QUEENBEE-1 GÃY CÁNH RƠI XUỐNG VỰC THẲM - “Là Cộng Sản phải đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù” và trong chính sách của Lénin có viết rõ ‘chính sách cải tạo’ và kỹ thuật đánh lừa người tù cải tạo, “luôn luôn làm cho chúng có hy vọng được tự do, chuyển trại thường xuyên để nuôi dưỡng hy vọng giả tạo đó, cuối cùng chúng gặp nhau và chết ở Siberia, còn Việt Nam vùng rừng thiêng nước độc tây bắc Hà-Nội.
Queenbee-1 đang chập chờn trong giấc ngủ gật gù, bỗng những giọt nước âm ấm từ trên cao rơi xuống tung tóe vấy lên trên đầu, mặt chúng tôi với mùi thum thủm mặn chát, nhầy nhụa…Sau khi choàng mắt tỉnh giấc mới nhận ra được đó là những thùng nước tiểu đã đầy tràn, được anh bô đội kéo lên trên boong tàu, dưới ánh đèn vàng mờ ảo trên trần cao tỏa xuống, Tôi ngóc cổ nhìn lên, lại thấy lờ mờ những chiếc thùng nước tiểu đã trống nhẹ được kéo thả lủng lẳng xuống trở lại, nhưng những giọt nước tiểu còn đọng lại trong đó vẫn không chịu buông tha chúng tôi.
Tàu đang chao động vì sóng lớn! Có lẽ nó đã ra khỏi cửa khẩu Sông Saigòn và hiện đang lướt sóng trên biển cả! Bọn họ sẽ đưa chúng tôi đi đâu đây! đảo Côn-Sơn chăng? Phải đợi trời sáng mới định hướng được!
Hồi chiều tối đêm hôm, chúng tôi là toán xuống tàu sau cùng nên phải ngồi nơi phần đuôi mà chịu trận, cũng may nhờ các ‘thiện-nam’ nầy ăn uống theo mùa chay tịnh ‘thọ bát quan trai’ một thời gian khá lâu, nên những phần thải ra cảm nhận bớt rất nhiều mùi ‘tục-lụy’của trần gian. Các bạn tù lên trước được ngồi bệt dựa vào thành tàu nên cũng dễ chịu cho cái lưng. Tuy nhiên chúng tôi có được cái ưu tiên, lúc nào mắc tè thì xè ra ngay đó khỏi phải chen-lấn có khi bị vãi ra quần. Tội nghiệp một anh bạn Bò-ngũ, tên Cao Triều Phát, (chúng tôi gọi bằng tiếng lóng là các Trung-tá đi chuyến đầu tiên, nhìn các gương mặt rất quen thuộc nầy, Tôi đã gặp rất nhiều lần ngoài chiến trận, anh nào ngày xưa, nơi ngực cũng đầy ắp huy chương xuống tới rốn) thuộc binh chủng Nhảy Dù đang gồng mình cố gắng rặn ra hoài mà nó không chịu ra… vì chúng tôi bị nhốt sâu dưới đáy tàu nên áp suất không khí rất nặng không dễ dàng cho ra những thứ của nợ nằm trong bụng.
Bây giờ Tôi có quá nhiều thì giờ để suy gẫm và hồi nhớ lại tất cả, nhìn quanhquẩn chung quanh thấy các chiến hữu đang chen-chúc ngồi dựa vào nhau như bầy vịt, mọi người đều bơ-phờ và thất vọng. Chiều hôm qua, tại Trại Suối Máu, sau khi cán-bộ VC đọc danh sách “trích ngang” theo sự suy đoán của riêng tôi có lẽ đây là sĩ-quan VNCH có nhiều nợ máu với nhân dân nên đã bị đưa đi chỗ khác mà theo họ thì tạo môi trường dễ dàng để theo đuổi việc học tập cải tạo. Điểm danh xong, từ một sân lớn, chúng tôi bị áp dẫn theo thứ tự từng nhà đi ra giữa hàng rào kẻm gai đến một con đường khá lớn, hai bên là dãy nhà tù, trước mặt là cổng chính. Trên đường nầy vô số xe Molotova đậu nối đuôi nhau tự bao giờ với trần vải bịt bùng như không muốn mọi người nhìn thấy những gì trong đó.
Đây là nơi, mà hồi trước chính quyền mình thành lập một Trại tù phiến Cộng, chia ra nhiều phân trại nhỏ vây quanh bởi ba vòng kẽm gai, mỗi phân trại có một sân lớn, ngay cổng vào có một chòi nhỏ, có lẽ khi xưa là nơi bán hàng cho các tù nhân, một nhà bếp, bên cạnh có một giếng nước, một căn nhà trống rất lớn, các sân nhà đều tráng xi-măng, rải rác đều nhau từng một khoảng cách, có vô số dãy nhà cho tù ở dọc hai bên. Ngoài cổng trại có một chòi canh và phía dưới có một Connex, nơi đây đã giam hai chiến hữu Bò-tam (Đại úy) bị bắt khi hai anh toan trốn trại ở Củ Chi và không đưọc băng bó vết thương cho hai chiến hữu Bò-tam nầy. Chúng tàn nhẫn đến nỗi không cho thuốc men và không ngó ngàng gì đến hai chiến hữu nầy, và nhốt trong Connex như nhốt Gà để chờ ngày “cắt tiết”cúng Tổ Lenin của chúng theo kế hoạch trong âm mưu hù dọa, dằn mặt chúng tôi trước khi bí mật đem ra Bắc?
Tại đây, chúng tôi bị nhốt với những ngày dài có thể coi như là nhàn-nhã nhứt kể từ ngày đi tù cải tạo và nhứt là không phải cái gọi là “lên-lớp” học tập chính trị như hồi đầu tiên ở Trại Long-Giao. Nơi đây chỉ có một trường hợp chúng tôi phải nghe bài giảng về tài sản của nhân dân là không được xâm phạm. Nhưng cứ mỗi lần xe hỏa chạy qua là chúng tôi thấy lố nhố nón cối và tủ bàn… ôi cái gì đủ thứ chất đầy trên xe hỏa chở ra Bắc… chắc đây không phải là tài sản của nhân dân mà của chính quyền Miền Nam? Hy vọng tài sản của nhân dân được bảo vệ như vậy thì làm sao mà có vấn đề tham nhũng trong chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa ưu việt được. Tin ở ngoài Saigon lọt vào trong trại: Hảng tin France-Press ở Hà Nội cho biết, ở Hà Nội nay có rất nhiều xe Honda đem ra từ Saigòn đang chạy khắp thành phố. Người ta còn thấy nhiều loại nước uống sản xuất từ hãng B.G.I trong Nam cũng được bày bán rộng khắp tại Thủ Đô Hà Nội. Người ta hình dung Saigon như một thành phố bị một loại cướp chiếm đóng và nạn “hôi-của” những người thua cuộc để khuân vác về Bắc. Nhiều nhứt là Salon, tủ lạnh, quạt máy, máy hát, vải vóc, thuốc Tây và ngay cả bột giặt. Hãng giấy Cogido có 8,000 tấn giấy trong kho đã được lệnh chuyển ra Bắc. Tất cả những xe hơi mới của Hãng Citroen, Renault, Peugeot bị chở ra Bắc. Hãng Engineco, có 165 xe được cải bổ tân trang cũng chờ để chở ra Bắc. Thật rất buồn cười với chữ nghĩa “Cách-mạng” Những lời mỉa mai bóng gió cũng chẳng ngửi được: “Miền Nam nhận Họ thì Miền Bắc nhận hàng” Hạt gạo miền Nam nay phải cắn chia đôi, chia ba cho miền Bắc!
Thứ năm 12/ June/1975: Đây là ngày đáng ghi nhớ nhứt, đánh dấu một thay đổi lớn với tất cả sĩ quan, nhân viên chức trong chế độ cũ. Guồng máy chính trị của chế độ Cách Mạng bắt đầu điều hành, bắt đầu xiết thắt lại. Thông cáo cho hay, các sĩ quan và viên chức của chính phủ cũ sẽ phải đi học tập cải tạo tối thiểu một tháng đối với sĩ quan quân đội và cảnh sát ngụy, những người làm chính trị, dân biểu, bộ trưởng, nghị sĩ. Họ phải trình diện trong ngày mai và chỉ được mang theo quần áo mặc thay đổi và còn nói rõ mang theo 13,610$ đễ trả tiền ăn trong một tháng. Đối với Hạ sĩ quan trở xuống, chỉ phải trình diện học tập ba ngày.
Tờ báo ‘Saigon giải phóng’ giải thích: Họ có phần trách nhiệm của họ vì đã cầm súng đánh giặc cho kẻ thù, hoặc đã làm việc cho kẻ thù” (Chắc giờ nầy, nhiều người trong chúng ta đang ở hải ngoại đã hẳn không làm sao quên được cái ‘ngày lịch sử nầy’ vẫn ám ảnh trong tâm tư chúng ta. Đó là màn kịch ngoạn mục và hay nhứt do hai đạo diễn Kissinger và Lê ĐứcThọ dàng-dựng; trong khi các chính khách khác đều bị lừa gạt và tưởng bở, đặc-biệt nhân vật Đại sứ Pháp Mérillon là thấy lộ liễu nhứt; Sau ngày 30/April/1975, vạch ra đường ranh giới rõ rệt giữa kẻ thắng và người bại. Nói theo ý của Kissinger, soạn giả tấn bi thảm kịch nầy: Một cuộc bàn giao chuyển tiếp chính quyền từ cũ sang mới cho Hà Nội, trong vòng trật tự và Saigòn không đổ nát.
Tháng October/1975, có quyết định đổi tiền. Dân miền Nam không ngạc nhiên, Ai cũng biết với một chế độ mới không ai xử dụng hệ thống tiền bạc của chế độ cũ; nhưng dân miền Nam không biết sẽ đổi như thế nào! Rồi người ta cũng ước đoán và rỉ tai cho nhau những toan tính của họ: dĩ nhiên rất nhiều sự suy luận và tin đồn, rồi người ta nghĩ ra nhiều cách đổi tiền miền Bắc để cất giữ. Ngay từ đầu, Huế và Quảng Trị đã nhập vào Liên-Khu 4, nên áp dụng lối sống của miền Bắc XHCN, xử dụng tiền miền Bắc. Rồi người ta không giữ tiền nhiều, mua hàng và quý kim tồn trữ, nhưng lại bị đe dọa là hàng hóa tồn trữ có nguy cơ bị kiểm kê và bị ghép tội tư sản mại bản, đầu cơ tích trữ, còn giữ quí kim như vàng sẽ bị tội trạng hiện hành. Rồi thông báo giới nghiêm, nhà nước chưa tuyên bố lý-do, thì dân miền Nam biết ngay sẽ diễn ra cảnh đổi tiền. Nhiều người có nhiều tiền chạy đôn chạy đáo đi mua hàng hoá, vật giá lại leo thang, tiền xem như giấy lộn. Nhà nước đổi tiền theo giá 500$ VNCH ăn 1$ ngân hàng và tối đa một gia đình được đổi là 200$ số còn lại phải ký gởi vào nhà nước Cách Mạng thì dân cũng hiểu là không bao giờ được lấy ra. Nếu có lấy thì những điều kiện nguyên tắc khó khăn không ai có thể làm được. Ký gởi là một từ ngữ đễ che dấu hành động cướp giựt bóng bẩy.
200$ cho mỗi gia đình, phải ngồi bệt sắp hàng cả ngày đợi phiên mới có. Những ngày đầu là đổi cho gia đình cách mạng, công nhân viên nhà nước. Nhân dịp nầy cán bộ cách mạng làm ăn khấm khá, làm ăn công khai, cố gắng giúp đồng bào miền Nam ruột thịt đổi một số tiền trên 100,000$. Đổi xong, chia theo tiêu chuẩn cán bộ lấy từ 75% cho đến 90% tùy vùng và thời điểm. Nhiều người tự tử vì giữ quá nhiều tiền, nay như mất hết; Có người ôm cả bao bạc nhảy lầu 3, 4 từng xuống, bạc giấy còn mới tinh bay trong gió như bươm bướm.
Chợ Trời thêm đông và thêm nhiều chợ mới xuất hiện, người dân Saigon sau lần đổi tiền như đã kiệt quệ, tài sản, kể cả áo quần cũng đem ra chợ bán, người Bắc chạy vô mua hàng rất đông và mỗi ngày lại càng thêm tấp nập; tư nhân có, tập-thể có và hợp tác xã cũng có luôn. Họ hể hả mua thật nhiều để đem về Bắc: mua đủ mọi máy móc kể cả tháo gỡ các hãng xưởng chở về Bắc, rồi lập cơ quan mua thu. Chính đích thân, Phó Thủ tướng Đỗ Mười điều động việc thu mua cho nhà nước. Người ta mua từ xe Honda, Tủ lạnh, quạt máy, TV, máy lạnh, xe hơi. Trong khi dân không có tiền, nhà nước tung tiền giấy không bảo chứng ra mua hàng, có khác gì đem giấy đổi tiền.
Dân nghèo, bạc hạ giá, hàng hóa lên là đương nhiên, rồi nạn ngăn sông cấm chợ, nông phẩm các tỉnh miền Tây cấm chuyên chở lên Saigòn. Người ta cho rằng, nhà nước Cách Mạng làm áp lực đễ dân phải sơ tán, hồi hương và đi kinh-tế Mới.
Về ăn uống có vẻ tạm được nhờ gạo Mỹ long-grain của Quân-tiếp-vụ được đem ra cho tù cải tạo nên thơm ngon khác hẳn với loại gạo “Trường Sơn Đại Mễ” bị mọt, khi vo những hột gạo rỗng ruột nổi lều bều. Nước vo gạo Mỹ trắng như sửa được các anh nhà bếp để riêng cho những anh có chớm bệnh phù thũng mà chúng tôi gọi là bệnh “phồn vinh giả tạo” (theo cách nói của Cán bộ Việt Cộng mỉa mai về nếp sống của miền Nam).
Mỗi “Láng” có nghĩa là mỗi nhà phải đề cử ra một anh học 4 bài thể dục để mỗi buổi sáng điều khiển những buổi tập có Cán bộ đi kiểm soát coi có thực thi đúng đắn không. Mỗi sáng tiếng loa của hệ thống phát thanh đánh thức chúng tôi bằng bản nhạc: “từ thành phố nầy người đã ra đi” trong đó có câu: ‘Bác đến từng nhà, thăm các cụ già, cầm tay chúng con’ được anh em tù sửa ra ‘còng tay chúng con’.
Vài tháng sau có lẽ vì nhu cầu nên các bác sĩ quân y được cho về, một nguồn tin không biết xuất xứ từ đâu cho rằng chúng tôi được tập trung tại đây là chờ quyết định của chính phủ Lâm- thời miền Nam dần dần cho về mà thôi. Vì có anh nhờ liên hệ họ hàng với Cách Mạng đã nói rằng sẽ được về trong một ngày gần đây, nên không khí sinh hoạt như là một trại dưỡng quân. Mỗi Láng hằng ngày phải cử một người ra khu nhà trống gần sân trại để nghe ‘loa’ và về thông báo cho trong đội khi Ban Chỉ Huy cần gặp ai để ‘làm việc’(điều tra hoặc hỏi cung lý lịch).
Bác-sĩ về rồi, anh bò Ngũ Không-quân, Trần-Sao, một cầu thủ đá banh của Bộ Tư Lệnh Không Quân miền Nam chẳng may bị đau bụng. Mấy cán-bộ quân y của VC đem giăng cái mùng cho ruồi khỏi bu, rồi mổ đại… dĩ nhiên sau đó bị nhiễm trùng nên anh Trần Sao đã từ giã cõi trần không gặp mặt thân nhân kể cả bạn tù! Chúng ta nghĩ sao về hành động man rợ coi mạng người quá rẻ nầy?
Ở không cũng buồn, nên nhiều anh khéo tay chế biến những vật dụng bằng tôn như muỗng, dĩa, chén, các giây kéo nước bằng giây kẽm gai, có anh làm ra cả cây đàn banjo. Cứ mỗi buổi sáng là nghe tiếng búa gõ ồn ào vang khắp trại. Các anh mê ‘mạt-chược’ còn làm được cả một bộ bằng gỗ từ những thân cây cao su mà trại cấp phát để làm củi cho nhà bếp.
Một giếng nước cho tù cải tạo nằm sát ngay cầu tiêu lộ thiên nên vấn đề nước uống đã gây nên bệnh kiết lỵ rất là nguy hiểm cho tù, nhiều bạn không còn quần lót giặt cho kịp với nhịp độ đi cầu, nên chỉ còn quấn chiếc khăn tắm quanh bụng. Thuốc trụ sinh thật là khan hiếm, nếu đi khám bệnh thì chỉ có độc nhứt vô nhị là: ‘Xuyên Tâm Liên’, một loại thuốc an-thần chế biến từ ngó sen, hoặc ra bờ rào ngắt những đọt ổi nuốt vô như lối trị bệnh cổ truyền. Tôi nhờ có mấy viên trụ sinh terramicin của chú em cho nên cũng qua khỏi. Đời tôi không bao giờ quên được giai đoạn phải chịu đựng sự hành hạ của bịnh kiết. Những bất tiện và thiếu vệ sinh của cầu lộ thiên, ngoài sự gây ô nhiễm không khí, nhứt là khi gió xoay chiều thổi về phòng tôi nằm gần đó. Nên thường thường chúng tôi phải đem chén cơm đến một gốc thật xa để ăn, không thì chẳng nghe mùi cơm mà chỉ có mùi đó mà thôi. Tuy vậy, đôi khi cũng vui mắt qua những đàn én lượn qua lại để kiếm-ăn vì quá nhiều giòi-bọ lỗm ngỗm.
Thời gian tù túng khó chịu, anh em lại ước muốn đi ra ngoài lao động cho đỡ cảm thấy buồn chán và nhứt là để có thể được liên lạc với bên ngoài. Thỉnh thoảng, chúng tôi được điều đi trồng khoai mì, hoặc đi dựng cổng chào bằng những vỉ sắt PSP, sức sáng tạo của chúng tôi thật là tuyệt vời. Không có đồ nghề, chỉ bằng tay không, ấy thế mà thực hiện được những cổng chào rất đẹp, ở giữa là lối đi cho xe Molotova và hai bên cho người đi bộ, phía trên cắm cờ đủ màu sắc, nhưng chẳng hiểu ý nghĩa gì chỉ để cho trẻ con thấy vui mắt. Nhưng cũng có những việc làm mà không ai muốn là ra đi khai quang khoảng đất trống giữa những đám hàng rào kẽm gai ngăn chia từng khu, vì trước kia đã có gài nhiều mìn Claymore còn sót lại. Dụng cụ là các cây cột sắt hàng rào ấp chiến lược, được bẻ cong một đầu để thay cho cái cuốc; Cũng may là không có chuyện gì đáng tiếc xảy ra. Thỉnh thoảng, nhìn về phía phi trường Biên Hoà thấy những phi cơ làm vòng phi đạo mà đau lòng như ruột gan bị dày vò trăm mối ngỗn ngang; Xa xa phía sau Trại là con đường sắt xuyên Việt, đôi lúc nghe tiếng còi tàu rống lên càng làm cõi lòng thêm tê-dại não-nuột.
Về giải trí, chúng tôi được coi TV, mỗi ngày vào buổi tối, thỉnh thoảng cũng có phim dài và bắt đầu nhận được ‘quà’ ở nhà gởi, các gói quà đều gần như giống nhau, có lẽ các bà xã đều liên lạc với nhau để gởi nhửng thứ cần thiết như mì gói, tàu vị yểu, đường tán, những cục ‘Oxo’ (loại Maggie cube) và cám rang đễ chống bệnh phù thũng. Vào một buổi sáng, khi thức giậy tự nhiên tay-chân tôi bị bủn rủn khó khăn lắm mới chống-tay đứng dậy được, mãi tới trưa mới được hoàn toàn đi đứng thẳng người. Đây là triệu chứng báo hiệu một sự thiếu dinh dưỡng trầm trọng hoặc nằm dài dướì sàn đất quá lâu!
Những tin đồn cũng rất nhiều, ai nấy đều lạc quan, nhưng tôi không lạc quan mà cũng không bi quan, dù rằng qua các thư từ cũng như lượm lặt được khi đi trồng khoai mì ngoài dân và các bà xã cũng lanh trí giã đò đi bán kẹo bánh cố ý tìm chồng và sẵn dịp tuôn luôn kẹo bánh thư từ vào trong trại. Được biết Thành-phố Saigon giới nghiêm từ 10 giờ tối. Nhưng dù không giới nghiêm thì cũng không ai muốn ra khỏi nhà vào cái giờ ấy. Có nhiều tiếng nổ lớn ở phía Bắc thành phố vào lúc nửa đêm, rồi tiếng còi hụ của xe cứu hoả, người ta đồn với nhau là tiếng nổ Plastic gài vào xe của bộ đội. Cũng có 2 bộ đội bị đâm chết ở ngay cạnh rạp Ciné Mini-Rex, đường Lê Lợi. Rồi sau đó nhiều người chuyền miệng với nhau có mảnh giấy ghim trên ngực 2 nạn nhân “Chúng tôi không muốn cuộc cách mạng của các ông!” Thật sự thì có ai nhìn thấy mảnh giấy nầy đâu! Chỉ đồn, chỉ bịa, chỉ tưởng tượng rồi suy diễn đủ thứ, ai mà tin mảnh giấy đó, mảnh giấy đó chỉ nằm trong đầu người dân mà thôi! Và sau đó là Mẹ nuôi, Mẹ đỡ đầu của các chiến sĩ cách mạng, thay vì nghe đài phát thanh, nay dân chúng lại thích nghe đài Radio Catinat, mỗi ngày phát thanh tin đồn thất thiệt 24/24, vì Saigòn không có thông tin, nên nẩy ra rất nhiều tin đồn thất thiệt để lấp chỗ trống. Càng cấm, tin đồn càng nhiều, có những tin đồn rất hoang đường, đến hoang tưởng mà người ta vẫn tin là có thật, dĩ nhiên tin đồn bắn ra từ những người đấm bóp thời cuộc, ngồi ở quán Café vỉa hè tán dóc cho qua thời giờ. Những tin đồn cứ mãi loan đi, làm cho mọi người vừa hoang mang vừa ấp-ủ hy vọng. Ngủ sáng thức dậy thì có tin mới, người đưa tin bao giờ cũng nói thêm, chính họ nghe từ đài BBC. Vì người ta không tin tưởng chính quyền CS nên tin gì ngược lại quyền lợi chính quyền thì được chấp nhận một cách dễ dàng.
Trong trại thì anh em đại đa số có bệnh lạc quan ‘tếu’ để cố giữ tinh thần và rồi cũng có tin đồn và suy luận trong anh em tù với nhau, Việt Cộng sắp phải về Bắc vì đã lỡ vi phạm hiệp định Paris, và Mỹ sẽ trở lại Nam Việt Nam, một tin tưởng qua suy diễn rất mơ hồ nhưng đa số các bạn tù đang sống với ảo tưởng đó. Họ chỉ tin mà không lý luận hay suy luận một chiều. Ai nói ngược lại, hoặc bàn ra với niềm tin đó, sẽ bị họ kết-án là phản lại niềm tin cũa anh em, đầu hàng và đâm sau lưng chiến sĩ.
Bà Ngô Bá Thành trong một cuộc phỏng vấn đã nhận xét: “Radio Catinat là một lực lượng đáng kể ở thành phố Hồ Chí Minh. Nó vượt qua dễ dàng những phương tiện truyền thông chính thức của chúng tôi” Chúng tôi chuyển cả thơ nhà cho nhau coi và cũng hình dung một phần nào sinh hoạt ở bên ngoài. Và sau hết là mỗi lá thơ, dường như cán bộ VC ở Xã, Ấp có dặn dò phải viết… Sau cùng mỗi lá thơ đều viết “anh cứ chịu khắc phục học tập tốt, lao động tốt rồi Cách Mạng sẽ cho về” Trong thơ bà xã tôi có kể vào một ngày lễ nhà tôi không có treo cờ, nên bọn Công-an đến nói: Bà không treo cờ thì làm sao chúng tôi thả Ông xã bà về được. Nhà tôi vội vã treo cờ ngay.
(Còn tiếp)
Queenbee-1 đang chập chờn trong giấc ngủ gật gù, bỗng những giọt nước âm ấm từ trên cao rơi xuống tung tóe vấy lên trên đầu, mặt chúng tôi với mùi thum thủm mặn chát, nhầy nhụa…Sau khi choàng mắt tỉnh giấc mới nhận ra được đó là những thùng nước tiểu đã đầy tràn, được anh bô đội kéo lên trên boong tàu, dưới ánh đèn vàng mờ ảo trên trần cao tỏa xuống, Tôi ngóc cổ nhìn lên, lại thấy lờ mờ những chiếc thùng nước tiểu đã trống nhẹ được kéo thả lủng lẳng xuống trở lại, nhưng những giọt nước tiểu còn đọng lại trong đó vẫn không chịu buông tha chúng tôi.
Tàu đang chao động vì sóng lớn! Có lẽ nó đã ra khỏi cửa khẩu Sông Saigòn và hiện đang lướt sóng trên biển cả! Bọn họ sẽ đưa chúng tôi đi đâu đây! đảo Côn-Sơn chăng? Phải đợi trời sáng mới định hướng được!
Hồi chiều tối đêm hôm, chúng tôi là toán xuống tàu sau cùng nên phải ngồi nơi phần đuôi mà chịu trận, cũng may nhờ các ‘thiện-nam’ nầy ăn uống theo mùa chay tịnh ‘thọ bát quan trai’ một thời gian khá lâu, nên những phần thải ra cảm nhận bớt rất nhiều mùi ‘tục-lụy’của trần gian. Các bạn tù lên trước được ngồi bệt dựa vào thành tàu nên cũng dễ chịu cho cái lưng. Tuy nhiên chúng tôi có được cái ưu tiên, lúc nào mắc tè thì xè ra ngay đó khỏi phải chen-lấn có khi bị vãi ra quần. Tội nghiệp một anh bạn Bò-ngũ, tên Cao Triều Phát, (chúng tôi gọi bằng tiếng lóng là các Trung-tá đi chuyến đầu tiên, nhìn các gương mặt rất quen thuộc nầy, Tôi đã gặp rất nhiều lần ngoài chiến trận, anh nào ngày xưa, nơi ngực cũng đầy ắp huy chương xuống tới rốn) thuộc binh chủng Nhảy Dù đang gồng mình cố gắng rặn ra hoài mà nó không chịu ra… vì chúng tôi bị nhốt sâu dưới đáy tàu nên áp suất không khí rất nặng không dễ dàng cho ra những thứ của nợ nằm trong bụng.
Bây giờ Tôi có quá nhiều thì giờ để suy gẫm và hồi nhớ lại tất cả, nhìn quanhquẩn chung quanh thấy các chiến hữu đang chen-chúc ngồi dựa vào nhau như bầy vịt, mọi người đều bơ-phờ và thất vọng. Chiều hôm qua, tại Trại Suối Máu, sau khi cán-bộ VC đọc danh sách “trích ngang” theo sự suy đoán của riêng tôi có lẽ đây là sĩ-quan VNCH có nhiều nợ máu với nhân dân nên đã bị đưa đi chỗ khác mà theo họ thì tạo môi trường dễ dàng để theo đuổi việc học tập cải tạo. Điểm danh xong, từ một sân lớn, chúng tôi bị áp dẫn theo thứ tự từng nhà đi ra giữa hàng rào kẻm gai đến một con đường khá lớn, hai bên là dãy nhà tù, trước mặt là cổng chính. Trên đường nầy vô số xe Molotova đậu nối đuôi nhau tự bao giờ với trần vải bịt bùng như không muốn mọi người nhìn thấy những gì trong đó.
Đây là nơi, mà hồi trước chính quyền mình thành lập một Trại tù phiến Cộng, chia ra nhiều phân trại nhỏ vây quanh bởi ba vòng kẽm gai, mỗi phân trại có một sân lớn, ngay cổng vào có một chòi nhỏ, có lẽ khi xưa là nơi bán hàng cho các tù nhân, một nhà bếp, bên cạnh có một giếng nước, một căn nhà trống rất lớn, các sân nhà đều tráng xi-măng, rải rác đều nhau từng một khoảng cách, có vô số dãy nhà cho tù ở dọc hai bên. Ngoài cổng trại có một chòi canh và phía dưới có một Connex, nơi đây đã giam hai chiến hữu Bò-tam (Đại úy) bị bắt khi hai anh toan trốn trại ở Củ Chi và không đưọc băng bó vết thương cho hai chiến hữu Bò-tam nầy. Chúng tàn nhẫn đến nỗi không cho thuốc men và không ngó ngàng gì đến hai chiến hữu nầy, và nhốt trong Connex như nhốt Gà để chờ ngày “cắt tiết”cúng Tổ Lenin của chúng theo kế hoạch trong âm mưu hù dọa, dằn mặt chúng tôi trước khi bí mật đem ra Bắc?
Tại đây, chúng tôi bị nhốt với những ngày dài có thể coi như là nhàn-nhã nhứt kể từ ngày đi tù cải tạo và nhứt là không phải cái gọi là “lên-lớp” học tập chính trị như hồi đầu tiên ở Trại Long-Giao. Nơi đây chỉ có một trường hợp chúng tôi phải nghe bài giảng về tài sản của nhân dân là không được xâm phạm. Nhưng cứ mỗi lần xe hỏa chạy qua là chúng tôi thấy lố nhố nón cối và tủ bàn… ôi cái gì đủ thứ chất đầy trên xe hỏa chở ra Bắc… chắc đây không phải là tài sản của nhân dân mà của chính quyền Miền Nam? Hy vọng tài sản của nhân dân được bảo vệ như vậy thì làm sao mà có vấn đề tham nhũng trong chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa ưu việt được. Tin ở ngoài Saigon lọt vào trong trại: Hảng tin France-Press ở Hà Nội cho biết, ở Hà Nội nay có rất nhiều xe Honda đem ra từ Saigòn đang chạy khắp thành phố. Người ta còn thấy nhiều loại nước uống sản xuất từ hãng B.G.I trong Nam cũng được bày bán rộng khắp tại Thủ Đô Hà Nội. Người ta hình dung Saigon như một thành phố bị một loại cướp chiếm đóng và nạn “hôi-của” những người thua cuộc để khuân vác về Bắc. Nhiều nhứt là Salon, tủ lạnh, quạt máy, máy hát, vải vóc, thuốc Tây và ngay cả bột giặt. Hãng giấy Cogido có 8,000 tấn giấy trong kho đã được lệnh chuyển ra Bắc. Tất cả những xe hơi mới của Hãng Citroen, Renault, Peugeot bị chở ra Bắc. Hãng Engineco, có 165 xe được cải bổ tân trang cũng chờ để chở ra Bắc. Thật rất buồn cười với chữ nghĩa “Cách-mạng” Những lời mỉa mai bóng gió cũng chẳng ngửi được: “Miền Nam nhận Họ thì Miền Bắc nhận hàng” Hạt gạo miền Nam nay phải cắn chia đôi, chia ba cho miền Bắc!
Thứ năm 12/ June/1975: Đây là ngày đáng ghi nhớ nhứt, đánh dấu một thay đổi lớn với tất cả sĩ quan, nhân viên chức trong chế độ cũ. Guồng máy chính trị của chế độ Cách Mạng bắt đầu điều hành, bắt đầu xiết thắt lại. Thông cáo cho hay, các sĩ quan và viên chức của chính phủ cũ sẽ phải đi học tập cải tạo tối thiểu một tháng đối với sĩ quan quân đội và cảnh sát ngụy, những người làm chính trị, dân biểu, bộ trưởng, nghị sĩ. Họ phải trình diện trong ngày mai và chỉ được mang theo quần áo mặc thay đổi và còn nói rõ mang theo 13,610$ đễ trả tiền ăn trong một tháng. Đối với Hạ sĩ quan trở xuống, chỉ phải trình diện học tập ba ngày.
Tờ báo ‘Saigon giải phóng’ giải thích: Họ có phần trách nhiệm của họ vì đã cầm súng đánh giặc cho kẻ thù, hoặc đã làm việc cho kẻ thù” (Chắc giờ nầy, nhiều người trong chúng ta đang ở hải ngoại đã hẳn không làm sao quên được cái ‘ngày lịch sử nầy’ vẫn ám ảnh trong tâm tư chúng ta. Đó là màn kịch ngoạn mục và hay nhứt do hai đạo diễn Kissinger và Lê ĐứcThọ dàng-dựng; trong khi các chính khách khác đều bị lừa gạt và tưởng bở, đặc-biệt nhân vật Đại sứ Pháp Mérillon là thấy lộ liễu nhứt; Sau ngày 30/April/1975, vạch ra đường ranh giới rõ rệt giữa kẻ thắng và người bại. Nói theo ý của Kissinger, soạn giả tấn bi thảm kịch nầy: Một cuộc bàn giao chuyển tiếp chính quyền từ cũ sang mới cho Hà Nội, trong vòng trật tự và Saigòn không đổ nát.
Tháng October/1975, có quyết định đổi tiền. Dân miền Nam không ngạc nhiên, Ai cũng biết với một chế độ mới không ai xử dụng hệ thống tiền bạc của chế độ cũ; nhưng dân miền Nam không biết sẽ đổi như thế nào! Rồi người ta cũng ước đoán và rỉ tai cho nhau những toan tính của họ: dĩ nhiên rất nhiều sự suy luận và tin đồn, rồi người ta nghĩ ra nhiều cách đổi tiền miền Bắc để cất giữ. Ngay từ đầu, Huế và Quảng Trị đã nhập vào Liên-Khu 4, nên áp dụng lối sống của miền Bắc XHCN, xử dụng tiền miền Bắc. Rồi người ta không giữ tiền nhiều, mua hàng và quý kim tồn trữ, nhưng lại bị đe dọa là hàng hóa tồn trữ có nguy cơ bị kiểm kê và bị ghép tội tư sản mại bản, đầu cơ tích trữ, còn giữ quí kim như vàng sẽ bị tội trạng hiện hành. Rồi thông báo giới nghiêm, nhà nước chưa tuyên bố lý-do, thì dân miền Nam biết ngay sẽ diễn ra cảnh đổi tiền. Nhiều người có nhiều tiền chạy đôn chạy đáo đi mua hàng hoá, vật giá lại leo thang, tiền xem như giấy lộn. Nhà nước đổi tiền theo giá 500$ VNCH ăn 1$ ngân hàng và tối đa một gia đình được đổi là 200$ số còn lại phải ký gởi vào nhà nước Cách Mạng thì dân cũng hiểu là không bao giờ được lấy ra. Nếu có lấy thì những điều kiện nguyên tắc khó khăn không ai có thể làm được. Ký gởi là một từ ngữ đễ che dấu hành động cướp giựt bóng bẩy.
200$ cho mỗi gia đình, phải ngồi bệt sắp hàng cả ngày đợi phiên mới có. Những ngày đầu là đổi cho gia đình cách mạng, công nhân viên nhà nước. Nhân dịp nầy cán bộ cách mạng làm ăn khấm khá, làm ăn công khai, cố gắng giúp đồng bào miền Nam ruột thịt đổi một số tiền trên 100,000$. Đổi xong, chia theo tiêu chuẩn cán bộ lấy từ 75% cho đến 90% tùy vùng và thời điểm. Nhiều người tự tử vì giữ quá nhiều tiền, nay như mất hết; Có người ôm cả bao bạc nhảy lầu 3, 4 từng xuống, bạc giấy còn mới tinh bay trong gió như bươm bướm.
Chợ Trời thêm đông và thêm nhiều chợ mới xuất hiện, người dân Saigon sau lần đổi tiền như đã kiệt quệ, tài sản, kể cả áo quần cũng đem ra chợ bán, người Bắc chạy vô mua hàng rất đông và mỗi ngày lại càng thêm tấp nập; tư nhân có, tập-thể có và hợp tác xã cũng có luôn. Họ hể hả mua thật nhiều để đem về Bắc: mua đủ mọi máy móc kể cả tháo gỡ các hãng xưởng chở về Bắc, rồi lập cơ quan mua thu. Chính đích thân, Phó Thủ tướng Đỗ Mười điều động việc thu mua cho nhà nước. Người ta mua từ xe Honda, Tủ lạnh, quạt máy, TV, máy lạnh, xe hơi. Trong khi dân không có tiền, nhà nước tung tiền giấy không bảo chứng ra mua hàng, có khác gì đem giấy đổi tiền.
Dân nghèo, bạc hạ giá, hàng hóa lên là đương nhiên, rồi nạn ngăn sông cấm chợ, nông phẩm các tỉnh miền Tây cấm chuyên chở lên Saigòn. Người ta cho rằng, nhà nước Cách Mạng làm áp lực đễ dân phải sơ tán, hồi hương và đi kinh-tế Mới.
Về ăn uống có vẻ tạm được nhờ gạo Mỹ long-grain của Quân-tiếp-vụ được đem ra cho tù cải tạo nên thơm ngon khác hẳn với loại gạo “Trường Sơn Đại Mễ” bị mọt, khi vo những hột gạo rỗng ruột nổi lều bều. Nước vo gạo Mỹ trắng như sửa được các anh nhà bếp để riêng cho những anh có chớm bệnh phù thũng mà chúng tôi gọi là bệnh “phồn vinh giả tạo” (theo cách nói của Cán bộ Việt Cộng mỉa mai về nếp sống của miền Nam).
Mỗi “Láng” có nghĩa là mỗi nhà phải đề cử ra một anh học 4 bài thể dục để mỗi buổi sáng điều khiển những buổi tập có Cán bộ đi kiểm soát coi có thực thi đúng đắn không. Mỗi sáng tiếng loa của hệ thống phát thanh đánh thức chúng tôi bằng bản nhạc: “từ thành phố nầy người đã ra đi” trong đó có câu: ‘Bác đến từng nhà, thăm các cụ già, cầm tay chúng con’ được anh em tù sửa ra ‘còng tay chúng con’.
Vài tháng sau có lẽ vì nhu cầu nên các bác sĩ quân y được cho về, một nguồn tin không biết xuất xứ từ đâu cho rằng chúng tôi được tập trung tại đây là chờ quyết định của chính phủ Lâm- thời miền Nam dần dần cho về mà thôi. Vì có anh nhờ liên hệ họ hàng với Cách Mạng đã nói rằng sẽ được về trong một ngày gần đây, nên không khí sinh hoạt như là một trại dưỡng quân. Mỗi Láng hằng ngày phải cử một người ra khu nhà trống gần sân trại để nghe ‘loa’ và về thông báo cho trong đội khi Ban Chỉ Huy cần gặp ai để ‘làm việc’(điều tra hoặc hỏi cung lý lịch).
Bác-sĩ về rồi, anh bò Ngũ Không-quân, Trần-Sao, một cầu thủ đá banh của Bộ Tư Lệnh Không Quân miền Nam chẳng may bị đau bụng. Mấy cán-bộ quân y của VC đem giăng cái mùng cho ruồi khỏi bu, rồi mổ đại… dĩ nhiên sau đó bị nhiễm trùng nên anh Trần Sao đã từ giã cõi trần không gặp mặt thân nhân kể cả bạn tù! Chúng ta nghĩ sao về hành động man rợ coi mạng người quá rẻ nầy?
Ở không cũng buồn, nên nhiều anh khéo tay chế biến những vật dụng bằng tôn như muỗng, dĩa, chén, các giây kéo nước bằng giây kẽm gai, có anh làm ra cả cây đàn banjo. Cứ mỗi buổi sáng là nghe tiếng búa gõ ồn ào vang khắp trại. Các anh mê ‘mạt-chược’ còn làm được cả một bộ bằng gỗ từ những thân cây cao su mà trại cấp phát để làm củi cho nhà bếp.
Một giếng nước cho tù cải tạo nằm sát ngay cầu tiêu lộ thiên nên vấn đề nước uống đã gây nên bệnh kiết lỵ rất là nguy hiểm cho tù, nhiều bạn không còn quần lót giặt cho kịp với nhịp độ đi cầu, nên chỉ còn quấn chiếc khăn tắm quanh bụng. Thuốc trụ sinh thật là khan hiếm, nếu đi khám bệnh thì chỉ có độc nhứt vô nhị là: ‘Xuyên Tâm Liên’, một loại thuốc an-thần chế biến từ ngó sen, hoặc ra bờ rào ngắt những đọt ổi nuốt vô như lối trị bệnh cổ truyền. Tôi nhờ có mấy viên trụ sinh terramicin của chú em cho nên cũng qua khỏi. Đời tôi không bao giờ quên được giai đoạn phải chịu đựng sự hành hạ của bịnh kiết. Những bất tiện và thiếu vệ sinh của cầu lộ thiên, ngoài sự gây ô nhiễm không khí, nhứt là khi gió xoay chiều thổi về phòng tôi nằm gần đó. Nên thường thường chúng tôi phải đem chén cơm đến một gốc thật xa để ăn, không thì chẳng nghe mùi cơm mà chỉ có mùi đó mà thôi. Tuy vậy, đôi khi cũng vui mắt qua những đàn én lượn qua lại để kiếm-ăn vì quá nhiều giòi-bọ lỗm ngỗm.
Thời gian tù túng khó chịu, anh em lại ước muốn đi ra ngoài lao động cho đỡ cảm thấy buồn chán và nhứt là để có thể được liên lạc với bên ngoài. Thỉnh thoảng, chúng tôi được điều đi trồng khoai mì, hoặc đi dựng cổng chào bằng những vỉ sắt PSP, sức sáng tạo của chúng tôi thật là tuyệt vời. Không có đồ nghề, chỉ bằng tay không, ấy thế mà thực hiện được những cổng chào rất đẹp, ở giữa là lối đi cho xe Molotova và hai bên cho người đi bộ, phía trên cắm cờ đủ màu sắc, nhưng chẳng hiểu ý nghĩa gì chỉ để cho trẻ con thấy vui mắt. Nhưng cũng có những việc làm mà không ai muốn là ra đi khai quang khoảng đất trống giữa những đám hàng rào kẽm gai ngăn chia từng khu, vì trước kia đã có gài nhiều mìn Claymore còn sót lại. Dụng cụ là các cây cột sắt hàng rào ấp chiến lược, được bẻ cong một đầu để thay cho cái cuốc; Cũng may là không có chuyện gì đáng tiếc xảy ra. Thỉnh thoảng, nhìn về phía phi trường Biên Hoà thấy những phi cơ làm vòng phi đạo mà đau lòng như ruột gan bị dày vò trăm mối ngỗn ngang; Xa xa phía sau Trại là con đường sắt xuyên Việt, đôi lúc nghe tiếng còi tàu rống lên càng làm cõi lòng thêm tê-dại não-nuột.
Về giải trí, chúng tôi được coi TV, mỗi ngày vào buổi tối, thỉnh thoảng cũng có phim dài và bắt đầu nhận được ‘quà’ ở nhà gởi, các gói quà đều gần như giống nhau, có lẽ các bà xã đều liên lạc với nhau để gởi nhửng thứ cần thiết như mì gói, tàu vị yểu, đường tán, những cục ‘Oxo’ (loại Maggie cube) và cám rang đễ chống bệnh phù thũng. Vào một buổi sáng, khi thức giậy tự nhiên tay-chân tôi bị bủn rủn khó khăn lắm mới chống-tay đứng dậy được, mãi tới trưa mới được hoàn toàn đi đứng thẳng người. Đây là triệu chứng báo hiệu một sự thiếu dinh dưỡng trầm trọng hoặc nằm dài dướì sàn đất quá lâu!
Những tin đồn cũng rất nhiều, ai nấy đều lạc quan, nhưng tôi không lạc quan mà cũng không bi quan, dù rằng qua các thư từ cũng như lượm lặt được khi đi trồng khoai mì ngoài dân và các bà xã cũng lanh trí giã đò đi bán kẹo bánh cố ý tìm chồng và sẵn dịp tuôn luôn kẹo bánh thư từ vào trong trại. Được biết Thành-phố Saigon giới nghiêm từ 10 giờ tối. Nhưng dù không giới nghiêm thì cũng không ai muốn ra khỏi nhà vào cái giờ ấy. Có nhiều tiếng nổ lớn ở phía Bắc thành phố vào lúc nửa đêm, rồi tiếng còi hụ của xe cứu hoả, người ta đồn với nhau là tiếng nổ Plastic gài vào xe của bộ đội. Cũng có 2 bộ đội bị đâm chết ở ngay cạnh rạp Ciné Mini-Rex, đường Lê Lợi. Rồi sau đó nhiều người chuyền miệng với nhau có mảnh giấy ghim trên ngực 2 nạn nhân “Chúng tôi không muốn cuộc cách mạng của các ông!” Thật sự thì có ai nhìn thấy mảnh giấy nầy đâu! Chỉ đồn, chỉ bịa, chỉ tưởng tượng rồi suy diễn đủ thứ, ai mà tin mảnh giấy đó, mảnh giấy đó chỉ nằm trong đầu người dân mà thôi! Và sau đó là Mẹ nuôi, Mẹ đỡ đầu của các chiến sĩ cách mạng, thay vì nghe đài phát thanh, nay dân chúng lại thích nghe đài Radio Catinat, mỗi ngày phát thanh tin đồn thất thiệt 24/24, vì Saigòn không có thông tin, nên nẩy ra rất nhiều tin đồn thất thiệt để lấp chỗ trống. Càng cấm, tin đồn càng nhiều, có những tin đồn rất hoang đường, đến hoang tưởng mà người ta vẫn tin là có thật, dĩ nhiên tin đồn bắn ra từ những người đấm bóp thời cuộc, ngồi ở quán Café vỉa hè tán dóc cho qua thời giờ. Những tin đồn cứ mãi loan đi, làm cho mọi người vừa hoang mang vừa ấp-ủ hy vọng. Ngủ sáng thức dậy thì có tin mới, người đưa tin bao giờ cũng nói thêm, chính họ nghe từ đài BBC. Vì người ta không tin tưởng chính quyền CS nên tin gì ngược lại quyền lợi chính quyền thì được chấp nhận một cách dễ dàng.
Trong trại thì anh em đại đa số có bệnh lạc quan ‘tếu’ để cố giữ tinh thần và rồi cũng có tin đồn và suy luận trong anh em tù với nhau, Việt Cộng sắp phải về Bắc vì đã lỡ vi phạm hiệp định Paris, và Mỹ sẽ trở lại Nam Việt Nam, một tin tưởng qua suy diễn rất mơ hồ nhưng đa số các bạn tù đang sống với ảo tưởng đó. Họ chỉ tin mà không lý luận hay suy luận một chiều. Ai nói ngược lại, hoặc bàn ra với niềm tin đó, sẽ bị họ kết-án là phản lại niềm tin cũa anh em, đầu hàng và đâm sau lưng chiến sĩ.
Bà Ngô Bá Thành trong một cuộc phỏng vấn đã nhận xét: “Radio Catinat là một lực lượng đáng kể ở thành phố Hồ Chí Minh. Nó vượt qua dễ dàng những phương tiện truyền thông chính thức của chúng tôi” Chúng tôi chuyển cả thơ nhà cho nhau coi và cũng hình dung một phần nào sinh hoạt ở bên ngoài. Và sau hết là mỗi lá thơ, dường như cán bộ VC ở Xã, Ấp có dặn dò phải viết… Sau cùng mỗi lá thơ đều viết “anh cứ chịu khắc phục học tập tốt, lao động tốt rồi Cách Mạng sẽ cho về” Trong thơ bà xã tôi có kể vào một ngày lễ nhà tôi không có treo cờ, nên bọn Công-an đến nói: Bà không treo cờ thì làm sao chúng tôi thả Ông xã bà về được. Nhà tôi vội vã treo cờ ngay.
(Còn tiếp)

Comment