Chuyến tàu đầu tiên chở “BÒ-NGŨ” ra Bắc

Collapse
X
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • hieunguyen11
    Super Member
    • May 2011
    • 2230

    #16
    Mình có nhiều cơ hội để dẹp gọn Hà Nội, cơ hội thứ I là sau Mậu Thân 1968, chúng không còn quân, hậu cần và du kích thiệt hại rất nặng. Nếu Tổng Thống Thiệu ngán Mỹ thì để hội đồng tướng lãnh đứng ra bắc tiến và đặt Mỹ vào chuyện đã rồi, là xong ngay. Thứ II là sau cuộc dội bom B52 xuống Hà Nội, chúng sắp sửa treo cờ trắng, nếu mình Bắc tiến thì rất dễ dàng mà ít tổn thất. Nghĩ lại mà tiếc hùi hụi.
    Cám ơn anh vinhtruong nha
    HN11

    Comment

    • vinhtruong
      Super Member
      • Jun 2010
      • 1924

      #17
      Chuyến tàu đầu tiên chở “BÒ-NGŨ” ra Bắc

      Chào em hieunguyen11 có đưa ra 2 cơ hội để dẹp gọn Hà Nội...
      (1) anh chỉ tóm gọn như thế nầy: Hà Nội là hậu cần an toàn để chiếm miền nam theo định kiến-1 (axiom-1: There was never a legitimate non-communist government in Saigon: dissolution GVN) vì thế Permanent Government trang bị cho KQVN phi cơ short-range như T-6, T-28, T-37, T-38 và chỉ chở pháo chuột đưới cánh 1000pds snack-eye mà thôi,

      (2) Chiến dịch Linerbacker-II, Hà Nội đã đầu hàng rồi vì đã bắn hết trên 1300 SAM và không còn chiếc nào trong tay, nhưng Mỹ không cho đầu hàng, mà theo lộ-đồ chiến thắng Điện Biên Phủ trên không 1972 cũng như ĐBP dưới đất 1954, vì Hà Nội đầu hàng là sẽ bể kế hoạch chiến lược toàn cầu Eurasian-1 (1920-2020) là tái thiết VN như Marshall-Plan, Âu Châu, Nhựt sau 2 trái Bom nguyên tử - lấy chiếc ghế LHQ của THQG giao cho TQ nên giải nhiệm tướng Mc Arthur, giao VNCH cho Hà Nội thống nhứt để có thế mạnh đấu đá với TQ về thềm lục địa Biển Đông sau khi Mỹ di tản chiến thuật về Trân Châu Cảng 1973 qua Case-Church Act, để 10 năm sau cùng 2010-2020, Mỹ sẽ Roll-Back, và VN sẽ giúp Mỹ một tay trù dập TQ đưa Ấn Độ lên hạng-2 thế giới, và VN sẽ trở thành mũi nhọn (spearhead) sừng sỏ nhứt của NATO phương đông mà nước nào cũng kính nể. Dĩ nhiên Hà Nội sẽ lần lần thay đổi thế chế không có tiếng súng như thả tù lương tâm Bà Thanh Thủy và kế đó Hà Huy... một nhóm luật sư bị cầm tù với résume khá tốt “Those cakes were baked long ago… what would come next” để soạn thảo một hiến luật đứng đắn cho Tư Bản Mỷ rút vốn từ TQ đầu tư vào VN, vì phải bỏ vốn an toàn nhứt là khai thác đầu hoả tại thềm lục địa VN.
      Last edited by Phòng Trực; 10-11-2012, 08:47 PM.

      Comment

      • hieunguyen11
        Super Member
        • May 2011
        • 2230

        #18
        Anh vinhtruong kính mến,
        Em muốn tâm sự với anh những gì em nghĩ không biết có đúng không, anh cho em biết nha.
        Phần trên 2 anh em mình nói về quân sự. Còn chính trị theo em thì những đồng minh nào mà không nghe hoặc không làm theo Mỹ thì không tồn tại. Đầu tiên mỹ muốn đem quân qua VN để giữ tiền đồn chống CS, Tổng Thống N. Đ. Diệm không làm theo nên bị mỹ giết. Đến nền Đệ II Cộng Hoà, Mỹ muốn Miền Nam thực hiện Dân Chủ một cách tuyệt đối, nhưng T.T. Thiệu không nghe bằng cách độc diễn việc tranh cử, ngoài ra còn nhiều việc nữa mà TT Thiệu không làm theo nên Mỹ bỏ Miền Nam. Philippine, Nam Hàn, Đài Loan...làm theo Mỹ nên họ tồn tại. Nhật đã thua Mỹ nhưng Mỹ đâu có bắt Nhật làm chư hầu như Trung Cộng đâu. Nhật Hoàng khôn khéo nghe theo Mỹ, nên Mỹ giúp Nhật phát triển và đứng vững. Đúng không anh, xin cho em biết nha!
        Last edited by hieunguyen11; 07-23-2011, 12:40 AM.

        Comment

        • vinhtruong
          Super Member
          • Jun 2010
          • 1924

          #19
          Chuyến tàu đầu tiên chở “BÒ-NGŨ” ra Bắc

          Em muốn tâm sự với anh những gì em nghĩ không biết có đúng không, anh cho em biết nha!... Nơi đây anh cũng chỉ tâm sự với riêng em mà thôi!

          Vấn đề chính trị thật ra vô cùng phức tạp: nó xuất phát từ thế siêu chiến lược mà 6 người thông thái giàu có của Mỹ qua cuốn sách “The Wise Men” thống lãnh thế giới. Họ đi đến quyết định cho thế chiến lược toàn cầu 100 năm từ 1920-2020 mà họ đặt cho cái tên Eurasian Great Game, sẽ tách rời các nước Cộng Hoà LX để theo Mỹ trước tiên và kế tiếp là các nước Cộng Hoà TQ nằm vào khu vực Trung Á sẽ tách rời qua bửu bối “tối huệ quốc” (The freedom support Act), các nước Cộng Hoà nầy mức sống của họ cao hơn người dân ở Moscov và Bắc Kinh. Ðể kết thúc Eurasian-1 Hoa Kỳ, đang trù dập TQ trong 10 năm sau cùng 2010-2020 để đưa Ấn Ðộ thế vào cường quốc thế chưn chỗ TQ cho sách lược Eurasian-II (2020-2120).
          Biển Đông, đoạn kết của sách lược “Eurasian Great Game-1” (1920-2020) - 10 năm sau cùng Hoa-Kỳ phải đưa Ấn-Ðộ thế ngôi vị hạng-2 của T.Q!

          Lịch sử đứng đầu thế giới của Mỹ 100 năm qua theo như chiến lược Eurasian Great Game 1920-2020: là chặn đường đấu tranh tiêu diệt các đối thủ hạng-2 của thế giới, những quốc gia giàu mạnh đứng nhì thế giới mà muốn dành vị trí đứng nhất của Mỹ như hiện nay đều bị Mỹ đánh cho suy yếu vỡ ra từng mảnh. Từ đó Mỹ đứng làm chủ cái chia bài (dealer) muốn nước nào hạng-2 phải phục tùng theo quyền lợi Amarican First. Hay nói cách khác Mỹ là soạn giả Tam Quốc Chí tân thời nhưng có “quyền chọn bạn một thời gian rồi trở nên thù” cho trò chơi chính trị, rõ ràng nhứt thể hiện tại chiến trường Việt Nam, thoạt đầu Liên Xô hạng-2, đến khi Mỹ bứng hạng-2 của LX hứa cho TQ 1972, và bây giờ Mỹ (Obama) đang muốn đưa Ấn Độ lên hạng-2 như một dư âm hồn ma vì Ấn-Độ chưa đủ điều kiện cần và có (criteria) vì thế Mỹ muốn chêm thêm phần công-lực bằng cách nhập Việt Nam một nước rất chịu đánh đấm vào trục Ấn Độ để chận cửa ĐNÁ và Đông Á. (US President Barack Obama has hailed India's rise as a world power, days ahead of a visit to the country, calling the South Asian nation a "cornerstone" of US engagement in Asia.Obama said "my vision is a US-India partnership in which we work together to shape a more secure, stable, and just world"). Vừa rồi Bà Hillary Clinton qua Ấn Ðộ xác minh thêm một lần nữa.

          -1) Từ năm 1880 GDP Mỹ vượt qua Anh, và đứng hạng-1 thế giới đến năm nay 2010 Mỹ đứng nhất đã được 130 năm .

          -2) 1918 chiến tranh thế giới thứ-1 nổ ra: (tiêu nước Anh đang hạng nhì thế giới)
          Mỹ viện trợ và xúi Đức (Đức hạng tư thế giới) và Áo đánh Anh và Pháp, gây nên chiến tranh thế giới thứ-I.
          Sau chiến tranh thế giới thứ-1, Anh suy yếu, Nước Nga ngoi lên đứng nhì thế giới,

          -3) 1939 chiến tranh thế giới thứ-2 nổ ra: (tiêu tùng nước Nga đang hạng nhì thế giới)
          Mỹ viện trợ xúi Đức đánh Nga, gây nên chiến tranh thế giới thứ-2, sau chiến tranh thế giới thứ-2, Nga suy yếu, nước Trung Quốc ngoi lên đứng nhì thế giới nhờ Mỹ viện trợ cho sự lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch đi theo con đường Tư Bản Chủ Nghĩa.

          -4) Thập niên 1950 cộng sản hóa Trung Quốc nhờ Mỹ đi ngõ sau với Mao, Mao giúp Mỹ tiếp tục chia 2 Triều Tiên và Việt Nam như vừa chia 2 Đức sau thế chiến-2 (tiêu nước Trung Quốc đang hạng nhì thế giới) Nhờ phản gián móc nối, Mỹ đưa bom nguyên tử cho Mao Trạch Đông, giúp Mao đánh bại Tưởng Giới Thạch, và phi cơ CAT của CIA áp lực lo chở di tản T.G Thạch và đồng bọn ra đảo Taiwan, (lập lại DC-6 CƯỠNG BỨC chở TT THiệu qua Ðài Loan) cộng sản hóa toàn nước Trung Quốc, gây nên 1 Trung Quốc kiệt quệ về kinh tế rồi sẽ giúp đỡ, để có cớ kéo lên theo tư bản sau. Trung Quốc cộng sản suy yếu, Liên Xô gượng dậy sau thế chiến, ngôi lên hạng-2 thế giới nhờ Mỹ viện trợ 1941-1946 Aid to Russia Plan, renewed, reactivated nên VN mới có tàu ngầm và phi cơ tối tân do Mỹ cà Credit Card cho công nhân LX có công ăn việc làm. Tất cả các nước nhận viện trợ đều bắt buộc phải nhận nguyên vật liệu từ Mỹ như là điều kiện bắt buộc

          -5) 1991 Mỹ đánh Liên Xô vỡ ra từng mảnh qua New Euarasian Great Game by 2nd Dynasty Skull and Bones, World-Emperor George H W Bush (tiêu nước Liên Xô đang hạng-2 thế giới)
          Lần đầu tiên Mỹ diệt 1 quốc gia hạng-2 sừng sõ nhứt là Liên Xô mà không cần dùng đến hành động quân sự, chỉ bị tiêu hao rỉ máu về kinh tế rồi ngã chết, dĩ nhiên 10 năm sau cùng trù dập TQ thì quá dễ (như Tổng Thống Kennedy đạo đức hơn thì trái lại tuyên bố : muốn diệt Cộng Sản, không cần tốn 1 viên đạn với chủ nghĩa căn bản về tư bản, nhưng triều đại 2 Skull and Bones phải sản xuất vũ khí là phương tiện và nắm vòi xăng để thống lãnh) Mỹ dùng chiến tranh kinh tế và khí tượng để phá hoại Liên Xô, Cuba, và Việt Nam (đến nỗi sông ngòi Cửu Long trứng cá cũng bị tiêu diệt, giây trồng khoai lang, hom khoai mì đều bị khô cháy phải ăn bo bo) LX vỡ ra từng mảnh vì giúp các nước đàn em bị thiên đàng Cộng Sản mê hoặc. Nước Trung Quốc ngoi lên hạng-2 thế giới như Nixon đã hứa 1972 hạng-2 thế giới.

          -6) 2010 đến 2020 Mỹ đánh Trung Quốc vỡ ra từng mảnh: (tiêu nước Trung Quốc đang hạng-2 thế giới) Vì Mỹ quan niệm không thể có 2 mặt trời mọc một lượt trên Biển Đông.

          Tại sao Mỹ phải đánh Trung Quốc vỡ ra từng mảnh trong 10 năm tới?
          Theo chiến lược Eurasian: năm 2020 nếu Trung Quốc vẫn duy trì được đà phát triển như hiện nay, GDP Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ, và đứng nhất thế giới. Nếu Mỹ không đánh gục Trung Quốc trước năm 2020 ,thì Mỹ sẽ xuống vị trí thứ hai, nhưng người viết nghĩ không thễ xảy ra vì Mỹ đã chuẩn bị chu đáo cho tương lại phải hạ bệ TQ sau khi đưa lên một thời gian theo nhịp điệu cung cầu. Làm gì Mỹ sẽ chịu kiếp Quốc Gia hạng hai, như các bạn đã thấy kiếp quốc gia hạng hai như Trung Quốc, Liên Xô… Chẳng nước nào coi trọng, nói chẳng ai nghe, đồng tiền chẳng ai thèm xài, dân nghèo, nước lạc hậu… Vì bị nước hạng nhất (Mỹ) dùng sức mạnh kinh tế, quân sự, chính trị vượt trội để kèm kẹp LX và TQ có thể đưa Ấn Độ lên hạng-2 thời gian thật ngắn đễ dằn mặt hai nước kia. Dùng sức mạnh đồng USD: chuyển USD vào nhiều thì hình thành bong bóng tài sản, đợi giá thật cao bán sạch, rút USD ra thật nhanh làm bể bong bóng, gây khủng hoảng kinh tế như hiện nay chính ông nội Mỹ là thủ phạm (khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 – thị trường chứng khoán Trung Quốc và Nga giảm giá trị 4 lần, 4 đồng còn 1 đồng. Đánh bằng quân sự không vui nên đổi qua kinh tế vui hơn).
          August, -2008 Mỹ ra lệnh cho Georgia đánh 2 vùng ly khai, cho Nga tham chiến, để Nga không được Georgia ủng hộ vào WTO, Nga đứng trước tương lai chậm được vào WTO trong nhiều năm nay là Mỹ chơi, làm các nhà đầu tư rút vốn khỏi nước Nga, Stock Nga rớt 4 lần. Nếu Mỹ đánh vỡ được Trung Quốc ra từng mảnh, thì Mỹ sẽ giữ được vì trí quốc gia hạng nhất cả 100 năm nữa, từ 2020-2120. Vì không còn nước nào dành vị trí nhất thế giới với Mỹ, tiếp tục chiến lược toàn cầu lần thừ-2 là “Eurasian-Great Game-2”:
          -Trung Quốc bị nội loạn vỡ ra, Tây Tạng Đức Đạt Lai như hồn ma và 1 vài tỉnh tách ra từ các tỉnh theo đạo Hồi, Tân Cương làm cho diện tích Trung Quốc chỉ còn 1/2 của Mỹ, Mỹ sẽ kềm kẹp Trung quốc giống như kềm kẹp kinh tế Nga bây giờ, không cho phát triển. Một nước Trung Hoa thay đổi lá cờ theo ý nguyện người dân và Việt Nam cũng rứa.
          -Quốc gia hạng ba là Ấn Độ có dân số gấp 3 lần Mỹ, nhưng có diện tích 1/2 của Mỹ, và là xứ nhiệt đới nóng bức không thuận lợi cho những người sử dụng trí não nhiều, nên sẽ thiếu nhân tài để phát triển quốc gia. Nên cả 100 năm nữa Ấn Độ mới đe dọa vị trí đứng nhất của Mỹ, nhưng Mỹ nâng lên hạng-2 là vui vẻ lắm rồi như đang có kế hoạch nhập với VN, một nước chịu chơi ưa-thích đánh đấm để hù doạ TQ.
          -Còn Nga thì diện tích lớn hơn Mỹ một ít mà không hữu dụng, quanh năm tuyết phủ, dân số được phân nửa Mỹ, nên không bao giờ qua mặt Mỹ được.
          -Brazil thì còn thua Ấn Độ nữa mà còn bị Mỹ đì vì lỡ dại chơi với TQ….
          Nếu Mỹ đánh vỡ Trung Quốc, Mỹ được 100 năm vinh quang, hoặc mãi mãi đứng nhất thế giới nữa với điều kiện phải chia năm xẻ bảy TQ. Nhưng TQ rất khôn sẽ nhường Mỹ và mềm như con bún để bám được hạng-2 thế giới. Vì thế rất may cho sự khôn ngoan của TQ Mỹ sẽ xét lại và cho TQ quản lý việc khai thác dầu khí vùng phụ cận như tại Biển Đông và đóng thuế cho các nước có chủ quyền trên thềm lục địa do LHQ quyết định, chủ yếu bán sản phẩm bằng dollar Xanh do Mỹ quyết định thương trường phân phối sản phẩm.
          Nếu Mỹ không đánh Trung Quốc, Mỹ chỉ còn 10 năm vinh quang, sau đó như Anh, Pháp bây giờ, phải ôm chân Mỹ cùng hưởng giàu sang. Chống Mỹ thì nghèo đói như Nga, Trung Quốc, nghĩa là Mỹ phải ôm chân quốc gia đứng nhất là Trung Quốc, Trung Quốc nói gì cũng phải nghe. Vậy chỉ còn con đường duy nhất là Mỹ phải đánh Trung quốc trong 10 năm tới, đúng theo Eurasian Great Game-1 để chuyển qua 2, vì vòm trời không bao giờ có hai mặt trời cùng mọc một lượt.
          Trước tiên Mỹ đánh Trung Quốc bằng kinh tế và bằng chính trị (giống như đánh vỡ Liên Xô năm 1991) như sau: Mỹ kiếm cớ tố Trung Quốc là "nước thao túng tiền tệ", tạo cớ để Mỹ đánh thuế nhập khẩu lên hàng Trung Quốc 30 % chỉ trong 6 tháng. Tất cả các hãng Trung Quốc sẽ phá sản, vì nền sản xuất Trung Quốc tồn tại chính yếu dựa vào thị trường tiêu thụ Mỹ, đó là cái láo cá của Mỹ khi bắt tay Mao Trạch Đông 1972. Không bán được hàng, tất cả các hãng Trung Quốc sẽ phá sản, còn Mỹ mua hàng các nước khác mắc hơn 10 % không sao cả, và chủ mưu như thế. Mỹ sẽ tố Trung Quốc giữ giá trị đồng tiền thấp, để tạo ra phong trào trên toàn cầu áp thuế chống bán phá giá lên hàng Trung Quốc, để hàng Trung Quốc khó tiêu thụ trên toàn thế giới. Trò chơi chiến tranh kinh tế kiểu mới nầy Mỹ rất Exciting.
          Áp thuế phá giá 30% lên từng ngành hàng của Trung Quốc thay phiên nhau, gây phá sản lần lượt từng ngành sản xuất của Trung Quốc, sau khi chơi trò Chó Mèo ngộ độc, trẻ con bị đe doạ qua trò chơi mới… Nếu Trung Quốc nghe lời Mỹ tăng giá trị đồng tiền so với USD, thì Mỹ sẽ nâng giá đồng USD vừa đủ cho kinh tế Mỹ phát triển ổn định, còn đồng tiền Trung Quốc tăng giá vượt qua tốc độ tăng của USD sẽ ngăn cản sự tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc, kinh tế Trung Quốc sẽ đi xuống, các nhà đầu tư sẽ rút ra khỏi Trung Quốc, Trung Quốc sẽ gặp khủng hoảng (Như khủng hoảng kinh tế Trung Quốc năm 2008, Stock Trung Quốc xuống 4 lần) TQ không bình yên với Mỹ đâu! Còn nếu Trung Quốc hạ giá đồng tiền so với USD, các nhà đầu tư Mỹ sẽ rút đầu tư ra khỏi Trung Quốc, và chuyển qua VN như là cơ duyên nghiệp quả, vì đầu tư vào nơi có đồng tiền xuống giá sẽ lỗ, gây khủng hoảng kinh tế Trung Quốc triền miên. Mỹ đánh Iran, mượn cớ chiến tranh cản đường vận chuyển dầu đến Trung Quốc trong 6 tháng, nền kinh tế Trung Quốc sẽ phá sản vì không có dầu để sản xuất, lập lại chuyên cô lập dầu hoả cho Nhứt trong thế chiến-2, để công nhân không còn phương tiện di chuyển đến sở làm, hãng xưởng sẽ phá sản hàng loạt. Ra lệnh cho các nước có mâu thuẫn biên giới với Trung Quốc, kiếm chuyện cho Trung Quốc tấn công đó là nghề cũa chàng (giống như Nga buộc phải tấn công Georgia) Mỹ tố Trung Quốc chiếm nước khác bất hợp pháp, tuyên bố cấm vận Trung Quốc, kinh tế Trung Quốc tan ra tro.

          Chiến tranh thế giới thứ III :
          Nếu đánh bằng kinh tế mà Trung Quốc chưa vỡ thì bắt buộc Mỹ phải đánh bằng nước cờ cuối cùng đánh bằng quân sự, Mỹ đánh Irắc để có nguồn cung cấp dầu bảo đảm, trong lúc chiến sự xảy ra giữa Mỹ với Trung Quốc, Mỹ đánh Afghanistan để đưa quân Mỹ sát biên giới Trung Quốc. Mỹ bán và dàn trận các tên lửa chống hỏa tiễn SM3 khắp Trung Đông, để bảo vệ các mỏ dầu chống hỏa tiễn Trung Quốc, bảo đảm nguồn cung cấp dầu, bán hỏa tiễn SM3 cho các nước có biên giới giáp Trung Quốc, kể cả Việt Nam sau nầy nếu chịu đứng chung chiến tuyến với Mỹ đánh Trung Quốc. Mỹ thuê căn cứ Manas ở Kyrgyzstan giáp biên giới phía Tây của Trung Quốc. Mỹ đặt căn cứ quân sự trên đảo của Tây Ban Nha gần Venezuela nhằm cản Venezuela vận chuyển dầu cứu Trung Quốc. Mỹ triển khai máy bay 747 trang bị vũ khí Laser, bắn hạ các hỏa tiễn nguyên tử của Trung Quốc bắn lên. Mỹ sẽ ra lệnh cho các quốc gia đệ tử Mỹ, xung quanh Trung Quốc, khiêu khích cho Trung Quốc ra tay, ví dụ như: Đài Loan bắn chìm 1 chiếc tàu của Trung Quốc. Việt Nam tấn chiếm lại Hoàng Sa, Trường Sa. Nhật đánh chiếm mỏ dầu ở Đảo Điếu Ngư của Trung Quốc trong vùng biển tranh chấp. Ấn Độ đánh Trung Quốc trên biên giới Ấn Hoa tố Trung Quốc xâm phạm biên giới, Ngụy-tạo điều kiện lập lại Vịnh Bắc Việt (Tonkin Incident) gọi là Bắc Hàn bắn chìm 1 tàu chiến Mỹ, Mỹ đánh chiếm Bắc Hàn, Trung Quốc tham chiến. v.v….… Mỹ mượn cớ đó cùng với các nước đánh Trung Quốc tứ phía, kể cả đánh bằng nguyên tử: Phía Đông Bắc có Nhật, Nam Triều Tiên - Phía Đông có Đài Loan - Phía Đông Nam có Philipines, Thái lan, có thể có Việt Nam vì Việt Nam cần chiếm lại Hoàng Sa (vào cơ hội nầy VN chấm dứt sách lược đu dây để không thành bãi chiến trường, đó là cái khôn ngoan của VN), Trường Sa. Mỹ đang ve vãn Việt Nam và Miến Điện, phía Nam có Ấn Độ, phía Tây có quân đội Mỹ và NATO ở Afghanistan; Trung Quốc bắn vào quân Mỹ ở Afghanistan sẽ trúng quân NATO, Các nước NATO cùng nhau tấn công Trung Quốc.
          Kết quả nước Trung Quốc tan hoang, vỡ ra từng mảnh vụn, mỗi nước chiếm 1 miếng, Việt Nam chiếm 1 miếng (xác nhập đảo Hải Nam, HS, TS) Nhật chiếm 1 miếng, (đảo Điếu Ngư) Ấn Độ chiếm 1 miếng, Tây Tạng độc lập, hình thành nhiều quốc gia theo sau sự mâu thuẫn giữa các tôn giáo, các dân tộc thiểu số với Cộng Sản như : quốc gia Hồi Giáo, quốc gia Thiên Chúa Giáo , các quốc gia của các dân tộc thiểu số: Duy Ngô Nhỉ, Quảng Đông, Tiều, Quan Thoại... Đoạn kết Eurasian-1, Nam Hàn thống nhất nam bắc Hàn trong tình trạng huy hoàng không đau khổ như ở VN, Việt Nam sẽ giống như các nước Đông Âu: Ba-Lan, Rumani... sau 1991. Giải phóng Iran, Venezuela, Cuba, Việt Nam, Bắc Hàn, Miến Điện… sẽ được bầu cử tự do giống như Iraq, một nước dân chủ là cơ chế mẫu cho các nước Trung Đông, có sự kiểm tra của Liên Hiệp Quốc. Tất cả các quốc gia trên thế giới đều nằm trong lòng bàn tay của Mỹ, Mỹ muốn nước nào sống thì sống, mà muốn chết thì chết. Hy vọng rằng sẽ không có thế chiến thứ III, mà Trung Quốc vẫn vỡ ra, đó là ước mong lớn nhất của những nhà lãnh đạo Mỹ trong Eurasian Great Game.

          Ðể tóm tắt về mục nầy, em có thể nhìn về “mặt nổi” sự đón tiếp lãnh tụ VN thì rõ:
          - TT Ngô Ðình Diệm: TT Mỹ Eisenhower và Quốc Hội đón tiếp vô cùng trang trọng kể cả thành phố lớn nhứt New York 1957.
          - TT Nguyễn Văn Thiệu: có quá tệ nhưng cũng toà bach ốc phía tây San Clementi.
          - Nhà lảnh tụ VN: Ở hậu-môn, vì đối với Permanent Government không gọi VN là Cộng Sản mà gọi là Mafia VN theo trong lộ-đồ Màn-2 giai đoạn-2 của sách lược Eurasian-1 về “mặt chìm”; còn “mặt nổi” là Cộng Sản để thế giới có mục tiêu mà tấn kích mà quyên đi sách lược “bỏ phiếu bằng chân” tàn độc, tạo nên một cái nghĩa trang gần nửa triệu người nằm dưới đáy biển TBD.
          - Sẽ nối tiếp như hồi đón đầu tiên vị lãnh tụ một nước VNCH, nhưng chỉ khác bây giờ thống nhứt dân chủ và hùng cường như những gì Hiệp định Genève 1954 mà chỉ có độc nhứt phái đoàn Mỹ cương quyết chống đối chia đôi VN (nhưng sự thật trong sách lược chia đôi 3 quốc gia có Ðức, Triều-Tiên và VN theo thiết kế của George Kennan. Sau cùng thống nhứt nước nào có quân đội Mỹ ở lại làm hậu cứ thì cứ việc đưa quân qua chiếm nước kia, duy chỉ có VN thì Mỹ hơi vất vả là trong vòng 72 tiếng phải thay đổi 3 tổng thống và cái quan trọng nhứt là “đuổi Mỹ”. Mỹ người khách bị chủ nhà đuổi nên phải “đồng minh tháo chạy”.


          Queenbee-1
          Last edited by Phòng Trực; 10-11-2012, 09:15 PM.

          Comment

          • vinhtruong
            Super Member
            • Jun 2010
            • 1924

            #20
            Queenbee-1 vượt thoát nhà tù Lớn

            VƯỢT BIỂN TÌM TƯƠNG LAI CHO CON CHÁU

            Một tài liệu mật của CIA đã tiết lộ cho thấy: “Sẽ có một cuộc chạy trốn trong hỗn loạn ra khỏi Việt Nam và Cộng Sản BV khủng bố, trả thù!” Chúng tôi, những người lính chiến, trực diện với chiến trường phải chịu ảnh hưởng hoàn toàn vào tài liệu nầy, để cho các cấp thật cao chạy ra khỏi nước. Hậu quả của cảnh ‘Rắn mất đầu’, để rồi người chiến sĩ chiến đấu đến giờ phút cuối cùng phải buông súng bị bắt vô tù cả lũ. Thật là một màn tuyệt luân trong vở bi-kịch dài mà W.A. Harriman (1891-1986) là soạn giả qua Henry Kissinger là đạo diễn đặc trách trong màn diễn phụ có cái tên là “Pennsylvania” nhưng đầy dẫy tang tóc bởi những cuộc ‘đi đêm’ với CSBV Hà-Nội, đi đến bức tử chế độ Việt-Nam Cộng-Hòa… Để rồi, những Sĩ quan cấp nhỏ như chúng tôi phải chịu cảnh gọi là được sự khoan hồng của Đảng cho đi “Học tập cải tạo” Nhưng thực tế đó là một sự trả thù dã man nhất giữa con người đặt ra, để đày đọa, thủ tiêu lần mòn con người.
            Sau một thời gian gần 13 năm tù đày, tôi phải sáng mắt để tìm đường vượt biển. Thế mới biết qua tài liệu mật, sự tiết lộ của CIA, đúng theo sự thiết kế tính trước của họ, thật không sai chút nào về thảm trạng. Sự khủng bố đã xảy đến cho chúng tôi trên thực tế thật vô cùng thảm khốc, kinh hoàng vượt qua khỏi sự ước tính dự trù của kế hoạch! (Dù rằng cuộc họp tháng 10 năm 1972, Kissinger đã tuyên bố “Hòa bình trong tầm tay” Sau khi bí mật bàn giao Miền-Nam cho Hà Nội và nhắn nhủ CSBV không nên căm thù các viên chức và Quân đội Miền Nam, mà kẻ thù số (1) là chính cá nhân mình, số (2) là các Đảng viên với nhau, số (3) là toàn dân mà trong đó có vài Đảng viên CS. Hiện tại thì chưa ai hiểu nổi, nhưng 30 năm sau quả đúng là lời tiên-tri của Harriman, người đại đế giấu mặt của thế giới.

            Trong thực tế, có cả chục ngàn chuyến vượt biên, nhưng xem ra chả có chuyến vượt biên nào giống nhau cả. Với hoàn cảnh, số người, phương tiện, chiếc ghe, con tàu, máy tàu, thời tiết, biển động, thời gian lênh đênh… tất cả cũng đều là những khoảng cách kéo dài khác nhau… nhưng chỉ giống nhau ở chỗ tăng thêm thảm trạng khốn cùng của những kẻ đã đi tìm sự sống trong cõi chết… với nét mặt luôn luôn lo âu hằn lên đầy thống khổ… nhìn về phía chân trời mờ mịt… vô định, trong tim óc luôn khắc sâu lảng vảng bóng dáng tử thần!.
            Tôi cũng thừa hiểu, người Tù nào với năm tháng quá dài lại không mòn mỏi được ra khỏi tù; Vì cứ tưởng ra khỏi tù là trút xong mọi gian khổ, nhưng không! Gian khổ, nhục nhã còn kéo dài lê thê cả đời người chưa dứt, mà kéo theo cả đời con, đời cháu nữa. Thôi đành phải tìm cách liều mạng thêm một lần nữa, hy sinh đời bố để củng cố đời con.
            Rồi một ngày, có người đến rủ rê, mời mọc, cho tôi đi vượt biên cùng với họ, khỏi phải đóng góp. Họ chỉ cần xử dụng tôi như một công cụ biết nói vì tôi có một chút ít Anh-ngữ, phòng khi gặp tàu bè nước ngoài để giao tiếp. Nhưng một mình tôi đi ra nước ngoài để làm gì? Không con, không cháu; vã lại, tôi cũng đã từng ở dưói chín tầng Địa ngục đang ngoi lên, thì đâu cũng là Thiên Đàng cả! Tương lai Con Cháu tôi mới là điều tối quan trọng, và chỉ có như thế tôi mới dám hy-sinh tính mạng, kết cuộc, tôi từ chối không đi với họ.
            Đứa con gái lớn của tôi vì quá thương Cha và rất hiểu tâm trạng của tôi, nên nó bán tháo cái nhà được vài cây vàng và mua được một chiếc ghe cũ-kỹ, đáy bằng đi sông, hai bên mũi có vẽ hai con mắt (đen trắng đỏ) theo tục lệ của các ghe thuyền đi trên sông rạch… Một điều tối ư quan trọng là bản đồ và địa bàn, hai thứ nầy (hình ở cuốn 2 “The New Legion”) bản đồ nhỏ in trong cuốn tự-điển và địa bàn như cái đồng hồ đeo tay của hướng đạo sinh. Bao nhiêu đó là những vật cụ cứu cánh cho cuộc hải hành, làm sao tôi dám chường mặt để tìm mua những thứ nầy trong điều kiện khá rõ ràng hơn, trong khi tôi mới ra khỏi tù và đang bị Công-an địa phương theo dõi.
            Trong 100 ngày ròng rã, mỗi ngày khi trời tờ mờ sáng là tôi đã thức dậy ra sau nhà, dùng xẻng và cuốc đào một cái ao thả cá, bề ngang 6 thước bề dài 30 thước. Trong khi đó tư tưởng tôi dồn hết mọi nổ lực để suy nghĩ đến chuyến vượt biên quá mong-manh nầy. Đi đâu? nước nào? Vào thời gian nào gió lặng? “Tháng Ba bà già đi biển” là không kịp rồi vì tôi mới ra khỏi tù được gần một tháng! Dĩ nhiên tôi chọn nước nào gần nhất như Thái-Lan hoặc xa lắm là Mã-Lai… vì đây là chiếc ghe đi sông, nên chạy dọc theo bờ biển là điều nên áp dụng cho chuyến hải hành, cùng nhiều trường hợp khác nhau cũng như tình huống bất trắc xảy ra để giải quyềt.
            Đến ngày thứ 85, tôi đã thả một đợt cá Phi giống đầu tiên, các Công-an chìm, nổi đều tin-tưởng tôi đang là người mà theo họ nghĩ “Học tập tốt, lao động tốt”.
            Ngày 12/5/1988, gia-đình tôi, gồm tôi, 3 đứa con và 2 đứa cháu cùng âm-thầm dùng chuyến xe đò thường nhật chạy xuống các tỉnh Miền Tây, nhưng khi xe ghé qua kinh Long-Định thì chúng tôi xuống, chúng tôi ăn-mặc rất đơn-sơ như người dân quê địa phương. Bước xuống đi băng vào chợ để che mắt công-an chìm theo dõi. Mọi người, kẻ trước người sau, mon-men theo một con hẻm, đường đất gồ-ghề chạy về hướng Nam, dưới dãy hàng dừa nằm dọc theo bờ đê, cùng song song bên trái là con rạch nhỏ. Chiếc ghe và người tài công đang phục chờ chúng tôi tại cuối một con rạch nầy, cách xa chợ Long-Định chừng 2 cây số. Người tài công là thổ địa của vùng sông rạch, anh biết rõ lúc nào con nước lên xuống cũng như các ghềnh, giàn đáy và các cồn cát, từ Long-Định ra tới cửa biển vào khoảng 60 cây số.
            Bóng đêm cũng toả xuống mau lẹ, xa về cuối đám dãy hàng cau. Chúng tôi được chủ nhà nơi đây cho một bữa ăn rất đầy đủ hương vị Quê-hương, nhưng nào có ai thưởng thức được gì, ngoài những tiếng thở dài, hồi-hộp, não-nuột. Nhai những hạt cơm giống như nhai sỏi đá, tôi có thể hình dung chúng đang di chuyển khó khăn từ cửa miệng xuống cuống họng và tụt xuống đến dạ-dày như những vật cứng chuyển động một cách chậm chạp, khó-khăn.
            Khi màn đêm bắt đầu bao phủ hoàn toàn, một em bé trai trạc hơn 10 tuổi chạy về, hướng dẫn, chúng tôi theo nó ra đến nơi ghe đậu để bắt đầu xuất hành. Trên đường đê trơn trợt, thằng bé thình-lình ra dấu cho chúng tôi vào núp một khoảng bụi rậm và ngồi đây chờ. 10 phút sau có tiếng máy ghe đuôi tôm to dần… rồi vụt tắt. Thằng bé hướng dẫn chúng tôi ra một bờ rạch nước cạn, rồi mỗi người tự lội bì bõm qua đám sình cao đến đầu gối. Leo lên đến ghe thì ai ai cũng bị giày dép dính chặt, nên phải kẹt bỏ đại dưới đáy bùn. Kể từ giờ phút nầy, mọi người đều phải núp kín trong lòng ghe để cho các tàu tuần của VC cứ lầm tưởng lẫn lộn với những chiếc ghe chở trái cây gồm chuối, dừa… ra chợ Mỹ Tho để bán.
            Ngồi trong lòng ghe, trống ngực tôi đập thình-thịch không khác gì những lúc sắp đáp thả Toán Biệt Kích Strata vào đường mòn Hồ-Chí-Minh. Tất cả mọi người gồm 4 đứa trẻ và 9 người lớn, ai ai cũng đặt hết niềm tin vào anh Hai tài công sông rất quen thuộc ở vùng nầy. Đang đi ngang vùng nguy hiểm, những ánh đèn vàng mờ ảo của thành phố Mỹ Tho đang lố nhố hiện ra bên hông trái tôi, phải tránh né các ghe xuôi dòng, các phà đang băng qua sông, xuồng chèo, ba lá dày đặc nơi bến chợ, bến đò. Qua kẽ hở mui lá, tôi cảm nhận như có điềm tốt là con nước đang chảy xiết rút ra cửa biển. Qua khỏi Mỹ-Tho một đoạn khá xa, khi nước thủy triều đang xuống, lòng sông vắng lặng ít xuồng-bè qua lại.
            Thình-lình, tiếng máy nổ bất thường… rồi tắt tịt, Tim tôi như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, anh Hai đang cố gắng giật dây kéo máy; cứ mỗi lần giật dây, là mọi người ai nấy cũng đều cầu nguyện. Nhưng hú hồn, hú vía máy bỗng nổ lại một cách ngon lành. Trước buổi chiều nay, chúng tôi góp tiền mua được thêm một cái máy đuôi tôm, tuy cũ nhưng vẫn còn tốt và một chiếc bougie mới toanh hiệu Champio, nên cũng thấy vững tâm được phần nào. Riêng theo kinh nghiệm, thì anh Hai tài công có ý nên mua thêm vài cái chong-chóng để phòng khi bị sóng đánh gãy. Nhưng dù gì đi nữa, điều quan trọng nhất cũng phải ra khỏi cửa biển trước khi mặt trời mọc để khỏi bị công-an theo dõi rượt đuổi.
            Thình-Lình, máy lại tắt một lần nữa, anh Hai lại lăng-xăng giật dây máy liên hồi cho đến khi máy nổ lại, trong sự cầu nguyện van vái của mọi người, Tôi đang bâng-khuâng lo sợ khi ra đến cửa biển không còn kịp, để nương nhờ vào bóng đêm bao trùm che khuất. Bây giờ đã 3 giờ sáng, đang hiện lên nơi cây kim lân tinh trong chiếc đồng hồ đeo tay.
            Máy lại tắt… như vậy là không biết bao nhiêu lần, làm sao ra cho kịp đến cửa biển đây!
            Không kịp rồi! gần tới cửa biển trời sáng sớm hơn, chiếc ghe đang xé nước lướt nhanh tới trước, nước rẽ hai bên nhập với sức đẩy cuồn cuộn phía sau, tạo thành lớp sóng trôi lan dần vào bờ, rác rưởi quyện với lục bình trôi nổi đầy sông theo con nước xiết chảy ra biển. Rừng cây đước trước mặt, báo hiệu sắp đến cửa biển, đước là cây rừng mọc dưới nước nửa mặn và nửa ngọt, sớ mịn và chắc, dùng làm củi đốt rất lâu tàn. Tôi thấy một chùm rễ to như bàn tay năm ngón, chụp xuống đất sình, cố chống đỡ thân cây khô cằn chơ-vơ trên mặt nước. Rễ của nó bám giữ đất phù-sa, làm bờ sông hai bên lớn dần ra biển, thân cây đước cũng là hàng rào thiên nhiên chắn gió cùng sóng biển rất tốt để giảm thiểu sự xoi món, Trái của nó có cái đuôi dài và nhọn, từ trên cao rớt xuống cắm phập vào đất sình, cái đuôi bám sâu xuống đất, nước thủy triều lên xuống không làm trôi được và từ đó đâm mầm mọc rễ.
            Rồi chuyện gì đến sẽ đến, chiếc ghe mong-manh nầy lại từ từ đang chạy ra cửa biển, “Trạm biên phòng” Tôi phập phồng hồi-hộp, lúc nầy mà máy tắt nữa thì không biết số phận chúng tôi sẽ ra sao đây? Trong lúc ánh nắng ban mai bắt đầu nhen nhúm tận chân trời, tiếng máy đuôi tôm nổ đều đều như muốn thách-thức kêu gọi, một chiếc tàu tuần sơn màu trắng đang làm nút chận, neo giữa lòng sông của cửa biển. Tôi dán con mắt vào chiếc tàu tuần nầy với mong sao nó đừng nổ máy, vì sẽ phát hiện ra chúng tôi đang toan vượt biên. Ác nghiệt thay, chiếc ghe không còn con đường nào khác phải chạy vượt ngang qua nó, những gợn sóng tạo ra bởi chiếc ghe của mình, cũng đang dồn tới làm lay động chiếc tàu tuần, rồi cách 100 thước… 50 thước… chiếc tàu tuần màu trắng vẫn nằm yên không nổ máy chỉ chao động đôi chút, chẳng lẽ bọn Công-an nầy vẫn còn ngủ? Hay chúng đã quen nghe, nên phân biệt được giữa tiếng động cơ đi biển và tiếng động cơ ghe đi sông? Ðể không còn gì ngoài một cảm nghĩ: “ôi, để ý làm gì cái thứ ghe đi buôn trái cây trên sông đấy mà!”
            Càng gần cửa biển, lòng sông càng rộng, gió thổi mạnh và sóng cũng bắt đầu to, và đang đập ngay trước mũi làm chiếc ghe bắt đầu nhấp nhô lên xuống; Trời dần sáng, mờ mờ phía trước sương mù phủ che từng làn sóng bạc. Lúc nầy tôi vẫn tiếp tục hồi-hộp nhìn qua kẽ hở và nhủ thầm: Anh Hai nầy giỏi thật, tôi thấy anh luồn lách qua không biết bao giàn đáy, lưới nổi, lưới chìm, cồn cát… ánh nắng ban mai chan hoà trên mặt nước, có đôi khi tôi nhìn xuống mà muốn đứng tim, vì đáy ghe đang lướt qua và muốn chạm vào giàn đáy nơi cồn cát. Lúc nầy tôi mới gật đầu mừng thầm: “cũng may nhờ chiếc ghe đi sông, đáy bằng không phải đáy nhọn sâu để chẻ sóng, nên cũng đỡ bớt đi sự nguy hiểm!” Nếu vướng mắc vào cồn cát vào lúc nầy thì coi như đi tù cả lũ, còn vướng vào giàn đáy mà chân vịt xoắn vào dây nylon thì không biết điều gì sẽ xãy ra đây!? Nhưng cũng may nhờ chiếc ghe quá nhỏ, đáy bằng nên không bị vướng phải những giàn đáy giăng nơi cạn. Có nhiều lúc, phải dùng cây sào chống đẩy ra khỏi cồn-cát khi bất chợt thấy hiện ra đằng phía trước mặt.
            Đi ra khỏi cửa biển cũng khá xa, lúc nầy chỉ có một mình tôi là được ngồi trước mũi ghe để điều hành phương hướng cho chuyến hải-hành. Tôi cẩn-thận, đeo tòn-ten chiếc địa-bàn nơi cổ cho khỏi bị rớt xuống biển, còn cuốn từ-điển có in chiếc bản đồ tí-hon được tôi kê dưới đít ngồi lên cho chắc ăn. Bỗng dưng cùng một lúc, tôi và anh tài công đều thấy ở xa sau đuôi, bóng dáng chiếc tàu tuần màu trắng hồi sáng đang đuổi-theo sau lưng chúng tôi, không có vũ khí trong tay mà chỉ có đàn bà và trẻ con. Tôi huy-động các thanh-niên còn lại, cố bám chặt chiếc máy, và cho nổ máy đuôi tôm (cu-le 4) dự phòng. Lúc nầy, đầu mũi ghe nhỗng cao lên, 2 máy đuôi tôm cu-le 4 đều nổ ngon lành đẩy chiếc ghe nhỏ bé nầy như muốn bay lên khỏi mặt nước. Nhưng bên trái chúng tôi, dường như có một chiếc tàu cây, được lệnh đồng bọn báo động rượt bắt chúng tôi, nó đang xả hết tốc độ lao vùn-vụt về hướng chiếc ghe đang hoảng sợ, thêm vài ghe đánh cá đang đánh bắt trong vùng, nhưng chắc chắn có Công-an trên đó, cùng một lượt hướng mũi về hướng chúng tôi với tất cả sức máy.
            Mọi người trong ghe đều biết, và chỉ còn chờ đợi nghịch cảnh đau buồn sẽ xảy đến!
            Chúng tôi, tất cả như muốn nín thở giữ thăng-bằng cho chiếc ghe được xả hết tốc lực mong mau mau vượt đến hải phận Quốc-tế. Cứ nhịp độ và tốc lực như thế nầy, chúng tôi hy vọng chúng sẽ tự bỏ ý định rượt bắt.
            Tôi ngoái cổ nhìn lại phía sau, thấy bỏ xa các ghe đánh cá và luôn cả chiếc tàu gỗ cũ kỹ, bây giờ chỉ còn chiếc tàu tuần màu trắng, nhưng vẫn còn cách xa chúng tôi. Ai bảo 2 máy cu-le 4 không vượt nổi tàu tuần? Nhưng thật ra, vì chiếc ghe mình quá nhỏ nên nó mới phóng được nhanh như vậy!
            Bây giờ chiếc tàu tuần chỉ còn là một chấm đen. Hy vọng nó bỏ cuộc rượt đuổi vì chúng tôi hình như đang trong hải phận Quốc tế! Thình-lình, một máy bên trái bỗng tắt tịt, có lẽ vì xử dụng quá sức, nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục xử dụng tối đa sức máy còn lại để thoát khỏi vùng nguy khốn càng xa càng tốt.
            Hai tiếng sau, chiếc máy còn lại cũng tắt luôn giữa biển cả mênh-mông, trên trời, dưới nước chỉ còn duy nhất có một chiếc ghe côi-cút của chúng tôi lặng lẽ trôi đi, Chiếc tàu tuần đe dọa đã mất hẳn dưới chân trời mờ-mịt. Buổi chiều buông nhẹ xuống biển, mông lung đẩy đưa chiếc ghe trôi dạt về một phương trời vô định. Ánh nắng le lói từ hướng Tây đã yếu dần, giờ ngọn hải-đăng ở Vũng Tàu đang xoay đều và lớn dần, tôi lẩm-bẩm, gió mùa Tây Nam đang chuyển hướng thổi rất mạnh trên biển Nam-Hải? Chiếc ghe trôi ngược về Vũng Tàu với một vận tốc ít nhất cũng trên 15 hải lý một giờ hay hơn thế nữa. Thời tiết thay đổi đột ngột như vậy, dù ghe tôi có xử dụng được cả hai máy hoàn toàn tốt, cũng không dễ dàng chạy đến Thái-Lan vì ngọn gió khắc nghiệt đã chuyển qua từ hướng Tây Nam qua trực Tây, cùng với những cơn mưa giông vào buổi chiều. Rồi một cơn lốc quá mạnh, đến nỗi cái mui trần bằng lá đã bốc khỏi chiếc ghe bay lên trên không và rơi tỏm về phía sau, chiếc ghe xoáy vòng như muốn bốc lên khỏi mặt biển. Đàn bà và trẻ con khóc ré lên vì hoảng sợ khi nghe tiếng gió hú từng cơn đến rợn người. Có người buông ra những câu như tự trách móc lầm lẫn phải đi vượt biên trên chiếc ghe dành để đi trên sông. Có người đòi vô bờ liền ngay bây giờ, dù có bị tù, rồi đi chuyến khác cũng được. Có người than khóc “Ba biểu đừng đi mà cứ đi” cùng với tiếng niệm kinh cứu khổ cứu nạn!
            Cơn mưa giông buổi chiều đang cuốn xoáy chiếc ghe quay tròn trên mặt biển, nhấp-nhô, lặn- hụp dưới những cơn sóng gió rít lên gào thét. Mọi người dường như không ai còn sức để mà than khóc, tay quờ-quạng quăng xuống biển tất cả các thùng nước ngọt, để cho trống chổ, rồi buông rơi tấm lưng xuống sàn ghe cho đỡ mệt vì sóng đập. Họ nhắm mắt lại để khỏi thấy vũ-trụ quay cuồng trong một màu đen của sự chết.

            (còn tiếp)
            Last edited by Phòng Trực; 10-11-2012, 09:58 PM.

            Comment

            • vinhtruong
              Super Member
              • Jun 2010
              • 1924

              #21
              Queenbee-1 vượt thoát nhà tù Lớn

              Xa xa ánh đèn vàng thành phố Vũng-Tàu nhấp-nhô, phía trên là ngọn hải đăng đang quay từng hồi đều đặn và lớn dần. Trong đầu tôi với ý nghĩ “có lẽ chuyến vượt biên đã hoàn-toàn thất bại, vì với đà trôi nầy, ghe sẽ cập vào Long-Hải, và lần ở tù nầy không tránh khỏi sự đối xử vô cùng tàn bạo, độc ác của kẻ thù!”. Lúc nầy tôi hồi tưởng lại hồi cuối năm 1978, khi còn đang ở tù, ở vùng rừng thiêng nước độc Việt-Bắc, Hoàng-Liên-Sơn, sau một cơn bệnh kiết, kéo dài 27 ngày rồi qua khỏi, trong khi các người bạn tù khác chịu được tối đa tới ngày thứ 22 là chết; sau đó đến cơn kiệt sức vì bị bỏ đói, và với hàng ngày phải lao động khổ sai, máu cứ chảy vì bị vắt, đỉa, ruồi lằng, bọ chét, Tre cắt, gai nhọn cào xước, thân thể phải trở nên suy nhược toàn diện, đi chưa đầy 100 thước đã bị đái són trong quần như hồn ma di chuyển… chỉ còn chờ vào một buổi sáng nào đó, khi người bạn tù bên cạnh lắc nhẹ, rồi mạnh, là hiểu ngay mình đã trả xong nợ đời chưa?

              Giờ nầy, tôi là người ngoại đạo nhưng tôi vẫn tin có Thượng-Đế, nhưng người mà yêu thương tôi nhất chỉ có Cha tôi. Giờ đây trước khi quăng tất cả giấy tờ quan trọng xuống biển, tôi đã cầu nguyện với Cha tôi có linh-thiêng, xin cứu tôi và các cháu chắt thêm một lần nữa. Cầu nguyện xong, tôi miên-man trong lòng ghe, dưới bầu trời không trăng sao, chao đảo xoáy tròn không phương hướng, tôi đưa mắt về phía bắc Vũng-Tàu và Hàm-Tân. Nơi mà tôi đã 2 lần thoát chết trong đường tơ kẻ tóc chưa đầy 24 tiếng đồng hồ, trong một chuyến bay tải thương thì máy bị trục-trặc và rơi trong đêm tối. Sáng hôm sau khi sửa chữa xong, tôi cất cánh bay về, lại bị rớt xuống vùng Phú-Lâm Chợ-Lớn thêm một lần nữa. Nhưng tất cả 2 lần phi hành đoàn đều vô sự… Chẳng lẽ lần nầy…? Việc ra đi là đưa đời mình với mấy đứa con, đứa cháu vào con đường ít may, nhiều rủi. Lại bị tù tội chết chóc! bẫy lưới giăng mắc khắp nơi, chực ụp xuống lúc nào không hay biết. Ngoài ra còn phải chống-chọi với phong-ba bảo táp, hải-tặc cướp của giết người. Có người ra đi không biết bao nhiêu lần, tiền mất mà nguyện ước thì vẫn chưa thành, có người phải chui vào tù trại cải tạo. Có ai mà không kinh sợ? Nhưng dưới chế độ CS nầy, khi mà quyền làm người không được tôn trọng, quyền tư-hữu bị tước đoạt, chính quyền CS cai-trị cái kiểu thắt bao tử của người dân để rồi vì miếng ăn mà phải cúi đầu vâng dạ. Con người phải kéo dài cuộc sống trong đói rách, khổ-sở, tối-tăm, nhọc-nhằn… thì phải chấp nhận nguy hiểm, còn có cơ may vượt thoát. Nếu không may, vì đời quá phũ-phàng thì sự khổ sở tột cùng có thêm nữa, cũng chẳng thấm là bao, hay là một lần siêu thoát thì cũng được nhẹ-nhàng cho tấm thân hòa lẫn với cát bụi.

              Trong đêm tối, tiếng gió hú rít lên nghe kinh hồn hòa lẫn với tiếng khóc của mọi người làm tan đi bao ý nghĩ cầu cứu của tôi. Sự thật kinh hoàng, biển gầm gió hú như tiếng gọi của những oan hồn từ cõi âm ty, địa ngục vang lên từ đáy biển. Xung quanh tôi bao trùm một màu tang tóc của sự chết. Trong đêm tối mù-mịt, tôi có thể hình dung chiếc ghe đang ngả nghiêng xoáy chiều lên xuống theo từng đợt sóng to như trái núi. Mọi người dường như chết giấc “chết là cùng chứ gì… mệt quá mà”, không tiếng động, im phăng-phắc để nhường cho tiếng sóng gầm thét dằn vật đưa đẩy con thuyền về nơi phương trời vô định. Thời gian nầy chết sống không thể tính bằng ngày… giờ... mà phải tính từng giây… phút một! Trong màn đêm chụp xuống với bao hoảng sợ, tôi đang mở to mắt nhìn từng đợt sóng liên tiếp chồm lên nhau như những trái đồi, rồi đổ xuống ầm-ầm, nhưng không át nỗi tiếng gió hú liên hồi ghê rợn, Chiếc ghe đang quay tròn theo các đợt sóng, nước biển tạt vào ghe vung vãi đến rợn người, lúc vun cao, lúc tụt xuống đến thót cả ruột, mắt tôi nhắm nghiền lại, không còn chủ động sự thăng bằng, tôi vật ngã xuống sàn ghe như chết lịm.

              Tôi bừng mắt tỉnh dậy qua một đêm kinh hoàng, ánh nắng chói chang đang phủ xuống khắp nơi, không còn nghe tiếng gió của tử thần, Tôi chồm dậy nhìn ra ngoài, vẫn những ngọn sóng cao như trái núi xô đuổi chiếc ghe mong manh như chiếc lá me trên dòng nước lũ; lại từ từ một trái núi sóng khác đang sấn đến…! Trước mặt là giàn khoan của Liên-Xô, chắc không ai muốn chiếc ghe trôi dạt vào đó. Trên không trung một chiếc Trực-thăng, có lẽ của giàn khoan như vô tình bay lượn qua, nhưng không màng để ý đến những người đang trốn chạy Cộng-Sản.

              Tôi cho mọi người biết, chúng ta không còn cách nào khác hơn, có lẽ “định-mệnh”của chiếc ghe nầy sẽ trôi giạt về Phi Luật Tân. Một cuộc hành trình rất xa và đầy gian khổ, ra mãi tận ngoài khơi biển Đông, không có bờ bến bên cạnh phòng khi gặp nạn, trong khi chỉ chuẩn bị cho 3, 4 ngày ăn, xăng nhớt cũng vậy. Nhưng nếu đợi đến tháng sau hay lâu hơn nữa, thì chỉ còn cách duy nhất là đi Hồng-Kông vì gió mùa Tây Nam thổi rất mạnh trên biển Nam-Hải, mà ghe chúng mình lại mới rời khỏi kinh Long-Định, Mỹ-Tho. Có lẽ chúng mình thiếu may mắn nên không được đi cập sát bờ như Thái-Lan hoặc Mã-Lai để phòng khi bất trắc. Nhưng đổi lại chúng mình chỉ được một sự an-toàn trên suốt chặng đường hải trình là không có bị hải tặc cướp bóc, hãm-hiếp!

              Tôi mở cuốn Từ-điển Anh-ngữ, trang chữ P và tìm chữ Philippines, có chiếc bản-đồ tí-hon, tôi chỉ ngay hòn đảo nhỏ hơn con lăng-quăng nhưng gần nhất đối với Việt-Nam; rồi chỉ cho đứa con Út của tôi biết, là mình sẽ ước tính trôi vào hòn đảo đó, đường hải trình dài có đến cả ngàn cây-số. (Sau nầy đến nơi tôi mới hiểu là đảo Palawan) Nhìn trên vẻ mặt của mọi người hiện lên sự thất vọng chán-chường, ít có hy-vọng được sống-sót vì thức ăn chỉ là củ-Sắn cho đủ 4 ngày đường và 2 máy Cu-Le thì không còn chạy được nữa.

              Buổi sáng thứ 3, gió thổi chậm lại cũng không còn nghe tiếng hú nữa. Bầu trời trong xanh thật đẹp, nhưng, cũng lại từng đợt sóng dồn tới xô đuổi ngang hông chiếc ghe tê-liệt như cua gãy càng, không còn điểu khiển được mặc cho con sóng đẩy đưa, sau một đêm dài, nước đã chui vào ghe lấp xấp nơi sàn, mọi người trai trẻ xúm lại tát nước biển đổ ra ngoài cho chỗ nằm được khô ráo. Có một người đàn bà ngoan đạo hỏi tôi, bức hình Phật bà Quan-Âm bay mất đâu rồi? Tôi hỏi Cô treo ở đâu? Cô nói ở trước mũi ghe. Tôi lẩm-bẩm “ngay đến nón và kiếng mát của tôi mà còn bị gió biển thổi bay mất… huống chi là tấm hình mỏng-manh đó”. Tôi còn nhớ rõ hình ảnh buổi chiều trước khi xuống ghe, chính cô nầy đã quỳ thật lâu trước sân nhà trên vũng nước, khấn vái dưới cơn mưa giông tầm tả (kính phục đối với người ngoan đạo). Tôi để mắt cố tìm kiếm bức hình phật Bà Quan-Âm trong vô vọng. Thật là một điều ngạc nhiên và vô cùng mầu nhiệm, bức hình Phật Bà đang dính theo dưới nước bám cạnh lườn ghe, tôi chỉ cần với tay là chụp được ngay tấm hình. Tôi đưa lại cho cô ta, điều nầy càng làm cho tôi thắc mắc suy nghĩ giữa sự “mầu nhiệm và khoa học” ở thế gian thường nói, muốn tri thiên mệnh thì phải tận nhân lực. Cũng như cho rằng số làm Tổng-Thống, nhưng nếu không ra ứng cử thì ai mà bầu! Và tôi cũng có một cơ-duyên nghe được Thượng-Tọa Thích-Tâm-Châu thuyết giảng về tu-hành nhưng phải có trí tuệ, người chân tu bản chất hiền hoà không sát sanh phạm lỗi nhưng phải có trí tuệ để bảo vệ bản thân cho việc tu hành được viên mãn. Thượng Tọa kể một câu chuyện ngắn: “ngày xưa Đức Phật có hỏi một con rắn đã tu luyện lâu năm.
              “…Con làm sao bị trọng thương nặng như vậy?”
              Con rắn bèn nói: "Bẩm thưa Đức Phật, số là con đang nằm tu-thiền dưới cạnh bìa rừng, có một bà lão khá lớn tuổi đang đi mót củi khô trong rừng, khi bà đã góp nhặt xong một bó củi khô, bà thấy con nằm yên tu-hành như một dây rừng bên cạnh, nên bà tưởng con là sợi dây rừng, Bà đã nắm lấy con mà quấn xung quanh bó củi, rồi cột lại… xong bà vác lên vai khiêng về nhà, ngay trước sân. Vì đi quá xa quá mệt mỏi, nên bà cụ đã quẳng bó củi xuống, làm con bị gãy xương sống nên đã bị trọng thương như thế nầy".
              Đức Phật bèn dạy rằng: "Con tu nhưng phải có trí tuệ, để bảo vệ việc tu hành viên-mãn… phải chi lúc đó con “khè” lên một tiếng thì bà cụ sẽ thả con ra ngay… ai bảo con cắn mổ người ta mới có tội!"

              Câu giảng nầy làm cho tôi suy nghĩ rất nhiều về cái đêm bão tố đầu tiên. Cái gì khác giữa chiếc ghe đi biển, mũi nhọn để chẻ sóng và chiếc ghe lườn đáy bầu tròn để xử dụng đi trên sông! Hãy nhìn vào chiếc ca-nô và những chiếc ghe vượt biên 2, 3 lốc máy, mà cũng bị sóng nhồi lên nhồi xuống lúc ẩn lúc hiện dưới cơn sóng thì thấy rõ, dù chưa phải bị vào trong lòng trận bão như đêm hôm đó. Tại sao chiếc ghe bé bỏng nầy lại thoát khỏi giữa sự mầu nhiệm và khoa-học? Người ta thường nói, to thuyền, to sóng, cũng như nước là một dung dịch rất mềm, nhưng nếu ta dùng vận tốc thật mạnh thì nước càng trở nên cứng hơn, theo như thí dụ, lấy bàn tay đập thật mạnh vào nước, đập càng mạnh càng nhanh thì tay càng đau và nước càng cứng. Chiếc ghe bé nhỏ cũ kỹ nầy đã ngập nửa phần nước, nên nương nhờ vào sức mạnh trọng lượng của nước mà nằm dính chặt với phần trên của mặt biển. Phần của khối lượng dung-dịch nước chiếm cứ dưới lòng đáy ghe là một nhân tố nắm giữ chặt chiếc ghe không bị chìm sâu dưới đáy biển mà cũng không nhả cho ghe tách rời khỏi mặt biển. Điều nầy tôi đã mục kích vào đêm bão tố hôm đó. Có phải vì thế mà bức ảnh Phật Bà dính bám chặt vào lườn ghe? Số khối nước nầy giữ chặt chiếc ghe không cho tách khỏi mặt nước mà cũng không chìm sâu dưới khối nước khác! Nhưng những người ngoan đạo thì lại không nghĩ theo cách phạm thượng vô thức như tôi nghĩ!? Chả lẽ, nên khuyên người khi đi vượt biên nhớ chọn ghe cũ kỹ bị vô nước mới an-toàn, nhất là lúc bị sóng biển vùi dập! Mà thật vậy, dưới phần đáy qua một lớp sắt, hay gỗ tốt không thắm vào nước được sẽ tạo ra hai khối không khí và thể lỏng ở một giao điểm ngăn-cách phân định; chính vì nhân tố “cách-ly” nầy đã gây nên ghe bị sóng lớn đập nhào lộn và sau đó vô nước rồi nhận chìm ngay xuống đáy biển.

              Ngày nầy qua ngày khác, tôi ngồi bất động như chết trên mũi ghe giữa trời và nước, rồi đưa mắt nhìn về phía xa xa là một đường gạch ngang của một chân trời, tôi đang nghĩ đến lời người đàn bà ngoan đạo nói với tôi lúc mới xuống ghe. Cô nói: Mẹ cô vừa chết nên rất linh-thiêng bà cụ có về báo mộng, khi đi vượt biên nên nhớ đem theo cái áo bà ba để phòng khi bị nguy-khốn. Tôi nghe vậy cứ cho rằng bà cụ nói muốn đi vượt biên thì nên mặc áo bà ba cho giống với người dân địa phương để khỏi bị Công an phát hiện. Giờ nầy tự nhiên quá rảnh rỗi, tôi lại nghĩ đến cái áo bà ba nầy, tôi liền phốc dậy, đi ra phía sau đuôi nói với tài công dùng cây sào cột chiếc áo bà ba trắng dựng lên cao như ra dấu tình trạng chiếc ghe xin được cấp cứu nếu có tàu bè nào đi ngang qua. Anh Hai mau mắn làm ngay và dựng lên giữa lòng ghe nhưng chưa được bao lâu thì gió thổi ngã, liền tức thì người đàn bà ngoan đạo nầy chạy tới cột lại, chiếc áo bà ba tung bay vĩnh viễn không thấy xiêu ngã. Điều nầy gây cho tôi về cảm nghĩ giữa đôi tay rắn cứng của người tài công mạnh khỏe thường cột những dây buồm và bàn tay của người đàn bà yếu đuối, cũng là lần đầu tiên làm việc nầy. Sự việc như vậy rành rành trước mắt làm sao tôi tránh khỏi có tư tưởng về lý luận, thắc mắc chớ!? Tôi nhìn đăm đăm vào chiếc áo bà ba đang phất phới trước cơn gió giật cực mạnh từ phía Tây, đẩy chiếc ghe trôi ngang lên xuống dọc theo con sóng. Một ý nghĩ bỗng lóe lên trong đầu, như tìm ra ý nghĩ điềm báo mộng của bà cụ, tôi gọi tài công lấy tấm vải mà mọi người đắp khi ngủ treo lên làm buồm. Với gió cực mạnh từ hướng Tây cùng với những trái đồi sóng lớn như vậy sẽ đưa chiếc ghe mau đến bờ Đông của tự-do! Các thanh niên dùng tấm vải căng ra làm buồm ngay, Tôi nhìn cuộn gió thổi ngang ghe qua chiếc buồm cột tạm đang căng phồng… tuy có trôi mau hơn đôi chút, nhưng đầu óc tôi rối như tơ “trôi như vậy nếu may mắn cũng ít nhất lá 3, 4 tuần… làm sao chịu đựng được với cơn đói để khỏi bị chết khô?

              Anh tài công không có việc gì làm đem ra một gói thuốc rê tổ bố và cứ như vậy mà hút liên miên và cùng chuyển cho những người khác. Một hôm lửa bỗng phừng lên trong đêm tối, mọi người la hoảng, cũng người đàn bà ngoan đạo đó, đã dơ cao cái khăn chụp xuống, ánh lửa bỗng tắt lịm trong sự vô cùng hoảng sợ của tôi, vì số xăng còn dự trữ trong ghe rất nhiều, và luôn luôn có mùi xăng nồng nặc phảng-phất. Tại sao đóm lửa vụt tắt, vì cơn gió mạnh bỗng thổi từ hướng Tây nên không liếm vào những thùng xăng đang chất đầy gần đó! Chả lẽ cái khăn ‘mầu nhiệm’ của cô ta làm ngọn lửa tắt tịt? Qua ngày hôm sau, tôi quyết tâm giữ chiếc quẹt máy, không cho ai hút thuốc nữa, giữa sự nguyền rủa chửi bới liên tục của mọi người, nhưng tôi cương quyết không cho mượn, Tôi còn giữ kín một gói thuốc 555 chỉ khi nào thấy bờ sẽ đem ra hút để ăn mừng.

              Buổi sáng thứ 4 lại trôi đến với chúng tôi, trời nhiều mây và đe dọa có mưa giông, tôi khuyên bảo thanh niên cùng nhau rán tát nước vì nước mưa sẽ tràn vào e không kịp tát. Mà mui ghe đã bị cơn mưa giông cuốn đi khi ra đến hải phận Quốc-tế. Trên mặt biển mênh-mông bát-ngát, không có một bóng ghe tàu qua lại, không thấy bến bờ ở đâu! Tất cả bao trùm một bầu không khí bi quan đầy thất vọng! Tôi nhìn vào cái la bàn cùng phối trí với ánh mặt trời lên cao, dù rằng mũi ở hướng Bắc, đuôi ở hướng Nam, nhưng chiếc ghe vẫn bị đưa ngang về hướng Đông cùng với những dợn sóng như các trái núi sấn tới dồn dập. Sóng thật cao, nhưng may-mắn với dốc độ thoai-thoải lài-lài chứ không gắt lắm.

              4 giờ chiều, trời bắt đầu âm u, do những cụm mây giông bão Cumulonimbus hồi sáng đang ập phủ phía sau. Tôi đưa đôi mắt lo âu, buồn-bã nhìn về xa cuối chân trời, đã có những đám mây đen mù-mịt ùn-ùn kéo tới che phủ vùng biển, một bầu không khí hãi hùng đang bao trùm vũ trụ. Trời tối sầm lại như màn đêm đang toả xuống. Cơn mưa bắt đầu, sấm sét ầm ầm vang dội gầm thét nơi nơi. Trời vừa mưa vừa gió, chúng tôi ai nấy tự lấy vải nhựa căng ra hứng nước, vì đêm đầu có người hốt hoảng đã quăng hết những thùng nước ngọt xuống biển để chiếm chỗ nằm. Tuy bị ướt dầm-dề, nhưng lại thấy dễ chịu vì mấy ngày trôi qua dưới ánh nắng và nước biển nhầy nhụa rít-rát, số nước vào trong ghe nhiều đến độ nguy kịch, chúng tôi thay phiên, hè nhau tát nước liên tục. Rồi những luồng gió từ xa vù-vù cuốn đến, hú ré vang bên tai, nghe thật rợn người, thổi đập vào lườn ghe nghe rầm rầm. Chiếc ghe quá nhỏ tưởng chừng như muốn lật úp chìm sâu xuống đại dương. Nhưng tôi vẫn tin-tưởng, dung lượng nước chiếm một phần ba dưới đáy ghe, sẽ giữ chặt khiến chiếc ghe luôn luôn ở phần trên của biển và cũng khó rời khỏi mặt nước để mà lật úp xuống được. Đàng xa những ngọn sóng to màu xanh đậm xám xịt như trái đồi dập dờn cuồn cuộn sấn tới nhồi chiếc ghe mỏng manh lên lên, xuống xuống, đưa vút lên cao, rồi tụt xuống như nhịp tim làm thót cả ruột gan của chúng tôi. Chiếc ghe bỗng tròng-trành như muốn vỡ tan, trông thật khủng khiếp. Mọi người trong ghe ai nấy mặt mày tái xanh trong hoảng sợ, kinh hồn khiếp vía, ôm chầm lấy nhau cho vơi bớt đi cơn sợ hãi. Gió cứ thổi, trời cứ mưa, sóng cứ ầm-ầm. Những thanh niên khỏe mạnh đua nhau tát nước vì số nước đã tràn vào đến sàn ghe. Tôi không biết phải làm sao, nhìn các đứa bé đang khóc ré vì quá sợ hãi, trong khi chiếc ghe cứ tiếp tục nhào lên nhào xuống khi những ngọn sóng ập vào. Chúng nó, có đứa thì buồn nôn ói mửa, vì nhịn đói mấy ngày, nên ói ra toàn là nước bọt, và nhìn tôi như cầu cứu! Mọi người sợ quá nghĩ đến Chúa Phật, không ai bảo ai đều cùng nhau thì thầm cầu nguyện. Tôi nghe the-thé tiếng cầu nguyện của người ngồi gần tôi: “Nam mô A di Đà-Phật, Nam mô Đại Từ bi cứu khổ cứu nạn Quan Thế Ấm Bồ Tát…” Ban đầu nghe nhỏ, sau nghe lớn dần, tôi cho rằng, trong ghe người đạo Phật nhiều hơn đạo Thiên Chúa. Riêng tôi, người ngoại đạo nên hùa theo nơi niềm tin của họ với hy-vọng cùng được hưởng phước lành!


              (con tiep)
              Last edited by Phòng Trực; 10-12-2012, 08:55 AM.

              Comment

              • hieunguyen11
                Super Member
                • May 2011
                • 2230

                #22
                Kính chào anh VT,

                Sau khi đọc phần bài của anh vừa post thì tui em ở tù trong Nam không bằng 1/10 của các anh "Bò Ngũ". Thời gian chịu đựng sự hà khắc của chúng thật không thể tưởng tượng nỗi. Sự sống còn của các anh là một may mắn lớn đó anh.

                Kính mến
                HN11

                Comment

                • vinhtruong
                  Super Member
                  • Jun 2010
                  • 1924

                  #23
                  Queenbee-1 vượt thoát nhà tù Lớn (tiếp theo)

                  Trong cuộc thử thách nầy, chỉ có tôi và tài công là còn bình tỉnh, người tài công chuyên nghiệp đã quen với những cảnh tượng hãi-hùng sóng to gió lớn trên biển cả, còn tôi với đời phi-công lão luyện qua không biết bao cảnh hãi-hùng nơi chiến trận. Hai chúng tôi rất yên lặng trầm ngâm không nói một lời gì, sau mấy tiếng đồng hồ, cơn giông và gió hoành hành đã qua, thì trời lại yên lặng dần, giọt mưa đang dứt hẳn, gió không còn hú rít đe dọa nữa. Bầu trời bắt đầu sáng lại. Lúc nầy có một tàu lớn đi ngang, chúng tôi quơ cây sào qua lại với chiếc áo bà ba màu trắng ở trên, tượng trương cho sự xin được cấp cứu. Sự vui mừng của mọi người đang lên cao điểm, bỗng tắt lịm trong thất vọng, vì chiếc tàu đã bỏ đi luôn. Lòng trắc ẩn của các nước trên thế giới đang bị xoi mòn vì thời gian trôi qua quá lâu từ năm 1975 đến nay là năm 1988 và họ cũng không muốn bị ràng buộc với những điều kiện quốc-tế khá khắc nghiệt vào những năm sau cùng nầy. Thế là hết hy vọng! Tôi quay ra suy-nghĩ, dùng chiếc kiếng soi mặt để đánh tín hiệu lên vệ tinh tình-báo của Mỹ hay có phi-cơ nào bay qua, trong tuyệt vọng, nhưng cũng có thể… biết đâu ánh nắng mặt trời chói-chang sẽ khuếch đại phản xạ lên trên không trung lại không có sự mầu nhiệm? Tôi coi lại chiếc đèn pin nhưng đã bị nước biển làm rỉ-sét không còn xử dụng được. Tôi lẩm-bẩm: “tàu bè ban ngày mà họ còn làm lơ, còn ban đêm… khó mà có hy-vọng được cứu vớt!”

                  Sau khi bị tàu buôn ruồng bỏ, cùng với lần kinh hoảng nầy, tôi mới thấu hiểu thế nào là sự tàn bạo của biển và không còn nghi ngờ gì, nơi nghĩa trang rộng lớn nhất thế giới, gần nửa triệu người dân tộc Việt đã vĩnh-viễn nằm sâu dưới lòng đáy Thái-Bình-Dương. Đó là chưa nói đến những người bị hải tặc giết hay bắt đi. Chuyến đi nầy, chúng tôi đã không bị cảnh hải tặc đe dọa như những đồng bào khác đã đi qua ngã vịnh Thái-Lan hay Mã-Lai, bị bọn hải tặc cướp của, giết người, và hãm-hiếp đàn bà con gái. Ôi! Thật là biết bao sự đau khổ của thảm-trạng trên đã xảy ra cho đồng bào Việt, khiến họ phải kinh hãi qua những sự dã man nầy!

                  Sáng ngày thứ 5, những cảnh cũ lại hiện ra giữa trời và nước, với sức gió và các gợn sóng to như thế này sẽ đưa chiếc ghe đi mau đến bến bờ tự do? Tôi không còn quan tâm đến sự chữa lại máy, vì nếu máy chạy được thì đương nhiên làm sao không xử dụng, mà số xăng chỉ có hạn định cho chuyến đi trong 3, 4 ngày thôi, nếu ghe hết xăng thì làm sao tấp vào bờ? Vì có nhiều chiếc ghe khi đến gần bờ thì bị tắt máy và cứ như thế mà ghe tấp vô, tấp ra không trôi vào đến bờ được, hậu quả những người trên ghe đều chết đói chết khô. Theo sự suy đoán của tôi, chiếc ghe nầy nếu không sửa được máy thì ít nhất cũng phải 21 ngày nữa mới tấp vào đảo (Palawan) và mọi người sẽ bị chết đói một cách thê-thảm.

                  Tôi có thể hình dung về nhân chủng học như đã có lần ghé Phi-Luật-Tân qua Phi-Trường Quân-Sự Mỹ, Clark-Field AFB. Gương mặt của người Phi cũng giống người Indonesia, cũng có nhiều người giống người Việt, có lẽ Ông bà chài lưới của chúng ta cũng lâm vào cái hoàn cảnh như chiếc ghe của chúng tôi bị gió bạt phải trôi qua tận Phi! Ngày xưa người Việt chúng ta cho rằng đi biển là nguy hiểm nhất trên đời cho nên mới có câu “Ðàn ông đi biển có đôi, Đàn bà đi biển mồ côi một mình”.

                  Cả đêm tôi nằm ngủ dọc theo mũi ghe, nên đứa con gái lớn sợ sóng đã cuốn trôi tôi xuống biển mất tiêu, nên nó gọi ơi hởi “Ba còn ở trước không?”… "Ba còn ở trước không?”. “Ba đây, rán chịu thêm vài ngày nữa sẽ tới!” Đây chỉ là những lời an-ủi để giữ vững tinh-thần cho con mình… chớ chẳng lẽ nói thật còn vài tuần nữa mới tới. Chiếc ghe cứ tiếp tục như thế mà trôi ngang về hướng Đông với một nhịp độ khá nhanh. Thỉnh-thoảng có chiếc tàu buôn băng ngang qua nhưng họ cũng chẳng thèm ngó-ngàng đến chiếc ghe côi-cút nầy. Trời hôm nay biển lặng mọi người thật sự vui mừng, cùng hỏi tôi “bao lâu nữa thì tới… Bác Ba?”. Tôi đành lại phải trấn an họ qua câu nói dối nhưng rất trầm tỉnh: “chắc vài ngày nữa thôi”. Nhìn ra biển trời mênh-mông, mọi người đều thấy từ đàng xa có một đàn cá heo bơi nhảy trên mặt nước, trông rất đẹp mắt. Chúng bắt đầu tiến lại gần chúng tôi để đùa giỡn, có lẽ chiếc ghe có sơn trước mũi hai con mắt nên chúng tưởng cùng loại nên tới làm quen? Nhưng người tài công khuyên bảo mọi người rán giữ yên lặng, không nên nói năng gì cả, vì mấy Ông Bà cá nầy thường là ân-nhân của những người gặp nạn trên biển cả.

                  Cứ buổi chiều đến, là cơn mưa giông lại ùn-ùn kéo tới, sau đó, lại cảnh mưa to gió lớn, mây che phủ cả bầu trời, gió càng to sóng càng lớn, cứ hồi hộp không biết giờ phút nào chúng tôi sẽ bị ghe úp xuống và chết ngộp chìm luôn xuống đáy biển!?

                  Lại mọi ngày như mọi ngày, trên trời dưới nước, người người đã bắt đầu kiệt sức vì đói, im phăng-phắc không ai nói được nên lời; Thấm-thoát cũng đã được 10 ngày đêm trôi qua trong đói khát. Tôi chỉ còn đủ sức nằm ngã lưng dọc xuôi theo mũi ghe, mắt nhìn lên bầu trời chói chang nắng. Những cụm mây vẫy cá Cirrus trên cao như bức tranh bất động; phía tầng dưới, thấp hơn những cụm mây như bông gòn Cumulus đang từ phía sau đuôi bay về phía trước mữi với vận tốc khá nhanh, tôi vui mừng so sánh với chiếc vải màn đang căng phồng trong gió lộng sẽ đẩy chiếc ghe mau gần đến bờ tự do. Giữa hai lớp mây là một vệt khói trắng kéo dài của các Phi cơ chở khách, có lẽ từ Nhật, Đại-Hàn, Hồng-Kông hoặc là Đài-Loan đang bay về các nước Đông-Nam-Á như Singapore, Mã-Lai hoặc Thái-Lan. Có một vệt khói trắng đi về hướng Nam có lẽ đi về Úc hay Indinesia. Tôi cảm nghĩ ngay đến việc phải sửa máy!

                  Máy ‘cu-le’ hai thì nầy, trên nguyên tắc vận hành thì cũng đơn giản, chỉ quan trọng về hai hệ thống xăng và lửa, tôi đang nghĩ đến thằng con Út của tôi, lúc nầy nó đúng 17 tuổi, cái tuổi thanh xuân đầy xáng lạn nếu được hội nhập vào một xã-hội văn-minh như Mỹ thì tha hồ mà phát triển. “Mãnh đất đầy cơ hội đang hiện ra với nó”. Tôi đang suy nghĩ về nó: Hồi còn nằm trong nôi, có người thân quyến trong gia-đình tới đùa giỡn với nó, nhưng lại với cung cách nạt nộ, hung dữ la lối hù dọa. Nhưng nó chẳng sợ gì cả mà trả lời bằng một tiếng thở dài chán nản như người lớn, làm mọi người cười rần lên. Và cứ mỗi lần nó đái (tiểu) là cái mặt và đầu tóc nó đều ướt đẩm, ngoài ra những phần khác thì khô queo. Nó có nhiều dị tướng, nhưng không biết là ‘tà đạo’ hay ‘vương đạo’? nhưng tôi vẫn tin là Vương-Đạo.

                  Tôi gọi: “Khanh ra đây Ba biểu con”. Cả gần 10 ngày trôi giạt, đói queo cùng sóng biển vùi dập, thằng nhỏ còn say sóng, vội lồm cồm ngồi dậy bò ra trước mũi ghe, không dám đứng dậy, sợ ngã sấp xuống sàn ghe. “Ba nghĩ, con nên cố gắng mở ra xem hệ thống xăng có bị nghẹt gì không … vì Ba thấy lửa tốt nên giật giây nhiều lần nó chạy lại được, nhưng một hồi sau nó lại tắt là vì đường di chuyển xăng bị nghẽn? Con coi lại lửa… rồi thay cái bougie Champion mới ngay”.

                  Khanh, dù đang bị say sóng nhưng cũng moi óc tìm cách sửa chửa chiếc máy cũ-kỹ nầy. Đây là giai đoạn còn cựa quậy được để sửa, chớ đợi đến thời gian lâu nữa chắc không còn ai đủ sức vì sắp chết đói. Sau khi Khanh phát hiện ra có một hạt trấu đã nằm chấn ngang hệ thống xăng dẫn vào Cylinder, thằng nhỏ vô cùng hớn hở hiện rõ ra nơi nét mặt. “Có lẽ… vì hạt trấu nầy là nguyên nhân làm máy tắt, đó Ba”. Tôi trả lời đồng ý ngay"… cố gắng sửa đi con…trời sẽ cứu chúng ta!”

                  Sau khi Khanh ráp và kiểm lại cẩn thận, Nó giật dây, máy phát nổ đều đều dòn tan nghe êm tai làm sao, mọi người sắc mặt mừng rỡ hiện ra thấy rõ. Tôi nghĩ ngay, sở dĩ mấy ngày nay không để ý đến việc sửa máy, chính là lý do, nếu máy tốt lại thì sẽ bị nguy-hiểm vì không đủ xăng đến Philippines? Làm sao ngăn cản không cho tài công chạy máy… sẽ bị mọi người chống đối vì nôn nóng muốn mau đến bờ!

                  Trời thanh mây tạnh, máy nổ đều đều, mọi người khoan-khoái ngồi dậy nhìn ra cảnh trời với nước mênh-mông mà trong lòng vơi đi bớt phần nào sự sợ hãi.

                  Sáng thứ 11 lại đến, trời tuy ít mây, nhưng biển lại sóng lớn, những cột sóng làm cái cần trục đuôi tôm phải tách rời khỏi mặt nước, chong-chóng quay tít trên không trung rú lên nghe dễ sợ, rồi chui ầm xuống nước. Các động tác va-chạm từ không trung xuống mặt nước như vậy cứ tiếp diễn không lâu thì chiếc chong-chóng bị bức khỏi trục quay rơi mất hút, chìm sâu dưới biển làm cho chiếc máy hú lên dữ dội, anh tài công lại lui-hui đem cái trục trơ-trọi lên thay cái chong-chóng mới.

                  Trời tối đen như mực, trên không trung thật xa, nhìn lâu mới thấy một vài vì sao lấp-lánh, Chùm sao Bắc-Đẩu, Đại hùng, Tiểu-hùng, sao Vua mờ-mờ lúc ẩn lúc hiện giữa các lớp mây cao. Mọi vật chìm vào bóng đêm, êm-đềm và vắng-lặng, chỉ có tiếng gió rì-rào qua sóng nuớc róc-rách quanh mạn thuyền. Bất chợt, ở ngoài xa một chùm đèn sáng quắc rồi hiện to dần như một thành phố nổi. Anh tài công quay mũi lại về hướng đó nhưng không nói cho tôi biết trước. Có lẽ chiếc tàu buôn đang tiến gần, anh tài công có hiểu rằng hơn 10 ngày qua, đã gặp biết bao tàu buôn ngang qua, nhưng có chiếc nào mà chịu cứu chúng ta đâu!? Ban ngày mà còn không cứu, huống-hồ là ban đêm. Anh có hiểu rằng các cuộn sóng lớn của tàu sẽ làm cho chiếc ghe bị lật úp trước khi tới gần nó!? Cũng may chiếc tàu buôn sợ họa lây nên đã xả hết tốc lực vuột mất.

                  Đêm dần về khuya, gió lạnh đẩm hơi nước làm lạnh buốt da thịt, Tôi bảo anh tài công lấy lại hướng 145 (Đông-Nam) chạy cho đến quá nửa khuya thì tắt máy thả trôi, đi ngủ để lấy sức cho ngày mai, nhưng trong tư tưởng tôi đã tính độ giạt khi ghe bị trôi và vẫn nằm trên trục lộ trình.

                  Sau một đêm dài mỏi-mệt qua hơn chục ngày đói meo, mùi dầu, mùi ói mửa, mùi nước tiểu quyện vào nhau làm nôn mửa đến thót cả bụng, không còn gì để ói, mọi người nằm thẳng đơ vùi thân chết lịm trên sàn ghe. Tôi đang lo cho mấy đứa cháu tôi, sợ chúng chịu không nỗi cảnh khắc nghiệt nầy nếu còn kéo dài quá lâu. Riêng mình, chỉ còn đủ sức nằm dọc theo mũi ghe. Rồi ánh nắng chói-chang của một ngày mới lại buông tỏa xuống chúng tôi, cũng may, đêm rồi không có sóng lớn nên tôi mới còn nằm dính trước mũi ghe. Tôi nằm nheo mắt, nhìn lên không trung tập thở, dùng dưỡng khí tạm nuôi dưỡng tấm thân còn da bọc xương để tạo dựng một cảm nghĩ còn khỏe mạnh. Trong đời người sự sanh-tử đã xảy ra rất nhiều lần, mà không một ai trong chúng ta để ý. Thử nghĩ xem chỉ riêng về máu trong cơ thể cứ mỗi giây đều có nhiều tế-bào hồng-cầu (red blood cells) bị hủy diệt và độ chừng 3 tháng một hệ thống máu mới đã được sinh ra, nói một cách khác ‘một con người mới’ đã được ra đời trong mỗi chúng ta . Như vậy, lúc chúng ta hít vào thở ra, thì chúng ta đã có nhiều tế bào bị hủy diệt đi và đã có nhiều triệu tế bào khác được sinh ra; tế bào nầy liên kết với tế bào kia ‘hợp tan, tan hợp’ như cơn sóng vỗ vô-tận vào bờ, như ngọn sóng thủy triều lên xuống không ngừng nghỉ.

                  Nhà vật lý học Archimede đưa ra định luật về sức đẩy của nước, khi ông đang tắm trong hồ nước. Nhờ đó con người đã chế-tạo ra các chiếc thuyền, chiến hạm và ngay cả tiềm thủy-đỉnh. Và sức đẩy của nước trong chuyến vượt biên nầy đã quấn-quít phần dưới đáy chiếc ghe của chúng tôi, giữ chặt nó luôn luôn dính vào phần trên mặt nước biển, không nhả ra để tách rời cuộn nhào theo sóng đánh.

                  Ngày thứ 12 sáng nay mặt trời lên rực-rỡ, lòng mọi người cùng hớn-hở, dù đã đói meo hơn chục ngày qua, nhìn nhau với vẻ mặt bèo nhèo cùng thông cảm không nói được lời nào. Trời nắng đẹp, gió êm, sóng nhỏ hơn mọi ngày, chiếc ghe đang rẽ sóng, cùng chiếc buồm tạm đang căng phồng trong sự mừng thầm của tôi, hòa lẫn tiếng máy nổ ầm-ầm khác với những ngày trước chỉ có nghe sóng gầm gió hú. Nằm ngó thẳng lên nền trời như xoi mói những vật gì tiềm ẩn trên đó. Mặt trời gần đứng bóng, hôm nay khác hơn hôm kia, cũng vào khoảng giờ nầy, những vệt khói trắng dài vắt ngang trên đầu tôi có chiều ngã về phía Tây, sau đuôi ghe. Sau khi phối kiểm với địa bàn và định hướng của hai luồng khói trắng vẽ ngang bầu trời, so lại trên bản đồ tí-hon trong cuốn từ-điển, tôi mới đi đến kết luận ghe mình đang đến gần Philippines.

                  Bỗng dưng ở đằng trước, mặt nước trong xanh và phẳng-lặng như mặt hồ, những cơn sóng thật nhỏ lăn-tăn trên đó trông thật đẹp. Dường như hồn ma cảnh báo, mọi người trên ghe với sắc mặt hoảng-hốt, gần như nín thở, Anh tài công cho tắt máy thả trôi, tôi thúc dục tất cả thanh niên trong ghe múc nước đổ ra ngoài cho thật lẹ, ghe nhẹ bớt và nổi phồng lên. Anh tài công đi ngang hông ghe với cây sào trong tay đăm-đăm nhìn xuống đáy nước: Những cánh tay san-hô chỉa lên nhọn hoắc đe dọa, cùng núi đá ngầm giăng mắc như chiếc hàng rào cản. Đây là đảo San-hô chìm, sau nầy đến đảo Palawan mới biết đã có hơn 20,000 người đã bỏ thây nơi đây vì bị đá ngầm đánh tan đáy tàu chìm lỉm xuống nơi đó.

                  Mọi người đang nín thở đưa cặp mắt van xin Thượng-Đế, mắt không dám nhìn xuống, mà phải cố nhìn làm sao cho ghe mình không bị vướng mắc vào các tai mèo San-hô nhọn hoắc và bén như dao cắt, so với chiếc ghe bằng gỗ nhỏ bé nầy. Có nhiều lúc tôi có cảm giác dường như ghe mình đã có cọ nhẹ vào tảng đá rong rêu đen thui, dễ sợ, đang nằm lù-lù dưới đó. Cũng nhờ ơn trên nên những đám tai mèo San-hô được cây sào chống ra, tách xa khỏi chúng tôi. Nếu chúng cắt, đâm, xé vào đáy ghe, thì coi như mọi người cùng nhập xuống nghĩa trang lớn nhất thế giới nầy. Giây phút nầy trôi qua sao mà lâu thế, nhìn ra phía trước màu nước xanh-xẩm lại, có lẽ qua núi San-hô ngầm? Mọi người không ai bảo ai bắt đầu mừng rỡ, tôi thầm nghĩ, giác quan nào cho họ biết là đã qua khỏi vùng nguy-hiểm!?

                  Tôi đang có ý nghĩ là cho nổ máy lại, thì anh tài công đã giật dây, chỉ một cái giật dây thôi, máy nổ dòn tan trong sự vui mừng của mọi người. Nhìn lại bản đồ, phối kiểm với chiếc địa bàn và luồng khói trắng mới giăng ngang trên bầu trời của chiếc Phi-cơ chở khách., vừa bay qua đến các nước Đông-Nam-Á, cách khá xa về sau đuôi ghe. Tôi vô cùng mừng rỡ là sắp đến Philippines rồi. Kể từ giờ phút nầy cho máy chạy liên tục bất kể ngày đêm, mau mau cứu đói. Tôi cố dặn anh tài công rán giữ hướng 150 độ vì ghe đã bị đẩy trôi về mạn Bắc của trục hành trình rất xa; với hướng nầy vô cùng an toàn cho ghe không bị lạc vào đại dương bao la, nếu bị lướt qua khỏi dãy đảo Philippines, thì coi như chết khô, chết đói hết, vì làm sao chịu nỗi thời gian lênh-đênh tới đảo Guam… Wake...

                  (còn tiếp)
                  Last edited by Phòng Trực; 10-15-2012, 07:50 AM.

                  Comment

                  • hieunguyen11
                    Super Member
                    • May 2011
                    • 2230

                    #24
                    Cám ơn anh vinhtruong rất nhiều, lại một thử thách lớn cho anh nữa. Anh ghi lại cuộc hành trình đầy gian nan rất hay.
                    HN11

                    Comment

                    • vinhtruong
                      Super Member
                      • Jun 2010
                      • 1924

                      #25
                      Chuyến tàu đầu tiên chở “BÒ-NGŨ” ra Bắc

                      Em hieunguyen11- Anh rất thích dòng chữ … “em ở tù trong nam không bằng 1/10 của các anh “Bò Ngũ”

                      Chắc em thừa hiểu ý-nghĩa Bò-Nhứt, Bò-Nhị cho đến Bò-Lục- Khi ở trong tù tụi anh ngầm ý, mình là thứ công cụ (tool) như trâu-bò trong cuộc chiến vừa qua mà sau nầy anh đọc trong một tài liệu mật, Permanent Government muốn triệt tiêu chúng ta để trừ hậu hoạn cho khi thi hành axiom-1 là giao Saigon cho Hà Nội không thành biển máu và Saigon không thành đống gạch vụn. Như trận Lam Sơn 719, chúng ta không thấy một ông tướng nào dự trận mà chỉ có “Bò” mà thôi. Anh muốn ám chỉ từ cấp Lữ đoàn, Trung đoàn, Liên đoàn trở xuống người lính quèn là con thiêu thân. Anh cũng đã đọc một tài liệu mật tại Library of Congress, siêu chính phủ Mỹ (Permanent Government) cho rằng phải tiêu diệt tất cả sĩ quan trung gian vì họ là thành phần ưu tú có nguy hại đến bàn giao Saigon cho Hà-Nội phải bị tắm máu, vì theo dư mưu thì chỉ rỉ máu và Saigòn không thành đống gạch vụn khi bàn giao chuyển tiếp qua 3 vị tổng thống trong 72 tiếng đồng hồ, đã vậy mà đến giờ thứ 24, các Bò vào DAO xin ti nạn thì Lính Mỹ có lịnh chỉ cho có Sao nơi cổ áo mới được ưu đãi tị nạn qua Mỹ mà thôi! Quả thật unfair phải không em?
                      Last edited by Phòng Trực; 10-15-2012, 07:54 AM.

                      Comment

                      • hieunguyen11
                        Super Member
                        • May 2011
                        • 2230

                        #26
                        Anh vinhtruong kính mến,

                        Thật sự Hà Nội muốn thủ tiêu tất cả anh em mình, nhưng vì cần đồng dollars của Mỹ hơn. Sở dĩ VC tồn tại là họ chủ trương giết tất cà những Đảng phái cùng thành phần đối lập. Thì anh em mình có nghĩa lý gì với chúng. đúng không anh?

                        Em
                        hieunguyen11

                        Comment

                        • vinhtruong
                          Super Member
                          • Jun 2010
                          • 1924

                          #27
                          Queenbee-1 vượt thoát nhà tù Lớn (tiếp theo)

                          Ngày thứ 13, tội nghiệp suốt cả đêm anh tài công và các thanh niên thay phiên nhau giữ máy cứ lấy hướng 150 mà chạy. Sáng sớm như mọi khi, thì ai ai cũng uể-oải nằm vùi, nhưng hôm nay mọi người đều dậy sớm nhìn ra biển cả, trên trời dưới nước, mênh-mông, bao la vô tận. Sóng nước cuồn cuộn đập vào sườn ghe ầm vang tiếng nước vung vãi. Cảnh vật hiện ra trước mắt chúng tôi vào lúc nầy: tạo hóa thật là hùng-vĩ. Chiếc ghe chúng tôi chỉ là một chiếc lá Me bé nhỏ, mà sinh mạng con người là những hạt bụi tí-ti, bấp bênh trôi nổi theo lòng bao dung của Thượng-Đế. Nếu chẳng may trong chúng tôi đã làm Ngài nổi giận lôi đình thì trong tích-tắc chúng tôi sẽ làm mồi cho cá biển. Những đàn cá Chim rồi cá Nược, từ dưới nước phóng lên cao, rơi tỏm xuống lại, từng đàn trông rất đẹp mắt, nhưng không ai cảm thấy vui trong hoàn cảnh nầy mà chỉ có duy nhất một khát vọng là mau đến bờ vì sắp chết đói. Rồi ở sau đuôi ghe có bầy cá heo đuổi theo làm quen khi nhìn thấy đôi mắt sơn trắng đỏ ở đầu mũi ghe. Trên trời cao phía sau đuôi hiện lên hai đường dài khói trắng một đậm, hai lợt đang song song trên đầu chúng tôi, từ đông bắc về tây nam, phối hợp với chiếc địa bàn tí hon đã báo cho tôi biết Philippine đang lờn vờn trước đầu mũi ghe và đang chệch về phía đông nam theo sự điều chỉnh độ giạt vì gió mùa tây nam thổi quá mạnh trên biển nam hải.

                          Thình-lình cậu Tùng, mắt sáng nhất trong đoàn, từ sau đuôi ghe cố khom lưng đi nhanh đến trước báo cho tôi biết “Bác Ba ơi! Cháu thấy… dường như có dãy núi trước mặt”. Sắc mặt tôi hiện lên một nỗi vui mừng vô hạn, đây cũng là sụ ước đoán của tôi vào tối hôm qua, nên tôi cố thúc giục mọi người thay phiên nhau giữ cho máy chạy để rút ngắn đoạn hành trình mà còn phải cứu cảnh chết đói càng sớm càng tốt.

                          Dù rằng không thấy được xa như cậu Tùng, nhưng tôi đoán chắc cậu ta đã nhìn thấy núi là sự thật. Nhìn về phía sau đuôi ghe, hướng Tây Nam, một đám mây khổng lồ giăng mắc, tôi biết chắc là đám mây giông đe dọa (cumulonimbus) nhìn những hiện tượng tăng trưởng chiều thẳng đứng, cuồn-cuộn đổi hình dạng liên tục, theo kinh nghiệm là tôi cũng hiểu ngay sẽ có một cơn giông bão dữ-dội. Tôi cầu nguyện Thượng-Đế xin Ngài đừng lấy nơi đây làm trung tâm bão! Thêm vào đó những cụm mây Cumulus lại bay nhập vào phụ họa thêm sự hung-dữ, cuộn bám vào đám mây lớn với tốc độ đáng kể từ đầu mũi ghe bay nhập vào đám mây giông tàn phá. Tôi yên tâm vì số nước ngập dưới lườn ghe vừa đủ để giữ cho chiếc ghe khỏi phải bị lật nhào, nhưng tôi dặn kỹ những thanh niên trên ghe phải sẳn-sàng tát nước nếu bị nước mưa hoặc sóng ập vào, với lượng nước có thể nhận chìm chiếc ghe xuống đáy biển. Dĩ nhiên vì mạng sống ai ai cũng tỏ vẽ sẳn-sàng cố-gắng. Các thanh niên đang dùng dao cắt ra làm hai những chiếc thùng xăng 20 lít bằng nylon đã trống, để sẳn-sàng làm dụng cụ tát nước.

                          Bình-minh cuối chân trời, rồi hoàng-hôn trên biển, mỗi hoạt cảnh đều xảy ra có khác biệt, có một màu rực-rỡ khác nhau. Bóng đêm ở trên biển chụp xuống tối thật nhanh, vùng trời đỏ thắm, kéo theo những tia nắng dịu-dàng còn đọng lại cuối ngày, mặt trời vừa chui xuống biển tận cuối trời Tây, thì bóng đêm lại hoàn-toàn ập đến. Một màn đêm hãi-hùng chụp xuống đen kịt!

                          Đêm nay, gió thật mạnh từ sau đuôi ghe thổi đến, sóng cũng to và cao làm cái càng đuôi tôm và chong-chóng lúc chìm dưới nước, lúc ở trên không, Tôi sợ cái cảnh nầy lại tái diễn sẽ bị nước làm gãy chong-chóng, nên nói với anh tài công tắt máy, vào hết trong mạn ghe chịu trận. Rồi từng cơn sóng đập mạnh vào mũi ghe, tóe nước vào, nhồi đẩy chiếc ghe quay tròn theo cuộn sóng, nhiều lúc mạnh đến nỗi tôi nghe dường như chiếc ghe kêu răng-rắc. Mọi người khép-nép ôm vào nhau chia bớt cơn sợ hãi. Rồi cảnh đọc kinh cầu nguyện lại tái diễn. Tại sao lúc nầy tôi lại giống như thầy tu thích nghe kinh-kệ! Tôi đang trở nên một thiện-nam! Cố mở to mắt nhìn ra ngoài, mây đen dầy-đặc ùn-ùn kéo tới, mưa nặng hột. Không ai còn đủ sức can đảm đem căng vải nylon lấy nước nữa, vì có còn biết sống được tới sáng mai? Cứ tiếp nối đợt nầy tới đợt khác nhưng trái đồi nước đen thui thủi sấn đẩy chụp xuống, đưa chiếc ghe lên cao thật cao rồi lại hụp xuống sâu hơn nữa, chiếc ghe đang xoay tròn theo con trốc dợn sóng trong lòng chảo. Nằm trên sàn, cạnh lườn ghe tôi nghe sóng vỗ vào mạn thuyền mà tim muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, chiếc ghe quay tròn theo cuộn sóng lên thật cao, cao hơn nữa… rồi tôi không còn thấy nước mà chỉ có không trung và bầu trời xám xịt chung quanh, chiếc ghe trở nên cách xa khỏi mặt nước. Rồi tụt xuống… xuống nữa đến thót cả ruột, tôi không còn thấy khoảng không của bầu trời mà chỉ có chung quanh là nước và sóng đập vào mạn ghe như muốn nhận chìm nó hút sâu xuống đáy biển. Nước đã vào lấp-xấp sàn ghe, các thanh niên cũng mệt nhoài chết lịm không ai còn đủ sức chồm dậy để tát nước ra ngoài. Tôi cầu nguyện cho cơn bão mau qua, nếu tình trạng nầy kéo lâu hơn nữa chiếc ghe sẽ bị nhận chìm vì nước mưa và sóng biển sẽ tràn vào chôn, nhận, dìm nó theo xuống đáy biển. Không ai có thể ngồi dậy nổi thì nói gì đến tát nước. Tôi nghe tiếng đọc kinh to hơn… “Chỉ còn nằm nhắm mắt mà đọc kinh cầu nguyện xin Thượng-Đế thương cứu rỗi”.

                          Bất ngờ, gió dịu lại, sóng bớt to, các thanh niên đua nhau tát nước quyết liệt vì thành ghe không còn cách xa mặt nước bao nhiêu nữa. Nước mưa và sóng tạt vào ghe với một lượng nước quá nhiều, nhưng lại nhờ chiếc ghe quá nhỏ nên anh em mới tát được ra ngoài. Trên trời mưa lắc rắc thưa hột, một vài người đàn bà còn khoẻ thừa dịp căng ‘poncho’ hứng nước vào các thùng nylon. Một sự ngạc nhiên trong mầu nhiệm, ai cũng khỏe mạnh hăng hái tát nước như điên khác hẳn giờ phút vừa qua nhìn họ như những thây ma nằm ngay đơ chờ chết! Bầu trời bắt đầu mờ mờ sáng với ánh trăng lưỡi liềm của tháng năm. Tôi bắt đầu nghe tiếng máy nổ trở lại do anh tài công nôn-nóng cho mau đến bờ tự-do để cứu đoàn người đang thoi-thóp vì đói. Cũng may, nếu tôi không tính thời gian mà cho sửa máy sớm hơn, e không đủ xăng mà chạy đến bờ thì nguy khốn cho cả lũ. Chết đói vì trôi giạt là cái chắc!

                          Cơn bão vừa qua làm tôi bị ám ảnh, có bao giờ 2 trận bão lại tuần tự dồn-dập qua đây không? Trong đêm tối làm sao tôi nhìn thấy xa mà đoán được thiên văn. Nếu cơn bão thứ 2 ập tới thì sao! Tôi nghĩ ngay, nếu cơn bão thứ 2 đi tới… Tôi nói mọi người phải nhanh tay múc nước biển đổ vào lại ghe cho đến khi nào lấp-xấp ở sàn ghe. Tôi biết làm như vậy để chiếc ghe khỏi bị lật úp, nhưng những thanh niên nầy có tin vào sự hiểu biết của tôi hay không!? Đó mới là điều mà tôi phải suy nghĩ lại! Hay họ cho tôi bị khủng hoảng tinh thần nên nổi điên ra lệnh bậy? Vì ban ngày, tôi có thể nhìn thấy các hiện tượng mây giông, tạo ra gió, gió tạo ra sóng, và sóng là hoạt cảnh xuất hiện trước nhất cuồn cuộn đến ghe mình, sau đó là từng cơn gió hú, lấm tấm sơ khởi những hạt mưa mở màn cho cơn mưa giông-lũ vùi dập sẽ ùn-ùn kéo tới sau. Nếu như chiếc ghe nhẹ khơi chòng chành trên mặt nước, vì dưới đáy ghe không có lượng nước vừa đủ để trì giữ, thì nó sẽ bị lật úp bởi các ngọn sóng to đầu tiên đập vào, đến khi gió to, nước mưa lũ đến thì hình hài chiếc ghe đã bị cuốn nhận sâu dưới đại-dương. Sau một lúc suy tư, tôi nói: “Anh em dừng lại nghĩ cho khỏe, đừng tát nước nữa, để sáng mai tát tiếp” Tôi nghĩ thầm trong bụng, với số lượng nước còn lại nầy cũng đủ giữ chiếc ghe không chìm, giống như đêm hôm qua!

                          Dù rằng chiếc ghe có bị trì nặng với số lượng nước nằm bên trong cũng vừa đủ để giữ mãi chiếc ghe nằm trên mặt nước, sẽ làm chiếc ghe có máy nổ chạy mà cũng như không, nhưng vẫn để an-toàn cho chiếc ghe không chìm là điểm chính. Tôi cố đợi đến khi bình-minh rồi để anh em tát nước lại, sau khi kiểm chứng lại thời tiết có còn bị đe doạ nữa hay không! Tôi nhắm mắt thiêm-thiếp và nghĩ: “Làm gì có 2 cơn bão dồn-dập… người ta thường nói, sau cơn mưa trời lại sáng mà!”. Tôi mừng thầm vì trời bất thần trong sáng trở lại. Trong cõi không xa thăm-thẳm, những đám mây bay qua rồi khuất lại nhìn lâu, mới thấy một vài vì sao lấp-lánh, bên trái tôi đám mây vừa bay qua hé mở, sao Bắc-Đẩu sáng choang hiện ra như hạt kim-cương quý giá dẫn đường… rồi sao Đại-hùng tinh mờ-mờ lúc ẩn lúc hiện. Trước mặt là một vùng tối-om ảm đạm, thỉnh-thoảng có những ánh chớp sáng lòe xa xa. Tôi đoán là cơn bão đang di chuyển vào dãy núi mà cậu Tùng đã thấy ngày hôm qua; nhìn vào chiếc đồng-hồ, cây kim lân tinh đang chỉ đúng 5 giờ sáng.

                          Tiếng máy vẫn nổ dòn lướt sóng trông có vẻ mau hơn đêm qua, vì ghe đang nhẹ-nhàng bởi lòng đáy mới tát hết nước hồi mờ sớm. Tình trạng lý tưởng nầy chỉ hưởng được vào lúc thanh-thiên bạch-nhật, còn như bị bão cuốn như trước đây thì chiếc ghe sẽ bị lật úp nhào theo sóng biển ngay tức khắc. Tôi lâm râm cầu nguyện trời thanh mây tạnh cho đến bờ tự-do, vì cũng đã gần đến Philippines rồi, qua sự xác định vị trí hồi trưa hôm qua bằng xác định vị trí từ địa bàn phối hợp với các vệt khói trắng trên trời do các phi cơ hành khách bay qua để lại từ bắc (Ðại Hàn, Ðài Loan, hay Nhựt bay về Singapore, Thái Lan hay Indonesia) mà tôi đoán chắc là khá chính xác sắp đến Philippine.

                          Tôi đang gật-gù, nhắm mắt chập chờn trong giấc ngủ, bỗng cậu Tùng lắc tôi dậy: “Thấy núi rồi Bác Ba ơi!”. Tôi chồm dậy, đứng phóc thẳng người, thật một cảnh đẹp tuyệt vời. Mặt trời như chiếc mâm đồng vừa ló dạng trên đỉnh núi xa xa, tỏa xuống một màu vàng làm cảnh vật trên ghe trở nên thi vị, dưới bầu trời mênh-mông mây nước hùng-vĩ. Mọi người ai ai cũng hớn-hở như đã được ơn trên cứu rỗi. Tôi bèn lấy gói thuốc lá 555 ra và chiếc quẹt máy mà tôi quyết giữ cả chục ngày qua. “Tất cả anh em lên đây hút thuốc”.

                          Anh tài công là người thèm thuốc nhiều nhất, nhưng anh chẳng cần thuốc 555 của tôi mà anh chỉ thích gói thuốc Rê của anh, hút mặn-mà và đậm-đà hơn! Nhưng tôi không quên dặn mọi người khi hút phải cách xa các thùng xăng để khỏi bị hỏa hoạn. Lần nầy anh tài công chỉ cần đốt điếu thuốc đầu tiên, còn lại anh cứ châm hút liên tục. Mọi người có lẽ vì quá vui mừng nên quên đi cơn đói meo đã kéo dài hơn chục ngày qua.

                          Tôi bắt đầu dặn anh tài công cho ghe đi vào thẳng góc với dãy núi gần nhất trước mặt để kiếm gì ăn, chiếc ghe lại hú lên kinh hồn, nhìn lại thì cái chong-chóng bị sút ra rơi chìm xuống nước biển; Anh tài công chĩa mũi ghe vào một cái phao lớn bằng sắt sơn màu trắng được neo cách xa bờ để làm dấu cho tàu bè chạy qua đây. Anh nhờ Khanh nhảy qua để chặt sợi dây nylon dùm anh, để cột giữ buồng máy, nhưng tôi không chịu vì Khanh quá yếu và đang bị say sóng, nếu rơi xuống biển và bị cuốn mất thì sự hy-sinh của tôi qua chuyến đi vượt biên nầy sẽ không được trọn vẹn. Tôi nói với anh tài công, anh còn khỏe mạnh thì nên nhảy qua mà chặt lấy sợi dây lẹ lên kẻo để trời tối thì không kịp vào bờ để tìm tòi những gì còn ăn được cho mấy đứa nhỏ. Anh tài công nầy giỏi thật, trong chốc lát anh đã nhảy qua, chặt một khúc dây nylon, và trở về lại ghe một cách ngon lành
                          Vì cảnh lạ và chúng tôi cũng lạ, nên thay vì vào được cái Vịnh đông ngư dân, chúng tôi lại vào vùng núi hoang vu không có người ở. Và neo chiếc ghe cách xa bờ khoảng chừng 30 thước giữa những ghềnh đá ven núi. May quá hồi xưa tôi đã thường xuyên đưa các con tôi đi tập lội trong hồ tắm tại phi-trường Tân-Sơn-Nhất, nên đứa nào cũng nhảy ùm xuống lội vào bờ một cách ngon lành. Tôi bị ám ảnh vì thiếu nước trên ghe, nên đem cái thùng nylon 20 lít lên bờ để lấy nước, còn đàn bà con nít không biết lội thì phải ở lại trên ghe.

                          Lên đến bờ, tôi lượm ngay miếng Dừa của ai ăn dở, nhưng chắc còn ăn được dù nó đã bị ún lại vừa mềm. Tôi lận trong quần, để chút nữa cho hai thằng cháu ăn đỡ đói. Chúng tôi đi xiểng niểng vì còn bị say sóng đến một vách đá, bao nhiêu con ốc bò trên vách đá đều bị chúng tôi hốt hết. Mấy đứa con, chúng đang lượm củi khô để nhúm lửa, rồi bắt cái lon sắt lên và chờ đợi đem ốc đến là bỏ vào luộc ngay.

                          Trời sắp sụp tối, chúng tôi phải rời ra khỏi chỗ nầy không thì sẽ bị muỗi đốt, vì chúng cũng chẳng thương hại gì chúng tôi đã bị đói khát máu me cũng không còn bao nhiêu. Cũng may vũng nước ngọt và dòng suối róc-rách chảy gần đó, các con tôi vừa uống vừa múc nước đổ vào thùng nylon. Khanh đi bê một cành cây làm đòn gánh. Nấu ốc xong chúng tôi mon-men trở lại ghe, vì trời đang sụp tối. Tôi cẩn thận đổ nước ốc vào trong bi-đông, vì nước ốc nầy rất bổ dưỡng nhiều protein sẽ cho hai đứa cháu. Tôi còn nhớ ở trên ghe khi chúng khóc kêu: “Ông Ngoại ơi con đói quá” nghe mà đứt ruột, đứt gan. Tôi đổ ra nắp nylon húp thử, “ôi… sao mà ngon quá, còn ngọt hơn nước súp mà không có nhà hàng nào trên Thế giới nấu ngon được như vậy!”.

                          Một việc làm vô bổ mà tôi cố bắt thằng Khanh cùng tôi xiểng niểng khiêng cái thùng nước, có lúc hai cha con bị vấp đá ngã lăn ra, nhưng không sao, nước trong thùng vẫn còn nguyên, lồm-cồm ngồi dậy gánh tiếp. Lên đến ghe, vì có ốc nên mọi người ăn rất là mừng rỡ, nhưng họ lại than phiền chúng tôi đi đâu mà lâu quá vậy? Chiếc ghe bị sóng vỗ đập vào đá, nên họ sợ bị bể và chìm dưới biển, mà họ thì không biết lội, cho nên ai cũng lo lắng, và giương cái cổ dài ra mà chờ đợi. Nhìn thấy mấy đứa cháu chia nhau ăn miếng Dừa tôi lượm mót được, mà tôi xúc động đến nỗi phải rơi nước mắt.
                          Tất cả mọi người leo lên ghe thì màn đêm cũng vừa sụp xuống hoàn toàn. Anh tài công giật máy nổ nghe ngon lành. Vì lạ chốn nên tôi khuyên anh tài công nên neo xa bờ, ngủ chờ sáng rồi tính. Vì chạy lạng quạng chẳng may ủi vào thành đá thì nguy.

                          Sau 14 ngày đêm mệt-mỏi ai ai cũng ngủ vùi dưới bầu trời rộng mênh-mông, trăng thanh gió mát. Thình-lình tôi nghe tiếng ghe đập vào ghềnh đá nghe lụp-bụp, hoảng-hồn tôi đứng phốc dậy la nhói lên: “Ghe đụng vào đá …ghe đụng vào đá!”. Anh tài công liền cho nổ máy chạy ra xa bờ một lần nữa, vì dây neo quá ngắn không bám được dưới đáy biển, nên mọi người thay phiên nhau canh gác cho đến sáng.

                          Tôi không ngủ được, nằm ngữa mặt lên trời giữa trăng thanh gió mát với nỗi vui mừng vô hạn “Coi như được tái sinh thêm một lần nữa, tại sao đời mình lại quá trải qua nhiều hoàn cảnh hãi-hùng như vậy”. Có phải đây là nghiệp-chướng không? Chiếc ghe dành đi sông tuy nguy hiểm nơi biển cả nhưng lừa được Công-an, vì chúng không ngờ tiếng máy cu-le và chiếc ghe tí-hon mà dám vượt biển. Cũng nhờ nó bé tí và lườn ghe đáy bằng nên không bị giàn đáy cản ngăn lại và nhất là khi lò mò qua đảo ngầm san-hô bén nhọn như dao cắt không đụng vào đáy ghe được. Chiếc ghe tí-hon mà lại cũ nên nước vào được bên trong để giữ chiếc ghe thăng-bằng với khối nước nằm dính trì giữ dưới đáy bằng, keo sơn cùng khối nước di động ở phần trên biển của những đợt sóng; chính khối nước trong ghe nầy nắm giữ một yếu tố quan trọng để ghe không bị chìm và lật nhào. Và điều tối quan trọng với số người ít như vậy chiếc ghe mới tuyệt đối giữ bí mật cho cuộc hải hành mà không bị Công-An theo dõi.

                          Nằm ngữa trên mặt ghe, tôi đang mơ-màng tự cảm giác dường như chiếc ghe không neo dính được dưới đáy biển, nên nó đang trôi vào ghềnh đá một lần nữa. Trời đang lờ-mờ sáng, tôi nhìn ra xa về phía chân núi, cảnh đèn sáng choang như một thành phố đang nổi lên phía xa. Không phải là thành phố rồi, chỉ là như chiếc tàu chạy ngang qua mà các đêm trước tôi đã mục kích. Tôi gọi anh tài công thức dậy nổ máy chạy thẳng vào đốm đèn đó, còn thấy ánh đèn tức nhiên ở đàng trước trống trải không có ghành đá ngăn cản. Hy vọng kỳ nầy họ sẽ không nở làm ngơ với chúng tôi đang đói khát. Ánh sáng ban mai buông xuống đại dương mỗi lúc một sáng dần. Mặt trời trồi lên hiện rõ sau dãy núi và chiếc tàu càng lúc càng lớn dần trong ánh mắt mòn mỏi của chúng tôi. À! Chiếc Tàu đang neo, tôi căn dặn đàn bà con nít đứng trước mũi ghe dương cây sào có chiếc áo bà ba trắng phất qua phất lại làm dấu xin được cấp cứu.

                          (còn tiếp)
                          Last edited by Phòng Trực; 10-15-2012, 08:24 AM.

                          Comment

                          • hieunguyen11
                            Super Member
                            • May 2011
                            • 2230

                            #28
                            Nhớ post tiếp sớm sớm nha anh vinhtruong, truyện đang tới hồi hấp dẫn!

                            Em
                            hieunguyen11

                            Comment

                            • vinhtruong
                              Super Member
                              • Jun 2010
                              • 1924

                              #29
                              Queenbee-1 vượt thoát nhà tù Lớn (tiếp theo)

                              Dường như người trên chiếc tàu nầy đã biết chúng tôi là kẻ vượt biên nên mới có chiếc ghe kỳ lạ xuất hiện, vì ghe của dân địa phương ở đây điều có hai trái nổi gắn xa hai bên hông để giữ ghe được thăng-bằng không bị lật, cho biết vùng biển của địa phương nầy thường hay có gió to sóng lớn. Đến nơi chiếc tàu cao ngất, từ trên cao họ thòng thang dây xuống cho chúng tôi. Rồi tuần tự các con và cháu tôi leo lên trước, kế đến là đàn bà và đàn ông, chót hết là tôi và anh tài công.

                              Vừa lên đến nơi, vị thuyền trưởng người Phi già giặn đã đi đến gặp tôi chào mừng một cách nồng nhiệt, họ biết chúng tôi đang đói nên dọn lên một thau cá Ngừ vừa lưới được, rất ngon và tươi vô cùng, và một thau cơm nóng hổi bên cạnh. Nhìn mọi người bốc tay ăn một cách ngon lành. Bỗng đôi mắt tôi ứa ra không biết bao nhiêu dòng lệ vì quá sung-sướng. Trách nhiệm chuyến hải hành độc nhất vô nhị nầy sẽ không bao giờ xóa nhòa trong ký ức của chúng tôi. Nhưng thật ra tôi chỉ ăn được một miếng cá với một miếng cơm là đã cảm thấy no ngang rồi. Tôi đang bâng khuâng nghĩ về chuyện gì sẽ diễn tiến theo sau?..

                              Tôi gặp lại vị thuyền trưởng rất vui tính và tử-tế, việc đầu tiên ông làm bộ hù dọa tôi một cách dễ thương là chúng tôi phải xuống lại ghe đi thêm 400 hải lý nữa thì mới tới trại tỵ-nạn của LHQ dựng lên. Ban đầu chúng tôi tưởng thật nên ai ai cũng nằm lì ở đây không chịu xuống trở lại ghe nữa vì hồi tưởng lại cảnh hốt-hoảng trong trận bão vừa mới xảy ra. Vị thuyền trưởng nắm cánh tay tôi, nói theo ông ra sau đuôi tàu, rồi bảo tôi nhìn vào ống nhòm, tôi nhìn thấy xa về hướng Đông có một cài làng chài lưới nho nhỏ. Ông gật đầu bảo tôi cho ghe chạy đến đó sẽ có công an địa phương giúp đỡ cho. Chúng tôi sẽ được tiếp đãi để làm thủ tục vào trại tỵ nạn của LHQ và tại đây là vịnh Ulugang-Bay của quần-đảo Palawan.

                              Tôi rất thương đứa con gái lớn nhát gan, nên trong bụng tôi cũng muốn cho nó được yên tâm một phần nào. Tôi liền ngoắt nó lại, sau tôi là tới phiên nó: “Đó...! Nơi đó là cái làng mà mình sẽ đến… ghe đến đó chừng khoảng 15 phút thôi... Con yên tâm chưa?” . Tôi nhìn đứa con gái tôi sau 14 ngày đêm đói khát sợ hãi trở nên quá mệt mỏi xanh-xao, nhưng mà lúc nầy vẻ mặt nó có vẽ hồng-hào trong sự mừng rỡ với nụ cười nhợt nhạt. Tôi lẩm-bẩm cám ơn Thượng-Đế đã thương xót chúng con đến đây an-toàn.

                              Mọi người sau khi ghé mắt vào ống dòm rồi, thì giờ đây ai ai cũng yên trí leo xuống ghe trở lại ghe một cách mau lẹ tự tin. Anh tài công cho nổ máy xã hết tốc lực chạy vào xóm chài lưới trước mặt. Trên đường lướt sóng chúng tôi gặp không biết bao nhiêu chiếc ghe nhỏ có hai trái nổi hai bên, họ vẫy tay chào hiếu khách vì họ nhìn chiếc ghe của chúng tôi có hai con mắt hai bên thì họ hiểu ngay là ghe vượt biên. Ghe chưa vào đến bến mà đã thấy mọi người dân làng ra đón, phần đông dân chài ở đây là người Công-Giáo, nên họ cho chúng tôi là con Chiên của Chúa, nên đã được Chúa cứu sống thoát qua khỏi cơn bão đêm hôm kia! Họ cho chúng tôi áo quần, bánh kẹo đủ thứ v.v. Có bà rất già cầm níu trên hai tay cả buồng dừa nặng trĩu. Mấy đứa cháu của tôi hí ha hí hả nhai ngồm ngoàm những chip khoai lang chiên khô. Anh Công-An rất trẻ đến nói chuyện với tôi và ghi biên bản số người trên ghe. Còn riêng anh tài công thì năn-nỉ tôi bằng mọi cách phải làm một lễ nhỏ để tạ-cúng chiếc ghe đã đưa mọi người đến vùng đất an-toàn, tôi đồng ý ngay với ý nghĩ “nhân cách hoá” chiếc ghe đã cứu chúng tôi vượt xa cả ngàn dặm là đúng.

                              Sau khi làm thủ tục biên-bản xong, tôi nói thẳng với anh Sĩ-quan Công-an rằng: trước sau gì chúng tôi cũng phải giao nạp chiếc ghe nầy cho chính phủ Phi. Tôi chỉ mong anh cho phép chúng tôi tháo gỡ chiếc máy cu-le để nhường rẻ lại cho dân chài với một số tiền vừa đủ mua trái cây và một con gà để làm lễ cúng. Anh Sĩ-quan nầy ưng thuận ngay, và cho tôi biết độ nửa giờ nữa sẽ có những gì chúng tôi cần để cúng, nhưng riêng con gà thì phải đợi cho họ đi bắt và luộc cho kịp. Tôi rất vui mừng đồng ý và báo cho anh tài công biết để mọi người đi tắm rửa cho sạch-sẽ, mát-mẻ cái tấm thân trước đã. Mấy đứa con cháu của tôi đã có mặt ngay dưới bãi biển không biết tự bao giờ. Chúng tha hồ chơi đùa cười giỡn, tuổi trẻ vô tư có khác.

                              Còn anh Hai tài công và vài người đàn bà ngoan đạo nhất quyết đứng đợi để làm lễ tạ ơn chiếc ghe, tôi phải xiêu lòng cùng với họ đứng chờ bên cạnh chiếc ghe. Rồi lá chuối được lót trên mũi ghe, trên đó không biết có bao nhiêu các loại trái cây, như dừa đã bào gần tới lớp vỏ, thơm, cam, quít, thanh long, bánh bisqui, bánh chíp, chocolat v.v. đủ thứ kẹo và nước ngọt. Đặc biệt có bó nhang thơm cọng lớn nữa. Chúng tôi đang chờ đợi thêm con gà nữa là đủ. Nhưng bỗng Anh Sĩ-quan Công-an hiện ra cuối hàng Dừa chạy lại cho chúng tôi biết: vì gà ở đây dân địa phương nuôi thả đi rong tự kiếm ăn, đến tối mới chịu về, nên không bắt được, vì chúng chạy nhanh quá. Tôi nói với anh tài công: “thôi van-vái xin miễn cho mình đi… ”. Thế là buổi lễ tạ ơn chiếc ghe bắt đầu, nhìn sự thần phục, và tôn kính của mọi người làm tôi cảm thấy mình có tội-lỗi phạm thượng. Khi lễ cúng bái đã kết thúc tôi dặn mọi người, tắm rửa ăn uống xong thì trở về lại ghe ngủ qua đêm. Ngày mai lúc 10 giờ sáng sẽ có tàu tuần của Hải quân Philippines đến chở chúng mình về căn-cứ của họ và chiếc ghe nầy cũng phải được kéo theo giao nạp cho chính quyền đúng theo thủ tục của LHQ.

                              Mọi người qua một đêm dài ngủ ngon giấc, riêng tôi cứ miên-man cho những việc phải làm sắp tới. Đúng 10 giờ sáng, chiếc tàu tuần màu xám tro của Hải-Quân Philippines đang cập bến, vị Sĩ-quan Công-an nhã-nhặn mời chúng tôi lên chiếc tàu tuần nầy. Còn một anh Thủy-thủ đang nhanh-nhẹn cột chiếc ghe của chúng tôi vào sau chiếc tàu tuần để kéo đi. Trên đường đến căn-cứ Hải-quân, tôi nhìn thấy giòng lệ lăn tròn trên má khi anh tài công quá xúc động luyến tiếc chiếc ghe đã mang 14 mạng người vượt hàng ngàn hải-lý, đang được cuốn trói lôi kéo phía đằng sau như một tử-tù ngày xưa bị ngựa lôi kéo ra pháp trường! Chúng tôi sẽ không bao giờ gặp lại nó nữa với lời thầm nhủ!

                              Một buổi tiệc có ý nghĩa của Bộ Tham-Mưu Căn-cứ của Hải-quân Philippines, các Sĩ-quan gồm Đại-tá Căn-cứ Trưởng, Y-sĩ và Sĩ-quan Tham-Mưu thiết đãi chúng tôi một bữa tiệc chào mừng. Vị Y-sĩ Thiếu-tá hỏi tôi: “Làm sao chúng tôi thoát khỏi cơn bão cực mạnh ngày hôm kia, trong khi đó các tàu bè ở vùng Vịnh Ulugang-Bay phải trốn vào Vịnh để tránh cơn bão đang hoành hành vào Vịnh, riêng tàu chúng tôi thì đã có lệnh không được ra khơi cách đây 3 ngày?”
                              Tôi trả lời: “Vì chúng tôi không còn cách nào hơn, nên phải chịu ở vị thế chận đầu cơn bão sẽ đi qua, rồi các cuộn sóng cuốn hút chiếc ghe theo sau đuôi cơn bảo!”
                              “Nhưng làm sao chiếc ghe nhỏ như đồ chơi trẻ con như vậy mà không chìm?" Vị Y-sĩ hỏi tôi.
                              “Vì nó quá nhỏ và cũ nên nước biển đã tràn vào lấp đầy nữa ghe, với dung lượng nước nầy nằm dưới lườn ghe đáy bầu dành để đi sông. Đây là nguyên tố chính làm bám giữ con thuyền không bị lật úp, nhưng nếu cơn bảo kéo dài mà nước ngập tràn vào ghe quá nhiều, thì ghe mới bị tràn ngập nước và sẽ lún chìm sâu từ từ xuống dưới đáy biển”. Nhưng các thanh niên đã dự trù, sẽ dùng sức người cố gắng quyết liệt tát nước ra ngoài để chống-chọi với sự hoành-hành của cơn bão. Dù sao chiếc ghe nhỏ nó vẫn có lợi ích là dung lượng nước múc ra ít hơn là chiếc ghe lớn. Nói tóm lại, tất cả cũng nhờ ơn Thượng-đế, nên cơn bảo đi qua đầu rất nhanh dù cường độ thật ác liệt.
                              "Thế còn cái đảo San-hô đó đã giết chết trên 20.000 người vượt biên rồi, nhưng sao ghe anh lại thoát!" Ông Y-Sĩ thắc-mắc.
                              “Như tôi đã trình bày, ưu thế là vì chiếc ghe nhỏ, đáy bằng nên không có chìm sâu dưới nước, đó cũng là nguyên tố lướt qua được các mũi cạn, bén nhọn của San-Hô và đá ngầm tai mèo”
                              “Thế còn địa bàn và dụng cụ hải-hành … anh có những gì?”
                              Tôi lấy từ trong một bao nylon ra cuốn Từ-Điển và cái Địa-bàn dành cho hướng đạo sinh:
                              “Đây là những dụng cụ hải-hành của tôi”
                              Ông Y-sĩ cười ngất và gọi các Sĩ-quan Tham-Mưu của Căn-cứ đến xem; Có một Sĩ-quan hỏi tôi:
                              “Cái bản đồ như thế nầy… thì làm sao anh đi tới được?” (nếu có ai tò mò xin xem trong tác phẩm-2 “The New Legion” Volume-2, trang 249 sẽ thấy tấm bản đồ và chiếc địa bàn tí-hon)
                              Tôi đáp lại ngay “Không còn có phương cách nào khác , vì ở trong một nước CS, vã lại tôi mới ra khỏi tù sau 13 năm… thì làm gì tôi dám công khai đi tìm mua các thứ dễ-dàng để đi vượt biên?” Còn cái địa bàn tí hon nầy bị vô nước biển, nên mỗi buổi sáng thức dậy tôi phải lấy ngón tay gõ-gõ và điều chỉnh so với mặt trời mọc. Còn đến trưa, nhờ các chuyến bay chở hành khách đi về các nước Đông Nam Á hoặc Úc, nhờ những vệt khói dài nầy mà tôi phối kiểm lại nên không bị lạc hướng. Sự thật nếu không nhờ vào những lằn khói trắng của các Phi cơ chở hành-khách bay ngang qua thì chúng tôi đã bị trôi xa ra khỏi dãy đảo Philippines và có lẽ đã chết khô ngoài biển khơi rồi, “Vì chiếc ghe đã bị trôi giạt quá xa về hướng Bắc của trục hành-trình!” bởi gíó mùa tây nam thổi khá mạnh trên biển Nam-hải
                              Khi tôi kể đến đây thì giữa căn phòng hoàn-toàn yên lặng không nghe một tiếng động, bỗng dưng các Sĩ-quan Tham-mưu lần-lượt đến bắt tay tôi và có lời chúc mừng tôi đã được Chúa cứu, rồi vỗ vai tôi cùng tỏ vẻ thán phục. Tôi ngẫm-nghĩ… rồi thành-thật tỏ bày với họ: “Chiếc ghe ‘Định-mệnh’ đã đưa chúng tôi đến đây là do một sự mầu nhiệm nào của Thượng-Đế mà thôi! Còn như ‘trí-tuệ’ và sự ‘thông minh’ của con người không có nghĩa lý gì đối với sự bao la mầu nhiệm của Đấng Cứu Thế cả. Chỉ cần nhìn sự hùng-vĩ của biển so với hải lý, hải trình của chúng tôi và sự vận hành của vũ-trụ thì đã rõ trí-tuệ của con người chỉ bằng một phân tử của hột cát bé li-ti thôi”.

                              Tôi đang nghĩ đến ngày định cư, thì tôi sẽ xin được rửa tội và học đạo, vì đời người như một thủy-thủ lạc giữa chốn Đại-Dương, nếu không có “đạo” tức nhiên sẽ không có phương hướng, rồi đời người cứ lặn hụp mãi trong phương trời vô định không bờ bến. Phải có đạo, chính là đường thẳng như có một địa bàn chọn hướng đi cho mình, một hướng để tìm được lục địa! Sự mầu nhiệm đã chứng minh rõ-rệt trong cuộc vượt biên định-mệnh nầy. Chúng tôi không bao giờ có ý nghĩ đi đến một phương trời xa tít như vậy! Chiếc ghe hư máy sao nó không trôi giạt vào Hàm-Tân hay Long-Hải? Tại sao gió bất thần đổi chiều từ hướng Tây cùng với những ngọn sóng thần đẩy chúng tôi xa bờ và ra tuốt tận ngoài khơi để khỏi bị tù!? Nếu máy tốt mà chạy mãi thì làm sao đủ xăng! Đêm khuya có những chiếc tàu buôn hoặc đêm hôm đó anh tài công chạy đến gần chiếc tàu trong đêm tối, thì thế nào cũng sẽ bị nguy hiểm, vì những dợn sóng của tàu đánh vào phải lật chìm ghe! Tại sao trong ghe có mùi xăng nồng-nặc nơi các thùng xăng nằm ngổn-ngang khi có lửa cháy mà không phựt bùng nổ? Nếu ghe chỉ cần vượt qua đảo cạn San-hô trong đêm tối thì sao thấy đá ngầm để dùng sào đẩy ra xa tránh cho ghe khỏi bị đá San-hô đánh trúng và chìm ghe ngay. Một cơn bão hoành-hành dữ-dội đến nỗi mọi người chết lịm mà lại qua khỏi và thoát chết! Khi chúng tôi đến bờ, thì người dân chài ở địa phương nầy đón tiếp chúng tôi như là bà con ruột thịt đã thất lạc từ muôn kiếp trước cũng bị bão vùi dập như thế nầy… hay do thần giao cách cảm? Tôi còn nhớ lịch sử cũng như những câu tục-ngữ của người xưa của nước tôi thường nói: “đàn ông đi biển có đôi, đàn bà đi biển mồ-côi một mình!” có nghĩa là đi biển vô cùng nguy-hiểm, ngày xưa các bô lão đi chài lưới, có lẽ cũng bị vào mùa ‘gió chướng’ như chúng tôi và đã lạc mãi tận vùng đảo Palawan nầy hay sao mà bây giờ gặp họ, thì tôi có cảm giác như là người thân trong thân tộc vậy? Cũng vì đi biển nguy-hiểm như vậy, nên bà con chúng tôi trốn chạy CS thì phải lựa vào khoảng tháng Ba là đi vượt biển, đến Mã-Lai gần nhất và cũng xuôi buồm thuận gió, cho nên mới có câu tục truyền rằng: “Tháng Ba bà giá đi biển đó mà”.

                              Tôi vừa dứt lời, thì vị Sĩ-quan Y-sĩ nầy tỏ bày bằng cả một tấm lòng thán phục, Ông đề nghị:
                              “Để làm kỷ-niệm, tôi ước mong Ông đổi chiếc đồng-hồ của Ông đang đeo để lấy chiếc đồng hồ của tôi làm vật kỷ-niệm”
                              Tôi e-dè, vì tôi thấy đồng hồ của mình là loại dỏm mà lại bị nước biển vào nên đã hư lên hư xuống, nên tôi thành-thật tỏ bày: ‘đồng hồ của tôi chạy không được tốt’. Nhưng vị Sĩ-quan nầy quyết tâm đổi cho bằng được chiếc đồng hồ của tôi để làm vật kỷ-niệm. Ông cởi ngay cái đồng hồ Rado ra và trao vào tay tôi. Thật là ái ngại nên tôi đành phải cởi cái đồng hồ dỏm của tôi ra trao cho ông và tôi cũng không quên cám ơn ông rối rít. Những người cùng đi chung ghe nhìn vào mừng lây cho tôi, làm tôi hổ-thẹn thêm như là một sự trao đổi lường gạt.

                              Trong bữa ăn, một vị Sĩ-quan mời tôi ăn món thịt chó do chính tay anh nấu. Tôi lắc đầu từ chối, và hồi tưởng lại lúc còn ở trong tù, khi những Sĩ-quan đàn em đã được tự giác đi ra ngoài dân, có đổi được áo quần, và mua vào cho tôi một ‘Gô’ thịt chó. Tôi không ăn và trả lại nên đã bị người bạn tù nằm bên cạnh cằn-nhằn cho một mách. Tù mà cái gì lại không ăn, hễ con gì nhúc-nhích là đều ăn được. Đúng vậy, Dế, Rắn, Rết ngay đến con Chuột cống bị ghẻ lác tróc hết cả lông trắng hếu mà tôi còn nướng ăn một cách ngon lành, còn thịt Chó thì quá ngon đi chứ! Nhưng vì tôi tự cảm nhận từ lâu: Chó là một con vật quá trung thành nên tôi không nở ăn, chỉ đơn giản có thế thôi.

                              Cuộc vui nào cũng phải tàn, mọi người đều ra về, để lại một cái phòng rộng thênh-thang, chúng tôi nằm sắp lớp trên nền gạch bông ngủ cũng mát. Sáng sớm, Căn-cứ cho một buổi ăn sáng bằng trứng chiên thật ngon lành. Đến xế trưa, một chiếc xe đò nhỏ, sơn đủ màu sặc sỡ đến đón chúng tôi, gồm có Trung-tá Fernandez, Trại-trưởng, ông Bob Holland, thiện nguyện viên người Úc và phái đoàn Cao-ủy Tỵ-nạn. Trên đường về Trại Palawan, Ông Fernandez có đãi chúng tôi, mỗi người một chai bia ‘San-Miguel’ của Phi, nhưng sao lạ, uống vào chưa đầy nửa chai mà tôi đã thấy ngà-ngà say rồi. Hay là tại mình vẫn còn dư âm say sóng?

                              Tại Trại tỵ nạn Palawan, khoảng một tháng sau, tôi nhận được một bao thư lớn từ Hoa-kỳ gởi qua cho tôi, trong đó có đầy đủ các giấy tờ của các khóa học, được bọc rất cẩn-thận chung quanh một lớp giấy gối đệm để khỏi bị nhàu. Trên góc bì-thư có đề tên người gởi là: Trung-tá Lawrence A. Gregorash USAF, Deputy Commander Foreign Military Training Affairs Group. Tôi yên tâm, như vậy là khỏi phải lo gì nữa vì đã có khá đầy đủ giấy tờ để được phỏng vấn. Nhờ vào một tấm giấy chứng nhận có theo học khóa Academic Instructor Course ở Đại-Học Không-Quân Maxwell, Alabama, mà Bà-sơ Claudita Marcon, Giám thị trường Anh Ngữ CADP (Center for Assistance to Displaced Persons) xin Cao ủy tị-nạn cho tôi làm phụ-tá cho Bà để theo dõi tiến trình của các khóa sinh. Dĩ nhiên là tôi rất vui lòng vì có được cơ-hội để giúp đỡ cho đồng bào của mình.

                              Chẳng bao lâu, tôi cùng gia-đình được phái đoàn Mỹ chấp nhận và chuẩn bị chuyển lên trại Bataan. Đặc biệt trại Bataan nầy, dù ở trong nội địa Philippines nhưng được chính-phủ Hoa-kỳ tài trợ tất cả, khác hẳn với cácTrại ở Vùng Đông Nam Á do Cao-ủy Liên Hiệp Quốc tài trợ. Trại được chiếm trên một mảnh đất khá đẹp, có đồi cỏ và con suối bao quanh, và thêm một chiếc cầu treo thơ mộng bắc ngang qua con suối rất đẹp. Trại gồm có 12 Vùng trải dài khoảng 5, 6 cây số, có 2 cái chợ khá lớn ở vùng 5 và vùng 10, trong chợ bày bán đủ mọi mặt hàng, kể cả vòng vàng nữ trang, cho nên chợ luôn luôn tấp-nập kẻ mua người bán rất là sầm-uất. Có một nhà thờ Công-giáo và một ngôi Chùa rất đơn giản. Nơi đây gồm 18,000 người tỵ-nạn, đang chực-chờ làm thủ-tục gia-nhập định cư tại Mỹ. Đặc biệt năm 1988 và 1989, trại có nhận rất nhiều diện con Lai (Amerisian) để làm thủ tục đi Hoa-kỳ. Tổ chức của trại nầy có tên là PRPC (Philippines Refugee Processing Center) do Ông Herman T. Laurel làm Chủ-nhiệm với một Hội-Đồng quản trị hành chánh. Về phần bảo vệ an-ninh cho Trại do Đoàn An-Ninh Blue-Guard, chỉ huy trưởng là Thiếu-Tá Lopez. Có một điều kỳ quái là Thiếu-tá Lopez nầy lại bao che cho bọn Cướp với cái tên là Dũng-Đại-Bàng. Nếu muốn gia nhập vào Ðảng Ðại-bàng của hắn, thì bắt buộc phải xâm hình con Đại Bàng trước ngực. Và Đảng nầy đối xử rất là điệu nghệ, chia chác với Đoàn An-Ninh Blue-Guard rất hậu, sau những chuyến làm ăn bất hợp pháp.

                              Về phía tổ chức của người tỵ-nạn, gồm có một Chủ Nhiệm Liên Vùng (Inter-Neighbourhood-Chairman) là người Việt và hai phụ tá, một là người Lào và một là người Cambodia. Mỗi Vùng điều có Vùng-trưởng được dân tỵ-nạn bầu lên. Phía người Việt có tổ chức riêng của Hội Cựu Quân-Nhân, và ông Hội-trưởng nầy sẽ lãnh đạo đường hướng cho Ông Chủ-Nhiệm Liên Vùng. Thêm một điều đặc biệt xảy đến cho tôi là: tất cả anh em cựu Quân-Nhân có vào khoảng gần 400 người đều quyết định bầu tôi làm Hội-trưởng. Trong khi những người cùng cấp bậc với tôi, ở các binh chủng khác cũng có, nhưng họ lại không bầu. Được hỏi tại sao!? Họ chỉ trả lời rất là đơn giản “là vì tôi đã ở tù thâm niên”.

                              Đến ngày bầu cử một ông Chủ Nhiệm Liên Vùng mới, để thay Ông Chủ Nhiệm cũ đi định cư, 18.000 người đồng bào tỵ nạn lại bầu tôi kiêm luôn chức vụ Chủ-nhiệm Liên-Vùng. Như vậy là một trách nhiệm quá nặng đối với tôi, một mình mà phải đảm trách hai nhiệm vụ, mà trước đó tới giờ chưa có xảy ra tại Trại Bataan nầy, ngoài ra tôi còn bị buộc làm AT, phó giảng viên Anh ngữ (assistance-teacher) nhưng sở-dĩ có sự việc khác thường như vậy thì cũng có lý do là đồng bào đang ở trong tình trạng lo âu, khi ngân phiếu ở nước ngoài gởi vào đều bị cướp giựt ăn chận mà không dám phản ứng, chỉ cầu mong sao làm được thủ tục qua Mỹ sớm để được yên thân thoát cảnh bị bọn Dũng Ðại Bàn tống tiền.

                              Tôi đến thăm Chùa, thì các thầy cho biết Bọn cướp Dũng-Đại-Bàng đến khủng bố tín-đồ và lấy hết trái cây của Chùa cũng như các mâm thau đồng đi đâu mất, tôi đi đến thăm nhà thờ, thì Cha cho biết: “các con Chiên đi nhà thờ không dám mặc đồ đẹp và đeo vòng vàng, họ sợ bọn cướp Dũng Đại-Bàng trấn lột. Cái ao-ước của các Cha là muốn các con Chiên đi nhà thờ mặc đồ đẹp và có đeo nữ trang!”. Tôi gặp vị Đại-tá Banson hồi-hưu, làm phụ tá nội vụ cho Trại PRPC, Ông cũng tâm sự với tôi rằng:
                              “Phái đoàn Mỹ JVA phàn nàn tình trạng an-ninh của trại khá xấu, nhất là những người có thân nhân ở ngoại quốc gởi Check qua, họ rất lo lắng và sợ bị cướp giật ăn chận. Ông có cách nào giúp trại PRPC loại trừ đảng cướp nầy được không?

                              (còn tiếp)
                              Last edited by Phòng Trực; 10-15-2012, 09:03 AM.

                              Comment

                              • hieunguyen11
                                Super Member
                                • May 2011
                                • 2230

                                #30
                                Kính thưa anh Vinhtruong em đề nghị anh in thành sách truyện này. Vì rất hay, càng đọc càng lôi cuốn và cũng là một tài liệu quý giá cho thế hệ sau này.
                                Cám ơn anh rất nhiều
                                Em
                                hieunguyen11

                                Comment

                                Working...