Trang 2/12 đầuđầu 1234 ... cuốicuối
kết quả từ 7 tới 12 trên 69

Tựa Đề: Dưới rặng Trường Sơn Tây

  1. #7
    vinhtruong's Avatar
    Status : vinhtruong v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2010
    Posts: 1,926
    Thanks: 838
    Thanked 3,809 Times in 1,535 Posts

    Default

    Dưới rặng Trường Sơn Tây

    Toán-trưởng Cao-Ngọc-Huân đột nhập Hạ Lào Nhìn tổng quát, xê dịch qua phía nước Lào chưa đầy chục cây-số thì đất đai có vẻ phì-nhiêu hơn, các con suối nước không chảy xiết như bên Trường-Sơn Đông mà chảy êm ái qua phía Tây, lượn khúc để nhập vào con Sông Sé-Kông rồi nhập vào các phụ lưu Sông Mê-Kông, nơi đây một thị trấn nhỏ chiến lược có tên là Attopeu mà tình báo Mỹ đang đặt cặp mắt xanh vào đó. Vì thế mới có cuộc hành quân “Lôi-Vũ” do đích thân trùm Tình báo William Colby tổ chức và điều hành. CIA đặt tên cho cuộc hành quân nầy là (STRATA’ Infiltration) trải dài gần 900 miles từ đèo Mụ Giạ, Ban-Karai, Tchepone đến Attopeu, Saravane và đây là trục sẽ phát hoạ ra Trường Sơn Tây, tương lai là Xa lộ Liên Bang Ðông Dương theo dự tính của nhóm tham mưu Harriman để đối chọi với xa-lộ Trung Quốc lén lúc thiết lập con đường từ Côn-Minh đến bờ biển Ấn-độ-dương xuyên dọc theo nước Miến Điện.

    Ở Kontum, Colby đặt ban chỉ huy hậu-cứ tại Trung-Đoàn 42/Sư Đoàn 22; còn ở gần giới tuyến Bến Hải, đặt hậu-cứ tại Quận Hương-Hoá, Khe-Sanh, Thiếu-Tá Trần Khắc Kính chỉ là Sĩ-quan phụ tá cho Colby, lo công việc liên lạc hành quân giữa các Toán nhảy Thám sát và các địa phương. Các cuộc hành quân Strata nầy do CIA điều động trực tiếp và tài trợ luôn cho cả Phi-đội Queenbee mà CIA đặt tên CAS Flight Group do Toán đặc biệt Special Force gồm Seal/Project Delta Force trắc nghiệm và tuyển chọn

    Giữa năm 1961, được biết nơi thị trấn Attopeu, do Trung-Tá Khâm-Không, Chỉ-huy Trưởng Yếu-khu Attopeu. Tình hình nơi đây được biết, chính phủ Lào chỉ kiểm soát được từ Mường-May đến Mường-Cao, nằm ở hữu ngạn Sông Sé-Kông, cách Mường-May khoảng 12 cây số về hướng Đông mà thôi. Còn như bên kia Sông Sé-Kông là vùng Pathet-Lào thường hoạt động, nơi đó có con đường mòn chiến lược giao liên từ Bản Phya-Ya tới Bản Tà-Xẻng.

    Cuộc hành quân ‘Lôi-Vũ’ đầu tiên trên đất Lào được thực hiện vào tháng August/ 1961 sau đó trãi dài về hướng bắc trên các cao điểm (nhìn sách “The New Legion” trang 33 thấy hình Queenbee/H-34 đáp một bánh trên chóp núi đĩnh đèo Ban Karai) từ Saravane, Attopeu, Tchepone lên đến Đèo Ban Karai, Ban Ravan, và Mụ-Giạ. Thoạt tiên do hai Toán 7 và 8 bí mật nhảy xuống, mỗi Toán gồm 6 người với vũ khí Tiểu-liên Tiệp-Khắc, nhiệm vụ chỉ thám sát, tránh tuyệt đối không đụng độ. Tiếp theo, Toán 1 được thả xuống phía tả ngạn sông Sé-Kông, gần ranh giới giữa 2 tỉnh Attopeu và Saravane, ở phía Đông Cao nguyên Boloven; ngay ngày hôm sau, các Toán 2, 3 và 6 được tiếp tục thả xuống. Các Toán đã được chỉ định trước, chia ra từng vùng khu, khoanh vòng trong bản đồ, vùng trách nhiệm để lục lọi quan sát; mỗi Toán hành quân cách nhau chừng vài cây số như đã ấn định; Sau cùng, Trung-úy Toán-trưởng Cao-Ngọc-Huân chỉ-huy tổng quát được thả xuống sau hết. Đó là Toán 4 chỉ huy.

    Các Toán 1, 2, 3 và 6 hoạt động trong vùng Phy-Ya, đến đầu tháng October/1961, được lệnh triệt thoái về nơi an toàn gần biên giới Việt-Lào, khi đến mí bìa rừng cạnh chân núi thì được chúng tôi dùng Trực-thăng Queenbee H.34 sơn màu ngụy trang, không cờ, số bốc về. Giữa tháng October /1961, đến phiên, hai Toán 5 và 10 được thả xuống nam Bản-Đông, gần Mường-Nông, một Huyện đang do nhóm Đại-úy Không-Le phe Hữu kiểm soát, nơi đây có một con đường mòn huyết mạch nối liền từ Bản-Đông đến Mường-Nông rồi vào tỉnh lỵ Saravane. Đây cũng là vùng mà quân Pathet-Lào phối-hợp với lính Bắc-Việt, thuộc Đoàn 959 dùng bảo vệ sự chuyển quân và tiếp liệu lén lúc vào Miền-Nam Lào đến tam biên bằng con đường 14B thuộc phần đất Cambodia.

    Mọi việc đang diễn tiến vô cùng tốt đẹp với những kết quả thu lượm được rất đáng khích lệ, thì có lệnh William Colby bảo phải rút ra khỏi Nam Lào khẩn cấp, dĩ nhiên là có mật lệnh của Harriman cho Colby, vì đã “kiểm chứng” được sự có mặt của quân Bắc-Việt và Pathet Lào để tham dự trò chơi chiến tranh CIP/NLF và tình hình thời tiết địa dư có khắt nghiệt trong việc phóng đường?

    Trong thời Đệ II Thế chiến, Harriman và Colby là cặp bài trùng, mọi diển tiến xảy ra khi Hồng-quân Liên-Xô tiến về Berlin, Trung-úy OSS, W.Colby phải báo cáo cho Harriman tại Moscow kịp thời, lúc đó là Đại-sứ Hoa-kỳ ở Liên-Xô. Mục đích chính là chụp cho được nhiều nhà Bác-học Đức càng nhiều càng tốt, nhưng lại muốn tiết kiệm sinh mạng quân sĩ Mỹ. Sư-Đoàn Dù chỉ nhãy vào Berlin đúng lúc và đúng chỗ để chụp các nhà Bác-học Đức trên tay Liên-Xô. Harriman lợi dụng Nhóm Bác-học nầy cho quyền lợi Tư-bản về phát triển kỹ nghệ chiến tranh qua thế-hệ “phản-lực” giữa Liên Xô cùng Hoa Kỳ nhưng điều cốt yếu là phải có xạ trường để thí nghiệm, trong lăng kính của thủ lảnh Bonesmen là bầu trời Triều tiên cho quốc phòng [Mig-15/F-84] và Việt Nam cho kinh tế qua Hàng Không Dân Sự (Thật là may mắn, Hoa kỳ đã vồ-chụp được nhà bác học Ðức Dr. Werner von Braun và một số khoa học gia về hỏa tiển, Prescott Bush, chủ tịch Hội đồng Kỹ nghệ chiến tranh WIB bèn đi thẳng vào ngay chương trình dọ thám qua vệ tinh [American Spy Satellite Program] với tiền tài trợ vô hạn, qua đó Hoa kỳ mới phát hiện được những tài nguyên thiên nhiên dưới thềm lục địa trong đó có ở Việt Nam cũng như nằm sâu dưới lớp tuyết vùng Tây Bá Lợi Á và những nước Cộng hòa Trung-Á, tất cả đã nằm sẳn trong lăng kính của Harriman.

    Hành-pháp Kennedy khi nắm chính quyền đã thực tâm quan niệm rằng phải thực hiện một nước Lào trung lập thật sự, Kennedy không muốn dính dấp quân sự ở vùng quá xa-xôi nầy; Tất cả các lực-lượng ngoại quốc phải rút ra khỏi Lào và cấm xử dụng lãnh thổ Lào vào các mục tiêu quân sự, sẽ có Hiệp ước hoà-bình tại Lào vào ngày 23/July/1962 do Kennedy chủ trương. Một chính phủ trung lập do Souvanna-Phouma lãnh đạo sẽ cai-trị toàn lãnh thổ Lào, nhưng tiếc thay tổng thống Mỹ chỉ là một tổng quản lý (General Manager) cho một sách lược dài hạn được gọi là trục lộ đồ Eurasian.

    W.A Harriman được TT Kennedy ủy nhiệm công việc tái lập Hiệp-định hoà bình trung lập cho nước Lào, nhưng ông lại làm theo kế hoạch của riêng ông là theo đúng lộ trình Eurasian với Nhóm học-giả đã thiết kế từ 1950. Khai phá Trường Sơn Tây từ đèo Mụ-Giạ băng ngang qua phần đất của lãnh thổ Lào, như Tchepone, Attopeu, Saravane đó là khúc đường dài 900 miles đến Ba biên giới Việt-Miên-Lào là mục tiêu siêu chiến lược cho mai hậu; nhưng phải do công cụ gián-tiếp mà nhiệm vụ lại là “trực-tiếp” khai phá, do quân lính CSBV mở mang con đường Trường Sơn Tây. Thuốc khai hoang sẽ phóng đường (tracking) làm dấu hiệu vàng lá và trống trải; kèm theo hàng trăm ngàn cây “antenne” chuyển âm được thả xuống dọc theo đó, móc trên cành cây hoặc ghim xuống đất để “kiểm chứng” âm thanh, theo dõi các hoạt động của quân BV để không bị nhầm lẩn khi oanh tạc được gọi tên rõ ràng là Tiếng Sấm Rền (Rolling Thunder) Cứ hỏi bộ đội BV thì rõ là ngày ngày cứ nghe tiếng sấm rèn của B-52 cách xa xa vọng lại. B.52 sẽ phá và bình địa những vùng núi đá để tạo những reservoir nước rất cần cho người và xe khi leo lên núi chỉ có 8 cây số/giờ máy nóng cần nước. Nếu như làm đường theo kiểu phương giác-từ, phát xuất từ dưới đất, phóng thẳng theo đường chim bay sẽ có nhiều trở ngại, như phải làm quá nhiều cầu, lên xuống quá nhiều dốc đứng, thay vì chỉ lệch qua Trái hay Phải vài độ giạc, đã dễ làm đường mà ít tốn phí nhiều công xây dựng cầu cống chằng chịt qua những con suối dưới đó. “Con người dẩm chân mò-mẩm trên mặt đất mới thật sự là “Hoàng-đế của sự khai phá đường xá”

    Còn tiếp

  2. The Following 5 Users Say Thank You to vinhtruong For This Useful Post:

    BinhAn_HanhPhuc (05-23-2013), khongquan2 (02-25-2012), loc4HTTT (03-03-2012), nguyenphuong (05-21-2013), TAM73F (04-21-2012)

  3. #8
    vinhtruong's Avatar
    Status : vinhtruong v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2010
    Posts: 1,926
    Thanks: 838
    Thanked 3,809 Times in 1,535 Posts

    Default Dưới rặng Trường Sơn Tây

    H-34 kê một bánh xe trên tảng đá của đỉnh đèo Ban Raving (hinh trang 133)
    Những tia nắng cuối cùng yếu ớt đang tỏa xuống từ bên kia biên-giới Lào-Việt, căng-thẳng thần kinh, mở mắt to, tôi đang ghì tay lái bay là sát trên ngọn cây, vừa phải giữ tốc độ, vừa phải o-bế dưỡng bộ-phận máy đang nổ đều-đều dưới bốn cánh quạt uyển-chuyển nhưng cứng rắn, quay tít tạo nên âm-thanh dễ ru-ngủ người Phi-công Biệt-kích. Nhưng làm sao ngủ được… phải dựng tóc gáy lên vì chút nữa đây sẽ có nhiều biến chuyển bất trắc xảy ra!

    Bay “Kạ-Càng” trên ngọn cây như vậy đã tám phút trôi qua rồi, làm sao phi-cơ địch biết được giờ nầy có chiếc Trực-thăng không cờ, không số, màu ngụy trang lá rừng đang tiến về hướng đỉnh núi vôi Coroc. Bay sát trên ngọn cây nhìn nó giống như cái chòi canh khổng-lồ của Lào-quốc nhìn chòng-chọc sang Việt-Nam với những sườn đá vôi dốc đứng, trên cao độ hơn ba ngàn bộ với đỉnh chiều dọc ba dặm trải dài chín mươi dặm đến tận chân đèo Mụ-Già.

    Tôi phải tính cách nào đây khi thả Toán STRATA nầy vào bãi đáp thì trong giây lát màn đêm phải hoàn-toàn bao phủ, có như vậy mới bảo-đảm được cuộc thâm-nhập tuyệt đối bí-mật cho toán STRATA nầy có nhiệm vụ thám sát đường mòn Hồ-Chí-Minh, tuyệt đối tránh đụng độ với địch, báo cáo mọi hoạt động trên đường mòn, Binh trạm, Trạm truyền tin, Bệnh xá, Công-xưởng, tuyến đưòng xe vận-tải Molotova, Bải-đậu, nều cần bắt sống tù-binh đi lẻ-tẻ và gọi Trực-thăng bốc ngay. Toán làm việc ngắn ngày, thời hạn từ mười ngày đến tối đa là hai mươi ngày là bốc về ngay. Nhiệm vụ chính là thám sát nút chận trên đoạn đường từ thành phố Vinh vào nam Lào bằng đường 1036 nhập vào đường 101 xuôi về nam (theo bản đồ của SOG/Delta), trước khi vào Hậu cần 604, Tchepone phải qua đường 92 sau khi leo đèo Ban Raving, nơi đây là bãi đậu xe Molotova (hạng-2 vì toàn xe nằm ụ chờ sửa chữa và là mục tiêu B-52 phải oanh tạc “dọn rác” tiêu hủy sau, theo đúng điều kiện trò chơi chiến tranh (Rule Of Engagement).


    Bỗng một cơn gió cuốn giật mạnh con tàu rơi xuống sát ngọn cây, tôi vội-vàng kéo lên, thì cũng trong tích-tắc Phi-cơ thoát qua khỏi một cây khô cao lớn nằm chơ vơ giữa đám rừng chồi, thật hú-hồn, hú-vía vì ánh nắng chiều chói mắt… Đã tới điểm chuẩn núi Coroc, tôi bắt đầu bay sát phía cạnh sườn núi tiến về hướng Bắc đèo Ban-Raving, mừng thầm dãy Trưòng-Sơn phía bên nầy trời nắng tốt, nhưng một nửa bên phía Đông Trường-Sơn mây bao phủ dày-đặc, như vậy là bên kia đang bị mưa giông.

    Mới vừa hôm qua đang du-hí ở Vũ-Trường Baccarat, thì được lệnh ngày mai phải có mặt ở Khe-Sanh trước mặt trời lặn; Hí-hửng tưởng bở tôi gọi điện thoại cho Thiếu-tá Chỉ-huy-Trưởng:
    “Thưa Thiếu-tá…trời đang bão lớn, Phi-trường Nha-Trang ngập nước, tất cả Phi-cơ không được phép đáp, điều kiện thời tiết QGO (về không-lưu ám hiệu cấm đáp, cấm bay).
    “Ối ziời, trời thanh mây tạnh gió mát trăng thanh thì còn con Mẹ gì gọi là yếu tố bất ngờ”.
    “Moa muốn Toa có mặt ở Khe-Sanh ngày mai càng sớm càng tốt, trước khi mặt trời lặn”.
    Thế rồi phía bên kia một tiếng cụp tắt máy khô-khan lạnh-lùng, đổi lại phía bên nầy một sự nực-nội khó tả. Thôi tôi phải gác qua sự vui chơi đi, không thi hành mệnh-lệnh thì bỏ Mẹ ngay.

    Nhìn qua bên phải, phía Bắc vùng phi-quân sự… trống-trơn không có dấu vết gì về sự hoạt động của con người, không đường-sá, không làng-mạc, không có dấu vết gì gọi là điểm chuẩn để định hướng cho Phi-công nhờ, chỉ có những đồi Cỏ Voi nằm thoai-thoải dính vào nhau với cao-độ một ngàn năm trăm bộ như những trứng bể úp vào nhau quây quanh bởi những con suối cạn chằng-chịt như ổ Nhện.

    Tôi đang bay sát cạnh sườn núi, trên một thung-lũng thật hẹp mà trước đây Toán STRATA đã bắt sống được một tù-binh Nguyễn-Tương-Lai, Lai là một Sĩ-quan đặc trách về đường mòn 559, anh cho biết đoạn đường dọc theo suối dưới nầy xuôi về Nam-Lào là con đường thoai-thoải nhỏ vừa đủ để xe đạp Thồ mà thôi, nó cũng là một nhánh nhỏ đi tắt dành riêng cho xe đạp thồ xuất phát từ ngang hông đường 1036 của hệ-thống đường mòn Hồ-Chí-Minh chạy dọc xuống Nam-Lào, đặc biệt nó là đường mòn tương đối bí-mật nhất, Phi-cơ không thể nào phát hiện dưới lùm cây ba tầng, vô cùng rậm-rạp nầy, không có ánh nắng nào có thể chui đến mặt đất.

    Một chiếc xe-đạp Thồ có thể mang nổi trên hai trăm Kilô quân dụng đạn dược, (trong hình tài liệu youtube, cũng như trong sách “The New Legion” gunship VNAF đã bắn tiêu hủy trên đường 92 vào Tchepone, xác xe thồ nổ tung banh ra nhiều mảnh trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, các xe thồ nầy chuyển vận tạc đạn pháo vào trong sâu dưới chân núi, để toán dân công khuân vác bằng sức người đeo trên lưng, như hình trong sách, để leo trèo trên thang cây đến các đỉnh ụ phòng không, cũng như pháo diện địa 152 ly xuyên phá, chúng là “khắc–tinh” của các CCHL/VNCH, đây cũng là phương thức chiến thuật của tướng Võ Nguyên Giáp lập lại kéo pháo lên tận các đỉnh núi để bắn trực xạ xuống từ xung quanh ĐBP, nhưng cũng bị gunship VNAF, nhứt là sát pháo, Trung úy Trần Lê Tiến anh dũng tiêu diệt ngay trên hóc đá hầm miệng Ếch, bằng hoả tiễn chạm nổ và Flechette chống biển người.
    Thồ từ trạm nầy đến trạm kia xong lại đem xe không về trạm cũ để tiếp-tục thồ lại chuyến khác, đôi khi phải thồ luôn cả ban đêm. Tuyến đường xe thồ nầy hoàn toàn được giữ bí mật kể cả quân đội Bắc-Việt cũng không thể biết chỉ trừ toán khuân vác xe thồ là thông thạo. (chỉ có nhân viên phòng 7 biết chuyện bí mật nầy mà thôi, dĩ nhiên là qua tù binh bị toán STRATA bắt sống)

    Ánh nắng chiều bên trái tôi, đang thoi-thóp yếu dần không đủ cho tôi thấy nổi những cây cao trơ-trọi không cành, lá đang bay ngược lại trước mặt tôi, hoảng-hốt kéo cần lái vút lên không biết bao nhiêu lần. Là phi-công tình báo gián điệp, tôi rất thông-thạo vùng biên-giới Lào-Việt nầy. Nếu bay cao, hiểm-họa bị bắn rớt sẽ không lường được. Theo tin-tức của trạm tiền-phương Đoàn chuyên vận 559 nơi đây có hai Tiểu đoàn phòng không bảo vệ cùng che chở hỗ tương bởi Trung đoàn 24B/Sư đoàn 304 BV là thổ-điạ vùng nầy.

    Nỗi lo-lắng bồn-chồn khi tôi nhìn thấy đồng-hồ xăng báo hiệu chỉ còn một bình xăng trước mà thôi, như vậy là tôi còn bay được tối đa là một giờ mười lăm phút. Vì lý-do phải đáp trên đỉnh núi với sức nặng tối đa, không như các LZ chọn sẵn trong nội điạ, như phải qua phương thức High, rồi Low reconnaissance, nên tôi đã tự quyết định, chỉ đổ hai bình xăng để nhẹ-nhàng dễ xoay-sở vào lúc đáp trên cao-độ với áp xuất bất lợi vào một ngày nắng hốc oi-ả bên Lào.

    Trước mắt tôi là đèo Ban Raving, tôi bắt đầu dùng sức máy đem Phi-cơ qua khỏi ngọn núi bên kia đèo để khi đáp xuống thì quân Bắc-Việt sẽ không biết gì cả. Vài sợi nắng vàng còn động lại bên bờ Tây, tầm nhìn xa bắt đầu thâu ngắn lại, tôi bảo Chuẩn úy Tống Phước Hảo tạm giữ tay lái, trong khi tôi đạp kéo cần thắng bánh đáp. Nhanh như cắt, chiếc H-34 chúi đầu xoay tròn như một giọt nước khổng-lồ từ không-trung tuôn xuống…tôi bất chợt giữ đứng khựng lại ‘quick-stop’ như con chim gõ-kiến: Càng bánh xe bên phải đang gác lên một tảng đá rong rêu trơn trợt, trong khi càng đáp bên trái và bánh đuôi đang lủng-lẳng ngoài không gian, rung-rinh theo cơn gió xoáy, một…hai… rồi năm, sáu giây … Toán trưởng STRATA, Ðèo Văn Ðức nhảy sau chót đang cùng năm toán viên khác ôm chầm lấy nhau cho khỏi rơi xuống vực thẳm.
    “Thật là một sự thâm-nhập ngoạn mục và bí-mật vô cùng!”
    Tôi cất cánh chúi mũi… chúi mũi lấy tốc lực, phải nhẹ-nhàng tay lái. Tiết-kiệm xăng tối đa, tôi rán giữ cao độ ba ngàn bộ không lên không xuống, với cao độ nầy tương-đối là an-toàn lướt qua những dãy núi trước mặt và vùng phụ cận hai bên.

    Bây giờ màn đêm hoàn-toàn bao phủ, ở vùng núi màn đêm thường ập tối nhanh hơn ở vùng đồng bằng; Tôi vặn đèn hồng nơi phòng lái điều chỉnh vừa đủ sáng để khỏi mau mỏi mắt theo như sách nhà trường đã dạy. Bay phi-cụ là phải hoàn-toàn tin-tưởng vào. Bây giờ nỗi băn-khoăn ám-ảnh về số xăng có còn đủ về tới Khe-Sanh hay không, nếu không thì phải đáp ở đâu? Dưới đây vẫn còn trên vĩ-tuyến 17, ánh đèn hồng và những nét chữ, số lân-tinh cứ quay cuồng theo ánh mắt liếc nhìn qua lại không dứt của tôi, khổ nỗi liên-tục ám-ảnh số xăng còn lại cứ xoáy tròn trong óc
    “Phải chi đổ đầy ba bình thì bây giờ mình bớt lo…”
    Cứ lẩm-bẩm mãi trong miệng như người điên!
    “Nhưng đổ xăng đầy thì sức máy làm sao chịu nổi khi phải đáp trên đỉnh núi cheo-leo kia”
    Vừa nghĩ đến đây, trước mắt tôi đen kịch, bỗng chớp sáng lóe trong giây lát rồi tắt lịm để lại một màu đen rợn người. Có tiếng mưa rào-rạt trước mặt kiếng, coi chừng đám mây hình cái đe, cumulonimbus mà mình vừa phát hiện đám mưa giông khi nãy, nếu máy trục-trặc, dưới đây là dãy Trường-Sơn vẫn còn trên vùng địch, làm sao đáp được an-toàn khi máy mất năng xuất, nhất là lúc đêm tối như mực thế nầy. Phía dưới bên phải, Trường-Sơn Tây, theo không ảnh từ U2 chụp được Bắc-Việt đã mở một con đường mòn dài chín trăm cậy số từ đèo Mụ-Già đến Benhet qua các hậu cần 604, 603, 602 để xử dụng vào mùa gió Bấc, vì Trường-Sơn Đông bất khả dụng, nước đỗ như thác, suốt ngày xoáy cuốn, mọi sinh hoạt đều phải đình động không xoay-xở xê-dịch được.

    Phi-cơ bắt đầu lắc mạnh như sắp chui vào đám mây, làm sao biết được trước mắt mình có gì ngoài một màu đen dễ sợ, dẫu sao, bất cứ giá nào mình cũng phải kềm giữ cao độ nầy, không thể đổi hướng qua trái hay phải, vì phải tiết kiệm xăng tối đa. Xuống thì không được rồi, vì sợ đụng vào núi, mà leo lên thì càng không được, vì dùng sức máy tốn nhiều xăng, đổi hướng qua lại nhiều lần càng bất lợi vì tăng thêm phút bay. Xa-xa có ánh sáng chớp lóe rồi vụt tắt, phản ảnh cùng lúc trong nón bay tôi nghe được cùng lúc với ánh chớp, những âm thanh parasite “Chiez…iez” của từ trường điện từ. Tiếng máy gầm thét nổ to bất thường dội ngược vào buồng lái, phi-cơ như bị hút cuốn vào đám mây dày-đặc giữ kín âm thanh không cho thoát ra ngoài, ngọn lửa nơi ống thoát màu xanh rồi vàng đỏ, phun ra to rồi nhỏ lại theo vòng máy bị vùi dập trong cơn gió xoáy nhắc tung bốc lên… kéo trì xuống, phi cơ rùng mình kêu răng-rắc, có lúc Phi-cơ như muốn quay ngang, cánh quạt lớn dường như không muốn ở lại với chủ, cánh quạt đuôi cứ dùng-dằng không biết ở hay đi.

    Con người chớ thánh-thần sao mà không hồi-hộp, lo-sợ, rồi một cái chớp sáng lóe cả phòng lái, tôi không còn tâm-trí đâu nữa mà nghe tiếng sét, phản xạ trong nón bay, cánh quạt chặt vào nước nặng-nề như muốn giảm bớt vòng quay, có phải khối nước đang vây chặt vào thân tàu? Phi-cơ bị nhồi lên cao… cao nhẹ cả người… rồi giật mạnh xuống quay phải… như muốn quay đầu lại, chịu thua khối nước độc-ác trước mặt; Những cảm giác dính chặt vào ghế lái cũng như thót ruột không còn trong tâm-trí của tôi nữa, áp lực máu đang dồn lên nơi đầu, trán quá nhiều đến độ tôi cảm thấy khô môi, đắng miệng, khô cổ, mặc cho nước mưa thấm vào mặt, sức nóng rồi lạnh vô chừng làm tôi càng thêm choáng-váng. Cố kềm giữ hướng 140 độ! Cao độ ba ngàn bộ, có phải con tàu quá cũ, nên nước đã chui được vào phòng lái, áo bay ướt đẩm, tôi cảm thấy lạnh ớn xương sống, cứ mỗi lần gió đập mạnh, thân phi-cơ run-rẫy lại phải nhẹ-nhàng nương theo làn gió, không dám dùng những động tác mạnh bạo sửa cưỡng lại, vì sợ phi-cơ nỗi giận ho to thì nguy. Tôi đang chui vào đám mây giông tăng trưởng với nhiều hiện tượng đổi hình dạng theo chiều đứng “Cumulonimbus” đang hình dung trong tâm tưởng của tôi.

    Tự nhủ “Hãy bình tỉnh” dán mắt vào những phi-cụ chính, vì những đồng-hồ con quây gyro khác đã bị điện từ đám mây giông phát ra làm sai lạc, quay tít như chân trời giả, con quay phương hướng… rất nhiều đồng-hồ bất khả dụng, nếu tin vào chúng nó, thì chết ngay tức khắc, mắt tôi đảo lia về những đồng-hồ ít sai lạc để định hướng bay 140 độ, đồng-hồ thăng-bằng và kim định hướng, nhưng phải liếc mắt vào đồng-hồ tốc độ, coi chừng bị trượt nâng ở tốc độ nhanh thì không còn cứu vãn được. Với Phi-cơ có cánh, tốc lực nhanh thì tốt, chậm quá thì sẽ bị ‘trượt-nâng’, còn với Trực-thăng, nhanh cũng bị stall mà chậm cũng bị trượt nâng (blade-stall) Tôi đang hối hận, tại sao đang bay phi cơ có cánh ngon lành mà đổi chi qua cái phi cơ cối xây nầy thật là nghiệp chướng, cái cánh quạt chính cứ quây tít như vậy trong hoàn cảnh giông tố nầy thật nhức đầu nhức óc quá! Hèn chi phi-công USAF, Không Quân Anh, Pháp… muốn bay trực thăng điều kiện tiên quyết phải là phi công có cánh trước đã, rồi mới được tuyển chọn chuyễn qua bay trực thăng. Tuổi trẻ háo thắng nghe ‘ngầu quá’ nên bây giờ phải chịu hậu quả, ôi cũng số ham chịu-chơi giờ nầy mới té đái.
    “Tôi đang run vì lạnh hay quá sợ hãi?”
    Tiếng máy nổ gần như bình thường, con tàu bắt đầu giảm độ lắc, hy vọng ra khỏi được đám mây! Nhưng làm sao thấy được gì trong đêm tối, Tôi định-thần lắng tai nhận định tiếng “Chiez…iez…” nghe được trong nón bay, nhưng không thấy ánh sáng chớp lóe trước mặt…
    “An-tâm đám mây giông đang ở sau lưng mình?”
    Vừa hết lo sợ ở trong đám mây thì lại ám-ảnh về vấn đề số xăng còn lại trong bình bao nhiêu. Có đủ về đến nhà không! Phải quyết định ngay, không thể về Khe-Sanh vì vẫn còn ở trong đám mây chưa thấy được gì ở dưới đất dù là một đóm lửa thật nhỏ, cũng làm cho sắc mặt mình được tươi, hồng-hào ra.
    Tôi quyết định về phi-trường Ðồng-Hà đổ xăng, vẫn giữ ba ngàn bộ đổi hướng 130 độ, nếu chẳng may có trục-trặc mình ở vùng đồng bằng cũng bớt đi sự nguy-hiểm, vặn đài Huế để nghe cho bớt căng-thẳng thần-kinh và cũng định-hướng bằng ADF luôn. Sự thật, đang lùng-bùng lỗ tai, tâm trí còn đâu nữa mà nghe đài, chỉ mong vào hướng phát tuyến của đài mà định hướng thôi.
    Bỗng Chuẩn-úy Hảo la lớn trong nón bay, tôi giật nẩy người “Thấy lỗ rồi”
    Ý của Hảo muốn tôi chui xuống dưới đám mây đi.
    Kinh nghiệm về thời tiết, ban ngày mà chui xuống lỗ trống của đám mây cũng không phải là dễ, Tôi tự nhủ thầm: Ngày mai có cơ-hội tôi sẽ dẫn giải cho Hảo về điểm nầy, Phi-Công Biệt-Kích từ khi thành lập đến nay có đến hầu như 100% mất tích vì thời tiết xấu, chưa có anh em nào bị bắn rơi, hoặc chết vì trúng đạn thù cả. Tối mai tôi sẽ check out final test Trưởng phi cơ cho Hảo lần chót là autorotation ban đêm với ánh sáng trăng 30% bắt buộc không được xử dụng landing light để touch down. Trực-thăng là phi-cơ không có cánh thăng-bằng, nhiều bộ phận quay tít dễ tạo ra điều kiện ảo-giác “Vertigo” và nhất là xử dụng các động tác thô bạo không thích hợp với cơ-học phi-hành chỉ gây thêm nguy-hiểm không thể cứu gỡ được như phi cơ có cánh thăng bằng.

    Hướng 130 độ, cao độ vẫn ba ngàn bộ, quả thật không bao lâu phi-cơ ra khỏi đám mây trước mắt, bên trái là Đông-Hà, Ái-Tử đèn-đóm chi-chít, chệch bên phải là Gio-Linh, Mai-Lộc. Tôi lại đổi ý về lại Khe-Sanh ngủ cho yên giấc và cũng là hoàn tất công-tác. Bay một vòng trên Quận Hương-Hóa, Khe-Sanh, tôi biết chắc một chiếc xe Jeep, một xe Dodge 4/4 đang rọi đèn cho tôi dáp. Ánh đèn rọi trên Trực-thăng xuống chưa bao giờ sáng tỏ như hôm nay.

    Tôi vội-vã chạy vào tăng lều rửa mặt, nhìn vào kiếng đã thấy mình già đi hơn mười tuổi, cái trò chơi dựng tóc gáy nầy… khỏi cần phải coi tướng số tôi cũng biết, có lẽ không bao lâu mình sẽ không còn tóc mà chải đầu cho vui với người ta nữa.

    Chúng tôi bát bộ đi ăn, Quận Hương-Hóa là một quận lỵ rất nhỏ, dân cư rất thưa thớt chỉ có một con đường duy nhất là Quốc-lộ 9 đi sang Lào, về sau vấn đề an-ninh nên Chính-phủ Ngô-Đình-Diệm đã xóa sổ trong bản đồ và để lại cái tên là Khe-Sanh đồi núi. Nhà cửa san-sát hai bên đường Quốc-lộ 9, người dân ở đây phần đông làm nghề gặt hái Café của một đồn-điền người Pháp nhưng đã bỏ hoang từ lâu không còn khai-thác vì chiến tranh. Một quán nhỏ duy-nhất mọc ở đây, lợp bằng Tôn vách ván; William Colby, Thiếu-Tá Trần Khắc Kính, Đại-úy Phú (sau nầy trở nên Tư lệnh SÐ-1 và Quân đoàn-2), Ðại-úy Thơm, và Đại-úy Bác-sĩ Trí đã có mặt ở đây tự hồi nào rồi.

    Chúng tôi ăn cơm với món Gà xào Xả-ớt rất cay cùng uống một loại rượu mạnh mà là khẩu vị của Thiếu-Tá Kính: Scotland Black and White hình con Mèo trắng và đen. Mọi người đều mặc một bộ đồ bà ba đen bằng vải tốt nhưng may tại Okinawa xem chẳng giống anh nhà nông tý nào. Riêng Ðại úy Phạm Văn Phú thì hơi giống nhà nông, vì dáng người roi roi khắc khổ, con người óm nhom, với luôn luôn cầm điếu thuốc lá nặng độ Bastos Xanh trên tay với vết hằn nhựa thuốc dính khắp nơi đầu mấy ngón tay.

    (Còn tiếp)

  4. The Following 5 Users Say Thank You to vinhtruong For This Useful Post:

    BinhAn_HanhPhuc (05-23-2013), hieunguyen11 (02-25-2012), loc4HTTT (03-03-2012), nguyenphuong (05-21-2013), TAM73F (04-21-2012)

  5. #9
    vinhtruong's Avatar
    Status : vinhtruong v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2010
    Posts: 1,926
    Thanks: 838
    Thanked 3,809 Times in 1,535 Posts

    Default Dưới rặng Trường Sơn Tây

    Đường Mòn HỒ CHÍ MINH hay Xa Lộ HARRIMAN?

    Thủ lãnh Bonesman-22, Harriman hay nói cách khác, để thực thi đấu pháp NLF/CIP trong cuộc chiến tranh lạnh Cold War, Trục ma-quỷ chỉ định Hà-Nội phải chiếm miền nam bằng khời nguyên đưa người xuyên qua đường Trường Sơn Tây.

    Dãy Trường Sơn là cái Nôi của Cách-Mạng Việt-Nam, các Cụ ngày xưa có câu “Trường Sơn nhất đái vạn đại dung thân” Học thuyết-gia về Chiến-tranh, người Đức Carl-Von-Clausewitz, cho rằng dãy Trường-Sơn là Trung-tâm thành lũy kiên cố, nơi ẩn náu an-toàn nhất cho những ai muốn rèn binh luyện cán, ẩn nhẫn chờ thời. Nhóm học giả tham mưu của Harriman dựa vào những định luật của chiến lược gia Clausewitz không phải để hủy diệt mà trái lại để triển khai cho việc hoàn thành “định-đề-1” (axiom-1) của họ là bảo vệ bằng mọi giá con đường Trường Sơn cho Hà Nội làm phương tiện chiếm lĩnh Miền Nam theo như thế siêu chiến lược toàn cầu “Eurasian Great Game” (Màn-2 giai đoạn-2).

    Trên vệ tinh nhìn xuống, Trường-Sơn với núi rừng lổm-chổm, sừng-sỏ như con Rồng đang lượn mình uống nước trên dòng Sông Cửu-Long, nhìn ra biển Đông như muốn bảo-vệ vùng đất đang chế ngự, móng vuốt chìa ra tới Phan-Thiết như muốn cảnh-cáo kẻ lạ đừng hòng áp-đặt sự thống-trị, cái đuôi ngoắt-ngoảy quật mạnh qua tận Trung-Quốc như cảnh tỉnh, đừng dựa vào thế con Trời mà làm ẩu; Chả lẽ cái nhóm tham mưu của Harriman cũng biết thiên văn địa lý như lịch sử đã chứng minh nhiều luồng sóng bạo-loạn mạnh nhứt từ phương Bắc đều bị chận lại từ đây?

    Ðồng thời, Clausewitz chỉ-giải thế phá trận-đồ, muốn cho đối phương trong Hang-động đầy bí ẩn nầy, không còn khả-năng chiến đấu đi đến tan-rã, phương-pháp tốt nhất, là phải nghiên-cứu tỉ-mỉ, xác định rõ-rệt vị-trí mục-tiêu, đánh thẳng vào trung-tâm sào huyệt bằng một cường lực như vũ-bão, rồi chốt chận một thời gian nhất định cần thiết cho sự càn-quét theo kiểu cày răng lược. Tướng Maxwell-Taylor và Rostow đã có đề nghị phương-án tương-tự như thế, trình lên Tổng-thống Kennedy nhưng bị Cố-vấn George Bundy, (Skull and Bones 40) bác bỏ hoàn-toàn vì bằng mọi giá phải bảo vệ con đường chiến lược nầy để cho Hà Nội chiếm lĩnh Miền Nam theo định-kiến-1(axiom-1) Sau nầy Tướng Westmoreland lại tái quyết tâm chiếm lĩnh hang-động Trường sơn nầy một lần nữa, và toan thiêu hủy hệ thống ống dẫn dầu huyết mạch do LX thiết bị chạy song song, nên bị Siêu Chính Phủ triệu hồi về nước gấp giao chức vụ coi cho được, Tham mưu trưởng Liên quân không quyền hạn rồi về hưu sau đó.

    Khái lược về Trường-Sơn Đông:
    Ngày xưa, sau khi chiếm Đông-Dương, Pháp đã cho thiết lập một Quốc-lộ đi nép chân núi phía Đông dãy Trường-Sơn trên lãnh thổ Việt-Nam, gọi là quốc lộ 14. Quốc lộ nầy có tổng số chiều dài là 1,380 cây số và đi qua lãnh thổ 10 Tỉnh: từ Nghệ-An qua Hà-Tĩnh, Quảng-Bình, Quảng-Trị, Thừa-Thiên, Quảng-Nam, Kontum, Pleiku, Ban Mê -Thuột và Bình-Phước. Khi lập con đường nầy, người Pháp nhắm các mục tiêu sau đây: (1) bảo vệ an ninh lãnh thổ (2) hành quân thanh toán các tổ chức buôn lậu, (3) khai thác lâm sản, (4) khai triển và xử dụng các sắc tộc thiểu số, nhất là sắc-tộc thiểu số gốc Rhađê. Trong chiến tranh Việt Pháp từ năm 1945 đến năm 1954, con đường nầy bị bỏ hoang vì Pháp không đủ khả năng bảo vệ.

    Sau Hiệp định Genève 1954, khi vừa ổn định xong Miền-Nam, Tổng-Thống Ngô-Đình-Diệm đã nghĩ ngay đến việc tu bổ lại quốc lộ 14 để bảo vệ lãnh thổ, Công việc nầy được khởi sự từ năm 1958 và giao cho Liên-đoàn 4 Công-binh phụ trách. Liên-đoàn nầy do Trung-tá Trần Văn Kha chỉ huy. Có lần TT Diệm đã đích thân đến xem xét tại chỗ; Nhưng khi làm đoạn đường Kontum, Gia-Vực, công việc cứ cù-nhầy vì thời tiết nên Trung-tá Kha bị cách chức; Chuyện xây dựng Ðường 14 chưa hoàn tất thì TT Diệm bị Harriman ra lệnh giết vì TT Diệm là một chướng ngại cho công việc hoàn thành định đề-1. (Thế chiến lược của Cụ Nhu là chỉ định Ðại tá Ðổ-Cao-Trí làm Tư lệnh Ðệ-3 Quân-khu, Pleiku, hành quân càn quét ngay yết hầu đường mòn Hồ-Chí Minh từ Benhet qua Attopeu cắt đứt con Ðường vận chuyển của quân CSBV bằng Sư-đoàn 22BB cùng một Chiến đoàn Dù và một Thiết đoàn chiến xa T-41, chốt chận nơi đó một thời gian hạn định. Chúng ta cũng nên hiểu rằng Bác-sĩ giải phẫu dù có giỏi cách mấy mà không có dụng cụ giải phẫu thì cũng bó tay, Harriman người nắm giữ chính sách Hoa-kỳ bằng mọi giá ngăn chận việc chính phủ Diệm toan xoá bỏ “định-kiến-1” của thù lãnh Skull and Bones-22, (Harriman chọn ám số 22 là ngày 22 của tháng March, về thế hệ kế tiếp đặt nguyên ngày tháng là 322 và cớ sự khổ nạn của thế giới là do từ cái ngôi mộ 322 nầy, độc giả có thì giờ xem trong internet để tìm hiểu thêm) là xóa bỏ Miền Nam để tạo thành một nước VNCH lớn hơn trong thiết kế chiến lược Châu-Á và cũng vừa đủ miếng đất làm bàn- chông chống bàn chân khổng lồ bước xuống ĐNA, và đó cũng là lý do VN được các nước ĐNÁ rất ngưỡng mộ!

    Sau Hiệp định Paris 27/1/1973, quân đội và chuyên viên Bắc-Việt cùng các kỹ-sư Cuba làm lại con đường Đông Trường-Sơn vào nam cho nhanh: khởi đầu từ Khe-Cát thuộc Huyện Bố-Trạch, Quãng-Bình, vượt Sông Bến Hải phía trên nguồn đi qua chiến khu Ba-Lòng ở khu vực Quảng-Trị và Thừa- Thiên, qua Aluối, Ashau, rồi đi nép theo biên giới Việt-Lào phía sau đèo Hải-Vân , Bạch-Mã vào Quảng-Nam, khi đến Khâm-Đức thì vòng lên Ngọc-Hồi thuộc phần đất Kontum, vùng đất nầy vô cùng hiểm trở núi non trùng điệp và cao nhất trong miền Nam VN. Đến đây, vì khúc đường 14 từ Kontum đến Ban Mê-Thuột đang do Quân-lực VNCH trấn giữ nên BV phải làm con đường song song thứ 2, lấy tên là 14A đi sát biên giới Việt-Lào qua phần đất của Tỉnh Kontum Pleiku và Ban Mê-Thuột, tại đây 2 đường Trường-Sơn Đông, Tây chụm lại với nhau, rồi đổ xuống Bà-Rá, Phước-Thành, Bình-Long, Lộc-Ninh. Kể từ cuối năm 1973, các không ảnh chụp được cho thấy, nhiều khúc đường 14 từ Thừa-Thiên đến Ban Mê-Thuột đang được Cộng-quân ngang nhiên sửa chữa để chuyển quân, cạnh con đường nầy, có một hệ thống ống dẫn dầu chằng chịt nằm song song theo đó như từ xương Sống tiếp nối qua xương Sườn ra phía Ðông vào các vùng đông dân mà Không Quân Miền Nam, Hoa-kỳ không được quyền oanh tạc vì dựa vào điều khoản Hiệp định hòa bình Paris, để chuẩn bị giai đoạn chuyển tiếp bàn giao Miền Nam cho Hà Nội.

    Ngoài ra phe thân Liên-Xô là Lê Duẩn đã yêu cầu Liên-Xô phụ giúp, nên Hoa-kỳ (sau Hiệp định Paris) a tòng với Liên- Xô, bí mật sắp xếp cho Cuba qua giúp CSBV, kết quả, tháng 9/1973, (sau hiep dinh hoa binh Paris) trong chuyến viếng thăm của Chủ Tịch Fidel-Castro tại Hà-Nội, chính quyền CSBV đã yêu cầu nước anh em XHCN Cuba trợ giúp kỹ thuật trong việc mở rộng mạng lưới Đường Mòn nầy. Theo thoả hiệp đạt được, một nhóm 43 người Việt sẽ đến Cuba vào tháng 11/1973 và sau khi được huấn luyện về các kỹ thuật xây dựng của công binh Cuba, họ đã trở về Bắc-Việt cùng với các huấn luyện viên người Cuba bắt tay vào việc. Đại-Tá Cuba, Roberto Leon sẽ làm Trưởng-Đoàn xây dựng Công-binh Cuba, gồm 23 kỹ sư cầu đường và khoảng 50 người chuyên viên Việt-Nam khẩn cấp bắt tay vào việc. Thế là bắt đầu năm 1973, Đoàn Công binh Cuba ra sức giúp mở đường giao liên cho CSBV; Đường 559 (Xa-lộ Harriman) mạng lưới gồm đường xá và hầm trú-ẩn trải dài hàng ngàn cây số, phần lớn xuyên qua rừng rậm, để giúp bộ-đội BV tiến vào xâm chiếm Miền-Nam.

    Còn Nhị-trùng, Ðại-tá CSBV Bùi-Tín thì được mớm của trục Ma Quỷ nên cho rằng: “Mỹ [làm bộ] không hiểu thái độ “Trung Lập” của Cambodia, và đặc biệt của Lào, ông hoàng Sihanouk và Phouma đều nghiêng về phía Hà Nội; Hiệp định Genève năm 1962 về nền trung lập của Lào không hề ngăn Bắc Việt Nam để nhiều quân ở Nam Lào và dùng Lào để thâm nhập qua Xa lộ Harriman được Ðoàn 959 của Pathet Lào bảo vệ. Mỹ (Harriman) làm rất ít để không tác động đến Vientiane và PnomPenh trong khi Hà Nội tranh thủ rất cao và tận dụng rất khôn khéo nền Trung lập nghiêng-ngả ấy; Nếu phía Washington sớm nhìn thật rõ được những điều kể trên để có chủ trương thích hợp thì tình hình đã có thể đổi khác và sự kết thúc chiến tranh cũng không phải như chúng ta đã thấy! Ðại tá Bùi Tín chỉ nói như con Vẹt do một kẻ bí mật ở sau lưng hối thúc. Làm gì Bùi Tín hiểu được sự tấn công qua Cambodia và Lào là “Một sự di tản chiến lược” (manage the defeat về Honolulu) và sẽ trở lại ở giai đoạn-3 màn kết (Overhauling the damage control then to Roll-Back July/2010) 2020 nếu TQ không vào quỹ đạo của Mỹ thì Trung Quốc đã bi chia ra nhiều tiểu quốc bằng “tối huệ quốc” của Hoa Kỳ (the U.S. Freedom Support Act) cũng tái diễn lại y chang trường hợp một nước độc tài như Liên-bang-Liên Xô. Vì trong guồng máy chiến tranh, Mỹ đã chuẩn bị và đang phải kiểm soát lại trong kinh tế và cả trên chính-lược Mỹ để phải đè bẹp Trung quốc bằng mọi giá trước 2020.

    Năm 1962 Tình Báo MACV báo cáo Pentagon là quân Bắc Việt đang xây dựng đường Mòn Hồ bắt đầu từ phía Tây vùng phi quân sự; Được lệnh từ viên chức đứng hàng thứ Ba của Bộ ngoại giao là Harriman (người sáng lập ra đảng-hội Skull and Bones) ngầm chuyển mật-lệnh cho Forrestal, thành viên Hội đồng An Ninh quốc gia Hoa-Kỳ (NSC) và Leonard Unger, Đại sứ Hoa Kỳ tại Lào thông báo cho MACV không được đụng đến phần đất của Lào-quốc.

    Năm 1964, Tướng Tham Mưu Trưởng Liên Quân cảnh cáo Bộ trưởng quốc phòng Mc Namara: Dù được lệnh như MACV không được quyền can dự ở Lào, nhưng ít ra phải để cho QLVNCH có quyền chống đỡ biên giới của mình. Mc Namara không còn cách nào bèn cầu cứu với George Bundy, cố vấn TT Johnson để thả dây cương cho quân lực VNCH được quyền đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi biên giới. Dĩ nhiên TT Johnson rất bằng lòng chấp nhận ngay; Công điện đang chuyển qua MACV Saigon, thì liền sau đó có lệnh ngầm, Forrestal cảnh cáo ngay với Bundy: “Dù rằng TT Johnson đã ký lệnh, nhưng không có dấu “khán” của Harriman thì là một điều rắc rối: “Anh cũng thừa hiểu chữ ký của Johnson không thôi thì không có giá trị” Bao nhiêu đó thôi thì độc giả cũng hiểu ngay là ai nắm chính sách của Hoa Kỳ (to send the telegram without Averell Harriman’s approval is just asking for trouble! Even if, the telegram had already received Johnson approval, but that was not enough) Thế nên, Tôi tự cho rằng đây là Xa lộ Harriman!

    Đến khi vì quá sốt ruột đem lại sự chiến thắng tự vệ cho nhân dân miền nam, Tướng Westmoreland đòi hỏi ngay vị Tổng tư Lệnh quân đội Mỹ là TT Johnson xin TT cho lệnh quân đội Mỹ đánh sang Lào thì ông bị triệu hồi về Mỹ ngay. Sau nầy SOG xin phép được hành quân qua Lào và Cambodia để cấp cứu đồng đội lâm nạn nhưng vẫn bị từ chối; Vì thế Tôi tự cho rằng Đường 559 đã trở nên Xa Lộ Harriman từ dạo đó, Nó đã có ống dẫn dầu huyết mạch chạy song song với nó.

    Năm 1967-68 khi tôi đang học khóa Chỉ huy Tham Mưu tại Air University Maxwell Montgomery, Alabama Hoa-kỳ; Lúc nầy chiến tranh VN đang thời khốc liệt vào Tết Mậu-Thân, Cứ mỗi lần ‘coffee-break’ tôi bị bao quanh bởi các bạn Mỹ, Đồng minh cùng khóa, và các giảng viên. Họ luân phiên hỏi Tôi về chiến tranh VN, Tôi còn nhớ rõ, Tôi chỉ đáp lại là: “phòng thủ Nam Việt Nam trở thành vô nghĩa khi lại nhường cho địch vùng biên giới với các quốc gia Lào và Cambodia. Tôi không phản đối gì việc ngăn ngừa Cộng Sản bành trướng, nhưng chẳng thấy chiến lược nào đang áp dụng lại có triển vọng thành công; tuy nhiên, lòng yêu nước của tôi mạnh hơn nỗi bất mãn về chiến lược lãnh đạo kém!”

    Một viên chức cao-cấp về địa dư của quân đội Hoa Kỳ, ông John-Collins, ghi nhận rằng: Ðường Trường Sơn nầy cũng chẳng có gì lạ, ngoài một chuỗi dài rừng núi bao la hiểm trở, có những đoạn đường Mòn dài cả chục cây số, lá rừng dầy đặc che khuất ba tầng đến nỗi không thấy được ánh mặt trời. Dưới đó, nhứt là thời kỳ chống thực dân Pháp, biết bao nhiêu thanh niên thiếu nữ yêu nước hy sinh cả đời mình cho cuộc kháng chiến chống Pháp; hằng ngày họ phải còng lưng khuân vác những trang cụ cho cuộc trường kỳ kháng chiến; người Pháp với phương tiện không thám nghèo nàn và lỗi thời thì làm cách nào mà phát hiện nổi. Ngoài ra kháng chiến quân ăn uống kham khổ, không cần tiếp tế như một đạo quân dã chiến, nên khó bị phát hiện. Trang bị vũ khí cướp được của Pháp hay những vũ khí mà họ tự tạo thô sơ qua các Công binh xưởng, ráp nối như đồ chơi trẻ con mà John.Collins cho là Rube-Goldberg Toys.


    (còn tiếp)

  6. The Following 5 Users Say Thank You to vinhtruong For This Useful Post:

    BinhAn_HanhPhuc (05-23-2013), hieunguyen11 (03-18-2012), khongquan2 (04-18-2012), nguyenphuong (05-21-2013), TAM73F (04-21-2012)

  7. #10
    vinhtruong's Avatar
    Status : vinhtruong v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2010
    Posts: 1,926
    Thanks: 838
    Thanked 3,809 Times in 1,535 Posts

    Default Dưới rặng Trường Sơn Tây

    Giữa năm 1950, lực lượng Việt Minh bắt đầu khai mở Ðường Trường Sơn, tuy nhiên chỉ hoạt động cầm chừng, lẻ tẻ từng Toán nhỏ giao liên, nhưng chỉ xuyên qua những đoạn đường thuộc phần đất thực dân Pháp tạm chiếm của các thành phố lớn như: Nha Trang, Qui Nhơn, Ðà-Nẳng, Huế, Quảng Trị… còn lại họ di-chuyển xuyên qua các vùng đồng bằng, cận đông của Dãy Trường Sơn do lực lượng Việt-Minh kiểm soát.

    Hiệp định Genève ngày 20 tháng bảy, 1954, Cộng Sản bị đẩy ra Bắc, ngoài vĩ-tuyến 17, Quân đội Cộng sản buộc phải lên tàu của các nước Xã Hội Chủ Nghĩa, như Ba-lan, Hungary… từ các cửa khẩu như Qui Nhơn… Nhưng Cộng sản vẫn gài lại một số cán bộ nằm vùng. Ở những Làng Huyện cận sơn như Minh Long, Ba Tơ, Gia Vực thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Cán bộ Cộng sản lấy vợ Thượng, chịu hội nhập phong tục “Cà răng căng tai” đóng chốt tại chỗ. Cộng sản chôn dấu một số vũ khí để mai phục về sau khi phát động tái võ trang xâm lược miền Nam; Một số cán bộ nồng cốt được đưa ra Bắc nhưng quyết không từ bỏ ý đồ trở lại thôn tính miền Nam bằng vũ lực vì mắc mớ gia đình còn kẹt lại tại Miền Nam. (Từ 1943 khi Harriman còn làm Ðại sứ Mỹ tại Liên Xô đã có ý đồ dời chiến tranh qua Việt Nam sau khi móc nối được Cụ Hố Chí Minh vào Service of War Information 1943 (tôi tạm dich “Sở thông tin Chiến tranh ở Côn-Minh, chắc chắn thế hệ thứ tư thứ năm sẽ nói rõ những sự kiện nầy ra vì các sử-gia luôn luôn sẽ làm sáng tỏ và công minh cho lịch sử VN sau nầy).

    Vì thế Ðường Trường Sơn được đổi tên lại là Ðường Mòn Hồ Chí Minh do Nhóm tham mưu học giả của Harriman tung tin ra từ các nước Tây phương, Họ muốn vinh danh Cụ Hồ để bù đáp lại sự phản bội vì quyền lợi buộc Họ phải lừa gạt để kéo dài chiến tranh cũng như Họ tìm cách đưa tên Cụ Hồ vào danh nhân thế giới tại Liên Hiệp Quốc sau nầy; nhưng thất bại vì sự đả phá của nhân dân Miền Nam. Từ tháng Tư 1959, Bộ chính trị Cộng sản Hà Nội triệu tập một cuộc họp bí mật thứ 15 do áp lực ngầm của trục Ma Quỷ, để rồi Lê Ðức Thọ cương quyết đưa hàng ngàn cán bộ CS miền Nam trở về nằm vùng mai phục chờ chỉ thị mới của Bộ chính trị Trung ương Ðảng. Ðể thực hiện ý đồ nầy: Hà Nội chỉ thị thành lập một đơn vị Mới để chuyên trách đưa người và tiếp liệu vào Nam. Ðó là “Ðoàn chuyển vận 559” do Tướng một sao Võ Bam chỉ huy. Quân đội Bắc Việt đặt tên là Đường 559 – Trong hồi ký của Ðại tá Bùi Tín “From Enemy to Friend” Paris, tháng 10-2003, chỉ gọi là Ðường 559. Phía Hà-Nội không gọi là Ðường Mòn Hồ. Sự thật Cụ Hồ đã bị bọn hai anh em Lê Ðức Thọ và Mai Chí Thọ cùng Lê Duẩn trở về Hà Nội nắm quyền, cách ly Cụ Hồ, ngày ngày lo vui thú điền-viên qua vun tưới cây “Vú-Sửa” Miền Nam.

    Thực dân Pháp chính thức đặt ách thống trị lên đất nước Việt Nam vào năm 1884, cuộc đô-hộ kéo dài 80 năm, nhưng suốt chuỗi dài năm tháng ấy, không một lúc nào làn sóng khởi nghĩa chống Pháp ngưng nghỉ, từ Trương Công Ðịnh, Thủ khoa Huân đến Vua Hàm Nghi cùng các nghĩa sĩ của phong trào Cần Vương và Văn Thân như Nguyển Thiện Thuật, Ðinh Công Tráng, Hoàng Hoa Thám, Phan Ðình Phùng; từ phong trào Ðông Kinh Nghĩa Thục do Cụ Phan Châu Trinh khởi xướng, đến Việt Nam quang phục Hội và phong trào Ðông Du do Cụ Phan Bội Châu lãnh đạo, từ cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên đến cuộc khởi nghĩa của Nguyển Thái Học và Việt Nam Quốc Dân Ðảng… Lấy nước biển thay mực, lấy lá rừng thay giấy cũng không thể nào ghi chép hết những nhà ái quốc đã dân thân vào công cuộc chống Pháp, giành độc lập cho nước nhà; Những thế hệ anh hùng liệt nữ đã thể hiện trọn vẹn lòng yêu nước và tinh thần bất khuất. Không thành công thì thành nhân; nhưng bên cạnh những trang sử hào hùng ấy, lịch sử Việt Nam cũng không tránh khỏi một tai-họa khủng khiếp do định mệnh xui khiến; Khi trục Ma Quỷ (Skull and Bones và Loài Quỷ Ðỏ) tạo ra một cuộc chiến tranh lạnh qua ý thức hệ thù nghịch giữa Cộng sản và Thế giới Tự do. Vì quyền lợi của Tập đoàn Tư bản WIB, nên Harriman xô đẩy Hồ Chí Minh ra khỏi vòng tay của Hoa-kỳ. Dù thực tâm Cụ chỉ lợi dụng Cộng sản Pháp như là một phương tiện duy nhứt để giành lại độc lập trên tay thực dân Pháp. Nghịch lý thay Harriman trong chiến lược “Bênh kẽ mạnh” nên hất đẩy Cụ Hồ, không còn con đường nào khác phải theo chủ nghĩa Mác-Xít Cộng sản Ðệ Tam Quốc tế, đang nổi lên mãnh liệt vào thời điểm ấy trên thế giới. Ðồng thời khai thác lòng yêu nước và khát vọng chống ngoại xâm của dân tộc Việt để thống nhứt đất nước.

    Khốn nạn thay! Việt Nam đang trở thành nạn nhân của thảm-họa trò chơi chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô được gọi là CIP chống lại NLF (Trò chơi “Chống Nổi Dậy” và “Cách Mạng Giải Phóng”). Năm 1925, Nguyển Ái Quốc cùng Lâm Ðức Thụ, Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Phong thành lập “Việt Nam thanh niên cách mạng Ðồng Chí Hội” dưới quyền lảnh đạo tối cao của Cố-vấn Liên Xô Borodine. Ðây là tiền thân của “Việt Nam độc lập Ðồng minh Hội” tức Mật Trận Việt Minh và sau đó là Ðảng Cộng Sản VN; trong giai đoạn nầy đội lốt Quốc Gia với chiêu bài đấu tranh chống thực dân Pháp để xây dựng cơ sở và hoàn thành nhiệm vụ do Ðệ Tam Quốc Tế giao phó. Ðây là giai đoạn Tình báo OSS muốn giúp Cụ Hồ hiệp lực cùng với Pháp để tiêu diệt những phong trào tạp nhạp nổi dậy (mục đích OSS muốn giúp Cụ Hồ củng cố địa vị như giúp Cụ Diệm quét sạch bọn Bình Xuyên Hòa Hảo do CIA, Lansdale móc nối với Tướng Trịnh Minh Thế phò trợ).

    Khởi phát từ “Cơ quan Tình báo chiến tranh” (U.S. Service of War Information) Hồ Chí Minh đã được móc nối từ 1943, nhưng làm sao Cụ Hồ hiểu được bộ mặt của Bọn Tư bản thống trị; Nước Mỹ chẳng bao giờ có người bạn lâu dài và cũng chẳng bao giờ có kẻ thù truyền kiếp. Trong tự điển chính trị của họ không bao giờ có chữ “thủy chung”. Ðối với chúng quyền lợi liên kết thành đồng minh, “quyền lợi trên hết” bất cần liêm sỉ; Còn Việt Nam thì bọn chúng cho hiểu rằng: “Muốn độc lập tự do phải trả giá” y chang như lịch sử nước Mỹ vậy, “Freedom is not for free!” phải có nội chiến, mặc dù cả thế giới đều được trả lại độc lập. Thực-dân Pháp cũng muốn như Anh, Hoà-Lan, Bồ Ðào Nha là trả lại nền tự trị cho Việt Nam; Nhưng cái bọn lái súng WIB nầy xúi dục lòng tham của thực dân Pháp qua quyền lợi buôn và thí nghiệm súng đạn đời mới. Tất cả hầu như 80% trang cụ viện-trợ đều do Mỹ làm ra. Vì thế Trung-tá OSS, Alfred Kitts mới hướng dẫn quân đội Pháp vào Hải phòng tái chiếm Việt Nam vào ngày 6 tháng 3, 1946. Nơi đây bọn lái súng quyết tâm cù-rủ Liên Xô cùng tiêu thụ cho hết loại vũ khí thặng dư sau Thế chiến Hai mà đôla và nguyên liệu do Mỹ cung cấp cho giai cấp công nhân Liên Xô sản xuất.

    Ðể tạo ra chiến tranh, OSS đã dùng điệp viên 019 Lucien Conein nhảy dù xuống mật khu Pát-Pó để giúp Cụ Hồ và huấn luyện cho Trung đội Vỏ trang tuyên truyền của Võ Nguyên Giáp. CIA lại giúp di tản Tưởng Giới Thạch và viên chức qua Taiwan 1949 để giao lại lục địa cho Mao Trạch Ðông – Ðây là điểm bắt đầu gây sóng gió thay vì ở Âu châu dời qua Á châu do đạo-diễn Harriman vào giai đoạn Hai của “Eurasian Great Game.” Ðược sự giúp đỡ ngầm của CIA cho nên những cán bộ Cộng sản ấy đã không từ bỏ bất cứ hành động cũng như thủ đoạn gian trá nào, kể cả việc bán đứng Cụ Phan Bội Châu cho thực dân Pháp để lấy 10 vạn đồng, hoặc có lúc tuyên bố tự giải tán Ðảng Cộng sản và thành lập chánh phủ Liên Hiệp. Dù rằng biến cố của sự kiện thay đổi nầy, nhưng chưa phải lúc nên SCP Mỹ không đáp ứng vì quyền lợi to lớn của bọn Tư bản về kỹ nghệ quốc phòng chưa kịp phát triển. Thế nên thành phần Cộng Sản cực đoan phải trở mặt lật-lọng ngay sau đó, và tàn sát không nương tay các Ðảng phái Quốc gia. CIA lại thích phò trợ cơ cấu có kỷ luật của Cụ Hồ. và chỉ có Hồ là công cụ thích hợp nhứt cho quyền lợi Mỹ. Còn phía đối lập thiếu tổ chức, kém trật tự đoàn kết và ai cũng muốn làm lãnh tụ, không ai chịu phục ai; nhưng lại không có đường lối chính trị rõ ràng. Ðó cũng là lý do chính mà CIA chấp nhận chọn một tổ chức có kỷ luật làm một công cụ hiệu quả hơn như tổ chức của Cụ Hồ và sau nầy là chỉ có Cụ Diệm mới có tài đức dẹp biến loạn thập nhị sứ quân cho sân chơi bằng hai công cụ Hồ/Diệm và cũng chỉ một giai đoạn được gọi là “vắt Chanh bỏ vỏ”.

  8. The Following 3 Users Say Thank You to vinhtruong For This Useful Post:

    BinhAn_HanhPhuc (05-23-2013), hieunguyen11 (03-18-2012), nguyenphuong (05-21-2013)

  9. #11
    vinhtruong's Avatar
    Status : vinhtruong v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2010
    Posts: 1,926
    Thanks: 838
    Thanked 3,809 Times in 1,535 Posts

    Default Dưới rặng Trường Sơn Tây

    Dioxin/MIA đòn phép chính-trị trật thượng

    Tại sao tôi cho là trật thượng? Mỹ muốn sự bồi thường nầy phải do họ chủ động và người Việt phải xuống nước năn-nỉ, còn như bô bô tuyên bố chất Dioxin là chất độc giết người thì Mỹ sẽ không cho Việt Nam xuất khẩu thực phẩm qua Mỹ, vì bộ ngu sao người Mỹ phải ăn thực phẩm có chất độc dioxin từ Việt Nam? Thế là họ sẽ bồi thường bằng những món hàng tiêu dùng sắp hết hạn!

    -1962 chiến-dịch Ranch-Hand “Khai-hoang” cho mục tiêu lạm phát thiếu để tạo ra Jobs cho công nhân Mỹ

    -2002 đòn phép xảo trá “Bồi thường chiến tranh” cho lạm phát thừa giải toả một số đồ tiêu dùng quá hạn thay vì quăng vào thùng rác

    Trong chiến dịch Ranch-Hand nầy, Hoa-kỳ dùng loại vận tải cơ C-123 để rải những chất khai hoang nhiều loại khác hơn, đặc biệt đầu năm 1965 đổi tên chiến dịch khai hoang Hot-Tip, với sự thiết kế, cứ 11.000 lbs (cân anh) thì phá hủy được 300 acres rừng, và chỉ phun thuốc trong vòng 5 phút, trong vòng một tuần, các cây trong vùng được thử nghiệm lá sẽ trở nên màu vàng nâu, rồi rụng hết lá và tiếp sau đó, ảnh hưởng của Dioxin lan rộng qua các rừng lân cận trong phạm vi đường kính khoảng 1 cây số. Sau đó không lâu cây sẽ hoàn-toàn chết hẳn trong vòng 5 hoặc 6 tuần.

    Tại Phi-trường Tân-Sơn-Nhất, trước cổng của Phi-Đội C-123/USAF, chuyên bay phi-vụ khai hoang, có gắn tấm bảng “Only You Can Prevent Forests” Chỉ có Anh mới có thể tránh được là “Hung-thần phá sơn lâm”

    Đối với chiến-tranh Việt-Nam, Siêu-Chánh-Phủ (permanent government) Hoa-Kỳ luôn-luôn nắm phần chủ động, điều dễ hiểu là họ đã tạo nó ra vì quyền lợi, và dĩ-nhiên lúc nào họ cần chấm dứt để rút ra thì đã nằm trong kế hoạch chiến lược dài lê-thê của họ (cho nên ai nói sa lầy thì cứ nói, riêng Permanent Government thì cứ ngậm miệng ăn tiền mà trái lại còn đưa nước Mỹ giữ được chức siêu cường số MỘT mãi mãi) Người Việt khù-khờ bị phỉnh gạt từ việc nhỏ qua việc lớn: “Có bao giờ người Việt tự hỏi ... À há ... tại sao CSVN được Mỹ cho Việt-Kiều gởi tiền về thoả mái... mà Cuba-Kiều thì không?

    Từ ngay sau khi Hội-Đồng An-Ninh Quốc-Gia, họp ngày 21/9/1960 và sau đó đã có một ‘Viện nghiên cứu’ nằm vào một cánh dãy nhà lầu năm góc, được gọi là cánh đặc-trách về Châu-Á sự-vụ của Ngũ-Giác-Đài (Pentagon) trong đó không loại bỏ lộ-trình phóng đồ “Hậu-chiến Việt-Nam” sau 20 năm (1975-1995) bằng cách nối lại bang giao qua cái cớ danh nghĩa khi cần tiếp nối, (Kissinger cũng nói toạc móng heo với Lê Đức Thọ sẽ nối lại bang giao sau mà chẳng cần dấu-diếm) Nói chuyện với phía Việt-Nam: với cớ chiêu bài “Chất độc màu Da-Cam với người Mỹ mất tích” (MIA)

    Ðối với Hoa-kỳ đây là vũ-khí chính-trị rất ranh mãnh nhưng cũng cần thiết để Mỹ trở lại Việt Nam, vì thế trước sau gì Hoa-kỳ cũng kiếm cách bồi thường để làm mờ đi chuyện tội ác tài trời khác, dù sao cái tội ác nầy cũng còn quá nhẹ so với “những tội ác khác trong những cuộc thí nghiệm đủ loại về vũ khí chiến tranh, làm sao có bằng cớ loại “hoá-chất” (bacteria, chemical) giết người dùng để giải-vây cho 6000 lính Mỹ ở Khe-Sanh, đối đầu với 4 Sư-đoàn BV, cộng thêm 2 Trung-đoàn Pháo diện địa, (năm 1968). Và chất độc đồ ăn trong những chiếc dù, làm bộ thả lạc để cứu thoát 2 nhân viên phi hành (quan sát viên và điều hành viên), trung tá Hambleton/RB-66 và trung úy Mark-Clack/OV-10 (năm 1972) trên dòng sông Miếu-Giang, Quảng-Trị, Toán Biệt-hải và Trung-úy Tom Norris đều có nhận lệnh rõ-ràng: là không được ăn các C-Ration đã thả dù xuống vùng nầy. Tuy rằng Mỹ có kỹ thuật thả dù tiếp liệu rất chính xác, nhưng lần nầy Mỹ làm bộ thả dù với cao độ cho trôi dạt ra xa, thay vì hệ thống sensor altimeter setting ở trăm thước trên mặt đất khi dù vừa bung ra là vừa đụng đất rất chính xác và có độ giạc vài chục thước.

    Về phía Hoa-kỳ, chắc cũng có nhiều lý do để trở lại vấn đề nầy, lý do Hoa-kỳ bị… “Lương tâm cắn rứt vì tội-ác chiến tranh?” hay là quyền lợi chiến lược toàn cầu, qua giai đoạn mới như phải giải quyết bài toán một số hàng tồn kho sắp quá hạng như đồ hộp thuốc lá…?

    Còn về vấn đề người Mỹ mất tích (MIA) thì sao!? Ông Jerry D. Jennings, phụ-tá Bộ-trưởng Quốc-phòng Hoa-kỳ, kiêm đồng chủ-tịch Ủy-ban Hổn-hợp Liên-Xô Hoa-kỳ về tù binh và quân-nhân mất tích, cho biết đang yêu cầu Liên-Xô cho phép những Sĩ-quan hồi-hưu của họ do Hoa-Kỳ tuyển dụng được tham khảo các văn khố lưu trữ của cơ-quan mật-vụ KGB để tìm tin-tức về những Quân-nhân Hoa-kỳ mất tích trong chiến-tranh Triều-Tiến và Việt-Nam. Hoa Kỳ nhúng sâu vào các tổ chức tình báo khắp thế giới một cách thâm nhập vô cùng kín đáo như đòn phép thần sầu quỷ khốc, đặc biệt ngay trong sào huyệt KGB, vì thế ngày nay mới xuất hiện nhân vật trùm KGB Putin đang làm mưa làm gió tại Liên Xô? Việt Nam thì có Nguyễn Chí Vịnh, Nguyễn Tấn Dũng … cũng từ gốc công an tình báo mà ra.

    Ông Jennings cho biết Washington cũng đang đàm phán với Việt-Nam về một đề nghị tương-tự, nhưng Việt Nam thì dễ hơn nhiều vì những nhân vật nầy là bồ nhà CIA thuộc thế hệ con cháu của tướng Nguyễn Chí Thanh và cũng là đứa con nghĩa tử của Lê Đức Thọ (1968, W A Harriman có lời nhấn nhủ với Lê Đức Thọ phải nuôi dưỡng thằng bé 12 tuổi nầy, và cùng lúc bảo đảm triều đại tiểu bá ba nước Đông Dương cho Thọ trị vì thay chỗ HCM không chịu khuấy động lại chiến tranh kỳ hai mà ra lịnh rút 100.000 quân về bắc 1957).

    Trước đó, Mạc-Tư-Khoa đã đồng ý cho Washington xem-xét văn-khố lưu-trữ của Bộ Quốc Phòng Liên Xô và đã được xác minh số phận của 264 binh-sĩ Hoa-kỳ mất tích trong chiến-tranh Triều-Tiên; Đổi lại, Liên-Xô cũng cung cấp cho Hoa-kỳ tài liệu về nhũng vụ Phi-cơ Hoa-kỳ bị bắn rơi ở Việt-Nam. Chúng ta nên để trong đầu Mỹ luôn luôn xem LX là hạng-2 và TQ là mầm mống hoạ da vàng và cũng là loại phản phúc âm mưu giành ngôi vị số MỘT; Vì đã có hạng nhứt thì phải có hạng nhì, như trong lăng kính của ngôi mộ Secrets of the Tomb là tạo ra hiện tượng nâng cho TQ lên, rồi tới Ấn Độ hạng Nhì trong trò chơi chiến lược về chính trị Tam Quốc Chí tân thời như hiện nay Mỹ đang ‘đì’ TQ bằng kinh tế và bao vây quân sự.

    Ngày nay phía Hoa-kỳ muốn tìm được tin-tức qua văn-khố của KGB; Để tỏ thiện chí, Hoa-Kỳ cũng giúp Liên-Xô xác minh số phận của 163 binh sĩ Liên-Xô mất tích trong chiến cuộc A-Phú-Hãn và nhiều nhân-viên dân sự khác của Liên-Xô bị thất tung trong thời chiến tranh lạnh Cold War.

    Trên thực tế, Hoa-kỳ đã đánh dấu được nhờ Khoa-học kỹ-thuật tinh-vi, qua vệ-tinh hay các phi-cơ EC-135 AWACS (Boeing 707 có Radar-Dom trên lưng) quay chụp bằng không ảnh các nơi phi-cơ bị rớt, chỉ cần thời gian sau sẽ lấy xác qua chương trình MIA, như năm 2003 đã tìm ra Phi-hành-đoàn Kingbees, gồm Trung-úy Phan-Thế-Long, Th-úy Nguyễn-Bảo-Tùng và Thượng-Sĩ Nguyễn Văn-Lành. Phi-hành-đoàn nầy được chánh-phủ Hoa-kỳ vinh danh chôn cất tại nghĩa trang Arlington, nơi đây cũng là niềm danh-dự của người lính QLVNCH được phục hồi sau cuộc chiến đã hy sinh cho lý tưởng Tự-do.

    Như trong cuộc Hành-Quân Lam Sơn 719, Hoa-Kỳ có 219 người chết và 38 người mất tích, tất cả là Phi-hành-đoàn của US Army-Aviation đều được phối kiểm đầy-đủ. Nói tóm lại Hà-Nội có thiện chí về trao đổi tin-tức người Mỹ mất tích (MIA), nhưng trong đó không may mắn cho những người Mỹ của binh-chủng Biệt-kích Delta vì khi bắt được, lính Bắc-Việt hiểu rằng đây là loại người rất nguy-hiểm, chiến đấu tài-tình, vì thế để trừ hậu-họa phiền-phức khi họ sẽ tìm cách trốn chạy thóat, nên tốt nhất là “làm thịt” họ cho nhẹ bớt gánh nặng phức tạp khi chuyển chúng về hậu-cứ có nguy cơ gây tai họa cho các đồng chí khác. Vì thế POW Project Delta bị bắt 327 nhưng khi trao trả chỉ có được 10 POW.

    Nhờ khoa-học kỹ-thuật cao, phi-cơ dò thám tìm ra chất kim loại, nên có một trái Bom lớn 15,000 cân anh (BLU-82s, Daisy Cutter) được mang thả trên chiến-trường Nam VN bằng Vận-tải cơ MC-130, nhưng tại vì một trục-trặc nào đó mà rơi xuống không nổ. Thông Tấn-Xã, Press Trust of India và AP loan tin Việt-Nam đã tháo gỡ được ngòi nổ của một trái Bom nổ lớn nhất còn nguyên vẹn sau khi cuộc chiến tranh Việt-Nam chấm dứt gần 30 năm .

    Giữa năm 1970 theo sự theo dõi trên gốc cạnh tình báo CIA, từ điểm xâm nhập qua hàng rào điện-tử Mac Namara, mức độ xâm nhập của quân-đội BV đã ở trong tầm mức báo động “Vàng”, nên Hoa-kỳ dùng loại Bom BLU-82s, 15000 cân anh để làm một bãi đáp Trực-thăng trong một vùng rừng già ở Cao-nguyên, hầu mở chiến dịch Trực-thăng-vận thả lính chiến đấu Mỹ xuống vùng hành-quân nơi đó để thao dượt thực-tập chận đánh quân BV đang ồ-ạt tràn xuống phía Nam. Theo chiến lược của Permanent Government, thì ở chỗ nào trong phần đất miền Nam cũng có đụng trận, nhưng mục tiêu chính là gây tiếng vang, nhứt định là không đáng kể chỉ để cho các binh chủng quân đội Mỹ có cơ hội luyện tập mà thôi. Theo chính-lược từ sau bức tường “Skull and Bones-322 conspiracy là “Everything worked but nothing worked enough”.

    Sau khi Chính-quyền Việt-Nam được thông báo, 38 chuyên-viên đã phải mất 20 ngày mới tháo gỡ được ngòi nổ của trái Bom và đắp một con đường lên đỉnh núi để chuyển trái Bom xuống, sau khi đã lấy ra được 3 tấn rưỡi thuốc nổ ở bên trong. Bom nầy thường được thả bằng dù nổ trên mặt đất; Quả Bom không nổ nầy, vì có thể do lỗi kỹ-thuật, hoặc do đầu ống dài chạm nổ mắc vào cây rừng, hay hệ thống dù không bung ra? Nên 2/3 trái Bom ngập trong lòng đất; Ngoài sức nặng của thuốc-nổ, phần còn lại, võ nặng gần hai tấn đã được vận chuyển về Bảo-tàng-viện Bộ Công-Binh (Hà-Nội). Theo quân đội Hoa-kỳ, hơn 14 triệu tấn Bom, Mìn, Đạn trọng pháo và các loại Đạn-dược khác đã được mang ra xử-dụng trong cuộc chiến-tranh Việt-Nam, và người ta tin là khoảng 10% trong số Bom-Đạn nầy đã không nổ khi được thả xuống.

    Những Bom Mìn chưa nổ nầy hàng năm đã gây chết-chóc và thương-tích cho nhiều người trong đó phần nhiều là Trẻ em tại Việt Nam; Theo những số-liệu về phía Việt-Nam đưa ra thì kể từ năm 1975 đến nay đã có 38.000 người thiệt mạng và hơn 100.000 người bị thương vì Bom Mìn chưa nổ. Trong quá khứ, Chính-phủ Hoa-kỳ đã trao tặng cho quỹ Cựu Chiến Binh Việt-Nam 5 triệu dollar để giúp dọn-dẹp những Bom Mìn chưa nổ.

    Trong quá khứ dùng Agent Orange làm vũ-khí chính-trị, đã không ít lần Việt-Nam vấp những lỗi ngớ-ngẩn; Thí dụ: có lần Việt-Nam đưa ra các lời thống-thiết của những người tự xưng là nạn-nhân của chất độc màu da Cam, nhưng khi họ kể rằng, trên đường hành-quân, họ bị phun thuốc với những “đám mây màu Cam”, (các bạn đã xem Video ở trên thì biết màu gì?) thì phía Hoa-Kỳ cho rằng lời nói của kẻ ‘thất-học’ Agent Orange không phải màu Cam, màu Cam chỉ là màu bên ngoài thùng-phi, chớ chất ấy không hề có màu Cam. “Agent Orange” là bản dịch tiếng Việt “chất độc màu da Cam”, hai danh từ nầy sanh ra từ chiến tranh Việt-Nam, nay trở nên quen thuộc kể cả người Mỹ cũng như người Việt. Đây là một loại thuốc diệt Cỏ bình thường, chất nầy được xử dụng lần đầu tiên ở Việt-Nam, vào ngày 31/1/1962 trong chiến dịch Ranch-Hand, phát khởi từ Tân-Sơn-Nhất, giữa năm 1962, hai chiếc Trực-Thăng H-34 mang số 028 và 494, chính tôi và Thiếu-úy Lê-Phước-Điền đã phun thuốc trên tuyến xe lửa vùng Trảng-Bom, Long Khánh, ở dưới có Bộ-binh giữ an-ninh khi chúng tôi phun thuốc, chính con mắt tôi nhìn ra đằng sau thì thấy một màu ‘trắng đục’ như hơi sương dày đặc phun ra như màn khói, làm gì có màu vàng Cam? Chất nầy đã được xử dụng với quy mô rộng-rãi vào những năm 1967 và 1968, và thực sự chấm dứt vào ngày 30/6/1971. Đây là thủ đoạn chính trị mà Nhóm học-giả của Harriman đã đưa ra làm nguyên cớ nối lại bang giao cho lộ trình hậu chiến mà các khoa học gia chân chính phải cho rằng chất nầy chỉ có làm ngứa cơ thể con người mà thôi.

    Thật tội nghiệp cho một nước nhược tiểu bị Hoa Kỳ chèn ép phỉnh gạt, dĩ nhiên Mỹ tha thiết được bồi thường gấp chục lần Việt Nam đòi hỏi bằng đồ thặng dư của Mỹ chớ có bao giờ được đôla Xanh đâu? Bồi thường là yêu cầu sống còn của Mỹ để xả rác (flushing) đồ phế thải cho trong lộ trình gần nửa thế kỷ sau theo kế hoạch giải quyết bài toán “lạm phát thừa”.

    Hoa-Kỳ từng dùng nhiều loại thuốc khai-hoang tại Việt-Nam, chúng được chứa trong thùng phuy (thùng sắt 200 lít) tô màu khác nhau, nên được gọi tên theo màu của những thùng nầy. Thí-dụ: như agent Purple (tím) agent White (trắng) agent Green (xanh lá cây)…agent Orange đựng trong thùng sơn vệt màu Cam, gồm 2 hóa chất 2,4-D và 2,4,5-T, là 2 chất được chế tạo dựa theo Hormone thực vật gọi là Auxin (một loại acetic acid). Agent Orange là loại thuốc bột, người ta trộn với dầu Hôi hoặc Xăng Diesel rồi xịt bằng máy bay xuống vùng cần khai hoang.

    Tuy nhiên, trong quá trình chế tạo chất 2, 4, 5-T, một hóa-chất khác cũng được tạo ra mà không có cách nào loại ra được, là chất Dioxin; Dioxin là tên gọi chung của một nhóm hóa chất nhưng thường được dùng để gọi riêng chất 2,3,7,8-TCD D, Dioxin là một độc tố, gây nhiều bệnh tật. Dioxin khi nhiểm vào người sẽ nằm trong mỡ, và sẽ tự tan rã với chu-kỳ bán phân khoảng 7 năm (cứ mỗi năm lượng Dioxin bớt đi một nửa) Đàn Ông không có cách nào thải dioxin ra, chỉ chờ cho nó tự nhả. Còn dioxin trong cơ thể đàn Bà sẽ đi ra bằng cách theo chất dinh-dưỡng vào thai-nhi. Ngoài ra sau khi sanh, dioxin cũng có thể ra theo đường sữa Mẹ.

    Thế nên có bao nhiêu phần dioxin trong người thì sẽ bị bệnh!? Bác-sĩ nghiên-cứu trên thú vật cho thấy, có khi chỉ có rất ít dioxin cũng có thể gặp bệnh tật về hormone, về miễn nhiễm, về sinh trưởng; Nếu nhiều dioxin có thể bị Ung-thư; Viện-Hàn-Lâm Y-học Hoa-kỳ, công bố 13 loại bệnh có liên-quan đến chất độc Dioxin như: Ung-thư Lympho Hodgkin, Ung-thư Phế-quản (phổi) Ung-thư khí-quản, Ung-thư tiền-liệt tuyến, bệnh thần kinh ngoại vi cấp và bán tính.

    Nói một cách cụ thể, chật độc dioxin (màu da Cam) đã được xử dụng thế nào trong cuộc chiến Việt-Nam:
    -Chất độc nầy là một hổn-hợp có tỷ-lệ 50/50 của 2 hóa chất là dichlorophenoxy acetic acid (2.4D) và Trichlorophenoxy acetic acid (2,4,5-T). Hổn-hợp nầy được phun thẳng từ trên không theo tỷ lệ 1/20-1/50. Trong cuộc chiến Việt-Nam, có khoảng 19 triệu gallons chất độc nầy đã được rải xuống miền Nam Việt-Nam (với trọng lượng 5 kilô gram, tương đương với 6, 4 lít, theo US Veteran Dispatch Staff Report, Navember 1990). Lấy một vườn Cao-su làm thí điểm, thuốc nầy được pha loảng với dung dịch như thế kể trên, rồi được thả xuống trên mỗi acre. Trong vòng một tuần lễ, là các cây Cao-su trong vùng được thí nghiệm đã rụng hết lá và tiếp sau đó ảnh hưởng của dioxin lan rộng qua các rừng cao-su kế cận trong phạm vi đường kính độ 1 km. Trong một báo cáo mật năm 1967, của quân-đội Hoa-Kỳ được công bố sau nầy, quân đội Mỹ được lệnh, không hành quân trong phạm vi 2 km trong vùng đã bị rải Dioxin.

    Có thể nói trong đời sống văn-minh hiện nay, con người không thể nào tránh khỏi nhiễm độc bởi nhiều chất hóa-học, trong đó có Dioxin, nhưng con người chịu dựng được bao nhiêu? Tùy theo quốc-gia hoặc Cơ-quan định mức chấp nhận hấp thụ hàng ngày: TDI (Tolerable Daily Intake) của Dioxin được thay đổi và được ước tính bằng pg (hay 10-12) như sau:
    - Hòa-Lan 4 pg/ngày/kg cân theo trọng lượng cơ thể
    - Cơ-quan Y-Tế Thế-Giới (WHO): 10 pg/ngày/kg
    - Cơ-quan lương-thực và dược-phẩm Hoa-Kỳ (FDA) USA: 0.03 pg/ngày/kg
    - Cơ-quan Bảo-vệ môi trường Hoa Kỳ (USEPA): 0.006 pg/ngày/kg.
    Lấy ví-dụ dễ hiểu, 1 người cân nặng 50 kilô-gram, nếu tính theo định mức 1 pg/ngày/kg, sẽ hấp thụ 50 pg/ngày, trong một năm sẽ hấp thụ: 18,250 pg hay 18, 25 ngày. Và trong 20 năm sống trên đất Mỹ, lượng Dioxin trong Gan người và các mô mỡ là 365 ng/20 năm; Nếu tính theo thời gian bán hủy (half-life) của dioxin là 10 năm, thì tổng lượng dioxin cô-động trong cơ thể là 185.5 của phần tỷ.

    Nếu đem so-sánh với lượng dioxin trong máu hay trong sữa Mẹ của các dân-cư sống ở các vùng Chu-Prong (Pleiku) chiến khu D, C, U-Minh Thượng và Hạ, rừng Tràm Cà Mau (trung-bình 10 ppg hay pg (phần-ức) thì số lượng dioxin cô-đọng thường xuyên trong cơ thể con người sống ở Hoa-kỳ vẫn còn quá cao so với Việt Nam!) Và nếu tỷ-lệ dị-thai, ung-thư … của dân Việt ở những vùng nói trên tăng cao như báo cáo Hatfield tường thuật thì chúng ta có thể khẳng định rằng tỷ-lệ Ung-thư, sinh con dị-hình dị-dạng ở Hoa Kỳ sẽ cao gấp nhiều lần hơn! Đối với những nhà Khoa-học hoặc chuyên viên nghiên-cứu, làm việc trong phòng thí-nghiệm hóa-chất trên vài chục năm và trực-tiếp xúc tác tiếp nhiễm (exposure) với các loại hóa chất độc hại, trong đó có dioxin, và nồng-độ của chất nầy đã được tìm thấy trong máu, đo đạt vào năm 1993 là 40 ppt. Nhưng sức khỏe hiện tại của họ vẫn bình thường và không có triệu chứng gì khác lạ.

    Lấy thêm một thí-dụ điển hình về sự thải hồi độc-tố của Công-ty General-Electric, một số lượng lớn PCBs, ước tính vào khoảng 43 tấn trên một khúc sông Hudson (New-York) Sau hơn 50 năm, dân chúng sống tại hai thị trấn bên bờ sông là Hudson và Fort Edward vẫn chưa thấy có triệu chứng về các bệnh lạ như dị hình dị dạng gì cả. Nếu so với lượng thuốc màu da cam, ước tính độ 170 kg trải rộng trên một diện tích 24.500 km2 thiết nghĩ mức độ ô nhiễm nếu có ở Việt Nam, thì mức độ nầy, khả năng ảnh hưởng lên con người sẽ như thế nào? Có trầm-trọng như báo chí, báo cáo ở Việt Nam mô tả hay không! Có thể bị thiệt hại về nhân mạng tức thời hay về lâu về dài không? Lúc nào Việt Nam cũng bị người Mỹ lường gạt trong đòn phép chính trị thật là bỉ ổi!

    (Còn-tiếp)

  10. The Following 2 Users Say Thank You to vinhtruong For This Useful Post:

    BinhAn_HanhPhuc (05-23-2013), nguyenphuong (05-21-2013)

  11. #12
    vinhtruong's Avatar
    Status : vinhtruong v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2010
    Posts: 1,926
    Thanks: 838
    Thanked 3,809 Times in 1,535 Posts

    Default Dưới rặng Trường Sơn Tây

    Nhìn chung, trong tất cả những vụ nhiễm độc hay tai nạn có liên-quan đến chất Dioxin xảy ra trên Thế-giới, không thấy có một nhân mạng nào được liệt kê ra ngoài các thiệt hại về cây cỏ, kể cả gia-súc trong vùng bị tai nạn. Thời-gian, chúng ta đang sống trong một môi-trường bị vây phủ bởi những nguồn có khả năng tạo ra ô-nhiễm dioxin mà không thể nào tránh né được: Như những cột-điện trước nhà với những vật cách điện màu Nâu: Đó chính là PCBs, cũng là một loại dioxin. Nơi nhà sau, sau khi mình thiêu hủy những rác-rến, sau mỗi buổi tiệc gia-đình, vô tình mình đã góp phần vào việc tăng cường ô-nhiễm dioxin trong không-khí (vấn nạn nầy chiếm 19% tổng lượng ô nhiễm dioxin ở Hoa Kỳ).

    Ngược lại, một điều cần biết là dioxin không cần làm gì cả, nó cũng lọt vào người, đốt củi sanh ra dioxin, trong khói thuốc lá có dioxin, trong khói xe cũng có dioxin, ăn thịt cá, uống sửa, cũng bị nhiễm dioxin. Dioxin là một hóa-chất, nay đã có mặt khắp nơi trên thế giới, do hiện tượng tự nhiên như cháy rừng, vừa do các sinh hoạt của con người như chạy động cơ xăng dầu. Những hóa chất chứa chlor, chúng ta xử dụng trong gia-đình hàng ngày đều có nguy cơ tạo ra dioxin trong không-khí như thuốc tẩy rửa Sodium Hypochlorite (bleach) Các sản-phẩm Plastic, tơ-sợi tổng hợp… đều là mầm-mống của Dioxin khi bị thiêu đốt. Các Núi lửa đang hoạt động cũng là một nguồn ô-nhiễm dioxin trong không-khí cũng giống như nạn cháy rừng…

    Tai nạn liên quan đến Dioxin: Tại Times Beach (Missouri-Hoa-Kỳ) do một công-ty hóa chất bán chất phế thải có chứa TCD, sau đó một công-ty có dịch vụ làm giảm thiểu bụi đường đã xử dụng số dầu trên cho dịch vụ phun-xịt để ngăn chận bụi đường ở thành phố trên, trong một thời gian ngắn, kềt quả là chính quyền địa phương, phải di-tản 1.400 người cư-dân sống trong vùng xảy ra tai nạn và phải thiêu hủy hàng trăm ngàn tấn ‘xà-bần’ bị ô nhiễm.

    Thức ăn cho Bò sản xuất ở Ba-Tây có trộn lẫn với phấn (vôi sống) với mục đích là làm giảm lượng khí trong bao tử bò. Do đó sữa Bò chứa lượng Dioxin rất cao và hậu quả hàng triệu gallons sữa phải hủy bỏ. Cũng trong quy trình, sản xuất thức ăn của gia-súc, Pháp và Hòa-Lan đã dùng bùn khô (sludge) một phế phẩm kỹ-nghệ để làm chất đệm, và làm tăng Vitamins cùng chất sợi (fiber), kết quả là các mô mỡ của Heo, Gà được nuôi ở những nơi nầy có chứa lượng dioxin cao (hiện tại, Pháp vẫn còn áp dụng phương-pháp nầy, mặc dầu cộng-đồng Âu-Châu đã nghiêm cấm từ năm 1991)

    Vấn đề dioxin là một vấn đề phức tạp và tế-nhị. Phức tạp vì nó có liên-quan mật thiết đến sức khỏe của con người, môi trường sống và ảnh hưởng đến nền kinh-tế và chính-trị. Tế nhị vì nó còn đang nằm trong vòng tranh cãi về mức độ và khả năng làm thoái hóa những vùng đã bị khai-hoang trong thời chiến tranh ở Việt Nam. Do đó mối bang giao Mỹ Việt còn tùy thuộc vào các đánh giá khoa-học của các ảnh hưởng như tôi đã trình bày ở trên.
    Đầu tháng 3/2002 đã có cuộc hội thảo giữa Hoa-kỳ và Hà Nội để bàn về vấn đề hậu-quả của chất khai-hoang “Da-Cam”, có chứa độc tố dioxin, đã xử dụng ở Miền Nam VN. Về vấn đề nầy, Hà Nội, như thường lệ, vẫn có 2 mục tiêu là tuyên-truyền và đồi bồi thường thiệt hại; Nhưng tiền bồi thường có trọn vẹn tới tay nạn nhân của chất da cam lại là chuyện khác.

    Về phía Hoa-kỳ, sự kiện nầy đã nằm trong chương trình, kế hoạch ước tính đã có từ lâu, nên không dễ bắt bí họ được, mà ngược lại họ vẫn ở vị thế thượng phong khi ‘hù’ ngược lại, bằng Thương-ước Mỹ và Hà Nội đã ký kết, làm cho Hà Nội phải cẩn thận cân nhắc (Chả lẽ VN chấp nhận thức ăn có nhiễm độc làm sao sản xuất qua Mỹ được?) Trong quá khứ, trên báo Lao-Động, Tiến-sĩ Nguyễn-Quốc-Tuấn Trưởng phòng Trưởng Bộ Khoa-học Công-Nghệ cho biết cam trồng ở tỉnh Hà-Giang có chứa 2,4-D, và trái cây nhập từ Trung-Quốc thì chứa 2,4-D và 2,4,5-T. Sau khi bài báo nầy được xuất hiện, liền sau đó báo người Lao-động loan tin, Tiến-Sĩ Tuấn bị kỷ luật vì tội đã tiết lộ bí mật. Báo Thanh Niên đăng bài phân trần của Cục An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm đính chính là chỉ có 2,4-D chứ không có 2,4,5-T, ngụ ý, có nghĩa là, nếu không có 2,4,5-D thì không có Dioxin, tuy nhiên bài báo Thanh-Niên cũng không phân biệt rõ giữa trái cây trồng ở Việt Nam và trái cây nhập từ Trung Quốc.

    Giới khoa-học chưa hoàn-toàn đồng ý về mối liện hệ nguyên nhân và hậu quả giữa Agent Orange và bệnh tật; Từ việc máy bay phun thuốc Agent Orange, đến việc bị bệnh tật, không phải là một kết luận hiển nhiên. Trong Agent Orange có bao nhiêu phần trăm là Dioxin? Có bao nhiêu phần trăm dioxin thấm vào con người? Phần thấm vào người do Agent Orange, với phần thấm vào người do các nguồn thiên-nhiên sai biệt bao nhiêu? Các tật bệnh của các nạn nhân có phải là do dioxin gây ra, hay là do nguyên nhân nào khác? Mà nếu có do dioxin gây ra đi nữa, có phải do dioxin của Agent Orange hay do dioxin từ nhiều nguồn khác nhiễm vào?

    Vì Hoa-kỳ làm bộ như đang quan tâm cũng như muốn trấn an dư luận Mỹ sợ một số thực phẩm như cá ‘Ba-Sa’ chẳng hạn bị nhiễm độc dioxin, hay ngược lại, họ muốn chèn-ép kể cả kinh-tế và chính-trị (vì Việt Nam hiện tại cũng bị ‘đì’ như ngày xưa thời VNCH đã từng bị “đì” Và ngược lại Hoa Kỳ còn chơi cái trò ‘kẻ cả’ thúc đẩy các nghiên cứu khoa học gia để giải quyết một lần cho xong và làm sáng tỏ vấn đề nầy. Mà muốn nghiên cứu thì người Mỹ phải được ở vị thế “người khách được ân-cần mời-mọc” và dĩ nhiên cần sự nghiêm chỉnh hợp tác của Hà Nội; Cho đến nay, tất cả các nghiên cứu về khoa-học trên Thế-giới cho biết Dioxin chắc-chắn là một độc tố có hại cho sức khỏe.

    Tuy nhiên trong chiến tranh, chất da cam chủ yếu chỉ được dùng ở vùng núi rừng-rậm, ít dân cư, để đánh phá các đường mòn Hồ Chí Minh, vùng đồng bằng Việt Nam, không phải là mục-tiêu của chất khai-hoang, sự nhiễm độc dioxin khó có thể lên tới mức độ trầm trọng như Hà Nội phơi bày. Hơn nữa, mối liên-hệ và những nguyên nhân đưa đến hậu-quả giữa dioxin và các tật nguyền bẩm sinh, quái thai, thì vẫn chưa có chứng minh bằng khoa-học. Vì vậy, khi Hà Nội dựa vào các trường hợp tật nguyền và quái thai ở Việt Nam để đòi bồi thường, thì Hoa Kỳ không chấp nhận, và yêu cầu phải có sự nghiên cứu thêm.

    Người ta đã thấy những chuyện, chẳng hạn các du khách ngoại quốc được dẫn vào thăm Bảo-Sanh Viện Tù-Dũ có trưng bày các bình đựng ‘quái-thai’ mà chính quyền Cộng-Sản nói là do hậu-quả của dioxin. Thật ra các sinh viên Y-khoa tại Việt Nam đều biết đây là các “loại quái thai” dùng làm tài liệu để giảng huấn, đã có từ thập niên 1950 tại Cơ-Thể-Học Viện, Chợ-Lớn.

    Hà Nội còn thường trình bày một số trường hợp bị tật nguyền, khẳng định là do hậu quả của dioxin. Nhưng các Y-Sĩ từng làm việc tại Miền Nam Việt Nam trước năm 1975 cho biết, có thể nói phần lớn đó là các trường hợp về những “dư-tật” (sequelles) của bệnh Poliomyelitis do siêu vi trùng (virus) rất thông thưòng tại Việt Nam, và chẳng liên hệ gì đến dioxin. (Theo báo Thụy-Sĩ Le-Martin, tháng Dec-1998. một em bé gái Việt Nam bị tật nguyền. ở chân trái vốn là ‘dư-tật' (sequelle) của bệnh Poliomyelitis) do siêu vi trùng, rất thông thường ở Việt Nam. Hà Nội đã dán lên nhãn hiệu “dị tật dioxin” rồi đem ra rao bán tại “thị trường nhân-đạo”.

    Chính sự hành xử thiếu đứng-đắn của chính quyền Hà Nội, nên đã phản lại họ; Ngày nay, các dữ kiện Y-khoa mà Họ đưa ra đã mất tính ‘thuyết-phục”, chưa nói đến chất lượng các thành quả nghiên cứu của giới Y-tế, được đào tạo dưới chế độ CS xưa nay vẫn là một nghi vấn về trình độ chuyên môn; Nhất là khi các thành quả nầy còn thường xuyên được uốn nắn theo chủ đích chính-trị, không có yếu tố khách quan.

    Tưởng cũng nên nhắc thêm, trong quá khứ, một Giáo-sư người Mỹ, muốn nghiên cứu một cách nghiêm chỉnh độc-tố dioxin tại Việt Nam, và đã được Hà Nội chấp nhận, Nhưng khi Ông lấy các mẩu đất để đem về Mỹ giảo nghiệm, thì đã bị Công-An tịch thu lại, không cho mang ra khỏi Việt Nam (theo tài liệu trong báo “Đi-Tới” ở Montreal, Canada tháng June/2001 của Tiến-sĩ Mai thanh Tuyết).

    Thật vậy, vấn đề không thể chỉ giản dị căn-cứ vào một quan-sát lâm-sàng để đi đến kết luận về nguyên nhân bệnh lý, mà không dẫn chứng nghiên cứu khoa-học, thống-kê đáng tin cậy. Vả lại, trong quá khứ, thái độ của Hà Nội về chất độc dioxin chỉ nặng về tuyên truyền mà không nhằm giải quyết vấn đề một cách khoa-học; Sự bất hợp tác, lưỡng-lự của Hà Nội cho thấy họ rất bối-rối, lúng-túng đến tội nghiệp, giữa hai thái độ. Một mặt, họ muốn khai thác đề tài chất Da-Cam để tuyên-truyền về mặt chính trị, mặt khác họ lại sợ nếu thật sự có bằng chứng ô nhiễm nặng về dioxin tại Việt Nam được phổ biến rộng-rãi trên Thế-giới, thì hậu quả kinh-tế sẽ vô cùng tai hại cho những món hàng thực phẩm xuất cảng từ Việt-Nam.

    Cuộc chiến đã chấm dứt 35 năm qua, nhưng vẫn chưa tiến hành được tại Việt Nam một công cuộc nghiên cứu khoa-học đứng đắn, khách quan, chính là vì sự thiếu thiện chí, có lẽ cả về phía Hà-Nội lẫn âm mưu ranh mãnh đã có tính trước của Hoa-Kỳ đễ bồi thường những thứ hàng thặng dư sắp phế thải.

    Trường hợp chất độc da cam ở Mỹ thì sao!? Trở về nước Mỹ, Francois D. Orcival đã nhận định mỉa-mai như sau: “Đài kỷ-niệm các lính Mỹ tử trận ở Arlington với hơn 58 ngàn người đã ngã xuống ở đó trong suốt 10 năm chiến tranh… Một Đài kỷ niệm bằng đá Cẩm-thạch màu đen, cần được dựng lên, đối diện với tượng đài kia, tên của tất cả Thượng-Nghị-Sĩ và Dân-Biểu, ở Điện Capitol, ám chỉ Permanent Government [Skull and Bones] “đã bắn và giết sau lưng họ.” Làm như thế để lịch sử cũng không bao giờ quên tên họ (trích trong Les Marines a Khe Sanh, trang 25) Làm sao họ hiều được âm mưu của một thế lực ghê gớm ở sau lưng điện Capitol, nhưng thật đáng đời vì cái điện Capitol nầy bị áp lực khủng bố của một thứ Siêu Mafia của Ðảng Skull and Bones từ 1917 cho đến nay (2008) mà không làm gì được. Người lính anh hùng Mỹ, uất ức vì cuộc chiến hào hùng, cao cả, đã quên mình để giúp Nam VN tự vệ dưới nanh vuốt của CS; khi trở về quê hương thì được sự đón chào lạnh nhạt, hờ hững của người dân một cách tàn nhẫn. Tâm tư bị ‘chấn-thương’, các cựu chiến và thương binh đứng lên đòi phải được bồi thường xứng đáng vì cho rằng Dioxin tự nó sinh ra đủ thứ bệnh, trong đó phải kể “chấn thương tâm thần”. Phe chính quyền Mỹ cho rằng không có đủ bằng chứng khoa học, mà thật là vậy! Agent Orange là nguyên nhân gây ra bệnh Ung thư, và tuyệt sản. Hai phía điều có những kết quả nghiên cứu khoa học, ai cũng đưa ra bằng chứng để ủng hộ ý kiến và lập trường của mình; Trong sự bất đồng ý kiến trên căn bản khoa học nhanh chóng xuống cấp, trở thành cuộc cãi vã dựa trên cảm tính về chính trị. Phía Cựu chiến-binh thì cho rằng: Chính phủ cố tình dìm các nghiên cứu khoa học để khỏi bị mang tiếng là đã làm hại Lính.

    Các cựu chiến-binh, kiện Chính phủ không được, nên quay sang kiện các Công-ty Hóa-chất đã làm ra Agent Orange kiếm một số lợi-nhuận khổng lồ trên xương máu cựu chiến binh. Các Công-ty nầy thì cho rằng, Luật-sư của các Cựu chiến-binh đã bóp méo kết quả Khoa-học để làm tiền; Trong thập niên năm 1980, các cựu chiến-binh kiện các Công-ty Hóa-chất tại Tòa Án Liên Bang ở Brooklyn. Vụ kiện nầy do Thẩm-phán Jack B Weinstein thụ lý.

    Thẩm Phán Weinstein là một Thẩm phán giỏi, ông là tác giả quyến sách nổi tiếng về tiêu chuẩn trưng bằng chứng trong Tòa Án Liên Bang, giới Luật quen gọi là quyển “Weinstein on Evidence” (tạm dịch, Weinstein về Luật trưng bằng chứng) ông còn có tinh thần độc lập, thấy sao nói vậy, không uốn nắn lời, và không kiêng nể một ai; Trong thập niên năm 1990, vì bất bình với các Luật bắt buộc tuyên án nặng cho các bị can buôn Ma túy, nên ông tự nhậm chức Senior Judge (một dạng bán hưu trí) để có quyền từ chối, không thụ lý các vụ án đó. Như mọi Thẩm phán Liên Bang, ông Weinstein được quyền tại chức suốt đời do đó không sợ bị áp lực từ bất cứ phía nào.
    Khi thụ lý vụ kiện Agent Orange, thời thập niên năm 1980, gồm hàng chục vụ kiện toàn quốc gom lại làm một, ông đã nhiều lần nói rằng: dựa trên các bằng chứng do 2 phía đưa ra, bên nguyên sẽ rất khó chứng minh được Agent Orange gây ra bệnh não, trừ bệnh Chloracne làm da khô, ngứa, nứt nẻ (năm 1976, trong một vụ nổ nhà máy Hóa-chất ở Seveso, của Ý, làm cho vùng lân cận bị nhiễm Dioxin, dân cư nơi đây bị Chloracne hàng loạt). Cũng vì phán quyết nầy mà nhiều lần ông bị Cựu chiến-binh lên án, vì như vậy thì Dioxin không có gì gọi là nguy-hiểm trầm trọng cho con người cả.

    Dù vậy, ông cũng ép bên bị đơn kiện, là các Công ty Hóa-chất, (hưởng lợi nhuận quá nhiều trong cuộc chiến VN) phải dàn xếp trả tiền cho các cựu Chiến-binh, để tránh một vụ kiện kéo dài hơn hàng chục năm nay. (ở trong bóng tối, Siêu Chính Phủ cũng dàn xếp để các Công ty Hóa-chất nhả ra ít tiền cho Lính, để khỏi bị trúng thực vì nuốt quá nhiều Dollar vả lại theo tầm nhìn của P.G sẽ có thể gây ra bạo động mà hậu quả khó lường được, như trường hợp ở VN thương binh nổi loạn) Kết quả, năm 1984 các Công-ty nầy và các bảo hiểm của họ đồng ý trả số tiền 180 triệu Dollar, chia ra nhiều năm. Đến năm 1997, khi đã trả hết số tiền nầy, số Cựu Chiến Binh được bồi thường lên đến 291,000 người.

    (con tiep)

  12. The Following 5 Users Say Thank You to vinhtruong For This Useful Post:

    BinhAn_HanhPhuc (05-23-2013), hieunguyen11 (04-18-2012), khongquan2 (04-19-2012), nguyenphuong (05-21-2013), TAM73F (04-21-2012)

Trang 2/12 đầuđầu 1234 ... cuốicuối

Similar Threads

  1. Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 06-01-2011, 01:26 AM
  2. Tây Sơn Thập Bát Cơ Thạch
    By hoangkybactien in forum Sưu Tầm, Biên Khảo
    Trả lời: 1
    Bài mới nhất : 06-14-2009, 05:21 AM
  3. Thất hổ tướng của nhà Tây Sơn
    By hoangkybactien in forum Sưu Tầm, Biên Khảo
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 06-07-2009, 05:21 AM
  4. Đôi Mắt Người Sơn Tây - Duy Trac
    By taubay in forum Nhac Trữ Tình
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 01-14-2008, 04:07 AM
  5. Đôi Mắt Người Sơn Tây - Nguyên Khanh
    By taubay in forum Nhac Trữ Tình
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 01-14-2008, 03:56 AM

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter