Airforce Echo News
Captovan(Tô Văn Cấp)
---oo0oo---

Hằng năm, cứ vào những ngày giáp tết Nguyên Đán thì ai cũng gặp nó, từ trong đơn vị ra tới ngoài đường phố, mặt tiền các công sở, ở vị trí trang trong nhất, dễ thấy nhất, nó có cái tên là: “VUI XUÂN KHÔNG QUÊN NHIỆM VỤ”!
Tôi không biết ai khai sinh ra nó nhưng hình như khẩu hiệu này chỉ xuất hiện sau khi xẩy ra vụ Mậu Thân. VC xóa bỏ lệnh hưu chiến, bất ngờ tấn công vào phần lớn các quận, tỉnh, thành phố vào dịp Tết Mậu Thân 1968, trong khi hầu như các lực lượng canh gác phòng thủ lãnh thổ địa phương đều “vui xuân quên nhiệm vụ”.
Có người cho rằng Mỹ biết hết mọi kế hoạch của VC sẽ tấn công vào dịp Tết Mậu Thân, nhưng không biết lý do tại sao họ lại im lặng, không thông báo cho VN! Có thể họ muốn áp dụng kiểu chơi “điệu hổ ly sơn” để tóm đủ diệt gọn. Ờ thì cứ cho là như thế đi, Mỹ biết, nhưng tình báo và mạng lưới an ninh của VNCH có biết tí gì không?
Thông thường thời gian trước tết, TĐ2/TQLC chúng tôi đi hành quân lùng và diệt địch liên tục để mong đem lại thanh bình cho đồng bào vào những ngày đầu Xuân, chỉ dừng quân trước giờ hưu chiến đêm Giao Thừa chừng vài tiếng đồng hồ để cho anh em binh sĩ có chút thì giờ kỳ cọ, thay bộ đồ sạch đón Xuân mới. Anh em thường gọi đùa đó là những cuộc “hành quân ăn tết” và đã có nhiều Mũ Xanh chết, chẳng bao giờ được trở về đón Xuân cùng đồng đội!
Trước Tết Mậu Thân 1968, TĐ2/TQLC (Trâu Điên) chúng tôi hành quân vùng quận Cai Lậy, Giáo Đức, Cái Bè, tìm diệt mấy đơn vị VC địa phương, giữ an ninh QL4 để hàng hóa miền Tây dễ dàng về thủ đô. Ngày 31/12/67 TĐ2 đã tiêu diệt 2 Tiểu Đoàn Chủ Lực Miền 261 và 262 tại kinh Cái Thia, quận Cai Lậy, hạ tại chỗ 40 mạng và bắt 10 tên. Tuy nhiên Trâu Điên cũng trầy da tróc vẩy, vài đồng đội đã không trở về, trong đó có đại đội phó của tôi là Trung Úy Nguyễn Quốc Chính, K20/VB.
Ngày giáp Tết, TĐ2 về phòng thủ hai bên bờ sông quận Cai Lậy để anh em tắm giặt nghỉ ngơi tại chỗ, đã có một số bầu đoàn thê tử từ Thủ Đức, Saigon xuống, con đem theo bánh chưng cho cha, vợ mang bánh dầy cho chồng kèm theo mứt me mứt sầu riêng để cùng vui xuân, nhưng niềm vui chưa hưởng thì đã sầu chia ly. Đúng giờ giao thừa, giặc tràn về thôn xóm, lệnh báo động bắt anh ra nằm gối đầu súng bên hố chiến đấu thay vì được gối lên váy người yêu! Sáng mồng một tết! “Mất hết” chẳng còn gì chỉ còn mứt “sầu riêng” để em ở lại một mình nơi tiền tuyến Cai Lậy còn anh trở về hậu phương thủ đô SaiGòn với súng đạn trên vai ca bài:
Anh Hậu Phương.!
Còn Em Nơi Tiền Tuyến..
Chúng Ta Cách Xa Rồi..!”
Mình Về Thành Phố Đây Rồi.
***
Tôi nằm võng đu đưa giữa hai gốc dừa bên bờ sông Cai Lậy để chờ đón Giao Thừa, những điếu Ruby Queen cháy liên tục đỏ môi, qua vòng tròn khói thuốc, tôi dường như trông thấy Nguyễn Quốc Chính cùng các đồng đội vừa tử trận trong cuộc hành quân vừa qua đã không còn quay về để đón Xuân! Tôi nhớ đến những khuôn mặt thân yêu của mẹ già, anh chị em và người tình ờ hậu phương, mắt tôi nhìn lên trời cao đầy sao lấp lánh, thấp thoáng vài ánh sáng hỏa châu từ tiền đồn nào đó bay vút lên thay cho pháo bông, tai lắng nghe những bản nhạc Xuân mà lòng buồn đến tã người:
“Đón giao thừa một phiên gác đêm..!
Nếu mai không nở thì con đâu biết..!
Ngày xuân nâng chén ta chúc.., chúc người binh sĩ lên đường..!”.
Lạ nhỉ! Tại sao đúng lúc cô ca sĩ đang hát câu: “Chúc người binh sĩ lên đường” thì nhạc xuân lại ngưng, chuyển sang điệu nhạc hùng, chờ nghe thông điệp đầu năm của TT chăng? Nhưng thay vì thông điệp của Tổng Thống chúc tết quốc dân đồng bào cùng chiến sĩ như hằng năm thì lại là tiếng của Phó TT Nguyễn cao Kỳ:
-“Tình hình rất nghiêm trọng, các đơn vị sẵn sàng ứng chiến và đợi lệnh”
Gì nữa đây? Lại đảo chánh chăng? Chán quá! Không chừng lại bị triệu hồi về thủ đô cứu giá, rồi quân ta đánh quân mình, Mũ Xanh bao vòng ngoài, Mũ Đỏ thủ vòng trong như ngày xưa thì làm sao đây? Nhớ quá khứ, giận hiện tại, toan móc súng bắn nát đám lục bình trôi trên sông thì nhận lệnh báo động, tất cả ra hầm hố sẵn sàng chiến đấu, vì VC vi phạm lệnh hưu chiến, đang tấn công khắp nơi, kể cả Saigon.
Hú hồn, không phải đảo chánh là tốt rồi, còn VC tấn công ư? Đi tìm cả tuần nay không thấy một mống, nay dẫn xác về thì chờ gì nữa, lúc nào ta cũng sẵn sàng.
Sáng mồng một Tết, Tiểu Đoàn 2/TQLC được không vận bằng trực thăng Chinook từ Cai Lậy về Saigòn với quân số 110%. Tại sao lại có con số kỳ lạ thế này? Thưa rằng có một số chị thay quân phục, mang ba-lô leo lên trực thăng theo chàng về tái chiếm Saigòn, còn những bà mẹ khác thì ngơ ngác với những đứa con thơ, bơ vơ giữa đồng trống cô quạnh! Làm cách nào trở lại nhà đây? Số phận người vợ lính thật gian nan.
Trực thăng đổ quân TĐ2/TQL xuống sân cờ Bộ TTM, trước dinh của Đại Tướng TTMT, Đại Tá Ngô Du đón chúng tôi tại đây, ông cho biết tình hình địch và yêu cầu TĐ2 giải tỏa áp lực địch tại trường Tổng Quản Trị, trường Sinh Ngữ, Trung Tâm Ấn Loát, cổng số 2, số 6, v.v… đến chiều tối thì địch tan, tất cả mục tiêu được tái chiếm và TĐ2 phòng thủ đêm trong bộ TTM. Có tiếng kêu trong bụng, hình như từ sáng tới giờ đó chưa có cái gì trong dạ dầy, ngày mồng một Tết mà như vậy thì chắc sẽ bị đói cả năm!
Sáng mồng hai, TĐ2 được lệnh tăng phái cho BTL Cảnh Sát Đô Thành, rồi mỗi Đại Đội được phân tán đi một nơi khác nhau, “nơi nào cần thì Trâu Điên có, nơi nào khó có Trâu Điên”. Đại Đội 2 của Đ/Úy Đinh Xuân Lãm thì đánh từ cầu chữ Y đến cầu Tân Thuận. Đại Đội 3 của Trần Văn Thương thì xuống quận 8, bao vây hãng rượu Bình Tây, còn Đại Đội 4 của Vũ Doan và ĐĐ1 của tôi thì bao vây khu vực chùa Ấn Quang.
Nhân dịp Xuân lại về, để thay đổi không khí, nghe đánh nhau mãi cũng chán, nghe “nổ” mãi cũng mệt, có nhiều tác giả viết vể các trận đánh rồi nên bài viết này tôi không viết về đánh-đấm nữa mà xin kể những mẩu chuyện vui buồn bên lề cuộc chiến, “người thật việc thật”, gặp đâu kể đó, những chuyện chưa ai viết hoặc viết sai sự thật.
BẮT SỐNG VC TRONG BỘ TTM.
Ngày đầu tiên đổ bộ trực thăng xuống sân cờ bộ TTM, vác súng đi khơi khơi trước dinh của Đại Tướng TTMT mà không bị Q.C bắt nhốt cũng thấy vui vui, nhất là đêm đó được ngủ bên ngoài hàng rào của cư xá sĩ quan cao cấp. Cư xá SQ yên lặng quá, tôi không sợ VC từ trong cư xá bò ra mà lo là lính tôi lại bò vào trong lục soát thì tôi bị đi tù là cái chắc, vì gần Mặt Trời nên lo xa vậy thôi chứ anh em tôi ngoan lắm.
Nửa đêm về sáng, Thiếu Úy Huỳnh Vinh Quang Trung Đội14 báo có VC bò vào tuyến phòng thủ, thông thường thì cứ ra lệnh bóp… cò một phát là xong, nhưng nằm ngay trong TTM, cần sự yên lặng để các quan lớn nghỉ ngơi, phần khác sợ có anh em ta lạc đàn nên tôi ra lệnh cho Quang phải bắt sống.Tên “VC” bị bắt là Vũ Khắc Quý, cấp bậc trung sĩ, nhân viên ban văn thư thuộc phòng TQT hay P1 gì đó của Đại Tá Hồ. Quý chính là con của cô ruột tôi, tôi hỏi hắn:
- Tại sao chú mày lại kẹt trong này, chui ở đâu ra đây?
- Phiên em trực đêm giao thừa, em chui trong ống cống từ đêm qua.
Hú hồn thằng em, coi như tôi đã tặng bà cô một món quà Tết quý giá.
BẮT VC BẨY LỐP TẠI CHỢ LỚN.
Sáng mồng 2 tết, Đại Đội 4 của Vũ Đoàn Doan và Đại Đội 1 của tôi được “đi lễ” chùa Ấn Quang, tới nơi thì thấy một số anh em Cảnh Sát Dã Chiến ẩn hiện núp sau những cột điện xung quanh chùa, toàn bộ khu vực khói lửa ngập trời, đì đùng súng và pháo nổ khắp nơi, khó phân biệt tiếng pháo cối và lựu đạn bê-ta của VC, đồng bào tràn ra trên các con đường Trần Nhân Tôn, Minh Mạng, Sư Vạn Hạnh, Nguyễn Duy Dương, Bà Hạt, tương tự như cảnh mà chúng ta thấy trên TV bên chiến trường Iraq.

Chính tại khu vực này, TĐ2/TQLC bắt sống tên Bảy Lốp, cán bộ VC mang súng lục K.54 và bản đồ ghi các mục tiêu phải chiếm, hắn bị trung đội của Th/Úy Kiều Công Cự bắt khi hắn chạy từ trong chùa Ấn Quang ra. Chính nó đã gây nên cảnh tang tóc cho đồng bào ngay trước mắt chúng tôi và ông Tư Lệnh Cảnh Sát. Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2 Ngô Văn Định giải giao hắn cho ông Tướng Cảnh Sát, và chuyện gì xẩy ra sau đó thì độc giả biết rồi, nhưng có tác giả chưa biết nên cứ viết Bảy Lớp bị “ai” bắt ở nơi khác, ở Bàn Cờ!
Chuyện hắn bị bắn chỉ bằng hạt cát so với mấy ngàn người dân bị VC trói tay chôn sống cùng thời điểm đó ở ngoài Huế. Tại trại Phù Đổng Gò Vấp, khi TĐ 4/TQLC tái chiếm thì đã gặp một cảnh vô cùng thương tâm toàn bộ gia đình Tr/Tá T.., CHT/ Thiết Giáp bị chúng chặt đầu. Tụi phản chiến chỉ lợi dụng tấm hình ông Tướng VN cầm ru-lô dí màng tang VC mà làm ồn lên, lơ đi tội ác tày đình của VC. (trong bài viết này,vì vấn đề tế nhị, tôi không để hình ông Tướng dí “roulo” vào màng tang Bẩy Lốp).
TÔI ĐƯỢC GẶP CÁC ÔNG TƯỚNG.
Người ta gọi ông với cái tên bình dân: “Ông Sáu Lèo”, Ông là gốc KQ, một cấp nhí TQLC như tôi thì làm sao dám lại gần ông Tướng Cảnh Sát, nhưng Đại Đội 1 của tôi bị biệt phái theo ông nên thường bị ông chỉ mặt đặt tên. Lúc nào ông cũng mặc áo giáp để phanh ngực và ít khi đội mũ, phơi cái trán hói trước súng đạn, tác phong chỉ huy rất nhanh nhẹn và bình dân, khi bực mình thì “ đ.. cụ”. Ông ngoắc tay rồi nhẩy lên xe Jeep dẫn đầu, một toán CSDC theo liền, đi sau ông là 4 xe GMC chở Đại Đội 1/TQLC, đến mục tiêu là ông nhẩy xuống trước làm gương.

- Trong đó còn một toán VC, lính tớ không làm được, cậu tính sao?
Ông Tướng mà xưng tớ-tớ cậu-cậu với thuộc cấp, ra lệnh mà lại khéo nói như hỏi ý kiến thì nhiệm vụ dù khó khăn cũng giảm bớt cho anh em tôi được một phần căng thẳng. Toán VC cố thủ trong cái tòa nhà cao tầng, ngó ngay vào dinh Tổng Thống thì nhức tim quá, chúng đã gây khó khăn và tổn thất cho CSDC rồi. Ông hỏi tôi “tính sao” thì để từ từ rồi tôi mới tính được chứ.
Dù sao thì chúng đã chiếm và cố thủ rồi, đang bị ta bao vây, từ từ kiếm cách gỡ, sinh mạng lính là quan trọng, vội vàng chẳng ích gì. Cuối cùng thì với lựu đạn cay, khói màu, mặt nạ chống hơi ngạt, chúng tôi đã tóm gọn 6 tên VC đang đói ăn, ngơ ngáo mất liên lạc với đơn vị. Phải nói thực là với quân số đó, cố thủ trong biu-đinh, nếu chúng còn no ăn và được chỉ huy thì vất vả cho chúng tôi lắm, may mà hoàn thành nhiệm vu.
Phong cách ra lệnh của cấp chỉ huy quan trọng lắm, nếu ai cũng chỉ biết nạt nộ hối thúc bằng cái lệnh …lạc: “phải chiếm cho được muc tiêu bằng mọi giá” thì cái giá được trả bằng sinh mạng người lính! Chiến trường mạng lính rẻ hơn bèo!
Lại phải chạy theo ông, chúng tôi lúc nào cũng súng đạn, nón sắt, áo giáp ngồi sẵn trên xe GMC, ông Tướng chạy như con thoi khắp các nơi, chỗ nào có VC là ông đến, ngừng xe bước xuống rồi ông mới cho lệnh TQLC phải làm gì.
Đoàn xe dừng lại trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, đoạn nằm giữa đường Phan Đình Phùng và Phan Thanh Giản, gần Đài Phát Thanh và Cục An Ninh Quân Đội, ông vẫy tay, tôi chạy lại nhận lệnh, ông nói vắn tắt:
- Xóm nhà sàn bên bờ sông còn tụi nó, cậu cho thanh toán.
Nói xong, tay cầm cây M.16, ổng xâm xâm đi vào một con hẻm dẫn xuống khu nhà sàn bên bờ sông, dĩ nhiên là có toán CSDC chạy theo trong khi lính tôi đang còn xuống xe. Đã có lần khi xe dừng lại trên đường Phó Đức Chính, ông đi vào khuôn viên hội trường Diên Hồng, tôi cho anh em xuống bố trí hai bên đường, chưa xong thì ổng đi ra và lên xe zoọc, tôi theo không kịp nên lạc đường rồi bị nghe ông “đ..cụ” khiến lần đó tôi cũng “nực gà”, tự hậu khi có lệnh mới cho lính xuống xe, nên lần này tôi đang cho lính xuống xe thì nghe “cắc-bù, cắc-bù”.
Vài tiếng “cắc-bù” nơi con hẻm ổng mới đi vào, tôi biết có chuyện, “cắc-bù” là tiếng súng VC bắn về phía mình, quả thật, toán CSDC đang khiêng Ổng ra, Ông bị thương nơi chân. Chúng tôi vào lục soát, tụi VC lặn xuống sông mất tiêu, chỉ còn lại một tên bị thương nặng từ mấy ngày trước, đang nằm chờ chết trong một góc nhà sàn.

Lần đầu tiên tôi thấy một vị Tướng bị thương vì đạn bắn thẳng dưới đất, còn đa số chỉ nghe quý vị tử trận cùng với trực thăng. Dù ở trên trời hay dưới đất, tấm gương và tiếng nói của vị chỉ huy cao cấp tại mặt trận là một sức mạnh vô cùng quan trọng.
Sự việc “Ông Sáu Lèo” bị thương vào chân, đơn giản là ông xung phong vào mặt trận, ông đi tìm VC tại địa điểm kể trên trước con mắt hằng trăm TQLC và CSDC, vậy mà sau này có nhiều người viết như truyện “phong thần” rằng Mỹ âm mưu giết ông!
Chả cần phải “nổ” như thế, ông là vị tướng bình dân, dẫn quân dẹp giặc rồi bị thương tại mặt trận không đáng quý sao mà phải vẽ rồng rắn cho là Mỹ bắn ông, phịa như thế là vô tình cướp đi cái dũng cảm của một vị tướng.
Ông là Tướng Cảnh Sát, tôi là Úy TQLC, chả quen biết gì nhau, tôi được lệnh biệt phái theo ông, Ông chỉ là vị tướng bình thường nhưng đánh giặc đẹp đã khiến tôi kính phục ông, cần gì phong thần giả làm mất đi cái thực đáng quý nơi Ông.
Một vị tướng khác, đứng trước lửa đạn, trực tiếp ra lệnh cho tôi thanh toán mục tiêu “Suối Máu” Biên Hòa, ông là Tướng Đỗ Cao Trí. Thực ra tôi đã được lệnh trực tiếp của Đồ Sơn, Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2/TQLC Ngô Văn Định rồi, có Ông Tướng hay không thì tôi vẫn thi hành nhiệm vụ, nhưng sự hiện diện của Ông Tướng tại “tiền tuyến” chứng tỏ mức độ quan trọng hơn, cần thanh toán gấp, mục tiêu “Suối Máu” nằm gần trại giam tù VC, quả tình là suối máu thật!
Bạn đọc đừng phiền khi nghe tôi “khoe” gặp Tướng, lính tác chiến mà mỗi khi gặp được Tướng thì chỉ có từ chết tới bị thương, nhất là Tướng cao cấp ở trung ương đến thăm thì càng mệt thêm. Nghe mấy ông thầy nổ khoe rằng “tao quen với ông tướng XYZ” mà phát nản, nhưng hôm nay tôi phải khoe vì sự thật tận mắt nhìn thấy quân đội chúng ta có những vị Tướng đáng kính phục, nhiều vị sao sáng.
Khi được lệnh cấp cứu đồn Cảnh Sát Bà Hòa (hay Hỏa) trong Chợ Lớn, con đường tiến tới mục tiêu bị hỏa lực của địch cản ở mặt trước, tôi ra lệnh cho Trung đội Trưởng TrĐ 14/TĐ2 là Thiếu Úy Huỳnh Vinh Quang (K22) phải chiếm căn biệt thự bên hông gần đó làm bàn đạp, tấn công bất ngờ từ bên hông. Căn biệt thự cũ kỹ kiểu xưa, trông nghèo nàn nhếch nhác, trong sân, một bà đầm đang tắm cho mấy đứa nhỏ, không phân biệt được bà là đầm Tây hay đầm Mỹ, tôi toan mở miệng để giải thích lý do xin xâm nhập gia cư thì nghe bả hỏi:
- Các chú cần gì?
Thấy bà đầm 100% mà nói tiếng Việt giỏi lại gọi lính là “các chú” khiến tôi ngạc nhiên, bèn giải thích đầu đuôi để xin phép, bả gật gù đồng ý nhưng nói thêm:
- Các chú nên vào trong nhà nói với ông Tướng một tiếng.
Càng ngạc nhiên hơn, tôi hỏi:
- Ông Tướng nào vậy bà?
- Là nhà tôi, Tướng Đức, Dương Văn Đức ấy mà.
Nghe danh Trung Tướng Dương Văn Đức trong cuộc “biểu dương” từ lâu, nay tận mắt thấy ông ngồi gật gù với chai lọ và tàn thuốc lá! Tự dưng lòng tôi chùng xuống, một vị Tướng mà thế này ư? Ngó lại mình, hết muốn chiếm mục tiêu, ông nói:
- Tụi nó trốn hết rồi, nhưng các em phải cẩn thận.
Vô cùng cảm động, tôi đứng nghiêm đưa tay chào “tuân lệnh” đúng quân phong quân kỷ. Người ta đồn rằng ông bị “chạm”! Chạm mà biết tình hình bên ngoài và ân cần khuyên lính một câu vàng ngọc như thế ư? Cám ơn vị Tướng họ Dương.
Khi bảo vệ đài phát thanh nằm ở cuối đường Phan đình Phùng, lệnh của Giám Đốc đài là Tr/Tá Vũ Đức Vinh, không cho bất cứ ai vào thăm nếu chưa được lệnh của ông báo trước. Lính tôi y lệnh, cương quyết không cho một nhân vật có xe hộ tống vào thăm đài, nhân viên hộ tống của ổng có vẻ hùng hổ đòi gặp người có thẩm quyền, tôi phải ra tận trạm gác coi đầu đuôi.
Mấy ông bô-đi-ga mang súng ống, đeo kính đen gườm gườm nhìn khiến tôi phát rét, còn lính của tôi thì lùi lại hườm sẵn M.16, người mặc còm-lê thì nhỏ nhẹ:
- Qua là Tr/Tướng Trần Văn Đôn, muốn vào thăm đài phát thanh.
- Thưa Trung Tướng, lệnh Trung Tá Giám Đốc không cho bất cứ ai vào nếu không có lệnh của ông báo trước, xin Trung Tướng liên lạc với Giám Đốc là Trung Tá Vinh, chúng tôi là lính chỉ biết tuân lệnh.
Liên lạc không gặp ai trong đài có thẩm quyền nên ông bắt tay và cám ơn chúng tôi rồi quay đầu xe, nhưng đằng sau những cặp kính đen của các cận vệ, tôi thấy mắt họ nổi gân máu! Rõ là cọp hiền hơn c.. cọp.
VÀ NHỮNG ÔNG TÁ.
Sau hơn một tháng giữ an ninh đài phát thanh và bưu điện trung ương, đại đội tôi được đại đội của Đại Úy Đinh Xuân Lãm K17 đến thay thế, trước khi tôi đi chỗ khác, Trung Tá Giám Đốc tiếp tôi tại văn phòng, ông tặng cho Đại Đội tôi tấm “lắc” bằng đồng khắc những chữ với đại ý cám ơn vì đã “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”!
Tôi đem tấm lắc treo tại văn phòng Đại Đội, nhưng cứ phân vân mãi, không biết cái “xuất sắc” này có liên quan gì tới việc thi hành lệnh không cho ông Thượng Nghị Sĩ vào thăm đài hay không?
Trung Tá Giám Đốc khá lịch sự và tế nhị, ông hỏi tôi:
- Có thích nghe nhạc không?
Nhạc ai mà chẳng thích nghe, hơn nữa cô bạn gái của tôi mê ca sĩ Thái Thanh nên tôi mạnh dạn:
- Không thích nhưng mà mê, nhất là Thái Thanh.
Ông nháy mắt cười cười đưa tay bắt, tay ông thật ấm, ông nói:
- Tôi sẽ cho nhân viên thâu một cuốn băng toàn nhạc Thái Thanh để tặng bạn.
Cám ơn Trung Tá Vũ Đức Vinh, Giám Đốc đài phát thanh năm 1968, ga-lăng và thật điệu nghệ! Một tác phong hiếm thấy nơi các ông lớn hậu phương đối với lính tiền tuyến. Nhưng vì mải miết đi hành quân nên tôi không nhận được quà của Trung Tá.
Ông là gốc KQ, tôi phục ông và mê Không Quân qua tác phong của ông, của các chàng phi công vì họ được huấn luyện bởi những người “lái phi công” đảm đang.
Xin mở dấu ngoặc ở đây để nói một chút về món quà của anh Năm Vinh:
Khi định cư tại Mỹ sau năm 1990, tôi viết lại kỷ niệm này trên Đa Hiệu Võ Bị với tấm lòng kính mến một thượng cấp dù lúc đó tôi không biết ông ở đâu. Một thời gian sau thì tôi nhận được những CD toàn là nhạc TT do Chị Năm Vinh và cháu Tùng, con trai anh Năm gửi tới! Gói quà sau gần 40 năm mới nhận được làm tôi quá cảm động nhưng cũng thật bối rối, vì khi đó mới biết Anh Năm đã quy tiên! Tôi áy náy vì nhắc lại kỷ niệm xưa khiến chị Vinh bận tâm, xin chị tha lỗi. Cám ơn chị và cháu Tùng.
Nhưng cũng có một tình chiến hữu khác giữa KQ&TQLC chẳng vui tí nào:
Đã hơn một ngày đánh nhau dọc hai bên đường Lê Quang Định Gò Vấp, nay VC kéo về cố thủ phía sau rạp hát Đông Nhì và chùa Dược Sư, khu này nhà cửa đông đúc san sát nhau, hẻm chằng chịt khiến cho việc điều động đơn vị quá khó khăn, lính của hai Đại Đội 1 và 4 đã bị thương và tử thương.

Tại ngã ba đường Lê Quang Định và Trung Dũng là căn nhà xây 3 tầng với sân rộng và hàng rào bao quanh, có sân thượng, đây là một cao điểm quá tốt để quan sát địch và điều quân, chủ nhà là một ông quan “mặc áo liền quần”, đeo hoa mai có gạch đít, đang cầm ống nhòm đứng lấp ló trên sân thượng coi TQLC đánh nhau vói VC! Tôi xin phép ông cho chúng tôi dùng sân thượng để đặt Ban Chỉ Huy Đại Đội và súng đại liên, ông vui vẻ… từ chối! Lý do ông bảo là vì nếu TQLC đóng ở đâu thì VC đến tấn công chỗ đó, mà nhà ông thì mới xây, không muốn bị vạ lây, ông mới đi tu nghiệp ở Mỹ về!
Quân với quân như cá với nước… sôi! Con người có máu lạnh ấy làm tôi sôi máu nóng, nhưng thôi, đành vuốt nước mắt đi kiếm chỗ khác.
Đêm 8/5/68, Đại Đội 2 của Trần Kim Đệ trên đường Hậu Giang, Quận 6, bị VC tràn ngập. Sáng 9/5, Tiểu Đoàn ra lệnh cho Doan và tôi về tiếp ứng cho Kim Đệ, nhưng trước khi đi phải gom tất cả xác VC vào sân banh Lê Văn Duyệt, gần Ngũ Hoành Miếu.
Thôi thì nghĩa tử là nghĩa tận, để ngoài sân banh nắng nôi, mưa gió, có nhiều anh đã phì lên và chảy nước rồi, cần chỗ mát và sạch sẽ hơn, tôi thấy không chỗ nào tốt hơn căn nhà lầu của ông quan mang bông mai có gạch đít, anh em tôi xếp họ nằm gọn gàng từ hàng hiên ra khắp sân, gởi gia chủ trông chừng dùm, mai mốt có xe của sở vệ sinh đến mang đi, hổm rầy họ chưa đến được vì súng nổ nhiều quá, xác VC nằm trong nhà ông thì yên tâm hơn, không sợ bị VC tấn công vào làm hư cái vi-la.
Đây là một kỷ niệm buồn, chẳng phải buồn vì ông thái tá kia mà tôi đem những xác chết chất vào vi-la của ổng để nó biến thành căn nhà ma, bực cái mình thì đùa giai tí chơi, tôi buồn cho những người trai hai miền Nam-Bắc chết vì súng đạn, chết khi chưa biết yêu, chết mà mẹ già không hay biết, vẫn ngày ngày ngồi tựa cửa móm mém miếng trầu, cầu nguyện ngóng trông con : “Sao Xuân này con không về?”
- Về sao được Mẹ ơi! Giấy phép con đã cầm trong tay, hứa với mẹ là Xuân này con sẽ về thăm mẹ và nhờ mẹ dắt con đi hỏi vợ, nào ngờ cái đám VC nuốt lời!
Nhìn những xác VC nằm đủ mọi kiểu trong sân vi-la mà tôi chạnh lòng, chúng tôi muốn hòa bình, nhất là ngày Tết linh thiêng của cả dân tộc VN, chúng tôi được lệnh hạn chế sát sanh, tại vì các “anh” vào cướp phá! Cùng là máu đỏ da vàng, chúng tôi nào muốn hại các anh.
- Các “anh bộ đội” sinh Bắc tử Nam ơi, việc các anh trở về với cát bụi là do súng đạn vô tình, còn Mũ Xanh chúng tôi lúc nào cũng mở rộng vòng tay, điển hình là 6 anh được cứu sống tại tòa biu-đinh bên hông dinh Độc Lập và 5 anh tại rạp hát Đông Nhì Gò Vấp. Th/Úy Quang K22, trung đội trưởng của tôi kể chuyện nương tay với địch quân:
- Chiếm mục tiêu xong, lục soát không có gì, Tr/Sĩ Châu Văn Khánh leo lên cái mô-bi-lét dựng đầu hè đạp chơi, hơi xăng và khói bay tùm lum, bất chợt nghe có tiếng ho phía dưới đất, B1 Xuân khui nắp hầm thì bị một tràng AK hất ngược ra sau. Thông thường thì chỉ một trái M.26 bỏ vào hầm là xong, nhưng lệnh anh nói phải bắt sống nên tôi tống luôn một lúc 4 trái lựu đạn… khói, 5 tên VC bị ngộp thở chui lên, trông híp-pi vì toàn thân một màu tím, còn B1 Xuân… em đã nằm im, tắt thở!
Tại Đồng Ông Cộ gần cầu Băng Ky, 150 người “anh em” buông súng đã được TQLC đón tiếp nồng hậu, ăn uống no nê, hút và xách thoải mái lại còn được ông Chiến Đoàn Trưởng đẹp giai đầy lòng nhân ái cho đi thăm thành phố Saigon khiến hai ca sĩ văn công Bùi Thiện và Đoàn Chính ngơ ngác vì lần đầu tiên trong đời được chiêm ngữơng những cái “mông có gân” mà XHCN không có. TQLC nói riêng và QĐVNCH nói chung chơi đẹp với các ngưới anh em quá phải không?
VIỆT CỘNG LẠI TẤN CÔNG ĐÀI PHÁT THANH.
“Đêm qua VC lại tấn công đài phát thanh, nhưng bị quân ta đẩy lui, ta tịch thu 1 súng K54, bên ta có 1 TQLC hy sinh”.
Đó là tin trên trang nhất của một số nhật báo tại Sài Gòn.
Trong khi các đại đội khác tiếp tục hành quân thì Đại Đội 1 của tôi được Tiểu Đoàn Trưởng cho giữ đài phát thanh Phan Đình Phùng và bưu điện trung ương Sai Gòn, tuy không vất vả nhưng lại có nhiều chuyện vui buồn, chuyện không cho ông Thượng Nghị Sĩ vào thăm đài đã được Giám Đốc đài tặng cho cái “lắc” như đã kể ở trên, chúng tôi còn gặp nhiều chuyện khó khăn khác nữa.
.jpg)
Trong thời gian đầu khi vừa nhận bàn giao từ tay các anh hùng Mũ Đỏ, khói lửa còn nghi ngút dứơi tầng hầm (nơi chứa toàn đĩa hát loại 45 hay 78 tua gì đó), mọi sự xuất nhập của nhân viên nam nữ đều phải kiểm soát thật kỹ, kể cả ca sĩ, đó là lệnh của Giám Đốc đài phát thanh. Với nam nhân viên và ca sĩ thì không có nan đề, nhưng với nữ thì thật nan giải. Lính tôi quanh năm “hành quân vùng xa thiếu bóng đàn bà” mà bây giờ bắt xét bóp, xét ví của phụ nữ thì nguy quá, nếu không xét, lỡ một nàng nào nhét C.4 (một loại thuốc nổ dẻo như plastic) vào người thì biết trả lời sao đây?.. Sau 2 ngày gồng mình khám xét thì chịu hết nổi, “cẩn tắc vô áy náy”, lính mà lỡ tay thì tôi là đại đội trưởng chết chắc nên tôi đành xin anh Năm Vinh giao nhiệm vụ quái ác này lại cho các nữ Cảnh Sát.
Còn việc VC tấn công thì sao? Chuyện lâu gần 40 năm rồi có quyền bật mí:
Nguyên do là thế này, tối đến, mọi ngả đi vào đài đều kéo kẽm gai hai ba lớp, còn gài thêm lựu đạn, con hẻm dẫn ra khu trại gia binh phía sân vận động Hoa Lư tôi giao cho Trung Đội súng nặng của Thượng Sĩ Lâm Khâm phòng thủ. Rồi một đêm chàng lính gác hạ phiên tên Thủy dặn chàng thượng phiên tên Hoàng:
-Tao đi thăm người yêu một chút, lát tao về, mày đừng có bắn ẩu nha.
Tình yêu lâu ngày gặp nhau sao nỡ vội chia tay! Chàng Thủy ngồi bên người yêu quên cả Trời Đất quá phiên gác của Hoàng mà Hoàng cũng quên bàn giao cho người bạn thượng phiên, gần sáng Thủy lò mò chui rào kẽm gai trở về thì người lính mới thay phiên tưởng VC bò vào bèn nhanh nhẩu quạt cho Thủy một băng M.16!!!
Hoàn cảnh này, Thủy không hy sinh vì công vụ thì làm sao gia đình có 12 tháng lương! Làm sao giải thích với thượng cấp tai nạn chết người này cho xuôi tai? Tôi bàn với Thượng Sĩ Lâm Khâm cho bắn thêm nhiều loạt đạn hướng mũi súng về phía Cục An Ninh QĐ, (đại đội tôi cũng có nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài cho cục ANQĐ của Đại Tá Thăng), tiếng đạn bắn ngược chiều nghe “cắc-bù” đúng là của VC tấn công rồi (!), máy trong Cục gọi ra hỏi tình hình, tôi nói VC đang tấn công, xin ở yên tại chỗ, báo cáo sau.
Biết thế nào Cục An Ninh cũng đến coi tình hình và kèm theo phóng viên báo chí nên sau khi lấy được xác của Thủy vào, Lâm Khâm cho lượm nhiều vỏ đạn AK (VC bỏ lại khi đánh nhau với ND bữa trước) rải quanh chỗ nằm của Thủy. Sáng sớm báo chí đi theo Cục AN ra quan sát “mặt trận” và phỏng vấn, lính tôi thì lầm lỳ ôm súng phòng thủ, cạy miệng cũng không trả lời (dặn trước rồi), ngoại trừ tôi.
Phóng viên lượm vỏ đạn AK lên ngắm nghía gật gù, chụp hình quan sát chỗ VC bị bắn hạ và đã được đồng bọn kéo đi. Phóng viên lật qua lật lại xem cây colt K.54 của VC còn dính máu đã bỏ lại.
Thực ra cây K.54 này tôi đã tịch thu được trong trận Đêm Hưu Chiến 31/12/67 tại kinh Cái Thia quận Cai Lậy mà trong trận này, thằng em Nguyễn Quốc Chính hy sinh khi vừa mới “dạm vợ” một tuần lễ trước khi đi hành quân. Tôi giữ cây K54 này để làm kỷ niệm cho tình yêu Chính-Lựu gãy gánh nửa đường, nay cũng vì tình yêu mà Thủy tử nạn nên tôi đem cây súng này trình làng như một “chiến lợi phẩm” để làm bằng chứng là VC đã tấn công đài phát thanh.
Chuyện dàn cảnh như thật nên không ai nghi ngờ, vì thế mới có chuyện cho báo chí đăng tin VC lại tấn công đài phát thanh lần thứ hai! Chắc không còn nơi nào có những vụ dàn cảnh như vậy đâu, đây là một kỷ niệm buồn về tình yêu và súng đạn!
Có thể nhiều vị trách tôi nói ra điều này làm giảm giá trị các chiến công thực sự, phản tuyên truyền. Nhưng ở vào hoàn cảnh “gặp thời thế thế thời phải thế”, chỉ những ai đã từng đổ máu ngoài chiến trường mới thông cảm với tôi trong hoàn cảnh này.
SÚNG ĐẠN VÀ TÌNH YÊU.
Đứng trước sự tàn phá của thiên tai và chiến tranh thì hình như tình người lại gần với nhau hơn? Trận động đất giữa biên giới Ấn-Hồi đã chôn vùi hơn 40 ngàn người khiến hai kẻ thù truyền kiếp bắt tay nhau cùng lo cứu khổ cứu nạn. Bão Katrina tàn phá New Orleans làm cho số hồ sơ đã nạp tại tòa xin ly dị được rút lui đi khá nhiều.
Trước Mậu Thân 1968, dân Saigòn và nhất là các em gái rất thờ ơ với chiến tranh và lính trận, ấy là chưa kể đến những thành phần no cơm ấm cật, dậm giật tối ngày, rửng mỡ nối giáo cho giặc bày đặt phản chiến, thực chất là trốn lính, trốn việc quân đi ở chùa!
Sau tết Mậu Thân, nhờ khói súng mà tình cảm người dân thân thiện hơn, tử tế hơn với quân, dân chỉ cho lính những chỗ VC ẩn núp và chôn dấu vũ khí mà trước Tết có vẻ như họ “không nghe không thấy”. Trong và sau Mậu Thân, đơn vị nào cũng được đồng bào đón tiếp niềm nở, bánh kẹo dư thừa mà vị ngọt tình yêu cũng không thiếu.
Ở Bưu Điện “một nơi dễ tìm thấy Thiên Đàng” thì anh em ĐĐ1 của tôi họ sống quá đàng hoàng nên được đồng bào quanh vùng và nhất là nhân viên bưu điện cảm phục, tình quân dân thắm thiết thật sự kéo dài cho mãi tới sau này, điển hình là cô Lan, ái nữ của ông Quận Dương Đông (Phú Quốc) là nhân viên BĐ, sau 1975 đã giúp rất nhiều anh em cựu tù nhân TQLC gởi “hồ sơ chui” tới tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Bankok (ThaiLan) để xin LOI, một việc làm hết sức nguy hiểm cho cô vào thời điểm 1982-84.
Gia đình hai cô Tuyết và Hoa gần như nuôi cả Trung Đội 12, đã hơn 35 năm rồi mà hiện nay các em Tuyết, Hoa-Quốc vẫn luôn hỏi thăm và nhắc tên các anh ngày xưa đóng ở BĐ và các em vẫn tự nhận mình thuộc gia đình “Trâu Điên” và tham dự những buổi họp mặt của TQLC. Tôi trân trọng gởi lời thăm hỏi và cám ơn đến các cô và nhất là những chị đã về làm dâu Trâu Điên.
Trong phạm vi đài phát thanh, anh em ĐĐ1 cũng được đồng bào thương, gia đình ông Tỉnh Trưởng, (Đại Tá Huy BĐQ) cho tôi tạm trú riêng một phòng thay vì tôi giăng võng ngủ dưới gốc cây, gia đình Ô.Bà phở 44, gia đình cô Phụng phở Hoàn Kiếm đãi lính ăn sáng vô hạn định, Cô Phụng cũng trở thành dâu của TQLC. Gia đình cô Chín và Jack (người Anh) nuôi cả Tiểu Đội của Trung Sĩ Mạnh, một gia đình Pháp Kiều muốn gả con là cô Alice cho B1 Thông, sau này em Alice mang quà lên Tân Uyên tiếp tế cho Thông đúng vào ngày người yêu tử trận 9/68!
Một mối tình khác khá đẹp và lãng mạng là cặp Chu và Ba.
Trước Tết Mậu Thân, mỗi lần đi hành quân về nghỉ tại hậu cứ là Chu rủ tôi đến tiệm cơm tấm của cô Ba Dung ở góc đường Trần Quang Khải và Trần Khắc Chân ngồi trồng cây si với ly café đen không đường, nhiều khi tôi chán nó quá bèn bỏ đi lang thang một mình, vài giờ sau trở lại thấy Chu vẫn ngồi lỳ với nhiều gói RuBy Queen trên bàn ra vẻ đăm chiêu qua khói thuốc ngắm cô hàng café.

Chuyện tình của họ chẳng đi đến đâu cho tới tết… Mậu Thân, một ngày kia, sau khi thanh toán tổ VC ở xóm Chùa Tân Định xong, Chu cho lính nghỉ ngơi băng bó vết thương bên lề đường, đồng bào khu vực đường Trần Quang Khải mang bánh kẹo ủy nạo, Chu được một gói RuBy từ tay Dung, bốn mắt nhìn nhau rồi cảm động tay cầm tay.
Từ đó cứ mỗi buổi trưa, Chu đều xin phép tôi chạy vào sở của Dung mãi tận cầu Chữ U trong Chợ Lớn để tâm sự trong lúc Dung nghỉ để ăn trưa. Chu nói với tôi:
- Sau chuyến hành quân này về nhất định em xin mẹ đi coi mắt Dung.
Khi Chu đóng quân dưới chân cầu Phan Thanh Giản thì Dung đến, vẻ lo lắng:
- Em lo quá, Ba em đi đâu từ hôm qua đến sáng nay không thấy về.
Xế trưa thì Dương, em trai của Dung đến báo cho Dung biết là ba Dung đã bị tử nạn vì một TQLC chạy xe Honda đụng ông!
Thân phụ qua đời đột ngột mà người gây ra tai nạn thảm khốc này lại là một TQLC, cùng màu áo rằn ri với Chu, khiến Dung đau khổ tột cùng, mẹ Dung cấm cửa và không nhận vòng hoa phúng điếu của Chu! Mọi sự liên lạc giữa hai người bị chấm dứt.
Làm sao biết ai đau buồn hơn ai? Chu trở lên lầm lỳ, liều mạng hơn và rồi trong một trận đánh sau đó trên chiến trường Cao Miên, Chu bị mất tích.
Tôi bị trọng thương trước khi Chu bị mất tích và khi tôi đang nằm bệnh viện TQLC Lê Hữu Xanh, Thị Nghè thì cô Dung đến thăm tôi và hỏi tin tức về Chu, nhưng khi thấy cô nhắc đến nó rồi khóc nên tôi dấu luôn tin nó bị mất tích và chẳng bao giờ tôi muốn gặp lại cô Dung nữa.
Năm 1985 sau khi đi tù về tôi gặp Dương, em trai Dung, ở trung tâm dịch vụ xuất cảnh Nguyễn Du, cậu ta lo hộ chiếu đi Canada do chị Dung bảo lãnh, tôi không hỏi thêm chi tiết, chỉ nghe đại khái là Dung chưa lập gia đình. Mới đây tôi vô tình đọc tờ Thời Báo xuất bản ở Toronto có bài viết về “Cuộc Tình Dang Dở” với những tình tiết éo le gần như chuyện tình của cặp CHU-DUNG, tác giả ký tên là CHUNG!
Có vẻ lạ đấy, đó cũng là lý do tôi ghi lại những kỷ niệm này với ý tưởng rằng Chu mất tích ở Căm-Bốt nhưng chắc không chết và sau 30/4/1975 có lẽ đã lết sang tận Canada, nay nhắc chuyện xưa để tìm người thân nên ghép tên Chu-Dung thành Chung. Nếu đúng thế thì người viết bài này nhắn với Chu và Dung rằng:
- Hai em đang ở cùng chung một xứ Canada, nếu còn độc thân thì tìm nhau và “Yêu Nhau Đi, Chiều Hôm Tối Rồi!”
Chuyện tình yêu và súng đạn Mậu Thân còn dài, xin tạm gác lại để bớt nhàm tai đọc giả, bây giờ nói tiếp những câu chuyện buồn Mậu Thân khác.
CỐ VẤN MỸ LÃNH THẸO
Khi đại đội tôi từ trong Chợ Lớn tiến về Mũi Tàu Phú Lâm trên đường Hậu Giang, trên đường di chuyển chúng tôi đã thấy xác một phóng viên người Mỹ “ngồi” dựa vào chiếc xe hơi bị nát. Khi đi đến ngã tư Hậu Giang và Phú Định thì chúng tôi bị đụng nặng, địch khá đông đang cố thủ trong những cao ốc và hãng pin Con Ó. Chúng tôi sẽ phải vượt qua một bãi đất trống sình lầy mà hỏa lực của VC phía đối diện rất mạnh, đã cả giờ đồng hồ rồi mà quân tôi chưa tiến thêm được bước nào mà bị thương và tử trận ngày càng tăng cao trong khi thượng cấp thì ra lệnh phải tiến “bằng mọi giá”!

Tiểu Đoàn Trưởng Đồ Sơn xin trực thăng cobras và biệt phái xuống cho tôi viên trung úy cố vấn phó Carl White để phối hợp hỏa lực. Sau vài tràng rockets, hết đạn, cobras bay đi, tôi và Carl White leo lên cao quan sát thì nghe “cắc-bù”, White ngã ngửa về phía sau, tôi biết anh ta bị thương, vội gọi y tá đến săn sóc, nhưng y tá tìm mãi không ra vết thương, không thấy máu. Sau giây phút tỉnh hồn, Carl mở mắt chỉ vào trán, một viên đạn xuyên qua nón sắt, cởi nón sắt ra thì thấy trán Carl White nổi một cục tụ máu như viên bi. Quan sát đường đi của thần chết thì ra đạn xuyên qua cuốn băng cá nhân cài trên non sắt, chui vào trong, đụng nón nhựa, sức mạnh đạn đi chỉ còn đủ lú ra chạm vào trán White thay vì xuyên qua đầu.
Carl White lấy máy hình ra, đứng bên cái biển “NHÀ BÁN”, bấm một phát làm kỷ niệm để đời. Nhờ cái hòn bi ở trán mà sau đó Carl White được lên đại úy.
NGƯỜI PHÓNG VIÊN CHIẾN TRƯỜNG.
Địch còn mạnh, tôi phải xin tăng cường xe thiết giáp để TQLC tùng thiết* (* bộ binh và thiết giáp che chở yểm trợ cho nhau cùng tiến). Cấp trên đã biệt phái xuống cho tôi một thiết giáp M41. Chỉ một chiếc thôi thì chưa đủ, nhưng có còn hơn không nên tôi cho lệnh trung đội đi đầu của Thiếu Úy Nguyễn Văn Quang K22 chuẩn bị nưong theo M41 để vượt qua khoảng trống mà chiếm mấy cao ốc trước mặt để thiết lập đầu cầu. Tiến như thế rất nguy hiểm nhưng phải theo lệnh cấp trên.
Khi xe và quân tùng thiết tiến lên thì tôi bất ngờ trông thấy anh phóng viên chiến trường núp sau pháo tháp và đang đưa máy hình lên chụp, anh phóng viên này đã đi theo tôi lao vào lửa đạn cả ngày rồi, nhưng lúc này thấy anh ta liều mạng ngồi trên pháo tháp M41 như thế thì thật nguy hiểm, giận quá tôi quát:
- Này anh phóng viên, yêu cầu anh xuống xe ngay.
Ti hét thật lớn, nhưng có lẽ vì tiếng máy nổ của M41 khiến anh phóng viên không nghe được, hoặc cũng có thể anh ta nghe nhưng “giả điếc” để cố bám theo toán quân xung phong đầu tiên để chụp hình nóng. Một tay anh bám vào thành xe, một tay đưa máy hình lên bấm liên tục. Mỗi khi xe lắc lư muốn hất tung mọi người xuống đất thì anh phóng viên vội buông máy hình treo tòng teng vào cổ còn 2 tay thì bám chặt vào xe. Nguy hiểm quá, nếu không bị bắn thì anh ta cũng bị rớt xuống, sẽ bị xích xe cuốn theo ngay! Không chần chừ đươc nữa, tôi ra lệnh cho Hạ Sĩ 1 Bùi Ngọc Đường:
- Đường, lôi ngay ông phóng viên xuống đất cho tao.
Không chậm trễ một giây, người hạ sĩ cận vệ của tôi nhẩy lên xe ôm ngang lưng người phóng viên rồi nhẩy khỏi xe thiết giáp, cả hai cùng té lộn nhào xuống đất. Trong lúc hai người còn đang nhăn nhó chưa kịp đứng dậy thì xe thiết giáp rú ga, gầm lên ủi sập bức tường phía trước mặt, lập tức địch bắn đủ mọi loại vũ khi về phía chúng tôi, xe bị trúng đạn B40, tiếng nổ chát chúa hất tung những người ngồi trên xe xuống đất, thiết giáp chồm lên đống gạch rồi khựng lại phun khói, cả khói xe lẫn khói đạn B40 mịt mù khiến tôi không nhìn thấy gì cả.
Sau vài động tác xoa mặt dụi mắt, tôi mới nhận ra được một cảnh tượng hết sức đau lòng, xe bị đứt xích, người trưởng xa M41 ngồi trong pháo tháp thò đầu ra ngoài thì đã biến đâu mất rồi! Cái nón sắt của anh văng ra xa, móp méo và bê bết máu! Thiếu Úy Nguyễn Văn Quang*, đi sau xe thiết giáp thì đang gượng đứng dậy, hai tay xoa khắp người xem có bị thương chỗ nào không, Hạ Sĩ Danh-Thon, người mang máy truyền tin của Th/Úy Quang nằm sấp bất động, ngực đè lên máy truyền tin PRC25, tôi lật người Thon lại, một viên đạn xuyên qua máy truyền tin anh đeo trước ngực, xuyên qua áo giáp, trổ ra sau lưng một lỗ nhỏ, máu chưa kịp thấm ra ngoài. (* Thiếu Úy Quang Khóa 18 Võ Khoa đã tử trận một năm sau đó), cách đó vài mét, anh phóng viên ngồi dựa lưng vào tường, mặt nhăn nhó, chắc là lúc bị Đường kéo té xuống đất đau lắm, nhưng anh ta vẫn còn đủ sức đưa máy lên bấm liên tục. Khi máy nhắm về phía tôi, người vừa ra lệnh “lôi” anh ta xuống đất nên anh ta lắc-lắc cái đầu tỏ ý “ghê quá” và đưa ngón tay cái lên trời, ý anh muốn nói là may mắn vừa thoát chết. Tôi tiến lại bắt tay anh và nói đùa:
- Về nhà nhớ mua heo cúng, lần sau ráng giữ lấy cái “gáo dừa” nghe không.
Anh nắm chặt tay tôi như muốn nói thêm điều gì nhưng rồi lại vội vàng tiếp tục đưa máy chụp nhiều tấm hình. Đến lúc này tôi mới biết là xe thiết giáp đã bị 2 trái B40 bắn vào xích và pháo tháp. Pháo tháp là một khối sắt dầy, đạn B40 không phá được nhưng sức nổ đã làm bay những gì xung quanh, sức nổ đã làm bay đầu anh trưởng xa thiết giáp, còn phần thân dưới có lẽ đã bị đứt ra và lọt vào trong lòng xe rồi! Nếu anh phóng viên còn bám theo pháo tháp để chụp hình thì không biết sẽ ra sao? Tôi không hối hận khi cương quyết đuổi anh ta xuống xe.
Kể từ đó anh phóng viên, tôi và Đường kết thân với nhau như anh em, chụp với nhau vài tấm hình để làm kỷ niệm và anh phóng viên đưa tôi và Đường về nhà trong khu cư xá Phú Lâm để giới thiệu với chị ấy và các con anh. Chị ấy phúc hậu hiền lành còn mấy cô con gái thì xinh sắn nhí nhảnh dễ thương ở độ tuổi lên 10. Thấy bố ngồi nói chuyện với các chú lính, các cô có vẻ tò mò, thập thò bên song cửa nhìn huy hiệu con Trâu Điên trên cánh tay áo trận của Đường rồi cười khúc khích.
Chúng tôi kết thân với nhau chưa được bao lâu thì VC tấn công đợt 2 vào tháng 5/1968, đại đội tôi phải liên tục tham dự các mặt trận khắp Saigon và ngoại ô nên chưa có dịp gặp lại người anh phóng viên.
Tháng 9/1968, sau khi Saigon, Chợ Lớn thanh bình trở lại thì TĐ2 đi hành quân vùng quận Khiêm Hanh Tây Ninh. Ngày 17/9/1968, Tiểu Đoàn Trâu Điên nhẩy trực thăng vào mật khu Bời Lời và đã đụng nặng với một trung đoàn VC, Trung Úy cố vấn Mỹ Joe Bargerstock, bị thương nặng vào vai và bị lạc vào tuyến VC, Đường đựợc tôi giao nhiệm vụ đi cứu Joe và Đường đã cứu được Joe về an toàn. Sau cuộc hành quân đó, Đường được cố vấn Mỹ thưởng huy chưong Bronze Star. Thiếu Tá Lê Đình Bảo, Trưởng Phòng Chính Huấn Sư Đoàn TQLC tặng cho Đường chiếc xe honda. Đường tỏ ý muốn đi thăm và khoe chiến công với người anh phóng viên. Tuy đang cấm trại nhưng tôi hiểu ý nên cũng cho chú em “nhẩy dù” về thăm ngừơi anh, do đó chúng tôi mới biết anh đã tử trận trong Mậu Thân đợt hai rồi! Đường cắn môi rồi nói với tôi:
- Cứu đựơc cố vấn Mỹ mà không cứu được anh mình!Buồn quá! Tức quá!
Thảm thay, sau khi về thăm anh, trong chuyến hành quân sau đó thì tôi bị trọng thương và Đường tử trận. Một trong những tấm hình chụp làm kỷ niệm, có một tấm chụp chung 3 anh em, chưa đầy một năm sau thì hai người đã ra đi vĩnh viễn, môt người bị trọng thương. Dù không tin dị đoan hình chụp 3 người, nhưng mỗi khi nghĩ đến, tôi cũng cảm thấy bất an.

Trên các trang báo lính, thường có mục “thư tiền tuyến, thư hậu phưong” mà nhân vật trong các thư chỉ là tưởng tựơng. Đã có một thời Thiếu Tá Huỳnh Văn Phú, Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến SĐTQLC, giao mục này cho tôi với cái tên là “Kim Chi”, em gái hậu phương Kim Chi đã viết thư cho các anh tiền tuyến, nay trong lá thư này, chính 2 chữ “Trâu Điên” khiến tôi đọc kỹ hơn.
Tác giả Phượng T.. kể lại câu chuyện một anh lính Tiểu Đoàn Trâu Điên về giải tỏa địch ở cư xá Phú Lâm trong dịp tết Mậu Thân 1968, thân phụ Phượng T.. đã chụp được tấm hình người lính này, một tấm hình đẹp và oai hùng nên ông tặng cho con gái khi cô mới chỉ là một nữ sinh lớp Đệ Lục. Cô nữ sinh ép hình người lính trong cuốn nhật ký bé nhỏ. Chuyện đau lòng là sau đó thân phụ Phượng T.. bị VC sát hại khi chúng tấn công vào Saigon đợt hai tết Mậu Thân. Thương nhớ cha, cô giữ mãi tấm hình người lính và rồi tấm hình đó cũng bị thất lạc cùng với cuốn nhật ký bé nhỏ vào ngày 30/4/1975. Cuối lá thư cô Phượng T.. ở Phú Lâm A Chợ Lớn Saigon Mậu Thân 1968 viết:
***
“Lá thư này em viết mà không bao giờ gửi, vì em đâu biết anh Trâu Điên đang ở nơi nào trên mảnh đất chiến tranh đầy thống khổ của dân tộc Việt Nam mình. Em viết lá thư này như một nhu cầu yêu thương dành cho anh Trâu Điên, người bạn trẻ của Ba. Hình ảnh Ba và anh Trâu Điên luôn gắn liền nhau trong lòng em. Với lòng mong mỏi người anh Trâu Điên vẫn còn sống sót đâu đó sau cơn hồng thủy, biết rằng trên mặt đất này vẫn còn có một người nhớ tới anh Trâu Điên ngày xưa ”.
***
Một sự vô tình trùng hợp hay đây chính là tâm sự thật của con gái ngừơi phóng viên chiến trường ngày xưa ở cư xá Phú Lâm mà tôi đã có dịp nhận làm anh?
Nếu đúng là những cô bé, con anh phóng viên, núp sau rèm cửa, cười khúc-khích khi nhìn thấy cái hình con Trâu Điên trên vai áo trận của Hạ Sĩ 1 Bùi Ngọc Đường thì… Đừơng không còn “sống sót đâu đó” nữa, mà Đường đã tử trận ở chiến trường rồi tác giả Phượng T.. ơi!
“MỞ CỬA THÀNH DỤ ĐỊCH”
Đại đội tôi bị khựng tại đường Phú Định, cobras đến rồi đi, thiết giáp đến rồi bị bắn cháy, địch vẫn cố thủ trong dẫy nhà lầu bên kia bãi sình lầy, TQLC đâu phải mình đồng da sắt mà liều mạng chiếm mục tiêu bằng mọi giá? Vả lại trời đã về chiều rồi tối, tôi được lệnh đóng quân đêm, lấy đường Phú Định làm tuyến phòng thủ án ngữ, bắt tay với tôi là ĐĐ4 của Vũ Doàn Doan.

Một đêm bình yên, nhưng mới vửa hừng Đông là súng nổ tưng bừng sau lưng chúng tôi, trong Chợ Lớn, khu vực Soái Kình Lâm, chính khu vực này hôm trước chúng tôi làm tuyến xuất phát tiến về Mũi Tàu Phú Lâm, làm gì có địch. Tôi gọi máy hỏi Tiểu Đoàn thì mới biết BĐQ (hình như TĐ35/BĐQ) đụng VC.
Tôi cho thám thính tình hình để chuẩn bị tấn công mục tiêu hôm qua thì địch hoàn toàn im lặng, nhưng phát giác khu sình lầy và ruộng rau muống không phòng thủ đêm qua đã bị cày nát vì dép râu, số lựợng địch thoát ra bằng đường này ước chừng vài chục tên chứ không ít.
Tôi biết ngay là địch đã rút khỏi mục tiêu của tôi, nhưng thay vì rút ra về hướng rừng thơm Lý Văn Mạnh thì chúng lại chui đầu vào Chợ Lớn để bị BĐQ thịt. Không lẽ sự lơ là phòng thủ của tôi vô tình “mở cửa” cho địch chui vào rọ của BĐQ. Tôi thấy có cả trực thăng quần trên trời để yểm trợ cho BĐQ. Có lẽ vì không có giao liên dẫn đường nên lũ ngợm về thành phố, lạc đường đâm đầu vào chỗ chết. Điều buồn là một biến cố bất ngờ, trực thăng bắn lầm vào trường Phước Đức, nơi BĐQ đặt Bộ Chỉ Huy HQ khiến một số sĩ quan cấp tá bị tử thương và bị thương. Nguyên nhân đạn lạc chưa có lời giải.
***
Chỉ vì vui Xuân quên nhiệm vụ để VC xâm nhập vào thành phố lúc ban đầu, nhưng chúng không chiếm được bất cứ điểm trong yếu nào, chúng bị quân ta lùng, bao vây và diệt, không có lối thoát nên chúng đành nằm chịu trận gọi là cố thủ đến tan xác hay ra đầu hàng. Tài liệu đã chứng minh VC đã tồn thất mặng nề, lựclựơng kiệt quệ một thời gian dài sau Mậu Thân, nếu nói cho vui là mở cửa thành dụ địch thì cũng có lý.

(Hình) Các đại đội trưởng TĐ2 tham dự trận Mậu Thân.
R-L: Tiền K20, Doan K19, Hợp K19, Cấp K19 (bị thương sau Mậu Thân, hình này do TĐT Nguyễn Xuân Phúc chụp khi về hậu cứ ở Thủ Đức)
- Details
- Category: Truyện Lính
- Hits: 1216
Còn bao nhiêu lần nữa.
(Hai Hùng SG)
---oo0oo---

Thấy Messenger của anh Xuân Trần ở California nhắn tin:
- Hùng ơi chừng vài hôm nữa anh có dịp về Sài Gòn, mấy anh em mình gặp nhau cà phê cà pháo chơi cho vui nhé.
Tôi vui mừng vô cùng, vì lâu lâu có những người anh em ngày xưa chung đơn vị còn nhớ đến mình nên tôi trả lời:
- Dạ anh, Khi nào về tới anh nhắn anh em mình gặp mặt cho vui.
***
Cách nay hai năm, cũng vào thời gian này anh em chúng tôi có dịp họp mặt với nhau thật vui, lần đó họp mặt ở nhà anh Trung úy Thành một đại đội trưởng TĐ 35 BĐQ. nhà anh Thành ở một vùng ven trong những con hẻm quanh co rất khó tìm, nhưng nhờ thời buổi hiện đại, ai cũng có cái điện thoại cầm tay, nên việc kiếm nhà cũng không mấy khó khăn.
Lần đó chúng tôi họp mặt với nhau gần cả chục anh em có người ở bộ chỉ huy liên đoàn 6 BĐQ, có người tiểu đoàn 34, tiểu đoàn 35, tiểu đoàn 51, kể cả có người ở đại đội trinh sát của liên đoàn 6, ngày xưa người nào cũng trẻ măng giờ đây gặp lại ai cũng răng long đầu bạc, tuy vậy vóc dáng oai hùng của ngày nào vẫn còn hiện diện trong tướng mạo của mỗi người.
Trước buổi họp mặt lần trước ai nấy đều vui vẻ ôn lại những kỷ niệm vui buồn đời Quân ngủ kiểm lại người mất người con khi nhắc đến những người đã khuất không khí buổi tiệc liên hoan chùng xuống, các vị chỉ huy cũng được anh em nhắc đến, ở Liẻn đoàn thì có Trung Tá Bé, Trung tá Tống Viết Lạc, Đại tá Nguyên Kim Tây, Đại Tá Cao Văn Ủy, Trung tá Trương Khánh. TĐ 34 có Thiéu tá Mười Tiểu đoàn trưởng. TĐ 35 Thiếu tá Huỳnh Thiên Mạng, Trung tá Cao văn Niên, TĐ51 Thiéu tá Nguyễn Khoa Lộc, Đại úy Đổng Kim Quang. Còn các xếp ban 3 như Thiếu tá Trần Tiễn Sang, và Đại úy Thế cũng được nhắc qua.
Trong số người họp mặt có anh Hoàng Tùng Trung sỹ Nhất,ở thành phố New York , có anh Xuân Trần ở California còn lại là những anh em trong nước.
Trước khi nhập tiệc anh Tùng đã trích ra một ít "Ngân lượng" giúp đỡ cho những anh em đang gặp khó khăn, và ai cũng có phần, đây là niềm an ủi về vật chất lẫn tinh thần cho những anh em đồng đội ngày xưa, anh em trong buổi họp mặt rất cảm ơn anh Hoàng Tùng, Anh Xuân Trần sau khi liên hoan xong chia tay ai nấy đều buồn rồi hẹn hy vọng sẽ có lần gặp lại nữa.
Thời gian trôi qua những tưởng các anh không có dịp về thăm quê nhà, cũng như thăm những đồng đội ngày xưa. Rồi hôm nay hai năm sau, anh Hoàng Tùng vì sức khỏe và công việc nên anh không về được, chỉ có anh Xuân Trần tái ngộ cùng anh em chúng tôi lần này mà thôi.
Hẹn nhau ở một quán ăn bình dân trên đường Nguyễn Kiệm, gần đến giờ hẹn tôi kêu xe ôm chở đến quán, khi đến nơi chỉ mình tôi trơ trọi chưa thấy một "móng" nào có mặt, tôi móc điện thoại ra vừa nhắn tin vừa gọi thì hoàn toàn không liên lạc được với ai, tôi nghĩ rằng chắc mình lộn ngày hoặc lộn nơi địa điểm hẹn, sau khi xem lại mới thấy mình không có gì sai tôi lại nghĩ chắc mình đến hơi sớm nên anh em chưa kịp đến với mình, vậy là tôi bước vào quán kêu một ít món ăn và chai nước ngọt nhằm mục đích ngồi giữ chỗ chờ cuộc hẹn.
Hơn nửa tiếng sau chờ hoài không được, mà thức ăn trên bàn tôi cũng thồn hết vô bụng rồi, ngồi lâu quá tôi ái ngại nên kêu phục vụ ra tính tiền để về vì cũng không còn hi vọng gặp lại các chiến hữu lần này bởi lý do gì đó tôi chưa biết.
Khi đặt xong xe tài xế vừa trờ đến nơi, tôi vừa bước lên yên xe ngồi thì bỗng đâu anh Xuân, Thiếu úy Nguyễn, Anh Võ Cà Thum xuất hiện cùng một lúc, tôi mừng rỡ vô cùng bèn xuống xe rồi gửi tiền cho anh xe ôm mà không đi cuốc nào, anh xe ôm khoái chí vô cùng vì không tốn chút xăng mà vẫn có tiền để sinh hoạt hơn nữa tôi còn "Boa" thêm cho anh chút đỉnh để anh vui lòng.
Khi vô quán anh em đã tề tựu, Anh Xuân mới nói :
- Có nhiều anh em mình đã liên lạc rồi, mà họ bận bịu, có người tuổi già sức yếu, có người vì lý do nào đó không thể họp mặt được lần này.
Vậy là chỉ có bốn anh em chúng tôi và cô em gái của chiến hữu Tường Nguyễn Canada, quân số thuộc ban một của liên đoàn ngày xưa tham dự
Vậy là cuộc hội ngộ bỏ túi lần này vơi đi hơn một nửa so với số người họp mặt lần trước
Những tưởng sẽ không vui vì thiếu những người thân quen của cuộc họp mặt lần trước, nhưng sau một hồi nhắc lại những lúc quân hành những lúc làm việc ngày xưa khiến ai nấy cũng như đang sống lại một thời.
Anh Anh Võ Cà Thum một Hạ sĩ quan thường vụ của tiểu đoàn 35 Biệt động quân, anh như một Đại lão làng của liên đoàn cũng như tiểu đoàn 35, anh sống cũng gần hầu hết các đời liên đoàn trưởng Anh thuộc lòng cá tính của các sếp ngày xưa, vốn là thiếu sinh quân trưởng thành anh gia nhập binh chủng Biệt Động Quân, anh tham gia hầu hết các chiến trường ngoại biên cũng như trong nước trên các vùng chiến thuật mà liên đoàn trực tiếp hành quân, nhiều sếp trong đơn vị cũng nể vì anh lắm, vì anh có nhiều kinh nghiệm sống và làm việc nơi đây, anh thấu hiểu mọi vấn đề, nên có những việc gì cần đến các sếp hay tham khảo ý kiến của anh, đa phần các sếp đều đồng ý theo cách anh đề nghị, không vì được cấp trên yêu quý anh tỏ vẻ là người cậy quyền ỷ thế để coi thường anh em bên dưới, anh Võ Cà Thum sống rất chan hòa với đồng đội ai nấy đều yêu mến, năm nay anh đã 85 niên kỷ với gương mặt cùng nếp nhăn theo thời gian, nhưng tôi cảm thấy anh vẫn trẻ hơn số tuổi anh đang mang, anh vẫn hoạt bát kể vanh vách những chuyện ngày xưa khiến tôi cứ tưởng nó hiện ra trước mắt mình ngày hôm Qua.
Anh Xuân Trần cũng hòa vô niềm vui của mấy anh em, anh kể lại những lúc vui buồn ở mặt trận Cà Tum, ở Campuchia, ở An Lộc và các nơi khác đơn vị hành quân đến, có những chuyện vui chuyện buồn anh đều mang ra kể hết, có những đoạn anh kể xong mọi người đều cười có những khúc Anh kể xong thì tâm trạng mọi người cảm thấy buồn vì mất đi một số đồng đội.
Sau ngày Miền Nam gảy súng, anh Xuân định cư ở miền nam California sống cho đến ngày hôm nay, anh cũng đã 80 niên kỷ rồi nhưng ngó anh còn khỏe mạnh, chắc có lẽ do anh tham gia văn nghệ nên tinh thần thoải mái, anh là một tay Đàn Guitar cự phách của một nhóm nhạc ở Cali, anh hay tập hợp những anh em chơi nhạc với nhau hát những bài hát vui tươi cùng nhau, do sống lạc quan nên anh trẻ hơn tuổi 80 rất nhiều. Mong anh Xuân nhiều sức khỏe để phục vụ cho cộng đồng và cho gia đình mình anh nhé.
Ngồi cạnh tôi anh Thiếu úy Nguyễn, một đội trưởng của một tiểu đoàn 51 BĐQ, anh Nguyên nay đã 75 tuổi, tuy dáng người ốm yếu tóc bạc nhưng ngó anh cũng còn phong độ dữ lắm, do cuộc sống ổn định, anh Nguyên sống cũng rất lạc quan yêu đời tôi hỏi anh:
- Ai cũng đi định cư diện HO sao anh Nguyên còn ở đây?
anh không đi như mấy anh em vậy.
Cầm ly nước ngọt lên anh Nguyên hớp một miếng, rồi anh lên tiếng:
- Hùng ơi ! ai cũng muốn đi định cư diện HO hết, nhưng hoàn cảnh của anh lúc đó mẹ già và anh em trong nhà gặp những điều không hay, nếu anh đi cùng vợ con thì yên bề rồi đó, nhưng trách nhiệm làm con, làm anh trong gia đình, anh không thể bỏ mặc mà ra đi nên anh chấp nhận ở lại để phụng dưỡng mẹ già và phụ các anh em, có lẽ trời cũng thương tình nên cuộc sống gia đình anh hôm nay cũng tạm yên ổn, không phải lo toan về mặt kinh tế cho lắm, cảm ơn Hùng đã hỏi thăm còn Hùng thì sao.
Tôi trả lời :
- Anh Nguyên ơi Hùng Lính lác, sau ngày rã ngũ làm chuyện lặt vặt làm công nhân sống qua ngày cho đến bây giờ, con cái lớn hết rồi nên mấy đứa nhỏ lo lại cho ông ngoại, thôi thì mình lớn tuổi rồi, có sao sống vậy an phận cho rồi phải không anh Nguyên.
Còn rất nhiều chuyện anh em chúng tôi nói cho nhau nghe vì thời gian có hạn nên không thể kể hết cho các bạn, tóm lại cuộc họp mặt lần này tuy vắng hơn phân nửa, nhưng cũng để lại cho mỗi người hiện diện hôm nay nhiều cảm xúc vui buồn của ngày nào trên những bước quân hành ngày xưa tuy gian lao nhưng cũng lắm oai hùng.
***
Buổi tiệc nào rồi cũng phải có lúc tàn, buổi họp mặt nào rồi cũng đến lúc chia tay, trước khi ra về anh Xuân có nói:
- Anh em mình còn sức khỏe nên còn gặp nhau, qua chuyến này không biết có còn dịp để gặp nhau lần nào nữa hay không, thôi thì anh em cố gắng giữ sức khỏe, nếu trời cho mình khỏe mạnh thì mình sẽ còn gặp nhau chí ít vài lần nữa phải không các bạn.
Nghe anh nói tâm trạng ai cũng chùng xuống, nhìn lại mình với hơi tàn sức kiệt đủ thứ bệnh trong người, dẫu sao còn gặp nhau ngày nào thì mừng ngày ấy, hy vọng những anh em cùng đơn vị ngày xưa sẽ còn được gặp nhau lần tới vào năm sau các bạn nhé.
Xin chúc anh Xuân Trần tận hưởng những ngày thăm lại quê nhà thăm lại bạn bè xưa.
Chúc anh trở về nơi quê hương thứ hai được bình an vui vẻ, sống lạc quan để còn có ngày chúng mình lại hội ngộ nhau lần nữa Anh Xuân Trần nhé ./.
Sunday 16.3.2025. (11h55 am)
- Details
- Category: Truyện Lính
- Hits: 1022
NHÌN LẠI TRẬN ÐÁNH BAN MÊ THUỘT 1975
Đại Tá Nguyễn Trọng Luật
---oo0oo---
Thiếu Tướng Phạm Văn Phú
Như Đại tá Luật nói ngay từ đầu, ông chỉ là một Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng của tỉnh Darlac, quyền hạn của ông rất giới hạn. Tư lệnh chiến trường lúc đó là Đại tá Vũ Văn Quang, Tư lệnh phó Sư đoàn 23 Bộ binh, ông chỉ là người thừa hành. Vì thế, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy ông không biết rõ những tin tức tình báo mà Quân đoàn 2 đã thu lượm được cũng như những quyết định của Quân đoàn 2 liên quan đến trận Ban Mê Thuột. Nhưng đối với diễn biến của trận đánh, từ khi mở màng cho tới khi kết thúc, ông nắm rất vững, vì ông là người trong cuộc. Đây là một tài liệu quý báu có thể giúp cho các nhà sử học và các nhà phân tích, phê bình hiểu rõ hơn về trận đánh có tính cách quyết định này.
* * * * *
Chủ Nhật 9/3/75
- Trình Đại tá, Thiếu tướng Tư lệnh Quân doàn 2 sẽ đến Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 vào lúc 10 giờ hôm nay để duyệt tình hình. Trung úy Dzi, sĩ quan tùy viên, sau khi đứng nghiêm chào tôi và nói với tôi như vậy, khi tôi còn ngồi tại tư dinh để xem công văn công điện cùng ký những giấy tờ cần thiết cho một ngày làm việc. Không phân biệt ngày cuối tuần, ngày nào cũng là ngày thứ Hai, mà người Mỹ thường nói trên cửa miệng. Với trọng trách Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Darlac, ngày lại ngày tôi rất bận, về hành quân, đi thanh tra, đôn đốc, kiểm soát các chi khu, phân chi khụ Đó là chưa kể dành thì giờ tiếp đón các phái đoàn từ Saigon ra hay từ Quân đoàn xuống. Nên chỉ còn ban đêm và những giờ sáng sớm để xem công văn giấy tờ. Tôi hỏi lại:
- Xe sẵn sàng chưa?
- Dạ, thưa sẵn sàng.
- OK, thôi chúng ta đi.
Khi tới phi trường Phụng Dực, lòng tôi như lửa đốt. Phần vì đêm qua mất ngủ, phần lo số phận của hàng trăm sinh linh đang chiến đấu tại Đức Lập mà VC đã tấn công tối quạ Hiện mất liên lạc không biết còn hay mất. Tâm hồn tôi như đang gắn liền với các chi khu, các binh lính dưới quyền mình. Làm sao cho họ an toàn giữa cuộc chiến càng ngày càng tàn khốc này. Hàng đêm vừa chợp mắt là thấy những lo lắng không đâu chợt đến với giấc ngủ muộn màng... Dù quận Đức Lập không phải là vùng trách nhiệm của mình nhưng tiên liệu cho kế hoạch phòng thủ Darlac vẫn là trọng tâm của tôi trong lúc này. Tôi có một cái nhìn rõ ràng, mất Thuần Mẫn, mất Đức Lập thì việc tiến chiếm Ban Mê Thuột chỉ còn là vấn đề thời gian. Nhưng tiếng nói của tôi có ai nghe trong khi tôi chỉ là một Tiểu khu trưởng trong tay có mấy tiểu đoàn Địa phương quân, mấy Trung đôi Nghĩa quân, Cảnh sát, Nhân dân tự vệ. Tư lệnh chiến trường lại do Đại tá Quang đảm trách, tôi chỉ là cấp thừa hành. Tôi sinh ra trong binh chủng Thiết giáp; nếu tấn công thì rất thích hợp cho binh chủng này, còn phòng thủ thì thiết giáp chỉ là bia đỡ đạn cho những trò chới của súng chống chiến xa. Tôi càng suy nghĩ bao nhiêu, lại càng nhìn thấy sự bất lực của mình. Con ngựa sắt của tôi đâu, hay bây giờ chỉ còn những tay súng tài tử đối chọi với những kẻ gian hùng đang điên khùng xông vào lửa đỏ chẳng khác gì những con thiêu thân? Chợt phía Tây, hướng về phía Đông, một chiếc Dakota 47 lù lù đang tiến tới và đáp xuống phi trường.
Máy bay mở cửa, tôi dứng nghiêm chào Tướng Phạm Văn Phú và phái đoàn. Tướng Phú tiến đến bắt tay tôi và ngồi lên xe của Tòa Hành chánh đi về Ban Mê Thuột. Ngồi cạnh Tướng Phú, tôi thấy ông có vẻ đăm chiêu. Ông không hỏi tôi điều chi, cũng như tôi vẫn giữ im lặng, trông chờ một hy vọng. Hình như, Tướng Phú đang lo nghĩ về quận Đức Lập, đến bay giờ còn hay mất?
Đoàn xe trực chỉ Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh. Tướng Lê Trung Tường, Đại tá Vũ Thế Quang đã chờ sẵn để hướng dẫn phái đoàn vào Trung tâm Hành quân Sư đoàn. Tại đây, đã có sự hiện diện của Đại tá Nghìn, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Quảng Đức để thuyết trình về tình hình quận Đức Lập lên Tướng Phú và phái đoàn. Nhìn trên bản đồ hành quân, sau mấy câu mở đầu chiếu lệ, Đại tá Nghìn ngậm ngùi:
- Cộng quân đã pháo kích và tấn công vào quận Đức Lập vào lúc 5 giờ sáng, rất nặng và thiệt hại đáng kể. Bộ chỉ huy Chi khu đã trúng nhiều đạn pháo binh 130 ly, nên Chi khu trưởng đã đưa Bộ chỉ huy Chi khu rời khỏi quận và hiện giờ vẫn còn đang chiến đấu...
(Sau này, tôi được gặp lại Trung tá Nguyễn Cao Vực, Quận trưởng Đức Lập tại trại tù Vĩnh Phú, Tân Lập. Trung tá Vực đã kể cho tôi biết trận đánh vào Chi khu như sau: Khi tấn công vào Chi khu, VC đã dùng pháo binh 130 ly và SKZ 82 ly — súng không giựt 82 ly — bắn vào Chi khu và Chi đoàn Chiến xa. Với đạn SKZ 82 ly bắn trực xạ, địch đã làm tê liệt các chiến xa của ta, nên không còn được xử dụng ngay từ phút đầu. Chi khu cầm cự cho đến sáng, khi mặt trời bắt đầu lên thì thất thủ).
Sau đó Đại tá Vũ Thế Quang, Tư lệnh phó Sư đoàn 23 BB, kiêm Tư lệnh Mặt trận Ban Mê Thuột, lên trình bày kế hoạch phòng thủ của Trung đoàn 53 BB do Trung tá Võ Văn Ân làm Trung đoàn trưởng. Nói là Trung đoàn, nhưng cấp số chỉ còn Bộ chỉ huy Trung đoàn và một Tiểu đoàn mà thôi, cộng thêm một Trung đội Pháo binh 105 ly để làm lực lượng tiếp ứng cho Darlac và Quảng Đức khi bị tấn công.
Đại tá Quang trình bày kế tiếp về kế hoạch phòng thủ của thị xã Ban Mê Thuột. Thị xã Ban Mê Thuột được phòng thủ với tất cả các đơn vị trú đóng như sau:
- Phía Bắc có Trung tâm Huấn luyện Sư đoàn 23 BB.
- Phía Nam có Bộ tư lệnh Sư đoàn 23 BB.
- Phía Đông có Bộ chỉ huy Chi khu Ban Mê Thuột.
- Phiá Tây, vùng nguy hiểm nhất, có hậu cứ của Thiết đoàn 3 Thiết giáp và Kho đạn Mai Hắc Đế.
- Trừ bị cho thị trấn Ban Mê Thuột là Trung đoàn 53 trừ bị, đóng tại phi trường Phụng Dực.
Nghe xong phần trình bày của Đại tá Vũ Thế Quang, Tướng Phú có vẻ hài lòng và không chê trách cũng như cho những chỉ thị đặc biệt. Lúc bấy giờ đã quá trưa, tôi cho dọn cơm ra mời Tướng Phú, Tướng Tường, Đại tá Nghìn cùng phái đoàn ăn tại chỗ. Đây là bữa cơm rất dạm bạc. Tất cả đều dùng cơm đĩa, uống nước ngọt hay biạ Tướng Phú ăn rất nhanh để còn kịp trở về Pleiku theo dõi tình hình chung của Quân đoàn 2. Tôi cũng không ngờ, đây là bữa ăn cuối cùng giữa tôi và Tướng Phú, cấp chỉ huy trực tiếp của tôi.
Ăn xong, chính tôi đích thân đưa tiễn Tướng Phú ra phi trường Phụng Dực để về Pleiku. Khi bắt tay tạm biệt, Tương Phú đã vỗ vai tôi nhỏ nhẹ: ”Chú mầy cẩn thận coi chừng chúng nó đánh nghe”. Đây chỉ là câu nói thông thường mà cuộc đời binh nghiệp đã dạy cho tôi, nghĩa là hầu hết các cấp chỉ huy đi thăm các đồn bót, hay đơn vị tiếp giáp với địch đều dặn dò với thuộc cấp của mình bằng câu nói trên. Nói khác hơn, không có tính cách khẩn cấp, nguy ngập. Nếu nghiêm trọng, các cấp chỉ huy sẽ chỉ thị một cách tỉ mỉ hơn nhiều.
Khi về đến Ban Mê Thuột tôi lại phải đến nhà Tướng Tường để đưa Tướng này về Pleiku bằng trực thăng. Bước vào nhà tôi thấy Tướng Tường đang nói chuyện với gia đình và sau đó ông ra phi trường L19 cũng là phi trường trực thăng. Trong lúc chờ đợi phi công trực thăng đến, có ông Paul Struharick, là đại diện cho Tổng lãnh sự Mỹ tại Nha Trang đến hỏi Tướng Tường về tình hình VC xung quanh Ban Mê Thuột ra sao. Tướng Tường cười hí hí, có vẻ tự tin tự đắc, cầm cây gậy tướng đánh vào mông đít mình bộp bộp, rồi trả lời bằng tiếng Anh: ”Don't worry about that”. Ông Paul cụt hứng nên không hỏi thêm và Tướng Tường cũng lên trực thăng bay về Pleiku.
Việc đầu tiên trở về Bộ chỉ huy Tiểu khu là tôi triệu tập ngay Bộ tham mưu, các đơn vị trưởng quân đội tại thị xã và các ty sở thuộc Tòa hành chánh cũng như các Ty trưởng chuyên môn. Tôi trình bày tình hình quân sự. Quận Thuần Mẫn đã bị mất. Quốc lộ 14 nối liền Pleiku - Ban Mê Thuột đã bị cắt. Quốc lộ 21 từ Ban Mê Thuột - Nha Trang qua quận Khánh Dương đã gián đoạn và sáng nay quận Đức Lập đã bị CS tấn chiếm, và như vậy Quốc lộ từ Quảng Đức - Ban Mê Thuột coi như không xử dụng được nữa. Không cần phải là nhà quân sự, mọi người cũng đủ hiểu, Mặt trận Ban Mê Thuột coi như bị bao vây tứ phía, và cần đặt câu hỏi về sự kiện hoạt dộng quân sự của địch và thấy rõ ý đồ của địch. Riêng phía Tây thị xã còn đồn Ban Don, cách xa Ban Mê Thuột khoảng 40 km.
Cuối cùng việc cấm trại 100% từ quân nhân đến công chức là điều bắt buộc trong thời gian nghiêm trọng này và tôi ra lệnh: ”Sẵn sàng ứng chiến!”.
Để tăng cường cho Ban Mê Thuột, tôi quyết định nhanh chóng rút ngay Tiểu đoàn 204 Địa phương quân đang đóng tại Ban Don về thị xã. Việc di chuyển này không phải là dễ dàng vì phải trưng dụng hết tất cả các xe GMC của các đơn vị đóng tại Ban Mê Thuột mới đủ chuyên chở cả một Tiểu đoàn. Trước khi trở về tư dinh, tôi đã cẩn thận đi quan sát tất cả những yếu điểm phòng thủ của thị xã và cho họ những chỉ thị cần thiết. Có một điều tôi hơi an tâm một chút là các đơn vị như Địa phương quân, Nghĩa quân, Cảnh sát và Nhân dân tự vệ đều thi hành nghiêm chỉnh lệnh cắm trại 100% và báo động.
Chẳng cần tắm rửa và dù người nhà đã dọn cơm sẵn, tôi vẫn đi thẳng vào nơi làm việc của tôi với bản đồ hành quân. Tôi như muốn suy nghĩ về tình hình và ý đồ của địch. Dù cấp nhỏ, nhưng tôi vẫn cố gắng phân tích theo nhãn quan của tôi để mình còn nước còn tát trong việc giữ Ban Mê Thuột, vùng trách nhiệm của mình bằng mọi giá. Nhìn qua những mũi tên và những đơn vị của Cộng quân, theo như bản phối trí của Quân đoàn: các Sư đoàn 320, F10, 316 của Cộng quân vẫn còn ở phía Tay Pleiku và Kontum. Những tin tức các sư đoàn này đã về Ban Mê Thuột vẫn chưa được Quân đoàn xác nhận, vẫn còn phải theo dõi và kiểm chứng, nói theo Phòng 2 của Quân đoàn.
Tôi đã tiên đoán, Ban Mê Thuột sẽ là nơi thử lửa đầu tiên cho việc tiến chiếm miền Nam. Bằng chứng là VC đã chặt tay chân của Ban Mê Thuột rồi bằng cách nhổ 2 cứ điểm Thuần Mẫn và Đức Lập, Khánh Dương coi như đứt đoạn. Vì vậy, tôi đã nhiều lần xin Tướng Phú tăng cường quân chính qui bằng cách đưa Trung đoàn 45 BB về phòng thủ Ban Mê Thuột.
Với nhiều lần xin quân viện, mãi đến ngày 4/3/75, Tướng Phú mới bằng lòng cho Trung đoàn về Ban Mê Thuột. Lệnh di chuyển đã được ban hành. 2 giờ chiều cùng ngày, toàn thể đơn vị thuộc Trung đoàn 45 đã ngồi lên xe GMC để chờ lệnh Tướng Tường là xe chuyển bánh. Không ngờ vừa lúc đó, pháo kích của Cộng quân rót vào thị xã Pleiku, cũng Bộ Tư lịnh Quân đoàn 2. Tướng Phú đang ở Nha Trang được báo cáo của Tham mưu trưởng Quân đoàn 2 về việc pháo kích này, đã không ngần ngại hét vào máy: ”Tôi ra lệnh cho Trung đoàn 45 BB không di chuyển về Ban Mê Thuột nữa, ở lại Pleiku vì Mặt trận Pleiku đã bùng nổ rồi”.
Qua ngày hôm sau, tức ngày 5/3/96, Chi khu Thuần Mẫn thuộc tỉnh Phú Bổn, nằm ngay Quốc lộ 14, lại bị Cộng quân đánh chiếm. Sự kiện này càng củng cố ước đoán của Tướng Phú: ”CS sẽ tấn công Pleiku” là đúng.
Cho dù ngày 7/3/95, chi khu Khánh Dương thuộc tỉnh Khánh Hòa nằm trên trục lộ Ban Mê Thuột - Nha Trang bị mất mà Tướng Phú vẫn chưa nghĩ đến việc CS sẽ tấn chiếm Ban Mê Thuột. Rồi đến sáng ngày 9/3/75, Tỉnh Quảng Đức đã báo cáo cùng Tướng Phú về tình hình rất bi đát của Quảng Đức, các chi khu đang giao tranh với cấp số đáng kể của Cộng quân. Tôi như người có miệng phải câm, nhìn đồi núi chập chùng của Cao nguyên mà lòng héo hắt. Vận mệnh của cả đất nước đang bị cấp chỉ huy lượng giá sai và chiến thắng sẽ đến của CS chỉ là may mắn. Tôi phải đương đầu với thử thách này đến bao giờ??? Nghĩ đến câu dặn dò của Tướng Phú để dối lòng: ”Hãy coi chừng tụi nó đánh nghe”, như một câu nói thôn thường. Rồi “Don't worry about that” của Tướng Tường nói một cách kiêu hãnh với ông Paul. Cộng thêm lời tường trình của Trung tá Trưởng Phòng 2 Quân đoàn: Cộng quân vẫn còn luẩn quẩn tại Pleiku, Kontum, kể cả những đơn vị thiết giáp, làm tôi cũng bớt lo âu phần nào. Và tự an ủi mình, nếu Cộng quân có tiến chiếm Ban Mê Thuột, mình còn cầm cự được đôi ba ngày. Khó khăn lắm tôi mới chợp mắt qua đêm, với những lo âu...
TRẬN ÐÁNH MỞ MÀN
Ngày 10/3/75
Khoảng 2 giờ sáng, khi Ban Mê Thuột còn đang trong giấc điệp, bỗng bị đánh thức dậy bằng tiếng pháo kích inh tai, rợn óc của Cộng quân. Tôi rất bình tĩnh vì đã nếm mùi hỏa tiễn của Cộng quân ở những trận đánh trước Tết Mậu Thân tại Kontum, tại Quảng Ngãi, Đà Nẵng và cả trận đánh Hạ Lào, v.v... Từ lầu hai tôi chạy xuống hầm chỉ huy mà những vị Tiểu khu trưởng tiền nhiệm đã xây cất. Đây là một hầm rất kiên cố, làm bằng bê tông cốt sắt, có thể chống được pháo kích. Trong hầm trang bị đầy đủ máy móc truyền tin để liên lạc tới các đơn vị trực thuộc cũng như liên lạc với cấp trên, hay cấp trung ương rất dễ dàng. Tôi liên lạc ngay với Thiếu tá Hy, Trưởng Phòng 3 Tiểu khu dưới hầm TOC của Tiểu khu:
- Pháo kích từ hướng nào?
- Dạ thưa, Cộng quân bắn từ phía Tây tới.
- Bắn vào vị trí nào?
- Trình Đại tá, bắn vào Bộ chỉ huy Tiểu khu, Đài truyền tin ở sân bay L19, Bộ tư lệnh Sư đoàn 23 BB và Kho đạn Mai Hắc Đế.
- Anh hãy gọi ngay Pháo binh của mình cũng như Pháo binh Sư đoàn 23 BB tai Phụng Dực phản pháo.
Tiếng pháo kích vang rền thị xã Ban Mê Thuột cho đến 4 giờ sáng. Chúng dùng chiến thật tiền pháo hậu xung và tấn chiếm kho đạn Mai Hắc Đế ở phía Tây, bằng mũi dùi thật mãnh liệt. Đơn vị đồn trú đã chống trả một cách anh dũng và kho đạn vẫn vững vàng. Về phía Bắc, Đài Truyền tin của Không quân cũng bị tấn công.. Với chiến thuật biển người (Human Wave) và đánh sát lá cà, chỉ cần nửa tiếng đồng hồ sau, Cộng quân đã tiến tới sát miệng hầm và dùng lựu đạn tung vào miệng hầm. Một số sĩ quan và binh sĩ ta bị tử thương và bị thương. Và chỉ 15 phút sau, TOC đã báo cáo với tôi, Đài Truyền tin đã lọt vào tay giặc. Về phía trại Mai Hắc Đế, với những tay súng can trường ta đã bẻ gẫy nhiều đợt tấn công của Cộng quân. Khoảng 5 giờ sáng, TOC/TK báo cáo Đại úy Chỉ huy trưởng bị thương nặng. Kho đạn như rắn mất đầu và chỉ cầm cự đến 5 giờ 30 thì kho đạn bị tràn ngập. Như vậy mặt trận về phía Bắc và Tây đã bỏ ngõ, bây giờ chỉ còn trông chờ vào những đơn vị phía Nam và Đông.
Đạn pháo kích 130 ly vẫn rót đều vào thị xã. Lý do dễ hiểu là pháo binh của ta tại phi trường Phụng Dực phản pháo với đạn 105 ly đâu có tầm xa như đạn 130 ly của CS, đang đặt tuốt phía Tâỵ Vì vậy sự phản pháo trở nên vô vọng, không thể khóa họng những khẩu đại pháo của địch. Nhất là pháo binh của ta không có L19 hướng dẫn, chỉ điểm, điều chỉnh chính xác.
Đến 7 giờ sáng, địch ngưng pháo kích và cũng ngay lúc này Thiếu tá Trưởng ty Cảnh sát Darlac báo cáo thẳng với tôi:
- Thưa Đại tá, chiến xa CS đã tiến vào thị xã và hiện đang bố trí xung quanh nhà thờ thị xã. (Cũng nên ghi nhận là nhà thờ Công giáo này nằm ở trung tâm thành phố).
Lúc bấy giờ, vì Tiểu khu nằm dưới hệ thống chỉ huy của Sư đoàn 23 BB và để tiện phối hợp, bàn bạc kế hoạch chóng trả nhanh chóng. Tôi liền báo cáo và xin Tướng Phú được qua chung với Đại tá Vũ Thế Quang, tại Trung tâm Hành quân Sư đoàn 23 BB. Tướng Phú chấp thuận.
Mối lo ngại lớn lao của Đại tá Quang và tôi là chiến xa CS đã lọt vào giữa thị xã. Với kinh nghiệm của một sĩ quan kỵ binh tôi hiểu rất rõ hỏa lực tấn công của những con ngựa sắt này.
Tia hy vọng tới, khi trên bầu trời Ban Mê Thuột, đã xuất hiện L19 của Quân đoàn 2 gởi tới. Những chiếc phản lực cơ chiến đấu đã vần vũ trong vùng giao tranh để yểm trợ cho Tiểu khu Darlac và Sư đoàn 23 BB. Tinh thần chiến đấu của quân cán chính lên rất caọ Những đoàn chiến xa CS từ hướgn Bắc tiến về phía Nam đã bị các đơn vị Điạ phương quân của Tiểu khu đánh chặn lại. Sư tiến quân của CS rất chậm chạp.
9 giờ tin vui đem tới. Ta hạ được 2 chiến xa T54 địch và đang bốc cháy trước Câu lạc bộ Sĩ quan trên đường Thống Nhất. Sự chênh lệch về lực lượng ta và địch quá rõ. Địa phương quân phải so tài với quân chính qui Bắc Việt, với sự yểm trợ chiến xa và pháo binh. Còn bên ta, đội pháo binh tại Phụng Dực, cũng như phi pháo không thể yểm trợ vì dân chúng chưa được di tản. Cộng thêm, hỏa lực phòng không của địch rất dày đặc, làm phản lực cơ A37 của ta cũng không thể xuống thấp để thả bom cho chính xác được.
12 giờ 45, Thiếu tá Hy, Trưởng phòng 3 Tiểu khu báo cáo: BCH/TK đã bị pháo kích nặng nề. Một trái đã đánh trúng hầm TOC/TK làm nhiều người chết và bị thương. Trong số đó có Trung úy Năm, Trưởng phòng 5/TK đã đền nợ nước. Hệ thống và máy truyền tin chỉ huy bị hư hại nặng. Thiếu tá Hy xin phép được di chuyển Bộ Tham mưu ra khỏi vị trí. Tôi chấp nhận ngaỵ
13 giờ 30, Thiếu tá Hy báo cáo, địch quân đã tập trung pháo binh bắn vào Bộ Chỉ huy, sau đó chiến xa và bộ binh đang tràn ngập vào hệ thống phòng thủ.
14:00 giờ, BCH/TK coi như thất thủ hoàn toàn. Tôi liền báo cáo cho Tướng Phú. Tướng Phú ra lệnh cho trực thăng vận Liên đoàn 21 Biệt động quân xuống Ban Mê Thuột để tái chiếm BCH/TK.
Mãi đến 16 giờ chiêu, tôi mới nhận tin của Quân đoàn 2 rằng Liên đoàn 21/BDQ đang được trực thăng vận xuống Ban Mê Thuột để chiếm lại BCH/TK.
17:00 giờ, đoàn trực thăng đã đến gần thị xã nhưng không đáp xuống được vì phòng không CS bắn quá rát. Đến mãi 18 giờ, Quân đoàn 2 mới quyết định cho thả Liên đoàn 21 BDQ xuống BCH/Chi khu Buôn Hô rồi đi bộ tiến vào thị xã Ban Mê Thuột. Tôi liên lạc với Trung tá Dậu, Chỉ huy trưởng Liên đoàn 21 BDQ, hối thúc Trung tá Dậu phải cho tiến quân nhanh vào thị xã để tái chiếm lại BCH/TK. Mãi đến 11 giờ khuya, Trung tá Dậu cho biết rằng đã tới ven thị xã Ban Mê Thuột mà không tiến vào được vì bị VC chặn đánh.
Tướng Phú ra lệnh cho Trung tá Dậu, với bất cứ giá nào đêm nay Liên đoàn BDQ phải tái chiếm BCH/TK.
Sau khi CS chiếm được BCH/TK/DL xong là tiếng súng pháo binh cũng như súng trường đều được im lặng khắp mọi nơi.
Tôi báo cáo lên Tướng Phú kết quả trong ngày là Tiểu khu bắn cháy 7 chiến xa T54 CS và rất nhiều xác VC. Tướgn Phú rất vui khen ngợi TK/DL (Darlac).
Tôi theo dõi cuộc tiến quân của Liên doàn 21 BDQ từng phút, cứ 15-20 phút là tôi liên lạc với Trung tá Dậu hỏi coi đã tiến tới đâu rồi.
Vẫn những câu trả lời ngắn gọn: ”Đang tiến nhưng gặp nhiều ổ kháng cự. Ở trong hầm TOC/SD/23 BB suốt đêm, tôi và Đại tá Vũ Thế Quang không nghe một tiếng súng nổ nào của bạn và địch cả.
Tôi ra lệnh cho ông Phó Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Vỵ và Trung úy Dzi hiện là tùy viên của tôi, nhưng trước là sĩ quan Chiến tranh Chánh trị của Tiểu khu, viết bài kêu gọi dân chúng yên tâm, ngày mai Quân đoàn 2 sẽ chiếm lại Bộ Chỉ huy Tiểu khu.
Tôi đọc ghi vào băng và phát ra cho dân torng thị xã Ban Mê Thuột nghe lúc 1 giờ sáng ngày 11/3/75.
Trong đêm, Phòng 3 Bộ Tổng tham mưu liên lạc với tôi bằng điện thoại nhiều lần, hỏi về tình hình thị xã như thế nào. Tôi báo cáo:
BCH/TK đã mất, Kho đạn Mai Hắc Đế, phi trường L19 đã bị CS chiếm từ sáng. Tôi và Đại tá Quang đang ở BTL/SD cố thủ, chờ quân viện của Quân đoàn 2. Tinh thần anh em sĩ quan và binh sĩ rất cao, không có gì nao núng.
Lực lượng trừ bị của Tiểu khu là Trung đoàn 53 với 1 Tiểu đoàn và 1 Trung đội pháo binh cũng bị CS tấn công từ sáng nên không thể tiếp cứu, giúp đỡ gì được. cho Tiểu khu Darlac.
Tôi chờ đợi Liên đoàn 21 BDQ tiến vào thị xã, 2 giờ sáng ngày 11/3, rồi 3 giờ, rồi 4 giờ cho đến hừng sáng Liên đoàn 21 BDQ cũng không tiến vào được.
Đúng 7 giờ sáng ngày 11/3/75, CS Bắc Việt bắt đầu nã pháo binh vào Bộ Tư lịnh Sư đoàn 23, chiếc xe Jeep của tôi đậu gần TOC cũng bị trúng pháo nổ tung rạ Tôi đoán chắc rằng CSBV đang cho pháo binh bắn vào vị trí BTL/SD 23 để chuẩn bị tấn công. Tôi nói với Đại tá Vũ Thế Quang, lúc này là lúc nguy ngập, sắp cận chiến, nếu không có cấp chỉ huy đứng bên cạnh binh sĩ để chỉ huy, thì binh sĩ sẽ bỏ chạy khi địch quân xung phong. Đại tá Quang đồng ý. Tôi nói với Đại tá Quang — Vì ở trước cổng BTL/SD (Bộ Tư lịnh Sư đoàn) có 1 chiếc M113, nên để tôi trấn giữ mặt đó, còn Đại tá Quang thì trấn giữ phía Tây Nam.
Lúc này khoảng 7 giờ 30 sáng. Tôi liền đi thẳng ra cửa BTL/SD đến chiếc thiết quân vận M113 đang bố trí tại cổng, dưới các loạt pháo kích 130 ly của CSBV gây nên một vùng khói lửa mịt mù.
Tôi nhảy lên chiếc thiết quân vận để quan sát thì thấy ngay ngoài cổng BTL khoảng cách độ 300m đầy chiến xa T54 đã bao xung quang BTL. Đồng thời trong lúc này, Trung úy Hoành đặc trách phòng thủ dinh Tỉnh trưởng với 1 Trung đội Địa phương quân, báo cáo tư dinh, đang bị chiến xa tấn công và bắn trực xạ vào lầu tư dinh, đã bị sụp đổ. Trung đội phòng thủ đã hạ được 2 chiến xa địch ngay trước cổng dinh bằng súng M72. Tôi hết sức động viên khen ngợi Trung úy Hoành cố gắng chống cự.
Tôi cũng biết CS tấn công xong tư dinh là tấn công BTL SD 23.
Các chiến xa T54 đậu xung quanh BTL ngạo nghễ coi thường đối phương, không cần phải ẩn núp, ngụy trang chi cả, vì chúng nó biết bên ta không có một chiến xa nào cả để đương đầu, có thể tiêu diệt chiến xa của chúng.
Trung úy Hoành báo cáo chiến xa CS đã ủi sập cổng tư dinh và tấn công vào phía trước. Trung úy Hoành báo cáo vì có một số tử thương cùng bị thương, không thể chống giữ với đợt tấn công bằng chiến xa của địch, nên binh sĩ rất nao núng và xin phép được rút ra khỏi tư dinh.
Tôi chấp thuận.
(Trong khi chiến xa CS tấn công bắn trực xạ đại bác của chiến xa vào lầu của tư dinh, 3 đứa con trai của tôi vẫn còn ở trên lầu, có một đứa con trai út bị sức ép của viên đạn đại bác nổ ra, nó bị hơi đẩy té từ lầu, lăn xuống thang, rớt xuống đất bị thương ở ngực và chân).
Trung úy Hoành hướng dẫn Trung đội Điạ phương quân còn lại thoát ra ngoài. Còn 3 dứa con trai của tôi thì được toán phục dịch trong nhà dẫn theo Trung đội.
Tôi biết, sau khi thanh toán tư dinh, thì bọn CS sẽ cho lệnh xung phong vào BTL/SD 23.
Giờ phút nguy ngập sắp đến, tôi sợ binh sĩ bỏ chạy, liền nhảy xuống M113 đi một vòng theo hàng rào phòng thủ để kiểm soát binh sĩ và nhất là với mục đích cho binh sĩ thấy mặt cấp chỉ huy của mình, cùng trực tiếp tham dự vào trận đánh, nên không dám bỏ chạy. Tôi nói với binh sĩ hãy can đảm chống giữ BTL vì lực lượng của Quân đoàn 2 sắp tới. Kiểm soát và ra lệnh xong, tôi liền nhanh chân trở lại chiếc M113 và nhảy phóc lên trên, quan sát lại thì thấy các chiến xa T54 vẫn còn ở vị trí cũ.
Những giây phút cuối cùng của Bộ Tư lệnh SD 23 BB
Khoảng 10 giờ sáng, tiếng pháo địch im tiếng. Nếu ai đã ở trong binh nghiệp thì đều hiểu rõ tâm trạng của những phút giây im lặng này. Nó hoang mang và lo sợ hơn nhiều khi bên tai mình có tiếng súng nổ. Người ta cho là say súng. Mà thật vậy, khi đã làm quen với chiến trận, việc nghe thấy tiếng nổ làm mọi người quên chính mình và chỉ còn một cách duy nhất là chiến đấu. Chiến đấu để sống còn và ít ai còn để ý đến thần chết đang lảng vảng quanh mình. Tôi lại nhảy lên pháo tháp quan sát và thấy những chiếc xe đang chuyển bánh. Tôi nhảy vội xuống và la lớn: ”Sẵn sàng ứng chiến!”. Tôi dứng cạnh trưởng xa va căn dặn chỉ được bắn khi chúng tới gần 100m nhé. Các anh em đều răm rắp tuân lệnh theo và chờ đợi khúc phim nghẹt thở bắt đầu.
Chiến xa địch đầu chầm chậm tiến thẳng vào chiết vận xa M113. May mà ngụy trang khéo léo nên chúng không thấy. Tôi mừng quá và nói thầm trong bụng: ”Mày sẽ chết con ạ”... Khói đen từ ống thoát phun ra mù mịt, chiến xa T54 địch, chiếc đầu chầm chậm tiến vào. Chúng vẫn chưa biết có chiếc M113 đang chờ đón nó vào cửa tử, vì được ngụy trang kỹ càng như đã nói trên.
Tiếng máy kêu ầm và các chiến xa đâm thẳng vào cổng Bộ Tư lệnh. Những con cua sắt ì ạch tiến gần cổng 250m, rồi 200m, rồi 100m. Thần kinh tôi như giãn ra. Tất cả anh em chúng tôi hồi hộp, giờ sinh tử bắt đầu. Tôi hét lớn “Bắn!”. Thay vì chúng tôi phải nghe tiếng nổ thật lớn của viên đạn vút ra khỏi nòng súng, thì trái lại cây súng chỉ cho chúng tôi một tiếng khô khan, lãng xẹc: ”Cóc!”.
Trong khi mắt mọi người và tôi dán chặt vào những con cua sắt. Tôi gào lên:
- Gì thế! Gì thế!
Xạ thủ trả lời:
- Trở ngại tác xạ, Đại tá!
- Mở “culasse” ra xem?
- Trình Đại tá, “Percuteur” bị gẫy!
- Có “Percuteur” thay thế không?
- Thưa... không!
Tiếng “thưa không” làm tôi toát mồ hôi, vì đây là hy vọng cuối cùng cho sự cầm cự với Cộng quân để chờ viện binh tới. Cây súng đại bác 106 ly không giựt này là phương tiện duy nhất chống trả với T54 của địch mà thôi. Các loại súng khác chỉ là trò đùa với những con cua sắt này.
Bây giờ tiêu diệt chiến xa địch bằng phương tiện gì đây? Tôi biết tôi phải rất bình tĩnh mới cứu được anh em và chính mình. À phải rồi, chúng ta còn oanh tạc cơ đang bay lượn trên không. Những chiếc phản lực cơ A37 sẽ xơi tái chúng một cách dễ dàng. Cũng nên biết từ ngày hôm qua cho đến sáng nay, phi cơ của ta chỉ có thể thả bom ở các mục tiêu xa ở ngoài thị xã. Trong thị xã còn 50,000 thường dân chưa được di tản, vì vậy tôi đã trình với Tướng Phú về việc này và ông đã chấp nhận không oanh tạc vào khu đông dân cự Cũng cần ghi nhận, từ trước tới giờ, chưa bao giờ thị xã bị pháo kich của CS hoặc tấn công nên không gia đình nào có hầm trú ẩn... Nay thì chiến xa địch đã lọt vào thị xã thì các oanh tạc cơ cũng không có cơ hội nhào xuống thấp để đánh trúng mục tiêu vì phòng không của Cộng quân quá mạnh. Cứ mỗi lần máy bay quan sát L19 hay oanh tạc cơ bay thấp một chút là phòng không địch đã bắn lên trời như cảnh đốt pháo bông trong ngày Quốc Khánh.
Tôi liên lạc ngay với L19 và nói chấp nhận sự nguy hiểm để dùng phản lực cơ dội bom thẳng vào các chiến xa đang tiến vào Bộ Tư Lịnh Sư đoàn 23 BB, và như vậy mới chặn đứng cuộc xung phong của CS. Trong lúc chờ đợi phi cơ làm thịt mấy con “cua sắt”, tôi đi lui đi tới kế cận các chiến sĩ đang ghì tay súng chống trả lại địch quân.
Thình lình, mọi người nghe một tiếng nổ “ầm” thật khủng khiếp vang dội cả một góc trời. Cát, đá, bụi tung lên cao cả hàng trăm thước. Thôi hỡi ơi! Trung tâm Hành quân Sư đoàn (TOC), nơi đầu não Mặt trận Ban Mê Thuột để chống lại địch quân đã bị Không quân ta đánh trúng.
TOC bị sập và các phương tiện truyền tin thiết trí trong đó đều tiêu tùng theo mây khói. Một số lớn sĩ quan, binh sĩ ở trong TOC bị chết và bị thương. Ai cũng biết, trong trận mạc, truyền tin là huyết mạch chính. Bây giờ không còn để liên lạc với cấp trên và thông tin cho cấp dưới nữa. Không một chút suy nghĩ, tôi chạy về phía sau TOC để bàn với Đại tá Quang. Tôi nói nhanh với Đại tá Quang nhận định của tôi:
- Chúng ta không thể cố thủ được nữa vì đầu não của chúng ta là Trung tâm hành quân nay đã sụp đổ. Không có truyền tin, không có chiến xa làm sao chận đứng những chiến xa T54 và bộ binh CS đang tiến vào căn cứ. Trong khi đó chúng ta không có viện binh. Tồi đề nghị chúng ta rút ra khỏi vị trí phòng thủ BTL Sư đoàn ngay để bảo toàn lưc lượng còn lại.
Đại tá Quang đồng ý và ra lịnh rút quân. Chúng tôi vọt ra khỏi hàng rào và hướng về phía Tây tức là “Suối Bà Hoàng” - cách BTL Sư đoàn 250m.
Cũng may mùa này là mùa khô nên suối cạn. Đáy suối lại thấp hơn mặt đất tới 15m nên rất dễ cho việc ẩn nấp. Anh em binh sĩ đi theo rất đông, chừng 100 người. Xa xa tiếng phát thanh tuyên truyền của địch quân gần Chùa Phật giáo của Tỉnh hội Phật giáo Ban Mê Thuột kêu gọi các binh sĩ ta đầu hàng. Chúng tôi tiếp tục di chuyển về phía Tâỵ Nhìn anh em binh sĩ, súng trên vai và lầm lũi theo mình. Đến giờ phút này tôi mới thấy tình chiến hữu bên nhau thắm thiết. Lòng tôi bỗng chùng xuống. Không có bút nào tả cho hết nỗi nhọc nhằn, buồn tủi của chúng tôi khi phải xa lìa BLT Sư đoàn, tượng trưng cho sự thách đố với địch quân. Tôi không dám ngoảnh mặt nhìn lại một lần cuối vì sợ không biết chính mình có đủ can đảm để không nhỏ nước mắt cho số phận hẩm hiu, xui xẻo cho Ban Mê Thuột, cho anh em binh sĩ, cho chính mình không? Đừng oanh tạc lầm, thì bây giờ mình đâu đến nỗi trở thành kẻ chạy trốn như thế này. Ôi Ban Mê Thuột, xin tạm biệt mi và hứa sẽ trở về bên mi suốt đời...
Hình ảnh lê thê lếch thếch của đoàn quân ô hợp, như những khúc phim trên màn bạc cho trận thế chiến II - trận Dunkerque năm 1940, mà lực lượng đồng minh phải bỏ thành phố vì bị Đức tràn ngập. Lúc đó họ còn thiết giáp, nhưng thiết giáp của Đức tối tân hơn nên phải ra hàng. Họ chạy đến bờ biển và đã kiếm bất cứ phương tiện nào như du thuyền, canô hay thùng phao để thoát. Còn tôi bây giờ còn gì đâỵ Sinh ra làm lính thiết giáp mà bây giờ di chuyển như lính bộ binh. Tôi cũng không biết mình là ai bây giờ. Mình là cấp chỉ huy hay chỉ là một binh sĩ tầm thường? Lo cho anh em ra sao đây và chính mình sẽ ra sao đây? Trong những giây phút cuối cùng của đời binh nghiệp, chết hay sống là chuyện bình thường. Lúc vào lính, tôi đã có lúc nghĩ đến lúc mình làm thân chiến bại hay một viên đạn xuyên vào lồng ngực. Nhưng không ngờ trong cảnh huống này nó lại sầu đau chất ngất như lúc này, tủi nhục như bây giờ? Tôi chưa dám nghĩ quẩn vì bên cạnh mình còn anh em đang trông chờ nơi mình. Chỉ một phút sai lầm, sẽ đem anh em và mình xuống hố sâu vực thẩm. Tôi chỉ bàn với Đại tá Quang. Mình phải phân tán mỏng để tránh sư phát giác của địch quân. Tôi đề nghị: ”Toa” đi về một phía, “moa” một phía và cố gắng tìm về Nha Trang nhé. Đại tá Quang gật đầu và chọn ngay cho mình một quyết định. Vị Tư lịnh chiến trường Ban Mê Thuột nói với tôi: ”Moa sẽ đi về hướng Nam, đến gần cầu khoảng cách 14km là tìm đường về Nha Trang”. Còn tôi không còn chọn lựa naò khác hơn là đi về hướng Tây, nằm về khu cà phê của Trung tướng Hoàng và chờ trời tối sẽ bọc lên phía Bắc Ban Mê Thuột và từ đó tìm về Nha Trang. Thật là đau thương, khi làm việc có nhau, và giữa phút nghiêm trọng này chúng tôi cần có nhau hơn. Nhưng hoàn cảnh lại không cho phép như vậy. Đành chia tay nhau và may ra còn cứu được lấy định mệnh riêng của mình.
Trước khi chia tay, chúng tôi bèn tập trung anh em binh sĩ lại và tôi tuyên bố:
- Tôi xin thay mặt cho chính phủ và quân đội tuyên dương công trạng của anh em - những chiến sĩ anh hùng, can trường đã chống trả mãnh liệt với bọn CS xâm lược miền Nam với một tinh thần hy sinh cao độ. Từ 2 giờ sáng ngày hôm qua cho đến cho đến giờ này các anh em đã làm tròn nhiệm vụ mà đất nước giao phó cho dù địch quân có đông gấp mười chúng ta. 2 quả bom rơi nhầm vào Trung tâm Hành quân đã đưa chúng ta tới nông nỗi này. Bây giờ anh em phân tán mỏng đừng dể địch quân phát giác và tìm cách trở về Nha Trang. Hy vọng lúc đó chúng ta sẽ tập họp lại để tiếp tục chiến đấu... Toàn dân ghi công anh em. Tổ quốc VN ghi công anh em. Xin tạm biệt.
Với nét buồn vô tận, anh em đã nghe tôi nói như lời biệt ly sầu thảm. Nhiều anh em đã bật khóc, khiến tôi không dám nhìn thẳng vào mặt họ và lặng lẽ giơ tay chào anh em. Nhìn anh em binh sĩ, Đại tá Quang và tôi còn nguyên vẹn bộ đồ tác chiến, giây ba chạc, áo giáp, nót sắt. Nhìn chiếc hoa mai bạc trên ngực Đại tá Quang, tôi đề nghị nên dấu nó đi để dễ bề ngụy trang trong khi di chuyển. Chúng tôi chia tay nhau mà ai cũng như muốn khóc. Đi theo con suối Bà Hoàng mà lòng tôi như bị cắt từng đoạn ruột, chúng tôi len lỏi qua các bụi lau sậy, những tảng đá lớn và những nhà chòi mà người dân cất làm chỗ tạm thời che nắng đụt mưa khi làm việc cả ngày ngoài đồng áng. Đi khoảng 100m tôi ngó lại vẫn còn chừng 20 người theo tôị Trong đó có ông Phó Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột, Nguyễn Ngọc Vy, một người kỳ cựu của vùng Darlac và nhất là thị xã Ban Mê Thuột.
Tôi liền hỏi ông Vy:
- Anh có biết đồn điền cà phê của Trung tướng Thái Quang Hoàng ở đâu không?
Ông Vy chỉ tay về hướng đằng trước mặt:
- Thưa Đại tá tôi biết. Xin Đại tá cứ tiếp tục đi về phía Tây là sẽ tới.
- Vậy khi nào đi ngang qua anh cho biết nhé. Chúng ta sẽ vào đó ẩn núp cho đến tối. Lợi dụng bóng đêm chúng ta sẽ bọc về phía Bắc rồi tìm đường về Nha Trang.
Ông Vy gật đầu và chúng tôi âm thầm tiếp tục di chuyển. Việc tôi chọn đồn điền của Trung tướng Thái Quang Hoàng vì đồn điền này đã có từ lâu tất nhiên cây cỏ đã cao và rậm rạp rất dễ ngụy trang... Những phút cuối cùng của đời binh nghiệp.
Chúng tôi tiếp tục đi khoảng 300m, anh Nguyễn Ngọc Vy nói với tôi:
- Trình Đại tá, chúng ta đã tới ngang vườn cà phê của Trung tướng Hoàng rồi đây.
Tôi nói ngay:
- Bây giờ chúng ta phân tán mỏng và cẩn thận bò từ con suối này lên vườn cà phê và mỗi người hãy chọn một chỗ ẩn núp và rồi chờ đến tối chúng ta sẽ tìm đường thoát thân về Nha Trang.
Tuân theo lời nói của tôi tất cả đều giăng hàng ngang và từ từ bò lên bờ suối. Sự hồi hộp đến với mọi người vì phải bò băng qua một thửa đất bằng lộ thiên - không có cây cối nào để ngụy trang, ẩn núp được. Nhìn toán người theo tôi, tôi rất lo ngại. Phần vì, có hơn phân nửa là quân nhân, còn kỳ dư là nhân viên hành chánh với những chiếc sơ mi áo trắng rất dễ dàng cho địch quân phát giác. Tôi rất ngao ngán cho việc vượt thoát này. Nhưng không còn một con đường nào khác. Chúng tôi bò tiến lên ngang mặt đất. Vưà lúc đó hàng loạt súng cộng đồng nổ vang và nhắm vào đoàn người chúng tôi. Đạn cày xới lên đất làm tung bụi mịt mù. Phản ứng tự nhiên của mọi người là chạy ào lên vườn cà phê để ẩn núp. Bây giờ tôi mới thấm thía câu “đạn tránh người chớ không phải người tránh đạn”. Nhiều người trúng đạn đã lăn ra chết hoặc rên la vì bị thương. Dưới hỏa lực vũ bão, tôi vẫn bò như người lính trong quân trường. Nhìn sang bên cạnh có Thiếu úy Phương, tùy viên của tôi vẫn bám sát lấy tôị Tôi rất cảm phục người sĩ quan tùy viên này, dù đến phút này tinh thần kỹ luật vẫn còn giương cao và vẫn làm tròn nhiệm vụ của một quân nhân gương mẫu. Tiếng đại liên, tiếng gào thét của chiến xa đang tiến về chúng tôi như cuộc bủa vây đang thắt chặt. Tôi biết chúng tôi không thể nào thoát trước một thế trận đường cùng này. Tôi bèn bàn với Thiếu úy Phương là chúng ta nên đầu hàng. Như hiểu ý tôi, Thiếu úy Phương cởi áo lót trắng và lấy cây đưa lên cao phẩy qua phẩy lại để ra dấu hiệu đầu hàng. Lập tức súng đại liên ngưng bắn và chiến xa tiến sát về phía chúng tôi. Chúng ngừng cách chúng tôi khoảng 10m, một cán binh CS nhảy ra khỏi chiến xa, với khẩu AK47 chĩa thẳng vào chúng tôi và quát lớn:
- Tất cả hãy giơ tay lên! Giơ tay lên!
Mọi người đều tuân lệnh hắn. Nó hỏi tôi:
- Tụi bây chức vụ gì và cấp bậc gì??
Như cái máy, tôi trả lời:
- Tôi là Đại tá Tỉnh trưởng.
Hắn tròn xoe mắt lại và nghi ngờ:
- Thật không? Thật không?
Tôi gật đầu và hắn hỏi tiếp:
- Tên gì nói mau.
Tôi không ngần ngại:
- Nguyễn Trọng Luật!
- Thật không?
- Thật.
Khi biết tôi là sĩ quan cao cấp, hắn sững người và rất đỗi ngạc nhiên. Hắn càng ghìm tay súng vào đầu tôi và nói hãy đứng yên và giơ tay cao khỏi đầu, và hắn tiếp tục hỏi Thiếu úy Phương như vậy. Một cán binh khác nhảy từ trên xe đến lột hết quần áo chúng tôị Trên người tôi và Thiếu úy Phương chỉ còn chiếc áo lót và chiếc quần treillis. Chúng lấy hết súng lục, áo giáp, nón sắt, giầy boots và luôn cả vớ.
Chúng nhanh tay lấy giây trói chặt tay chúng tôi ra đằng sau và đẩy chúng tôi mỗi người vào một hố cá nhân. Chừng nửa giờ sau, từ phía Tây một chiến xa khác tới. Một cán binh người mập mạp, mặt mũi sáng sủa nhảy ra khỏi chiến xa và tiến tới tôi chất vấn:
- Anh có thật là Đại tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh trưởng Darlac không?
- Đúng.
- Thôi anh ngồi chờ, chốc lát sẽ có xe đưa anh đi.
Khoảng 4 giờ chiều, cũng từ phía Tây một chiến xa xuất hiện và bốc một mình tôi lên xe. Cửa xe đóng lại tối thui và xe bắt đầu di chuyển.
Tôi có thể đoán chắc là chúng đi về hướng Tây để đến Bộ Chỉ huy của chúng. Đến lúc này, tôi thật bình tĩnh và coi nhẹ những sự việc xảy ra cho mình. “Sinh nghề tử nghiệp. Tôi là sĩ quan thuộc binh chủng Thiết giáp và bây giờ bị bắt bởi chính đoàn quân kỵ mã này. Dầu sao, tôi vẫn còn những tia hy vọng rọi xuống tâm hồn khô héo của tôi lúc này là tiếng súng vẫn còn vang động khắp chiến trường Ban Mê Thuột. Phản lực cơ của quân đội ta vẫn vần vũ trên không phận thân quí Cao nguyên. Dù tôi có bị bắt, nhưng hy vọng của tôi vẫn là Ban Mê Thuột vẫn như thành đồng trụ sắt. Quân tiếp viện sẽ tới và những con mãnh hổ sẽ làm tròn nhiệm vụ của người lính VNCH ngàn đời uy danh. Ban Mê Thuột vẫn ngạo nghễ thách đố với mọi hoàn cảnh...
Nhìn lại trận đánh Ban Mê Thuột
Bây giờ với đời sống thật sự thanh thản, bình tâm mà nhìn lại, nghĩ lại tôi thấy vài điều cần được xét lại. Tất nhiên không phải để phê phán, hay gỡ tội hoặc giả để lẩn tránh trách nhiệm, lẩn tránh sự thật. Nhìn lại, nghĩ lại chỉ có mục đích duy nhất là chia sẻ với những người còn sống về một biến cố trọng đại đầu tiên đã dẫn tới sự sụp đổ của chính thể và chế độ VNCH tại miền Nam nước Việt.
1. Mất tỉnh, Tỉnh trưởng phải chịu trách nhiệm?
Đây là câu nói thông thường của những người thiếu hiểu biết. Nhiệm vụ của Tỉnh trưởng chỉ là trách vụ về hành chánh, kinh tế, chính trị, v.v...mà thôi. Về an ninh quân sự lại nằm trong tay Tiểu khu trưởng.
Nhiệm vụ của Tiểu khu trưởng là giữ an ninh các cơ sở, đường xá, cầu cống, tìm kiếm tin tức tình báo để báo cáo len cấp trên, cũng như truy lùng, tiêu diệt du kích và những cán bộ CS xâm nhập vào vùng trách nhiệm của mình. Tiểu khu trưởng chỉ có trong tay những Tiểu đoàn Địa phương quân, Nghĩa quân, Cảnh sát và tổ chức Nhân dân Tự vệ... Vì vậy, các đơn vị này không có khả năng đương đầu với quân chính qui của địch.
Nhìn lại trận đánh Ban Mê Thuột, Tiểu khu Darlac đã nhiều lần báo cáo có những dấu hiệu về sự xuất hiện hoạt động của quân chính qui CS. Bằng chứng là tại phía Tây, Ban2 Tiểu khu Darlac đã phát hiện ống dẫn dầu của quân Bắc Việt hay những dấu xích chiến xa để lại ở phía Tây Ban Don và Ia Sup. Đặc biệt ngày 7/3/75, Tiểu khu Darlac hành quân đã bắt được một tù binh thuộc Sư đoàn 320/BV đang giăng giây điện thoại. Tin tức này cũng không thuyết phục nổi Tướng Phú và Tướng Tường để cho Trung đoàn 45 BB trở lại Ban Mê Thuột. 2 ông này vẫn còn ám ảnh về CS sẽ đánh Kontum hay Pleikụ Chưa bao giờ các ông cho rằng Ban Mê Thuột sẽ bị tấn công.
2. Tại sao Tiểu khu lại không biết chiến xa địch tiến vào Ban Mê Thuột?
Câu hỏi này làm tôi thắc mắc mãi và muốn tìm câu trả lời cho chính mình. Khi ngồi trong tù, tôi có đọc “Đại Thắng Mùa Xuân” của Văn Tiến Dũng tôi mới vỡ lẽ. Các chiến xa của CS đã được bố trí cách thị xã Ban Mê Thuột trên hàng trăm km về phía Tây Bắc, trong rừng úi trùng trùng điệp điệp của Cao nguyên. Nhìn trên bản đồ, Phòng 2 hay cấp chỉ huy bao giờ cũng tiên đoán ngay và cho rằng nếu chiến xa địch, nếu có tấn công đêm nay, thì chỉ có khả năng tấn công Pleiku chứ không thể là Ban Mê Thuột. Vì xung quanh Ban Mê Thuột, hay phía Tây, dù Tây Bắc hoặc Tây Nam đều là dãy rừng già với cây cối cao lớn. Qua con mắt của một sĩ quan kỵ binh như tôi, việc tấn công Ban Mê Thuột bằng chiến xa khó có thể thực hiện nổi. Trái lại, Pleiku với những đồi thoai thoải, trống trải, không có cây cối là địa bàn lý tưởng cho chiến xạ Nhưng, đây là chữ nhưng to tướng, nghĩa là CS đã cho công binh dọn đường trước, bằng cách cho cưa tất cả các cây lớn mà chiến xa không ủi ngã được. Bọn CS đã không cưa đứt hẳn để cây đổ xuống làm phi cơ quan sát được, mà chỉ cưa 2/3 cây thôi. Trên máy bay do thám của ta luôn luôn thấy cây cối um tùm như thường, không có con đường nào băng qua rừng cả. Đến khi mặt trời lặn chiến xa cứ việc trực chỉ Ban Mê Thuột, và khi gặp những thân cây lớn, chiến xa cứ ủi xập những cây mà công binh đã cưa sẳn 2/3. cây lớn đều nằm rạp xuống và chiến xa cứ thế mà tiến lên dễ dàng. Khi gần tới thị xã, CS đã cho pháo kích vào thị xã để che lấp tiếng động cơ của các chiến xa đang di chuyển...
3. Làm sao Địa phương quân có thể tiêu diệt chiến xa?
Tôi là sĩ quan kỵ binh được giao trọng trách chỉ huy trưởng Tiểu khu Darlac, ngoài ý muốn của tôi. Kinh nghiệm về Thiết giáp vẫn là sở trường của tôi. Khi tôi nhận nhiệm vụ lẽ tất nhiên tôi đã để ý nhiều về những con ngựa sắt này. Tất cả thiết giáp của ta đều được điều dộng về Pleiku hết. Ban Mê Thuột chỉ cò có 2 chiếc Commando car để tuần tiểu, hộ tống cho các đoàn công voa hay các cấp chỉ huỵ Trong đầu tôi bao giờ cũng đặt ra câu hỏi, liệu CS tấn công các chi khu hay đồn bót bằng chiến xa thì sao? Vì vậy, việc đầu tiên nghĩ đến là loại súng M72, loại chống chiến xa mà Quân đội Hoa Kỳ cung cấp. Tôi bèn xin BTL Quân đoàn 2 cho trang bị loại súng trên cho Tiểu khu. Không có toán, tiểu đội, trung đội, đại đội nào thuộc Địa phương quân của Tiểu khu Darlac là không có trang bị M72. Ngay cả những Trung đội Nghĩa quân nữa. Tôi chỉ thị cho các sĩ quan và binh sĩ đều phải sử dụng M72 một cách nhanh nhẹn và chính xác. Tôi còn luôn luôn kiểm soát chặt chẽ và khi tôi thanh tra bất cứ một đơn vị thuộc Tiểu khu Darlac, bất cứ đâu, từ sĩ quan đến binh sĩ đều lưu lại khảo hạch và chờ biểu diễn cách sử dụng M72 chống chiến xa, cũng như ân cần nhắc nhở mọi người làm sao tăng hiệu năng của của súng và bắn cho chính xác. Trong trận đánh Ban Mê Thuột, 9 chiến xa CS nằm ụ trên đường Thống Nhất hoặc trước mặt BCH Tiểu khu và Dinh Tỉnh trưởng đều là công đầu của các chiến sĩ Điạ phương quân Tiểu khu Darlac. Ai cũng biết, các oanh tạc cơ của ta không được thả bom vào thị xã mà chỉ được đánh bom vào các mục tiêu ven thị xã mà thôị Oanh tạc cơ của ta chỉ có một lần đánh vào chiến xa địch trước mặt BTL Sư đoàn 23 BB với 2 quả bom. Nhưng thảm thương thay lại đánh trúng Trung tâm Hành quân của Mặt trận Ban Mê Thuột. Tôi cũng cần minh xác, tôi viết ra đây những sự kiện này, không phải là kể công cho Tiểu khu Darlac hay phiền trách Không quân, mà là những lời nói danh dự của một sĩ quan QLVNCH biết tự trọng, liêm sỉ và sự trung thực gởi đến các chiến hữu đã sát cánh bên nhau trong những ngày lửa đạn và các bạn.
Tôi cũng xin kể thêm, năm 1984, trong thời gian tôi ở trại tù Nam Hà — Hà Nam Ninh. Một buổi sáng tôi đang gánh nước tưới rau, vì tôi thuộc trung đội trồng rau cho trại. Tình cờ tôi gặp một thanh niên trạc ngoài 30 tuổi, lại chào tôi:
- Chào Đại tá.
- Thôi cứ gọi nhau bằng anh em đi, vì nước mất nhà tan rồi, còn đâu là tá với tướng.
- Không! Riêng với Đại tá, tôi vẫn tôn kính là Đại tá. Tôi phục Đại tá là chưa có Địa phương quân của Tiểu khu nào mà bắn cháy được chiến xa CS được. Riêng chỉ có Địa phương quân Darlac là tiêu diệt được T54 của địch. Tôi còn nhớ ngày 11/3/75, tôi là người đi dọc theo đường Thống Nhất để lấy tin tức về báo cáo cho Đại đội 23 Thám sát của tôi. Tôi đã đếm được 10 chiến xa bị bắn cháy.. Sự thán phục ấy đến nay tôi mới gặp Đại tá để bày tỏ nỗi niềm cũng như chào kính và thăm hỏi Đại tá.
- Vậy anh là ai và ở đâu?
- Tôi tên là Chí trước thuộc Đại đội Thám báo Sư đoàn 23 BB. Hiện nay tồi còn bị tù ở đây cùng với Đại tá nhưng ở khu khác.
- Cám ơn anh về những lời khen cho Địa phương quân Tiểu khu Darlac. Xin anh một điều là từ bây giờ chúng ta cứ gọi là anh em thôi. Vì như tôi đã nói lúc nãy, đất nước đã mất rồi, chúng ta chỉ còn tình nghĩa để đối với nhau mà thôi.
- Dạ nếu như Đại tá cho phép thì tôi vâng.
Lòng tôi dâng lên một niềm vui sướng cho buổi gặp gỡ ngắn gọn ấy. Thứ nhất là dù trong hoàn cảnh tù đày anh em vẫn tôn kính nhau và họ nhận ra tôi đã không làm điều sai quấy khi còn tại chức. Đây cũng là phần thưởng cho tôi vì trong tù anh em thường hay nói với nhau: ”Khi ở tù rồi mới biết ai là tướng tá thật, ai là tướng tá giả — đáng kính hay đáng khinh...
Thứ hai là anh Chí đã xác nhận số chiến xa bị bắn cháy mà do Thiếu tá Trưởng Phòng 3 báo cáo cùng tôi là 9 chiếc mà bây giờ là 10 chiếc.
4. Tướng Phạm Văn Phú là tướng giỏi hay dở?
Tướng Phú hoàn toàn bị địch đánh lừa và ít ra không có kinh nghiệm chiến trường Cao nguyên. Trước kia, khi còn Quân đội Hoa Kỳ tham chiến tại VN, tin tức tình báo chiến lược hay tin tức liên quan đến các đơn vị lớn của VC đều do Mỹ cung cấp. Nhưng sau Hiệp định Paris, nguồn tin từ Mỹ đều chấm dứt và Phòng 2 của ta chỉ còn khả năng lấy tin tức các đơn vị chính qui Bắc Việt bằng cách tìm điện đài của địch. Vì biết được yếu điểm này của QLVNCH, nên CS vẫn cho điện đài phát thanh hàng ngày như thường lệ và tuyệt đối im lặng truyền tin trong khi di chuyển về phía Nam. Vì vậy Tướng Phú cứ đinh ninh là các Sư đoàn Bắc Việt vẫn còn ở phía Tây Pleiku và Kontum.
5. Tổng Thống và Tổng Tham mưu Trưởng
Nếu qui trách nhiệm cho Tướng Phú làm mất Ban Mê Thuột vì dở là quá saị Vì kế hoạch hành quân hay bố trí các đơn vị để phòng thủ các Vùng đều được Tổng Tham Mưu Trưởng và Tổng Thống (Tổng Tư Lệnh) duyệt xét và chấp thuận mới được thi hành. Quân đoàn 2 và Tướng Phú được sự chỉ huy trực tiếp của Tổng TMT và TT. Mất Ban Mê Thuột đâu phải trách nhiệm riêng gì của Tướng Phú mà chính là Tổng TMT và TT. Các đơn vị chia sẻ trách nhiệm như Phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưu, Cục An ninh Quân đội, Đơn vị 101/TTM. Tất cả các cơ quan trên làm gì, để các đại đơn vị Bắc Việt di chuyển về phía Nam, để đánh vào thị xã Ban Mê Thuột? Ai là người dám công khai lãnh nhận trách nhiệm? Cho đến nay, trong chiến tranh VN mới chỉ có thấy ông cựu Bộ trưởng Quốc phòng McNamara là dám nói lên lỗi lầm của ông ấy mà thôị Bằng một cuốn sách, McNamara nhận trách nhiệm. Còn ai nữa? Hay tất cả chỉ cầu mong thời gian khỏa lấp vào “cuối trời lãng quên” hay là viết hồi ký để rửa tay kiểu quan Phi-la-tô trong Thánh kinh khi trao Đức chúa Giêsu cho dân chúng muốn làm gì thì làm, muốn giết chúng mày cứ việc giết, tao không có trách nhiệm gì hết? Ngụy biện quá sức.
6. Hãy so sánh lực lượng đôi bên
a) Lực lượng Quân đoàn 2
- Sư đoàn 22 BB
- Sư đoàn 23 BB
- 4 Liên đoàn BDQ (bằng 1 sư đoàn)
- 1 Lữ đoàn Thiết giáp
- 1 Sư đoàn Không quân (Sư đoàn 6 Không quân)
- 1 Trung đội Hoả tiển TOW
b) Lực lượng CS
- Sư đoàn 320
- Sư đoàn F10
- Sư đoàn Sao Vàng
- Sư đoàn 968
- Pháo binh 130
- Pháo binh Phòng không (Sư đoàn)
- Thiết giáp Lữ đoàn)
- Các đơn vị Công binh
- Các đơn vị Đặc công (2 Trung đoàn)
Nhìn qua tương qua giữ ta và địch, với nhiệm vụ phòng thủ, ta có thể làm tròn nhiệm vụ một cách dễ dàng. Trong binh pháp ai cũng biết, một lực lượng tấn công, phải gấp 3 lần lực lượng phòng thủ mới mong thắng trận được. Mất Ban Mê Thuột ta đã bị đánh lừa, vì ta không biết địch tấn công ở đâu, cũng giống như trên bàn cờ tướng, ta thua vì không biết nước chiếu của đối thủ.
7. Bài học của người Pháp
Khi còn là Đại úy, tôi đã có dịp theo học một khóa tham mưu, trong đó học chiến thuật, chiến lược. Người Pháp đã để lại một tài liệu nói về Cao nguyên. Đại ý: ”Muốn giữ Cao nguyên thì phải giữ Ban Mê Thuột. Muốn giữ miền Nam phải giữ Cao nguyên”. Phải chăng qua nhận dịnh đó, chúng ta đã mắc tới 3 sai lầm:
- Dời Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 về Pleiku?
- Tập trung quân giữ Kontum và Pleiku.
- Bỏ Cao nguyên để giữ miền Nam?
8. Những chuyện nghe được từ trong tù
Tại trại tù Nam Hà (Hà Nam Ninh), tôi được biết đứa con út của tôi đã chết tại xã Châu Sơn cách thị xã Ban Mê Thuột chừng hơn 3km. Số là khi CS tràn ngập tư dinh Tỉnh trưởng Darlac, các con tôi đã theo chân những binh lính trong dinh chạy trú ẩn tại nhà cha Tâm, cha sở xã Châu Sơ, một xã phần đông là người Công giáo từ Bắc di cư vào Nam năm 1954, nên có tinh thần chống Cộng cao độ. CS đã nã pháo kích như mưa vào làng, làm trúng hầm trú ẩn gia đình cha Tâm. Kết quả là đứa con út tôi và 2 đứa cháu của cha Tâm bị tử thương. Cũng trong tù CS, tôi có gặp Đại tá Nguyễn Văn Của, Thiết giáp, Tỉnh trưởng tỉnh Châu Đốc đã có dịp nói chuyện cho tôi biết: “Khi thị xã Ban Mê Thuột bị mất, TT Thiệu đã triệu các Tỉnh trưởng về họp tại Dinh Độc lập và có phán một câu xanh rờn, “Thằng Luật trở về trình diện, tôi sẽ xử bắn ngay vì bỏ chạy mà không giữ được thị xã. Còn các anh cũng vậy, ai bỏ tỉnh mà chạy, tôi cũng bắn ngay”.
Nghe lời kể của anh Của mà lòng tôi xót xa. Ở đời ai có hiểu mình và tôi lại nhớ tới bài hát “Bay Đêm” của Song Ngọc có câu “Ở đời ai hiểu ai...” để an ủi chính mình trong đời lao tù không có ngày ra này. Thêm nữa, cũng may cho tôi là tôi đã không có bỏ tỉnh, chạy trước khi địch quân đến như ít vị Tỉnh trưởng khác và cũng may là tôi còn ở lại cố thủ để bị bắt tại chiến trường. Nếu không bị xui xẻo vì bị oanh tạc lầm vào TOC, nếu quân tiếp viện đến kịp thời thì đâu đến nỗi bị bắt và ở tù tại miền Bắc 13 năm, 5 tháng, 25 ngày.
Để chấm dứt bài này, sau khi gia đình tôi đã được định cư tại Mỹ, qua diện HO. Vì chưa ổn định được đời sống nên tôi chưa có dịp diện kiến TT Thiệu để thưa lại vị Tổng tư lịnh của tôi đôi điều. Có một cảm nghĩ mà tôi cứ suy nghĩ mãi là các Tướng VNCH có đọc truyện Tàu không, nhất là Tướng Phú, để không bị CS đánh lừa ở vùng 2. Vì nếu đọc truyện Tàu đời xưa, chúng ta đều biết trận đánh giữa Hàn Tín và Hạng Võ được gọi là “Minh tu sạn đạo; ám độ trần thương”.
Đại Tá Nguyễn Trọng Luật
- Details
- Category: Truyện Lính
- Hits: 1473
Người dịch Kiều Công Cự
(HOLDING THE LINE – Trung Tướng NGÔ QUANG TRƯỞNG)
---oo0oo---
Đến giờ phút này, tất cả đều tin rằng sẽ chận đứng được sự xâm lăng của Bắc quân. Họ thực hiện tốt những trách vụ của mình bằng tất cả phương tiện của chính mình, mà không hoàn toàn trông đợi ở sự không yểm của Hoa kỳ. Trong những ngày này, thời tiết quá xấu kéo dài, làm cho những phi vụ không yểm không thể thực hiện được, ngay cả những tác xạ bằng trực thăng võ trang cũng bị giảm thiểu. Tuy nhiên Hải pháo của Mỹ ở ngoài khơi phía đông vẫn còn giúp đỡ được và những phi vụ trải thảm B52 vẫn trút xuống những vùng tập trung và những đường tiến sát của địch từ 5 đến 6 lần mỗi ngày.

Đến lúc này thì 3 Liên đoàn BĐQ (1,4,5) được điều động tăng cường cho Mặt trận Quảng Trị. Khi thời tiết có dấu hiệu sáng sủa hơn thì vị Tư lịnh QĐI đã cho nghiên cứu một cách nghiêm chỉnh kế hoạch phản công phải được phát động càng sớm càng tốt, để xử dụng không yểm chiến thuật ở mức tối đa của nó. Mối bận tâm của ông là khi kế hoạch sắp được Ban Tham Mưu Quân đoàn soạn thảo thì tướng Giai, Tư lịnh SĐ3/BB (Đơn vị tham chiến và hướng tấn công của CSBV trong giai đoạn mở đầu ), kiêm Tư lịnh mặt trận phía Bắc, đề nghị một cuộc tái tổ chức phòng thủ chiều sâu, một cố gắng phải làm ưu tiên trong bất cứ tình huống nào. Sự khác biệt căn bản về quan điểm chiến thuật này là một sai lầm nghiêm trọng dẫn đến sự thất thủ của thành phố Quảng trị sau này.
Rõ ràng tướng Lãm đã bị ảnh hưởng quá nhiều bởi sự hiện diện của những lực lượng tăng cường do Bộ TTM điều động. Đầu tiên là cuộc không vận của BTL/SĐ/TQLC cùng Lữ đoàn 369/TQLC, kế đến là BCH/BĐQ cùng với 3 Liên đoàn 1,4,5/BĐQ , không kể BCH/Thiết Giáp cùng với Thiết đoàn 18 Kỵ binh được từ Sài gòn đưa ra sau đó. Tướng Lãm tin tưởng rằng với những lực lượng tăng cường đó ông không những giữ được hai tỉnh phía Bắc mà còn có thể chiếm được những lãnh thổ đã mất trong một thời gian ngắn.
Với sự tin chắc đó, tướng Lãm đã nhiều lần bác bỏ lời yêu cầu của tư lịnh SĐ3 là xử dụng những lực lượng tăng viện đó để củng cố sự phòng ngự của Quảng Trị. Nhưng tướng Giai cứ nhất mực đòi cho được và cuối cùng thì Tư lịnh /QĐI phải miễn cưỡng gửi cho ông ta một LĐ/BĐQ đầu tiên, rồi đến các LĐ/BĐQ khác. Cuối cùng 3 LĐ/BĐQ đều có mặt tại vùng I Chiến thuật, được khai triển ở Quảng Trị và đặt dưới quyền điều động của SĐ3/BB.
Sự có mặt đông đảo của các đơn vị này đòi hỏi tướng Giai và Ban tham mưu của ông phải có một sự kiểm soát về mặt hành quân và nhất là một sự thống nhất về chỉ huy.
Tuy nhiên, mặc dầu được tăng cường một quyền hạn rộng rãi, SĐ3 chưa bao giờ nhận được một sự yểm trợ dồi dào về Hậu cần và những thông tin đáng kể về mặt xử dụng những quyền hạn và chỉ huy trên thực tế. Điều rắc rối này đã được ghi nhận khi BTL/QĐ thông báo cho tướng Giai rằng, những trách nhiệm đè nặng trên vai ông sẽ được chia phần gánh vác khi QĐI quyết định đặt BTL/SĐ/TQLC và BCH/BĐQ dưới sự chỉ huy trực tiếp của Quân đoàn, bằng cách giao phó cho 2 lực lượng này những vùng trách nhiệm riêng biệt. Nhưng những thông báo này đã bị dẹp qua một bên. Lý do thì chỉ có tướng Lãm biết mà thôi. Dĩ nhiên tướng Lãm phải nhớ trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 ( năm 1971 tại Hạ lào), vị Tư lịnh SĐ/TQLC đã không thi hành lịnh của ông mà cho đến bây giờ chẳng bị chế tài bởi một hình thức quân kỷ nào hết. Và cũng để chứng tỏ quyền hạn của BTL/QĐI, Đ/tá Trần công Liểu CHT/BĐQ đã tự ý rời Đà Nẵng mà chẳng có một lịnh lạc hay một thông báo nào hết. Còn BTL/SĐ/TQLC thì không nhận một sự chỉ huy nào của QĐI. Tình trạng càng rắc rối hơn khi vị Tư lịnh SĐ3 nhận thấy những lịnh của ông ban ra cho những đơn vị liên hệ, sẽ không được thi hành tức khắc, mà phải đợi hỏi lại đơn vị gốc để đưọc kiểm tra và hướng dẫn. Nhất là trong những cuộc hành quân có phần khó khăn.
Nhưng tướng Lãm đã không quan tâm đến những khó khăn mà tướng Giai gặp phải. Thái độ của ông luôn luôn lạc quan. Ông vẫn tin tưởng QĐI có đủ lực lượng để chận đứng những đơn vị VC tại tuyến phòng thủ hiện nay, cho nên ông ra lịnh cho bộ Tham mưu chuẩn bị một kế hoạch phản công.
Thái độ lạc quan của tướng Lãm lại được thể hiện rõ nét qua biến cố ngày 9/4. Cái ngày mà địch quân phát động một cuộc tấn công thứ nhì từ hướng Bắc và hướng Tây. Nhưng lại một lần nữa, lực lượng phòng thủ đã đẩy lui mọi cuộc tấn công. LĐ1 Kỵ binh, LĐ258/TQLC và LĐ5/BĐQ đều báo cáo những thành quả tốt đẹp. Nhiều chiến xa địch bị bắn hạ do những quả M72 từ những người lính TQLC, BĐQ và những khẩu đại bác gắn trên Chiến xa M48 của LĐ1 Kỵ binh. Căn cứ Phượng Hoàng (Pedro), trước đây do SĐ3 trấn giữ đã bị tràn ngập, đến đầu năm 1972, được giao lại cho TQLC và đơn vị này đã bẽ gảy 3 cuộc tấn công dữ dội của địch. Gần đây nhất, nội trong ngày 9/4, TĐ6/TQLC bảo vệ căn cứ đã được tăng cường 2 Đại đội của TĐ1/TQLC và một Chi đội M48, đã tiêu diệt 30 tăng T54 của Trung đoàn 203 và khoảng 700 tên địch thuộc Trung đoàn 66, thuộc SĐ 304. Cho đến buổi chiều cùng ngày, chu vi phòng thủ của SĐ3 và các lực lượng tăng phái, từ bờ biển phía Đông, chạy dọc theo bờ Nam của sông Đông Hà, đến tận hướng Tây và Tây Nam tới căn cứ Phượng Hoàng và sông Thạch Hãn vẫn còn nguyên vẹn.
Ở thời điểm này, trách nhiệm và quyền hạn của tướng Giai đã vượt xa hơn vị trí của một vị tư lịnh. Ông đã chỉ huy 2 Trung đoàn Bộ binh cơ hữu (Tr/đoàn 2 và 57), điều động hành quân 2 LĐ/TQLC, 3 LĐ/BĐQ, 1 LĐ/Kỵ binh và những lực lượng diện địa của tỉnh Quảng Trị. Như vậy ông ta có đủ quyền hạn trên 9 LĐ bao gồm khoảng 23 TĐ và những lực lượng diện địa. Trách nhiệm của ông còn giám sát và bảo vệ những đơn vị Pháo binh và Tiếp vận đang hành quân tại Đông Hà, cũng như phải theo dõi những hoạt động của Chính quyền cấp Tỉnh và quận hạt. Ông ta rất bằng lòng và rất được khích lệ khi Tư lịnh QĐI đã hoàn toàn tin cậy và giao trọn quyền hạn cho ông ta.
Nhưng có một điều cần lưu ý ở đây là tướng Lãm không tự cảm thấy phải vội vàng đến thăm viếng những vị chỉ huy dưới quyền của ông ở tại mặt trận, hay những đơn vị ở tại tuyến đầu của QĐI. Ông chỉ nghe thuyết trình về những diễn biến của trận đánh qua các bản báo cáo và ban hành những chỉ thị, những huấn lịnh cho ban Tham mưu của ông. Tự bản thân ông không bao giờ đi thị sát tuyến phòng thủ của SĐ3, để hiểu rõ những trở ngại mà các đơn vị trưởng phải đối mặt. Rõ ràng trong suy nghĩ của ông thì tình trạng hiện nay không đủ để cần có sự hiện diện của ông. Quân đội miền Nam đã chiến thắng trong những ngày 9 và 10/4 càng làm tăng thêm sự lạc quan của ông và dẫn đến một quyết định là chính thời điểm này, phải mở ra một cuộc phản công. Những người trong ban Tham mưu của ông nhận được lịnh thảo ra một kế hoạch băng qua sông Đông hà để chiếm lại quận Gio linh và toàn bộ lãnh thổ phía Bắc đến tận vùng phi quân sự. Ông ta nhận định rằng một cuộc hành quân như thế nằm trong khuôn khổ của QĐI và sẽ chận đứng mọi cuộc xâm lăng của quân CSBV. Nếu cuộc phản kích thành công thì toàn bộ lực lượng địch sẽ bị đẩy về phía bắc vùng phi quân sự.
Mặc dầu kế hoạch phản công được tranh luận rộng rãi và cân nhắc cẩn thận, nhưng cuối cùng đã bị loại bỏ. Chỉ vì một điều, nếu tập trung mọi lực lượng tấn kích về phía bắc thì sườn phòng thủ về phía tây trở nên yếu ớt và lỏng lẻo, trong khi trên thực tế thì địch ở đây mạnh hơn nhiều. Nếu sườn phía tây bị chọc thủng ở nhiều đoạn, thì thành phố Quảng trị trở nên nguy khốn. Cho nên tướng Lãm sau đó quyết định hướng cuộc phản công về phía tây thay vì phía bắc. Ông dự trù tái lập tuyến phòng thủ cũ ở phía tây bằng cách tung toàn bộ lực lượng tái chiếm theo từng giai đoạn, nhắm vào các căn cứ cũ Mai Lộc, Tân Lâm. Cùng thời gian đó, ông ra lịnh cho các đơn vị tham chiến phải làm sạch các đơn vị địch trong vùng trách nhiệm của họ trước rồi tiến sang giai đoạn kế tiếp. Cuộc phản công này mang tên là Hành quân Quang Trung 729, lấy một biểu tượng cùng một nhân vật lịch sử mà VC đã lợi dụng để đặt tên cho cuộc xâm lăng của bọn chúng. Cuộc hành quân dự trù khởi diễn vào ngày 14/4/1972.
Tướng Giai đã ban lịnh cho SĐ3 và những đơn vị tăng phái. Cuộc Hành quân Quang Trung 729 bắt đầu. Tuy nhiên chẳng có cuộc tiến quân nào băng qua Tuyến xuất phát. Trái lại những cánh quân mệt mõi ở sườn phía tây không sẳn sàng tiếp cận với địch. Và như thế hai tuần lễ trôi qua, những người lính đã không sẳn sàng và không thể tiến lên phía trước. Trong khi đó Cộng quân đã mở nhiều đợt pháo kích cả ngày lẫn đêm vào tuyến đóng quân của quân đội miền Nam, gây ra nhiều thiệt hại nặng nề về thương vong. Đến ngày cuối cùng của cuộc hành quân đầu tiên, không đơn vị nào tiến xa hơn 500m từ Tuyến xuất phát. Bị giới hạn trong chỉ huy và những phương tiện giám sát, tướng Giai cảm thấy không thể phối hợp được một cuộc hành quân đủ mạnh, trong bất cứ một vùng hoạt động nào. Hơn thế nữa trong giai đoạn này, ông ta cũng không nhận ra, tinh thần chiến đấu đã giảm sút giữa các cấp chỉ huy tăng phái và các đơn vị của họ. Các cấp chỉ huy này không mấy tin vào một cuộc phản công vào kẻ địch, bởi vì tướng Giai cũng không đủ khả năng chỉ huy các đơn vị phân tán này, và những thuộc cấp của ông thường trì hoãn sửa soạn những cuộc tấn công viện lý do trở ngại về Tiếp vận, quân số bổ sung chưa kịp, đơn vị mệt mỏi và nhiều lý do khác nữa. Mặc dầu họ có gửi cho tướng Giai những báo cáo hằng ngày về mức độ tiến quân, nhưng chạm tuyến vẫn không có gì thay đổi. Những lịnh bắt buộc họ phải quét sạch địch trong vùng trách nhiệm trước khi đến giai đoạn kế tiếp, đòi hỏi một cuộc chuyển quân cẩn thận trong bất cứ trường hợp nào và cung cấp cho họ những sự biện hộ rộng rãi cho việc đơn vị của họ không thể tiến nhanh được.

Trong những ngày này, những cố gắng của tướng Lãm để tái lập lại hệ thống kiểm soát và chỉ huy có hiệu quả đã thất bại lại còn gây ra nhiều vấn đề khá trầm trọng. BTL/SĐ/TQLC và BCH/BĐQ, mà những đơn vị cơ hữu của họ được đặt dưới quyền điều động của QĐI, lại đứng ngoài những hoạt động chiến đấu và từ chối không nhận bất cứ một sự chỉ định hay vùng trách nhiệm nào. Là những vị chỉ huy cao nhất của TQLC và BĐQ, nhưng họ càng làm cho sự chỉ huy thêm rắc rối và sự kiểm soát càng phức tạp hơn, như về những lịnh lạc của tướng Giai, bằng cách đặt ra những câu hỏi và phê bình về những vấn đề có liên quan đến đơn vị của họ. Tuy nhiên, không những chỉ có những vị này, mà cả tướng Lãm nhiều khi ban hành những lịnh lạc trên những hệ thống truyền tin và trên điện thoại đến từng cá nhân Lữ đoàn trưởng, nhất là vị Lữ đoàn trưởng LĐ1 Kỵ binh (là người cùng trong binh chủng Thiết giáp với tướng Lãm).
Tướng Giai thường chỉ biết những lịnh này sau khi các đơn vị trưởng đã thi hành. Những sự kiện này thường làm suy giảm nghiêm trọng đến quyền hạn của ông ta. Không tin cậy và không phục tùng dần dần trở nên gay gắt, cuối cùng đưa đến sự đổ vỡ hoàn toàn không thể tránh được về mặt chỉ huy và kiểm soát tại tuyến đầu của Vùng I Chiến thuật.
Sau 2 tuần lễ mưa gió liên tục và tầng mây nặng trĩu làm trở ngại rất nhiều việc xử dụng không yểm chiến thuật, thời tiết bắt đầu quang đãng, những phi vụ không trợ của Không quân Mỹ đã gia tốc nhịp độ, như để bù đắp lại thời gian đã bị mất mát. Hằng ngày đủ loại phi vụ xuất hiện từng đàn trên bầu trời Quảng trị. Những đợt trải thảm của B52, những phi vụ chiến thuật, những yểm trợ cận phòng của trực thăng võ trang gia tăng hằng ngày để đổ lửa đạn xuống những mục tiêu nghi ngờ. Sự gia tăng không yểm này làm lên tinh thần binh sỉ và niềm tự tin của những người lính bộ chiến. Ngày 18/4 những hoạt động của địch gia tăng một cách đáng kể bằng những cuộc "tiền pháo hậu xung", bộ binh và chiến xa địch cùng xuất hiện. Đây là lần thứ ba địch mở cuộc tấn công lớn nhằm đánh chiếm thành phố Quảng trị. Những đơn vị Bộ binh và TQLC đều báo cáo chạm địch và bị pháo kích. Lúc 1830 G một đơn vị địch có phối hợp bộ binh và thiết giáp đã mở ra một cuộc tấn công vào phía tây của SĐ3/BB. Tại mọi vị trí các đơn vị đều báo cáo có sự xuất hiện của tăng địch. Trong vòng 3 giờ đồng hồ, không lực Mỹ đã đáp ứng một cách tích cực với những phi vụ chiến thuật và những đợt B52 trãi thãm nhiều nơi, khiến cuộc tấn công của địch bị bẻ gẫy hoàn toàn. Sự không yểm này tạo cơ hội cho những đơn vị VNCH vùng lên phản công, ít nhất cũng vượt qua bước tiên khởi của cuộc Hành quân Quang Trung 729.

Tuần lễ sau đó, tuyến phòng thủ Đông Hà và dọc theo sông Cửa Việt bị tan vỡ do một sai lầm về chiến thuật hết sức ngớ ngẩn. Điều này dẫn đến những bản báo cáo mà BTL/QĐI nhận được cho biết Cộng quân đã xâm nhập từ phía tây và đe dọa sẽ cắt đứt con đường tiếp tế từ Đông Hà đến căn cứ Ái Tử trên QLI. Trong ý nghĩ đầu tiên vị LĐT/LĐ1 Kỵ binh đã ra lịnh cho Thiết đoàn 20 Chiến xa đang bố trí trên tuyến Cửa Việt , lui về phía nam, dọc theo QLI để chận đứng những đơn vị địch sẽ xuất hiện tại đây. Khi thấy các Chiến xa di chuyển về phía nam, những đơn vị đang phòng thủ đâm ra hoảng loạn, bỏ hàng ngũ và tiến từng đàn theo sau mà không có gì ngăn cản nỗi. Trước khi vị Tư lịnh SĐ3 biết được những gì đang xảy ra, trong khi ông đang điều động những đơn vị sẳn sàng đến căn cứ Ái Tử và tuyến phòng thủ Cửa Việt, một trong những tuyến phòng thủ mạnh nhất đã nhiều lần bị VC tấn công gần một tháng qua vẫn giữ vững, bởi những người lính can đảm, kiên trì nhất, bây giờ đã bị bỏ đi. Ta đã trao cho địch một phần đất quan trọng chỉ vì vị chỉ huy chiến thuật này đã không tính hết được cái ý nghĩ tiên khởi đó, về một cuộc chuyển quân mà không báo cáo lên cấp trên của ông ta và cũng không tiên liệu hết hậu quả hành động của mình.
Lại một lần nữa bằng sự can thiệp hết sức tự nhiên, vị Tư lịnh SĐ3 đã cố gắng đưa ra những đặc lịnh tái thiết lập, mặc dầu cũng chẳng được bao lâu. Nhưng thời gian quí báu đó đã đi qua mất rồi. Cuối cùng trong lúc này ông ta cố gắng duy trì sự kiểm soát tình thế, nhưng không có cách nào để đẩy các đơn vị của mình trở lại bờ sông Cửa Việt, để tái lập những vị trí đã mất. Ông ta bắt buộc phải tập họp họ lại ở phía tây của thành phố Quảng trị và khai triển một tuyến phòng thủ mới về phía bắc của sông Thạch Hãn. T uyến mới này bao quanh và bảo vệ căn cứ Ái Tử rất quan trọng vì được coi như một trung tâm yểm trợ tiếp vận thu nhỏ lại tại đây.
Ngày 22/4/1972 LĐ147/TQLC đã trở lại căn cứ Ái Tử sau một thời gian dưỡng quân và bổ sung quân số, để thay thế cho LĐ258/TQLC được luân chuyển ra Huế. Tuy nhiên TĐ1/TQLC vẫn còn ở lại để trấn giữ căn cứ Phượng Hoàng và đặt dưới sự điều động của LĐ147. (Những vị trí phòng thủ của QL/VNCH trong cuộc vây hãm thành phố Quảng trị )
Trong những ngày sau đó, tinh thần chiến đấu của binh sĩ xuống thấp một cách nhanh chóng. Họ luôn luôn bị đe dọa bởi những đợt pháo kích và những cuộc tấn công có tăng yểm trợ. Cộng quân đã chuyển qua những cuộc chiến tranh qui ước. Binh sĩ đã qua nhiều đêm không ngủ, căng thẳng và lo lắng cái viễn ảnh bộ binh địch sẽ mở ra các cuộc đột kích bất cứ lúc nào mà họ chọn. Cho nên trong thời gian ngưng đọng giữa các cuộc tấn công, thì đó là lúc địch quân có thể nghĩ ngơi , còn hầu hết binh sĩ ta bị pháo kích cầm canh, nên luôn luôn ở trong tình trạng báo động, căng thẳng ngày và đêm, sức khỏe của họ bị đào mòn vì lo sợ và bất định, trong thời gian phòng thủ tại một căn cứ chiến đấu mà giá trị chiến thuật trở nên mờ nhạt.
Căn cứ Ái Tử, phía bắc sông Thạch Hãn, là một chọn lựa không thích hợp về mặt chiến thuật. Trong suốt tháng tư, đây là điểm được chọn là điểm tiếp vận và đây cũng là điểm mà pháo địch gửi đến hằng ngày, đêm với một mức độ dữ dội. Cho nên Tư lịnh SĐ3 đã quyết định dời Bộ tham mưu về phía nam của con sông Thạch Hãn, trong cổ thành Quảng Trị. Ông ta chỉ hỏi ý kiến của vị Cố vấn SĐ. Tướng Giai sợ rằng những cấp chỉ huy dưới quyền của ông biết được kế hoạch này, họ sẽ tìm cách phá hỏng bằng những hành động vội vàng nào đó. Ông ta cũng không thông báo kế hoạch này cho vị Tư lịnh QĐI. Đơn giản là ông ta muốn cẩn thận, muốn đặt mọi việc trước một sự đã rồi. Nhưng đó là một hành động gây tức giận cho tướng Lãm và sự bất tin cậy bắt đầu lớn dần giữa họ, khoảng cách càng lúc càng lớn cho đến những biến cố dồn dập xảy ra dẫn đến sự thất thủ của thành phố Quảng Trị.
SỰ THẤT THỦ CỦA THÀNH PHỐ QUẢNG TRỊ.
Những cuộc tấn công trong những ngày cuối tháng tư của Cộng quân gây ra sự thất thủ của thành phố Quảng trị. Ở thời điểm này, hậu quả của những sự căng thẳng và sự khích động trong bốn tuần qua trong cuộc chiến tranh qui ước đã làm tinh thần kỷ luật và chiến đấu của những người lính miền Nam đã đến hồi báo động và nguy hiểm. Sự liên kết và niềm tự tin trong chiến đấu chỉ còn là những mảnh vụn, cũng sẽ sẳn sàng ra đi. Những đơn vị của SĐ3 chiến đấu mà không nghĩ rằng mình sẽ chiến thắng và hầu như họ chỉ biết chống đỡ. Những vị trí cuối cùng ngày càng co cụm lại.
Trong lúc này Cộng quân mở ra nhiều đợt tấn công từ hướng tây, gần ranh giới của tỉnh Thừa Thiên, cắt đứt QLI ở phía nam và ngăn chận tất cả những đoàn xe tiếp tế của đơn vị bạn trên một đoạn đường dài hơn 7 Km. Ý định của chúng là cô lập những lực lượng của QĐI ở Quảng Trị và cắt đứt hoàn toàn con đường giao thông huyết mạch mà ta phải giữ bằng bất cứ giá nào. Phản ứng đầu tiên của vị Tư lịnh QĐI trong trạng huống này là đưa ra một loạt những lịnh lạc cho các đơn vị tiếp vận, thúc đẩy những đoàn quân xa chở tiếp liệu băng qua những đoạn đường đang bị địch phong tỏa. Kế tiếp vị tư lịnh SĐ3 lặp lại cái lịnh khai thông QLI từ phía bắc. Những lịnh lạc này bắt buộc tướng Giai phải thay đổi nhiệm vụ của Thiết đoàn kỵ binh đang giữ vai trò bảo vệ tuyến phòng thủ để chuyển sang nhiệm vụ khai thông QLI về hướng nam. Cuối cùng đích thân Tư lịnh QĐI đã điều động một TĐ/TQLC đang giữ nhiệm vụ bảo vệ Huế phải khai thông QLI từ phía nam. Những cuộc chuyển vận này làm tiêu hao khá nhiều nhiên liệu và đạn dược đáng lẽ phải được ưu tiên ở Quảng Trị và việc tái lập con đường huyết mạch đó đã không thành công,
Thời tiết rất xấu trong ngày 27/4 và địch đã chiếm được ưu thế hơn. Trong những ngày này, những hoạt động của địch cho thấy dấu hiệu bọn chúng muốn đẩy mạnh việc tiến chiếm những phần đất còn lại của quân đội miền Nam tại Quảng Trị. Tuyến phòng thủ mới của SĐ3 cũng dần dần thâu ngắn lại từ vùng phụ cận Quảng Trị đến phía đông, phía bắc, phía tây. Những đơn vị ta báo cáo chạm địch rất đông đảo và bị pháo nhiều. Suốt ngày địch tấn công dai dẳng, biển người và những đợt pháo cày nát những vị trí phòng thủ khiến một số đơn vị phải rút lui. Đến cuối ngày, LĐ1 Kỵ binh đã đẩy lui địch được khoảng 2, 3 Km trên QLI, trong khi đó pháo tập trung mạnh vào căn cứ Ái Tử của LĐ147/TQLC.
Để đáp lại lời kêu gọi khẩn cấp của SĐ3, không quân chiến thuật Hoa kỳ và pháo đài bay B52 đã can đảm bất chấp mọi thời tiết quyết chận lại không cho địch tiến vào thành phố Quảng Trị. Đến ngày kế tiếp, thiết giáp địch đã đến gần cầu Quảng Trị, cách thành phố khoảng 2Km về hướng tây nam, đây là vùng trách nhiệm của Tr/đoàn 2. Thiết đoàn 17 đã gửi một Chi đoàn M41 đến tăng cường cho Tr/đoàn 2, nhưng đơn vị này đã rút lui. Những Chi đoàn của LĐ1/Kỵ binh đã có kinh nghiệm đẩy lui địch trong ban ngày, nhưng phải rút lui về hướng bắc của căn cứ Ái Tử khoảng 1Km, để có bộ binh bảo vệ. Không may, Đại tá Nguyễn trọng Luật đã bị thương và được tải thương khẩn cấp. Khi ông đi rồi thì những quân nhân trong LĐ đã không thể nào kiểm soát nỗi và họ đã bỏ đi về phía nam bằng qua con đường do LĐ147/TQLC được lịnh chận lại.
Tr/đoàn 57 cũng không còn khả năng tác chiến nữa. Vị Trung đoàn trưởng không còn biết được tình trạng của 2 Tiểu đoàn ở gần thị trấn Đông Hà như thế nào nữa. Chung quanh và để bảo vệ ông chỉ có Trung đội Thám báo của Tr/đoàn. Suốt ngày đêm làn sóng người tiếp tục đổ về phía nam. Chỉ có một đơn vị còn đủ khả năng bảo vệ căn cứ Ái Tử là LĐ147/TQLC, mặc dầu họ bị tấn công liên tục bằng bộ binh và những đợt pháo dữ dội.
Ngày 29/4 tình cảnh thành phố Quảng Trị đã trở nên bi thảm. Địch đang mở những hướng tấn công mới. Mặt khác, đến lúc này những vị đơn vị trưởng của ta rất quan tâm đến sự thiếu thốn về nhiên liệu và đạn dược. Những khẩu pháo 105 và 155 ly sau khi bắn hết đạn đều bị phá hủy. Những cố gắng để mở lại một vài đoạn đường trên QLI diễn tiến hết sức chậm chạp vì thiếu sự phối hợp và những hành động tích cực. Viễn ảnh đó gần như vô vọng. Quảng Trị đã được tái tiếp tế bằng trực thăng. Đó là những chuyến bay của những phi công đầy can đảm và chấp nhận hy sinh khi bay dọc theo QLI.
Trước khi đối mặt với một tai vạ sau cùng, tướng Giai đã mở một cuộc họp với các đơn vị trưởng của ông, tại bộ chỉ huy ở trong cổ thành Quảng Trị và trình bày một kế hoạch rút lui về phía nam sông Thạch Hãn. Trên căn bản thì kế hoạch xử dụng một LĐ/TQLC để bảo vệ thành phố Quảng Trị, thiết lập một tuyến phòng thủ mới tại bờ nam sông Thạch Hãn với lực lượng Bộ binh và các LĐ/BĐQ, xử dụng lực lượng Chiến xa và Thiết kỵ để mở con đường QLI về phía nam. Tất cả các đơn vị sẽ di chuyển vào sáng hôm sau tức là ngày 1tháng 5.
Được thông báo về kế hoạch rút quân này, tướng Lãm chỉ ngầm đồng ý, mặc dầu ông chưa bao giờ xác nhận sự đồng thuận của ông. Cũng như ông chưa bao giờ ra một cái lịnh như thế với tư lịnh SĐ3/BB.
Tuy nhiên trong buổi sáng ngày 1/5, tướng Lãm đã gọi cho tướng Giai và nói rằng ông không chấp thuận cái lịnh rút quân. Ông yêu cầu tướng Giai ra lịnh cho tất cả các đơn vị ở lại tại chỗ và giữ vững vị trí mình với "bất cứ giá nào". Ông cũng nhấn mạnh rằng cá nhân ông không cho phép bất cứ đơn vị nào rút lui. Tướng Giai phải đưa ra cái phản lịnh ở giờ thứ 11. Đó cũng chỉ là một sự lặp lại một mệnh lệnh mà tướng Lãm đã nhận được từ TT Thiệu ở Sài gòn. Quyết định này được coi như là xác nhận bởi vì tại cuộc Hội đàm Paris, phái đoàn VNCH đã tẩy chay hội nghị kể từ ngày đầu tiên quân CSBV tràn qua sông Bến Hải và xâm lăng miền Nam.
Một sự kiện thật dễ dàng khi cầm điện thoại lên và hủy bỏ một mệnh lệnh. Ở tại chiến trường và dưới áp lực nặng nề của địch, những lịnh lạc xung khắc nhau như thế này sẽ dẫn đến một hậu quả không tránh được, là tạo nên một sự bối rối và hỗn loạn. Ngay cả tướng Giai cũng không có đủ thì giờ để hủy bỏ cái lịnh mà chính ông ta ban hành và cùng một lúc phải phổ biến những lịnh mới cho từng cấp chỉ huy qua một loạt những điện đàm dài dòng. Hơn nữa tất cả các LĐ trưởng và Tr/đoàn trưởng cũng không có mặt tại chỗ để thi hành những lịnh lạc mới. Một vài người thông báo là đơn vị của họ sẳn sàng đi đến vị trí mới, một số khác từ chối thẳng thừng. Sự thay đổi lịnh đã được ban ra. Tướng Giai kiên nhẫn thuyết phục họ nên tuân theo những chỉ dẫn mới nhận được từ Quân đoàn. Ông ta lặp lại lịnh mới và nhấn mạnh mỗi một đơn vị phải thi hành. Ông ta cũng hủy bỏ cái lịnh mà ông ta vừa ban hành và tái thiết lập BCH của ông. Tất cả đều trụ lại tại thành phố Quảng Trị.
Nhưng trong vòng 4 giờ sau đó, những tuyến phòng thủ của quân đội miền Nam đã đổ vỡ hoàn toàn. Những đơn vị từ phía bắc đóng chung quanh căn cứ Ái Tử đã đổ xuôi như một dòng thác băng qua sông Thạch Hãn và tiếp tục chảy xuôi về phía nam như một chiếc đập đang bị vỡ. Những đơn vị cơ giới khi đến cầu Thạch Hãn thì không thể qua được, vì cây cầu đã bị phá hủy hoàn toàn. Họ bỏ lại toàn bộ xe cộ và những trang bị rồi lội qua sông và tiếp tục xuôi nam. Ở bờ nam của con sông, những đơn vị bộ binh cũng không muốn giữ cái kháng tuyến mới. Khi họ nhìn thấy những Chiến xa rút lui, họ đã bỏ trống tuyến ngay và phóng theo đoàn người. Nhưng đoàn người ấy cũng không đi được xa lắm. Chiến xa, thiết giáp hết nhiên liệu, rồi chiếc này nối đuôi chiếc khác thành hàng dài trên QLI. Chỉ có một đơn vị vẫn còn giữ được sự phối hợp và liên kết chỉ huy trong suốt thời gian hỗn loạn này là LĐ147/TQLC, vẫn bình tĩnh bảo vệ thành phố Quảng Trị. Nhưng cuối cùng chính vị LĐ trưởng cũng thấy tình trạng này là vô vọng và ông cũng ra lịnh cho các đơn vị của ông rời khỏi thành phố lúc 1430G, để lại tư lịnh SĐ3 và ban Tham mưu của ông trong Cổ thành, mà không có một đơn vị nào bảo vệ.
Sau cùng khi biết được những gì đã xảy ra, tướng Giai đã cùng ban TM lên 3 chiếc M113, trong cố gắng bắt kịp đoàn người phía trước. Lúc đó những chiếc trực thăng Mỹ đã đến để di tản những toán cố vấn và những nhân viên người VN của họ.

Trên QLI, cả một dòng thác người chạy loạn, dân sự và binh lính tiếp tục xuôi nam. Con đường đã diễn ra một cảnh tượng tàn sát không thể nào tưởng tượng nỗi. Những chiếc xe đủ loại bốc cháy dữ dội. Những chiếc thiết giáp, GMC, xe nhỏ của quân đội và dân sự đầy cứng cả con đường, không tài nào lưu thông được. Trong khi đó pháo binh địch mở ra một cuộc tàn sát đẫm máu không nương tay. Cho đến xế trưa hôm sau, cuộc thảm sát mới chấm dứt. Hàng nhiều ngàn người dân vô tội đã được tìm thấy trên đoạn đường dài của QLI và sau đó báo chí đã đặt cho cái tên là "đại lộ kinh hoàng". Sự khích động và sự thảm thương của thảõm cảnh này, cũng giống như cuộc tàn sát tập thể tại Huế hồi Tết Mậu thân ( 1968) đã ám ảnh người dân phía bắc của Vùng I Chiến thuật một khoảng thời gian lâu dài.
Nhiều đơn vị miền Nam và LĐ147/TQLC vẫn giữ được kỷ luật giữa sự hỗn loạn đó và chiến đấu trên đường di chuyển ngoài vùng phụ cận của quận Hải Lăng. LĐ5 và theo sau đó là LĐ1 và LĐ4/BĐQ vừa di chuyển vừa đánh tan những đơn vị địch cản đường. Họ đã bắt kịp LĐ1 Kỵ binh đang đóng quân đêm khoảng 4 Km tây nam Hải Lăng. Đến khuya hôm đó, những thành phần còn lại của SĐ3/BB đã đến gần căn cứ Hòa Mỹ, nơi mà tướng Giai và ban TM của ông cũng đã đến đây. Ông đang chuẩn bị để tái lập lại BCH và tái tổ chức lại đơn vị.
Ngày 2/5, LĐ1 Kỵ binh tiếp tục xuôi nam theo QLI dưới cơn mưa pháo liên tục của địch. Cuối cùng đơn vị thiết giáp này cũng đến được căn cứ Hòa Mỹ, khoảng 25 Km phía tây nam Quảng Trị, vào lúc xế trưa.
LĐ147/TQLC là đơn vị đoạn hậu, nên chấp nhận mọi cuộc tấn công tương tự khi bắt đầu rời căn cứ Ái Tử để đi vào quận lỵ Hải Lăng và bắt đầu xuôi nam vào lúc rạng đông. Với sự yểm trợ của không quân chiến thuật Mỹ, cùng một số chiến xa, LĐ này đã băng qua hành lang an toàn từ cầu Bến Đá đến cầu Mỹ Chánh trên QLI. Cầu Bến Đá đã được TĐ9/TQLC trấn giữ và cầu Mỹ Chánh đã được LĐ369/TQLC đang thành lập tuyến phòng thủ mới tại đây với TĐ2 và TĐ5/TQLC.
Toàn bộ thành phố Quảng Trị giờ đây đã rơi vào tay giặc. Điều này giúp cho CSBV có cơ hội đẩy mạnh tấn công đến tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế.
.............
Anaheim ngày 20/5/2006
Người dịch: Kiều Công Cự
- Details
- Category: Truyện Lính
- Hits: 1474
