Queenbee-One thả Toán Strata

Collapse
X
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • vinhtruong
    Super Member
    • Jun 2010
    • 1924

    #16
    Tam Trùng Phạm Xuân Ẩn

    Các huy chương Phạm Xuân Ẩn nhận của Ðảng sau nầy do thành tích tình báo của Ẩn (dĩ nhiên là nhờ nhánh phản gián của điệp-viên 19, Lucien Conein và Russell Flynn Miller) khiến VC thắng lớn ở các trận đánh, bắt đầu từ trận Ấp Bắc đầu năm 1963. Sau trận đánh, chính Ẩn đã đến tận chiến trường quan sát giữa thanh thiên bạch nhựt bằng máy bay trực thăng H-21 cùng với các đồng nghiệp như Nguyễn Ngọc Rau UPI, Vỏ Huỳnh NBC, Hà thúc Cần CBS. Nhờ uy tín, Ẩn được Landsdale đề nghị đi học khóa tình báo Mỹ nhưng Mười Hương đã không cho Ẩn đi và vì không muốn cho Mai Chí Thọ nghi ngờ nên Nhóm phản tình báo Conein cho êm luôn, vì sợ phía bên kia biết Tam trùng Ẩn trái lệnh Ðảng thì nguy cho đại-cuộc. Tin tình báo của Ẩn chính xác đến độ Vỏ Nguyên Giáp đả thốt lên: “Chúng ta nay đang ngồi chần-dần trong phòng hành quân của Tướng Haig!” (Pomonti, trang 19) lấy một thí dụ trong cuộc chiến Lam Sơn 719, hỏa lực Pháo binh của Mỹ từ 42 khẩu bên kia biên giới bắn qua Lào gồm: 18 khẩu 155ly, 16 khẩu 175ly, và 8 khẩu 8 inch Howitzers; Trực thăng: 53 chiếc Chinooks, trên 600 Huey, không có Cố vấn Mỹ đi theo… Vì thế Tướng Giáp được CIA móm, đã tuyên bố: “Nếu quân lực VNCH tiến chiếm được Tchepone [Căn-cứ 604] xem như toàn thắng quân lực của ông!” đây là cái bẩy mà Tướng Giáp đã giăng ra cho QLVNCH qua thông báo của Phản tình báo CIA. Vì thế mà Tướng Giáp không đánh trận gần [Khe-Sanh] mà đánh trận xa! Nhưng có một điều mà cả hai Miền Nam Bắc đều không hiểu là cái lò sát sanh 604 dành cho hai chủ lực mạnh nhứt phải bị tiêu diệt tại đây bằng B-52 trải thảm, sau khi hai đối lực đánh xáp là cà vùi dập lẩn nhau. Nhưng đối với Nhóm tham mưu thì xem như đây là một thủ-đoạn tiết kiệm sinh mạng cũng như hai trái Bom nguyên tử thả trên lảnh thổ Nhựt, để khi thực thi định đề-1 bàn-giao Miền Nam cho Hà-Nội sẽ chỉ bị rỉ máu thay vì tắm-máu! Và Saigon không thành đống gạch vụn!
    Một nhà báo đội lốt phản tình báo CIA vô cùng lợi hại hơn cả Francois Sully là Robert Shaplen, ông làm việc trá hình trong tờ New Yorker ngụ ở phòng 407 khách sạn Continental, những tin tức chính xác từ Toà Ðại sứ Mỹ đều được Shaplen đúc kết giao cho Tam-trùng Ẩn. Chính Shaplen đả cứu Ðặng Ðức Khôi ra khỏi bàn tay của Cụ Nhu sau khi cựu phát ngôn viên báo chí của TT Diệm là Khôi phản chủ khai báo tin tức cho CIA, Shaplen đả đem Khôi về ẩn trú tại New York. Shaplen là một phóng viên khá lâu của New Yorker về Châu-Á cũng như Francois Sully, ông đã viết 6 cuốn sách về Việt Nam nhưng với nội dung theo đơn đặt hàng theo định-kiến của Skull and Bones tài trợ là nói xấu, gây bất ổn chính tình miền Nam và chỉ trích chính quyền Mỹ
    Tin trên tờ New Yorker ngày 2/3/1968 rất chính xác vì do Ẩn cung cấp để đưa tin cho VC cùng phối hợp hành quân. Ẩn toan tính sẽ đưa vợ con vào nhà của viên chức CIA Marcus Huss xin tỵ nạn nếu bị bại lộ vì Ẩn biết Tướng Loan sẽ không tha cho Ẩn như đã không tha cho Bảy Lốp trong bức ảnh nỗi tiếng của Eddie Adams! Vì phản tình báo Mỹ rất cần Ẩn (Bức ảnh nầy sẽ có tác dụng cho định-kiến-1 (axiom-1) với ý đồ để Quốc hội Mỹ có lý do quyết định sẽ khước từ viện trợ cho VNCH sau nầy)
    Chả bù cho trận Mùa Hè đỏ lửa mà Mỹ gọi là Easter Offense, với hàm ý CSBV từ phía Tây đường Mòn Hồ tấn công mũi dùi ra hướng Ðông vùng đông dân. Kỳ nầy Ẩn mất điểm rất nhiều vì không biết ý định của Mỹ là chiến dịch dội bom Linebacker là tàn sát chớ không phải như trước là Rolling Thunder, chỉ nghe tiếng sấm rền cho vui tai. Kết quả 100.000 quân CSBV phải bị B-52 trải thãm, vì sự thiệt hại nầy nên Tướng Vỏ Nguyên Giáp đành phải từ nhiệm, CSBV chưa thể chiếm miền Nam sớm hơn theo lộ trình mà phải là thời gian coi cho được (theo kiểu nói của Kissinger) nhưng sự thật phãi là 1975, để đúng 20 năm sau lập bang giao 1995 theo lộ-trình đã thiết kế trước.
    Phản tình báo Mỹ rất cần lấy lại sự tín cậy của Bộ Chính Trị CSVN cho Tam-trùng Ẩn lấy lại uy tín, thúc Ẩn nên đề nghị với Phạm Văn Đồng mời cho bằng được ký-giả Arnaud de Borchgrave của tờ Newsweek đến Hà Nội để công bố lần đầu tiên nội dung Hiệp định Paris [theo ngầm ý cũa Tham mưu trưởng WSAG Donald Rumsfeld] dự trù sẽ ký ngày 30/10/72 (đăng trên số báo ngày 23/101972) với ý đồ sẽ tôn trọng để TT Nixon và Kissinger không thể lật lọng, kéo dài hay bao che cho TT Thiệu được. Vì Bộ Chính trị CSBV rất thắc mắc: Liệu Mỹ có can thiệp quân sự sau HÐ Paris không? Các Tư lệnh B cùng Tướng Trần Văn Trà được triệu tập về Hà-Nội họp qua ngã đường Xa lộ Harriman an-toàn trong mọi thời tiết vào 2 ngày: 18/12/1974 và 8/1/1975. Ðể có câu trả lời, Họ đánh trận nhỏ từ Phước Long đến trận lớn Buôn Mê Thuộc, tất cả đều được sự bảo đảm của Ẳn rằng Mỹ sẽ không can thiệp vì sau vụ tai-tiếng Watergate đã buộc TT Nixon từ chức theo như nguồn tin khá chính xác từ phía phản gián của Tham mưu trưởng Donald Rumsfeld. Ẩn còn nhấn mạnh bảo đảm sẽ không có tái diển thảm hại như Mùa Hè đỏ lửa 1972 cũng như chiến dịch “Hậu-vệ-2” (linebacker-2) của oanh tạc B-52 ngay tại Hà Nội hay trong nam.
    Chẳng bao lâu Lê Đức Thọ hết đắn đo về những câu bảo đảm của Ẩn qua vụ từ chức của TT Nixon ngày 9/8/1974 và phối kiễm lại với những lời vàng thước ngọc mà Harriman đã bảo đãm với Thọ giao miền nam cho Thọ tại Paris trước khi Harriman vĩnh viễn rời khỏi chínhn trường. Lời bảo đãm của Ẩn đã thể hiện qua: Ðảng Dân chủ (chiếm 291/144, Hạ và 61/39 Thượng) chiếm đa số cả hai viện Quốc hội: Thế là Phước Long mở màng 13/12/1974 đến 7/1/1975 thì tràn ngập quân CSBV. Ẩn đã thố lộ với Larry Berman rằng phía Hà Nội thoạt đầu nghi ngờ: “Tôi đả bảo họ (CSBV) là Mỹ sẽ không bao giờ tái can thiệp quân sự vào VN sau HÐ Paris nhưng họ không tin tôi mà cứ đánh dọ dẫm mãi cho chắc ăn. Họ chỉ tin lời Tôi sau trận BMT, Tôi đã đến gặp Tỉnh trưởng BL, ông bảo: Thiệu từ chối bảo vệ BL vì B-52 không bao giờ trở lại!” Sự thật làm sao chúng ta hiểu nổi nguyên do sâu-sa qua Tu chánh án Cooper-Church 1970 buộc Mỹ sẽ rút khỏi Ðông Nam Á trở về Bản doanh Honolulu thành lập PACOM (To manage the defeat) gọi là di tản chiến-lược trong cái thế “Bênh kẻ mạnh”
    Phạm Xuân Ẩn nhận huy chương chiến công bội tinh do công trận Phước Long ngày 30/11/1974 (nhờ Phản tình báo chiến lược CIA cho tin mà trong suốt cuộc chiến Ẩn nhận vô số huy chương cao quý do Bộ chính trị ưu ái tặng. Ngày 23/4/1975 TT Ford khẳng định “Mỹ sẽ không tái tham gia một cuộc chiến đã chấm dứt” Mặc dầu hai tướng Văn Tiến Dũng (hồi ký Ðại Thắng Mùa Xuân 1977 và Trần Văn Trà (hồi ký Kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 30 năm” 1982) đều tự nhận chiến công về phần mình, nhưng theo Ẩn [dĩ nhiên từ Cơ quan Phản tình báo Mỹ] chính Vỏ Nguyên Giáp mới là tác giả của trận mùa Xuân 1975 vì Mỹ cho rằng quá sớm, cần phải tiêu diệt 100.000 quân chủ lực BV năm 1972, để theo đúng lộ trình 20 năm thù địch 1975-1995 với VN và 20 năm thù địch với Trung Cộng 1952-1972 (Pomonti, trang 135) kết quả một sự xoá bỏ thù địch bằng cách Trung quốc và Việt Nam mua máy bay Boeing của Mỹ làm quà giao-tiếp.
    Trong lúc hoảng hốt, Ẩn chở Bác sỉ Tuyến đến Toà Ðại sứ Mỹ kịp chuyến trực thăng chót nhờ nhỏ con chui dưới cổng sắt trong khi Ẩn nâng cổng lên được vừa đủ cho Tuyến chui qua, Tuyến sau đó phải lên nóc sân thượng bằng cầu thang bộ. Tướng Ðôn kéo Tuyến lên máy bay lúc đó vừa đóng cửa và cất cánh. CSVN phàn nàn Ẩn đã để Bác sỉ Tuyến trốn thoát mà theo Ẩn là vì lý do Tuyến đã có ơn thả rất nhiều Cán bộ CS bị bắt (sự thật do áp-lực cũa CIA chớ không phải Ẫn) Ẩn bị hạch hỏi rất nhiều về quan hệ tình bạn với Tuyến, Mai Chi Thọ tin rằng Ẩn đã được CIA bảo vệ nên Ẩn không bị nghi ngờ trong lịch sử gián điệp, không điệp viên nào lại tránh bị lộ lâu đến thế nếu không nhờ chiếc đủa thần CIA! Không may mắn nào lại dài đến thế! Cũng chẳng qua nhờ bộ óc của đỉnh cao trí tuệ về phản gián! Ai? Di truyền thiên phú về tình báo 85 năm của 2 dòng họ Harrimans và Bushes, mọi người trong dòng họ nầy đều xuất thân Đại-học Yale và chĩ chấp nhận Đại-học Havard là chuyên viên làm công cụ cho họ, mà soạn giả vở bi kịch VN, đoạn chót cũa màn-2, giai đoạn-2 nầy chính là nhân vật George H.W.Bush là thủ lãnh.
    Theo sách sử CSBV so sánh Ẩn với điệp viên Richard Sorge hồi thế chiến-2 nổi tiếng với báo cáo: “Nhật sẽ không mở mặt trận Miền Ðông” nhưng thiển ý của tôi là Skull and Bones muốn quân Liên Xô rảnh tay đánh Ðức ở Châu-âu dưới sự bảo đảm của Ðại sứ Mỹ ở Liên Xô là W.A Harriman 1943-1946. Ẩn chết ngày 20/9/2006 ở tuổi 79 là Cán bộ CS duy nhất không thù cá-nhân một viên chức nào của chế độ VNCH! Sau cái chết của Ẩn báo chí thế giới nhận định:
    - Các vòng hoa của người nước ngoài phúng điếu Ẩn có câu: “Gởi thầy Phạm Xuân Ẩn với lòng mến mộ sự thông thái và tình bằng hửu của ông, tri-ân sâu xa sự tham vấn và khích lệ của ông!”
    - Tờ Independent viết: “Ấn đáng là một trong các gián điệp vĩ đại nhất của thế kỷ 20”
    - Tờ Boston Blobe đặt câu hỏi: “Liệu tình bạn của Ẩn cũng giả dối và phản trắc?”
    - Cựu Thượng Nghị Sĩ California Ross Johnson kết tội Ẩn: “Ẩn không thể làm vậy mà không chịu trách nhiệm vì hàng trăm hàng ngàn cái chết của người Mỹ… ai nói ông không chịu trách nhiệm là ngây ngô!” Nhưng Jol Owings, con gái của Mills Brandes bênh vực Ẩn: “Không có gì ngạc nhiên rằng Ẩn trước hết trung thành với đất nước của mình. Liệu chúng ta không làm tương tự như thế hay sao?”
    - Tờ Time viết: “Ẩn là thí-dụ điển hình của một người rất giỏi trong xả hội VN”
    - Nhưng đối với riêng người viết: “Ẩn được Nhóm chiến lược gia trong diệu kế “Eurasian” tuyển chọn một cách tài tình, như dụng nhân như dụng mọc: Dùng Cụ Diệm như một đòn bẩy bứng gốc thực dân Pháp ra khỏi Ðông Dương, dùng Quốc-Trì Cung, Nguyễn Cao Kỳ như một cái xà-beng để nại lên những vật nặng, Nguyễn Khánh như một diễn-viên Hề trong tuồng Hát bội, khi để râu trên khi cạo râu dưới, dựa vào khoa học huyền bí, nặng về tữ vi tướng số. Tất cả chỉ vì phải xóa bỏ Miền Nam để thống nhứt VN nhưng phải trả một cái giá nào đó cho nền Tự do Dân chủ mà người dân Việt phải gánh chịu! Vì Freedom is not for free! Ẩn là một diển-viên kiệt xuất cần có trong Màn-2, Á-châu và giai đoạn-2 tại Ba nước Ðông dương – Một Màn phụ diển trong vở “Bi-kịch Eurasian” quá dài 1920-2020
    - Cựu Trung-úy điệp viên tài ba nhứt của nước Mỹ hồi thế chiến-2, William E Colby phải chịu bó tay dưới Nhóm phản tình báo tài tình của George H W Bush. Dù rằng hai lần Colby muốn chụp Phạm Xuân Ẩn nhưng bị một siêu thế lực ngăn chận: Trong phiên họp ngày 31/8/1963 tại Bộ ngoại giao ở Washington DC, khi biết tin âm mưu lật đổ TT Diệm thất bại tuần lể trước, Phó TT Johnson bực tức tuyên bố: “Chúng ta nên chấm dứt cái trò vừa la làng, vừa ăn cướp!” và khuyến cáo nên tái lập liên hệ tốt với chính phủ Diệm để tiến hành cuộc chiến chống Cộng. Dỉ nhiên lời kêu gọi nầy rơi vào bãi sa mạc vì Bọn Skull and Bones bao quanh liên danh Dân chủ Kennedy/Johnson mà người nắm chính sách nước Mỹ là những thành viện Hội-đồng guồng máy chiến tranh WIB [Averell.Harriman, Prescott Bush và George H W Bush] William E Colby người Sỉ quan tự trọng [Tổ quốc, Danh dự và Trách nhiệm] phải chiến thắng CS, nên khi nghe Phó TT Johnson nói như vậy, ông Colby trưởng nhiệm sở CIA bèn chuyển lệnh qua Ðại-sứ E.Durbrow đến hai nhân viên trực tiếp bảo trợ cuộc đảo chánh, George Carver, Russell Miller, toán phản gián của Lucien Conein, hãy thông báo cho phe đảo chánh biết TT Kennedy muốn họ điều đình với TT Diệm và không được đổ máu. (Chính Carver sau đó đã đưa Luật sư Hoàng cơ Thụy, chủ mưu cuộc đảo chánh, ra khỏi VN trong một túi vải lớn đựng thơ bằng phi cơ của tùy viên quân sự MATS, DC-6) Liền sau đó Colby cho lệnh ngầm Ðại-tá Lê-Quang-Tung chỉ thị Thiếu tá Trần Khắc Kính hỏi cung hai nhân viên phản gián trên [Carver và Miller] Không bao lâu sau, Colby tìm hiểu mình cũng đơn độc như Kennedy, Johnson bao quanh bởi vô số phản gián kể cả Ông Ðại sứ E Durbrow, Bác sỉ Tuyến, Đặng Đức Khôi và Lucien Conein và dỉ nhiên Colby không còn dám đụng đến Phạm Xuân Ẩn nữa, vì đang bị ông Kẹ George H W Bush trừng mắt.
    Cho đến khi William E Colby sửa lưng đương kim Bộ trưởng Quốc phòng McNamara như sau: “ông không có quyền nói xấu những người Việt đã đem xương máu chống Cộng Sản trong khi đại cường Mỹ đã phủi tay chỉ vì lổi lầm của Mc Namara [Skull and Bones] Mục đích hết sức cao đẹp nhưng Hoa kỳ đã thua với Mc Namara và phần lớn là vì hắn!” Sau câu nầy, George H W Bush phải kêu Colby về Washington làm chức vị lớn hơn là Ðặc tránh CIA vùng Viển đông, rồi Giám đốc CIA nhưng không ngoài mục-đích cách ly Colby khỏi cuộc chiến VN như trong hình NSC, Lam Sơn 719 không có Colby mà chỉ có Richard Helms điều hành tại Washington còn tại Saigòn là Theodore Shackley tay chân của George H.W.Bush. Hai người thân tính nầy trực tiếp làm theo lệnh của Tham mưu trưởng Donald Rumsfeld trong khi George H W Bush [Ðại-đế giấu mặt của triều đại Skull and Bones-2] núp kín sau hậu trường chính trị vì hiễu được hậu quả cuộc chiến VN sẽ thảm khốc! Sau vụ tai-tiếng Watergate, Bush tìm mọi cách gây ảnh hưởng cản trở Quốc hội điều tra việc làm của Richard Helms về sự tai tiếng tìềm ẩn nầy.
    (Còn tiếp)

    Comment

    • vinhtruong
      Super Member
      • Jun 2010
      • 1924

      #17
      Đường xa-lộ Harriman huyền bí

      Tại sao không là Đường Mòn HCM mà là Đường 559! Theo như thủ lãnh Lê Đức Thọ đặt tên cho đúng là vào tháng năm ngày khai triển con đường (tháng 5 một ngàn chin trăm 59) để phù-hợp cho việc lưu trử hồ-sơ văn-khố cũa trục ma/quỷ? Trùm Mafia Thọ dù núp dưới bức tường thép HCM nhưng lại không ưa gì cụ HCM, lý do Thọ được lệnh cũa trục Ma-Quỷ phãi soán ngôi và cách ly cụ đễ gây chiến cưởng chiếm miền nam? Phần nầy hãy để cho các sử-gia hậu cận-đại sẽ lý giãi một cách rõ ràng hơn với nhiều tài liệu thiết thực mà Mỹ và thế giới sẽ tiết lộ tiếp nối theo sau cuốn DVD về sự thật Hồ Chí Minh vào một ngày không xa …
      Từ lâu Đường Trường Sơn là cái Nôi của Cách-Mạng Việt-Nam, các Cụ ngày xưa có câu “Trường Sơn nhất đáy vạn đại dung thân” Học thuyết-gia về Chiến-tranh, người Đức Carl-Von-Clausewitz, cho rằng dãy Trường-Sơn là Trung-tâm thành lủy kiên cố, nơi ẩn nấu an-toàn nhất cho những ai muốn rèn binh luyện cán, ẩn nhẫn chờ thời. Nhóm học giả tham mưu của Harriman dựa vào những định luật của chiến lược gia Clausewitz không phải để hủy diệt mà trái lại để bảo-vệ qua triển khai cho việc hoàn thành “định-kiến-1” của họ là bảo vệ bằng mọi giá con đường Trường Sơn cho Hà Nội làm phương tiện cữa ngõ chiếm lĩnh Miền Nam theo như thế siêu chiến lược toàn cầu “Eurasian Great Game” (Màn-2 giai đoạn-2 =1950-1973, chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam)
      Trên vệ tinh nhìn xuống, Trường-Sơn với núi rừng lổm-chổm, sừng-sỏ như con Rồng đang lượn mình uống nước trên dòng Sông Cửu-Long, nhìn ra biển Đông như muốn bảo-vệ vùng đất đang chế ngự, móng vuốt bên trái chìa ra tới Phan-Thiết như muốn cảnh-cáo kẻ lạ từ Biễn Đông đừng hòng áp-đặt sự thống-trị, cái đuôi ngắc-ngoải quật mạnh qua tận Trung-Quốc như cảnh tỉnh, đừng dựa vào thế con Trời mà làm ẩu thì nước Tàu sẽ bị chia năm sẽ bẩy - Chả lẻ cái nhóm tham mưu của Harriman cũng biết thiên văn địa lý như lịch sử đã chứng minh nhiều luồng sóng bạo-loạn mạnh nhứt từ phương Bắc đều bị chận lại từ đây? Ðồng thời, Clausewitz chỉ-giải thế phá trận-đồ, muốn cho đối phương trong Hang-động đầy bí ẩn nầy, không còn khả-năng chiến đấu đi đến tan-rã, phương-pháp tốt nhất, là phải nghiên-cứu tỉ-mỉ, xác định rõ-rệt vị-trí mục-tiêu, đánh thẳng vào trung-tâm sào huyệt bằng một cường lực như vũ-bảo, rồi chốt chận một thời gian nhất định vào mùa khô cần thiết cho sự càn-quét theo kiểu cày răng lược. Tướng Maxwell-Taylor và Rostow đã có đề nghị phương-án tương-tự như thế, trình lên Tổng-thống Kennedy nhưng bị Cố-vấn George Bundy (ám số Skull and Bones 40) bác bỏ hoàn-toàn vì bằng mọi giá phải bảo vệ con đường chiến lược nầy để cho Hà Nội chiếm lĩnh Miền Nam theo định-kiến-1 [axiom-1]
      Sau nầy Tướng Westmoreland lại tái quyết tâm chiếm lĩnh hang-động Trường sơn nầy một lần nửa, và toan thiêu hủy hệ thống ống dẩn dầu huyết mạch do Liên Xô thiết lập chạy song song, nên bị Siêu Chính Phủ (permanent government) triệu hồi về nước gấp giao chức vụ coi cho được, Tham mưu trưởng Liên quân không quyền hạn rồi về hưu sau đó.
      Khái lược về Trường-Sơn Đông: Ngày xưa, sau khi chiếm Đông-Dương, Pháp đã cho thiết lập một Quốc-lộ đi nép chân núi phía Đông dãy Trường-Sơn trên lãnh thổ Việt-Nam, gọi là quốc lộ 14. Quốc lộ nầy có tổng số chiều dài là 1,380 cây số và đi qua lãnh thổ 10 Tỉnh: từ Nghệ-An qua Hà-Tĩnh, Quãng-Bình, Quãng-Trị, Thừa-Thiên, Quãng-Nam, Kontum, Pleiku, Ban Mê-Thuột và Bình-Phước. Khi lập con đường nầy, người Pháp nhắm các mục tiêu sau đây: (1) bảo vệ an ninh lãnh thổ (2) hành quân thanh toán các tổ chức buôn lậu, (3) khai thác lâm sản, (4) khai triễn và xử dụng các sắc tộc thiểu số, nhất là sắc-tộc thiểu số gốc Rhađê. Trong chiến tranh Việt Pháp từ năm 1945 đến năm 1954, con đường nầy bị bỏ hoang vì Pháp không đủ khả năng bảo vệ.
      Sau Hiệp định Genève 1954, khi vừa ổn định xong Miền-Nam, Tổng-Thống Ngô-Đình-Diệm đã nghĩ ngay đến việc tu bổ lại quốc lộ 14 để bảo vệ lãnh thổ, Công việc nầy được khởi sự từ năm 1958 và giao cho Liên-đoàn 4 Công-binh phụ trách. Liên-đoàn nầy do Trung-tá Trần Văn Kha chỉ huy. Có lần TT Diệm đã đích thân đến xem xét tại chỗ; Nhưng khi làm đoạn đường Kontum, Gia-Vực, công việc cứ cù-nhầy vì thời tiết cũng như địa thế quá khắt nghiệt, nên Trung-tá Kha bị cách chức; Chuyện xây dựng Ðường 14 chưa hoàn tất thì TT Diệm bị Harriman ra lệnh giết vì TT Diệm là một chướng ngại cho công việc hoàn thành định-kiến-1 (Vì thất bại trong sự thuyết phục Harriman trong vấn đề trung lập Lào 1962, và phát hiện Lê Đức Thọ khởi động khai phá Đường 559 nên Cụ Nhu phãi chỉ định Ðại tá Ðổ-Cao-Trí, Tư lệnh Ðệ-3 Quân-khu, Pleiku, hành quân càn quét ngay yết hầu đường mòn Hồ-Chí Minh từ Benhet, Darto qua Attopeu cắt đứt con Ðường vận chuyển của quân CSBV bằng Sư-đoàn 22BB cùng một Chiến đoàn Dù, thiếu-tá Dư Quốc Đống và một Thiết đoàn chiến xa T-41, đại-úy Lý Tòng Bá, chốt chận nơi đó một thời gian hạn định trong mùa khô.
      Chúng ta cũng nên hiểu rằng Bác-sỉ giải phẩu dù có giỏi cách mấy mà không có dụng cụ giải phẩu thì cũng bó tay, Harriman người nắm giữ chính sách Hoa-kỳ bằng mọi giá ngăn chận việc chính phủ Diệm toan xoá bỏ “định-kiến-1” của Harriman: xóa bỏ Miền Nam để thống nhứt, tạo thành một nước VNCH lớn hơn theo thời gian ấn định mà WIB khai thác lợi nhuận qua chiến tranh (decent interval) trong thiết kế chiến lược Châu-Á sau nầy)

      Sau Hiệp định Paris 27/1/1973, quân đội và chuyên viên Bắc-Việt cùng các kỷ-sư Cuba làm lại con đường Đông Trường-Sơn: khởi đầu từ Khe-Cát thuộc Huyện Bố-Trạch, Quãng-Bình, vượt Sông Bến Hải phía trên nguồn đi qua chiến khu Ba-lòng ở khu vực Quãng-Trị và Thừa-Thiên, qua Aluối, Ashau, rồi đi nép theo biên giới Việt-Lào phía sau đèo Hải-Vân , Bạch-Mã vào Quãng-Nam, khi đến Khâm-Đức thì vòng lên Ngọc-Hồi thuộc phần đất Kontum, vùng đất nầy vô cùng hiểm trở núi non trùng điệp và cao nhất trong miền Nam VN. Đến đây, vì khúc đường 14 từ Kontum đến Ban Mê-Thuột đang do Quân-lực VNCH trấn giữ nên BV phải làm con đường song song thứ 2, lấy tên là 14A đi sát biên giới Việt-Lào qua phần đất của Tỉnh Kontum Pleiku và Ban Mê-Thuột, tại đây 2 đường Trường-Sơn Đông, Tây chụm lại với nhau, rồi đỗ xuống Bà-Rá, Phước-Thành, Bình-Long, Lộc-Ninh (trong ống kính của trục ma/quỹ nó là Xa lô Liên Bang Đông Dương)
      Kể từ cuối năm 1973, các không ảnh chụp được cho thấy, nhiều khúc đường 14 từ Thừa-Thiên đến Ban Mê-Thuột đang được Cộng-quân ngang nhiên sửa chửa để chuyển quân, cạnh con đường nầy, có một hệ thống ống dẫn dầu chằng chịt nằm song song theo đó như từ xương Sống tiếp nối qua xương Sườn ra phía Ðông vào các vùng đông dân mà Không Quân Miền Nam, Hoa-kỳ không được quyền oanh tạc vì dựa vào điều khoản Hiệp định hòa bình Paris 1973, để chuẩn bị giai đoạn chuyển tiếp bàn giao Miền Nam cho Hà Nội. Ngoài ra phe thân Liên-Xô là Lê Duẫn đã yêu cầu Liên-Xô phụ giúp, nên Hoa-kỳ (sau Hiệp định Paris) a tòng với Liên-Xô, bí mật sắp xếp cho Cuba qua giúp CSBV, kết quả, tháng 9/1973, trong chuyến viếng thăm của Chủ Tịch Fidel-Castro tại Hà-Nội, chính quyền CSBV đã yêu cầu nước anh em XHCN Cuba trợ giúp kỹ thuật trong việc mở rộng mạng lưới Đường Mòn nầy. Theo thoả hiệp đạt được, một nhóm 43 người Việt sẽ đến Cuba vào tháng 11/1973 và sau khi được huấn luyện về các kỷ thuật xây dựng của công binh Cuba, họ đã trở về Bắc-Việt cùng với các huấn luyện viên người Cuba bắt tay vào việc. Đại-Tá Cuba, Roberto Leon sẽ làm Trưởng-Đoàn xây dựng Công-binh Cuba, gồm 23 kỷ sư cầu đường và khoảng 50 người chuyên viên Việt-Nam khẩn cấp bắt tay vào việc. Thế là bắt đầu năm 1973, Đoàn Công binh Cuba ra sức giúp mở đường giao liên cho CSBV; Đường 559 (Xa-lộ Harriman) mạng lưới gồm đường xá và hầm trú-ẩn trải dài hàng ngàn cây số, phần lớn xuyên qua rừng rậm, để giúp bộ-đội BV tiến vào xâm chiếm Miền-Nam.
      Đó cũng là lý do tướng Ngô Q Trưởng đã có chỉ thị rỏ ràng: “Các anh em phi công khi thấy xe tăng, Molotova, bộ đội BV di chuyển trên đường Hồ Chí Minh, dù trong tằm oanh kích của ta thì cũng đừng hành động gì; cứ để cho chúng tiếp tục vào Nam!” Có nguồn tin cho rằng Tướng Trưởng muốn cho họ đi qua để nhẹ áp lực Vùng-1, nhưng có người cho rằng vì áp lực của Mỹ có dính dấp đến các điều khoản đã ký trong bản hiệp định Paris. Có một lần phi tuần viên A.37 đã không tuân theo phi tuần trưởng oanh kích theo dấu đánh trái khói hướng dẩn của L-19 quan sát mà lại oanh kích vào đoàn xe nhỏ nên làm cho phái đoàn CS đàn anh bị tử thương. Viên phi công nầy bị tù trọng cấm vì không thả đúng mục tiêu như phi tuần trưởng dẩn đạo cho cuộc oanh kích; Anh giản-giải nguyên nhân thả khơi khơi trong núi phí bom đạn, khi có mục tiêu rỏ ràng sao không thả. Hậu quả anh bị tù trọng cấm nhưng không nặng lắm.
      Còn Nhị-trùng, Ðại-tá CSBV Bùi-Tín thì được móm của trục Ma Quỷ nên cho rằng: “Mỹ [làm bộ] không hiểu thái độ “Trung Lập” của Cambodia, và đặc biệt của Lào, ông hoàng Sihanouk và Phouma đều nghiêng về phía Hà Nội; Hiệp định Genève năm 1962 về nền trung lập của Lào không hề ngăn Bắc Việt Nam để nhiều quân ở Nam Lào và dùng Lào để thâm nhập qua Xa lộ Harriman được đơn-vị Ðoàn 959 của Pathet Lào bảo vệ. Mỹ (Harriman) làm rất ít để không tác động đến Vientiane và PnomPenh trong khi Hà Nội tranh thủ rất cao và tận dụng rất khôn khéo nền Trung lập nghiêng-ngả ấy với sự nháy mắt ngầm đồng ý của Harriman; Nếu phía Washington sớm nhìn thật rỏ được những điều kể trên để có chủ trương thích hợp thì tình hình đã có thể đổi khác và sự kết thúc chiến tranh cũng không phải như chúng ta đã thấy! Ðại tá Bùi Tín chỉ nói như con Vẹt do một kẻ bí mật ở sau lưng hối thúc. Làm gì Bùi Tín hiểu được sự tấn công qua Cambodia và Lào là “Một sự di tản chiến lược an toàn” qua tu chánh-án Cooper-Church 1970 (manage the defeat) và sẽ trở lại ở giai đoạn-3 màn kết (Overhauling the damage control to Roll-Back 2010-2020) Cuối cùng thì Trung Quốc đã chia ra nhiều tiểu quốc bằng “tối huệ quốc” của Hoa Kỳ (the U.S. Freedom Support Act) cũng tái diễn lại y chang trường hợp một nước độc tài như Liên-bang-Liên Xô bị chia cắt bởi tám nước Cộng Hoà. Dĩ nhiên là những nước Cộng Hoà tách rời nầy mực sống của người dân cao hơn dân cư sống tại thủ đô Bắc Kinh và Moscova dựa vào cái dù che “The US Freedom Support Act”
      Vì trong guồng máy chiến tranh, Mỹ đã chuẩn bị và đang phải kiểm soát lại trong kinh tế và cả trên chính-lược Mỹ để phải đè bẹp Trung quốc bằng mọi giá; Năm 1962 Tình Báo MACV báo cáo Pentagon là quân Bắc Việt đang xây dựng đường Mòn Hồ bắt đầu từ phía Tây vùng phi quân sự; Được lệnh từ viên chức đứng hàng thứ Ba của Bộ ngoại giao là Harriman (người sáng lập ra đảng-hội Skull and Bones 1920) ngầm ra mật-lệnh cho Forrestal, thành viên Hội đồng An Ninh quốc gia Hoa-Kỳ (NSC) và Leonard Unger, Đại sứ Hoa Kỳ tại Lào thông báo cho MACV không được đụng đến phần đất của Lào-quốc. Năm 1964, Tướng Tham Mưu Trưởng Liên Quân cảnh cáo Bộ trưởng quốc phòng Mc Namara: Dù được lệnh như MACV không được quyền can dự ở Lào, nhưng ít ra phải để cho QLVNCH có quyền chống đở biên giới của họ chớ? Mc Namara không còn cách nào bèn cầu cứu với George Bundy, cố vấn TT Johnson để thả dây cương cho quân lực VNCH được quyền đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi biên giới. Dỉ nhiên TT Johnson rất bằng lòng chấp nhận ngay; Công điện đang chuyển qua MACV Saigon, thì liền sau đó có lệnh ngầm, Forrestal cảnh cáo ngay với Bundy:
      “Dù rằng TT Johnson đã ký lệnh, nhưng không có dấu “khán” của Harriman thì là một điều rắc rối: “Anh cũng thừa hiểu chữ ký của Johnson không thôi thì không có giá trị” Bao nhiêu đó thôi thì đọc giả cũng hiểu ngay là ai nắm chính sách của Hoa Kỳ (to send the telegram without Averell Harriman’s approval is just asking for trouble! Even if, the telegram had already received Johnson approval, but that was not enough)

      Thế nên, Tôi tự cho rằng đây là Xa lộ Harriman! Đến khi vì quá sốt ruột đem lại sự chiến thắng tự vệ cho nhân dân miền nam, Tướng Westmoreland đòi hỏi ngay vị Tổng tư Lệnh quân đội Mỹ là TT Johnson xin TT cho lệnh quân đội Mỹ đánh sang Lào thì ông bị triệu hồi về Mỹ ngay. Sau nầy SOG xin phép được hành quân qua Lào và Cambodia để cấp cứu đồng đội lâm nạn nhưng vẫn bị từ chối; Vì thế Tôi tự cho rằng Đường 559 đả trở nên Xa Lộ Harriman từ dạo đó, Nó đã có ống dẩn dầu huyết mạch chạy song song với nó. Năm 1967-68 khi tôi đang học khóa Chỉ huy Tham Mưu tại Air University Maxwell Montgomery, Alabama Hoa-kỳ - Lúc nầy chiến tranh VN đang thời khốc liệt vào Tết Mậu-Thân, Cứ mỗi lần ‘coffee-break’ Tôi bị bao quanh bởi các bạn Mỹ, và sĩ quan Đồng minh cùng khóa, kể cả các giản viên. Họ luân phiên hỏi Tôi về chiến tranh VN, Tôi còn nhớ rỏ, Tôi chỉ đáp lại là: “phòng thủ Nam Việt Nam trở thành vô nghĩa khi lại nhường cho địch vùng biên giới với các quốc gia Lào và Cambodia. Tôi không phản đối gì việc ngăn ngừa Cộng Sản bành trướng, nhưng chẳng thấy chiến lược nào đang áp dụng lại có triển vọng thành công; tuy nhiên, lòng yêu nước của tôi mạnh hơn nỗi bất mản về chiến lược lảnh đạo kém!”

      Một viên chức cao-cấp về địa dư của quân đội Hoa Kỳ, ông John-Collins, ghi nhận rằng: Ðường Trường Sơn nầy cũng chẳng có gì lạ, ngoài một chuổi dài rừng núi bao la hiểm trở, có những đoạn đường Mòn dài cả chục cây số, lá rừng dầy đặt che khuất ba tầng đến nổi không thấy được ánh mặt trời. Dưới đó, nhứt là thời kỳ chống thực dân Pháp, biết bao nhiêu thanh niên thiếu nữ yêu nước hy sinh cả đời mình cho cuộc kháng chiến chống Pháp; hằng ngày họ phải cồng lưng khuân vác những trang cụ cho cuộc trường kỳ kháng chiến; người Pháp với phương tiện không thám nghèo nàn và lỗi thời thì làm cách nào mà phát hiện nỗi. Ngoài ra kháng chiến quân ăn uống kham khổ, không cần tiếp tế như một đạo quân dả chiến, nên khó bị phát hiện. Trang bị vũ khí cướp được của Pháp hay những vũ khí mà họ tự tạo thô sơ qua các Công binh xưởng, ráp nối như đồ chơi trẻ con mà John.Collins cho là Rube-Goldberg Toys. Giữa năm 1950, lực lượng Việt Minh bắt đầu khai mở Ðường Trường Sơn, tuy nhiên chỉ hoạt động cầm chừng, lẻ tẻ từng Toán nhỏ giao liên, nhưng chỉ xuyên qua những đoạn đường thuộc phần đất thực dân Pháp tạm chiếm của các thành phố lớn như: Nha Trang, Qui Nhơn, Ðà-Nẳng, Huế, Quảng Trị… còn lại họ di-chuyển xuyên qua các vùng đồng bằng, cận đông của Dãy Trường Sơn do lực lượng Việt-Minh kiểm soát. Hiệp định Genève ngày 20 tháng bảy, 1954, Cộng Sản bị đẩy ra Bắc, ngoài vĩ-tuyến 17,
      Quân đội Cộng sản buộc phải lên tàu của các nước Xã Hội Chủ Nghĩa, như Ba-lan, Hungary…từ các hải cảng như Quy Nhơn…Nhưng Cộng sản vẫn gài lại một số cán bộ nằm vùng. Ở những Làng Huyện cận sơn như Minh Long, Ba tơ, Gia Vực thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Cán bộ Cộng sản lấy vợ Thượng, chịu hội nhập phong tục “Cà răng căng tai” đóng chốt tại chỗ. Cộng sản chôn dấu một số vũ khí để mai phục về sau khi phát động tái vỏ trang xâm lược miền Nam; Một số cán bộ nồng cốt được đưa ra Bắc nhưng quyết không từ bỏ ý đồ trở lại thôn tính miền Nam bằng vũ lực vì mắc mớ gia đình còn kẹt lại tại Miền Nam. (Từ 1943 khi Harriman đang làm Ðại sứ Mỹ tại Liên Xô đã có ý đồ dời chiến tranh qua Triều-Tiên rồi Việt Nam (theo mô hình chia đôi thành hai nước như sẽ kết thúc chiến tranh và chia Đức ra làm hai theo chương trình “Aid to Russia 1941-1946 Plan) Sau khi móc nối được Cụ Hố Chí Minh vào Service of War Information 1943 (tôi tạm dich “Sở tin Chiến tranh ở Côn-Minh, chắc chắn thế hệ thứ tư thứ năm sẽ nói rõ những sự kiện nầy ra vì các sữ-gia luôn luôn sẽ làm sáng tỏ và công minh cho lịch sử VN sau nầy với vô số tài liệu bất thần lộ ra như cuốn DVD sự thật HCM)
      Vì thế Ðường Trường Sơn được đổi tên lại là Ðường Mòn HCM do Nhóm tham mưu học giả của Harriman tung tin ra từ các nước Tây phương với mục tiêu chính trị, Họ muốn vinh danh HCM để bù đáp lại sự phản bội vì quyền lợi buộc Họ phải lừa gạt để kéo dài chiến tranh cũng như Họ tìm cách đưa tên HCM vào danh nhân thế giới tại UNESCO, Liên Hiệp Quốc sau nầy, nhưng thất bại vì sự đả phá của nhân dân Miền Nam chưa thấu hiễu.

      Từ tháng Tư 1959, Bộ chính trị Cộng sản Hà Nội triệu tập một cuộc họp bí mật thứ 15 do áp lực ngầm của trục Ma Quỷ, để rồi Lê Ðức Thọ cương quyết đưa hàng ngàn cán bộ CS miền Nam trở về nằm vùng mai phục chờ chỉ thị mới của Bộ chính trị Trung ương Ðảng (trong khi cụ Hồ đã ra lệnh rút 100.000 vế Bắc) Ðể thực hiện ý đồ nầy: Theo lệnh trục Ma/Quỷ, Lê Đức Thọ chỉ thị thành lập một đơn vị Mới để chuyên trách đưa người và tiếp liệu vào Nam. Ðó là “Ðoàn chuyển vận 559” do Tướng một sao Vỏ Bam chỉ huy. Quân đội Bắc Việt đặt tên là Đường 559 – Trong hồi ký của Ðại tá Bùi Tín “From Enemy to Friend” Paris, tháng 10-2003, chỉ gọi là Ðường 559. Phía Hà-Nội không bao giờ gọi là Ðường Mòn Hồ. Sự thật HCM đả bị bọn hai anh em Lê Ðức Thọ và Mai Chí Thọ cùng Lê Duẩn trở về Hà Nội nắm quyền, cách ly HCM, ngày ngày lo vui thú điền-viên qua vun tưới cây “Vú-Sửa” Miền Nam và chỉ làm cảnh khi phải đón tiếp phái đoàn ngoại giao mà thôi


      (Còn tiếp)

      Comment

      • vinhtruong
        Super Member
        • Jun 2010
        • 1924

        #18
        Lý giãi một chiếc hình giãi mật

        (Hình chụp cụ Hồ, tướng Giáp bao quanh bởi tình báo quân đội OSS tại mật khu Pát-Pó, của Allan Squirers, trang 32…Điệp viên 19 Lucien Conein nhảy dù xuống mật khu Pát-Pó để giúp HCM và huấn luyện cho Trung đội Vỏ trang tuyên truyền của Vỏ Nguyên Giáp 1945. Dù ở trong rừng-rú nhưng Giáp vẩn mặc đồ trắng thắt cà vạt chỉnh-tề vì đây là ngày rất trọng đại Giáp gia nhập OSS)
        Thực dân Pháp chính thức đặt ách thống trị lên đất nước Việt Nam vào năm 1884, cuộc đô-hộ kéo dài 80 năm, nhưng suốt chuổi dài năm tháng ấy, không một lúc nào làn sống khởi nghĩa chống Pháp ngưng nghĩ, từ Trương Công Ðịnh, Thủ khoa Huân đến Vua Hàm Nghi cùng các nghĩa sỉ của phong trào Cần Vương và Vân Thân như Nguyển Thiện Thuật, Ðinh Công Tráng, Hoàng Hoa Thám, Phan Ðình Phùng; từ phong trào Ðông Kinh Nghĩa Thục do Cụ Phan Châu Trinh khởi xướng, đến Việt Nam quang phục Hội và phong trào Ðông Du do Cụ Phan Bội Châu lảnh đạo, từ cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên đến cuộc khởi nghĩa của Nguyển Thái Học và Việt Nam Quốc Dân Ðảng… Lấy nước biển thay mực, lấy lá rừng thay giấy cũng không thể nào ghi chép hết những nhà ái quốc đã dân thân vào công cuộc chống Pháp, giành độc lập cho nước nhà; Những thế hệ anh hùng liệt nử đã thể hiện trọn vẹn lòng yêu nước và tinh thần bất khuất. Không thành công thì thành nhân; nhưng bên cạnh những trang sử hào hùng ấy, lịch sử Việt Nam cũng không tránh khỏi một tai-họa khủng khiếp do định mệnh xui khiến; Khi trục Ma Quỷ (Skull and Bones và Loài Quỷ Ðỏ) tạo ra một cuộc chiến tranh lạnh qua ý thức hệ thù nghịch giữa Cộng sản và Thế giới Tự do. Vì quyền lợi của Tập đoàn Tư bản WIB, nên Harriman xô đẩy Cụ Hố Chí Minh ra khỏi vòng tay của Hoa-kỳ chỉ vì cụ là người bạn của Mỹ chớ không phải là người của Mỹ vì cụ không chịu nghe lời Mỹ là phãi khuấy động lại cuộc chiến lần thứ hai qua “Commando Vaught Plan”
        Dù thực tâm Cụ chỉ lợi dụng Cộng sản Pháp như là một phương tiện duy nhứt để giành lại độc lập trên tay thực dân Pháp. Nghịch lý thay Harriman trong chiến lược “Bênh kẽ mạnh” nên hất đẩy HCM, không còn con đường nào khác phải theo chủ nghĩa Mác-Xít Cộng sản Ðệ Tam Quốc tế, đang nổi lên mảnh liệt vào thời điểm ấy trên thế giới. Ðồng thời ranh mảnh khai thác lòng yêu nước và khác vọng chống ngoại xâm của dân tộc Việt để thống nhứt đất nước với cái giá quá đắt bằng cuộc chiến 10.000 ngày (1945-1975) để cho bọn kỹ nghệ quốc phòng khai thác lợi nhuận
        Khốn nạn thay! Việt Nam đang trở thành nạn nhân của thảm-họa trò chơi chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô được gọi là đấu pháp: CIP chống lại NLF (Trò chơi “Chống Nổi Dậy” (Counter Insurgency Plan) và “Cách Mạng Giải Phóng” (National Liberation Front)
        Năm 1925, Nguyển Ái Quốc cùng Lâm Ðức Thụ, Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Phong thành lập “Việt Nam thanh niên cách mạng Ðồng Chí Hội” dưới quyền lảnh đạo tối cao của Cố-vấn Liên Xô Borodine. Ðây là tiền thân của “Việt Nam độc lập Ðồng minh Hội” tức Mật Trận Việt Minh và sau đó là Ðảng Cộng Sản VN; trong giai đoạn nầy đội lốt Quốc Gia với chiêu bài đấu tranh chống thực dân Pháp để xây dựng cơ sở và hoàn thành nhiệm vụ do Ðệ Tam Quốc Tế giao phó. Ðây là giai đoạn Tình báo OSS muốn giúp HCM hiệp lực cùng với Pháp để tiêu diệt những phong trào tạp nhạp nổi dậy (mục đích OSS muốn giúp HCM cũng cố địa vị như giúp Cụ Diệm quét sạch bọn Bình Xuyên Hòa Hảo do CIA, Lansdale móc nối với Tướng Trịnh Minh Thế phò trợ) Khởi phát từ “Cơ quan Tình báo chiến tranh” (U.S. Service of War Information) HCM đã được mốc nối từ 1943, nhưng làm sao HCM hiểu được bộ mặt của Bọn Tư bản thống trị; Nước Mỹ chẳng bao giờ có người bạn lâu dài và cũng chẳng bao giờ có kẻ thù truyền kiếp. Trong tự điển chính trị của họ không bao giờ có chử “thủy chung” Ðối với chúng quyền lợi liên kết thành đồng minh, “quyền lợi trên hết” bất cần liêm sỉ; Còn Việt Nam thì bọn chúng cho hiểu rằng: “Muốn độc lập tự do phải trả giá” y chang như lịch sử nước Mỹ vậy, “Freedom is not for free!” phải có nội chiến, mặc dù cả thế giới đều được trả lại độc lập. Thực-dân Pháp cũng muốn như Anh, Hoà-Lan, Bồ Ðào Nha là trả lại nền tự trị cho Việt Nam; Nhưng cái bọn lái súng WIB nầy xúi dục lòng tham của thực dân Pháp qua quyền lợi buôn và thí nghiệm súng đạn đời mới. Tất cả hầu như 80% trang cụ viện-trợ đều do Mỹ làm ra. Vì thế Ðại tá OSS, Alfred Kitts mới hướng dẩn quân đội Pháp vào Hải phòng tái chiếm Việt Nam vào ngày 6 tháng 3, 1946. Nơi đây bọn lái súng quyết tâm cù-rũ Liên Xô cùng tiêu thụ cho hết loại vũ khí thặng dư sau Thế chiến Hai mà đôla và nguyên liệu do Mỹ cung cấp cho giai cấp công nhân Liên Xô sản xuất.
        Ðể tạo ra chiến tranh, OSS đả dùng điệp viên số 19 Lucien Conein nhảy dù xuống mật khu Pát-Pó để giúp HCM và huấn luyện cho Trung đội Vỏ trang tuyên truyền của Vỏ Nguyên Giáp. CIA lại giúp di tản Trưởng Giới Thạch và viên chức qua Taiwan 1949 để giao lại lục địa cho Mao Trạch Ðông – Ðây là điểm bắt đầu gây sóng gió thay vì ở Âu châu dời qua Á châu do đạo-diển Harriman vào giai đoạn Hai của “Eurasian Great Game.” Ðược sự giúp đở ngầm của CIA cho nên những cán bộ Cộng sản ấy đã không từ bỏ bất cứ hành động cũng như thủ đoạn gian trá nào, kể cả việc bán đứng Cụ Phan Bội Châu cho thực dân Pháp để lấy 10 vạn đồng, hoặc có lúc tuyên bố tự giải tán Ðảng Cộng sản và thành lập chánh phủ Liên Hiệp. Dù rằng biến cố của sự kiện thay đổi nầy, nhưng chưa phải lúc nên SCP Mỹ không đáp ứng vì quyền lợi to lớn của bọn Tư bản về kỷ nghệ quốc phòng chưa kịp phát triển. Thế nên thành phần Cộng Sản cực đoan phải trở mặt lặt-lọng ngay sau đó, và tàn sát không nương tay các Ðảng phái Quốc gia. CIA lại thích phò trợ chỉ độc nhứt cơ cấu có kỹ luật của HCM và gần 10 năm sau phò trợ chỉ một cơ cấu Ngô Đình Diệm - Để cuối cùng hy sinh cả hai cụ vì là hai chướng ngại vật trên lộ trình ngăn cãn sự gây lại chiến tranh của Mỹ
        Còn phía đối lập thiếu tổ chức của hai cụ, kém trật tự đoàn kết và ai cũng muốn làm lảnh tụ, không ai chịu phục ai; nhưng lại không có đường lối chính trị rỏ ràng. Ðó cũng là lý do chính mà CIA chấp nhận chọn một tổ chức có kỷ luật làm một công cụ hiệu quả hơn như tổ chức của HCM và sau nầy là chỉ có Cụ Diệm mới có tài đức khi có biến loạn thập nhị sứ quân. Hồi ký của Ðức giáo hoàng Gioan Phaolô 2: “Cộng sãn là Ma Quỷ cần thiết” (Communism: A necessary Evil) May mắn thay cho nhân loại ngày nay, sử sách vẫn còn là nguồn phúc lợi tinh thần của thời đại. Nhân loại luôn luôn hoài nghi và thất vọng đủ thứ nhưng con người vẫn còn niềm tin vửng chắc vào sử sách. Toà thánh Vatican dự liệu sẽ ấn hành bộ Hồi ký của ÐGH Gioan.Phaolô-2, nhan đề “Memory and Identity” Ngài gọi đích danh Cộng Sản là Ma-Quỷ, nhưng là thứ Ma Quỷ cần thiết mà Thượng đế đã tạo nó để thức tỉnh nhân loại trong thế kỷ 20. Căn nguyên Ma-Quỷ Cộng sản nên nhân loại mới thấy rỏ đâu là chính đâu là tà. ÐGH viết về kinh nghiệm của Ngài đối với Ðức Quốc xả của Hitler và chủ nghĩa Cộng sản Lenin-Stalin trên quê hương Balan mà Ngài đã trải qua, kinh nghiệm bản thân và thiết thân; Thật vậy, nhân dân miền Nam Việt Nam sẽ không thể nào tin rằng Cộng sản tàn bạo và dã man đến như thế, sẽ không thế nào nghĩ rằng chúng không có tình đồng loại cũng như nhân loại trong tình ruột thịt huyết thống! Không có từ nào đủ nghĩa để kể cho hậu thế biết! Nhưng nhờ cái gọi là Ðại Thắng Mùa Xuân, đứng trên gốc cạnh ‘đỉnh cao trí tuệ của Harriman’ huyền biến phải gọi là “Ma Quỷ đại thắng”
        Sau ngày 30/4/1975, dân miền Nam mới ngả ngữa ra, ÐGH gọi Cộng sản là Ma Quỷ cần thiết là hàm ý như trên; Nhờ Cộng sản cướp và thống trị Ðông âu một cách bạo ngược rồi CS Ðông âu sụp đổ, nhân dân và trí thức Tây âu mới ngả ngữa ra: “Cộng sản là thế!” và Hậu Việt Nam sẽ lập lại như vậy. Theo sau Cộng sản Ý mạnh nhứt ở Âu châu rồi đến Ðảng Cộng Sản Pháp từ từ tan rã tan nát từng mảnh. Qua kinh nghiệm thực tiển của Ngài, ÐGH đi đến kết luận: Cộng sản còn tệ hơn Ðức Quốc Xả vì nó sống lâu hơn. Căn cứ vào câu nầy, Kennedy khi nhậm chức Tổng Thống đã nghĩ ngay đến tập đoàn Skull and Bones đả vi phạm pháp lệnh mua bán đổi chác với kẻ thù (Enemy Act of December 1941)
        Năm 1943, chính phủ Hoa-Kỳ tịch thu một số tài sản và đóng cửa Union Banking Corporation vì làm ăn với kẻ thù Đức quốc Xả. Kennedy chọn bào đệ mình, Robert Kennedy làm Bộ trưởng Tư Pháp là chuẩn bị lập lại cái hiến-quyền nầy để loại bỏ tập đoàn Tư Bản WIB làm ăn với kẻ thù CS Liên Xô; nhưng mộng không thành vì đã bị tập đoàn nầy thanh toán trước, ông phó Johnson lên quyết liệt theo con đường của người tiền nhiệm. Nhưng 1968, khi người em kế là Robert Kennedy bị ám sát, Johnson từ bỏ nhiệm kỳ Hai, vì không muốn trong lịch sử Tổng Thống Hoa Kỳ mình là kẻ bại trận và tính mạng ông cũng quá bắp bênh có thể bị ám hại như hai anh em Kennedy. Ðệ nhứt phu nhân quá kinh hải nên phụ họa thêm câu, “dù cho có ai đề-nghị”
        Cũng như Nhóm Học giả tham mưu của Harriman đã tiên-doán; Rồi đây, tàn dư CS còn kéo dài bao lâu! Thật khó mà ước tính, nhưng có điều chắc chắn sớm muộn gì chúng cũng bị hũy diệt hay cảm hóa vào cộng đồng thế giới theo chiến lược diển tiến hòa bình qua chiến tranh ý thức hệ nhưng phải cần thời gian. Những chuyển biến của thời Ðệ Nhị thế chiến đã đưa tới những khúc quanh bất ngờ của lịch sử Việt Nam; Tháng Sáu 1940, Pháp đầu hàng Ðức Quốc Xả sau đó quan đội Phát Xít Nhựt kéo vào chiếm đóng Ðông Dương. Ðây là một giai đoạn thuận lợi cho sự phát triển của các phong trào giành lại độc lập; nhưng tiếc thay các đoàn thể có khuynh hướng Quốc gia đã không tạo được ưu thế, trong lịch sử đã chứng minh họ không có đoàn kết mà cấu xé lẩn nhau như những tổ chức chính trị hiện nay tại nước ngoài. Các Hội-đoàn lưu vong tại Hải ngoại, “Lịch sử lại tái diển thêm một lần nữa chỉ có chưởi bới, cấu xé, chụp mủ lẩn nhau” trong những buổi hợp của các hội đoàn
        Tình báo quân đội OSS lại mở cuộc hành quân bí mật để giúp HCM, vì họ cho đây là một tổ chức có đoàn kết kỹ luật hơn những tổ chức tạp-nhạp khác; Một phần vì vẫn bị thực dân Pháp khéo léo điều đình với Nhựt để rảnh tay khủng bố; phần khác vì bị Việt Minh tìm đủ cách để xâm nhập, phá hoại, ly gián. Qua tới đầu năm 1945, Ðức Quốc Xả bại trận, Pháp được Ðồng Minh giải phóng; Thấy quân đội Pháp chuẩn bị trở lại Ðông Dương, Nhật vội vàng đảo chánh, và chính phủ Trần Trọng Kim ra đời với sự thỏa thuận giữa quân đội Nhựt và Hoàng đế Bảo đại. Nhưng phía Quốc gia chưa kịp kiện toàn lực lượng thì ngày 6/8/1945, hai trái bom nguyên tử đầu tiên rơi xuống Hiroshima và ba ngày sau đó trái bom thứ hai được thã xuống Nagasaki; Sau khi Nhựt đầu hàng Ðồng Minh, Hà Nội trở thành một thành phố bỏ ngỏ; Việt Minh lập tức lợi dụng cơ hội tung cán bộ cướp chính quyền và ép buộc Bảo đại thoái vị, những sự việc nầy đều nằm trong mưu đồ của OSS.
        Những ngày đầu năm 1946, mặc dù nắm được chính quyền nhưng Việt Minh vẫn phải lúng túng đối phó với nhiều áp lực: trong khi quân đội Pháp theo chân quân đội Anh đổ bộ vào miền Nam và sửa soạn tiến ra Bắc, thì nhiều Ðãng phái Quốc gia lưu vong nơi hải ngoại cũng trở về nước với sự hổ trợ của Quốc quân Trung Hoa. Trước tình thế phức tạp, HCM nghe theo OSS nhượng bộ dành cho phía Quốc gia 80 ghế trong Quốc hội và thành lập chính phủ Liên Hiệp, đồng thời còn tự tuyên bố: “Giải tán Ðảng Cộng Sản Ðông Dương để đi theo Hoa Kỳ và dĩ nhiên là làm yên lòng phái đoàn quan sát Hoa Kỳ, với mục đích nhờ uy tín cũa Hoa Kỳ bảo đãm nền độc lập của Việt Nam như Phi Luật Tân, đưa đất nước vào cái dù che dưới sự bảo trợ chắc ăn với Hoa Kỳ. Lúc nầy HCM hoàn toàn lạc quan, chắc chắn Hoa Kỳ sẽ ra tay giúp đở như những năm thắm thiết tại mật khu Pát-pó. Nhưng ngược lại bị phản bội một cách phủ phàng, nên không còn con đường nào khác, tất cả hành động ấy đều xoay chiều và nhắm vào mục tiêu tối hậu: Các cán bộ CS đã không ngần ngại bỏ tiền mua chuộc các cấp lảnh đạo Quốc quân Trung Hoa và muối mặt điều đình luôn với cả thực dân Pháp, chỉ vì bọn Cộng sản chỉ cần rảnh tay để tiêu diệt các Ðảng phái Quốc gia, (trong ý đồ tiên liệu xúi bẩy của Mỹ) xem các Đảng nầy như thành phần phản loạn, cũng giống như Bình Xuyên, Ba Cụt, Năm lửa hồi thời Thủ Tướng Diệm dẹp loạn.
        Đương nhiên bộ mặt thật của CS đã lộ rỏ ngay sau khi quân đội Trung Hoa rút về nước, thể theo tinh thần Hiệp ước Trùng Khánh. Ngày 28 tháng 2 và nhứt là sau khi HCM đặt bút ký Hiệp ước sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 với Sainteny chấp nhận Việt Nam thuộc khối Liên Hiệp Pháp. Ðó là lúc cuộc thanh toán các Ðảng phái Quốc Gia diển ra một cách khốc liệt nhứt (trong lộ trình của CIA, chỉ có hai đội bóng giao banh, miền Bắc HCM và miền Nam N.Đ.Diệm) Rồi thì Việt Minh đã không từ bỏ bất cứ thủ đoạn nào, từ tấn công bằng súng đạn cho đến bắt cóc thủ tiêu tất cả nhũng ai có chân trong các đoàn thể mang khuynh hướng Quốc gia chống Cộng. Ðây cũng nằm trong ống kính của Mỹ quyết chọn một tổ chức có kỷ luật để làm công cụ gián tiếp của Mỹ trong thế chiến lược toàn cầu. Việt Cộng là một tổ chức cách mạng vừa có khã năng trường kỳ kháng chiến, trao đổi tin tức tình báo khá chính xác, phá hoại trong nội vi hoạt động của kẽ thù [Nhựt] cấp cứu tận tình khi phi công Mỹ bị lâm nạn, cũng như mở các cuộc phá hoại mìn bẫy trong lòng địch.
        Qua đó một số lảnh tụ chính trị và tôn giáo lổi lạc đả bị Việt Cộng giết hại trong giai đoạn tranh tối tranh sáng nầy: như Ðức Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ của Hòa Hảo, Ðảng trưởng Trương Tử Anh của Ðại việt, Quốc Dân đảng, Bí thư Trưởng Lý Ðông Á của Ðại Việt, Duy Tân, cùng hàng ngàn cán bộ ưu tú của Việt Nam Quốc Dân đảng, trong đó có những nhà ái quốc như Lê-Ninh, Phâm Tất Thắng, Nguyển Quỳnh, Trần Khánh-Giư (tức nhà văn nổi tiếng Khái-Hưng) Trong khi đó, Pháp vẫn không chịu từ bỏ tham vọng thực dân, đả viện dẩn nhiều lý lẻ cũng như sự hậu thuẩn phỉnh gạt tinh vi của Mỹ để khuấy động chiến tranh hầu tiêu thụ một số lớn vủ khí thặng dư và lổi thời của Mỹ. Ðược hậu thuẩn của Mỹ nên Pháp không tôn trọng Hiệp định và tìm mọi phương sách lấn át chính quyền Việt-Minh. Tình thế dùn-dằn kéo dài đến ngày 19/12/1946 thì tiếng súng bắt đầu nổ tại Hà Nội và lan tràn mau chóng từ Bắc chí Nam, dưới con mắt theo dỏi rất kỷ của tình báo quân đội OSS, Hoa-Kỳ.
        Trong giai đoạn đầu, sở dĩ Việt Cộng cầm cự và duy trì được lực lượng là nhờ chiến thuật du kích “Trì Cửu Chiến,” cũng như do chiến lược bất nhất của Quân đội Pháp cùng sư xúi bẩy phá-bỉnh của Tình báo Mỹ OSS, Sĩ quan OSS tất cả đều nói tiếng Pháp rất thông thạo, điển hình như Lucien Conein, Russell Miller, George Carver… Nhưng không ai phủ nhận được rằng yếu-tố quan trọng nhất đã nuôi dưởng cuộc kháng chiến suốt tám năm trời chính là lòng yêu nước của người dân, họ không màn Cộng sản là ai, chỉ có mục đích duy nhứt là tống cổ thực dân Pháp ra khỏi nước.
        Chiến sỉ cách mạng đã nung nấu khát vọng giành độc lập từ ngót một thế kỷ nên khi đối đầu với thế lực ngoại xâm, mọi giai cấp, mọi thành phần dân chúng đều sẳn sàng gát bỏ tị hiềm và hy sinh tất cả cho tổ quốc Việt Nam. Từ tài sản đến sinh mạng, chính vì thế mà Việt Cộng càng ngày càng có thêm lợi thế tuyên truyền để dần-dà giành độc quyền lảnh đạo cuộc kháng chiến đúng theo ý đồ của Mỹ vì Mỹ cần một tổ chức vững chắc có kỷ luật như vậy để tiếp tục khuấy động tiếp diển chiến tranh ý thức hệ đẫm máu qua chiến dịch “Bỏ phiếu bằng chân” (Vote on foot) điển hình di-cư 1954 và chạy tán loạn 1975.
        Tổn thất của Pháp kể từ ngày 23/9/1945, Kháng chiến Nam Kỳ bùng nổ cho đến ngày 20/ 7/1954 ký Hiệp định Genève; Nước Pháp phí tổn 300 triệu Quan hoặc hơn 10 lần số vốn của Pháp đầu tư vào ba nước Ðông Dương, chủ yếu là vào Việt Nam. Một nửa số sỉ quan Pháp tốt nghiệp trường Vỏ bị Saint-Cyre chết ở Ðông dương, gồm có 1900 Sỉ quan Pháp tử trận; Theo tác giả O’Balance, khoảng 150.000 quân viển chinh Pháp chết trận, trong đó có 11.620 lính Lê-dương và 15.229 lính Bắc phi. Phải ghi nhận rằng nếu không có Mỹ cứu nguy, Pháp thất trận nhục-nhả từ năm 1951 hoặc 1952, quân-viện (toàn là chiến cụ thặng-dư sau Thế chiến-2) của Mỹ năm 1950 là 17% chiến phí; năm 1954 tăng lên 74%. Trong 5 năm Mỹ chi viện cho Pháp trong chiến trận Việt Nam là khoảng 2.7 tỷ đôla (thua một năm Việt kiều gởi tiền về VN) không kể trên 804 triệu kinh viện; Mỹ cung cấp chiến trường Việt Nam qua quân đội Pháp 1.400 xe Tăng, 16.000 xe vận tải GMC, 175.000 súng các loại, 29 máy bay vận tải C-119 cùng nhiều loại như C-47, Khu trục cơ Bearcat, Hellcat, Oanh tạc cơ B-26, Trực thăng H-19. Tuy viện trợ chiến cụ cho Pháp nhiều như vậy mà vẫn còn tồn kho quá nhiều, dù rằng đả phung phí trong cuộc chiến Triều Tiên – Làm sao đây! Harriman nghĩ đến Liên Xô có nhiều khó khăn về dư thừa nhân lực sau chiến tranh thứ 2 không có việc làm, Harriman hồi làm Ðại sứ tại Liên Xô 1943-1946, ông đã nghĩ ra kế cho Liên Xô mượn tính dụng để tiếp tục sản xuất chiến cụ cùng tiêu dùng với Mỹ tại chiến trường Á-châu [Triều-Tiên và Đông dương] cho hết tuyệt các chiến cụ lổi thời nầy, đồng thời cùng phát triển kỹ nghệ chiến tranh đời mới như thế-hệ hoả tiển đạn đạo và hoả tiển phòng không sau khi Mỹ và Liên Xô thu phục được những nhà bác học tài ba của Ðức cũng cần có chiến trường để phát triển, diển tập.


        (Còn tiếp)

        Comment

        • vinhtruong
          Super Member
          • Jun 2010
          • 1924

          #19
          Mỹ cũng đả lừa Pháp bằng B-29

          Đã từng là đồng minh trong Đệ Nhị thế chiến nhưng vẩn bị Mỹ lừa vào bẩy Trận Điện Biên Phủ, vì bãn chất nước Mỹ, “không có người bạn lâu đời và cũng không bao giờ có kẽ thù truyền kiếp” quyến lợi (American First) xác định thế liên minh.
          Tại sao Mỹ giúp Pháp tận tình như vậy! Quyền lợi quyết-định nhu cầu liên-minh, không nước nào sẳn sàng hy sinh cho quyền lợi, sự tồn vong của một nước khác. Trong khi Pháp không hiểu mình là lính đánh thuê cho Mỹ để tiêu thụ những vũ khí thặng dư thế chiến-2
          Quả đúng là đỉnh cao trí tuệ! Ðứng trên gốc cạnh “thương-trường huyền-biến từ thao-trường” chớ không phải thực sự là “chiến-trường”, đây là phương thức: “Sản xuất ra vũ khí, phải có khách hàng tiêu dùng!”
          Không một người Việt Nam nào mà chịu sự thống trị của nước Tàu như đã kinh qua trong thống khổ trên 1000 năm qua; Tuy vậy, như định mệnh đã an bày, tình hình chiến sự vẫn giằng co cho đến khi Mao Trạch Ðông thống nhứt được lục địa Trung Hoa nhờ tình báo Mỹ giúp vì yêu cầu sách lược (đã thương cho đối thủ ngã quỵ rồi băng bó vết thương chiến tranh sau như Âu Châu, Nhựt, Đại Hàn, VN, Trung Đông) và Mao tuyên bố thiết lập chế độ Cộng Sản ngáy 1/10/1949 (được sự dàn-xếp giúp đở ngầm của CIA qua mật vụ “di-tản cưởng bức” Tưởng giới Thạch và đồ đệ ra Ðài Loan 1949 bằng phương tiện không vận CAT, với chủ đích khuấy động một cuộc chiến ý thức hệ gọi là cuộc chiến tranh lạnh) Không còn cách nào hơn, Hoa Kỳ buộc phải phản bội xây lưng với chủ mưu vì quyền lợi, nên bắt đầu từ đó Cụ HCM không còn cách nào hơn phải ngả vào nhờ sự viện trợ của Mao để có lương thực, võ khí đạn dược của Trung Cộng (theo lộ-dồ cái bẩy phản tình báo CIA dù rằng cụ HCM có gởi cho TT Truman 8 bức thư thĩnh cầu bảo trợ cho nền độc lập giống y chang Phi Luật Tân), cùng 10.000 chí nguyện quân TQ dưới quyền điều động của Tướng Wei Guoqing, Luo Guibo, và Cheng Geng…Từ đó quân đội Việt Minh liên tiếp mở các chiến dịch phản công, để rồi cuối cùng đưa đến trận đánh then chốt tại Ðiện Biên Phủ vào cái bẩy tình báo Mỹ hứa Lèo là sẽ dùng B-29 tiêu diệt quân Việt Minh, nhưng việc đó không xảy ra vào tháng tháng tư Đen/1954, và lập lại y chang cuộc hứa Lèo lần thứ hai vào tháng tư Đen/1975 bằng B-52 tiêu diệt quân B.V
          Tất cả đều trên trục lộ trình thiết kế: Tin quân đội Pháp thua to phải đầu hàng ngày 7/5/1954 đã làm chấn động dư luận Pháp, kết quả là chính phủ Mendès-France phải ngồi vào bàn Hội nghị tại Genève và chấp nhận những nhượng bộ đòi hỏi của Việt Minh, mặc dù do thái độ của Pháp là một sự phản bội đối với phía Quốc gia và các Ðồng minh của Pháp trong giai đoạn đó trên lập trường chống Cộng Sản. Nhưng cuộc chiến 9 năm qua cũng nằm trong Màn-2 về Á-châu của Eurasian [Triều-Tiên & Việt Nam] Chiến tranh Ðông Dương kết thúc ngày 20/7/1954, khi 8 phái đoàn tham dự hội nghị Genève ký kết bản Hiệp định đình chiến, thừa nhận chủ quyền của chính phủ HCM trên toàn miền Bắc Việt Nam; Nhưng trước đó ngay từ 1951-1952, khi được Trung Cộng giúp đở để cũng cố lực lượng quân sự trong cuộc kháng chiến chống Pháp, HCM không còn con đường nào khác. HCM uất-hận sự tráo trở của Hoa Kỳ không bảo trợ nền độc lập cho VN y chang như Phi Luật Tân, nên Mỹ đã công khai bộc lộ đưa-đẩy HCM qua sức mạnh vô sản “Ðệ Tam quốc tế”. Những sự kiện nầy các sữ gia hậu cận đại sẽ lý giãi rỏ ràng hơn sau nầy, khi thế hệ dính dấp vào cuộc chiến đã nằm yên dưới đất

          Rồi thì các luận điệu tuyên truyền đấu tranh giai cấp qua việc thi hành chính sách bần cùng hóa nhân dân, nhứt là chỉ đạo những cuộc đấu tố dã man nhắm vào giới địa chủ để chuẩn bị tiến tới kế hoặch cải cách ruộng đất; Khi thấy Việt Cộng lộ rỏ bộ mặt thật, nhiều phần trí thức và tiểu tư sản mà trước đó bị mê hoặc bởi chiêu bài kháng chiến. Vì yêu nước quốc gia dân tộc, đang tỉnh ngộ để nhận thức bản chất dã man và phi nhân của Cộng Sản (nên đọc hồi ký của ÐGH Gioan Phaolô-2 thì biết CS là thế đấy, nhưng CS là loại ma quỷ cần thiết) Chính vì thế mà sau Hiệp định Genève được ký kết và vĩ tuyến 17 được ngăn đôi lảnh thổ, Hoa Kỳ với mưu-đồ trong thế chiến lược toàn cầu Eurasian, nên không chịu ký.
          Vì quyền lợi, Mỹ buộc phải tái phát động chiến tranh lần hai, thế là một biến cố thâm độc không tiền khoáng hậu trong mưu lược của Nhóm học giả Harriman là “Bỏ-Phiếu-Bằng-Chân” Họ bảo trợ ngầm một cuộc Di-Cư vỉ đại lần đầu tiên của dân tộc Việt Nam; Đây cũng là kế hoặch bỏ phiếu bằng chân cũa Hoa Kỳ dự trù sẻ quảng cáo rùm ben trên thế giới 1954, bằng cuốn phim “Chúng Tôi Muốn Sống” mà Mỹ chi tiền mướn luôn cố vấn Kỷ thuật Phi Luật Tân để tạo thanh danh cho cuốn phim; Nhưng 1975 thì phải nín khe nếu không muốn nói là ém-nhẹm vì coi chừng bị thế giới phát hiện nguyền rủa, ai là thủ phạm gây ra thảm cảnh nầy? Trục ma quỷ sợ sự thật nên không dám cho ra bất cứ cuốn phim nào “Chúng tôi muốn sống” lần thứ Hai kể cả các di tích thuyền nhân trên trại tỵ nạn cũng bị đập phá! Nên phải dùng diệu kế gọi là tháo chạy vì thua trận, đồng thời cũng bị chủ nhà đuổi nữa, sau một thời gian hâm nóng bằng đơn đặt hàng qua Nguyễn Tiến Hưng bằng cuốn sách “Khi Đồng Minh Tháo Chạy” thật buồn cười chỉ còn hơn 100 lính gác cơ quan mà đánh đấm cái gì?
          Thay vì phải nói là một cuộc chiến thắng thầm lặng (quiet victory) theo đúng nghĩa của WIB [War Industries Board] Hậu quả trong tự điển Anh văn, có thêm phong phú hóa bằng những danh từ kinh-dị như: Thuyền-nhân, Cánh Ðồng Chết, vùng Kinh Tế Mới, Học Tập Cải Tạo…Tối kỵ nhứt là không dám bỏ tiền làm một cuốn phim tương tự như “Chúng Tôi Muốn Sống 1954” trong khi sự thật gần nữa triệu người làm mồi cho Cá – Tại sao vậy? Vì một nghĩa trang vỉ đại nằm sâu dưới đáy Thái Bình Dương gần nữa triệu người Việt sẽ làm cho nhân loại phải thổn thức! “Một sự lừa bịp khá tinh vi là do CS gây nên?
          Cả triệu người dân miền Bắc, vốn tha thiết nơi quê Cha đất tổ, vốn yêu mến ruộng vườn làng mạc và nặng lòng với bà con quyến thuộc; Trong số cả triệu người nầy, đã có biết bao là chiến sỉ đã cầm súng chống giặc Pháp trong suốt thời gian tám năm dài đăng đẳng, quá hiểu và hải hùng họ đành cắn răng lìa bỏ nơi chôn nhao cắt rốn, để dắt-dìu nhau lên đường vào Nam, bất chấp lời tuyên truyền dụ dổ quá nhàm tai và những thủ đoạn dọa nạt thô bỉ của cán bộ Cộng Sản. Một triệu đồng bào miền Bắc ấy mang tâm trạng của những tầng lớp xả hội biết mình đã bị lường gạt trong cuộc kháng chiến, và hiểu rỏ là mình cũng như các thế hệ con cháu sẽ không thể sống nổi được dưới một chế độ bóp nghẹt đời sống và hũy diệt trí tuệ con người. Mang theo lý tưởng tự do, Họ lên đường vào Nam để góp tay xây dựng một xả hội nhân bản, một quốc gia thật sự của dân tộc không bị ngoại bang lôi cuốn ảnh hưởng đến chủ quyền. Cuộc di cư vỉ đại ấy đánh dấu một khúc quanh lịch sử cận đại, khúc quanh quyết định trong quan niệm tranh đấu của hàng ngũ quốc gia, khúc quanh mở đầu cho một thế trận mới, mải đến giờ nầy, ngày hôm nay vẫn chưa ngả ngủ, nhưng chắc chắn sẽ ngả ngủ bằng chiến thắng của con người trước trào lưu tiến bộ trên loài quỷ Đỏ bằng công lý thay cho bạo lực, bằng cái thiện chế ngự cái ác để khai thông một vận hội mới cho dân tộc Việt. Nhưng tội nghiệp thay khi những người có dính dấp vào cuộc chiến VN đã hoàn toàn nằm xuống thì lúc đó danh dự của hơn 58.000 binh sỉ Mỷ chết cho cuộc chiến Việt Nam mới được vinh danh và mặc cãm Hội chứng Việt Nam không còn nữa!
          Vì hiện tại (2023) là một nước Việt Nam Cộng Hoà thống nhứt và hùng cường. Lịch sử loài người đả thể nghiệm: khả năng dối gạt quần chúng là căn nguyên giúp cho chế độ độc tài các loại ra đời và tồn tại, chừng nào khả năng dối gạt kia bị triệt tiêu, chừng đó chế độ độc tài phải ra đi. (Nhóm học giả của Harriman qua lý thuyết gia George Kennan tin tưởng vào khoa học kỹ thuật bằng truyền thông tư tưởng “Internet” Cộng sản sẽ thua vì không lừa bịp được thế giới) Vì tự do truyền thông là kẻ thù nguy hiểm hàng đầu của mọi hành động dối gạt. Vì vậy từ vài thập niên kiên qua hệ thống ‘Internet’ phổ biến rộng khắp cho loài người tiến bộ nắm vững sự hiểu biết qua nhiều hình thái đa dạng, cùng trao đổi những cuộc đối thoại hửu ích như vậy, vừa làm cho tư tưởng tự do dân chủ lớn mạnh và cùng vừa mở đường cho những tin tức mà Cộng Sản muốn giấu nhẹm. Sinh mạng chính trị của chế độ Cộng Sản nhanh chóng đi vào chổ diệt vong; Triết học có câu: “Người ta có thể dối gạt một thiểu số người trong một thời gian dài, người ta có thể dối gạt mọi người trong một thời gian ngắn; nhưng chắc chắn người ta không thế nào dối gạt mọi người trong thời gian vỉnh cửu được!”
          Thế nên, Miền Nam với lý tưởng hiền hòa trong tình thương dân tộc, như đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo phải là chiến thắng trong lòng dân tộc! Một cuộc chiến thắng kỳ diệu qua giao du tư tưởng sẽ chứng minh vào đoạn kết dân tộc 2023! [50 năm sau khi Lính Mỹ rời khỏi VN] Nhưng oan nghiệt thay, vì căn cứ trên định-kiến-1, bằng mọi giá phải bảo vệ xa lộ huyết mạch Harriman (HCM) cho mục tiêu vì quyền lợi sống còn của Đảng Công Ty WIB; Harriman, hơn ai hết phải ẩn danh trong ngôi vị thứ Ba của Bộ ngoại giao vì giai đoạn nầy sẽ gây nên biết bao thãm trạng đau thương không những cho nhân dân ba nước Đông Dương mà bắt buộc quân đội tác chiến Mỹ phải thực tập tác chiến trên chiến trường đầy máu lữa, hầu phát triển kỹ nghệ chiến tranh trong cái thế “Khổ-nhục-kế.” (The U.S pilots had no laser targeting pods, non smart laser-bomb, night vision goggles, salvo armaments, but conventional bomb) Ai biết được quân đội Mỹ bị gò bó hy sinh trong cuộc chiến, nhiều nơi bị ở dưới bắn lên nhưng không được quyền bắn trả, không được phá vở đường runways … (everything worked but nothing worked enough, đó là kim chỉ nam cho quân Mỹ theo luật Rule Of Engagement, vì vậy một phi công bay, phi công khác kiểm soát ROE, cho nên chúng ta nghe danh từ “tháp tùng tử”)
          Vì quyền lợi bảo vệ thềm lục địa có trử lượng dầu khí cho công ty dầu hỏa Mỹ sau nầy khai thác: Thế nên 58.000 lính Mỹ hy sinh cho quyền lợi Mỹ [American First] Trong tư tưởng của Harriman, biến thế giới chỉ còn một hảng-xưởng duy nhất, và người công nhân phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt mới kiếm được đồng tiền, thì tại sao người quân nhân không đổi chút đỉnh xương máu để lảnh được đồng dollar? Permanent Government ngứa mắt khi nhìn thấy quân đội Mỹ tập trận giả tại quê nhà; Người lính tập trận rất ưa thích được gạch phấn trước ngực, hoặc sau lưng, xem như bị loại ra khỏi vòng chiến đấu để về du hí với gia đình; Chiến tranh Việt Nam cũng rất cần thiết cho Liên Xô và Hoa Kỳ có được thao trường tiêu dùng các chiến cụ lổi thời để cùng phát triển vủ khí chiến tranh mới, theo như nội dung đã diển tả trong hai tác phẩm “Peace with Russia” và “America and Russia in a Changing World” của đồng tác giả W.A. Harriman. Vì thế Tôi tự cho đây là “Trục Ma Quỷ” Nhưng ngược lại dòng họ Kennedy lại muốn chiến thắng Cộng Sản bắng con đường Vương-đạo dân chủ dân quyền thế nên người là một trở ngài chính phải bị tiêu diệt

          Sau một loạt thiết lập các Đoàn 559, 759, 959 và sau cùng là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam về phí Hà Nội đã xong, đồng thời 1960 Liên Xô rút Cố-vân ra khỏi Trung Quốc; Đến phía Hoa Kỳ, 1960, thiết lập loại huy chương VN chiến-dịch bội tinh cho quân đội tác chiến Mỹ sẽ tham chiến, 1961 chuẩn bị sản xuất vài tỷ hộp C-Ration cho khoản 3 triệu lính Mỹ thay phiên mỗi năm qua tham chiến, thiết lập CIP, “kế hoặch chống nổi dậy” để phát triển kỹ nghệ quốc phòng. Harriman ra lệnh cho CIA thả Biệt Kích thâm nhập vào đường mòn HCM không phải để chống phá mà để xác định sự có mặt ở phía Hà Nội có thật tình cùng chơi trò chơi chiến tranh nầy hay không! Các Toán thám sát bèn thả vào biên giới Lào như Attopeu, Saravan, Tchepone…và tất cả các Toán điều xác nhận có quân Bắc Việt hiện diện nơi đó được gọi là Đoàn 959. Toán biệt kích nầy không được phép đụng trận mà chỉ có nhiệm vụ ẩn núp quan sát lấy tin tức rồi bóc về. Quân đội Mỹ không được qua biên giới Lào và Cambodia nhưng sẽ chờ cơ hội để tạo ra vụ sự kiện Vịnh Bắc Việt trước đã rồi mới gởi quân Mỹ tham chiến chính thức sau.
          Harriman cần phế thải “hàng tiêu dùng” như các phi cơ phản lực lổi thời của Mỹ dự trù không xa lắm sẽ kiếm cớ để oanh kích Hà Nội hầu dần dần tiêu hủy chúng; Song song với oanh tạc Bắc Việt ở trong Nam biệt kích Mỹ rất thành công trong các cuộc thám sát biên giới Lào, trên con đường Mòn HCM. Các cuộc hành quân rất thành công về phương diện chiến thuật nhưng lại không hài lòng Harriman về mặt chiến lược, nên họ đỗi lại, thay vì mổi Toán thám sát có 2 người Mỹ và 8 người biệt kích LLĐB, thì họ lại thế 8 người Lính Thượng ở chỗ 8 người lính yêu nước của LLÐB miền Nam, mà họ gọi là ‘Yard’. Người lính Thượng tuy không rành về hướng dẩn mục tiêu, đọc tọa độ, xem bản đồ, ít học nhưng rất cần thiết khi họ khám phá được các kho vủ khí khổng lồ như hoả tiển 122 và 107 ly, kho đạn … họ không bao giờ phá hủy nếu không có lệnh của người Mỹ đi theo. Nhưng nếu có biệt kích Việt Nam thì họ lại không cần báo cáo mà nhứt quyết phá hủy ngay tại chổ liền tức khắc; Harriman lại không thích phá hủy, vì làm như vậy chỉ gây thất vọng và trì hoản công việc chiếm lỉnh miền Nam của Hà-Nội đúng theo thời-gian điểm-mốc của lộ trình. (Tướng Ðổ Cao Trí phải hy sinh vì phá hủy một số lớn quân-cụ của CSBV tại Cục-R, vi phạm Rule Of Engagement) theo như kế hoặch thời gian đã dự trù. Vì thế hậu quả Biệt kích Mỹ đi theo lính Thượng bắt đầu bị thương vong gia tăng trầm trọng, khác hẳn không gặt hái được nhiều hiệu quả và an-toàn khi làm việc cùng với LLĐB Việt Nam.

          Nơi đây, Tôi nêu ra vài dẩn chứng đau thương đối với Hạ sỉ quan biệt kíck Mỹ SOG, cũng như các phi công Mỹ lâm nạn khi oanh tạc miến Bắc bị hành hạ như thế nào qua khổ nhục-kế: Một sỉ quan Bắc Việt nói tiếng Anh khá thông thạo nói với Glenn “Mầy hảy nhìn cho thật kỷ đây” Rồi toán Lính Bắc Việt mổ banh bụng của Paul Miguez đang bị cột treo đứng, cả chùm ruột Miguezs rơi xuống đất; người sỉ quan nầy bèn cầm cây đuốc trên tay của một lính Bắc Việt nhũi vào bao tử của Miguezs và thiêu sống một cách kinh hoàng giữa tám con mắt của Toán Yard thám sát. Người sỉ quan Bắc Việt nói với Glenn: Mầy nên về nói với những thằng bạn của mầy rằng: những gì mầy đang chứng kiến ở đây sẽ xảy ra nếu mấy thằng bạn mầy lẻo hánh đến đây…Mầy nhắc rỏ tụi nó, nơi đây, Đường 559 tụi tao sẳn sàng chờ đón tụi bây bất cứ giờ nào khi tụi bây nhảy xuống đây … Okay!
          Một số Toán viên khác không tin chuyện nầy là có thật dù rằng Glenn chắc chắn chuyện xảy ra trước mắt hắn chớ không phải chiêm bao! Một trung tá mủ nồi xanh Mỹ với phù hiệu ở Vùng 1 cho rằng Glenn nhát như con thỏ đế khi đến thăm viếng trại của Glenn, ông cầm ống điếu đưa về phía Zabitosky và nói Zabitosky kể lại sự việc đả qua khi phi cơ đáp xuống cứu họ. Zabitosky nói lúc đáp xuống trực thăng cũng bị phục kích với không biết bao nhiêu vết đạn; Viên Trung-tá Mỹ nầy mắng chửi: “thứ cái đồ chết nhát…tại sao phi công không sợ chết can đảm vào cứu các anh?” Zabitosky tức khí trả lời: “ngày mai chúng tôi vào lấy xác với ba người Mỹ và ba người Yards…Trung Tá có ngon thì cùng đi thâm nhập với chúng tôi, để lấy cảm giác lần đầu tiên Trung-tá qua Việt Nam và dự cuộc chiến đầu tiên!”, và tôi ước muốn Trung-tá đi chuyến lead cùng với tôi với ít bao nylon đựng xác chết và đạn dược cần thiết!” Nhưng khi sắp đáp, có tiếng AK khắp nơi, ông không dám xuống chỉ để cho Zabitosky và cácYards nhảy xuống mà thôi; Rốt cuộc Zabitosky vẫn là người chỉ huy Toán duy nhứt và ít ra cũng tỏ tính anh hùng hơn vị Trung-tá nầy. May mắn thay, vào lúc nầy, một H-34 Queen Bee khác đang tìm được One-One Pilton và đáp xuống cứu ngay; Trong khi Zabitosky phải dẩn toán chạy về đường củ tìm kiếm thi hài Paul Miguezs, theo lối mòn lên trên đỉnh đồi, nơi Toán bị phục kích vào khoảng 600 thước với đồ đạt vung vải khắp mọi nơi. Xa hơn đây một chút, chúng tìm thấy cây đuốc đốt Miguezs đã nằm lẩn trên lớp cỏ, bên cạnh có một vật bầy nhầy như bộ đồ lòng của Miguezs; Zabitosky lẩm bẩm, lính Bắc Việt lại giết một cách tàn nhẩn một người không có vủ khí trên tay. Và đây là lần đầu tiên trong đời hắn chứng kiến một điều mà hắn không thể tưởng tượng nổi; bên cạnh xác chết Miguezs còn có vài xác chết của lính Thượng Yard cũng bị đốt cháy khét nghẹt; Nhưng nơi đây vẫn còn áp lực của địch nên đành bỏ lại các thi hài của Yard mà chỉ đem theo xác của Miguezs về trại. Về đến nhà, có lẻ phi công đả báo cáo cho bộ chỉ huy, nên viên Trung-tá chết nhát thứ thiệt nầy đã bị tống ra khỏi đơn vị Delta Force. Biệt kích Miguezs bị đốt sống cho đến chết đã được truy tặng huy chương ‘Distinguished Service Cross’

          (Còn tiếp)

          Comment

          • vinhtruong
            Super Member
            • Jun 2010
            • 1924

            #20
            Hà-Nội tra tấn POW Mc-Cain

            Tháng Sáu 1967, một Toán Hatchet Force được thả xuống để thám sát Căn-cứ đầu-nảo Tiền-phương của Đoàn 559 (OSCAR-EIGHT) tại chân núi Tam Bôi. Trên sàn trực thăng Trung-úy Jerson được hối hả khiêng lên nằm rủ trên sàn tàu, bên cạnh là người hùng Howard đang bập-bập một điếu thuốc do cơ-phi mồi sẳn nhét vào miệng hắn cùng với vài cái vổ vai thán phục; Nhưng trong tâm tưởng Howard vẫn còn luyến tiếc vì bỏ lại các chiến hửu Yards (lính Thượng) của mình trên chiến địa mà không thể mang về được.
            Đến khi Howard hoàn hồn tỉnh lại thì biết mình đang nằm tại bệnh viện với băng bó khắp nơi trên thân thể, trên mặt hắn trét đầy loại thuốc dầu mở sát trùng; nằm cạnh bên là xác trung úy Jim Jerson đả chết; không ai chuyền được tin tức nầy cho gia đình Jerson và Robert Scherdin biết. Đại úy Ed.Lesesne đang đề nghị cho Howard huy chương danh-dự hạng nhất của Hoa Kỳ lần thứ Ba (Medal of Honor)
            Nhưng đáng buồn thay, những sự hy sinh cao cả của Howard không được dân chúng Hoa-kỳ hoan nghinh, Howard đả tình nguyện qua chiến đấu tại Việt Nam những 5 lần, và mọi lần đều ở đơn vị SOG, Biệt Kích Delta Force. Trong khi 1955 các trường học được các học sinh nhắc nhở đến những anh hùng dân tộc như Alvin, Audie Murphy, nhưng vào năm 1970, con người đầy vết thẹo thương tích như Howard thì không được ai ngó ngàng tới. Thật vô cùng bất công! Và trớ trêu thay, con người như Trung-úy phản chiến John F Kerrey với ba lần bị thương Lèo, do TNS Bob Dole tiết lộ, nhưng không chảy máu, không nằm nhà thương mà lại sanh lòng phản lại sự hy sinh của đồng đội cho hư danh huyền ảo, thì đang được dân chúng xem như một thần tượng của phong trào phản chiến hiện tại!
            Trong khi những chiến hửu của Kerry phải chịu cái cảnh hành hạ cũa bọn cai tù Hà Nội; Ðiển hình trường hợp của phi công [Thượng nghị sĩ] John McCain, Họ chào mừng cha ông là Tư lệnh Ðệ-7 hạm đội đương thời bằng một ấn tượng tuyên truyền gây chú ý là trả tự do cho con trai của ông và coi đó như một hành động “thiện chí.” Hai tháng trôi qua, không có gì xẩy ra, và những đợt hành hạ lại bắt đầu – Phi công McCain bị lôi vào trong căn phòng trống và giam ở đó bốn ngày; Từng đợt, bọn cai tù trở lại đánh đập McCain một cách vô cùng tàn nhẩn. Một tên giữ McCain cho những tên khác đánh đập túi bụi, điều nầy Hà Nội cũng hành hạ tra tấn các anh em chúng tôi những năm còn ở tù ngoài Bắc, hàng đêm chúng đem chúng tôi ra ngoài sân để trả thù hận, với danh sách ưu-tiên bị chúng hành hạ là: “Nhứt Pháo (binh), nhì Phi (công), tam Công (an), tứ Cảnh (sát)”
            McCain bị gảy mấy xương sườn và hai cái răng, suy nhược vì bị đánh đập và kiết lỵ, chân của McCain lại trở nên vô dụng, do đó McCain không thể đứng được. Tới đêm thứ Ba thì McCain nằm trên máu, phân và nước tiểu của mình, vì mệt mỏi và đau đớn, McCain không thể nhúc nhích, chuyển động được; Ba tên cai-tù đở cho McCain đứng dậy rồi chúng đánh McCain cực kỳ khũng khiếp; Chúng để McCain nằm trên sàn nhà rên-rĩ vì cực kỳ đau đớn ở cánh tay lại mới bị gảy ra. Tuyệt vọng vì đau đớn không thuyên giảm và tra tấn thì tàn bạo hơn; McCain cố ý tự sát để khỏi phải quá đau đớn. Sau vài lần cố gắng không thành, McCain tìm cách để đứng dậy; Lật úp cái Bô đựng phân và nước tiểu để lấy thế tăng chìu cao; McCain đứng lên trên cái Bô, níu vào tường bằng cánh tay còn lành. Ông luồn cái áo qua cái cửa chốt và buộc thành cái thòng lọng, khi Ông đang lồng cái vòng ấy vào cổ, tên cai-tù nhìn thấy cái áo của ông luồn qua cửa sổ, hắn liền kéo ông xuống và đánh đập một trận thật tàn nhẩn. Vẫn nuôi ý nghĩ tự sát, sau đó ông lại làm lần thứ hai, một cố gắng tự sát nhẹ nhàng hơn. Vào ngày thứ Tư, ông đành chịu thua vì nợ trần gian chưa trả hết
            McCain đã ký vào bản tự khai thú nhận rằng: “Tôi là một tên tội phạm độc hại, và Tôi đã thực hiện những công việc của một phi công” Tụi cán bộ bắt buộc ông cho thâu lời thú tội nầy vào trong băng ghi âm. ông cực lực từ chối, dỉ nhiên ông bị tra tấn cho đến chừng nào ông chịu ghi vào thâu băng; Ðó là hai tuần lễ kinh hoàng nhứt trong đời McCain, ông rùn mình, như thế sự nhục nhả của ông là một cơn sốt, và ông nghĩ tủi nhục sẽ không ai nhìn thấy ông nữa, ngoại trừ trong sự thương hại hoặc khinh bỉ. Người Cộng sản dường như không bao giờ bận tâm tới việc làm thương tổn tới đến kẻ thù Ðế quốc, nhưng họ luôn luôn thận trọng không để người phi công Mỹ bị chết vì cần sự đổi chác; Nhưng sự bí mật đã hé mở là có một số phi công Hoa Kỳ bị tra tấn tới chết và hầu hết là bị đối xử dã man nhứt trong lịch sử loài người. Nhưng cô đào ciné Jane Fonda, với đặc vụ phản tình báo thì một mực phủ nhận sự tàn ác nầy vì đây là kế hoặch chiến lược “Khổ nhục kế” nhưng lại dành riêng cho những đứa con phi-công ưu tú của Hoa kỳ nhập cuộc! Thật tội nghiệp thay! Có một người, Dick Stratton, có những vết sẹo lớn bị nhiểm độc trên hai cánh tay vì bị tra tấn bằng dây thừng. Hai móng tay Cái bị xé rách toạc ra, và ông bị châm bõng bằng thuốc lá. Tuy nhiên, người Cộng Sản đánh giá các phi công như những con bài, như món hàng quí giá để mặc cả trong vấn đề thương lượng hòa bình, và thường thì Hà Nội không có ý định giết, nhưng chẳng may mạnh tay nên chết. Các phi công được triệt để khai thác bằng cách hợp tác để tuyên truyền nếu không muốn bị tra tấn dã man
            Sau cuộc đổ quân giải cứu tù binh ở Sơn Tây 1970, bằng trực thăng CH-54, cách Hà Nội không xa lắm, hàm ý nếu không tập trung tù binh Mỹ vào một chỗ (Hilton Hỏa Lò) và nuôi dưởng đàn hoàn thì mạng sống của Bộ chính trị Cộng Sản sẽ không có gì bảo đảm (thêm vào những lời vừa khuyên bảo vừa hăm doạ của KGB) Hậu quả những sự đánh đập tàn nhẩn được Liên Xô áp lực phía Hà Nội phải ngừng lại tức khắc, và đem tập trung vào một chỗ, cũng ngay sau khi Kissinger rời Moscow thông báo mật kế Pennsylvania. (Ðịnh-kiến-1: Axiom-1) Thỉnh thoảng tù binh Mỹ được những khẩu phần khá hơn, thêm nhiều thịt cá hơn, bớt phần rau Muống xuống hoàn toàn con số không; Vì những thơ từ của tù binh thoát được về Mỹ qua phóng viên các nước Cộng Sản được tù binh tiết lộ rằng: “Ngày nào Hà Nội cũng cho POW ăn Cỏ” (Vì Rau Muốn tù binh Mỹ không biết tên cho là Cỏ dại) Hoàn cảnh tù binh không còn thãm khốc như những năm trước đó nữa; Ðể rồi sau một thời gian bắt người chiến binh Mỹ phải chịu thãm trạng “khổ nhục kế” cho quyền lợi của bọn Ðại tư bản WIB (War Industries Board) Tháng Ba, năm 1973, tất cã Tù binh Mỹ được thả thể hiện qua định-kiến-3 của Harriman (the U.S. could not have won the war under any circumstances) chấm dứt trò chơi chiến tranh CIP & NLF.
            Có ai hiểu được 327 biệt kích Mỹ SOG bị coi như mất tích [MIA] nhưng phía Hà Nội chỉ giao có 10 người thì chúng ta cũng hiểu rằng, khi bị bắt họ bị làm thịt ngay tại chỗ vì lính Bắc Việt rất sợ sự nhanh nhẹn phản ứng khi trốn chạy, sẽ lôi thêm nhiều thiệt hại cho đồng bọn, chỉ trừ khi Toán biệt kích bị bắt tại đơn vị cấp Tiểu đoàn trở lên thì mới được Chính ủy đem về Bắc. Các chiến sĩ Hoa Kỳ được dạy dỗ phải có niềm tin nơi Thượng đế, nơi Tổ quốc, và tình huynh đệ chi binh; Hầu hết các chiến sĩ chiến đấu cho tự do nầy đã sống chiến đấu hào hùng như vậy. Nhưng điều cuối cùng của những niềm tin nầy – niềm tin vào nhau như chúng tôi đã bị tù ở ngoài Bắc – là vũ khí phòng vệ tối hậu của thân phận những người tù, là nhũng thành lủy mà Cộng Sản không thể vượt qua được; Ðó là niềm tin của người Tù đã ấp-ủ từ trong học-viện sĩ quan. Ðó là niềm tin yêu tổ quốc; Trong nhà Tù, chúng tôi là người dơ-dáy, què quặt, suy nhược, tất cả những gì chúng tôi còn giữ lại trong phẫm hạnh của niềm tin, xuất phát từ nơi truyền thống yêu thương, và tình cảm dân tộc. Và chính cái đó là một chiến thắng sau cùng của chúng tôi qua niềm tin yêu từ trong lòng dân tộc truyền lại cho con cháu đời sau noi theo … “Miền Nam sẽ thắng trong lòng dân tộc!”

            Chỉ vì chiến cụ làm ra cho thế chiến 2 vẫn còn tồn kho quá nhiều dù rằng quân đội Pháp và quân đội Mỹ đã xử dụng trong hai cuộc chiến tranh Đông Dương và Triều Tiên; Đặc biệt, trong chiến tranh Triều Tiên, Harriman đại diện cho Đảng Công Ty WIB đả áp lực thành công trong cuộc họp 68-Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (NSC-68 United States Objectives and Programs for National Security) mục tiêu và kế hoặch an ninh cho Hoa Kỳ, có nghĩa là TT Truman chấp thuận hàng tỷ dollar chi tiêu vũ trang cho Bộ quốc phòng, gồm có tân thế hệ phản lực cơ khu trục như F.84, F.86, F.100…còn phía Liên Xô như MIG 15, 17, 19. Trục Ma Quỷ lấy bầu trời Triều Tiên làm nơi trắc-nghiệm để tiếp nối hàng tiêu dùng mới phát triển nầy phải được xử dụng tại chiến trường Việt Nam cùng với một số ít chiến cụ còn lại sau ba cuộc chiến vừa qua; Dỉ nhiên cuộc chiến phải kéo dài để tiêu xài chúng cho hết và cũng cùng Liên Xô sản xuất phát triển thêm nữa kỷ nghệ chiến tranh qua thế hệ hoả-tiển phòng không và vủ khí chống lại hệ thống phòng không tại miền Bắc; Những việc làm cấu kết với kẻ thù đã đưa vào ống kính của giòng họ Kennedy khi ông còn là Thượng Nghị Sỉ. Nếu Kennedy được bầu làm tổng thống thì ông sẽ lập lại những gì mà TT Roosevelt đả buộc tội đóng cửa nhà băng Union Banking Corporation và tịch thu tài sản của giòng họ Harriman và Prescott Bush cùng những người có cổ phần vì vi phạm hiến quyền làm ăn với kẻ thù (trading with the enemy Act 1941, http://www.answers.com/topic/w-averell-harriman )
            Hơn ai hết Harriman hiểu rỏ hậu quả của cuộc chiến tàn khốc nầy, nên ông ẩn núp kín đáo trong ngôi vị thứ Ba của Bộ ngoại giao nhưng quyền hạn vô biên; Bên cạnh đó ông bố trí vây kín TT Kennedy và TT Johnson bằng những thành viên Đảng Skull and Bones để khống chế chính quyền như đọc giả đả đọc những chứng từ ở trên, và nhửng lời đối thoại qua lại của những viên chức có thẩm quyền, như anh em Bundy và các viên chức Bộ quốc phòng cũng như thành viên Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Forrestal. Dỉ nhiên thế giới sẽ nguyền rủa cuộc chiến dơ-bẩn nầy thì tại sao Harriman phải lộ diện như hồi thế chiến 2 hay chiến tranh Triều Tiên? Vì mổi nơi nầy quân Mỹ phải ở lại để bảo đảm sự an-toàn cho Đồng minh; Cái siêu quyền lực ngụy trang nầy lại chi tiền dùng công cụ truyền thông văn hóa phối hợp trong khuôn viên đại học để đổ lên đầu vị nguyên thủ quốc gia Hoa Kỳ như: Kennedy đã có những quyết định sai lầm về Việt Nam vì Kennedy không thật sự chú trọng vào vấn đề, còn về phần Johnson thì vì Việt Nam không là ưu tiên của ông ta. Kennedy thường phó thác việc quyết định về Việt Nam cho phụ tá [bị áp lực bởi Skull and Bones] những người thường bất đồng về mục tiêu hoặc đơn giản là thiếu khã năng. Những ký giả được mua chuộc đều lên-án cả hai ông không hề dành thì giờ thẩm định chính sách của họ ở Việt Nam với sự cẩn trọng tương xứng. Những ký giả nầy đi đến kết luận hồ-đồ theo đơn đặt hàng là, khi lảnh đạo thiếu sáng suốt và quyết tâm thì sai lầm tất nhiên chồng chất. Họ cho rằng một số người vẫn muốn lập luận rằng sự mù mờ ấy chỉ giản dị là dấu hiệu cho thấy Việt Nam không quan trọng đến độ giới lảnh đạo Hoa Kỳ dành hết tâm trí, và chỉ nội việc đó thôi cũng đủ cho thấy lẽ thất bại của cuộc chiến. Còn truyền thông văn hóa thì đả đến lúc quân đội Mỹ phải chuẩn bị rút về theo như thế chiến lược khai thác lợi nhuận xong của Đảng Công Ty WIB; rồi họ đi đến lập luận là Việt Nam có đủ quan trọng khiến chính quyền gởi hàng trăm ngàn thanh niên Mỹ vào cỏi chết trên chiến trường xa xôi với sự ủng hộ của dân chúng và Quốc hội? Rồi đi đến kết luận, họ đổ thừa cho chính quyền Kennedy, Johnson thi hành kém cỏi, thì hiển nhiên là một phê phán về phẩm chất của lảnh đạo chỉ huy chứ không về chính sách của quốc gia
            Thật là một điều bỉ ổi cho cái quyền lợi hẹp hòi của tập đoàn Triều-đại Công Ty WIB, tất cả rồi đây phải trả lại sự thật cho lịch sử Hoa Kỳ. (Tác phẫm “Lê Dương Mới” bằng Anh ngử [The New Legion] sẽ là một phân-tử cho sự minh chứng tương lai lịch sữ) Chính vì thế mà sau Hiệp định Genève được ký kết và vĩ tuyến 17 được ngăn đôi lảnh thổ, Hoa Kỳ với mưu-đồ trong thế chiến lược toàn cầu 100 năm, nên không chịu ký. Một biến cố không tiền khoáng hậu trong mưu lược của Nhóm học giả Harriman là “Bỏ-Phiếu-Bằng-Chân” Họ bảo trợ ngầm một cuộc Di-Cư vỉ đại lần đầu tiên của dân tộc Việt Nam; Đây cũng là kế hoặch bỏ phiếu bằng chân cũa Hoa Kỳ dự trù sẻ quảng cáo rùm ben trên thế giới 1954, bằng cuốn phim “Chúng Tôi Muốn Sống” mà Mỹ chi tiền mướn luôn cố vấn Kỷ thuật Phi Luật Tân để tạo thành danh cho cuốn phim; Nhưng 1975 thì phải nín khe nếu không muốn nói là ém-nhẹm vì coi chừng bị thế giới phát hiện nguyền rủa, ai là thủ phạm gây ra thảm cảnh nầy? nên phải dùng diệu kế gọi là tháo chạy vì thua trận thay vì một cuộc chiến thắng thầm lặng (quiet victory) của WIB [War Industries Board] Hậu quả trong tự điển Anh văn, có thêm phong phú hóa bằng những danh từ kinh dị như: Thuyền-nhân, Cánh Ðồng Chết, vùng Kinh Tế Mới, Học Tập Cải Tạo…Tối kỵ nhứt là không dám bỏ tiền lập lại một cuốn phim tương tự như “Chúng Tôi Muốn Sống” trong khi sự thật gần nữa triệu người làm mồi cho Cá – Tại sao vậy? Vì một nghĩa trang vỉ đại nằm sâu dưới đáy Thái Bình Dương gần nữa triệu người sẽ làm thổn thức lương tri nhân loại, lâu lâu lại hâm nóng bằng đơn đặt hàng chối tội để gây hỏa mù dư luận bằng một tác giả có bằng cao học như Nguyễn T Hưng với tác phẫm “Khi đồng minh tháo chạy” là vì thua trận thì không ai trách kẻ thất thế, nhưng thực ra còn hơn 100 lính gác cổng thì đánh đấm cái đếch gì?
            Cũng như trong cuộc chiến VN nhiều ký giả lảo thành người Việt, đôi khi vô tình bị nhóm ký giả ngoại quốc gây ảnh hưởng vì mục tiêu chính trị, nên phụ hoạ tạo sự phĩnh gạc tinh vi đưa ra những tin giựt gân hấp dẩn kích thích tác giả Hà Mai Việt đã viết về cuộc hành quân Lam Sơn 719: (Into Laos, NXB Dell, tháng 2-1988, trg 113) Trong khi đó, tướng tư lệnh hành quân Hoàng Xuân Lãm nói khác đi một ngày. “Sang ngày thứ nhì, mồng 9-2-1971, thời tiết bỗng trở nên ảm đạm… Ngay sau khi trực thăng của tướng Lãm vừa đáp xuống thì hai trực thăng theo sau, còn cách chiếc đi trước khoảng 2 cây số, đã bị đại bác phòng không 37 mm của đối phương bắn rớt. Hai trực thăng nầy chở các sĩ quan trưởng phòng 3, trưởng phòng 4 Quân đoàn và toán phóng viên ngoại quốc xin tháp tùng. Sau khi mở cuộc hành quân tiếp cứu phi hành đoàn và hành khách trên 2 trực thăng lâm nạn không có kết quả, tướng Lãm rất băn khoăn về tình trạng của tấm bản đồ hành quân Lam Sơn 719, do đại tá trưởng phòng 3 Quân đoàn đem theo, vì nếu tấm bản đồ này không bị thiêu hủy mà lại lọt vào tay địch thì rất nguy hiểm, nhưng ông đã quyết định giữ bí mật vụ nầy và tìm cách giải quyết sau.” Thép và Máu, tác giả Hà Mai Việt tự xuất bản năm 2005, trg 60, 61 (đọc giã đã chứng kiến ngay đến thẽ bài cũng như máy ảnh mà còn cháy queo thì tấm bản đồ làm sao còn nguyên được? và tướng Lãm đã nhầm lẩn ngày Tiểu đoàn Phó TĐ/8 bị Mỹ thả Bom lầm bị thương ngày 9/2/71 và ngày 10/2/71 là ngày trực thăng LĐ/51/TC bị bắn tan xác, tôi phải ghi trong đầu ngày đó là vì ngày đau thương của chúng tôi)
            Về chuyện tấm bản đồ hành quân lọt vào tay đối phương và ngày tháng máy bay bị bắn rơi, ở phần ghi chú, ông Hà Mai Việt thêm, “Hai trực thăng của bộ tư lệnh Quân đoàn I bị phòng không BV bắn hạ và Hà Nội đã lấy được tấm bản đồ mật về cuộc hành quân LS 719 do đại tá trưởng Phòng 3 Hành quân Quân đoàn mang theo… Theo các sử gia HK ghi lại thì ngày 10-2-1971… Nhưng theo trung tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh chiến trường, kể với soạn giả [HMV] thì đó là ngày 9-2-1971, ngày thứ nhì hành quân vượt biên. Sau nhiều lần hỏi lại, trung tướng Lãm khẳng định: ngày 9-2 là đúng, chứ không phải ngày 10-2-1971.” (Sách đã dẫn, trg 87, tướng Lãm lầm-lẫn giữa ngày bị máy bay Mỹ thã lầm với ngày 2 trực thăng VN rơi) Tuy nhiên, người viết bài nầy căn cứ vào “Tờ Tường Trình Ủy Khúc” của Sư Đoàn 1 Không Quân, KBC 3198, (do tôi báo cáo từ nhựt ký điều hành của đơn vị) ký ngày 11-5-1971, và vào “Tuyên Cáo Ước Đoán Biệt Tăm”(MIA) của Bộ Quốc Phòng, do Tướng Nguyễn Văn Vỹ ký ngày 17-7-1971. Cả hai tài liệu nầy Thời Báo đang có phó bản trong tay, đều ghi rõ phi hành đoàn do Thiếu úy Tạ Hòa làm hoa tiêu chính đã bị bắn rơi ở tọa độ XD 565.520 vào ngày 10-2-1971 trên lãnh thổ Lào.

            Cả triệu người dân miền Bắc, vốn tha thiết nơi quê Cha đất tổ, vốn yêu mến ruộng vườn làng mạc và nặng lòng với bà con quyến thuộc; Trong số cả triệu người nầy, đã có biết bao là chiến sỉ đã cầm súng chống giặc Pháp trong suốt thời gian tám năm dài đăng đẳng, quá hiểu và hải hùng họ đành cắn răng lìa bỏ nơi chôn nhao cắt rốn, để dắt-dìu nhau lên đường vào Nam, bất chấp lời tuyên truyền dụ dổ quá nhàm tai và những thủ đoạn dọa nạt thô bỉ của cán bộ Cộng Sản. Một triệu đồng bào miền Bắc ấy mang tâm trạng của những tầng lớp xả hội biết mình đã bị lường gạt trong cuộc kháng chiến, và hiểu rỏ là mình cũng như các thế hệ con cháu sẽ không thể sống nổi được dưới một chế độ bóp nghẹt đời sống và hũy diệt trí tuệ con người. Mang theo lý tưởng tự do, Họ lên đường vào Nam để góp tay xây dựng một xả hội nhân bản, một quốc gia thật sự của dân tộc không bị ngoại bang lôi cuốn ảnh hưởng đến chủ quyền. Cuộc di cư vỉ đại ấy đánh dấu một khúc quanh lịch sử cận đại, khúc quanh quyết định trong quan niệm tranh đấu của hàng ngũ quốc gia, khúc quanh mở đầu cho một thế trận mới, mải đến giờ nầy, ngày hôm nay vẫn chưa ngả ngủ, nhưng chắc chắn sẽ ngả ngủ bằng chiến thắng của con người trước trào lưu tiến bộ trên loài quỷ Đỏ bằng công lý thay cho bạo lực, bằng cái thiện chế ngự cái ác để khai thông một vận hội mới cho dân tộc Việt, viển tượng sáng lạng 2023, nhưng chúng ta đã nằm yên dưới ba tất đất, không thể đội mồ lội ngược dòng lịch sử!?


            (Còn tiếp)

            Comment

            • vinhtruong
              Super Member
              • Jun 2010
              • 1924

              #21
              Đoạn kết sách lược toàn cầu Eurasian

              Vì hiện tại (2023) là một nước Việt Nam Cộng Hoà thống nhứt và hùng cường theo như trục lộ đồ sách-lược Eurasian Great Game của chiến lược gia W. A. Harriman (1891-1986) Nhưng tội nghiệp thay khi những người có dính dấp vào cuộc chiến VN như chúng ta đã hoàn toàn nằm xuống thì lúc đó danh dự của hơn 58.000 binh sỉ Mỷ đả hy-sinh cho cuộc chiến Việt Nam mới được vinh danh và mặc cãm Hội chứng Việt Nam không còn nữa!
              Chúng ta nên hiểu rằng đa số dân Mỹ muốn tập trung vào các vấn đề quốc nội, gạt ra các vấn đề của thế giới, nhưng bây giờ đã quá trễ! sự thật không phải là trể? Không hẳn là vậy đã có Permanent Government chú tâm về chiến lược toàn cầu để Hoa Kỳ luôn luôn là cường quốc số một hơn 100 năm qua; Nếu đơn thuần là người dân Mỹ thì họ chỉ biết rút ra cái gai (Cuba) ngang hông nước Mỹ cho đở nhột ngứa, nhưng trái lại P.G là lo kiếm chuyện gây chiến ở xa để giữ an ninh cho lục địa Mỷ Châu, còn CS Cuba Hoa Kỳ chẳng thèm để ý tới mà thật ra có như vậy mới hù dọa dân Mỹ khi đóng thuế bớt có ồn ào
              Theo dự báo mỗi sách-lược từng giai đoạn 100 năm số phận của nhiều quốc gia, xem quốc gia Hoa Kỳ này sẽ lên hay xuống, họ tự hào và đã chứng minh trên 100 năm nay rồi, nước Mỹ vẩn chễm chệ trên ngôi vị số một bỏ xa các nước khác là biết chọn đàn em số HAI theo từng thời điễm chiến lược, lúc thì Nga, lúc thí Trung Quốc cứ thay phiên mà phù trợ quyền lợi cho Mỹ để được hưởng phồn vinh về kinh tế, nhưng đoạn cuối 10 năm 2010-2020 thì Hoa Kỳ tìm cách đưa Ấn-Độ lên hạng HAI mà thực tế Ấn Độ chưa đủ khả năng chiếm lỉnh ngôi vị hạng NHÌ.
              Siêu chính phủ Mỹ (permanent government) cố tình đưa đẩy nước mình đôi khi mang tiếng là thua trận, xa lầy, bị ghét bỏ, nước nào cũng thích Dollar Mỹ, nhưng lại không ưa Mỹ, thậm chí còn hận thù suốt lịch sữ như Nhựt mà vẩn phải ôm chưn Mỹ mà sống không thì dẫy chết ngay. Lấy một ví dụ dễ hiểu, ông Mỹ khuyên ông Nhựt nên mở các xưởng xe hơi tại Mỹ cho đở mất thời gian tính, chuyển bằng kéo xà lang rất nguy hiễm thay vì thiết lập tại Mỹ thì tiện lợi hơn. Được ông Nhựt trả lời: Người Nhựt làm việc siêng năng, có lương tâm mà lại ít đòi hỏi tăng lương yêu sách, dĩ nhiên ông Nhựt có lý, ông Mỹ nín khe. Nhưng một thời gian sau thấy hảng xưởng xe Nhựt mọc đầy nước Mỹ. Như vậy mới biết Mỹ nó có quyền năng như thế nào. Bây giờ 10 năm sau cùng theo lộ-đồ Mỹ đang dìm TQ xuống theo lịch trình định thời điểm phải tước đoạt ngôi vị hạng NHÌ của TQ
              Trong giai đoạn 10 năm sau cùng của chiến lược Eurasian, tôi cho rằng các diễn biến trên thế giới trong 10 năm nữa tùy thuộc vào tài lãnh đạo của người nào giữ vai Tổng thống của Hoa Kỳ? không phải vậy mà nên nhớ một câu, nhân ngày sinh nhựt thứ 90 (26/7/1981) của chiến lược gia William Averell Harriman, người em cuối cùng của dòng họ Kennedy (Edward Kennedy): Chúng ta sẽ sống trong thế kỷ 21 được an toàn nhờ có mưu trí của Harriman trong thế kỹ đầy bạo loạn vừa qua.
              Chúng ta tạm cho rằng tài lãnh đạo của ông Harriman này là cần thiết và được dựa trên những lý tưởng và sự nắm vững vai trò của Hoa Kỳ trên thế giới, trong tư cách là cường quốc duy nhất của thế giới, Ông ví Hoa Kỳ giống như Rome cỗ xưa, nơi mà chế độ cộng hòa mất đi trong lúc chế độ đế quốc bành trướng. Harriman cho rằng đa số dân Mỹ muốn tập trung vào các vấn đề quốc nội, gạt ra các vấn đề của thế giới, nhưng bây giờ đã quá trễ “Thế giới dường như là một gánh nặng, và là một gánh nặng vô ơn đối với ông; nhiều người Mỹ không muốn dính vào các vấn đề của thế giới; nhưng cái khó bây giờ là không thể nào rút lui được, như đả lở lên lưng Cọp”
              Ông Harriman không tin là rồi đây Trung Quốc sẽ qua mặt Hoa Kỳ để trở thành nước lãnh đạo thế giới vì OSS rồi CIA đả phá tan ngũ tạn lục phủ của LX kể cả TQ bằng đồng Dollar viện trợ (điểm yếu LX thì nhờ cậy lúa Mì, còn TQ nhờ cậy khoa học kỷ thuật)
              “Chúng ta đừng quên người Trung Quốc cho nước Mỹ vay tiền một cách vui vẻ, hay nói chính xác hơn, họ thà mua trái phiếu của Mỹ, dù lãi chẳng bao nhiêu, như vất đi, còn hơn là đầu tư ngay tại nước họ. Trung Quốc là một quốc gia có vấn đề sâu rộng, Họ có một tỷ lệ cao về số người sống trong nghèo khổ và trong những năm sắp tới, Trung Quốc sẽ bị chìm ngập trong các cuộc khủng hoảng nội địa.” (phần lớn do Mỹ có kế hoặch phá hoại như Tân Cương, các dân tộc gốc Hồi, Tây Tạng giúp Đức Đạt Lai bằng cách thả dù tiếp tế cho kháng chiến quân của Đức Đạt Lai từ 1959, giúp Mao Trạch Đông thống nhứt Trung Hoa 1949 bằng cách cưỡng bức Tưởng Giới Thạch và đồng bọn ra Đài Loan, cũng như giúp thống nhứt Việt Nam qua công cụ gián tiếp Lê Đức Thọ bằng CIA cưỡng bức TT Thiệu phải qua Đài Loan y chang Tưởng thống chế để cho Hà Nội cưỡng chiếm miền nam [điễm mốc: Decent Interval 1949, 1975] Decent Interval: An Insider's Account of Saigon's Indecent End Told by the CIA's Chief Strategy Analyst in Vietnam (9780700612130): Frank Snepp: ...
              https://www.amazon.com/Decent-Interv...ndecent-Strate.


              Một nước mà Harriman nghĩ có thể làm đau đầu Hoa Kỳ là Mexico vì tệ nạn ma túy;
              Trong sách lược của Mỹ, Harriman nói một điều mà có lẽ nhiều người tuân hành luật pháp phải chau mày, vì chính ông đã sáng lập Permanent Government 1920, và Đảng hội Skull and Bones. Ông cho rằng những tổng thống giỏi nhất của nước Mỹ thường là những người đôi khi vi-phạm Hiến-Quyền mà họ thề bảo vệ, và lương thiện không phải lúc nào cũng là tính tốt nhất; Đó là mặt nổi còn mặt chìm là do Permanent Government giựt dây mà tổng thống chỉ là người quản-lý tồi nhứt cho đất nước vào một thời gian nhiệm kỳ ấn định. Nước Mỹ như một lâu đài hải đăng đã dựng bởi một nền móng vững chắc từ 1920 cho đến 1963 (TT Kennedy) rồi 1969 (TT Johnson) 1974 (TT Nixon) là những chướng ngại vật như một hòn đá tảng chận ngay bánh xe lịch sử Hoa Kỳ, nên phải bị siêu chính phủ cương quyết dùng đòn bẩy nại ra khỏi con đường mà nước Mỹ đang phát triển (Toà hải đăng nầy đã xây gần xong không thể đạp đổ để xây lại, vì thế phải hy sinh các vị tổng thống nầy cho sách lược toàn cầu của Mỹ vì chính họ là những người đang thọc gậy bánh xe?)
              Chúng ta hảy lấy vài thí dụ của các tổng thống Abraham Lincoln, Franklin Roosevelt và Ronald Reagan, tất cả đều thành công khi dùng chiến thuật thực tiễn, nhưng nhiều khi lạnh lùng, như đã được Niccolo Machiavelli, nhà tư tưởng thời Phục Hưng của Ý, đề ra:
              “Một tổng thống theo thuyết của Machiavelli là người trong thâm tâm có căn bản đạo đức tốt; nhưng đôi khi họ cũng hiểu rằng cần phải hành sử quyền lực của mình thì mới phục vụ được mục tiêu đạo đức. Cả ba tổng thống này đều làm chủ được những tình huống đặc biệt và đều thoát nạn, (không giống như TT Ngô Đình Diệm) Họ là những tổng thống tuyệt vời, nhưng không người nào được đánh giá là lương thiện, thẳng thắn, hoặc thậm chí là hợp pháp” cũng vì Permanent Government đứng sau hậu trường giựt dây buộc họ phải răm rắp tuân theo
              Mặc dù sự điêu luyện huyền biến của Harriman, nhưng vẩn nhận được nhiều lời chỉ trích, nó có nhiều phần chắc vẫn được nhiều chuyên viên về chính sách đối ngoại nghiền ngẫm để hướng dẫn tư duy và hành động của họ trong một thế giới đầy nguy hiểm trong tương lai. Vì những định luật thật bình thường “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời, được gọi là đổi đời” xa hơn nữa lịch sử nhân loại đả chứng minh không có sự trường tồn của một đại-đế: từ 27BC đế AD395, Đại đế La Mả tự hủy diệt dù rằng không nước nào vật ngã nó, Genghis Khan 1162-1227 người dựng nên Mông Cổ, Nả Phá Luân 1769-1821, Đế quốc Pháp 1804-1815, Hitler và quân phiệt Nhựt 1933-1945, Cộng Sản, 1917 đến 30/5?1987 là xụp đổ. Tại sao tôi cho là năm nầy (1987) vì rằng ngày nầy là ngày thành công nhứt của CIA dưới triều đại thứ-2 Skull and Bones, mà người thủ lảnh là George H W Bush đương kim Phó TT cho TT Reagan đã khuyến dụ được Gorbachev lật đổ từ hạ tầng đến thượng tầng đảng viên CS nhờ vụ Scandal thằng bé Matthias Rust lái một phi cơ nhỏ đáp xuống ngay Quảng Trường Đỏ (Moscow Red Plaza) Đó là nguyên nhân Gorbachev cách chức các ĐCS ăn hại để tuần tự đi thẳng vào tổng thống chế.
              BIỂN ĐÔNG GIAI ĐOẠN KẾT THÚC
              Hiện rỏ sách lược 10 năm sau cùng Eurasian Great Game, bắt đầu điểm mốc thời gian 2010, đại diện Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nói chi tiết hóa, Mỹ mong muốn các quốc gia tìm được một giải pháp "hợp lý và hòa bình" cho các tranh chấp Biển Đông, hay nói cách khác 10 năm hạ bệ TQ tách khỏi chiếc ghế siêu cường hạng NHÌ theo như thế chiến lược TAM QUỐC CHÍ tân thời mà Mỹ là đạo diển thế chủ động.
              Căn-cứ vào điểm mốc thời gian sách lược 100 năm 1920-2020 - Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ chuyên trách khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Kurt Campbell, nói: "Chính sách của chúng tôi trước sau vẫn là mong muốn thấy tiến trình (tìm giải pháp) được tiếp tục giữa các quốc gia liên quan, Chúng tôi tin rằng Hiệp hội Asean có vai trò chủ chốt trong tiến trình này."
              Ông Campbell đã có phát biểu tại một cuộc họp báo nhân đối thoại Chiến lược song phương Hoa Kỳ-Philippines tổ chức tại Manila vừa qua. Ông thứ trưởng nói thêm rằng Biển Đông giữ vai trò tối quan trọng trên bản đồ chính trị và thương mại quốc tế, và Mỹ mong rằng các tranh chấp lãnh thổ có thể được giải quyết một cách hòa bình. "Tôi nghĩ là dư luận đa số công nhận rằng Biển Đông là con đường hàng hải quan trọng và tầm quan trọng này sẽ còn gia tăng trong thời gian tới." Ông Campbell nhấn mạnh: "Hoa Kỳ có mối quan tâm chiến lược trong vấn đề Biển Đông. Các vấn đề tại đây phải được giải quyết một cách hợp pháp và hòa bình."
              Tam giác quyền lực - Năm ngoái, tuyên bố tại Hà Nội của Ngoại trưởng Hillary Clinton về quan tâm "chiến lược" của Mỹ tại Biển Đông đã khiến Trung Quốc nổi giận. Báo chí Trung Quốc sau đăng nhiều bài chỉ trích chính sách can thiệp của Mỹ, nói tranh chấp lãnh thổ là giữa các quốc gia liên quan và phải được giải quyết bằng đàm phán song phương. Philippines, Trung Quốc và Việt Nam hiện đang có tranh chấp chủ quyền tại quần đảo Trường Sa. Lần này, với phát biểu của thứ trưởng Campbell, Hoa Kỳ cho thấy không thay đổi thái độ đối với các diễn tiến tại khu vực này. Mỹ cũng vừa cam kết sẽ trợ giúp Philippines tăng cường năng lực quốc phòng trên biển. Hả́i quân Hoa Kỳ sẽ giúp hải quân Philippines trong các hoạt động tuần tra trong tương lai và VN cũng vậy, Mỹ tìm cách tháo khoán lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN, có nghĩa viện trợ thẳng cho VN, loại bỏ cái vụ đưa tiến ngả sau cho Nga, Ấn, Nhựt như chuyện Lưu Bình Dương Lễ.
              Tuần trước, trước cuộc họp ngoại trưởng Trung Quốc và Asean tại Côn Minh, Đại sứ Trung Quốc tại Asean cảnh báo khối Đông Nam Á không nên để chủ đề Biển Đông làm xấu quan hệ giữa hai bên. Đại sứ Đồng Hiểu Linh nói một số thế lực đang muốn tranh chấp lãnh thổ Biển Đông trở thành cái gai trong quan hệ giữa Trung Quốc và Asean, nhưng Trung Quốc hy vọng các nước Asean sẽ không để bị lôi kéo. Giới phân tích cho rằng phát biểu của bà Đồng Hiểu Linh nhằm ám chỉ Hoa Kỳ là đúng quá chớ gì?

              Lịch sử loài người đả thể nghiệm: khả năng dối gạt quần chúng là căn nguyên giúp cho chế độ độc tài các loại ra đời và tồn tại, chừng nào khả năng dối gạt kia bị triệt tiêu, chừng đó chế độ độc tài phải ra đi (Nhóm học giả của Harriman tin tưởng vào khoa học kỹ thuật qua truyền thông tư tưởng “Internet” Cộng sản sẽ thua vì không lừa bịp được thế giới) Vì tự do truyền thông là kẻ thù nguy hiểm hàng đầu của mọi hành động dối gạt. Vì vậy từ vài thập niên kiên qua hệ thống ‘Internet’ phổ biến rộng khắp cho loài người tiến bộ nắm vững sự hiểu biết qua nhiều hình thái đa dạng, cùng trao đổi những cuộc đối thoại hửu ích như vậy, vừa làm cho tư tưởng tự do dân chủ lớn mạnh và cùng vừa mở đường cho những tin tức mà Cộng Sản muốn giấu nhẹm. Sinh mạng chính trị của chế độ Cộng Sản nhanh chóng đi vào chổ diệt vong; Triết học có câu: “Người ta có thể dối gạt một thiểu số người trong một thời gian dài, người ta có thể dối gạt mọi người trong một thời gian ngắn; nhưng chắc chắn người ta không thế nào dối gạt mọi người trong thời gian vỉnh cửu được!”
              Thế nên, Miền Nam với lý tưởng hiền hòa trong tình thương dân tộc, như đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo phải là chiến thắng trong lòng dân tộc! Một cuộc chiến thắng kỳ diệu qua giao du tư tưởng sẽ chứng minh vào đoạn kết 2023! [50 năm lính Mỹ ra đi] Nhưng oan nghiệt thay, vì căn cứ trên định-kiến-1, bằng mọi giá phải bảo vệ xa lộ huyết mạch Harriman (HCM) cho mục tiêu vì quyền lợi sống còn của Đảng Công Ty WIB; Harriman, hơn ai hết phải ẩn danh trong ngôi vị thứ Ba của Bộ ngoại giao vì giai đoạn nầy sẽ gây nên biết bao thãm trạng đau thương không những cho nhân dân ba nước Đông Dương mà bắt buộc quân đội tác chiến Mỹ phải thực tập tác chiến trên chiến trường Việt Nam, hầu phát triển kỹ nghệ chiến tranh trong cái thế “Khổ-nhục-kế.” Ai biết được quân đội Mỹ bị gò bó hy sinh trong cuộc chiến vì quyền lợi bảo vệ thềm lục địa có trử lượng dầu khí cho công ty dầu hỏa Mỹ sau nầy khai thác: Vì thế 58.000 lính Mỹ hy sinh cho quyền lợi Mỹ [American First] Trong tư tưởng của Harriman, biến thế giới chỉ còn một hảng-xưởng duy nhất, và người công nhân phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt mới kiếm được đồng tiền, thì tại sao người quân nhân không đổi chút đỉnh xương máu để lảnh được đồng dollar? SCP ngứa mắt khi nhìn thấy quân đội Mỹ tập trận giả tại quê nhà; Người lính tập trận rất ưa thích được gạch phấn trước ngực, hoặc sau lưng, xem như bị loại ra khỏi vòng chiến đấu để về du hí với gia đình; Chiến tranh Việt Nam cũng rất cần thiết cho Liên Xô và Hoa Kỳ tiêu dùng các chiến cụ lổi thời để cùng phát triển vủ khí chiến tranh mới, nhưng điều quang trọng là chọn thao trường cách xa hai quốc gia nầy; theo như nội dung đã diển tả trong hai tác phẩm “Peace with Russia” và “America and Russia in a Changing World” của đồng tác giả W.A. Harriman.

              Vì thế Tôi tự cho đây là “Trục Ma Quỷ” Nhưng ngược lại dòng họ Kennedy lại muốn chiến thắng Cộng Sản bắng con đường Vương-đạo Dân-chủ Dân-quyền. Sau một loạt thiết lập các Đoàn 559, 759, 959 và sau cùng là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam về phí Hà Nội đã xong, đồng thời 1960 Liên Xô rút Cố-vân ra khỏi Trung Quốc; Đến phía Hoa Kỳ, 1960, thiết lập loại huy chương cho quân đội tác chiến Mỹ tham chiến tại VN, gọi là “VN chiến dịch bội tinh”
              1961 chuẩn bị sản xuất vài tỷ hộp C-Ration cho khoản 3 triệu lính Mỹ thay phiên mỗi năm qua tham chiến, thiết lập CIP, “kế hoặch chống nổi dậy” để phát triển kỹ nghệ quốc phòng. Harriman ra lệnh cho CIA thả Biệt Kích thâm nhập vào đường mòn HCM không phải để chống phá mà để xác định sự có mặt ở phía Hà Nội có thật tình cùng chơi trò chơi chiến tranh nầy hay không ? Các Toán thám sát bèn thả vào biên giới Lào như Attopeu, Saravan, Tchepone…và tất cả các Toán điều xác nhận có quân Bắc Việt hiện diện nơi đó. Toán biệt kích nầy không được phép đụng trận mà chỉ có nhiệm vụ ẩn núp quan sát lấy tin tức rồi bóc về. Quân đội Mỹ không được qua biên giới Lào và Cambodia nhưng sẽ chờ cơ hội để tạo ra vụ sự kiện Vịnh Bắc Việt trước đã rồi mới gởi quân Mỹ tham chiến chính thức sau. Harriman cần phế thải “hàng tiêu dùng” như các phi cơ phản lực lổi thời của Mỹ dự trù không xa lắm sẽ kiếm cớ để oanh kích Hà Nội hầu dần dần tiêu hủy chúng theo định luật xuất khẩu thì phải được tiêu dùng.
              Song song với oanh tạc Bắc Việt ở trong Nam biệt kích Mỹ rất thành công trong các cuộc thám sát biên giới Lào, trên con đường Mòn HCM. Các cuộc hành quân rất thành công về phương diện chiến thuật nhưng lại không hài lòng Harriman về mặt chiến lược, vì phương châm của Harriman “Everything worked but nothing worked enough” có nghĩa mọi binh chủng đều phải luyện tập chớ không phải để chiến thắng. Nên họ đỗi lại, thay vì mổi Toán thám sát có 2 người Mỹ và 8 người biệt kích LLĐB, thì họ lại thế 8 người Lính Thượng, ở chỗ 8 người lính yêu nước của LLÐB miền Nam, mà họ gọi là ‘Yard’. Người lính Thượng tuy không rành về hướng dẩn mục tiêu, đọc tọa độ, xem bản đồ, ít học nhưng rất cần thiết khi họ khám phá được các kho vủ khí khổng lồ như hoả tiển 122 và 107 ly, kho đạn … họ không bao giờ phá hủy nếu không có lệnh của người Mỹ đi theo. Nhưng nếu là biệt kích Việt Nam thì họ lại không cần báo cáo mà nhứt quyết phá hủy ngay tại chổ liền tức khắc; Harriman lại không thích phá hủy, vì làm như vậy chỉ gây thất vọng và trì hoản công việc chiếm lỉnh miền Nam của Hà-Nội đúng theo thời-gian điểm-mốc của lộ trình. (Tướng Ðổ Cao Trí phải hy sinh vì phá hủy một số lớn quân-cụ của CSBV tại Cục-R, vi phạm Rule Of Engagement) theo như kế hoặch thời gian đã dự trù.
              Vì thế hậu quả Biệt kích Mỹ đi theo lính Thượng bắt đầu bị thương vong gia tăng trầm trọng, khác hẳn không gặt hái được nhiều hiệu quả và an-toàn khi làm việc cùng với LLĐB Việt Nam. Dưới đây, Tôi nêu ra vài dẩn chứng đau thương đối với Hạ sỉ quan biệt kíck Mỹ SOG, cũng như các phi công Mỹ lâm nạn khi oanh tạc miến Bắc bị hành hạ như thế nào qua khổ nhục-kế: Một sỉ quan Bắc Việt nói tiếng Anh khá thông thạo nói với Glenn “Mầy hảy nhìn cho thật kỷ đây” Rồi toán Lính Bắc Việt mổ banh bụng của Paul Miguez đang bị cột treo đứng, cả chùm ruột Miguezs rơi xuống đất; người sỉ quan nầy bèn cầm cây đuốc trên tay của một lính Bắc Việt nhũi vào bao tử của Miguezs và thiêu sống một cách kinh hoàng giữa tám con mắt của Toán Yard thám sát. Người sỉ quan Bắc Việt nói với Glenn: Mầy nên về nói với những thằng bạn của mầy rằng: những gì mầy đang chứng kiến ở đây sẽ xảy ra nếu mấy thằng bạn mầy lẻo hánh đến đây…Mầy nhắc rỏ tụi nó, nơi đây, đường 559 tụi tao sẳn sàng chờ đón tụi bây bất cứ giờ nào khi tụi bây nhảy xuống đây!
              Một số Toán viên khác không tin chuyện nầy là có thật dù rằng Glenn chắc chắn chuyện xảy ra trước mắt hắn chớ không phải chiêm bao! Một trung tá mủ nồi xanh Mỹ với phù hiệu ở Vùng 1 cho rằng Glenn nhát như con thỏ đế khi đến thăm viếng trại của Glenn, ông cầm ống điếu đưa về phía Zabitosky và nói Zabitosky kể lại sự việc đả qua khi phi cơ đáp xuống cứu họ. Zabitosky nói lúc đáp xuống trực thăng cũng bị phục kích với không biết bao nhiêu vết đạn; Viên Trung-tá Mỹ nầy mắng chửi: “thứ cái đồ chết nhát…tại sao phi công không sợ chết can đảm vào cứu các anh?” Zabitosky tức khí trả lời: “ngày mai chúng tôi vào lấy xác với ba người Mỹ và ba người Yards…Trung Tá có ngon thì cùng đi thâm nhập với chúng tôi, để lấy cảm giác lần đầu tiên Trung-tá qua Việt Nam và dự cuộc chiến đầu tiên!”, và tôi ước muốn Trung-tá đi chuyến lead cùng với tôi với ít bao nylon đựng xác chết và đạn dược cần thiết!”
              Nhưng khi sắp đáp, có tiếng AK khắp nơi, ông không dám xuống chỉ để cho Zabitosky và cácYards nhảy xuống mà thôi; Rốt cuộc Zabitosky vẫn là người chỉ huy Toán duy nhứt và ít ra cũng tỏ tính anh hùng hơn vị Trung-tá nầy. May mắn thay, vào lúc nầy, một H-34 Queen Bee khác đang tìm được One-One Pilton và đáp xuống cứu ngay; Trong khi Zabitosky phải dẩn toán chạy về đường củ tìm kiếm thi hài Paul Miguezs, theo lối mòn lên trên đỉnh đồi, nơi Toán bị phục kích vào khoảng 600 thước với đồ đạt vung vải khắp mọi nơi. Xa hơn đây một chút, chúng tìm thấy cây đuốc đốt Miguezs đã nằm lẩn trên lớp cỏ, bên cạnh có một vật bầy nhầy như bộ đồ lòng của Miguezs; Zabitosky lẩm bẩm, lính BắcViệt lại giết một cách tàn nhẩn một người không có vủ khí trên tay. Và đây là lần đầu tiên trong đời hắn chứng kiến một điều mà hắn không thể tưởng tượng nổi; bên cạnh xác chết Miguezs còn có vài xác chết của lính Thượng Yard cũng bị đốt cháy khét nghẹt; Nhưng nơi đây vẫn còn áp lực của địch nên đành bỏ lại các thi hài của Yard mà chỉ đem theo xác của Miguezs về trại. Về đến nhà, có lẻ phi công đả báo cáo cho bộ chỉ huy, nên viên Trung-tá chết nhát thứ thiệt nầy đã bị tống ra khỏi đơn vị Delta Force. Biệt kích Miguezs bị đốt sống cho đến chết đã được truy tặng huy chương ‘Distinguished Service Cross’
              Tháng Sáu 1967, một Toán Hatchet Force được thả xuống để thám sát Căn-cứ Tiền-phương của Đoàn 559 tại chân núi Tam Bôi. Trên sàn trực thăng Trung-úy Jerson được khiêng lên nằm rủ trên sàn tàu, bên cạnh là người hùng Howard đang bập-bập một điếu thuốc do anh cơ-phi mồi sẳn nhét vào miệng hắn cùng với vài cái vổ vai thán phục; Nhưng trong tâm tưởng Howard vẫn còn luyến tiếc vì bỏ lại các chiến hửu Yards của mình trên chiến địa mà không thể mang về được. Đến khi Howard hoàn hồn tỉnh lại thì biết mình đang nằm tại bệnh viện với băng bó khắp nơi trên thân thể, trên mặt hắn trét đầy loại thuốc dầu mở sát trùng; nằm cạnh bên là xác trung úy Jim Jerson đả chết; không ai chuyền được tin tức nầy cho gia đình Jerson và Robert Scherdin biết. Đại úy Ed.Lesesne đang đề nghị cho Howard huy chương danh-dự hạng nhất của Hoa Kỳ lần thứ Ba (Medal of Honor) Nhưng đáng buồn thay, những sự hy sinh cao cả của Howard không được dân chúng Hoa-kỳ hoan nghinh, Howard đả tình nguyện qua chiến đấu tại Việt Nam những 5 lần, và mọi lần đều ở đơn vị SOG. Trong khi 1955 các trường học được các học sinh nhắc nhở đến những anh hùng dân tộc như Alvin, Audie Murphy, nhưng vào năm 1970, con người đầy vết thẹo thương tích như Howard thì không được ai ngó ngàng tới. Thật vô cùng bất công!
              Và trớ trêu thay, con người như Trung-úy John F Kerrey với ba lần bị thương nhưng không chảy máu, không nằm nhà thương mà lại sanh lòng phản lại sự hy sinh của đồng đội cho hư danh huyền ảo, thì đang được dân chúng xem như một thần tượng của phong trào phản chiến hiện tại! Trong khi những chiến hửu của Kerry phải chịu cái cảnh hành hạ cũa bọn cai tù Hà Nội; Ðiển hình trường hợp của phi công [Thượng nghị sĩ] John McCain, Họ chào mừng cha ông là Tư lệnh Ðệ-7 hạm đội đương thời bằng một ấn tượng tuyên truyền gây chú ý là trả tự do cho con trai của ông và coi đó như một hành động “thiện chí.” Hai tháng trôi qua, không có gì xẩy ra; Và những đợt hành hạ lại bắt đầu – Phi công McCain bị lôi vào trong căn phòng trống và giam ở đó bốn ngày; Từng đợt, bọn cai tù trở lại đánh đập McCain một cách vô cùng tàn nhẩn. Một tên giữ McCain cho những tên khác đánh đập túi bụi; McCain bị gảy mấy xương sườn và hai cái răng. Suy nhược vì bị đánh đập và kiết lỵ, chân của McCain lại trở nên vô dụng, do đó McCain không thể đứng được. Tới đêm thứ Ba thì McCain nằm trên máu, phân và nước tiểu của mình, vì mệt mỏi và đau đớn, McCain không thể nhúc nhích, chuyển động được; Ba tên cai-tù đở cho McCain đứng dậy rồi chúng đánh McCain cực kỳ khũng khiếp; Chúng để McCain nằm trên sàn nhà rên-rĩ vì cực kỳ đau đớn ở cánh tay lại mới bị gảy ra. Tuyệt vọng vì đau đớn không thuyên giảm và tra tấn thì tàn bạo hơn; McCain cố ý tự sát để khỏi phải quá đau đớn. Sau vài lần cố gắng không thành, McCain tìm cách để đứng dậy; Lật úp cái Bô đựng phân và nước tiểu để lấy thế tăng chìu cao; McCain đứng lên trên cái Bô, níu vào tường bằng cánh tay còn lành. Ông luồn cái áo qua cái cửa chốt và buộc thành cái thòng lọng, khi Ông đang lồng cái vòng ấy vào cổ, tên cai-tù nhìn thấy cái áo của ông luồn qua cửa sổ, hắn liền kéo ông xuống và đánh đập một trận thật tàn nhẩn; vẫn nuôi ý nghĩ tự sát, sau đó ông lại làm lần thứ hai, một cố gắng tự sát nhẹ nhàng hơn. Vào ngày thứ Tư, ông đành chịu thua vì nợ trần gian chưa trả hết
              McCain đã ký vào bản tự-khai thú nhận rằng: “Tôi là một tên tội phạm độc hại, và Tôi đã thực hiện những công việc của một phi công” Tụi cán bộ bắt buộc ông cho thâu lời thú tội nầy vào trong băng ghi âm. ông cực lực từ chối, dỉ nhiên ông bị tra tấn cho đến chừng nào ông chịu ghi vào thâu băng; Ðó là hai tuần lễ kinh hoàng nhứt trong đời McCain, ông rùn mình, như thế sự nhục nhả của ông là một cơn sốt, và ông nghĩ tủi nhục sẽ không ai nhìn thấy ông nữa, ngoại trừ trong sự thương hại hoặc khinh bỉ. Người Cộng sản dường như không bao giờ bận tâm tới việc làm thương tổn tới đến kẻ thù Ðế quốc, nhưng họ luôn luôn thận trọng không để người phi công Mỹ bị chết vì cần sự đổi chác; Nhưng sự bí mật đã hé mở là có một số phi công Hoa Kỳ bị tra tấn tới chết và hầu hết là bị đối xử dã man nhứt trong lịch sử loài người. Nhưng cô đào ciné Jane Fonda, với đặc vụ phản tình báo thì một mực phủ nhận sự tàn ác nầy vì đây là kế hoặch chiến lược “Khổ nhục kế” nhưng lại dành riêng cho những đứa con ưu tú của Hoa kỳ nhập cuộc! Thật tội nghiệp thay! Có một người, Dick Stratton, có những vết sẹo lớn bị nhiểm độc trên hai cánh tay vì bị tra tấn bằng dây thừng. Hai móng tay Cái bị xé rách toạc ra, và ông bị châm bõng bằng thuốc lá. Tuy nhiên, người Cộng Sản đánh giá các phi công như những con bài để mặc cả trong vấn đề thương lượng hòa bình, và thường thì Hà Nội không có ý định giết, nhưng chẳng may mạnh tay nên chết. Các phi công được triệt để khai thác bằng cách hợp tác để tuyên truyền nếu không muốn bị tra tấn dã man; Sau cuộc đổ quân giải cứu tù binh ở Sơn Tây, bằng trực thăng CH-54, cách Hà Nội không xa lắm, hàm ý nếu không tập trung tù binh Mỹ vào một chỗ (Hilton Hỏa Lò) và nuôi dưởng đàn hoàn thì mạng sống của Bộ chính trị Cộng Sản sẽ không có gì bảo đảm: Hậu quả những sự đánh đập tàn nhẩn được Liên Xô áp lực phía Hà Nội phải ngừng lại tức khắc, cũng ngay sau khi Kissinger rời Moscow thông báo mật kế Pennsylvania. (Ðịnh đề-1: Axiom-1) Thỉnh thoảng tù binh Mỹ được những khẩu phần khá hơn, thêm nhiều thịt cá hơn, bớt phần rau Muống xuống hoàn toàn con số không; Vì những thơ từ của tù binh thoát được về Mỹ qua phóng viên các nước Cộng Sản được tù binh tiết lộ rằng: “Ngày nào Hà Nội cũng cho Tù ăn Cỏ!” (Vì Rau Muốn Tù Mỹ cho là Cỏ) Hoàn cảnh tù binh không còn thãm khốc như những năm trước đó nữa; Ðể rồi sau một thời gian bắt người chiến binh Mỹ phải chịu thãm trạng “khổ nhục kế” cho quyền lợi của bọn Ðại tư bản. Tháng Ba, năm 1973, tất cã Tù binh Mỹ được thả thể hiện qua định-đề-3 của Harriman (the U.S. could not have won the war under any circumstances) chấm dứt trò chơi chiến tranh.
              Có ai hiểu được 327 biệt kích Mỹ SOG bị coi như mất tích [MIA] nhưng phía Hà Nội chỉ giao có 10 người thì chúng ta cũng hiểu rằng, khi bị bắt họ bị làm thịt ngay tại chỗ vì lính Bắc Việt rất sợ sự nhanh nhẹn phản ứng khi trốn chạy, sẽ lôi thêm nhiều thiệt hại cho đồng bọn, chỉ trừ khi Toán biệt kích bị bắt tại đơn vị cấp Tiểu đoàn trở lên thì mới được Chính ủy đem về Bắc. Các chiến sĩ Hoa Kỳ được dạy dỗ phải có niềm tin nơi Thượng đế, nơi Tổ quốc, và tình huynh đệ chi binh; Hầu hết các chiến sĩ chiến đấu cho tự do nầy đã sống chiến đấu hào hùng như vậy. Nhưng điều cuối cùng của những niềm tin nầy – niềm tin vào nhau như chúng tôi đã bị tù ở ngoài Bắc – là vũ khí phòng vệ tối hậu của thân phận những người tù, là nhũng thành lủy mà Cộng Sản không thể vượt qua được; Ðó là niềm tin của người Tù đã ấp-ủ từ trong học-viện sĩ quan. Ðó là niềm tin yêu tổ quốc; Trong nhà Tù, chúng tôi là người dơ-dáy, què quặt, suy nhược, tất cả những gì chúng tôi còn giữ lại trong phẫm hạnh của niềm tin, xuất phát từ nơi truyền thống yêu thương, và tình cảm dân tộc. Và chính cái đó là một chiến thắng sau cùng của chúng tôi qua niềm tin yêu từ trong lòng dân tộc truyền lại cho con cháu đời sau noi theo … “Miền Nam sẽ thắng!” Chỉ vì chiến cụ làm ra cho thế chiến 2 vẫn còn tồn kho quá nhiều dù rằng quân đội Pháp và quân đội Mỹ đã xử dụng trong hai cuộc chiến tranh Đông Dương và Triều Tiên; Đặc biệt, trong chiến tranh Triều Tiên, Harriman đại diện cho Đảng Công Ty WIB đả áp lực thành công trong cuộc họp 68-Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (NSC-68 United States Objectives and Programs for National Security) mục tiêu và kế hoặch an ninh cho Hoa Kỳ, có nghĩa là TT Truman chấp thuận hàng tỷ dollar chi tiêu vũ trang cho Bộ quốc phòng, gồm có tân thế hệ phản lực cơ khu trục như F.84, F.86, F.100…còn phía Liên Xô như MIG 15, 17, 19. Trục Ma Quỷ lấy bầu trời Triều Tiên làm nơi trắc-nghiệm để tiếp nối hàng tiêu dùng mới phát triển nầy phải được xử dụng tại chiến trường Việt Nam cùng với một số ít chiến cụ còn lại sau ba cuộc chiến vừa qua; Dỉ nhiên cuộc chiến phải kéo dài để tiêu xài chúng cho hết và cũng cùng Liên Xô sản xuất phát triển thêm nữa kỷ nghệ chiến tranh qua thế hệ hoả-tiển phòng không và vủ khí chống lại hệ thống phòng không; Những việc làm cấu kết với kẻ thù đã đưa vào ống kính của giòng họ Kennedy khi ông còn là Thượng Nghị Sỉ. Nếu Kennedy được bầu làm tổng thống thì ông sẽ lập lại những gì mà TT Roosevelt đả buộc tội đóng cửa nhà băng Union Banking Corporation và tịch thu tài sản của giòng họ Harriman và Prescott Bush cùng những người có cổ phần vì vi phạm hiến quyền làm ăn với kẻ thù (trading with the enemy Act 1941)

              (Còn tiếp)

              Comment

              • vinhtruong
                Super Member
                • Jun 2010
                • 1924

                #22
                Cơn uất của phi công Mỹ oanh tạc Bắc Việt

                Hơn ai hết, Harriman hiểu rỏ hậu quả của cuộc chiến tàn khốc nầy, nên ông ẩn núp kín đáo trong ngôi vị thứ Ba của Bộ ngoại giao nhưng quyền hạn như một đại đế hoàn-vũ; Bên cạnh đó ông bố trí vây kín TT Kennedy và TT Johnson bằng những thành viên Đảng Skull and Bones để khống chế chính quyền như đọc giả đả đọc những chứng từ ở trên, và nhửng lời đối thoại qua lại của những viên chức cũng như chính khách có thẩm quyền, như anh em Bundy (với ám số Skull and Bones 39 và 40) và các viên chức Bộ quốc phòng cũng như thành viên Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Forrestal. Bởi vì thế giới sẽ nguyền rủa cuộc chiến dơ-bẩn nầy thì tại sao Harriman phải lộ diện như hồi thế chiến 2 hay chiến tranh Triều Tiên? Vì mổi nơi nầy Harriman phải để lại quân Mỹ làm ‘hậu-trạm’ bảo đảm sự an-toàn cho Đồng minh
                Cái siêu quyền lực ngụy trang nầy lại chi tiền dùng công cụ truyền thông văn hóa phối hợp trong khuôn viên đại học để đổ lên đầu vị nguyên thủ quốc gia Hoa Kỳ như: Kennedy đã có những quyết định sai lầm về Việt Nam vì Kennedy không thật sự chú trọng vào vấn đề, còn về phần Johnson thì vì Việt Nam không là ưu tiên của ông ta. Kennedy thường phó thác việc quyết định về Việt Nam cho phụ tá [bị áp lực bởi Skull and Bones] những người thường bất đồng về mục tiêu hoặc đơn giản là thiếu khã năng. Những ký giả được mua chuộc đều lên-án cả hai ông tổng thống không hề dành thì giờ thẩm định chính sách của họ ở Việt Nam với sự cẩn trọng tương xứng.
                Những ký giả nầy đi đến kết luận hồ đồ là, khi lảnh đạo thiếu sáng suốt và quyết tâm thì sai lầm tất nhiên chồng chất. Họ cho rằng một số người vẫn muốn lập luận rằng sự mù mờ ấy chỉ giản dị là dấu hiệu cho thấy Việt Nam không quan trọng đến độ giới lảnh đạo Hoa Kỳ dành hết tâm trí, và chỉ nội việc đó thôi cũng đủ cho thấy lẽ thất bại của cuộc chiến VN. Còn truyền thông văn hóa thì đả đến lúc quân đội Mỹ phải chuẩn bị rút về theo như thế chiến lược khai thác lợi nhuận xong của Đảng Công Ty WIB, rồi họ đi đến lập luận là Việt Nam có đủ quan trọng khiến chính quyền gởi hàng trăm ngàn thanh niên Mỹ vào cỏi chết trên chiến trường xa xôi với sự ủng hộ của dân chúng và Quốc hội? Rồi đi đến kết luận, họ đổ thừa cho chính quyền Kennedy, Johnson thi hành kém cỏi, thì hiển nhiên là một phê phán về phẩm chất của lảnh đạo chỉ huy chứ không về chính sách của quốc gia; Thật là một điều bỉ ổi cho cái quyền lợi hẹp hòi của tập đoàn Triều-đại Công Ty WIB. Tất cả rồi đây phải trả lại sự thật cho lịch sử Hoa Kỳ khi cái tập đoàn Skull and Bones ghê-gớm nầy bị hạ bệ (Tác phẫm “Lê Dương Mới” bằng Anh ngử “The New Legion” sẽ là một phân tử góp phần cho sự minh chứng tương lai lịch sữ, narrative history)

                Trong suốt những năm từ 1961 đến 1967, có nghĩa là chính quyền của Kennedy và Johnson đã đánh mất lợi thế xuất phát từ khã năng quân sự vượt bực qua các suy nghĩ chiến lược kém cỏi và thiếu nghệ thuật chính trị: Sự thật do tay chân của Harriman khống chế không cho Tướng Westmoreland đụng đến đường Xa lộ Harriman dùng để chiếm lĩnh miền Nam theo như định-kiến-1 của chúng, đến nổi Tướng Westmoreland cũng không hiểu nên cứ đổ lổi cho Johnson phản ứng chậm, mất thời gian tính, đúng theo ý đồ của P.G. “Everything worked but nothing worked enough” Chiến tranh Việt Nam cũng như Iraq, hầu hết các Tưởng lảnh tham dự cuộc chiến không hiểu được mục tiêu, hay có hiểu được một cách mù mờ. Làm sao Tướng Westmoreland hiểu nổi Việt Nam chỉ là nơi thao-luyện để tập trận cho quân đội Mỹ hầu tiêu dùng chiến-cụ củ và phát triển vũ khí đời mới, cùng rủ-rê trò chơi chạy đua vũ trang với kẻ thù Liên Xô, nhưng phải có thao trường an toàn, ưu tiên quốc phòng trên chiến trường Triều-Tiên [thế hệ phản lực: MIG-15/F-84] và Việt-Nam cho kinh tế qua phát triển Hành không Dân dụng qua thế hệ Jet engine kể cả trực thăng.

                Họ lừa thế đổ tội những sai lầm tai hại và nổi bật nhất có thể được liệt kê như sau: quyết định của Kennedy vào năm mới nắm chính quyền 1961 (nhưng do cuộc họp ngày 21/9/1960 của NSC) để bàn cải về cái gọi là trung lập hóa Lào nên đã nhường cho địch vùng trú ẩn tại biên giới và các trục giao thông nội biên, nên phải gánh chịu thiệt thòi về chiến lược trong suốt trận chiến, nhưng sự thật chính Harriman là đạo diển về vấn đề trung lập Lào. Vì định-kiến-2 của Harriman mà các ký giả được lệnh chỉ trích quyết định của TT Kennedy khi gia tăng quân số Mỹ tại Việt Nam trong khi ngăn báo chí, truyền thông văn hóa loan tin về việc quân tác chiến Mỹ lâm chiến mà không có ý niệm (lệnh Harriman không cho phép Hoa Kỳ dính líu gì với công pháp quốc tế vế miền Nam Việt Nam) chiến lược nào rỏ ràng ngoài nhiệm vụ “Cố-vấn”, điều nầy gây ra một tiền lệ nguy hại cho việc tham chiến không có chủ đích rỏ rệt và minh bạch với dân chúng. Quái đảng nhứt là trong vụ đổ thừa hửu lý cho rằng TT Kennedy dùng vỏ lực thô bạo để đảo chánh TT Diệm, vì vậy đã loại trừ một nhà lảnh đạo Việt Nam chống Cộng khá nhứt, quả thực một hành động ném đá dấu tay rất tinh vi và đáng sợ, dỉ nhiên đương kim tổng thống phải chịu trách nhiệm về cái chết của anh em Diệm Nhu là đúng rồi còn gì nữa?
                Permanent Government đổ thừa cho tất cả sai lầm trên của hai vị Tổng Thống để cuộc chiến kéo dài từ năm nầy qua năm nọ mà không thẩm định được một cách đúng đắn mục tiêu và thành quả, khiến ý chí chính trị phải tiêu tan tại Hoa Kỳ. Đến 1969, thời điểm axiom-3 họ thành lập phong trào phản chiến do đại học Yale, trung úy John F Kerry phản chiến xuất đầu lộ diện cùng với quần chúng ngày càng không muốn ủng hộ cuộc chiến theo lối đang tiến hành, có nghĩa là sẽ đến giai đoạn định-kiến-3 là rút lui danh dự qua áp lực quốc hội có biện pháp quyết định sau cùng giống như Iraq. Họ cho rằng thời gian dài vượt giới hạn sự kiên nhẩn của nhân dân Hoa Kỳ, nhưng đó là trong mưu lược của họ có tính trước, khi khai thác lợi nhuận của một công trình cũng vừa xong; Họ dựa vào những định lý cũa các vỷ nhân để áp dụng vào sự gây chiến tranh tại những nước khác để thủ lợi như Việt Nam và hai cuộc chiến lớn nhỏ ở Iraq qua thuyết “Quân Sự yểm trợ Kinh Tế”của kinh tế gia người Anh Malthus, như “không có tàn phá xây dựng bị đình trệ, và nếu xây dựng hoài, thì có lúc phải phá đi để có chỗ tái thiết” Lý thuyết có vẻ ác độc, nhưng đó là thực tế.
                Cuộc chiến Iraq lần thứ Nhất, tình báo chiến lược Mỹ phải vận dụng tài lừa bịp xúi Saddam Hussein sáp nhập Kuwait vào với Iraq; Hussein dỉ nhiên rất ưa thích, nhưng cũng cẩn thận hỏi ý kiến Bà Đại sứ Mỹ Glaspie. Nhưng Bà Glaspie giữ thái độ yên lặng; “yên lặng có nghĩa là đồng ý” Thế là Hussein xua quân chiếm Kuwait để tạo ra chiến tranh tàn phá, rồi Mỹ vào tái thiết Kuwait với khoảng 100 tỷ dollar dễ dàng; Dân Kuwait chỉ có cái tội là thiên nhiên ưu đải thu nhập tính theo đầu người quá nhiều, phải chia bớt cho Tư Bản Mỹ chút ít, chớ khơi khơi bảo Kuwait chia cho Mỹ 100 tỷ thì đời nào họ chịu. Quân Mỹ đánh tới biên giới Iraq thì ngưng nhưng lại xúi giục các giáo phái nổi lên lật đổ Hussein, báo hại Đảng Bath và giáo phái Shite và Sunny thanh toán nhau gây ra một sự câm thù truyền kiếp cho sự tàn phá kế tiếp cuộc chiến lần sau mà do chính tay người Iraq gây ra. Còn Việt Nam ở giai đoạn 2 (khi quân đội Mỹ bắt đầu rút về) Biến Miền Bắc thành thời kỳ đồ đá, Hà Nội phải thắp đèn dầu, còn Miền Nam thành vùng đất hoang dã sau khi Mỹ thí nghiệm đủ loại vũ khí.
                Họ vin vào cớ (định-kiến-2 tại khuôn viên đại học) người Mỹ không có lý do chính đáng để can thiệp vào nội bộ Việt Nam. Nhưng Tôi lại nghĩ rằng sức mạnh toàn cầu hiện đang ở trong tay của Hoa-kỳ phải được coi như một trách nhiệm lương tâm, không là điều làm chúng ta phải biện bạch. Nếu nước Mỹ không dùng sức mạnh đó để đem lại điều tốt lành cho con người trên thế giới thì chẳng những nước Mỹ mất hết sức mạnh, mà Mỹ còn mất cả những điều tốt đẹp đã tích lũy từ trước đến nay. Theo kế hoặch Road-Map, sau 20 năm gọi là thù địch với Việt Nam qua hội chứng phải giải tỏa: Vừa qua ông Đại Sứ thứ Ba, Micheal Marine khẳng định: “Chúng tôi ủng hộ các quyền làm người căn bản cho nhân dân toàn thế giới, chứ không phải chỉ ở riêng Việt Nam!” Hoa kỳ đang cố hàn gắn vết thương chiến tranh và đem lại dân chủ cho Việt Nam để vượt ra khỏi Hội Chứng Việt Nam, nhưng tình hình khó khăn phải đợi đến 2023, khi thế hệ dính dấp vào cuộc chiến đã nằm xuống (không thể lội ngược dòng lịch sử) mới có đa Ðảng và dân chủ VN, vì theo lộ-đồ diển tiến hoà bình tránh cuộc tắm máu có thể xẫy ra, nên Mỹ phải chuyển biến đảng Mafia VN từ bãn chất Cộng Sản qua ổn-định hệ thống hành pháp chế bằng Nguyễn Tấn Dũng (người của Mỷ) nắm quyền sanh sát trong tay qua mặt BCT cũng như Quốc hội, lập lại triều-đại Lê Đức Thọ. Chủ đích mượn tay Dũng ăn cướp dùm tiền bạc từ viện trợ cho đến công quỷ gởi vào ngân hàng để sau cùng thì tình trạng cũng giống như Marcos, Trần Thủy Biền … Dollar Xanh sẽ trở về Mỹ theo định luật Malthus

                Nói về điều lệ trò chơi “Rules Of Engagement” nếu ta dịch ra là “Luật Giao Chiến” thì không ổn lắm; Theo sự hiểu biết tầm thường của tôi, đây là trò chơi chiến tranh giữa hai siêu cường thì phải giải là “Điều-Lệ của Trò chơi” Thí dụ hơi buồn cười nhưng có thật trong tài liệu. Khi bay oanh tạc Miền Bắc, mổi chiến đấu cơ đều có hai người, một người lo lái, còn người kia lo đọc ‘điều lệ nội-quy’ được cho phép. Tuy có Bom Smart, Laser, CBU-55, Rocket điều khiển vô tuyến nhưng không được dùng, mà chỉ thả Bom chạm nổ thông thường từng hai trái một lần, không được Salvo một lần. Có như vậy khả năng phi cơ bị tiêu hủy mới tăng nhiều, như hàng tiêu dùng phải xài cho hết, hầu sản xuất mặt hàng mới để xử dụng vào ‘giai đoạn 3’, Trung Đông.
                Tướng George Brown, Tư Lệnh Đệ Thất Không Lực phàn nàn với Tướng Abrams: “Theo ROE, chúng tôi không được dội Bom nhửng kho tàng, căn cứ địch nếu họ không bắn lên…dù rằng chúng tôi bay trên đầu họ để nhữ, chờ đợi…,” Tóm lại phi công Hoa Kỳ chỉ dội khi bị phòng không ở dưới bắn lên để tự vệ. Thậm chí có những vùng được gọi là SAM-envelopped nếu bắn lên thì bỏ chạy chớ không được trả đủa, thế mới đau đầu cho phi công Mỹ, phi cơ bị tháo gở hệ thống laser targeting pods kể cã smart bomb và night vision goggles, còn KQVN thì tầm hoạt động không đũ oanh tạc Hà Nội. Sau nầy, Thượng Nghị Sỉ tù binh Mc Cain “tức-khí” phun ra, “cái kẻ không xứng đáng chiến thắng mà lại chiến thắng” Báo hại Siêu chính phủ phải ngầm ý, muốn được yểm trợ tài chánh để ứng cử làm Tổng Thống nên ăn nói dè dặt và ẩn chút chính trị một tý. Thế nên sau nầy Mc Cain ăn nói khá chững chạc hơn để không ra khỏi lộ-trình hậu Việt Nam
                Tướng Brown xác nhận với Abrams, phi hành đoàn chịu quá nhiều nguy hiểm với chiến thuật bị gò bó như vậy; Tháng March 1970, các phi cơ Thunder-Chief F.105 khi oanh kích gần vùng cán-gáo phía đông Ban Ban của biên giới Lào trên Quốc lộ 7 thì bị 4 hoả tiển SAM bắn lên nhưng may mắn chúng tôi thoát khỏi. Trung Tâm Yểm Trợ Hành Quân theo dỏi ROE của Tướng Haig cấm không được bay trên quốc lộ 7 và những vùng được bảo vệ bởi SAM vì là phải nuôi dưởng chiến tranh thêm một thời gian nữa. Tướng Abrams nổi nóng, hỏi lại Tướng Brown: “Có nghĩa là Không Quân không được quyền dội Bom trên đầu chúng, dù rằng chúng bắn lên, trong phạm vi đường 7 và Đông Ban Ban, để họ ngang nhiên tiếp viện vào Nam?” Tướng Brown xác nhận: “Dạ....dạ đúng vậy, thưa Ðại Tướng, Chúng tôi không được tấn công để trả đủa!” Abrams nổi nóng nhưng không làm gì được, “Bảo mấy người đó ngồi trên phi cơ bay vào vùng địch để lấy cảm giác!” Chưa hết, theo không ảnh có những giàn hỏa tiển SAM do chuyên viên Liên Xô đang lấp ráp cũng không được oanh kích vì có thể gây thương vong cho chuyên viên lấp ráp. Phi cơ MIG đang đậu hoặc di chuyển, không được oanh kích; Phi cơ MIG đang bay có huấn luyện viên Liên Xô, cho rằng không khiêu khích, không được truy-kích; không được phá hũy runways vì phãi để cho MIG-21 cất cánh để tập dợt không chiến (Dog-fight) với Mỹ và nhứt là để cho phi-cơ vận tải hạng nặng AN-2 có sức chở trên 10 tấn đáp xuống Hà Nội thả xuống những trang cụ điện tử cho hệ thống phòng không mà Mỹ và LX rất sợ đi qua biên giới TQ sẽ bị ăn cắp kỷ thuật chế tạo [Trong sách lược Eurasian Great Game phải giúp TQ tạm thời chiếm ngôi vị thứ NHÌ trong một thời gian nhứt định nào đó rồi dìm xuống vĩnh viễn nằm dưới trướng của Nhựt là đàn em trung thành không phản trắc với Mỹ] …Thế nên Hoa Kỳ không dám cho KQ miền nam phi cơ oanh tạc có tầm hoạt động xa sẽ thả vào runways thi hư đại sự, dù rằnh họ rất muốn KQVN hy sinh thế cho mấy thằng cu Mỹ nhưng đành chịu, phải dùng người nhà trong thế “Khổ nhục kế” để tiêu hủy hàng tiêu dùng
                Thình lình, Tướng Haig bị lệnh của “Toán hành động đặc biệt” (Washington Special Action Group) gởi qua Việt Nam để điều nghiên tại chổ, về kho tiếp liệu cuối đường Xa-lộ Harriman bị quân lực VNCH triệt hạ, chiến trận xảy ra ngay trung tâm đầu nảo MTGPMN (COSVN) Vì đây là hành động vi phạm những điều lệ quy ước của trò chơi chiến tranh. Tướng Haig thảo luận với Tướng Abrams với thái độ cay-cú, xấc láo, Haig nói: “Tôi ghét cay ghét đắng…vì TT Nixon không thể chứng minh sự lỗi lầm tai-hại của mình khi vi phạm hiến quyền gây chiến “Power- Act” chĩ duy nhất dành riêng cho Quốc Hội…còn lệnh lạc thì lề mề chậm chạp không rỏ ràng!” Haig chỉ trích như là một chính khách có đủ quyền năng như Harriman chớ không phải là một Tướng lảnh bình thường, Haig là vị Tướng chưa nắm Sư đoàn, không đặc cách mặt trận mà vẫn lên đến Đại tướng…Ai gắn lon?
                Tất cả… Haig ám chỉ TT Nixon ra lệnh hành quân phá hủy Căn cứ đầu nảo của MTGPMN; Người sỉ quan thuyết trình của MACV cho rằng lệnh lạc không rỏ ràng từ Washington qua những thủ tục giấy tờ chậm chạp chớ không phải lỗi tại nơi đây. “Chúng tôi nhận được Hai công điện, Một bảo rằng ‘tấn công ngay’- Một bảo rằng ‘phải nhanh chóng rút ra ngay’…Thế Washington muốn chúng tôi làm gì ?” Haig bèn dả-lả: “Ờ!... thì tấn công vào…rồi thì rút ra…có vậy thôi!”. Tướng Abrams thêm rằng, chúng tôi không hiểu gì cả, lúc thì tăng quân VNCH lên 1.100.000, rồi thì sau đó vì ngân quỷ chỉ cho phép rút xuống 100.000 quân để tiết kiệm ngân quỷ. Abrams tức khí: ‘Thế thì cáì cục cức gì Washington muốn? Tôi nghĩ với số quân ít ỏi như vậy, chẳng qua dành cho Đại tá Cavanaugh một công việc chuyên môn về Biệt kích hạn hẹp”
                Ngày 12 March 1970, kế hoặch trò chơi qua giai đoạn mới, Hải Đoàn 759 của Bắc Việt chấm dứt chuyên chở tiếp liệu cho quân họ đến hải cảng Sihanouk Ville, và liền sau đó đổi tên lại là hải-cảng Kompong Som do Tướng Lon Nol sau khi lật đổ Thái tử Sihanouk, và sáu ngày sau quốc hội đi đến quyết định truất phế Sihanouk; Lon Nol bèn gởi khẩn cấp một thông điệp cho Hà Nội thông báo ngay, trong vòng Ba ngày quân đội BV phải rút ra khỏi lảnh thổ Cambodia. Đây là một khúc quanh quan trọng trong cuộc chiến Việt Nam; Nhưng thật ra trong trò chơi nầy, Hà Nội đã dư thừa chiến cụ và tiếp liệu cất giữ dọc theo đường Xa lộ Harriman và họ muốn tái xác định lại một lần nửa chỉ có duy nhất Xa lộ nầy là huyết mạch để chiếm Miền Nam. Nhưng xa lộ nầy rất an-toàn, phi cơ Hoa Kỳ và Nam Việt Nam không đụng đến; Đường Xa lộ nầy xây dựng từ ngày hiệp định trung lập Lào 1962 đến 1966 được 750 cây số, đến 1970 coi như hoàn thành là 3.700 cây số và được an toàn xử dụng trong mọi thời tiết. Đại tá Bùi Tín vẫn tự tin cho rằng: “mặc dù B.52 có oanh tạc trên đường 559 (đường mòn Hồ) nhưng không ảnh hưởng gì tới khả năng yểm trợ chiến trường vì chúng tôi có dư thừa chiến cụ cất dấu dọc theo hành lang của đường mòn”. Tiếp vận do Liên Xô cung cấp qua dollar và nguyên liệu của Mỹ, như Tôi lấy thí dụ từ cuốn quân sử Quân Đội Nhân Dân (PAVN). Về xe Molotova không thôi, chỉ vào mùa khô 1970-1971 có 4.000 chiếc bị phá hủy, trong đó phần nhiều do AC-130B bắn bằng hồng ngoại tuyến tầm nhiệt đã nướng hết 2.432 chiếc (có tất cả 60.8 phần trăm tổng số xe bị kẻ thù phá hủy).
                Tóm lại, trung tâm hành quân của Tướng Haig cho phép quân đội Mỹ và VNCH tấn công khắp mọi nơi quân BV có mặt, nhưng chỉ để ‘vui-chơi’ có tiếng vang chớ không phải để hủy diệt hoàn toàn theo như kim chỉ nam: “Everything worked but nothing worked enough” Để đi đến kết luận, vì những điều lệ trò chơi nầy do một Nhóm học giả kiệt xuất của Harriman điều nghiên rất kỷ trước đó khá lâu, nên Bốn đời Tổng Thống có dính líu chiến tranh Việt Nam cũng không hiểu mục-tiêu của chính sách là gì, huống hồ các Tướng lảnh đả tham chiến tại Việt Nam và Iraq? Làm gì họ hiểu nổi thế Siêu Chiến Lược “Eurasian Great Game” của Trùm Đảng-Hội ‘Skull and Bones’ kiêm người Thủ-lảnh của Sáu người bạn nắm vận mệnh thế giới theo sách “The Wise-Men”. Trong Bốn đời Tổng thống nầy, chỉ có TT Nixon là bị kèm kẹp chặt chẻ nhất, [xem hình Lam Sơn 719 thì rỏ, Volume-II, Chapter-1] cả bộ tham mưu tại Tòa Bạch Ốc ai ai cũng biết Kissinger được chỉ thị nói xấu Nixon trong mùa tranh cử 1968, nhưng dù ông hay ai làm Tổng thống cũng phải nhận Kissinger làm cố vấn. Siêu Chính Phủ rút kinh nghiệm, hồi đời Kennedy và Johnson; Dù rằng họ bủa vây Kennedy như một con cua có tám cái càng đều là Đảng viên của Skull and Bones, đặc biệt hai cái càng lớn nầy nắm giữ là hai anh em, một ở chức vụ cố vấn Tổng thống là Skull and Bones 40, Mc George Bundy, còn ở Bộ ngoại giao là Skull and Bones 39, William P.Bundy. Nhưng không áp lực được Kennedy qua công điện gởi cho Cabot Lodge ngày 30/10/1963 yêu cầu ngưng hoặc trì hoản cuộc đảo chánh TT Diệm; Còn Johnson gởi công điện cho phép quân đội VNCH được săn đuổi quân đội BV ra khỏi biên giới nhưng bị Nhóm Skull and Bones không cho phép. Vì thế chúng ta cũng dễ hiểu tại sao bằng mọi giá W.A.Harriman phải bảo vệ đường mòn HCM hay xa-lộ Harriman?

                (Còn tiếp)

                Comment

                • vinhtruong
                  Super Member
                  • Jun 2010
                  • 1924

                  #23
                  Dòng họ Bush nhiều thủ đoạn hơn Kennedy

                  Prescott Bush, chất Xám kiệt xuất của ngành tình-báo, An-Ninh Quốc Gia Hoa-kỳ? Đó cũng là lý do Con và Cháu Nội ông trở nên tổng thống Hoa Kỳ!
                  -Thế-chiến thứ-1, Nhóm Yale-Skull áp lực chính quyền ký hợp đồng sản xuất kỹ nghệ chiến tranh, Họ tự ý thành lập “Hội-đồng Kỹ-nghệ Chiến-tranh” [War Industries Board] do Wall Street bảo trợ, người Giám-đốc là Bernard Baruch chuyên lo liên lạc đặt hàng giữa chính phủ và công xưởng về đóng tàu cho Hải quân. Vào mùa Xuân 1918, thình lình có mật lệnh từ W A Harriman chuyễn cho ông Bernard Baruch bảo phải nhường chiếc ghế Chủ tịch WIB cho Prescott Bush ngày 1/6/1918, P.Bush chấp hành và trình diện tại Washington. Thực thi đúng theo tuyên ngôn của các trường Ðại-học Quân-sự: “Muốn cũng cố hoà-bình phải chuẩn bị chiến tranh” Liền sau đó không lâu, Thượng nghị sỉ bang Mississippi, James Vardarman phàn nàn rằng: “nên giải tán Hội-đồng buôn xác chết nầy, vì tự nó nói lên sự ăn-chận trên tay các công ty khác và giành giực độc quyền lợi nhuận!” (Giống y chang như công-ty Halliburton của Phó TT Dick-Cheney sau nầy thầu dịch vụ chiến tranh Iraq)
                  -Sau Thế chiến-2, 1946 một sự chạy đua phát triển vủ-khí để gây chiến, từ một cuộc chiến Nóng (1941-1945) đến cuộc chiến Lạnh được thống kê qua sự sản xuất như sau: 38 phần trăm 1941-1947; 40 phần trăm cho 1953 (chiên tranh Triều-Tiên); từ 45 phần trăm cho 1959, đến 49 phần trăm cho 1968 trong suốt cuộc chiến tại Việt Nam là nhiều nhứt.
                  -1947 Prescott Bush và Robert A Lovett cùng Brown Brothers Harriman đồng quyết định cải đổi OSS thành CIA để làm công cụ bạo lực cho WIB; Nhóm nầy mở rộng Ngủ Giác Ðài tăng quân số Tướng lảnh nhiều hơn xưa, tăng tốc cho chương trình không gian, điện tử hoá siêu kỹ thuật cho quân đội. Bộ tam sên: Prescott Bush chắc chắn sẽ thành Thượng nghị sỉ 1950, gây ảnh hưởng bao trùm Quốc-hội, còn W.A.Harriman, người Cố-vấn tổng thống, nhưng lại có nghĩa nắm chính sách ngoại giao với nước ngoài, riêng Robert A Lovett sẽ đi từ Thứ-trưởng rồi Bộ-trưởng quốc phòng để điều động các cuộc hành quân bí-mật trên những nước đem lại quyền lợi cho Tư bản Mỹ.
                  Như trước đó có hai cuộc hành quân bí mật: [covert operation] đáng kể là khuyến dụ Cụ Hồ vào OSS nơi Trùng Khánh 1943, Côn Minh, Sở thông tin Chiến tranh (Service of War Information) và qua cuộc hành quân bí mật của điệp viên OSS-19, Lucien Conein nhảy dù xuống mật khu Pát-Pó giúp Cụ huấn luyện quân sự cho Trung-đội Vỏ trang tuyên truyền của Trung đội Trưởng Vỏ Nguyên Giáp và kết nạp Giáp vào OSS. Sau đó 1949 Phi-đội CAT của CIA phải hoàn thành cuộc di tản cưởng bức ra khỏi lục địa, là đảo Ðài-Loan Thống chế Trưởng-giới-Thạch và phe phái, giúp Mao thống nhứt lục địa Trung Hoa một thời gian chuyễn tiếp khá lâu để trở thành hội viên LHQ

                  Prescott Bush hăn-say tham dự những năm tháng chiến tranh ác liệt, đôi khi người ta lầm tưởng chỉ có một mình ông đơn độc chiến đấu trên trận mạc, ông chia ra hai phần thời gian ở Washington và trận mạc, ít khi về thăm nhà, sự làm việc nhiệt thành đã đặc vào ống kính của Harriman, June, 1918 P.Bush mau lẹ đáp ứng sản xuất qua Pháp cho Lữ-đoàn Pháo Dả-chiến 158th một số lớn đạn dược gọi là sản-phẩm lấy tên là Tiểu-đoàn Yale cung cấp. Có nghỉa Tiểu đoàn-Yale Pháo binh của ông sẽ tham dự vào chiến tuyến phía Tây [Western Front] Ðại-úy Prescott Bush và pháo thủ của ông đang chịu áp-lực trận địa pháo dữ dội của địch. Chúng đang cố tâm hủy diệt tất cả pháo-đội Hoa kỳ, Tuy nhiên sự phản pháo của Lử-đoàn pháo 158th đã làm tiêu tan các công sự kiên-cố của quân Ðức. Dưới con mắt làm ăn của P.Bush, lấy thịt đè người nên phía WIB đả bán ra được 4.2 triệu quả đạn sau khi tàn cuộc chiến đem một số lợi nhuận khổng lồ về cho War-Industries-Board.
                  Mới chỉ 23 tuổi đời vào năm 1918, Prescott Bush là một Ðại-úy Pháo binh năng nổ, một hôm ông viết một bức-thư khôi hài về cho mẹ, sau khi đọc xong bà mẹ tự hào về con mình nên đem tin vui nầy cho tờ báo địa phương “the Ohio State Journal” đăng tin ở trang đầu: “Ðại-úy P.Bush chỉ một mình nhận được ba huy chương cao quý của chính phủ Pháp, Anh và Hoa-kỳ, vì đã cứu ba vị Tướng lảnh đồng minh, Pershing, Foch, và Haig đang đến thăm viếng đơn vị Tiểu đoàn Yale Pháo binh của ông. Ngày 15, July, P.Bush đang hướng dẩn ba Tướng nầy tham quan đơn vị, thì thình lình một trái đạn 77mm từ trên không rơi xuống, sự phản ứng tự nhiên P.Bush rút con dao (bolo-knife) hất mạnh lên như chơi baseball vào trái đạn, cho nên trái đạn không chạm nổ và rơi xuống bên cạnh như một hòn đá tảng vô hại. 24 tiếng đồng hồ sau P.Bush được ân tặng huy chương “Cross of the Legion of Honor của chính-phủ Pháp, The Victoria Cross của chính phủ Anh, và The Distinguished Service Cross của Hoa-kỳ” Nhưng khi P.Bush nhận được một mẩu giấy đính chính trên tờ báo Pháp, liền lập tức ông nói cho mẹ hay, “đó chỉ là bức thư khôi hài để làm cho mẹ vui, chớ chuyện đó không bao giờ có!” Ngày hôm sau, September 6, 1918 tin nầy được đính chính trên báo chí là Tin Vịt-Cồ! Kể từ giờ phút nầy, trong đầu P.Bush luôn luôn in sâu về sức mạnh của “truyền thông văn hóa” vẩn có tác dụng gây ảnh hưởng, dù thật hay không thật và ông muốn con cháu ông phải xuất thân từ quân đội để lảnh đạo đất nước trong trật tự và kỷ luật nh ưng ph ải đ ể trong đ ầu “Truyền thông trên OSS kể cả CIA” sau nầy
                  Năm 1950, là người Phụ tá cho Harriman, P.Bush quyết định công-cụ Truyền thông Văn hóa nặng ký hơn CIA và cho ra quyền bất khả xâm phạm về “Tự do ngôn luận” một vũ khí lợi hại khi cần khủng bố chính quyền buộc họ phải đi đúng American-First. P.Bush qua đời 1972, làm sao ông biết được Con và Cháu nội sẽ là Phi-công Tổng thống thứ 41 và 43 của Hiệp chủng Quốc, vì đã khai thác tuyệt vời truyền thông văn hóa cho quyền lợi của bọn dầu-hỏa qua sự chuyển ngân vào ngân hàng Thụy Sĩ. Ðúng theo di-truyền của giòng họ Bushes là: NĂNG LƯỢNG, TÌNH-BÁO, và AN-NINH QUỐC-GIA. Dòng họ Bushes không bao giờ chịu đào tạo Bác-sỉ, luật sư, thầy giáo, khoa học gia … mà chỉ chuyên về 3 địa hạt nêu trên

                  Nguyên nhân nào W.A Harriman chịu chấp nhận Prescott làm phụ tá Ðảng hội Skull and Bones: Tình cờ, đầu năm 1926, người em của Harriman là Bunny Harriman đang uống rượu với P.Bush và nói chuyện công việc làm ăn. Prescott vẩn còn làm việc với hảng nhựa U.S Rubber, đại lý bán vỏ xe, còn Bunny đang bề bộn công việc ở Wall Street. Sau khi họ nhận ra nhau cùng tốt nghiệp Ðại học Yale, Bunny mới thú nhận tại Công ty người anh W.A Harriman and Company rất cần những nhân tài phụ giúp, hỏi P.Bush có muốn cùng giúp việc cho anh mình không? P.Bush nhận lời ngay, sau đó không lâu từ một Ðại lý bán võ xe khiêm nhường, Prescott trở nên một triệu-phú quá dể dàng. Tóm lại W.A Harriman tin tưởng nhận P.Bush vào làm việc và tin cẩn chọn P.Bush như người phụ tá tham mưu tin cậy của ông [http://www.answers.com/topic/w-averell-harriman 1/22/2006, trang 4 of 7] Prescott Bush là người sau chót trong 6 nhân vật nắm vận mệnh thế giới nhưng được Harriman cân nhắc lên làm Phụ-tá tham mưu cho Harriman.
                  Harriman vở mộng vì đặt quá nhiều tin cậy vào viên Phụ tá của mình, Prescott Bush, trong khi Harriman muốn hợp-lý hóa bằng những quyết định phức tạp chia ra cho hai nhóm rỏ rệt: Nhóm Dân chủ do W.A.Harriman và Lovett, còn nhóm Cộng hòa do P.Bush và Bunny Harriman. Nhưng nhìn vào hai nhóm nầy thì chẳng có công bằng tý nào vì phía bên kia vẩn còn người em của Harriman. Nhưng điều cấm kỵ là không được phê bình đàm tiếu nói xấu cải vả nhau, P.Bush giữ thái độ im lặng về những hành động cũa Harriman làm việc với hai vị tổng thống, F.D.Roosevelt và Truman; Sư thật làm sao P.Bush hiểu được trong tương lai của trận chiến Triều Tiên chỉ dựa vào môi trường chạy đua và phát triển thế hệ phản lực cơ chiến đấu cho quốc-phòng giữa Liên Xô và Mỹ. Còn như tới phiên chiến tranh Ðông Dương mới qua giai đoạn phát triển thế hệ phản lực cơ cho Hàng không dân dụng và trực thăng. Có một điều quan trọng nữa là làm cách nào để dùng xăng hoá học (synthetic fuel) để làm diệu bớt sự thay đổi nhiệt độ cho môi trường giống như Hitler đã thành công từ 1933, nhưng vì lòng tham vô đáy, dòng họ Bushes đã đi chệch ra khỏi quỹ-đạo chiến lược của Harriman! Quên đi quyền lợi của các loại Tư-bản lớn-nhỏ khác!
                  1950, Prescott Bush đã là một Thượng nghị sĩ sừng-sỏ trong Quốc hội, ông nắm ảnh hưởng trong chức vụ Trưởng ban Hội đồng An ninh và Tình báo Gián điệp và nắm luôn Trưởng Hội-đồng về cơ quan Quốc phòng, trong đó đáng kể có người bạn chí thân chuyên môn về tình báo là Allen Dulles. P.Bush quá hăn-say về chương trình “dọ thám bằng vệ tinh” Sau Thế chiến-2, ông giành ưu tiên tài chánh không giới hạn cho Bác-học Werner Von Braun và các Khoa học gia người Ðức chạy trốn về với Hoa kỳ, chuyên trách hoả-tiến, đồng thời tối tân hoá chương trình phóng hoả tiển liên lục địa. Ðặc thù, P.Bush ghét cay ghét đắng TT Kennedy về vụ thất bại tại Vinh Con Heo vì Kennedy phản bác (P.Bush thố lộ bằng lời nói với lịch-sử, sự thất bại chỉ vì Kennedy không muốn đứng về phía sau nhóm nổi dậy, có nghĩa là đem Hải Lục Không quân ra can thiệp mà xem việc làm của Bushes qua công cụ CIA như con Voi rừng kinh-dị khó dại phá hoại chính sách quốc gia) Với tham vọng người con trai của mình sẽ chạy đua vào nhà Trắng, 11 ngày trước khi Kennedy bị ám sát, đứa con Trai của ông là George H.W.Bush đứng trước bục phòng họp báo Thủ-đô ở Austin, tuyên bố sẽ ứng cử vào Thượng nghị sĩ của Ðảng Cộng Hòa. Vào được chức vị Thượng nghị sỉ trong khi TT Kennedy đã bị ám sát, nhưng George H.W Bush vẩn mở pháo trận đầu tiên tấn công Civil-right của Kennedy vì cho rằng đe-dọa hiến pháp, trong khi Barry Goldwater biện luận Hoa-kỳ vấp phải vấn đề kỳ thị màu da. George H.W.Bush cũng chống lại đường lối Liên bang tước đoạt quá nhiều quyền hạn của Tiểu bang. Về phương diện ngoại giao, ông chống đối Kennedy về lời đề nghị kiểm soát việc chạy đua vũ trang, biện luận thay vì phải cứng-cựa với chính sách chống Cộng sản; Những đặc điểm không kém phần quan trọng, George.H.W.Bush với 40 tuổi, thành công và là phi-công tác chiến anh hùng của tổ quốc. Có một tài sản đáng kể về thương nghiệp dầu hoả, nhưng vì tham vọng dầu-hoả mà dòng họ Bushes phải mai một sau nầy! Hơn nửa thế kỷ nay, dòng họ Bushes vẩn tự hào là “chống-Kennedy” vì Bushes xem giòng họ Kennedy là những kẻ muốn tranh tài với họ! Tuổi trẻ có phải vì nóng tính, nông nổi nên nói toạt mống heo!? Jeb Bush đã dám tuyên bố và thách-thức (có lẽ cũng bị thọc gậy bánh xe đang lăn ngon trớn theo đà mạnh tiến vào toà Bạch-ốc) “Tôi nghĩ, chúng tôi có thể hạ giòng họ Kennedy trong trận football, chúng tôi cũng hạ họ trong trận basketball, baseball, và bất cứ cái trò chơi quỷ-quái nào mà họ muốn đấu!”(Dịch theo nguyên văn, cuốn sách “The Bushes”, 2004, page 497 Petter and Rochelle Schweizer)
                  Thế nhưng! thế hệ trước là thủ phạm nhưng lại vô cùng khôn khéo, Bush-Cha vẩn tỉnh bơ giữ mối giao hảo bề ngoài rất tốt đẹp, ông [George H.W Bush] dựa vào vị thế thượng phong làm Phó, rồi Tổng thống nên phía đối địch cũng ngậm bồ-hòn cười nhe răng trong giao tế. Người em út còn sót lại của TT Kennedy, Thượng nghị-sĩ Ted Kennedy 1990 cũng giúp TT Bush-Cha cho qua Disabilities Act và luật cải-bổ Di-dân. Khi rời Nhà trắng hai vợ chồng của Bush-Cha cũng làm bộ tiếp nối tình cãm, nhưng lần nầy qua nhà người Chị của Ted Kennedy, là Eunice Shriver

                  Vâng lời Bush-Cha, Bush-Con, năm 2000 vừa nhậm chức Tổng thống, hâm nóng thêm tình cãm giữa hai họ, nhân dịp đám tang của Thượng nghĩ sĩ Paul Coverdell của Georgia, Bush cùng Ted Kennedy dự đám tang, sau giờ tan lể, Bush-Con lỏ con mắt tìm kiếm Ted Kennedy ẩn hiện trong đám đông. Khi gặp Ted, Bush-Con cười khà đưa tay bắt: “Tôi nghe anh có đi dự nên kiếm, Tôi ghi nhận anh đã làm những việc ích lợi cho dân cho nước” Ted cười khô cho qua. Tuy nhiên dù mối liên hệ tình cảm khó hiểu, nhưng cũng tiếp nối được đến thế hệ thứ-3
                  Vào tháng chạp, 2000 TT Bush-Con mời gọi Ted Kennedy, họ nói chuyện với nhau như hâm nóng lại tình cãm khắng-khít ngoài mặt giữa hai họ và cùng giúp đở chia sẽ cho nhau vì lợi ích cho đất nước. Ted Kennedy vui lòng chấp nhận vì đại cuộc, Bush-Con bèn mời Ted cùng họ hàng Kennedy đến dự một cuộc họp mặt riêng tư để xem cuốn phim những ngày căng thẳng về cuộc khủng hoảng đe dọa Hoả tiển nguyên tử của Liên Xô 1961; Sau đó Ted giúp Bush cho qua sự cải bổ Giáo dục vào 2001 và hai năm sau, TT Bush-Con tuyên dương công trạng Ted về sự tận tụy giúp đở dân chúng Hoa kỳ. Nhưng Ted Kennedy vẩn ngoan cường giữ vửng lập trường, chiến tranh Iraq là một sai lầm, mống vuốt của thất bại và chính sách khánh tận (a failed, flawed, bankrupt policy) Thế nên chúng ta ghi nhận nền kinh tế tồi tệ như hiện nay, ăn Ốc bỏ vỏ cho người da màu lên dọn-dẹp.
                  Tháng 11/2001 Bush-Con thông báo sẽ đặt tên Robert Kennedy trên Cơ quan chính phủ, Bộ Tư-pháp, có sự tham dự của Ted Kennedy với vẻ mặt gượng cười chua xót
                  Giòng họ Bushes thì quá nhiều tham vọng về xăng dầu và quá nóng ruột về phát triển Hàng-không Dân-dụng muốn hấp-tấp bắt chước như Harriman đã thâu vào quá nhiều lợi nhuận khi phát triển Ðội Hàng-Hải đi biển lớn nhứt vào thời gian Thế chiến-1, vì tham vọng vào xăng dầu nên bị Dick Cheney lấn lướt đến nổi thân bại danh liệt cho triều-đại-2 Skull and Bones, rồi ngã quỵ.

                  Kết quả, sự phản trắc, thất trung thể hiện trong bửa cơm tối của Ðảng Cộng hòa, Prescott Bush đả thẳng thừng tấn-công Harriman, “xem như Harriman, một công nhân đả cởi bỏ nón nhựa an-toàn ra khỏi đầu, và quăng đôi găng-tay lao động xuống đất, đi ra về một mạch không ngó lại” ngụ ý vô trách-nhiệm. Từ dạo đó P.Bush âm thầm theo dỏi từ chiến tranh Triều Tiên đến vấn đề giao tế thế giới. Dựa vào đó, Harriman đùn trách nhiệm cho dòng họ Bushes để cho George H.W.Bush nhảy vào cuộc chiến Việt Nam từ 1960 nhưng dưới sự diu dắt truyền nghề của Harriman cho đến khi mật kế Pennsylvania hoàn tất, có nghĩa là tạo nên một mô hình kiểu mẩu cho Hà Nội thống nhứt Việt Nam thành một qua mô-hình hiệp định Paris và cũng là lúc TT Nixon lên ngôi 1969. Thế là công cụ CIA do Dân-chủ Harriman thành lập 1947, bây giờ 1960 Cộng-hòa George H.W Bush được hưởng trọn vẹn. Thế nên chúng ta đoán chắc sự thất bại tại Vịnh Con Heo, thủ phạm chính là George H.W.Bush nhưng Kennedy phải chịu trách nhiệm vì đương kim tổng thống, kể cả cái chết của Diệm Nhu, (nhưng thủ phạm chính lại là W A Harriman ra lệnh) Vì Harriman biết cuộc chiến VN sẽ đem lại thãm hoạ nên muốn lẩn trốn thì tội tình gì George H.W.Bush phải lộ diện, nên Bush-Cha đã khoán trắng cho Donald Rumsfeld muốn làm gì thì làm
                  Sau Tết Mậu thân 1968, để chuẩn bị cho phong trào phản chiến, trong giai đoạn Tướng Abram trách nhiệm về việc lần lượt rút quân Mỹ về nước theo lộ trình sắp xếp hành khách lên phi-cơ. Trong khi Trung-úy phản chiến thuộc đại học Yale, John F.Kerry, Duyên tốc đỉnh cùng Thượng nghị sỉ Joe Lieberman, ứng cử viên Tổng thống, cầm đầu tờ báo Yale Daily News cùng một số đông sinh viên Yale đòi hỏi không tham dự cuộc chiến VN. Năm vừa qua 10/1967 họ trả lại thẻ quân-dịch cho Bộ tư pháp; Nhưng hơn ai hết, là người thay thế Harriman nắm giử chính sách, và cũng là lần đầu tiên George H.W.Bush công khai xuất hiện nhưng lại không muốn cho ai biết đến sự xuất hiện nầy, coi như đây là một trách nhiệm quan sát tại chổ cho biết sự tình, giai đoạn phải lần lượt rút quân về theo lịch trình của hệ thống các hãng Hàng-không Dân-dụng đã thiết kế lịch trình chuyến bay.
                  Ðể chuẩn bị thay thế Harriman sẻ từ giả chính trường 1969, và thời gian chuyển tiếp cũng sắp đến, ngày 26/12/1967 Bush-Cha sẽ đi thăm Việt Nam bàn thảo với Ðại sứ Ellsworth Bunker như một cuộc thăm không chính thức, lặng-lẽ không ồn-ào, Ông đi thăm các chiến sỉ Mỹ ngoài mặt trận, dùng trực thăng HU-1 đi thăm các tiền đồn từ Mekong Delta đến Ðà-Nẳng. ông đáp xuống Hàng không mẩu hạm dự một cuộc thuyết trình oanh tạc Bắc Việt. Vào một buổi sáng đến phi trường Ðà Nẳng đang bị pháo kích. Trong khi thăm viếng, phi công phải bay vòng để khỏi bị hoả lực ở dưới bắn lên. Ðược hỏi, các người lính đều có ý kiến như nhau: “Chỉ đơn giản nếu Hoa kỳ giữ lời cam kết thì chiến thắng sẽ đến!” Bush-Cha giữ trong óc “sự kiện Vịnh BV và Trân Châu Cảng đều giống nhau vì số nhân viên tham chiến có quá nhiều” chỉ có một điều tối kỵ là quân Mỹ sẽ rút ra hết để lại biết bao thãm trạng bi lụy cho người dân miền Nam mà ông là người nối tiếp chính sách đó!
                  Ngày 11/5/1970 theo lộ trình John F Kerry và số đông Yale và các phân khoa sẽ đến hành lang Quốc hội: “Chúng tôi bầu các người để chấm dứt chiến tranh hay chúng tôi phải tống các ông các bà ra khỏi chiếc ghế Quốc hội?”Trong đám đông nầy có Giám đốc Ðại học Yale, Kingman Brewster; riêng Prescott Bush, Chủ tịch Hội-đồng Kỹ nghệ Quốc phòng, hiểu rất rỏ đường lối của Skull and Bones, đành phải phàn nàn “làm như vậy sẽ là một nhục khí cho Yale” Trong dòng họ Bushes, người cháu họ George Walker đang là lính chiến Sư-đoàn Dù, còn người cháu họ John Ellis đang hoạt động để chấm dứt chiến tranh.
                  Khi TT Nixon thắng cử 1968, ông giúp đở Bush-Cha được bầu là Dân biểu cho nhiệm kỳ đầu vì là đứa con của Prescott Bush, được chỉ định làm Ðại-sứ tại Liên Hiệp quốc 1970, Trưởng Hội đồng của Ðảng Cộng hòa 1973-1974, được ở trong tham mưu của TT Nixon. Nixon xem gia đình Bushes như là những thiên tài giúp đở tham mưu cho ông, 1976 được sự tín nhiệm giữ chức trưởng ngành CIA, Bush-Cha hy vọng được làm Phó cho TT Ford trong nội các dù không được dân bầu. Nhưng tôi vẩn nghĩ rằng: Bush-Cha là cố-vấn trong bóng tối cho Nixon 1969 về chính sách qua cái loa Kissinger, và sẽ bị hất ra khỏi chiếc ghế quyền lực bằng vụ Watergate, vì Bush-Cha mới thực sự là người nắm giữ chính sách ngay sau khi Harriman rời khỏi chính trường 1969.
                  Khi TT Nixon từ chức, Chủ tịch Quốc hội Gerald Ford lên làm Tổng thống, theo Tu chánh án 25th [The Twenty-fifth Amendment] TT Ford phải chờ Lưởng viện của Quốc hội chấp nhận theo phổ thông đầu phiếu. Riêng Ông Dean Burch, cố vấn Tổng thống Ford đề nghị: “Cá nhân tôi chọn George H.W Bush [Bush-Cha]” và Richard A Moore, một thành viên tham mưu toà nhà trắng: “Cha và ông của Bush-Cha, cả hai đều được mọi người kính nể và là chủ của nhửng nhà Bank lớn ở New-York. Nhưng không may thay, Bush-Cha đã bị thua phiếu của Nelson Rockefeller 68/101, TT Ford rất lấy làm tiếc, vì hai người cùng là bạn thân, Ford mời Bush-Cha vào phòng bầu dục hàn huyên nhưng tiếc thay không còn ghế nào cho Bush, và thật sự Bush cần làm trùm CIA để bao che Richard Helms, tác giả vụ Watergate
                  Nhưng không sao vì nắm chính sách, biết được thế chiến lược toàn cầu nên Bush-Cha cần qua Bắc kinh ngay để thương thảo về việc bỏ vốn làm ăn của Tư bản Mỹ. Như thay thế nhiệm vụ của Kissinger còn đang dang-dở và vô số đường lối ngoại giao của hai nước chưa được sáng tỏ cho lắm, Bush-Cha cần kiểm-điểm check l ại cho đúng lộ trình. Harriman dù xa lìa chính trường nhưng luôn luôn bám-víu, theo-dỏi kế hoặch Eurasian, ông tin tưởng tài ba của Bush-Cha, đặc biệt là về phương diện tình báo và phản tình báo; là một cố vấn vĩ-đại cho Bushes. Sự thiên tài độc đáo về tình báo chuyên trách của dòng họ Bush làm cho Harriman yên tâm, Bush-Cha sẽ đánh bại Cộng sản không khó lắm; Harriman cũng nhấn mạnh cho người kế vị của thế hệ sau biết rằng: “Phải tuyệt đối quan tâm và theo dõi sát nút về vấn đề ngoại giao, nhứt là với Trung quốc. Dù sao cũng phải rút kinh nghiệm như Harriman, con người tuy quyền hạn bao la nhưng người dân không biết đến, còn Tướng nổi tiếng Eisenhower thì làm sao họ không bầu cho ông. Harriman hai lần ra ứng cử Tổng thống đều thất bại (1952 và 1956) Con đường tốt nhứt nên dựa vào liên danh nào mà người cầm đầu phải là nổi tiếng mà người dân sẽ bầu như trường hợp tài tử Ciné hay Tướng tài [Eisenhower, Reagan…] Bằng giá nào cho kịp nếu phải làm Phó trước để lấy đà vào năm 1980 là thuận lợi nhứt theo lời Tổ-sư cố vấn W.A.Harriman, cuối cùng Bush-Cha chịu làm phó cho Liên danh Reagan, nhưng mà là phó với quyền hạn bao la. Giấc mộng của dòng họ Bushes đã được mỹ mản nhưng Prescott Bush đã nằm sâu dưới chín tầng địa ngục 1972

                  QUEENBEE-1

                  Comment

                  Working...