm máu trong thung lũng Ia-Drang qua báo chí, truyền thanh, và truyền hình.Còn tôi là người đã lặn lội mười năm ở đó, đã nhiều lần bị thương đổ máu ở đó, đã rơi lệ vuốt mắt cho nhiều đồng đội nằm xuống ở đó. Trong số những người nằm xuống ấy, không thiếu những thanh niên Mỹ đồng trang lứa với thầy. Nơi đó chúng tôi chiến đấu quên mình từng ngày, vì nền độc lập của đất nước tôi, và vì quyền lợi của nước Mỹ.Thầy chưa từng khoác áo nhà binh, chưa một lần có mặt trên chiến trường. Suốt đời thầy không hiểu nổi thế nào là niềm kiêu hãnh của một người lính chiến, thế nào là lòng khát khao chiến thắng, thế nào là tình huynh đệ chi binh.

                Suốt đời thầy không hiểu được vì sao hơn hai chục thương binh què quặt của một đơn vị Biệt Động Quân Việt-Nam Cộng- Hòa phải mở đường máu rút lui mà vẫn cưu mang theo ba người lính Mỹ, trong đó có hai người bị trọng thương; và vì sao một đại tá Hoa-Kỳ đã đưa thân che chở cho một thương binh Việt-Nam để rồi ông bị mảnh đạn vỡ đầu.Mạng lưới truyền thông thiên Cộng khổng lồ của Hoa-Kỳ đã tiếp tay với bộ máy tuyên truyền của Cộng-Sản Quốc-Tế cố tình xuyên tạc, bóp méo tất cả những c liên quan tới nguyên nhân, diễn tiến, và hậu quả của cuộc Chiến-Tranh Việt-Nam. Từ đó, tên Việt-Cộng khát máu HCM đã được tô vẽ, đánh bóng thành một vị lãnh tụ đức độ anh minh.

                Chính tên sát nhân này và đảng Cộng-Sản Việt-Nam đã giết oan không biết bao nhiêu đồng bào vô tội của tôi trong suốt thời gian ba mươi năm chiến tranh. Nằm trong số hàng trăm ngàn nạn nhân bị giết, tù đầy, thủ tiêu, cha tôi và chú tôi cũng bị chặt đầu trôi sông trong thời gian đó. Nếu chế độ Cộng-Sản là tốt đẹp, thì đã không có một triệu dân miền Bắc di cư vào Nam sau Hiệp-Định Geneve năm 1954, và sẽ chẳng có những cuộc vượt biên bi thảm của hàng triệu thuyền nhân trên biển bỏ quê hương sau khi Miền Nam rơi vào tay Cộng-Sản năm 1975. Thầy chỉ mới thấy hình bé gái Kim Phúc trần truồng, vừa khóc vừa chạy, thân mình phỏng cháy vì bom Napalm của quân Đồng-Minh đánh lầm vào nhà dân, mà thầy đã thấy xót xa, cho rằng quân Đồng-Minh tàn ác.

                Nếu thầy ở vào vị trí của tôi, không hiểu thầy sẽ nghĩ sao? Ngày 18 tháng Tư năm 1974, sau khi tái chiếm Căn Cứ Hỏa-Lực 711, Pleiku, tôi đã tận mắt chứng kiến một cảnh dã man chưa từng thấy. Trong một căn hầm trú ẩn đầy ruồi nhặng, trên chiếc giường tre là cái xác trần truồng của một người vợ lính. Chị bị Việt-Cộng lột hết quần áo, bị hãm hiếp, rồi bị đâm chết bởi nhiều nhát lưỡi lê, ruột gan lòi lòng thòng. Trên nền đất, máu đọng thành vũng. Trong góc hầm là xác đứa con trai hai tuổi của nạn nhân. Cháu bé bị trói hai tay, hai chân bằng dây dù và cũng bị hàng chục nhát lưỡi lê đâm vào bụng, vào ngực. Hai người này vừa theo chuyến xe tiếp tế của đơn vị lên thăm chồng và cha của họ được vài ngày. Họ đã không kịp chạy khi Việt-Cộng tràn ngập căn cứ trưa 15 tháng Tư năm 1974.

                Câu chuyện vừa tới đây thì hết giờ giải lao, học trò trở lại lớp. Ông giáo vỗ vai tôi,
                - Ông cứ ngồi đây, ta sẽ tiếp tục.
                Rồi ông lớn tiếng cho phép lớp nghỉ sớm, để học trò có thời gian chuẩn bị bài thi viết. Chờ cho người học trò sau cùng ra khỏi cửa, thầy Dan nói nhỏ với tôi,
                - Ông hãy tiếp tục câu chuyện của một nhân chứng sống. Tôi mong được nghe thêm. Tôi không ngần ngại, tiếp lời,
                - Cám ơn giáo sư. Tôi chỉ nói những gì thấy tận mắt, nghe tận tai, và những gì xảy ra cho chính bản thân và gia đình tôi để thầy có một nhận định chính xác về cuộc chiến tranh Việt-Nam đã ảnh hưởng như thế nào đối với người dân Việt. Tôi tâm sự với thầy Dan rằng, tôi là một học trò tốt nghiệp trung học vào đúng thời điểm đất nước lâm nguy nên tôi đã tình nguyện vào quân ngũ để cứu nước. Tôi tóm lược cuộc đời chinh chiến của mình cho ông giáo nghe. Tôi thấy thầy Dan đặc biệt lưu tâm tới những chiến dịch xảy ra trên Tây-Nguyên, và ông có vẻ rất quen thuộc với những địa danh Ban-Mê-Thuột, Pleiku, Plei-Me, Đức-Cơ, Kontum. Nghe tôi nói ở Tây-Nguyên chiến trận, chết chóc xảy ra hàng ngày, ông vội hỏi,
                “Mỗi lần ra trận, ông có sợ không?”
                Tôi cứ tình thực trả lời,
                Sợ chứ! Vào chỗ chết, ai mà không sợ? Nhưng tinh thần trách nhiệm đã làm cho tôi quên cái sợ.Thấy ông giáo sư có vẻ muốn nghe truyện chiến trường, muốn hiểu tâm tư người đi trận ra sao, tôi đã không ngần ngại thuật lại hoàn cảnh của tôi trong trận Dak-Tô năm 1969. Cuối trận này tôi đã phải mở khói đỏ yêu cầu máy bay đánh ngay trên đầu mình để cùng chết với quân thù. Vào giờ phút tuyệt vọng nhứt của trận đánh đó, tôi đã nghĩ gì, tôi cũng thổ lộ cho ông giáo biết. Ông giáo sư đã từng nghe nói tới cái tên “Đường Mòn HCM” nhưng chưa bao giờ ông ngờ rằng đó là cả một hệ thống đường giao thông chằng chịt che dấu dưới rừng già dọc Trường-Sơn. Tôi đã chia sẻ với ông những cảm giác hồi hộp, căng thẳng của người có cái kinh nghiệm đi toán Viễn-Thám săn tin dọc biên giới Việt-Miên-Lào từ Khâm-Đức tới Bu-Prang vào những năm 1972-1973.

                Ông cũng rất hứng thú khi nghe tôi thuyết trình về kỹ thuật bắn xe tank mà Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân đã áp dụng trong trận Xuân-Lộc tháng Tư năm 1975. Trận Xuân-Lộc này ông có nghe qua, nhưng ông không ngờ, một trong những cấp chỉ huy trực tiếp của trận đánh lừng lẫy ấy đang ngồi trước mặt ông. Tôi không quên nói tới những lần dừng quân bên xóm làng quê nghèo nàn, nhận những bát nước chè xanh, những củ khoai luộc của đồng bào tôi đem ra mời mọc. Tình quân dân cá nước ấy đã là những liều thuốc bổ giúp tinh thần chúng tôi mạnh mẽ hơn khi đối mặt với quân thù.Tôi thuật lại cho thầy nghe, trong tình thế hoàn toàn tuyệt vọng, chúng tôi đã chiến đấu kiên cường như thế nào.


                Và sau khi biết rằng chỉ trong vòng một tháng cuối cùng, chín mươi phần trăm của quân số hơn năm trăm người thuộc Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân đã chết vì tổ quốc, thì ông giáo đã giơ hai tay lên trời, lắc đầu thốt ra hai tiếng,
                “Trời ơi!”

                Thầy Dan cũng muốn tìm hiểu xem, sau khi mất nước thì số phận của tôi và gần một triệu quân nhân, công chức chính quyền Việt-Nam Cộng-Hòa ra sao. Ông đã trố mắt ngạc nhiên khi biết ra rằng, từ sau tháng Tư năm 1975, khắp đất nước tôi, “Trại Cải Tạo” đã mọc lên như nấm. Cái tên “Re-Education Camp” mà ông đã nghe qua, trên thực tế chỉ là những trại tù khổ sai. Những “học viên” trong các trại đó sống không khác gì những con vật, quằn quại với cái đói. Họ bị ép buộc làm việc tới kiệt lực. Tinh thần bị khủng bố, căng thẳng liên miên bởi những buổi ngồi đồng học tập, phê bình, bầu bán. Tôi thú thật với ông giáo rằng, trong thời gian đó, tôi chỉ nghĩ tới tự do; làm sao để tìm lại được tự do, dù có chết cũng cam lòng. Ông giáo đã tỏ ra say mê theo dõi truyện hai lần tôi trốn trại thất bại, cùng những cực hình mà tôi phải gánh chịu. Tôi cũng không ngần ngại thuật lại hoàn cảnh của vợ tôi ngày đó, một nách bốn đứa con thơ dại, vất vả, tảo tần nuôi con, chờ chồng trong 13 năm tôi bị giam giữ, tù đầy.

                Tôi cho ông giáo biết tôi là người sinh ra tại Miền Bắc Việt-Nam. Tháng 7 năm 1954 gia đình tôi đã cùng gần một triệu người khác di cư vào Nam để trốn lánh Cộng-Sản. Tôi cặn kẽ phân tích cho thầy rõ, sau Hiệp-Định Geneve năm đó, hai miền Nam, Bắc Việt-Nam đã thành hai quốc gia, độc lập và có chủ quyền, có biên giới. Chính HCM và đảng Cộng-Sản Việt-Nam đã chủ trương, phát động và điên rồ theo đuổi một cuộc chiến tranh tiến chiếm Miền Nam . Quân đội và nhân dân Việt-Nam Cộng-Hòa chỉ làm nhiệm vụ tự vệ. Quân Mỹ và Đồng-Minh vào Việt - Nam là để phụ giúp chúng tôi chống lại một cuộc xâm lược từ phương Bắc.

                Chúng tôi thất trận không phải vì chúng tôi kém khả năng, thiếu tinh thần chiến đấu, mà vì người Mỹ đã phản bội, nửa đường rút quân, cắt viện trợ. Từ khi người Mỹ rút lui, chúng tôi bị bó chân bó tay, bụng đói mà vẫn phải chiến đấu. Trong khi đó, Miền Bắc lại tràn ngập lương thực, quân dụng, quân nhu, và vũ khí viện trợ từ khối Cộng. Thời gian khởi đầu chương trình Việt-Nam- Hóa chiến tranh, còn được cung ứng vũ khí, lương thực dồi dào, chúng tôi đã chứng tỏ khả năng có thể cáng đáng bất cứ nhiệm vụ nào của quân đội Đồng-Minh bàn giao lại.Để chứng minh điều này, tôi mở tờ copy từ quyển History của thư viện, trong đó có sơ đồ các cánh quân Việt-Nam Cộng-Hòa vượt biên tiến chiếm miền Bắc Cam-Bốt trong chiến dịch Bình Tây 1, 2, 3 cuối năm 1970 của Quân Đoàn II. Tôi chỉ cho ông cái dấu hiệu quân sự hình tam giác có chữ R ở giữa, cạnh trên có ba cọng râu, bên trái là con số 2,

                - Đây! Thưa thầy, cuối năm 1970, tại vùng 2 Chiến Thuật, chúng tôi đã đánh đuổi quân Bắc Việt tới bờ đông của sông Mê-Kông trên đất Miên. Ngày đó tôi là người chỉ huy một đơn vị trực thuộc Liên-Đoàn 2 Biệt-Động-Quân. Tôi đã đánh chiếm thành phố Ba-Kev, và đóng quân tại nơi này một thời gian. Chúng tôi đã chứng tỏ rằng khả năng chiến đấu của chúng tôi đã hơn hẳn quân đội Bắc Việt. Nhưng những năm sau, viện trợ cắt giảm dần. Mặc dầu tinh thần của chúng tôi không suy giảm, nhưng chiến đấu trong cảnh thiếu thốn thường xuyên, chúng tôi vất vả lắm. Tôi xin đan cử ra đây một so sánh để thầy thấy rõ sự khác biệt.

                Trước khi Mỹ rút, tháng 6 năm 1968, có một lần tôi đang dàn quân tiến chiếm một ngọn đồi thì Bộ Chỉ Huy Task Force South của Mỹ ở Đà -Lạt đã bắt tôi ngừng lại để chờ pháo binh và không quân yểm trợ. Tôi đã nhận được một phi tuần hai phi xuất F4C và sau đó là một hỏa tập tám trăm quả đạn đại bác 105 ly trên mục tiêu trước khi xung phong. Mục tiêu đó chỉ rộng bằng diện tích khuôn viên trường Shoreline C. C. này. Chỉ hơn một năm sau khi Mỹ rút, tháng 8 năm 1974, tiền đồn Plei-Me do tôi trấn giữ đã bị một lực lượng địch đông gấp chín lần vây hãm 34 ngày đêm. Plei-Me cũng chỉ rộng bằng trường Shoreline C.C. thôi. Vậy mà mỗi ngày chúng tôi đã hứng chịu từ một ngàn tới hai ngàn viên đạn pháo cối của địch. Để chống lại, ngoài hai khẩu 155 ly của quân bạn yểm trợ từ xa, tôi chỉ có hai khẩu đại bác 105 ly. Vì tình trạng khan hiếm, tôi chỉ được phép bắn theo cấp số đạn giới hạn là bốn viên cho mỗi khẩu súng một ngày. Chiến đấu trong tình trạng thiếu thốn như thế, chúng tôi vẫn chiến thắng. Thầy nghĩ sao về chuyện này?

                Chúng tôi đã chiến đấu cho chính nghĩa như thế đấy, chúng tôi đã hy sinh như thế đấy, và chúng tôi đã bị bỏ rơi như thế đấy. Tôi cũng không hiểu vì sao người Mỹ phản chiến, trong đó có thầy, lại xuống đường tranh đấu, cổ vũ cho kẻ thù của chúng tôi, và ngược đãi chiến binh của chính nước Hoa-Kỳ? Thầy ơi! Sao thầy lại nỡ nhẫn tâm như thế! Thầy đã tiếp tay với kẻ thù, đâm sau lưng thân nhân và bạn bè đồng minh của thầy. Nhân dịp này, tôi cũng chuyển lại cho thầy nghe tâm sự của anh Bill, một bạn cựu quân nhân Mỹ trở về từ Việt-Nam năm 1973. Anh Bill hiện nay (2000) là Supervisor của hãng mà tôi đang làm việc. Đây là lời của anh ấy,
                “Bạn có cảm thông nỗi đau đớn của chúng tôi ngày đó không? Hôm chúng tôi cặp bờ Everett , Washington, dân chúng Mỹ, kể cả những người thân, tiếp đón chúng tôi bằng cách dơ cao ngoắc ngoắc ngón tay giữa! Đi đâu chúng tôi cũng bị nhìn với đôi mắt khinh khi. Bao nhiêu ê chề nhục nhã đổ lên đầu người thua trận. Thua trận đâu phải lỗi của chúng tôi? Có bạn tôi đã buồn mà tự tử. Rồi tôi bị giải ngũ. Thời gian ấy kiếm được một việc làm là điều khó khăn trần ai. Hãng xưởng nào cũng không mặn mà với những hồ sơ xin việc của những cựu chiến binh. Cũng may, có người bạn học thời Mẫu Giáo đã giới thiệu tôi vào làm việc cho hãng này. Lương hướng thời ấy chỉ có 3 USD một giờ cũng đã khiến tôi mừng quá lắm rồi.”

                Sau câu chuyện này, tôi chuyển sang phê bình cách giảng dạy của ông thầy, tôi nói thẳng với ông giáo sư rằng, bao năm nay ông đã bóp méo lịch sử của cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam và Bắc Việt-Nam, làm như thế ông đã phạm tội đối với lịch sử. Cách giảng dạy của ông đã gieo vào trí óc học trò những thành kiến sai lầm đối với Việt-Nam Cộng-Hòa, làm giảm giá trị sự trợ giúp của chính phủ và nhân dân Hoa-Kỳ đối với nước tôi.Cuối cùng, tôi hỏi ông giáo,
                -Thầy còn nhớ, năm ngoái, có một cậu bé Việt-Nam, mặt mày sáng sủa, lông mày rậm, tóc hớt kiểu nhà binh theo học lớp Sử 274 này không?
                - Nhớ chứ! Mỗi lớp chỉ có vài học trò Á Châu, dĩ nhiên là tôi nhớ!
                - Cậu bé Việt-Nam đó chính là thằng con út của tôi! Năm ngoái, bài tiểu luận đầu của nó bị điểm KHÔNG (0) vì nó viết theo quan điểm của một người dân Miền Nam. Những bài sau nó phải đổi cách viết, để thầy cho điểm khá hơn. Tôi là cha nó; tôi là một trong những người chứng kiến, tham gia và trực tiếp gánh chịu hậu quả của cuộc chiến tranh vừa qua;tôi không thể làm như con tôi được. Tôi đã nói hết những đều cần nói với giáo sư, và tôi sẵn sàng chấp nhận hậu quả.
                Ông thầy dạy Sử như bừng tỉnh cơn mơ,
                - Tôi tin lời ông, vì chẳng có lý do gì để ông nói dối. Có điều là, từ đó tới nay, hơn hai mươi năm dài, kể từ ngày những gia đình Việt-Nam đầu tiên tới định cư ở Hoa-Kỳ, chưa ai nói cho tôi nghe những điều này. Có thể, người ta muốn quên đi quá khứ, hoặc là người ta không có can đảm nói ra. Tôi đã hiểu, và tôi phải cám ơn ông. Ông quả là một chiến binh thực thụ.

                Nghe được những lời nói chân tình từ miệng ông giáo sư, lòng tôi cảm thấy ấm áp lạ lùng. Trước mắt tôi, ông đã thành một người bạn đồng minh, ông đưa bàn tay hộ pháp ra cho tôi bắt,
                “Thưa người chiến binh. Ông vừa lập một chiến công!”
                Đêm ấy trên đường về nhà, lòng tôi rộn ràng như thuở nào giữa sân vận động Pleiku, sau chiến thắng Plei-Me, tôi đã đứng trước một đoàn hùng binh, quần áo hoa rừng, nhận những vòng hoa rực rỡ, tai nghe bản nhạc “Bài Ca Chiến Thắng” do ban quân nhạc Quân-Đoàn II hòa tấu.


                Ngày chấm dứt mùa Fall năm 2000 ông thầy dạy Sử tươi cười trao cho tôi bản tổng kết cuối khóa, trên đó điểm trung bình (GPA) lớp History 274 của tôi ghi 4 chấm (4.00).
                Cuối mùa Spring 2001 tôi dự lễ cấp văn bằng tốt nghiệp A. A. nơi vận động trường có mái che của Shoreline Community College. Khán đài đông nghẹt thân nhân. Vợ tôi và bốn đứa con tôi cũng có mặt ngày hôm ấy. Khi người điều hành gọi tên tôi lên bục để nhận văn bằng, cả hội trường đều ngạc nhiên vì thấy nơi hàng ghế giữa của khu giáo sư có tiếng ai gào lên như tiếng sấm,
                “Long! I’m proud of you!”

                Đến lúc bà Hiệu Trưởng bắt tay tôi thì ông giáo Dan đứng dậy, bắc loa tay hướng về sân khấu,
                “My soldier! I’m loving you!”
                Ông là một người cao lớn. Trong chiếc áo thụng đen, trông ông dềnh dàng như nhân vật chính trong phim “Người Dơi”.
                Những người có mặt trong hội trường buổi ấy đều quay mặt nhìn về hướng ông giáo, ai cũng ngạc nhiên vì hành động phá lệ của một ông thầy xưa nay nổi tiếng là mô phạm. Thấy ông giáo Dan réo tên tôi ầm ầm, vợ con tôi và những khán giả ngồi trên khán đài cũng vỗ tay, reo hò, la hét theo. Hai năm sau, khi tốt nghiệp B.A. từ University of Washington, tôi về thăm và báo cho ông biết, ông vui lắm.

                Từ đó cho tới khi tôi ngồi viết lại những giòng này (2011) hàng chục ngàn học trò đã tới, rồi giã từ Shoreline Community College. Và chắc chắn, hàng trăm lượt người trẻ tuổi đã đi qua lớp History 274. Mười một năm qua, tôi vẫn nhớ buổi tối năm nào, tôi với ông giáo sư dạy Sử đã ngồi tâm sự với nhau. Lời khen của ông, mà tôi quý như một tấm huy chương, vẫn còn văng vẳng,
                “Thưa người chiến binh. Ông vừa lập một chiến công!”



                Tiểu sử Tác giả- Vương Mộng Long
                - Cựu học sinh Trung-Học Trần Quý Cáp, Hội-An.
                - Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Khóa 20 Trường Võ-Bị Quốc-Gia Việt-Nam.
                - Chức vụ sau cùng: Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân.
                - Từ 1975 tới 1988 tù “cải tạo” (13 năm) từ Nam ra Bắc.
                - Từ 1993 định cư tại Thành Phố Seattle, Tiểu Bang Washington, USA.
                - Năm 2003 tốt nghiệp University of Washington, cấp bằng B.A SocialSciences and Communication.
                - Gia cảnh hiện nay: Một vợ, 4 con, 1 cháu nội, 3 cháu ngoại.
                Last edited by hung45qs; 04-26-2012, 05:28 AM.
                Hung45HTQS

                Comment

                • hieunguyen11
                  Super Member
                  • May 2011
                  • 2230

                  #38
                  Truyền thống Anh Hùng thì bất cứ ở đâu cũng Anh Hùng ngay cả trong lòng địch cũng Anh Hùng.

                  Comment

                  • Luctuan
                    Người Thân
                    • Dec 2009
                    • 69

                    #39
                    Hát Bài “Rừng Lá Thấp”
                    Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh


                    Trước 1975, tác giả từng viết nhiều truyện ngắn trên bán nguyệt san Tuổi Hoa, và các truyện dài xuất bản bởi Tủ Sách Tuổi Hoạ. Sau 30/4/1975, Cam Li không viết nữa, chỉ chuyên làm công việc nghiên cứu khoa học. Định cư tại San Jose từ 2003, sáu năm sau cô góp nhiều bài viết giá trị và nhận giải vinh danh Tác Phẩm Xuất Sắc, 2010. Sau đây là bài viết mới nhất của tác giả cho tháng Tư.


                    Tác giả và nghệ sĩ đường phố ở Las Vegas.

                    Phố xá Las Vegas tấp nập, nhộn nhịp suốt ngày đêm. Có những điều rất tương phản mà vui vui. Đêm, đèn thắp sáng choang. Thành phố không có một phút nào ngủ. Ngày, có thể ngắm bầu trời hoàng hôn sẫm tối bên trong khuôn viên những khách sạn. Đó là những vòm trời nhân tạo nhưng trông “rất thật”. Các khu vực khách sạn nối kết với nhau như những phần của một thành phố. Nơi đó diễn ra những trò chơi, những show ca nhạc, xiếc, ảo thuật, hoạt cảnh, và, dĩ nhiên, những sòng bài.

                    Thật ra có những người đến Las Vegas không để đánh bài. Họ tìm một không gian thu nhỏ gồm những biểu tượng của một số nơi nổi tiếng trên thế giới. Họ vui với tháp Eiffel và Khải Hoàn Môn của Paris, Tượng Nữ Thần Tự Do của New York, những tượng nhân sư của Ai Cập, hay những tượng thần La Mã; đi thuyền trên dòng kinh ở thành phố Venice thu nhỏ… trên lầu, rồi thưởng thức nhạc nước, ăn uống… nội chừng đó cũng đã chiếm hết bao nhiêu thời gian rồi, không còn rảnh để vào casino.

                    Tịnh thưởng thức những thú vui tao nhã ấy, và tay luôn cầm máy để chụp ảnh, quay phim. Chị thầm cám ơn những kiến trúc sư đã thu gọn thế giới vào một nơi. Nhưng chị thấy vẫn còn thiếu một cái gì.
                    Tịnh đi rảo trên phố, “phố thật”, nghĩa là phố ở ngoài trời. Những chú chuột Mickey, cô chuột Minnie, vịt Donald, những vũ công mặc áo váy gắn lông công vui mắt, những “robot-người” đứng làm động tác cứng ngắc… mời gọi khách qua đường chụp hình cùng, và nhận những đồng tiền “tip”.

                    Đi tìm một cái thiếu. Tịnh tự cười nhạo chính mình.
                    Tịnh ngừng lại trước hai người nhạc sĩ trên cây cầu vượt nối liền hai khách sạn. Họ đang chơi ghi-ta một bản song tấu nhạc Mexico. Một người chơi đàn thùng còn người kia đàn điện. Tịnh vốn thích thưởng thức lối chơi nhạc trên đường phố như vậy. Chị hay dừng lại để nghe cho trọn vẹn một bản nhạc rồi mới rời đi, sau khi đã gửi vào chiếc hộp hoặc thùng giấy của họ vài đồng bạc. Có khi họ là những nghệ sĩ khá lành nghề, họ hát hoặc đàn để bán đĩa CD nên không để cái hộp đựng tiền tip, mà họ có bàn bày bán CD, nhận tiền mặt hoặc tính tiền trong thẻ tín dụng. Khách hàng ái mộ có thể tốn mười hay mười lăm đồng để mua một CD. Nhưng hai người nghệ sĩ này thì không có CD để bán. Họ cũng không hát nhạc có lời. Họ diễn tả ý nhạc qua những ngón tay đàn. Tịnh đứng nghe chăm chú. Nhưng vẫn thấy thiếu một cái gì.

                    Bỗng dưng Tịnh muốn chụp ảnh chung với hai người nghệ sĩ này. Tịnh nhờ một người đứng bên cạnh chụp ảnh giùm, và đến ngỏ lời mượn một cây đàn để chụp ảnh. Người nhạc sĩ cao lêu nghêu tình nguyện đưa cây đàn thùng cho Tịnh. Nhưng người kia lại vội giành trao cho Tịnh cây đàn điện của mình. Tịnh mỉm cười, đeo cây đàn ghi-ta điện vào. Tịnh khảy vài nốt nhạc. Bỗng thấy như rõ từng chi tiết trước mắt, hình ảnh cô bé học lớp Tám ở Sài Gòn ngày xưa đàn hát trong ban nhạc “Les Fantasques” của anh cả, đi “lưu diễn” ở các sân khấu học trò. Cô bé nhỏ chút xíu khệ nệ vác cây đàn điện to cao gần bằng mình, vậy mà cũng “làm ra trò”. Rồi sau này thỉnh thoảng lại có dịp “phải” chơi đàn điện. Cô sinh viên lên sân khấu đại học vác cây đàn điện vẫn còn quá nặng so với sức của mình, đàn hát những bài tình ca. Thật lạ đời!

                    Ảnh đã được chụp xong. Tịnh toan trả cây đàn, nhưng người cao lêu nghêu hỏi ngay:
                    - Cô có muốn đàn một bản với tôi không?
                    Tịnh thú vị đáp:
                    - Được ạ. Nhưng tôi chưa nghĩ ra bản gì.
                    - Không sao, cứ từ trong tâm mình mà đàn ra thôi!
                    Vâng.

                    Cứ từ trong tâm mình! A, anh chàng nhạc sĩ nầy hay nhỉ! Tịnh có một khúc nhạc ở đâu đó trong trí mà không nghĩ ra lời. Tịnh nhớ thoang thoáng bản “Stand by me” mà các nghệ sĩ đường phố khắp thế giới đã hát cùng nhau và phối lại nhờ kỹ thuật thông thường trong thu âm. Đứng bên tôi! Tịnh từ từ nhớ lại và sắp xếp lời trong đầu vì bản nhạc này chị không thường hát. Trong khi đó thì Tịnh và người nhạc sĩ kia cứ hát “La la là là lá lá là….” theo âm điệu của “bài nhạc không tên không lời” đang được chơi một cách tùy ý. Ấy vậy mà lại thành một bản vui vui. Thế là cứ “la la la”, và cái hộp của hai người nghệ sĩ đường phố cứ đầy thêm với những tờ giấy bạc, những đồng xu đủ loại

                    Thế rồi cũng đến lượt “Stand By Me”. Nhạc có lời. Nhưng sao Tịnh vẫn cảm thấy có một cái gì thiếu thiếu…
                    - Xin cho tôi nghe bản “Rừng Lá Thấp”! (*)
                    Tịnh giật mình. Tiếng nói phát ra bên phía đối diện, sau những người qua lại tấp nập. Một người xuất hiện. Một người đàn ông ngồi trên xe lăn. Người ấy lăn xe đến gần, nhắc lại:
                    - Xin hát cho tôi nghe bản “Rừng Lá Thấp”.


                    Hai người nghệ sĩ ngạc nhiên không hiểu. Tịnh nghe hiểu nhưng chưa biết mình phải làm gì. Tịnh nhìn kỹ người đàn ông trên chiếc xe lăn đã đến gần trước mặt. Có một nét quen quen nhưng không hẳn là quen. Người khoảng ngoài sáu mươi tuổi, nói tiếng Việt, là một người Việt Nam. Chiếc xe lăn và bộ quần áo lính mặc trên người đã nói lên tất cả.
                    - Chào ông!
                    - Chào cô! Tôi đoán là cô có thể hát bản “Rừng Lá thấp”. Đúng không?
                    Tịnh nghẹn ngào:
                    - Vâng.
                    - Vậy xin cô hãy hát cho tôi nghe.
                    Tịnh quay sang người nghệ sĩ cầm đàn thùng:
                    - Xin lỗi ông, tôi muốn chơi cây đàn thùng, được không ạ?
                    - OK, không sao cả.

                    Hai người đổi đàn cho nhau. Anh bạn kia cầm hai cái “đùi gà” (maracas), hỏi:
                    - Chúng tôi phụ họa cho cô. Bản nhạc điệu gì?
                    - Bolero.
                    - Được.
                    - Các ông cứ chơi theo tôi, thật chậm, thật tình cảm nhé! Tôi bắt đầu trước.

                    Và như thế, “Rừng Lá Thấp” bắt đầu.
                    “Rừng lá xanh xanh cây phủ đường đi
                    Thành phố sau lưng ôm mộng ước gì
                    Tôi là người vui chinh chiến dài lâu
                    Nên mộng ước đầu tôi nghe đã chìm sâu.

                    Từ máy thu thanh cô nàng vừa ca
                    Trọn kiếp yêu anh lính khổ xa nhà
                    Giữa rừng già nghe tiếng hát thật cao
                    Nhưng giữa rừng già tôi có thấy gì đâu!”


                    Bỗng như có một sự đồng cảm qua hồn nhạc, hai người nghệ sĩ kia đã hòa được với tiếng đàn và giọng hát của Tịnh. Người lính ngồi trên xe lăn nhắm đôi mắt, trán hơi nhăn lại như để tìm về một đoạn nào của thời tuổi trẻ. Đám đông xa lạ cũng dừng lại. Đa số họ không hiểu lời, nhưng đã nắm bắt được ý. Trong cái dòng người đông đảo ấy, chỉ có sự lặng thầm. Họ chăm chú nghe.

                    Và cũng một khoảng đời nào trong tuổi sinh viên của Tịnh, bỗng nổi lên như một cơn sóng. Nó không mạnh, nhưng đủ tràn bờ. Trong những ngày của một mùa hè đỏ lửa, cô sinh viên áo trắng đi vào quân y viện băng bó cho những người thương binh, và sau công việc cô ôm cây đàn ghi-ta thùng hát những bài nhạc “theo yêu cầu” của họ. Cô bắt gặp nhịp đập của từng trái tim, lúc lắng chìm trong nỗi nhớ gia đình, lúc bùng lên khi xông pha ngoài chiến trận. Cứ như thế. Có người xuất viện, trở ra chiến trường. Có người mang thương tật suốt đời. Có người đi không trở lại. Thế nhưng Tịnh đã hồ như thuộc lòng những bản nhạc mà họ yêu thích nhất. Và “Rừng Lá Thấp” là một trong số đó.

                    “Sao không hát cho người giết giặc trên cầu
                    Khi bùn lầy còn pha sắc áo xanh
                    Trong khói súng xây thành
                    Mắt quầng thâm mất ngủ
                    Tàn đêm khói lửa giờ chỉ cần hai tiếng mến anh
                    Sao không hát cho những người còn mải mê
                    Lá rừng che kín đường về phồn hoa
                    Không hát cho những bà mẹ từng đêm nhớ con xa
                    Hay hát cho những người vừa nằm xuống chiều qua”.

                    Đứa bé Tịnh, nhóc con già trước tuổi, bị nhà trêu là “ông cụ non” vì hay ngồi một mình trầm ngâm. Đứa bé hay suy niệm về những điều mà người khác coi là bình thường và dễ bỏ qua. Đứa bé khi mười lăm tuổi đã có bài viết về chiến tranh gửi đăng báo. Và sau đó, khi ở lứa tuổi lẽ ra chỉ học hành và chưng diện vui chơi thì cô bé đi vào quân y viện băng bó vết thương cho những người thương binh. Làm sao mà hồn nhiên như các bạn được? Nhưng là do cô đã chọn. Rồi từ chỗ chỉ thích hát nhạc Beatles, cô đã hát thuộc những bài ca cho lính. Vì họ thích, và họ yêu cầu. Không giống các ca sĩ trình diễn trên sân khấu vì không chải chuốt, cô chỉ khoác chiếc áo “blouse” trắng, tóc cột gọn, và đàn hát bên giường bệnh của họ.
                    “Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh

                    Ðời lính quen yêu gian khổ quân hành
                    Nghe từ ngày thơ tiếng súng triền miên
                    Ðánh giặc lâu bền cho non nước bình yên.
                    Lời hát xin gây rung động thật lâu
                    Ðừng hát như chim trên vùng lá sầu
                    Xin thật lòng trong câu hát đầu môi
                    Như lính giữa rừng yêu lá thấp mà thôi…”
                    Người ngồi trên xe lăn bấm nút cho chiếc xe tiến đến gần Tịnh hơn. Ông gật đầu, chớp nhanh đôi mắt và nói:
                    - Cám ơn cô. Cám ơn cô rất nhiều!
                    Ông đưa bàn tay ra. Tịnh bắt tay ông. Những vết chai sần trên bàn tay và những vết sẹo trên cánh tay của ông làm Tịnh đau lòng. Còn đôi chân của ông ra sao Tịnh không thể biết, vì đã được đắp bởi một tấm chăn. Không có ai đi cùng với ông. Ông sử dụng chiếc xe lăn tự động nên có lẽ cũng không cần ai theo cùng. Nhưng cuộc đời của ông thì sao? Có là đơn độc như ông đang đơn độc trên đường phố hôm nay?

                    Ông nói:
                    - Tôi là thương phế binh.
                    Tịnh nhẹ gật đầu:
                    - Dạ, tôi đã đoán biết như thế ạ! Thưa ông, mong rằng ông hài lòng với bài hát này. Tôi không phải là ca sĩ ạ!
                    - Tôi rất hài lòng. Tôi rất vui. Bài hát nhắc tôi một thời làm lính. Đó là bài hát tôi thích nhất.
                    - Vâng, đó cũng là bài hát ngày xưa tôi được hát nhiều nhất ạ!
                    Người lính gật gù. Nhìn thấy ánh mắt lo âu của Tịnh, ông nói

                    - Xin cô đừng áy náy cho tôi. Tuy tôi mang nhiều thương tật, nhưng tôi may mắn đến được và sống trên đất nước tự do này. Anh em thương phế binh còn ở lại trong nước khổ hơn tôi nhiều. Họ rất tội nghiệp.
                    Ông nói “thank you” với hai người nhạc sĩ, rồi bỏ vào chiếc hộp của họ một tờ giấy bạc. Ông chào tạm biệt và bấm nút cho xe lăn đi. Tịnh nhìn theo ông với mái tóc hoa râm, bằng chứng của thời gian ghi dấu trên con người. Dù sao, ông chắc cũng cảm nhận được niềm vui của người còn được tự do. Ông sẽ có những giây phút nhớ thương bạn hữu, nhớ thương những ngày đi làm việc nước non.

                    Tịnh xót xa nghĩ đến một người thương binh nằm triền miên trong Khu Tê Liệt của một bệnh viện, khi tâm sự với cô sinh viên lúc ấy, đã nói về cảnh ngộ của ông. Bị vợ phản bội và con gái phải gửi cho người bà con nuôi ăn học, ông chỉ mong chờ đến ngày con của ông được mười tám tuổi, tạm gọi là lớn khôn, lúc đó ông sẽ “tự diệt”. Ngày đó cô sinh viên đã viết nên một câu chuyện, “làm” cho người cha ấy quyết định sống để nhìn thấy con mình lớn khôn theo dòng ngày tháng. “Ông” đã không còn muốn chết. Còn người thương binh ngoài đời thật, sau ngày “đổi đời”, Tịnh không còn gặp lại ông nữa. Ông có can đảm sống tiếp hay đã làm theo ý nguyện “tự diệt”của mình? Cuộc đời thật… có khi còn bi đát hơn là truyện!

                    Còn những người thương binh khác trên khắp Miền Nam, sau cuộc “đổi đời”, họ đi về đâu? Họ bị đuổi ra khỏi các quân y viện, người mù cõng người què, lang thang vô định. Có người về được với gia đình, có kẻ bị xã hội quay lưng hắt hủi. Không có một sự ưu đãi nào dành cho họ. Họ sống bằng đủ loại nghề vặt vãnh để kiếm sống qua ngày. Và, một người bạn thương binh của Tịnh, khi tình cờ liên lạc được với nhau, đã cho Tịnh biết anh đang sống bằng nghề đàn hát dạo ở bến xe đò miền tây. Thật ra không phải là nghề.

                    Anh đi xin ăn thì đúng hơn. Rất nhiều người thương binh lang thang trên các bến xe, bến đò, trở thành những nghệ sĩ đường phố bất đắc dĩ. Những người lính can đảm xông pha một thuở, nay đem tiếng hát nghẹn ngào tức tưởi gửi lại cho đời. Xem ra những bài nhạc ngày xưa Tịnh hát cho họ nghe, đến nay vẫn còn rất thịnh hành, không phải trên làn sóng radio hay TV, mà ở những “sân khấu đường phố”. Thịnh hành và được ưa chuộng đến nỗi một nhạc sĩ nổi tiếng thời đó đã phải bật khóc khi thấy nhạc của ông – và ông – còn ở trong lòng nhiều người như thế.

                    Tịnh trả cây đàn thùng lại cho người nhạc sĩ. Hai người nhìn chị với ánh mắt cảm thông trìu mến. Tịnh cười trong lúc một giọt nước mắt rơi xuống. Tự nhiên cũng cảm thấy thương mến họ, những người nghệ sĩ trên đường phố. Có lẽ ngày ngày họ cũng từng hát những ca khúc nói lên thân phận của một nhóm người, một sắc dân, hay cả một dân tộc nào đó. Không cần biết họ là da trắng, vàng hay đen, ai cũng có một cội nguồn, một đoạn đời để nhớ. Tịnh bỗng không còn cảm thấy thiếu một cái gì.
                    - Tạm biệt hai ông. Cám ơn hai ông nhiều lắm

                    - Tạm biệt cô. Hẹn gặp lại.
                    Không biết một dịp nào trở lại, Tịnh có gặp họ nữa không? Duy một điều có thể, là người ta sẽ nghe được nhạc Việt, tiếng Việt, do những người nghệ sĩ đường phố hát. Họ không phải là người khất thực. Có thể họ cũng có một cái hộp đựng tiền “tip” bên cạnh. Có thể họ có một cái bàn bày CD để bán. Và những lời hát, họ hát từ trong tâm mình, từ trong kỷ niệm về một quê hương mà ra. Xưa họ hát cho những người “bùn lầy pha sắc áo xanh”, nay những người chiến đấu đó mang thân phận thảm thương, họ sẽ hát tiếp để vinh danh những người ấy. Họ hát cho những người còn ở lại, hay cho những người đang sống kiếp xa nhà. Họ hát cho những người đã hy sinh một phần thân thể cho quê hương. Họ hát cho những người đã nằm xuống. Họ sẽ làm được một điều gì đó để tri ân đất nước, tri ân cuộc đời.


                    Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
                    (*) Rừng Lá Thấp: nhạc phẩm của Trần Thiện Thanh.

                    Last edited by Luctuan; 05-02-2012, 06:32 PM.

                    Comment

                    • thiennga7A
                      Người Thân
                      • Apr 2009
                      • 109

                      #40
                      Cám ơn NT hung 45qs đã cho chúng tôi được đọc một bài "quá hay,quá cảm động.

                      Comment

                      • PS khoá 72G
                        Administrator
                        • Dec 2008
                        • 1025

                        #41
                        Một Câu Chuyện Thật Cảm Động



                        Một Câu Chuyện Thật Cảm Động
                        Tôi xin cảm ơn cả hai: Người chiến sĩ vô danh sống trong hẩm hiu và Hội cứu trợ thương phế binh đã thể hiện tình người trong công việc hết sức cao cả này. Tác giả: Minh Tạo


                        Sáng nào cũng thấy thằng nhỏ cầm cái lon đứng chầu chực trước quán ăn. Tôi để mắt theo dõi thì hễ thấy thực khách vừa kêu tính tiền thì thằng bé chạy vào nhìn vào những cái tô, nếu còn thức ăn dư mứa thì nó vội vã trút vào cái lon rồi chạy ra ngoài đứng ngóng tiếp.
                        Khi cái lon gần đầy thì nó biến mất, chập sau thấy nó lại có mặt thập thò trước quán tiếp tục. Bàn tôi ngồi thì đứa bé không bao giờ quan tâm tới, vì mỗi sáng tôi chỉ đủ tiền uống 1 ly xây chừng vì tôi cũng nghèo cải tạo mới về sáng nhịn đói ngồi uống cà phê đen như một cái thú hay một cái tật không bỏ được.

                        Cứ thế, mà hơn một năm tôi mới quen được và tìm hiểu chút ít về hoàn cảnh gia đình của đứa bé. Tôi cố tình làm quen với thằng bé nhờ hôm ấy trời mưa, thằng bé đứng nép vào trong quán. Thằng bé đứng nép vào ngày càng sâu hơn trong quán vì mưa ngày càng lớn chỉ cách tôi chừng độ nửa thước. Tôi vói tay kéo nó ngồi xuống bàn và hỏi nó có thích uống cà phê không?

                        Thằng bé lắc đầu lia lịa và nói không uống. Tôi hỏi nó làm gì ngày nào cũng ra đây? và hiện sống với ai? Thằng bé như đoán được rằng: tôi chỉ là người khách ghiền cà phê nặng nên hàng ngày đóng đô ở đây nên nó cũng trả lời nhanh nhẹn rằng:

                        - “Con sống với ba má con, Ba con đi làm xa còn Má con đi phụ buôn bán ở ngoài chợ…”
                        Tôi hỏi tiếp:

                        - “Còn con có đi học không ?”
                        Thằng bé nói:

                        - “Con không có đi học… con ở nhà phụ với má nuôi heo…”.
                        Đó là lý do để nói lên sự hiện diện hằng ngày của nó nơi quán ăn nầy. Nghe thằng bé nói như thế, tôi nói với chị chủ quán ăn giúp cho nó lấy những cơm và thức ăn thừa, và cũng từ đó nó không còn đứng lúp ló ngoài cửa quán nửa. Và nhờ tánh tình hiền hậu thật thà chị chủ quán cho nó vô phụ dọn bàn đề lấy thức ăn dư mang về và cho nó ăn uống để phụ việc. Từ đó tôi và nó gần gũi nhau hơn và thân với nhau lắm.
                        Có lần thằng bé hỏi tôi:
                        - “Chú làm nghề gì vậy hả chú?”
                        Tôi chỉ trả lời ngắn gọn là “Chú đang làm thinh”.

                        Đúng vậy mới cải tạo về mà, vợ con thì đã theo bên ngoại vượt biển hết rồi, nghe đâu đã định cư bên Úc, nay về ở với mẹ già ngày 1 buổi cà phê hai bửa cơm độn qua ngày. Thời gian ngột ngạt chậm chạp trôi qua, may mắn vợ chồng tôi đã bắt liên lạc được với nhau. Thế là những bữa cơm không còn ăn độn khoai củ hay bo bo nữa nhưng vẫn quen cử sáng cà phê quán gần nhà. Không biết chị chủ quán có bỏ bùa mê hay tôi ghiền chổ ngồi mà không bữa nào vắng tôi. Một hôm, tôi đề nghị theo thằng bé về nhà nó chơi cho biết vì nó nói ở cũng gần không xa lắm. Thấy nó do dự và tỏ vẻ sợ sệt, tôi biết ngay nó đang dấu diếm điều gì. Thương nó lắm, tôi dúi tiền cho nó hoài. Mấy hôm sau tôi lẳng lặng đi theo nó khi nó mang cơm và thức ăn dư về nhà buổi trưa. Khi thấy nó lủi vô một cái chòi nhỏ xíu thì tôi thật sự không ngờ. Đứng dưới gốc cây Gòn cách nhà nó không xa tôi thầm nghĩ, nhà chút xíu như vậy gia đình 3 người ở thì chổ đâu mà nuôi heo. Tôi đang đứng suy nghĩ đốt cũng hết mấy điếu thuốc thì thằng nhỏ lục tục xách lon xách nồi đi ra quán để thu dọn thức ăn buổi chiều. Đợi thằng bé đi khuất tôi lò mò đến nơi mà hồi nãy nó vào. Đến đó mới nhìn rõ thì thật ra đâu có phải là nhà, một lõm trống được che dựng lên bằng những phế liệu đủ loại muốn chui vào phải khom mọp xuống. Nghe thấy có tiếng chân dừng lại, có tiếng đàn bà vọng ra hỏi. Tôi trả lời là đi kiếm thằng Tuất, thì nghe giọng đàn ông cho biết nó vừa đi khỏi rồi, và hỏi tôi là ai, mời tôi vào…. Vừa khom người chui vào tôi mới thật sự không ngờ những gì hiển hiện trước mắt tôi.

                        Người đàn ông hốc hác cụt hai giò tuổi cũng trạc tôi nhưng trông yếu đuối, lam lũ và khắc khổ lắm. Một người đàn bà bệnh hoạn xác xơ cả hai đang ăn những thức ăn thừa mà thằng bé vừa mới đem về. Vừa bàng hoàng, vừa cảm động vừa xót xa, nước mắt tôi bất chợt tuôn rơi mặc dù tôi cố nén…

                        Từ đó, tôi hiểu rõ về người phế binh sức tàn lực kiệt sống bên người vợ thủy chung tần tảo nuôi chồng bao năm nay giờ mang bịnh ác tính nặng nề thật đau xót. Tôi móc hết tiền trong túi biếu tặng và cáo lui. Về đến nhà tôi vẫn mãi ám ảnh hoàn cảnh bi thương của gia đình thằng bé mà tôi bỏ cơm nguyên cả ngày luôn. Sáng hôm sau ra uống cà phê, thằng bé gặp tôi nó lấm lét không dám nhìn tôi vì nó đã biết trưa hôm qua tôi có tới nhà nó. Nó thì tỏ vẻ sợ tôi, nhưng tôi thực sự vừa thương vừa nể phục nó nhiều lắm. Tôi kêu nó lại và nói nhỏ với nó tại sao không cho tôi biết. Tội nghiệp nó cúi đầu im lặng làm lòng tôi thêm nỗi xót xa. Có khách kêu trả tiền, như có cơ hội né tránh tôi nó chạy đi dọn bàn và tiếp tục công việc thu dọn thức ăn. Hèn gì sau nầy nó để thức ăn dư phân loại đàng hoàng lắm. Tội nghiệp hoàn cảnh của thằng bé mới mấy tuổi đầu mà vất vả nuôi cha mẹ theo khả năng chỉ tới đó. Cha là một phế binh cũ trước 75 cụt hai chân, mẹ thì bị bệnh gan nặng bụng phình trướng to khủng khiếp và cặp chân sưng vù lên đi đứng thật khó khăn, nước da thì vàng mét như nghệ. Thằng bé là lao động chánh trong gia đình, nó có hiếu lắm. Từ đó tôi thường cho tiền đứa bé mua bánh mì cơm gạo về nuôi cha mẹ.

                        Vợ tôi làm thủ tục bảo lãnh tôi sang Úc. Ngày tôi đi tôi đau xót phải để lại hai nỗi buồn đó là để mẹ và em gái lại quê nhà và không còn cơ hội giúp đỡ thằng bé nữa. Sang Úc định cư, tôi sống tại tiểu bang Victoria mấy năm đầu tôi hết sức cơ cực vì phải vật lộn với cuộc sống mới nơi đất mới và đối với tôi tất cả đều mới mẻ và xa lạ quá. Từ ngôn ngữ đến thời tiết đã làm tôi lao đao không ít. Thỉnh thoảng tôi gởi tiền về nuôi mẹ và em gái không quên dặn em gái tôi chuyển cho thằng bé chút ít gọi là chút tình phương xa.

                        Mấy năm sau tôi về thăm gia đình, tôi có ghé tìm thằng bé thì nó không còn lấy thức ăn trong quán đó nữa. Tôi mới kể rõ hoàn cảnh thằng bé cho chị chủ quán biết. Chị chủ quán đôi mắt đỏ hoe trách tôi sao không cho chị biết sớm để chị tìm cách giúp gia đình nó. Tôi chỉ bào chữa rằng tại thằng bé muốn giấu không cho ai biết! Tôi ghé vội qua nhà thằng bé thì mới hay mẹ nó đã qua đời vì căn bệnh ung thư gan. Chỉ còn chèo queo một mình ba nó ở trần nằm một góc trông hết sức thương tâm. Hỏi thăm thì mới biết nó đã xin được việc làm đi phụ hồ kiếm tiền về nuôi cha. Chúa nhật tôi tới tìm thằng bé, chỉ mới có mấy năm mà nó đã cao lớn thành thanh niên rất đẹp trai duy chỉ đen đúa vì phơi nắng để kiếm đồng tiền. Tôi dẫn nó trở ra quán cà phê cũ, thấy nó hơi ái ngại, tôi trấn an là bà chủ quán tốt lắm tại không biết được hoàn cảnh gia đình nó. Ra đến quán ăn chị chủ quán năn nỉ nó về làm với chị, dọn dẹp và bưng thức ăn cho khách nhẹ nhàng hơn đi phụ hồ và chị sẽ trả lương như đang lãnh bên phụ hồ, tối về thức ăn thường bán không hết chị cho đem về nhà dùng khỏi phải mua hay đi chợ. Lần đầu tiên tôi thấy nó khóc, chị chủ quán cũng khóc theo làm tôi phải đứng dậy bỏ ra ngoài để khỏi phải rơi nước mắt vì chịu không nỗi. Thằng Tuất vừa khóc vừa nói: “Sao ai cũng tốt với gia đình con hết đó, nhưng vì con đang làm phụ hồ cho anh Năm, anh ấy cũng tốt lắm giúp đỡ gia dình con nhiều lắm, sáng nào cũng mua cho ba con gói xôi hay bánh mì trước khi tụi con đi làm. Con cũng mang ơn ảnh nhiều nên con không thể nghỉ được, con xin lổi”. Không biết thằng Tuất nó nói thật hay nó ái ngại khi quay về chỗ mà ngày nào cũng cầm cái lon chầu chực trút đồ ăn dư về nuôi cha mẹ. Phải thông cảm nó, phải hiểu cho nó, phải cho nó có cái hiện tại và tương lai tốt hơn, đẹp hơn ngày trước. Chị chủ quán vừa gạt nước mắt vừa nói “Bất cứ lúc nào con cần đến cô thì con đừng ngại, cho cô biết nhé”…

                        Đời này cũng còn có những hoàn cảnh bi đát ít ai biết đến, và cũng có những đứa con xứng đáng như thằng Tuất. Ngày về lại Úc, tôi đến biếu hai cha con nó hai triệu đồng, thấy nó và ba nó mừng lắm tôi cũng vui lây. Không biết phải giúp gia đình nó như thế nào, tôi chụp hình ba nó, photo giấy tờ ba nó đem về Úc gởi cho Hội cứu trợ thương phế binh bị quên lãng trụ sở ở Sydney. Mấy tháng sau nhận được thư ba thằng Tuất viết qua, ông quá vui mừng khi được Hội bên Úc giúp đỡ gởi tiền về, ông cho biết suốt bao nhiêu năm qua lần đầu tiên ông thấy được niềm hạnh phúc khi cuộc đời phế binh của ông còn có người nhớ đến. Không biết ông ấy vui bao nhiêu mà chính tôi cũng hết sức vui mừng khi thực hiện một việc làm đem niềm vui đến cho những người phế binh sống hết sức đói nghèo bên quê mẹ.

                        Comment

                        • hung45qs
                          Administrator
                          • Jul 2009
                          • 1417

                          #42
                          Lá rụng nơi thiên đường!








                          Mãi Mãi Bên Em
                          Nhạc và lời: Từ Công Phụng
                          Trình bày: Hung45qs

                          - Này ông,
                          - Gì, để tôi ngủ thêm tí nào
                          - Dậy đi, chở tôi ra chợ hoa bằng xe đạp đi
                          - Sao hôm nay bà lại giở giời thế này. Ra mua cái vé tàu điện ngầm mà đi chợ... Bà lão thân yêu ơi, cho tôi ngủ thêm tí nữa thôi mà...?
                          Lèm bèm, năn nỉ đủ cách mà chả được, ông cũng đành dậy.

                          2 ông già bà cả đèo nhau trên cái xe đạp của thằng cháu. Thời buổi động 1 tí là người ta đi tàu ngầm, ô tô, 2 ông bà trên cái xe đạp làm bao nhiêu người đi bộ phải ngoái nhìn.
                          - Lát ông phải mua hoa tặng tôi nhé.
                          - Ừ, mua cho bà 1 củ khoai ngay đây.
                          - Ơ, tôi bảo mua hoa cho tôi mà.
                          - Mua cho bà củ khoai để bà ngồi ăn, đỡ ngồi réo sau lưng tôi nữa.
                          Gió thổi dìu dịu theo những bánh xe quay. Tia nắng vàng chảy tràn những con phố thân thuộc. Bà dựa vào lưng ông, tận hưởng cảm giác bình yên thư thái. Những kỉ niệm xưa ùa về trong tâm trí, mờ ảo nhưng vẫn thật lung linh ấm áp. Những lần đưa đón, hẹn hò, giận dỗi... Ông im lặng, có lẽ ông cũng đang nhớ lại thuở đẹp đẽ xưa kia.

                          2 ông bà ra chợ hoa, xong cũng chả mua gì. Ông thì không có hứng thú với hoa hoét, bà thì xem xem ngắm ngắm xong rồi cũng chả chọn hoa nào. Chợt ông bật cười:
                          - Cứ y như cách đây bốn chục năm ý nhỉ. Bà vẫn là cái đồ kiết xu như trước.
                          - Còn ông gạch ngói bốn mươi năm vẫn chẳng mòn.
                          Bà cười thật lớn. Nhưng thật sự bà đang cảm thấy rất mệt. Gần đây bà thường xuyên bị lả người và gầy đi rất nhiều. Chiếc lá vàng, chỉ chờ một cơn gió nhẹ để trở về với lòng đất...

                          Hôm nay là sinh nhật ông vì thế mà bà "giở giời" như vậy. Ở cái tuổi răng đã lung lay cả hàm thế này nói đến chữ “sinh nhật” có vẻ không hợp, và ở tuổi này thì còn ai mà nhớ đến ngày sinh nữa đâu. Nhưng bà có một linh cảm, có lẽ đây là lần sinh nhật cuối cùng của ông mà còn có bà ở bên...
                          - Cho ông hôm nay qua nhà mấy ông hàng xóm chơi điện tử đấy
                          - Thật á, bà lão hôm nay được ăn củ khoai xong nên tử tế hẳn

                          Bà dọn dẹp nhà cửa, nấu nướng những món ăn ông thích nhất. Bà cũng ra hiệu bánh đặt một chiếc bánh gateau nho nhỏ. Cuối tuần, cả nhà đi vắng hết. Thế lại hay, bà muốn dành khoảng thời gian đặc biệt này với riêng mình ông. Đang chuẩn bị nốt nến để thắp bánh thì bà bỗng thấy tối sầm lại. Bà cố đi vào phòng, ra chiếc giường và nằm xuống nghỉ.
                          - Bà nó ơi, hôm nay tôi đánh thắng to nhé, các lão ấy bị tôi cho ăn hành tơi tả.

                          Không có tiếng trả lời, dự cảm chẳng lành, ông chạy ngay vào phòng của 2 người và thấy bà đang nằm đó. Trông bà rất yếu.
                          - Bà nó ơi, bà sao thế?
                          - Ông... tôi mệt lắm... Ông ra chỗ bếp mang bánh sinh nhật và nến vào đây.
                          Lúc này ông mới nhớ ra hôm nay là sinh nhật mình. Ông cảm thấy điều gì đó không ổn, nhưng ông không hỏi nữa và ra bếp lấy bánh vào.
                          - Giờ tôi mới nhớ ra hôm nay là sinh nhật tôi đấy. Bà cầu kỳ thế này. Bà nó ơi, bà nó thấy mệt lắm à, để tôi gọi bác sỹ đến xem nhé.
                          Bà mỉm cười.
                          - Ông ơi... Tôi thấy mình đã đến lúc lên thiên đường rồi.
                          - Bà nói gì thế, đừng nói nữa! Chỉ vớ vẩn.
                          Ông thấy sợ hãi khi nghe bà nói thế

                          - Ông để tôi nói... Tôi làm những món ông thích nhất... và có cả bánh gateau nữa... Sinh nhật của ông lần cuối cùng mà tôi có thể ở bên... Tôi cảm thấy thật hạnh phúc khi có ông bầu bạn từng ấy năm...... Ông ở lại mạnh khỏe và chăm lo cho con cháu nhé...
                          Nước mắt lăn dài. Ông biết là ngày này sẽ đến nhưng ông vẫn cảm thấy không trụ vững nổi khi đối mặt với giây phút đó. Ông cầm tay bà, run rẩy, và ông nói trong nước mắt.
                          - Bà lão ơi, làm sao tôi có thể ở lại mà không có bà...
                          - Tôi muốn... nghe... điều ước... trong sinh nhật... của ông...
                          Ông nghẹn ngào và tưởng chừng trái tim mình cũng đang rời khỏi cơ thể để đi theo người vợ thân thương.
                          - Gặp bà và chung sống với bà là mọi điều ước của tôi đã thành hiện thực rồi. Nếu có ước tôi chỉ ước được gặp bà sớm hơn, bà lão ạ.

                          Bà nở nụ cười cuối cùng và nhắm mắt...
                          Bà đã có một thiên đường ở trần thế này. Giờ chỉ là đi đến 1 thiên đường khác, và chờ ông ở đó...


                          Sưu tầm
                          Last edited by hung45qs; 12-05-2012, 10:08 PM.
                          Hung45HTQS

                          Comment

                          • khongquan2
                            Administrator
                            • May 2011
                            • 2165

                            #43
                            Hãy Yêu Thương Khi Còn Có Thể

                            Ngọc Trân


                            Ngày đẹp trời, một cặp vợ chồng khoảng 70 tuổi đến văn phòng luật sư. Họ muốn làm thủ tục ly hôn.

                            Lúc đầu vị luật sư vô cùng ngạc nhiên, nhưng sau khi nói chuyện với đôi vợ chồng già, ông đã hiểu ra câu chuyện.

                            Hơn 40 năm chung sống, cặp vợ chồng này luôn cãi nhau suốt cuộc hôn nhân của họ và dường như chẳng bao giờ đi đến quyết định đúng đắn.Họ chịu đựng được như vậy đến tận bây giờ là vì những đứa con. Giờ con cái đã lớn, đã có gia đình riêng của chúng, đôi vợ chồng già không còn phải lo lắng điều gì. 

                            Họ muốn được tự do sau những năm tháng không hạnh phúc. Cả hai vợ chồng đều đồng ý ly hôn.
                            Hoàn tất thủ tục ly hôn cho cặp vợ chồng này, với vị luật sư, là điều không hề dễ. Ông thực sự không hiểu vì sao, sau 40 năm chung sống, đến tuổi 70, đôi vợ chồng ấy vẫn muốn ly hôn.Vừa ký các giấy tờ, người vợ già vừa nói với chồng: 

                            “Tôi thực sự yêu ông, nhưng tôi không thể chịu đựng hơn được nữa. Tôi xin lỗi”.
                            “Không sao mà, tôi hiểu…” 
                            - Ông chồng già đáp lời.

                            Bên bàn ăn, một không khí im lặng đến khó xử.Món ăn mang ra đầu tiên là gà quay. Ngay lập tức người chồng gắp một miếng đùi gà cho vợ: “Bà ăn đi, đó là món bà thích mà”.Nhìn cảnh này, vị luật sư nghĩ

                            “vẫn còn cơ hội cho họ”. Nhưng người vợ đã cau mày đáp lại:

                            “Vấn đề ở đấy đấy. Ông luôn đề cao mình quá và không bao giờ hiểu cảm giác của tôi. Ông không biết tôi ghét đùi gà thế nào à?”.

                            Nhưng người vợ không biết, bao nhiêu năm qua, người chồng luôn cố gắng để làm hài lòng bà. 
                            Bà không biết, đùi gà là món yêu thích của ông, cũng như ông không biết, bà chưa bao giờ nghĩ rằng ông hiểu bà. Ông không biết bà ghét đùi gà, mặc dù ông chỉ muốn dành những miếng ngon nhất, những điều tốt nhất cho bà thôi.

                            Đêm đó cả hai vợ chồng già đều không ngủ được. Sau nhiều giờ trằn trọc, người chồng không thể chịu đựng được nữa, ông biết rằng ông vẫn còn yêu bà và không thể sống thiếu bà. Ông muốn bà quay trở lại. Ông muốn nói lời xin lỗi, muốn nói “tôi yêu bà”.

                            Ông nhấc điện thoại lên và bắt đầu bấm số của bà. Tiếng chuông không ngừng reo, Ông càng không ngừng bấm máy.

                            Đầu bên kia, bà vợ cũng rất buồn. Bà không hiểu điều gì đã xảy ra sau tất cả những năm tháng sống cùng nhau đó. Ông ấy vẫn không hiểu bà. Bà vẫn rất yêu ông nhưng bà không thể chịu đựng cuộc sống như vậy nữa. Mặc cho chuông điện thoại reo liên hồi, bà không trả lời dẫu biết rằng đó chính là ông.
                             
                            Bà nghĩ “Nói làm gì nữa khi mọi chuyện đã hết rồi. Mình đòi ly hôn mà, giờ đâm lao phải theo lao, nếu không mất mặt lắm”.

                            Chuông điện thoại vẫn cứ reo và bà quyết định dứt dây nối ra khỏi điện thoại.

                            Bà đã không nhớ rằng ông bị đau tim…

                            Ngày hôm sau, bà nhận được tin ông mất. Như một người mất trí, bà lao thẳng đến căn hộ của ông, nhìn thấy thân thể ông trên chiếc đi văng, tay vẫn giữ chặt điện thoại. Ông bị nhồi máu cơ tim trong khi đang cố gắng gọi cho bà.

                            Bà đau đớn vô cùng. Một cảm giác mất mát quá lớn bao trùm lên tâm trí.Bà phải làm rõ tất cả tài sản của ông. Khi bà nhìn vào ngăn kéo, bà thấy một hợp đồng bảo hiểm, được lập từ ngày họ cưới nhau, là của ông làm cho bà.Kẹp vào trong đó, bà thấy có một mẩu giấy ghi rằng: “Gửi người vợ thân yêu nhất của tôi. Vào lúc bà đọc tờ giấy này, tôi chắc chắn không còn trên cõi đời này nữa. Tôi đã mua bảo hiểm cho bà. 

                            Chỉ có 100 đô thôi, nhưng tôi hy vọng nó có thể giúp tôi tiếp tục thực hiện lời hứa của mình khi chúng ta lấy nhau. Tôi đã không thể ở cạnh bà nữa. Tôi muốn số tiền này tiếp tục chăm sóc bà. Đó là cách mà tôi sẽ làm nếu như tôi còn sống. Tôi muốn bà hiểu rằng tôi sẽ luôn luôn ở bên cạnh bà. Yêu bà thật nhiều”.

                            Nước mắt bà tuôn chảy. Bà cảm thấy yêu ông hơn bao giờ hết. Bà muốn nói lời xin lỗi, muốn nói “tôi yêu ông”. Nhưng ông đã không thể nghe được nữa.

                            Source: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế.
                            webmaster@cuucshuehn.net
                            Last edited by khongquan2; 12-05-2012, 07:47 PM.

                            Comment

                            • hung45qs
                              Administrator
                              • Jul 2009
                              • 1417

                              #44
                              Mẹ đã làm như thế đó ba



                              Anh về nhà lúc bóng tối đã vây khắp bốn bề. Thấy anh về, chị hết sức vui mừng, vội vàng bưng trà, rót nước như đón tiếp khách từ phương xa đến, rồi bước ngay vào bếp nấu nướng. Chị vừa tất bật làm cơm vừa kể lể với chồng những việc xảy ra trong mấy năm qua. Nhưng anh không hề liếc nhìn chị lấy một cái khiến chị ngừng bặt, ngượng ngùng như mình đã làm sai điều gì.

                              Anh không uống trà do chị bưng lên, không ăn hoa quả chị gọt cho anh. Anh ngồi trên sofa, suy tính làm sao nói cho rõ mọi chuyện.
                              Anh về lần này là để ly hôn với chị.

                              Anh và chị lớn lên trong cùng một thôn. Khi chạm ngõ, anh không đồng ý vì một bên chân chị có tật.
                              Mẹ anh bảo, nó tốt bụng, chân có hơi tập tễnh nhưng chẳng trở ngại gì đến công việc, vả chăng chỉ có con bé ấy là thích hợp với gia đình mình. Anh là người hiếu thuận, biết mẹ nói như thế là thực tình nên không có ý kiến gì nữa. Nhưng anh không thích chị, chị biết lòng anh không được thoải mái nên trước mặt anh, chị cũng hơi bị gò bó. Chị một lòng đối xử tốt với anh, dường như chỉ có thế mới bù đắp được cho anh.

                              Sau khi cưới hai vợ chồng chuyển lên ở phố huyện. Mẹ chị lên thăm con gái, thấy căn phòng hai vợ chồng thuê vừa chật chội vừa cũ kỹ, chẳng khác gì ổ gà bỏ hoang lâu ngày. Anh bảo, không có tiền mua nhà, có ổ gà mà ở đã là tốt lắm rồi.
                              Bà mẹ thương con gái, bỏ ra một số tiền cho chị để hai vợ chồng mua một căn hộ ở phố huyện. Chị bảo, nhà ở tầng năm giá rẻ, mua ở tầng năm vậy. Số tiền còn thừa nên mua thức ăn bổ dưỡng cho mẹ. Lúc ấy, sức khỏe mẹ anh ngày một suy giảm, bà rất hay váng đầu, bác sĩ bảo, nửa tháng nên truyền dịch cho bà một lần. Mẹ anh chỉ có người con duy nhất là anh nên chị phải lo tất cả mọi việc.

                              Bạn anh rủ anh đi nơi khác làm thuê, bảo tiền kiếm được ở ngoài đó dễ hơn ở phố huyện rất nhiều. Anh xiêu lòng nhưng lại không nỡ bỏ mẹ ở nhà. Chị lúc đó vừa có bầu, suy nghĩ một hồi rồi bảo anh, nếu muốn đi thì cứ đi, ở nhà đã có em. Chị đón mẹ chồng ở dưới quê lên phố huyện ở cùng với mình. Anh bảo, kiếm được kha khá tiền tôi sẽ về. Chị bảo, kiếm được tiền hay không, anh cứ về là được.
                              Anh mới đi được mấy tháng, mẹ anh đã ốm liệt giường.

                              Trong thư gửi cho anh, chị bảo anh nên về. Chồng là núi cho vợ nhờ cậy, chị muốn nương tựa vào trái núi đó.
                              Khi ấy việc làm ăn của anh vừa mới tiến triển, anh viết thư khuyên chị nên cố gắng, anh không thể bỏ việc để về được.
                              Thư sau gửi cho anh, chị không nói việc nhà vất vả gian nan nữa, chỉ nói mọi việc đều ổn để anh yên tâm về phía ra đình để yên tâm làm ăn.
                              Anh đi một mạch đến 5 năm.

                              Sau 5 năm, anh được bạn cùng thôn báo tin mẹ anh sắp nguy, anh đành thu xếp hành lý trở về nhà.
                              Về đến nhà, anh thấy nhà được thu xếp đâu ra đấy. Mẹ anh quần áo tinh tươm sạch sẽ nằm trên giường.
                              Anh nhớ tới lời mẹ bảo anh ngày trước, rằng chị là cô gái tốt bụng và chịu thương chịu khó…

                              Chị không hề biết 5 năm qua, công việc làm ăn của anh đã dần dần được mở rộng, anh có công ty riêng của mình và còn có người tình riêng của mình. Người tình của anh đã tốt nghiệp đại học, rất xinh đẹp và duyên dáng. Người tình nói, cô muốn anh cho cô một danh phận. Anh bảo cô, mẹ mình ốm nặng lắm, anh lấy vợ vốn là một sai lầm, có gì lưu luyến nữa đâu!

                              Thế rồi anh cầm giấy thỏa thuận ly hôn đã viết sẵn về nhà. Anh trải tờ thỏa thuận ly hôn trước mặt vợ, nói, tôi chỉ cần thằng bé, còn tất cả là phần của cô ; ngoài ra tôi còn bù thêm cho cô một khoản tiền lớn nữa. Anh cho rằng mình xử sự như thế là rất có tình và hào phóng.
                              Mặt chị lập tức trắng bệch.
                              Một lúc lâu sau chị mới nức nở nói, em không cần một xu của anh, anh để con cho em là được.
                              Anh hỏi :
                              - Vì sao cô cứ nhất định nuôi con?
                              Cô có khả năng nuôi dạy nó cho tốt đâu?
                              Tôi mới có thể cho nó học một trường tốt nhất, cho nó sống đầy đủ nhất.
                              Chị đáp :
                              - Em có đủ tình yêu cho nó, như thế chẳng đủ rồi sao?

                              Đang lúc hai người tranh chấp thì con trai họ chạy về, nói là muốn tới siêu thị mua đồ chơi.
                              Anh cất tờ giấy ly hôn, đưa con xuống lầu đi siêu thị.
                              Con lớn chừng này rồi mà anh chưa hề chăm sóc nó được tẹo nào, vì thế anh chiều theo ý con, mua rất nhiều thứ cho nó.

                              Khi phải leo cầu thang lên tầng năm, thằng bé kêu mỏi chân, bắt bố cõng.
                              Anh cõng con, leo được hai tầng đã mệt đứt hơi.
                              Thằng bé hỏi:
                              - Ba có mệt không?
                              - Mệt chứ!
                              Con đã lớn thành đứa trẻ lớn rồi mà!
                              Thằng bé áp mặt vào lưng bố, nói:
                              - Ba ơi, nếu mệt thì ba đếm bậc cầu thang nhé, hễ đếm là ba không thấy mệt nữa đâu!
                              Anh không nhịn được cười, bảo con:
                              - Sao con ngốc thế?
                              Đếm thì lại mệt hơn ấy chứ?
                              Thằng bé nói :
                              - Khi ba vắng nhà, mẹ thường bế con và cõng bà xuống sân phơi nắng. Lúc phơi nắng xong trở lên nhà, mẹ bước lên bậc nào thì đếm bậc ấy.
                              Mẹ bảo đếm thì không thấy mệt nữa. Ấy là mẹ còn đau lưng đấy, chẳng lẽ ba không khỏe bằng mẹ hay sao?
                              Anh bỗng ngây người rồi trong mắt chợt trào ra cái gì đó long lanh.♥


                              ST
                              Last edited by hung45qs; 02-04-2013, 09:29 PM.
                              Hung45HTQS

                              Comment

                              • hung45qs
                                Administrator
                                • Jul 2009
                                • 1417

                                #45
                                Ước Vọng Cuối Đời Người


                                Ba anh em cùng bước vào thang máy để lên tầng 3 của bệnh viện. Tảo vẫn thắc mắc:
                                - Không biết bố muốn nói gì với chúng ta nhỉ?

                                Tùng, người anh cả thì chậm rãi chép miệng:
                                - Người bệnh nào cũng thế, cảm thấy mình sắp lìa cõi đời nên muốn trăn trối, có khi chả có gì quan trọng cả.
                                Tiên trầm lặng mà chín chắn hơn:
                                - Anh Tùng và Tảo ơi, em nghĩ là bố sẽ trăn trối điều quan trọng đấy, vì bố dặn dò chỉ 3 anh em chúng ta thôi, không cần dâu, rể…

                                Tảo lại đoán gìa đoán non:
                                - Hay bố muốn chia tài sản cho 3 anh em mình, có dâu, rể thì kém phần tự nhiên đi. Xưa nay bố vẫn tế nhị mà…
                                Tiên lườm thằng em út:
                                - Em thì lúc nào cũng nghĩ đến tiền, mấy năm trước bố đã trả nợ cho em mấy cái thẻ credit card gần sạch vốn rồi…
                                - Anh đoán là bố muốn trăn trối về chuyện ma chay, tính bố vốn giản dị.

                                Họ ngưng nói khi thang máy mở cửa, ba anh em bước vội về phòng số 312. Bây giờ là 8 giờ tối, nhưng buổi tối không có ý nghĩa nghỉ ngơi trong bệnh viện, bất cứ lúc nào cũng có kẻ đau đớn bệnh hoạn, có kẻ nhắm mắt lìa đời và các bác sĩ, y tá, y công thì thấp thoáng đi lại các dãy hành lang hay trong từng phòng bệnh nhân.

                                Ông Nguyên đang nằm trên giường, dường như ông đã chuẩn bị tinh thần và chờ đợi các con đến, ông mỉm cười hài lòng:
                                - Các con đã đến, bố vui lắm. Nào ngồi xuống đây với bố…

                                Tùng và Tảo kéo ghế lại gần giường bố, còn Tiên không có ghế nên ngồi bên mép giường, Tiên lên tiếng trước:
                                - Bố bảo chúng con đến đây, chắc có điều gì cần dặn dò?

                                Ông Nguyên khẽ lắc đầu:
                                - Tâm tình thì đúng hơn, đời bố không có ai tri kỷ, bố sắp lìa đời xin 3 con làm tri kỷ với bố chỉ lúc này thôi, có được không?

                                Tảo sốt ruột:
                                - Vâng ạ, chúng con xin nghe.
                                - Ừ, bố chẳng muốn làm mất thì giờ của các con..

                                Ông Nguyên khép mắt lại vài giây như để tâm tư bình lặng trước khi ông bắt đầu nói một câu chuyện, giọng ông rõ ràng và tràn đầy cảm xúc:
                                - Bố biết bệnh tình mình không còn sống được bao lâu nữa, ung thư gan giai đoạn cuối thì sẽ bùng phát tới cái chết nhanh chóng lắm, hôm nào còn tỉnh táo thì biết hôm ấy. Ngày mai, ngày kia có thể bố sẽ suy sụp, đi vào hôn mê, vào nỗi đau đớn và vào cõi chết. Nên bố muốn tâm tình với các con lúc bố đang tỉnh táo như thế này.

                                Ông Nguyên ngừng để thở và nói tiếp:
                                - Bố bắt đầu câu chuyện đời bố nhé. Ngày xưa bố đã quen và yêu tha thiết cô Song, mẹ các con. Cô Song có vẻ đẹp ngây thơ, mảnh mai và yếu đuối khiến bố chỉ muốn giang tay ra ấp ủ cô, cho cô nương tựa suốt cả đời, cô Song cũng yêu bố. Hai người lấy nhau hạnh phúc đẹp như mơ.

                                Là phụ nữ nên dễ mủi lòng, Tiên rưng rưng muốn khóc khi nghe bố nhớ đến hình ảnh mẹ :
                                - Giờ đây mẹ đã nằm dưới suối vàng rồi. Tội nghiệp bố qúa!
                                Tảo nhanh nhẩu trở về hiện tại mong làm vừa lòng bố:
                                - Chúng con sẽ mua phần đất cạnh mộ mẹ để bố mẹ sẽ mãi mãi bên nhau, từ lúc sống cho đến khi cả hai trở về với cát bụi.

                                Ông Nguyên hốt hoảng kêu lên:
                                - Không, không…các con đừng vội mua đất ấy, hãy im để nghe bố kể tiếp. Lấy nhau rồi sống chung một thời gian bố mới biết cái làn da trắng mong manh, cái dáng người mảnh mai yếu đuối như cơn gío hờ ấy là do cô Song bị bệnh tim, hai vợ chồng trẻ hạnh phúc được những năm đầu, đã sinh liên tiếp 3 đứa con, mỗi một lần sinh con là mỗi lần cô Song hao mòn sức khỏe, bác sĩ khuyên cô Song không nên sinh đẻ nhiều vì bệnh tim không cho phép. Càng thêm tuổi, càng ốm yếu bệnh hoạn thì tính tình cô Song càng thay đổi, cô Song bé bỏng dễ thương của bố đã trở thành một bà vợ đảm đang nhưng lắm lời và khó khăn đến cay độc với bố. Bà Song làm chủ mấy cái hụi, ăn tiền đầu, ăn tiền chồng theo và kiêm luôn cho vay nợ lãi trong xóm, lợi tức bà Song kiếm ra nhiều hơn đồng lương nhà giáo ba đồng ba cọc của bố dạo đó. Thế nên bố bị lép vế.

                                Giọng ông Nguyên não nề kết luận:
                                - Tình yêu trước hôn nhân và sau khi thành tình vợ chồng là hai khung trời khác biệt. Sống bên vợ mà bố không có tiếng nói của mình, bà Song lấn lướt chỉ huy chồng, hiếp đáp chồng, bố dần dần khép mình thụ động như một diễn viên tự biết mình kém tài lùi vào hậu trường sân khấu.

                                Tùng an ủi:
                                - Con biết mẹ khó tính, nhưng chắc là mẹ vẫn còn tình thương yêu cho bố mà
                                Tiên bào chữa cho mẹ:
                                - Khi thành vợ chồng thì cuộc sống đối diện thực tế nên mẹ mới thay đổi, mà ai cũng thế cả. bố ạ.
                                Ông Nguyên cay đắng:
                                - Cho dù các con nói đúng, nhưng với bố sự thay đổi tính nết và cách đối xử của bà Song đã dần dần giết chết tình yêu ban đầu của bố. Bố chỉ thấy một bà vợ vô tình, tham lam và coi thường chồng.

                                Tảo thẳng thắn:
                                - Thế sao bố vẫn chịu đựng ?

                                Ông Nguyên mỉm cười buồn:
                                - Tình yêu của bố đã biến thành tình thương hại, mẹ các con là một người đàn bà bệnh hoạn, nay ốm mai đau, bố nỡ lòng nào làm tan nát gia đình cho bà ấy đau khổ thêm? và vì các con, vì những hệ luỵ của cuộc đời…

                                Tảo nói như vừa tìm ra một điều lạ lùng:
                                - Thì ra thế! Có những cuộc hôn nhân người ngoài nhìn vào tưởng đẹp đôi, gia đình hạnh phúc, nào biết bên trong là ngậm đắng nuốt cay. Mẹ đã mất 2 năm nay mà bây giờ chúng con mới được nghe một sự thật đau lòng phơi bày.
                                - Vợ chồng là duyên mà cũng là nợ đấy con, chả thế mà người ta gọi là “duyên nợ”.hay “nợ duyên”. Có lẽ kiếp trước bố mang nợ mẹ con rất nhiều nên kiếp này bố phải sống với bà ấy đến hết cuộc đời để trả cho xong nợ. Hai năm qua lòng bố rất thanh thản đối với mẹ các con, mong là dưới suối vàng bà Song cũng thanh thản vì bao nhiêu năm qua bố chưa làm điều gì sai trái, lầm lỗi, phản bội bà.
                                - Vâng, chúng con hiểu tính độc đoán của mẹ và cảm nhận được sự chịu đựng của bố. Đây là tất cả những gì bố muốn trao gởi với chúng con tối nay phải không?

                                Ông Nguyên chợt mơ màng:
                                - Mới chỉ một nửa tâm tình của bố thôi, một nửa nữa cũng buồn nhưng không biết bố có được toại nguyện và thanh thản trước lúc lìa đời không? Ngày đó, khi còn ở Việt Nam có một gia đình hàng xóm khá thân với gia đình mình là ông bà Cầm…

                                Tùng ngắt ngang:
                                - Có phải vợ chồng bác Cầm hiện nay cũng ở thành phố này và thỉnh thoảng có đến thăm bố mẹ không?
                                - Chính là họ đấy. Người chồng thì ham mê cờ bạc và vũ phu với vợ, nhưng ngược lại bà Cầm là một phụ nữ dịu dàng luôn chịu đựng và chiều chồng, đã nhiều lần bà Cầm phải sang năn nỉ bà Song để xin hốt hụi sớm, xin chồng hụi theo cho bà hay vay nợ lời để bà ấy trả nợ cho chồng mà ông chồng thì vẫn chứng nào tật nấy. Đó là những dịp bà Song kiếm lời ngon lành không hề nương tay, bố thấy hoàn cảnh nhà bà Cầm rất đáng thương và có khuyên mẹ con nên ăn lời nhẹ tay với bà Cầm nhưng đời nào mẹ con nghe theo. Giữa bà Song và bà Cầm là một sự khác biệt lớn lao, bố đã cảm thông cho bà Cầm và thương yêu bà từ lúc nào không biết. Bố đã ước mơ, đã ấp ủ hình bóng bà Cầm âm thầm trong tim cho đến tận bây giờ.
                                - Trời ơi, thế là bố cũng đã có một tình yêu khác ngoài mẹ!!
                                - Bố biết làm sao hơn, tình yêu có hay không là tự nhiên chứ chẳng ai muốn hay từ chối được.
                                - Thế bà Cầm có biết là bố thầm yêu trộm nhớ bà ấy không?
                                - Đã yêu thầm thì làm sao bà ấy biết được. Ngay cả mẹ con sống cạnh bố cũng không bao giờ ngờ trong trái tim bố đã có một tình yêu khác. Sau biến cố 1975 nhà mình sang Mỹ, những năm sau đó trời xui đất khiến làm sao đã gặp lại gia đình bà Cầm tại thành phố này và làm hàng xóm của nhau một lần nữa. Ông trời thật trớ trêu, cho ngươì ta gần nhau nhưng không bao giờ là của nhau, không bao giờ thuộc về nhau.

                                Ông Nguyên lần lượt nhìn các con bằng ánh mắt cầu xin tha thiết:
                                - Bao nhiêu năm qua bố sống với mẹ con chưa hề được thoải mái nói lên điều gì, dù chỉ là những chuyện vặt trong đời sống, bà Song không hề biết bố buồn hay vui, không cần biết bố hài lòng hay thất vọng. Nhưng hôm nay, khi bố còn tỉnh táo và sáng suốt, bố muốn được thoải mái nói lên 1 ước vọng, ước vọng cuối đời khi mà cái ngày bố sẽ lìa đời không còn xa lắm. Các con có giúp bố không?
                                - Vâng, xin bố cứ nói nếu điều ấy không phải là lấp biển vá trời .
                                - Bố muốn được 1 lần nắm tay bà Cầm để nói với bà ấy rằng “Anh đã yêu em” Thế là bố đủ mãn nguyện và sẽ thanh thản đợi chờ cái chết .

                                Cả ba anh em cùng nhìn nhau bất ngờ và sững sờ. Mãi sau Tiên mới lên tiếng:
                                - Con ngại là làm phiền bà Cầm, không hiểu bà ấy có chịu đến bệnh viện thăm bố một mình không? Vì chúng ta không thể mời cả hai vợ chồng bà Cầm trong chuyện này.

                                Ông Nguyên vẫn tha thiết:
                                - Đó là ước vọng to lớn nhất của đời bố, là niềm vui bố sẽ mang theo khi chết, ngoài tình yêu thương bố đã dành cho các con .Còn chuyện sau khi bố lìa đời, bố xin các con đừng chôn cất cạnh mộ mẹ con, cả đời bố đã chịu đựng làm cái bóng bên bà ấy rồi. Lần này hãy cho bố được quyền lựa chọn, hãy hỏa thiêu và tung nắm tro tàn của bố ra sông ra biển để bố được tự do tan biến giữa trời đất bao la vô cùng vô tận này.

                                Giọng ông trở nên hờn tủi:
                                - Các con có biết đâu những ngôi mộ vợ chồng nằm cạnh nhau mà chắc gì cuộc sống khi sinh tiền họ đã hạnh phúc với nhau? Bố không muốn đẹp đôi hình thức như thế. Thôi đã khuya rồi, bố cần nghỉ ngơi, các con về nhà đi, rồi tìm cách cho bố được toại nguyện. Cám ơn các con đã đến và lắng nghe bố tâm tình.
                                Tiên cẩn thận kê lại chiếc gối và đắp lại tấm chăn cho bố gọn ghẽ rồi ba anh em rời khỏi phòng bệnh.

                                Vừa bước chân ra ngoài Tùng đã nghiêm nghị lên tiếng:
                                - Về cái chuyện bà Cầm không thể làm theo ước vọng của bố, người ta biết được sẽ khinh bố, bấy lâu nay sống bên vợ chỉ là trả nợ, mà đi yêu thầm người khác.

                                Tảo cũng khó chịu:
                                - Trước hết bà Cầm sẽ cười cho đấy. Ông già lẩm cẩm dở hơi, đã yêu thầm tới tuổi này thì âm thầm mang theo cho tới khi nhắm mắt có phải là đẹp hơn không?

                                Tiên đỡ lời :
                                - Em Tảo lúc nào cũng ăn nói không suy nghĩ, Bố đang rất tỉnh táo chứ có lẩm cẩm dở hơi đâu. Bố có lý của bố, đã chịu đựng, đã hi sinh và chung thủy với mẹ suốt cuộc hôn nhân, có phản bội chăng chỉ là trong tư tưởng. Anh Tùng và Tảo ơi, chúng ta sống và lớn lên ở Mỹ thì phải suy nghĩ phóng khoáng ra chứ…

                                Tùng chán nản buông xuôi:
                                - Anh không ý kiến nữa, cô muốn làm sao thì làm.
                                - Vâng, em sẽ liệu cách và mời bà Cầm đến thăm bố một lần. Có gì là tội lỗi đâu khi một người sắp chết muốn nói lời tỏ tình với người mình đã yêu suốt bao nhiêu năm qua.mà phải dấu trong câm nín.


                                Tiên đến nhà bà Cầm sau khi đã gọi phone báo trước. Bà hàng xóm thân của cha mẹ Tiên đã vui vẻ nhiệt tình:
                                - Cháu đến chơi thật là đúng lúc vì bác đang ở nhà một mình, bác trai đi thăm người nhà bác ấy ở tiểu bang khác, vì bác đang mệt nên chẳng thể đi cùng. Từ ngày mẹ cháu mất vợ chồng bác cũng ít đến nhà cháu, bố cháu vẫn khỏe chứ?
                                Tiên vào đề ngay:
                                - Bác Cầm ơi, dù bác không hỏi thăm thì cháu cũng sẽ nói đây, bố cháu đang bị bệnh ung thư gan, giai đoạn cuối rồi..
                                - Trời ơi, thế sao hôm nay cháu mới báo tin !
                                - Bệnh mới phát giác hơn 1 tháng nay thôi, chắc bố cháu không sống được bao lâu nữa…

                                Bà Cầm xúc động:
                                - Thế thì bác phải đi thăm bố cháu ngay.
                                Tiên mừng rỡ:
                                - Vậy cháu chở bác đến bệnh viện, có bác đến thăm chắc bố cháu mừng vui lắm
                                - Phải đấy, đợi bác thay đồ rồi chúng ta cùng đi.
                                Tiên mừng thầm trong bụng vì tưởng là khó khăn lắm khi mở lời để mời riêng bà Cầm không ngờ lại ngẫu nhiên bác trai vắng nhà và thuận tiện như vậy. Tiên thấy không cần phải nói ra mục đích của bố, cứ để bố tự nói ra thì phản ứng của bà Cầm sẽ tự nhiên hơn.

                                Tiên đưa bà Cầm đến bệnh viện, vào phòng ông Nguyên làm ông bất ngờ đến luống cuống và mừng vui:
                                - Bà Cầm, bà Cầm… Ôi, bà đã đến thăm tôi đấy à…
                                Tiên vội kéo ghế đến gần giường bệnh và mời bà Cầm ngồi, xong Tiên lịch sự khép cửa phòng ra ngoài..

                                Bà Cầm chưa kịp hỏi thì ông Nguyên đã giải thích:
                                - Cháu nó muốn để tôi nói chuyện riêng với bà đấy mà.
                                - Chuyện gì thế ông? Ông đang ốm nặng lắm mà, đừng chuyện trò gì nhiều tổn hại thêm cho sức khỏe…
                                - Đằng nào tôi cũng sẽ chết, nếu dịp này tôi không nói ra thì không bao giờ nói được nữa, vì kiếp sau chắc gì người ta nhớ được tiền kiếp của mình?

                                Bà Cầm ngạc nhiên:
                                - Ông Nguyên, ông nói gì lạ thế?
                                - Bà Cầm ơi, không lạ đâu, chúng ta đã quen biết nhau mấy chục năm nay và có thể là từ kiếp trước nữa. Từ lâu, từ ngày chúng ta còn sống ở Việt Nam tôi đã thầm yêu thương bà, bà mới là người mà thật sự tâm hồn tôi cần thiết và tìm kiếm.

                                Bà Cầm thảng thốt nhưng không dấu được vẻ cảm xúc đang dâng tràn:
                                - Thì ra thế…vậy mà bao lâu nay tôi vô tình không nhận ra…
                                Ông Nguyên mỉm cười:
                                - Tôi cố dấu lòng mình để chung thủy với vợ thì làm sao bà biết được. Chúng ta mỗi người đều có cuộc đời riêng, thà tôi chịu đựng đau khổ một mình, nói ra làm gì cho mang tội, mỗi đêm khuya thao thức hay mỗi khi cô độc một mình tôi đều khấn nguyện trong lòng cho tôi quên bà đi, nhưng chưa bao giờ tôi quên được. Tôi vẫn lặng lẽ sống bên lề cuộc đời bà, cùng đau khổ khi bà buồn hay hoạn nạn..

                                Bà Cầm bật khóc:
                                - Trời ơi…những lúc bất hạnh ấy đôi lần tôi…cũng nghĩ đến ông, một người đàn ông mà tôi tin là hiền lành tử tế, hiểu vợ và thương yêu vợ, chứ tôi không bao giờ dám mơ ước được ông yêu thương.

                                Ông Nguyên đưa bàn tay ra:
                                - Tôi chỉ mong được thố lộ tâm tư này và được một lần nắm lấy bàn tay bà, bàn tay mà tôi từng nắm lấy trong giấc mơ. Mong rằng hôm nay sẽ là sự thật.

                                Bà Cầm để bàn tay bà trong bàn tay ông Nguyên, người nằm trên giường bệnh bỗng như có một luồng điện mạnh làm cho bàn tay ông ấm lên, mạnh mẽ lên. Ông nắm chặt bàn tay ấy và tha thiết nói từng lời:
                                - Anh đã yêu em.

                                Rồi ông Nguyên liên tiếp lập lại như trong cơn mê sảng:
                                - Anh đã yêu em, anh rất yêu em…và mãi mãi yêu em…


                                Bà Cầm vẫn để yên bàn tay mình trong bàn tay ông, hình như bà cũng muốn giây phút đôi tay chạm vào nhau được kéo dài thêm nữa, rồi bà cúi hôn lên bàn tay ông và nước mắt lại rơi nhạt nhòa.

                                Khi Tiên đẩy cửa bước vào phòng thì hai bàn tay vẫn chưa nỡ rời nhau. Tiên đã hiểu và đoán được những gì vừa xảy ra
                                Tiên thấy nét mặt bố vui tươi hẳn lên, nét vui vẻ hạnh phúc ấy của bố dường như chưa bao giờ Tiên thấy khi mẹ mình còn sống. Tình yêu là thần dược, tình yêu là sức mạnh vô song…

                                Dù rằng rồi mai kia cơn bệnh hiểm nghèo cũng sẽ mang bố đi xa, nhưng Tiên biết chắc là bố sẽ hạnh phúc và thanh thản vì ước vọng cuối cùng của đời ông đã được toại nguyện


                                Nguyễn Thị Thanh Dương
                                ( Feb. 2013)
                                Hung45HTQS

                                Comment

                                Working...