Airforce Echo News

Năm thứ nhất sau khi VNCH bị bức tử
Thành phố trở nên xa lạ ngay trong mắt lũ con nít. Cùng là tiếng Việt, nhưng tiếng Việt của người từ Bắc vô Nam xa lạ, từ ngữ lạ lùng với người miền Nam. Chẳng hạn "đăng ký" (dùng để chỉ việc ghi danh, ghi tên), tĩnh từ ghép "hồ hởi phấn khởi"(nghĩa là hào hứng).
Trật tự của đời sống bị đảo lộn, ngay cả một số động từ cũng bị "phe thắng cuộc" đảo ngược thứ tự, như "bảo đảm" bị gọi thành "đảm bảo". Cùng với sách báo bị đốt, bị tịch thu, chừng như người ta muốn tiêu hủy cả một nền văn hóa của miền Nam.
Quái đản nhất là đồng hồ có một ô vuông cho ngày tháng, và hai kim dài, kim ngắn được người thắng cuộc gọi là đồng hồ có "một cửa sổ và hai người lái".
Người miền Nam, nhất là lũ con nít chúng tôi, nghe tiếng Việt mà cứ như nghe ngoại ngữ, vừa nghe, vừa đoán. Rồi còn phải quen dần với những từ mới toanh như "hộ khẩu" mà người miền Nam với óc khôi hài sẵn có đã nói lái thành "hậu khổ".
Trong lúc bà Nhà Văn Dương Thu Hương (lúc đó mới 28 tuổi) ở một lề đường nào đó trong Thành phố Sài gòn "ngồi xuống vỉa hè ôm mặt khóc như cha chết, một cảm giác vô cùng hoang mang và cay đắng", vì thấy mình đã bị lừa dối: Sài gòn không hề đói rách, cơ cực, bị "Mỹ Ngụy" kìm kẹp cần được giải phóng như những câu hát đầy kích động "giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước"... thì có cả triệu người miền Nam mắt hoen lệ, hay cố nuốt nước mắt vào lòng.
Chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975, tiếng hát của ông Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn vang lên từ đài phát thanh Sài gòn, ông hát một ca khúc nổi tiếng của chính mình "Nối vòng tay lớn". Trong bối cảnh tan hoang, hoài nghi lúc đó, người Sài gòn tự hỏi vòng tay lớn có thực sự được nối lại không khi mà thủ đô của miền Nam cũng bị mất tên?
Niên khóa 1974-1975, anh Hợp đang học lớp 12 ban Toán. Là con đầu lòng, "đầu máy xe lửa, kéo theo những toa xe lửa khác", anh hiểu đầu máy mà trật đường rầy thì những toa xe lửa theo sau cũng văng khỏi đường rầy, nên anh cố gắng học. May mà anh được thừa hưởng gen giỏi Toán từ bên ngoại, lẫy lừng nhất là ông cậu em út của Mẹ được lãnh phần thưởng danh dự toàn trường Trung học Võ Tánh từ Tổng Thống, rồi đậu vào cả Quốc Gia Hành Chánh, Sư Phạm, lẫn Phú Thọ. Cậu chọn học Phú Thọ vì giỏi Toán. Anh Hợp biết mình chưa bằng Cậu được, nhưng suốt 12 năm đi học, anh luôn được phần thưởng. Những tờ giấy bóng kính đủ màu đỏ (cho hạng nhất),vàng (hạng nhì), và xanh (hạng ba) một cách nào đó đã tô màu cho tương lai của các học sinh được phần thưởng. Đó là thời Đệ nhị cộng hòa (1964-1975), hồ sơ xét tuyển du học cho các học sinh đậu Tú Tài hạng Bình (tương đương B plus ở Mỹ) chỉ có thành tích biểu của lớp 12, và một bài essay nói lên ước vọng của người dự tuyển.
Không có hồ sơ lý lịch ba đời như những năm sau tháng 4 năm 1975. Nên xuất thân từ gia đình nào không quan trọng, cứ học giỏi là đường tương lai thênh thang rộng mở. Nếu khả năng ngoại ngữ giỏi, thì học bổng toàn phần bốn năm du học nằm trong tầm tay. Thời đó, học sinh lớp mười hai, nhất là các nam sinh, có một năm cuối trung học miệt mài đèn sách. Anh cũng không ngoại lệ, tự hứa với lòng là "đầu máy xe lửa" sẽ kéo được đoàn tàu đến nơi cần phải đến.
Anh đã nhắm đến học bổng du học, hay ít nhất cũng vào được Phú Thọ (là Đại học Bách khoa sau này). Ăn Tết Ất Mão xong, anh đã lao đầu vào học hơn mười hai tiếng mỗi ngày, học với Thầy Cô ở trường, tự học ở nhà, và chịu khó đi xe lửa từ Biên Hòa vô Sài Gòn mỗi cuối tuần để luyện giọng ở Hội Việt Mỹ, ở Trung tâm Văn hóa Pháp. Nhưng "mưu sự tại nhân thành sự tại thiên", chưa kịp thi Đệ Nhị Lục Cá Nguyệt (tương đương second midterm ở Mỹ), đất nước đổi chủ. Những người chủ mới xét tuyển tất cả mọi thứ dựa trên lý lịch, theo nguyên tắc "hồng thắm chuyên sâu". "Hồng" là lý lịch ba đời màu đỏ như màu cờ búa liềm, lý lịch không thuộc "thành phần cơ bản", bản thân người mới tốt nghiệp Trung học không phải là "Đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản" đã khó vô Đại học. Trường hợp của anh, Ba là cựu Sĩ quan Quân lực VNCH, đang bị "học tập cải tạo dài hạn", bị chế độ mới xếp vào thành phần thứ 14 trong một xã hội có 15 thành phần thì tương lai bỗng chốc tối đen như đêm ba mươi bị mất điện
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Chưa đến hai mươi tuổi, anh Đăng trông già như một người gần ba mươi, da sạm đen sau vài tháng hành nghề lơ xe, một công việc mà anh chưa bao giờ nghĩ là mình sẽ phải làm, và làm tốt hơn nhiều người lơ xe khác. Vì anh biết cách sửa những bệnh vặt của một chiếc xe đò chuyển từ chạy bằng xăng qua chạy bằng than. Khách đi xe đò thời đó, đa số là những người đi buôn đường dài liên tỉnh, có thiện cảm với anh lơ xe dù hốc hác, đen sạm vẫn còn phảng phất nét thư sinh, rất lễ phép, nhanh nhẹn, luôn giúp đỡ họ mà không hề vòi vĩnh xin tiền tip.
Khách đi xe đò cảm thấy một chút bình yên sau cuộc đổi đời vì có những người như anh Đăng. Họ không ngạc nhiên vì sau tháng 4 năm 1975 đến giữa năm 1985, mười năm ròng rã, người dân miền Nam đã quen với hình ảnh những người làm công việc tay chân, nhưng mặt mày sáng sủa, và hành xử rất lịch thiệp. Họ cũng đã từng lên những chiếc xích lô mà người phu xe mặt mũi rất trí thức, khi ngồi chờ khách vẫn đọc những quyển Readers' Digest.
Trật tự xã hội đảo lộn đến quái dị: các ông bà cán bộ của "bên thắng cuộc" vào tiếp quản miền Nam, nhiều người viết chữ xấu, đôi khi sai lỗi chính tả căn bản, nhưng đều giống nhau ở chỗ nói những giáo điều giống nhau, giọng đều đều, ngắt câu không đúng chỗ, như một cô, cậu học trò học thuộc lòng bài học, mà không hiểu nội dung của bài học.
Là con đầu lòng của gia đình, đang học năm thứ ba ở Đại học Dược Khoa Sài gòn, chị Thảo hiểu mình không thể tiếp tục học trình sau khi phải làm bản tự khai lý lịch để nộp cho những người lãnh đạo mới của trường. Chị khai chân thật Ba là Sĩ quan tham mưu cao cấp của Quân Khu I, Mẹ là nhân viên Ty Bưu Điện Huế. Dù bản thân không chưa hề đi làm, chị Thảo cũng bị Đoàn Thanh niên ở trường "để mắt cẩn thận". Đời sống sinh viên khác xa trước tháng 4 năm 1975, họ phải đi lao động nhiều hơn đi học. Phòng thí nghiệm đóng cửa im ỉm, không biết lúc nào mới mở lại. Đến khi Ba của Chị phải vào trại cải tạo tập trung, Mẹ chị cũng phải đi học tập cả tháng ở địa phương thì Chị Thảo quyết định bỏ học, về nhà thay cha mẹ nuôi các em.
Căn nhà nhỏ có hoa phượng, có hoa giấy, có cây cau trong cư xá Sĩ quan nơi gia đình Chị sống hạnh phúc gần mười năm qua cũng bị chính quyền mới lấy lại. Chỉ một tuần sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền cách mạng đến từng nhà trong cư xá đọc "quyết định đuổi nhà".
Như câu nói của ông bà ngày trước "nước mất nhà tan". Nhờ một người thân cho ở nhờ trong một căn phòng nhỏ ở Sài gòn, gia đình chị Thảo bắt đầu cuộc sống đổi đời với đủ nghề để sống. Thoạt đầu, Chị làm bánh bao, bánh ít để bán. Bánh thì có ngon nhưng dạo đó chừng như không ai làm ra tiền, nên người ta ăn sáng bằng cơm nguội, hay sang hơn thì cơm chiên, nên các em chị Thảo phải ăn bánh trừ cơm.
"Bần cùng tất biến", chị Thảo theo bạn bè, những người dân miền Nam cùng cảnh ngộ, đi buôn đường dài trên những chuyến tàu Bắc Nam. Những chuyến tàu dạo đó nhếch nhác và tội nghiệp như những người thua cuộc, đầy dẫy người buôn hàng chuyến. Những chuyến tàu đầy người và đủ thứ hàng hòa, ban đêm không có đèn, lấp lánh ánh dạ quang của những cái đồng hồ đeo tay (cũng là một loại hàng hóa) như ánh ma trơi trong những đêm không trăng sao ngoài nghĩa địa. Điều duy nhất sáng trên những chuyến "tàu chợ" năm đó là khuôn mặt của những người đi buôn vì "thời thế, thế thời phải thế" (1) như chị Thảo.
Chính quyền mới lên án những người buôn bán nhỏ là thành phần không biết sản xuất, ăn bám xã hội. Xã hội nào nuôi con cái của ngụy quân, ngụy quyền??? Trong khi cha mẹ của họ là những người tù không tội. Họ bị xếp vào thành phần thứ 14 trong 15 thành phần của xã hội. Họ bị xếp loại là công dân bậc hai của xã hội, "chính quyền cách mạng" không cho họ đi học, cũng không cho đi làm (vì suy bụng ta ra bụng người, sợ bị phá hoại?).
Bằng tuổi chị Thảo, anh Phiến đang học năm thứ Ba khoa Toán ở trường Đại Học Khoa Học. Ba anh nguyên là Tỉnh Trưởng một tỉnh miền Tây, đã tử trận trong một lần đi thị sát mặt trận bị quân miền Bắc đặt mìn trên đường đi vào những năm cuối cuộc chiến. Xác ông và hai đồng đội hòa tan cùng đất của quê hương. Các con của ông (anh em của anh Phiến) được vào học trường Quốc Gia Nghĩa Tử, nơi nuôi dạy con của những lính tử trận. Là trưởng nam, anh Phiến hiểu mình phải học giỏi để thay Cha giúp Mẹ nuôi dạy, làm gương cho các em. Anh là một trong những học trò cưng của Giáo Sư Đặng Đình Áng.
Biến cố 30 tháng Tư năm 1975 làm đảo lộn mọi thứ, anh Phiến thất vọng đến độ tự kết liễu đời mình vào tháng 9 năm đó, đúng ngày sinh nhật 21 tuổi của anh. Trong nỗi đau mất con của Mẹ anh, chính quyền địa phương cho người đến nhà anh, với danh nghĩa là giúp đỡ gia đình anh trong cảnh tang gia bối rối, nhưng thật ra là để rao giảng về "đạo đức cách mạng", họ còn "kết tội" người quá cố là "chết ngu".
Trên bàn thờ mới lập, di ảnh của anh Phiến được phóng to từ thẻ sinh viên của anh, với hai con mắt thông minh, to tròn, chừng như đang có nét buồn phiền khi thấy chính quyền địa phương vẫn không chịu để yên cho người quá cố.
Một lần nữa, gia đình anh Phiến, cùng cả xóm bất mãn, nhưng cam chịu như họ đã từng nhẫn nhục từ tháng Tư.
Ngày đưa anh Phiến về lòng đất, cả xóm bùi ngùi đưa tiễn, trong ánh mắt hằn học của những người mang băng đỏ ở địa phương. Các Thầy Cô giáo ờ trường Tiểu học nơi anh theo học ngày xưa, mắt hoe đỏ nhìn qua khung cửa sổ lớp học, nhớ đến người học trò cũ thông minh, bạc mệnh của mình.
Có bao nhiêu người đã tự kết liễu đời mình sau cái chết của Việt Nam Cộng Hòa. Chắc là cả trăm người? Hay nhiều hơn nữa? Không ai biết chính xác nhưng hẳn là con số không nhỏ.
Tháng 4 năm 1975, Dũng và Huân đang học lớp Một. Hai thằng nhóc cùng sinh ra trong cư xá, nhà ở cạnh nhau, học cùng lớp nên rất thân nhau. Cứ tưởng là sẽ học cùng lớp ít nhất là hết bậc Tiểu học, nhưng biến cố tháng 4 năm 1975, tách rời hai đứa nhỏ vì gia đình cùng bị chính quyền mới đuổi ra khỏi cư xá. Chưa đến bảy tuổi, không hiểu nhiều về tình hình đất nước, nhưng nhìn cha mẹ, hàng xóm, người lớn ai cũng buồn, Dũng và Huân tự nhiên cùng tắt tiếng cười. Hai đứa nhỏ không hiểu điều gì đang xảy ra, nhưng cùng hiểu là cha mẹ mình đang lo lắng, Dũng và Huân đều tự lo thân, ngoan ra, không dám làm điều gì để cha mẹ phải phiền lòng. Cả hai đều cố gắng những việc nhỏ khi gia đình dọn nhà ra khỏi cư xá.
Bước vào niên khóa 1975-1976, ngôi trường Tiểu học Nguyễn Du đã bị đổi tên thành trường cấp một Lê Văn Tám, một cái tên lạ hoắc lạ huơ không những đối với học trò mà còn đối với người dân miền Nam. Học trò Tiểu học đến trường không chỉ để học, mà còn phải sinh hoạt trong đội thiếu nhi quàng khăn đỏ. Môn công dân giáo dục cũng "được giải phóng" khỏi chương trình học, được thay bằng môn chính trị. Con nít miền Nam, phần lớn là con của "ngụy quân, ngụy quyền" khôn ra, hiểu là cha anh mình không hề xấu như những bài học chính trị ở trường, hay ở địa phương.
Vào trường, khăn quàng đỏ đeo lên, nhưng ra khỏi trường, học trò tháo khăn ra đút túi.
Khi bị chất vấn về điều này, học trò dưới mười tuổi đã trả lời rất lễ phép, rất khôn ngoan:
- Thưa em phải giữ kỹ khăn quàng, vì nếu khăn dơ sẽ không có xà phòng để giặt.
Ít ra chính quyền cách mạng đã thành công trong việc làm cho tụi con nít khôn ra, trưởng thành hơn tuổi thật của mình.
Tháng 5 năm 1975 là tháng trăng mật của một số dân nghèo thành thị với chính quyền mới của bên thắng cuộc.. Một số ít người lao động nghèo chào đón các anh "giải phóng quân" đội mũ tai bèo, mặt mày ngơ ngác (vì Sài gòn và miền Nam không nghèo đói như họ được dạy) bằng chân tình. Họ tưởng đổi chế độ là đổi đời, cuộc sống mình sẽ khá hơn, tương lai sẽ tươi đẹp hơn, nhưng tháng trăng mật chấm dứt nhanh chóng. Chưa thấy đổi đời như thế nào nhưng việc buôn bán của họ ế ẩm hơn trước. Thúng xôi, xe bánh mì, rổ trái cây không còn bán được như trước, người miền Nam không còn công việc ổn định, không còn tiền để mua quà sáng. Họ ăn sáng bằng cơm nguội, hay bằng sắn, khoai tự nấu.
Chưa hết, đội quản lý thị trường cũng đeo băng đỏ cũng không cho họ bán hàng rong, vận động họ đi lao động sản xuất, khai hoang ở các vùng kinh tế mới. Đâu rồi các khuôn mặt giải phóng quân, cán bộ nằm vùng thiểu não nhờ họ giấu truyền đơn, đôi khi cả vũ khí dưới đôi quang gánh của họ?
Những người này trở về xóm lao động xưa, mặt mày vênh váo, nhìn họ bằng nửa con mắt, làm mặt lạ như chưa từng gặp nhau. Có bà cụ miền Nam bộc trực, đã nói lớn giữa chợ:
- Biết vậy hồi đó cơm gạo tiếp tế cán bộ nằm vùng, tao nuôi heo còn có lợi hơn.
Người miền Nam bảo nhau họ đã “sáng mắt sáng lòng”. Như thế đó, những người dân lao động ở miền Nam nhanh chóng nhận ra "Cứu vật, vật trả ơn/Cứu nhân, nhân trả oán".
Tháng trăng mật nhanh chóng chấm dứt, chỉ còn nỗi uất ức vì đời sống khó khăn hơ
n nhiều. Ca dao đương thời ở miền Nam có câu:
“Đả đảo Thiệu Kỳ mua gì cũng có
Hoan hô cách mạng, mua cái đinh cũng xếp hàng"
Đậu vào lớp Sáu ngôi trường công lập lớn nhất miền Đông Nam phần, từ xã Tân Vạn về tỉnh lỵ đi học khá xa, Chuyên được Ba mua cho một chiếc xe Mobylette Cady màu vàng nâu làm phương tiện đi học. Nửa thế kỷ trước, dân số không đông như bây giờ, đường vắng, nên Chuyên đi học bình yên. Chiếc Cady đó là "niềm mơ ước bốn mùa" của cả lớp, nên Chuyên cho các bạn cùng lớp thay phiên nhau chạy Cady trên một con đường nhỏ gần trường vào mỗi giờ ra chơi. Cả lớp quý cả Chuyên lẫn chiếc xe.

Chiếc xe gắn máy mini đó chỉ có con nhà giàu như Chuyên mới có. Chuyện giàu nghèo đối với học trò lớp bảy không phải là chuyện đáng lưu tâm. Nhưng không ngờ chỉ vài tháng sau biến cố 30 tháng 4 đó lại là chuyện lớn. Ngày 22 tháng 9 năm 1975, bên thắng cuộc cho đổi tiền: 500 đồng của miền Nam chỉ đổi được một đồng của miền Bắc. Cuộc sống dĩ nhiên là không còn như xưa. Chưa dừng ở đó, đợt "đánh tư sản mại bản" đầu tiên là một ký ức không bao giờ phai trong tâm trí những người chứng kiến. Cùng nghe/ đọc lại ký ức của một em bé mười tuổi vào năm 1975:
"Khi đó tôi lên 10 nhưng tôi nhớ rất rõ là bị đánh thức vào lúc 2 hay 3 giờ sáng gì đó… và rồi người ta đã sục sạo nhà tôi. Họ kiểm tra từng viên gạch, từng bát nhang trên bàn thờ, từng chân nến, từng khe cửa, từng bộ quần áo. Và chúng tôi ra khỏi nhà đúng nghĩa là hai bàn tay trắng.” (2)
Năm đó, Chuyên 13 tuổi, không chịu nỗi nghịch cảnh, nhìn cha mình (một ông chủ nhà máy sản xuất gạch được tiếng nhân từ) bị giải giao khỏi nhà như một tội phạm. Tiền bạc, của cải bị tịch thu, cả gia đình bị đuổi đi "vùng kinh tế mới", Chuyên uống thuốc ngủ tự tử. Lúc đó, lớp 7/1 của Chuyên cũng tan tác theo vận nước. Không đứa nào biết chuyện để đến tiễn Chuyên lần cuối, chỉ biết gửi lời cảm ơn vào hư không về chuyện chiếc Cady ngày nào, và thầm cầu nguyện cho Chuyên được thanh thoát ở một nơi không còn hận thù, không còn áp bức.
Nhiều, nhiều năm sau này, những cô bé lớp 7/1 năm xưa còn ở lại thành phố cũ, mỗi lần đi qua nhà Chuyên - đã trở thành Xí nghiệp sản xuất gạch ngói của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa từ cuối năm 1975- vẫn không hiểu tại sao Chuyên hiền lành, tốt bụng năm xưa lại vắn số như vậy!!!???
Giữa tháng 3 năm 1975, trong khi rút khỏi Pleiku, ba của anh Hiển, một Sĩ quan QL VNCH tử trận, thân xác ông hòa vào đất đỏ của cao nguyên. Gia đình anh Hiển chưa kịp nguôi ngoai với mất mát đó, chỉ bốn mươi lăm ngày sau, đất nước cũng không còn. Năm đó, anh Hiển học lớp 12, chuẩn bị thi Tú Tài. Tuổi 18 của anh không còn nhỏ nên anh hiểu rõ vị thế của gia đình mình trong xã hội mới. Nhưng tuổi 18 cũng chưa phải là người lớn để có thể vạch ra một hướng đi cho riêng mình. Nhìn quanh, ai cũng đang lo buồn tập thích nghi với xã hội mới, anh Hiển thu mình ở một góc nhà gặm nhấm tang chung của Việt Nam Cộng Hòa, tang riêng của gia đình.
Như một con đà điểu chúi đầu vào cát, anh Hiển chúi đầu vào mấy quyển Giải tích, và Hình học của lớp 12B (tài sản quý giá nhất còn sót lại của anh) giải các đề Toán, không phải để chuẩn bị thi vào Đại học như ước vọng mới mấy tháng trước, mà là để tìm quên, để quên đi thực tại. Không thể chia sẻ với ai, vì ai cũng đang ngổn ngang trăm mối, buồn bã và bế tắc lấy dần đi tinh anh, và sáng suốt của anh.
Trầm cảm như thế khoảng một năm, anh Hiển mất dần trí nhớ dù vẫn vẽ các đường tiệm cận của Parabol, Hyperbol rất đẹp, và vẫn có thể giải các phương trình Lượng giác. Buồn thay, sau khi Mẹ anh qua đời, không thể chăm sóc cho em, các anh chị của anh (ai cũng nặng nợ áo cơm với gia đình riêng) đành gửi anh Hiển vào Dưỡng trí viện Biên Hòa.
Trầm cảm vì thay đổi lớn của đất nước và gia đình trong khoảng 45 ngày, đã biến anh Hiển khỏe mạnh, tinh anh, thông minh, vui vẻ trở thành một người điên ốm yếu, xanh xao phải sống những ngày còn lại của cuộc đời trong thế giới của người mất trí…
Những năm đầu của Xã Hội Chủ Nghĩa ở miền Nam
Nhiều năm sau này, chúng tôi vẫn còn nhớ cảm giác đói triền miên vì cả một thời nhỏ dại, sau năm 75, không có gì để ăn sáng. Ăn tối từ sáu giờ chiều hôm qua, sáng ngủ dậy ôm cặp đi học với cái bụng rỗng, nên khoảng mười giờ sáng là "trường ca bụng rỗng" cùng hòa âm từ hầu hết bạn học cùng lớp. Chúng tôi cứ đùa, ai đói nhiều nhất được cử làm nhạc trưởng. Đó cũng là cách để "cười quên đói".
Những đứa trẻ miền Nam như chúng tôi - có cha đang trong tù cải tạo, mẹ vất vả ngược xuôi nuôi chồng, nuôi con nhỏ- khôn ra nhiều, không dám than thở sợ mẹ buồn. Ăn uống thì thiếu thốn, đời sống tinh thần cũng không có. Sách báo của con nít như báo Thiếu nhi, báo Tuổi hoa cũng bị cán bộ mang băng đỏ tịch thu, và đốt sạch.
Trong lớp thì bị cán bộ Đoàn (ở bậc Trung học) và cán bộ đội (ở bậc Tiểu học) để ý từng hành động của những học sinh có cha đang đi "học tập cải tạo". Khi một đứa trẻ dưới mười lăm tuổi phải nghe các thầy cô dạy Chính trị ra rả mỗi ngày cha của mình có "nợ máu với nhân dân" thì đứa trẻ đó không thể có tuổi thơ !!!
Các anh chị lớn hơn thì sau khi ra Bắc thăm cha trong các trại tù cải tạo ở núi rừng miền Bắc, họ hiểu là mình không còn chốn dung thân ngay trên quê hương mình. Người cha cao lớn, hiền từ, uy nghi trong quân phục ngày xưa, bây giờ trông nhếch nhác tội nghiệp trong bộ đồ tù chính trị vá chằng, vá đụp, ốm yếu, già trước tuổi.
(Vì vậy, nhiều em bé dưới mười tuổi đã thốt lên "không phải ba" như trong huyền thoại "vợ chàng Trương" năm xưa.)
Họ hoàn toàn kinh ngạc và thất vọng với lối nói chuyện ngạo mạn, thiếu văn hóa, thiếu lễ độ của các cán bộ, thanh niên ở miền Bắc, với câu nói trên đầu môi "Mày có biết Bố mày là ai không?".
Nhất là sau khi gặp lại cha mình chỉ sau gần ba năm trong tù cải tạo, họ không thể tin ở mắt mình.
Như thế đó, chúng tôi lần lượt vượt biển ra đi, để tìm một chỗ dung thân cho mình, tìm được một nơi chốn mình có thể được học hành đàng hoàng, không bị xếp vào thành phần thứ 14 trong 15 thành phần của xã hội.
Cùng với những người tìm đường ra biển lớn, một lượng lớn chất xám Việt Nam cũng theo đại dương đến quê người.

Như "bóng câu qua cửa sổ”, 50 năm trôi qua như một giấc mơ dài, có nước mắt nhiều hơn nụ cười, có nhẫn nhục, cam chịu nhiều hơn là hạnh phúc, ước mơ.
Nhiều người trong số những thuyền nhân năm xưa (đang ở khắp mọi nơi trên thế giới tự do) chọn cách không quay lại nơi chôn nhau cắt rốn của mình như câu hát "một lần đi là một lần vĩnh biệt", một số người đã gửi thân nơi quê người.
Nửa thế kỷ trôi qua, chúng tôi đã tha thứ cho những người đã chia cách gia đình chúng tôi, đã đẩy chúng tôi ra biển lớn, sống đời lưu vong. Tha thứ từ rất lâu, nhưng quên thì chắc chẳng bao giờ quên những ngày u ám năm xưa. Và cho đến bây giờ cũng chưa hề nghe thấy một lời xin lỗi chính thức với cả ngàn cựu Công chức, cựu Sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa chết trong các trại tù cải tạo, hay với ít nhất là 250 ngàn thuyền nhân đã gửi thân vào lòng Thái Bình dương trên đường tìm tự do.
Chưa nghe được một lời xin lỗi chính thức, hẳn là thân nhân, con cháu của những người bất hạnh luôn có một "nỗi niềm mang theo".
Nếu người ta biết đặt mình vào vị trí của người khác thì đời sống sẽ bình an và hạnh phúc hơn nhiều...
Nguyễn Trần Diệu Hương
Tháng 4 năm 2025
Footnote
1) Vì có thù riêng, Đặng Trần Thường kiêu hãnh ra vế câu đối cho Ngô Thời Nhiệm như sau: “Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai”. Vế đối hiểm hóc ở chỗ có 5 chữ ai và có một chữ “trần” là tên đệm của Đặng Trần Thường.
Vừa nghe xong, Ngô Thời Nhiệm khảng khái đáp ngay rằng: “Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế”. Vế đối lại cũng có 5 chữ thế, nói lên được hoàn cảnh và khí phách của người anh hùng. Và vế đối cũng có chữ “thời” là tên đệm của Ngô Thời Nhiệm.
2) https://www.rfa.org/vietnamese/in_de...018145622.html
Kẻ Đi Dự Tiệc, Người Vào Nghĩa Trang

những người lính của phía Chính phủ VNCH đã khuất
Tôi còn nhớ ngày đơn vị Sư 320 B của tôi đánh vào Sài Gòn, chúng tôi có qua đây, thấy nghĩa trang này rất khang trang, sạch và đẹp. Ai ngờ giờ đây điêu tàn như thế này rồi.
Thật đáng buồn rằng, họ đã để Sài Gòn thất thủ, rơi vào tay những con người muông thú và mọi rợ như lũ chúng tôi. Đánh xong thì chúng tôi không được ở lại mà rút ra Bắc ngay, để đơn vị khác vào tiếp quản. Thế là từ năm 1975 đến giờ, tôi không có dịp trở lại Sài Gòn nữa.
Thống nhất đất nước thì ai chả muốn, nhưng giá như Hà Nội thất thủ thay cho Sài Gòn thì đất nước của chúng ta giờ đây đã hơn cả Nhật rồi. Chúng ta đã giải phóng, nhưng đáng tiếc rằng, đó là cuộc chiến tranh giải phóng NGƯỢC!
Mà thực ra, cuộc chiến tranh Nam Bắc là do Cộng Sản tự sinh sự, không muốn tổng tuyển cử mà có. Chứ năm 1945 lẽ ra chúng ta đã có hòa bình và thống nhất rồi. Chính phủ của ông Hồ đã sai lầm, để mãi sau này mới nhận ra: "Ta đánh Mỹ là ta đánh cho Liên Xô và Trung Quốc" (Lê Duẩn). Giá như ngày đó ông Hồ không ích kỷ, không theo Mao và Quốc tế CS; Ông đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu thì ông đã kết hợp với Chính phủ Trần Trọng Kim và Ngô Đình Diệm thì tuyệt vời biết bao.
Ngày 30 tháng tư là một ngày buồn thê thảm - Ngày quyết định số phận đen đủi cho dân tộc chúng ta. Để giờ đây, người ta đuổi người hiền trong sạch như Nhà sư Minh Tuệ ra đi và mời kẻ thù ngoại bang đến dự tiệc.
Nền đạo đức VN xuống dốc không phanh, bệnh ung thư thì nhiều vô kể. Hỏi vui thú nỗi gì? Phải nói là, cả hai bên đều là thua cuộc; chứ không có ai thắng cả. Bởi đó là một cuộc chiến vô nghĩa và ngu xuẩn. Đáng tiếc và buồn là trong cuộc chiến này có sự tham dự và chứng kiến của tôi, để tôi ân hận đến bây giờ...!
@**@Nguyễn Doãn Đôn
50 Năm Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa
(Kể từ 1975- 2025)
Hỏi nắng Biên Hòa gió Dĩ An
Bao nhiêu năm dài đã thân quen
Nắng gió về Nghĩa Trang Quân Đội
Xin một lần cho tôi quá giang.
50 năm tàn cuộc chiến trường
Những mộ tử sĩ ở lại buồn
Bức tượng Thương Tiếc không còn nữa
Tôi sợ mình đi sẽ lạc đường.
Hỏi Đền Tử Sĩ, Cổng Tam Quan
Có đợi người về thắp nén nhang?
Lạnh lùng lá khô rơi trên lối
Tiêu điều thềm cũ bóng thời gian.
Hỏi Nghĩa Dũng Đài, Vành Khăn Tang
Có còn nghe tiếng khóc đau thương?
Ngậm ngùi từng cành cây ngọn cỏ
Những lúc mưa chiều lúc nắng lên.
Hỏi mộ vô danh nằm ở đây
Nỗi sầu chinh chiến có nguôi ngoai?
Những ngôi mộ xanh rêu hoang phế
Người lính năm xưa, anh là ai ?
Hỏi người lính trẻ mộ bia tên
Trận địa nào anh đã hy sinh?
Mang theo những mộng đời dang dở
Có chạnh lòng không, ai cố nhân ?
Hỏi Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa
50 năm thời cuộc đã qua
Nghĩa trang đã đổi tên xa lạ
Có ngủ yên không những nấm mồ?
Các anh nằm đây như một nhà
Những tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa
Dù ai hương khói, không hương khói
Vẫn ấm tình đồng đội bên ta.
Bốn mùa hàng cây cao nghĩa trang
Lá khô rơi chuyện trò cùng anh
An ủi 16 ngàn ngôi mộ
Ru hồn tử sĩ giấc ngàn năm.
Nguyễn Thị Thanh Dương
(Viết cho Tháng Tư 2025)
- Details
- Category: Chuyện 30.4
- Hits: 1517

Nơi tôi ở, bên này bờ Thái Bình Dương xa thẳm, một nơi chốn thật yên bình, nơi mà người dân được quá nhiều tự do (vẫn có ít điều cần giới hạn) từ trong nhà ra tới ngoài xã hội, một nơi rất đông người Việt tị nạn đang sinh sống, nơi có quá nhiều phương tiện truyền thông, báo chí phục vụ “Free” cho đồng hương. Bởi lẽ đó, mỗi năm nhân ngày “Quốc Hận Tháng Tư Đen” ban chấp hành cộng đồng (có ứng cử-bầu cử đàng hoàng), vẫn tổ chức tưởng niệm ngày đau buồn đó.
Nhưng bên cạnh những uất nghẹn thương đau, cần và cần thiết phải thắp những nén hương, ngọn nến ngồi im lặng mà tưởng niệm, thì các tổ chức, các hội cựu quân nhân muốn qui tụ đồng hương lại càng đông càng tốt, nên hầu hết phải “mướn ca sĩ chuyên nghiệp” ở các trung tâm băng nhạc lớn về. Có những ca sĩ hát rất hay, nội dung bài hát nói lên đươc nỗi đau, hay tinh thần bất khuất của những chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ngày nào, dám hy sinh thân mình để bảo vệ quê hương, đất nước. Nhưng có vài ca sĩ lên sân khấu cũng không biết mình hát cho ngày gì? hát bài gì cho thích hợp với nội dung ngày đau buồn, nên cứ tha hồ… “... nhiều đêm chăn gối bên người không quen biết?” hay “Lâu Đài Tình Ái”…. chẳng hạn. Thật hết ý.
Lại có quá nhiều chương trình trên truyền thanh, truyền hình nhắc nhở nhiều kỷ niệm về Tháng Tư Đen. Người ta kể đến những trận di tản từ miền Trung, miền Cao Nnguyên, những con đường kinh hoàng như Tỉnh lộ 7 ở Hiếu Xương-Phú Yên, xác chết chồng lên xác chết, những bãi biển xác người trôi lềnh bềnh, phần tấp vô bờ thì ít, mà làm mồi cho cá chắc nhiều hơn. Đã bao nhiêu năm qua rồi, người ta vẫn còn tìm gặp những bộ xương có mang những tấm thẻ bài còn nguyên vẹn vùi nông nơi bãi cát (không hiểu anh linh của những chiến sĩ bị hy sinh một cách oan uổng, tức tưởi này có sớm được siêu thăng, hay vẫn còn vất vưởng đâu đó vì một nỗi uất hận chưa vơi? Một nén nhang thắp muộn vẫn là tấm lòng của một nữ thường dân còn nợ ơn Người!)..
Người ta kể lại những trận đánh kinh hồn của những chiến sĩ can đảm Nhảy Dù, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân…, quyết tâm gìn giữ mảnh đất bao lâu nay đã tốn biết bao mồ hôi nước mắt, bao xương máu, ngay cả thân xác của những người lính đã hy sinh. Cuối cùng thì vẫn phải chạy và lột bỏ quần áo nhà binh và xin thường phục của người dân mặc vào để chạy!!!!. (?)
Người ta còn sưu tầm cả tiếng nói của vị “Tổng Thống cuối cùng” ban lệnh đầu hàng, phát lại cho thính giả nghe. Có người nặng lời “chửi bới” quan ngài đã dâng đất cho giặc. Phải chi ngày đó ông đừng có … bàn giao chính thể quốc gia cho cộng sản ? Dù biết rằng Đại tướng cũng chẳng làm được gì khi giặc đã vào… sát nách mà có một đám quan to, tướng lớn lại yếu hèn đã cuốn gói chuồn êm tự lúc nào. Bao nhiêu năm tháng nắm quá nhiều chức tước, binh quyền mà không làm gì được, để bọn giặc Hồ đem chủ nghĩa cộng sản ngoại lai vào tuyên truyền áp đặt lên người dân miền Bắc bấy lâu nay, giờ đang tràn xuống xâm chiếm miền Nam và cái đám mệnh danh “trí thức” miền Nam cũng theo đóm ăn tàn, nối giáo cho giặc. Người ta nhắc và nhắc những kỷ niệm buồn đau, kèm theo những chuyến vượt biên hãi hùng, từ đường bộ đến đường biển, xác người vùi trong rừng sâu Campuchia, xác làm mồi cho cá mập trên biển cả và nhiều trẻ em, phụ nữ đã là nạn nhân của bọn hải tặc Thái lan dã man hung tợn… Hằng năm và hằng năm tiếp nối chắc không bao giờ kể hết chuyện.
Người ta hát những bài "Nhớ Về Sài gòn, Sàigòn Niềm Nhớ Không Tên, Sài gòn Vĩnh Biệt", nghe cũng buồn ray rứt dù nội dung lời ca thường là những cuộc vui chơi, ca hát ở vũ trường, và dù hiện tại người về Sài gòn hằng năm đông như đi chợ (?). Nhưng sao người ta cứ vẫn nhớ về Sài gòn nhỉ? Sài gòn làm gì có trọn Tháng Tư Đen năm ấy? Nghe nhiều người di tản vào Sài gòn, sau ngày “mất nước” trở về kể lại rằng cả tháng tư người dân Sài gòn vẫn còn chính phủ VNCH, người dân vẫn tự do đi lại, vẫn hát vẫn hò, vẫn ngồi uống cà phê vỉa hè, vẫn vào rạp REX xem xi-nê, có chộn rộn chăng là vì có một số người “lánh nạn cộng sản” từ các miền đất nước chạy về, khiến những người có thân nhân đang ở nước ngoài, những nhà giàu có, những người làm việc trực tiếp cho người Mỹ phải nôn nao chạy đôn chạy đáo tìm đường thoát ra khỏi nước và họ đã ra đi rất sớm trước ngày Tổng Thống (có quốc hội chuẩn nhuận) tuyên bố đầu hàng.
Và nhiều người còn thấm thía nỗi đau khi nghe được chính giọng nói của một người nhạc sĩ nổi danh (nay về bên kia thế giới rồi), đã tỏ lộ nỗi mừng vui khôn xiết, đã “hồ hởi-phấn khởi” tuyên bố ăn mừng trên đài phát thanh quốc gia vừa mới bị “tiếp quản”, và kêu gọi mọi người dân đừng bỏ…cộng sản để ra đi, hãy ở lại dựng xây đất nước với bọn chúng, rồi hăng hái hát suông bài “nối vòng tay lớn” của chính tác giả. Tiếc thay! “Em ra đi nơi này mất hết! ”. Sài gòn và cả nước mất hết, chứ không phải nơi này…vẫn thế mà “ngài nhạc sĩ” đã bênh vực cho chế độ mới và một số ca sĩ vẫn … lải nhải, tung hê!
Nhưng chắc chắn phải nhắc đến Sài gòn, vì Sài gòn là thủ đô của cả nước, nơi chính quyền đặt dinh cơ để điều hành guồng máy lãnh đạo đất nước, nếu thủ đô mất vào tay giặc, có nghĩa là đất nước, chính thể không còn nữa. Nhưng nếu nhắc đến tháng tư đen ngòm, phải nhắc đến những tỉnh, những vùng đã bị quân cộng sản chiếm trọn tháng Tư, như Nha Trang, thành phố biển thân yêu của chúng tôi, mới thấm thía được cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của ba chữ “Tháng Tư Đen”.
Người di tản tràn đến, từng đoàn người, từng đoàn xe từ Ban Mê Thuột, từ Phú Bổn, các tỉnh miền Trung đổ về vào những ngày giữa tháng Ba. Trường Nam tiểu học, nơi cô trò chúng tôi gặp gỡ hằng ngày, đã không còn bóng dáng học sinh, vì trường đã biến thành “trung tâm tiếp cư”. Các thầy cô giáo chạy đôn chạy đáo tìm thức ăn, gạo muối, quần áo, vật dụng cần thiết vv..vv... để phân phối, giúp đỡ những người đang xơ bơ, xấc bấc, lếch thếch, hốt hoảng buồn rầu đang ngồi ủ rủ trong các phòng học làm nơi tạm trú.
Một buổi chiều, vừa từ trường về, người bạn đã chạy ào vào nhà, và báo tin: cháu chị U đã chết cháy rồi. Tin thật buồn với sự chết chóc đã đến gần sát. Người vừa ra đi là một Pilot Trực thăng, và đơn vị đang hành quân ở Ban Mê Thuột. Tàu anh đã trúng đạn phòng không của địch quân, bùng cháy như cột lửa ở trên không. Chạy đến nhà chị U, nhìn chị và bà con trong nhà khóc than, cả bọn chúng tôi vừa đến cũng chụm đầu lại khóc.
Về nhà lại gặp một người bạn Không Quân tìm đến thăm, khi biệt đội của anh từ Cần Thơ, biệt phái ra để phụ giúp với các đơn vị bạn. Đáng lẽ ở căn cứ Pleiku, nhưng vì đơn vị trên đó cũng đã di tản, nên các anh lại kéo xuống phi trường Nha trang. Ngồi nghe Anh kể những bữa đổ quân khó khăn với quá nhiều phòng không địch, những chuyến hành quân tiếp tế, và đặc biệt là cứu “dân chạy loạn”. Từng đoàn người, đoàn người từ các tỉnh cao nguyên chạy về, phải đi bằng đường rừng, vì quốc lộ đã bị VC chiếm mất. Họ băng rừng, vượt suối bồng bế gánh gồng mà đi, có người đàn bà đã sanh rớt trên đường chạy loạn, may mà trực thăng đã nhìn thấy nên đáp xuống chở về nhà thương. Có hôm anh phải bay thật thấp để hướng dẫn đoàn người đi lạc trong rừng sâu có thể đi ra con đường mòn lớn hơn mà về được Khánh Dương.
Nhiều người đổ dồn về và cũng có lắm kẻ ra đi. Người Nha Trang cũng bắt đầu tìm đường tháo chạy, bằng máy bay, bằng xe hơi, xe hai bánh và chủ yếu là ghe thuyền đường biển.
Một vài ngày cuối tháng Ba, trung tâm tiếp cư đã vơi người, một phần người tị nạn có thân nhân đến đón về, một lớp nữa họ tiếp tục xuôi Nam, những Thầy cô giáo cũng xôn xao nhiều vì người đi kẻ ở,Từ làn sóng radio phát đi chương trình tiếng Việt BBC Luân đôn, cho tin quân dân miền Nam đang …thua xiểng liểng, quá nhiều nơi giặc chưa đến đã không còn người lãnh đạo? cơ sở bỏ tan hoang. Và đường phố Nha trang đã có một lớp người mới đến, họ “hung hăng, dữ tợn” vô cùng. Với súng đạn có sẵn trên tay, họ có quyền cướp xe, bắt phụ nữ và làm nhiều điều xấu, người ta bảo “họ là toán lính” vừa đổ bộ lên bờ từ tàu Hải Quân cặp bến cảng Cầu Đá? Chẳng ai dám ra đường thường xuyên nữa, trong số đó có tôi.
Tâm trạng hoang mang giữa đi và ở. Ở lại sẽ như thế nào trước tin đồn quân giặc quá dã man. đàn bà con gái sẽ bị “rút móng tay”, bị bắt đi làm “hộ lý” cho bộ đội, đàn ông con trai sẽ bị bắt đi tải đạn, nếu lính tráng bị bắt, mạng sống sẽ không còn, nhiều tin rất hãi hùng mà người thành phố phải để ý đến. Nhưng đi thì đi về đâu? bằng phương tiện gì, nơi chốn nào để đến, hay cũng lang thang lếch thếch như những đoàn người đang nối đuôi nhau trên Quốc Lộ số Một kia. Cuối cùng Ba Má tôi chọn giải pháp có chết thì cũng sẽ chết chung ở nhà mình, vì gia đình quá đông người, lại có thêm mấy gia đình bà con ở vùng ngoài chạy vào tị nạn, mặc dù cá nhân tôi đã được người bạn sẵn dành cho phương tiện để ra đi đêm cuối cùng của tháng ba khi đơn vị anh trở về căn cứ ở miền Tây...
Buổi sáng ngày một tháng Tư, sau khi đưa người anh trai, nguyên là sĩ quan đang làm việc tại bộ Tổng Tham Mưu, là một trong những thành viên của phái đoàn về Nha Trang dự họp với Tướng Phu mấy hôm trước. Cuộc họp không đi đến đâu và cuối cùng phải trở lại SG. Quang cảnh phi trường Nha trang hỗn loạn không thể tưởng tượng nổi, cổng đóng, Quân Cảnh cầm súng lăm lăm, có thể nã đạn vào ai đó bất cứ lúc nào, nếu không tuân thủ mệnh lệnh, người và người chen lấn nhau, người la kẻ khóc, lớp trong lớp ngoài. May quá, anh tôi vào được bên trong vì còn “sự vụ lệnh” và đang đi bên cạnh một ông quan lớn.
Tôi quay đầu xe trở về nhà mà lòng buồn khôn xiết, chán nản tột cùng. Vừa về đến nhà, đã thấy người bạn phi công phản lực vừa từ Phan Rang chạy về, anh hỏi tôi có muốn di tản theo anh không? vì không còn nhiều thời gian nữa. Tôi từ chối và đang nói lời chúc Anh trên đường về Sài Gòn được bình yên, thì người chị bà con xuất hiện, tôi đẩy chị lên yên sau xe cùng đi với anh, và “tặng” chị chiếc khăn quàng Hướng đạo Sinh tôi đang đeo trên cổ để chị làm kỷ niệm. Tôi nhìn theo mà mắt cay cay, miệng vẫn lầm thầm cầu nguyện cho hai chị em đến nơí an toàn, dù gì, chị cũng từng là “chị kết nghĩa” của anh ấy.
Mới tối qua, ngay phòng khách nhà tôi, vài ông Tá cấp cao, vài ông úy cùng ngồi “bàn chiến sự”. Họ trấn an ba má và gia đình tôi rằng: cả nhà đừng có lo, nếu có chuyện xấu xảy ra, thì “Đèo Cả” sẽ là lằn ranh Quốc Cộng, chia hai phần lãnh thổ như Bến hải ngày xưa. Chúng tôi biết đó là những lời nói…vô thưởng vô phạt, nói để có chuyện chứ họ cũng đâu biết gì hơn. Khi họ đi rồi, ruột gan tôi héo hon quặn thắt, nhất là mỗi khi nghe tiếng máy bay cất cánh rời xa dần phi đạo xé nát không gian, hay những tiếng trực thăng xành xạch rồi nhỏ dần về hướng biển…
Buổi xế chiều ngày một tháng Tư, một người anh họ mặc đồ Lính đến gõ cửa, anh vô nhà mà cánh tay đang quấn băng trắng dính đầy máu khô. Thì ra, lúc di tản từ ngoài Tuy Hòa vào, cả đơn vị bị thất lạc hết, anh bị trúng đạn, tìm đường về nhà tôi để buộc lại vết thương. Nhưng chưa ngồi yên chỗ, anh đã nhìn dáo dác và bắt gặp mấy chị em tôi đang ngồi ủ rũ, anh hét toáng lên: “Sao không tìm đường đi đi, bấy giờ ở dưới phố đang hỗn loạn lắm, cả một đám tù nhân hung dữ vừa phá cửa nhà tù và tràn ra đường cướp phá!”.
Cả nhà tôi thất kinh, chưa kịp có phản ứng gì, thì một người hàng xóm chạy về la toáng lên: “nhà ai có con gái lớn phải tìm cách trốn đi, cả một đám tù ở quân lao vừa mới tràn ra đường, họ đang tủa ra nhiều đường phố cướp phá đó...”
Không còn chần chừ nữa, ba tôi vội vàng dắt chiếc Honda 50 phân khối của tôi ra cửa, chiếc xe tôi vừa đưa anh tôi đi buổi sáng, vẫn còn đầy bình xăng, chị lớn tôi chạy đi xúc vài ký gạo, em tôi đi bốc vội vài bộ quần áo, cái mền, thế là 3 chị em phóng lên xe chạy vô Suối dầu, nơi ba má tôi có mảnh vườn trồng nhiều cây trái, với căn nhà nhỏ.
Trong cơn hỗn loạn, muốn tìm con đường sống, tiềm năng sức mạnh trong mỗi một con người đã thể hiện, vượt qua những sinh hoạt thường ngày mà không ai ngờ tới. Với cái xe nhỏ xíu, mang đến ba con người, thêm gối mền gạo mắm, vậy mà tôi phóng rất nhanh khi không có vật cản trên xa lộ số Một, rồi len lỏi, luồn lách qua một đoạn đường dài lên Thành với hằng hà sa số xe cộ từ xe GMC, xe Jeep, xe hàng, xe nhà, xe hai bánh đủ loại..… và một đoàn người gồng gánh, vai mang, gậy chống, võng khiêng… rồng rắn nối đuôi nhau. Họ âm thầm lặng lẽ lách qua đoàn xe đang nghẹt cứng trên đường.
Lách mãi, tôi cũng qua được đoạn đường Thành, đang dáo dác tìm lối lách nữa, bỗng nghe có tiếng gọi tên mình. Thì ra, nguyên cả một đoàn xe của Trung Tâm Huấn luyện Lam sơn cũng trong đoàn người di tản, và đang di chuyển nhích nhích nơi đây vì kẹt cây cầu đàng trước.
Chia tay với quí anh, những người đã từng đem mồ hôi và nước bọt để huấn luyện cho những tân binh trước khi ra chiến trường chống địch, giờ này cũng đang tham gia vào cuộc di tản vô trật tự, một cuộc “tháo chạy” mà không biết sẽ ra sao ngày sau?
Xe chạy và chen lấn mà chạy, qua ngang cầu Lùng, một cảnh tượng thương tâm xảy ra, một xe Honda 90 phân khối, hình như chở đến 7 con người ta lớn nhỏ(?), người tài xế bị lạc tay lái và ngã cái rầm, người văng tung ra, nhưng chẳng mấy ai chịu dừng lại để giúp đỡ người bị thương, có thể chết không chừng(?). Đoàn người cứ tránh qua mà chạy, coi như chẳng thấy gì. Tình nhân loại, lòng nhân ái đã “bị bỏ quên” khi chính mình cũng đang đi tìm lối sống? Hoá ra hình ảnh mấy hôm trước trên TV còn chiếu cảnh những người… đạp đầu nhau để tìm một chỗ ngồi trên tàu di tản là chính xác. “Mạnh được yếu thua” đang diễn ra mọi nơi mọi chỗ trên quê hương tôi? Và trong đó có cả chính bản thân tôi. Buồn thật!
Cơn mưa chiều hung bạo, xối xả tự nhiên đổ ập xuống. Mưa và gió đập rầm rầm vào mấy bức vách của căn nhà nhỏ, nơi chúng tôi vừa đến chẳng bao lâu. Những hạt nước mưa nặng nề rơi xuống như muốn cuốn trôi dùm nỗi uất nghẹn trong tim của những con người bất lực, đang thua chạy mà không biết tại sao mình bị thua? Nhìn ra đường, đoàn người ướt nhẹp vẫn lóp ngóp đi hai bên lề dưới cơn mưa, xe cộ vẫn chen nhau mà chạy, đoạn đường này ngoài những khu vườn trồng cây với căn nhà nhỏ để ở tạm, không có nhà cửa hai bên đường, nên người đi bộ không thể nào có chỗ núp mưa, nên họ cứ lầm lũi mà đi, như những đám ma trơi mùa tháng Bảy…(?)
Mưa tạnh bớt, một người nhà vườn bên cạnh chạy sang, họ yêu cầu chúng tôi góp tiền mua chiếu để chôn hai người vừa bị xe tông chết ở trên đường Quốc lộ. Thương thay hai người Lính đèo nhau trên chiếc xe Honda, và đã bị chiếc xe nào đó đụng phải, họ ngã xuống đường và chết liền tại chỗ, máu loang đỏ cả mặt đường trộn lẫn nước mưa, Dù sao hai người Lính này vẫn có được nén nhang cúng bái và nấm mồ dù chỉ đắp bằng đất, và cả tên tuổi ghi rõ bằng những mảnh gỗ đóng trên đầu mộ.
Sáng ngày 3 tháng Tư, ba tôi vào gọi các con về vì “quân giải phóng” đã vào chiếm thành phố Nha Trang hôm qua. Ba tôi nói có một nhóm người đã ra tận đèo Rù Rì để đón mừng(?) và hú hồn vì chúng tôi đã đi thoát đêm đó. Nếu ở lại nhà, không biết chuyện gì sẽ xảy ra, khi mà đám tù nhân hình sự, chuyên cướp của giết người, lẫn những người tù “bất trị” ở quân lao họ túa ra đường phố, đến phá cửa những nhà buôn nào họ nghĩ là có thể cướp được, nhà nào có con gái họ bắt để hãm hiếp. Về sau có nhiều người kể lại, các cô gái phải chui trốn ở những nơi dơ bẩn nhất, trên gác xép, dưới gầm giường, nhà xí v..v…Cũng hên là sau khi vơ vét được mớ tiền của thì họ bỏ đi, cùng lúc, những căn cứ quân sự, những cơ sở chính quyền, nhà dân bị bỏ trống, đã bị nhiều nhóm người khác nhau đến “hôi của” đốt phá. Thành phố đã hỗn loạn giờ thêm cảnh điêu tàn, nhếch nhác..
Bấy giờ mới thật sự là những ngày hãi hùng của “Tháng Tư Đen” khi bộ đội miền Bắc đã đem xe tăng vào thành phố. Những chiếc xe “Molotova” kềnh càng, lù lù chạy ngang chạy dọc trên đường, trên xe chở đầy những bộ đội mặc quần áo màu cứt ngựa và nón cối đội đầu, cả người và xe đều cắm đầy lá như những “cánh rừng “ biết đi. Người dân bình thường đứng nhìn bọn “khỉ rừng xanh” xuất hiện trong lo âu sợ hãi, trong khi những tên nằm vùng xuất đầu lộ diện ăn mừng chiến thắng (?).

Giọng nói “chanh chua–chát chúa- the thé- sắc lạnh” từ miền Bắc xa xôi nào đó truyền đi qua làn sóng đài Phát Thanh, với “bảy điểm của ủy ban quân quản” cứ làm người nghe rờn rợn, nổi gai ốc cùng mình. Những lúc ra đường gặp phải những bộ đồ màu cứt ngựa, đôi dép râu và cái nón cối mặt ngơ ngơ ngáo ngáo, nhìn xiêng nhìn xéo trầm trồ, nói chuyện với nhau bằng thứ giọng lơ lớ như người miền núi mà thở dài ngao ngán và tự hỏi: những người chiến thắng đây sao?. Mặc dù người thành phố đã cải dạng, quần áo thường ngày đã đem giấu kỹ, chỉ còn những bộ đồ đen đúa hoặc nâu đà, nhưng vẫn bị nhìn với cặp mắt soi mói, ác cảm.
Chuỗi ngày tiếp theo thành phố bị tắt ngúm đèn điện ban đêm, nhà nhà đóng kín cửa, leo lét ngọn đèn dầu. Tháng Tư Đen đúng nghĩa. Thành phố trống vắng, hoang lạnh tiêu điều. Mới hôm nào những con đường phố đông vui nhộn nhịp, những bộ quân phục từ các quân trường, từ nhiều đơn vị về đây, trai thanh gái lịch dìu nhau đi trên phố, trên bãi biển những buổi chiều lộng gió, phố xá sáng trưng, sinh hoạt tấp nập, giờ còn lại một thành phố chết, vắng hoe. Đã vậy những tiếng súng phòng không được đặt khắp nơi cứ bắn lên nổ rền trời, tiếng súng đại bác bay xé không trung, xé trời và xé cả lòng người. Buồn đau và sợ hãi là tâm trạng của những người dân trong thành phố, dù mọi sách báo, tài liệu, của cải hiếm quí đã đem dấu cất, phi tang.
Những tiếng máy bay ầm ĩ bay trở lại thả bom vào mỗi đêm, nơi đã bị bắt buộc phải treo cờ “Mặt Trận giải phóng miền Nam”. Những tiếng nổ long trời lở đất cứ dội lại, rền ra xa, những giấc ngủ chập chờn, khi trên đài phát thanh “quân giải phóng” ra rả loan tin “bọn Mỹ Ngụy” càng ngày càng thất trận. Lệnh của “uỷ ban quân quản” ban ra: “cách mạng sẽ khoan hồng nếu quân dân cán chính Mỹ Ngụy ra đầu thú”. Một người anh họ, chỉ là một “Cán bộ Xây Dựng Nông Thôn” của một xã ngoài Phú yên, chạy vào nhà tôi tạm trú, ba má tôi lo sợ đã bảo trốn đi vào Nam, nhưng vì nghe lời gia đình của vợ bảo ra trình diện sẽ được “khoan hồng”, bị “cách mạng dẫn độ” về Tuy Hoà và bị chặt đầu không chút nương tay. Ngày liệm xác phải chờ xin lại.. cái đầu bị chặt để ráp lại cho nguyên vẹn hình hài. Có người thanh niên ăn trộm vặt vì đói quá, bị “bộ đội” bắt đem ra bãi biển “xử tử” để làm gương, dù người bị mất cắp năn nỉ van xin bộ đội khoan hồng đừng xử bắn. Nhưng những con người vô cảm vẫn thi hành mệnh lệnh. Người dân thành phố cảm nhận được nỗi mất mát tột cùng nhưng không biết làm gì hơn.

Những Thầy Cô giáo như chúng tôi, vào những ngày sau đó, buổi sáng bị bắt buộc phải trở lại trường để “học tập chinh trị”. Nhưng buổi chiều, cứ khoảng hai giờ là leo lên xe đạp, đèo theo chiếc mùng và vắt cơm nguội, đạp xe lên tận trên Thành, hoặc khu Đại điền xin ngủ nhờ qua đêm, chọn những gia đình có “hầm trú ẩn”. Vì cha mẹ già sợ bom đạn từ máy bay “Mỹ Nguỵ” của đám “giặc lái” trở về thả bom, tai bay hoạ gửi chẳng biết đâu mà tránh.
Dù đã đi khỏi thành phố, nhưng nhiều khi đang ngủ chập chờn, còi báo động rú lên liên hồi, dai dẳng đến rợn người, thế là ba chân bốn cẳng phải chạy chui vội xuống hầm, ngồi bó gối chờ cho đến sáng, khi biết chắc rằng “máy bay Nguỵ” không còn trở lại thăm viếng tặng bom.
Hỡi ơi! Khi “tháo chạy”, những người “có thẩm quyền” đã không chịu hủy bỏ những gì cần hủy, như tài liệu văn phòng, những hồ sơ cần thiết, hay những cây cầu chiến lược để xe giặc khỏi đi qua. Giờ đã lọt vào tay giặc, họ ra lệnh đem bom về thả chính nơi họ vừa mới bỏ ra đi. Thành phố như đã chết, giờ càng ghi đậm thêm nỗi chết, khi quá nhiều nơi “ăn” bom đạn của chính quân mình, từ ngoài xóm Bóng, đến đường Tô hiến thành, và cả ngôi trường thân thương của chúng tôi cũng lãnh nhiều quả đạn. Gia đình một người ”chạy giặc” chưa kịp tìm phương tiện trở về lại quê xưa, thì người vợ trẻ và đứa con trong bụng đã chết tức tưởi ngay trong phòng học vì quả đạn trúng sập căn phòng .
Buổi sáng trên đường đi đến trường để dọn xác chết và gạch ngói ngổn ngang, chiếc xe đạp cà tàng của chị bạn bị đứt dây sên, hai chị em vừa dắt xe chạy mà vừa khóc vì đường vắng đến lạnh người, lại tủi thân, xót phận của người bỗng chốc thành kẻ thua cuộc, lại phải đi ngang qua khúc quanh trước cửa trường Nữ trung học, nơi có ba xác chết nằm sấp đó thật hôi thối, mà chưa có người dọn dẹp khiêng đi mai táng….
Thú thật hồi đó cứ mỗi một đống gạch vụn khiêng đi đổ, là khiêng đổ cả mồ hôi và nước mắt, nhưng đã giữ lại trong tôi nỗi đau và sự tức giận đối với những người vừa là bạn, là phe mình mới hôm qua. Những quán ăn Thọ Lộc, Hoài Linh còn ấm cái ghế ngồi, chẳng lẽ hôm nay đã trở thành…thù địch?. Thương và giận luôn giằng co theo từng bước chân đi. Bao nhiêu ngày của Tháng Tư Đen, là ngần ấy ngày chúng tôi sống trong lo âu sợ hãi, khủng hoảng tinh thần. “Cách mạng” luôn đưa người đến tận nhà “bắt buộc” các thầy cô giáo phải đến trường, nhưng có lúc mới đi đến giữa đường đã phải chạy về vì tiếng súng phòng không nổ đụp đụp liên hồi. Mãi đến khi trên làn sóng đài phát thanh chát chúa oang oang “Mặt trận lâm thời giải phóng miền Nam thông báo là quân dân ta đã chọc thủng chốt cản của Mỹ Ngụy tại phi trường Phan Rang và đang tiến nhanh theo gót bọn chúng đang tháo chạy…” thì không còn nghe tiếng ù ù của “những chuyến bay đêm!. Nhưng ngoài nỗi đau, sự hoang mang sợ hãi giờ mang thêm niềm thất vọng tột cùng.
Ôi Tháng Tư Đen! đời đen như cục than đen bắt đầu từ những ngày tháng đó. Cho đến một ngày cuối tháng Tư cả nước cùng nghe chung một tiếng loa của “phe thắng trận” với “đại thắng mùa Xuân”! Những ngày mà “đôi dép râu dẫm nát đời son trẻ, nón tai béo che khuất nẻo tương lai ”bắt đầu một chế độ mới. Tiếp theo là những ngày ăn cơm độn với gạo mục, bo bo, mì sợi, với mỗi tháng một cái tem phiếu đi cửa hàng lương thực chờ chực cả ngày mới mua được vài ký rau muống….. Người thì bị đi tù mút chỉ không biết ngày ra, quá nhiều gia đình ly tán. Người tuổi trẻ bị bắt vào đội “thanh niên xung phong” lên rừng chặt cây lồ ô, đi lao động khổ sai tiếp diễn, chịu bao nỗi khổ ảỉ đắng cay. Đã vậy thêm lớp người mới mang băng đỏ, chuyên đi lùng sục bắt bớ những người “chưa chịu tuân thủ” lệnh của chính quyền mới, vào nhà vơ vét tài sản của dân lấy cớ tịch thu “sản phẩm đồi trụy của Mỹ Nguỵ” đã tạo thêm nỗi kinh hoàng cho những người dân vừa bị đổi chủ…, những tháng ngày không thể nào quên, và mãi mãi không dễ gì quên….
Lê Thị Hoài Niệm
- Details
- Category: Chuyện 30.4
- Hits: 815
Phan Đức Minh

“Nhìn lai quá khứ gian lao để biết yêu quý hiện tại và tin tưởng ở tương lai.” (Một triết gia Tây Phương)
Ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư lại đến. Chúng ta hãy cùng nhau nhìn lại, dù chỉ là thoáng qua, những diễn tiến đưa đến biến cố lịch sử đau thương, một mất mát lớn lao ở mức độ kinh hoàng cho Nam Việt Nam, mà tất nhiên, không thể nào nói lên hết bằng vài ba trang giấy….
- Ngày 6-1-1975: Tỉnh Phước Long và Thị Xã Phước Bình, cách Sài Gòn 60 dặm về phía Bắc, rơi vào tay quân cộng sản Bắc Việt. Sau “Mùa Hè đỏ lửa” từ vùng địa đầu giới tuyến Quảng Trị, năm 1972, Phước Bình là thị trấn đầu tiên của Nam Việt Nam bị quân cộng sản đánh chiếm. Không Quân VNCH thiệt hại 20 máy bay trong công cuộc bảo vệ Tỉnh Phước Long. Nhiều máy bay bị bắn hạ bằng hoả tiễn SA-7 của Liên Xô.
Sự thiếu vắng phản ứng quân sự của Hoa Kỳ càng xúi giục cộng sản làm tới vì các chiến lược gia của cộng sản biết rằng đã đến lúc Hoa Kỳ phải rời bỏ Việt Nam. Bộ Chính Trị của Đảng CSVN và Tổng Bí Thư Lê Duẩn lúc bấy giờ, quyết định tăng cường các cuộc tấn công trên tổng nổi dậy vào năm 1976. Cộng sản chỉ dám mong điều đó xẩy ra vào năm 1976 mà thôi.
- Ngày 28-1-1975: Tổng Thống Hoa Kỳ, Gerald Ford yêu cầu Quốc Hội tăng thêm quân viện cho Nam Việt Nam và Campuchia với ngân khoản 522 triệu Mỹ Kim vì lúc này Tổng Thống Ford được biết quân cộng sản Bắc Việt đã có mặt tại Nam Việt Nam tới mức 289,000 người. Xe tăng, trọng pháo, hoả lực phòng không, do Liên Xô và Trung Quốc chi viện rất hùng hậu. Để giữ vững “một tiền đồn chống cộng” ở Đông Nam Á Châu thì ngân khoản 522 triệu đôla có là bao so với những năm trước đó là vài tỉ đôla 1 năm. Thế nhưng cũng không xong. Người ta đã phải bỏ cuộc mà ra đi cho rồi…
- Ngày 5-2-1975: Đại Tướng Bắc Việt Văn Tiến Dũng vào Nam để chỉ huy quân đội cộng sản.
- Ngày 10-3-1975: Quân Bắc Việt, với những Sư Đoàn thiện chiến, với phương tiện chiến tranh hiện đại của Liên Xô và Trung Quốc , tấn công Ban Mê Thuột từ ngày 10-3. Ba ngày sau, quân cộng sản tràn ngập thị trấn này, trong khi những trận đánh lớn khác bùng nổ trên mặt trận Cao Nguyên Trung Phần.
- Ngày 14 -3 -1975: Sau khi họp bàn với một số Tướng Lãnh và nhân vật thân cận (?), Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, bỏ vùng cao nguyên Trung Phần và các Tỉnh phía Bắc của Nam Việt Nam. Các Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn 2, Phạm Văn Phú, và Quân Đoàn I, Ngô Quang Trưởng, ngỡ ngàng, sửng sốt, không biết tại sao lại bỏ những vùng đất quan trọng, cửa ngõ, quyết định sự sống chết của Nam Việt Nam vào lúc này, chưa đánh nhau chi cả, trong khi các lực lượng chiến đấu của 2 Quân Đoàn (Army Corps) Việt Nam Cộng Hoà rất hùng mạnh, sẵn sàng đọ sức với quân đội cộng sản. Mất Ban Mê Thuột đâu có nghĩa là phải mất luôn cả Quân Khu I và Quân Khu 2! Ông Thiệu làm như thế để gây áp lực với chính phủ Mỹ: phải quyết tâm tăng cường viện trợ mọi mặt cho Nam Việt Nam, nếu không thì ” Tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á Châu của Mỹ” là Nam Việt Nam sẽ sụp đổ.

Ông Thiệu không hiểu rõ về người bạn đồng minh khổng lồ của mình! Tại sao?
- Bởi vì người Mỹ đã tìm cách tháo lui khỏi cái “Vũng lầy Việt Nam” để ra đi một cách ít phũ phàng, ít mất mặt chừng nào hay chừng đó, sau khi ông Cố Vấn An Ninh Quốc Gia của Tổng Thống Mỹ, Henry Kissinger, đã cố dọn đường, mở lối cho Tổng Thống Richard Nixon sang Trung Cộng nói khéo với Mao Trạch Đông vào năm 1972, qua sự dàn xếp của Tổng Thống Hồi Quốc Yahya Khan. Mao Trạch Đông với sức mạnh đàn anh, từng viện trợ, cố vấn tích cực cho cộng sản Hà Nội, đã ép cộng sản Hà Nội bớt ương ngạnh, ngưng chơi trội và bắt bí Mỹ ở Hội Nghị Paris, diễn ra tại Salle de Conférence Kléber.
Trong vụ này, Mỹ được chút lợi lộc là ký được cái “Hiệp Định Ngưng Bắn – Agreement of Cease-Fire” để tháo lui có văn bản đàng hoàng, mà phe cộng sản coi như mớ giấy lộn, chẳng có giá trị gì cả, để tránh cái cảnh quân Mỹ tháo lui bỏ chạy vô tổ chức, nhưng trong đó Mỹ phải bấm bụng làm lơ, không được nói năng chi tới cái chuyện quân Bắc Việt đã vào Nam cả mấy chục Sư Đoàn (Divisions) rồi.
Tội vạ đổ lên đầu người bạn đồng minh VNCH hết cả. Phái đoàn VNCH phản đối mấy cũng hoài hơi mà thôi vì “Xếp” đã chơi đòn “tháu cáy” rồi thì ráng mà chịu cho quen. Dân nhược tiểu chơi với anh bạn khổng lồ là vậy!
Việc Mỹ làm cú đi đêm (Furtive Conspiracy) liên kết với Trung Cộng để chống Liên Xô thì kể như 2 bên cùng có lợi, nhưng riêng phần Trung Cộng thì lời to: Trung Cộng nhẩy vào ngồi cái ghế “Hội viên thường trực – Permanent Member” của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, với quyền phủ quyết (Veto) đáng giá cả… tỷ, tỷ Mỹ kim, đánh văng ông Quốc Dân Đảng Trung Hoa ra Đài Loan mà chơi, mặc dầu Trung Cộng đánh thắng và đã kiểm soát lục địa Trung Hoa từ năm 1949.
Thêm cái lợi nữa là chính quyền Nixon phải lén lút, dấu diếm bán vũ khí tối tân cho Trung Cộng để chống Liên Xô mà không được cho ai biết hết, nhất là Liên Xô, kể cả Quốc Hội, Dân Chúng và Báo Chí Mỹ nữa.
Đó! Mỹ đã tìm cách tháo lui bằng mọi giá, với thế bị đánh bại rồi thì ông Thiệu bỏ 2 Quân Khu 1 và 2, chớ ông ó bỏ luôn cả Quân Khu 3, Quân Khu 4 và Biệt Khu Thủ Đô, bỏ hết miền Nam Việt Nam chăng nữa, Mỹ cũng chẳng bao giờ dại dột quay đầu trở lại để cứu Nam Việt Nam. Nếu nói là cứu thì cứu hết sức từ 1965 đến 1973, với 58 ngàn quân nhân Mỹ hy sinh, mấy ngàn người mất tích, hàng trăm ngàn bị thương, hàng triệu người đau khổ, tiền bạc tốn kém biết bao nhiêu tỉ, mà đâu có cứu nổi! Nay trong lúc đã tan hàng, bỏ chạy thì còn cứu cái nỗi gì nữa đây? Rút mau chừng nào hay chừng đó!
Đại quân cộng sản đã từng chiếm đóng thành phố Huế trong dịp Tết Mậu Thân 1968, đã từng đánh chiếm Quảng Trị và kiểm soát hoàn toàn Thị Trấn An Lộc trong “Mùa Hè Đỏ lửa” 1972 mà có Quân Khu nào bị mất, phải bỏ chạy đâu? Trái lại, Quân Lực VNCH đã phản công một cách vô cùng anh dũng, để giành lại những địa điểm chiến lược đã rơi vào tay giặc. Thế thì tại sao mới mất có Ban Mê Thuột mà phải bỏ Quân Khu I, trong khi Danh Tướng Ngô Quang Trưởng của “Mùa Hè Đỏ Lửa” 1972, từng được thế giới biết đến và kính phục, luôn luôn nắm vững tình hình Quân Khu của ông, trong khi Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Khu 2, phải lớn tiếng cự lại Tổng Thống Thiệu trong hệ thống liên lạc Vô tuyến Siêu Tần Số, dù ông biết rằng làm như thế là có thể mất lon, phải ra trước Toà Án Quân Sự Mặt Trận. Tướng Phú đang sẵn sàng chờ địch tiến đánh Pleiku, vì ông biết rằng, đánh thì chưa chắc đã chết, nhưng tự dưng bỏ chạy thì chắc chắn cả lính lẫn dân đều phải chết bi thảm trong cảnh hỗn loạn, dưới những làn mưa bão pháo binh, hoả tiễn của cộng sản, tự do hoành hành mà không gặp sức chống trả.
Năm ngày sau, khi quân đội và dân chúng đang tháo chạy một cách thê thảm, hỗn loạn thì ông Thiệu lại ra lệnh cho Tướng Ngô Quang Trưởng là phải “Tử thủ thành phố Huế”. Tướng Ngô Quang Trưởng trả lời không thể nào làm được vì trước đó 5 ngày, ông Thiệu đã hạ lệnh rút bỏ Quân Khu I, quân đội và cả triệu dân chúng hỗn loạn rút chạy suốt 5 ngày rồi, làm sao mà trở lại vị trí cũ, tổ chức, phối trí lực lượng để mà “tử thủ Huế!”
-Ngày 24-3-1975: Thấy tình thế thuận lợi, cộng sản Hà Nội quyết định chính thức mở màn “Chiến dịch Hồ Chí Minh,” giao cho Tướng Văn Tiến Dũng một “thời khoá biểu” phải kịp thời đánh chiếm hoàn toàn Nam Việt Nam trước khi mùa mưa bắt đầu vào Tháng Năm. Muốn vậy, quân Bắc Việt phải vào chiếm Sài Gòn chậm nhất là tuần lễ cuối cùng của Tháng Tư, trước khi quân đội miền Nam có thể tái phối trí lực lượng hầu bảo vệ Sài Gòn và Quân Khu 4 ở miền Tây.
- Ngày 25-3-1975: Vào lúc này, dân chúng đông tới hàng triệu người. Họ không quên cảnh cộng sản tàn sát tập thể dân chúng cũng như viên chức chính quyền, nhân vật Đảng Phái vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968, nên kéo nhau tràn xuống thành phố Đà Nẵng, lúc đó đang bị quân cộng sản tấn công từ xa bằng hoả tiễn 122 ly của Trung Cộng và đại bác 130 ly của Liên Xô.
Ông Thiệu còn ra lệnh: Không giữ được Huế thì cũng phải cố mà giữ lấy vùng duyên hải Đà Nẵng, coi như vị trí chiến lược làm đầu cầu cho quân đội Mỹ đổ bộ lên, một khi chính quyền Mỹ quyết định trở lại cứu vớt VNCH, đương đầu với cuộc xâm lăng đại quy mô của cộng sản. Tới lúc này mà còn hy vọng Mỹ trở lại cứu VNCH thì làm sao cho Tướng Ngô Quang Trưởng tuân lệnh được đây!
Hạ Viện Hoa Kỳ biểu quyết dự luật cấm các hoạt động quân sự của Hoa kỳ trên toàn lãnh thổ Đông Nam Á Châu. Dự luật này được lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua ngày 21-9-1973. Kế theo đó, ngày 12-10-1973, Lưỡng Viện lại thông qua dự luật hạn chế quyền của Tổng Thống Mỹ trong việc đưa quân đội Hoa Kỳ ra ngoại quốc (sau bài học cay đắng tại Việt Nam).
- Ngày 29-4-1975: Cộng sản chiếm thành phố Đà Nẵng, đang rối loạn, mà chẳng tốn một viên đạn nào. Dân chúng tìm mọi cách thoát khỏi vùng này bằng mọi giá, chấp nhận chết chóc, đau đớn chia lìa trong máu và nước mắt…
Kẻ viết bài này kẹt lại Đà Nẵng, rồi cùng bạn bè đi tù cải tạo, vì trước đó phi đạo Đà Nẵng bị hoả tiễn Trung Cộng cầy nát, không sử dụng được nữa, trực thăng không có, tầu Hải Quân VNCH từ trong Nam kéo ra bãi biển Mỹ Khê, Quận 3 Đà Nẵng cứu nạn, nhưng đủ thứ người trốn chạy cộng sản giành nhau leo lên tầu bằng đủ mọi cách đã gây nên cảnh kinh hoàng, người già, trẻ con rơi xuống biển như những chiếc lá mùa thu.
Kẻ này phải vỗ vai Đại Úy Từ Khánh Sinh, Quản Đốc Quân Lao Đà Nẵng, cựu Đại Đội Trưởng nhẩy dù: “Không đi bằng cách này được! Mấy đứa trẻ này sẽ chết hết!“ Đại Úy Sinh kiếm được tay Nghĩa Quân, đàn em, hắn lôi cái thuyền nhỏ xíu dìm dưới nước lên và tính chuyện ra khơi, lên tầu Mỹ. Ngay tức khắc, hàng chục mũi súng AK của du kích địa phương đã chĩa vào cái thuyền: thuyền ra là bắn hết! Cả 2 chúng tôi cùng đi tù cải tạo với nhau nơi rừng sâu, núi thẳm ghê người!
Riêng phần mình, tôi làm luôn một lèo đi tù cải tạo 12 năm, 4 tháng 16 ngày, qua năm cái trại tù, trong khi bạn bè cùng cảnh ngộ thường chỉ bị giam giữ 5, 7, 9 năm là ra về…Thật là kinh khủng! Tôi đã từng sống trong nhà tù của Pháp, từng đi thanh tra trại tù của VNCH, coi trại tù của Mỹ qua truyền hình, báo in, báo điện tử, nhưng chưa thấy có thứ trại tù nào ghê gớm, kinh khủng, ác ôn, tàn bạo như nhà tù của cộng sản…
Điều an ủi cho tôi là trước đó chỉ non một ngày, nhân danh sĩ quan cấp chức cao nhất của 2 Tòa Án Quân Sự Mặt Trận Quân Khu I và Toà án Quân Sự Thường Trực Đà Nẵng còn có mặt, tôi ra lệnh mở cửa nhà tù, phóng thích vô điều kiện tất cả mọi quân phạm, bất kể sĩ quan hay hạ sĩ quan, binh sĩ, tiểu hay đại hình, xếp hàng, cứ 10 người một chạy ra khỏi Quân Lao, về lo chuyện gia đình trước họa cộng sản đang tràn đến… Ai cũng có thân nhân, gia đình, ai cũng là người cả!
- Ngày 6 đến 15-4-1975: Hai Trung Đoàn thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh VNCH cùng với Lữ Đoàn nhẩy dù được đổ xuống phi trường Phan Rang vào ngày 6 để hy vọng đánh trận phản công. Cộng sản thấy hơi khó ăn vì ngán quân nhẩy dù nên để cho tình hình yên tĩnh ba ngày. Thế là Lữ Đoàn nhẩy dù được bốc đi Xuân Lộc là nơi đang có trận đánh lớn giữa Sư Đoàn 18 Bộ Binh VNCH dưới quyền chỉ huy của Tướng Lê Minh Đảo với hai Sư Đoàn quân Bắc Việt. Thay thế cho Lữ Đoàn nhẩy dù thiện chiến, người ta đưa tới đó một đơn vị Biệt Động Quân. Lập tức quân cộng sản cho xe tăng T-54 của Liên Xô ào ạt tiến vào, chọc thủng phòng tuyến Phan Rang và chiếm đóng vùng này không khó khăn.
- Ngày 7-4-1975: Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính Trị Cộng Sản, tới tổng hành dinh quân cộng sản ở Miền Nam, đóng tại Lộc Ninh để xem xét tình hình và quyết định kế hoạch cho giai đoạn chót của cuộc đánh chiếm miền Nam. Lúc này, cộng sản đã kiểm soát được 2/3 lãnh thổ Nam Việt Nam.
- Ngày 8 đến 21-4-1975: Sư Đoàn 18 Bộ Binh VNCH do Tướng Lê Minh Đảo chỉ huy, chống giữ oanh liệt trước sức tấn công vũ bão của hai Sư Đoàn cộng sản nhằm tiến chiếm Sài Gòn bằng cách phá vỡ phòng tuyến cuối cùng này.
Một Trung Đoàn thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh và Lữ Đoàn nhẩy dù từ Phan Rang được đưa vào tăng viện. Tướng cộng sản Văn Tiến Dũng phải tung vào mặt trận này hai Sư Đoàn nữa là bốn Sư Đoàn tất cả để hòng dứt điểm càng sớm càng tốt. Đánh chiếm miền Nam mùa Xuân năm 1975, đây là mặt trận duy nhất quân cộng sản gặp sức chiến đấu dũng mãnh, oanh liệt của quân đội VNCH. Cộng sản phải dùng số quân 4 đánh 1.
- Tướng Lê Minh Đảo chỉ huy trận đánh Xuân Lộc – trong lúc thế mạnh mọi mặt đang ở phía chính họ. Tướng Homer Smith, tùy viên Quốc Phòng Mỹ tại Sài Gòn, ngày 13, đã gửi 1 bức điện văn cho Tướng George S. Brown, tham mưu trưởng Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ ca ngợi ý chí và tinh thần chiến đấu can đảm, dũng mãnh tuyệt vời của Quân Đội VNCH, dù những bất lợi đang đè nặng lên vai họ. Tướng Smith, sau khi theo dõi cuộc chiến đấu tại Xuân Lộc, đã nói: “Sự dũng cảm và chiến đấu anh hùng của quân chính phủ Miền Nam, kể cả địa phương quân tỉnh Long Khánh đã chứng tỏ họ chiến đấu giỏi hơn đối phương của họ rất nhiều…” Nếu Ông Nguyễn Văn Thiệu không ra lệnh bỏ 2 Quân Khu 1 và 2 ngay từ lúc chưa đánh nhau chi cả thì quân đội miền Nam Việt Nam sẽ có biết bao nhiêu trận đánh oanh liệt như thế này, và nếu chính quyền Mỹ không cố ý bỏ chạy khỏi Việt Nam thì làm sao cộng sản chiếm nổi Nam Việt Nam một cách dễ dàng như đã xẩy ra để cho quân đội và dân chúng miền Nam phải lâm cảnh khốn cùng như đã thấy trên khắp mọi ngả đường đất nước.
Cuối cùng phòng tuyến Xuân Lộc chỉ rơi vào tay quân cộng sản, đông đảo và hỏa lực mạnh gấp 4 lần, vào ngày 21-4-1975, khi Tướng Tư Lệnh Quân Khu 3 VNCH không muốn hy sinh trong thế tuyệt vọng, cả 1 Sư Đoàn 18 Bộ Binh anh dũng, thiện chiến trong hoàn cảnh bất lợi về tất cả mọi mặt nên đã ra lệnh cho Sư Đoàn này rút khỏi phòng tuyến đang trấn giữ.
- Ngày 21 đến 25-4-1975: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bị áp lực từ nhiều phía phải tuyên bố từ chức, chuyển giao quyền hành cho Phó Tổng Thống Nguyễn Văn Hương để ra ngoại quốc, bỏ lại đằng sau: quê hương, chiến hữu và đồng bào của ông, là những gì thiêng liêng mà ông đã từng long trọng tuyên đọc lời thề khi nhậm chức tổng thống, cũng như trong các dịp quốc lễ là sẽ sống chết bảo vệ đến hơi thở cuối cùng.
- Ngày 23-4-1975: Tại Hoa kỳ, Gerald Rudolph Ford – tổng thống thứ 38, người duy nhất không hề được dân chúng, cử tri bầu, dù là chỉ một phiếu) nói “Chiến tranh Việt Nam kể như chấm dứt.” Dư luận hiểu rằng chính quyền Mỹ lúc đó đã buông tay và… tháo chạy bằng mọi giá, trong khi Liên Xô và Trung Cộng hồ hởi, phấn khởi là đã hoàn thành nhiệm vụ “Dứt điểm tiền đồn chống cộng cuả Mỹ tại Á Châu.”
- Ngày 28-4-1975: Bị áp lực nặng nề cũng từ nhiều phía, Tổng Thống Trần Văn Hương phải trao quyền hành cho tướng 4 sao Dương Văn Minh, người đã đóng vai chính trong vụ đảo chính lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm Tháng Mười Một năm 1963, để cho chính quyền Mỹ đổ quân tác chiến vào Nam Việt Nam và lãnh đạo cuộc chiến tranh ở đây theo kiểu “chiến tranh nhà giầu của Mỹ” nhưng hoàn toàn vô hiệu đối với kiểu “chiến tranh nhân dân – People’s War” không có mục tiêu, không trận tuyến, lẫn lộn với nhân dân của cộng sản.
Cộng sản không mạnh bằng Mỹ về vũ khí chiến tranh nhưng với tinh thần cuồng tín, liều mạng và hầu như luôn giữ thế tấn công trên các mặt trận, trong khi Mỹ quá mạnh nhưng luôn ở trong thế thụ động với các mục tiêu, đồn bót, nên thế thuận lợi lại luôn nghiêng về phía cộng sản.
Có những chiến lược gia danh tiếng của thế giới đã nêu câu hỏi: Mỹ có muốn và dám thắng trong cuộc chiến tranh này không?
- Nếu muốn và dám thắng, không e sợ Liên Xô và Trung Cộng, thì tại sao không giành lấy thế tấn công từ tay cộng sản? Tại sao không vừa phòng thủ ở miền Nam và đồng thời dư sức tấn công ồ ạt ra vùng hậu phương Bắc Việt của cộng sản?
Sức mạnh Không Quân, Hải Quân vô địch của Mỹ, cùng các loại hỏa tiễn tối tân yểm trợ cho một lực lượng Lục quân, gồm Bộ Binh, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh chọn lọc của Mỹ và VNCH là dư sức đánh phá tan hoang các căn cứ quân sự, cơ sở chính quyền, kho tàng… không phải toàn bộ thì cũng là khắp vùng phía Nam Bắc Việt, cái hậu phương đang nuôi sống lực lượng cộng sản đã tràn vào miền Nam, tiếp tế nguồn sức mạnh tinh thần cho đạo quân xâm lược này. Miền Bắc bị bỏ trống gần như hoàn toàn, giao cho bộ đội “chủ lực miền – regional forces” trấn giữ. Mất hậu phương miền Bắc, cơ quan lãnh đạo cộng sản cùng với dân chúng miền Bắc không ngờ, lâm cảnh rối loạn hơn cả miền Nam thì lúc đó Liên Xô, là chính yếu và Trung Quốc liệu có cứu nổi miền Bắc hay không?
Thêm nữa, sau này, nhiều cựu phi công Mỹ từng lái phản lực cơ chiến đấu, viết sách, viết trên báo chí để chia sẻ nỗi đau buồn là: họ như đã bị trói tay sau lưng khi chiến đấu tại Việt Nam, không được phép thắng trận: họ thấy rõ xe cộ của cộng sản từng đoàn trên đường mòn Hồ Chí Minh, chuyển chở quân lính, vũ khí nặng, tiếp tế quân nhu thiết yếu cho chiến trường miền Nam, mà không được phép tấn công tiêu diệt, để cho cộng sản dễ dàng tiếp tế sức mạnh vào miền Nam, tiêu diệt chính quân đội Hoa Kỳ và bạn đồng minh VNCH.
Năm 2000, trở về thăm quê hương, phố phường, làng xóm cũ ở miền Bắc một lần duy nhất, kể từ khi bắt đầu xa cách Tháng Mười Một, 1946, tôi có nhiều dịp trò chuyện tâm tình với người thân ruột thịt đã và đang giữ những chức vụ quan trọng trong Đảng, về chính trị, quân sự cộng sản thì được hiểu một sự thật là: sự đánh phá của không quân Hoa Kỳ và Nam Việt Nam chỉ mới xẩy ra trong thời gian ngắn, và ở mức độ như vậy, để làm áp lực bắt cộng sản Hà Nội giữ thái độ đàng hoàng, nghiêm chỉnh trong cuộc “Hòa đàm ở Paris” mà hàng ngũ lãnh đạo cộng sản cấp Trung ương, thành thị đã rối tinh, rối mù, chưa có định hướng rõ ràng để bảo vệ an toàn lãnh thổ cũng như dân chúng hoảng loạn, bất ngờ, rất nguy hại cho cuộc chiến đấu trường kỳ đã tăng tới điểm cao nhất, có thể nổ tung lên bất cứ lúc nào. Nếu việc tấn công bằng không lực Mỹ và Nam Việt Nam chỉ ở cường độ đó nhưng kéo dài liên tục 1 tháng nữa thì không ai biết được cục diện của miền Bắc sẽ đi đến đâu.
Trở lại vấn đề, Tướng Dương Văn Minh lên làm tổng thống theo đúng với sự sắp xếp của Hà Nội, qua trung gian của người em ruột Dương Văn Nhựt, sĩ quan cao cấp của cộng sản, đã có liên lạc với Dương Văn Minh từ hồi Tướng Minh được Ông Diệm cho thăng trung tướng sau khi Tướng Minh đánh tan các lực lượng giáo phái vũ trang ở miền Tây. Chuyện đó bại lộ. Tướng Minh, vì có công trạng, và Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ, người bà con, cùng quê quán xin cho, nên được hai ông Diệm, Nhu tha tội, chỉ bị mất chức cầm quân, ngồi ghế Tổng Thanh Tra hữu danh nhưng vô thực.
Tổng Thống “đầu hàng” Dương Văn Minh luôn luôn phải nhận lệnh qua điện thoại với Ông Thích Trí Quang, một nhân vật trong hàng lãnh đạo tôn giáo, người gốc Bắc Việt, đã được cộng sản sử dụng vào vị trí “chuyên viên tôn giáo vận tử năm 1946,” hai lần bị Tây bắt từ hồi chiến tranh Việt-Pháp vì tình nghi hoạt động cho Việt Minh cộng sản, người đã lãnh đạo dân chúng đấu tranh tôn giáo lật đổ Ông Ngô Đình Diệm, đấu tranh tôn giáo chống chính quyền Thiệu – Kỳ – Có hồi 1966 ở Miền Trung Việt Nam.
Cuối cùng ông bị Tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ, với cương vị thủ tướng, cho quân đội và quân cảnh từ trong Nam ra dẹp tan, bắt ông Thích Trí Quang cùng nhóm thân cận, nhốt lại, dẹp yên chuyện đấu tranh rối loạn lung tung, làm nát bét xã hội miền Nam, hoàn toàn chỉ có lợi cho cộng sản.
Tướng Dương Văn Minh, một tướng đánh giặc giỏi nhưng hoàn toàn không biết gì về chính trị, lại nhẩy ra làm tổng thống trong giai đoạn nước sắp mất, với một cổ hai tròng, nhận lệnh từ hai nơi (cả ông Thích Trí Quang lẫn đại diện cộng sản Hà Nội đều hứa hẹn với ông những điều tốt đẹp) thì làm được cái gì đây? Ông Minh làm tổng thống chỉ làm được có mỗi một việc: theo lệnh của cộng sản, đã chiếm xong dinh Độc Lập, lên tiếng tuyên bố “đầu hàng vô điều kiện” mà thôi.
Ôi! Giây phút xót xa, đau đớn cho biết bao nhiêu tâm hồn, nhất là những người quốc gia đã bao năm quyết tâm chống cộng sản Hà Nội để giữ vững Nam Việt Nam. Tôi cùng nhiều sĩ quan thân thiết xung quanh, hai tay ôm lấy mặt, nén chặt trong lòng, trong tim cho tiếng khóc đau xót khỏi bật ra, trong lúc đang bị tạm giam tại trại tập trung Vĩnh-Điện, Quảng Nam cùng với hàng chục ngàn người trong hoàn cảnh tan hàng, thua trận, bị cầm tù một cách đau buồn và tủi nhục.
Năm 1951, với tuổi 20, đang đi kháng chiến chống Pháp, tôi bị Tây bắt ở Huyện Tiên Hưng, Thái Bình lần thứ hai, đem về tập trung ở sân vận động tĩnh Thái Bình, rồi đưa về giam ở Nhà Máy Rượu, thành phố Nam – Định mà có sao đâu, coi là chuyện thường vì đấu tranh cho đại cuộc là như thế, không thấy đau buồn tủi nhục bằng hơn 20 năm chống cộng sản, bị cộng sản cầm tù, đưa đi cải tạo, rồi phải theo lệnh bộ đội cộng sản, dí súng vào sau lưng, bắt vỗ tay hoan hô khi nghe Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng… Thế là nước mất, nhà tan, đau buồn, uất hận vì… mất hết! mất hết! mất cả thể xác lẫn tâm hồn.
Xin trở lại:
Rạng sáng Ngày 30 Tháng Tư, quân cộng sản tiến vào Sài Gòn, vẫn còn gặp vài ổ kháng cự lẻ tẻ. Dương Văn Minh cứ yên trí theo bài bản đã nhận được từ “cấp trên” qua điện thoại, ra đón tiếp quân “giải phóng” và sau đó “xin bàn giao chính quyền.” Viên đại tá chỉ huy quân cộng sản lúc đó quát vào mặt Dương Văn Minh: “Các anh còn cái gì nữa vào lúc này mà đòi bàn giao? Chỉ có chấp nhận đầu hàng vô điều kiện mà thôi!” Đại Tá cộng sản Bùi Tín (sau bỏ đi Pháp) lúc đó giữ vai chính ủy bên cạnh viên đại tá chỉ huy quân giải phóng, vào Dinh Độc Lập. Bùi Tín khôn ngoan, nhỏ nhẹ hơn nên nói: ” húng tôi chấp nhận việc đầu hàng của các ông. Các ông không có chi phải sợ cả. Người Mỹ là kẻ xâm lăng đã bị đánh bại. Nếu các ông là những người yêu nước thì hãy coi giờ phút này là niềm vui chung của dân tộc, và trên đất nước của chúng ta, chiến tranh đã chấm dứt.”
Buổi sáng hôm đó, Dương Văn Minh bị dẫn giải đến Đài Phát Thanh để tuyên bố đầu hàng.
Chiến tranhchấm dứt, đất nước thống nhất nhưng dân chúng miền Nam không vui mừng, sung sướng, hạnh phúc mà lại xô nhau chạy đi mọi ngả, tìm cách thoát chạy khỏi chính quê hương, đất nước của mình để tránh họa cộng sản, bất kể mọi gian nguy, bị giết chóc, cướp bóc, hải tặc hãm hiếp, quăng xác xuống biển.
Chính quyền mới truy lùng, tiêu diệt, bắt bớ những kẻ đã phục vụ cho chế độ cũ, nhân vật đảng phái chính trị, tống họ vào những trại tập trung cải tạo ở các vùng rừng núi âm u, hiểm hóc, cách biệt hẳn với xã hội loài người. Nam Bộ là cái túi đựng người quá đông đảo mà lại không có rừng núi thích hợp cho việc thiết lập các trại cải tạo, vừa an toàn lại tiện cho việc khai thác có lợi nhiều cho nên cộng sản mới phải đưa số đông “kẻ thù” của họ ra Bắc, tống lên các trại cải tạo vùng Thượng Du Bắc Việt.
Cán bộ cộng sản từ lớn đến nhỏ, ngơ ngáo nhìn Sài Gòn và Nam Việt Nam trong cảnh xác xơ, buồn thảm nhưng vẫn không làm mất, không che dấu được sự phồn thịnh, phát triển quá cao so với thiên đàng hay địa ngục Bắc Bộ.
Cộng sản lớn nhỏ thi nhau vơ vét tài sản của kẻ bỏ chạy, của nhân dân Miền Nam “tay sai Mỹ Ngụy” đem về Bắc như những chiến lợi phẩm của một cuộc chiến thắng oai hùng. Sau này, có cơ hội tiếp xúc với người thân ở Bắc Việt Nam, từng giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy chính quyền cộng sản thời gian này, tôi được biết mật lệnh của cộng sản Hà Nội lúc đó có những điểm rất kinh khủng: bắt nhốt hết mọi kẻ có khả năng chống cự, nổi dậy sau này, tịch thâu mọi loại vũ khí có tầm sát hại tập thể hay cá nhân, khi có dấu hiệu hay mầm mống biến động thì tất cả những kẻ ít nguy hiểm nhất cũng phải tập trung cải tạo.
Vì thế khi Trung Cộng tràn vào đánh phá 6 Tỉnh miền Bắc Việt Nam ngày 27 Tháng Hai, 1979 để “dạy cho cộng sản Hà Nội một bài học” thì ngay ngày hôm sau, tất cả mọi sĩ quan giải ngũ lâu hay mau, không đi cải tạo sau 30-4-1975, cũng phải nhốt đầu lại hết. Cán bộ, nhất là công an phải tìm cách dụ dỗ vợ con, làm áp lực để phá tan các gia đình sĩ quan đã đi cải tạo để lấy hết, vét hết, không cho lực lượng sĩ quan khi trở về, còn có thể làm chi được nữa, chỉ còn lo miếng cơm ăn cũng không nổi.

Thân phận của một đất nước nhỏ bé đã có “Ngàn năm nô lệ giặc Tầu – Trăm năm nô lệ giặc Tây” nhưng cũng có 900 năm độc lập, tự chủ, sau trận đánh thắng lẫy lừng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng, đánh bại đạo quân xâm lược khổng lồ của nhà Nam Hán, lúc này lại như thế đó!
Đất nước Việt Nam cuối cùng chỉ là bãi chiến trường để hai phe đối nghịch ý thức hệ quốc tế tiêu thụ vũ khí chiến tranh và thử nghiệm chính sách: chính sách ngăn chặn (containment policy) của Mỹ chống lại chủ nghĩa bành trướng (expansionism) của phong trào cộng sản quốc tế. Có bao giờ những nhà lãnh đạo Hoa Kỳ dám nghĩ rằng: Một ngày nào đó Hoa Kỳ phải chịu sự thua trận đầu tiên trong lịch sử, với cái giá quá cao, thê thảm như vậy không? Thê thảm đến nỗi Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, Graham Martin, suýt nữa thì không kịp ôm lá cờ “Bách chiến bách thắng” chui vào phi cơ trực thăng để tháo chạy hay không?
Thật là đau đớn! Tuy nhiên, ở đây tôi cũng xin nói lên lời ghi ơn ông Đại Sứ Martin đã cương quyết và khéo léo chống lại kế hoạch của Hoa Thịnh Đốn lúc đó muốn di tản 6 – 7 ngàn người Mỹ, bị kẹt lại ở Sài Gòn vào lúc quân cộng sản chuẩn bị vào làm chủ vùng đất này, theo phương cách: đưa Thủy Quân Lục Chiến Mỹ vào Sài Gòn giữ vòng đai an ninh quanh khu vực Tòa Đại Sứ để phi cơ trực thăng từ Hạm Đội Thái Bình Dương liên tục bốc người Mỹ và một số nhân viên làm việc cho Tòa Đại Sứ và các cơ sở phụ thuộc của Mỹ mà thôi, không cho dân chúng Sài Gòn, Nam Việt Nam dính ké vào vụ di tản kinh hoàng này.
Ông Đại Sứ Martin khôn ngoan và ít nhiều nhân đạo, chống lại quyết định của Hoa thịnh Đốn với lý luận: sĩ quan, quân lính Nam Việt Nam còn đông đảo tại Sài Gòn và vùng phụ cận với tâm trạng tức giận lẫn bàng hoàng, họ còn đủ các loại vũ khí lớn nhỏ trong tay. Nếu người Mỹ di tản theo cách ích kỷ và tàn nhẫn đó thì những chiếc trực thăng cất cánh bay lên lập tức sẽ bị bắn hạ như trái cây chín rụng và cuộc chiến đẫm máu, tàn khốc giữa những chiến binh Nam Việt Nam còn lại và thủy quân lục chiến Mỹ bắt buộc phải xẩy ra, Sài Gòn và dân chúng vô tội sẽ lãnh nhiều hậu quả không cách nào lường trước được.
Giới truyền thông của Mỹ, trước và sau ngày Miền Nam sụp đổ, đa số sa vào mê hồn trận của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, bị ảnh hưởng của phong trào phản chiến do Đảng Cộng Sản cò con ở Mỹ chủ trương và lãnh đạo, đánh giá Quân Đội VNCH qua hình ảnh những ngày rút quân, bỏ chạy tán loạn do lệnh của ông Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.
Báo chí và nhiều nhân vật chính quyền Mỹ bị mặc cảm lần đầu tiên thua trận, mặc dầu là quân đội hùng mạnh, vượt trội về mọi mặt hỏa lực, phương tiện chiến tranh, nhưng lâm vào cái thế khó khăn, rối loạn khi phải đối đầu với cái thứ chiến tranh không trận tuyến rõ ràng, quân địch lẫn lộn với dân chúng, mục tiêu tìm chẳng ra, cho nên đã không tiếc lời đổ hết mọi tội lên đầu Quân Đội VNCH là thiếu tinh thần chiến đấu.
Họ đâu có biết Quân Đội VNCH chiến đấu trong hoàn cảnh khắc nghiệt ra sao, chiến đấu không ngưng nghỉ, phương tiện thiếu thốn chớ đâu có được chiến đấu trong hoàn cảnh “nhà giầu” như quân đội Mỹ ở Việt Nam lúc đó, được bảo vệ, yểm trợ một cách gần như tuyệt đối.
Họ đâu có biết chính quyền của ông Johnson ở Hoa Thịnh Đốn đổ quân vào Việt Nam, hòng tiêu diệt cộng sản ở đây trong vòng ba năm, nhưng lại làm cái việc kỳ quái, mà chỉ có giới tài phiệt Mỹ mới hiểu được. Đó! Bán hoặc cho cộng sản Liên Sô và các nước cộng sản chư hầu thực phẩm, máy điện toán, dụng cụ, hoá chất, động cơ máy bay phản lực, máy Radar, nhà máy chế tạo xe cộ, súng đạn, để rồi tất cả những thứ đó lại đổ lên quân cảng Hải Phòng, đem vào chiến trường Miền Nam để giết lính Mỹ và VNCH! Chỉ có Trời mới hiểu nổi!
Quân Đội VNCH nói chung, đã chiến đấu rất anh dũng, kiên cường, bất chấp mọi trở ngại, khó khăn, thiếu thốn. Miền Nam sụp đổ, nhiều Tướng Lãnh: Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng… và nhiều sĩ quan cao cấp khác đã tự sát trong khung cảnh vô cùng oanh liệt, chưa từng có trong quân đội một quốc gia nào trên thế giới.
Họ không chịu đầu hàng hay để bị bắt làm tù binh. Hàng triệu quân nhân, viên chức chính phủ, nhân vật đảng phái chính trị bị nhốt vào các trại tù cải tạo khổng lồ nơi rừng thiêng, nước độc, dân chúng ồ ạt bỏ nước ra đi, bỏ hết tài sản, không kể sống chết, thảm họa kinh hoàng trên biển cả… là những vấn đề vượt quá khả năng và tầm tay của người Việt Miền Nam chúng ta. Chỉ có các Đấng thiêng liêng, chỉ có lịch sử mới hiểu được mà thôi!
*****
Điều đáng mừng cho chúng ta là càng ngày, dân chúng Hoa Kỳ cũng như thế giới loài người càng hiểu ra sự thật của cuộc chiến tranh Việt Nam (mà có những nhà chính trị, giáo sư đại học lẩm cẩm kêu là cuộc nội chiến, tức là người Việt Nam đánh lộn với nhau) một bài học đắt giá, quý báu cho người Việt Nam, cho siêu cường quốc Hoa Kỳ và tất cả các quốc gia nhược tiểu khác trên thế giới. Nước nhỏ yếu mà chỉ biết trông cậy, giao tất cả vận mệnh dân tộc mình vào tay một nước lớn mạnh khác lo hộ hoàn toàn thì nhiều chuyện nguy hiểm bắt buộc sẽ phải đến.
Cho đến ít lâu sau, Tháng Ba, 2006, một số các nhân vật chính trị, các giáo sư sử học, chính trị học mới tụ họp nhau lại ở Boston để tìm ra phần nào những sai lầm, thiếu sót của chính quyền Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam, như đã nói sơ lược ở trên, trong khuôn khổ hạn hẹp của một bài báo, không phải là một cuốn sách, hầu cải thiện tình trạng bế tắc, hiểm nghèo, sa lầy của cuộc chiến tranh tại Iraq giữa một siêu cường quốc (superpower) hàng đầu của thế giới loài người với một quốc gia nhỏ bé, tầm thường, đã bị thương nặng trong cuộc chinh phạt thần tốc (lighting-speed expedition) của lực lượng đồng minh, dân chủ, tự do mà chính yếu là Hoa Kỳ, vào năm 1991 trong vụ trừng phạt Iraq xâm lăng Kuwait, cái mỏ dầu hỏa béo bở của vùng Trung Đông.
Chúng ta có quyền hy vọng ở tương lai: thế hệ trẻ Việt Nam, những người yêu nước trong cũng như ngoài nước, với trình độ kiến thức, hiểu biết rộng rãi về “Tiến trình của nhân loại – Process of Human Society,” hiểu biết về khoa học, kỹ thuật, nhất là với niềm tự hào của một dân tộc tuy nhỏ bé, gần như suốt đời này qua đời khác, luôn luôn bị xâm lăng, thống trị dã man, tàn bạo, nhưng không bao giờ đánh mất niềm tin vào Tổ Quốc, từng có những trang sử oanh liệt của Ngô Quyền, Lê Lợi, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung Nguyễn Huệ… sẽ mãi mãi muôn đời có mặt trong cộng đồng thế giới tự do, tiến bộ và thật sự văn minh.
Tài liệu tham khảo
* The Death of a Nation. – John A. Stormer. – Liberty Bell Press. – Missouri – 1978.
* The World Almanac of The Vietnam War -John S. Bowman (General Editor). – Bison Books Corp, New York. 1985.
* Vietnam – The History & The Tactics. Ashley Brown & Adrian Gilbert.- Orbis Publishing Limited, London –1982.
* Kennedy. – Theodore Sorensen. – Harper & Row. New York – 1965.
* Henry Kissinger’s Diplomacy. – Simon & Schuster. New York, 1994.
* A Book of U.S. Presidents – George Sullivan – Scholastic Incorporation, New York – 1984.
San Diego, California
Phan Đức Minh
- Details
- Category: Chuyện 30.4
- Hits: 795
Trọng Đạt
---oo0oo---

Sơ lược tình hình
Tháng 8/1949 Nga Sô có bom Nguyên Tử nhờ ăn cắp tài liệu Mỹ, họ giúp Mao Trạch Đông đánh thắng Quốc Dân Đảng và chiếm trọn nước Tầu, Nga không còn sợ Mỹ và giúp Trung Cộng gây cuộc chiến Triều Tiên từ tháng 6/1950 tới tháng 7/1953.
Nga và Mao giúp Việt Minh thành lập 5 Sư đoàn chính qui từ 1950 tới 1951, họ trở thành quân tốt của CS Quốc tế dưới danh nghĩa giành độc lập. Quân Đội Quốc Gia được thành lập cuối năm 1949, lương bổng do Chính phủ trả tượng trưng còn lại do Viện trợ Mỹ đài thọ, các công sở Pháp được trao trả dần dần cho Việt Nam, dưới áp lực Mỹ Pháp đã phải trả độc lập từ từ.
Cuối tháng 10-1950 Mỹ vội viện trợ quân sự cho Pháp 300 triệu đô la, Hàng không mẫu hạm Mỹ chở tới Sài Gòn 40 máy bay Hellcat cho Pháp. Người Mỹ can thiệp vào Cuộc chiến Việt Nam từ 1949, 50 nhưng gián tiếp, năm 1953 Mỹ giúp Pháp 50% quân viện, năm sau 1954 viện trợ Mỹ tăng lên 78%.
Sau Hiệp Định Geneve 1954, Quân Pháp rút vào Nam dưới vĩ tuyến 17 rồi về nước trong hai năm sau. Chính phủ Mỹ giúp miền Nam thành lập Quân Đội Quốc Gia mà sau năm 1956 gọi là Quân Đội VNCH. Cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960 Cuộc chiến miền Nam hãy còn là du kích, sang năm 1964 miền Nam có đảo chính , bên Nga sô chính phủ ôn hòa của Thủ Tướng Khrushchev bị lật đổ, Brezhnev lên thay giúp Hà Nội tích cực hơn trước.
Năm 1964, 65 lợi dụng tình hình chính trị miền Nam bất ổn, Hà Nội đưa nhiều trung đoàn chính qui vào tấn công mạnh, VNCH có nguy cơ sụp đổ. Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tướng Westmoreland, Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara đều nói nếu Mỹ không đưa quân vào thì miền Nam sẽ mất trong vòng 6 tháng.
Giữa năm 1965 TT Johnson bắt đầu đưa quân vào VN, số quân được tăng dần cho tới 1968 lên tới hơn nửa triệu trong khi Cộng sản Bắc Việt cũng gia tăng xâm nhập, Lê Duẩn chấp nhận lấy sinh mạng 15, 20 cán binh để giết một người lính Mỹ, đẩy mạnh phong trào phản chiến. TT Johnson có nhiều sai lầm, trước hết thay vì phải Việt Nam hóa chiến tranh từ 1965, 66 ông lại bắt lính quân dịch, đẩy họ ra mặt trận .. nên số tử ngày càng tăng do Lê Duẩn thí quân để giết một lính Mỹ và đẩy mạnh phong trào phản chiến.
Tới năm 1968 số tử phía Mỹ lên tới 35 ngàn, CSBV chết hơn nửa triệu (1), cuộc chiến của Johnson là cuộc chiến tranh Giới hạn Limited war, không cho vượt biên giới đánh qua Miên lào, không dám oanh tạc mạnh BV vì sợ Trung Cộng và Nga leo thang chiến tranh nên đã không dứt điểm được cuộc chiến. Mặc dù Mỹ có thắng lợi nhiều về quân sự, gây tổn thất rất nặng cho địch khoảng trên mấy trăm ngàn người nhưng đầu năm 1968, trận Mậu Thân đã làm tiêu tan hy vọng chiến thắng. Người dân Mỹ không còn kiên nhẫn và chống đối rất mạnh, đòi chính phủ phải rút khỏi VN, gió đã đổi chiều.
Đầu năm 1969, tân Tổng thống Nixon tìm hòa bình trong danh dự, cuộc chiến có phần tàn khốc hơn trước nhưng không phải để thắng CS mà để chấm dứt chiến tranh rút bỏ Đông Dương vì phản chiến đã lên tột đỉnh. Tác giả George Donelson Moss (trong Vietnam, An American Ordeal) gọi cuộc chiến của Nixon là A war to end a war, một cuộc chiến để chấm dứt chiến tranh.
Nixon được Johnson để lại căn nhà dột nát khi phong trào phản chiến lên quá cao, các cuộc biểu tình năm 1969, 70 đi tới chỗ bạo động đổ máu và mọi kế hoạch quân sự không thể thực hiện được. Cuối tháng 1/1973, Hiệp định Paris được ký kết, mục đích của Mỹ để rút hết quân lấy tù binh về nước, phía CSBV chờ Mỹ rút hết để Tổng tấn công chiếm miền Nam, họ mở xa lộ Đông Trường Sơn vận chuyển vũ khí và gia tăng xâm nhập để hoàn thành giấc mộng xâm lăng.
Sau khi ký Hiệp định khoảng một năm, Quốc Hội Dân chủ Mỹ bắt đầu cắt giảm quân viện VNCH mỗi năm khoảng 50%: Từ 2,1 tỷ tài khóa 1973 xuống còn một tỷ tài khóa 1974 và xuống còn 700 triệu tài khoá 1975, con số này thực ra chỉ bằng 500 triệu vì dầu thô lên giá, tiền mất giá (2). Quyết định cắt giảm ô nhục của Quốc Hội đưa tới tình trạng thê thảm, theo tiết lộ của ông Cao Văn Viên (3) hậu quả là năm 1974 không quân đã phải cho hơn 200 phi cơ ngưng bay vì thiếu nhiên liệu, giảm số giờ bay yểm trợ, huấn luyện 50%, thám thính giảm 58%, phi vụ trực thăng giảm 70%. Hải quân cũng cắt giảm hoạt động 50%, 600 giang thuyền các loại nằm ụ.
Đạn dược chỉ còn đủ đánh tới tháng 4 /1975, năm 1972 ta xử dụng trên 69 ngàn tấn đạn một tháng, từ tháng 7/1974 đến tháng 3/1975 ta chỉ còn xử dụng khoảng 19 ngàn tấn một tháng hoả lực giảm 70%. Tháng 2/1975 chỉ còn đủ đạn tất cả các loại súng cho 30 ngày, tháng 4/1975 chỉ còn đủ đạn đánh trong khoảng hai tuần (Sách đã dẫn trang 92). Trung Tướng Trần Văn Minh, cựu Tư lệnh không quân cho biết máy bay thiếu cơ phận thay thế, thiếu nhiên liệu cất cánh nên phần nhiều năm ụ.
Trong khi ấy theo Kissinger (4) Hà Nội đã xin được viện trợ của Sô viết tăng gấp bội. Tháng 12/1974, một viên chức cao cấp Nga viếng Hà Nội lần đầu tiên kể từ sau ngày ký Hiệp định Paris, Tổng tham mưu trưởng Nga Viktor Kulikov tới tham dự họp chiến lược với Bộ chính trị BV, nay họ bãi bỏ hạn chế trước đây. Sô Viết đã chở vũ khí viện trợ quân sự cho Hà Nội tăng gấp 4 lần trong những tháng sau đó. Nga khuyến khích BV gây hấn.
Cuộc chiến VN là một cuộc chiến viện trợ tiếp liệu, cả hai bên đều không tự sản xuất được vũ khí đạn dược mà phải tùy thuộc vào quân viện nước ngoài, bên nào nhiều tiếp liệu, vũ khí đạn dược thì bên đó thắng.
Tình hình tháng 3 tới giữa tháng 4/1975
Cuối tháng 3 năm 1975 Quân Khu I hoàn toàn thất thủ, Quân khu 2 chỉ còn Phan Rang và Phan Thiết (trong tổng số 12 tỉnh), đến ngày 4/4 hai tỉnh này được sáp nhập vào Quân khu III. Trên thực tế cả hai Vùng I và II coi như đã mất vào tay CSBV, các Sư đoàn chủ lực của Quân khu II và Quân khu I phần tan rã, phần đã bị thiệt hại nặng nề tới 1/2 hay 2/3 lực lượng.
Cuộc triệt thoái Cao Nguyên đã khiến cho trên 75% chủ lực của Quân đoàn II bị tan rã, Sư đoàn 23 BB và 7 Liên đoàn Biệt Động Quân mất gần hết quân số. Sư đoàn 22BB vùng duyên hải giao tranh dữ dội với các Sư đoàn BV cuối tháng 3 tại Bình Định, khi được tầu Hải Quân đến cứu tại Qui Nhơn chỉ còn khoảng 2,000 người. Toàn bộ xe tăng và đại bác bị bỏ lại. Các Sư đoàn cơ hữu 1, 2, 3 của Quân đoàn I và Sư đoàn TQLC đã bị thiệt hại nặng trên đường triệt thoái, 90 ngàn chủ lực quân của Quân đoàn chỉ có 16 ngàn được tầu vớt chở về miền Nam trong đó khoảng 6,000 TQLC (45% quân số của Sư đoàn)
Vì TT Thiệu sai lầm cho tái phối trí lực lượng đã làm cho tình hình xấu đi một cách nhanh chóng tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Cộng chiếm nốt phần đất còn lại của miền Nam. Lần đầu tiên trong chiến tranh Đông Dương hai Quân đoàn cùng triệt thoái giao lại đất cho địch.
CSBV bèn chớp thời cơ tập trung toàn bộ lực lượng tấn công chiếm Sài Gòn, họ dốc toàn bộ lực lượng vào cái gọi là “Chiến dịch Hồ chí Minh lịch sử”. Trong chiến dịch tháng 3/1975, Bắc Việt đưa vào hai Quân khu I và II tổng cộng 14 Sư đoàn bộ binh, nay thấy thời cơ đã tới họ đưa nốt 3 Sư đoàn Tổng trừ bị ở ngoài Bắc (thuộc Quân đoàn I CSBV) vào cộng với trên mười Trung đoàn độc lập và đặc công đã đưa lực lượng tham gia chiến dịch này lên tới khoảng 20 Sư đoàn bộ binh chưa kể sự yểm trợ của hơn hai chục Trung đoàn xe tăng, pháo binh, phòng không, công binh, chúng được võ trang đến tận răng.
Tài liệu CS (hồi ký Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa Xuân) cho biết tại phiên họp ngày 25/3, Bộ Chính Trị Trung ương đảng khẳng định thời cơ chiến lược mới đã đến. Hà Nội có điều kiện sớm hoàn thành cuộc Tổng tiến công xâm lược, tập trung các lực lượng binh khí kỹ thuật giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa. BV hối hả chuyên chở bằng cả ba phương tiện đường thủy, đường bộ, đường hàng không để chuyển vận vũ khí, quân nhu, nhân lực … đánh một ván bài chót.
Tài liệu CS (hồi ký Văn Tiến Dũng, các Chương XI, XII, XIII) cho biết Quân khu 5 của BV tổ chức một đoàn xe chở thẳng vào Nam bộ đạn dược tiếp liệu cũng như chiến lợi phẩm vừa lấy được của VNCH, đoàn xe do Thiếu Tướng Võ Thứ, phó Tư lệnh Quân khu V chỉ huy. Trong khi ấy các sân bay Gia Lâm, Vĩnh Phú, Đồng Hới, Phú Bài, Đà Nẵng, Kontum…nhộn nhịp khác thường, các loại máy bay lên thẳng, vận tải, chở khách đều được huy động để chở người, súng đạn, vũ khí, chở sách báo phim ảnh, tranh, nhạc .. mà còn chở hàng tấn bản đồ Sài Gòn Gia Định vừa in xong ở xưởng in Bộ Tổng Tham Mưu tại Hà Nội. Các bến sông Hồng, sông Gianh, sông Mã, sông Hàn và các bến cảng Hải Phòng, Cửa Hội, Thuận An, Đà Nẵng ngày đêm nhộn nhịp. Các mặt hàng quân sự được bốc xếp kịp thời lên các đoàn tầu vận tải của Bộ Giao Thông vận tải và tầu Hải Quân nhân dân để đưa vào Nam. Hà Nội huy động hết mọi phương tiện thủy bộ, hàng không để chuyển ra mặt trận một số lượng quân đội và vũ khí lớn chưa từng có.
Ngày 4/4/1975 Phan Rang và Phan Thiết được sáp nhập vào Quân khu 3. Tại Phan Rang lực lượng VNCH gồm 2 Trung đoàn bộ binh 4 và 5 thuộc Sư đoàn 2, 1 lữ đoàn Dù, 1 liên đoàn Biệt Động Quân, 4 tiểu đoàn Địa Phương quân, Sư đoàn 6 Không quân, Hải quân gồm 2 khu trục hạm, một giang pháo hạm, một hải vận hạm. Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi Tư lệnh tiền phương Quân đoàn III đóng tại Tháp Chàm.
Phan Rang phố xá vắng tanh, dân di tản về Phan Thiết rất nhiều, ngày 14/4 Việt Cộng tấn công tuyến phòng thủ Phan Rang tại phi trường, một tiểu đoàn Dù đụng độ Việt Cộng, địch bỏ xác hàng 100 tên. Ngày 15/4 Phó Thủ tướng đặc trách Quốc phòng Trần văn Đôn và Tướng Toàn thị sát mặt trận. Khi phái đoàn vừa về thì Việt Cộng tấn công mạnh, địch tăng cường Sư đoàn 325 và nhiều chiến xa. Quân đội VNCH phản công dữ dội nhưng không thể chống lại lực lượng địch quá đông phải rút lui, Trung đoàn 4 và 5 tan rã. Khuya ngày 16/4 chỉ có 200 người thoát vòng vây, các sĩ quan thuộc Bộ tư lệnh tiền phương và Sư đoàn 6 Không quân bị bắt hết, các đơn vị của VNCH tại đây coi như tan rã, BV chiếm được 40 máy bay tại Phan Rang.
Hai hôm sau ngày 18/4 Phan Thiết cũng bị lọt vào tay Cộng quân.
Quân đoàn 4 CSBV gồm các đơn vị đã chiếm QK II VNCH theo Quốc lộ 1, Quốc lộ 20 tiến về Sài Gòn, gần giao điểm của hai Quốc lộ này là Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh cách Sài Gòn 60 cây số, Xuân Lộc giữ vị trí quan trọng bảo vệ phi trường Biên Hoà.
Phạm vi trách nhiệm của Sư đoàn 18 BB là Long Khánh, phụ trách an ninh phía Bắc căn cứ Long Bình, Quốc lộ 15 và căn cứ Không quân Biên Hoà. CSBV huy động Sư đoàn 6, Sư đoàn 7, Sư đoàn 341, Sư đoàn 1, Sư đoàn 325, Trung đoàn biệt lập 95B.
BV đánh Xuân Lộc nhằm các mục tiêu
- Tấn công tuyến phòng thủ then chốt phía đông như Xuân Lộc, Bà Rịa, Vũng Tầu.
- Kéo lực lượng VNCH ra ngoài để tiêu diệt, mở cửa lớn để vào Sài Gòn.
- Thu hút lực lượng VNCH vào phía Đông để đưa các lực lượng khác tới Bắc và Tây Bắc Sài Gòn.
Sư đoàn 18 VNCH và CSBV hỗn chiến dữ dội từ sáng 9/4 cho tới ngày 15/4 khi chiến đoàn 52 bị BV tràn ngập. Sáng ngày 16/4 Tướng Toàn cho lệnh thả 2 trái bom Daisy Cutter tại Bắc Gầu Giây tiêu diệt nhiều đơn vị bộ binh, thiết giáp, pháo binh địch. Ngày 20/4 Tướng Toàn bay trực thăng vào Xuân Lộc gặp Tướng Đảo bàn kế hoạch lui binh. Sư đoàn 18BB rút lui vào lúc đêm vừa đánh vừa rút, giữ trật tự bình tĩnh, tối 20/4 Trung đoàn 48 về đến Long Giao đặt pháo binh yểm trợ tổng quát cho cuộc lui binh, sau đó truyền tin, công binh, pháo binh, quân y… rút theo. Sư đoàn 18 thiệt hại 30% quân số, Địa phương Quân và Nghĩa Quân bị thiệt hại nặng
Từ ngày 8/4/1975 Lê Đức Thọ chủ toạ phiên họp tại Lộc Ninh với các cán bộ thuộc Trung ương Cục miền Nam và Bộ Tổng tham mưu CS. Thọ tuyên bố thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch giải phóng Sài Gòn Chợ Lớn, Tư lệnh Đại Tướng Văn Tiến Dũng, Chính ủy Phạm Hùng, Phó Tư Lệnh Thượng Tướng Trần Văn Trà. Bộ Tư lệnh bàn kế hoạch đánh chiếm Bộ TTM, dinh Độc Lập, Bộ Tư lệnh Biệt Khu Thủ đô, Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, Phi trường Tân Sơn Nhất.
Những ngày cuối tháng Tư đen 1975
Ngày 21/4, ông Nguyễn Văn Thiệu từ chức Tổng Thống tại dinh Độc Lập để rồi mấy hôm sau lên máy bay ra khỏi nước.
Phó Tổng Thống Trần văn Hương lên thay, trong khi ấy các nhà ngoại giao quốc tế ra sức vận động hai bên để tránh cho Sài Gòn khỏi trở thành bãi chiến trường. Mấy hôm sau Cộng quân bắn 4 trái hoả tiễn 120 ly vào Khánh Hội làm cháy mấy chục căn nhà. Đài BBC nói BV cảnh cáo chính phủ Trần Văn Hương phải bàn giao cho một chính quyền do họ chỉ định, người ta hiểu ngay đó là nhóm chính khách thứ ba do ông Dương Văn Minh lãnh đạo. Ngày 27/4 lưỡng viện Quốc Hội nhóm họp để biểu quyết việc trao quyền cho Dương Văn Minh.
Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn Tư lệnh Quân đoàn 3 VNCH tổ chức phòng thủ Sài Gòn trên 5 tuyến chính với khoảng cách tới trung tâm thành phố xa hơn tầm pháo của đại bác 130 ly VC đồng thời bảo vệ các căn cứ quan trọng tại Biên Hoà, Củ chi, Lai Khê, Long Bình. (5)
Phía Tây Bắc là Tuyến Củ Chi với Sư đoàn 25 BB và hai Liên đoàn 8, 9 Biệt động quân. Tuyến Bình Dương ở phía Bắc với Sư đoàn 5 BB. Tuyến Biên Hoà phía Đông Bắc với Sư đoàn 18 BB và lực lượng Xung kích Quân đoàn III. Tuyến Vũng Tầu và Quốc Lộ 15 do Lữ đoàn 1 Dù cùng với một Tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 3 BB và các đơn vị Thiết giáp, Địa phương quân, Nghĩa quân của Tiểu khu Phước Tuy phụ trách. Tuyến Long An phía Nam ngoài lực lượng Địa phương quân, Nghĩa quân cơ hữu còn có Sư đoàn 22 BB phụ trách cộng với sự tăng cường của Trung đoàn 12 thuộc Sư đoàn 7 BB, Trung đoàn 14 thuộc Sư đoàn 9 BB và Liên đoàn 6 BĐQ.
Năm tuyến phòng thủ chính của VNCH cũng trùng với 5 hướng tấn công của năm Quân đoàn CSBV: Hướng Tây Nam là Đoàn 232, (Tư lệnh Trung Tướng Lê Đức Anh, Chính Uỷ Thiếu Tướng Lê Văn Tưởng) với các Sư đoàn 3, 5, 8, 9 BB và Sư đoàn 27 đặc công cộng với 4 Trung đoàn độc lập 16, 24, 88, 71 và Trung đoàn phòng không tiến từ sông Vàm Cỏ Đông và Hậu Nghĩa. Quân đoàn 3, (Tư lệnh Thiếu Tướng Vũ Lăng, Chính Uỷ Đại Tá Nguyễn Hiệp) gồm các Sư đoàn 10, 316, 320 và 968 tiến về phía Tây Ninh. Phía Bắc là Quân đoàn 1, (Tư lệnh là Thiếu Tướng Nguyễn Hoà, Chính Uỷ Thiếu Tướng Hoàng Minh Thi) gồm các Sư đoàn 312, 320B và 308 từ Lộc Ninh và Phước Long tiến về khu tập trung ở phía Nam sông Bé. Quân đoàn 4, (Tư lệnh Thiếu Tướng Hoàng Cầm, Chính Uỷ Thiếu Tướng Hoàng Thế Thiện) gồm các Sư đoàn 6, 7 và 341 sau khi chiếm Xuân Lộc đang tiến về Trảng Bom. Mũi sau cùng là Quân đoàn 2 (Tư lệnh Thiếu tướng Nguyễn Hữu An, Chính Uỷ Thiếu Tướng Lê Linh) gồm các Sư đoàn 3 Sao vàng, 304, 324B, và 325 tiến đánh Long Thành, Vũng Tầu, Phước Lễ. (theo tác giả Nguyễn Đức Phương)
Kế hoạch CSBV như sau:
- Hướng Tây Bắc: Quân đoàn 3 và Địa phương quân Tây Ninh, Củ Chi, các lực lượng đặc công biệt động, tăng pháo tiến đánh căn cứ Đồng Dù, tiêu diệt Sư đoàn 25 VNCH từ Củ Chi đến Trảng Bàng rồi tiến đánh Tân sơn nhất, phối hợp với Quân đoàn 1 đánh Bộ Tổng Tham mưu sau đó tiến về Dinh Độc Lập.
- Hướng Bắc và Đông Bắc Quân đoàn 1, được tăng cường Trung đoàn 95 (SĐ 325) cùng các lực lượng đặc công, pháo binh, hoả tiễn.. bao vây căn cứ Bình Dương, Bến Cát rồi đánh BTTM, BTL các binh chủng Gò gấp rồi tiến về dinh Độc Lập. Hướng Đông Quân đoàn 4 tiến đánh Biên Hoà, phi trường BH rồi tiến vào quận 1 Sài Gòn.
- Hướng Đông Nam Quân đoàn 2 đánh Bà Rịa, Vũng Tầu để chặn đường rút lui của VNCH, chiếm căn cứ Nước Trong Long thành, pháo kích phi trường Tân Sơn Nhất, chiếm Long Bình.
- Hướng Tây, Tây Nam Đoàn 232 và Chủ Lực quân Quân khu 8 đánh chiếm Hậu nghĩa, rồi tiến đánh Biệt Khu Thủ Đô, Tổng Nha Cảnh Sát, bến cảng Bạch Đằng. Các Quân đoàn đều có nhiệm vụ chiếm Dinh Độc Lập, Quân đoàn nào tới trước thì đánh trước.
Quân đội VNCH như chúng ta đã biết từ cuối tháng 3-1975 đã mất một nửa lực lượng chủ lực quân. Tại Quân khu III miền Nam chỉ còn 3 Sư đoàn 25BB, 5BB, 18 BB và các đơn vị di tản từ miền Trung về với quân số thiếu hụt, tổng cộng vào khoảng 5 Sư đoàn để đối đầu với khoảng 20 Sư đoàn CSBV. Về lực lượng hai bên, tác giả Nguyễn Đức Phương (Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập) đã nói
“Về tương quan lực lượng giữa hai bên thì QLVNCH chỉ có 6 sư đoàn để bảo vệ thủ đô chống lại một lực lượng đông đảo với quân số gần 20 sư đoàn CSBV. Ba sư đoàn 7, 9 và 21 BB thuộc quân đoàn IV QLVNCH không thể dùng để tiếp ứng do điều kiện an ninh lãnh thổ của vùng Đồng Bằng sông Cửu Long”.
Tac giả trích tài liệu CS như sau:
“CS cũng đã xác nhận cán cân lực lượng trong chiến dịch này như sau:
Ta: 4 quân đoàn 1, 2, 3, 4, và 232 bao gồm 15 sư đoàn bộ binh, 5 lữ đoàn bộ binh biệt lập, 4 trung đoàn tăng thiết giáp và 6 trung đoàn đặc công. Quân số tổng cộng khoảng 280 ngàn với 400 xe tăng và 420 pháo.
Địch: 5 sư đoàn bộ binh 5, 18, 22 và 25, sư đoàn TQLC, 2 lữ đoàn Dù, lữ đoàn 3 Kỵ binh và 4 liên đoàn Biệt động quân. Quân số tổng cộng khoảng 240 ngàn với 625 xe tăng thiết giáp và 400 pháo”.
Quân số của BV gồm 280 ngàn người trong đó đa số là thành phần tác chiến, lính VC không có lương nên không có các đơn vị hành chánh tài chánh, họ cũng không có cứu thương y tế nên nói chung thực lực đông đảo hơn miền Nam. Sau khi chiếm được Quân Khu I và II VNCH, Cộng quân chỉ để lại Địa phương quân và du kích cai quản và đưa toàn bộ Chủ lực quận vào chiến dịch. Họ dốc toàn lực vào canh bạc cuối cùng này: 5 quân đoàn (1, 2, 3, 4 và 232) tổng cộng 15 Sư đoàn, công thêm trên 5 Trung đoàn độc lập và 6 Trung đoàn đặc công toàn bộ lực lượng vào khoảng gần 20 Sư đoàn. Kissinger nói CSBV đưa kết lực lượng vào Nam để trống hoàn toàn miền Bắc, chỉ cần một trung đoàn TQLC là chiếm được miền Bắc.
Quân số của VNCH là 240 ngàn nhưng trong đó chỉ có khoảng 50 ngàn là lính nhà nghề, còn lại là Địa phương Quân, Nghĩa Quân và các thành phần không chiến đấu. BV được CS Quốc Tế tiếp viện đầy đủ vũ khí đạn dược trong khi miền Nam đã kiệt quệ vì Quốc Hội Dân Chủ Mỹ cắt viện trợ tới xương tủy, pháo binh phải đếm từng viên đạn. Sau khi đoàn quân di tản từ miền Trung kéo vào Nam, Bộ Tổng tham mưu đã mở kho vét hết súng đạn để tái trang bị. Ông Cao Văn Viên (6) cho biết đạn dược chỉ đủ xử dụng trong khoảng hai tuần lễ. Lực lượng hai bên trên thực tế quá chênh lệch, ưu thế nghiêng hẳn về phía Cộng quân.
Từ 26/4/1975 CSBV đã bắt đầu tấn công vào Trường Thiết Giáp Long Thành, căn cứ Nước Trong, đặc công đánh Tân cảng, cầu xa lộ, đài ra đa Phú Lâm nhưng thất bại bị đẩy lui. Bắc Việt đã cho mở chiến dịch Hồ Chí Minh từ 26/4, hai ngày trước khi ông Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống, họ không đếm xỉa gì tới việc thương thuyết.
Sáng ngày 27/4 Sư đoàn 3 BV tấn công chiếm Phước Lễ, Lữ đoàn Dù rút về Vũng Tầu, Sư đoàn 18 được lệnh lui về giữ Trảng Bom. Phía Tây các căn cứ dọc theo Vàm Cỏ Đông lần lượt bị chiếm. CSBV pháo phi trường Biên Hoà dữ dội, Sư đoàn 3 Không quân phải di về Tân Sơn Nhất và Cần thơ. Phía Tây Nam Đoàn 232 CSBV (gồm 3 Sư đoàn) cắt Quốc lộ 4 nhiều nơi để chận viện binh từ Quân khu 4, phía Bắc Quân đoàn 1 BV tiến về Thủ Đầu Một, phía Tây Bắc Quân đoàn 3 BV cắt Quốc lộ 1 và 21 để chặn đường rút của Sư đoàn 25 BB.
Chiều ngày 28/4 ông Dương Văn Minh tuyên thệ nhậm chức Tổng thống tại dinh Độc Lập, chừng một tiếng sau, phi công nằm vùng trung úy Nguyễn Thành Trung hướng dẫn năm phi cơ A-37 của VNCH do BV chiếm được ném bom phi trường Tân Sơn Nhất rung chuyển trời đất khiến dân chúng Đô Thành hốt hoảng. Tối hôm ấy BTL Quân đoàn 3 di chuyển từ Biên Hoà về Gò Vấp.
Tại Bộ TTM, từ chiều 28/4/1975 Đại tướng Cao Văn Viên và Chuẩn Tướng Thọ đã ra đi. Trung tướng Đồng Văn Khuyên, Tham mưu trưởng rời BTTM trưa 29/4. Trung Tướng Nguyễn Văn Minh Tư lệnh Biệt khu Thủ đô cũng đã bỏ đi. Đến trưa 29/4 các Tướng có thẩm quyền tại BTTM đã ra đi gần hết, các ông lớn đều đã nhìn xa trông rộng, họ biết trước Quốc Hội Dân Chủ Mỹ cắt quân viện xương tủy để bỏ miền Nam. Ông Dương Văn Minh cử một số Tướng và cựu Tướng lãnh vào làm việc tại BTTM: Trung Tướng Vĩnh Lộc Tổng tham mưu trưởng, Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh phụ tá, Lâm Văn Phát Tư Lệnh Biệt Khu Thủ đô. Chiều 29/4 Tướng Vĩnh Lộc họp các Tướng lãnh, sĩ quan cao cấp còn sót lại và kêu gọi cố gắng hoàn tất trách nhiệm. Tối 29/4 ông Dương Văn Minh vẫn kêu gọi trên đài phát thanh, lời kêu gọi lập đi lập lại suốt đêm.
“Các vị Tư lệnh Quân đoàn, Sư đoàn hãy giữ vững vị trí và chờ lệnh mới”
Tân Tổng Tham mưu trưởng Vĩnh Lộc lớn tiếng chỉ trích Thiệu và kêu gọi anh em binh sĩ giữ vững phòng tuyến.
Từ 4 giờ sáng ngày 29/4 Bộ TTM, phi trường Tân Sơn Nhất, BTL Hải Quân bị pháo kích dữ dội. Cộng quân chiếm được Nhơn Trạch đặt hai khẩu 130 ly và bắn 300 quả vào Tân Sơn Nhất gây nhiều thiệt hại, các bãi đậu phi cơ, bồn chứa nhiên liệu, kho đạn bị trúng pháo kích gây nhiều đám cháy lớn. Sư đoàn 325 BV chiếm Nhơn Trạch, thành Tuy Hạ, tiến về Cát Lái. Sư đoàn 304 chiếm căn cứ Nước Trong.
Trong khi ấy ông Dương văn Minh cử ba người sứ giả đến trại David tại Tân Sơn Nhất để thương thuyết ngưng bắn với phái đoàn Quân sự VC nhưng bị Đại tá CS Võ Đông Giang bác bỏ. Tại Biên Hòa lực lượng xung kích Quân Đoàn III VNCH của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi (gồm các Chiến đoàn 315, 318, 322) vẫn giữ được phòng tuyến. Buổi chiều Bộ Tư lệnh Hải quân và Không quân di tản. Một Liên đoàn BĐQ tại Bến Tranh Bắc Mỹ Tho được lệnh trực thăng vận về Cần Đước ngăn chận Việt Cộng trên liên tỉnh lộ 5A nhưng không có trực thăng, do đó Chợ Lớn được coi như bỏ ngỏ. Đến tối Cộng quân đụng độ với các Chiến đoàn 315, 322 tại hai hướng Đông Bắc thành phố. Trung Tướng Vĩnh Lộc, tân Tổng tham mưu trưởng lệnh cho Sư đoàn 18 BB rút về giữ khu vực nằm giữa Thủ Đức và Nghĩa Trang Quân Đội.
Phía Bắc, căn cứ Lai Khê của Sư đoàn 5BB bị pháo kích dữ dội, quận Bến Cát bị tấn công. Phía Tây 2 Liên đoàn 8, 9 BĐQ bị thiệt hại nặng, CSBV bỏ xác cả trăm người cùng 18 xe tăng bị bắn cháy, Quốc lộ 1 giữa Sài Gòn và Củ Chi bị gián đoạn.
Sư đoàn 22 BB vẫn làm chủ được tình hình phía Nam, mặc dù bị tấn công.
Chiều 29/4 Toà Đại sứ Mỹ bắt đầu di tản bằng trực thăng, sau 19 giờ bay liên tục 80 trực thăng đã chở đi được hơn 1,000 người Mỹ và khoảng 6,000 người Việt Nam ra ngoài hạm đội. Ngày 30/4 Trung đoàn 24 CSBV (SĐ 10) giao tranh ác liệt với quân Dù tại Ngã Tư Bẩy Hiền và Lăng Cha Cả, BV bị thiệt hại nặng tới 50% quân số. Cộng quân tấn công trại Hoàng Hoa Thám, BTL không quân, căn cứ Sư đoàn 25 BB VNCH thất thủ, Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá bị bắt. Cộng quân xâm nhập Ngã Tư Bẩy Hiền, trong vòng 15 phút có 6 chiến xa bị Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù bắn hạ, lính BV bị chận đánh phải rút khỏi Ngã Tư Bẩy Hiền.
Theo Tướng Hoàng Lạc, Đại tá Hà Mai Việt (7): TT Dương Văn Minh lại cử người tới Tân Sơn Nhất để thương thuyết với phái đoàn CS xem có vớt vát được tí nào không nhưng họ vẫn một mực đòi phải buông súng đầu hàng nếu không sẽ pháo kích ồ ạt vào Thủ Đô, Sài Gòn bây giờ đang nằm trong tầm pháo của quân thù. Cộng quân đã vào sát thành phố, thấy không hy vọng cứu vãn được tình thế, ông Dương Văn Minh bèn lên tiếng trên đài phát thanh vào lúc 10 giờ 30 sáng kêu gọi các vị Tướng lãnh, các cấp chỉ huy QĐVNCH hãy liên lạc với các đơn vị Cộng Hoà Miền Nam nơi gần nhất giao nạp vũ khí thực hiện ngưng bắn tại chỗ để tránh đổ máu vô ích. Khi ấy tiếng súng trận khắp nơi đều đã im bặt.
Khi có lệnh ngưng bắn, Thiếu Tá Phạm Châu Tài, Chiến đoàn trưởng Biệt Cách Dù lấy xe Jeep vào Bộ TTM, lính gác cho biết ông Vĩnh Lộc đã ra đi từ 6 giờ sáng, các Tướng lãnh, sĩ quan cao cấp không còn ai. Thiếu tá Tài bèn gọi về phủ Tổng Thống xin nói chuyện với Đại Tướng Dương Văn Minh. Tài nói các chiến sĩ của ông đang tử chiến với VC để bảo vệ BTTM thì có lệnh ngưng bắn nhưng địch vẫn tiến vào, BTTM không còn ai, xin Tổng thống quyết định.
“Tướng Minh trả lời “các em chuẩn bị bàn giao đi”.
Thiếu tá Tài ngạc nhiên hỏi lại “Bàn giao là như thế nào thưa Đại Tướng, có phải là đầu hàng không?"
Tướng Minh đáp “Đúng vậy, ngay bây giờ xe tăng Việt Cộng đang tiến vào Dinh Độc Lập”.
Nghe Tướng Minh cho biết như vậy, Thiếu tá Tài nói ngay “Nếu xe tăng Việt Cộng tiến vào Dinh Độc Lập, chúng tôi sẽ đến cứu Tổng Thống”.
Tướng Minh suy nghĩ, Thiếu tá Tài nói tiếp “Tổng thống phải chịu trách nhiệm trước hai ngàn cảm tử quân đang tử chiến với Cộng quân ở Bộ Tổng tham mưu”
Tướng Minh trả lời “Tuỳ các anh em”.(8)
Ông Dương Văn Minh tuyên bố ngưng bắn thì Lê Đức Thọ ban lệnh cho các Quân đoàn BV không chấp nhận đình chiến và cứ tiến thẳng vào Sài Gòn. Cộng quân tiến vào Thủ Đô đang bỏ ngỏ làm bốn ngả: Cánh thứ nhất từ Long Khánh theo xa lộ Biên Hoà, thứ hai từ Củ Chi qua Ngã Tư Bẩy Hiền, thứ ba từ Long An kéo lên qua ngả Phú Lâm Chợ Lớn, cánh cuối cùng từ Bình Dương theo xa lộ Đại Hàn vào Hàng Xanh. (theo hồi ký Văn Tiến Dũng)
Báo Sài Gòn Giải Phóng năm 1976 nhân ngày kỷ niệm chiến thắng 30/4 cho biết đoàn quân vào dinh Độc Lập trước nhất là cánh từ Long An, họ có chụp hình những chiếc xe lội nước PT-76 vào sân dinh và bộ đội thiết giáp CS trên xe nhẩy xuống. Theo tài liệu của ký giả ngoại quốc hoặc do lời kể của các viên chức chính phủ trong dinh Độc Lập thì cánh quân từ Biên Hoà cùng với các xe T-54 đã tiến chiếm dinh Độc Lập trước tiên.
Báo Sài Gòn Giải Phóng và Quân Đội Nhân Dân năm 1976 cho biết người đi đầu là một viên đại uý, được các viên chức tiếp đón tại cửa vào, y hỏi thăm đường lên lầu rồi vội kéo cờ vàng của VNCH xuống để treo cờ Mặt trận lên để chứng tỏ giang sơn này, đất nước này đã hoàn toàn thuộc về CS. Quân đội CSBV bắt Dương Văn Minh phải lên đài phát thanh tuyên bố đầu hàng. Theo lời kể của cựu dân biểu Lý Quí Chung thì cả những sĩ quan cấp úy BV khi mới vào dinh cũng quát tháo những người cầm đầu chính phủ và gọi họ bằng anh: “Các anh phải hàng hết”
Sau khi Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng thì các mặt trận quanh Sài gòn đều im tiếng súng chỉ còn một vài trận lẻ tẻ như tại Hố Nai, bốn tiếng sau lệnh đầu hàng, Thiếu Uý Tư, Biệt kích Dù và năm người lính thân tín dùng súng chống chiến xa M-72 phục kích bắn cháy, lật một xe Jeep, một T-54, 2 xe Molotova… rồi chạy thoát hết.
Nghe lệnh đầu hàng Thiếu Tướng Phạm Văn Phú Tư Lệnh Quân đoàn II và Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư lệnh Sư đoàn 5 tự sát.
Quân khu IV vẫn còn nguyên vẹn, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam không cho giật sập cầu Long An như Tỉnh trưởng đề nghị. Thiếu Tướng Lê Văn Hưng, Tư lệnh phó tự tử chiều tối 30/4, hôm sau 1/5 Tướng Nam tự sát lúc 7 giờ rưỡi sáng, Chuẩn tướng Trần Văn Hai Tư lệnh Sư đoàn 7 cũng tự sát.
Ngoài ra có nhiều người tuẫn tiết trước ngày tàn của đất nước như Thiếu tá Đặng Sĩ Vinh thuộc BTL Cảnh sát Quốc gia tự sát lúc 2 giờ chiều 30/4 cùng vợ và 7 người con tại nhà riêng. Trung tá Vũ đình Duy, Trung tá Nguyễn Văn Hoàn thuộc Đơn vị 101 tự sát… Nhiều quân nhân Biệt kích Dù cũng như nhiều binh chủng khác đã mở lựu đạn tự tử thất vọng chán nản vì mất nước. Nhiều người tự sát ngoài mặt trận như Trung tá Nguyễn Hữu Thống Trung đoàn trưởng Trung đoàn 42 (Sư đoàn 22) khi tầu Hải Quân vào Qui Nhơn cứu đám tàn quân của Sư đoàn cuối tháng 3-75 , Trung tá Thống từ chối di tản ở lại tự sát.
Tháng 4 năm 2006 một cựu sĩ quan tham mưu của Quân đoàn IV (VNCH) tiết lộ ngày 30/4/1975 họ đã dự định hành quân qua Miên sang Thái Lan hoặc ra Phú Quốc lập phòng tuyến chống lại CS, cũng có người cho rằng Quân khu IV chờ chính phủ Sài Gòn dời xuống để tiếp tục chiến đấu nhưng TT Dương Văn Minh lại đầu hàng địch. Theo lời kể của Trung uý Danh, tuỳ viên của Tướng Nam thì ông là người nhân ái, sùng đạo Phật không muốn đổ máu.
“Là một Tư Lệnh Quân Đoàn, đã nắm trong tay nhiều đơn vị trung thành, Tướng Nguyễn Khoa Nam có thể ra lệnh tiếp tục chiến đấu, nhưng là vị Tướng có lòng nhân ái, không muốn binh sĩ và đồng bào đổ máu vô ích, ông không cho phá cầu, ông không muốn có người chết thêm”(9)
Nhận xét về Tướng Dương Văn Minh nhiều người hồi đó cũng như bây giờ chỉ trích chê bai ông là kẻ đầu hàng địch, dâng nước cho CSBV, nhưng cũng có nhiều người tán đồng quyết định của Tướng Minh cho rằng tiếp tục chiến đấu sẽ chỉ gây thêm tang tóc đổ máu vô ích không hy vọng gì cứu vãn tình thế. Sau khi ra định cư tại Hải ngoại, Tướng Dương Văn Minh đã trả lời phỏng vấn:
“Tôi không cứu được nước nhưng tôi phải cứu dân”.
Theo Tướng Vanuxem, sáng 30-4-1975 Trung Tướng Vĩnh Lộc báo cáo với ông Dương Văn Minh tình hình mặt trận, ông xoè bàn tay cho biết đã hỏng hết rồi, Sư đoàn 25 tại Củ Chi và Sư đoàn 18 tại Thủ Đức bị tan rã hoặc rút lui, các lữ đoàn Dù và TQLC tại Vũng Tầu mất liên lạc, Sư đoàn 5 tại Lai Khê đang bị bao vây… Cộng quân đã vào tới Ngã Tư Bảy Hiền đang giao tranh với Biệt Cách Dù.
Sau 30/4/1975, Thủ trưởng trường học tập cải tạo Long Thành cho biết Dương Văn Minh đầu hàng vì ông đã thua hết cả, nếu lực lượng còn mạnh chưa chắc ông ta đã chịu cho buông súng.
BV bắt đầu mở chiến dịch tấn công Sài Gòn từ 26-4- 1975, bốn ngày sau phòng tuyến của VNCH sụp đổ. Trước khi Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống người ta đã đoán biết công việc của ông chỉ là để đầu hàng. Một viên chức hành chánh thân cận của ông Trần Văn Hương sau này tiết lộ hồi đó ông Hương cho biết người ta đã sắp đặt sẵn để ông Thiệu bàn giao cho ông Hương rồi ông Hương bàn giao cho ông Minh, ngay cả việc Dương Văn Minh yêu cầu cơ quan Tuỳ viên quân sự DAO Mỹ rút lui cũng là do người ta sắp đặt cả.
Khi Dương Văn Minh đang làm lễ bàn giao ngày 28/4 thì đài BBC đã nói.
“Hôm nay tại Sài Gòn ông Dương Văn Minh được cử giữ chức vụ Quyền Tổng thống do ông Trần Văn Hương trao lại để chuẩn bị cho một cuộc đầu hàng”
Trong phim VietNam a Television History (Việt Nam Thiên Sử Truyền Hình) do các ký giả, sử gia Mỹ, Anh, Pháp thực hiện đã được chiếu ở VN giữa thập niên 80, Chuẩn Tướng Không Quân Phan Phụng Tiên trả lời phỏng vấn và kết luận.
“Chúng tôi là cấp lớn mà bỏ chạy đi như thế này thì cũng nhục nhã lắm nhưng mọi việc người ta đã sắp đặt sẵn cả rồi, dẫu muốn gì cũng đành bó tay không thể làm hơn được”.
Khi hai ông Thiệu và Khiêm ra đi hôm 21/4/1975, quân dân hoàn toàn thất vọng , họ thừa hiểu số phận của miền Nam như thế nào, lại nữa hai hôm sau, Tổng Thống Trần Văn Hương hiệu triệu đồng bào về tình hình vô cùng bi đát của đất nước, ông đã khóc lóc trên làn sóng điện về viễn ảnh “núi xương sông máu của thành phố Sài Gòn” khiến cho người dân ai nấy hồn lạc phách siêu, chuyện bí mật Quốc gia đã được công khai tuyên bố trên Đài Phát Thanh.
Quân đội VNCH không đủ lực lượng để chống lại gần 20 Sư đoàn Cộng quân và vì bị Quốc Hội Dân Chủ Mỹ cắt hết viện trợ: tiếp liệu kiệt quệ, máy bay hết săng, pháo binh hết đạn. .. Đài BBC Luân Đôn cũng tuyên truyền phá hoại khiến binh sĩ thất vọng. Lực lượng phòng thủ dần dần rã ngũ, một số đơn vị cảm tử chiến đấu tới cùng nhưng cũng không cứu vãn được tình thế.
Trận đánh cuối cùng đã kết thúc cuộc chiến Đông Dương chỉ kéo dài có mấy ngày từ 26/4 cho tới 30/4/1975, cũng vào ngày này 30 năm trước đó, năm 1945 tại Bá Linh quân Đức đầu hàng Nga. Sài Gòn tái diễn lịch sử nước Đức Đệ Nhị Thế Chiến, có khác chăng tại Bá Linh giới lãnh đạo không bỏ trốn và ép buộc quân đội của họ chiến đấu tới người lính cuối cùng.
Kể từ ngày Cộng quân đánh chiếm quận Đức Lập ngày 9/3/1975 và Ban Mê Thuột ngày 10/3 để mở đầu cuộc Tổng tấn công cho tới ngày 30/4/1975, ngày kết thúc chỉ vỏn vẹn có năm mươi mấy ngày.
Võ Nguyên Giáp ra lệnh tấn công quân Pháp tại Hà Nội nửa đêm 19/12/1946 là ngày khởi đầu cuộc chiến tranh dài nhất của thế kỷ mà một ký giả Pháp năm 1966 đã gọi là "La guerre la plus longue du siecle", đến trưa ngày 30/4/1975 là ngày kết thúc tính ra đã được ba mươi năm và Việt Nam đã trở thành bãi chiến trường tan nát vì bom đạn.
Những kẻ đã gây lên cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn, núi xương sống máu sẽ phải đời đời đắc tội với Non sông và Lịch Sử.
Trọng Đạt
Nguồn : Đàn Chim Việt
(1) Võ Nguyên Giáp trả lời phỏng vấn ký giả Ý Fallaci năm 1968
(2) Henry Kissinger, Years of Renewal trang 471
(3) Cao Văn Viên, Những Ngày Cuối Của VNCH trang 86, 87
(4) Years of Renewal trang 481
(5) Theo Nguyễn Đức Phương, Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập trang 798-811
(6) Những Ngày Cuối VNCH trang 92
(7) Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới Texas 1990
(8) Vương Hồng Anh, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH Những Ngày Cuối Cùng.
(9) Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Bút ký của Trung úy Lê Ngọc Danh.
- Details
- Category: Chuyện 30.4
- Hits: 1004