Xin Gởi Vào Thiên Thu
Truyện được viết theo chuyện kể của một thương binh VNCH.
Người viết: bà Đoàn minh Chiếu thân hữu Hội Cựu QDCC& Hậu Duệ St Louis, Missouri
-Sinh năm 1943 Tại Nha Trang
-Nữ Sinh TH/Đệ nhị cấp Kim Yến Nha Trang
-Chuyên viên Tiếp Liệu Binh Đoàn TĐ631/Yểm trợ Truyền Tin
-Nhân viên MACV phòng cố vấn Mỹ tại TĐ 631/YTTT
-Nhân viên phòng Chiến Tranh Tâm Lý thuộc BTLHQ/QLVNCH
-Người chuyển bài Vũ Hải
Chiếc xe gắn máy do một người đàn ông lái chở Tuệ từ Sàigòn về hướng Biên Hòa, sau 30 phút đã dừng lại tại một điểm bên xa lộ. Tuệ rời xe với chiếc nạng gỗ, anh rút túi đưa tiền cho người lái xe ôm, nói lời cám ơn rồi vội vã nhấc từng bước đi vào nghĩa trang QĐ/VNCH Biên Hòa. Tuệ đưa mắt nhìn một lượt quang cảnh trước mặt, mọi vật còn giữ lại đôi nét cũ xưa. Cổng tam quan vẫn đứng sừng sững giữa trời mang dấu vết của hai hàng chữ kiên định trên hai thân cột, bên phải “ Vì dân chiến đấu”, bên trái “Vì nước hy sinh”. Những hàng chữ này trước 75 đã được sơn son thếp vàng trân trọng, ghi khắc lòng ngưỡng mộ tôn kính đối với những người con yêu của Tổ Quốc. mặc dù sau 30/4/75 bọn việt cộng đã vội vàng đục bỏ những khầu hiệu cao quý đầy ý nghĩa này, cũng như chúng đã kéo sập bức tượng “Thương Tiếc” người chiến sĩ Quốc Gia được đặt trước Nghĩa trang Quân Đội, nhưng dưới ánh mặt trời chúng không thể che dấu hay xóa bỏ được lòng dũng cảm của trên 14 ngàn Chiến Sĩ Quốc Gia đã vùi chôn thân xác trong lòng đất mẹ.

Bức tượng "Thương Tiếc" Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa trước 1975

Bức tượng "Thương Tiếc" Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa sau 1975
Tuệ khó khăn bước lên từng bậc cấp với chiếc nạng gỗ trong tay, dưới chân anh là những vết rạn nứt bởi thời gian, vì mấy chục năm qua chính quyền việt cộng cấm không cho thân nhân được phép viếng thăm nói chi đến việc sửa sang hay trùng tu những mộ phần đã bị sụp đổ. Phải chăng chúng quá sợ hãi lòng ngưỡng mộ của đồng bào miền Nam dành cho những người đã chết vì Chính Nghĩa Quốc Gia.?
Sau nhiều cố gắng Tuệ cũng đã lên được nghĩa trang anh đưa tay áo thấm mấy giọt mồ hôi trên trán và dừng lại dưới một bóng mát nghỉ chân. Nắng vừa lên cao chiếu xuống những hàng cây còn đọng lớp sương mai, Tuệ liên tưởng đến những ngấn lệ của mẹ già, của những người cô phụ bên đàn con nhỏ đã từng dìu dắt đến đây với bao nỗi đau xót ngậm ngùi để tiễn biệt người thân yêu của mình trong một lần cuối…
Ngồi đây Tuệ có thể nhìn về một góc đồi xa, những hàng cây cao vút vẫn còn đó, chúng đã trải qua bao năm tháng dưới mưa dầm nắng cháy để minh chứng trước “hồn thiêng sông núi” cho hàng hàng lớp lớp người trai , đã hy sinh xương máu trong các cuộc chiến chống kẻ thù cộng sản miền bắc xâm lược.
Từ ngày miền Nam bị bức tử cũng là ngày toàn dân Nam hối hả bỏ nước ra đi , thêm một lần nữa súng đạn của kẻ thù cộng sản hung tàn đã làm tan nát quê hương này, gây ra bao cảnh máu lửa điêu linh cho hàng vạn dân lành vô tội trong ngày 30/4/75.
Nghĩ đến đây, Tuệ thấy lòng se thắt, một cái gì đang còn khuất tất trong tim. Anh cúi nhặt một hòn sỏi và ném mạnh vào hư không, chợt một cánh chim từ trên cành cao bay sà xuống rồi vút lên mất dạng trong vòm trời bao la. Tuệ ngước nhìn bầu trời xanh lơ, vài sợi mây trắng buông lơi giữa không gian huyền diệu , gợi anh nhớ đến những cánh dù căng gió, mang đầy ắp những kỷ niệm oai hùng trong đời quân ngũ.
Vừa tốt nghiệp Đại học xong, Tuệ quyết định dấn thân vào đường binh nghiệp để phục vụ đất nước. Cánh dù từng là tri kỷ đối với Tuệ, nó đồng hành bên anh trong các cuộc hành quân cam khổ khi chọn điểm để rơi giữa lòng địch, khi nương theo chiều gió và đáp xuống những vùng rừng thiêng nước độc, nơi chưa có dấu chân người khai phá, trước khi toán anh chờ lệnh đến tọa độ.
Nó đã bao lần cùng anh đặt chân lên những vùng đất giao tranh đầy lửa đạn, bao lần hoan ca trong chiến thắng huy hoàng, và cũng nhiều lúc đớn đau nghiêng mình trước những hy sinh cao cả của anh em đồng đội. Là chiến sĩ anh luôn đặt mình trong danh dự và trách nhiệm. Khi chiến trường sôi động, nhận lệnh, anh hăng hái lên đường đến vùng lửa đạn nơi đang xảy ra những cuộc tranh hùng, tử thủ của những người chiến sĩ can trường đã xông pha giành lại từng tấc đất cho quê hương này. Cuộc đời anh như cánh diều luôn bạt ngàn trong gió, ít nhiều đã làm thỏa chí tang bồng của người trai thời loạn.
Cho đến một ngày…ngày Tuệ bàng hoàng nuốt lệ rời xa cánh dù vĩnh viễn, khi anh để lại chiến trường Bình Long một phần thân thể của mình vào đầu (Tuệ mất chân trái khi anh đáp xuống trên bãi mìn) vào năm 1975.
Anh được đưa về điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hòa nơi đây anh được chăm sóc đặc biệt về thể chất đến tinh thần. Cùng phòng với anh có nhiều chiến sĩ toàn thân bị thương tích, nhưng các anh không một lời kêu than hay oán trách, có lẽ Danh Dự và Trách Nhiệm trên đôi vai người Chiến Sĩ Quốc Gia đã cho họ sự vững mạnh và chí khí?Tuệ còn nhớ, hôm ấy là ngày 30-4-75. Một sự thật não lòng đã bất ngờ xẩy ra tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Tin cộng quân cưỡng chiếm Sàigòn, không lâu chúng đã tràn vào Tổng Y Viện và yêu cầu tất cả thương bệnh binh “khẩn trương” rời khỏi bệnh viện theo lệnh của chúng.Trước một sự thật qúa phũ phàng, các anh không khỏi bàng hoàng do dự, nhưng chỉ trong thoáng chốc khi chạm phải những bộ mặt rừng rú, những người thương bệnh binh đã lấy lại sự bình tĩnh để chỗi dậy.
Họ chấp nhận ra đi đang khi thân thể mang đầy thương tích, còn hơn phải đối diện với kẻ thù trước cảnh thảm bại đầy tủi nhục này. Tâm hồn họ buốt đau như cánh chim bị đạn, họ cảm thấy bị chới với như con thuyền mất định hướng giữa trùng khơi . Trong lúc này không ai còn thốt lên được lời nào dù chỉ một lời chia tay. Tuệ cũng như số đông các anh em khác đang từ từ tiến ra khỏi phòng bệnh, họ cố dấu trong tim sự bẽ bàng tủi hổ của người đã từng cầm súng xông pha diệt thù bảo vệ non sông.
Từng bước di chuyển của mỗi người thương bệnh binh, là từng nỗi đau gậm nhấm trong tinh thần và trên thân xác đang mang đầy những vết thương còn rướm máu của chiến trường, nhưng họ vẫn thu hết can đảm trong hơi thở tàn để ngẩng mặt mà đi trước đôi mắt hằn học vô cảm của kẻ thù xâm lược, vì họ là những thương binh có Lý Tưởng và Danh Dự, bỗng chốc trở thành kẻ sa cơ lạc bước trên đường đời như đàn con mất mẹ sau lệnh buông súng đầu hàng nhục nhã của Dương văn Minh, để giao nửa phần giang sơn còn lại cho việt cộng.
Rồi đây họ sẽ về đâu, dưới một trời đầy giông bão? Nhất là một số các thương binh có gia đình còn kẹt trong vùng lửa đạn, vì bận đi chinh chiến lâu ngày họ không nhận được tin tức ở quê nhà. Nhiều anh đau đớn kéo lê khúc chân mới được băng bó còn rướm máu. Có những anh bị mất cả hai chân hay bị mù cả hai mắt phải nhờ bạn đưa ra cổng. Trong phòng hồi sinh còn nằm la liệt những thương binh từ chiến trường mới được tải thương về hôm trước, thân thể và trên đầu còn quấn những băng trắng thấm máu, họ đang nằm tiếp dưỡng bằng những ống dẫn thuốc và bình nước biển treo lủng lẳng trên đầu giường cũng phải đứng dậy mà đi, và còn rất nhiều thảm cảnh khác trong bệnh viện mà bất cứ ai có chút nhân tâm cũng thấy mủi lòng xót xa cho số phận những người thương bệnh binh trong ngày quốc nạn 30-4-75. Những sự kiện đau khổ ấy không chỉ đến với họ trong một ngày, nhưng các anh còn phải hứng chịu nhiều sự bạc đãi cho đến về sau.
“Hỡi Đấng chí Cao! Thù nước chưa trả xong, ai đã nhẫn tâm đem màn đêm bao trùm lên những mảnh đời tan tác này ?”
Thật đau lòng khi nghĩ đến những người thương bệnh binh VNCH phải sống một cuộc sống đầy tủi nhục dưới chế độ cộng sản.
Họ thiếu tình thương và sự nể trọng của mọi người, họ sống âm thầm trong cảnh cơ cực bần hàn giữa sự ghẻ lạnh đến tàn nhẫn của xã hội. Từng ngày qua, họ lê tấm thân tìm kiếm mưu sinh trên các hè phố đông người, để góp nhặt những chiếc lon hay bao nhựa rơi vãi trên lề đường, hầu mong có chút tiền độ nhât giữa lòng một thành phố mang tiếng là đổi mới với những cao ốc của các cấp cầm quyền quan lại tham ô, những dinh thự đồ sộ nguy nga ngày đêm luôn có người hầu kẻ gác của bọn tư sản đỏ thi nhau mọc lên như nấm. Một xã hội mất gốc đang lao mình học đòi theo lối sống vật chất xa hoa tội lỗi, mặc cho luân lý đạo đức suy đồi, có mấy ai còn biết tôn trọng nhân cách để quan tâm đến những con người cùng khổ này?
Họ là những ai?
Phải chăng họ là những người con yêu của đất nước, là những chiến sĩ can trường đã góp phần xương máu đẩy lùi những bước xâm lược của cộng sản vào miền Nam, suốt mấy mươi năm dài cho đến khi quê hương bị bức tử.
Tuệ cũng như các anh thương binh khác, ngày bị xua đuổi ra khỏi bệnh viện trong một bối cảnh lịch sử thật đau lòng. Tuệ lầm lũi đi trên đường Võ di Nguy Phú Nhuận để về nhà, lòng anh như dao cắt, khi nhìn nửa phần đất nước còn lại hôm nay đã rơi vào tay kẻ thù. Định mệnh sao qúa khắt khe với Dân Tộc Việt Nam, máu đã chảy thành sông, xương đã chất thành núi của một thế hệ vừa nằm xuống để cuối cùng phải nhận một hâu qủa đầy bi đát như thế này sao?
Xa vắng gia đình đã lâu, giờ đây Tuệ như cánh chim tìm về tổ ấm, nơi đó chính là nguồn an ủi duy nhất cho quãng đời còn lại của chàng…
Bỗng Tuệ dừng bước trước một địa chỉ thân quen, nơi mà trước đây từng đón anh với nụ cười nở rộng, những ánh mắt chan chứa tình thương của mẹ hiền và em dại. Hôm nay thì cửa đóng then cài như vô tình ném vào mắt anh một thái độ hờ hững lạnh lùng, một thách đố cuồng bạo, vô hình trung đã dập tắp trong anh niềm tin vừa nhen nhúm.
Tuệ đứng lặng người như kẻ mất hồn, cảnh cũ còn đây mà người xưa đâu thấy ? Bất giác hai hàng nước mắt tuôn dài trên má Tuệ, tâm hồn anh như đang rơi xuống tột cùng của một vũng sâu tăm tối. Lần đầu tiên Tuệ chảy nước mắt trước nghịch cảnh cuộc đời.
-Phải, Tuệ đã khóc !
Anh khóc cho ngày quê hương bị bức tử cho những bước chân tháo chạy bất chấp mọi hiểm nguy để tìm hai chữ “Tự Do”, và khóc cho nỗi cô đơn của chính mình!
Trong lúc Tuệ còn bối rối chưa biết xử trí thế nào, dù sao anh cũng cần có chỗ để nghỉ ngơi, Tuệ chợt nhìn thấy một người sửa xe bên lề đường anh liền đến mượn một thanh sắt nạy chốt cửa để vào nhà. Cảnh vật bên trong không thay đổi, chỉ có những ngăn tủ được kéo ra nửa chừng còn vung vãi đồ đạc ra ngoài, chứng tỏ gia đình anh đã ra đi trong giây phút vội vàng. Qua mấy ngày nghỉ ngơi yên tĩnh Tuệ đã lấy lại sức khoẻ phần nào. Tuy vậy lòng anh vẫn canh cánh một nỗi buồn vì thiếu vắng người thân, chàng không khỏi lo lắng cho sự ra đi đầy gian khổ của gia đình.
Mới độ nào, trong một ngày về thăm nhà, không khí gia đình thật vui vẻ, lúc nào bên anh cũng có những tiếng cười nói của cha mẹ và các em. Hôm nay căn nhà trở nên quạnh quẽ đìu hiu , tuy nhiên trong âm vang xa vời ấy như vẫn còn lưu lại chút nguồn sinh khí trong hơi thở của chàng, nó bồi đắp phần nào sự mất mát to lớn của người thương binh ấy.
Không ngờ sau một tuần được hưởng sự bình yên trong ngôi nhà ấm cúng của cha mẹ. Buổi sáng hôm ấy Tuệ đang nằm đọc sách, bỗng có nhiều tiếng đập cửa, chàng đứng lên và ra mở cửa, một toán người mặc quân phục và có mang súng bước vào nhà, chúng bảo Tuệ xuất trình giấy chủ quyển nhà.
Tuệ nói “gia đình đi về quê không để giấy tờ ở ngoài”.
Chúng thấy Tuệ không có giấy chủ quyền nhà, liền đọc lệnh tiếp thu của “Uỷ Ban Quân Quản” , buộc Tuệ phải ra khỏi căn nhà này ngay, và chúng nói “Nhà này thuộc thành phần tư bản đã bỏ chạy theo đế quốc, phải bị niêm phong”
Thế là một lần nữa, Tuệ phải ra đi trong tủi hận, anh ngậm ngùi quay lại nhìn ngôi nhà thân yêu một lần chót, nơi ấy đã chất chứa biết bao kỷ niệm thăng trầm trong cuộc sống của gia đình anh từ mấy chục năm qua, bỗng nhiên bị tước đoạt cách trắng trợn bởi lũ người tự nhận là giải phóng..Chúng đã giải phóng đồng bào ra khỏi sự bình yên bằng bàn tay bạo lực.
Thời gian trôi qua hơn một tháng trong cảnh lang thang không nhà, Tuệ phải bán chiếc đồng hồ đeo tay của anh để mua một chiếc bàn xếp nhỏ và một số thuốc lá để bày bán bên lề đường, khi đêm về Tuệ vào nghỉ trong lều chợ đến sáng hôm sau anh lại trở ra lề đường để kiếm kế sinh nhai. Và như thế cho đến một hôm, Tuệ vào trú mưa bên hè phố tình cờ anh đã gặp lại Tuyên, người bạn cũ trong đơn vị dù của chàng trước đây. Tuyên là thuộc cấp của Tuệ, hai bạn gặp nhau trong cảnh đời lam lũ họ xiết bao vui mừng, họ nóng lòng hỏi thăm tin tức của nhau như ruột thịt. Tuyên có vợ một con, anh hiện sống bằng nghề mua rau cải từ chợ cầu Muối đem bỏ mối cho các chợ nhỏ vùng lân cận. Tuệ cũng kể hoàn cảnh của mình cho Tuyên nghe, Tuyên rất cảm động không ngờ Tuệ bây giờ phải chịu một cuộc sống bi đát như thế! Bỗng Tuyên nhìn sâu vào mắt Tuệ với nét mặt chân thành Tuyên nói:
Tuệ, anh về nhà tôi ở.
Thấy Tuệ không trả lời Tuyên nói tiếp:
-Tụi mình là bạn với nhau trong quân ngũ anh còn ngại gì? Hơn nữa anh cứ ở ngoài chợ bất tiện lắm, nhỡ khi đau ốm thì sao?
Tuệ mỉm cười nhìn bạn anh nói;
-Tôi biết anh có lòng tốt muốn giúp tôi, nhưng anh còn…
Tuyên hiểu ý Tuệ còn ngại vợ Tuyên, anh vồn vã ngắt ngang lời Tuệ:
-Anh khỏi lo, vợ tôi hiền lành và tốt bụng…
Hiểu được chân tình của bạn, Tuệ vui vẻ bắt tay Tuyên để tỏ lòng biết ơn, hai bàn tay xương xẩu xiết chặt nhau như không muốn lìa xa. Chiều hôm ấy khi trời vừa dứt cơn mưa, Tuyên chở Tuệ về nhà chàng trên chiếc ba gác còn vươn lại những lá rau cải, họ tiếp nối câu chuyện trên đường cho đến khi xe rẽ vào một ngõ hẻm quanh co, dẫn đến khu nhà sàn ở ven sông cầu Trương minh Giảng, Tuyên đưa Tuệ vào nhà, đó là căn nhà sàn bằng ván được đắp vá bởi những miếng cartons. Tuyên liền giới thiệu Tuệ với Thanh vợ của chàng và cho Thanh biết ý định của mình là mời Tuệ về ở chung để anh em có nhau trong cảnh xế chiều.
Thanh nghe Tuyên nói, nàng vui vẻ tiếp lời chồng:
Phải đó anh Tuệ, anh nên về ở đây với anh Tuyên. Chúng ta bây giờ là những kẻ bị đắm tàu, mình nên đùm bọc nhau nếu không bằng vật chất thì ít ra cũng trong tinh thần “Huynh đệ chi binh”! Nghe Thanh nói với vẻ mặt ân cần, cả ba đều cười tươi vui vẻ.
Từ hôm ấy, Tuệ không còn đơn độc nữa, vợ chồng Tuyên đối với Tuệ như người thân trong gia đình. Phần Tuệ, sau một ngày kiếm sống bên lề đường với chiếc bàn con bán thuốc lá, tối về anh tìm nguồn vui trong việc dạy kèm cho đứa con trai của Tuyên đang học lớp 8.
Từ ngày gia đình Tuyên có thêm Tuệ, cảnh sống vẫn đơn nghèo nhưng hạnh phúc của họ được nhân lên trong tình người. Tuệ không ngờ việc làm nhỏ bé ấy đã mang đến cho chàng niềm khích lệ qua các cuộc thi sát hạch có thành qủa đáng khen ở trường của con trai Tuyên, nhờ đó Tuệ được nhiều người trong xóm biết đến và cảm mến anh qua vợ chồng Tuyên. Họ gởi con đến nhờ Tuệ kèm vào buổi tối, từ đó Tuệ trở thành ông giáo trong xóm nhỏ.
Môt buổi chiều trên đường về nhà, Tuệ nghe như có ai gọi tên mình, chàng vội quay lại. Thoa đang đứng trước cửa tiệm may của nàng chờ Tuệ đến, chàng vui vẻ hòi Thoa:
- Có gì không cô Thoa?
- Dạ em định nhờ anh kèm dùm toán cho Huy, em trai của em.
Tuệ hỏi: Huy đang học lớp mấy?
-Dạ nó đang học lớp 9, em nhờ anh giúp nó vào cuối tuần.
Tuệ nói: tôi chỉ rảnh vào buổi tối, vậy khi nào cô cho Huy đến học?
Thoa ngập ngừng vài giây và nói:
-Em muốn thưa với anh một việc không biết có trở ngại gì cho anh không?
Tuệ trả lời nàng: có gì cô cứ nói, nếu được tôi xin sẵn sàng.
-Em muốn mời anh đến nhà kèm nó, vì buổi tối nếu Huy đi vắng chỉ có một mình ở nhà em ngại lắm!
Tuệ suy nghĩ vài giây anh trả lời:
Được chiều mai tôi sẽ đến lúc 7 giờ.
Hai người chào tạm biệt và hẹn sẽ gặp lại.
Thoa có một tiệm may nhỏ gần mặt đường Trương minh Giảng. Thân phụ Thoa lúc sanh tiền là một Sĩ Quan Không Quân cao cấp. Ông đã anh dũng đền nợ nước khi lái oanh tạc cơ ra bắc cách đây gần 10 năm. Mặc dù thân xác không còn nhưng QLVNCH đã trân trọng vinh danh, làm lễ truy điệu theo quân cách và dựng tấm bia danh dự khắc tên của thân phụ nàng đặt trong nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà.
Sau biến cố đau buồn đó, mẹ Thoa buồn rầu lâm bệnh và không lâu bà đã qua đời. Từ đó cuộc đời Thoa bị rơi vào những chuỗi ngày đau khổ, nàng tìm quên trong bổn phận làm chị thay mẹ để yêu thương và chăm sóc cho em trai của nàng.
Có lẽ vì thế mà từ lâu Thoa chưa nghĩ đến việc riêng tư của mình. Thoa năm nay vừa 28 tuổi, nàng có một vẻ đẹp dịu hiền và đôi mắt hồ thu. Cô ăn mặc kín đáo nết na so với một số bạn gái đương thời.
Từ khi gặp Tuyên, Tuệ như vớ đuợc chiếc phao giữa giòng, vợ chồng Tuyên đã đem lại cho anh một không khí gia đình đầm ấm qua những bữa cơm chiều bên dĩa rau cà đơn sơ, họ chia sẻ cho nhau những cay đắng ngọt bùi sau một ngày lao động vất vả.
Thời gian Tuệ kèm toán cho Huy thấm thoát đã gần hai năm tròn. Tình cảm giữa Tuệ và chị em Thoa ngày càng thêm thân thiết. Thoa và Huy xem Tuệ như một người thân trong gia đình. Riêng Tuệ anh luôn giữ một tác phong đứng đắn khi tiếp xúc với Thoa và Huy, điều đó đã làm cho Thoa luôn chú ý đến chàng hơn. Đôi lúc ẩn mặt trong phòng, Thoa nhìn Tuệ qua bức rèm thưa, thấy anh đang chăm chú chỉ bài cho Huy: Tuệ có vầng trán rộng và đôi mắt sâu cương trực, nhưng không dấu được nỗi buồn đang ẩn khuất sau hàng mi thâm đen của chàng, cũng với đôi mắt này, đôi khi đã để lại trong lòng Thoa một thoáng buồn vu vơ hay một chút thẹn thùng nơi tâm tư thầm kín của người con gái đang yêu. Thoa thầm mong có dịp ngồi bên Tuệ để nghe Tuệ nói về đời chàng.
Thế rồi trời như cũng chìu lòng người! Hôm ấy vào một đêm cuối tuần, trời bỗng giăng mây xám và đổ mưa, những giọt mưa nặng hạt kéo dài đến nửa đêm làm cả khu xóm đều bị mất điện, vì thế sau giờ dạy học cho Huy Tuệ phải ngồi nán lại chờ qua cơn mưa. Bên ngọn đèn dầu vàng nhạt, mùi trầm hương từ bàn thờ của song thân lan tỏa làm cho bầu khí trong gian phòng Thoa thêm ấm cúng và trang nghiêm. Qua những mẫu chuyện vui thông thường, hai người đã đi dần vào tâm sự của nhau. Thoa kể từ khúc nhôi đau buồn của gia đình mình cho Tuệ nghe. Sau cái chết của thân phụ, chẳng bao lâu, rồi mẹ cũng qua đời. Kể đến đây Thoa không nén được nỗi lòng, nàng úp mặt vào đôi tay thổn thức.
Tuệ nhìn Thoa lòng anh trĩu xuống những giọt buồn, từng ngấn lệ trong mắt Thoa cơ hồ như mời gọi lòng trắc ẩn của chàng. Tuệ không còn giữ khoảng cách của mọi ngày, anh đưa tay vén những sợi tóc lòa xòa trên trán Thoa và nói:Thoa, đừng khóc nữa, anh xin lỗi đã vô tình khơi dậy nỗi đau buồn trong em.Thoa ngẩng nhìn Tuệ với đôi mắt còn ướt lệ, đôi má nàng ửng hồng như cánh hoa tím trong nắng sớm. Thoa có một vẻ đẹp dịu hiền thanh tú, một vóc dáng sang trọng quý phái của con nhà khuê các. Nàng là hiện thân của người phụ nữ đoan trang mà trước đây Tuệ đã từng mơ ước. Tuệ không muốn để Thoa kể tiếp câu chuyện buồn của nàng, anh cắt ngang bằng một câu nói hóm hỉnh: Bây giờ đến lượt anh, Thoa muốn anh kể chuyện vui hay buồn? Nghe Tuệ hỏi, Thoa lau vội nước mắt, nàng lấy lại vẻ mặt tự nhiên và hỏi:
Em có thể nghe được cả hai không?
Vẫn giọng hóm hỉnh Tuệ trả lời:
Nếu muốn anh kể cả hai khi nghe chuyện buồn của anh Thoa không được khóc nhá!
Thoa mỉm cười không nói, nàng yên lặng chờ đợi.
Gương mặt Tuệ thoáng vẻ trầm tư, đôi mắt chàng như tìm về một qúa khứ xa xăm, nơi có những kỷ niệm êm đềm mà từ lâu Tuệ đã muốn chôn chặt tận đáy lòng. Bằng một giọng trầm buồn, Tuệ chậm rãi kể cho Thoa nghe mối uẩn khúc của lòng mình.
Từ khi Tuệ rời sân trường Đại học để đi làm nhiệm vụ của nguời trai, tình yêu của chàng cũng bắt đầu chấp cánh. Người con gái mà chàng đã đặt tất cả kỳ vọng trong tim yêu giờ đã sang ngang, để lại cho chàng nỗi cô đơn rã rời. Nhưng thời gian vẫn là phương thuốc nhiệm mầu đã xoa dịu những vết thương nơi lòng người.
Đôi khi trong đời lính chiến, có những tình yêu chợt đến rồi chợt đi như cơn gió thoảng, như một đám mưa rào, lòng anh vẫn thản nhiên không luyến tiếc. Thế mà hôm nay khi đối diện với một tâm tình đáng yêu, trước vẻ đẹp đơn sơ của người con gái dịu hiền, nàng cũng chung mang một số phận khổ đau vì đất nước, tự nhiên lòng Tuệ dấy lên sự đồng cảm dạt dào, chàng thấy mình không còn cô đơn như vẫn tưởng. Trái tim khô héo của chàng bỗng rộn lên một tình khúc yêu thương.
Chợt Tuệ cầm lấy tay Thoa và gọi khẽ tên nàng, Thoa e thẹn cúi đầu với đôi rèm mi xao động, mớ tóc dài óng mượt che khuất một bên khuôn mắt trái xoan làm tăng thêm vẻ đẹp mơ huyền dưới ánh đèn khuya. Thoa lúng túng muốn lấy tay về, nhưng Tuệ đã giữ bàn tay nhỏ bé ấy trong tay chàng.
Ngoài trời mưa vẫn êm đềm rơi trong màn đêm cô quạnh. Phải chăng mưa đang xua tan bao nỗi sầu nhân thế, mưa ru mộng đời bên giấc ngủ cô đơn, đem nồng say lên môi tình nở muộn, và như thế…
Xin mặt trời hãy ngủ yên cho đêm dài vô tận!
Lệnh giải tỏa khu nhà sàn ven sông khu cầu Trương minh Giảng từ lâu đã làm xôn xao dư luận của một số cư dân thường trú ở đó, thế nhưng trong cảnh cùng túng họ đành buông xuôi cho số phận…
Hôm ấy là một đêm vào hạ tuần tháng 5, đang lúc mọi người đắm chìm trong giấc ngủ sau một ngày lam lũ khó nhọc. Bỗng có tiếng kêu la cầu cứu của một người trong nhà còn thức, họ vừa phát hiện một đóm lửa từ mặt sông của ai đó quẳng về hướng khu nhà sàn. Ngọn lửa bùng cháy nhanh và lan toả trên mái nhà. Họ đánh thức nhau dậy và tận dụng nhiều cách để dập tắt ngọn lửa oan nghiệt, đang thản nhiên thiêu rụi những mảnh đời chắp vá này. Nhưng không kịp vì ván và carton là loại mồi bắt lửa dễ dàng.

Đền Tử sĩ-Cổng Tam Quan trước 1975

Đền Tử sĩ-Cổng Tam Quan sau 1975
Đêm hôm ấy, Tuyên bận đi gác dân phòng bên khu xóm khác, Tuệ đã giúp vợ con Tuyên mang được một số đồ đạc ra ngoài an toàn. Chợt có tiếng kêu cầu cứu của một cụ già vừa chạy ra khỏi nhà, còn lại đứa cháu nhỏ hai tuổi đang ngủ say bên trong, cha mẹ cháu phải đi bán hàng rong ở ga xe lửa. Tuệ nghe nói liền bỏ chiếc nạng, anh phóng người vào trong, lập tức vực đứa bé lên và ném nó ra ngoài cho những bàn tay đang chờ sẵn. Trong phút chốc ngọn lửa đã bốc cao lên mái, Tuệ phải trườn thật nhanh trong đám khói đen mù để thoát thân, vừa lúc ấy một cây đà ngang rớt xuống làm Tuệ phỏng nặng trên vai.
Rạng sáng Tuyên mới về, chàng nhìn khu nhà sàn bây giờ chỉ còn lại đống tro tàn ngun ngút khói, lòng anh buồn vô hạn..
Thoa nghe tin cũng vừa đến thăm chia buồn với gia đình Tuyên và Tuệ, nàng ngỏ ý mời gia đình Tuyên và Tuệ về tạm trú nơi nhà nàng. Trước cử chỉ ân cần của Thoa, vợ chồng Tuyên và Tuệ rầt cảm động. Thật lòng họ không muốn làm phiền Thoa, nhưng trong bước đường cùng, họ đành phải nhận lời mời của Thoa. Chỉ vài hôm sau Tuyên đã tìm được chỗ ở chung với người bà con bên Khánh Hội, chàng mời Tuệ về ở với gia đình chàng như trước đây, nhưng Tuệ không muốn làm phiền Tuyên, anh tỏ ý sẽ tìm một nơi ở khác.
Riêng Thoa nàng cố giữ Tuệ ở lại lâu hơn vì vết bỏng trên vai chàng khá nặng. Trước khi dọn về Khánh Hội, Tuyên đã đề vào túi áo Tuệ một ít tiền đi xe và một mảnh giấy ghi đia chỉ mới của chàng. Tuệ ngồi yên nhìn bạn với ánh mắt đầy cảm động. Đến giờ phút này, trong cảnh mất nước nhà tan, bạn bè vẫn còn giữ được cái nghĩa khí thiêng liêng của ngày nào trong quân ngũ. Ý Tuyên không muốn rời xa Tuệ, nhưng làm sao Tuệ có thể thật tình đến thế được ? Khi gia đình Tuyên đang khốn đốn trong cảnh ở nhờ, lại phải cưu mang thêm Tuệ nữa ? Ngược lại, nếu Tuệ không ở với Tuyên sau khi rời nhà Thoa, Chàng sẽ đi đâu ? Câu hỏi được đặt ra, nhưng câu trả lời chỉ là những tiếng thở dài trăn trở của Tuệ giữa đêm trường.
Qua cử chỉ săn sóc hằng ngày, Tuệ hiểu được Thoa rất mến yêu chàng. Nhưng định mệnh khá trớ trêu, nếu cơn mưa chiều đừng đổ xuống để nước mắt người em gái không tuôn rơi theo kỷ niệm của giòng đời, để bàn tay không tìm đến một bàn tay và đôi môi chưa nói lời yêu đương thật thà, thì hôm nay có đâu trái tim chàng phải đau xót khi nói lời chia tay ?
Tuệ thầm nghĩ: “ nêú chàng đón nhận tình yêu của Thoa trong lúc này, vô tình chàng sẽ làm khổ cho Thoa, điều đó Tuệ không bao giờ muốn dù với bất cứ hình thức nào”. Vì thế Tuệ phải khẩn cấp làm theo quyết định của mình, cho dù trái tim chàng đang rướm máu, Tuệ vẫn không để cho Thoa phải khổ vì yêu chàng. Tuệ thấy mình nên ra đi sớm để tránh gieo vào lòng Thoa những khổ lụy về sau. Tuệ liền thu xếp vài vật dụng cá nhân để vào trong xắc đeo vai của chàng, còn các thứ khác Tuyên đã mang đi trước. Đợi đến giờ Thoa đi chợ, Tuệ mới thực hiện được ý định của mình, chàng tiến ra một ngã tắt đến mặt đường, gặp chiếc xe ôm vừa trờ tới, không còn sự chọn lựa nào khàc chàng đưa tay ra dấu, chiếc xe ôm dừng lại Tuệ bước vội lên xe và bảo người lái xe ôm chạy về hướng Khánh Hội.
Khi về đến nhà, Thoa không thấy Tuệ ngồi xem sách ở thư phòng như mọi ngày, mắt nàng bắt gặp một mảnh giấy xếp đôi để trên bàn , Thoa cầm lên đọc:
“ Thoa,em!
Anh phải viết gì cho em trong phút chia tay này ?
Một lời cám ơn, ngàn lời thương hay vạn lời yêu, tất cả chỉ là những gì rất nhỏ, so với ân tình em đã dành cho anh trong những ngày qua. Anh xin được mang theo trong tim mình để mãi nhớ đến em. Anh có việc phải ra đi, mong em hiểu và không buồn.
Em là tất cả!... Tuệ”
Thoa xếp thư bỏ vào túi áo, nàng ngồi im trong căn phòng vắng lặng. Tuệ đã rời xa Thoa thật rồi, nhưng hình ảnh chàng vẫn còn in đậm trong tâm tư nàng mãi mãi. Hình ảnh của một thanh niên giàu lòng yêu nước đang bị đoạ đày bởi một vết thương rất thiêng liêng trong tâm hồn, đó là “Tình Yêu Tổ Quốc”
Vết thương đó Thoa cũng chung mang qua sự hy sinh của thân phụ nàng. Thật ra, Thoa đã đoán biết ngày ra đi của Tuệ qua những lần ngồi trò chuyện bên nhau.
Tuệ vẫn còn giữ tư cách đặc biệt của một quân nhân VNCH dù ở hoàn cản nào chàng cũng không đánh mất danh dự và khí phách của một người, đã từng được rèn luyện trong môi trường đầy nhân cách có một truyền thống quảng đại kỷ luật biết quên mình cho kẻ khác. Thoa không nhìn Tuệ như một người khuyết tật, nhưng nhìn anh với đôi mắt sáng ngời, hiên ngang trong bộ quân phục hào hùng của người chiến sĩ “ Mũ Đỏ” đã một thời góp phần gìn giữ non sông, cho dân lành hậu phương được hưởng những tháng ngày bình yên. Có lẽ tình yêu của Thoa đã đến với Tuệ được bắt nguồn từ lòng ngưỡng mộ ấy.
Vì thế, trong thời gian Tuệ tạm ở nhà Thoa để chữa trị vết thương, nàng đã hơn một lần đến gặp vợ chồng Tuyên để bày tỏ mối quan tâm của mình đối với cuộc sống của Tuệ. Thoa cũng yêu cầu vợ chồng Tuyên giữ kín việc làm này của nàng không để cho Tuệ hay biết. Vợ chồng Tuyên rất cảm phục tình yêu chân thật và cử chỉ cao đẹp của Thoa.
Để làm theo lời Thoa, vợ chồng Tuyên đã tìm thuê một căn nhà nhỏ, vách gạch mái tôn trong khu xóm của chàng cho Tuệ ở. Họ đã cùng nhau xếp đặt một chương trình để che dấu sự thật, Tuyên nhận làm trung gian đứng ra giúp đỡ Tuệ qua nguồn tài trợ bí mật của Thoa.
Chiếc xe ôm chở Tuệ dừng lại bên lề đường, Tuệ rời xe , anh đi vào một ngõ hẻm chừng vài chục mét đã nhìn thấy địa chỉ của Tuyên, thấy Tuệ về Tuyên vui vẻ rót cà phê ra tách mời Tuệ, Tuyên nói:
Tôi định chiều nay qua thăm anh , không ngờ anh lại về đúng lúc quá!
Tuệ mỉm cười, nét mặt chàng hiện rõ những ưu tư, anh đáp:
Đúng ra hôm nay tôi chưa về vì vết bỏng còn ướt , nhưng ở lại nhà Thoa lâu tôi cũng ngại.
Tuệ nâng tách cà phê uống một hớp chợt nhớ lại câu nói của Tuyên vừa rồi, chàng hỏi:
-À! Anh vừa bảo tôi về đúng lúc, nhà có việc gì thế ?
Tuyên cố giữ nét mặt bình thường, anh chậm rãi trả lời:
Số là ông chú tôi có người con trai ở Pháp nó bảo lãnh ông sang chữa bệnh, nên chú tôi bảo tôi xem có bạn bè nào tử tế nhờ họ đến ở trông nhà dùm, tôi chợt nghĩ đến anh và chiều nay tôi định qua gặp anh để nói về việc đó. Nghe Tuyên trình bày, Tuệ ngồi yên như đang suy nghĩ , một hồi lâu Tuệ hỏi Tuyên:
-Ông chú của anh khi nào đi Pháp và ông sẽ ở lại bao lâu ?
Tuyên thản nhiên trả lời.
Chú tôi đã rời Việt Nam hơn tuần nay, hôm qua vợ tôi có qua nhà quét dọn sạch sẽ, nhà tuy nhỏ nhưng đủ tiện nghi, anh qua xem sẽ biết, còn về thời gian lưu lại Pháp chắc phải nhiều năm.
Thấm thoát đã trên mười năm Tuệ bặt tin với Thoa từ khi chàng đến ở căn nhà này. Đôi khi Tuệ muốn hỏi Tuyên về tin tức của Thoa nhưng chàng lại thôi, vì với khoảng cách thời gian qua chắc Thoa đã quên chàng. Tuệ cũng thường hỏi thăm sức khoẻ của ông chú Tuyên bên Pháp, lần nào Tuyên cũng bảo Tuệ cứ yên tâm ở đây, vì sức khoẻ của chú Tuyên chưa thể về được.
Phần Thoa, nàng yên phận sống an vui bên người em trai của nàng như những ngày chưa gặp Tuệ. Có khác chăng, Thoa đã cố gắng làm việc nhiều hơn để có thêm điều kiện tài chánh giúp cho Tuệ qua trung gian của vợ chồng Tuyên.
Nhờ ơn trời chiếu cố, tiệm may của Thoa ngày một đông khách, ngoài những thợ may phụ giúp, Thoa là chủ tiệm cũng bận suốt ngày, nhất là trong những tháng cuối năm.
Nhờ đó, sau hợp đồng thuê nhà 3 năm, nàng đã mua căn nhà nhỏ ấy cho Tuệ ở vĩnh viễn mà Tuệ không hề hay biết. Vì thế dù có vất vả Thoa cũng rất tự hào và mãn nguyện vì nàng đã âm thầm thực hiện được hoài bão của mình, nó cũng chính là niềm thao thức của Tuệ. Hơn nữa, ngoài tình yêu chân thành Thoa dành cho Tuệ, anh xứng đáng để nhận được tấm lòng qúy mến và chia sẻ của người khác.
Vào năm ngoái trong dịp tình cờ, Tuệ gặp lại người bạn cũ ở hải ngoại về, người ấy cho Tuệ biết một tin vui: chính quyền việt cộng hứa với một giới chức của nền Đệ Nhị Cộng Hòa, là họ sẽ chỉnh trang lại khu nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa. Nghe tin này Tuệ đã chắt chiu được một số tiền nhỏ để đi xe lên Biên Hòa vào sáng hôm nay cũng nhằm vào ngày 30/4.
Tuệ muốn được một lần nhìn lại cảnh cũ với bao thương tiếc ngậm ngùi, để nghe tim mình sống lại khúc hùng ca của nền dân Chủ Tự Do đã một thời thăng hoa giữa lòng đất Mẹ, để tận mắt nhìn thấy những ngôi mộ tại Nghĩa Trang Quân Đội được chỉnh trang trong danh dự, được tôn trọng đúng qui cách dành cho người Chiến Sĩ Quốc Gia đã bỏ mình vì Tổ Quốc, và cũng để lòng mình lắng xuống những cơn đau từ ngày Quốc Hận..
Nhưng chàng đã hoàn toàn thất vọng vì lời hứa suông. Trước mặt Tuệ, khu Nghĩa Trang Quân đội sau mấy mươi năm không được chăm sóc, giờ đây đã trở thành một bãi tha ma hoang phế. Chàng đau lòng lê bước trên lối đi đầy cỏ dại dẫn tới lễ đài “Chiến Sĩ Trận Vong” anh dừng lại lấy một bó hương trong xắc đeo vai và bật lửa, Tuệ trân trọng nâng nén trầm hương ngang mặt, đôi mắt chàng nhắm lại tưởng nhớ đến các anh linh chiến sĩ. Qua làn khói mong manh, tâm hồn chàng chợt trở về với phút giây rung cảm, anh thì thầm:
Hôm nay ngày 30/4, Tuệ bước chân đến đây để tìm về một quá khứ đau thương, nơi đó những trang sử oai hùng đã hơn một lần được tô thắm bằng máu đào của các anh. Những trang sử ấy tuy đã khép lại với một định mệnh không mong chờ, nhưng chính khí can trường của các anh luôn là niềm tự hào biết bao cho Dân Tộc Việt Nam (không cộng sản)? Và sự hy sinh cao cả của những người chiến sĩ VNCH không bao giờ bị lãng quên trong lòng ngưỡng mộ và biết ơn của hơn 40 triệu dân miền Nam yêu nước sau Ngày Quốc Hận 30/4/75.
Nơi đây Tuệ xin gởi lại nén hương lòng để ghi nhớ ngày “VIỆT NAM BUỒN THẢM”, ngày ấy các anh đã chẳng tiếc mạng sống của mình để vun đắp cho cây “TÌNH YÊU TỔ QUỐC” được xanh tươi.
Tình yêu đó xin “GỞI VÀO THIÊN THU” như ánh trăng rằm vằng vặc giữa đêm khuya, như ngọn đuốc thiêng muôn đời vẫn cháy sáng trong những tâm hồn còn thao thức đến vận mệnh đất nước của chúng ta.
Tuệ xin bái chào vĩnh biệt. Nói xong chàng giữ thế nghiêm, đưa tay nâng ngang tầm mắt và phắt tay xuống trong tư thế yên hùng của người chiến sĩ Quốc Gia.
Tuệ lần bước ra hướng cổng tam quan đi xuống đồi. Bên tai chàng tiếng côn trùng nỉ non những liên khúc thê lương, như tiễn chân người về với quạnh hiu bên nỗi sầu vong quốc! Một cảm giác buồn mênh mang vừa chiếm trọn tâm hồn, Tuệ chép miệng đọc một vần thơ hoài cổ:
“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc”(Bà Huyện Thanh Quan)
Chợt có tiếng chân dẫm lên xác lá vàng khô, từ phía dưới một người con gái ôm bó hoa trắng, nón lá che khuất nửa phần khuôn mặt đang tư từ bước lên trước mặt chàng, trong thảng thốt nàng kêu lên:
Anh Tuệ !
Tuệ giật mình dừng lại, chàng không khỏi ngạc nhiên khi nhìn cô gái trông rất quen… Nhưng chỉ trong giây phút, Tuệ ngỡ ngàng thốt lên:
Thoa !
Bốn mắt nhìn nhau như đưa nhau vào kỷ niệm, Tuệ cảm thấy bàng hoàng, nhịp tim chàng đập mạnh. Đôi mắt Thoa vẫn mơ buồn như ngày nào, áo dài lụa tím ôm sát thân mình thon thả của nàng làm nổi bật những đường cong tuyệt mỹ. Thoa tươi cười và tiến đến bên Tuệ với một cử chỉ thân mật nàng nói:
Lâu qúa ! Anh có khoẻ không?
Trước vẻ ân cần của Thoa, Tuệ không tránh khỏi mặc cảm cho thái độ trốn chạy của mình trước đây, tuy nhiên chàng đã lấy lại bình tĩnh để trả lời Thoa:
-Anh vẫn khỏe, em vào đây thăm mộ ai ?
_ Em đi viếng mộ bia của ba em. Em định chiều nay sẽ đến thăm anh.
Tuệ nghe Thoa nói, chàng không thể hiểu được ý định của Thoa, Tuệ tự hỏi: Làm sao Thoa biết được nhà mình ? Hơn 10 năm không găp, hôm nay Thoa bảo sẽ đến thăm với chủ đích gì ?
Bao nhiêu ý nghĩ làm Tuệ thấy lúng túng, dù sao Tuệ cũng không thể chạy trốn Thoa mãi được, anh nói \:
- À nếu không có gì trở ngại mời Thoa đến nhà anh chơi, chúng ta sẽ gặp lại sau Thoa nhé!
Thoa cúi mặt bước lên vài bậc cấp, bỗng nàng quay lại gọi:
-Anh Tuệ !
Nghe Thoa gọi Tuệ liền quay lại, chàng đứng chờ Thoa đang bước xuống gặp chàng. Thoa dịu dàng lấy ra trong xắc tay của mình một phong thư dày cộm, nàng đưa cho Tuệ và nói:
- Tiện đây em xin gửi anh phong thư này anh về xem sẽ rõ.
Nói xong Thoa bước vội lên đồi, trong khi Tuệ còn đứng ngẩn ngơ hồn anh như lạc vào cõi mộng. Cử chỉ ngượng ngùng của chàng lúc này trông thật đáng thương!
Tuệ thầm nghĩ: “Đây chắc là tâm sự của mười năm xa cách, cũng có thể là Thoa sắp lên xe hoa” ? Những câu hỏi cứ dồn dập trong trí tưởng khiến Tuệ càng bước nhanh hơn. Chẳng mấy chốc Tuệ đã đến mặt đường và đón xe về nhà. Tắm rửa xong, Tuệ liền bóc thư ra xem với một cử chỉ hấp tấp, chàng hy vọng sẽ được nhìn lại những giòng chữ thân quen với tâm tình đáng yêu của người em gái thuở nào.
Nhưng sự thật đã đi ngược với dự đoán của Tuệ, bên trong phong bì là một số giấy tờ liên quan đến địa chỉ chàng đang ở, Tuệ mở to mắt cố nhìn cho chính xác, trước mặt chàng là một bản gốc giấy chủ quyền nhà Thoa đã đứng tên mua căn nhà Tuệ đang ở, kèm theo là giấy “uỷ quyền vĩnh viễn” cho Tuệ được ở căn nhà này và được toàn quyền xử dụng như một người chủ. Bên dưới có chữ ký của 2 nhân chứng là Tuyên và Thanh. Cùng với một số giấy tờ thuế nhà đất và hợp đồng thuê nhà 3 năm trước đây. Tất cả các giấy đêu có dấu thị thực của đương kim chính quyền. Tuệ ngồi lặng người trước những giấy tờ chứa đầy tấm lòng cao quí của Thoa.
Chàng không ngờ người con gái có vóc dáng mảnh mai ấy đã âm thầm làm được một việc lớn ngoài sức tưởng tượng của chàng. Chợt Tuệ vừa chạm đến một tờ giấy mỏng, Thoa viết:
“Anh Tuệ thân mến!
Có lẽ em đang làm phí thì giờ của anh đây, xin anh tha lỗi!
Vì hoàn cảnh không cho phép lâu hơn, em xin mạo muội viết ít dòng này gửi anh.
Em và Huy sẽ đi Hoa Kỳ vào tối nay theo giấy bảo lãnh của Hạnh. Những giấy tờ em vừa gởi đến anh, xin anh xem đó như một món qùa lưu niệm của một người em gái đã hơn một lần nghĩ đến anh trong cuộc sống cô đơn của mình! Thế nhưng tất cả đều là định mệnh phải không anh ?
Nhân dịp này em xin gởi đến anh lời cầu chúc an mạnh trên quê hương yêu dấu với một trái tim luôn tự hào vì TÌNH YÊU TỔ QUỐC”
Thoa…
Tuệ bàng hoàng buông rơi bức thư trên bàn, chàng thẩn thờ nhìn qua song cửa. Nắng chiều vừa loé lên những tia sáng cuối cùng của một ngày tươi đẹp, gợi chàng nhớ lại những kỷ niệm đã qua khi còn ở nhà Thoa.
Ngoài việc chăm sóc chu đáo cho vết thương Tuệ được chóng lành, Thoa còn có tài nấu nướng. Những bữa cơm chiều họp mặt là những giây phút thân mật và đầy hạnh phúc, cũng là dịp để Thoa tỏ bày lòng quí mến của nàng đối với Tuệ. Nàng thường gắp những món ăn để vào chén Tuệ với một cử chỉ ân cần.
Hình ảnh của những bữa cơm chiều ấy, có bao giờ được sống lại trọn vẹn trong lòng Thoa không ? Giờ thì càng xa vắng hơn ! Nàng như cánh chim vượt trùng khơi bay về một khu rừng xanh mát.
Tuệ, người ở lại với trời bơ vơ !
Trong thinh lặng rất lâu, có lẽ Tuệ đang ôn lại những kỷ niệm ban đầu của một đêm mưa, để gởi hồn vào thương nhớ xa xăm…Bất giác Tuệ chép miệng: “ Xin những may lành và hạnh phúc luôn đến với người em gái tôi yêu, trên miền đất tự do”.
Tiếng động cơ từ đâu bay qua dưới vòm trời xanh thẳm, Tuệ ngước nhìn chỉ thấy những vì sao lấp lánh dưới nền trời bao la, chợt một ánh sao vừa ló dạng đã vụt đổi ngôi về phía trời xa, để lại không gian u buồn một thiếu vắng mênh mông, một mối sầu ly biệt mà ngàn năm mây bay vẫn không vơi những ngậm ngùi./.
Đoàn Minh Chiếu
Xin Gởi Vào Thiên Thu
Đoàn Minh Chiếu
(phu nhân của một cựu Thiếu Tá khóa 11/SQTBTĐ)
Đoàn Minh Chiếu
(phu nhân của một cựu Thiếu Tá khóa 11/SQTBTĐ)
Truyện được viết theo chuyện kể của một thương binh VNCH.
Người viết: bà Đoàn minh Chiếu thân hữu Hội Cựu QDCC& Hậu Duệ St Louis, Missouri
-Sinh năm 1943 Tại Nha Trang
-Nữ Sinh TH/Đệ nhị cấp Kim Yến Nha Trang
-Chuyên viên Tiếp Liệu Binh Đoàn TĐ631/Yểm trợ Truyền Tin
-Nhân viên MACV phòng cố vấn Mỹ tại TĐ 631/YTTT
-Nhân viên phòng Chiến Tranh Tâm Lý thuộc BTLHQ/QLVNCH
-Người chuyển bài Vũ Hải
Chiếc xe gắn máy do một người đàn ông lái chở Tuệ từ Sàigòn về hướng Biên Hòa, sau 30 phút đã dừng lại tại một điểm bên xa lộ. Tuệ rời xe với chiếc nạng gỗ, anh rút túi đưa tiền cho người lái xe ôm, nói lời cám ơn rồi vội vã nhấc từng bước đi vào nghĩa trang QĐ/VNCH Biên Hòa. Tuệ đưa mắt nhìn một lượt quang cảnh trước mặt, mọi vật còn giữ lại đôi nét cũ xưa. Cổng tam quan vẫn đứng sừng sững giữa trời mang dấu vết của hai hàng chữ kiên định trên hai thân cột, bên phải “ Vì dân chiến đấu”, bên trái “Vì nước hy sinh”. Những hàng chữ này trước 75 đã được sơn son thếp vàng trân trọng, ghi khắc lòng ngưỡng mộ tôn kính đối với những người con yêu của Tổ Quốc. mặc dù sau 30/4/75 bọn việt cộng đã vội vàng đục bỏ những khầu hiệu cao quý đầy ý nghĩa này, cũng như chúng đã kéo sập bức tượng “Thương Tiếc” người chiến sĩ Quốc Gia được đặt trước Nghĩa trang Quân Đội, nhưng dưới ánh mặt trời chúng không thể che dấu hay xóa bỏ được lòng dũng cảm của trên 14 ngàn Chiến Sĩ Quốc Gia đã vùi chôn thân xác trong lòng đất mẹ.

Bức tượng "Thương Tiếc" Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa trước 1975

Bức tượng "Thương Tiếc" Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa sau 1975
Tuệ khó khăn bước lên từng bậc cấp với chiếc nạng gỗ trong tay, dưới chân anh là những vết rạn nứt bởi thời gian, vì mấy chục năm qua chính quyền việt cộng cấm không cho thân nhân được phép viếng thăm nói chi đến việc sửa sang hay trùng tu những mộ phần đã bị sụp đổ. Phải chăng chúng quá sợ hãi lòng ngưỡng mộ của đồng bào miền Nam dành cho những người đã chết vì Chính Nghĩa Quốc Gia.?
Sau nhiều cố gắng Tuệ cũng đã lên được nghĩa trang anh đưa tay áo thấm mấy giọt mồ hôi trên trán và dừng lại dưới một bóng mát nghỉ chân. Nắng vừa lên cao chiếu xuống những hàng cây còn đọng lớp sương mai, Tuệ liên tưởng đến những ngấn lệ của mẹ già, của những người cô phụ bên đàn con nhỏ đã từng dìu dắt đến đây với bao nỗi đau xót ngậm ngùi để tiễn biệt người thân yêu của mình trong một lần cuối…
Ngồi đây Tuệ có thể nhìn về một góc đồi xa, những hàng cây cao vút vẫn còn đó, chúng đã trải qua bao năm tháng dưới mưa dầm nắng cháy để minh chứng trước “hồn thiêng sông núi” cho hàng hàng lớp lớp người trai , đã hy sinh xương máu trong các cuộc chiến chống kẻ thù cộng sản miền bắc xâm lược.
Từ ngày miền Nam bị bức tử cũng là ngày toàn dân Nam hối hả bỏ nước ra đi , thêm một lần nữa súng đạn của kẻ thù cộng sản hung tàn đã làm tan nát quê hương này, gây ra bao cảnh máu lửa điêu linh cho hàng vạn dân lành vô tội trong ngày 30/4/75.
Nghĩ đến đây, Tuệ thấy lòng se thắt, một cái gì đang còn khuất tất trong tim. Anh cúi nhặt một hòn sỏi và ném mạnh vào hư không, chợt một cánh chim từ trên cành cao bay sà xuống rồi vút lên mất dạng trong vòm trời bao la. Tuệ ngước nhìn bầu trời xanh lơ, vài sợi mây trắng buông lơi giữa không gian huyền diệu , gợi anh nhớ đến những cánh dù căng gió, mang đầy ắp những kỷ niệm oai hùng trong đời quân ngũ.
Vừa tốt nghiệp Đại học xong, Tuệ quyết định dấn thân vào đường binh nghiệp để phục vụ đất nước. Cánh dù từng là tri kỷ đối với Tuệ, nó đồng hành bên anh trong các cuộc hành quân cam khổ khi chọn điểm để rơi giữa lòng địch, khi nương theo chiều gió và đáp xuống những vùng rừng thiêng nước độc, nơi chưa có dấu chân người khai phá, trước khi toán anh chờ lệnh đến tọa độ.
Nó đã bao lần cùng anh đặt chân lên những vùng đất giao tranh đầy lửa đạn, bao lần hoan ca trong chiến thắng huy hoàng, và cũng nhiều lúc đớn đau nghiêng mình trước những hy sinh cao cả của anh em đồng đội. Là chiến sĩ anh luôn đặt mình trong danh dự và trách nhiệm. Khi chiến trường sôi động, nhận lệnh, anh hăng hái lên đường đến vùng lửa đạn nơi đang xảy ra những cuộc tranh hùng, tử thủ của những người chiến sĩ can trường đã xông pha giành lại từng tấc đất cho quê hương này. Cuộc đời anh như cánh diều luôn bạt ngàn trong gió, ít nhiều đã làm thỏa chí tang bồng của người trai thời loạn.
Cho đến một ngày…ngày Tuệ bàng hoàng nuốt lệ rời xa cánh dù vĩnh viễn, khi anh để lại chiến trường Bình Long một phần thân thể của mình vào đầu (Tuệ mất chân trái khi anh đáp xuống trên bãi mìn) vào năm 1975.
Anh được đưa về điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hòa nơi đây anh được chăm sóc đặc biệt về thể chất đến tinh thần. Cùng phòng với anh có nhiều chiến sĩ toàn thân bị thương tích, nhưng các anh không một lời kêu than hay oán trách, có lẽ Danh Dự và Trách Nhiệm trên đôi vai người Chiến Sĩ Quốc Gia đã cho họ sự vững mạnh và chí khí?Tuệ còn nhớ, hôm ấy là ngày 30-4-75. Một sự thật não lòng đã bất ngờ xẩy ra tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Tin cộng quân cưỡng chiếm Sàigòn, không lâu chúng đã tràn vào Tổng Y Viện và yêu cầu tất cả thương bệnh binh “khẩn trương” rời khỏi bệnh viện theo lệnh của chúng.Trước một sự thật qúa phũ phàng, các anh không khỏi bàng hoàng do dự, nhưng chỉ trong thoáng chốc khi chạm phải những bộ mặt rừng rú, những người thương bệnh binh đã lấy lại sự bình tĩnh để chỗi dậy.
Họ chấp nhận ra đi đang khi thân thể mang đầy thương tích, còn hơn phải đối diện với kẻ thù trước cảnh thảm bại đầy tủi nhục này. Tâm hồn họ buốt đau như cánh chim bị đạn, họ cảm thấy bị chới với như con thuyền mất định hướng giữa trùng khơi . Trong lúc này không ai còn thốt lên được lời nào dù chỉ một lời chia tay. Tuệ cũng như số đông các anh em khác đang từ từ tiến ra khỏi phòng bệnh, họ cố dấu trong tim sự bẽ bàng tủi hổ của người đã từng cầm súng xông pha diệt thù bảo vệ non sông.
Từng bước di chuyển của mỗi người thương bệnh binh, là từng nỗi đau gậm nhấm trong tinh thần và trên thân xác đang mang đầy những vết thương còn rướm máu của chiến trường, nhưng họ vẫn thu hết can đảm trong hơi thở tàn để ngẩng mặt mà đi trước đôi mắt hằn học vô cảm của kẻ thù xâm lược, vì họ là những thương binh có Lý Tưởng và Danh Dự, bỗng chốc trở thành kẻ sa cơ lạc bước trên đường đời như đàn con mất mẹ sau lệnh buông súng đầu hàng nhục nhã của Dương văn Minh, để giao nửa phần giang sơn còn lại cho việt cộng.
Rồi đây họ sẽ về đâu, dưới một trời đầy giông bão? Nhất là một số các thương binh có gia đình còn kẹt trong vùng lửa đạn, vì bận đi chinh chiến lâu ngày họ không nhận được tin tức ở quê nhà. Nhiều anh đau đớn kéo lê khúc chân mới được băng bó còn rướm máu. Có những anh bị mất cả hai chân hay bị mù cả hai mắt phải nhờ bạn đưa ra cổng. Trong phòng hồi sinh còn nằm la liệt những thương binh từ chiến trường mới được tải thương về hôm trước, thân thể và trên đầu còn quấn những băng trắng thấm máu, họ đang nằm tiếp dưỡng bằng những ống dẫn thuốc và bình nước biển treo lủng lẳng trên đầu giường cũng phải đứng dậy mà đi, và còn rất nhiều thảm cảnh khác trong bệnh viện mà bất cứ ai có chút nhân tâm cũng thấy mủi lòng xót xa cho số phận những người thương bệnh binh trong ngày quốc nạn 30-4-75. Những sự kiện đau khổ ấy không chỉ đến với họ trong một ngày, nhưng các anh còn phải hứng chịu nhiều sự bạc đãi cho đến về sau.
“Hỡi Đấng chí Cao! Thù nước chưa trả xong, ai đã nhẫn tâm đem màn đêm bao trùm lên những mảnh đời tan tác này ?”
Thật đau lòng khi nghĩ đến những người thương bệnh binh VNCH phải sống một cuộc sống đầy tủi nhục dưới chế độ cộng sản.
Họ thiếu tình thương và sự nể trọng của mọi người, họ sống âm thầm trong cảnh cơ cực bần hàn giữa sự ghẻ lạnh đến tàn nhẫn của xã hội. Từng ngày qua, họ lê tấm thân tìm kiếm mưu sinh trên các hè phố đông người, để góp nhặt những chiếc lon hay bao nhựa rơi vãi trên lề đường, hầu mong có chút tiền độ nhât giữa lòng một thành phố mang tiếng là đổi mới với những cao ốc của các cấp cầm quyền quan lại tham ô, những dinh thự đồ sộ nguy nga ngày đêm luôn có người hầu kẻ gác của bọn tư sản đỏ thi nhau mọc lên như nấm. Một xã hội mất gốc đang lao mình học đòi theo lối sống vật chất xa hoa tội lỗi, mặc cho luân lý đạo đức suy đồi, có mấy ai còn biết tôn trọng nhân cách để quan tâm đến những con người cùng khổ này?
Họ là những ai?
Phải chăng họ là những người con yêu của đất nước, là những chiến sĩ can trường đã góp phần xương máu đẩy lùi những bước xâm lược của cộng sản vào miền Nam, suốt mấy mươi năm dài cho đến khi quê hương bị bức tử.
Tuệ cũng như các anh thương binh khác, ngày bị xua đuổi ra khỏi bệnh viện trong một bối cảnh lịch sử thật đau lòng. Tuệ lầm lũi đi trên đường Võ di Nguy Phú Nhuận để về nhà, lòng anh như dao cắt, khi nhìn nửa phần đất nước còn lại hôm nay đã rơi vào tay kẻ thù. Định mệnh sao qúa khắt khe với Dân Tộc Việt Nam, máu đã chảy thành sông, xương đã chất thành núi của một thế hệ vừa nằm xuống để cuối cùng phải nhận một hâu qủa đầy bi đát như thế này sao?
Xa vắng gia đình đã lâu, giờ đây Tuệ như cánh chim tìm về tổ ấm, nơi đó chính là nguồn an ủi duy nhất cho quãng đời còn lại của chàng…
Bỗng Tuệ dừng bước trước một địa chỉ thân quen, nơi mà trước đây từng đón anh với nụ cười nở rộng, những ánh mắt chan chứa tình thương của mẹ hiền và em dại. Hôm nay thì cửa đóng then cài như vô tình ném vào mắt anh một thái độ hờ hững lạnh lùng, một thách đố cuồng bạo, vô hình trung đã dập tắp trong anh niềm tin vừa nhen nhúm.
Tuệ đứng lặng người như kẻ mất hồn, cảnh cũ còn đây mà người xưa đâu thấy ? Bất giác hai hàng nước mắt tuôn dài trên má Tuệ, tâm hồn anh như đang rơi xuống tột cùng của một vũng sâu tăm tối. Lần đầu tiên Tuệ chảy nước mắt trước nghịch cảnh cuộc đời.
-Phải, Tuệ đã khóc !
Anh khóc cho ngày quê hương bị bức tử cho những bước chân tháo chạy bất chấp mọi hiểm nguy để tìm hai chữ “Tự Do”, và khóc cho nỗi cô đơn của chính mình!
Trong lúc Tuệ còn bối rối chưa biết xử trí thế nào, dù sao anh cũng cần có chỗ để nghỉ ngơi, Tuệ chợt nhìn thấy một người sửa xe bên lề đường anh liền đến mượn một thanh sắt nạy chốt cửa để vào nhà. Cảnh vật bên trong không thay đổi, chỉ có những ngăn tủ được kéo ra nửa chừng còn vung vãi đồ đạc ra ngoài, chứng tỏ gia đình anh đã ra đi trong giây phút vội vàng. Qua mấy ngày nghỉ ngơi yên tĩnh Tuệ đã lấy lại sức khoẻ phần nào. Tuy vậy lòng anh vẫn canh cánh một nỗi buồn vì thiếu vắng người thân, chàng không khỏi lo lắng cho sự ra đi đầy gian khổ của gia đình.
Mới độ nào, trong một ngày về thăm nhà, không khí gia đình thật vui vẻ, lúc nào bên anh cũng có những tiếng cười nói của cha mẹ và các em. Hôm nay căn nhà trở nên quạnh quẽ đìu hiu , tuy nhiên trong âm vang xa vời ấy như vẫn còn lưu lại chút nguồn sinh khí trong hơi thở của chàng, nó bồi đắp phần nào sự mất mát to lớn của người thương binh ấy.
Không ngờ sau một tuần được hưởng sự bình yên trong ngôi nhà ấm cúng của cha mẹ. Buổi sáng hôm ấy Tuệ đang nằm đọc sách, bỗng có nhiều tiếng đập cửa, chàng đứng lên và ra mở cửa, một toán người mặc quân phục và có mang súng bước vào nhà, chúng bảo Tuệ xuất trình giấy chủ quyển nhà.
Tuệ nói “gia đình đi về quê không để giấy tờ ở ngoài”.
Chúng thấy Tuệ không có giấy chủ quyền nhà, liền đọc lệnh tiếp thu của “Uỷ Ban Quân Quản” , buộc Tuệ phải ra khỏi căn nhà này ngay, và chúng nói “Nhà này thuộc thành phần tư bản đã bỏ chạy theo đế quốc, phải bị niêm phong”
Thế là một lần nữa, Tuệ phải ra đi trong tủi hận, anh ngậm ngùi quay lại nhìn ngôi nhà thân yêu một lần chót, nơi ấy đã chất chứa biết bao kỷ niệm thăng trầm trong cuộc sống của gia đình anh từ mấy chục năm qua, bỗng nhiên bị tước đoạt cách trắng trợn bởi lũ người tự nhận là giải phóng..Chúng đã giải phóng đồng bào ra khỏi sự bình yên bằng bàn tay bạo lực.
Thời gian trôi qua hơn một tháng trong cảnh lang thang không nhà, Tuệ phải bán chiếc đồng hồ đeo tay của anh để mua một chiếc bàn xếp nhỏ và một số thuốc lá để bày bán bên lề đường, khi đêm về Tuệ vào nghỉ trong lều chợ đến sáng hôm sau anh lại trở ra lề đường để kiếm kế sinh nhai. Và như thế cho đến một hôm, Tuệ vào trú mưa bên hè phố tình cờ anh đã gặp lại Tuyên, người bạn cũ trong đơn vị dù của chàng trước đây. Tuyên là thuộc cấp của Tuệ, hai bạn gặp nhau trong cảnh đời lam lũ họ xiết bao vui mừng, họ nóng lòng hỏi thăm tin tức của nhau như ruột thịt. Tuyên có vợ một con, anh hiện sống bằng nghề mua rau cải từ chợ cầu Muối đem bỏ mối cho các chợ nhỏ vùng lân cận. Tuệ cũng kể hoàn cảnh của mình cho Tuyên nghe, Tuyên rất cảm động không ngờ Tuệ bây giờ phải chịu một cuộc sống bi đát như thế! Bỗng Tuyên nhìn sâu vào mắt Tuệ với nét mặt chân thành Tuyên nói:
Tuệ, anh về nhà tôi ở.
Thấy Tuệ không trả lời Tuyên nói tiếp:
-Tụi mình là bạn với nhau trong quân ngũ anh còn ngại gì? Hơn nữa anh cứ ở ngoài chợ bất tiện lắm, nhỡ khi đau ốm thì sao?
Tuệ mỉm cười nhìn bạn anh nói;
-Tôi biết anh có lòng tốt muốn giúp tôi, nhưng anh còn…
Tuyên hiểu ý Tuệ còn ngại vợ Tuyên, anh vồn vã ngắt ngang lời Tuệ:
-Anh khỏi lo, vợ tôi hiền lành và tốt bụng…
Hiểu được chân tình của bạn, Tuệ vui vẻ bắt tay Tuyên để tỏ lòng biết ơn, hai bàn tay xương xẩu xiết chặt nhau như không muốn lìa xa. Chiều hôm ấy khi trời vừa dứt cơn mưa, Tuyên chở Tuệ về nhà chàng trên chiếc ba gác còn vươn lại những lá rau cải, họ tiếp nối câu chuyện trên đường cho đến khi xe rẽ vào một ngõ hẻm quanh co, dẫn đến khu nhà sàn ở ven sông cầu Trương minh Giảng, Tuyên đưa Tuệ vào nhà, đó là căn nhà sàn bằng ván được đắp vá bởi những miếng cartons. Tuyên liền giới thiệu Tuệ với Thanh vợ của chàng và cho Thanh biết ý định của mình là mời Tuệ về ở chung để anh em có nhau trong cảnh xế chiều.
Thanh nghe Tuyên nói, nàng vui vẻ tiếp lời chồng:
Phải đó anh Tuệ, anh nên về ở đây với anh Tuyên. Chúng ta bây giờ là những kẻ bị đắm tàu, mình nên đùm bọc nhau nếu không bằng vật chất thì ít ra cũng trong tinh thần “Huynh đệ chi binh”! Nghe Thanh nói với vẻ mặt ân cần, cả ba đều cười tươi vui vẻ.
Từ hôm ấy, Tuệ không còn đơn độc nữa, vợ chồng Tuyên đối với Tuệ như người thân trong gia đình. Phần Tuệ, sau một ngày kiếm sống bên lề đường với chiếc bàn con bán thuốc lá, tối về anh tìm nguồn vui trong việc dạy kèm cho đứa con trai của Tuyên đang học lớp 8.
Từ ngày gia đình Tuyên có thêm Tuệ, cảnh sống vẫn đơn nghèo nhưng hạnh phúc của họ được nhân lên trong tình người. Tuệ không ngờ việc làm nhỏ bé ấy đã mang đến cho chàng niềm khích lệ qua các cuộc thi sát hạch có thành qủa đáng khen ở trường của con trai Tuyên, nhờ đó Tuệ được nhiều người trong xóm biết đến và cảm mến anh qua vợ chồng Tuyên. Họ gởi con đến nhờ Tuệ kèm vào buổi tối, từ đó Tuệ trở thành ông giáo trong xóm nhỏ.
Môt buổi chiều trên đường về nhà, Tuệ nghe như có ai gọi tên mình, chàng vội quay lại. Thoa đang đứng trước cửa tiệm may của nàng chờ Tuệ đến, chàng vui vẻ hòi Thoa:
- Có gì không cô Thoa?
- Dạ em định nhờ anh kèm dùm toán cho Huy, em trai của em.
Tuệ hỏi: Huy đang học lớp mấy?
-Dạ nó đang học lớp 9, em nhờ anh giúp nó vào cuối tuần.
Tuệ nói: tôi chỉ rảnh vào buổi tối, vậy khi nào cô cho Huy đến học?
Thoa ngập ngừng vài giây và nói:
-Em muốn thưa với anh một việc không biết có trở ngại gì cho anh không?
Tuệ trả lời nàng: có gì cô cứ nói, nếu được tôi xin sẵn sàng.
-Em muốn mời anh đến nhà kèm nó, vì buổi tối nếu Huy đi vắng chỉ có một mình ở nhà em ngại lắm!
Tuệ suy nghĩ vài giây anh trả lời:
Được chiều mai tôi sẽ đến lúc 7 giờ.
Hai người chào tạm biệt và hẹn sẽ gặp lại.
Thoa có một tiệm may nhỏ gần mặt đường Trương minh Giảng. Thân phụ Thoa lúc sanh tiền là một Sĩ Quan Không Quân cao cấp. Ông đã anh dũng đền nợ nước khi lái oanh tạc cơ ra bắc cách đây gần 10 năm. Mặc dù thân xác không còn nhưng QLVNCH đã trân trọng vinh danh, làm lễ truy điệu theo quân cách và dựng tấm bia danh dự khắc tên của thân phụ nàng đặt trong nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà.
Sau biến cố đau buồn đó, mẹ Thoa buồn rầu lâm bệnh và không lâu bà đã qua đời. Từ đó cuộc đời Thoa bị rơi vào những chuỗi ngày đau khổ, nàng tìm quên trong bổn phận làm chị thay mẹ để yêu thương và chăm sóc cho em trai của nàng.
Có lẽ vì thế mà từ lâu Thoa chưa nghĩ đến việc riêng tư của mình. Thoa năm nay vừa 28 tuổi, nàng có một vẻ đẹp dịu hiền và đôi mắt hồ thu. Cô ăn mặc kín đáo nết na so với một số bạn gái đương thời.
Từ khi gặp Tuyên, Tuệ như vớ đuợc chiếc phao giữa giòng, vợ chồng Tuyên đã đem lại cho anh một không khí gia đình đầm ấm qua những bữa cơm chiều bên dĩa rau cà đơn sơ, họ chia sẻ cho nhau những cay đắng ngọt bùi sau một ngày lao động vất vả.
Thời gian Tuệ kèm toán cho Huy thấm thoát đã gần hai năm tròn. Tình cảm giữa Tuệ và chị em Thoa ngày càng thêm thân thiết. Thoa và Huy xem Tuệ như một người thân trong gia đình. Riêng Tuệ anh luôn giữ một tác phong đứng đắn khi tiếp xúc với Thoa và Huy, điều đó đã làm cho Thoa luôn chú ý đến chàng hơn. Đôi lúc ẩn mặt trong phòng, Thoa nhìn Tuệ qua bức rèm thưa, thấy anh đang chăm chú chỉ bài cho Huy: Tuệ có vầng trán rộng và đôi mắt sâu cương trực, nhưng không dấu được nỗi buồn đang ẩn khuất sau hàng mi thâm đen của chàng, cũng với đôi mắt này, đôi khi đã để lại trong lòng Thoa một thoáng buồn vu vơ hay một chút thẹn thùng nơi tâm tư thầm kín của người con gái đang yêu. Thoa thầm mong có dịp ngồi bên Tuệ để nghe Tuệ nói về đời chàng.
Thế rồi trời như cũng chìu lòng người! Hôm ấy vào một đêm cuối tuần, trời bỗng giăng mây xám và đổ mưa, những giọt mưa nặng hạt kéo dài đến nửa đêm làm cả khu xóm đều bị mất điện, vì thế sau giờ dạy học cho Huy Tuệ phải ngồi nán lại chờ qua cơn mưa. Bên ngọn đèn dầu vàng nhạt, mùi trầm hương từ bàn thờ của song thân lan tỏa làm cho bầu khí trong gian phòng Thoa thêm ấm cúng và trang nghiêm. Qua những mẫu chuyện vui thông thường, hai người đã đi dần vào tâm sự của nhau. Thoa kể từ khúc nhôi đau buồn của gia đình mình cho Tuệ nghe. Sau cái chết của thân phụ, chẳng bao lâu, rồi mẹ cũng qua đời. Kể đến đây Thoa không nén được nỗi lòng, nàng úp mặt vào đôi tay thổn thức.
Tuệ nhìn Thoa lòng anh trĩu xuống những giọt buồn, từng ngấn lệ trong mắt Thoa cơ hồ như mời gọi lòng trắc ẩn của chàng. Tuệ không còn giữ khoảng cách của mọi ngày, anh đưa tay vén những sợi tóc lòa xòa trên trán Thoa và nói:Thoa, đừng khóc nữa, anh xin lỗi đã vô tình khơi dậy nỗi đau buồn trong em.Thoa ngẩng nhìn Tuệ với đôi mắt còn ướt lệ, đôi má nàng ửng hồng như cánh hoa tím trong nắng sớm. Thoa có một vẻ đẹp dịu hiền thanh tú, một vóc dáng sang trọng quý phái của con nhà khuê các. Nàng là hiện thân của người phụ nữ đoan trang mà trước đây Tuệ đã từng mơ ước. Tuệ không muốn để Thoa kể tiếp câu chuyện buồn của nàng, anh cắt ngang bằng một câu nói hóm hỉnh: Bây giờ đến lượt anh, Thoa muốn anh kể chuyện vui hay buồn? Nghe Tuệ hỏi, Thoa lau vội nước mắt, nàng lấy lại vẻ mặt tự nhiên và hỏi:
Em có thể nghe được cả hai không?
Vẫn giọng hóm hỉnh Tuệ trả lời:
Nếu muốn anh kể cả hai khi nghe chuyện buồn của anh Thoa không được khóc nhá!
Thoa mỉm cười không nói, nàng yên lặng chờ đợi.
Gương mặt Tuệ thoáng vẻ trầm tư, đôi mắt chàng như tìm về một qúa khứ xa xăm, nơi có những kỷ niệm êm đềm mà từ lâu Tuệ đã muốn chôn chặt tận đáy lòng. Bằng một giọng trầm buồn, Tuệ chậm rãi kể cho Thoa nghe mối uẩn khúc của lòng mình.
Từ khi Tuệ rời sân trường Đại học để đi làm nhiệm vụ của nguời trai, tình yêu của chàng cũng bắt đầu chấp cánh. Người con gái mà chàng đã đặt tất cả kỳ vọng trong tim yêu giờ đã sang ngang, để lại cho chàng nỗi cô đơn rã rời. Nhưng thời gian vẫn là phương thuốc nhiệm mầu đã xoa dịu những vết thương nơi lòng người.
Đôi khi trong đời lính chiến, có những tình yêu chợt đến rồi chợt đi như cơn gió thoảng, như một đám mưa rào, lòng anh vẫn thản nhiên không luyến tiếc. Thế mà hôm nay khi đối diện với một tâm tình đáng yêu, trước vẻ đẹp đơn sơ của người con gái dịu hiền, nàng cũng chung mang một số phận khổ đau vì đất nước, tự nhiên lòng Tuệ dấy lên sự đồng cảm dạt dào, chàng thấy mình không còn cô đơn như vẫn tưởng. Trái tim khô héo của chàng bỗng rộn lên một tình khúc yêu thương.
Chợt Tuệ cầm lấy tay Thoa và gọi khẽ tên nàng, Thoa e thẹn cúi đầu với đôi rèm mi xao động, mớ tóc dài óng mượt che khuất một bên khuôn mắt trái xoan làm tăng thêm vẻ đẹp mơ huyền dưới ánh đèn khuya. Thoa lúng túng muốn lấy tay về, nhưng Tuệ đã giữ bàn tay nhỏ bé ấy trong tay chàng.
Ngoài trời mưa vẫn êm đềm rơi trong màn đêm cô quạnh. Phải chăng mưa đang xua tan bao nỗi sầu nhân thế, mưa ru mộng đời bên giấc ngủ cô đơn, đem nồng say lên môi tình nở muộn, và như thế…
Xin mặt trời hãy ngủ yên cho đêm dài vô tận!
***
Lệnh giải tỏa khu nhà sàn ven sông khu cầu Trương minh Giảng từ lâu đã làm xôn xao dư luận của một số cư dân thường trú ở đó, thế nhưng trong cảnh cùng túng họ đành buông xuôi cho số phận…
Hôm ấy là một đêm vào hạ tuần tháng 5, đang lúc mọi người đắm chìm trong giấc ngủ sau một ngày lam lũ khó nhọc. Bỗng có tiếng kêu la cầu cứu của một người trong nhà còn thức, họ vừa phát hiện một đóm lửa từ mặt sông của ai đó quẳng về hướng khu nhà sàn. Ngọn lửa bùng cháy nhanh và lan toả trên mái nhà. Họ đánh thức nhau dậy và tận dụng nhiều cách để dập tắt ngọn lửa oan nghiệt, đang thản nhiên thiêu rụi những mảnh đời chắp vá này. Nhưng không kịp vì ván và carton là loại mồi bắt lửa dễ dàng.

Đền Tử sĩ-Cổng Tam Quan trước 1975

Đền Tử sĩ-Cổng Tam Quan sau 1975
Đêm hôm ấy, Tuyên bận đi gác dân phòng bên khu xóm khác, Tuệ đã giúp vợ con Tuyên mang được một số đồ đạc ra ngoài an toàn. Chợt có tiếng kêu cầu cứu của một cụ già vừa chạy ra khỏi nhà, còn lại đứa cháu nhỏ hai tuổi đang ngủ say bên trong, cha mẹ cháu phải đi bán hàng rong ở ga xe lửa. Tuệ nghe nói liền bỏ chiếc nạng, anh phóng người vào trong, lập tức vực đứa bé lên và ném nó ra ngoài cho những bàn tay đang chờ sẵn. Trong phút chốc ngọn lửa đã bốc cao lên mái, Tuệ phải trườn thật nhanh trong đám khói đen mù để thoát thân, vừa lúc ấy một cây đà ngang rớt xuống làm Tuệ phỏng nặng trên vai.
Rạng sáng Tuyên mới về, chàng nhìn khu nhà sàn bây giờ chỉ còn lại đống tro tàn ngun ngút khói, lòng anh buồn vô hạn..
Thoa nghe tin cũng vừa đến thăm chia buồn với gia đình Tuyên và Tuệ, nàng ngỏ ý mời gia đình Tuyên và Tuệ về tạm trú nơi nhà nàng. Trước cử chỉ ân cần của Thoa, vợ chồng Tuyên và Tuệ rầt cảm động. Thật lòng họ không muốn làm phiền Thoa, nhưng trong bước đường cùng, họ đành phải nhận lời mời của Thoa. Chỉ vài hôm sau Tuyên đã tìm được chỗ ở chung với người bà con bên Khánh Hội, chàng mời Tuệ về ở với gia đình chàng như trước đây, nhưng Tuệ không muốn làm phiền Tuyên, anh tỏ ý sẽ tìm một nơi ở khác.
Riêng Thoa nàng cố giữ Tuệ ở lại lâu hơn vì vết bỏng trên vai chàng khá nặng. Trước khi dọn về Khánh Hội, Tuyên đã đề vào túi áo Tuệ một ít tiền đi xe và một mảnh giấy ghi đia chỉ mới của chàng. Tuệ ngồi yên nhìn bạn với ánh mắt đầy cảm động. Đến giờ phút này, trong cảnh mất nước nhà tan, bạn bè vẫn còn giữ được cái nghĩa khí thiêng liêng của ngày nào trong quân ngũ. Ý Tuyên không muốn rời xa Tuệ, nhưng làm sao Tuệ có thể thật tình đến thế được ? Khi gia đình Tuyên đang khốn đốn trong cảnh ở nhờ, lại phải cưu mang thêm Tuệ nữa ? Ngược lại, nếu Tuệ không ở với Tuyên sau khi rời nhà Thoa, Chàng sẽ đi đâu ? Câu hỏi được đặt ra, nhưng câu trả lời chỉ là những tiếng thở dài trăn trở của Tuệ giữa đêm trường.
Qua cử chỉ săn sóc hằng ngày, Tuệ hiểu được Thoa rất mến yêu chàng. Nhưng định mệnh khá trớ trêu, nếu cơn mưa chiều đừng đổ xuống để nước mắt người em gái không tuôn rơi theo kỷ niệm của giòng đời, để bàn tay không tìm đến một bàn tay và đôi môi chưa nói lời yêu đương thật thà, thì hôm nay có đâu trái tim chàng phải đau xót khi nói lời chia tay ?
Tuệ thầm nghĩ: “ nêú chàng đón nhận tình yêu của Thoa trong lúc này, vô tình chàng sẽ làm khổ cho Thoa, điều đó Tuệ không bao giờ muốn dù với bất cứ hình thức nào”. Vì thế Tuệ phải khẩn cấp làm theo quyết định của mình, cho dù trái tim chàng đang rướm máu, Tuệ vẫn không để cho Thoa phải khổ vì yêu chàng. Tuệ thấy mình nên ra đi sớm để tránh gieo vào lòng Thoa những khổ lụy về sau. Tuệ liền thu xếp vài vật dụng cá nhân để vào trong xắc đeo vai của chàng, còn các thứ khác Tuyên đã mang đi trước. Đợi đến giờ Thoa đi chợ, Tuệ mới thực hiện được ý định của mình, chàng tiến ra một ngã tắt đến mặt đường, gặp chiếc xe ôm vừa trờ tới, không còn sự chọn lựa nào khàc chàng đưa tay ra dấu, chiếc xe ôm dừng lại Tuệ bước vội lên xe và bảo người lái xe ôm chạy về hướng Khánh Hội.
Khi về đến nhà, Thoa không thấy Tuệ ngồi xem sách ở thư phòng như mọi ngày, mắt nàng bắt gặp một mảnh giấy xếp đôi để trên bàn , Thoa cầm lên đọc:
“ Thoa,em!
Anh phải viết gì cho em trong phút chia tay này ?
Một lời cám ơn, ngàn lời thương hay vạn lời yêu, tất cả chỉ là những gì rất nhỏ, so với ân tình em đã dành cho anh trong những ngày qua. Anh xin được mang theo trong tim mình để mãi nhớ đến em. Anh có việc phải ra đi, mong em hiểu và không buồn.
Em là tất cả!... Tuệ”
Thoa xếp thư bỏ vào túi áo, nàng ngồi im trong căn phòng vắng lặng. Tuệ đã rời xa Thoa thật rồi, nhưng hình ảnh chàng vẫn còn in đậm trong tâm tư nàng mãi mãi. Hình ảnh của một thanh niên giàu lòng yêu nước đang bị đoạ đày bởi một vết thương rất thiêng liêng trong tâm hồn, đó là “Tình Yêu Tổ Quốc”
Vết thương đó Thoa cũng chung mang qua sự hy sinh của thân phụ nàng. Thật ra, Thoa đã đoán biết ngày ra đi của Tuệ qua những lần ngồi trò chuyện bên nhau.
Tuệ vẫn còn giữ tư cách đặc biệt của một quân nhân VNCH dù ở hoàn cản nào chàng cũng không đánh mất danh dự và khí phách của một người, đã từng được rèn luyện trong môi trường đầy nhân cách có một truyền thống quảng đại kỷ luật biết quên mình cho kẻ khác. Thoa không nhìn Tuệ như một người khuyết tật, nhưng nhìn anh với đôi mắt sáng ngời, hiên ngang trong bộ quân phục hào hùng của người chiến sĩ “ Mũ Đỏ” đã một thời góp phần gìn giữ non sông, cho dân lành hậu phương được hưởng những tháng ngày bình yên. Có lẽ tình yêu của Thoa đã đến với Tuệ được bắt nguồn từ lòng ngưỡng mộ ấy.
Vì thế, trong thời gian Tuệ tạm ở nhà Thoa để chữa trị vết thương, nàng đã hơn một lần đến gặp vợ chồng Tuyên để bày tỏ mối quan tâm của mình đối với cuộc sống của Tuệ. Thoa cũng yêu cầu vợ chồng Tuyên giữ kín việc làm này của nàng không để cho Tuệ hay biết. Vợ chồng Tuyên rất cảm phục tình yêu chân thật và cử chỉ cao đẹp của Thoa.
Để làm theo lời Thoa, vợ chồng Tuyên đã tìm thuê một căn nhà nhỏ, vách gạch mái tôn trong khu xóm của chàng cho Tuệ ở. Họ đã cùng nhau xếp đặt một chương trình để che dấu sự thật, Tuyên nhận làm trung gian đứng ra giúp đỡ Tuệ qua nguồn tài trợ bí mật của Thoa.
Chiếc xe ôm chở Tuệ dừng lại bên lề đường, Tuệ rời xe , anh đi vào một ngõ hẻm chừng vài chục mét đã nhìn thấy địa chỉ của Tuyên, thấy Tuệ về Tuyên vui vẻ rót cà phê ra tách mời Tuệ, Tuyên nói:
Tôi định chiều nay qua thăm anh , không ngờ anh lại về đúng lúc quá!
Tuệ mỉm cười, nét mặt chàng hiện rõ những ưu tư, anh đáp:
Đúng ra hôm nay tôi chưa về vì vết bỏng còn ướt , nhưng ở lại nhà Thoa lâu tôi cũng ngại.
Tuệ nâng tách cà phê uống một hớp chợt nhớ lại câu nói của Tuyên vừa rồi, chàng hỏi:
-À! Anh vừa bảo tôi về đúng lúc, nhà có việc gì thế ?
Tuyên cố giữ nét mặt bình thường, anh chậm rãi trả lời:
Số là ông chú tôi có người con trai ở Pháp nó bảo lãnh ông sang chữa bệnh, nên chú tôi bảo tôi xem có bạn bè nào tử tế nhờ họ đến ở trông nhà dùm, tôi chợt nghĩ đến anh và chiều nay tôi định qua gặp anh để nói về việc đó. Nghe Tuyên trình bày, Tuệ ngồi yên như đang suy nghĩ , một hồi lâu Tuệ hỏi Tuyên:
-Ông chú của anh khi nào đi Pháp và ông sẽ ở lại bao lâu ?
Tuyên thản nhiên trả lời.
Chú tôi đã rời Việt Nam hơn tuần nay, hôm qua vợ tôi có qua nhà quét dọn sạch sẽ, nhà tuy nhỏ nhưng đủ tiện nghi, anh qua xem sẽ biết, còn về thời gian lưu lại Pháp chắc phải nhiều năm.
Thấm thoát đã trên mười năm Tuệ bặt tin với Thoa từ khi chàng đến ở căn nhà này. Đôi khi Tuệ muốn hỏi Tuyên về tin tức của Thoa nhưng chàng lại thôi, vì với khoảng cách thời gian qua chắc Thoa đã quên chàng. Tuệ cũng thường hỏi thăm sức khoẻ của ông chú Tuyên bên Pháp, lần nào Tuyên cũng bảo Tuệ cứ yên tâm ở đây, vì sức khoẻ của chú Tuyên chưa thể về được.
Phần Thoa, nàng yên phận sống an vui bên người em trai của nàng như những ngày chưa gặp Tuệ. Có khác chăng, Thoa đã cố gắng làm việc nhiều hơn để có thêm điều kiện tài chánh giúp cho Tuệ qua trung gian của vợ chồng Tuyên.
Nhờ ơn trời chiếu cố, tiệm may của Thoa ngày một đông khách, ngoài những thợ may phụ giúp, Thoa là chủ tiệm cũng bận suốt ngày, nhất là trong những tháng cuối năm.
Nhờ đó, sau hợp đồng thuê nhà 3 năm, nàng đã mua căn nhà nhỏ ấy cho Tuệ ở vĩnh viễn mà Tuệ không hề hay biết. Vì thế dù có vất vả Thoa cũng rất tự hào và mãn nguyện vì nàng đã âm thầm thực hiện được hoài bão của mình, nó cũng chính là niềm thao thức của Tuệ. Hơn nữa, ngoài tình yêu chân thành Thoa dành cho Tuệ, anh xứng đáng để nhận được tấm lòng qúy mến và chia sẻ của người khác.
Vào năm ngoái trong dịp tình cờ, Tuệ gặp lại người bạn cũ ở hải ngoại về, người ấy cho Tuệ biết một tin vui: chính quyền việt cộng hứa với một giới chức của nền Đệ Nhị Cộng Hòa, là họ sẽ chỉnh trang lại khu nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa. Nghe tin này Tuệ đã chắt chiu được một số tiền nhỏ để đi xe lên Biên Hòa vào sáng hôm nay cũng nhằm vào ngày 30/4.
Tuệ muốn được một lần nhìn lại cảnh cũ với bao thương tiếc ngậm ngùi, để nghe tim mình sống lại khúc hùng ca của nền dân Chủ Tự Do đã một thời thăng hoa giữa lòng đất Mẹ, để tận mắt nhìn thấy những ngôi mộ tại Nghĩa Trang Quân Đội được chỉnh trang trong danh dự, được tôn trọng đúng qui cách dành cho người Chiến Sĩ Quốc Gia đã bỏ mình vì Tổ Quốc, và cũng để lòng mình lắng xuống những cơn đau từ ngày Quốc Hận..
Nhưng chàng đã hoàn toàn thất vọng vì lời hứa suông. Trước mặt Tuệ, khu Nghĩa Trang Quân đội sau mấy mươi năm không được chăm sóc, giờ đây đã trở thành một bãi tha ma hoang phế. Chàng đau lòng lê bước trên lối đi đầy cỏ dại dẫn tới lễ đài “Chiến Sĩ Trận Vong” anh dừng lại lấy một bó hương trong xắc đeo vai và bật lửa, Tuệ trân trọng nâng nén trầm hương ngang mặt, đôi mắt chàng nhắm lại tưởng nhớ đến các anh linh chiến sĩ. Qua làn khói mong manh, tâm hồn chàng chợt trở về với phút giây rung cảm, anh thì thầm:
Hôm nay ngày 30/4, Tuệ bước chân đến đây để tìm về một quá khứ đau thương, nơi đó những trang sử oai hùng đã hơn một lần được tô thắm bằng máu đào của các anh. Những trang sử ấy tuy đã khép lại với một định mệnh không mong chờ, nhưng chính khí can trường của các anh luôn là niềm tự hào biết bao cho Dân Tộc Việt Nam (không cộng sản)? Và sự hy sinh cao cả của những người chiến sĩ VNCH không bao giờ bị lãng quên trong lòng ngưỡng mộ và biết ơn của hơn 40 triệu dân miền Nam yêu nước sau Ngày Quốc Hận 30/4/75.
Nơi đây Tuệ xin gởi lại nén hương lòng để ghi nhớ ngày “VIỆT NAM BUỒN THẢM”, ngày ấy các anh đã chẳng tiếc mạng sống của mình để vun đắp cho cây “TÌNH YÊU TỔ QUỐC” được xanh tươi.
Tình yêu đó xin “GỞI VÀO THIÊN THU” như ánh trăng rằm vằng vặc giữa đêm khuya, như ngọn đuốc thiêng muôn đời vẫn cháy sáng trong những tâm hồn còn thao thức đến vận mệnh đất nước của chúng ta.
Tuệ xin bái chào vĩnh biệt. Nói xong chàng giữ thế nghiêm, đưa tay nâng ngang tầm mắt và phắt tay xuống trong tư thế yên hùng của người chiến sĩ Quốc Gia.
Tuệ lần bước ra hướng cổng tam quan đi xuống đồi. Bên tai chàng tiếng côn trùng nỉ non những liên khúc thê lương, như tiễn chân người về với quạnh hiu bên nỗi sầu vong quốc! Một cảm giác buồn mênh mang vừa chiếm trọn tâm hồn, Tuệ chép miệng đọc một vần thơ hoài cổ:
“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc”(Bà Huyện Thanh Quan)
Chợt có tiếng chân dẫm lên xác lá vàng khô, từ phía dưới một người con gái ôm bó hoa trắng, nón lá che khuất nửa phần khuôn mặt đang tư từ bước lên trước mặt chàng, trong thảng thốt nàng kêu lên:
Anh Tuệ !
Tuệ giật mình dừng lại, chàng không khỏi ngạc nhiên khi nhìn cô gái trông rất quen… Nhưng chỉ trong giây phút, Tuệ ngỡ ngàng thốt lên:
Thoa !
Bốn mắt nhìn nhau như đưa nhau vào kỷ niệm, Tuệ cảm thấy bàng hoàng, nhịp tim chàng đập mạnh. Đôi mắt Thoa vẫn mơ buồn như ngày nào, áo dài lụa tím ôm sát thân mình thon thả của nàng làm nổi bật những đường cong tuyệt mỹ. Thoa tươi cười và tiến đến bên Tuệ với một cử chỉ thân mật nàng nói:
Lâu qúa ! Anh có khoẻ không?
Trước vẻ ân cần của Thoa, Tuệ không tránh khỏi mặc cảm cho thái độ trốn chạy của mình trước đây, tuy nhiên chàng đã lấy lại bình tĩnh để trả lời Thoa:
-Anh vẫn khỏe, em vào đây thăm mộ ai ?
_ Em đi viếng mộ bia của ba em. Em định chiều nay sẽ đến thăm anh.
Tuệ nghe Thoa nói, chàng không thể hiểu được ý định của Thoa, Tuệ tự hỏi: Làm sao Thoa biết được nhà mình ? Hơn 10 năm không găp, hôm nay Thoa bảo sẽ đến thăm với chủ đích gì ?
Bao nhiêu ý nghĩ làm Tuệ thấy lúng túng, dù sao Tuệ cũng không thể chạy trốn Thoa mãi được, anh nói \:
- À nếu không có gì trở ngại mời Thoa đến nhà anh chơi, chúng ta sẽ gặp lại sau Thoa nhé!
Thoa cúi mặt bước lên vài bậc cấp, bỗng nàng quay lại gọi:
-Anh Tuệ !
Nghe Thoa gọi Tuệ liền quay lại, chàng đứng chờ Thoa đang bước xuống gặp chàng. Thoa dịu dàng lấy ra trong xắc tay của mình một phong thư dày cộm, nàng đưa cho Tuệ và nói:
- Tiện đây em xin gửi anh phong thư này anh về xem sẽ rõ.
Nói xong Thoa bước vội lên đồi, trong khi Tuệ còn đứng ngẩn ngơ hồn anh như lạc vào cõi mộng. Cử chỉ ngượng ngùng của chàng lúc này trông thật đáng thương!
Tuệ thầm nghĩ: “Đây chắc là tâm sự của mười năm xa cách, cũng có thể là Thoa sắp lên xe hoa” ? Những câu hỏi cứ dồn dập trong trí tưởng khiến Tuệ càng bước nhanh hơn. Chẳng mấy chốc Tuệ đã đến mặt đường và đón xe về nhà. Tắm rửa xong, Tuệ liền bóc thư ra xem với một cử chỉ hấp tấp, chàng hy vọng sẽ được nhìn lại những giòng chữ thân quen với tâm tình đáng yêu của người em gái thuở nào.
Nhưng sự thật đã đi ngược với dự đoán của Tuệ, bên trong phong bì là một số giấy tờ liên quan đến địa chỉ chàng đang ở, Tuệ mở to mắt cố nhìn cho chính xác, trước mặt chàng là một bản gốc giấy chủ quyền nhà Thoa đã đứng tên mua căn nhà Tuệ đang ở, kèm theo là giấy “uỷ quyền vĩnh viễn” cho Tuệ được ở căn nhà này và được toàn quyền xử dụng như một người chủ. Bên dưới có chữ ký của 2 nhân chứng là Tuyên và Thanh. Cùng với một số giấy tờ thuế nhà đất và hợp đồng thuê nhà 3 năm trước đây. Tất cả các giấy đêu có dấu thị thực của đương kim chính quyền. Tuệ ngồi lặng người trước những giấy tờ chứa đầy tấm lòng cao quí của Thoa.
Chàng không ngờ người con gái có vóc dáng mảnh mai ấy đã âm thầm làm được một việc lớn ngoài sức tưởng tượng của chàng. Chợt Tuệ vừa chạm đến một tờ giấy mỏng, Thoa viết:
“Anh Tuệ thân mến!
Có lẽ em đang làm phí thì giờ của anh đây, xin anh tha lỗi!
Vì hoàn cảnh không cho phép lâu hơn, em xin mạo muội viết ít dòng này gửi anh.
Em và Huy sẽ đi Hoa Kỳ vào tối nay theo giấy bảo lãnh của Hạnh. Những giấy tờ em vừa gởi đến anh, xin anh xem đó như một món qùa lưu niệm của một người em gái đã hơn một lần nghĩ đến anh trong cuộc sống cô đơn của mình! Thế nhưng tất cả đều là định mệnh phải không anh ?
Nhân dịp này em xin gởi đến anh lời cầu chúc an mạnh trên quê hương yêu dấu với một trái tim luôn tự hào vì TÌNH YÊU TỔ QUỐC”
Thoa…
Tuệ bàng hoàng buông rơi bức thư trên bàn, chàng thẩn thờ nhìn qua song cửa. Nắng chiều vừa loé lên những tia sáng cuối cùng của một ngày tươi đẹp, gợi chàng nhớ lại những kỷ niệm đã qua khi còn ở nhà Thoa.
Ngoài việc chăm sóc chu đáo cho vết thương Tuệ được chóng lành, Thoa còn có tài nấu nướng. Những bữa cơm chiều họp mặt là những giây phút thân mật và đầy hạnh phúc, cũng là dịp để Thoa tỏ bày lòng quí mến của nàng đối với Tuệ. Nàng thường gắp những món ăn để vào chén Tuệ với một cử chỉ ân cần.
Hình ảnh của những bữa cơm chiều ấy, có bao giờ được sống lại trọn vẹn trong lòng Thoa không ? Giờ thì càng xa vắng hơn ! Nàng như cánh chim vượt trùng khơi bay về một khu rừng xanh mát.
Tuệ, người ở lại với trời bơ vơ !
Trong thinh lặng rất lâu, có lẽ Tuệ đang ôn lại những kỷ niệm ban đầu của một đêm mưa, để gởi hồn vào thương nhớ xa xăm…Bất giác Tuệ chép miệng: “ Xin những may lành và hạnh phúc luôn đến với người em gái tôi yêu, trên miền đất tự do”.
Tiếng động cơ từ đâu bay qua dưới vòm trời xanh thẳm, Tuệ ngước nhìn chỉ thấy những vì sao lấp lánh dưới nền trời bao la, chợt một ánh sao vừa ló dạng đã vụt đổi ngôi về phía trời xa, để lại không gian u buồn một thiếu vắng mênh mông, một mối sầu ly biệt mà ngàn năm mây bay vẫn không vơi những ngậm ngùi./.
Đoàn Minh Chiếu



















Comment