Thời tiết vùng núi sáng nào cũng như ngày nào, khí lạnh toát ra từ đá núi, trên cây rừng còn đọng lại hơi sương, thỉnh thoảng vài cơn gió biển thổi vào đem hơi ấm cần thiết cho dân miền Sơn cước, rời rạc vài cụm mây ngàn bỏ núi bay xa, nơi đây lá rừng lung-lay xào xạc, trên bầu trời xanh thẳm điểm vài sợi mây vảy cá Cirrus nằm bất động, báo hiệu một ngày dài với trời nắng đẹp. Thượng đế như chiều lòng cảm thông cho sự lo âu của phi hành đoàn Biệt-kích Delta sẽ dấn sâu vào vùng lửa đạn với những phi vụ âm thầm không danh xưng trong bóng tối …
Trên bãi cỏ, hai chiếc trực thăng CH-34 lù lù nằm im lìm trên đó, ướt đẫm hơi sương như hai con kình-ngư vừa trườn lên bờ phơi nắng. Cơ-phi Thượng-sĩ Nguyễn Văn Mai đang hì hục, hấp tấp dang tay đẩy liên tục cần bơm xăng từ các thùng phuy chuyền qua trực thăng. Mồ hôi Mai nhuể nhoải ướt đẫm chiếc áo Bà ba đen, nhưng không phải là bác nông dân cày bừa mà là người hùng cày sâu nơi vùng lửa đạn. Mai dang tay lau bớt mồ hôi tuôn trên trán và dụi nhẹ vào đôi mắt đang cay.
Tôi đang bước nhanh đến Mai:
“Anh Mai! Anh nghỉ tay một chút cho khỏe, để Tôi bơm cho… khi nào khỏe hẳn anh giúp Tôi kiểm soát mức độ dầu, xăng, nhớt thủy điều và các cơ phận xoay chuyển o.kay!
“Mình chỉ bôm chiếc của mình mà thôi, để Huệ và Khôi bay ra Quảng Trị đổ xăng cho đỡ khỏi phải dùng xăng ở đây; Một công hai việc vừa để dành xăng ở đây mà cũng vừa an toàn hơn phải lấy trong thùng phuy lâu ngày đọng nước trong đó”
“Chút nữa anh bơm nhớ chừa cặn lóng ở dưới đáy thùng, và kiểm soát lại coi xăng đã hết hạn chưa… vi xăng để lâu trong thùng phuy sẽ bay mất nhiệt lượng octane, sẽ nguy hiểm khi mình dùng sức máy tối đa… Chút nữa đây lên trực thăng, anh nhớ nhắc Thượng-sĩ Donald-Duncan xiết dây nịt an toàn cho chắc, vì trước khi mình vào chụp hình ở Bộ chỉ huy Tiền phương Ðoàn 559, Tôi phải thử trước một động tác “8-chậm,” phi công Mỹ gọi là “Lazy-8,” có nghĩa là bay quẹo chữ I thay vì chữ U, nói cách khác đó là phương thức bay ngược 180 độ nhưng ở đây dùng khoảng cách đứng chớ không thể dùng khoảng cách ngang trong thung lũng với vách đá dựng đứng. Làm như vậy không đụng vào vách núi đứng như bức tường sắt nơi đó và tránh bay qua vùng mà hai Tiểu đoàn phòng không Bắc Việt luôn luôn sẵn sàng nhả đạn… Anh nhớ tôi sẽ đâm đầu xuống tăng tốc lực tối đa, xong sẽ cất mũi trực thăng chỗng ngược thẳng đứng lên trời, đợi khi nào tốc lực xuống đến 25 hải-lý sẽ đạp phối-hợp nhẹ nhàng chân phải cho trực thăng từ từ hạ mũi xuống, rồi uyển chuyển phối hợp động tác tay lái đem phi cơ lên thăng bằng; như vậy là mình đang trở lại 180 độ trên trục mà mình đã bay qua… biết đâu Lính BV thấy cảnh ngoạn mục nầy nên người anh em thù địch sẽ vỗ tay mà quên bắn mình .. Anh tin như vậy không?
Mai hiểu được ý nghĩa bông đùa của Tôi khi phải giáp mặt với sự hiểm nguy, hắn nhanh nhẹn trả lời cho tôi yên tâm:
“Anh lo việc lớn đi, còn việc nhỏ để tôi lo… tôi đã kiểm rất kỹ rồi anh yên chí, ống hút của cần bơm xăng không đụng đáy thùng mà cách gần tới hai tấc an toàn lận”
“Anh Mai! Những chuyến bay có anh bên cạnh tôi rất yên tâm, vì chuyến bay nầy rất muôn phần nguy hiểm Tôi cảm thấy phải cho anh biết để chuẩn bị ứng xử”
Trong Không quân ngành trực thăng, chúng tôi xem nhau như anh em ruột thịt, người nào cũng là quan trọng cần thiết như nhau không thể thiếu được; Sự thật chúng tôi là những chiến sĩ anh hùng không tên tuổi. Các phi vụ thường được giữ tuyệt đối bí mật, âm thầm chiến đấu trong bóng tối hay trong giông bão để tạo sự bất ngờ, vào những đêm trời không trăng sao, thời tiết càng xấu càng tốt, địa hình càng khắc nghiệt càng tăng thêm yếu tố bất ngờ, rồi càng tăng thêm sự kín đáo khi thả Toán nơi chốn rừng già hoang-dã. Những phi vụ cảm-tử như vậy mà ngay người chiến hữu Không quân cùng binh chủng cũng không ai biết được, ngoài Sở Liên lạc, Nha Kỹ thuật và Bộ Tư lệnh lực lượng Ðặc Biệt. Nghe đến danh từ Queen-Bee, Delta-Alpha-1, 2, các phi công sừng sỏ xuất sắc nhứt của Không lực Hoa Kỳ và U.S Army Aviation cũng phải chào thua bái phục. Ðâu cần phải thâm niên quân vụ, đâu cần phải mang trên ngực cánh “hoa tiêu lãnh đạo” có vòng nguyệt quế và tinh cầu dẫn độ. Những phi công mới ra trường đã đi vào huyền thoại lịch sử chiến tranh Việt Nam ngang hàng với các bậc đàn anh của họ. Trong hỏa tuyến xung vào vùng trời lửa đạn, làm gì có sự phân biệt cấp bực giữa chiến sĩ với nhau, chỉ có lòng can đảm, sự hy sinh cho chiến hữu mới là những trang “chiến-sử” để đời của người Lính trận. Ðó mới chính là gia tài trang trọng và cao quý nhứt mà người chiến sĩ quân lực VNCH ít khi phải đem rao hàng giữa chợ đời.
Thông thường những chuyến bay nguy hiểm Tôi thường bay một mình, không có cơ-phi. Tôi rất tiết kiệm, tránh né tối đa sự thương vong vô ích có thể xảy ra cho đồng đội. Nhưng đặc biệt hôm nay tôi phải chấp nhận loại đạn AK hơn loại súng phòng không hoặc hoả tiễn cầm-tay SA-7. Vì Tôi biết phải giỡn mặt với hai Tiểu đoàn phòng không của CSBV bảo vệ Bộ chỉ huy Tiền phương Ðoàn 559 do tướng Võ Bam làm tư lệnh, vùng mật khu vô cùng huyền bí, phía SOG Mỹ cho là vùng kiên cố “Oscar-8”.
Tôi sẽ bay theo kiểu Cá lia-thia lách mình tránh né dưới rặng đá bén nhọn của san-hô, chôm-chổm dựng đứng. Bỗng dưng tôi nhớ lại những lời Ni ân-cần dặn dò. “Khi đi bay Anh nhớ đừng bao giờ quên đeo chiếc Tượng ảnh Thánh-giá nầy… Chúa Mẹ sẽ bao che cho Anh suốt chuyến bay được an-lành, nhớ hĩ... nhớ hĩ! Nàng muốn tôi luôn luôn bám giữ niềm tin như vậy, nhưng Tôi lại cứ bình thường; “Thôi thì cứ nghe theo nàng, không có lợi thì thôi chớ cũng chẳng có gì gọi là hại cả!”.
Tôi sẽ bay cùng với thiếu úy Tống Phước Hảo, anh bay rất vững nhưng ít chịu liều mạng, không giống như thiếu úy Trần Hữu Khôi và thiếu úy Phan Ngọc Huệ, hai hiện tượng nầy thôi khỏi nói, “Ðúng anh hùng tử chí hùng nào tử” do đó tôi cắt đặt hai anh túc trực cấp cứu khi tôi chẳng may bị nạn. “Ðúng ngựa hay thường sanh chứng!” Riêng Huệ, anh đã làm cho tôi và Thiếu tá Thơm thuộc LLÐB phải bị Thiếu-tướng Cao Văn Viên, Tư lệnh Quân khu-3 kêu lên chửi cho một trận nên thân: Tôi còn nhớ rõ ngày ấy vào một buổi chiều tối, khi tôi đi kiếm vài món gì nhét vào bao tử cho xong. Trên đường trở về Khách sạn mà CIA mướn trọn hết cho Phi đội chúng tôi để bảo mật, thì được ông chủ khách sạn chạy ra phân bua: Có ông Thiếu-úy của Ðại-úy, tướng đi nghiêng nghiêng, gương mặt đỏ ngầu, tôi biết ngay là Huệ, xách súng và rủ các ông khác bao vây Ðồn quân cảnh ở ngã tư đàng kia. Tôi hối hả hỏi ông “Ông biết tại sao, lý do gì vậy” Tại vì các ông ăn mặc và súng ống của Việt Cộng, nên Cảnh sát đã phối hợp với Quân cảnh ụp vào khách sạn xét hỏi, khi ông Thiếu úy đi về thấy vậy, ông nổi điên chửi thề “Ð.M quân cảnh Mỹ mà thấy tụi nầy chở trên xe Jeep Delta cả chục người kể cả đàn bà con nít mà tụi nó không dám đụng đến mà quân cảnh Việt Nam là cái thá gì mà dám phiền nhiễu tụi nầy?”
Nói xong ông Thiếu úy tập họp tất cả lại điều động bao vây Ðồn quân cảnh bảo Trung úy Ðồn trưởng phải đích thân đi ra xin lỗi vì dám vào khách sạn của ông hạch hỏi lôi thôi. Tôi có linh tính ngày mai thế nào cũng bị Tư lệnh Vùng chửi bới. Y như rằng, Tôi và Thiếu-tá Thơm bị Thiếu tướng Viên kêu lên chửi cho một trận vuốt mặt không kịp:
“Các anh đừng ỷ các anh là đơn vị cảm tử, ưu tú nhứt của quân lực VNCH rồi muốn làm gì thì làm à, càng giỏi mà đừng kiêu binh thì người dân mới kính phục quân đội… Trung úy trưởng đồn thông-cảm sự hy sinh của các anh, chớ người khác họ lấy xe tăng cán đè lên các anh nát đầu dẹp lép, các anh hiểu chưa? Ăn mặc đồ Việt Cộng mà dám vây đồn quân cảnh, các anh liều thật… súng AK-50 của các anh thì làm được gì với xe tăng?”
Tôi về lại khách sạn gặp Huệ, tôi cũng chẳng nói tiếng nào, có phải con người mà hằng đêm bay phi vụ đùa giỡn với tử thần đã đem lại một tinh thần bất ổn, căng thẳng vì giao động mạnh? Thế nhưng Huệ sửa lại tư thế càng kính trọng và nể phục tôi hơn, Tôi có thể hiểu được qua nét mặt cũa Huệ.
Còn Khôi, con người cứ lầm lầm lì lì khó hiểu. Thì giờ anh bỏ ra nhiều nhứt là mài dao trên một miếng đá mài tí hon. Thật là một hiện tượng kỳ quái; đêm đó tôi còn nhớ, Vũng Tàu một thành phố kết hợp nhiều binh chủng nhứt, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Người Nhái, Biệt kích Lôi hổ, Biệt Ðộng quân… Tôi đang ngồi trên chiếc ghế đẩu cao của một quán Kiosque ở Bãi trước, thì nghe tiếng súng nổ khắp nơi, mọi người đều nằm rạp xuống đất để tránh đạn, nhìn qua nhìn lại chỉ có một mình tôi thản nhiên ngồi uống rượu. Vì tôi biết chắc chắn họ chỉ bắn lên trời thôi chớ chẳng có gì phải sợ, sau một hồi nổ súng, các binh chủng khác đều rút lui chỉ còn lại lác đác vài anh Biệt kích gan lì ở lại lâm le khẩu súng. Tôi nhìn ra thấy Trung-sĩ Ðức, hắn vừa được tôi bốc ra trong chiến khu D tuần trước; Tôi trừng mắt quát lớn (không biết sao hồi đó tôi dữ quá):
“Ðức…Ð.M đi về ngay” Hắn riu-ríu đi về nhưng vẫn chu-miệng lên trời la lớn: “Ð.M không có ông thầy tao kêu về… thì chết mẹ tụi bây hết” Một lát sau, không khí bãi trước vẫn vui lại như không có chuyện gì xẩy ra trước đó.
Một người đàn bà trạc tuổi 40 mươi, mặt mày phấn son tươm tất đi ra chào hỏi như muốn làm thân: “Em thấy Ðại úy anh hùng quá chẳng sợ súng đạn là gì… cứ ngồi uống tỉnh-bơ”
“Có gì đâu mà sợ… họ bắn dọa lên trời thôi chớ có gì đâu mà sợ”
“Em đề nghị Ðại úy chuyện nầy nghe”
“Ðâu chị nói thử”
“Tụi em ước ao Ðại úy đỡ đầu cho quán của tụi em, chúng em sẽ biết điều với Ðại-úy… có như vậy quán tụi em sẽ không bị phá-phách… nghe Ðại-úy”
Tôi cảm thấy khó chịu và tội nghiệp cho người dân trong thời buổi chiến tranh:
“Thôi đi bà nội… Tụi tôi ở đây có vài tuần xong chiến trận Bình-Giả chúng tôi sẽ đi chỗ khác…Chị coi bao nhiêu tiền tôi trả, tôi phải về khuya rồi”
“Không có bao nhiêu thôi để em xin mời Ðại úy”
Tôi bèn đặt tấm giấy bạc lên bàn, cẩn thận dằn ly rượu lên trên rồi ra về một mạch.
Vừa nằm xuống chưa kịp chợp mắt, đã có ai gõ cửa rầm rầm nơi phòng mình, vừa mở cửa đã thấy Trung-úy Ðỗ Cao Luận, Ðại đội trưởng Biệt-kích Dù, mặt đỏ kè có lẽ uống quá nhiều rượu.
Tôi nghe tiếng nói không chững chạc qua hơi rượu:
“Anh Vinh! Tôi muốn đấu súng với anh ngay bây giờ”
“Luận… ê… bộ hôm nay Bồ có chuyện buồn”
Hắn gật gù trả lời: “Không có gì buồn mà chỉ có rửa hận thôi! Anh có đàn em mà không biết dạy-dỗ… mũi dại thì lái phải chịu đòn… có thế thôi”
Tôi điên tiết lên nhưng phải vuốt cơn giận xuống “Chuyện đâu còn có đó… không lẽ trong chiến trận mình đã hy sinh cho nhau mà bây giờ vì một người đàn bà mà mình phải hy sinh sanh mạng thật nhục quá… Tôi vẫn biết giữa anh và tôi, ai cũng xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, nhưng mình phải dành cái chết nơi xứng đáng.”
“Thôi anh về ngủ đi… sáng mai tôi sẽ khuyên Khôi vụ nầy… anh yên chí tôi biết tánh nó”
Luận bước lùi xiểng niểng, nặng nề lảo đảo ra xe để lại mùi hơi rượu nồng nặc
Tôi không thể nào chợp mắt lại: “Tại sao có việc nầy… lỗi bởi do ai?”
T.Lan là vợ Bé của một cựu Tổng Bộ trưởng quyền thế, đã có liên hệ tình ái với Luận, chàng Trung- úy rất đẹp trai phải nói nhứt nhì trong quân đội, còn Khôi… so ra còn xấu hơn mình, tình yêu gì mà khó hiểu quá? Mà cũng thiệt kỳ quái, chiều nầy đi vào phi trường để bay thám sát LZ, xe Jeep thiếu gì, nhưng kẹt nỗi ai cũng muốn leo lên chiếc xe Cortina Trắng mui trần của T.Lan để vào phi trường; gót giày nhà binh nện lên làm trầy trụa cả lớp sơn trắng.
Chính tôi đã hỏi nàng “Sao cô không để các anh tự lái xe đi… như vầy thì nát xe hết”
T.Lan nhoẻn miệng cười: “Em dự định trầy sơn em sẽ sơn màu đỏ cho nó ngầu và hợp thời trang hơn!”
Thôi mình rán dổ giấc ngủ, ngày mai tính sau nhưng lại nghĩ mông lung tới Trung-sĩ Ðức, vừa rồi nếu mình không cứu hắn từ trong lòng địch Chiến khu D ra thì sức mấy đang hăng-tiết vịt mà nó chịu nghe lời mình trở về Trại. Nghĩ cho kỹ Toán hắn hên và thật may, mới thả chiều hôm qua thì sáng hôm nay lại được bốc về liền. Hắn kể chuyện mà bắt tức cười:
“Chiến thuật ngụy-âm” Chúng tôi thả Toán của Tùng và Nhựt bằng phương cách tạo nhiễu loạn âm thanh; Trên thế đất bằng phẳng rừng cây cao dầy đặt bạt ngàn như Chiến khu D, hoặc rừng cao-su bát ngát như Bình Giả; Tâm lý ở vùng rừng núi người ta thường chuẩn bị cho một đêm dài trước khi trời sắp xụp tối. Trưa ngày hôm đó, hai Toán-trưởng, hai Phi-công trưởng và hai sĩ quan Việt Mỹ đặc trách hành quân, Thiếu tá Tất và Thiếu tá da màu Thompson. Chúng tôi được một chiếc phi cơ của quân đội Úc “Otter” chở đi thám sát bãi đáp, Tôi đề nghi phi công của chiếc Otter bay cao ngang qua vùng hành quân lấy trục thẳng từ Ðông sang Tây và khi trở về đáp lại Vũng Tàu, tránh tuyệt đối không bay trở lại trên vùng đó, làm như vậy để khỏi bị sự chú ý của địch.
Chỉ còn vài phút nữa là bay ngang vùng phải chọn bãi đáp cho tối nay. Bốn nhân vật quan trọng nhứt trong phi vụ thám sát nầy là hai cặp, Nhựt và Khôi, Tùng và Tôi. Chỉ duy có vài phút trôi qua nhanh chóng, mỗi cặp tự bàn thảo với nhau trong việc chọn bãi đáp, nhưng phần nhiều phi công quyết định; Toán trưởng chỉ có việc ghi chấm bãi đáp theo ý định của phi công. Chúng tôi thường chọn một bãi Chính và một bãi Phụ; Trên bản đồ có khoanh vùng thám sát cho từng Toán trách nhiệm. Thời gian bay ngang qua bải đáp quá nhanh, bốn đứa chúng tôi, ai mặt mày cũng đỏ kè vì phải vận dụng trí óc quá nhiều căng thẳng thần kinh; Tôi nhìn qua Khôi và Nhựt thì họ cũng vừa trỏ ngón tay Cái lên báo hiệu okay.
Thế là từ giờ phút nầy trở đi bãi đáp như một nhân tình không thể xóa mờ trong tâm trí chúng tôi; Thiếu tá Thompson có hỏi tôi hai toạ độ bãi đáp nhưng tôi do-dự, làm sao tin ai được, Tôi có trách nhiệm phải bảo vệ tuyệt đối bí mật cho Toán, cho nên Tôi thối thoát: “Tối nay Tôi sẽ cho Thiếu-tá biết ngay lúc về đáp vì có thể giờ chót đáp vào bãi phụ thứ hai”
Trên bãi cỏ, hai chiếc trực thăng CH-34 lù lù nằm im lìm trên đó, ướt đẫm hơi sương như hai con kình-ngư vừa trườn lên bờ phơi nắng. Cơ-phi Thượng-sĩ Nguyễn Văn Mai đang hì hục, hấp tấp dang tay đẩy liên tục cần bơm xăng từ các thùng phuy chuyền qua trực thăng. Mồ hôi Mai nhuể nhoải ướt đẫm chiếc áo Bà ba đen, nhưng không phải là bác nông dân cày bừa mà là người hùng cày sâu nơi vùng lửa đạn. Mai dang tay lau bớt mồ hôi tuôn trên trán và dụi nhẹ vào đôi mắt đang cay.
Tôi đang bước nhanh đến Mai:
“Anh Mai! Anh nghỉ tay một chút cho khỏe, để Tôi bơm cho… khi nào khỏe hẳn anh giúp Tôi kiểm soát mức độ dầu, xăng, nhớt thủy điều và các cơ phận xoay chuyển o.kay!
“Mình chỉ bôm chiếc của mình mà thôi, để Huệ và Khôi bay ra Quảng Trị đổ xăng cho đỡ khỏi phải dùng xăng ở đây; Một công hai việc vừa để dành xăng ở đây mà cũng vừa an toàn hơn phải lấy trong thùng phuy lâu ngày đọng nước trong đó”
“Chút nữa anh bơm nhớ chừa cặn lóng ở dưới đáy thùng, và kiểm soát lại coi xăng đã hết hạn chưa… vi xăng để lâu trong thùng phuy sẽ bay mất nhiệt lượng octane, sẽ nguy hiểm khi mình dùng sức máy tối đa… Chút nữa đây lên trực thăng, anh nhớ nhắc Thượng-sĩ Donald-Duncan xiết dây nịt an toàn cho chắc, vì trước khi mình vào chụp hình ở Bộ chỉ huy Tiền phương Ðoàn 559, Tôi phải thử trước một động tác “8-chậm,” phi công Mỹ gọi là “Lazy-8,” có nghĩa là bay quẹo chữ I thay vì chữ U, nói cách khác đó là phương thức bay ngược 180 độ nhưng ở đây dùng khoảng cách đứng chớ không thể dùng khoảng cách ngang trong thung lũng với vách đá dựng đứng. Làm như vậy không đụng vào vách núi đứng như bức tường sắt nơi đó và tránh bay qua vùng mà hai Tiểu đoàn phòng không Bắc Việt luôn luôn sẵn sàng nhả đạn… Anh nhớ tôi sẽ đâm đầu xuống tăng tốc lực tối đa, xong sẽ cất mũi trực thăng chỗng ngược thẳng đứng lên trời, đợi khi nào tốc lực xuống đến 25 hải-lý sẽ đạp phối-hợp nhẹ nhàng chân phải cho trực thăng từ từ hạ mũi xuống, rồi uyển chuyển phối hợp động tác tay lái đem phi cơ lên thăng bằng; như vậy là mình đang trở lại 180 độ trên trục mà mình đã bay qua… biết đâu Lính BV thấy cảnh ngoạn mục nầy nên người anh em thù địch sẽ vỗ tay mà quên bắn mình .. Anh tin như vậy không?
Mai hiểu được ý nghĩa bông đùa của Tôi khi phải giáp mặt với sự hiểm nguy, hắn nhanh nhẹn trả lời cho tôi yên tâm:
“Anh lo việc lớn đi, còn việc nhỏ để tôi lo… tôi đã kiểm rất kỹ rồi anh yên chí, ống hút của cần bơm xăng không đụng đáy thùng mà cách gần tới hai tấc an toàn lận”
“Anh Mai! Những chuyến bay có anh bên cạnh tôi rất yên tâm, vì chuyến bay nầy rất muôn phần nguy hiểm Tôi cảm thấy phải cho anh biết để chuẩn bị ứng xử”
Trong Không quân ngành trực thăng, chúng tôi xem nhau như anh em ruột thịt, người nào cũng là quan trọng cần thiết như nhau không thể thiếu được; Sự thật chúng tôi là những chiến sĩ anh hùng không tên tuổi. Các phi vụ thường được giữ tuyệt đối bí mật, âm thầm chiến đấu trong bóng tối hay trong giông bão để tạo sự bất ngờ, vào những đêm trời không trăng sao, thời tiết càng xấu càng tốt, địa hình càng khắc nghiệt càng tăng thêm yếu tố bất ngờ, rồi càng tăng thêm sự kín đáo khi thả Toán nơi chốn rừng già hoang-dã. Những phi vụ cảm-tử như vậy mà ngay người chiến hữu Không quân cùng binh chủng cũng không ai biết được, ngoài Sở Liên lạc, Nha Kỹ thuật và Bộ Tư lệnh lực lượng Ðặc Biệt. Nghe đến danh từ Queen-Bee, Delta-Alpha-1, 2, các phi công sừng sỏ xuất sắc nhứt của Không lực Hoa Kỳ và U.S Army Aviation cũng phải chào thua bái phục. Ðâu cần phải thâm niên quân vụ, đâu cần phải mang trên ngực cánh “hoa tiêu lãnh đạo” có vòng nguyệt quế và tinh cầu dẫn độ. Những phi công mới ra trường đã đi vào huyền thoại lịch sử chiến tranh Việt Nam ngang hàng với các bậc đàn anh của họ. Trong hỏa tuyến xung vào vùng trời lửa đạn, làm gì có sự phân biệt cấp bực giữa chiến sĩ với nhau, chỉ có lòng can đảm, sự hy sinh cho chiến hữu mới là những trang “chiến-sử” để đời của người Lính trận. Ðó mới chính là gia tài trang trọng và cao quý nhứt mà người chiến sĩ quân lực VNCH ít khi phải đem rao hàng giữa chợ đời.
Thông thường những chuyến bay nguy hiểm Tôi thường bay một mình, không có cơ-phi. Tôi rất tiết kiệm, tránh né tối đa sự thương vong vô ích có thể xảy ra cho đồng đội. Nhưng đặc biệt hôm nay tôi phải chấp nhận loại đạn AK hơn loại súng phòng không hoặc hoả tiễn cầm-tay SA-7. Vì Tôi biết phải giỡn mặt với hai Tiểu đoàn phòng không của CSBV bảo vệ Bộ chỉ huy Tiền phương Ðoàn 559 do tướng Võ Bam làm tư lệnh, vùng mật khu vô cùng huyền bí, phía SOG Mỹ cho là vùng kiên cố “Oscar-8”.
Tôi sẽ bay theo kiểu Cá lia-thia lách mình tránh né dưới rặng đá bén nhọn của san-hô, chôm-chổm dựng đứng. Bỗng dưng tôi nhớ lại những lời Ni ân-cần dặn dò. “Khi đi bay Anh nhớ đừng bao giờ quên đeo chiếc Tượng ảnh Thánh-giá nầy… Chúa Mẹ sẽ bao che cho Anh suốt chuyến bay được an-lành, nhớ hĩ... nhớ hĩ! Nàng muốn tôi luôn luôn bám giữ niềm tin như vậy, nhưng Tôi lại cứ bình thường; “Thôi thì cứ nghe theo nàng, không có lợi thì thôi chớ cũng chẳng có gì gọi là hại cả!”.
Tôi sẽ bay cùng với thiếu úy Tống Phước Hảo, anh bay rất vững nhưng ít chịu liều mạng, không giống như thiếu úy Trần Hữu Khôi và thiếu úy Phan Ngọc Huệ, hai hiện tượng nầy thôi khỏi nói, “Ðúng anh hùng tử chí hùng nào tử” do đó tôi cắt đặt hai anh túc trực cấp cứu khi tôi chẳng may bị nạn. “Ðúng ngựa hay thường sanh chứng!” Riêng Huệ, anh đã làm cho tôi và Thiếu tá Thơm thuộc LLÐB phải bị Thiếu-tướng Cao Văn Viên, Tư lệnh Quân khu-3 kêu lên chửi cho một trận nên thân: Tôi còn nhớ rõ ngày ấy vào một buổi chiều tối, khi tôi đi kiếm vài món gì nhét vào bao tử cho xong. Trên đường trở về Khách sạn mà CIA mướn trọn hết cho Phi đội chúng tôi để bảo mật, thì được ông chủ khách sạn chạy ra phân bua: Có ông Thiếu-úy của Ðại-úy, tướng đi nghiêng nghiêng, gương mặt đỏ ngầu, tôi biết ngay là Huệ, xách súng và rủ các ông khác bao vây Ðồn quân cảnh ở ngã tư đàng kia. Tôi hối hả hỏi ông “Ông biết tại sao, lý do gì vậy” Tại vì các ông ăn mặc và súng ống của Việt Cộng, nên Cảnh sát đã phối hợp với Quân cảnh ụp vào khách sạn xét hỏi, khi ông Thiếu úy đi về thấy vậy, ông nổi điên chửi thề “Ð.M quân cảnh Mỹ mà thấy tụi nầy chở trên xe Jeep Delta cả chục người kể cả đàn bà con nít mà tụi nó không dám đụng đến mà quân cảnh Việt Nam là cái thá gì mà dám phiền nhiễu tụi nầy?”
Nói xong ông Thiếu úy tập họp tất cả lại điều động bao vây Ðồn quân cảnh bảo Trung úy Ðồn trưởng phải đích thân đi ra xin lỗi vì dám vào khách sạn của ông hạch hỏi lôi thôi. Tôi có linh tính ngày mai thế nào cũng bị Tư lệnh Vùng chửi bới. Y như rằng, Tôi và Thiếu-tá Thơm bị Thiếu tướng Viên kêu lên chửi cho một trận vuốt mặt không kịp:
“Các anh đừng ỷ các anh là đơn vị cảm tử, ưu tú nhứt của quân lực VNCH rồi muốn làm gì thì làm à, càng giỏi mà đừng kiêu binh thì người dân mới kính phục quân đội… Trung úy trưởng đồn thông-cảm sự hy sinh của các anh, chớ người khác họ lấy xe tăng cán đè lên các anh nát đầu dẹp lép, các anh hiểu chưa? Ăn mặc đồ Việt Cộng mà dám vây đồn quân cảnh, các anh liều thật… súng AK-50 của các anh thì làm được gì với xe tăng?”
Tôi về lại khách sạn gặp Huệ, tôi cũng chẳng nói tiếng nào, có phải con người mà hằng đêm bay phi vụ đùa giỡn với tử thần đã đem lại một tinh thần bất ổn, căng thẳng vì giao động mạnh? Thế nhưng Huệ sửa lại tư thế càng kính trọng và nể phục tôi hơn, Tôi có thể hiểu được qua nét mặt cũa Huệ.
Còn Khôi, con người cứ lầm lầm lì lì khó hiểu. Thì giờ anh bỏ ra nhiều nhứt là mài dao trên một miếng đá mài tí hon. Thật là một hiện tượng kỳ quái; đêm đó tôi còn nhớ, Vũng Tàu một thành phố kết hợp nhiều binh chủng nhứt, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Người Nhái, Biệt kích Lôi hổ, Biệt Ðộng quân… Tôi đang ngồi trên chiếc ghế đẩu cao của một quán Kiosque ở Bãi trước, thì nghe tiếng súng nổ khắp nơi, mọi người đều nằm rạp xuống đất để tránh đạn, nhìn qua nhìn lại chỉ có một mình tôi thản nhiên ngồi uống rượu. Vì tôi biết chắc chắn họ chỉ bắn lên trời thôi chớ chẳng có gì phải sợ, sau một hồi nổ súng, các binh chủng khác đều rút lui chỉ còn lại lác đác vài anh Biệt kích gan lì ở lại lâm le khẩu súng. Tôi nhìn ra thấy Trung-sĩ Ðức, hắn vừa được tôi bốc ra trong chiến khu D tuần trước; Tôi trừng mắt quát lớn (không biết sao hồi đó tôi dữ quá):
“Ðức…Ð.M đi về ngay” Hắn riu-ríu đi về nhưng vẫn chu-miệng lên trời la lớn: “Ð.M không có ông thầy tao kêu về… thì chết mẹ tụi bây hết” Một lát sau, không khí bãi trước vẫn vui lại như không có chuyện gì xẩy ra trước đó.
Một người đàn bà trạc tuổi 40 mươi, mặt mày phấn son tươm tất đi ra chào hỏi như muốn làm thân: “Em thấy Ðại úy anh hùng quá chẳng sợ súng đạn là gì… cứ ngồi uống tỉnh-bơ”
“Có gì đâu mà sợ… họ bắn dọa lên trời thôi chớ có gì đâu mà sợ”
“Em đề nghị Ðại úy chuyện nầy nghe”
“Ðâu chị nói thử”
“Tụi em ước ao Ðại úy đỡ đầu cho quán của tụi em, chúng em sẽ biết điều với Ðại-úy… có như vậy quán tụi em sẽ không bị phá-phách… nghe Ðại-úy”
Tôi cảm thấy khó chịu và tội nghiệp cho người dân trong thời buổi chiến tranh:
“Thôi đi bà nội… Tụi tôi ở đây có vài tuần xong chiến trận Bình-Giả chúng tôi sẽ đi chỗ khác…Chị coi bao nhiêu tiền tôi trả, tôi phải về khuya rồi”
“Không có bao nhiêu thôi để em xin mời Ðại úy”
Tôi bèn đặt tấm giấy bạc lên bàn, cẩn thận dằn ly rượu lên trên rồi ra về một mạch.
Vừa nằm xuống chưa kịp chợp mắt, đã có ai gõ cửa rầm rầm nơi phòng mình, vừa mở cửa đã thấy Trung-úy Ðỗ Cao Luận, Ðại đội trưởng Biệt-kích Dù, mặt đỏ kè có lẽ uống quá nhiều rượu.
Tôi nghe tiếng nói không chững chạc qua hơi rượu:
“Anh Vinh! Tôi muốn đấu súng với anh ngay bây giờ”
“Luận… ê… bộ hôm nay Bồ có chuyện buồn”
Hắn gật gù trả lời: “Không có gì buồn mà chỉ có rửa hận thôi! Anh có đàn em mà không biết dạy-dỗ… mũi dại thì lái phải chịu đòn… có thế thôi”
Tôi điên tiết lên nhưng phải vuốt cơn giận xuống “Chuyện đâu còn có đó… không lẽ trong chiến trận mình đã hy sinh cho nhau mà bây giờ vì một người đàn bà mà mình phải hy sinh sanh mạng thật nhục quá… Tôi vẫn biết giữa anh và tôi, ai cũng xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, nhưng mình phải dành cái chết nơi xứng đáng.”
“Thôi anh về ngủ đi… sáng mai tôi sẽ khuyên Khôi vụ nầy… anh yên chí tôi biết tánh nó”
Luận bước lùi xiểng niểng, nặng nề lảo đảo ra xe để lại mùi hơi rượu nồng nặc
Tôi không thể nào chợp mắt lại: “Tại sao có việc nầy… lỗi bởi do ai?”
T.Lan là vợ Bé của một cựu Tổng Bộ trưởng quyền thế, đã có liên hệ tình ái với Luận, chàng Trung- úy rất đẹp trai phải nói nhứt nhì trong quân đội, còn Khôi… so ra còn xấu hơn mình, tình yêu gì mà khó hiểu quá? Mà cũng thiệt kỳ quái, chiều nầy đi vào phi trường để bay thám sát LZ, xe Jeep thiếu gì, nhưng kẹt nỗi ai cũng muốn leo lên chiếc xe Cortina Trắng mui trần của T.Lan để vào phi trường; gót giày nhà binh nện lên làm trầy trụa cả lớp sơn trắng.
Chính tôi đã hỏi nàng “Sao cô không để các anh tự lái xe đi… như vầy thì nát xe hết”
T.Lan nhoẻn miệng cười: “Em dự định trầy sơn em sẽ sơn màu đỏ cho nó ngầu và hợp thời trang hơn!”
Thôi mình rán dổ giấc ngủ, ngày mai tính sau nhưng lại nghĩ mông lung tới Trung-sĩ Ðức, vừa rồi nếu mình không cứu hắn từ trong lòng địch Chiến khu D ra thì sức mấy đang hăng-tiết vịt mà nó chịu nghe lời mình trở về Trại. Nghĩ cho kỹ Toán hắn hên và thật may, mới thả chiều hôm qua thì sáng hôm nay lại được bốc về liền. Hắn kể chuyện mà bắt tức cười:
“Chiến thuật ngụy-âm” Chúng tôi thả Toán của Tùng và Nhựt bằng phương cách tạo nhiễu loạn âm thanh; Trên thế đất bằng phẳng rừng cây cao dầy đặt bạt ngàn như Chiến khu D, hoặc rừng cao-su bát ngát như Bình Giả; Tâm lý ở vùng rừng núi người ta thường chuẩn bị cho một đêm dài trước khi trời sắp xụp tối. Trưa ngày hôm đó, hai Toán-trưởng, hai Phi-công trưởng và hai sĩ quan Việt Mỹ đặc trách hành quân, Thiếu tá Tất và Thiếu tá da màu Thompson. Chúng tôi được một chiếc phi cơ của quân đội Úc “Otter” chở đi thám sát bãi đáp, Tôi đề nghi phi công của chiếc Otter bay cao ngang qua vùng hành quân lấy trục thẳng từ Ðông sang Tây và khi trở về đáp lại Vũng Tàu, tránh tuyệt đối không bay trở lại trên vùng đó, làm như vậy để khỏi bị sự chú ý của địch.
Chỉ còn vài phút nữa là bay ngang vùng phải chọn bãi đáp cho tối nay. Bốn nhân vật quan trọng nhứt trong phi vụ thám sát nầy là hai cặp, Nhựt và Khôi, Tùng và Tôi. Chỉ duy có vài phút trôi qua nhanh chóng, mỗi cặp tự bàn thảo với nhau trong việc chọn bãi đáp, nhưng phần nhiều phi công quyết định; Toán trưởng chỉ có việc ghi chấm bãi đáp theo ý định của phi công. Chúng tôi thường chọn một bãi Chính và một bãi Phụ; Trên bản đồ có khoanh vùng thám sát cho từng Toán trách nhiệm. Thời gian bay ngang qua bải đáp quá nhanh, bốn đứa chúng tôi, ai mặt mày cũng đỏ kè vì phải vận dụng trí óc quá nhiều căng thẳng thần kinh; Tôi nhìn qua Khôi và Nhựt thì họ cũng vừa trỏ ngón tay Cái lên báo hiệu okay.
Thế là từ giờ phút nầy trở đi bãi đáp như một nhân tình không thể xóa mờ trong tâm trí chúng tôi; Thiếu tá Thompson có hỏi tôi hai toạ độ bãi đáp nhưng tôi do-dự, làm sao tin ai được, Tôi có trách nhiệm phải bảo vệ tuyệt đối bí mật cho Toán, cho nên Tôi thối thoát: “Tối nay Tôi sẽ cho Thiếu-tá biết ngay lúc về đáp vì có thể giờ chót đáp vào bãi phụ thứ hai”
CÒN TIẾP

Comment