Airforce Echo News
Phạm Tín An Ninh

Tôi không phải là người Phú Yên, cũng chẳng có mối tình nào gởi lại Tuy Hòa, nhưng dường như cái xứ có núi Nhạn sông Đà thơ mộng ấy đã mãi vương vấn tâm hồn tôi, in đậm trong ký ức tôi những mối tình đẹp, thật dễ thương của đám bạn bè, đồng đội, cùng bao kỷ niệm vui buồn một thời trận mạc. Khi ấy bọn tôi còn rất trẻ, đa số vừa mới rời khỏi học đường vài ba năm để bước chân vào nơi gió cát.
Ngày mang “sự vụ lệnh” về trình diện đơn vị tại Ban Mê Thuột, tôi và bốn thằng bạn cùng khoá cứ ngỡ cuộc đời mình sẽ dính liền với rừng núi của xứ “bụi mù trời” và “buồn muôn thuở”, chỉ còn biết nằm nghe tiếng chim kêu vượn hú. Ai ngờ sau hai tuần lang thang quanh quẩn trong con phố buồn hiu, ngắm mấy cô gái Thượng mang gùi đi xuống đi lên trên con đường A Ma Trang Long bám đầy đất đỏ, bọn tôi được ông Trưởng phòng 1 lái xe đi tìm chở về Câu Lạc Bộ Sĩ Quan, vội vàng lấy ba–lô quân trang, rồi đưa thẳng ra phi trường Phụng Dực, tháp tùng phi cơ của ông tư lệnh, Đại tá Lữ Lan, bay xuống đơn vị đang hành quân tại Khánh Hòa, ngay vùng biển quê hương tôi.
Đơn vị tôi lúc ấy, chắc cũng thuộc loại đánh đấm có hạng nên được chọn làm lực lượng lưu động trừ bị cho Quân Đoàn. Nay đây mai đó. Trước khi di chuyển đến đây, đã có mặt khắp nơi: từ Bình Tuy, Bình Thuận, Ninh Thuận, đến Lâm Đồng, Quảng Đức…
Khi đến đơn vị, tôi rất vui. Vì ngoại trừ ông Tiểu đoàn trưởng, hầu hết tất cả sĩ quan trong đơn vị đều trẻ măng, độc thân vui tính, anh nào “đàn anh” nhất cũng chỉ vừa rời ghế nhà trường năm ba năm. Ba anh Trung uý Đại đội trưởng đều dạn dày lửa đạn. Một anh tốt nghiệp khoá 16 VB Đà Lạt, hai anh khoá 13 Thủ Đức, một gốc Huế một gốc Bắc Kỳ di cư. Nhưng anh nào cũng đánh đấm rất gan lì và vui vẻ chịu chơi. Tôi được bổ nhậm về Đại Đội của anh trung uý gốc Huế nhưng lại thân thiết với anh trung uý gốc Bắc Kỳ, vì ngoài các đức tính khác anh còn có nụ cười và ánh mắt dễ làm “chết người ta”.
Không biết có bao nhiêu “hồn (đã) lỡ sa vào đôi mắt… anh” rồi, nhưng tôi là thằng lính ngang tàng mà cũng phải lụy anh trong cái tình huynh đệ. Sau này và cho mãi đến bây giờ, chúng tôi vẫn còn giữ cái tình “anh em tri kỷ” ấy. Đám Trung đội trưởng tò te, ngoài tôi ra còn có bốn thằng cùng khoá 18 Thủ Đức với tôi, vài ba anh khoá 15, 17 và hai chàng khoá 19 VB Đà Lạt đầy phong độ, cũng vừa mới ra trường năm ba tháng trước. Tôi nhận Trung Đội với chỉ 25 thằng lính, nửa Kinh nửa Thượng. Ngay sau khi nhận trách nhiệm, công việc đầu tiên của tôi là dắt đám lính tráng vào QYV Nguyễn Huệ để dự đám tang, chào tiễn đưa ông Thượng sĩ già, Trung đội trưởng tiền nhiệm ra nghĩa trang Đồng Đế. Ông vừa tử trận vài ngày trước đó trong một trận phản phục kích tại Tu Bông (Vạn Giã) và tôi đến Trung Đội để thay thế ông. Nhìn bà vợ và mấy đứa con của ông kêu gào, khóc la thảm thiết, tôi hình dung ra con đường thê lương trước mặt, và tự trấn an mình: mai này mình chết, may ra cũng không có tiếng quả phụ và trẻ thơ khóc lóc!
Thời ấy, nhờ ảnh hưởng kết quả của kế hoạch Ấp Chiến Lược còn sót lại, nên tình hình địch ở mọi nơi còn rất yếu, hầu hết là các lực lượng du kích và địa phương, nên bị Tiểu Đoàn chủ lực lưu động thiện chiến của tôi đánh cho tan tác. Do vậy chúng tôi đến đâu, cũng được các ông Tỉnh trưởng đón tiếp nồng hậu. Sau hơn ba tháng theo đơn vị tiếp tục hành quân qua nhiều làng mạc, rừng núi và giẵm nát những mật khu Đồng Bò, Đá Bàn, Hòn Hèo của địch, đơn vị kéo về trú đóng trong một vườn dương bên bờ biển Nha Trang.
Đám sĩ quan bọn tôi được ông Tỉnh trưởng ưu ái dành cho bốn phòng trong khách sạn Phụng Hoàng, nằm trước ga xe lửa. Mệt và mất ngủ vì vừa trải qua cuộc phục kích đêm hôm trước, nên sau khi tắm rửa xong, tôi ngủ vùi một giấc. Thức dậy, nhìn ra ngoài, ánh đèn đường đã bắt đầu sáng. Mở ba lô tìm bộ quân phục mới để thay bộ quần áo trận còn dính đầy bùn lầy, cho hợp với khung cảnh phố phường. Dự định đi một vòng tìm lại những hang động tuổi thơ cùng dấu tích mấy mối tình học trò của vài năm trước, tôi bỗng nghe tiếng ông Tiểu đoàn trưởng gọi tất cả bọn tôi lên xe trở về đơn vị, điểm danh sắp xếp lính tráng lên tàu Hải quân, đã ủi bãi ngay phía trước TTHL Hải Quân.
Ra khơi lúc 11:00g đêm. Qua hơn một đêm lênh đênh trên biển, tàu cặp vào bến của Duyện Đoàn 24 HQ bên bờ biển Tuy Hòa. Trong số những người ra đón đơn vị chúng tôi, ngoài ông Tỉnh trưởng – Trung tá Trần Văn Hai, anh Trung uý Duyên Đoàn Trưởng HQ, tôi còn bất ngờ nhận ra ông anh con bà cô, trung uý thuộc Tiểu Đoàn 23 BĐQ đang hành quân trú đóng ở đây. Từ khi anh vào quân đội, bao nhiêu năm anh em không gặp, bất ngờ lại nhận ra nhau ở một nơi xa lạ, vui mừng quá đỗi. Anh em vừa mới ôm nhau, hỏi han vài câu, thì đơn vị nhận lệnh lên xe di chuyển. Ông anh kéo tôi và mấy sĩ quan cùng Đại Đội lên xe Jeep của anh chạy theo đơn vị. Về khu Nhà Bằng, vị trí đóng quân tạm, sắp xếp đơn vị xong, bọn tôi theo anh ra phố. “Moa đãi các toa một chầu để biết mặt Tuy Hòa – xứ nẫu”. Anh bảo thế trước khi lái xe đi.
Tôi bỗng giật mình khi nghe “xứ nẫu”. Cái tên “Nam Ngãi Bình Phú” và “Liên Khu Năm” vẫn còn hằn trong tâm trí tôi từ lúc mới lên năm, bởi cha tôi bị Việt Minh bắt đưa ra đây hơn ba năm khi ông là thầy giáo đang dạy trường Pháp–Việt, và mẹ tôi qua đời trước đó hai năm. Kể từ ấy tôi sống với ông bà nội, thiếu vắng cả cái tình phụ mẫu.
Có lẽ đã phải trải qua những năm dài chiến tranh, nên phố xá Tuy Hòa ngày ấy còn “hoang sơ” lắm. Ngoài văn phòng Air Vietnam hai tầng và khu chợ mới xây dang dở, hầu hết là nhà cũ. Ông anh chở bọn tôi đến một cái quán nằm bên cây cầu, trên đường hướng ra Quốc lộ 1. Tôi không còn nhớ tên, nhưng quán này nổi tiếng về món cá lóc nướng, và đặc biệt có mấy o Huế rất xinh. Để tránh tình trạng “tấn công nhầm mục tiêu”, ông anh tôi cho biết:
– Tuy Hòa có hai quán ăn nổi tiếng, đều có hai cô chủ “hoa khôi” gốc Huế, nhưng một quán đã có ông quan năm Trung đoàn Trưởng đóng đô, còn quán này là sào huyệt của ông Chi đoàn Trưởng Thiết Giáp có tiếng hào hoa. Nhìn mặt thằng nào cũng buồn xo, ông anh tôi cười, an ủi:
– Yên chí đi! Tuy Hòa còn thiếu gì cô bé dễ thương. Trường trung học Nguyễn Huệ có biết bao cánh hoa biết nói, và mai mốt khi các toa ra vùng hành quân, sẽ có khối cậu chết mê chết mệt vì mấy cô gái quê! Bọn lính trong đơn vị moa thường kháo nhau: “Phú Yên đến dễ khó về” đấy!
Thấy trong đám bọn tôi có hai chàng khoá 19VB, ông anh cho tài xế chạy về đơn vị đón một anh cùng khoá 19 ra gặp bạn đồng môn. Hơn 20 phút sau, một thiếu uý BĐQ cao ráo đẹp trai đến nơi chạy vào tay bắt mặt mừng. Cái tình Võ Bị quả là thắm thiết. Anh được giới thiệu là “Chương Classic”. Và để giải thích cái nick name của mình, anh mượn cây ghi–ta của cô chủ quán, độc tấu mấy bản nhạc Tây cổ điển. Ngón đàn của anh quả thật tuyệt vời!
Chỉ sau ba hôm ở thành phố, đơn vị tôi có lệnh di chuyển đi Hiếu Xương, đến cầu Bàn Thạch để hành quân tái chiếm lại một vài nơi đã bị Cộng quân làm chủ tình hình. Ông Tỉnh Trưởng đã cảnh báo đám sĩ quan trẻ chúng tôi:
– Ở vùng ấy nhiều gia đình có thân nhân theo VC, nên mấy chú phải cẩn thận, nhất là thấy mấy cô gái đẹp đừng có vội nhào vô. Trước đây đã có một anh chàng sĩ quan đề lô Pháo Binh mết lòng con bé thợ may, hành quân xong cứ ra ngồi ngoài quán, cuối cùng không thấy trở về đơn vị nữa, mất tích luôn! Đám lính trẻ bọn tôi “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ” nên chỉ còn nhớ tới “mấy cô con gái đẹp” trong câu nói ấy của ông thôi.
Trung Đội tôi được lệnh đóng quân giữ an ninh cầu Bàn Thạch và khu vực chung quanh. Cây cầu xi măng đúc đã bị VC giật mìn sập, nên vừa được Công Binh bắc cây cầu gỗ tạm. Cầu nằm gần chợ, và phía bên kia là vùng mất an ninh. Một Tiểu Đội của tôi nằm tiền đồn bên ấy. Ban chỉ huy Trung Đội và một Tiểu Đội bố trí ngay dưới gầm cầu.
Sắp xếp vị trí đóng quân và canh gác xong, đã gần 5:00g chiều, tôi bảo mấy chú lính dọn cơm ăn, để tôi còn đi một vòng chợ tìm xem các cô gái có “đôi mắt người… Phú Yên” ra sao. Vừa mang mấy lon guigoz cơm ra, bốn thằng chúng tôi chưa kịp cầm đũa, thì một trái lựu đạn từ trên cầu rơi xuống. Một anh lính phát giác la lên, cả bọn kịp lăn mình qua bên kia tấm cầu đúc (bị sập xuống), nhưng trái lựu đạn không nổ!
Chỉ năm phút sau, người ném lựu đạn bị toán lính của tôi bên kia cầu đuổi bắt. Đến nơi, tôi ngạc nhiên khi nhận ra, không phải một, mà là hai cô con gái quê, tuổi cỡ 14–15, một cô khá xinh, có đôi mắt đẹp. Cô bé này chính là người ngồi sau xe đạp, ném trái lựu đạn định giết tôi, chàng “lính trẻ hào hoa”, chỉ mới vài phút trước đây có ý định đi tìm… đôi mắt ấy. Đưa hai nữ “địch quân” đến trình diện ông Tiểu đoàn trưởng. Thấy hai cô bé vừa run vừa khóc, mặt mày tái xanh, ông “tâm lý chiến” rất hay, vỗ vai hai cô bé, vừa cười vừa ôn tồn nói chuyện. Hai cô khai hết sự tình, nên được dẫn về giao cho gia đình, vừa “chiêu hồi” và cũng vừa cảnh cáo, theo dõi họ. Một tuần sau, toán Quân Báo Tiểu Đoàn bắt được người đàn bà trong mũi công tác đã dụ dỗ hai cô bé làm giao liên và ném trái lựu đạn xuống cầu.
Chiều hôm sau, đơn vị có lệnh xuất phát cuộc hành quân bao vây và đánh chiếm kho vũ khí của địch tại Đa Ngư - Phú Lạc, nằm trên một khu núi đá sát biển, địa thế khó khăn hiểm trở và được phòng thủ rất kiên cố bằng nhiều ổ súng đại liên. Tin tức cho biết địch quân đã chiếm làng Thạch Tuân và khu vực Hảo Sơn hơn hai tuần nay. Bộ đội địa phương vừa tiếp nhận một số lượng lớn vũ khí từ miến Bắc chuyển vào khu núi Đa Ngư - Phú Lạc bằng thuyền. Đơn vị tôi có trách nhiệm phải đánh chiếm kho vũ khí này và tảo thanh các khu vực địch trong vòng hai tuần để đưa một đơn vị Bảo An của Tiểu khu vào trấn giữ.
Đơn vị tôi được tăng cường Đại Đội 23 Thám Kích. Tất cả đều được trang bị mặt nạ chống hơi độc. Khởi hành từ tuyến xuất phát lúc 11:00g trưa, mãi đến gần 3:00g chiều chúng tôi mới đến khu vực mục tiêu, vì phải di chuyển qua những địa thế khó khăn hiểm trở để tránh bị phát hiện, gây yếu tố bất ngờ cho địch. Đại Đội 3 của tôi đi dọc theo bờ biển đến phục dưới chân núi làm lực lượng án ngữ. Nỗ lực chính đánh chiếm mục tiêu là Đại Đội 23 Thám Kích và Đại Đội 2 của ông anh trung uý gốc Bắc kỳ. Không ngờ trận chiến lại khó khăn khốc liệt đến như thế, phải chia nhau từng nhóm nhỏ bò lên chiếm các hốc đá nằm bên ngoài căn cứ, bị địch phát hiện, cầm chân bằng đạn súng cối đủ loại và nhiều ổ súng đại liên. Vì đây là kho vũ khí, nên địch có đầy đủ các loại vũ khí và đạn dược. Cuối cùng phải nhờ đến phi yểm, mặc dù rất bất lợi vì trời sắp tối. Theo các trái sáng cầm tay được đồng loạt phóng lên đánh dấu vị trí bạn, cùng với sự hướng dẫn, chỉ điểm tài tình của anh phi công L19, hai phi tuần khu trục liên tiếp đánh bom rất chính xác xuống căn cứ địch, diệt các ổ súng đại liên, để lực lượng ta bám sát mục tiêu.
Đại Đội 23 TK và Đại Đội 2 của anh trung uý gốc Bắc Kỳ đánh đẹp một cuộc cận chiến, chiếm được căn cứ, một số tù binh bị bắt. Đại Đội 1 của anh trung uý khoá 16VB kịp thời tăng cường bao vây và truy kích. Trận chiến kết thúc trước khi trời tối. Số chiến lợi phẩm thu được khá lớn, địch quân dự trù trang bị các loại vũ khí mới này cho các đơn vị thuộc Liên khu 5 của chúng. Tiểu Đoàn kéo về Đông Tác dưỡng quân, được ông Tướng tư lệnh Vùng và ông Trung tá Tỉnh trưởng đến thăm, mừng chiến thắng. Anh Trung uý nhiệm chức gốc Bắc Kỳ khoá 13 Thủ Đức được vinh thăng (điều chỉnh) Trung uý thực thụ và tưởng thưởng Anh Dũng Bội Tinh với nhành Dương Liễu. Anh trung uý khoá 16VB được ngôi sao vàng. Nhiều sĩ quan và binh sĩ có công cũng được trao gắn huy chương.
Ba ngày sau, được tiếp tế lương thực và đạn dược, Tiểu Đoàn trở lại Thạch Tuân. Chiếm lại ngôi làng nghèo này rất dễ dàng, cả đơn vị tiếp tục tiến quân vào Hảo Sơn, Đá Bia. Một khu vực núi non hiểm trở. Địch quân đã chiếm ngự các cao điểm trọng yếu. Trung Đội tôi có lệnh mở đường dọc theo thiết lộ, nằm sâu giữa hai vách núi, để chiếm một ngọn đồi, đặt đại liên yểm trợ cho đơn vị còn lại bung ra hai triền núi phía trước. Con đường độc đạo hoàn toàn bất lợi, nhưng không còn lối nào khác. Nhờ pháo binh bắn dọn mục tiêu, nên Trung Đội tôi dễ dàng chiếm lĩnh ngọn đồi, ngay sau khi một toán địch quân vừa bỏ chạy, không kịp mang theo nồi cơm đang nấu và mấy cái võng nilon còn cột chặt trên cây.
Cả Tiểu Đoàn tiếp tục tiến quân hai bên triền núi. Trận chiến khá quyết liệt, vì địch quân đã có sẵn nhiều cái chốt trên các hốc đá nằm cao trên núi, bắn trung liên và ném lựu đạn xuống quân ta phía dưới. Trời đổ mưa như trút nước. Đại Đội 1 của ông anh khoá 16 VB là mũi tiến công chính. Dù ở thế hoàn toàn bất lợi, nhưng nhờ tài chỉ huy và điều quân gan dạ của chàng trai Đa Hiệu, cuối cùng cũng đã chiếm được mục tiêu. Địch quân tháo chạy, bỏ lại vài chục xác chết và trên mười khẩu súng.
Bên ta, hai binh sĩ tử thương và vài người khác bị thương nhẹ. Trời tiếp tục mưa không dứt. Bóng tối đã bắt đầu phủ kín khu vực hành quân. Có lẽ lo ngại địa thế bất lợi cho một cuộc đóng quân đêm và địch quân có thể được tăng cường phản kích, nên cả đơn vị có lệnh khẩn cấp rút quân ra. Riêng Trung Đội của tôi phải nằm lại để yểm trợ và đề phòng địch quân tập hậu. Khi được lệnh rút ra sau cùng, tôi xin pháo binh bắn chặn, để Trung Đội chia làm hai cánh yểm trợ nhau rút nhanh ra.
Tôi đi theo cánh quân có lộ trình nguy hiểm hơn: theo con đường sắt. Nép sát vào vách núi, di chuyển rất nhanh, nhưng chỉ năm phút sau thì nhiều loạt đạn từ trên triền núi bắn xuống. Đạn địch xối xả xuống đường xe lửa, chát chúa ngay sát dưới chân tôi, tóe lên nhiều đóm lửa. Có cả đạn súng cối. Tôi nghe vài tiếng la đau đớn. Anh trung sĩ và một người lính đi sau lưng tôi trúng đạn. Anh trung sĩ bị bắn vào chân, còn anh lính kia bị thương nặng ở vùng bụng, ruột đổ ra ngoài. Cho người băng vội vết thương bằng các băng cá nhân, tôi vừa gọi xin tiếp ứng vừa xin pháo binh bắn cản hậu, rồi cõng anh lính bị thương rất nặng chạy nhanh ra khỏi vùng nguy hiểm. Người tôi ướt đẫm cả máu, nước mưa, và có thể có cả nước mắt (cho người thương binh –không có chút hy vọng sống– của mình).
Trên đường trở lại làng Thạch Tuân đóng quân đêm, cả Tiểu Đoàn dàn hàng ngang lội bì bõm dưới những đám ruộng ngập đầy nước. Du kích trong làng lại bắn ra. Chúng tôi bám theo các bờ ruộng xâm nhập vào làng, nhanh chóng bao vây tứ phía, cả toán du kích không chạy kịp bị chúng tôi bắt. Xe tải thương không thể nào đến được vì không có an ninh lộ trình. Tối hôm ấy, anh lính bị trọng thương của tôi, vốn là một tân binh quân dịch, quê tận Gò Công, đã trút hơi thở cuối cùng trên tay tôi, sau khi giao cho tôi cái bóp có hai tháng tiền lương và thì thào lời trối trăn đứt đoạn, nhờ tôi chuyển lại cho vợ và đứa con gái đầu lòng chưa đầy một tuồi mà anh chỉ mới về phép thăm cháu một lần. Đó là người lính đầu tiên dưới quyền đã chết trên tay tôi. Anh có cái tên rất dân dã mà tôi không bao giờ quên được: Nguyễn văn Tý. Trùng tên với một nhạc sĩ tài hoa khí khái mà sau này tôi mới biết.
Mục tiêu các cuộc hành quân đã hoàn tất, Tiểu Đoàn chúng tôi được lệnh về đóng quân dọc theo Quốc lộ 1, từ ngã ba Phú Lâm đến hết Bàn Nham, Bàn Thạch. Trung Đội tôi lại nhận lãnh cái cầu (gãy) Bàn Thạch, nơi mà tôi được cô gái Phú Yên đón chào bằng một trái lựu đạn nội hóa. Cứ vài ba hôm chúng tôi lại tổ chức các cuộc hành quân (có khi luân phiên từng Đại Đội có khi cả Tiểu Đoàn) ở Hòa Xuân, Hòa Thịnh, Sơn Thành, hay ra tận Ngân Sơn (Tuy An), Hiệp Mỹ, Tuyết Diêm, Hòa Phú, phía dưới đèo Cù Mông (Sông Cầu), giáp ranh Bình Định. Chấm dứt hành quân lại trở về “cứ điểm” Bàn Thạch. Lúc này con đường từ Bàn Thạch ra phố Tuy Hòa đã tương đối an ninh, nên những ngày không bận hành quân, bọn tôi được phép thay phiên nhau xuống phố Tuy Hòa.
Cũng có những đón đưa trước cổng trường Nguyễn Huệ, Bồ Đề. Cũng có những hẹn hò ngoài bãi dương, quán nước. Trong đám bọn tôi cũng vài thằng có những cuộc tình chợt đến chợt đi. Thì ra các cô gái Tuy Hòa trông dễ thương mà thương thì không dễ lắm. Lúc ấy, tuổi trẻ bọn tôi còn cao ngạo: “mấy thằng lính ngang tàng này thì dễ gì mà chết trong mắt em”!, nhưng khi cô đơn lại tự an ủi mình: “đời lính tráng như vậy mà vui, không nợ nần, không làm khổ một ai, vợ con làm gì cho vướng chân vướng cẳng!”, tránh cái cảnh như một ông nhà thơ sau này đã thốt lên lời bi thảm “anh trở về dang dở đời em”! Hồi còn trong lính, tôi ghét cay ghét đắng bài thơ được phổ nhạc này. Đám lính tráng về phép mà nghe được đôi lần, chắc nhiều thằng không muốn trở về đơn vị nữa. Nhưng bây giờ ngồi nghiệm lại, tôi thấy đúng, cho dù có chút đắng cay. Lính bị thương tàn phế, hay là lính bị đày ải trong tù “cải tạo” ngày trở về ít nhiều gì cũng đã làm dang dở đời em.
Dù vậy, trong đám bọn tôi cũng có ba chàng phá luật chơi. Một thằng, cùng khoá với tôi, yêu một cô bé học mới lớp đệ lục, nhà ở cạnh chợ Tuy Hòa, một tiệm bán đồ gỗ nhỏ. Bọn tôi cứ nhạo nó là “dụ dỗ gái vị thành niên” và “tiền lương của mày không đủ để mua gạo thúc cho nó lớn”! Vậy mà cuộc tình cũng gắn bó hơn một năm. Ngày đơn vị tôi từ giã Tuy Hòa, cô con gái ấy đã tốn khá nhiều nước mắt. Sau này dường như cô bé trở thành cô giáo, lấy chồng là một đồng nghiệp tốt nghiệp Sư Phạm Qui Nhơn. Thằng bạn của tôi được giải ngũ sớm vì cận thị nặng. Nó trở về tiếp tục sách đèn. Tốt nghiệp sư phạm Đại học Đà Lạt về dạy Triết tại vài trường trung học. Năm 1973, khi nghe bạn bè bảo tôi đang nằm dưỡng thương ở QYV Nguyễn Huệ Nha Trang, nó từ đâu tìm đến thăm. Khi nhắc tới thời lính tráng ở Phú Yên, đôi mắt nó sáng lên, bảo là nó vừa bất ngờ gặp lại cô bé Tuy Hòa ngày xưa, khi cả hai cùng làm giám khảo và giám thị một cuộc thi Tú Tài ở trường Nguyễn Huệ hay Cường Đễ gì đó. Nó cười, nhưng đôi mắt nó lại mơ màng nhìn về một nơi nào đó… xa xăm!
Một ông đàn anh khoá 14 Thủ Đức của tôi, SQ/CTCT Tiểu Đoàn, vốn tu xuất và bị động viên khi đang dạy ở một trường La San Taberd nào đó, lại vướng vào lưới tình của một cô giáo Bàn Thạch. Là con một của bà già góa bụa. Cô giáo có nhan sắc và hiền lành, cười nhiều hơn nói. Có lẽ lớn hơn tôi một vài tuổi. Chị tỏ ra rất thân tình với đám lính trẻ bọn tôi. Chỉ một thời gian, chúng tôi xem nhau như người nhà. Khi nào chán cơm lính, bọn tôi rủ nhau ra chợ mua thịt cá rồi kéo đến nhà chị để nhờ chị nấu cơm, rồi cùng nhau ăn uống và đàn địch ca hát cả ngày. Ông đàn anh “tu xuất” của tôi vốn làm thơ tình rất hay, đàn ca có “trường lớp” lắm. Nghe nói trước kia anh làm trưởng ca đoàn trong mấy nhà thờ. Anh thường đệm đàn cho cô giáo hát bài “Chuyện tình Lan và Điệp”. Giọng hát Phú Yên cũng não nùng ai oán lắm. Đặc biệt phía sau nhà có cái giếng nước rất trong, nên chúng tôi thường ghé vào tắm rửa sau các lần hành quân trở về. Sau này, ông đàn anh thuyên chuyển về Vùng 4 trong Nam.
Mãi đến năm 1980, tôi bất ngờ gặp lại anh trong một trại tù ngoài Bắc. Ngạc nhiên và thú vị khi nghe anh kể là anh vẫn còn độc thân, và cô giáo Bàn Thạch ngày xưa giờ cũng chưa chồng. Điều làm tôi sững sờ hơn là ông bố của cô không chết mà tập kết ra Bắc năm 1954. Sau 1975 về lại Phú Yên và giữ một chức hàm khá lớn. Cô giáo bây giờ không làm nghề giáo nữa mà đang là một cán bộ, chủ nhiệm hay trưởng phòng gì đó của chính quyền CS. Anh còn khoe là cô giáo thường gởi quà cho anh, và còn cho tôi đọc ké mấy lá thư cô ấy viết, bảo là sẽ ra thăm anh, cũng như hứa hẹn bảo lãnh cho anh về Phú Yên, nếu anh thấy lo lắng không muốn trở về quê quán Mỹ Tho, và nơi ấy anh cũng chẳng còn ai, sau khi bà mẹ già đã mất. Nhưng không thấy cô đề cập đến chuyện “nối lại tình xưa”. Tôi ngại, nên cũng không dám hỏi anh. Cuộc tình “giữa hai chiến tuyến” này liệu có làm cho con tim thắng được tất cả mọi giáo điều chủ nghĩa, để vượt qua bao hận thù, tang tóc?
Rất tiếc, tôi không tìm được câu trả lời này. Vì mãi đến bây giờ tôi vẫn chưa gặp lại anh ấy, mặc dù tôi đã nhắn tin và tìm hỏi rất nhiều bạn bè sang Mỹ theo diện HO. Đôi lúc, nghĩ về họ, tôi hình dung đến một đôi vợ chồng già sống hạnh phúc trong ngôi nhà ngói xưa ở Bàn Thạch, có khu vườn và cái giếng nước trong, anh đàn em hát; hay đang cùng quì xuống cầu kinh trong một ngôi nhà thờ nào đó. Cô giáo hiền thục ngày xưa không thể nào trở thành một “nữ đồng chí CS” thứ thiệt được, chắc cũng đã sớm nhìn ra cái lý tưởng hoang đường mà ông cha của cô đã mê muội theo đuổi, để đành lòng bỏ lại mẹ con cô một thời góa bụa cút côi, giờ chỉ còn lại bao hệ lụy đau lòng. Có thể cô đã từ bỏ mọi chức tước (nhờ vào thành tích “phấn đấu” của cha), để cùng người tình xưa – người lính khác chiến tuyến với cha cô – sống trong hạnh phúc bình thường. Cầu mong những người con gái Phú Yên, dù hoàn cảnh nào cũng luôn giữ trọn mối tình xưa.
Đặc biệt nhất, và cũng gắn bó nhất, chính là chuyện tình của ông đàn anh khoá 13 gốc Bắc Kỳ, có nụ cười và đôi mắt dễ làm “khuấy động trái tim người… ta” mà chúng tôi đã kết nghĩa anh em. Đại Đội của anh là Đại Đội đánh đấm khá nhất, nên được ông Tiểu đoàn trưởng tin tưởng, giao cho đóng quân và phụ trách vùng đất bất an nhất: từ phía nam Bàn Thạch đến tận làng Thạch Tuân, tiếp giáp Đèo Cả, ranh giới cuối cùng phía nam của tỉnh Phú Yên. Ban chỉ huy Đại Đội đóng quân sau khu vườn của một ngôi nhà ngói lớn hai tầng duy nhất ở vùng này.
Đối diện phía bên kia, sau con hương lộ, là ngôi trường tiểu học. Ông bà chủ nhà thuộc hàng khá giả, vừa làm chủ một cửa hàng tạp hóa ở tầng dưới, vừa làm nước mắm ở khu nhà sau. Một ngày cuối tuần, anh rủ chú lính cận vệ ra giếng tắm. Thầy trò chỉ mặc quần xà lỏn huýt sáo nhởn nhơ, bất ngờ gặp hai cô gái đang ngồi giặt áo quần bên thềm giếng. Sau khi bớt ngượng ngùng, hỏi ra mới biết là con ông bà chủ nhà, học ở Tuy Hòa, cuối tuần về thăm cha mẹ. Có lần tôi ghé lại thăm anh, được ông bà chủ nhà và hai cô con gái mời hai anh em tôi dùng bữa cơm thịnh soạn. Ông anh Bắc kỳ hào hoa nhưng rất kín miệng. Nhìn ánh mắt tôi biết là anh đang mết cô chị. Cô em còn bé lắm. Ông bà già mua hẳn một ngôi nhà khá khang trang ở phố Tuy Hòa, gần trường Nguyễn Huệ cho hai cô và một ông anh trú ngụ học hành. Là anh em kết nghĩa, vậy mà cuộc tình của anh, tôi không biết mặn nồng đến đâu. Chỉ biết lâu lâu anh lái xe bỏ bọn tôi xuống phố Tuy Hòa, lì xì vài chục uống bia, rồi phóng xe đi một mình. Đúng hẹn ghé đón bọn tôi với nụ cười lúc nào cũng nở trên môi.
Hơn một năm từ ngày đổ quân xuống Tuy Hòa, cũng vào một ngày hè nắng cháy, Tiểu Đoàn tôi có lệnh rời khỏi Phú Yên, bàn giao trách nhiệm lại cho Trung Đoàn 47 biệt lập từ Bình Tuy ra để sáp nhập vào Sư Đoàn 22BB, mà bản doanh Bộ Tư Lệnh đóng ngoài Bình Định. Đơn vị tôi cùng Chi Đoàn Thiết Quân Vận của ông Đại uý tài hoa Bùi Thế Dung, lại lên tàu há mồm xuôi Nam, đổ quân xuống Phan Thiết.
Ông đàn anh Bắc Kỳ của tôi sau này lên làm Tiểu đoàn trưởng, đánh thắng một trận lẫy lừng tại Căn Cứ 6 Pleiku đầu năm 1971, đươc ông Tướng Vùng gắn lon thiếu tá đặc cách tại mặt trận. Sau đó được ông Tỉnh trưởng Ninh Thuận (vốn là cựu Trung đoàn phó của chúng tôi khi còn đóng ở Phú Yên) xin đích danh anh về Phan Rang làm Quận trưởng. Một hôm, bất ngờ tôi nhận được thiệp hồng của anh mời đám cưới. Tôi ngẩn người khi đọc thấy tên cô dâu chính là cô hoc trò, con bà chủ quán ở Bàn Thạch ngày xưa, nơi anh đóng quân sau vườn nhà 6 năm về trước. Đến bây giờ tai tôi vẫn còn văng vẳng dư âm Bài Không Tên Số 2, với giọng hát Phú Yên thật nồng nàn cảm xúc, chị đã hát tặng bọn tôi ngay sau ngày đám cưới. Phải chăng “đời một người con gái (Tuy Hòa) ước mơ rất nhiều, nhưng trời cho không được mấy, đến khi lấy chồng chỉ còn một mối tình mang theo”?
Điều trùng hợp lý thú là năm 1976, khi bị chuyển tù ra Bắc, anh và tôi lại gặp nhau, ở chung một trại. Anh em thường gặp nhau tâm sự. Trong cảnh tù đày khốn khó, tình anh em gắn bó như xưa. Mỗi lần chị ra thăm nuôi anh đều mang theo thêm phần quà cho tôi. Có khi chị giả vờ đi lại trên con đê trước nhà thăm nuôi, biết chúng tôi sau một ngày lao động sẽ được về tắm giặt ở bên con đê ấy, để dúi vào tay tôi mấy tờ giấy bạc. Lòng tôi cảm động. Không ngờ cô con gái hiền lành ở vùng quê Bàn Thạch ngày xưa ấy, sau ngày chồng vào tù, đã dắt ba thằng con trai, mà đứa nhỏ nhất chỉ mới tròn 2 tuổi, vào Sài Gòn bươn chải nuôi con, tạo dựng được cơ ngơi nơi vùng đất lạ xô bồ phức tạp này. Và với chúng tôi, còn là một người bạn, người chị chí tình.
Anh chị sang Mỹ theo diện HO. Mang theo kinh nghiệm từ Việt Nam, chị sớm vào nghiệp bán buôn. Chỉ một thời gian ngắn gia đình khá giả. Ba đứa con trai đều thành đạt. Cháu trai út ra bác sĩ, cháu giữa làm luật sư, còn cháu lớn là kỹ sư, nhưng sau này đã trở thành một mục sư đi rao giảng đức tin Thiên Chúa. Ngày đám cưới cháu trai thứ nhì, vợ chồng tôi sang tham dự. Bạn bè cùng đơn vị xưa từ khắp nơi cũng qui tụ về đây. Bất ngờ gặp một nhóm đồng môn Nguyễn Huệ của chị. Một cuộc hạnh ngộ thật kỳ thú. “Phe anh phe chị”. Chúng tôi biết thêm một số người đẹp Tuy Hòa xưa.
Đám đàn bà ngồi nhắc tên những thầy bạn cũ. Đám đàn ông bọn tôi ngồi điểm danh lại những thằng bạn lính, từng in dấu giày saut trên vùng đất Tuy Hòa thuở trước. Giờ cũng chỉ còn có hai thằng: ông anh gốc Bắc kỳ và tôi. Một số đã chết trong chiến trận: Trương Ngọc Điệp, anh trung uý gốc Huế, Đại đội trưởng đầu tiên của tôi ngày ấy, đã chết tại chiến trường Thiện Giáo (Phan Thiết) sau hơn một năm rời khỏi Tuy Hòa, và sau đúng hai tuần cưới vợ, một cô giáo Ninh Hòa gốc Huế. Vài tháng sau, ông anh Thái Hữu Dư, khoá 16VB, bị thương nặng trong một trận phản phục kích rất hào hùng tại Lâm Đồng, được thuyên chuyển về Vùng 4 sau khi xuất viện. Đặng Trung Đức, khoá 19 Đà Lạt, người bạn rất thân với tôi, tử trận tại Kontum trong “mùa hè đỏ lửa” khi đang làm Tiểu đoàn trưởng.
Trần Công Lâm, thằng bạn cùng khoá thân thiết nhất của tôi, trước khi nắm Tiểu Đoàn từng là một Đại đội trưởng trinh sát lừng danh của Quân Đoàn II, cũng đã bỏ mình tại vùng Tây–Bắc Kontum, trên dãy núi Ngok Wang đèo heo gió hú. Vài thằng giải ngũ vì thương tích. Số còn lại thì bị tù đày rồi tản mát khắp bốn phương trời! Nhưng dù còn sống hay đã chết, có lẽ thằng nào cũng mang theo ít nhiều bóng dáng và giọng nói của các cô gái Tuy Hòa, cùng bao kỷ niệm hào hùng, dễ thương của một thời trai trẻ.
Ngày rời khỏi Tuy Hòa năm ấy, đơn vị tôi cũng đã mang theo một số cô dâu Phú Yên xinh đẹp. Tôi còn nhớ mãi những khuôn mặt thật xinh xắn, làn da trắng nõn nà của các cô bé ở Ngân Sơn (Tuy An), bẽn lẽn “hóa trang” làm lính, xúng xính trong bộ quân phục của chồng, đầu đội cả nón sắt, lội nước leo lên tàu Hải Quân, sợ những người chỉ huy chặn lại không cho phép. Nhưng ông Tiểu đoàn trưởng đã biết trước, bảo nhỏ đám chúng tôi cứ làm ngơ cho họ được “tùng phu”, khi biết chắc đây không phải là “mỹ nhân kế” của địch, và biết đâu đơn vị lại được thêm vài tay súng, những “người lính không có số quân”! Ông Trung tá Trung đoàn trưởng cao lớn bô trai của tôi cũng đã mang theo cô chủ quán hoa khôi gốc Huế nổi tiếng một dạo ở Tuy Hòa. Ông Đại uý Thiết Giáp hào hoa thì xuống tàu một mình. Sau này lên đại tá, trở thành Thiết đoàn trưởng Chiến xa lừng danh Vùng I, và đã rước cô ca sĩ Hà Thanh của xứ Huế về dinh.
Riêng tôi, rời Tuy Hòa, không vương vấn mối tình nào, nhưng lại mang theo một cậu con trai 15 tuổi. Thời gian đơn vị hành quân ở Phú Lâm, tôi đóng quân sau nhà chú bé. Từ đó chú bé cứ theo mấy chú lính của tôi và năn nỉ xin tôi nhận cho vào lính. Học tới lớp nhì thì cha chết, bà mẹ theo người chồng mới vào Cam Ranh hơn một năm sau. Chú bé ở với vợ chồng ông chú, vừa nghèo vừa đông con, lại bị bà thím hất hủi. Tôi động lòng thương nên thường cho lính gọi đến ăn cơm chung, và lâu lâu lì xì chút tiền lẻ. Chú có khuôn mặt khôi ngô, tính tình lễ phép, gọi tôi là anh ba, và khóc lóc năn nỉ nhất định xin đi theo tôi, dù góc bể chân trời nào. Vào Phan Thiết, tôi kể cho ông Tiểu đoàn trưởng nghe hoàn cảnh đáng thương của nó, ông chở tôi và nó đến một văn phòng xã làm giấy khai sanh, tăng thêm đủ tuổi để nhận nó vào lính. Ông giao nó cho tôi. Tôi chỉ cho nó đi theo, mang cho tôi một ba–lô sách và vài thứ thức ăn. Cuộc hành quân nào ác liệt, tôi gởi nó cho anh HSQ Tiếp Tế ở lại hậu trạm.
Hơn bốn tháng sau, được gởi vào Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn. Nó trở lại đơn vị khi tôi đã làm Đại đội Trưởng, nhất định xin tôi tình nguyện vào Tiểu Đội thám báo. Không ngờ nó lại là thằng lính đánh giặc gan dạ, lẫy lừng, đã mấy lần cùng toán thám báo cứu tôi thoát chết. Hai năm sau, nó tử trận tại mât khu Lê Hồng Phong (Phan Thiết) vào một ngày gió mưa tầm tã, khi xông vào một căn hầm của địch. Khi ấy nó vừa tròn 18 tuổi đời. Lúc hấp hối, nó thoi thóp cố mở mắt nhìn tôi, đôi môi mấp máy như muốn nói với tôi một điều gì đó. Tôi vuốt mắt nó mà nước mắt tôi ràn rụa, trong lòng tựa hồ như đang có trăm ngàn vết chém.
(Lê Xuân Tiên ơi! Bây giờ em đang ở một thế giới khác, bình an, không còn có hận thù chết chóc. Xin em hãy tha thứ cho anh. Đã mấy lần em xả thân cứu anh thoát chết, còn “anh ba” thì lại bất tài, không bảo vệ được cho em!).
Và đó cũng chính là món nợ ân tình duy nhất mà tôi không bao giờ trả được cho vùng đất Tuy Hòa – Phú Yên – của một thời chiến tranh, khốn khó.
Riêng ông Trung tá Tỉnh trưởng gốc Biệt Động Quân chịu chơi ngày ấy, sau này trở thành vị tướng lãnh tài ba và đã tuẫn tiết theo cùng vận nước vào cuối tháng 4/1975. Còn ông anh Nguyễn Văn Tri, con bà cô, và anh “Chương Classic” của Tiểu Đoàn 23 BĐQ đã thoát chết trong một lần Tiểu Đoàn nghỉ quân trong căn cứ của một đơn vị ĐPQ, bị nội tuyến từ trong đơn vị ĐPQ này. Sau này anh Tri bị thương, được chuyển về TTHL/BĐQ Dục Mỹ. Tôi ghé thăm anh một đôi lần khi đơn vị chuyển quân ngang qua Huấn Khu này. Anh sang Mỹ theo diện HO, định cư ở Boston, có cô con gái là ca sĩ Hạ Vy. và anh đã qua đời hơn 5 năm trước. Anh “Chương Classic” khoá 19VB, sau này lên thiếu tá, làm Tiểu đoàn trưởng một Tiểu Đoàn BĐQ lừng danh. Năm 1979, sau một lần chuyển trại tôi bất ngờ gặp lại anh trong một trại tù tận vùng Hoàng Liên Sơn. Hai anh em nằm gần nhau.
Anh tự chế một cây đàn rất đẹp. Vẫn luôn giữ phong cách của một cấp chỉ huy, tư cách, nhẫn nhục, ít nói. Đêm đêm hai anh em uống trà tươi (giấu được khi hái trà cho trại), tôi ngồi nghe anh đàn. Trong hoàn cảnh ấy và với không gian yên ắng nặng nề, tiếng đàn Hạ Uy Cầm của anh càng thêm não nề réo rắt, chiêu dụ cả đám bộ đội canh gác, kéo nhau đến bên ngoài mê mẩn ngồi nghe. Nghe nói anh cũng đã sang Mỹ theo diện HO, nhưng nỗi buồn gãy súng vẫn chưa vơi, sống rất âm thầm với vết thương không lành được trong lòng.
Xin cám ơn Phú Yên, cám ơn Tuy Hòa, cám ơn cả ngôi trường Nguyễn Huệ đã cho tôi những kỷ niệm vui buồn của một thời làm lính, với những đồng đội, bạn bè cùng những chuyện tình lãng mạn, dễ thương. Tất cả cứ như khói như sương lãng đãng quanh tôi trong những phút giây hồi tưởng.
Phạm Tín An Ninh
- Details
- Category: Truyện Lính
- Hits: 642

(Diễn tiến hành quân của SĐND đặc biệt kể từ ngày N –28/6/75 - theo lệnh Tổng Phản công của Quân Đoàn I)
Cờ bay!
Cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu
Vừa chiếm lại đêm qua bằng ….máu

SƠ LƯỢC DIỄN TIẾN
Điều mà ít ai ngờ đến đã biến thành sự thật, một sự thật tàn khốc trong cuộc chiến tranh diệt chủng ở Việt Nam. Đó là việc Hà Nội công khai xua quân CSBV tràn qua sông ranh giới Bến Hải với hàng ngàn xe tăng, đại pháo 130 ly, cùng nhiều súng phòng không và hỏa tiễn 122 ly, địch dốc toàn lực quyết tâm xâm chiếm miền Nam Việt Nam. Và nếu chiến cuộc không nổ lớn như vậy, cái tên Cổ Thành Đinh Công Tráng, dòng sông Mỹ Chánh, cũng như bao nhiêu địa danh xa xôi khác trên phần đất khốn khổ nầy đã không trở thành quen thuộc với mọi người như hiện nay.
Ngày 2/5/72, chỉ còn Lữ đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến lại phía Bắc sông Mỹ Chánh. Trong khi đó quân CSBV dồn nổ lực tấn công Lữ đoàn 369 TQLC tại cầu Mỹ Chánh. Sau nửa ngày giao tranh, 17 trong 18 chiến xa T-54 của địch đã bị các chiến sĩ thiện chiến của ta bắn hạ.
Hai trung đoàn CSBV bị thiệt hại nặng nề phải rút chạy về hướng rừng Hải Lăng. Ngày hôm sau, 3/5/72, cầu Mỹ Chánh đã được quân ta phá sập để cản bước tiến bằng cơ giới của địch.
Tỉnh Quảng Trị xem như hoàn toàn bị lọt vào tay quân Cộng Sản BV!
Khi hay tin Quảng Trị bị thất thủ, dân quân tranh nhau chạy về Huế. Cũng trong ngày 2/5/72, Thiếu Tướng Trưởng được Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu bổ nhậm chức Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu I thay thế trung tướng Hoàng Xuân Lãm. Ông cấp tốc bay ra ngay nhiệm sở mới, cố đô Huế lúc nầy đang ở trong tình trạng hỗn loạn vô trật tự.
Ngay khi đến Huế, Tướng Trưởng đã cấp tốc tổ chức phòng thủ chống lại áp lực của 3 Sư đoàn 304, 308, và 325 CSBV từ phía Bắc sông Mỹ Chánh, và Sư đoàn 324B ở phía Tây. Với một sự bình tĩnh đáng kính phục, không có một trách phạt hay quy lỗi cho một ai.
Ông đã vãn hồi được trật tự trong hàng ngũ quân sĩ và đặt lại ngay hệ thống an ninh phòng thủ trên bờ sông Mỹ Chánh, sẵn sàng chờ đón một cuộc tấn công mới của địch. Vì họ đã chiếm được một phần đất khá sâu và đang muốn tiến xa xuống phía Nam khai thác thành quả chiến thắng vừa đạt được.
Địch phải mất gần một tháng mới kịp bổ sung và tăng cường lực lượng để hòng tiếp tục khai thác thêm chiến quả. Một thời gian quá đủ cho tướng Trưởng kiện toàn xong hệ thống phòng thủ. Ông chẳng những chận đứng được đợt tấn công của quân Cộng sản Bắc Việt mà còn phản công dò dẫm ở một vài điểm, làm địch phải lúng túng và chùn bước tiến quân của họ lại. Ông đã nhận được lệnh phải tiêu diệt 4 sư đoàn chánh qui Bắc Việt đang đối diện ở bờ Bắc sông Mỹ Chánh, bằng 2 sư đoàn tổng trừ bị là Sư đoàn Dù và Sư đoàn TQLC mà hiện ông đã có sẵn trong tay.
Ngày 8/5/72, Lữ đoàn 2 Dù ra tăng viện từ mặt trận Tây Nguyên. Đến ngày 22/5/72, thêm Lữ đoàn 3 Dù từ mặt trận An Lộc, và sau đó là Bộ Tư lệnh SĐND được chuyển vận ra bảo vệ cố đô Huế.
Ngày 14/5/72, Tướng Phạm văn Phú, Tư lệnh Sư đoàn I Bộ binh, đã trực tiếp chỉ huy cuộc phản công tái chiếm căn cứ Bastogne ở phía Tây Nam Huế. Chiều ngày 15/5, Trung đoàn 3 Bộ binh đã hoàn toàn làm chủ Bastogne.
Ngày 28/6/72, cuộc tổng phản công của QLVNCH chính thức bắt đầu. Hai Sư đoàn ND và TQLC tấn công tuyến phía Bắc sông Mỹ Chánh, trong khi SĐ1BB đánh thọc ra hướng Tây thuộc dãy Trường sơn.
Mặt trận B5 đã tung ra chiến trường tất cả 6 sư đoàn gồm: 304, 308, 312, 320B, 324B và 325 (312 mới kéo từ Lào qua).
Ba Tiểu đoàn 7, 9, 11 Nhảy Dù theo thế gọng kềm làm mũi nhọn vượt sông Mỹ Chánh tiến vào Quảng Trị. Chiến cuộc kéo dài dai dẳng cho đến ngày 25/7/72 lực lượng Dù (TĐ5ND) mới cắm được cờ Quốc Gia lên bờ ngoài Cổ Thành Quảng Trị.
Hai ngày sau, Sư đoàn Dù chuyển vùng trách nhiệm phía Đông quốc lộ 1 lại cho Thủy Quân Lục Chiến, Cổ Thành Quảng Trị hình vuông với bề dài mỗi cạnh là 590 thước, chiều dầy và cao là 5 thước, đã được TQLC nổ lực dứt điểm vào ngày 16/9/72. Tàn quân của Trung đoàn 48 trong Cổ Thành đã rút chạy sang bờ Bắc sông Thạch Hãn.
DIỄN TIẾN CHI TIẾT

Trước ngày 28/6/72 (ngày N); Sư đoàn Nhảy Dù thỉnh thoảng vẫn cho các toán trinh sát và viễn thám vượt sông Mỹ Chánh đi sâu vào phía sườn Tây, dọc hành lang dãy Trường Sơn để dò la tình hình địch. Các tin tức do Viễn Thám cung cấp kể cả hình ảnh chụp được, cho biết địch đã tăng cường rất nhiều vào trận địa gồm: bộ đội, xe tăng, và pháo binh.
Tuyến đầu của sư đoàn gần bờ sông Mỹ Chánh do Tiểu đoàn 2 Nhảy Dù và Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù trấn giữ. Tất cả khinh binh của hai tiểu đoàn nầy đều được trang bị bằng hỏa tiễn M-72 hoặc hỏa tiễn 4 nòng MX-202 để phòng chống chiến xa địch (ngoài thành phần vũ khí cá nhân).
Còn hỏa tiễn “Tow” mặc dù tiểu đoàn nào cũng có, nhưng vì địa thế núi đồi nhấp nhô trừng điệp, nên chỉ đặt trên những điểm cao phía sau để dễ điều khiển, và nhờ vậy các xạ thủ không bị hạn chế tầm nhìn, hơn nữa loại nầy khá cồng kềnh và nặng nề.
Cũng cần nhắc lại là trong trận Hạ Lào, vì lần đầu tiên các binh sĩ Sư đoàn Dù đã chạm trán với chiến xa địch, nên bị hoang mang và lính quýnh, do đó họ đã sử dụng M-72 không hữu hiệu chính xác, thiếu hiệu quả khi bắn vào xe tăng địch. Rút kinh nghiệm nầy, lúc trở về hậu cứ, các đơn vị Nhảy Dù (kể cả đơn vị chuyên môn như Truyền Tin, Công Binh, Tiếp Vận ) đều được huấn luyện kỹ càng và liên tục. Để binh sĩ chính mắt trông thấy hiệu quả của M-72 khi bắn tập vào các chiến xa (đã hư hỏng, được làm mục tiêu thực tập).
Đầu tháng 6/1972, địch đã mở đợt tấn công thăm dò vào TĐ11ND ở bờ Nam sông Mỹ Chánh, bằng Nhị thức Bộ binh Thiết giáp. Thoạt đầu Cộng quân pháo kích liên tục, và lúc mờ sáng bộ binh địch và chiến xa đã càn lên, xông vào tuyến phòng thủ của TĐ11ND (sở dĩ xe tăng T-54, thủy xa học sắt PT-76, và BTR-85 đã qua sông dễ dàng, vì công binh địch đã ủi và đổ đất làm một cầu ngầm, nước chỉ sâu đến cổ chân, với độ dốc bờ sông khoảng 30 độ).
Cùng thời gian đó, địch đã pháo kích vào vị trí đóng quân của TĐ2ND và căn cứ Nancy do một đại đội Dù trấn giữ cầu phao băng qua sông Mỹ Chánh (do Công binh Quân đoàn I thiết lập). Nhờ chuẩn bị hầm hố chiến đấu kiên cố và đúng cách, nên khi chiến xa địch vừa tới, các binh sĩ TĐ11ND đã hạ ngay 2 chiếc T-54 bằng súng chống chiến xa M-72 và XM-202 (hỏa tiễn lân tinh 4 nòng). Bộ đội địch hò hét xung phong, nhưng bị đẩy lui bởi các súng cá nhân, đại liên, và ngay cả lựu đạn. Địch cố gắng nhào lên nhiều lần nhưng đều bị đẩy lui.
Cộng quân núp theo sau xe T-54, PT-76, và thủy xa BRT-85 để mong chọc thủng phòng tuyến của ta. Trong lúc đó Tiểu đoàn trưởng TĐ11ND đã yêu cầu pháo binh bắn hỗn hợp đầu đạn chạm nổ, từ trên không chụp xuống làm cháy và hư hại thêm mấy chiếc thiết giáp, và làm hàng ngũ địch tan rã bỏ chạy tán loạn về phía sau. Đoàn xe tăng địch tháo lui về hướng bờ sông và để lại nhiều tên bị thương, bị chết, cùng vũ khí ngổn ngang.
Thấy địch rút lui, rối loạn hàng ngũ, Tiểu đoàn trưởng ra lệnh truy kích. Các chiến sĩ Dù, đang rất hân hoan vì đã sử dụng hiệu quả các súng chống chiến xa M-72 và XM-202, nghe lệnh vội nhào ra khỏi hố chiến đấu. vừa đuổi theo bắn vừa hò hét vang trời. Anh em rượt dịch qua khỏi bờ sông mới quay trở lại thu lượm chiến lợi phẩm.
Vì tháo chạy trong cơn hoảng loạn, nên khi qua sông, các chiến xa địch đã đâm húc lẫn nhau, tranh đường chạy trước, khiến một số xe bị lật nghiêng ngả, xích sắt hướng lên trời, giống như cua bị lật ngửa, nằm đó mà máy hãy còn nổ.
Tổng cộng trong trận nầy, địch thiệt hại bỏ xác tại chỗ trên 100 tên, bắt được 5 tù binh của Trung đoàn 66, Sư đoàn 324 CSBV, ngoài ra còn tịch thu hàng trăm vũ khí đủ loại. Bốn chiến xa T-54 bị hạ tại chân đồi ngay trước đại đội tiền đồn; 7 chiếc bỏ lại còn người thì chạy mất. Tại điểm vượt sông có 9 chiến xa T-54, PT-76, hoặc BTR-85 nằm ngổn ngang do lúc tranh giành trốn chạy, đã đâm sầm vào nhau lật nghiêng và bị kẹt dồn thành cục nên không di chuyển lên bờ được.
TĐ11ND bị tổn thất khoảng 20 (vừa chết và bị thương); đa số do pháo địch bắn trước giờ tấn công. Sau nầy Trung đoàn 4 (thuộc Sư đoàn 2 Bộ binh) tăng phái cho Sư đoàn Dù, đến trấn thủ đồi Trần văn Lý để các đơn vị Dù tiến lên phía Bắc, vượt qua sông Mỹ Chánh, tiến thẳng tới sông Nhung, vùng Trường Phước. Các Tiểu đoàn Dù đã lục soát và tịch thu được một số thiết giáp chở quân loại BTR-85, mỗi xe có trang bị hai súng đại liên 12 ly 8 do Trung Cộng chế tạo. Các chiến xa nầy vẫn còn tốt đã được che dấu trong các lùm cây bên bờ sông Mỹ Chánh.
Ngày 28/6/1972 (ngày N), TĐ1ND và TĐ2ND vượt sông Mỹ Chánh lúc 5 giờ sáng và tiến đánh địch trong cảnh trời còn mờ tối. Vì bị bất ngờ, địch chống trả yếu ớt chỉ lo trốn chạy hoảng loạn về hướng Bắc và để lại rất nhiều vũ khí nặng. Đặc biệt là các giàn pháo phòng không trang bị 2 đại bác 57 ly có ghế ngồi cho xạ thủ xoay trở vòng vòng.
TĐ1ND do Thiếu Tá La Tịnh Tường – K9TĐ (sau bị bệnh nên Thiếu tá Lê Hồng thay thế) chỉ huy, đã tịch thu được 14 chiếc xe phòng không và nhiều vũ khí đủ loại khác, cùng bắt sống 5 tù binh.
Bên cánh trái là TĐ2ND do Thiếu Tá Nguyễn Đình Ngọc – K19ĐL, chỉ huy, đã đánh trúng ngay bộ chỉ huy của Trung đoàn 203 chiến xa địch. Khi nghe tiếng la xung phong và các chiến sĩ Dù ào ạt nhào lên, các bộ đội tùng thiết địch đã chạy tứ tán về hướng núi và phía Bắc, bỏ lại 3 chiến xa T-54 máy vẫn còn đang nổ và đèn còn chiếu sáng.
TĐ2ND đã tịch thu được nhiều súng cối 61 ly và 82 ly vẫn để nguyên tại vị trí bố phòng. Hai ngày sau các chiến xa địch được lái về căn cứ hành quân của SĐND tại cây số 17, gần An Lỗ. Nhờ chiến công nầy, Ngọc “Ngà” được lên Trung tá đặc cách mặt trận.
Ngày 2/7/72 mở đầu cho giai đoạn II, TĐ9 và TĐ11 Nhảy Dù được trực thăng vận xuống phía Bắc của sông Nhung, con sông nhỏ bắt nguồn từ hướng Đông Bắc, qua Trường Phước, Mai Đằng, Thương Xá, để vào Thạch Hãn ở phía Đông Quảng Trị. TĐ11ND bên phải, TĐ9ND bên trái, cùng chiếm từng thước đất trên những đồi trọc, dưới ánh nắng oi bức của mùa hè đỏ lửa!
Bắc quân pháo cản đường bằng hàng loạt đủ loại 130, 122, 82 ly,…Nhưng đoàn quân không dám chần chừ, mọi người quyết đội pháo vào lấy lại mảnh đất Quảng Trị thân yêu.
Trên đoạn đường dài 9 cây số, từ Giáp Hậu qua Mai Đằng, đến La Vang Thượng, binh sĩ thấy cảnh vật gần như không còn sự sống. Các đoạn đường nhựa thì lỗ chỗ hố bom, trên bãi cát điêu tàn bốc hơi dưới mặt trời đỏ lửa thì toàn là cảnh chết: vật chết và người chết!
TĐ9ND chia quân 2 ngã, cánh cực Tây do hai đại đội của Đại úy Trọng – K25TĐ, ĐĐ91 và Đại úy Ngưu (94) tiến đánh vùng Tân Lê, Phước Môn…Bảo vệ sườn phải có Đại đội 92 của Tường – K26TĐ, sườn phải có Trung úy Vàng – K1/68TĐ. Cả ba Tường, Vàng, Trọng,…đều bị thương trong cuộc tiến quân nầy! Riêng Ngưu bị hy sinh tại Tân Téo! Thăng lên thay thế.
Đại úy Đinh văn Tường bị mảnh B40 ghim vào xương bả vai, nhưng vì thiếu sĩ quan nên Bác sĩ Tính mổ tại chỗ. Trong khi Đại úy Trần Ngọc Chỉ và Thiếu úy Mặc Đạm đè tay chân và Bác sĩ Tính đang mổ thì địch pháo kích liên tục gần 10 phút. Mọi người phóng vào hầm ẩn núp, bỏ Tường nằm trên băng-ca máu chảy lai láng. Hết pháo kích BS Tính trở ra tiếp tục!
TĐ7ND do Thiếu Tá TĐT Trần Đăng Khôi chỉ huy, và TĐP Nguyễn Lô. Binh sĩ vượt qua cầu Mỹ Chánh vào khoảng 4 giờ khuya, chiếm vùng Lương Điền, Tân Tường, Trường Vinh, lần đến Nam sông Ô Khê, để bảo vệ bãi đáp cho TĐ9 và TĐ11.
TĐ7ND vượt qua sông Nhung làm mũi dùi cực Đông, một thiết vận xa bị chìm, Tiểu đoàn tiến chiếm làng An Thái, tiêu diệt nhiều chốt cản đường, vượt qua quốc lộ I bố trí tại phía Nam ngã ba Long Hưng.
Từ Hải Lâm, Thiếu tá Lê văn Mễ họp bộ chỉ huy Tiểu đoàn thiết kế hoạch hành quân “Bắc tiến”. Chỉ tay trong bản đồ, Tiểu đoàn trưởng Lê văn Mễ nói với Thành:
– Toa thấy cái La Vang Hữu nầy không?
– Thấy. – Thành trả lời.
– Toa thấy cái La Vang Chính nầy không?
– Thấy rồi, còn chi nữa không “Ôn”?
– Toa dẫn hai đại đội chiếm La Vang Hữu xong, quẹo tay trái vây Vương Cung Thánh Đường, bọc từ hướng Tây Nam đánh cả hai mục tiêu…Có gì thắc mắc?
– Không. – Thành thì khi nào cũng ít nói, trầm lặng như mặt nước chiều thu.
TĐ11ND tiến chiếm nhà thờ La Vang. La Vang là một địa danh nổi tiếng về mặt tôn giáo, theo truyền thuyết La Vang là tên một loại cây mọc hoang rất nhiều ở đây, người địa phương gọi là lá vang (nấu canh chua gà ăn rất ngon).
Trong lịch sử Việt Nam, 200 năm về trước là thời kỳ đàn áp tín ngưỡng, cấm đoán Công Giáo. Tương truyền rằng một số giáo dân bị nhà Tây Sơn lùng bắt vì nghi họ theo linh mục Bá Đa Lộc giúp chúa Nguyễn Ánh. Họ trốn trong nhà thờ La Vang, bị đói khổ và bệnh tật; hằng ngày chỉ biết cầu nguyện. Dưới triều đại vua Cảnh Thịnh, giữa tháng 8 năm 1798, Đức Mẹ Maria đã hiện ra bảo hái lá vang nấu nước uống sẽ hết bệnh. Từ đó La Vang được xem như Thánh địa của người Thiên Chúa Giáo được truyền tụng là nơi có nhiều phép lạ xuất hiện.
Tới đầu thế kỷ này một giáo đường đã được xây dựng tại đây. Sau nhiều lần tái thiết, ngôi nhà thờ khang trang cuối cùng đã được Tòa Thánh La Mã phong làm Vương Cung Thánh Đường.
Đường vào La Vang tuy ngắn nhưng đó là đoạn đường của tử thần. Đoạn đường nầy có một cây cầu nhỏ, cầu Trường Phước. Cái tên Trường Phước có nghĩa là phước đức lâu dài, nhưng hôm nay cây cầu nầy là một trong những nơi đổ máu nhiều nhất. Máu của những chiến sĩ Công binh Chiến đấu Liên đoàn 10 đang dọn đường cho quân ta tiến lên, máu của các chiến sĩ Dù đang tiến đánh về thôn La Vang.
Cộng quân không dàn ra để chận đường, mà chỉ pháo dọc theo QL 1, đạn pháo rơi bên trên và chung quanh cầu, biến đây thành một vùng tử địa. Trước sức tiến vũ bão của các chiến sĩ Dù, chiến xa địch phải hạ nòng súng đại bác xuống bắn trực xạ một cách vội vàng để rút chạy. Thấy 2 chiếc T-54 đang trấn giữ trước nhà thờ, gần tượng đài Đức Mẹ, binh sĩ của Thành nhanh chóng bắn cháy cả hai, rồi đánh đuổi lực lượng địch bên trong nhà thờ, làm chủ tình hình sau 3 giờ giao chiến.
Vương Cung Thánh Đường chỉ còn mặt tiền, tòa Thánh Đường đẹp vào hàng quốc tế ngày nào không còn nữa! Hàng dương xanh khô lá trốc gốc, mái nhà thờ xiêu vẹo tan nát…Thành đứng trên mặt sân trước chính tòa, mặt sân đá tảng rộng mênh mông và phẳng lặng nay bị cày nát chỉ còn từng phiến đá vỡ sắc cạnh… Cảnh vật lặng lẽ, không tiếng chim hót trên cành cây, không tiếng cầu kinh rộn ràng vang dội khắp dãy Trường Sơn âm u tịch mịch, mang theo chiều rộng không gian nỗi bi thảm thiêng liêng của người trần tục, Vô Nhiễm!
– Chiến tranh bậy thật!
Thành làm dấu thánh giá, đứng dậy bỏ tràng hạt vào túi áo, đội nón sắt bước đi… Tượng Đức Mẹ La Vang bị mảnh đạn pháo chém mất một phần đầu! Thành nhìn hướng Bắc, nơi con đường đất đỏ dẫn về La Vang Tả. Tưởng đến những ngày Tết Mậu Thân, anh và Dưỡng đã đánh địch tại ngã tư gần căn cứ Trung đoàn 1 Bộ binh, tưởng đến những ánh đuốc bập bùng của đoàn người trẩy hội đêm trăng rằm trong những ngày đất nước còn thanh bình. “Chiến tranh bậy thật”, sự phiền muộn của Thành chỉ được diễn tả bởi bốn chữ trách móc nhẹ nhàng và ngắn gọn!
Chính Bắc, cứ một hướng mà đánh, từng nhà, từng hầm, từng chốt địch… Chiến sĩ Dù phải đánh bằng lựu đạn, cá nhân chiến đấu vận dụng tối đa.
Trục chính do Thiếu tá Lê văn Mễ dẫn thằng 114 (của Lại Ngọc Long), 113 của Điền Minh Xuyến. Thành dẫn Hùng móm (112) và Đinh Viết Trinh (111) đánh kẹp nách dọc đường rầy chiếm mục tiêu kế tiếp là nhà ga xe lửa.
Từng thước đất lúc nầy được đánh lấy lại bằng một giờ, một buổi…Khúc xương nầy thật khó nuốt (cửa họng chính của Quảng Trị) dầy đặc “Chốt cứng”, mà TĐ11ND cùng Liên đội 81 Biệt Cách Dù của người hùng Phan Văn Huấn, Phạm Châu Tài phải cố gắng nuốt gần trợn trừng con mắt!
Làm sao qua khỏi mấy cái “Khách sạn” nầy? “Khách sạn” là mục tiêu được đặt bằng tên những nơi ăn chơi nổi tiếng mà các sĩ quan Dù thèm thuồng tưởng nhớ nhưng chỉ có thể dùng nó để nhắc nhở cho đỡ buồn: Majestic, Maxim, Continental
Thực tế những khách sạn ở đây với nhiều lớp kẽm gai, mỗi “Phòng ngủ” trí một khẩu thượng liên, được “Cover” bởi hàng rào súng cối.
Làm sao đánh? Nhờ mấy đứa con của “Hổ xám” (Biệt Cách Dù) đánh thử bằng chiến thuật đột kích suốt hai đêm cũng không xong!
Thành chỉ huy 111 và 112 tiến đánh nhà ga, Hùng “móm” định cùng Tú Trinh “Ra ga tiễn em đi”, nhưng gặp “Em” thứ dữ, em răng đen mã tấu thuộc dân chơi Hồ Gươm chính cống, em đeo dây ngực bằng dây đạn AK, em xách “Ví” đựng toàn bằng lựu đạn chày. “Em” là đứa con cuối cùng của đảng: Sư đoàn 325 Tổng trừ bị.
Hùng và Trinh cứ thay phiên nhau “Hạ” em, hai người định tiễn em đi nhưng chẳng em nào muốn đi, em bám chắc nhà ga. Đoạn đường rầy không đầy 400 thước mà suốt 5 ngày cùng không thể vượt qua! Cái ngã ba xa xa đó là đường Trần Hưng Đạo, đường nầy dẫn vào chợ Quảng Trị, chỗ đó địch đã tử thủ trong nhà thương.
Suốt ngày 11/5/72, Hùng không thể chiếm được mục tiêu, anh từ hăng hái vui tánh của những ngày đầu trên đường giải tỏa quê nhà là tỉnh Quảng Trị nầy. Bỗng nhiên Hùng đổi tánh, la ó om sòm:
– Muốn chết phải không? Tại sao mi không đào hầm? Tao la mi còn hơn để Việt Cộng bắn mi vỡ sọ …!!
Hùng nói những câu không bao giờ nói (Hùng nổi tiếng thương lính), anh đổi tánh một cách thất thường….Điềm gì đây ? Chiến tranh thường có những sự kiện kỳ lạ như thế, người sắp chết thường đổi tánh (Cố Thiếu tá Lê văn Huệ của TĐ9ND bị con ve vô rún, rồi sau đó vài ngày, tự nhiên đứng khơi khơi trên đường rầy cao, rút súng Colt-45 bắn chỉ thiên thúc hối xung phong, để rồi bị địch bắn trúng 2 viên đạn chết không kịp trối!).
Hùng gọi máy nói chuyện với Bác sĩ Liệu:
– Lấy được khẩu K-54 nào thì tôi cho ông…Liệu ơi, sao moa nhớ mẹ moa quá, hôm ở Kontum vượt thoát trở về có mấy ngày phép lại không đi thăm bà.. Chiếm xong Quảng Trị moa sẽ xin phép vài ngày vô Đà Nẵng thăm mẹ …Chỉ còn 400 thước là moa thấy cái nhà ở lúc nhỏ, vì thế cứ nhớ bà già!!
Thảm thương thay, con chim kêu tiếng bi ai trước khi chết, con người linh thiêng hơn biết tìm chốn quê hương để đi về!
Ngày 14/7/72, đúng 3 tháng sau ngày rút khỏi Charlie, Hùng bị một quả đạn pháo vô tình và cay nghiệt rơi trúng ngay võng nằm! Hùng hy sinh sau những ngày chinh chiến không ngừng nghỉ. Khóa 22 Đà Lạt của Hùng ra trường nhằm Tết Mậu Thân, một số hy sinh ngay từ những ngày mới trình diện đơn vị.
Sau gần 5 năm đánh giặc, Hùng đã đi xa đến cuối trời miền Nam, Hùng từng đến hang sâu, núi thẳm của miền Tây Nguyên, giờ đây đã quay về cố thổ, bây giờ Hùng đã trở về Quảng Trị, nơi chôn nhao cắt rún của Hùng!!! Người chiến sĩ trẻ tuổi, can trường đã đi hết đoạn đường khổ nạn của quê hương Việt Nam đọa đày, và trở về chết tại nhà xưa (cách 100 thước!)!!!
Từ vùng núi phía Tây, dọc theo dãy Trường Sơn, địch chuyển quân tăng cường định phản kích các đơn vị Nhảy Dù.
Lữ đoàn I Nhảy Dù, do Trung Tá Lê văn Ngọc chỉ huy, càn quét địch từ Nam lên Bắc lấy quốc lộ 1 làm chuẩn, mỗi bên sâu vào 3 cây số. Tiến từ Mỹ Chánh tới sông Nhung, vượt qua La Vang, tái chiếm Hải Lăng; thẳng vào thành phố Quảng Trị, giao tiếp với TĐ5ND đang chiếm giữ làng Tri Bưu.
Trong trận tái chiếm quận Hải Lăng, thiếu tá Trần văn Sơn, Tiểu đoàn trưởng TĐ3ND, bị thương hư một mắt, và Thiếu tá Võ Thanh Đồng thay thế. Với sự yểm trợ của Pháo binh và Không quân, cùng sự chiến đấu dũng cảm kiên cường của chiến sĩ Nhảy Dù, nên trên đường tiến quân, mặc dù địch đã pháo hàng ngàn đạn đại bác đủ loại: 105 ly, 122 ly nòng ngắn và nòng dài, 130 ly…vào các đơn vị Nhảy Dù; nhưng vẫn không ngăn cản được bước tiến của quân ta.
Đầu tháng 9/1972, LĐ1ND đã làm chủ tình hình, chiếm lại phần lớn đất đai Quảng Trị, đáng kể nhất là căn cứ của Trung đoàn 11 Thiết kỵ và căn cứ Trung đoàn I Bộ binh. Sư đoàn 304 CSBV đã bị LĐ1ND đánh đuổi về hướng Bắc. LĐ1ND tiếp tục mở rộng vùng trách nhiệm về hướng Tây, chiếm núi Tân Téo (phía Tây Bắc La Vang); rồi thọc sâu xuống làng Như Lộ gần bờ sông Thạch Hãn, cách cầu Lò Rèn Quảng Trị khoảng 2 cây số đường chim bay.
Hàng ngày, các đơn vị của LĐ1ND và LĐ3ND đều chạm địch, thường ở cấp trung đội, đại đội, và đôi khi tới cấp tiểu đoàn.
Trong cuộc tiến quân của các đơn vị Dù có một chuyện ngộ nghĩnh là trận chiến tại cầu Trường Phước, ở 2 cây số phía Nam La Vang. Lúc đó địch sử dụng các chiến xa chở quân BTR-85 và thiết giáp yểm trợ loại nhẹ là PT-76, tiến thẳng từ Bắc xuống Nam trên quốc lộ 1. Khi vừa qua khỏi cầu thì bị đơn vị Dù chận lại; sau gần hai giờ quần thảo, địch bị pháo binh, khu trục, và các vũ khí chống chiến xa bắn dồn dập.
Cộng quân chịu không nổi phải rút chạy; quân Dù nhào ra truy kích, khiến chiến xa địch hoảng loạn, tranh lấn nhau chạy đến nỗi một chiếc PT-76 vừa qua cầu chưa kịp đổ dốc thì chiếc PT-76 kế đã trèo lên nóc chiếc trước, khiến địch phải bỏ xe chạy trốn lấy người.
Khi quân Dù đến cầu, thấy cảnh tượng đó cứ để y nguyên. Sau nầy báo chí đến chụp hình, và đầu năm 1973 lúc dân chúng lên thăm nhà thờ La Vang, thường dừng lại để chụp hình lưu niệm. Có lẽ hiện nay, một số người dân miền Trung vẫn còn giữ được những tấm hình nầy (bên trái của 2 chiếc PT-76 là 1 chiếc BTR-85 bị đứt xích còn nằm nghiêng tại đó).
Tháng 9/1972, Lữ đoàn 3 ND, do đại tá Trương Vĩnh Phước chỉ huy, đã tiến sâu vào dãy Trường Sơn để tái chiếm căn cứ Barbara. Cuộc tiến quân thật gian nan vì đồi núi trùng điệp, cây rừng rậm rạp, rất khó quan sát; thời tiết lại luôn luôn bị mây mù che phủ, không thể sử dụng không yểm. Chỉ có pháo binh 105 ly (tối đa 11 cây số) và 155 ly (tối đa 14 cây số rưỡi) yểm trợ.
Nhờ có nhiều điểm che dấu, nên địch thường ẩn nấp chận đường tiến quân. Nhất là khi càng gần căn cứ Barbara, cây rừng càng rậm rạp. Từ dưới chân núi nhìn lên chỉ thấy một màu xanh thẫm; đường lên núi lại thẳng đứng và ngoằn ngoèo; từ chân núi nhìn lên binh sĩ không thấy rõ căn cứ.
Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư lệnh SĐND, chỉ thị LĐ3ND phải chiếm cho được căn cứ chiến thuật nầy. để ngăn chận đường xâm nhập của CSBV, và để làm đài quan sát điều chỉnh pháo binh tiêu diệt các khẩu pháo địch, mà vẫn hay bắn về chỗ trú quân của ta tại cầu Mỹ Chánh và căn cứ Nancy.
Sau những lần đánh ban ngày không kết quả, Lữ đoàn trưởng quyết định cho đột kích đêm. Nhiệm vụ được giao phó cho TĐ8ND do Trung tá TĐT Văn Bá Ninh và thiếu tá TĐP Đào Thiện Tuyển chỉ huy.
Sau khi họp các đại đội trưởng, Trung tá Ninh quyết định dẫn hai đại đội thọc sâu vào phía Tây căn cứ Barbara; và tiểu đoàn phó chỉ huy hai đại đội còn lại tiếp tục tấn kích mặt chính để cầm chân địch (kiểu dương Đông kích Tây). Quả nhiên với yếu tố bất ngờ, hai đại đội đã trèo dốc lên tới đỉnh; rồi dàn quân đồng loạt vừa bắn vừa la xung phong vang rền đỉnh núi. Địch bị trở tay không kịp, hoảng hốt chạy tán loạn.
Trận nầy TĐ8ND bắt được khá nhiều tù binh thuộc sư đoàn 324; tịch thu rất nhiều vũ khí đủ loại; và đặc biệt nguyên một đoàn xe tiếp vận hơn 20 chiếc gồm xe Zin, Molotova….Trên xe còn chất đầy lương khô, đạn dược, và mìn bẫy đủ loại. TĐ8ND có 1 sĩ quan bị hy sinh và 3 binh sĩ bị thương.
Ngày hôm sau Trung tá Ninh cho lái nguyên đoàn xe vận tải đến căn cứ Nancy; rồi tiếp tục chạy qua cầu Mỹ Chánh, An Lổ, cuối cùng về tới cây số 17 (căn cứ Hiệp Khánh), nơi bản doanh của Sư đoàn Nhảy Dù. Dân chúng hai bên đường thấy đoàn xe đi qua, dẫn đầu là chiếc Jeep của quân cảnh Dù, tiếp sau là hơn 20 chiếc xe chở đầy trang cụ của CSBV còn nguyên cây lá ngụy trang quanh xe, cùng một số cờ VC. Mọi người đều vỗ tay hoan hô và reo hò mừng rỡ vang trời.
Lục soát chung quanh chân núi căn cứ Barbara, các binh sĩ Lữ đoàn 3 còn tịch thu một số súng đại bác 122 ly nòng dài; những xe súng phòng không gắn đại bác 37 ly và 57 ly.
Ngoài ra còn lấy lại được mấy khẩu đại bác 105 ly của ta mà địch đã chiếm được lúc trước tại phía Bắc tỉnh Quảng Trị. Chính chúng đã kéo những súng nầy xuống Barbara để bắn vào các vị trí đóng quân của các đơn vị Dù.
Giữa tháng 9/1972, LĐ2ND được lệnh tiến sâu vào sườn núi phía Tây (BCH Lữ đoàn đóng tại cầu Trường Phước), với nhiệm vụ mở sâu rộng vào các vùng đồi núi để tìm và tiêu diệt địch, nhằm mục đích ngăn chận không cho địch tiến về phía Nam và đồng bằng ở hướng Đông.
Vào cuối tháng 9/1972, thời tiết luôn thay đổi, mây xám bao phủ đầy trời, tầm quan sát từ trên cao bị hạn chế. Mưa nhiều nên di chuyển và tiến quân khó khăn. Địch thường xuyên sử dụng pháo binh tầm xa (130 ly, 122 ly nòng dài) bắn vào các vị trí đóng quân của Dù.
Từ căn cứ Barbara, đài quan sát của TĐ8ND cho biết ban đêm các đoàn xe địch di chuyển ở sườn Tây khá nhiều; đèn xe chiếu sáng một đoạn dài.
Giữa tháng 10/1972, LĐ2ND được lệnh tái chiếm căn cứ Ann ở phía Tây tỉnh Quảng Trị 12 cây số đường chim bay (căn cứ Ann trong bản đồ gọi là vùng Động Ông Đô).
Nỗ lực chính là TĐ7ND của Thiếu tá Trần Đăng Khôi, cánh trái có TĐ5ND của Trung tá Nguyễn Chí Hiếu – K14ĐL, (sau đó Thiếu tá Bùi Quyền lên thay); đoàn quân trực chỉ về căn cứ Ann.
Hai tiểu đoàn của Thiếu tá Mễ và Thiếu tá Đồng trấn giữ mặt Bắc không cho địch xuống tiếp viện; đồng thời có nhiệm vụ bảo vệ sườn phải cho TĐ7ND.
Thời tiết lúc nầy mưa giông gió lốc liên miên, nước sông dâng lên do nguồn cao từ núi đổ xuống. Việc tiếp tế và tản thương rất khó khăn; trực thăng phải bay rà thấp ngọn cây mỗi khi vào vùng các Tiểu đoàn. Khu vực động Ông Đô (căn cứ Ann) là vùng đồi núi trọc, chỉ có cỏ và rất ít bụi cây. Đứng trên đỉnh căn cứ có thể nhìn thấy Ái Tử (ở phía Nam Đông Hà và phía Bắc cầu Thạch Hãn). Tại đây cùng có thể quan sát vùng Nam Cam Lộ và Hưng Hóa. Trên căn cứ có một pháo đội 155 ly, trước do quân Mỹ đóng căn cứ hỏa lực nầy, sau bàn giao lại cho quân đội VNCH trấn giữ.
TÁI CHIẾM CỔ THÀNH
Trên đường tiến quân, khi vừa vượt qua Ngã Ba Long Hưng, phía Đông quốc lộ I, TĐ5ND đã chạm địch nhiều lần, đa số là các đơn vị pháo binh và phòng không của địch.

Theo phóng viên Chad Huntley của UPI, các vị Tư Lệnh chiến trường đã đưa ra 3 kế hoạch khác nhau để tái chiếm Cổ Thành Đinh Công Tráng. Kế hoạch thứ nhất là các lực lượng Dù và TQLC sẽ tấn công chính diện. Kế hoạch thứ hai là cho Không Quân san bằng Cổ Thành ra bình địa. Kế hoạch chót là bao vây để địch đói khát sẽ đầu hàng.
Cuối cùng, để khỏi bị trì hoãn đợi ăn pháo địch, kế hoạch thứ nhất được thi hành, đôi bên sẽ đối mặt phân tài cao thấp và thử gan anh hùng. Dưới con mắt của hàng chục phóng viên chiến trường từ khắp nơi trên thế giới, rồi đây hàng triệu người khác sẽ biết tới trận thử lửa để đánh giá khả năng và tinh thần chiến đấu của chiến sĩ QLVNCH.
Theo sử liệu, Cổ Thành được xây lên từ thời vua Gia Long nhà Nguyễn. Thành xây bằng đất, chung quanh có hào sâu. Tới triều vua Minh Mạng năm 1838, thành được phá đi và xây lại bằng gạch dầy và cao 5 thước. Người ta ước lượng có chừng một trung đoàn địch với vũ khí, đạn dược, và lương thực đầy đủ đang trú ẩn kỹ trong những lô cốt kiên cố chung quanh tường thành và các công sự chắc chắn bên trong Cổ Thành.
Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù được vinh dự nhận trách nhiệm tiến chiếm Cổ Thành Đinh công Tráng, trung tá TĐT Nguyễn Chí Hiếu – K14ĐL, và Thiếu tá TĐP Bùi Quyền– K16ĐL, là hai sĩ quan giàu kinh nghiệm chiến trường từ trận Mậu Thân 68, Kampuchia 69, Hạ Lào 71, đến trận nổi tiếng An Lộc, Bình Long năm 1972. Bây giờ trên chiến trường sôi động Trị Thiên nầy, hai anh đang hướng dẫn Tiểu đoàn thiện chiến Nhảy Dù trên đường tiến chiếm Cổ Thành.
Địch quân phục sẵn để chào đón những chiến sĩ TĐ5ND, mặc dầu phi pháo yểm trợ tối đa, nhưng vừa đánh vào là dội ra ngay, quân ta bị cắt ra làm ba, mỗi đại đội phải chiến đấu riêng rẽ. Các binh sĩ Dù vừa đánh vừa đào hầm trú ẩn, đôi khi phải gọi pháo bắn ngay trên đầu mình vì địch và ta đang cài răng lược, nhưng Cộng quân bị thiệt hại nhiều vì quân số đông hơn và không có hầm trú ẩn cấp thời như quân ta.
Với sự yểm trợ hữu hiệu của phi pháo, Đại đội 51 của Trương Đăng Sĩ – K21ĐL, cùng Đại đội 52 của Hồ Tường – K26TĐ, Đại đội 53 của Lê Hữu Chí – K20ĐL, và Đại đội 54 của Nguyễn Tiến Việt – K23ĐL, đã đập tan các chốt địch, tiến thẳng lên Tri Bưu, Đông Bắc Cổ Thành Quảng Trị. Các đại đội tịch thu được nhiều vũ khí nặng, khoảng 10 đại bác 130 ly và 122 ly.
Đối diện với Cổ Thành, các Đại đội trưởng của TĐ5ND cảm thấy khựng người. Một mục tiêu vô cùng kiên cố, chung quanh có hào sâu chừng gần 10 thước. Cổ Thành nguyên là doanh trại của Tiểu khu Quảng Trị, tháng 4/72 vừa qua, Bộ Tư lệnh SĐ3BB từ căn cứ Ái Tử đã dời về đây. Tướng Vũ văn Giai, TL/SĐ3, đã cho tu bổ và xây dựng thêm nhiều hệ thống phòng thủ kiên cố mới. Khi lọt vào tay địch, nơi đây trở thành một khối đá to được bao bọc bởi những hỏa tập cận phòng bằng 130 ly và 122 ly từ bên kia sông Thạch Hãn và bằng những súng đại bác 57 ly, 75 ly, B40, và thượng liên đặt trên bờ thành mà những xạ thủ đã bị xích chân vào súng.
Sau hơn 2 tuần đối trận, TĐ5 hao khoảng 100 người vừa chết và bị thương, cuối cùng Tiểu đoàn quyết định chọn toán cảm tử để dựng cờ làm khí thế cho cuộc chiến đấu cam go nầy.
Nhiều người tình nguyện, nhưng 8 chiến sĩ được chọn, họ là những chiến sĩ trước đây đã ở trong Lực Lượng Đặc Biệt, từng nhảy toán vào lòng địch. Trung tá Hiếu quyết định làm một việc ngoài quyền hạn của mình, anh đã thăng cho mỗi người hai cấp để 8 chiến sĩ hiểu rằng, mọi người đều kính trọng các anh, những tráng sĩ Kinh Kha thời nay.
Buổi chiều ngày 24/7/1972, sau khi chiếc oanh tạc cơ cuối cùng rời vùng, hoàng hôn cũng vừa phủ xuống trên Cổ Thành. Tiếng súng thưa thớt rồi im hẳn làm cho chiến trường bỗng nhiên chìm trong khung cảnh tĩnh mịch. Nhưng chính trong những giây phút người lính tưởng sẽ được nghỉ ngơi giây lát sau một ngày dài đột pháo nhích lên từng tấc đất, thì thật ra đây là khoảng thời gian nguy hiểm nhất, vì địch thường lợi dụng đêm tối mò vào đánh đặc công. Bởi vậy khi màn đêm phủ xuống, đó là thời gian “Thân ai nấy lo, hồn ai nấy giữ”.
Nhưng buổi tối hôm nay, 8 chiến sĩ Dù trong toán “Quyết tử” đang chuẩn bị vượt qua đoạn đường cam go nhất trong đời, đoạn đường từ điểm xuất phát đến chân bờ thành, một đoạn đường mà hơn 2 tuần nay, ngày nào các chiến sĩ Dù cũng đổ máu để thâu ngắn từng tấc đất, nhưng mà bờ tường của ngôi thành cổ kia vẫn còn sừng sững như ngạo nghễ như thách đố!
Cái khoảng trống 300 thước đó là vòng đai của tử thần. Một màn lưới hỏa lực dày đặc bao phủ vòng đai nầy, giả thử nếu một con bò sút chuồng chạy vào thành, lập tức nó sẽ bị hàng chục viên đạn ghim vào mình trước khi đến dưới bờ thành. Lại thêm những toán đặc công hoặc tiền đồn địch “Độn thổ” bên ngoài để kịp thời phát hiện những toán xâm nhập.
Khi được giao phó nhiệm vụ tái chiếm Quảng Trị, các lực lượng ta đã chuẩn bị sẵn những lá cờ để dựng lên Cổ Thành, và đêm nay, toán cảm tử của ta sẽ thực hiện công tác thiêng liêng đó. Tại điểm xuất phát, 8 chiến sĩ Dù đều sẵn sàng. Hạ sĩ Trần Tâm làm trưởng toán, Hạ sĩ Hồ Khang được chỉ định giữ lá cờ để sẵn sàng cắm lên trên Cổ Thành.
Khoảng 4 giờ sáng, trong bóng đêm, tám dũng sĩ lặng lẽ khởi hành; sau lưng họ, cấp chỉ huy, bạn đồng đội dõi mắt nhìn theo, gửi gắm nơi họ những lời chúc bình an, những niềm tin và niềm hy vọng. Họ ra đi như Kinh Kha sang Tần ngày xưa, sông Dịch Thủy tuy rộng nhưng vẫn dễ qua hơn 10 thước hào sâu trước mặt. 9 bậc thềm rồng của vua Tần thủy Hoàng tuy cao nhưng dễ lên hơn 5 thước tường thành cổ nầy.
Tám người mất hút trong bóng đêm rất nhanh. Những người ở lại theo dõi trông chờ, họ cầu mong đêm nay vẫn liên tục yên tĩnh. Thời gian như ngừng lại, không có tiếng người, không có hỏa châu, không có tiếng súng, chỉ có tiếng côn trùng vọng lên giống như đêm nay là đêm thanh bình của những ngày chưa xảy ra cuộc xâm lấn của quân Bắc phương.
Trong bóng đêm dày đặc, các đồng đội đang gườm súng ứng chiến sẵn sàng, họ đếm từng phút và lắng tai nghe từng tiếng động. Chưa có tiếng súng nổ nghĩa là toán cảm tử vẫn chưa bị lộ. Nhưng nếu hỏi giờ nầy họ tiến tới đâu thì không ai có thể trả lời. Có thể 100 thước, 200 thước, đang vượt hào sâu, đang đứng dưới chân thành, cũng có thể đã bị bắt sống một cách nhẹ nhàng để chờ toán khác tiếp tục tiến vào ?
Mọi người chỉ biết chờ đợi, đoán mò. Bỗng ngay hướng họ vừa đi, trên mặt thành, một bóng đen đột nhiên nhô lên giữa bầu trời mờ sáng, bay phất phới theo chiều gió: Lá cờ !!!
Cùng lúc đó, trong sự tĩnh mịch của chiến địa, những tiếng hô dõng dạc vang lên: “Nhảy Dù cố gắng, Nhảy Dù chiến thắng, Việt Nam Cộng Hòa muôn năm!”
Tiếng hô lồng lộng trong đêm khuya vang dội cả Cổ Thành. Lúc ấy trời sắp sáng, Trương Đăng Sĩ và Hồ Tường dẫn quân vượt qua hào sâu, tiến theo chỗ 8 dũng sĩ đã chiếm góc thành làm đầu cầu. Bỗng một loạt đại bác 57 ly trực xạ vào nơi dựng cờ, cả chục cây thượng liên cùng châu mũi vào nhả đạn như mưa. Ánh sáng của màn lửa đạn làm nổi lên một lá cờ vàng ba sọc đỏ đang cắm trên mặt thành, mới vừa tung bay trước gió nay đã rơi xuống phủ trên mình Hạ sĩ Hồ Khang, người chiến sĩ cắm cờ trên bờ thành đã vĩnh viễn ra đi, bỏ lại vợ và 3 con còn thơ dại!
Trương Đăng Sĩ và Hồ Tường là 2 Đại đội trưởng trẻ tuổi, gan dạ, đã lập nhiều chiến công oanh liệt tại Hạ Lào và An Lộc. Hai anh chỉ huy anh em đại đội, lợi dụng toán Quyết Tử chiếm được đầu cầu ở bờ thành, vượt qua “Vòng đai tử thần”, vượt qua hào sâu dưới chân thành với sự yểm trợ tối đa của Pháo Binh và Không Quân. Khi những khinh binh đi đầu đã dựng trở lại ngọn cờ thì một tai nạn thảm khốc xảy ra: hai phi tuần khu trục của ta, không biết vì một sự lầm lẫn nào, đã chúi xuống trút bom ngay trên đầu 2 đại đội, Trương Đăng Sĩ la lên thất thanh trong máy truyền tin, bom nổ, cả 2 đại đội tan nát: gần 40 bị thương, 4 hy sinh trong đó có Hồ Sĩ Thơ và TS Hồ Con,… là những chiến sĩ kiên cường! Bây giờ ở Úc Châu, với thân hình đầy thương tích, mỗi lần nhớ lại cơn ác mộng nầy, Sĩ cảm thấy ngậm ngùi thương cho số phận người chiến binh QLVNCH, binh chủng Nhảy Dù, và Đại đội 51 của anh.
Ngày 27/7/72, lực lượng Dù được lệnh bàn giao Cổ Thành lại cho TQLC, sự thay đổi nhiệm vụ đột ngột nầy có một số người thắc mắc, nhưng lệnh hành quân là nhiệm vụ chung của tất cả, danh dự cũng là danh dự chung của quân nhân QLVNCH.
Ngày nào cũng có tù binh giải giao Ban 2 Lữ đoàn, tù binh đa số là Trung đoàn 141 và 165 thuộc Sư đoàn 324 CSBV.
Hai Đại đội của TĐ7ND do Thiếu Tá Nguyễn Lô – K18ĐL, trên đường tiến quân gặp nhiều trở ngại hơn, vì quân số bộ binh địch tập trung dài từ bờ Bắc sông Nhung tới đồi 24, nhiều nhất là ở dưới chân núi căn cứ Ann. Cộng quân có pháo binh và chiến xa yểm trợ; vì là vùng đồi trọc nên công binh địch đã lập các con đường dọc ngang, để vận chuyển tiếp liệu và đồng thời dễ dàng điều động chiến xa. Bộ binh địch thường đào hầm khoét sâu vào các đồi núi để tránh bom đạn của Không quân và Pháo binh của la. Thời tiết mưa gió triền miên đã ảnh hưởng đến sự yểm trợ của Không quân và tiếp tế tản thương của các tiểu đoàn; những trở ngại thiên nhiên cũng làm chậm bước tiến quân của TĐ7ND.
Cuối tháng 10/72, TĐ7ND cũng tiến được tới sát căn cứ Ann; và sau các cuộc đụng độ đẫm máu, tiểu đoàn đã chiếm được đồi yên ngựa, đồi 24 ở phía Đông, và các đồi ở mặt Nam căn cứ Ann. TĐ7ND đã tiêu diệt được một số chiến xa ở chân đồi. Ba đại đội đi đầu, mỗi đại đội được cung cấp một toán tiền sát viên pháo binh để sử dụng hỏa lực tiêu diệt các chiến xa, các vị trí phòng không, và vị trí súng cối, súng cộng đồng của địch.
Hai pháo đội 105 ly của TĐ1PB Dù đã yểm trợ cho TĐ7ND rất hữu hiệu. Khi trời sáng tỏ, Không quân cũng được dành ưu tiên cho TĐ7ND. Xác địch nằm la liệt trên đường tiến quân.
Đầu tháng 11/1972, sau những đợt phi pháo, TĐ7ND rốt cuộc đã chiếm được căn cứ Ann; 6 khẩu pháo 105 ly của TQLC trước khi rút đã phá hủy và bỏ lại trên căn cứ nầy nay càng bị hư hại hoàn toàn.
TĐ7ND bắt sống khoảng 30 tù binh thuộc Trung đoàn 66 và 165 của Sư đoàn 324 CSBV; tịch thu khoảng 300 vũ khí trong đó có cả súng cối 160 ly do Liên xô chế tạo. TĐ7ND cũng bị tổn thất (vừa chết và bị thương) khoảng một đại đội! Có 2 Đại đội trưởng và 10 sĩ quan bị thương!
Chính tướng Ngô Quang Trưởng khi nghe tái chiếm được căn cứ Ann cũng đã thừa nhận là căn cứ Ann vùng động Ông Đô rất khó đánh, ông đã hết lời khen ngợi chiến sĩ TĐ7ND.
Sau khi ổn định vị trí, TĐ7ND được TĐ6ND ra thay thế để rút về tuyến sau tái bổ sung quân số và làm lực lượng trừ bị.
Từ lúc mất vị trí quan trọng (căn cứ Ann), địch tập trung nỗ lực định chiếm lại căn cứ nầy và các điểm tựa vừa mất. Cộng quân pháo kích dữ dội vào vị trí các đại đội của TĐ6ND bằng đủ loại: hỏa tiễn 107 ly và 122 ly; rồi ồ ạt tấn kích với chiến xa yểm trợ. Binh sĩ TĐ6ND đã đào hầm sâu vào sườn đồi để tránh pháo địch. Lúc địch tấn công thì họ nhô ra khỏi miệng hầm, sử dụng súng cá nhân, lựu đạn, và súng cộng đồng chống trả.
Phía Bắc căn cứ Ann khoảng 1 cây số rưỡi có một ngọn đồi yên ngựa, tuy hơi thấp nhưng có thể chế ngự và kiểm soát được đường tiến quân từ sườn Đông và sườn Tây căn cứ Ann. Tại đó có một số tử giác mà địch có thể lợi dụng được. Vì vậy một đại đội TĐ6ND đã trấn giữ, nên việc phòng thủ căn cứ Ann được bảo đảm hơn.
Suốt 2 tuần lễ, Cộng quân luân phiên tấn công căn cứ và điểm tựa nhiều lần; nhưng địch đều bị thất bại phải chạy tháo lui bởi hỏa lực cùng sự chống trả quá kiên cường của chiến sĩ TĐ6ND và của Pháo binh yểm trợ cận phòng.
Khi truy kích, TĐ6ND của Trung tá Nguyễn văn Đỉnh tịch thu được hàng trăm súng đủ loại, xác địch nằm ngổn ngang dưới chân đồi, không bắt giữ được một tù binh nào cả.
Pháo đài bay B-52 đã dội hàng trăm tấn bom xuống phía Bắc và sườn Tây của căn cứ, gây cho địch tổn thất rất nặng nề. Có thể nói TĐ6ND với tài chiến đấu dũng cảm của binh sĩ, cùng sự yểm trợ dồi dào của phi pháo, nên đã loại ra khỏi vòng chiến ít nhất 2 tiểu đoàn thuộc SĐ 308 CSBV. TĐ6ND có 3 Đại đội trưởng bị thương, khoảng 150 quân nhân vừa chết và bị thương.
Để hỗ trợ cho cuộc tấn công vào căn cứ Ann, địch đã tung một trung đoàn thọc sâu vào thung lũng phía Đông căn cứ giữa TĐ3ND và TĐ6ND để tấn công đồi 90 và các đồi khác do TĐ3ND trú đóng nhằm mục đích cắt đứt đường tiếp viện cho TĐ6ND. Cộng quân đưa vào rất nhiều hỏa tiễn 107 ly (loại 12 nòng do Liên Xô chế tạo), cùng súng cối 82 ly, đại bác 75 ly, và súng phòng không 12 ly 8, 37 ly để bắn chận các trực thăng tiếp tế và tản thương; đồng thời liên lục pháo kích vào chỗ trú quân của ta.
Trận chiến giằng co ngọn đồi chiến thuật 90 giữa hai bên xảy ra nhiều lần. Ban ngày binh sĩ TĐ3ND chiếm thì ban đêm địch phản công lấy lại. Thấy vậy BTL/SĐND đưa TĐ8ND lên tăng cường cho LĐ2ND.
TĐ8ND được lệnh thọc sâu tiến đánh địch tại vùng thung lũng gọi là mục liêu 18 (giữa TĐ6ND và TĐ3ND). Đang khí thế hăng hái sau thời gian chỉ chỉnh bị và bổ sung, TĐ8ND đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Với rất ít thiệt hại mà chỉ trong 2 ngày đã làm chủ mục tiêu 18, lấy được kho đạn gồm súng cối 61 ly, 82 ly, hỏa tiễn 107 ly, do địch vội vã rút chạy nên không kịp phá hủy … Cộng quân bỏ lại trạm xá với những thương binh còn quấn băng đầy người, đang nằm chết tại các hầm cứu thương.
Binh sĩ Dù tung ra lục soát, đào xới các ụ đất khả nghi và tịch thu được súng cối, đại bác không giật 57 ly, máy truyền tin, súng đại liên, và nhiều súng cá nhân.
Tháng 11/1972 thì toàn vùng chạy dài từ Bắc căn cứ Ann xuống đến phía Nam qua căn cứ Barbara trong dãy Trường Sơn đều hoàn toàn yên tĩnh. Các đơn vị Dù tiếp tục bung rộng vùng kiểm soát, đã tịch thu thêm được nhiều xe vận tải chở quân và trang cụ chiến đấu, cùng lương thực (gạo) của địch.
Ngoài ra ta còn phát giác hàng đoàn xe tiếp tế đã bị bom B52 đánh trúng, nằm nghiêng ngửa đổ tung tóe trên đường xâm nhập.
Giữa tháng 12/1972, khi hòa đàm Ba Lê sắp đến hồi kết thúc quan trọng, Sư đoàn Dù cho lệnh các đơn vị mở rộng ra hướng Tây. TĐ8ND chiếm đánh căn cứ Suzie ở phía Tây căn cứ Ann khoảng 3 cây số, và thọc sâu tới sát bờ sông Thạch Hãn. Chỉ trong 10 ngày Tiểu đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ.
TĐ2ND được lệnh chiếm vùng “Động Tiên” ở Tây Nam căn cứ Suzie khoảng 4 cây số. TĐ2ND chiếm được vùng nầy sau một tuần lễ giao tranh lẻ tẻ; binh sĩ lục soát tịch thu rất nhiều lương thực gồm: gạo, thịt, và cá hộp, cùng lương khô do Trung Cộng cung cấp. Địch bỏ chạy vì các kho nầy do hậu cần canh giữ, không đủ khả năng chống đỡ lại các binh sĩ thiện chiến của TĐ2ND.
Tháng 3/1973, sân bay Hòa Mỹ (tức căn cứ Evan cũ), do LĐ2ND trách nhiệm, được dùng để các máy bay C130 Hoa Kỳ chở tù Phiến Cộng đáp xuống, rồi dùng GMC chở chúng ra bờ sông Thạch Hãn trao đổi tù binh theo Hiệp Ước Ba Lê quy định.
Hàng ngàn tù binh CSBV đã được trao trả cho phía bên kia, và ta cũng đã nhận về một số rất ít những chiến sĩ VNCH do địch bắt trước kia (quân CSBV thường giết hại tù binh).
Tháng 9/1972, khi Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu ra thăm Quảng Trị, đã đến tận bản doanh SĐND ở Hiệp Khánh. Tại đây, sau khi nghe Tư lệnh SĐND và các sĩ quan tham mưu trình bày diễn tiến hành quân, và kết quả các trận đánh, Tổng Thống đã ra sân trước coi các chiến lợi phẩm tịch thu được của địch gồm: chiến xa T-54, PT-76, BTR-85, các đại bác 122 ly, 751y nòng ngắn và nòng dài, 130 ly,…các súng hỏa tiễn và đạn 1071y, 122 ly, SA7, AT3; các loại súng cối: 61 ly, 82 ly, 120 ly, và 160 ly (do Liên Xô chế tạo); máy truyền tin, các xe vận tải Zin và Molotova sắp hàng đầy sân. Cùng nhiều trang cụ chiến đấu và quân trang quân dụng
Tổng Thống cũng bước lên đứng cạnh pháo tháp xe tăng T-54 và bảo tài xế lái chạy 1 vòng sân; rồi ngồi trên ghế giàn phòng không 37 ly, sử dụng tay quay điều khiển súng lên, xuống, và quay vòng 360 độ .
Các đơn vị thuộc SĐND đã hoàn thành được nhiệm vụ giao phó, vì chúng ta có những binh sĩ gan dạ, chịu đựng, và thiện chiến; các Hạ sĩ quan ưu tú nhiều kinh nghiệm chiến trường; các sĩ quan Trung, Đại đội trưởng tài giỏi, đa năng, đa hiệu; các Tiểu đoàn trưởng điều quân rất xuất sắc, phản ứng lanh lẹ, ước tính chính xác, và sử dụng hỏa lực yểm ượ hữu hiệu ….
Trong một thời gian hạn định, tướng Ngô Quang Trưởng đã điều động 2 đơn vị Tổng Trừ Bị tái chiếm lại được Quảng Trị, nơi địch quân đã dồn hết lực lượng chủ chốt để thách đố quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Tướng Trưởng đã diệt địch không phải bằng một cuộc phản công đại quy mô, mà bằng những cuộc tấn kích nho nhỏ và liên tục, mỗi ngày một khác và ở những địa điểm không giống nhau, nhằm mục đích tiêu hao để rồi diệt gọn địch. Ông tiếp tục cho hành quân phản công lấn đất lần về đến thị xã Quảng Trị. Sau đó chiếm lại thành phố và bao vây rồi trương cờ lên Cổ Thành Đinh Công Tráng.
Ông cho lệnh bố trí quân phòng thủ phía Nam sông Thạch Hãn, dùng phía Bắc bờ sông như vùng trái độn để củng cố và tổ chức các tuyến phòng ngự, sử dụng trọng pháo tối đa để ngăn chận địch quân tiến gần bờ sông (Ngũ Giác Đài và các danh tướng ngoại quốc hết sức khâm phục sự chiến đấu dũng cảm của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa nói chung, SĐND và Sư đoàn TQLC nói riêng).
Sau trận nầy, địch quân hoàn toàn mất khả năng chiếm giữ thị trấn Quảng Trị, vì Cổ Thành đổ nát, thị xã tan tành bởi bom, đạn pháo; nên chánh quyền lập thị trấn mới tại quận Triệu Phong, phía Bắc sông Mỹ Chánh. Địch quân núp vào dãy núi Trường Sơn ở phía Tây, thỉnh thoảng pháo vài quả khuấy rối, như để chứng tỏ còn hiện diện tại đây. Vì vậy các đơn vị Dù thay phiên nhau lên các đỉnh núi cao trong dãy Trường Sơn, lập căn cứ đóng đồn giống như Địa Phương Quân.
Điều đáng buồn là Đại Tá Nguyễn Trọng Bảo, Tham mưu Trưởng SĐND, đi quan sát bằng trực thăng, chẳng may máy bay bị địch bắn trúng và rớt xuống vùng phía Đông Bắc cầu Mỹ Chánh, ông bị tử thương cùng trung tá Huỳnh Long Phi, CHT/Pháo Binh SĐND. Đại úy Lang bị thương chân và phỏng nặng cấp ba, còn Đại úy Công binh Nguyễn Thanh Nhàn thì thật may thoát khỏi nạn vì vợ ra thăm nên đại úy Lang đi thế. Tin nầy làm tướng Đống rất đau buồn vì bị mất đi một vị Tham mưu trưởng tài ba, mưu lược, và tận tụy,…đã từng giúp ông rất đắc lực trong nhiều năm qua.
Để kết thúc loạt ghi nhận nầy, chúng tôi xin nghiêng mình ghi ơn quân nhân các cấp của SĐND, TQLC, BĐQ, BB, BCD, Pháo Binh, Công Binh, Thiết Giáp, Không Quân,… đã đem xương máu ra hiến dâng cho Tổ Quốc….Có những chiến sĩ đã nằm xuống vĩnh viễn, có những người đã thành phế nhân; có những người đã thành tù nhân trong các trại tập trung… tất cả đã xả thân bảo vệ đất nước sống còn, mong cho nhân dân miền Nam được tự do no ấm, hạnh phúc hơn mấy chục năm dài….
Vận nước đến lúc suy vi !!! Những biến cố bất lợi đã xảy ra liên tiếp, khiến mọi người ly tán, nhà tan, nước mất! Hàng triệu người phải lưu vong…
Nhưng chúng ta tin rằng, rồi đây sẽ có những ngày tươi sáng, thanh bình. Thế hệ chúng ta đã không được hưởng, thì thế hệ con cháu chúng ta sẽ hưởng ….Theo lịch sử, không một chế độ bạo tàn nào, chỉ biết dùng vũ lực để trấn áp dân chúng, mà có thể sống lâu (Vương Mãng, Tần Thủy Hoàng bên Tàu và Hồ quý Ly, Hồ chí Minh của Việt Nam); chúng sẽ phải sụp đổ trong nay mai.
Gương sáng trước mắt đã thấy đó: Chế độ Cộng sản Liên Sô đã gãy đổ tan nát; các nước Đông Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi Cộng sản đã phải gục nhường bước cho nền dân chủ Tự Do đi lên
Hãy tin đi, chúng ta sẽ có ngày nầy.
(Trích trong "Đời Chiến Binh" của Trương Dưởng)
- Details
- Category: Truyện Lính
- Hits: 1022
1975 – Khi Xuân về Phước Long, khởi đầu hoàng hôn của VNCH
Nguyễn Tiến Hưng

Miền Nam Việt Nam là miền Đồng Bằng, ít có địa điểm cao, cho nên Phước Long với địa hình nhiều đồi núi, rừng dày là một địa điểm chiến lược. Tháng Ba, 1965, Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đổ bộ Đà Nẵng thì chỉ ba tháng sau, toán Công Binh Mỹ Seabee Team 1104 và bốn đại đội VNCH đã mau chóng xây dựng một căn cứ quân sự gần Đồng Xoài (Đôn Luân, một trong bốn quận lỵ của tỉnh Phước Long). Lập tức một trận chiến đã xảy ra vào nửa đêm ngày 9 Tháng Sáu, 1965.
Giao tranh ác liệt kéo dài ba ngày, nhưng phía quân đội VNCH đã là bên thắng cuộc: “Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime, hay Đức Cơ, Đồng Xoài Bình Giã…”.
Gần 10 năm sau, một trận chiến ác liệt nữa lại đến với Phước Long, cũng bắt đầu từ Đồng Xoài. Pháo binh VNCH ở lợi thế trên cao cùng với những đơn vị Địa Phương Quân chống trả mãnh liệt trước lực lượng áp đảo của quân đội Bắc Việt. Nhưng trung ương đã hết đạn, cạn xăng, và cũng chẳng còn quân trừ bị để tiếp viện. Phước Long thất thủ ngày 6 Tháng Giêng, 1975 sau gần bốn tuần lễ giao tranh, khởi đầu buổi hoàng hôn của nền Cộng Hòa.
Phước Long là trận chiến định mệnh, vì Washington không những không có hành động nào để yểm trợ đồng minh, mà còn phát đi những tín hiệu phủi tay. Thấy vậy, Hà Nội, với sự yểm trợ dồi dào của Liên Xô, đã lấy quyết định cuối cùng là tổng tấn công miền Nam.
Bài này trả lời câu hỏi tại sao lại có cuộc tổng tấn công vào mùa Xuân năm 1975 chứ không phải Xuân năm 1974 hay 1976, và diễn tiến ở hậu trường, cùng những hệ lụy của trận Phước Long.
*****
Đã vào mùa Thu…mùa Thu năm 1974.
“Tháng Mười, 1974, trời cuối Thu đã bắt đầu lạnh, gợi cho cán bộ quân sự chúng tôi nhớ đến mùa chiến dịch sắp tới,” Tướng Văn Tiến Dũng, nguyên tổng tham mưu Trưởng quân đội Bắc Việt, viết trong hồi ký “Đại Thắng Mùa Xuân” (1976). Ông tiết lộ động cơ nào đã thúc đẩy Hà Nội quyết định tiến hành cuộc tấn công miền Nam vào mùa Xuân 1975.
Tháng Tám, 1974 tại Washington xảy ra hai sự kiện quan trọng:
- Tổng Thống Richard Nixon phải từ chức ngày 8 Tháng Tám, 1974.
- Quốc Hội Mỹ cắt viện trợ quân sự cho VNCH từ trên $1.614 tỷ (tài khóa 1972-1973) xuống $1.026 tỷ, (tài khóa 1973-1974), rồi xuống $700 triệu (tài khóa 1974-1975).
Bộ Chính Trị ‘thẩm định’ tình hình miền Nam
Như đã đề cập trong cuốn “Bức Tử VNCH – Kissinger và 9 Thủ Đoạn Nham Hiểm” (viết tắt là BTVNCH), Tướng Dũng đã ghi lại về những phiên họp kéo dài vào mùa Thu 1974 khi Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương họp để bàn về việc gấp rút thay đổi chiến lược và nghe Bộ Tổng Tham Mưu trình bày kế hoạch tác chiến.
[Lưu ý độc giả: Khi trích dẫn cuốn sách của Tướng Dũng chúng tôi đã thay đổi một số từ ngữ có tính cách mạ lỵ, thí dụ như những chữ “của hắn,” “của chúng,” “ngụy,” v.v… Ngoài ra, chữ “ta” và “địch” ở đây là trích dẫn thẳng từ cuốn sách đó chứ không phải nhìn từ phía VNCH]
Trong những buổi họp này, Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam (từ 1976 đổi thành Đảng CSVN) đã bàn về việc khẩn cấp thay đổi chiến lược: “Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương họp nghe Bộ Tổng Tham Mưu trình bày kế hoạch tác chiến chiến lược…với những bản đồ, biểu đồ, bảng so sánh các số liệu treo khắp bốn bức tường trong phòng họp. Qua nghe báo cáo và thảo luận, hội nghị nhất trí đánh giá tình hình miền Nam gọn trong năm điểm (tác giả thay đổi một vài chữ cho dễ hiểu hơn):
– Một là miền Nam ngày một suy yếu cả về quân sự, chính trị, lẫn kinh tế. Lực lượng ta đã mạnh hơn địch ở miền Nam.
– Hai là Mỹ càng ngày càng gặp nhiều khó khăn trong nước và trên thế giới, khả năng viện trợ cho miền Nam ngày càng giảm bớt cả về chính trị và kinh tế…chẳng những phải giảm bớt viện trợ mà còn khó có thể nhảy lại vào miền Nam…
– Ba là ta đã tạo được một thế chiến lược liên hoàn từ Bắc vào Nam, đã tăng cường được lực lượng và dự trữ vật chất, đã hoàn chỉnh được hệ thống đường giao thông chiến lược và chiến dịch (đường mòn Hồ Chí Minh).
– Bốn là ở đô thị đã có phong trào đòi hòa bình, dân sinh, dân chủ, độc lập dân tộc, đòi lật đổ Thiệu.
– Năm là nhân dân thế giới đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta.
Điểm 2 là quan trọng nhất. Ông Dũng viết:
“Mỹ giảm viện trợ làm cho kế hoạch tác chiến và xây dựng lực lượng của Sài Gòn không thể thực hiện được theo ý muốn. Trong tài khóa 1972-1973, Mỹ viện trợ $1.614 tỷ về quân sự. Tài khóa 1973-1974 chỉ còn $1.026 tỷ và tài khóa 1974-1975 giảm xuống còn $700 triệu.”
Viết như vậy là Tướng Dũng đã dùng đúng những con số về tình hình viện trợ mà chính cá nhân tác giả – sau chuyến đi Washington mùa Hè 1974 – đã trình với Tổng Thống Thiệu, và còn thêm rằng “trên thực tế thì VNCH cũng chẳng có $700 triệu, vì con số thật thì chỉ là $500 triệu (sau khi trừ đi các chi tiêu của cơ quan DAO ở Sài Gòn).” Với mức lạm phát là 37% vảo năm 1974 thì con số này hầu như vô nghĩa.
Tướng Dũng còn dùng luôn cả những từ ngữ “đặc biệt” trong bản báo cáo. Thí dụ như hai chữ “tài khóa” là để chỉ “năm tài chính” của Mỹ (Fiscal Year). Đó là một khái niệm kế toán không mấy quen thuộc, ngay cả đối với miền Nam và chắc chắn là rất xa lạ đối với miền Bắc. Tướng Dũng dùng luôn cả cách viết. Thí dụ như “1974-1975,” thông thường thì chỉ dùng “Fiscal Year 1974” (Tài Khóa 1974). Nhưng để cho giới hữu trách miền Nam hiểu rõ hơn, thì thay vì viết “Tài khóa 1974,” chúng tôi đã viết thành “Tài Khóa 1974-1975” (vì nó bắt đầu từ ngày 1 Tháng Bảy, 1974 tới 30 Tháng Sáu, 1975). Như vậy là ông Dũng đã “sao y chính bản!”.
Ông viết thêm: “Nguyễn Văn Thiệu phải kêu gọi quân đội chuyển sang cung cách tác chiến theo ‘kiểu con nhà nghèo.’ Lý do là vì hỏa lực đã sút giảm gần 60% vì thiếu bom, đạn, khả năng di động cũng giảm đi 50% vì thiếu máy bay, xe cộ, và nhiên liệu.”
Hai con số 60% và 50% mà ông Dũng nói đến cũng chính là những con số mà chúng tôi, và sau đó, Bộ Tổng Tham Mưu VNCH đã trình Tổng Thống Thiệu.
Chiến đấu theo “kiểu con nhà nghèo”
Tháng Hai, 1975 trong buổi họp với một dân biểu Mỹ và Phó Đại sứ Wolfgang Lehmann, Tổng Thống Thiệu đã đặt vấn đề là Mỹ nên hỗ trợ miền Nam để sớm chuyển sang “chiến đấu kiểu con nhà nghèo.”
Tại sao phải thay đổi ? Ông cắt nghĩa là vì trong chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh, Mỹ đã giúp đào tạo quân đội và chiến đấu theo mô hình của Mỹ, mô hình của con nhà giàu. Đó là dựa vào hai yếu tố nòng cốt: Di động tính (dùng trực thăng và máy bay không vận C-130) và hỏa lực (đại pháo). Bây giờ thì cả hai yếu tố này không còn nữa. Vậy cần phải chuyển gấp sang “chiến đấu kiểu con nhà nghèo.” Ông Dũng đã lập lại nguyên văn “khái niệm” đó.
Hà Nội thay đổi chiến lược
Trong bối cảnh ấy (và nhờ những tin tức nhận được qua liên hệ Kissinger và Dobrynin – xem Chương 17 Nối Dài trong cuốn “Bức Tử VNCH,” Hà Nội đã thay đổi chiến lược, từ tập trung vào “Tái thiết Kinh tế” miền Bắc chuyển sang “Tổng tấn công miền Nam.”
Sau Hiệp Định Paris, một Kế Hoạch Ngũ Niên 1976 – 1980 đã được Hà Nội soạn thảo với mục tiêu “tập trung toàn lực quốc gia, mọi ngành, mọi cấp, tiến tới phát triển đột phá về nông nghiệp’ giúp giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm thiếu hụt trầm trọng, và để tái thiết hạ tầng cơ sở bị phá hủy vì chiến tranh.” (Xem: Nguyễn Tiến Hưng, Economic Development of Socialist Viet Nam, 1955-1980, Chương 10 – Preager Publishers, 1977).
Bây giờ, sau cuộc họp của Bộ Chính Trị như đề cập ở trên, Hà Nội đi đến quyết định tổng tấn công miền Nam. Trong cuốn sách Việt Nam, Những Sự Kiện Lịch Sử 1945-1975 (Hà Nội – Giáo Dục xuất bản) trang 527 ghi lại “Nghị quyết lịch sử” về kế hoạch hai năm 1975-1976 giải phóng hoàn toàn miền Nam, và chuẩn bị “chớp thời cơ để giải phóng miền Nam trong năm 1975.”
Nhận được đầy đủ thông tin tình báo, Đại Sứ Graham Martin đã báo cáo về Washington. Ngày 26 Tháng Tư, 1975, tức là chỉ còn bốn ngày trước khi sụp đổ, ông Martin gởi công điện cho Ngoại Trưởng Henry Kissinger – như để ghi lại cho lịch sử, vì ông là chứng nhân cuối cùng ở tại chỗ.
Ông viết: “Thế rồi, bỗng nhiên cái đáy thùng rơi xuống, Quốc Hội bỏ phiếu chuẩn chi chỉ có một nửa số tiền quân viện và kinh viện. Thấy vậy, Hà Nội thẩm định lại và quyết định tăng áp lực quân sự. Trước một cơ hội tốt, Liên Xô liền tăng ngay viện trợ quân sự – tăng lên gấp bốn lần trong tam cá nguyệt đầu năm nay – và đã khích lệ Hà Nội thật chính xác rằng chiến dịch tuyên truyền đang được tung ra sẽ tiếp tục làm xói mòn ý chí và quyết tâm của Hoa Kỳ đến mức giúp Hà Nội có thể thu lượm được những thành công đáng ngạc nhiên.”
Thực ra thì cũng không cần ông Martin báo cáo, vì qua mối liên hệ “mật thiết” Kissinger-Dobrynin (Đại sứ Liên Xô ở Washington) và đường giây điện thoại 24/24 giữa hai người thì Kissinger đã biết rõ Hà Nội thay đổi chiến lược và việc Liên Xô gấp rút tăng viện gấp bốn lần cho miền Bắc. Ngược lại, Hà Nội cũng biết hết về ý chí xói mòn của Hoa Kỳ qua liên hệ Dobrynin-Kissinger (như đề cập trong cuốn BTVNCH).
Tuy nhiên, khi quyết định tấn công, Hà Nội vẫn e ngại về việc Mỹ có thể trở lại. Tướng Dũng viết: “Hội nghị lần này có một vấn đề được đặt ra và thảo luận sôi nổi: Liệu Mỹ có khả năng đưa quân trở lại miền Nam khi ta đánh lớn dẫn đến nguy cơ sụp đổ của quân đội miền Nam không?”.
Bộ Chính Trị kết luận: “Ta vẫn đề phòng khả năng Mỹ có thể can thiệp bằng Không Quân, Hải Quân…”
Để cho chắc ăn, Hà Nội quyết định đi tìm câu trả lời ngay trên chiến trường: Tấn công Phước Long.

Trong cuốn hồi ký “Những Ngày Cuối Của VNCH,” Đại Tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng VNCH, ghi rõ nhiều chi tiết về trận này như sau:
“Trong hai năm 1973-1974, CSBV không chiếm được một tỉnh hay phần đất nào của VNCH. Có lúc họ đã nghĩ đến chuyện đánh Tây Ninh hay Kontum, nhưng phòng thủ của hai tỉnh đó nằm ngoài khả năng quân sự của cộng sản. Không còn mục tiêu nào, cộng sản chuyển hướng về Phước Long.”
“Đầu Tháng Mười, 1974, qua tin tức thâu thập từ tình báo, phản gián, hồi chánh viên và tù binh, Bộ Tổng Tham Mưu đã biết được kế hoạch CSBV chuẩn bị đánh chiếm Phước Long, cho nên đã không phải là một bất ngờ, ngoài ước đoán của chúng ta. Nhưng cái khó nó bó cái khôn, trung ương hết còn khả năng tiếp viện.”
Đêm ngày 13 Tháng Mười Hai, 1974, quân đội Bắc Việt khai hỏa ở Phước Long (tỉnh lỵ là Sông Bé), nằm khoảng 100 cây số ở Đông Bắc Sàigòn. Tỉnh này gồm bốn quận: Đôn Luân, Đức Phong, Bố Đức, và Phước Bình với dân số khoảng 40,000 gồm một số lớn đồng bào Thượng sống ở các buôn, rẫy hẻo lánh. Đây là một khu vực ở vị trí cô lập, luôn cần tiếp tế từ Sài Gòn bằng những chuyến công-voa định kỳ.
Lực lượng của VNCH ở Phước Long rất khiêm nhượng, chỉ gồm Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, và bốn trung đội Pháo Binh lãnh thổ, tổng cộng khoảng 4,000 người.
Lực lượng của CSBV ở thế thượng phong vì gồm hai sư đoàn bộ binh, và các trung đoàn xe tăng, pháo binh, phòng không, và các đơn vị đặc công. Họ lại có những vũ khí và phương tiện truyền tin tối tân dược Liên Xô cung cấp.
Khởi đầu, Sư Đoàn 7 Bắc Việt đánh vòng ngoài, tấn công quận lỵ Đôn Luân ở phía Nam thị xã Phước Long do một tiểu đoàn Địa Phương Quân trấn giữ. Với yểm trợ của Không Quân, lực lượng trú phòng đã đẩy lui được nhiều đợt tấn công. Đêm hôm sau, quân đội BV ngừng, không đánh Đôn Luân nhưng tập trung tấn công quận lỵ Đức Phong và Bố Đức. Cả hai đã thất thủ nhanh chóng.
Được trực thăng vận chuyển, Tiểu Đoàn 2/7 (thuộc Sư Đoàn 5) và 10 khẩu pháo tới tiếp viện, Ngày 16 Tháng Mười Hai, lực lượng Phước Long phản kích, chiếm lại quận lỵ Bố Đức. Nhưng đêm ngày 23 Tháng Mười Hai, Sư Đoàn 7 Bắc Việt tràn ngập Bố Đức lần thứ hai, và đêm 25 Tháng Mười Hai, sau khi đã nã hơn 1,000 trái pháo, tấn công thành công Đôn Luân.
Sáng ngày 1 Tháng Giêng, 1975 quân đội Bắc Việt dốc toàn lực tấn công thị xã Phước Long. Dù mọi loại pháo đã bị tê liệt và số quân chẳng còn bao nhiêu, lực lượng miền Nam chống trả quyết liệt.
Ngày cuối cùng của Phước Long
- Ngày 5 Tháng Giêng, Liên Đoàn 81 Biệt Cá Dù (hai đại đội, chừng 250 người) được thả xuống tiếp viện, nhưng vừa tới nơi đã bị xe tăng của Bắc Việt áp đảo, bị thương vong khoảng một nửa.
- Ngày 6 Tháng Giêng, quân Bắc Việt pháo trên 1,000 quả đạn, dọn đường cho trận cuối cùng vào Phước Long. Lực lượng trú phòng tiếp tục chống cự, nhưng nửa đêm hôm đó Phước Long đã thất thủ sau khi cầm cự được gần bốn tuần – từ 13 Tháng Mười Hai, 1974 tới 6 Tháng Giêng, 1975.
Trong cuộc chiến kéo dài 20 năm, Phước Long là tỉnh lỵ đầu tiên bị mất.
Tại sao không tiếp viện cho Phước Long?
- Ngày 2 Tháng Giêng, 1975 tại Dinh Độc Lập, Tổng Thống Thiệu triệu tập khẩn cấp Hội Đồng An Ninh Quốc Gia để họp với Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư lệnh Quân Đoàn III và Quân Khu III. Tướng Đống trình bày kế hoạch tăng viện cho Phước Long. Nhưng sau cùng – như ông Viên viết lại: “Trung ương không thể thỏa mãn nhu cầu vì nhiều lý do, đặc biệt là vì không còn lực lượng trừ bị nào và cũng không thể rút đơn vị nào khác đang trấn giữ các vị trí quan trọng.”
Nơi đây chúng tôi xin mở ngoặc để ghi thêm về việc hết quân. Đầu năm 1975 chúng tôi nghe Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình (tư lệnh Cảnh Sát Quốc Gia và tổng giám đốc Trung Ương Tình Báo VNCH, hiện sống ở San Jose, California) nói: “Tôi phải đưa Cảnh Sát Dã Chiến đến đóng ở Vườn Tao Đàn để bảo vệ Dinh Độc Lập vì những đơn vị bảo vệ Dinh đã được di chuyển ra chiến trường rồi!”
Nghe vậy chúng tôi thật ngỡ ngàng vì cứ tưởng là quân đội VNCH gồm trên một triệu quân nhân – một sự kiện mà cho tới bây giờ nhiều người – nhất là truyền thông Mỹ – vẫn nói như vậy. Thực ra thì số quân tác chiến chính quy chỉ có 13 sư đoàn hay khoảng 130,000 quân nhân. Còn lại là Địa Phương Quân, Nghĩa Quân. Đã từ mấy năm, VNCH yêu cầu Mỹ giúp trang bị thêm hai sư đoàn để làm lực lượng trừ bị. Năm 1974 chúng tôi cũng đã nối tay với ĐT Cao Văn Viên để vận động thêm, nhưng không thành công vì các nghị sĩ, dân biểu Mỹ luôn nói rằng: “Các ông đã có hòa bình rồi, vậy nên giải ngũ chứ không phải tăng thêm quân.”
Về chuyển vận, khả năng không vận bị thu hẹp tối đa. Theo Tướng Viên thì tất cả có 32 máy bay chuyển vận C-130, nhưng vì hư hỏng, thiếu phụ tùng, giới hạn về số giờ bay (thiếu xăng) nên mỗi ngày chỉ sử dụng được từ bốn đến tám chiếc trên toàn lãnh thổ. Ông thêm: “Chưa bao giờ miền Nam lại cảm thấy bất lực như lúc này: Không có quân tăng viện mà nếu có thì cũng không còn phương tiện chở quân tăng viện và chở đến cho kịp thời.”
Về tiếp tế, Không Quân tiếp tục thả xuống tới 10 lần nhưng phạm vi kiểm soát của lực lượng trú phòng đã co lại, đồ tiếp tế lọt vào tay đối phương rất nhiều. Sau cùng vì hết quân bắt buộc phải bỏ Phước Long để tập trung lực lượng giữ Tây Ninh.
- Ngày 6 Tháng Giêng, Phước Long thất thủ.
- Ngày 8 Tháng Giêng, Bộ Chính Trị hạ lệnh cho quân đội vượt qua ranh giới Bến Hải để tấn công.
Hà Nội đánh giá chiến thắng
Tướng Dũng viết tiếp trong hồi ký: “Chiến thắng này còn cho thấy rõ hơn về đế quốc Mỹ trong ý đồ và khả năng can thiệp của họ vào miền Nam Việt Nam…Ngày nay Mỹ đã yếu thế đến mức không thể muốn làm gì thì làm.”
“Chiến dịch đường số 14 – Phước Long thắng lớn có ý nghĩa hết sức quan trọng…Quân chủ lực của miền Nam không còn đủ sức hành quân giải tỏa quy mô lớn để lấy lại các vùng, các căn cứ và thị xã quan trọng mà ta đã chiếm trên các vùng rừng núi và giáp ranh. Bọn hiếu chiến ở Lầu Năm Góc dọa ném bom trở lại miền Bắc… Nhưng rồi cuối cùng Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ James Schlesinger bắt buộc phải bỏ qua “sự kiện Phước Long” và tuyên bố: “Đây chưa phải là một cuộc tiến công của miền Bắc Việt Nam.”
Như vậy, câu hỏi “liệu Mỹ có can thiệp trở lại hay không?” đã có được câu trả lời dứt khoát trên chiến trường.
Sau Phước Long, ngày 24 và 25 Tháng Giêng, 1975 Tổng Thống Thiệu cay đắng gửi hai lá thư liên tục cho Tổng Thống Gerald Ford yêu cầu gấp rút tăng viện.
Ông viết: “Khi chúng ta đang tiến gần đến kỷ niệm hai năm ngày ký Hiệp Định Paris 27 Tháng Giêng, 1973, tôi muốn lưu ý ngài đến tình hình vô cùng nghiêm trọng mà đất nước chúng tôi đang phải đối mặt… Vì miền Bắc tiếp tục nhận được một lượng lớn thiết bị và đạn dược từ các nước Cộng Sản để theo đuổi cuộc tấn công tại miền Nam Việt Nam, chúng tôi phải dựa vào sự hỗ trợ của Hoa Kỳ để cung cấp thiết bị và đạn dược cần thiết cho việc phòng thủ của chúng tôi. Trong hầu hết các trường hợp, chúng tôi đã phải chấp nhận những thất bại chỉ vì hỏa lực và thiết giáp áp đảo của Cộng Sản.
Về phía VNCH, quân đội chúng tôi đã phải đếm từng viên đạn để chiến đấu dược lâu hơn… Tôi hy vọng rằng ngài sẽ có thể thuyết phục Quốc Hội và nhân dân Hoa Kỳ rằng việc cắt giảm và hạn chế viện trợ cho VNCH sẽ ảnh hưởng trầm trọng đến sự tồn tại của đất nước này, và còn làm cho những cam kết của Hoa Kỳ trong việc bảo vệ hòa bình tại Việt Nam mất hết ý nghĩa…”.
Tổng Thống Thiệu nóng lòng chờ đợi từng giờ, nhưng một tháng sau, ngày 26 Tháng Hai, 1975 Tổng Thống Ford mới trả lời! Văn thư lại do Ngoại Trưởng Henry Kissinger soạn thảo. Ông là người đã quyết tâm “bức tử VNCH.” Chỉ cần sắp xếp làm sao để quốc gia này tồn tại thêm vài năm sau Hiệp Định Paris. Hiệp định này ký Tháng Giêng, 1973 thì đến Tháng Giêng, 1975 là đúng hai năm. Cho nên Phước Long chính là “ga cuối đường tàu” của Kissinger.
Dù trong giờ phút cực kỳ nguy nan, thay vì nói đến tăng thêm quân viện, văn thư lại kết luận:“Chúng tôi tiếp tục tin tưởng rằng việc thực thi Hiệp Định Paris, cùng các cuộc điều đình trực tiếp giữa các phe phái Việt Nam, là con đường nhanh nhất, hữu hiệu nhất để chấm dứt cuộc đổ máu tại Việt Nam.”
*****
Nhìn sang Âu Châu ngày nay, tuy cuộc chiến Ukraine và cuộc chiến Việt Nam khác hẳn nhau – cả về bản chất lẫn hoàn cảnh lịch sử – ta vẫn có thể đặt ra câu hỏi rằng liệu sự “cắt giảm quân viện cho Ukraine” và lập trường “điều đình trực tiếp giữa các phe phái” có phải là con đường nhanh nhất, hữu hiệu nhất để chấm dứt cuộc đổ máu tại quốc gia này hay không? Sau thỏa thuận hòa bình, nếu có, do tân Tổng Thống Donald Trump làm trung gian vào mùa Xuân 2025, liệu Ukraine có sớm hết đạn dược để bảo vệ hòa bình?
Nguyễn Tiến Hưng
- Details
- Category: Truyện Lính
- Hits: 1002