Trang 42/45 đầuđầu ... 324041424344 ... cuốicuối
kết quả từ 247 tới 252 trên 270

Tựa Đề: Góc Truyện Tình HOÀI HƯƠNG...

  1. #247
    Tinh Hoai Huong's Avatar
    Status : Tinh Hoai Huong v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Posts: 1,070
    Thanks: 4,513
    Thanked 4,017 Times in 898 Posts

    Default Tạ Ơn Đời. Ân Nhân & Bạn Hiền.


    Tạ Ơn Đời. Ân Nhân & Bạn Hiền.
    Tình Hoài Hương
    ***



    Nắng lung linh xuyên qua song cửa rót lên nền nhà, tạo thành những vệt sáng lấp lánh nhảy múa trên bàn, trên những tấm vải treo khắp đó đây trong tiệm may vắng như chùa bà Đanh, khiến Hoa càng buồn và thất vọng dường bao! Suốt mấy tháng không có khách hàng tới may vá gì, buồn chán lắm, nên cô nhỏ cứ bỏ tiệm may ra đứng thẩn thờ trước trường đánh máy chữ. Hoa nhìn vô bên trong lớp học mà mơ ước mình được sung sướng đi học như họ, thì hạnh phúc biết ngần nào!
    Một hôm, Hoa đang mơ màng đăm chiêu, lấp ló phiền muộn nhìn vô trường học nghề như thế, thì có một bàn tay nhẹ ôm vai Hoa:
    - Ê bồ! sao ngày nào cũng đứng đây vậy?
    Hoa kinh ngạc nhìn người con gái xa lạ ăn mặc hợp thời trang, nàng cao to hơn Hoa một chút, nàng không đẹp không xinh, nhưng ai nhìn nàng cũng cảm thấy dường như từ nơi nàng tỏa ra một sự quyến rũ, có hấp lực thu hút cái duyên ngầm ngầm một cách kỳ lạ. Hoa nhìn lại thân phận mình quần thô áo vải, nên cô mắc cỡ bỏ chạy. Người ấy vội chụp cánh tay áo Hoa lại, đầu Hoa chúi vào vai người ấy. Chẳng hiểu sao Hoa oà khóc, có lẽ vì xấu hổ và tủi thân. Cô gái ân cần vỗ vỗ vô lưng Hoa, niềm nở vui vẻ tự giới thiệu tên:
    - Mình tên Bích Thuỷ. Còn bồ tên gì? Ở đâu vậy?
    Thủy hỏi thăm Hoa ở nơi nào ư? Hoa nghẹn ngào không nói, đưa tay chỉ vô tiệm may. Thủy gật đầu tươi cười bước vô lớp. Hết giờ học đánh máy, Thuỷ ghé lại tiệm may, nàng muốn làm thân kết bạn cùng Hoa:
    - Có thích học đánh máy không, mà ngày nào tui cũng thấy bạn đứng dòm chằm chằm vô lớp học hoài rứa?
    - Ồ, mình rất thích. Nhưng nhà nghèo lắm, không thể có tiền đóng học phí, cùng các chuyện linh tinh khác.
    - Bạn đừng lo chuyện ấy. Tiền bạc, ăn uống, học phí để tui lo cho, đến khi nào bạn học thành tài, mới thôi nghe.
    Ồ! Kinh ngạc quá! làm sao mà có chuyện “động trời” thế nầy được!? Hoa lắc đầu trố mắt nhìn cô gái, chẳng thốt nên lời, không thể tin vào tai mình. Nhưng mỗi ngày sau giờ học đánh máy, Bích Thuỷ đều ghé lại tiệm may của Hoa, nàng vui vẻ ân cần Thủy “mớm mồi” một vài câu “nhắc khéo” với Hoa về “chuyện ấy”. Nghĩa là Thủy đi sâu vào vấn đề muốn tận tâm giúp đỡ bạn học một nghề có căn bản cho tương lai, đại khái là nghề thư ký đánh máy. Hoa mủi lòng chỉ biết khóc... và khóc vì thân phận nghèo thôi. Bích Thuỷ mở lời tâm sự:
    - Hoa biết không, ở đời không phải ai ai cũng hoàn toàn sung sướng, như ta nhìn phiến diện về một ai đó đâu. Nè bạn, họ không khổ sở vì vật chất, thì cũng đau đớn, dằn vặt, cô đơn... về tinh thần chẳng hạn. Ví dụ như mình đây: Ba mình là Quận Trưởng, mình có hai người anh đã thành đạt trên đường đời, nhưng rất buồn và cô độc do chúng tôi mồ côi mẹ lúc còn nhỏ. Ba mình có phải là gà trống nuôi con độc thân tại chỗ không, chuyện ấy xét lại, bây giờ ông có nhiều đào! Mình sống giàu sang nhưng rất cô đơn và trống vắng. Là vậy đó.
    Thì ra là như thế. Bích Thủy ân cần năn nỉ Hoa cho phép mình đi thăm nhà mạ và các em của Hoa. Ngần ngại hết sức, nhưng cuối cùng Hoa mềm lòng đã dẫn Thủy về nhà mạ. Nhìn cảnh nghèo nàn xơ xác khó khăn của bạn phơi bày, Thuỷ bùi ngùi cảm động xót xa quay mặt đi len lén chùi nước mắt. Thuỷ hết lời năn nỉ xin mạ cho Hoa đi học đánh máy, Thủy hứa khi Hoa học thành nghề, Thuỷ sẽ xin việc làm cho Hoa, để bạn có điều kiện dồi dào hơn về khoản tiền nong, mà nuôi mạ và em út.
    Mạ chẳng hiểu đầu đuôi chi hết, nên nỏ ừ chẳng hử. Hoa kinh ngạc nhìn cô bạn mới ấy đăm đăm, chỉ tưởng là cô gái lạ kia trêu chọc nói đùa với mình cho vui. Ai ngờ… có nàng tiên thật trong đời của Hoa đã giáng thế! Bích Thủy hoàn toàn xa lạ, không bà con thân tộc, không hề quen biết Hoa, nhưng Thủy chẳng toan tính đắn đo suy nghĩ gì, nàng đã hậu ái lo đầy đủ chu đáo hết mọi thứ, dìu dắt Hoa đến nơi đến chốn: nào là Thủy đóng trọn khóa tiền học đánh máy, nào là Bích Thủy đưa Hoa đi mua sắm mấy bộ áo quần, chẳng những cho riêng Hoa, mà cô còn lo cho mạ và bầy em nhỏ của Hoa nữa. Thủy lo lót ở một trường tư thục ngoài Đà Nẵng cho Hoa có một chứng chỉ học trình lớp Đệ Tứ. Tóm lại Thủy lo hết mọi chi phí. Thủy đưa Hoa đi làm giấy thế vì khai sinh, tên “Trương Thị Thu Huyền” khai sinh chào đời, lột xác Hoa từ nấc thang thấp nhất, tên cũ xì và quê mùa "Chắt" đã lùi về quá khứ, tên mới của Hoa lâng lâng bay lên… bay lên cao vút... kể từ từ nơi đó.
    Lý Thị Bích Thủy: Đó là một người thầy thứ hai trong đời đáng kính và quý trọng của Hoa (sau cậu Phú): Lúc ở Tam Kỳ Chu Lai, muốn đốt giai đoạn, nên Thủy dịu dàng dạy Hoa học thêm đánh máy cho thật nhanh và mau chóng nhớ, bằng cách Thủy có sáng kiến rất hay: nàng lấy sơn màu viết 24 chữ cái lên tấm carton, những mặt chữ cái làm giống y như trên bàn phím của máy đánh chữ thật. Đúng là có kết quả mau chóng tốt đẹp và vô cùng khả quan. Ôi! Hạnh phúc biết dường nào khi ở trường học đánh máy: mỗi lần Hoa ấn tay lên bàn phím, thì những con chữ vô tư lự vui vẻ gõ lóc cóc, nhảy tưng tưng như rộn ràng reo hò mời gọi Hoa vào đời, thì nhịp tim Hoa cũng lâng lâng hòa điệu tương ca.
    Hoa có ý chí, tự rèn luyện đức tính kiên cường, ngày đêm cố gắng học Anh-văn, học đánh máy chữ. Ngày đó Thuỷ bảo vệ Hoa lắm, dù những bạn học của Thuỷ có vẽ xem thường Hoa một tí, là Thủy từ bỏ họ luôn, đôi khi Hoa thấy ngại quá, khuyên Thuỷ hãy để em sang một bên, Thủy hãy tiếp tục chơi với bạn học. Thuỷ lắc đầu bảo rằng:
    - Mấy con đó thiếu sự hiểu biết, không có đạo đức và từ tâm, mình không thèm chơi với chúng nó.
    Ngoài giờ học đánh máy, Bích Thủy còn dạy Hoa nói tiếng Anh với Thủy, để Thủy biết chỗ sai hay đúng, mà sửa. Thật tình thì Hoa thích nói tiếng Việt hơn, nghe thân thiện, tha thiết nồng nàn, ấm áp ngọt lịm sao đâu. Bởi hằng ngày Hoa nói chuyện với người Việt thân thiết quen rồi, nay học thêm tiếng Anh, Hoa bị lớ quớ, lộn xộn ngỡ ngàng và và… dị dạng nói lắp bắp, líu cả lưỡi. Hoa cảm thấy ngượng ngùng không tự nhiên khi phát âm. Thủy sợ Hoa không hiểu, Thủy giải thích dông dài rất cặn kẽ. Chẳng biết Thủy sưu tầm lượm lặt đó đây một lô thơ lục bát ghép chữ Việt và Anh-ngữ rất hay, thực dụng và dễ hiểu vô cùng, Hoa rất thích học những câu thơ ấy, có nhiều lúc Thủy vừa hỏi tới bài học, thì Hoa trả lời những câu đã thuộc làu:
    Cằm CHIN có BEARD là râu
    RAZOR dao cạo, HEAD đầu, da SKIN
    THOUSAND thì gọi là nghìn
    BILLION là tỷ, LOOK nhìn , rồi THEN

    LOVE MONEY quý đồng tiền
    Đầu tư INVEST, có quyền RIGHTFUL
    WINDY RAIN STORM bão bùng
    MID NIGHT bán dạ, anh hùng HERO

    COME ON xin cứ nhào vô
    NO FEAR hổng sợ, các cô LADIES
    Con cò STORKE, FLY bay
    Mây CLOUD, AT ở, BLUE SKY xanh trời

    OH! MY GOD...! Ối! Trời ơi
    MIND YOU. Lưu ý WORD lời nói say
    HERE AND THERE, đó cùng đây
    TRAVEL du lịch, FULL đầy, SMART khôn

    Cô đơn ta dịch ALONE
    Anh văn ENGLISH , nổi buồn SORROW
    Muốn yêu là WANT TO LOVE
    OLDMAN ông lão, bắt đầu BEGIN

    EAT ăn, LEARN học, LOOK nhìn
    EASY TO FORGET dễ quên
    BECAUSE là bởi, cho nên, DUMP đần
    VIETNAMESE, người Việt Nam

    NEED TO KNOW... biết nó cần lắm thay
    SINCE từ, BEFORE trước, NOW nay
    Đèn LAMP, sách BOOK, đêm NIGHT, SIT ngồi
    SORRY thương xót, ME tôi

    PLEASE DON"T LAUGH đừng cười, làm ơn
    FAR Xa, NEAR gọi là gần
    WEDDING lễ cưới, DIAMOND kim cương
    SO CUTE là quá dễ thương

    SHOPPING mua sắm, có sương FOGGY
    SKINNY ốm nhách, FAT: phì
    FIGHTING: chiến đấu, quá lỳ STUBBORN
    COTTON ta dịch bông gòn

    A WELL là giếng, đường mòn là TRAIL
    POEM có nghĩa làm thơ,
    POET thi sĩ nên mơ mộng nhiều.
    ONEWAY nghĩa nó một chiều, (*= sưu tầm)

    Có lần Thủy nói:
    - Văn chương không cần trau chuốt hoa mỹ, chỉ cần xác thực, trung thực, có chút tỷ mỹ trong sự uyển chuyển hài hòa, thì mình cố gắng sẽ thành công.
    Thế là Thuỷ vừa dạy Hoa học đánh máy vừa dạy Hoa tiếng Mỹ. Thuỷ xin với chị Toàn (là chị của Thuỷ) cho Hoa ở trọ cùng Thuỷ, tiền ăn ở Thuỷ lo hết cho Hoa mấy tháng đầu. Khi vững vàng chững chạc các chuyện học tập rồi, tại nơi phồn hoa đô hội đó không ai biết mình là ai, nên Hoa không cần để lộ tông tích “sự đi ở đợ hèn mọn” của mình ra làm chi nữa. Hoa luôn mặc cảm về dĩ vãng bất đắc dĩ, buồn tủi đen tối và thấp hèn ấy. Nay có bàn tay cô tiên Bích Thuỷ đã đưa ra để thay đổi vận mạng đời mình, thì còn lo gì không dám ngẩng cao đầu!
    Một ngày kia có hai ba ông Mỹ bước vô trường dạy đánh máy chữ nói chuyện với cô giáo Xuân. Khi họ về rồi, cô Xuân cho cả trường biết là:
    - Họ muốn tuyển nhiều thư ký đánh máy, ai thích đi làm thơ ký cho bộ Hải Quân Mỹ thì đơn đây, điền vào.
    Thế là Hoa & một số bạn trai gái ghi tên đi làm. Sáng thứ Hai người ta tập họp nhân viên ở trung tâm dạy Anh-văn tại Tam Kỳ, nơi nầy có xe bus chở họ đi Chu Lai làm việc, đến chiều xe bus trả về chỗ cũ, mạnh ai đi về nhà đó.
    Ngày đầu tiên Hoa vô phòng dự thi của Mỹ, có ban giám khảo cho thí sinh thi ngành thư ký đánh máy: Tuyển sinh phải trình bày và đánh máy một văn bản hai tờ giấy bằng tiếng Anh khá dài– phải đánh nhanh và không sai lỗi chính tả: gồm 41 chữ trong một phút. Thời gian thi là nửa giờ! Ối Trời ơi là Trời!!! Hoa rợn người lo sợ bủn rủn cả tay chân. Chỉ 1 phút mà phải nuốt trọn 41 chữ, nhanh hơn tên bay sao xẹt thôi sao? Đúng là đánh máy tốc ký! Văn chương Việt-ngữ là ngôn ngữ mẹ đẻ, Hoa còn hạn hẹp chưa thông thạo, huống gì tiếng Anh tiếng U. Hoa lại càng mù mịt như thầy bói rờ con voi. Làm sao bây giờ!
    Hoa choáng váng không thể nào đoạt được kỷ lục thư ký tốc hành 41 chữ trong một phút đó. Mơ làm thư ký đánh máy là một việc cao sang quá tầm tay với làm gì, mà bây giờ từ trên đỉnh cao chót vót, Hoa đã vỡ mộng tan tành… bị rớt cái đụi. Tủi thân Hoa ngồi bệt xuống nền nhà khóc hụ hụ… ngon lành không hề biết xấu hổ! (giống như một đứa trẻ thơ lúc không nhận được quà theo ý muốn, nó đã phụng phịu ngồi phệt xuống đất chà hai chân giãy giụa và khóc ngất).
    Nhưng may thay, ở đây họ cũng đang cần người làm việc trong Warehouse clothing, nên Hoa được “lọt mắt xanh” ban giám đốc IRO, họ tuyển chọn Hoa và mấy người nữa vô đó làm việc. Hoa suy nghĩ: “trước tiên mình nên nhận công việc tàm tạm nầy đã, khi ngồi vững trong IRO rồi, mình sẽ tính tiếp. Nếu Hoa không nhận công việc nầy, e rằng sẽ không bao giờ còn cơ hội may mắn tiến thân”.
    Hoa là người chân thật, giản dị, đơn sơ và bình dân giáo dục, không biết nói những câu văn hoa bóng bẩy, không biết thêu dệt những ý tình đẹp đẽ thơ mộng, nên tự đáy lòng Hoa chỉ muốn nói lời khẩn thiết cảm ơn, biết ơn, và tạ ơn:
    - Trước tiên là Hoa ghi ơn ôn mệ nội, ôn mệ ngoại đôi bên. Tiếp theo là tri ân cha mạ sinh ra con. Ôn mệ, chị Thùy Mến là người dưng khác họ, mà thương Hoa vô cùng. Kế đến là chị Lộc. Ông bà Trương Nguyên Thảo. Anh Đoàn Mùi, anh Thái Nghệ Quân, Võ Hải Triều. Thầy Phú dạy Hoa học chữ quốc ngữ. Nhất là Hoa vô cùng biết ơn và tạ ơn Lý thị Bích Thủy, một người bạn tình cờ chỉ gặp gỡ một ngày, mà trọn kiếp tri ân người đã nâng vực Hoa đứng dậy bằng chính đôi chân của mình: từ khi cô bé lọ lem ở nấc thang thấp hèn trong xã hội, nay Hoa được leo lên làm người hữu dụng. Tạ ơn đại diện hãng IRO thuộc đất nước Hoa Kỳ đã đến Việt Nam & tuyển chọn Hoa vô làm việc trong ban ngành của họ.
    Hoa hạnh phúc xiết bao, hôm nay xin ghi lời tạ ơn đời ưu ái ban cho mình những hồng ân trân quý.
    ***
    {Thời gian quen biết nhau không lâu, thì Thủy cùng chồng đi Mỹ ở Fort Lauderdate, Florida. Thế là hai đứa mình xa cách nhau cuối năm 1967. Tại Hoa Kỳ, Thuỷ tính nào tật đó vẫn hào phóng giúp ai cần giúp, mặc dầu có nhiều người ruột thịt của Thủy cản ngăn, nhưng Thủy vẫn đi theo lý lẽ của con tim, đến nỗi người chồng thứ hai, rồi tới người chồng thứ ba và Bích Thủy cũng đổ vỡ nốt. Chỉ vì một hôm có cơn bão đến, Thủy vội vàng chạy xe ra đường, lật đật chở những người vô gia cư nào là "đen, trắng, già, trẻ, Lào, Miên, Phi, Tàu…” ; tất cả… chẳng kể số, Thủy đem họ về nhà, cho họ áo quần, ăn, ở tạm trú một thời gian dài, kể cả chó, mèo, nai, thỏ, chim, sóc…, tất cả mọi thứ… thứ gì Thủy cũng tha vô nhà đầy nhóc. Ồn ào, bừa bộn, hỗn độn, lộn xộn hết biết.
    Ông chồng thứ ba thấy ở trong nhà mình giống như một… sở thú của “thảo cầm viên và cầm… người” thật quá kinh hoàng, chồng Thủy chẳng thể nào chịu đựng thêm “cố tật bẩm sinh” của cô vợ ngày ngày thích làm chuyện bác ái, từ thiện, hảo tâm: càng chất chồng lên cao ngút. Ông đã nổi cơn điên, cả hai người thường xung khắc, bất đồng ngôn ngữ và không cùng chung chí hướng & “lý tưởng”. Họ đã đi đến chuyện không thể dừng, không thể cảm thông, đành lôi nhau ra tòa ly dị. Từ đó Thủy không lập gia đình nữa, nàng hái ra tiền dễ dàng, nhưng cũng dễ bị đàn ông phỉnh gạt tình và tiền… Bích Thủy sống cuộc đời độc thân, làm những gì mình muốn, tự do du lịch dó đây khi mình thích, khỏi bận bịu vì ai hết}.
    * * *

    Tình Hoài Hương
    Bút trần nào tả được lưu luyến!
    Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
    Tình Hoài Hương

  2. The Following 4 Users Say Thank You to Tinh Hoai Huong For This Useful Post:

    BachMa (11-22-2019), khongquan2 (11-21-2019), muahong (02-16-2020), SVSQKQ (01-19-2020)

  3. #248
    Tinh Hoai Huong's Avatar
    Status : Tinh Hoai Huong v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Posts: 1,070
    Thanks: 4,513
    Thanked 4,017 Times in 898 Posts

    Default Từ Góc Vàng Phai


    Từ Góc Vàng Phai


    Mặt trời yếu ớt đã tắt hẳn ở phương Tây, bầu trời dìu dịu, vàng ửng, nhàng nhạt. Những cơn gió từ dãy Ngũ Hoành Sơn lùa về ngây ngất và ớn lạnh. Thời gian len lén đến lấy thêm những tháng những ngày nữa trong đời người. Một ngày lặng lẽ tàn, chậm rãi trôi qua không buồn quay đầu nhìn lại, tạo thành dĩ vãng trong cuộc sống. Một năm thầm lặng cô đơn và u buồn lặng lẽ trôi đi trong đời Hồng Hạnh.
    Gia đình anh Thương chị Huyền các cháu đang ăn cơm trưa, thấy em đến thăm, thì cả nhà vui vẻ chào hỏi. Hạnh xuống bếp lấy thêm chén đũa và ngồi vô bàn ăn qua loa chén cơm. Xong, em lấy quà ba má gởi cho gia đình chị ruột. Em kể tình cảnh cha mẹ già ở chốn đèo heo hút gió cho anh chị nghe, rồi nói:
    - Theo em thấy, với số vốn liếng ba má đã bỏ ra lâu nay để: phá đồi vỡ đất mà làm mấy trại ương cây giống rất quy mô và đồ sộ đó, đã tốn tiền bạc và sức lực nhiều quá. Chi bằng ba má mua một cái nhà nhỏ, con cái nếu ai hiếu thảo, mỗi tháng tài trợ cho ba má thêm một vài ngàn. Ba má sẽ sống nhàn hạ yên ổn, không quá khổ cực thân xác như ở nhà quê. (Nếu ba má không thích ở với ai, thì như vậy). Chứ "giàu nhà quê không bằng ngồi lê thành phố". Ba má già rồi, mà khổ cực với ruộng vườn vất vả làm việc quên ăn quên ngủ, vẫn không hết việc. Suốt đời ba má cơ cực. Dù có tri thức, nhiều tiền thật, nhưng chẳng mấy khi thân tấm thân ba má an nhàn. Tháng trước ba bị đau một trận cũng nặng, coi như ba yếu hẳn, cần nghỉ ngơi vài tuần, nên ba đã giao mọi việc cho mấy người bà con ở dưới làng lên trông coi. Ba má quá mệt mỏi không muốn gì nữa vì vật chất của cải phù vân. Thú vui duy nhất của ba là thích mở mang đất đai. Quy tụ bà con, cháu chắt, xóm làng, ai không có công ăn việc làm, thì ba gom họ về ở một chỗ. Ba lo cho họ có cuộc sống khá hơn, là niềm ước mong canh cánh bên long ba. Với ý chí kiên cường, bác ái, ba đã đưa hai mươi lăm gia đình từ dưới làng xa xôi lên vùng nầy làm ăn sinh sống thoải mái, đầm ấm và thành công. Ở lại giữa cảnh đồng quê, hoang vắng buồn tênh, ba má đã sống đớn hèn, thầm lặng trong bốn mùa thương khó thăng trầm, trĩu nặng hai vai gánh gồng, còm cõi, vất vả ngược xuôi, cùng tháng năm trầm thống loạn ly trên con đò quê hương từ Thành xuôi về Tỉnh, về Xã, Ấp.
    Khi nghe em góp ý bàn tính về ba má, thì anh Thương, chị Huyền, đồng ý với em điểm nầy, họ hẹn đầu tháng nầy sẽ ra Mỹ Chánh thăm ba má, và bàn chuyện đó. Chị Huyền cười, nói với anh:
    - Nhiều khi thấy ba má quá tội. Cha mẹ nuôi mười con, nhưng mười con không nuôi nỗi cha mẹ là vậy. Mình cứ mua một căn nhà nhỏ nhưng đầy đủ tiện nghi cho ôn mệ an cư, tự do. Có lẽ tốt hì.
    - Em nói phải.
    Sống cùng anh chị và các cháu, Hạnh cắp sách đi học lại, cô bận túi bụi với bài vở khó, do mình quá dốt và nghỉ học đã lâu, nơi khỉ ho cò gáy không có cơ hội ôn tập, nên chữ nghĩa không cánh mà bay, chẳng còn có ai ở bên cạnh chỉ dạy cho? Trường lạ, lớp mới, không có một người bạn, dù câu chào hỏi xã giao lạt lẽo ngắn nhất, cũng không. Thật buồn, chẳng có gì vui. Hạnh tự đóng khung cuộc đời mình giữa bốn bức vách, khép kín nụ cười, đóng cửa trái tim đau thương vào cuối ngăn kéo vô hình. Hồng Hạnh buồn bã xếp thư từ hình ảnh, tặng vật lưu niệm của Hoàng Phương Nam và niêm phong vô một túi xách vải, rồi lặng lẽ cất dưới đáy va ly, chờ lúc nào có dịp thuận tiện thì chính tay mình sẽ hoàn lại cố chủ. Cuộc chia biệt dẫu không hề có lý do nào, thì dù sao ít nhiều chi cũng đã phụ tình nhau rồi. Hơn nữa thời gian cách ly quá lâu không thư từ liên lạc gắn bó, không gian vời vợi cách trở xa xôi biền biệt, có thể tình cảm cũng lạt phai trong lòng mỗi người. Hạnh muốn trở thành cánh chim hạc bay thẳng về miền Nam, đậu im trên cành cây sao xa xa, mà nhìn thấy Nam hạnh phúc. Thầm nhớ anh, yêu mến anh như người thân quen nhất. Thua thiệt có về mình, cô xin nhận chịu.
    Các cháu Châu, Trân, Vân, đã đi học trường dòng Tabert. Sơn đi nhà trẻ. Anh chị Thương đang sống tại Hội An được năm tháng, nay anh phải đổi về làm việc ở Tiểu đoàn 52 Công Binh Kiến tạo ở Đà Nẵng, trong nhà anh chị có tất cả là chín người, nhưng chỉ mỗi mình anh đi làm việc, đồng lương Thượng-sĩ Nhứt không thiếu hụt, nhưng không dư dả! Khi anh Thương đổi ra Đà Nẵng thì cả nhà lại dọn đi, đời lính nay đi mai ở, vợ con lính chẳng mấy khi yên ổn sinh sống một nơi, sự học của con em đời lính vì thế ít nhiều chi cũng bị gián đoạn dang dở.
    Chị Huyền đã sanh thêm một cháu trai. Vị chi anh chị có tất cả năm cu cậu! Chị rất kỵ vì người ta nói: “Có năm thằng con trai liền một dây là ngũ qủy, sẽ quậy tưng trời”. Anh chị có bốn cháu trai đứa nào đứa nấy mặt mày xinh đẹp, đẹp nhất là cháu Vân và Sơn, họ hài lòng về bốn thằng con rồi. Bây giờ anh chị đều mong kỳ nầy có một "công nương".Nhưng khi thấy mặt bé sơ sinh khôi ngô tuấn tú lạ thường, thì anh chị không muốn gì hơn. Về nhà, chị lo xông hơ rất kỹ: nào gừng, muối, nghệ, riềng, giã nhỏ, mỗi loại một hũ, ngâm rượu chôn dưới đất bách nhật, xong chị đào lên. Thứ thoa mặt, thứ thoa thân thể. Chị nằm trên vạt giường tre, ở dưới gầm giường thì đốt hai lò lửa, chị lăn qua trở lại như con cá nướng. Chị luôn xức dầu gió, gội đầu bồ kết, trùm kín mền, xông nước lá hương nhu, lá sả, lá bưởi, lá cam, quít, ổi, vân vân...
    Căn nhà nhỏ lúc nào cũng tối mù, luôn luôn thiếu ánh sáng, không có gió và không khí, chị kiên cử nằm trong phòng kín, khiến cả nhà ngột ngạt, vì mùi hỗn hợp trên toả ra muốn nghẹt thở. Thật khó ngưởi. Thấy chị ở cử, em sợ đến rùng mình. Bà mẹ chồng của chị chịu thương chịu khó, bà lo cho con dâu và cháu nội chu đáo, mặc dù nay cụ gần chín mươi tuổi. Do chẳng có ánh sáng, mắt không tỏ, cụ sơ ý chưa lau sạch nước tắm, cụ lại bôi nước bả trầu vô cuống rốn cháu nên bị lở. Khi chị phát hiện ra cuống rốn cháu lở loét, thì đã muộn. Từ bác sĩ công, tư, bất cứ nghe ai mách bảo thầy hay thuốc giỏi, anh chị đều đi chữa trị cho cháu. Có người bày tìm con gà ác, họăc con cóc đen còn sống, mổ bụng chúng, úp con vật lên ngực cháu trong bảy ngày, họ cũng làm. Anh chị tốn tiền kinh khủng.
    Sau cùng cháu nằm trong Tổng Y Viện Duy Tân suốt hai tháng hè. Tại đây Trung-úy y-sĩ Ngọc độ ba mươi tuổi, ở Sài Gòn mới đổi ra làm việc, ông rất tận tâm, chu đáo. Ông ngồi hằng giờ bên giường bệnh nhân, để theo dõi từng diễn biến nhỏ nhặt. Có lẽ sự nghiêm nghị, đứng đắn và lo lắng, khiến khuôn mặt trắng trẻo có in thêm nếp nhăn, ông đeo kính cận, mắt đỏ hoe trân trân nhìn từng cử động cuả cháu, ông giàu lòng nhân ái, chứng kiến nhiều cảnh thương tâm bi lụy, nước mắt ông sẽ tuôn chảy nhiều. Mỗi lần lên cơn động kinh uốn ván, cháu khóc thét, tay chân co giật, bụng ưỡn ra, đầu ngửa về sau lưng, mắt dại thần sắc. Cháu càng ngày càng gầy trơ xương, trông quá thảm. Y sĩ Trung-úy viết giấy cho cháu về nhà thì hai giờ sau cháu tắt thở. Cháu ra đi êm ái như ru đời vào giấc mộng tiên, cháu không vặn mình la khóc, không làm kinh như khi cháu còn sống. Cháu nằm giữa hai hàng bạch lạp sáng ngời. Chính tay cha đóng quan tài cho con, mà mắt như anh rể lạc thần.
    Người ta nói khi văn thi sĩ tả chuyện đau buồn, ai oán, chia ly, họ ưa thêm thắt tạo trời mưa gió bão bùng, lụt lội tơi bời, cho ly kỳ hấp dẫn. Nhưng tháng nầy là mùa mưa, vài hôm nay đã mưa lớn. Mưa ngoài trời thật, mưa cả trong lòng. Nhiều người đến thăm viếng, chia buồn. Chị Huyền phân công mấy đứa con canh chừng xác của cháu Hải từ tám giờ tối đến mười giờ đêm. Anh chị thức từ mười giờ đến ba giờ sáng. Hạnh và con bé người làm coi chừng xác cháu từ ba giờ đến sáu giờ sáng. Ba giờ sáng! Hai phụ nữ non đời chết nhác, tim đập thình thịch, quặn thắt từng cơn đau điếng trong lồng ngực nghẹt thở, họ ngồi co ro nơi góc ghế. Nhắm mắt lại cô sợ ma, mở mắt ra nhìn cháu nằm trơ trọi trên giường lạnh lẽo, nước mắt Hạnh tuôn trào. Cô len lén nhìn chung quanh đâu đâu cũng chỉ toàn bóng tối bao trùm thì sợ ma kinh khủng! Hạnh lạnh toát cả thân run sợ đi vặn đồng hồ báo thức, cả nhà dậy lúc bốn giờ. Hạnh không dám vô phòng ngủ, sợ ma đi theo mình.
    Cô em bị chị Huyền la cho một trận, vì tội lếu láo vặn đồng hồ lên. Chị Huyền không biết khi anh Tư bị tai nạn xe hơi khá nặng, phải chở vào cấp cứu. Chị Khánh gọi em lên bệnh viện coi chừng anh (cho chị ngủ trưa một chút). Thấy anh Tư đầu băng trắng, trán và hàm dưới bị bể, mặt mũi sưng húp, tím bầm méo mó, tay chân anh đầy máu, mỗi lần anh thở phì phò khó nhọc thì phun máu mũi. Cô sợ đứng tim, ngất xỉu đủ ba lần Hạnh đến thăm anh rể là xỉu, khiến chị Khánh phải gọi y tá, mời bác sĩ đến chích thuốc cho em. Chị Khánh tức bực vô cùng, đã mắng nhiếc đứa em yếu bóng vía một trận nên thân, khi đụng chuyện cần nhờ em giúp đỡ một tay. Chẳng những em không làm nên trò trống gì, mà khiến chị thêm lo lắng, vất vả mệt nhọc hơn. Các chị không biết rằng: Hồng Hạnh rất nhạy cảm, thương cảm, đầy xúc động trước cảnh thương tâm, (cho dù bất cứ ai) không thể cầm nỗi lòng trước những đớn đau của người khác.
    Trời mưa gió và từng cơn bão ùa về suốt tuần, lê thê áo não không lúc nào tạnh, khi mưa nặng hạt, khi mưa phùn gió bấc. Mặc dù thế, lúc đưa cháu đến nơi an nghỉ cuối cùng, bạn bè thân nhân đi tiễn biệt rất đông. Ba má, anh chị ở Huế đã vào Đà Nẵng trước đám tang cháu vài ngày, toàn gia đình chụp chung vài tấm ảnh lưu niệm. Chị Huyền kêu khóc thảm thiết, thân thể chị mềm nhũn như cọng bún, dù hai người kèm hai bên nách nhưng chị vẫn đi không vững. Kể từ khi chị mang bầu cháu đến bây giờ, chị tốn rất nhiều tiền, nhất là sức lực chị đã cạn kiệt hết.
    ***
    Chị Huyền mừng rỡ đưa cho em năm lá thư của Nam, có thư cách đây ba tháng, hai tháng, v.v… mỗi lá thư đều có hình phong cảnh, đoá hoa ép khô, vài cánh bướm rực rỡ mà ngày tháng đã điểm lên dung nhan thầm lặng nét ưu buồn héo hắt tàn phai ít nhiều gợn lên trong quá khứ, nay chúng trở thành khác sắc, phôi pha, kém duyên đi. Tuy thế, nhìn kỷ vật đó, em thấy lòng mình vụt bay về khoảng trời xanh trong vắt mênh mông. Kỷ niệm êm ả một thời trẻ dại xôn xao đắm say cũ do chính em tàn nhẫn bóp chết, quá bất ngờ và vô tội vạ. Hôm nay tình cờ mở lại tần số đúng nhịp tim, gợi về chuỗi ngày cũ quá bâng khuâng, yêu dấu, khiến Hạnh luyến thương thầm nhớ vô vàn.
    Đôi khi quá nhớ và còn yêu anh say đắm, Hạnh thầm ước mong: "phải chi mình có đủ tiền xe, tiền ăn ở, đi và về thoải mái. Hoặc nhà anh ở gần bên, thì cô đã len lén... đến thăm". Lòng dạt dào trìu mến đối với người cầm bút viết nhiều lá thư, ân cần nồng nhiệt thăm hỏi, lo lắng cho sức khoẻ, tương lai và hạnh phúc của cô. Lá thư sau cùng lời lẽ anh bộc lộ sự ray rứt chân thành, săn sóc, nhưng xa cách buồn bã lời chia biệt. Vì cứ như thư Hạnh viết năm cũ, thì anh ngỡ là mình đã có chồng. Những lá thư màu xanh êm êm dìu dịu kia, dường như tỏa ra khắp căn phòng mùi hương kỷ niệm đậm đà đằm thắm, như chứa đựng cả đại dương nhớ nhung âu yếm tình hồng.
    Hồng Hạnh ấp những lá thư cuả Nam vô ngực, cô nhắm mắt lại hồi lâu, để mặc những giọt nước mắt lăn dài trên má. Niềm xúc cảm, rung cảm, thương cảm bùng lên, rồi từ từ lắng dần, lắng dần... dưới đôi hàng lệ âm thầm tuôn chảy tự lúc nào! Được dịp khơi lại đống tro tàn tìm phiến than hồng héo hon, cô đã khóc nhiều, cánh cửa ngăn tuyến nước mắt vỡ vụn, bao đau thương buồn nhớ bấy lâu, được dịp tuôn trào. Đầu óc cô là một môi trường đặc biệt, các suy nghĩ xuyên qua đó trở thành hỗn tạp & mất niềm tin tưởng. Con đường xa thẳm từ Hội An, Đà Nẵng, đi Sài Gòn ngút ngàn hơn chín trăm cây số, qua bao núi, đèo, sông, biển; thì tình đôi ta cũng xa xăm ngút ngàn dịu vợi thế thôi. Hạnh phúc bé nhỏ ngắn ngủi vút xa bay, không thể làm tim cô hồi sinh duyên tình ấm nồng trở lại.
    Thì ra tận đáy lòng Hạnh vẫn yêu Nam say đắm! Bài ca "Lá thư" của Đoàn Chuẩn Từ Linh có câu nầy cô rất thích... "Anh quay về đây đốt tờ thư, quên đi niềm ân ái ngàn xưa... Tình người nghệ sỹ phai rồi... Tình người nghệ sỹ phai rồi! Nhưng tình em đối với anh chưa tàn phai theo thời gian. Nhất là những buổi chiều trời mưa vần vũ, đầu đường đại lộ Phan Chu Trinh xám ngắt như cuộc đời của người con gái vẫn nhớ người yêu. Hạnh nhớ Nam, yêu anh lòng cô cố gắng gượng để khỏi thổn thức giữa cơn buồn. Nay, chúng ta đã chia xa thật rồi, không còn gì cho nhau, đã hết, dù tình chưa tàn phai mối tình đã chết đột ngột, đầy vô cớ cất tiếng chào vĩnh biệt, xé rách tấm màn yêu thương dĩ vãng, phai mờ dấu chân kỷ niệm một thời gắn bó nồng say trên lối cũ. Cuộc đời thương đau trôi đi một lần nữa không chứng thực lời anh nói (trong hoàn cảnh tế nhị, đắng cay nầy). Cô không hy vọng có thể đến với anh, thì đành phải chấm dứt với Nam. Thôi. Đã tự quyết định dứt khoát, thì cố quên đi tình đầu nồng thắm tuổi hoa niên, quên kỷ niệm vàng son một thời non dại. Quên tất cả. Hai ta như hai hố mắt của chiếc gáo dừa lăn lóc ghi khắc lại mối tình sâu xa, một đời gắn bó; nay đã mất vẻ nhìn ấm áp, trìu mến và trân trọng. Sẽ mãi hững hờ, xa xăm... luyến thương thầm nhớ vô vàn mà thôi.
    ***
    Hôm nay gia đình anh chị Thương Huyền đang vui vẻ quây quần bên mâm cơm nóng sốt, thì lúc đó có một em bé trai, trạc độ mười hai mười ba tuổi, em đi vô trước cửa nhà:
    - Cho cháu hỏi thăm nhà cô Hồng Hạnh ở đây, phải không bác?
    Hạnh vội đứng lên đi ra ngoài sân, mỉm cười trả lời cậu bé:
    - Chị là đây. Có việc gì vậy em?
    - Anh Hoàng Nam gởi cho chị tấm giấy nầy.
    Nhiều lần bị người lạ không quen ưa viết thư ái mộ bằng cách nầy, hoặc gởi thư theo đường bưu điện. Thế nên nhìn em bé, cô mỉm cười ôn tồn:
    - Chị không quen người ấy, em ui.
    - Có anh Hoàng Nam ở ngoài bến xe gởi giấy nầy thiệt đó chị.
    - Trời đất! anh nào ở bến xe?
    - Quen chị... ở bến xe mà. Ớ... Dạ, à … dạ…
    Sự thật Hạnh quên tiệt “cái họ Hoàng” của Phương Nam, vì em bé không nói anh “Phương Nam”, mà chỉ nói anh Hoàng Nam; nên cô tưởng là ai khác.
    - Anh ấy nói thân quen chị mà.
    - Trời đất. Cái gì! Ai vậy, hở em?
    - Em không biết.
    Em bé trai bán vé số và thuốc lá đựng trên cái khay em đeo ở trước ngực vội đưa cho cô một miếng giấy vỏ của bao thuốc lá Salem, mặt trong của bao thuốc có mấy chữ vắn tắt ghi sau: "anh Hoàng Ph Nam ở Sài Gòn đã ra Huế. Nếu có thể, (Biển Nhớ ơi) cho anh biết tin bằng điện tín. Anh sẽ vô thăm em sau. H P N". Phía dưới bao thuốc là ngày tháng, chữ ký, địa chỉ của Nam ở Huế.
    Trời ơi! Như sét đánh mang tai, cô nhìn đi nhìn lại, nhìn tới nhìn lui chữ viết và chữ ký, đúng là "cố nhân" rồi. Tự nhiên Hạnh tối tăm mặt mũi, run rẩy như chạm phải dòng điện trong hồ nước buốt giá, khiến cô giật bắn người, lảo đảo dựa lưng vô vách nhà, nhìn trừng trừng ra đường xe cộ tấp nập chạy qua lại chạy đông đúc, cô chận hai bàn tay bủn rủn run run lên ngực. Dạo nầy trái tim cô nhảy lung tung, bất thường quặn thắt trong bờ ngực nhỏ, e sợ mình đau tim thật sự. Mắt như có màn lệ mỏng, cô nào thấy gì, kể cả việc không nhớ cám ơn, hoặc cho em nhỏ vừa trao miếng giấy kia tí tiền, em ấy đã bỏ đi từ lúc nào.
    Chưa bao giờ Hồng Hạnh run rẩy, bàng hoàng, rối rắm, xúc động, kỳ diệu, run rẩy và bối rối lo sợ kinh khủng như bây giờ. Không lầm vào đâu được. Có thể như thế sao? Trời ơi! Thật sao? Anh đã ra Huế, chỉ cách mình ngót một trăm cây số đường xa. Hoàng Phương Nam đã ra Huế. Phải. Anh vừa đến xa xa xa... em một khoảng cách gần gần... thật gần em! Phải! Nhưng... bây giờ Hoàng Phương Nam đã về tìm Hạnh sao? Quả thật là định mệnh đã chừa cho hai người một kẽ hở, khi từ trên cao ngài đang cúi xuống ưu ái thân thiện ngó chúng mình đó, anh yêu! Hạnh nhớ Nam nhiều, cô nghĩ đến tháng ngày xa xưa từng yêu nhau say đắm, ngọt ngào, êm đềm hạnh phúc và buồn rầu đau khổ tận cùng. Cô nhớ rõ mồn một từ ngày anh trao tặng mình đóa nhung hồng in môi hôn tươi rói, hơi thở anh nồng nàn lẫn vào những cánh hoa hồng thơm ngát hương, mặc dù cành hoa có đầy gai nhọn đâm vô mấy ngón tay rĩ máu, cô vẫn không cảm thấy đau. Cũng từ mấy cánh nhung hồng ấy, chị Khánh đã cấm đoán em không được yêu Nam, chị đánh em trong buổi tiệc ly ra sao. Em nhớ tháng năm sống trong nhà chị Khánh với tình yêu Nam ngọt lịm “lén lút, sợ sệt” nhưng em vẫn ôm nỗi nhớ khư khư canh cánh bên lòng. Rồi thì chị buộc em phải bỏ Nam, bỏ học để đi về Huế với ba má. Thế là vô tình em bị gián đoạn sự học, chỉ vì em yêu anh! Buồn lắm mà không thể nào thổ lộ cùng ai.
    Hạnh nhớ thác Cam Ly, Prenn, Liên Khương, Gougah, Pongour, Datalania… vô vàn. Cô nhớ hồ Xuân Hương, hồ Than Thở, hồ Hải Thượng Lãng Ông, nhớ suối Vàng, suối Bạc, suối Cát Tiên, suối Bồng Lai; nỗi nhớ nhung mỏi mòn và bất tận, nhớ buổi chiều nắng ươm vàng trên đồi Cù, vạt cỏ úa đầy bôngcỏ may xâu vô bốn ống quần của hai người dưới chân vụt qua trí mình, gió lạnh thổi lá vàng bay là là xuống hồ Xuân Hương gợn sóng nước lăn tăn, sương mù rơi thật thấp, dày đặc, ẩm ướt, làm mờ nhòa thành phố núi mộng mơ. Nơi chốn ấy cô đã vui, buồn, cười, khóc, như điên dại khi anh chia tay mình, để anh tư lự ray rứt trở về Sài Gòn; và cô "bị" về Huế, vì bà chị nói anh là:
    - “Hắn là con nhà giàu, lêu lỗng, ham ăn chơi, không lo học hành. Nếu lấy hắn thì đời mi sẽ đau khổ” (!?).
    Từ đó riêng mình âm thầm sống trong ngậm ngùi cô độc, buồn nhớ, xót xa, ray rứt, vì một góc vàng phai theo gió chướng, mất hẳn tình tri ngộ đằm thắm, cô lặng lẽ chia biệt anh vì một bà chị khó chịu, chuyên lấy “quyền huynh thế phụ” ưa cấm cản em út, bắt em phải vĩnh biệt tình yêu, và đành phải bỏ học. Hạnh âm thầm chịu đựng bao đau đớn xót xa... dù biết chị hoàn toàn phi lý. Sự chia tay không hề do lỗi từ hai trẻ đã yêu nhau rất chân thật, thanh cao và trong sáng, khiến Nam bàng hoàng sửng sốt! Nhưng khi cô về ở Huế, rồi ra ở vùng núi rừng Mỹ Chánh nơi “chó ăn đá gà ăn muối” , chỉ có “khỉ ho cò gáy” làm gì có trường Trung Học dạy tiếng Việt, chớ nói chi có trường cuả ông Tây bà đầm! Đau buồn là thế nhưng cô chẳng hề than phiền với bất cứ người thân nào, nhất là không hề báo cho Nam biết, cũng chẳng cần đỗ lỗi do ai. Dù sao, giữa anh và em đã có nhiều sự song hành về tình yêu dài lâu, say đắm, chân thật, thương nhớ nồng say. Tình yêu nẩy lộc không ngừng, chỉ chia xa ở bước ngoặt lớn đột ngột bất ngờ, như con sông chảy ngoằn ngoèo quanh co mãi đến lúc nào đó, cũng tách rời hai nay bỗng dưng hai nhánh sông tình cờ gặp nhau ở gần cửa biển, không kém phần hào phóng và lãng mạn, tạo thành cơn xoáy cuộn sóng ba đào lẫn hoan ca.
    Dù sao đi chăng nữa thì Hạnh cần phải gặp lại Nam, dù có vài giờ ngắn ngủi, dù mai nầy cô đi giữa phong ba bão tố giữa mùa Xuân, mùa Hạ, mùa Thu, hay mùa Đông. Dù sao chăng nữa em phải gặp anh phút chốc, trước khi bước lên con đường đầy khói lửa và bụi đỏ. Hạnh cần gặp Nam dù bất cứ giá nào, dù mai đây đi Trà Khúc, Minh Long, Mộ Đức, Nghĩa Phú hay Tà Biên, ở mãi mãi nơi sơn lâm cùng cốc, cũng được. Phải gặp lại Hoàng Phương Nam! Phải gặp Nam! Lời đó như sự thúc giục, hối hả, cần thiết, khẩn cấp, như nhịp chân dồn dập điệp khúc vang rền: "Phải gặp Nam... Phải gặp Nam".
    Hồng Hạnh nhớ rõ chàng trai đã gieo vào tâm tư mình một tình yêu trinh nguyên trong sáng, say đắm và đậm sâu, khiến cô nhớ nhung, đau đớn quá nhiều. Và, Nam đã bị hấp dẫn, dằn vặt, níu kéo, đầy yêu thương nhớ nhung khổ sở vì cô cũng không kém. Thực ra, vết thương lòng chưa lành, cô tha thiết mong gặp anh, hầu giải bày nỗi niềm đau đớn đang bóp thắt trái tim. Đúng rồi! cô phải gặp Nam dù tang thương, cay đắng, chia xa và ưu phiền thắt họng. Dù thách đố đầy nước mắt, phân ly, tuyệt vọng, dù ôm mối hận ngàn đời vì quyết định nầy, thì cô cần gặp anh hơn tất cả, để chân thành nói rõ sự thật nguyên nhân tại sao chị Khánh cấm em không được phép yêu Nam. Tại sao khi ở Mỹ Chánh cô quyết định chia ly anh. Khi nào Nam vô Đà Nẵng, thì cô sẽ nói lời từ biệt anh đằm thắm, ngọt ngào, minh bạch, thấu hiểu, và chân tình hơn thuở trước. Vì cô nghĩ bây giờ cô đang sống trong một hoàn cảnh tế nhị nhưng nhiêu khê phức tạp…
    Đúng là định mệnh éo le, xỏ lá, ba trợn lôi cô ra vui đùa, trêu ghẹo, chớt nhã, nhạo báng; khi cô bắt đầu quên... Nam; ngỏ hầu cô sẽ vui say duyên mới, dù cô chưa dứt khoát sẽ đến với người nào, hoặc là cô sẽ thuộc về riêng ai? cô đã bình lặng trong tâm hồn, vui tươi... thì bất ngờ Nam lồ lộ xuất hiện để nối lại giòng liên lạc, ngỏ hầu tự ràng buộc nhau bởi mối thâm tình từ quá khứ mật thiết, đậm sâu không ai hủy diệt nỗi. Mình yêu Nam thiết tha trên từng trang thư trao gởi, trên khát khao thèm muốn ước nguyện chia sẻ vào giòng đời thấm đẫm hương hoa, hòa với nắng lưng đồi quyện hơi sương giọt từng phiến tơ rung xuống cỏ cây.
    Hạnh phúc được yêu là chuỗi hành trình bóng bẫy dài dằng dặc, lúc nào cũng là bước khởi đầu hy vọng; để đôi ta can trường dấn bước tới tương lai, và tìm ra đích thực tình yêu trong hạnh phúc cuối cùng ngọt ngào! Trong thẳm sâu ký ức và tri thức cuả Hồng Hạnh: người con trai văn nhã đó vẫn vẫy gọi em, đầy ắp ân tình, ngọt ngào, thu hút quyến rũ mình dường bao! cô chấp nhận cái vô thường lớn nhất là: sẽ đơn côi đi tìm, tìm đến người đang thiết tha gọi mời, và trìu mến yêu thương vẫy gọi mình. Hạnh quyết định chèo chiếc thuyền cũ, thô sơ, mong manh để cỡi trên con sóng đầy phong ba bão táp, vượt thác ghềnh, đồi núi cheo leo, hầu vút vút lướt lướt tới bến mơ... Nếu mai kia… vì lý do bẽ bàng chua xót đắng cay nào, mà hai ta phụ tình nhau… Thôi cũng đành suốt đời ôm mối hận về chín suối vì quyết định nầy. Thế là chỉ trong khoảng khắc thời gian ngắn, Hanh chạy vòng qua mé giếng sát bên hông nhà, cô vô nhà bếp, hồi hộp lôi xe đạp ra dựng bên hè. Hạnh với tay vô song cửa sổ phòng ngủ lấy tiền trong túi xách, tay cô run đến nỗi lúng túng nhét mãi mấy chục bạc, cô mới thấy cái túi áo nằm ở chỗ nào.
    Bức điện thượng khẩn do Hạnh len lén anh chị Huyền gởi đi có mấy chữ: "Vô ngay, Thứ Bảy nầy, em đi xa". Và, khi đã quyết định gặp anh trước ngày Thứ Bảy, thì bỗng nhiên -ngày Thứ Bảy chạy như bay, xa cô kinh khủng- Hạnh có cảm tưởng hôm nay là Thứ Tư đến Thứ Bảy, nó xa, xa hơn cả mấy năm, xa như ngày xưa vàng phai trong buổi hoàng hôn xa lắc xa lơ. Anh như cánh bướm ươm tình chập chờn bay vào tuổi mộng mơ. Cô bé ngây ngô ấy đâu ngờ rằng cánh bướm trao tình đó đã thổi vô giòng đời mình quá nhiều yêu thương, chua xót, bất ngờ, éo le, đắng cay, đau khổ, tê tái suốt cả cuộc đời.
    Hồng Hạnh thơ thẩn đạp xe về nhà như người mất hồn, chung quanh cô trở nên mơ hồ, xa lạ, đối trá và thù nghịch đối với niềm vui tuyệt vời trong trí tưởng tượng đa cảm, phong phú nét lãng mạn đa tình của cô bé chớm lớn. Hạnh hình dung đến nụ cười hoan hỉ, mừng rỡ đến độ nào khi chúng mình bàng hoàng gặp lại nhau, lẫn lo lắng, buồn phiền ray rứt, suốt đêm cô thở dài không ngủ, thao thức, trằn trọc mãi. Gần sáng cô mệt mỏi chợp mắt một lát, mi còn đẫm lệ. Ngày Thứ Năm, cô ngồi bất động ở góc phòng, mặt mày hốc hác, ngơ ngẩn, lo sợ như kẻ mất hồn. Hạnh dấu kín không cho anh chị Huyền biết chuyện mình đã lén lút đi gởi cho Nam bức điện tín. Ôi! Bức điện tín dễ thương biết ngần nào! Nó là cái gạch nối, là nhịp cầu tri âm mang đến tin lành cho hai người; hay báo hiệu mưa gió giông tố trong đời đây? Nào biết được ra sao! Cô gậm nhấm nỗi muộn phiền, lo lắng nôn nao, ưu tư muốn cháy lòng, bồn chồn, run rẩy, băn khoăn trăm ngàn câu hỏi, khiến cô mệt nhoài.
    Mệt kinh khủng! Buổi cơm trưa ngày Thứ Sáu với môi son nhẹ, má phấn mỏng, áo quần tươm tất, đầu tóc vén khéo; một điều mà gia đình anh chị không bao giờ thấy khi em nghỉ ở nhà. Họ tưởng em đi ăn cơm khách. Sao cô làm như vậy? Nam rất ghét đánh phấn, tô môi son mà. Cô nhớ có một lần mình muốn “làm ra cái dáng thanh lịch đài các đỏm đáng” nên có đánh chút phấn, tô nhạt môi hồng, bối tóc cao, cô đi chơi với Nam. Ngồi trên sân Cù, Nam cười trìu mến lấy khăn tay lau hết phấn son trên mặt, anh ung dung thả mái tóc em xỏa dài ra, đằm thắm nói:
    - Da em mịn màng, em khá xinh đẹp và dễ thương rồi, em để tự nhiên coi ngộ hơn. Hạnh đánh phấn, anh nhìn em… dị ghê!
    Lúc đó cô mắc cỡ muốn độn thổ, có lẽ vì khuôn mặt mình lem luốc, sự ngố ngáo dị hợm vụng về không biết cách tô tréc ấy.
    Lúc ba giờ chiều, Hạnh thay áo quần, đạp xe ra phố đi vòng vòng trên bến Bạch Đằng, quán Bambo nhìn ra hai bờ sông Hàn lặng lờ nước chảy dưới bến Hà Thân, những khoan đò trôi lênh đênh trên sóng nước, kéo theo từng vệt khói dài do họ nấu thổi cơm chiều. Sao cô cảm thấy lòng phiền muộn, buồn bã, lo lắng, băn khoăn theo những đóm lửa bập bùng trong bếp lò kia quá chừng! Hạnh ghé tiệm lấy mấy áo dài đã may, rồi vội vàng về nhà. Ruột gan cô bắt đầu nóng rang như lửa đốt, cồn cào, xót xa như có ai lấy cào sắt mà cào vô người. Hạnh đi ra đi vào, đi tới đi lui, đi lên đi xuống, đi ra sân ngóng nhìn suốt hai hàng phố. Trở vô nhà, rồi lại ra bờ giếng, cô ngồi dưới gốc me, ngóng về đầu ngả tư Hùng Vương và Phan Chu Trinh, cô đi đi lại lại trong sự lo lắng, gần như tuyệt vọng. Đứng trước bàn thờ, Hạnh thành khẩn chắp hai tay lên ngực, với niềm tin tưởng tuyệt đối và hy vọng, cô thì thầm cầu xin Chúa ban cho mình có ước mơ tốt đẹp. Việc cầu xin nầy, đúng hay sai đây? Hạnh thầm xin Thượng Đế đừng giết thêm niềm hy vọng cuối cùng còn đọng lại trên khoé mắt người con gái trước ngưỡng đời hụt hơi, nhiều giông tố hôm nay. Hạnh xin ơn trên hãy dừng bão tố, thổi về đây những ước mơ tốt đẹp, với niềm tin yêu và hy vọng tràn đầy. Cô vẫn cầu xin, dù niềm hy vọng mong manh dần tắt theo buổi chiều phai nắng. Cô suy nghĩ: "có thể hôm kia trong lúc quá bối rối, run rẩy, bàng hoàng, âu lo, mình đã viết sai địa chỉ, nên bức điện tín kia không đến tay anh chăng!? Ôi bức điện tín “oan nghiệt” ơi! Giờ đây mi ở nơi nào? Vui lòng giúp ta đến đúng chỗ Nam nha. Ta có viết đúng nơi Nam ở tạm hay không? Ước gì mình có đôi hia bảy dặm vút bay, hoá thân thành cánh chim bằng lướt gió tung mây đi báo tin vui chính xác lúc nầy ha".
    Ngày mai... dù cho trước bình minh rạng rỡ, lóe lên ánh hào quang nơi đường chân trời, hay hoàng hôn phai nắng có dắt phấn thông vàng thấp thoáng dưới hàng cây im mát, cô phải đi vào vùng trời quê hương khói lửa, bên bụi bờ lau lách mịt mùng, dưới nắng gió khuya chiều nơi cuối núi đầu ghềnh, giữa hai lằn đạn nội thù giao tranh khốc liệt bên con suối bạc, nơi ngàn chốn sơn khê hải hà, nơi gần vùng biên cương quyết chiến một mất một còn. Nơi khói lửa chiến chinh phủ chụp kín góc trời mù mịt tang thương. Hoàng Phương Nam sẽ chẳng bao giờ gặp lại người xưa đâu. Hạnh gần như tuyệt vọng lúc kim đồng hồ treo trên tường chỉ sáu giờ tối. Thời gian chậm chạp trôi qua, niềm hy vọng mong manh tắt dần theo buổi chiều phai nắng trên đỉnh me xanh. Bỗng, có mấy tiếng gõ cửa bên nhà cô Thuận, kèm theo giọng thanh niên hỏi:
    - Xin lỗi bác, làm ơn cho tôi hỏi thăm: có phải nhà cô Hồng Hạnh, ở gần đây?
    Cô Thuận chưa kịp trả lời, Hạnh quay phắt lại, vội vàng chạy ra mở tung cánh cửa lớn. Hai người sửng sốt, nghẹn ngào, xúc động mất vài phút khi nhìn nhau không chớp mắt. Nam đứng chết trân trước cô, anh gỡ kính mát ra, thở dài. Chiếc valy da màu xám trĩu nặng hành trang bám bụi đường xa, áo sơ mi màu vàng nhạt, ô ca rô nhỏ, quần tây gabardin, đôi giày da màu trắng. Trải qua năm tháng ray rứt, dằn vật, tức tưởi, lẫn khổ đau vì cuộc tình gãy đổ rất vô cớ, đã rèn luyện, biến đổi anh trở thành một chàng trai trầm lặng thoáng ưu phiền, trên vầng trán anh in vài nếp nhăn, nét rắn rỏi kiên nghị, trầm tỉnh hơn. Chỉ riêng đôi mắt; đôi mắt Hoàng Phương Nam vẫn như xưa, đôi mắt ánh lên ngọn lửa tình long lanh, nồng nhiệt, đôi mắt đó không giống bất cứ ai mà cô đã gặp, đôi mắt ánh lên niềm trìu mến, thiết tha, không có gì có thể dập tắt được! Ký ức tưởng đã nhạt nhòa, tưởng đã lãng quên theo tháng năm, chợt bừng lên từ đôi mắt, dĩ vãng xa xôi một thời vàng son, trong sáng từ quá khứ đó, là hành trang cuộc sống, tràn đầy ân tình.
    Như sựt tỉnh trong vị trí xác định gia chủ, Hạnh run rẩy nép mình qua một bên, giọng nói yếu ớt, lạc hẳn đi:
    - Mời anh... vô nhà.
    Hạnh lảo đảo lập cập đi xuống nhà bếp như người say rượu, cô lấy hai cái tách để pha nước trà. Tay cô run rẩy, run đến nỗi dĩa và tách va chạm nhau kêu lanh canh, lách cách hoài, những giọt nước sóng sánh văng tứ tung. Đôi bàn tay lạnh giá cố ghì chặt lấy tách trà. Hạnh lảo đảo lờ đờ, ngu ngơ bưng trà lên phòng khách, cô đặt tách nước trước mặt anh. Cách nhau một cái bàn vuông nho nhỏ, Hạnh ngồi đó, Nam ngồi đây hoàn toàn im lặng và bất động. Mãi lâu, anh lại thở dài, lấy điếu thuốc Salem gài lên môi, quẹt lửa, anh thả từng ngụm khói lam mong manh, khói thuốc vờn quanh trước mặt hai người. Điếu thuốc thứ hai tàn, lại điếu thuốc thứ ba bắt đầu.
    Hạnh biết anh rất đau đớn mới hút nhiều thuốc đến thế, hút chết bỏ mà! Nhưng anh không hề rời mắt khỏi khuôn mặt người xưa. Anh nghĩ là cô đã thay đổi, ít ra là trên má phấn môi son coi “già giặn, tra trắn” kia. Còn cô chống tay lên cằm, cúi nhìn đăm đăm gói thuốc đặt trên bàn, đầu óc cô hoàn toàn rổng tuếch, tê liệt, hụt hẫng. Không thể chịu đựng sự lặng thinh đầy thách đố, sự giận hờn làm kiệt lực, nỗi bi thương tràn lên khóe mắt, làm trào hủ mật đắng lên miệng cô, lời lẽ vì thế cũng đắng cay theo:
    - Anh còn về đây tìm gặp em, làm gì nữa?
    - Em đã thay đổi, không còn như ngày xưa rồi ư?
    - Chuyện ngày xưa. Ôi, ngày xưa...
    - Anh nào... có tội tình gì đâu!
    - Trời! Em buồn và đau đớn quá!
    - Chưa biết ai đau đớn, hơn ai.
    - Biết vậy, sao anh về tìm em làm gì?
    - Anh xin lỗi, vì ngỡ rằng em còn nhớ đến anh.
    - Nếu không còn gì, thì sao?
    - Anh muốn trả lại em tất cả thư từ, hình ảnh của chúng mình.
    - Em không có gì trả lại anh. Tình cảm cho đi, chẳng bao giờ đòi lại được.
    - Về phần anh, anh muốn trao trả lại em.
    - Anh trả lầm người rồi. Không phải là kỷ vật của em.
    - Vậy thì giữa anh và em không còn gì để nói nữa. Chào em...
    Câu nói đột ngột của Hoàng Phương Nam, cũng như sự gặp gỡ bất ngờ, làm xót xa, ân hận, quặn thắt lòng Hạnh xiết bao! Nét diễm kiều, duyên dáng của một hoa hậu trên vùng trời Đà Nẵng biến mất, khiến anh không thể nhận thấy con ong xinh đẹp kia, đã dấu cái nọc độc ở đâu quá đỗi tài tình. Nam xô ghế đứng bật dậy, trong khi cô nhìn thẳng vào mặt anh, nói gần như hét to:
    - Anh ngồi xuống. Không đi đâu hết.

    Sau một lúc lưỡng lự, Nam chậm rãi ngồi phịch xuống ghế, tay chống lên cằm, anh lặng lẽ thở dài, nhìn cô đăm đăm. Có cái gì níu giữ anh chịu khó ngồi lại thế nầy? Có lẽ anh vẫn còn yêu em say đắm. Có lẽ anh còn nhớ nhung, đau khổ, dày vò, ray rứt bởi những nguyên cớ rối rắm, không chút lý do chính đáng? Hết sức phi lý khi cuộc tình hai người quá đẹp (như quỳnh hoa sớm nở lại chóng tàn). Hay có thể, trong anh còn sót lại ít tức tưởi, băn khoăn, ưu phiền, ngại ngần, nên anh chần chờ muốn ngồi lại, để tìm hiểu cặn kẽ nguyên nhân tại sao một hai cô đòi giã biệt anh? Nếu anh bỏ đi ngay khi câu chuyện chưa ngả ngũ ra sao, chưa rõ ra môn ra khoai (tại sao đang yêu nhau tha thiết, đùng một cái lại vĩnh biệt nhau, không thể có lời từ giã, giống hai người xa lạ), thì ra cái điều... anh trở về đây tìm cô, chỉ vì... chuyện nhỏ mà!
    - Anh tàn nhẫn lắm!
    Sau câu nói trên, như có bàn tay vô hình vừa cất đi khối đá đè lên tuyến nước mắt cô đã từ lâu ngăn giữ, đè nén lại, cổng đập đau thương đã mở toang cho hàng nước mắt trào lên mi, Hạnh úp mặt lên đôi cánh tay trần vòng đặt trên bàn, cô khóc, khóc, khóc... như chưa bao giờ được khóc. Cô biết mình quá vô lý khi nói: “anh tàn nhẫn lắm”!
    - Ủa, vậy chứ anh tàn nhẫn ở điểm nào vậy?
    - . . .
    - Anh có làm gì nên tội trong chuyện tình nầy?
    - . . .
    - Thật là rối rắm.
    - Anh đã đánh cắp trái tim em, và… anh bỏ nó ở nơi nào lâu vậy? Rồi thì do em cãi lệnh chị Khánh, vì em cứ yêu anh, nên em đã bị chị đánh, và bắt em phải về Huế, để xa anh. Khiến từ đó đến nay em phải thất học, em mù chữ nè!
    Hoàng Phương Nam ngồi im sững không thốt nên lời vì bật ngưã ra... bây giờ anh mới biết tại sao cô đi về Huế, và bặt tin. Nhưng Nam còn thắc mắc phân vân không hiểu anh tàn nhẫn ở chỗ nào trong thời gian chia biệt đã qua? Lúc đó, chị Huyền ở trong phòng đã nghe hết những mẫu đối thoại của hai người. Chị biết rõ chuyện từ ngày cô em theo má về Huế, nên chị chẳng ngạc nhiên khi “cậu ta” trở về tìm gặp em. Thương em, chị ung dung bước ra phòng khách, Nam vội đứng dậy chào. Chị chào lại Nam, rồi nhẹ nhàng đặt tay lên vai em gái, vỗ về:
    - Em làm gì mà ồn ào vậy! Việc gì cũng vậy, em hãy từ từ, bình tĩnh nói chuyện. Em vô nhà rửa mặt cho tỉnh táo, rồi ra đây. Nào. Đi đi.
    Hạnh vâng lời chị đứng dậy lui xuống bếp, lấy khăn rửa mặt. Chị ngồi tiếp chuyện Nam khá lâu. Sau đó, chị gọi em lên nhà, ôn tồn nói:
    - Hai em nói chuyện vui vẻ nghen, để chị xuống bếp biểu cái Tí nấu cơm. Chị mời Nam ở lại dùng cơm tối với gia đình.
    Nam nhất định từ chối, xin hẹn dịp khác. Chị cười cười:
    - Không sao! Còn nhiều dịp mà em. Cứ tự nhiên.
    Ngồi xuống ghế cũ, cô đã bình tĩnh đôi chút. Thẳng thắng nhìn vào khuôn mặt anh, Hạnh nhỏ nhẹ:
    - Anh định về đây đòi lại thư từ, hình ảnh của anh. Phải không?
    Nam chống tay lên cằm, đăm đăm nhìn khuôn mặt cô đã xóa hết phấn son. Anh nhẹ lắc đầu, tủm tỉm mỉm nụ cười duyên không nói. Lòng Hạnh dịu hẳn đi, cô ngẩn người giây lát, nước mắt trào quanh mi, rồi run run nói tiếp:
    - Em không nên lưu giữ kỷ niệm cũ, phải trả lại anh. Là đúng.
    Hạnh nhớm người toan bước đi, nhưng anh đưa hai tay ra phía trước ôm giữ cánh tay cô. Lắc đầu quầy quậy, anh vội vàng nói:
    - Hạnh à! thật ra anh về tìm em, không phải vì lý do đó.
    - Vậy, anh đi tìm em… có việc gì cần báo nữa?
    - Anh tìm em, để thỏa lòng nhớ nhung. Để biết rõ là... anh chẳng còn hy vọng gì. Để khẳng định một điều là em đã có chồng: Niềm đắng cay ấy đã trào lên bờ môi anh. Để bị em xua đuổi.
    - Chưa biết là ai phụ ai. Anh ác thật.
    - Em tìm câu nào nặng hơn la anh đi. Tuy nhiên, anh không thể biết: anh đã tàn nhẫn, và ác với em ở điểm nào?
    Bỗng dưng, Hạnh úp mặt xuống hai tay, òa khóc thật to như trẻ thơ đòi bánh. Nam vòng qua bên mép bàn, anh lặng lẽ đặt tay lên vai em, nhẹ nhàng vuốt mái tóc bồng bềnh quá dài đã xõa kín khuôn mặt. Anh biết cô rất đau khổ khi gặp lại mình, nhưng Nam không thể hiểu vì sao? Anh lấy chiếc mouchoir trong túi quần, nhẹ nâng cằm cô lên, từ tốn lau hai hàng lệ tuôn trào ướt đẫm cánh tay trần.
    - Xin lỗi anh. Đừng buồn vì những lời em nói.
    - Có nghĩa là Hạnh vẫn là... em yêu của anh?
    - Với Hoàng Phương Nam, em còn quá khứ, hiện tại, cả tương lai cuộc đời đang ở phía trước.
    - Ôi! Hồng Hạnh cuả anh.
    Đúng lúc nầy, Trúc dừng xe jeep trước sân, cô chạy xộc vào nhà, miệng la ơi ới:
    - Mai tụi mình đi theo phái đoàn ra Quảng Ngãi nè Hạnh.
    Trúc đứng khựng lại trước mặt Nam. Hạnh lúng túng đứng dậy, giới thiệu Trúc với anh. Trúc “À” lên một tiếng, cô ta cười rất xinh. Do Hạnh đã tâm sự, nên Trúc biết khá rõ về mối tình của hai người. Trúc biết nỗi đớn đau khi Hạnh tự ý chia-biệt anh. Trúc thoải mái, líu lo nói chuyện với anh tự nhiên như đã từng quen biết với Nam từ thuở nào. Trúc vội, vì sắp hết giờ làm việc, tài xế đang chờ ngoài đường. Trúc nói:
    - Thôi. Anh Nam về tìm bạn là phải. Nên hòa nhau đi. Hạnh ở nhà kỳ nầy, để mình xin phép anh Phi cho bạn nghỉ một tuần.
    - Hòa gì nỗi. Mình phải đi làm việc.
    - Đừng có trở chứng lên thế. Nên hòa với anh ấy đi. Bấy lâu nay mi khóc sưng cả mắt vì yêu anh Nam rồi, bộ không biết sao?
    - Ớ, anh Bửu sắp làm đám hỏi mình rồi. Hòa với hiếc gì!
    - Mình tin rằng “cô cậu” còn yêu nhau da diết. Nhất là giữa mi và anh Bửu chưa có một ràng buộc mật thiết nào, kể cả chưa có một lần tay nắm bàn tay. Vậy mi hãy bỏ cái chuyện lấy chồng lẩm cẩm cù lần và dấm dớ kia đi. Nha.
    - Sao hôm trước chính Trúc nói với mình: “Nên nhận lời lấy anh Bửu đi”, hở khỉ!
    - May chứ hôm đó mi mà gật đầu một cái là... “chết lúa tui” rồi!
    Nam hỏi dồn:
    - Em cùng đi với Trúc sao?
    - Đời nào. Trúc cho phép nó ở nhà đó anh.
    Trúc lại cười tít mắt, nói xong Trúc vụt chạy ra ngoài sân. Trúc nhảy lên xe jeep, xe lao đi cuốn theo lớp bụi khói bay theo gió rì rào.
    Nam thì thầm bên tai cô:
    - Em ở nhà, ngày mai đi ra Huế, với anh. Em nhen.
    Hạnh muốn từ chối lời đề nghị đó. Nhưng, thật là khó chối từ nỗi trước ánh mắt thiết tha, nụ cười khả ái, lời nói chân tình, lôi cuốn của “người ấy”. Trước sự quyến rũ dường bao của Nam, mà tuổi đời, trình độ kiến thức, tri thức, cung cách tao nhã, lịch thiệp, sự cao sang, đều hơn hẳn Hạnh, người mà cô yêu say đắm, yêu rất nhiều, khi người ấy đã y lời hẹn ước năm xư: "Anh sẽ trở về miền Trung, tìm lại em. Dù bất cứ giá nào, dù chông gai và thách đố" - như anh đã hứa. Cảm ơn anh yêu. Bởi vì cô muốn: "ANH là tất cả riêng EM":
    Em muốn viết tên anh.
    Thân như cây liền cành.
    Tên em tình sim tím.
    Ta chim én song hành.
    Yêu anh người khí phách.
    Tình đôi ta liền mạch.
    Vượt chiếc cầu Bến Ngân
    Qua gian lao thử thách.
    Dù trời xa cách đất.
    Tình yêu mình có thật.
    Gió mưa rừng lặng yên.
    Non cao mây hồng ấp.
    Anh đến trong tâm thức.
    Đôi ta càng náo nức.
    Tình son sao ngập ngừng.
    Nụ hôn đầu rạo rực.
    Buổi giao tình thứ nhất.
    Con tim yêu chất ngất.
    Giờ còn ai cấm nhau.
    Mỗi ngày là trăng mật.
    Đời ta vương hạt bụi.
    Gió mưa chẳng dập vùi.
    Đường tình quyện sớm tối.
    Hoa đời nở đóa vui..
    Trên phiến lá đong đưa.
    Gió Thu bay đầu mùa.
    Con tim ta mềm nhũn.
    Tình nồng mộng sớm trưa.
    (*)
    ***
    Tình Hoài Hương
    Bút trần nào tả được lưu luyến!
    Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
    Tình Hoài Hương

  4. The Following 4 Users Say Thank You to Tinh Hoai Huong For This Useful Post:

    BachMa (12-11-2019), khongquan2 (12-11-2019), muahong (03-26-2020), SVSQKQ (01-19-2020)

  5. #249
    Tinh Hoai Huong's Avatar
    Status : Tinh Hoai Huong v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Posts: 1,070
    Thanks: 4,513
    Thanked 4,017 Times in 898 Posts

    Default Khát Khao Tìm Về Hoài Niệm của Bạn & Tôi


    Khát Khao Tìm Về Hoài Niệm của Bạn & Tôi


    Nền trời phơn phớt xanh lơ điểm những lọn mây vàng sáng lơ lững trôi về nơi vô định. Xa xa xuất hiện đàn chim én bay qua kẽ mây trôi từ phương Bắc về. Tiết trời giá lạnh run rẩy đang yên ắng lạ thường, bỗng nhiên tiếng đàn, tiếng trống, tiếng kèn và phèn la vọng ra từ căn nhà xinh xinh bên sườn dốc (do ban nhạc đánh rất hay), ngón đàn điêu luyện chơi vơi trong bầu trời đẫm sương mù, vươn lên đỉnh thông, rồi lặng lẽ tan đi trong ráng chiều dần dần phai nắng: “Trời hôm nay thanh thanh, gió đưa cành mơn man tà áo. Làn mây xanh vây quanh ánh vừng hồng chiếu xuống niềm tin. Đàn chim non tung tăng như đón chào niềm vui thế gian, chúc ai vừa tìm được bến mơ… Mừng cho đôi uyên ương sớm sum vầy vui trong hạnh phúc…” (LP)
    Vào giờ phân giới giữa ánh rạng rỡ của ngày đầu năm mới và bóng tối Xuân về, thốt nhiên Anh Thư cảm thấy ngập tràn niềm vui, như cỡi trên con thuyền hoa hạnh phúc bất tận:
    Bấy lâu em còn nghi còn ngại.
    Bữa nay em kêu đại bằng “mình”
    Phụ mẫu hay được, không lẽ đánh mình giết em!
    (cd)
    Do bởi... í a ... là cũng tại cái bà Nguyệt, ông Tơ mà ra cả, chỉ vì... từ hồi xửa hồi xưa kia cà: Thuở đó chàng Vi Cố ngọan cảnh đêm trăng, thì gặp ông Nguyệt Lão râu tóc bạc phơ đang ngồi mân mê mớ chỉ hồng, mà ông ngồi làm chi trước tòa cổ miếu trầm ngâm suy tư hỉ!? Chàng Vi Cố lân la gợi chuyện làm quen ông lão, rồi khẩn khỏan hỏi thăm ông Lão Nguyệt: “người vợ sau nầy của mình là ai?”. Thì chàng được ông lão cho biết: “vợ của chàng sau nầy là một cô bé bán rau nghèo khổ”. Quả thật đúng y bon thật như vậy. Rằng thì là... cũng do từ đấy mà ra, chàng đã mạnh dạn ướm lời:
    Cái quạt mười tám cái nan
    Ở giữa phất giấy hai nan hai đầu
    Quạt nầy anh để che đầu
    Đêm đêm đi ngủ chung nhau quạt nầy
    Ước gì chung mẹ chung thầy
    Để em giữ lấy quạt nầy làm thân
    Rồi ta chung gối chung chăn
    Chung quần chung áo chung khăn đội đầu
    Nằm thời chung cái giường Tàu
    Dậy thời chung cả hộp trầu ống vôi
    Ăn cơm chung cả một nồi
    Gội đầu chung cả dầu hồi nước hoa
    Chải đầu chung cái lược ngà
    Soi gương chung cả ngành hoa giắt đầu
    (cd)
    Thế là Anh Thư đã dám bạo gan bạo phổi:
    Ai về bà Điểm Hóc Môn
    Hỏi thăm người ấy có còn hay không?
    Để tôi kiếm sợi chỉ hồng.
    Nhờ ông Tơ bà Nguyệt kết vợ chồng đôi ta.
    (cd)
    Giờ đây chúng mình mới có chuyện vui vẻ nè... cũng phải thôi:
    Ấy ai dắt mối tơ mành
    Cho thuyền quen bến cho anh quen nàng
    Tơ tằm đã vấn thì vương
    Đã trót dang díu thì thương nhau cùng.
    Hai anh chị ấy đã quyết chí hẹn thề với nhau:
    Anh đừng thấy “đăng” mà phụ “đó”
    Đừng chê em nghèo khó mà vội phụ phàng
    Anh coi đồng tiền sớm mai còn chiều mất
    Chớ nhân nghĩa bạn vàng vững chắc thiên kim
    (cd)
    Cho nên, mai chính thức là ngày hai Họ nhà trai và nhà gái làm đám cưới cho Anh Thư và Bửu Bảo! Anh Thư là con gái đầu lòng, ba me cô tuy gốc gác miền Trung nhưng rời quê hương khá lâu, gia đình lên Đà Lạt làm việc với hãng rượu Lafaro lừng danh, nên mọi việc từ trong ra ngoài, họ lo cho con gái chu tất toàn vẹn theo lối phương Tây. Bảo, con trưởng nam dòng họ vương tôn, giàu có và thanh lịch. Gia đình đôi bên có đủ yếu tố xây dựng gia thất cho con, để dòng họ thêm rộn ràng hoan hỉ, nở mày nở mặt.
    Ngoài kia, họ nhà gái huyên náo lạ thường, đàn ca, nhạc sống vui vẻ hết biết. Suốt đêm Anh Thư không dám nằm ngủ, vì cô sợ xẹp mái tóc đánh rối bới cao sẽ bù xù, mất thẩm mỹ đi, càng bực mình vì đôi giày cao gót cô chọn lầm, da giày cứng dày như da voi, cô vừa mang đi lui đi tới mấy vòng, thì gót giày tàn nhẫn “xơi tái” mấy miếng da chân, nên bi chừ rát bỏng, đau điếng. Mỗi lần cử động, nó đau lên thấu tim, dù Anh Thư se sẽ lê tấm thân phì lũ, đi nhè nhẹ, cà nhắc, cà nhót. Mấy phù dâu xúm lại trang điểm cho Thư, vì nước da của Anh Thư ngăm ngăm đen, ai ai cũng nói có làn da như vậy, thì có duyên. Nhưng cô bực tức khi có bạn đã chế nhạo:
    Chưa đi chưa biết Bà Đen,
    Đi rồi mới thấy đen hơn bà nhà,
    Bà nhà tuy có hơi già.
    Nhưng mà vẫn... trắng hơn là Bà Đen
    ”! (st)
    Chín giờ sáng! Nhà trai đã có mặt trước sân hồng: Hai gánh đi đầu là cặp ngỗng trắng nhốt trong lồng mây, nó luôn hoác mỏ khàn khàn khọt khẹt kêu réo inh ỏi. Tiếp theo là con heo mọi mập ú, ụt ịt quay lui quay tới trong cái cũi sơn đỏ, cột nơ hồng. Gánh thứ ba là vò rượu cẩm chôn bách nhật xủi tăm. Tiếp theo là tám khay mâm quả phủ nhiễu đỏ, viền tua vàng, do những chàng trai mặc áo xanh đỏ, đội nón lá mười vành khệ nệ trang-trọng bưng. Hai bên có những người đồng cổ phục cầm cán lọng dài màu vàng che nắng. Chàng rể mặc áo dài thụng màu xanh biển, chữ Phước, đầu chít khăn đóng, quần dạ trắng, mang giày thô đen. Chú tiểu-đồng lon ton xách theo bộ đồ “tuxedo” nữa. Chàng rể (tay ôm bó hoa của cô phù dâu) đi trước giữa hàng thân quyến cùng quý ông bà mệnh phụ phu nhân, bạn bè, bà con gia tộc nhà trai đi sau lưng.
    Tất cả dừng lại chờ, hai người mai mối bên họ nhà trai bưng khay trầu rượu tới trước sân hồng ra mắt quan viên hai họ. Ông mai bà mối xin họ nhà gái cho nhập gia tùy tục. Đại diện họ nhà gái đứng trên thềm hoa, xoa xoa bàn tay, vui vẻ thân thiện nhận lời. Mọi người hoan hỉ tươi cười trang trọng lục tục kéo nhau vô phòng nghinh tân. Ông mai bà mối nói năng lưu loát, vui vẻ cả làng. Các mâm sính lễ đặt trên chiếc bàn dài, cặp ngỗng và “chú hợi” đều được cột nơ đỏ v ô cổ, hai cái lồng để gần cửa chính.
    Ngày xửa ngày xưa muốn cưới hỏi, phải có đủ 6 lễ vật:
    Lễ thái nạp (đính ước giữa trai gái).
    Lễ vấn danh: (hỏi tên tuổi cô gái).
    Lễ nạp cát: (nhà trai trả lời bằng lòng).
    Lễ nạp lệ: (ăn hỏi).
    Lễ thinh ký: (lễ xin cưới).
    Lễ than nghinh: (Lễ cưới).
    Bi chừ là thời buổi văn minh tiến bộ nên giản dị nhiều thứ, nhưng lễ vật nhà trai vẫn sang trọng lắm: nào vòng xuyến, dây chuyền, bông tai, nhẫn, toàn nhận kim cương, còn kiềng chạm, dây chuyền trên năm lượng vàng y 24k (không kể quà bà con chú bác). Nghi thức diễn tiến tốt đẹp, đến lúc Anh Thư hồi hộp, rụt rè, được me vén bức màn nhung, dìu con gái rón rén e ấp thẹn thùng bước ra phòng nghinh-tân. Trong lòng cô ngổn ngang trăm mối, giờ phút chót Thư vẫn lo sợ nhà chồng chê “mình ú na ú nần”, nên cô rỉ tai anh:
    Lấy vợ xin anh lấy vợ ù.
    Tay em đầy đặn, tối em ru.
    Kê đầu anh ngủ êm hơn gối.
    Mộng đẹp, hiên ngoài gió vi vu
    ”. (st)
    Bỗng chốc bên phía nhà trai có vài mệnh phụ đài các chụm đầu vô nhau xì xào, chỉ chỏ bộ cánh “xê-rê” trắng, có tấm voan mỏng che mặt, đuôi áo dài lê thê sau gót chân, găng tay trắng dài lên tới cánh, cô đội vương miện lóng lánh kiễu nữ hoàng Anh qúy phái cao sang. Nhưng có người bên nhà trai nói trổng:
    - Trắng toát y như con ma da chết trôi, ớn lạnh hè. Thiệt là...
    Nhà gái tái mặt, vội xuề xòa:
    - Đồ trắng tượng trưng cho sự trinh bạch mà chị. Ngày cưới xin, ăn nói chi bậy bạ quá!
    - Ui xà! “Ở có nhân, mười phân chẳng khốn. Ở có đức, mặc sức mà ăn”.
    - Ở Huế thiếu chi O thiệt chảu, thằng Bảo mò lên núi làm răng mà bưng về một đứa bệ xệ dư rứa hì!
    Ai ơi chớ vội cười nhau
    Ngắm mình cho tỏ trước sau hãy cười
    (cd)
    - Phải. “Chỉ đâu mà buộc ngang trời.
    Tay đâu mà bịt miệng người thế gian
    ”. (cd)
    Họ xầm xì to nhỏ:
    - Để rồi chị em dòm coi nghe: thứ nớ trước sau chi sẽ giống như:
    Nhà tôi vô duyên lấy phải dâu dại.
    Việc làm thì trái, chỉ tưởng miếng ăn.
    Hễ bảo quét sân đánh chết ba gà.
    Bảo đi quét nhà đánh chết ba chó.
    Có mâm giỗ họ, miếng ra miếng vào.
    Rửa bát cầu ao liếm dĩa quèn quẹt.
    (cd)
    Lời qua tiếng lại nghe chói tai nhức nhối con tim, thật khổ hết biết! Nhưng có lẽ khổ nhất là ông Tơ cứ chạy qua bên nầy, thì bà Nguyệt lo chạy lăn xăn về bên kia năn nỉ ỉ ôi khi hai họ cứ đốp chát châm biếm và thộn mặt ra, coi thiệt dễ mích lòng dễ xa nhau ghê nơi, thấy sợ. Trong khi ngoài sân pháo bắt đầu nổ rền trời, nổ dai dẵng... Tôi đi phù dâu thường nghe chuyện cãi cọ, đôi co, hay hai họ có làm gì, tôi cũng chả cần lo chuyện ruồi bu của người khác. Tôi chỉ sợ pháo văng trúng, sẽ cháy áo quần, mà bộ đồ vía nầy là do đồng tiền cần cù lao khó của mình làm ra, nên có mà diện lấy le chút với thiên hạ, chứ cô dâu chú rể chả ai lo cho! Tôi vén váy áo ngồi thụp xuống nền nhà, nhắm mắt bưng đầu vì pháo tống pháo đại nổ muốn điếc con ráy.
    Khi nghe nhiều tiếng kêu rú thất thanh vang lên, tôi đứng phắt dậy ngơ ngác nhìn quanh: Hai con ngỗng nghe pháo đì đùng nổ hoài, “nổ dai nhách” văng trúng nó, nên chúng hoảng sợ tống cửa lồng, một con bay lên bàn đạp đỗ bình hoa, lễ vật, ly tách, bánh rượu, trái cây. Khi người nào đó túm bắt được con ngỗng đực, ông ta vặn ngược cổ nó lui sau lưng, thì trên bàn lộn xộn không còn gì ráo. Con ngỗng kia cứ nhướng cổ, quạt cánh nhắm mấy khuê nữ đài các mặc áo dài màu vàng, màu xanh, đỏ chói mà te te rượt theo họ. Khiến mọi người xô đẩy đạp lên nhau né chạy... chạy tá lả. Con heo mọi ụt ịt càng hoảng sợ, nó hất chiếc lồng cũi ngã lăn cù cù, nó hét tướng lên kêu eng éc, éc éc... rồi nó cạp nắp đậy, sổng cũi, nó trợn trừng hai mắt vừa chạy vừa ị ị ị ra mấy cục phân vương vãi lung tung, nhão nhoẹt, thúi um.
    Hầu hết mọi người sửng sốt, chết trân ngơ ngác nhìn cảnh tượng khá bất ngờ. Nhưng người đau khổ nhất là Anh Thư, cô đứng chịu trận hơn một giờ (do những thủ tục nhập-gia rườm rà), nên đôi chân Anh Thư càng lúc càng sưng húp, vì mấy vết thương cọ xát từ đôi giày mới, thành ra mạch máu giật tưng tưng từng cơn đau nhói. Cô mệt đừ, mồ hôi vã ra như tắm, mặt mày cô tróc dần phấn son, trông cô lem luốc trổ đồi mồi như con mèo vá. Tự dưng bụng đói cồn cào, cô hoa mắt, chóng mặt, và bất thình lình Anh Thư lăn cù ra như con heo mọi kia mà bất tỉnh nhân sự.
    Hai cô phù dâu hoảng hốt, luống cuống vội vàng nâng Anh Thư dậy, Trầm Mây và tôi đều thon thả gầy ốm, (so với biệt danh “Thư tán phẩm ú nù”), chúng tôi vẫn cố sức làm tròn nghĩa vụ phù dâu, mỗi người kéo một cánh tay của Anh Thư để quặp vô cổ mình kẹp cô dâu ở giữa, chúng tôi ra sức kéo lôi Anh Thư xềnh xệch đi vô “the-phòng”. Các bạn gái khác thì không ngớt xoa dầu gió cho Anh Thư, cạo gió, giật tóc mai cô dâu.
    Dần dà thì Anh Thư cũng hồi tỉnh lại. Thật uổng công mái tóc “búp Ănglê” mà Anh Thư sợ hư đã ngủ ngồi suốt đêm qua, giờ đây tóc bù xù như tổ quạ. Anh Thư vội bảo Mây ra phòng khách lấy hộp quần áo sính hôn, vì giờ đi xem lễ sắp đến. Các bạn gái mỗi người một tay xúm lại lo chải chuốt, trang điểm cho Anh Thư. Ba me của cô muốn Anh Thư diện bộ cánh thời trang “xê rê” lộng lẫy nhất. Nhưng… Mặc! Về nhà chồng thì cô dâu cần phải lấy lòng bên họ nhà chồng đã may áo quần cho con dâu chứ. “Thuyền theo lái, gái theo chồng. Chồng đi hang rắn, hang rồng, vợ cũng phải theo” mà! Nhất là:
    Ai chèo ghe bí qua sông
    Đạo nghĩa vợ chồng nặng lắm ai ơi!
    (cd)
    Phải rứa không nà en Bảo! Anh Thư đội khăn đóng vành dây đỏ mạ vàng cao chín tầng quá rộng, nên nó tự động sụp xuống tận mắt. Thỉnh thoảng Anh Thư phải lấy tay đẩy “cái khăn hoàng hậu” lên. Vì mạ chàng rể không ngờ bây giờ cô dâu ốm hơn ngày trước, khi mạ đi lên Đà Lạt làm đám hỏi cô. Phần Anh Thư do lo lắng chuyện cưới hỏi, nên ngày nay cô đã sút mất bảy tám cân! Thành ra áo quần mạ may từ năm trước, nay rộng thùng thình! Cô mặc áo dài nhung đỏ may tà Bắc, quần sa tanh trắng “rô-đê” dưới gấu, khoát ngự uyển bên ngoài. Chuyện áo quần rộng không thành vấn đề, cô chỉ buồn buồn khi đội khăn đóng, và đôi hài đỏ. Hồi ấy do hai họ trai gái ở “ngăn sông cách núi” xa xôi ngàn trùng, chuyện đi lại gặp gỡ bàn tính với nhau bất tiện trăm bề, họ chỉ liên lạc bằng thư gởi đi cả tuần mới bắt được tin. Bảo viết thư về cho mạ, ghi số đo để mạ may áo quần, và đo số chân của Anh Thư, mạ đi đặt đôi hài cườm có thêu con rồng vàng uốn khúc hai bên mép hia. Mạ thích tự ý diện cho con dâu í mà! Mạ lẩm bẩm:
    - Viết cái chi lem dem nhỏ xí ri hè? Viết không rõ ràng nơi, số 40 hay 46 hỉ? À... suy ra con dâu mình có da, có thịt, phúc hậu như rứa, thì ta cứ đặt cho con số 46 hỉ! Số lớn số nhỏ chi cũng từng nớ tiền. Chi bằng, cứ đóng số lớn xí, thì rẻ, mình có lợi được giày to, mà không bù trả thêm tiền ở khoảng to nớ. Cho tiệm giày hắn lỗ chổng khu luôn.
    Thành thử đôi hài rộng rinh, ẻo qua, ẻo lại càng khó khăn khi Anh Thư cất bước đi. Tuy được một điều là đôi hài rộng không cứa vô chỗ đau ở mấy vết thương rát bỏng dưới gót chân cô. Mọi xáo trộn rồi cũng dần qua. Thay vì cho đám rước đi bộ trên đoạn đường ngắn làm lé mắt mọi người, để thiên hạ tha hồ ngắm nhìn, trầm trồ khen ngợi đám cưới cao sang, long trọng, & lom lom dòm đoàn người hộ tống cô dâu che tán vàng, tán tía như cha mạ chú rể ước mơ dự tính. Cha mạ chồng sợ cô dâu lại lăng đùng ra một lần nữa như khi nãy, thì nguy to. Nên họ nhà trai đồng ý gấp với họ nhà gái, cùng nhau leo lên những chiếc xe hoa nối đuôi chạy dài dài đến giáo đường con gà đứng trên tháp chuông cao ngất. Dưới những chòm thông xanh reo vi vu, giáo đường Chính Tòa Đà Lạt tô màu gạch viền trắng uy nghi, sừng sững, nhà thờ tọa lạc trên vùng đất phóng khoáng, vươn lên trời xanh mênh mông. Hàng xe hơi khoảng mười lăm chiếc đã đậu đúng hàng lối trước sân giáo đường.
    Nếu đi trên mặt bằng, Anh Thư có thể kéo lê “đôi hia một dặm” lết lết theo bàn chân co cứng đau nhức tê tê, cô cố dí sát mấy ngón chân vô đầu mũi hia, cô dồn toàn lực bấm mười đầu ngón chân ngỏ hầu cố giữ đôi hia không rơi. Nhưng, khi cô muốn giở hai chân cao hơn để bước lên những bậc cấp, thì lực bất tòng tâm. Mười đầu ngón chân Anh Thư mỏi mệt, ương ngạnh, xuội lơ, tê cứng... nó không tuân phục theo ý muốn của cô. Thế là chiếc hài rời chân, ung dung rơi lông lốc xuống cuối những bậc cấp nhà thờ chính tòa cao ngất.
    Trầm Mây ngẩn ngơ giây lát rồi vội vàng xắn quần áo đẹp, chạy xuống lượm hia lên, Trầm Mây đưa hia vô tận chân cô dâu. Anh Thư vịn tay vô vai của tôi, Thư xỏ được chiếc hài nầy thì chiếc hài khác lỏng lẻo lăn đi. Anh Thư cúi đầu nhìn xuống, để xỏ chân vô hia. Báo hại thay chiếc khăn đóng rộng vành che sụp xuống tận mũi. Thư không thấy đường, nên cô đạp lên vạt áo dài lụng thụng lết bết trên bậc cấp. Áo dài Thư đứt hàng khuy nút bóp, nên bị lòi vú mớm ra. Cô hổ thẹn, luống cuống vội vàng quơ quơ tay kéo ngự uyển đậy lại.
    Trong lúc tình cờ lây lan sự dị hợm nầy, tôi mắc cỡ muốn độn thổ, lúng túng lo lắng nhìn chằm chằm vô mặt Anh Thư, vừa bối rối và lúng túng không biết làm sao, làm gì… ngỏ hầu ráng chăm sóc tốt cho bạn, nên tôi bị hụt bước chân trên bậc cấp. Thế là tôi ôm bạn té lăn cù cù xuống đủ hai vòng. Chu choa ơi! Bộ giò cô dâu lặt lìa lặt lọi, bị trặc mất toi rồi! Còn tôi thì tím bầm ở hai đầu gối, sưng to như đầu gối voi, đau kinh khủng! Hai phù dâu lại một phen nữa mệt toát mồ hôi hột, tôi cà dẹo cùng Trầm Mây xốc nách Anh Thư dựng cô lên! Chúng tôi quàng cánh tay Anh Thư vắt qua cổ mình, liếc nhìn nhau mà hổn hển hô to: “một... hai... ba...” để lôi Anh Thư, và cả tôi lặc lìa lặc lọi một chân chấm một chân phết lết lết từng bước lên những bậc cấp cao, cho chắc ăn, cho chắc cú. Chớ cái kiểu nầy tôi mệt muốn ngủm! muốn ngoẻo!
    Sự việc xảy ra đột ngột quá nhanh, dù Bửu Bảo đang đứng gần chúng tôi, ấy thế mà chàng rể thừ người trơ trơ lỏ mắt dòm, không kịp phản ứng gì! Lúc đó mặt mày cô dâu, chú rể đỏ bừng như con gà lôi, chuyển sang tái méc. Mà người tiếp nhận tái méc mau nhất là mạ chồng! Hai họ đứng chết trân dường như tê liệt, họ kinh ngạc há hốc miệng. Bỗng chốc mọi người xôn xao đồng loạt cất tiếng cười ngất (trước nỗi đau của người khác). Họ quên lửng “bộ đồ vía” gây ra nông nỗi tệ hại kia, là do chính Họ nhà trai cất công đi mua sắm. Lúc nầy, hai phù dâu quá mệt, đi đứng như kiểu cà thọt tango, hay cha cha cha không còn hơi sức đâu mà cười. Cười, cười… cái gì? mà buồn cười nhỉ!
    Tất cả mọi người đã vô an tọa trong nhà thờ, chỗ nào ra chỗ đó có thứ tự lớp lang hẳn hoi. Nhưng ai ai cũng lo ra, khi thấy tôi đi kiểu cà dẹo thì có hai mệnh phụ đài các tỏ vẻ quan tâm tới tôi. Họ cũng lăng xăng chạy lên nơi an ngự cô dâu chú rể mà to nhỏ rù rì, rồi lấy dầu gió xoa xoa, nắn nắn bóp bóp bàn chân, ống chân của Anh Thư. Điều nầy vô tình gợi nhớ tới “tích xưa”; nên thỉnh thoảng có nhiều tiếng cười cười khúc khích nổi lên đây đó. Khiến cha chủ tế ngoại quốc đứng trên bục giảng ngạc nhiên ngỡ ngàng lắm. Cha Gérard Gagnon ung dung nhìn mọi người vui vẻ, từ tốn mở lời:
    - Hôm nay, hân hạnh "dứng" trước "quỷ" ôn bà, anh chị em, và “co dau chú rẻ”, tôi xin "cào" chúc anh chị trăm năm "hạn phút", răng "lông" tóc bạc suốt đời. Nào: "quỷ" ông bà anh chị em hãy nhìn xem: trên bàn thờ đã có hoa mai, hoa lan, “hoa hòng, hoa hệ và hoa cút””...
    Nhiều tiếng cười đồng loạt bùng vỡ, vang dậy khắp đó đây từng hồi. Cha chủ tế ngạc nhiên, sững sốt nhìn xuống khắp lượt trong nhà thờ, ngài không hiểu chuyện gì, tại sao giáo dân lại cười trong giờ làm lễ uy nghiêm trang trọng thế nầy!? Rất vô tư lự, ngài dõng dạc tiếp:
    - Ơ hơ! Anh chị em sao lại không nghiêm trang trong giờ Lễ vậy!? Anh chị đang "cưới" ai, “cưới” cái gì vậy? Anh chị em có muốn thích "cưới nhau", thì xin hãy ra ngoài sân mà “cưới”. Ở trong nhà thờ nầy thì chỉ làm "lễ cười". Mà "lễ cười", thì có gì mà "cưới" chứ?!
    Ụi! Trời đất quỷ thần thiên địa tổ tông ông bà cô bác anh em cháu chắt ới! Cả nhà thờ ai ai cũng ôm bụng bò lăn bò càng ra mà cười vang. Cười thật to, cười ngất, cười nắc nẻ, cười ra nước mắt, cười mệt xỉu. Chịu không thấu. Cái điệu nầy chắc mọi người bị bễ bụng mà chết nhăn hai hàm răng vẫn cười hi hi ha ha quá! Rất may, có một vị trung niên bước lên bục giảng chúm chím cười cười duyên ơi là duyên. Ông ta dõng dạc dùng ngôn ngữ tiếng Pháp nghe mạch lạc để xin lỗi cha. Ông giải thích về việc ngài phát âm hơi lệch lạc, “méo mó nghề nghiệp âm tần” xí. Thế nên từ ngữ bị sai sót chi chi đó.
    Á, thì ra...! Sau khi cha Gagnon hiểu nguyên nghĩa, hiểu từ trước khi họ nhà trai tới nhà gái, lúc chúng tôi đến ở ngoài sân nhà thờ, và ở trong nhà thờ lúc nầy; mọi việc đã xảy ra tuần tự ra sao. Tại sao mọi người trong nhà thờ “đều thích cưới nhau”. Vị linh mục không ngớt xin lỗi, và đã cười rõ tươi, cha vui vẻ thoải mái quá chừng chừng! Phải hơn hai mươi phút sau thánh lễ mới bắt đầu trong sự “lo ra”. Cả cha chủ tế vẫn tủm tỉm cười khi dâng lễ!
    Sau giờ lễ, hai hàng xe hơi dài chạy lên sát cửa chính điện của nhà thờ chính tòa, chứ xe không đậu ở giữa sân, dưới những bậc tam cấp như hồi nãy nữa. Tất cả mọi người mệt đừ, vì kiệt sức, mỏi nhừ hay vì cười ngất? Chả biết. Hai họ nhà gái, nhà trai, đều quên chuyện giận hờn, xoi tì xoi tướng nhau, họ đã thân mật xiết bao, ôn nhu hoà ái vui vẻ cả làng. Thượng khách ngồi vô bàn, nhâm nhi sơn hào hải vị: Nấm đông cô, tóc tiên, mực khô, bát trân, bào ngư, vi cá, yến xào, đùi heo, tôm hùm, do đầu bếp số một bên Thượng Hải qua Việt Nam đảm nhận ở nhà hàng Nam Sơn. Họ nâng ly chúc tụng nhau vui vẻ, nét mặt rạng rỡ, hân hoan. Bác phó nhòm Châu thừa thắng xông lên tha hồ chụp ảnh... lia chia khi dưới giàn thiên lý em đã...
    Trên giàn thiên lý
    Bướm tìm hoa hút nhụy vẩn vơ bay.
    Cánh chuồn chuồn giỡn nước bến sông mây.
    Xuân thấp thoáng trên hàng cây mai trắng.
    Buồm gió ngư ông về xóm vắng.
    Tiếng tiêu mục tử vọng sông dài.
    Dưới hàng cây thiếu nữ nhẹ chân hài.
    Trong đám ấy có người ngày mai tách bến.
    Mộng xuân đó ai không về lỗi hẹn.
    Cho người buồn khi bến vắng không.
    Thuyền hoa em đã theo chồng!
    (*)
    ***
    Nay, mùa Xuân lại về, nhớ ơi là nhớ kỷ niệm ngày xưa, tôi xin cung-hiến độc giả thân mến chuyện Tết và một đám cưới chỉ có một, (không thể nào xảy ra y chang như vậy lần hai, hoặc với bất cứ ai) do: “Một cành dâu, năm bảy cành dâu. Bên tài bên sắc lấy nhau cũng vừa” (chàng là sinh viên sĩ quan Võ Bị. Nàng xinh xinh là cô thợ chính của một tiệm uốn tóc nổi tiếng) đã khiến tôi rất mệt, nhưng thiệt vui và có thật, mới chết. Nhiều người cử tưởng trong ngày cưới mà “lộn xộn” như vậy, ắt không chóng thì chày sau nầy thế nào cũng có sự “lôi thôi to”. Dạ thưa, không phải ạ! một cảm tình trân qúy đã xảy ra trong đời tôi & anh chị Bảo Thư thiệt vui hết biết, khi họ đã có bảy nhóc tì ngoan hiền xinh đẹp, họ thật sung sướng trong hạnh phúc ngút ngàn: “Màn hoa lại trải chiếu hoa. Bát ngọc lại phải đũa ngà mâm son”. Năm mươi năm rồi đó, Trầm Mây và Anh Thư nhỉ! Mặc dù chúng ta ít có cơ may gặp lại nhau, nhưng, mỗi lần mở tập album ra, thì trong lòng Hoài Hương dậy lên ngọn sóng dạt dào tình luyến nhớ, hoài mong, ngây ngất nỗi khát khao tìm về thời niên thiếu tươi trẻ xa mờ xa, với giấc mộng quan hoài vụt bay cao trong tầm tay với, khi tuổi đời mình đã nhuộm vàng hanh mái tóc phong sương trên dòng đời phai nắng...
    *
    (*) Thơ Tình Hoài Hương

    Tình Hoài Hương
    Ngày vui tuổi đôi mươi
    Bút trần nào tả được lưu luyến!
    Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
    Tình Hoài Hương

  6. The Following 4 Users Say Thank You to Tinh Hoai Huong For This Useful Post:

    BachMa (01-21-2020), khongquan2 (01-19-2020), muahong (02-16-2020), SVSQKQ (01-19-2020)

  7. #250
    Tinh Hoai Huong's Avatar
    Status : Tinh Hoai Huong v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Posts: 1,070
    Thanks: 4,513
    Thanked 4,017 Times in 898 Posts

    Default Chiếc Nhẫn Cỏ Len Lén Gợi Tình

    Chiếc Nhẫn Cỏ Len Lén Gợi Tình


    Ánh bình minh êm êm tươi vui hé mắt chiếu tia hào quang rạng rỡ trên đồi hoa mimosa vàng óng lóng lánh xuyên qua lá cành. Mùa Xuân đã ríu rít xôn xao đến sau lưng đồi cỏ ở khách sạn Palace. Trên chóp đỉnh hàng thông rét mướt và ngái ngủ, đã chuyển mình triền miên reo vi vu. Đà Lạt ướt đẫm sương mai, xứ Đà mọng nước giăng mắc các mạng nhện đó đây, con nhện lắc lư đưa qua đưa lại, thoăng thoắt dệt muôn sợi tơ mỏng dính. Những con chim én lảnh lót líu lo ríu rít cất tiếng chào đàn, nghe vui tai quá chừng.

    Dưới gốc thông già, có hai mái đầu xanh dựa lưng vô thân cây. Kế bên chỗ hai người có nhiều bụi cỏ chỉ, cỏ ống đã nở hoa trắng, hoa nâu nho nhỏ. Họ ngồi bên nhau tíu ta tíu tít hân hoan nói chuyện tình yêu, tay cô e dè bứt những cọng cỏ chỉ sợi nhỏ dẽo dai, và cỏ ống xanh xanh thân lá giẹp. Họ cùng chụm đầu vào nhau lúi húi làm chiếc vòng ngọc, vòng chuỗi dắt đầy chùm hoa vàng. Cuối cùng, họ làm xong hai chiếc nhẫn cỏ nho nhỏ quá xinh. Anh đeo chiếc nhẫn cỏ (do anh làm) vào ngón tay đeo nhẫn cho em, và đeo dây chuyền cỏ xanh cài hoa mimosa lên ngực cô gái. Rồi anh đeo chiếc vòng “ngọc cỏ ống” vô cườm tay cho cô. Cô gái chỉ đeo chiếc nhẫn cỏ vô ngón tay chàng trai phong trần. Cả hai anh chị thích thú giơ bàn tay đeo đầy “châu báu ngọc ngà” lên cao lắc lắc, hai người hồn nhiên hớn hở vui vẻ cười tươi!
    Người con trai từng trải, chững chạc, dạn dày kinh nghiệm, lả lướt phong sương mưa gió, ấy thế mà hôm nay coi anh hơi bối rối, e dè, lúng túng, băn khoăn nhìn trước ngó sau, rồi e dè thò tay vào túi áo, anh lấy cái hộp hồng thắt nơ đỏ nho nhỏ xinh xinh mở ra, anh từ tốn nhón chiếc nhẫn Võ Bị lên, bằng cử chỉ tình si, anh khẽ khàng mà trang trọng lồng chiếc nhẫn vô ngón tay trỏ của người con gái (vì chiếc nhẫn quá rộng).

    Cô gái thảng thốt và bẽn lẽn muốn lên tiếng hỏi, nhưng bờ môi mím chặt, lưỡi líu lại, ngập ngừng do dự, cô chúm chím cười, e lệ cúi đầu đón nhận ân tình trao đưa. Tuy nhiên cô cũng lanh trí đã tháo chiếc nhẫn vàng 18K có hột xanh lục của mình đang đeo trên ngón tay, nhút nhát rụt rè bẽn lẽn cô đeo vào... ngón tay út của người ấy. Sứ giả len lén gợi tình yêu thì-thầm vẫy gọi chào mời... Họ xác nhận tình yêu đến trên mười ngón tay khe khẽ run run lồng vô nhau, “anh và em” đằm thắm siết nhẹ, ấm áp, trữ tình, dìu dặt nốt nhạc rung trên mỗi phím loan; như lời tình tự lúc trao nhẫn cỏ, tuy đơn sơ mà sắt son hứa hẹn nồng thắm duyên sau bền lâu:
    Biển rộng sông dài thuở anh đi
    Người rong mỏi gối ước mơ gì?
    Buồn trong ánh mắt đau niềm nhớ
    Đường đời uốn khúc chưa buồn nhỉ!

    Trời tím hoàng hôn chẳng hẹn kỳ.
    Ráng chiều câu bóng góc tường vy.
    Dắt nhau về tương lai đã hứa.
    Đôi cánh én dệt mùa Xuân nữa.

    Từ đấy màu mây tóc thuở xưa
    Ưu tư sầu muộn mấy cho vừa
    Khung trời tím ngắt trông chim nhạn
    Đường đi gập ghềnh sao chẳng ngán!?

    Ta cùng hẹn trao nhẫn cỏ đưa
    Nắng hồng e ấp nhánh cây thưa
    Đong đầy nỗi nhớ buồn vời vợi.
    Vòng nhẫn cỏ, nhắc mình mơ nữa

    Sanh tình ấp ủ nhớ chuyện xưa.
    Thẹn thùng tố nữ trong chiều mưa
    Vì anh hứa: - “Một đời miên viễn
    Cung nghinh em về liếp tranh thưa...”

    Ôm mộng ngày xanh tóc rối bời
    Người đi muôn dặm áng mây trôi
    Nhớ vòng nhẫn cỏ nơi xưa hẹn
    Xuân mộng đôi mình én sánh đôi.
    (*)

    Cảnh cử xử thanh nhã kèm theo những lời tình tự âu yếm, anh phân tích các vấn đề về: đời sống, kinh tế, xã hội, công việc làm của tôi: khá mạch lạc, thực tế và tiết độ. Xét chung chung về Cảnh, tôi thấy thể hình anh cân đối, vừa vặn, được trai, cũng giống như các bạn trai khác (bạn nguyên nghĩa), lúc đầu tôi cứ nghĩ là họ đẹp trai mà tôi mến. Nhưng kỳ thực sau nầy tôi nghiệm ra: không hẳn tôi mến thích họ, là do họ đẹp trai đâu. Vì, họ đều là “người hùng mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười”. Ai cũng có những yếu điểm, phát huy những cái tốt có giá trị cao về ưu điểm đáng yêu và ngưỡng phục khác.
    Vấn đề cần chính ở tình yêu lứa đôi là sự thấu hiểu nhau, thông cảm sâu sắc, tế nhị, bao dung, độ lượng, ân cần chia sẻ, chân thật, tri thức, và thủy chung tin yêu nhau rất mực. Chứ nếu tôi chỉ phiến diện nhìn “cái mã” bên ngoài, nếu “ai” cứ đẹp trai cho lắm vào, mà “hắn ta” dùng thủ thuật ấy, để chuyên môn đi: lừa phỉnh, dối trá, dùng đủ thủ thuật lừa gạt người khác, nếu “ai” không đẹp nết, thì cũng hoài của, vứt bỏ cuộc đời uổng mạng: cho thân nhân, chúng bạn chưởi bới; thì hắn chỉ chuốc thêm nhục nhã, xấu hổ, nhơ danh riêng hắn và cả dòng họ hắn thôi.
    Vòng tay rắn chắc, Cảnh đa tình đầm ấm chủ động ôm ghì lấy tôi, và đằm thắm đặt nụ hôn lần đầu tiên rất dài, ngọt dịu, nồng nàn, đắm đuối lên bờ môi tôi mát lạnh. Những nụ hôn nhẹ nhàng, ân cần ngọt ngào mà không vồ vập, không lộ liễu, khiến tôi rất vừa ý. Cảnh cư xử với mọi người trong gia đình tôi chừng mực và tế nhị, tính tình Cảnh thành thật ôn nhu vui vẻ, đơn sơ. Ít khi anh quá trớn vui đùa, hay nói chuyện (tiếu lâm) thô tục ba xàm ba láp. Anh ưa đi thẳng vô vấn đề chính: có mạch lạc, khúc chiết, khôn ngoan và tinh tế. Mặc dù đôi khi anh cũng ưa hờn mát, nổi nóng chút (khi có “người khác” nháy mắt nheo mày lả lướt hoặc buông lời… “làm quen tôi”). Tuy nhiên, khi buồn, Cảnh không la lối gắt gỏng ồn ào, không nhăn nhó. Anh chỉ lặng lẽ mặc áo ra về, hay đi đâu đó một mình cho khuây khoả xí.
    Tôi nhận thấy anh có thể là một người bạn đời biết đủ mọi lịch lãm, khôn ngoan, một người bạn đường vẹn toàn tin cẩn. Một người yêu khả dĩ đem lại hạnh phúc lứa đôi. Bến bờ nầy, có phải là “hạnh phúc cuả hiến chương tình yêu đích thực riêng tôi"? Hạnh phúc! Là mình ở trong trạng thái sung sướng hoàn toàn, thấm đẫm sự tuyệt vời, vì cảm thấy "hai mình" tâm đầu ý hợp toại nguyện chăng? Tôi không muốn sa vào cái định nghĩa có vẽ như trừu tượng, mơn man, mơ hồ, như vừa ảo lại vừa có thật ấy. Chỉ biết là bây giờ tôi rất vui, hãnh diện, hân hạnh, bằng lòng, mãn nguyện khi có Cảnh trong đời. Và, tôi chưa thể nghĩ đến ngày mai… con sóng tình có còn vỗ mãi những âm thanh thân thiết, thật đầm ấm ngọt ngào nầy không? Vì chẳng thể biết ngay mai chúng tôi sẽ ra sao!?
    * * *

    Chỉ có ngày nghỉ cuối tuần vào chiều Thứ Bảy, hoặc nguyên ngày Chủ Nhật, Cảnh mới được phép xuất trường. Có tuần anh phải “ở nhà” ứng chiến, trực ban. Nên khi anh có phép, chúng tôi hay đi đây đi đó chơi, cho anh khuây khỏa, ước mong anh khỏi căng thẳng đầu óc mệt nhoài vì học tập. Hoặc anh luôn bị tù túng trong bốn bức tường, do kỷ luật sắt ở quân trường Võ Bị bó buộc chân tay Cảnh quá nhiều. Chúng tôi thường lên taxi đi thăm các thắng cảnh. Không nơi nào mà không có bước chân đôi trẻ dẫm lên. Chúng tôi ưa dạo phố ngày Chủ Nhật, cùng đi thưởng ngoạn các thắng cảnh Đà Lạt, vô rạp xem ciné. Đôi khi chúng tôi lượn vài vòng phố, ghé tiệm chà và, tiệm sách mua sắm vài thứ cần thiết. Ít khi Cảnh muốn làm phiền ai, nên anh không ăn cơm ở nhà chị Tuế, chúng tôi vào ăn hủ tiếu Nam Vang ở đường Minh Mạng. Đi ăn trưa, ăn tối ở các tiệm Nam Sơn. Phở Bằng. Phở Tùng. Nhà hàng Mé Kông. Tiệm ăn Như Ý. Cảnh thích nhất là vô phê Tùng, nơi nầy thanh lịch, đa số khách sành điệu ưa ngồi trong khung cảnh huyền hoặc, nên thơ, nhạc êm dịu mở vừa đủ nghe. Khách im lắng thả hồn vào những dòng nhạc trữ tình, họ luôn trầm tư, mơ màng trong khói thuốc, bên ly cà phê sánh đen nhỏ từng giọt, từng giọt đen tròn, lóng lánh từ chiếc ly thủy tinh trong suốt phả hơi nóng hổi. Khách nói chuyện nho nhỏ, ung dung tự tại nhâm nhi cà phê, mà không bị làm phiền bởi bất cứ ai tò mò. Nhất là anh Tùng chỉ cho mấy cậu bồi tí hon bưng cà phê, thì hết ý, (đặc biệt tiệm cà phê Tùng không hề có nữ tiếp viên ỏng ẹo ưa nhoi nhoi cái đít vịt).

    Đó là những nơi chúng tôi thường “la cà phè phỡn” lui tới ăn uống lai rai. Có nhiều lần anh quên không đưa tiền trước cho tôi. Khi đã ăn uống xong, Cảnh cười hì hì, nháy mắt nheo mày, anh dúi tiền dưới gầm bàn cho tôi cầm. Cảnh ra dấu có ý bảo tôi đi tính tiền. Chả vì lúc nào đi ăn, thường thường anh cũng trả. Anh e ngại người ta chê tôi: "chỉ biết lợi dụng người khác dẫn đi ăn uống chùa, cho đã đời chăng"? Anh muốn giữ thể diện cho người yêu đấy hở!? Vã lại đa số nam nữ đi ăn, tôi thường thấy “người nam hãnh diện” đi làm “nhiệm vụ” đó mà. Thật ra, tôi không mấy khi tự nguyện đi làm chuyện trả tiền. Không phải là tôi nhỏ mọn, keo kiệt, bần tiện, không dám xì tiền ra, (vì tôi đi làm việc trong công sở, tôi có nhiều tiền mà!) hoặc tôi ưa bu bám đàn ông hút chất ngon ngọt của người nam như loài ong bướm!!! hay muốn bòn xoáy rút rỉa cái hầu bao của anh đâu. Hoặc giả là tôi bủn xỉn không có tiền để bao anh. Nhưng nếu tôi cứ “bao anh” như vậy, tôi cảm thấy kỳ kỳ dị dị... vì “anh hùng hảo hớn” ngồi ì ra coi cũng mất mặt Cảnh sao ấy. Cầm tiền của anh đưa, tôi cũng cảm thấy áy náy nhột nhạt và mắc cỡ thẹn thùng sao đâu! (chứ tôi không thấy việc ấy là hãnh diện cho mình, như anh đã dúi tiền đưa tôi đi trả. Chi lạ rứa).

    Những ngày nhàn du thư thái, chúng tôi thường cặp kè bên nhau thả bước trên những con đường mòn vắng khuất. Dìu nhau đi vô rừng hái trái mác mác ở các suối mộng hồ mơ. Chúng tôi trải tấm nhựa trắng xuống nệm cỏ xanh mướt, để thức ăn nhẹ như bánh mì nhồi thịt, trái cây mua sẵn đặt ở trên những tờ báo. Tôi thích đi nhặt trái thông xếp thành từng hàng to nhỏ. Vui vẻ kể cho nhau nghe nhiều chuyện tự hồi tóc tôi còn để chỏm. Tôi hỏi anh:
    - Anh thích vô học trong trường Võ Bị Đà Lạt lắm. Phải không nào?
    - Ừa. Hồi nhỏ anh rất thích chơi súng, chơi dao găm. Anh chuyên làm trưởng toán, cầm đầu tụi con trai, cầm cây, cầm ná, chạy xuống xóm dưới. Tụi anh đánh nhau với bọn trai cùng trang lứa. Lần nào nhóm anh cũng chiến thắng vẻ vang, khoái lắm. Hì hì…
    - Em lại sợ súng ống đạn bom, mới chết chứ.
    - Chẳng cứ gì em. Ai ai trong nhà anh cũng vậy, nhất là má anh. Anh nhớ hồi anh còn nhỏ xíu, độ bốn năm tuổi gì đó, anh bị má đánh đòn hoài. Vì anh cứ thích lấy cái chổi quét nhà, ôm trong bụng để làm súng, nằm lăn ra đất bùn, bờ bụi. Má đánh anh vì cái tội: áo quần anh rách tả tơi như xơ mướp. Vì tội anh đầu bù tóc rối, bò càng xuống ruộng, xuống đất, nhảy bừa xuống ao, má sợ anh chết ngợp nước. Anh hăng hái đánh kiếm, bắn ná, bắn bi... vọc đất, chơi dơ kinh khiếp.
    - Hẳn là hồi nhỏ anh nghịch lắm ha?
    - Phá khỏi chê rồi em. Có một lần anh trèo lên cây mít, hái dái mít ăn, chẳng may bị té. Bụng anh xóc vô một cành cây. Máu chảy ròng ròng. May mà chưa lòi ruột. Má anh lật đật kêu xe ngựa, chở anh vô bệnh viện Biên Hoà cấp cứu. Còn vết sẹo to tướng nè em.

    Cảnh vén áo lên cho tôi xem vết thẹo dài, láng cón. Thật là kinh hồn.
    - Nhưng được một cái là anh ham học. Anh học rất giỏi. Tháng nào anh cũng đứng đầu lớp, từ lớp Năm cho đến lớp Đệ Nhứt. Anh thi đậu tú tài toàn một phát một là anh dong vô Võ Bị liền. Má thương anh lắm. Gia đình anh dù nghèo, nhưng ba má cố gắng tần tảo bán buôn cho mấy anh em ăn học. Anh thương má nhiều, hơn thương ba.
    - Ngộ ha anh. Hầu như ai ai cũng thương má nhiều.
    Cảnh cười gật gật đầu đồng ý:
    - Phải. Sau khi anh đậu tú tài toàn phần xong. Ba muốn anh đi học ngành Y. Nhưng anh thích vào trường Võ Bị Đà Lạt. Má nói:
    - Con học ở Sài Gòn thì gần. Chớ con học ở Đà Lạt, xa xôi quá. Vã lại con đi lính, má cũng lo sợ, không mấy ưa.
    - Chắc là anh phải uốn ba tấc lưỡi đấu tranh dữ lắm he.
    - Trời. Má chìu ý anh thôi. Má khóc sưng mắt. Nhưng má đành đưa anh lên Đà Lạt. Ba ở nhà trông coi tiệm ăn và mấy em nhỏ. Má nói để má cùng đi với anh, cho biết nơi biết chỗ. Khi nào huỡn, ba má có thể đi thăm anh. Không sợ lạc đường.

    Cảnh thích ngắm nhìn người yêu nổi bật trong đám đông. Anh bảo tôi cắt tóc theo kiễu Sulvie Vartan, mặc đồ đầm thời trang xứng hợp với dáng vóc thanh tân cuả cô gái chớm lớn. Nhiều khi tôi mặc áo dài thật dài, thân áo ôm sát vòng eo năm mươi cetimets, nẩy nở vòng ngực chín mươi. Trên thân đuôi những chiếc áo dài đen, áo dài tím, áo dài vỏ măng cụt, màu vàng, tự tôi kết hoa, kết lá giả. Coi tôi ỏn ẻn cũng có chút xí “đài các thanh cao” có mỹ thuật, và xinh xắn ra phết... như ai ai đấy chứ! Cảnh nói:
    - Em có đôi mắt rất linh động, sáng ngời, tình tứ, nụ cười xinh tươi và duyên dáng. Dáng vóc đan thanh thon gọn. Trông em thật yêu kiều, thướt tha biết mấy. Em rất đẹp.

    Tôi cười ỏn ẻn. Tôi không bao giờ nói cho Cảnh biết: hồi xưa tôi là một hoa hậu. Vâng! Ngân Thụy đúng là đã đoạt ngôi vị hoa hậu, không hề sữa mắt sữa mũi, chẳng biết dùng phấn son. Tôi là hoa hậu tự nhiên, đơn sơ, thật sự trăm phần trăm ở ngoài Đà Nẵng năm 1962. Chứ không phải chỉ là á hậu, á hiếc, á hoè, á... hợi ba láp bá vơ lơ tơ mơ chi cả. Nói làm gì! Hương thơm chả phải cầu, tự nó hồn nhiên toả ra. Hoa hậu, hoa dậu, hoa chậu gì gì cũng thế thôi. Con người ta hơn thua nhau ở chỗ có đạo đức tốt, có tấm lòng rộng mở, bác ái, nhân hậu, thành thật mến yêu, thấu hiểu thông cảm giúp đỡ tha nhân cùng khốn. Không dối gạt ai. Tự biết mình và biết người, là trân qúy mà thôi. Ngày tôi thăng “lên chức” hoa hậu, có anh bạn Thắng đã tặng tôi bài thơ: Xinh đóa hồng gai
    Gió sớm mây chiều vờn quanh môi thắm.
    "Dạ thưa". Tình thương cô gái ngoan hiền.
    Tóc thề dáng nhỏ nón lá chao nghiêng.
    E ấp ngập ngừng phím loan bẽn lẽn.

    Khao khát trao tình em như vẫn hẹn.
    Ngày anh đi mây xám lướt bên thềm.
    Tiếng sáo buồn nhè nhẹ buổi chiều êm.
    Chim hoàng hạc ngủ yên trên đỉnh núi.

    Đời trống vắng, tình phương xa tiếc nuối.
    Em đi rồi biết bao nỗi tương tư.
    Đóa hồng gai sao lãng chuyện cầm, thư.
    Môi nhạt thắm, sầu gió thu trút lá.

    Buồn da diết, ôi những chiều nắng đổ.
    Tắt nụ cười em gái nhỏ đoan trang.
    Khóe thu ba giòng lệ chảy đôi hàng
    Ai có thấu nét đài trang nỗi nhớ?

    Tha thiết lắm ôi tình cô gái nhỏ.
    Biết bao giờ mới hết khổ chia phôi.
    Anh của em dù góc bể chân trời.
    Thuyền trở lại sẽ tìm người năm cũ.
    (*)

    Trời mùa Xuân bàng bạc ấm áp phơi phới phả vào không gian mát rượi trong xanh… dường như pha lẫn chất men tháng hạ ấm áp nồng say, quyện tiết mùa Thu êm êm thanh thanh, man mác bãng lãng đó đây. Gió Xuân bơi bơi theo con sóng tình dìu dập bốn mùa hòa nhập, vỗ mạnh vào đôi bờ đông-xuân, khiến toàn thân tôi chợt nóng bừng bừng, rồi chợt lạnh rét run run. Chúng tôi hòa tan lòng mình theo cơn vui trong từng nhịp tim dập dồn đập mạnh. Tôi cảm thấy ngất ngây toàn thân, phập phồng, bồng bềnh, trôi trôi, bơi bơi trên dòng đời đong đưa, có Cảnh dìu dắt bên cạnh.
    Hôm nay cơn giông từ đâu ập đến, gió rít trên những cành thông, kéo theo từng đám mây đen nghịt vần vũ khung trời Đà Lạt. Báo hiệu trời sắp trút nước xuống vùng trời hoa đào nầy. Khi chúng tôi cùng nhau lửng thửng đi ra phố, trời bỗng đỗ mưa. Chúng tôi chạy rõ mau vô quán Hạnh Tâm gần bên hồ Xuân Hương, tìm chút không khí thân thương và ấm áp về chiều.
    *

    (*) Thơ Tình Hoài Hương
    Bút trần nào tả được lưu luyến!
    Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
    Tình Hoài Hương

  8. The Following 4 Users Say Thank You to Tinh Hoai Huong For This Useful Post:

    BachMa (02-17-2020), khongquan2 (02-16-2020), muahong (02-16-2020), SVSQKQ (02-16-2020)

  9. #251
    Tinh Hoai Huong's Avatar
    Status : Tinh Hoai Huong v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Posts: 1,070
    Thanks: 4,513
    Thanked 4,017 Times in 898 Posts

    Default Nỗi Đau Rìu Rịt Quắt Quay Bùng Vỡ



    Nỗi Đau Rìu Rịt Quắt Quay Bùng Vỡ
    Tình Hoài Hương
    *

    Núi đồi trùng trùng điệp điệp trên vòm trời Đà Lạt có nhiều con đường mòn uốn khúc dọc hai hàng hoa xá lị, hàng hoa mimosa, cùng hàng hoa anh đào vẫn e lệ phơi mình trong nắng sớm. Những thác nước muôn trùng sóng dội ầm vang chảy xuôi xuống cuối chân núi rừng hoang dại. Khi nhìn lại trên triền đồi cỏ nâu vàng mịn mượt như nhung, dường như Hạnh vẫn thấy một bóng dáng thân yêu xưa cũ, mờ nhạt âm thầm lang thang trôi theo mình, qua từng bước chân mệt mỏi, rã rời, bơ vơ… Lâu lâu có những cơn buồn mơ hồ ngấm ngầm trổi dậy không sao dằn nén nỗi, lòng cô bừng bừng nỗi khát khao luyến nhớ và xúc động quắt quay, tiếc nhớ cuộc tình đầu tiên (vì đôi mắt ấy, nụ cười ấy, dù hôm nay tình nhẹ như bóng mây bay biệt dạng trên đồi Cù, thế nhưng nó còn thu hút mình cách kỳ lạ).
    Tuy cô không cuồng si rạt rào yêu thương Nam nồng say đắm đuối như thuở nào nữa, vì mối tình xa cũ đã rơi rụng, không còn ấm áp hạnh phúc chan hoà trên từng sóng mắt làn môi. Cô không tự dày vò với nỗi hận đau cồn cào xé ruột như năm xưa. Bây giờ chỉ sót lại trong cuộc sống mình ít cay đắng muộn phiền, chút khắc khoải dịu dàng, bâng khuâng và xao xuyến tiếc nhớ một điều gì quá mơ hồ ngấm ngầm vu vơ, bâng quơ. Pha trộn với ít kiêu hãnh của tuổi trẻ bừng bừng sức sống ở trong tim cô; kèm theo điệp khúc dập dồn như hồi chuông ngân vọng.
    Thời gian lướt nhẹ đôi môi duyên dáng trên đầu cây ngọn cỏ, trong bối cảnh không gian và thời gian hữu tình nầy, Hạnh đã bỏ lỡ dịp may trong từng khoảnh khắc ngắn ngủi, tha thiết muốn tìm quên hẳn con người kia. Cuộc tình mà cô nghĩ đã tàn – thật sự tàn phai. Dù thế nào rồi... cũng phải dứt khoát sau bao rìu rịt rung cảm, đắm say, đau khổ, hoài nghi, chán chường, băn khoăn, bâng khuâng và do dự. Hạnh hiểu có cái gì đó mới mẻ đang nẩy sinh trong trí óc, còn mảnh tình cũ thì hấp hối, ngất ngư dẫy chết. Tuy nhiên cô cũng có chút tiếc nuối, xót xa, bùi ngùi quá đỗi nhiều thứ trong sự giẫy giụa đó. Muốn xem “anh ta”, chỉ là chàng trai giang hồ rong chơi qua bốn bể, như thiên tình ca dệt trong thơ, trong tiểu thuyết hấp dẫn; chẳng còn liên can thân thiết gì đến mình.
    Nếu mỹ cảm hơn, “chàng + nàng”: sẽ là hai nghệ sĩ tài hoa từng diễn đạt vai tuồng đã đóng trên sân khấu đời. Tấm màn nhung hạ xuống, ánh đèn màu vừa tắt. Bạn bè, người thân là khán giả, nếu có tiếc nuối một vỡ bi hài kịch, một chuyện tình bong bóng phiêu bồng bay như một ảo ảnh phù du. Thích thì họ vổ tay hoan hô, không ưa lại chê bai: xin tuỳ ý. Vì rằng: Khắp nơi chốn Hạnh đã đi qua đều cảm thấy trống vắng, đơn điệu, lẻ loi ghê gớm. Từ chiều đoạn tuyệt cuối cùng dưới thác Datanlania với Hoàng Nam, cô đã thay đổi hẳn; không còn là một hoa hậu vui tươi, hồn nhiên nữa, cô không nhìn đời bằng đôi mắt nhung láy đen say đắm, tin yêu, ngời sáng niềm hy vọng. Thắng cảnh Đà Lạt hữu tình, thiên nhiên cẩm tú nên thơ không quyến rũ nỗi mình. Một bóng vô hình phủ chụp lên cuộc sống cô (nhưng, Hạnh quên điều quan trọng nhất vì sự thủy chung một mối tình), để quyết định tương lai, điều bí mật đó canh cánh bên lòng rên rĩ, nhớ nhung buồn bã, âm thầm khóc than trong đáy tim: ấy là tình say đắm, rất chân thật vẫn đong đầy trong lòng nhau.
    Tính ra, kể từ ngày Hạnh biết yêu tha thiết, đến ngày chia ly vĩnh biệt, thời gian trôi chảy mãi, đời mỗi người trong “chúng ta”, đã rẻ về hai nhánh sông tách bạch ngút ngàn xa. Thấm thoát “chúng mình” xa nhau đã hơn ba năm rồi. Cô chưa quen thân một anh con trai nào khác, cho dù giao tế. Mặc dù chung quanh mình không nhiều thì ít đang có mấy anh bạn, (bạn đúng nghĩa) vẫn rộn ràng theo đuỗi cô khá kỹ. Nào Quốc biên tập viên, Dương thông tin, nào Quan, Thứ, Cảnh. Ấy thế mà cô chẳng biết chọn ai? Hạnh giống con chim đã bị trọng thương, nay đậu cành mềm sợ gãy cánh. Âu cũng dễ hiểu thôi.
    Cô về làm tại Ty Thông Tin và ghi tên học ở đại học Văn Khoa. Một hôm Ty tổ chức khoá hội thảo gồm một trăm người trên Lữ Quán Thanh Niên, mọi chi phí ăn ở, trong thời gian một tháng, đều do Ty đài thọ. Buổi trưa, không như những buổi trưa khác, chả hiểu tại sao cô ngủ chẳng được! Nhỏ Nuôi nằm kế giường bên cũng không ngủ. Hai chị em rủ nhau ra đứng trên balcon Lữ Quán, nhìn vu vơ xuống chân đồi, nói chuyện phiếm vui vẻ:
    - Để chị kể chuyện tiếu lâm cho em nghe, chuyện nầy chị viết đã lâu, nghe nè:
    - Thời xa xưa… khi còn nhỏ xíu, tôi được ba mẹ cho đi “ăn học” tử tế, đàng hoàng như ai. Nếu tôi “ăn không nói có” biếng nhác, "ăn không ngồi rồi", tôi liền bị ba mẹ cho "ăn đòn", "ăn bạt tai". Thế là tôi khóc ré lên như con heo bị chọc tiết, lăn ra nhà "ăn vạ". Anh chị có "ăn ngay nói thẳng" la rầy mắng nhiếc, thì em bảo anh chị ỉ làm lớn đã "ăn hiếp" em út.
    Nếu tôi có "ăn vóc học hay", là được ba mẹ cưng chìu hết biết. Lớn lên học đòi người ta, tôi bắt đầu "ăn diện" , cái đời tôi ở nhà phá gạo mẹ cha chuyên "ăn hại" , "ăn nói bậy bạ" , “ăn ốc nói mò” , có khi “ăn không nhai nói không nghĩ”, mà lẽo đẽo đi theo sau lưng nàng, liếc mắt đưa tình, tôi cho hai ngón tay vô miệng huýt gió, hoặc xíp xì… xíp xì… tán gái “ăn thề” , thì tôi thuộc vào hạng số dzách! Lớn thêm chút nữa dù tôi chả học hành là bao, mà tôi nèo nẹo bám váy xin tiền mẹ. Mẹ thương con dấu cha dúi cho tí đỉnh. Thế là tôi hí hửng lo đàn đúm “ăn chơi” , "ăn chặn" , "ăn to xài lớn". Hết sạch tiền chả biết làm gì tôi đi "ăn trộm" , "ăn cắp" , "ăn cướp". Chơi với bạn lại chuyên môn "ăn bòn" , "ăn quỵt", "ăn bẻo" , "ăn hối lộ". Ai nhờ vã cái gì cũng đòi “ăn hoa hồng”. Ân nhân giúp cho không mang ơn thì chớ, đã "ăn cháo đá bát".
    Khi tôi có bạn gái “ăn ý”, “ăn nhịp”, “ăn khớp” với nhau, thì trong lòng tôi nẩy sinh ra cái chuyện ấy… luôn rạo rực, nhúc nhích. Tôi chằm chằm tìm cách “ăn thịt”, "ăn non" cô bồ nhí xinh đẹp ra phết. Lúc tỉnh người, hỏi ra, thì “ẻm” còn ở trong tuổi vị thành niên. Ba tôi nghiến răng trèo trẹo:
    - “Thôi chết, “cá không ăn muối cá ươn”, hỏng cả đời trai mới nhớn rồi con ạ”!
    Dù tôi chỉ là đứa học trò học bè non choẹt, nhưng không dám “ăn mặn khát nước”, đành phải vác trầu cau cùng cha mẹ, họ hàng, thân hữu lò mò đến nhà nàng, ba bên bốn bề xúm nhau “ăn hỏi”. Rồi lật đật lo chuyện “ăn cưới”. Cưới nhau về là a lê hấp xáp lại “ăn nằm”, tự do “ăn dầm nằm dề”.
    Ba mẹ tôi rất phiền bực về cái chuyện tôi chỉ là đứa “con nít ranh” cà chớn cà cháo “ăn dưng ngồi rồi”, mà bày đặt “ăn mảnh” dang díu tình cảm lăng nhăng. Thiệt xấu hổ! Tuy thế hai cụ cũng thương con đứt ruột, con dại cái mang mà! Các cụ chuyển cho chúng tôi một phần tài sản kha khá, dặn con liệu đó lo mà siêng năng cần cù “làm ăn”.
    Dịp may đưa tới như cờ gặp gió, như cá gặp nước, như rồng gặp mây, vợ chồng son mở một tiệm tạp hoá, chủ tiệm và khách hàng hai bên “ăn giá” với nhau. Thuận buồm xuôi gió, đúng là có một thời huy hoàng! nên vợ chồng tôi đình huỳnh "ăn trên ngồi trốc", "ăn nên làm ra". Chúng tôi nay có một mụn con kháu khỉnh, cả nhà ta “ăn trắng mặc trơn” luôn luôn “ăn gỏi” , "ăn tôm hùm, ăn thịt quay" cùng sơn hào hải vị . Thiệt là "ăn sung mặc sướng".
    À… Vợ sanh con, tôi phải “ăn kiêng”, hoặc đôi khi tôi len lén "ăn vụng phở”. Tôi chả thể nhịn thèm, bèn nói láo vợ đi "ăn cơm khách" mai về! Nhưng thực ra là tôi đi "ăn vụng". Nhiều lần thành "ăn đàng sóng, nói đàng gió". Gọi là trai hào hoa "ăn bánh trả tiền" hậu hỉ cho gái "ăn sương". Chứ mình keo kiệt không chịu chi địa ra, tôi sẽ bị bọn ma cô đầu nậu cho "ăn đấm", "ăn đá", “ăn đòn” , rụng răng phải “ăn cháo” làm sao!? Hoặc có khi “ăn xôi nghe kèn”… ra nhị tì mà “ăn đất” là nguy to! Hạnh phúc chẳng được bao lâu, thì gia đình tôi "làm ăn thất bại" , chủ và khách đều “ăn chẹt” , “ăn gian” , “ăn bớt” , “ăn chịu” , "ăn thừa nói thiếu" hai bên “tận tình” lừa dối nhau. Cộng thêm cái tội có tiền là sinh tật nầy nọ! Ông “ăn chả bà ăn nem”. Thành ra vỡ nợ!
    Bấy giờ vợ đi chợ phải “ăn đong”, cả nhà buồn rầu bắt đầu cúi gầm mặt, chả ai thèm nói với ai câu nào mà "ăn mắm mút dòi"; "ăn bờ ở bụi". Chồng “ăn gió nằm sương”, vợ “ăn đường”, con "ăn bám" ông bà nội! Nằm vắt tay lên trán, bắt chân chữ ngũ, nhớ lại thuở xưa khi chúng tôi còn ngồi trên đỉnh vinh sang giàu có, sao mà sung sướng hạnh phúc thế! Chả bù cho bây giờ! Thiệt khổ hết biết vì “cái ăn”. Vợ con trốn chui trốn nhủi “ăn hại đái nát”, chẳng còn giữ thể diện hai mẹ con nó lò mò đến nhà bạn giàu có, bởi vì bạn ấy “ăn tiêu”, “ăn bận” hoặc “ăn xài” đều có căn bản, đúng mức “ăn chắc mặc bền” . Mỗi bữa cơm bạn tôi chỉ “ăn hương ăn hoa”, Mồng một ngày rằm bạn “ăn chay” một tháng hai ngày. Nhưng bạn ấy thích nhất là “ăn xổi” dưa cải dưa cà, “ăn vã” thức ăn với thịt heo luộc chắm nước mắm ớt.
    Phần mẹ con tôi dù “ăn gởi nằm nhờ” mà “ăn như mỏ khoét”, lì lợm cúi đầu “ăn như hạm”, “ăn hớt” cuả người ta hoài. Chúng tôi “ăn ở” nhà người ta “ăn chực nằm chờ”, lỏ hai con mắt nhìn bạn “ăn no vác nặng”. Còn chúng tôi thì “ăn thật làm giả”. Thiệt là chẳng “ăn rơ” tí nào! Bạn thấy chúng tôi “ăn đứt” bạn về việc “ăn tạp” quá sá, chịu không thấu, bạn khúc khích cười, nửa đùa nửa thật bảo:
    - Bà chị định ở đây “ăn vạ”, “ăn trả bữa” đấy phỏng!?
    - . . .
    Rồi bạn bồi thêm một câu:
    - Khiếp! Tôi “ăn uống” dường như cũng “ăn phải đũa” bà chị rồi! Nghĩ cho cùng thì mẹ con tôi trước kia cũng “đài các” như ai, mà bi chừ chả khác nào “ăn mày đòi xôi gấc”, nên không dám “ăn nói” trả treo “ăn miếng trả miếng” đanh đá cho “ăn người”. Nếu mà rơi vào trường hợp khác á hả, thì tôi quyết “ăn thua” đủ! Bất quá thì vô tù, chứ nhằm nhò “ăn nhập” gì cái chuyện ruồi bu. Thời buổi nầy mình như kẻ “ăn mày” chuyên “ăn lông ở lỗ” ở đầu đường xó chợ! Cùi rồi không sợ lở! Sau một thời gian "ăn năn đã muộn" vì mình với bạn chả phải "ăn đời ở kiếp" với nhau, thôi "ăn khế trả vàng" ; nghiã là ta phải làm việc cho bạn, tận lực vắt óc ra để làm “kế toán”, tức là tôi phải có… kế... "ăn theo", mà tính toán chi ly thiệt hơn trong việc “ăn ở” sao cho vừa lòng người! Cho có… tí đỉnh… tương chao chắm mút... (lợi thì có lợi. Nhưng… răng không còn)!
    Hai chị em sảng khoái cười ngất. Bỗng Hạnh lặng người im bặt, mặt mày tái xanh. Khiến nhỏ Nuôi lo sợ, rối rít hỏi:
    - Chị Hồng Hạnh! Sao vậy?
    - Ôi, anh ấy kia kìa. Người mặc áo xanh, quần jean đó.
    Cô dán mắt nhìn “chàng” đăm đăm, trông Nam khá gầy, khuôn mặt xanh xao, phiền phiền, tiều tụy. Có lẽ anh ta vừa bị ốm đau gì, nặng lắm chăng? Ồ, đã mấy năm qua, “em” lẫn trốn “anh”, không bao giờ cô dám chường mặt ra. Nên cả em lẫn anh đều “né tránh nhau”, thì phải. Làm sao cô biết Nam đã gầy đến độ thảm thương. Anh đi bộ vừa đi vừa nói chuyện với Xì Rô từ phía góc Võ Tánh đi tắt qua sân Lữ Quán. Họ đang lúi húi chia nhau một điếu thuốc lá, nên không trông thấy hai cô.
    Nam chỉ thoáng qua khu đồi cỏ Lữ Quán Thanh Niên nầy không đầy bốn phút, nhưng trong lòng cô dường như bừng sống lại cả một bầu trời thanh bình vui tươi thuở nhỏ, khi tuổi xanh vô tư lự rong chơi trên vạn nẽo đường. Rồi, lòng cô dâng nỗi đau cùng khắp, trái tim lại quắt quay nhói lên từng hồi, từng chặp, từng đoạn đau buốt, như có thanh sắt nóng thọc qua lồng ngực, khiến mình đau điếng lạ thường.
    Nuôi ngạc nhiên nhìn cô:
    - Để em chạy xuống kêu anh ấy lên gặp chị. Nghen!
    Hạnh gạt phăng, sừng sộ la Nuôi sao xí xọn xía vô chuyện người lớn. Cô để mặc Nuôi chưng hửng đứng trông theo bóng anh khuất vào khúc quanh. Hạnh vô trong Lữ Quán, đi ra cửa sau chạy như bay lên ngọn đồi cao, ngồi phịch xuống nệm cỏ xanh tươi, hai tay cô bưng mặt, vật vã than khóc tức tưởi, khóc sưng húp hai mắt. Nam như chiếc bóng bên Hạnh, mỗi ngày khi trời rực nắng nó luôn bám sát theo mình, khi trời vần vũ cơn mưa chiếc bóng biến mất tăm, lúc xế chiều thì chiếc bóng đối diện với chính mình, buổi hoàng hôn lặn xuống thì chiếc bóng chìm khuất theo. Lúc thắp đèn đốt nến thì hình bóng Nam lại thân thiện ấm áp hiện về… Suốt đời mãi như thế nầy sao, hở anh?
    Quá khứ để lại dư vị đắng cay, chua xót, đầy đau thương đã một thời là cuộc sống của Hạnh đó. Ôi! Cuộc sống không phẳng lặng, dễ dàng, yên vui gì, chẳng nương nhẹ trên đôi cánh thời gian. Ngày, tháng, năm… đến, ra đi, rồi tàn, mang theo bình minh ngời sáng, hy vọng hơn. Cô kinh ngạc thấy mình háo hức tìm quên, đi tìm quên. Thay vì ngày xưa cô chạy như bay ra bưu điện Đà Nẵng, cuống quít gọi anh về với mình: “Phải gặp Nam”, “Phải gặp anh”. Thì ngày nay điệp khúc cuối cùng trên từng nốt nhạc sầu lắng trầm buồn vang lên: “Phải quên Nam. “Phải quên Nam”. Muốn quên anh, em cần có thời gian và một bóng hình tuyệt vời khác. Thời gian bây giờ lại quá dài, quá tẻ nhạt, trống vắng, đơn điệu vô cùng, chán ngắt trong việc làm, chứ không như Shakespeare nói: “Thời gian là khách thập phương, nó lạnh lùng bắt tay người bạn ra đi, mở tay ra ôm người mới đến”.
    Tất cả! Như tiếng từng giọt nhạc mưa thánh thót rơi… chỉ còn lại điệu ngân dài rền vang tiếng ai rền rĩ “forget me not”, khi ta trôi về miền quá khứ nóng bỏng nhức nhối buồn đau. Như mới xảy ra ngày hôm trước, khi lớp sương mù tan đi, lộ ra hình ảnh dĩ vãng rõ nét, rồi tan loãng về chân trời vô định. Như con tàu chạy trên sóng nước, bị sóng cả lấp đi bọt bèo, rong rêu, cùng nỗi đớn đau dập xuống lòng hồ, để làm đầy thêm hương vị cho đời. Suy cho cùng, Hạnh không muốn phí phạm thời gian, và sức lực đấu tranh với muôn vàn cay đắng, tủi hờn nữa! cô phải dứt khoát tìm ra một lối đi riêng biệt –phải dứt khooát quên Nam và tự đi tìm kiếm hạnh phúc đích thực rất mực chân thành, trân qúy, trọn vẹn tin yêu, tha thiết và mê đắm; để mỉm nụ cười xinh xinh, âu yếm nói với người rất yêu dấu: “Em yêu anh vô cùng”. Mặc dù, cô chưa biết hạnh phúc đó… đang đứng ở phương nào!? và “Ai sẽ là hồng nhan tri kỷ”, khi:
    Đường vào văn thơ muôn vàn thi vị
    Không tỵ hiềm, chẳng phân biệt thân quen
    Không phân chia cao thấp lẫn sang hèn
    Mặc khách tao nhân dập dìu tình ý.
    Thơ, nhạc, họa… với muôn màu ý nhị
    Khúc hàn huyên đầy hương vị thanh tân
    Khi trăng lên lúc gió núi mây ngàn
    Tiếng ca hát quyện cung đàn nốt nhạc.
    Ta hò hẹn tình nồng hoa thơm ngát
    Gió chiều xuân bát ngát én bay sang
    Mong ước sao tình tri kỷ vẹn toàn
    Khói trầm nghi ngút "cầu Hoàng" khúc nhạc. (**)
    Đến bên nhau buổi hoàng hôn nắng nhạt
    Cảnh an bình như lạc động hoa đào
    Mặc biển khơi triều vỗ sóng lao xao
    Ta chung lối dắt nhau vào tình sử.
    Anh thần tượng, em một thời kiều nữ
    Bên sân trường đại học nón bài thơ
    Xin một lần hội ngộ dẫu giấc mơ
    Hỡi tri kỷ là ai, cho em biết?
    (*)
    ***
    Âm thanh lao xao từ thác nước chảy ầm ầm hoan ca đổ triền miên đó đây trong thắng cảnh Đà Lạt, sương nhạt nhoà lướt thướt bay bay trên những đỉnh cây thông nhọn hoắt rũ rượi kéo theo tiếng gió xôn xao rì rào văng vẵng bên tai. Rồi tiếng mưa chầm chậm lác đác tí tách rơi lộp độp từng giọt trên chiếc dù đen, mà em Liên đang che cho hai chị em đi tà tà. Bụi phấn thông vàng bay nghiêng trong không gian chưa hẳn tạnh, gợi lên trong lòng cô biết bao chuyện vui buồn xếp lớp lăn tăn. Hạnh chợt nhớ những ngày mưa năm cũ, nhớ tiếng chuông giáo đường ngân nga ở mấy mùa Thu xa xưa. Cô đã đi trên quê hương binh lửa trong mùa thương khó ấy, đã trải qua những giờ phút hãnh diện, đắt thắng vẻ vang huy hoàng khi trở thành một hoa hậu ở tại Sơn Trà, Đà Nẵng, cũng là bước đầu tiên hình thành một nhân cách sống khá lẫy lừng vẻ vang. Hạnh nhớ về thời tóc thề chấm ngang lưng, mắt chưa vướng bụi mờ. Thuở ấy đẹp biết bao! Nay lòng cô chùng hẳn lại, cảm thấy thật thấm thía xót xa buồn.
    Hai chị em đi tắm nước nóng ở tiệm Vinh Quang. Lúc ra về vừa đi một đoạn ở khu Hòa Bình, bất chợt cô gặp Thiết, bạn cũ từ hồi ngồi ở trường Trung-học. Mới bốn năm mà bây giờ Thiết đã học Y-khoa, năm thứ hai. Anh cao lớn trổ mã nên đẹp trai ra phết. Thiết ở Phan Rang lên Đà Lạt nghỉ mát. Anh vui mừng đứng lại bên lề phố nói năm ba câu, rồi thân hữu mời hai chị em cô đi ăn cơm tối dưới tiệm Như Ý. Chúng tôi đi ngược xuống con dốc nhà làng, em Liên lanh lẹ, vui vẻ liếng thoắng đi phía trước Hạnh và Thiết. Bỗng cô muốn nghẹt thở khi thấy “cố nhân” cặp cổ một con ca va tô trét phấn son lòe loẹt, trời Đà Lạt rất lạnh, nhưng ả mặc hở hang diêm dúa để lộ bộ ngực thỗn thện lòi vú mướp, cốt ý khêu gợi đàn ông; đúng là hạng gái thứ thiệt rùi. Họ cười cợt ôm hót, thọc lét, tốc váy lên, rờ rẫm nhau, coi mất tư cách rất trơ trẽn, chớt nhả ở ngoài đường ngoài lộ không hề xấu hổ, rồi họ cúi đầu ôm nhau xà nẹo hun hít, nghiêng ngã cất bước như kẻ say.
    Chắc chắn một điều là cố nhân không thể thấy cô, vì dưới ánh sáng của ngọn đèn đường vàng vọt mờ tối hắt lại, rọi phía sau lưng Hạnh từ trên cao, nên đã úp bóng cô, từ ngọn đèn mờ Hạnh có thể trông thấy rõ Hoàng Nam, mà anh ta thì chưa thể nhìn ngược lên vùng ánh sáng mờ chói, nơi cô đang đứng. Do con đường đất quá chật hẹp, lầy lội, trơn ướt, chỉ vừa đủ cho một người bước qua, còn người đi ngược chiều thì phải lại đứng chờ lối đi. Thiết đã nhảy qua lề trái đứng né ở vũng lầy, anh thấy Hạnh đờ đẫn, băn khoăn, lúng túng, Thiết tưởng cô sợ trơn trợt, sợ bẩn áo quần, sợ té, không thể bước đi, nên anh hồn nhiên chìa tay ra nắm tay Hạnh, để dìu cô nhảy qua vũng sình lầy.
    Kỳ thực thì Nam cũng vừa bước đến gần sát bên Hạnh, để chờ lối đi rất chật hẹp nầy mà thôi. Hoàng Nam ngẩng lên nhìn, mặt đối mặt mắt nhìn mắt rất sát, để có thể nghe thấy hơi thở, hoặc mùi hương cuả nhau. Nam sững sờ hoảng hốt vụt buông cổ con ca-va ỏng ẹo đang sỗ sàng cười hô hố kia ra. Chỉ có “riêng hai chúng tôi nhận biết nhau” trong số năm người cùng đứng bên vũng lầy! Bỗng Nam nhếch mép mỉm miệng cười. coi thật lạ, thật đểu. Cô hiểu nụ cười đó đầy mỉa mai và bội tình chua xót. Thà Hạnh chịu nhìn sâu vô mắt Nam, biết chút tự trọng, hổ thẹn trĩu nặng u hoài, còn hơn anh ta hiểu lầm “tay nắm bàn tay” khi Thiết ân cần dìu cô đi qua vũng bùn thế nầy. Thật vô duyên dị hợm... oan hơn oan Thị… Kính! Tự dưng cô cảm thấy bực bội, tức tối, giận hờn vu vơ sao đâu! Thì đó, chàng bá vai kẹp cổ “cợt nhả, thô tục, sờ mó” với con ca va kia ngay ngoài lộ, cô chưa khinh-khi anh thì thôi, thì sao Nam nhếch mép cười ruồi hỉ!?
    Trọn bữa cơm, đứa em họ vui vẻ ăn uống no nê. Thiết vô-tư-lự kể lại đủ thứ chuyện học trong ngành Y, chuyện tiếu lâm Thiết sưu tầm vui hết biết, vui lắm như sau:
    * Giáo sư hỏi cả lớp:
    - Ai có thể nêu ra hai sự kiện lớn trong cuộc đời của nhà thơ Anh Milton?
    Một nam sinh viên nhanh nhẩu phát biểu:
    - Sau khi kết hôn nhà thơ viết tác phẩm: "Thiên đường đã mất". Đến khi vợ chết, ông viết tác phẩm: "Thiên đường trở lại"...
    * Hai người bạn nói chuyện với nhau:
    - Có lẽ mình phải xin ly dị.
    - Sao vậy?
    - Vợ mình như câm, nửa năm nay không thèm nói với mình một câu nào.
    - Cậu điên à! Biết tìm đâu ra một người vợ tuyệt vời như thế.
    * Bia độc hơn rượu, bằng chứng trên thế giới chỉ có “mộ bia” mà không có “mộ rượu”.
    Thiết vui vẻ xoa hai tay, cười:
    - Chữ nầy từ biệt cũng kêu. Ngủ, đi, say, xỉn: người đều xài chung: “Cỏng chăng” nói lái là “chẳng cong”, mà chẳng cong thì là “thẳng”. Bỏ dấu hỏi là “thăng”, thêm huyền là “thằng”, thêm nặng là “thặng”, và “thăng” là tiếng lóng của phe ta dùng đủ nghĩa: bái bai, ngủ, xỉn... (1)
    - Trong các vật hiện hữu, cái gì xưa nhất? = Thượng Đế, vì ở thời đại nào, Ngài cũng hiện hữu.
    Nói với nhau vui vẻ hồn nhiên vô tư lự đến thế, ấy vậy mà Hạnh mơ hồ ngơ ngẩn không biết Thiết nói gì, và anh đãi mình ăn những món gì. Tâm trí cô rối bời suy nghĩ, miệng ăn (cô vẫn hậm hực vì cái nhếch mép méo xẹo mó xọ của Nam lắm), mắt cô thẩn thờ nhìn Thiết, nghe tai nầy lọt qua tai kia. Có một điều Hạnh ghi nhận tình bạn thật đúng nghĩa, có nhân cách sống, hoà ái, hồn nhiên, tận tình an ủi, lắng nghe và đồng cảm sẻ chia. Tình bạn quả thực đơn sơ, khá dễ chịu, không đòi buộc ta điều gì sang trọng cao siêu. Không cần xây trên cung bậc vinh hoa hay yếu hèn, sang giàu hoặc học vấn thấp cao. Thiết tận tình chỉ bày những kinh nghiệm sống, nhiều điều về y khoa mà anh đã học hỏi am tường khá bổ ích. Thiết và cô là đôi bạn chân tình tốt, rất đáng quý trọng vậy. Sau vài giờ hàn huyên tâm sự. Ba người chia tay nhau.
    * * *
    Một hôm, Hạnh đi làm về sớm, vừa đến cổng nhà, cô thấy người phát thư đã gài lên cổng mấy tấm post card, trong đó Nam ghi địa danh Manila, Kuala Lumpur, Úc Châu. Tim cô như ngừng đập. Ngày tháng qua đi, nhịp cầu nối kết yêu thương còn ấp ủ trong hai tập thư tình dày cui (từ những năm cũ). Thì ra, mình cứ giận Nam kinh khủng. Và than ôi! vẫn yêu anh say đắm mà không ngờ. Khi hai mu bàn tay quệt hàng nước mắt, cô thút thít khóc dựa lưng vô cánh cổng lớn, thì thầm lẩm bẩm đọc:
    Sauffley Field NAAS, tháng 12 năm 19…
    Hồng Hạnh qúy mến,
    Anh qua đây đã mấy tuần. Nay có ít hàng gởi về thăm em, cùng gia đình anh chị Tuế. Dạo nầy em có khỏe không? Hẳn là vui và lạ nhiều nhỉ? Bởi vì, nhiều lần em gặp anh ngoài phố, mà em lơ đi. Thôi. Cũng không thể trách được, vì có nhiều lý do rất dễ hiểu. Chúc em vui vẻ, hạnh phúc.
    Anh Hoàng Phương Nam

    Đọc những hàng chữ hỏi thăm khác, suốt mấy tuần đôi mắt cô còn mờ lệ. Ôi! Nam vẫn nở làm cho mình đau đớn, đắng cay, lo âu, phiền muộn ray rứt đến thế sao? Không. Lần nầy thì không, cô đã quyết chí, nhất định dứt khoát rồi, dù lòng đau như dao cắt, dù tấm Post Card vô tri vô giác quyến rũ vô vàn dường như sẽ làm nhịp cầu nối kết yêu thương, còn ấp ủ trong hai tập thư tình năm cũ kia. Thì ra, “em” cứ giận “anh” kinh khủng mà không ngờ. Tại sao mình không nghĩ đến chuyện hồi âm đáp lễ, thẳng thừng dứt khoát một lần cuối cùng, cho xong; chớ còn dùng dằng niú kéo làm gì nữa, cho thêm phiền? Ừ nhỉ! Hạnh tần ngần đặt bút viết:
    Đà Lạt, mùa mưa lạnh năm 19 …
    Chào anh Nam,
    Khi vui - anh hãy cứ cười, Khi buồn anh cứ khóc. Khi chán - anh hãy tìm một lối thoát, và sẽ yêu đời, yêu người, bao giờ anh cảm thấy tâm hồn mình lặng yên. Kìa! Anh hãy nhìn xem trên dòng sông vào một chiều mưa bão, có chiếc thuyền nan đang ra sức chống chèo để vượt qua sóng gió. Nó đã chìm. Chìm mất. - Không. Nó lại nổi lên rồi. Đường đời với cảnh ngộ cũng giống như con thuyền và dòng sông. Khi êm đềm lặng lẽ, khi giận dữ, kiêu hùng.
    Sách có câu: “Bách niên thương hải biến vi tang điền”, thì tình yêu giữa anh và em thật trong sáng, nồng nàn, say đắm, nên thơ và phũ phàng, tàn nhẫn đến thế thôi. Đời là một cuộc bể dâu. Tình chúng mình đã… ./. thật rồi, thưa anh Nam. Mong anh đừng niú kéo làm gì nữa, không còn gì vui vẻ và hạnh phúc đâu. Bởi vì không biết anh hay là em đã luôn luôn cầm một cây dù suốt bao năm trời trong tay, ấy thế mà ta không hề giương lên che mái đầu cho chính ta, mặc trời nắng chang chang, oi bức đến ngạt thở, hoặc trời mưa gió lạnh lẽo… Bây giờ thì cây dù đã rĩ sét và mục nát, không thể giương lên thân ái hân hoan cùng nhau che chung một cái dù như thuở nào… mất rồi!
    Em thân chúc anh thành công trên bước đường đi tìm tương lai và kiếm hạnh phúc mới.
    Chào vĩnh biệt.
    Hạnh
    *
    (**) Thơ Tình Hoài Hương
    Tình Hoài Hương
    Bút trần nào tả được lưu luyến!
    Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
    Tình Hoài Hương

  10. The Following 4 Users Say Thank You to Tinh Hoai Huong For This Useful Post:

    BachMa (03-07-2020), khongquan2 (03-06-2020), muahong (03-26-2020), SVSQKQ (03-24-2020)

  11. #252
    Tinh Hoai Huong's Avatar
    Status : Tinh Hoai Huong v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Posts: 1,070
    Thanks: 4,513
    Thanked 4,017 Times in 898 Posts

    Default Tháng Ba: Nước Mắt Tuôn Trào


    Tháng Ba: Nước Mắt Tuôn Trào


    Bầu trời xanh lơ điểm những hoa mây trắng qùy gối trên mặt hồ Xuân Hương sáng loáng như tráng men, rồi mây kéo lê thê bay vắt qua sườn đồi buồn thiu, mây lang thang trên con đường mòn đất đỏ vắng tanh, mây bò lên sườn dốc đầy cỏ vàng úa. Trong vùng sương mù và mây trắng xóa đó, tôi an phận đi và về giữa tiếng tíu tít và giọng cười nắc nẻ của các cô gái lí lí lắc lắc đang vui tươi ôm cặp đến trường. Cái lạnh cuối xuân mơn man lành lạnh ơn ớn len lén bay về, làm tê tê bờ môi vụng dại, khiến hai gò má phụ nữ và trẻ em luôn ửng hồng. Những tà áo dài trắng hòa với sương mai mờ mờ lung linh quyện lẫn nhau trong màn sương mênh mông. Mây và sương ru tôi vào mộng tưởng hoài mong luyến nhớ vô vàn... Tôi chợt cảm thấy lòng mình ấm lại những niềm vui khi ngày ngày tôi vẫn bình an, ung dung vui vẻ từ nhà đi trên đường quen thuộc đến nơi dạy học. Tôi đã có gia đình, chồng tôi (Luật) phục-vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Hạnh phúc đơn sơ ấy chẳng có được bao lâu, nay sương muối mù mù nặng hạt còn thấm ướt mái tóc, khi tôi đứng lớp giảng bài, thì... lịch sử Việt Nam đang còng lưng vác trên vai những tang thương đau đớn, dày vò, bi thảm tàn khốc nhất trong cuộc chiến tranh xâm lăng hung tàn.
    Luật hớt-hải chạy đến giữa những khung cửa kính kêu rè rè, bể loảng-xoảng, nâng nỗi khiếp sợ lên giếng mắt nhau. Ngoài xa, xa mãi tận hướng Du Sinh, hay Suối Vàng thì phải, từng hồi pháo-kích đì đùng nổ rền trời. Khói đen nghịt kéo theo mùi cháy khét, tởm lợm, cùng sức nóng rợn người. Có điều gì lo nghĩ đắn đo phiền muộn hay sao, mà khi anh nhìn vào giếng mắt tôi, Luật đã vội vàng cúi cụp xuống, chơm chớp hai giọt mọng nước đọng trên khoé mắt, và anh quay đi lãng tránh, mà báo tin động trời chẳng lành:
    - Thụy Mi ơi! Có lệnh từ thượng cấp báo cho quân đội phải di tản ông già bà lão, phụ nữ, trẻ con gấp. Còn toàn thể quân nhân, cảnh sát, nam công chức, tuyệt đối "phải tử-thủ tại Đà Lạt".
    Tôi nghe Luật báo tin ấy, cảm thấy rụng rời dật dờ bàng hoàng như sét đánh ngang tai. Tôi sực nhớ đến chuyện động trời: ngày 9 tháng 3 năm 1974 tại trường Tiểu-học Cai Lậy có loạt đạn 82 ly nổ rền. Ôi! Coi trên truyền hình có đoạn thời sự đã chiếu đi chiếu lại: thấy hằng trăm trẻ em vô tội chết đau đớn thảm thiết, thương tâm xiết bao! Bỗng dưng tôi lại nhớ vào khoảng năm 1973 có một thời người ta ùn ùn leo lên núi Lâm Viên: xin nước của Phật Bà ban phước cho bá tánh, hầu trị tà ma bệnh tật, bình an, hoà bình. Bà chị ruột của tôi đã vất vả nhọc nhằn leo núi, khổ sở đi, và khệ nệ bưng về mấy bình nước. Nay thì... "nước" chẳng thể dùng. Và nữa… một số thị dân Đà Lạt nhiều người truyền tin cho nhau rằng: Từ những cánh rừng xa hun hút, suốt ngày đêm đã xuất hiện nhiều đàn sâu róm nối đuôi nhau lũ lượt kéo xuống biển. Sâu róm chết la liệt trên đường (lúc băng qua đường). Những xe khách, xe đò, xe nhà đi từ Đà Lạt xuống Phan Rang… đều thấy. Tôi không biết chuyện tiên tri về đoàn sâu róm và đoàn người sống trên đời lố nhố, đang bỏ núi rừng băng đường vượt sông ùn ùn ra biển, thực hư ra sao. Tuy nhiên tôi tin rằng nếu ai đã từng sinh sống ở vùng Cao Nguyên thời ấy, đều biết, hoặc nghe rõ về chuyện Phật Bà hiện lên chỗ nọ chỗ kia. Có cả chuyện mặt trời xoay quanh phụ nữ tiên mặc áo lụa trắng, thắt lưng xanh, tay bế hài nhi đứng trong vầng mây... và đoàn sâu róm nườm nượp đi xuống biển.
    Bây giờ tôi chưa biết tình hình náo động nầy sẽ ra sao khi ôm nhau chạy về nơi vô định, nên càng run sợ tột cùng! Phải cho học sinh dọt lẹ mà thôi. Tôi thều thào dặn-dò học sinh thu dọn sách vở, lo chạy mau về với gia đình. Trong trường tôi có cô Phùng dạy học sát bên vách lớp. Phùng xin tôi cho vợ chồng và đứa con nhỏ đi theo. Sau một vài phút suy nghĩ, cuối cùng chúng tôi đồng ý cho họ đi nhờ xe nhà của mình về Nha Trang. Vì Phùng không có phương tiện di chuyển, mọi ngả đường bộ về Sài Gòn bị phong toả, kẹt cứng, bế tắt. Duy chỉ còn quốc lộ chính từ Đà Lạt xuôi về miệt Phan Rang, Nha Trang, Phan Thiết là có thể chưa bị mất. Không có một chiếc xe đò nào muốn chở khách, nếu ai may mắn lắm thì hoạ may chủ xe cho lên ngồi trên mui, nhưng giá tiền một người đắt gấp mười lần thường ngày. An toàn nhất là ngoại trừ ai có xe nhà. Vì chính phủ đã trưng dụng hàng không quân sự và dân sự, để làm những việc cấp bách cần thiết hữu ích khác. Vợ chồng tôi vội leo lên chiếc Peugeot 404 của mình chạy về nhà. Đồ đạc trong nhà đầy dẫy! Tôi lính quýnh quờ quạng run rẩy không biết lấy thứ gì? Làm sao có thể gom đi cả gia tài đã dành dụm suốt đời người trong chiếc xe bé tí xíu? Luật la:
    - Mau lên em. Bỏ của chạy lấy người. Còn người còn của mà em. Mẹ, em và các con cứ lo đi đi. Anh ở đây sẽ tìm cách gởi từ từ những thứ cần thiết theo xe đò xuống Nha Trang, cho mẹ con em dùng sau.
    Trong khi chờ đợi tôi thu xếp hành trang, Luật kiểm soát xe cộ, sau đó anh báo với tôi sẽ đi châm xăng, dầu nhớt vô xe hơi đầy đủ. Tôi dặn dò các con thu xếp gọn gàng sách vở bút viết cần thiết, giấy khai sinh cuả mỗi đứa con bỏ vào mỗi cái cặp riêng của con cần mang theo. Tôi không còn tâm trí để nhớ một cái gì, lấy cái nầy thì tiếc cái kia. Vì ngôi nhà đồ sộ ba tầng lầu đúc bê tông cốt sắt lót gạch bông dài 45m rộng phủ lòng 5m, sẽ buồn tênh và trống trải, mất mác hết khi vắng chủ nhân. Có thể ngôi nhà sẽ không bao giờ đón chúng tôi trở về. Mặc dù tôi đã để lại hết tất cả gia tài cồng kềnh quý giá, nặng nề, do công khó lao nhọc bao năm qua do vợ chồng tôi tằng tiện dựng xây mua sắm. Tôi không giàu có lắm, nhưng giờ đây thì thứ gì cũng có thể không còn, tuy sự cần cù, nhẫn nại chịu đựng lao khó và lòng tin yêu, độ lượng cùng tự trọng thì tôi không thiếu. Cái gì đời cũng ưu ái cho tôi sao!? Nhưng chưa chắc bây giờ tôi cần những thứ đó. Giống như chiếc xe thổ mộ đã chở quá đầy hàng, nếu chất thêm vài trái dưa lên nóc, chẳng biết xe và dưa sẽ đỗ lăn mất lúc nào. Vậy thì ta nên giữ lại những thứ gì thật sự cần thiết trong lúc khẩn cấp mà thôi.
    Tôi lo nấu hai nồi cơm hơi nhão thật to, dùng khăn ẩm vắt ra từng nắm nhỏ. Tôi gói chà bông, ký lạp xưỡng, khô cá, khô bò, kí giò lụa, dưa leo, cà chua, cà rốt, rau sống, hai thùng mì gói, mươi bọc cơm sấy, mấy ổ bánh mì ba tê gan và bơ sữa, tiêu, xì dầu, muối, đường... Có sẵn nồi xôi đậu xanh, nồi cá thu kho măng với thịt ba rọi ngày hôm trước còn dư, cả nồi trứng thịt heo kho Tàu đầy, do mẹ Luật đã nấu hồi sáng. Vừa làm các công việc trên, tôi bồn chồn lo lắng, bồi hồi, luyến tiếc về sự ra đi. Bởi vì tôi không thể biết cuộc ra đi sẽ lành dữ ra sao, các con trẻ bé dại cùng đi với bạn bè trên dưới hai mươi mấy người (chung chuyến ở ba chiếc xe khác nữa của bạn). Nếu bị lỡ đường, chúng tôi sẽ có thức ăn chia sẻ cho nhau lót dạ. Tôi khiêng một thùng nhựa 20 lít nước lọc ra sân. Hai cái bô có nắp đậy. Mùng, mền, quần áo len, quần áo mỏng, giày, dép, linh tinh... cho bà mẹ chồng, tôi, và các con chu đáo, tươm tất.
    Đã gần đến giờ hẹn, nhưng không thấy Luật đâu cả, tôi quá sốt ruột lo lắng vô cùng. Thì ra sau đó mới biết Luật chạy vô Hà Đông báo tin cho gia đình ông cậu Cương, và gia đình bà Tề lo liệu di tản. Thật là tội, ở trong ấp mù tịt chuyện thời sự náo loạn, họ ung dung đi tưới rau, không hề biết ngoài phố nhốn nháo ra sao. Luật phải đưa cậu Cương ra phố bán hai cây vàng. Cầm đồng tiền giấy nhẹ, có thể mua gì cũng được, hơn cầm cả thỏi vàng, chả lẽ mua ly trà, ly nước dừa, mà đưa cả chỉ vàng, hay cả lượng vàng ra? Mất toi mạng như chơi. Có mà điên! Hầu hết các tiệm vàng trả giá rẻ mạc, hai cây vàng mà họ mua chỉ ép giá bốn chục ngàn. Cậu năn nỉ hoài mà chả ai thèm mua giúp. May sao có bạn của Luật (anh chị Kim là chủ tiệm vàng ở Tùng Nghĩa đến nhà chờ đi chung) mua giúp cho cậu. Ngọc Kim chạy giặc có những bọc vải ruột tượng, túi áo túi quần cả gia đình... đâu đâu cũng đựng vàng là vàng nặng trĩu. Họ rất sợ mất toi mạng vì thời buổi loạn ly mà có hằng tá vàng chình ình cả đống thế kia, chẳng khác nào “lạy ông tui ở bụi nầy” làm thể nào thu dú đâu được. Gia đình anh Kim cần đi chung với bạn bè có đông người thân thuộc, là điều rất mừng. Anh tin và gởi nhờ bạn mang mấy bọc vàng không sợ bị cướp giật giữa đường. Kim móc túi lấy bốn trăm ngàn đưa cậu, đó là anh trả cho cậu giá rất cao, coi như Kim cho cậu tiền, chứ không phải anh mua vàng. Cậu của Luật vui mừng khôn xiết, cậu lo chạy nhanh về nhà thu xếp.
    Các bạn thân hẹn nhau tập họp ở nhà tôi đúng hai giờ chiều là lên đường. Dưới chân đèo Krong Pha nhìn lên Đà Lạt tít mù cao, những bè mây trắng xoá kéo thành một dong dài, mong manh lả lơi như hơi sương quấn ngang đồi thông tiếp nối đồi thông rủ tóc, trải thành dải sô tang quấn trên triền quê hương. Đồi thông từ từ khép bức màn sô tang mỏng dính trong gió rì rào lao xao lay động cây cành nghiêng ngả. Rừng lá thấp xưa kia xanh thẩm mịt mùng ngút ngàn bao cây gỗ quý, hôm nay hầu hết cây cối xơ xác héo úa. Tôi thực sự xa nơi chôn nhau cắt rốn. Nơi đó còn cha mẹ, anh, chị, các cháu, chồng tôi (lệnh cấp trên bắt buộc lính tráng phải tử thủ ở Đà Lạt). Không hiểu họ sẽ xoay-xở ra sao, khi tiếng đạn pháo ngày càng đinh tai nhức óc, dồn dập rót về trên đầu? Thỉnh thoảng súng đạn vun vút rền vang nơi xa xa, tạo thành những đường dài sáng loáng tóe lửa, vút qua vút lại trên bầu trời. Con đường cái quan ngày xưa rộng thênh thang, nay chật như nêm.
    Đoàn xe nhà tôi và bạn gồm bốn chiếc nối đít nhau chạy qua khỏi Krông Pha, tôi chẳng hề thấy ai đi ngược lên lại hướng núi, nơi chúng tôi đang đi xuống. Giòng người đen nghịt nối đuôi nhau đi chỉ một chiều xuôi về miền biển… Tôi định tâm nhìn quanh thấy hàng hàng lớp lớp người lũ lượt kéo nhau tấp nập vội vã đi đông hơn kiến. Kể cả những người gánh gồnh, vai mang lưng cõng, đều nối đuôi nhau lũ lượt tất tả lê lết đi bộ, bàn chân họ cột những tấm quần áo mà chen lấn trên đường nhựa nóng muốn rộp da. Bộ hành kiên nhẫn đi vội vàng, dáo dác nhìn ngược ngó xuôi, lo lắng bước thấp bước cao như thế, lòng tôi bâng khuâng nỗi đau xót lạ thường, tim chùng xuống ngàn đắng cay ngậm ngùi không thể tả.
    Trên đầu dốc tỉnh Ninh Thuận tôi nghe súng đạn luôn ì oành nổ ầm ầm đùng đùng, oằng oằng oằng… pằng pằng pằng… chẳng lúc nào ngớt. Xe hơi lớn, xe hơi nhỏ, xe jeep, xe GMC, xe honda, xe lam, xe ngựa, xe bò... xe lam, xe gắn máy, xe đạp, xe ba gác, xích lô... hầu hết mọi người có phương tiện di chuyển, cùng bầy trâu, bò, heo, chó, ngựa, gà vịt, chen chúc với người và người… tất tả xô đẩy nhau chạy bộ trên con đường chật như nêm, hổn-độn nối đuôi nhau chạy đi, chạy đi... ứ nghẽn.
    Mãi đến buổi hoàng hôn khi qua khỏi Ba Ngòi nóng bức xé da, đoàn xe di tản chậm hẳn lại, dường như không còn sức sống, cạn kiệt nguồn sống rồi chăng, những xe khác không còn yêu xăng, nên xe ù lì nằm ụ từng đám rải rác trên đường từ Phan Rang tới Ba Ngòi, nên quốc lộ đông xe và người càng bị kẹt cứng, xe chẳng thèm nổ máy nữa rồi! Lúc nầy trong đám bạn tôi ai nấy đều thật sự lo sợ và đau khổ. Mẹ con tôi ôm nhau ngồi lặng-lẽ trên xe, cúi mặt thút-thít khóc, lòng tôi rối bời, ngổn-ngang trăm mối, lo-sợ tột cùng. Tôi cho con nhỏ mẹ già di tản, thì ăn ở đâu, ngủ ở đâu? Nhưng ba bên bốn bề ai ai cũng ùn ùn lũ lượt kéo nhau đi, đông kinh khủng thế nầy. Nếu gia đình tôi ở lại, có lẽ càng cô độc và sợ hãi hơn khi bóng đêm bao trùm xuống vạn vật, súng đạn ùa về nổ chát chúa, đinh tai nhức óc mỗi đêm thế nầy, làm sao đây!? Lương quân-nhân, công-chức, như “tiền lính tính liền”, rồi sẽ ra sao khi bồng bế nhau chạy về nơi vô-định? Mấy lúc trước tôi đã bòn nhặt cất dấu được một số tiền kha khá, (đề phòng khi hữu sự bất chợt như bây giờ, thì có mà chi dùng).
    Nào ngờ, Luật thấy trong nhà có tiền, anh nghe bạn than thở, động lòng trắc ẩn là thể nào anh cũng “réo rắt, xeo nạy” cho bằng được, để anh mang tiền đi đưa cho bạn mượn. Cả chục lần như vậy thấy chồng ỉ ôi thở vắn than dài, “dằn vặt đay nghiến” tôi. Dù tôi đã quyết dú đút tiền cất đi, nhưng rồi tôi vẫn “lạt lòng nhẹ dạ” không nỡ từ chối lời anh yêu cầu. Vả lại, tôi không phải là loại đàn bà mê tiền hám lợi, quên tình nhân ái mà bo bo ôm rịt giữ kỹ tiền, tôi không thấy vàng bạc là mắt sáng như đèn pha. Tôi “dại lòng” nên trút hết hầu bao, đưa tiền để anh đem cho bạn mượn trước mặt tôi. Thật ra tôi cũng biết hoàn cảnh tùy gia đình mỗi người bạn, họ đều khó khăn rất tội nghiệp. Họ có tự trọng, nhưng quá khốn đốn mới muối mặt nhờ ta giúp đỡ. Bây giờ bất ngờ ra đi, nên tôi chẳng còn dư bao nhiêu tiền, thì nếu mẹ con tôi không lo chắt bóp ăn rau ăn cháo, chắc là chết đói nơi xứ lạ quê người thôi. Nghĩ tới đó... là tôi cảm thấy quá sợ hãi!
    Gió lồng lộng thổi những hàng cau lao xao cúi rạp mình gần sát đất, khi những trái hỏa châu mắt thần bùng nở đỏ bầu trời nghiệt ngã đang đè lên đầu nhân thế, hòa cùng khói thuốc súng và từng đám mây trắng bay vội vã như đàn cừu hốt hoảng té chạy tứ táng trên đồi cỏ khô. Tiếng súng đạn bay vút lên không trung, tạo thành những màn nhện đỏ au đan chéo qua chéo lại, có đường cát tuyến tiếp tuyến trên không gian mịt mù, tiếng đạn nổ dòn, hòa cùng tiếng lao xao của rừng xoài, tiếng côn trùng đồng loạt tấu khúc dạ trường bất tận… Đêm cuốn đi bởi giòng cuồng lưu cuồn cuộn xô đẩy nhau, chảy theo làn sóng người đang tìm cách thoát thân khỏi tai trời ách nước. Trời sập tối thì chúng tôi đến gần Vịnh Cam Ranh, nơi có chỗ neo tàu sâu, có sân bay chắc chắn và an toàn, có câu lạc bộ, có nhà máy làm nước đá, có hệ thống ra đa tối tân nhất bây giờ. Vịnh Cam Ranh là một lợi thế chiến lược tốt nhất của vùng Đông Nam Á. Từng là nơi tiếp liệu xăng dầu cho hạm đội trong chiến tranh Nhật - Nga từ 1904 > 1905. Ngày xưa là thế, nhưng hôm nay im lìm câm nín.
    Đoàn xe chúng tôi cùng đi gồm: gia đình Trần Ngọc: (mười chín người). Gia đình tôi (sáu người). Gia đình cô Phùng (ba người). Gia đình anh Bàn (mười người). Gia đình Kim mười người. Nhà anh chị Trí ở Cam Ranh có mười tám người, và không kể họ hàng di tản. Nay ở tại nhà anh Trí có thêm đoàn chúng tôi, vị chi tại nhà có cả thảy là 78 người! Kinh khủng quá. Anh chị Trí, mẹ anh, em gái và các con anh chạy ra mừng rỡ tíu tít rôm rã chào đón. Chúng tôi đến bất ngờ, Kim, tôi, Phùng, Ngọc, Bàn, cùng hùn tiền đưa chị Trí, nhờ chị đi chợ nấu ăn giúp có lẽ vài bữa. Ban đầu chị Trí nói qua loa, không nhận. Nhưng sau anh Trí thấy chị Bàn nhét tiền vô túi vợ, anh chồng hất hàm nhìn vợ, vợ Trí mừng rỡ xách giỏ đi chợ. Phút chốc hai ba nồi cơm trắng to tướng, nồi canh chua cá chim, cá thu kho và rau sống, rau muống luộc, đã đọn lên đầy nhóc. Những người mới tới dùng bữa no nê ngon lành. Nhưng tôi và Phùng có con dại, mệt quá nên chỉ ăn qua loa nửa chén cơm, rồi đi tắm rửa, giặt giũ áo quần.
    Phùng và tôi leo lên giường rù rì nói chuyện tới khuya. Phùng bảo đảm với tôi là chỉ cần "chúng ta" an toàn tới Nha Trang, thì mẹ con tôi sẽ ở nhờ tại nhà bà cô của Phùng. Nghĩa là hai gia đình tôi và Phùng sẽ tách riêng những gia đình: Ngọc. Quý. Cúc. Bàn. Sau buổi ăn tối, Kim từ giã chúng tôi đi về hướng Phan Thiết, vì có thân nhân ở đó. Ở Đà Lạt là quê hương tôi, dù gì tôi cũng dễ dàng xoay trở. Nếu về Nha Trang thì coi như tôi bơ vơ, lạc lõng. Tôi chỉ quen thân duy nhất cô Oanh trước kia dạy học ở Đà Lạt, hai năm nay Oanh đã đổi về Nha Trang. Chẳng biết Oanh có còn ở chỗ cũ không?! Còn Phùng về Nha Trang thì bà con hai họ nội ngoại có nhiều. Phùng hy vọng có thể lưu lại nhà thân nhân một thời gian, và tìm cách trở về Sài Gòn. Lúc nầy tôi thật mừng khi có Phùng cùng đi. Bốn giờ sáng hôm sau, chị Trí và mấy người đàn bà trong nhóm tôi lo dậy nấu mấy nồi cơm, canh cá tươi thật to như tối hôm qua. Tôm, cá, mực ở miền nầy quá rẽ so với Đà lạt. Chúng tôi ăn uống no nê xong, tất cả ba đoàn xe chúng tôi từ giã anh chị Trí, lên đường đi Nha Trang. Khi tôi tới chỗ trạm đổ xăng, vì xe hơi của tôi cũng cạn xăng, tôi đi tìm hầu hết mấy trạm xăng, không nơi nào mở cửa. Các chủ trạm xăng đều nói:
    - “Từ đây về Nha Trang các trạm xăng đều bị hết, khan hiếm, đóng cửa không có xăng từ một tuần nay”.
    Trời ơi! Lẽ ra tôi còn bình xăng phụ hai mươi lít dự trữ mà Luật đã bỏ sau cốp, nhưng tôi ỷ y là dọc đường có thiếu khối gì trạm bán xăng, mà lo. Thế nên tôi đã chia sạch xăng cho hai chiếc xe be, xe của Kim, xe Qúy; là bạn đi cùng đoàn. Tôi không hề dự đoán có chuyện bất trắc nầy. Chết rồi. Không ai chịu bỏ xe của mình lại nửa đường, (dù xe của họ cũ, coi thổ tả). Thế là tôi đành ngậm ngùi rơi lệ mà "bỏ rơi" chiếc xe hơi Peugeot 404 mới của mình, (nếu chịu khó chật chật xí, xe tôi cũng có 18 chỗ ngồi) nằm ụ tại Cam Ranh. Đúng như Luật đã nói: “bỏ lại tất cả của cải qúy giá, bỏ hết, lo túm chạy lấy sáu mạng người mình nghen em. Còn người còn của mà em”!
    Mẹ con tôi, mẹ con Phùng leo lên xe lam của Qúy chật cứng những đàn bà, trẻ con cả thảy là mười ba người. Mẹ của Luật và đàn ông, phụ nữ mạnh khỏe khác thì leo lên chiếc xe be không mui. Dạo trước kia xe be nầy dùng chở cây gỗ, nay chở người. Khoảng hơn ba chục người lố nhố chen chúc ngồi trên xe be trần trụi không có bờ vách, họ dùng những sợi dây dừa cột chặt thân người nầy vô người kia, rồi cột vô một cây gỗ cẩm lai và đống đồ đạc cao chất ngất. Xe be và xe lam chạy chậm rì cà rị cà mò, nhưng tôi vẫn lo sợ người ngồi trên xe be chen chúc chật cứng có thể bị lọt xuống đất! Xe be không có mui che mặt trời nên càng nóng rát. Nhóm người lết bộ tay bồng tay bế các em nhỏ khóc la thảm thiết, mặt mày trẻ lem luốc, đỏ ửng như con tôm luộc, mũi dãi lòng thòng. Xe không thể chạy mau trên đường dài ngoẵng có đủ mọi thành phần và tầng lớp… đông hàng vạn người gánh gồnh đi bộ, có đủ thứ loại xe lớn nhỏ. Thỉnh thoảng những chiếc xe bò lọc cọc chở đầy người phủ tấm bạt bay phần phật.
    Đến gần ngả ba thì có một chiếc xe hàng mui bẹp dúm, bốn bánh xe chổng ngược lên trời quay tít máu me lênh láng, trên lề đường đã có mấy xác chết nằm ngay đơ, người trong xe ấy hò hét. Mẹ con tôi sợ hãi bưng mặt nhìn đi chỗ khác, tôi tột cùng run rẩy hoảng loạn, tim nghẽn nghẹt ứ cơn đau, thân thể muốn bay bổng lên chín tầng mây. Đồng thời xe lam của Quý bị hư, cũng do chất đầy người và quá nóng máy, xe lam nầy nhích chạy đường trường không có đèn. Chiếc xe be do Phú lái phải đi sát phía sau, để dọi đường cho xe lam chạy, thật quá nguy hiểm. Đèn pha của xe GMC ngược chiều nào đó dọi sáng trưng, suýt tí nữa thì xe lambretta của Quy chồm tới rất sát xe khách trước mặt, (hoặc là chúng tôi nằm gọn dưới lòng xe be)! Anh tài xế xe GMC nghiến răng gò lưng đạp thắng kít kít kít, trên xe mọi người đông nghẹt đều dồn đống, chúi nhũi tới phía trước xe GMC. Bốn bánh xe GMC rít ken két dưới mặt nhựa, tỏa khói bay khét lẹt. Tôi khó có thể đoán tuổi đời anh lính dãi dầu sương chiều nắng gió ấy đã trải qua bao xuân xanh, khiến da mặt anh càng sạm đi lúc hiểm nguy nầy? Cả bộ quân phục mặc trên người hình như càng bạc phếch phong trần, hay do bụi cát rít dưới những bánh xe? Chúng tôi chỉ biết kêu Trời cứu mạng. Khi đèn xe rọi tới trước, tôi thấy những đứa trẻ con trạc bằng tuổi con tôi, nghe tiếng bánh xe lết dài trên đường nhựa, chúng hốt hoảng mệt mỏi quýnh quáng bám theo chân người lớn vọt lẹ lên lề.
    Thật hú hồn hú vía, nếu anh tài xế xe GMC không tháo vát, nhanh nhẹn, không có kinh nghiệm, ắt hẳn là tai nạn rùng rợn kinh khủng sẽ xảy ra không thể lường! Trong lúc nầy lòng tôi bỗng nổi lên sự ấm ức quá tức giận, vì chuyện tôi đã "nhân ái" và "anh hùng rơm" để rồi đành vứt bỏ lại chiếc xe 404, để leo lên chiếc xe lam cũ thổ tả nầy! Biết làm sao được khi mình có lòng nhân không hề tính toán thiệt hơn, đã hậu hỉ hân hoan và thành tâm trút hết xăng cho xe bạn!
    * * *
    Từ Cam Ranh khởi hành lúc mười giờ sáng, mãi đến mười một giờ đêm đoàn xe dài ì ạch khoảng trăm cây số nầy mới đến Nha Trang. Các ngã ba ngã tư giòng người đang cố chen lấn, giành cướp tí đất sống, xe và người vội vàng sát nhập chung nhau trườn lết tới vùng đất hứa hẹn an toàn. Họ cố chen từng bước, từng bước, ùn ùn tìm về vùng tạm lánh cư có lẽ bình an hơn: Nha Trang… Chúng tôi ghi cho nhau địa chỉ bà con ở nhiều nơi, ngộ lỡ có biến loạn, hay cần liên lạc, thì biết mà tìm. Chúng tôi chia ra nhiều hướng: Gia đình Phan Bàn ở nhờ với bà con của họ tại đường Nguyễn Tri Phương. Đại gia đình Trần Ngọc ở nhà bà con. Vợ chồng Phùng, bà mẹ Luật, tôi, và bốn con thì về nhà bà cô của Phùng. Có thêm chúng tôi, nhà bà cô hơi chật càng nghẹt thở hơn, cổng sắt cao lút đầu, màn che trướng rủ kín mít. Họ nói chuyện với nhau thì thầm to nhỏ, mắt la mày lém, dáo dác nhìn trước ngó sau len lén rù rì. Họ tỏ lộ vẻ khó chịu ra mặt khi có sự hiện diện của gia đình chúng tôi, họ bất an sợ sệt những điều gì lạ lắm. Hay họ sợ mẹ con tôi biết họ quá giàu, họ “nuôi ong tay áo, nuôi khỉ đốt nhà”... thì tôi nảy sinh ra tham lam mà trộm cướp chăng?
    Sống tại nhà bà con của Phùng, tôi sợ các con ồn ào làm vướng bận, phiền gia đình bà cô, nên mỗi ngày chúng tôi phải đi qua bên trường Tiểu-học, ngồi ngoài gốc cây phượng mua quà bánh ăn qua loa. Chiều chiều chúng tôi mò ra biển ngồi dưới hàng dừa hứng gió mát, để cho các con nô đùa ở biển. Chờ sau giờ họ ăn cơm, tối mịt chúng tôi mới dám mò về xin phép chủ nhà cho tắm rửa, đi nằm ngủ nhờ dưới nền gạch bóng loáng trải mền bông xuống nền nhà, mẹ con bà cháu đều chui vô nằm chen chúc trong một cái mùng rộng. Tóm lại, chúng tôi chỉ xin ngả lưng ngủ nhờ. Năm giờ sáng, tôi lo đánh thức cả nhà dậy, lại thất thểu lang thang đi ra ngoài lộ sớm. Hai hàng nước mắt tôi thầm lặng vẫn tuôn trào.
    Mặc dù từ Đà Lạt về Cam Ranh, bạn biết tôi không có thân nhân ở đây, Phùng đã cam đoan chắc chắn là: mẹ con chúng tôi khỏi lo vấn đề ăn & ở Nha Trang trong thời gian vài tháng. Tôi ngây thơ đã tin bạn. Nay Phùng cảm thấy khó xử, tôi cảm thông vì nhà nầy không phải là nhà của Phùng. Dẫu sao Phùng cũng áy náy và hổ thẹn với tôi. Qua ngày thứ bốn, tôi thấy mặt mày ai nấy đều nặng như chì, khi Phùng bồng đứa con lên máy bay về Sài Gòn. Thái độ ngược đãi ấy đã được khẳng định mọi điều dứt khoát rằng: Sau khi gia đình Phùng an toàn tại Nha Trang có đủ điều kiện để họ tìm đường trở về Sài Gòn, thì họ muốn bỏ rơi chúng tôi. Như thế thì đã rõ rồi, dễ hiểu quá. Phùng nên đi trước, mai mốt ông chồng Phùng sẽ về sau là lưỡng tiện đôi đàng, ông sẽ ú ớ ù lì ngơ ngơ ngáo ngáo, là huề cả làng. Họ “siêu tổ chức” khỏi mất công “hứa lèo” với tôi. Mặc tôi xử trí ra sao với bà cô và chính chúng tôi, thì ra... Tôi thật ngây thơ, việc vợ chồng Phùng hứa suông chẳng khác nào đem con đi bỏ chợ, tôi đã giao trứng cho ác...
    Thà rằng tôi ở lại Cam Ranh, dù sao gia đình anh chị Trí cũng là chỗ thân tình. Vả lại họ còn nợ tôi một món tiền kha khá... 200.000 đồng (do Luật “hứng nợ” đưa cho Trí). Rồi sau nầy cộng thêm nợ mới là: Trí nợ bạn và chúng tôi một số tiền khổng lồ: Do, công ty chúng tôi làm ăn chung, đã trúng thầu, nên thuê một trăm nhân công tháo gỡ xuống năm trăm căn nhà tiền chế của Mỹ, & thuê bao nhân công và tài xế ăn uống, tiền làm mỗi ngày, họ chở vài trăm chuyến xe vật liệu, về bán trả góp cho dân ấp Vĩnh Linh cần làm nhà (thuộc Cam Ranh). Vì ở ấp Vĩnh Linh mới thành lập, chính phủ chiêu mộ dân tứ xứ đến vùng nầy lập nghiệp... Những chi phí ban đầu trang trải do công ty chúng tôi hoàn toàn bỏ ra, từ tiền mua nhà tiền chế hai triệu tư, tiền thuế cầu đường, thuế trạm... tiền bến bãi chứa hàng, tiền mướn nhân công tháo gỡ, đài thọ nhân viên lao động ăn uống, tiền linh tinh, v.v... công ty đã chi phí mà chưa hề thu lại vốn. Vì tiền bán những nhà tiền chế nầy, các bạn ở Đà Lạt xa đây cũng tin Trí, để ưu tiên cho Trí đứng ra bán, và làm thủ quỹ trong việc thu tiền. Thì anh ta đã thâu tóm hết, vung vít tiêu xài hoang phí, lại lòi ra chuyện Trí đèo bồng thêm vợ nọ con kia, (mà bà vợ hai nầy không ai khác là em ruột của vợ anh ta). Trí lem nhem không chuyển trả cho tôi, và bất cứ ai ai trong nhóm bạn một đồng nào cả. Tôi nấn ná ở lại Cam Ranh, là cốt ý muốn Trí trả bớt món tiền riêng của tôi, (do Luật “hứng nợ”), mà Trí đã mượn tôi, (chứ tôi chưa tính đến chuyện Trí phải trả tiền anh ta nợ chung trong công ty. Mặc dù chúng tôi biết lúc nầy Trí vẫn có khá nhiều tiền, nhưng do lòng tham lam, vô trách nhiệm, không hề biết tự trọng, không biết xấu hổ, nên anh ta cứ "mặt trơ trán bóng" trân tráo... ù lì, không chịu rỉ ra đồng nào, Trí phải biết chính lúc nầy ai ai cũng cần có tiền). Sau nữa là để tôi giữ liên lạc dễ dàng với Luật. Dù sao đường đi từ Đà Lạt về Cam Ranh, cũng gần hơn đi Nha Trang, và nơi nầy chưa bị phong toả. Ôi! Thế nhưng... người tính không bằng Trời tính!
    ***

    Tình Hoài Hương
    Bút trần nào tả được lưu luyến!
    Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
    Tình Hoài Hương

  12. The Following 3 Users Say Thank You to Tinh Hoai Huong For This Useful Post:

    BachMa (03-24-2020), muahong (03-26-2020), SVSQKQ (03-24-2020)

Trang 42/45 đầuđầu ... 324041424344 ... cuốicuối

Similar Threads

  1. Góc Thơ Tình Hoài Hương
    By Tinh Hoai Huong in forum Trang Thành Viên
    Trả lời: 413
    Bài mới nhất : 08-01-2020, 01:46 AM
  2. Góc Thơ VUI Tình HOÀI HƯƠNG
    By Tinh Hoai Huong in forum Vui cười
    Trả lời: 136
    Bài mới nhất : 08-22-2019, 06:04 PM
  3. Góc... Cafe_Coc
    By PhiLan in forum Tham Luận
    Trả lời: 168
    Bài mới nhất : 01-04-2017, 05:44 PM
  4. Đọc truyện Lữ Quỳnh
    By Hoanghac in forum Truyện ngắn
    Trả lời: 3
    Bài mới nhất : 02-02-2013, 04:49 PM

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter