Print this page

LÊ ĐỨC ANH – Công (?) và Tội! - Nguyễn Hữu Thiện


Theo thông báo chính thức của Đảng Cộng Sản Việt Nam, cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã về chầu Các Mác và Lênin tối 22/4/2019, thọ 99 tuổi. Trên trang xã hội của mình, “cựu Thái tử” Lê Mạnh Hà cho biết “cựu Thượng hoàng” ra đi một cách êm ái, nhưng cứ theo tin của các “thế lực thù địch” thì trên thực tế Lê Đức Anh đã nhắm mắt xuôi tay từ năm ngoái, cùng thời điểm với cái chết của cựu Tổng Bí thư Đảng Đỗ Mười, tức là chỉ ít ngày sau cái chết của cựu Chủ tịch nước Trần Đại Quang, nhưng đảng đã không “cho phép” Lê Đức Anh “chết” vì sợ “trùng tang”, mà phải chờ tới một thời điểm thuận tiện mới cho phép ông ta “chết theo đúng quy trình”.

 



Nhưng dù Lê Đức Anh đã nhăn răng từ năm ngoái hay mới ngỏm củ tỉ cách đây hai tuần, cả bạn lẫn thù cũng đều ghi nhận: Lê Đức Anh là tay đảng viên “khai quốc công thần” cuối cùng của CSVN, và cũng là “thành viên Hội nghị Thành Đô” cuối cùng về bên kia thế giới.

Trước cái chết của tay “khai quốc công thần” ấy, lẽ dĩ nhiên bộ máy tuyên truyền của đảng đã ra sức đánh bóng, ca tụng, đặc biệt nhấn mạnh tới bốn “công lớn” sau đây của họ Lê:

- Công lớn trong cuộc chiến giải phóng miền Nam
- Công lớn trong cuộc chiến chống tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary 
- Công lớn trong việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc & Hoa Kỳ
- Công lớn trong cuộc canh tân đất nước.

Tuy nhiên với chúng tôi, cũng như với bất người dân Việt Nam nào có đôi chút hiểu biết, khả năng nhận định, thì bốn “công lớn” nói trên của Lê Đức Anh phải được diễn dịch như sau:

- Bàn tay nhuốm quá nhiều máu của nhân dân miền Nam
- Xâm lược, diệt chủng, tàn phá, và vơ vét ở Căm-bốt
- Đi đêm với Trung Cộng để tiến tới Hội nghị Thành Đô 
- Đỡ đầu tập đoàn tham nhũng Nguyễn Tấn Dũng.

Trước khi luận công (?) định tội Lê Đức Anh, chúng tôi xin ghi ra tiểu sử của tay trùm đỏ này một cách khá chi tiết (dựa theo truyền thông của CSVN) để mọi người thấy ông ta đã được hai hung thần họ Lê khác (Lê Duẩn – Lê Đức Thọ) đỡ đầu, trọng dụng tới mức nào.

- Lê Đức Anh sinh ngày 1 tháng 12 năm 1920 tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

- Năm 1938, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.

- Năm 1944, tổ chức và phụ trách các nghiệp đoàn công nhân cao- su ở Lộc Ninh. 

- Tháng 8 năm 1945, tham gia quân đội, giữ các chức vụ từ Trung đội trưởng đến Chính trị viên Tiểu đoàn, thuộc Trung đoàn 301. 

- Từ năm 1948 đến năm 1950, làm tham mưu trưởng các Quân khu 7, Quân khu 8 và đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. 

- Từ năm 1951 đến 1954, giữ chức quyền Tham mưu trưởng bộ tư lệnh Nam Bộ. 

- Sau Hiệp định Genève, tập kết ra Bắc. 

- Năm 1955, giữ chức Cục phó Cục Tác chiến, thuộc Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam.

- Năm 1958, được phong cấp Đại tá.

- Năm 1963, giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

- Tháng 2 năm 1964, vào Nam với bí danh Sáu Nam, giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Miền Nam. 

- Năm 1969, Tư lệnh Quân khu 9. 

CHÚ THÍCH:

Một cách khái quát, về mặt lãnh thổ, hiện nay trong Nam CSVN có 2 Quân khu, gồm Quân khu 7 (các tỉnh miền Đông) và Quân khu 9 (các tỉnh miền Tây, tức đồng bằng sông Cửu Long).

Nguyên vào cuối năm 1945, sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra, Việt Minh cho thành lập các quân khu, chiến khu. Tại Nam Bộ có 1 quân khu và 2 chiến khu:

- Quân khu 7 bao gồm Sài Gòn - Chợ Lớn và các tỉnh đông Nam Bộ, gồm Gia Định, Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Tây Ninh.

- Chiến khu 8 gồm các tỉnh: Tân An, Gò Công, Mỹ Tho, Bến Tre và Sa Đéc.

- Chiến khu 9 gồm các tỉnh: Cần Thơ, Sóc Trăng, Rạch Giá, Hà Tiên, Bạc Liêu, Long Xuyên, Châu Đốc, Vĩnh Long và Trà Vinh.

Cuối năm 1961, khi cuộc xâm lược miền Nam chính thức khởi sự với việc thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, các “Chiến khu” được cải danh “Quân khu”.

Cuối năm 1975, hai Quân khu 8 và 9 được sát nhập lại thành Quân khu 9, gồm 9 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Cửu Long, Hậu Giang, An Giang, Kiên Giang, Minh Hải.

Ngày nay Quân khu 7 gồm các tỉnh: Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Long An, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Lâm Đồng, Bình Thuận và thành Hồ. 


* * *


- Năm 1973, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, Lê Đức Anh được trao trách nhiệm, tổ chức cuộc xâm lấn lãnh thổ của VNCH ở quân khu 9.

- Cuối năm 1974, Lê Đức Anh trở lại chức vụ Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, chỉ huy cuộc đánh chiếm tỉnh lỵ Phước Long, được phong cấp từ Đại tá lên thẳng Trung tướng. 

- Đầu năm 1975, giữ chức Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, kiêm Tư lệnh cánh quân Tây Nam đánh vào Sài Gòn.

- Năm 1976, trở lại với chức Tư lệnh Quân khu 9.

- Năm 1978, làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7, chỉ huy trưởng cơ quan tiền phương Bộ Quốc phòng ở mặt trận Tây-Nam; được phong Thượng tướng năm 1980. 

- Năm 1981, Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Căm-bốt, Trưởng ban lãnh đạo chuyên gia Việt Nam tại Campuchia. 

- Năm 1984, được phong Đại tướng.

- Năm 1986, giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

- Năm 1987 - 1991, làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII, đại biểu Quốc hội. 

- Năm 1992-1997, Chủ tịch nước Việt Nam.

* * *


Trên đây là tiểu sử chính chức của Lê Đức Anh, còn theo dư luận, trong nội bộ Đảng cũng như trong quân đội, chính các “đồng chí” của ông ta, trong đó có “tướng Bến Tre” Đồng Văn Cống, đã nhiều lần nêu vấn đề Lê Đức Anh man khai lý lịch, ít nhất cũng là về thời điểm “gia nhập Đảng năm 1938”.

Theo tướng Đồng Văn Cống và ba tướng gốc miền Nam khác, vào năm 1938, Lê Đức Anh còn là một phu cạo mủ đồn điền cao-su mới 18 tuổi. Xuất thân là một tên ác ôn côn đồ cho nên tới năm 1944 đã được chủ nhân người Pháp cho làm “cặp rằn” (cũng xuất công nhân nhưng được quyền sai khiến, trù dập, đánh đập người khác).

Với bản tính ác ôn ấy, tháng 8/1945 Lê Đức Anh đi theo Việt Minh, và chỉ 3 năm sau (1948) đã được giữ chức Tham mưu trưởng các Quân khu 7, Quân khu 8 và đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn; và tới năm 1951, giữ chức quyền Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Nam Bộ. 

Sau khi tập kết ra Bắc, mặc dù chưa có cấp bậc gì, năm 1955, Lê Đức Anh đã được giữ chức Cục phó Cục Tác chiến, rồi Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Nhân Dân; tới năm 1958 được phong cấp Đại tá, và mấy năm sau (1963) đã nhảy lên tới chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân Đội Nhân Dân!

Sở dĩ có sự ưu ái đặc biệt ấy, là vì Lê Đức Anh chiếm được lòng tin của Lê Duẩn, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ (về sau lên làm Tổng Bí thư Đảng) và Lê Đức Thọ, Phó Bí thư Xứ ủy Nam Bộ (về sau lên làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng, nắm quyền sinh sát, thăng thưởng, hạ bệ, khai trừ trong nội bộ đảng).



Họ Hồ và Lê Duẩn, kẻ chủ mưu xâm lược miền Nam và Căm-bốt


Theo lời kể của một số cán bộ cựu trào, Lê Đức Anh bắt đầu được trọng dụng sau khi hoàn thành nhiệm vụ thanh toán tướng Nguyễn Bình trên lãnh thổ Căm-bốt vào năm 1951.

VIẾT THÊM: 

Nguyễn Bình (1906 - 1951) tên thật là Nguyễn Phương Thảo, là Trung tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông quê Hưng Yên, nguyên là một đảng viên cao cấp của Việt Nam Quốc Dân Đảng phụ trách quân sự; sau thất bại của cuộc khởi nghĩ Yên Bái, ông bị thực dân Pháp cầm tù. 

Sau khi được trả tự do năm 1936, ông về Hải Phòng hoạt động cách mạng và xây dựng căn cứ riêng, đổi tên thành Nguyễn Bình, chính thức ly khai Việt Nam Quốc Dân Đảng. Tháng 6 năm 1945, Nguyễn Bình thành lập chiến khu Đông Triều; khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 nổ ra, ông chỉ huy du kích đánh chiếm tỉnh lỵ Quảng Yên và cướp vũ khí ở một số huyện.

Năm 1946, cùng với việc Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Nguyễn Bình được thu nhận vào Đảng CSVN, được phong cấp Trung tướng (cùng lúc với Võ Nguyên Giáp được phong Đại tướng và 9 người khác được phong Thiếu tướng), và được họ Hồ cử vào Nam chỉ huy chiến trường Nam Bộ.

Khi Bộ tư lệnh Nam Bộ được thành lập vào tháng 10 năm 1948, ông giữ chức Tư lệnh kiêm Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ, kiêm Ủy viên quân sự Nam Bộ.



“Tướng độc nhãn” Nguyễn Bình



Trong chức vụ này, Nguyễn Bình đã gây nhiều kinh hoàng cho thực dân Pháp, được họ tặng biệt hiệu “Tướng độc nhãn” (theo lời kể lại, Nguyễn Bình bị hư một mắt trong cuộc xung đột đẫm máu giữa hai phe thân hữu và thân tả trong Việt Nam Quốc Dân Đảng trước kia). 

Ngày 29/9/1951, Trung ương bầt thần gọi Nguyễn Bình ra Bắc nhận nhiệm vụ mới. Theo tài liệu lưu trữ của Đảng CSVN, Trung tướng Nguyễn Bình bị quân Pháp phục kích và bắn chết tại một địa điểm trong tỉnh Stung Treng, phía bắc Căm-bốt vào ngày 31 tháng 12 năm 1951, tay cán bộ hộ tống tên là Nguyễn Văn Sĩ, hiện nay là Thiếu tướng về hưu tại thành Hồ.

Tuy nhiên, theo lời kể của những cán bộ cựu trào nói trên, tướng Nguyễn Bình đã bị Lê Đức Anh cho người thanh toán trên lộ trình; cũng có một số người tin rằng Nguyễn Bình không bị các đồng chí thanh toán trực tiếp mà Lê Đức Anh đã mật báo cho người Pháp biết để phục kích giết. 

Về sau, cựu Thiếu tướng Phùng Đình Ấm đã viết bài “Sự thật về cái chết của liệt sĩ – Trung tướng Nguyễn Bình”, đăng trên tạp chí Hướng Nghiệp & Hòa Nhập ở trong nước, và được phổ biến trên Internet nhưng nay đã bị lấy xuống.

Theo những người hiểu chuyện, nguyên nhân đưa tới việc Nguyễn Bình bị thanh toán là vì ông ta xuất thân Việt Nam Quốc Dân Đảng, phải giết để trừ hậu họa.


* * *


Tới đây, chúng tôi viết về bốn tội lớn của Lê Đức Anh.

(1) Bàn tay vấy máu nhân dân miền Nam

Lê Duẩn là kẻ đề xướng, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam, điều này không ai phủ nhận. Võ Nguyên Giáp là thủ phạm trực tiếp trong việc “nướng” hàng chục vạn bộ đội “sinh bắc tử nam”, việc đó khỏi cần bàn cãi. Nhưng nếu chỉ nói về tội ác gây ra cho dân chúng miền Nam, từ Sài Gòn – Gia Định xuống tới mũi Cà Mau trong thời gian từ năm 1962 tới năm 1975, Lê Đức Anh là thủ phạm chính!

Từ ngày được Lê Duẩn phái vào Nam, tháng 2/1962, cho tới khi chỉ huy cánh quân Tây Nam đánh vào Sài Gòn tháng 4/1975, “Sáu Nam”, bí danh của Lê Đức Anh, đã gây ra biết bao tội ác tày trời.

Những tội ác ấy đã quá rõ ràng, ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới các hoạt động khủng bố.

Cứ theo lời xưng tụng của đám tướng lãnh đàn em thì Lê Đức Anh chính là tác giả của chiến thuật “đặc công hóa”, mà như chúng ta đều biết, hoạt động chính của đám đặc công là khủng bố dân lành. Thí dụ điển hình nhất là vụ đặt bom nhà hàng Mỹ Cảnh năm 1965. Rồi tới ba đợt tấn công vào khu vực dân cư Chợ Lớn trong Tết Mậu Thân 1968, và sau này là các cuộc pháo kích nhắm vào dân lành trong chiến dịch xâm lấn lãnh thổ của VNCH sau Hiệp định Paris 1973. Ai trong chúng ta có thể quên được vụ Việt Cộng pháo kích vào trường tiểu học Cai Lậy, tỉnh Định Tường, vào đầu năm 1974, khiến trên 30 giáo viên và học sinh chết không toàn thây! 

Chính nhờ những thành tích đẫm máu ấy mà tới cuối năm 1974, Lê Đức Anh đã được phong cấp từ Đại tá lên thẳng Trung tướng!

(2) Xâm lược Căm-bốt 

Cuộc xâm lược Căm-bốt khởi sự vào tháng 12/1978, được đặt dưới sự chỉ huy của Trung tướng Lê Trọng Tấn, người được thăng cấp Trung tướng cùng đợt với Lê Đức Anh.

Tạm gạt bỏ ý thức hệ và màu cờ sang một bên, và tạm thời chấp nhận những lời xưng tụng Võ Nguyên Giáp là “đệ nhất danh tướng” của CSVN, mọi người đều đồng ý Lê Trọng Tấn (1914–1986) là viên tướng số 2 của Quân Đội Nhân Dân.

Tuy nhiên nếu tính cả về học thức, giai cấp xuất thân, tư cách con người, kiến thức binh bị, tài cầm quân, thì Lê Trọng Tấn, một hậu duệ của chúa Trịnh, cựu học sinh trường Bưởi (Hà Nội), được mọi người (phía CSVN) trân trọng nhất. Theo các báo trong nước, tính tới nay, Lê Trọng Tấn là vị tướng duy nhất cho tới chết vẫn không có nhà riêng!



Tướng Lê Trọng Tấn


Thời gian xảy ra cuộc xâm lược Căm-bốt, Lê Trọng Tấn đang giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng Quân Đội Nhân Dân kiêm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Khi tập đoàn Lê Duẫn & Lê Đức Thọ quyết định xâm lược Căm-bốt, vốn được Bắc Bộ Phủ xem là bước thứ nhất trong mưu đồ thành lập Liên Minh Đông Dương, đích thân tướng Lê Trọng Tấn đã vào Nam soạn thảo kế hoạch và chỉ huy lực lượng, gồm ba quân đoàn 2, 3, 4 và ba quân khu 5, 7, 9 tiến đánh Căm-bốt. 

Công chiếm Nam Vang là của quân đoàn 4 của tướng Hoàng Cầm, thế nhưng tới tháng 2/1979, khi tướng Lê Trọng Tấn trở về Hà Nội, thì Lê Đức Anh, Tư lệnh Quân khu 7, lại được trao chức Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Căm-bốt. Đầu năm 1981, ông ta được phong cấp Thượng tướng.

Song song với lực lượng quân sự chiếm đóng xứ Chùa Tháp, CSVN còn cho thành lập “Đoàn Chuyên gia Việt Nam tại Căm-bốt”, thực chất là bộ máy thống trị của CSVN tại quốc gia đàn em này, do Trần Xuân Bách làm Trưởng ban lãnh đạo, một quan “Thái thú” tân thời. 

Tới đầu năm 1982, chức vụ này được trao lại cho Lê Đức Anh kiêm nhiệm, biến viên tướng này thành kẻ nắm quyền sinh sát tuyệt đối tại Căm-bốt. Trong cương vị này, Lê Đức Anh đã cho thấy ông ta không chỉ là một nhà cai trị kém, mà còn là một viên tướng tồi!

Trong bài “Hùm chết để da, Lê Đức Anh để lại cái gì?”, tác giả Gió Bấc (RFI) tiết lộ:

“Tại Campuchia, Lê Đức Anh đã trúng kế phản gián của Pol Pot bức tử hàng chục cán bộ cấp tỉnh, Bí thư tỉnh Xiêm Riệp phải tự sát, gây ra vết rạn rất lớn trong mối quan hệ hai bên Việt Nam và Campuchia, tạo thuận lợi cho Pol Pot kéo dài chiến tranh và tổn hao xương máu quân đội Việt Nam.” 




“Nghĩa vụ quân sự”: thanh thiếu niên miền Nam trước khi bị đưa sang Căm-bốt


Về mặt quân sự, trong thời gian 10 năm nắm chức Tư lệnh tại Căm-bốt, Lê Đức Anh chưa bao giờ thực sự đánh bại được đám tàn quân của Pol Pot, trong khi lại nướng tới 1/3 trong tổng số 180,000 binh lính dưới quyền!

VIẾT THÊM: 
Tổn thất nhân sự của phía CSVN trong cuộc xâm lược và chiếm đóng Căm-bốt, cho tới nay vẫn chưa được công bố chính thức. Thời gian đầu, Bộ Quốc phòng CSVN cho biết khoảng 20,000, nay thì họ đưa ra con số 39,000; còn theo các nhà quan sát phương tây thì vào khoảng 55.000, và một trang mạng “phản kháng” trong nước viết rằng nếu tính cả Thanh niên xung phong thì lên tới 10 vạn (100,000). Cũng theo trang mạng này, chỉ tính trong chiến dịch mùa khô năm 1984, khi Lê Đức Anh cho quân tình nguyện VN tiến sâu vào lãnh thổ Thái-lan hơn 30 cây số để tấn công lực lượng Khmer Đỏ, đã có khoảng 3,000 lính VN bỏ mạng trên đất Thái. Nhưng Lê Đức Anh lại được vinh thăng Đại tướng!


* * *


Sở dĩ quân tình nguyện VN bị tổn thất nặng nề như thế là vì, theo nhận định sau này của Trung tướng Lê Hữu Đức, Cục trưởng Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu QĐND, ngày ấy giữ chức Tham mưu trưởng Quân đoàn 4 của tướng Hoàng Cầm, đơn vị có công chiếm Nam Vang (Phnom Penh): 

“Chúng ta chiếm được Phnom Penh và các thành phố, thị xã, nhưng chúng ta không diệt được sư đoàn nào của Pol Pot. Sinh lực địch bị tiêu hao không đáng kể. Khmer Đỏ bỏ chạy nhưng chúng không phải là một tàn quân... Khi tiến quân vào Phnom Penh, thế Việt Nam như “chẻ tre”, nhưng khi tới những vùng biên giới xa, các đơn vị Việt Nam lập tức bị Khmer Đỏ đặt trong tầm phục kích. Đây là giai đoạn quân đội Việt Nam bắt đầu chịu hy sinh lớn nhất...”

Sau đó, Tướng Lê Đức Anh chủ trương đưa “quân đội và nhân dân bạn” ra làm chủ biên giới bằng cách cho xây dựng Công trình K5: phát quang hơn 800km đường biên giới làm tuyến tuần tra, sau đó cho trồng tre, đào hào, gài mìn, dựng lên một hàng rào ngăn Pol Pot thâm nhập từ các căn cứ trên phần đất Thái Lan sang.

Tướng Mai Xuân Tần, trưởng Đoàn Chuyên gia, kể lại: 

“Rào biên giới để ngăn giặc là một kế hoạch táo bạo. Nhưng Thái Lan và Campuchia có một đường biên dài hàng nghìn cây số, núi cao, rừng thiêng; Khmer Đỏ cũng không phải là con nai hay con trâu mà là những chiến binh áo đen. Từ những Preah Vihear, Dangrek, Pailin, Poi Pet, Phnom Malai, Anlong Veng..., những bóng đen ấy vẫn thoắt ẩn, thoắt hiện, qua lại biên giới như con thoi...

“Việc tổ chức Công trình K5 là nơi thực tế để tập dượt cho bạn biết làm công tác vận động và tổ chức quần chúng. Nhưng không phải tự nhiên mà hồi đó và cả bây giờ vẫn có một số đồng chí thắc mắc và cho rằng K5 là tốn kém và không cần thiết... Trên thực tế, “K5” đã từng là nỗi hãi hùng của người Campuchia. Để làm K5, ta đã thúc đẩy bạn huy động khoảng bảy triệu ngày công của quần chúng từ các tỉnh hậu phương đi xây dựng phòng tuyến biên giới”.

“Hàng chục vạn dân công, phối hợp với bộ đội của Heng Samrin trên Công trường K5 không chỉ là những mục tiêu sống của Khmer Đỏ mà còn là của sốt rét, bệnh tật. Phần thì bị phục kích, đánh úp, phần bị sơn lam, chướng khí, không thể tính hết con số thường dân Campuchia bị thương bởi mìn, bị chết bởi súng đạn và đau ốm, trong cuộc “tập dượt làm công tác vận động quần chúng” này...”

* * *


Có lẽ “thành quả” to lớn nhất của quân tình nguyện Việt Nam tại Căm-bốt là... cướp bóc. Tuy nhiên, khi đưa về nước, toàn bộ “chiến lợi phẩm” đã bị ngăn chặn, tịch thu ngay tại biên giới, tập trung vào các kho, và sau đó hàng tấn thuốc tây, vàng bạc, đồng hồ, đô-la... được tẩu tán về đâu, chỉ có Lê Đức Anh biết mà thôi!

(Xem tiếp: https://hoiquanphidung.com/showthread.php?28327-L%C3%8A-%C4%90%E1%BB%A8C-ANH-%E2%80%93-C%C3%B4ng-(-)-v%C3%A0-T%E1%BB%99i!-Nguy%E1%BB%85n-H%E1%BB%AFu-Thi%E1%BB%87n)

Rate this item
(0 votes)

Posted by Nguyen Huu Thien