Trang 1/6 123 ... cuốicuối
kết quả từ 1 tới 6 trên 35

Tựa Đề: Thư gởi Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam.

  1. #1
    tieuchuy's Avatar
    Status : tieuchuy v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Feb 2010
    Posts: 191
    Thanks: 3
    Thanked 331 Times in 133 Posts

    Default Thư gởi Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam.

    Đại tá Phạm Bá Hoa
    Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận/VNCH

    1. XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ.

    Tôi là một trong hằng triệu Người Lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chống lại cuộc chiến tranh do nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gây ra. Trong bang giao quốc tế, quốc gia này đánh chiếm quốc gia kia, không có tên gọi nào khác ngoài hai chữ “xâm lăng”. Ngày cuối tháng 4/1975, bối cảnh chính trị đưa chúng tôi vào tình thế thua trận, chúng tôi bị lãnh đạo cộng sản Việt Nam đày đọa trong hằng trăm trại tập trung trong số hơn 200 trại mà cộng sản gọi là trại cải tạo. Người 5 năm, 10 năm, thậm chí 17 năm ròng rả, riêng tôi là 12 năm 3 tháng. Giờ đây, Quân Lực mà tôi phục vụ không còn nữa, nhưng linh hồn của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn nguyên vẹn trong tôi. Tôi là Người Lính thua trận, nhưng tôi rất hãnh diện vì được phục vụ tổ quốc và dân tộc với tư cách một công dân trong thời chiến tranh bảo vệ dân chủ tự do. Giờ đây tôi đang sống xa quê hương đến nửa vòng trái đất, tôi chưa bao giờ và sẽ không bao giờ về Việt Nam, cho đến khi nào quê hương cội nguồn của tôi có một chế độ tự do và nhân quyền trong một xã hội dân chủ pháp trị đúng nghĩa.

    Các Anh là Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Chữ “Người Lính” viết hoa mà tôi sử dụng ở đây, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lãnh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng. Là Người Lính trong quân đội “Nhân Dân”, Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, vì Tổ Quốc Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản chỉ là một giai đoạn của lịch sử, và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó. Trong bài này, xin gọi Người Lính Quân Đội Nhân Dân một cách ngắn gọn là “Các Anh” để tiện trình bày.

    2. CÁC ANH HÃY NHÌN LẠI.

    Những sự kiện mà tôi trình bày trong bài này chỉ nhắm vào lãnh đạo đảng cộng sản và lãnh đạo Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, trong mục đích giúp Các Anh nhận ra cấp Lãnh Đạo của Các Anh hành động như thế nào trong bang giao -mà xã hội chủ nghĩa gọi là quan hệ- giữa nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa -tôi gọi ngắn gọn là Trung Cộng- và những hành động đó “có phải là đã và đang thi hành “biên bản” năm 1990 giữa Nguyễn Văn Linh & Đỗ Mười lãnh đạo của đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam, với Giang Trạch Dân & Lý Bằng lãnh đạo của đảng cộng sản và nhà nước Trung Hoa hay không?

    Mời Các Anh ...

    a. Nhìn lại lịch sử.

    Một kẻ thù trong lịch sử = Vua Trung Hoa phong kiến. Dòng lịch sử suốt chiều dài gần 5.000 năm, dân tộc ta trải qua những biến đổi đau thương do các triều đại phong kiến Trung Hoa xâm lăng cai trị: (1) Lần thứ nhất, từ năm 111 trước tây lịch đến năm 39 sau tây lịch = 150 năm. (2) Lần thứ hai, từ năm 43 đến năm 544 = 501 năm. (3) Lần thứ ba, từ năm 603 đến năm 939 = 336 năm. (4) Lần thứ tư vào thế kỷ 15, từ năm 1.414 đến năm 1.427 = 13 năm. Cộng chung cả 4 thời kỳ bị trị đến 1.000 năm, hay là 40 thế hệ Việt Nam bị dìm sâu dưới chính sách cai trị nghiệt ngã tàn bạo của vua quan phong kiến Trung Hoa! Nhưng từ trong nghiệt ngã đó, chúng ta phải cúi đầu khâm phục tổ tiên và dân tộc ta trong lịch sử, chẳng những đã không bị Trung Hoa đồng hóa, mà lại xây dựng và bảo vệ tròn vẹn một nền văn hoá trong sáng để lại cho chúng ta.

    Lời dạy từ trong lịch sử = Vua Việt Nam Trần Nhân Tông. Vào nửa cuối thế kỷ 13, khi trao quyền cho con (Trần Anh Tông), vua Trần Nhân Tông có lời dạy rằng: “Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo làm người. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo, vô luân. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải, các việc trên khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn là họa ngoại xâm. Họ không tôn trọng biên giới theo qui ước, cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai và hải đảo của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy, các ngươi phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu." Kẻ khác, mà vua Trần Nhân Tông nói đến, thuở ấy là Trung Hoa phong kiến, và bây giờ là Trung Hoa cộng sản. Ngắn gọn là Trung Cộng.

    b. Nhìn vào hiện tại.

    Kẻ thù trong hiện tại = Lãnh đạo Trung Cộng. Giữa năm 2011, tổ chức Wikileaks đã công bố hằng ngàn tài liệu loại tối mật của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ mà tổ chức Wikileaks có được, trong đó có “biên bản” cuộc họp giữa Nguyễn Văn Linh Tổng Bí Thư đảng CSVN và Đỗ Mười Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng, đại diện lãnh đạo CSVN, với Giang Trạch Dân Tổng Bí Thư, và Lý Bằng Thủ Tướng, đại diện lãnh đạo CSTH, trong ngày 3 & 4 tháng 9 năm 1990 tại thành phố Thành Đô của Trung Quốc.

    Wikileaks khẳng định, tin tức dưới đây nằm trong số 3.100 bức điện đánh đi từ cơ quan ngoại giao Hoa Kỳ tại Hà Nội và Sài Gòn gửi về chính phủ Hoa Kỳ. Tài liệu này có đoạn ghi rõ:
    “.... Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản, đảng CSVN và nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Hoa giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam xin làm hết mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ Tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh dày công xây đắp trong quá khứ, và Việt nam bảy tỏ mong muốn đồng ý sẵn sàng chấp nhận và đề nghị phía Trung Hoa để Việt Nam được hưởng quy chế “khu tự trị” trực thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như Trung Hoa đã từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây…. Phía Trung Hoa đã đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, cho thời hạn phía Việt Nam trong 30 năm (1990-2020) để đảng CSVN giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Hoa”.



    Mời Các Anh kiểm chứng qua một số sự kiện dưới đây để tùy Các Anh đánh giá, có phải là lãnh đạo CSVN đang thực hiện “biên bản” đó hay không:

    Nhìn lên biên giới.

    Ngày 30/12/1999 tại Bắc Kinh, lãnh đạo Việt Nam với lãnh đạo Trung cộng đã ký Hiệp Ước biên giới trên bộ, và ông Nông Đức Mạnh với tư cách Chủ Tịch Quốc Hội đã phê chuẩn ngày 9/6/2000. Theo đó, biên giới Việt Nam mất 789 cây số vuông vào tay Trung Cộng, bao gồm Ải Nam Quan và 3/4 thác Bản Giốc.
    Xin hỏi: “Các Anh có chấp nhận sự thực này không? Nếu không, mời đọc vài đoạn ngắn trong bài viết
    của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, Hà Nội: “... Hiệp Ước bán phần đất biên giới chỉ được lãnh đạo Việt Nam thông báo trong nội bộ đảng, như thể đất nước này là tài sản riêng của đảng cộng sản vậy. Thông báo chánh thức đó như thế này: Toàn bộ diện tích các khu vực hai bên có nhận thức khác nhau khoảng 227 cây số vuông. Qua đàm phán, hai bên đã thỏa thuận khoảng 113 cây số vuông thuộc Việt Nam, và khoảng 114 cây số vuông thuộc Trung Hoa. Như vậy, diện tích được giải quyết cho mỗi bên xấp xỉ ngang nhau, hoàn toàn không có việc ta để mất một diện tích lớn như bọn phản động và bọn cơ hội chính trị bịa đặt”. Rồi ông Giang mỉa mai: Vậy là cái xấp xỉ đó có mất đất thật! Nhưng mất theo nguyên tắc nào? Vì sao Việt Nam chỉ có 320 ngàn cây số vuông lại phải xẽ cho Trung Hoa với diện tích 9 triệu 600 ngàn cây số vuông để họ có thêm 1 cây số vuông nữa? Cho dù Trung Hoa có 1 tỉ 300 triệu dân, nhưng đâu phải họ thiếu đất cho dân ở đến nỗi Việt Nam phải chia cho họ 1 cây số vuông?” ..... Ông chợt nhớ đến cụ Đỗ Việt Sơn ngót 80 tuổi đời mà trong đó gần 60 tuổi đảng, cụ Sơn đã dõng dạc đề nghị không thông qua bản Hiệp Định biên giới Việt Nam-Trung Hoa, để rồi cụ phải chịu bao nhiêu sách nhiễu răn đe hỗn xược của Công An. Ông Giang cũng nhớ đến Bùi Minh Quốc! Là nhà văn nhà thơ, thiên chức đó thôi thúc Bùi Minh Quốc không thể bàng quan, không thể nín lặng, anh đã lặng lẽ làm một cuộc hành trình dọc biên giới phía Bắc, nơi mà hiệp định đã cắt một phần biên giới cho Trung Hoa, để rồi anh bị quản chế giam hảm tại nhà. Lại đến nhà xã hội học Trần Khuê, cũng chung số phận hẩm hiu như Bùi Minh Quốc. Ông Giang khẳng định: “Trung Hoa là người láng giềng, sông liền sông núi liền núi, nhân dân hai nước sáng sớm cùng chung nghe tiếng gà gáy ó o, khi tắt lửa tối đèn cùng sống với nhau trong thân bằng quyến thuộc, nhưng Trung Hoa chưa bao giờ là người láng giềng tử tế cả, không chỉ không tử tế đối với Việt Nam chúng ta mà đối với các quốc gia lân bang cũng vậy ...”
    Và một đoạn khác của Bác sĩ Trần Đại Sỹ, lúc ấy làm việc cho “Liên Hiệp Các Viện Bào Chế Châu Âu” (viết tắt của Pháp ngữ là CEF) và “Ủy Ban Trao Đổi Y Học Pháp Hoa” (viết tắt của Pháp ngữ là CMFC). Ngày 9/1/2000 - tức 10 ngày sau ngày ký Hiệp Ước bán đất biên giới- ông được hai người bạn Trung Hoa đang là ký giả cho ông biết chính xác là 789 cây số vuông thuộc hai tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng đã thuộc về Trung Cộng. Về mặt chính quyền, bộ Ngoại Giao CSVN đã lặng lẽ sửa câu văn trong trang Web trên internet mà Các Anh gọi là mạng lưới thông tin toàn cầu, như sau: “Lãnh thổ Việt Nam khởi từ Cây Số KHÔNG ở phía bắc”. Ông nói thêm: “Cây Số Không bây giờ lui vào nội địa Việt Nam 5 cây số”.
    Vậy là Ải Nam Quan từ trong lịch sử của chúng ta đã mất vào tay Trung Cộng! Nhưng nỗi đau của người dân Việt chúng ta là mất đất trong hòa bình, mất đất trong cái gọi là 16 chữ vàng mà lãnh đạo của Các Anh luôn rao giảng trong quân đội và buộc Các Anh phải tôn trọng”.


    Nhìn vào vịnh Bắc Việt.

    “Ngày 25/12/2000, Chủ Tịch nhà nước Trần Đức Lương sang Trung Cộng với danh nghĩa thăm viếng thiện chí, nhưng thật sự là ký Hiệp Ước bán biên giới trên vịnh Bắc Việt với lãnh đạo Trung Cộng tại Bắc Kinh. Việt Nam bị mất 11.362 cây số vuông trên Vịnh Bắc Việt”.

    Xin Các Anh bình tỉnh đọc chuỗi tin tức sau đây: “
    (1) Ngày 31/12/1999, ông Tang Jiaxuan, Bộ Trưởng Ngoại Giao CSTH sang Hà Nội gặp riêng ông Lê Khả Phiêu bàn về biên giới trên Vịnh Bắc Việt.
    (2) Ngày 25/2/2000, Lê Khả Phiêu cử Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Dy Niên sang Bắc Kinh cho biết CSVN đồng ý giao thêm phần biển trên Vịnh Bắc Việt.
    (3) Nhân chuyến viếng thăm Thái Lan, Ngoại Trưởng CSTH gởi văn thư mời ông Nguyễn Dy Niên sang gặp ông ta tại Bangkok.
    (4) Ngày 26/7/2000, Nguyễn Dy Niên sang Bangkok gặp Ngoại Trưởng CSTH tại khách sạn Shangri-La. Khi trở về Hà Nội, ông Niên mang theo một hồ sơ mà trong đó CSTH đòi phân chia vùng biển trong vịnh Bắc Bộ theo tỷ lệ 50/50.
    (5) Ngày 28/7/2000, Bộ Chính Trị VNCS họp mật về vấn đề này.
    (6) Ngày 26/9/2000, Bộ Chính Trị cử Thủ Tướng Phan Văn Khải bay sang Bắc Kinh gặp Thủ Tướng Lý Bằng. Lý Bằng cho ông Khải biết rằng, ông Nông Đức Mạnh, Chủ Tịch Quốc Hội VN với Lê Khả Phiêu đã gặp riêng Chủ Tịch Giang Trạch Dân vào tháng 4/2000 tại Bắc Kinh, và tháng 8/2000 tại New York, cả ba đã thỏa thuận. Lý Bằng nói thêm, sau khi ông Lê Khả Phiêu xuống thì Nông Đức Mạnh phải được đưa lên nắm chức Tổng Bí Thư trong đại hội đảng CSVN lần thứ 9 vào tháng 3/2001, nếu không thì CSTH sẽ đòi nợ CSVN thời chiến tranh.
    (7) Ngày 24/12/2000, Thứ Trưởng Ngoại Giao Lê Công Phụng được Chủ Tịch Trần Đức Lương cử sang Trung Cộng gặp ông Hoàng Di, phụ trách tình báo và là cánh tay phải của Ngoại Trưởng Trung Cộng. Họ vẫn khăng khăng đòi tỷ lệ 50/50 trên vịnh Bắc Việt, gồm cả đảo Bạch Long Vĩ. Lê Công Phụng được lệnh Bộ Chính Trị cố gắng “xin lại 6%” gần khu vực Bạch Long Vĩ. Kết quả cuối cùng cuộc đi đêm của Lê Công Phụng, biên giới trên Vịnh Bắc Việt từ 62% xuống còn 56% và Trung Cộng từ 38% lên 44%.
    (8) Ngày 25/12/2000, Chủ Tịch Trần Đức Lương sang Bắc Kinh gặp Chủ Tịch Giang Trạch Dân, hai bên cùng ký Hiệp Ước. Theo đó, lãnh đạo CSVN bán một phần Vịnh Bắc Việt cho lãnh đạo Trung Cộng với giá 2.000.000.000 mỹ kim (2 tỷ), và Trung Cộng trả cho lãnh đạo Việt Nam qua hình thức đầu tư.
    (9) Hãy nghe Lý Bằng nói với Trần Đức Lương tại Quảng Trường Nhân Dân ngày 26/12/2000 như sau: “Số tiền 2 tỷ mỹ kim để mua một phần Vịnh Bắc Việt là hợp lý”. Lý Bằng nói tiếp: “Trong thời gian chiến tranh, Trung Hoa đã giao cho Việt Nam vô số vũ khí để mua vùng đất Sapa, Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, ... của Việt Nam”.

    Vậy là Trung Cộng đã chiếm đoạt 789 cây số vuông trên biên giới và 11.361 cây số vuông trên Vịnh Bắc Việt mà Trung Cộng không tốn một mạng người, không tốn một viên đạn, không tốn một giọt xăng dầu, cũng không nhỏ một giọt mồ hôi, họ chỉ cần nhón 3 ngón tay cầm cây viết ký vào bản Hiệp Ước là xong. Với tư cách là “Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam”, có khi nào Các Anh cảm nhận được sự giằng xé từ trong chiều sâu tâm hồn của những công dân đối với Tổ Quốc không? Nếu KHÔNG, tôi xin hỏi: “Vậy, Các Anh là người Việt Nam hay người Trung Hoa?” Nếu CÓ, tôi xin hỏi: “Vậy, có phải là Các Anh biết mình phài làm gì rồi chớ?”

    Nhìn ra Biển Đông.

    Năm 1988, với chính sách gậm nhấm, Trung Cộng lần lượt đánh chiếm hoặc lấn chiếm một số đảo trong quần đảo Trường Sa. Cứ mỗi lần chiếm đóng một đảo, Trung Cộng với Việt Nam tuyên bố hai bên cùng giải quyết trong hòa bình, nhưng rồi lãnh đạo CSVN vẫn để nguyên trạng mất đất chớ không giải quyết gì cả, và một đảo khác lại vào tay Trung Cộng. Cứ như vậy mà 8 đảo lần lượt đã vào tay Trung Cộng.

    Đây là hai bản tin quan trọng dẫn đến sự kiện vừa nêu: (1) “Ngày 4/9/1958, ông Chu Ân Lai, Thủ Tướng Trung Cộng, công bố “lãnh hải Trung Hoa là 12 hải lý”. (2) Ngày 14/9/1958, Thủ Tướng Phạm Văn Đồng của Các Anh, chánh thức công nhận lãnh hải 12 hải lý trong bản tuyên bố của Trung Cộng bằng công hàm dưới đây: “

    “Thưa đồng chí Tổng Lý,
    “Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng Lý rõ, Chính phủ nước VNDCCH ghi nhận và “tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH), quyết định về hải phận của Trung quốc. Chính phủ nước VNDCCH tôn trọng quyết “định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà Nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý “của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước CHNDTH trên mặt bể.
    “Chúng tôi xin kính gửi đồng chí Tổng Lý lời chào rất trân trọng.
    “Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958”
    (ký tên Phạm Văn Đồng, Thủ Tướng nước VNDCCH. Đóng dấu)

    Chắc là Các Anh không phũ nhận chứ, nhưng chưa hết, xin mời đọc tiếp những sự kiện sau đây:
    (1) Năm 1972, Cục Đo Đạc & Bản Đồ của VNCS phát hành tập bản đồ thế giới, Hoàng Sa đổi tên là Tây Sa và Trường Sa đổi tên là Nam Sa đúng theo ý muốn của CSTH.
    (2) Năm 1974, trong sách giáo khoa sử địa của Bộ Giáo Dục CSVN ghi: “Chuỗi hải đảo từ Nam Sa (Trường Sa) Tây Sa (Hoàng Sa) Hải Nam và Đài Loan là bức tường thành bảo vệ Trung Hoa lục địa”.
    (3) Một đoạn khác trong bài viết nói trên của tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang: “Vùng quần đảo Trường Sa, có quân đội của Phi Luật Tân, Đài Loan, Mã Lai Á, và Việt Nam chiếm đóng, nhưng Trung Cộng thường nổ súng vào quân của Việt Nam mà không hề đụng đến quân của các quốc gia kia, chỉ vì Việt Nam đã công nhận vùng đó là của Trung Cộng nên quân đội Việt Nam có mặt ở đó họ coi là xâm phạm vùng biển của họ, thế là họ đánh. Việt Nam đề nghị mở hội nghị đa phương giải quyết, nhưng họ chỉ chấp nhận đàm phán với từng nước liên quan mà không nói chuyện với Việt Nam”.
    (4) Ngày 2/12/2007, Quốc Vụ Viện Trung Cộng ban hành văn kiện thành lập quận Tam Sa trong tỉnh Hải Nam, bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông của Việt Nam. Lãnh đạo CSVN phản ứng qua Lê Dũng, người phát ngôn của Bộ Ngoại Giao, đủ để gọi là có phản ứng và sau đó im lặng hoàn toàn. Nhớ lại hồi tháng 5/2009, Trung Cộng trưng ra tấm bản đồ Biển Đông với hình chữ U thường gọi là “đường lưỡi bò” để giành chủ quyền hơn 80% diện tích biển này. Đến đầu năm 2010, Trung Cộng lên tiếng lưu ý Hoa Kỳ rằng, Biển Đông thuộc lợi ích cốt lõi của họ, và họ quyết định sẽ điều động hàng không mẫu hạm đến vùng này để bảo vệ quyền lợi của họ.
    (5) Theo Thiếu tướng Lê Văn Cương (của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam) kể, thì ngày 26/5/2011 tàu Bình Minh 2 bị tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp rồi tới ngày 9-6, tàu Viking II tiếp tục bị tàu đánh cá có hai tàu ngư chính yểm trợ cắt cáp. Toàn bộ những việc này Trung quốc đã có tính toán và hành động của họ xuất phát từ hệ thống, mục đích rõ ràng chứ không phải vấn đề một tàu ngư chính hay hải giám.
    (6) Trích bản tin Dân Trí online ngày 13/6/2011. “....2 vụ việc liên tiếp thể hiện tính chất rất nghiêm trọng của vấn đề. Trung Quốc đã hết sức ngang nhiên xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam ngay trong vùng thuộc chủ quyền và quyền tài phán của chúng ta. Các sự việc nằm trong mưu đồ được hoạch định rất bài bản, chứ không phải những sự kiện đơn lẻ”.
    (7) Trích bản tin RFA online ngày 6/6/2011. Theo nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc: “Khi đã có một Đặng Tiểu Bình tuyên bố biển Đông là chủ quyền thuộc ngã, và từ khi Trung quốc tuyên bố biển Đông là khu vực lợi ích cốt lõi của họ, thì khó dùng tinh thần hiếu hòa của người Việt để ngăn chận tham vọng của phương Bắc.
    (8) Ngày 18/10/2011. Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (trong nước) tự hỏi trong sự hoảng hốt: “Mất nước rồi ư?” Rồi Cô tự trả lời: “Có lẽ thế thật!. Bởi trong lịch sử 1000 năm trước dân tộc này không thể bị đồng hóa bằng hình thức xâm lấn, thống trị… thì nay đã có những hình thức ngoại giao tinh vi hơn, buộc cả dân tộc phải tự đồng hóa mình, phải cam chịu vì lép vế, đớn hèn im lặng, chấp nhận cúi đầu mà quên đi truyền thống quật cường của cha ông để lại. Có lẽ thế thật. Vì nếu không, thì tại sao Trung Cộng ngang nhiên phủ nhận đặc quyền khai thác dầu khí của Việt Nam trên thềm lục địa nước Việt trong khi ông Nguyễn Phú Trọng đang thăm viếng Bắc Kinh?”

    Nhìn trong nội địa.

    Tháng 11/2007, Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết Định số 167/2007, về thăm dò khai thác quặng Bauxite trên Cao Nguyên Miền Trung trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2015, xét đến năm 2025, và giao cho Tập Đoàn Than & Khoáng Sản quốc doanh Việt Nam thực hiện. Tập đoàn này dành một hợp đồng cho Công ty Chalieco của Trung Cộng khai thác.
    Mời Các Anh xem nhận định kèm theo lời cảnh báo từ một số nhân vật quan tâm đến an ninh quốc gia:
    (1) Ngày 10/3/2009 (TuanVietNamNet online). “Cha ông ta từ xưa đã nhận định vùng Tây Nguyên quan trọng tới mức nếu ai chiếm được Tây Nguyên thì coi như đã làm chủ được Việt Nam và Đông Dương. Sau này người Pháp, người Mỹ, và thế giới cũng nhận thức được vị trí yết hầu của khu vực này với câu nói nổi tiếng: “Đây là nóc nhà của Đông Dương”. Vùng đất này là ngã ba Đông Dương, cho nên khi chiếm được khu vực này thì cũng dể dàng chiếm được 3 nước Đông Dương”.
    (2) Ngày 27/3/2009, báo Tuổi Trẻ tại Hà Nội. Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, Giám Đốc Công Ty Năng Lượng Sông Hồng thuộc Tập Đoàn Khai Thác Than & Khoáng Sản, được mời đến văn phòng trung ương đảng dự buổi tọa đàm. Sau đó, trong thư gởi Bộ Chính Trị, ông Sơn viết: “Lựa chọn nhà thầu Trung quốc là một sai lầm... Tôi có thể khẳng định, nếu đấu thầu một cách minh bạch, đúng luật, thì không một nhà thầu Trung Quốc nào có thể thắng thầu trong bất cứ dự án Bauxite nào”.
    (3) Ngày 3/4/2009 (Đối thoại online). Thiếu Tướng Công An Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến Lược & Khoa Học Bộ Công An, phân tách về địa thế của Tây Nguyên như sau: “Trung Quốc vào Tây Nguyên là họ đã có điều kiện khống chế đối với cả ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Hiện nay Trung Quốc đã thuê một vùng đất rộng lớn ở tỉnh Munbunkiri, sát biên giới tỉnh Dak Nông với thời gian 99 năm, và họ đã làm chủ các dự án kinh tế lớn ở tỉnh A-tô-pơ, tỉnh cực Nam của Lào, giáp với Việt Nam và Campuchia (tại ngã ba Đông Dương). Đây là hậu họa khôn lường đối với an ninh quốc gia.
    (4) Ngày 12/04/2009, giáo sư Nguyễn Huệ Chi, giáo sư Nguyễn Thế Hùng, và nhà văn Phạm Toàn, gởi bản kiến nghị đến Chủ Tịch nước, Chủ Tịch Quốc Hội, và Thủ Tướng CSVN. Nội dung yêu cầu dừng dự án khai thác quặng Bauxite vì gây nguy hại môi trường sống và an ninh quốc phòng. Ngay sau đó đã có 135 người trong nước, trí thức như Giáo sư đại học, kỹ sư, nhà văn nhà báo, đại biểu Quốc Hội như Nguyễn Lân Dũng, giáo sư Hoàng Tụy, tiến sĩ Phan Đình Diệu, giáo sư Trần Văn Khê, nhà thơ Dương Tường, đạo diễn Trần Văn Thủy, ... Ngoài ra có một số trí thức hải ngoại cùng tham gia. Trang nhà www.bauxitevietnam.info do một số trí thức trong nước thành lập lấy chữ ký gửi kiến nghị tới nhà cầm quyền Hà Nội kêu gọi ngưng kế hoạch, chờ đến khi nào có tiến bộ khoa học hơn thì hãy khai thác, tránh tàn hủy và đầu độc môi trường sống không chỉ riêng cho khu vực Tây Nguyên mà cả khu vực dọc theo sông Đồng Nai nữa.
    (5) Ngày 12/2/2010 (trang BauxiteVietNam.info). “Đây là một hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia… Các tỉnh bán rừng là tự sát và làm hại cho đất nước. Còn các nước mua rừng của ta là cố tình phá hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo. Nếu chúng ta không có biện pháp hữu hiệu, họ có thể đưa người của họ vào khai phá, trồng trọt, làm nhà cửa trong 50 năm, sinh con đẻ cái, sẽ thành những làng “làng Đài Loan”, “làng Hồng Kông”, “làng Trung Quốc”. Thế là vô tình chúng ta mất đi một phần lãnh thổ và còn nguy hiểm cho quốc phòng”.
    (6) Theo BBC online ngày 26/8/2010, “Bộ Công Thương đưa ra con số vào tháng 7/2009, theo đó đã có 30 doanh nghiệp Trung Quốc đang tham gia tổng thầu EPC hoặc đối tác đầu tư trong 41 dự án ở Việt Nam. Tất cả 41 dự án này là kinh tế trọng điểm, hoặc dự án thượng nguồn, liên quan mật thiết tới tài nguyên quốc gia hoặc an ninh hay năng lượng”.
    (7) Trang Bauxite online ngày 26/9/2010, ông Dương Danh Hy, cựu Tổng Lãnh Sự Việt Nam tại Trung Cộng, nhắc đến bài báo trích đăng của Giáo sư Bùi Huy Hùng, Viện Khoa Học Năng Lượng, nhận định rằng: “Việc hiện nay có đến 90% dự án nhiệt điện hiện nay do Trung Quốc thắng thầu sẽ dẫn tới sự phụ thuộc có nguy cơ mất an ninh năng lượng khi có sự cố xảy ra vì khi đó chúng ta có cái gì làm đối trọng”.
    (8) Trên Đàn Chim Việt onine ngày 12/10/2010, “Trung Quốc đang giúp các nước làm cầu, làm đường nối tiếp. Trong 6 tuyến đường này thì 5 tuyến cuối cùng là Việt Nam: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Sài Gòn, toàn bộ là vị trí xung yếu trải rộng cả Việt Nam…Ta mới có 2 đường Lạng Sơn và Móng Cái đã thấy điêu đứng, nay có thêm 5 đường đi khắp nơi, sức đâu để bảo vệ kinh tế quốc phòng. Thế có phải là một thể chế (ý nói lãnh đạo CSVN. PB Hoa) cho phép các hành lang này như khu nhượng địa nằm khắp Việt Nam?
    (9) Ngày 20/6/2011, theo bản tin từ báo Thanh Niên thì cuộc chiến biển người kiểu mới đang diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam chúng ta: “Đó là lao động phổ thông Trung Quốc tràn ngập Việt Nam. Điều bi thảm là trong các Phố Tàu mới mọc lên tại VN, thí dụ như tại Hải Phòng và Quảng Ninh, nhiều nơi chỉ dựng lên bảng tiếng Hoa, không sử dụng tiếng Việt, làm người dân Việt tự cảm thấy thân phận mình y hệt như dân Tây Tạng bị dân Hán tộc vào lấn ép”. Bài báo còn cho biết: “Luật không cho phép các doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức sử dụng lao động phổ thông là người nước ngoài. Thế nhưng, tại nhiều địa phương hiện vẫn tồn tại hàng ngàn lao động phổ thông nước ngoài, dù từ năm 2009 Thủ tướng đã yêu cầu các cơ quan chức năng rà soát xử lý, nhưng sự thể vẫn còn nguyên đó”.
    (10) Ngày 16/8/2011, nhà báo Tống Văn Công, nguyên Tổng Biên Tập của vài tờ báo trong nước: “ Hiện nay độc lập dân tộc đang đứng trước sự đe dọa của ngoại bang còn nguy hiểm hơn những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám. Bởi vì giặc ngoại xâm ngày nay, được nối giáo bởi giặc nội xâm ngụy trang bằng mặt nạ đồng chí.... Vì sao 90% các công trình công nghiệp đều rơi vào tay nhà thầu Trung Hoa, hàng chục vạn lao động cơ bắp của Trung Cộng theo chân các công trình do họ trúng thầu rải từ Bắc vào Nam mà không có biện pháp ngăn chặn?
    (11) Ngày 17/8/2011, trên báo Dân Việt, ông Nguyễn Trần Bạt, Chủ Tịch Tổng Giám đốc Investconsult Group trong bài “Chuyên gia nói về người Trung Hoa thuê đất”, hiện tượng này là một sự tranh giành không gian sống. Không những thế, đó là một hệ thống các hành vi trong âm mưu của họ. Theo ông thì cứ cái đà này sẽ dẫn đến tình trạng từ sản phẩm cho đến ruộng đất, từ đất canh tác công nghiệp là rừng, cho đến đất canh tác cây lương thực đều nằm trong chiến lược của họ, tất nhiên là nguy hiểm cho Việt Nam.
    (12) Lại nhớ đến chuyện lãnh đạo CSVN đã cho các công ty Trung Cộng thuê rừng đầu nguồn mà hai viên Tướng cộng sản Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh đã lên tiếng cảnh báo đầu năm 2010. Việc cho thuê rừng với một diện tích hơn 300.000 mẫu tây trong thời hạn lâu dài (50 năm) tại các tỉnh biên giới có vị trí trọng yếu, có nguy cơ lớn đến quốc phòng Việt Nam. Báo Vietnam Net lúc đó đã đăng loạt bài phóng sự về các công ty thuê rừng đang làm gì tại những nơi này, và mọi người đều lạnh người khi nhận ra nguy cơ quá rõ ràng, là những vùng đất sau khi cho thuê trở nên “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, không ai biết họ thực sự đang làm gì trên đất rừng của ta.
    (13) Ngày 31/8/2011, trên trang Bauxite online ngày 31/8/2011. Giáo sư Vũ Cao Đàm nhận định: “Bằng chiêu bài“ hợp tác khai thác bô-xit”, đế quốc Trung Cộng đã đóng chốt ở một vùng vô cùng hiểm yếu của bán đảo Đông Dương, cộng với những hợp đồng thuê 300.000 mẫu tây đất rừng đầu nguồn với các “đồng chí” của họ tại các địa phương trên suốt các vùng biên giới, Trung Cộng đã tạo ra một thế quân sự vô cùng nguy hiểm có khả năng làm tê liệt khả năng phản công bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam khi bị Trung Cộng tấn công từ bốn phía. Chúng ta không quên cộng thêm một bầy nhung nhúc gồm trên 1,3 triệu người lao động Trung Cộng, gồm những tráng đinh chắc chắn đã giải ngũ sau khi thực hiện nghĩa vụ quân sự. Bọn chúng được các“ đồng chí” sắp xếp đều khắp đủ mọi miền trên đất Việt Nam đã tạo ra một đạo quân dự bị khổng lồ, cầm súng bắn được ngay, đang mai phục khắp đất nước này. Một nguy cơ đang rập rình chờ đợi và người dân Việt -những ai còn tỉnh táo- đành sống trong muôn nỗi phập phồng!”
    (14) Trang Bauxite online ngày 19/9/2011. Cái nhức nhối và nguy hiểm nhất là Trung Quốc đã cho người thâm nhập vào cùng khắp đất nước ta qua vai trò nhân công trong các công trường khai thác bauxite, cũng như các gói thầu Trung Quốc thực hiện từ Bắc chí Nam mà ta không biết đây là tình báo, gián điệp hay là đặc công nằm vùng đợi thời cơ. Cùng lúc, ông Lê Hiếu Đằng tại Sài Gòn đã cảnh báo rằng: “Ngay vấn đề lao động Trung Quốc hiện nay sang đây không phép, tôi nghĩ là không phải bộ máy cầm quyền Việt Nam không biết, nhưng tại sao lại để tình trạng như vậy? Sẽ có những cái làng Trung Quốc, những vùng Trung Quốc mà người Việt Nam không thể vào được. Đó là những nhân viên dân sự hay là quân sự? Ai mà biết họ đang làm gì trong đó! Thì vấn đề đấy không phải là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề an ninh chính trị, vấn đề quốc phòng, mà chúng ta lại lơi lỏng. Điều này rất là nguy hiểm cho an ninh quốc gia”.

    Tôi góp nhặt 14 sự kiện trong số hằng trăm hằng ngàn sự kiện diễn ra ngay trong nội địa Việt Nam chúng ta, hẳn là Các Anh đã biết đến sự kiện kinh khủng này chớ? Tại nơi nhà thầu Trung Cộng đang khai thác ở Nhơn Cơ (Đắc Nông) và Tân Rai (Lâm Đồng), bùn đỏ đang là thảm họa trong hiện tại và trong tương lai đối với con người và rừng thiên nhiên từ Cao Nguyên Miền Trung xuống thung lũng Đồng Nai, ra vùng duyên hải Đông Bắc Sài Gòn. Và thảm họa cao nhất là dân tộc Việt Nam chúng ta bị kẻ thù từ trong lịch sử xa xưa lại tái hiện trong thế giới ngày nay thống trị lần nữa!
    Bây giờ mời Các Anh nhìn vào hành động của lãnh đạo Các Anh khiếp nhược đến mức nào đối với kẻ thù truyền kiếp từ phương Bắc, kẻ thù mà Vua Trần Nhân Tông đã răn dạy, đã cảnh báo từ 8 thế kỷ trước.

    3. NHÌN VÀO LÃNH ĐẠO VIỆT NAM.

    Lãnh đạo mà tôi nói đến trong đoạn này, bao gồm các cấp lãnh đạo trong hệ thống tổ chức đảng cộng sản, trong bộ máy hành chánh và các ngành chuyên môn, trong hệ thống giáo dục, trong tổ chức Quân Đội Nhân Dân, và trong tổ chức Công An Nhân Dân.

    a. Lãnh đạo Đảng & Nhà Nước

    (1) Ngày 15/10/2011, tại Bắc Kinh, ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam, và ông Hồ Cẩm Đào, Chủ Tịch đảng cộng sản Trung Hoa, đã ra một tuyên bố chung rằng: “Hai bên khẳng định quyết tâm chính trị thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị để giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông. Hai bên sẽ đối thoại thường xuyên về vấn đề trên biển từ tầm cao chính trị và chiến lược, để kịp thời chỉ đạo xử lý các vấn đề trên biển. Hai bên cũng sẽ nghiên cứu và trao đổi về vấn đề hợp tác cùng phát triển Biển Đông, phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và về việc cùng khai thác vùng biển này. Hai bên cam kết sẽ không có hành động làm phức tạp hóa vấn đề hoặc mở rộng thêm tranh chấp, và nhất là không để “các thế lực thù địch” phá hoại quan hệ giữa hai đảng, hai nước”.
    (2) Ngày 17/10/2011, Ông Lưu Vi Dân, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Trung Cộng khẳng định: “ Trung Quốc và Việt Nam đã nhất trí giải quyết các tranh chấp trên biển bằng các cuộc đàm phán, và vì vậy, không cần sự can thiệp của một bên thứ ba. (Nguồn tin: Xinhua và China Daily của Trung Cộng)

    Nếu Các Anh có theo dõi tin tức liên quan đến Biển Đông chúng ta, hẳn Các Anh vẫn biết là các quốc gia ven Biển Đông trong khối ASEAN -nhất là Phi Luật Tân- muốn Việt Nam và các quốc gia trực tiếp liên quan cùng hành động chung để bảo vệ Biển Đông trước tham vọng lấn chiếm của Trung Cộng. Vậy mà ông Nguyễn Phú Trọng lại thỏa thuận với Trung Cộng là vấn đề liên quan đến Biển Đông chỉ do hai nước trực tiếp giải quyết. Các Anh nghĩ gì khi nhận biết hành động của Tổng Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam? Vì giải quyết song phương thì Việt Nam mất biển dần dần là điều chắc chắn!

    (3) Bản tin của Dân Làm Báo. Trong khi đưa tin về chuyến thăm Trung Cộng của ông Nguyễn Phú Trọng, bản tin thời sự đài truyền hình Việt Nam VTV lúc 7 giờ tối ngày 14/10/2011 có hình cờ Trung Cộng có 6 ngôi sao, gồm 1 sao lớn và 5 sao nhỏ. Cho đến ngày trước đó, cờ Trung Cộng có 1 ngôi sao lớn là dân tộc Hán, và 4 ngôi sao nhỏ là các dân tộc Hồi, Mông, Tạng, và Mãn.
    Trước đây đã có những nghi vấn nêu lên về việc Trung Cộng thêm ngôi sao thứ 5 trên lá cờ của mình trong cộng đồng mạng với lo lắng về việc đồng hóa dân tộc Việt Nam qua hình ảnh ngôi sao thứ 5. Tuy nhiên, tất cả chỉ là giả thuyết. Cho đến bản tin tối ngày 14/10/2011 do Đài Truyền hình Việt Nam phát sóng, thì có lẽ ai cũng thấy rằng: “Đây chắc chắn không thể nào là lỗi của "cậu đánh máy". Đây chắc chắn không thể nào là "hành động vô tình" cho một cái ngôi sao thừa. Đây lại càng không thể là âm mưu của thế lực thù địch bên ngoài”. Sau khi bị phát hiện lá cờ Trung Cộng "6 ngôi sao", thay vì lên tiếng giải thích, đính chính... VTV đã âm thầm phi tang bằng chứng bằng cách tháo gỡ đoạn video thời sự lúc 7 giờ tối ngày 14/10/2011. Trước khi biến mất, nguồn “video 6 sao" này là: http://media.vtv.vn/Media/Get/Thoi-s...82824dce9.html

    (4) Ngày 16/10/2011, tác già Bùi Tín với bài “Sứ Quán hay Dinh Thái Thú?”. Ông nói về chuyện diễn ra tại tòa đại sứ Trung Cộng ở Hà Nội sau khi ông Khổng Huyễn Hựu nhận chức Đại Sứ.
    Không kể những buổi ông Khổng đến trình quốc thư Chủ Tịch Nước, chào Tổng Bí Thư, Thủ Tướng, Chủ Tịch Quốc Hội, đã có hàng loạt quan chức cao cấp đã đến sứ quán Trung Cộng trên đường Hoàng Diệu để chào tân Đại Sứ, đó là: (a) Ngày 17/8/2011, Thứ Trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn, và Phó Trưởng Ban Đối Ngoại Trung Ương Nguyễn Mạnh Hùng. (b) Ngày 23/8/2011, Trung Tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ Trưởng Quốc Phòng. (c) Ngày 29/8/2011, Bộ Trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng, rồi Thứ Trưởng Bộ Công An Trung Tướng Đặng Văn Hiếu. (d) Ngày 31/8/2011, Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân, rồi Bộ Trưởng Tài Chính Vương Đình Huệ. (e) Ngày 12/9/2011, Bộ Trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh. (f) Ngày 16/9/2011, Bộ Trưởng Giáo Dục & Đào Tạo Phạm Vũ Luân. (g) Ngày 21/9/2011, Trưởng Ban Đối Ngoại Trung Ương Hoàng Bình Quân, rồi Bộ Trưởng Thông Tin Tuyên Truyền Nguyễn Bắc Sơn. (h) Ngày 27/9/2011, Bí Thư Thành Ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị. (k) Ngày 29/9/2011, Bộ Trưởng Văn Hoá & Thể Thao & Du Lịch Hoàng Tuấn Anh, rồi Trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương Tô Huy Rứa. (l) Ngày 3/10/2011, Thường Trực Ban Bí Thư Lê Hồng Anh, rồi Chủ Tịch Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương Ngô Văn Dụ. (m) Ngày 4/10/2011, Trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương Đinh Thế Huynh.
    Sứ quán Trung Cộng cho biết, chỉ trong thời gian ngắn, ông Đại Sứ đã có dịp hội kiến với quá nửa số ủy viên Bộ Chính trị của phía Việt Nam, chưa kể một loạt ủy viên Trung ương đảng, bộ trưởng, thứ trưởng và các loại cán bộ cấp cao khác.
    Với danh sách của ông Bùi Tín mà tôi trích lại trên đây, Các Anh có nghĩ là các Ủy Viên Trung Ương Đảng đến chào tân Đại Sứ hay chầu viên Thái Thú họ Khổng?

    (5) Tháng 11/2011, trích bài viết của ông Ngô Minh “(Lãnh đạo đảng & nhà nước. PB Hoa) Chúng Ta Đang Xẻ Thịt Tổ Quốc Mình Để Sống”.
    “Cách đây vài ba năm, báo chí loan tin đến năm 2012 Việt Nam phải nhập than đá! Thế mà bây giờ là năm 2011, nước ta đã phải nhập hàng nghìn tấn than đá từ nước ngoài... Nhìn lại đối mới từ năm 1986 đến nay, một thực trạng đau lòng đang diễn ra khắp nơi là chúng ta đã khai thác, buôn bán tài nguyên quốc gia một cách ồ ạt, vô tội vạ. Dường như thu nhập GDP (GDP = tổng sản lượng nội địa. PB Hoa) đất nước đều do buôn bán tài nguyên mà có, còn hàng hoá sản phẩm mang hàm lượng chất xám cao chiếm tỷ lệ không đáng kể. Nghĩa là từ “đổi mới” đến nay, chúng ta đang sống nhờ bán tài nguyên, chứ chẳng làm được thương hiệu gì bền vững có tầm cỡ thế giới cả. Nhìn qua Hồng Kông, Ma Cao, Singapore , Nhật Bản… mà thương cho đất nước mình. Người ta chẳng có nhiều tài nguyên khoáng sản mà sao người ta giàu thế. Còn mình bán tài nguyên mà ăn, rồi con cháu vài thế hệ sau ăn không khí à?
    .... Trong hòa bình xây dựng 30 năm nay, do ấu trĩ trong nhận thức và non kém về quản lý, chúng ta tiếp tục tàn phá tài nguyên dữ dội hơn, nặng nề hơn. Hình thế núi sông Việt Nam đang thấy đổi từng ngày, đang bị cày xới nham nhở! 20 năm qua có rất nhiều “phong trào” bán tài nguyên để “làm ngân sách” xảy ra rầm rộ. Như khai thác gỗ rừng để xuất khẩu ồ ạt. Quốc doanh khai thác xuất khẩu, “hợp tác xã” khác thác xuất khẩu, tư nhân núp bóng nhà nước khai thác, xuất khẩu… Người cấp quota xuất khẩu gỗ giàu lên từng ngày một. Đến khi “ngộ ra”, ban hành lệnh cấm, thì rừng đã bị “ “bán ăn” gần hết. Thế là lại phải “làm dự án” trồng 5 triệu hec-ta rừng gần chục năm nay vẫn không thành. Hết rừng rồi thì bán đất rừng. Hơn 300.000 héc ta rừng đầu nguồn đã bị các tỉnh bán cho doanh nhân Trung Quốc khai thác 50 năm. Nghĩa là 50 năm đó chúng muốn biến mảnh đất rừng của chúng ta thành căn cứ quân sự, lô cốt, hầm ngầm.v.v… là quyền của họ. Hết nước rồi non nước ơi! Bán hết rừng đến bán khoáng sản dầu thô, than đá, cát, quặng ti-tan, quang a-pa-tít, quặng vàng… Người bán gỗ, bán than, thì có kẻ lại bán núi, bán đất ruộng làm giàu. Xem ra bán núi bán đất dễ giàu có hơn.
    Trong những chuyến đi thực tế ở vùng Đông Bắc, Thanh Hóa, Ninh Bình…, tôi thấy nhiều ngọn núi bị san bằng trơ trọi, để khai thác đá sản xuất xi măng, đá xây dựng. Bây gìờ tỉnh nào cũng hai ba nhà máy xi măng, hàng chục công trường khái thác đá hàng ngày ra sức san phá núi. Có tỉnh bán luôn cả ngọn núi cho nước ngoài làm xi măng, không chỉ bán phần dương mà còn bán cả phần âm tới 30 mét sâu, nghĩa là 50 năm sau, núi thành hồ! Hình sông thế núi Việt Nam ngàn đời hũng vĩ, bây giờ đang bị xẻ thịt nham nhở. Liệu con cháu tương lai sẽ sống như thế nào, có còn hình dung ra nước non Việt tươi đẹp như xưa nữa không, khi mà quanh chúng núi non bị gậm nhấm, thân thể Tổ Quốc ghẻ lở, xác xơ? Tài nguyên của mình, nước ngoài đến khai thác rồi chế biến thành sản phẩm xuất khẩu của họ, trong lúc hình hài non sông bị xâm hại. “Bán núi” để ăn như thế có đau núi quá không? “Bán đất” mới là cuộc tỉ thí với tương lai khủng khiếp nhất. Tỉnh nào cũng có vài ba Khu công nghiêp, nhưng chẳng làm ra sản phẩm xuất khẩu nào có thương hiệu cả vì máy móc lạc hậu, bán trong nước cũng chẳng ai mua. Tỉnh nào cũng có ba bốn sân golf. Rồi dự án mở rộng đô thị lên gấp đôi gấp ba, dự án khu biệt thư, …đang làm cho đất nông nghiệp, đất trồng lúa trong cả nước, đất trồng cây ăn trái ở Nam Bộ đang thu hẹp với tốc độ chóng mặt. Mỗi năm có từ 73.000 - 120.000 ha đất nông nghiệp bị thu hồi, bị chuyển đổi. Mở rộng đô thị thì đất ruộng thành đất thành phố, bán với giá cao hơn. Đua nhau mà ăn chia, lấn chiếm, đẩy nông dân ra khởi mảnh đất ngàn đời sinh sống của họ. Thế là khẩu hiệu của Cộng Sản “dân cày có ruộng” thành trò đùa lịch sử. Vì mục tiêu tăng GDP, tăng thu ngân sách, trung ương lẫn các tỉnh đang thi nhau bán đất nông nghiệp một cách vô tội vạ để làm giàu. (Càng nhiều dự án bao nhiêu, lãnh đạo đảng với nhà nước càng giàu thêm bấy nhiêu. PB Hoa)
    ... Hết bán rừng, than, ti-tan, đá, người ta con bán cả bo-xit Tây Nguyên, thứ mà cách đây mấy chục năm, khối Comicom ( Khối kinh tế các nước XHCN) đã ngăn không cho khai thác, họ sợ làm hư hỏng môi trường và văn hoá Tây Nguyên. Nhưng bây giờ thì bất cần tương lai Tây Nguyên, bất cần hàng ngàn trí thức tâm huyết với đất nước kịch liệt phản đối, họ vẫn khai thác. Nhưng, bọn người được quyền đầu tư khai thác ấy lại là bọn giặc truyền kiếp phương Bắc ngàn đời của Dân tộc ta mới đau, mới lo chứ. Chúng thâm hiểm lắm, người ơi. Chúng mang hàng ngàn người (dân binh?) vào Tây Nguyên, với kế hoạch làm chủ Tây Nguyên của Việt nam. Các nhà chiến lược quân sự thường nói:” Ai làm chủ Tây Nguyên sẽ làm chủ Đông Dương”. Chao ôi, từ việc bán tài nguyên đến “bán nước” chỉ còn một khoảng cách mong manh như sợi chỉ!
    Ngay cả nước là loại tài nguyên quý giá cũng đang bị xâm hại nghiêm trọng. Hiện nay tất cả các con sông đều “đang chết dần” vì ô nhiễm do chất thải công nghiệp, bệnh viện chưa qua xử lý đều thải trực tiếp ra sông. Mạch nước ngầm đang xuống thấp chưa từng có do khai thác vô tội vạ. Rồi “phong trào” phát triển thuỷ điện tùm lum làm cho mực nước ở đồng bằng giảm xuống. Đến cả sông Hồng cũng cạn trơ đi bộ qua được”.

    b. Lãnh đạo Quân Đội và Công An.

    (1) Ngày 3/6/2011, bên lề hội nghị quốc tế tại khách sạn Shangri-La ở Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh, khẳng định với Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Cộng Lương Quang Kiệt rằng : "Việt Nam và Trung Quốc là anh em tốt, đối tác tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt". Theo TTXVN, Đại Tướng Phùng Quang Thanh còn nói với Trung Cộng, là vụ tàu thăm dò địa chấn Bình Minh 02, ngày 26/5/2011 bị tàu hải giám của Trung Cộng cắt cáp, chỉ là chuyện nhỏ, không ảnh hưởng đến "truyền thống hữu nghị tốt đẹp giữa hai dân tộc Việt-Trung".
    (Cũng vì vậy mà hằng trăm tàu thuyền của ngư dân Việt Nam đã bị tàu của Trung Cộng đâm chìm, tài sản trên tàu thuyền bị chúng tịch thu, ngư dân bị chúng bắt và chỉ thả ra khi đóng tiền chuộc, mà quân đội “Nhân Dân” Việt Nam nói chung và Hải Quân Nhân Dân Việt Nam nói riêng, đã im lặng như Người Lính vô cảm với Nhân Dân dù danh xưng của quân đội gắn liền hai chữ “Nhân Dân”. PB Hoa)
    (2) Ngày 28/8/2011, Trung Tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ Trưởng Quốc Phòng Việt Nam, trong buổi họp với Thượng Tướng Mã Hiểu Thiên, Phó Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội Trung Cộng tại Bắc Kinh, do Thông Tấn Xã Việt Nam loan tin: "Nếu Việt Nam cần sự ủng hộ, đồng cảm, hợp tác và phát triển thì còn có ai hơn một nước Trung Quốc xã hội chủ nghĩa láng giềng... Việt Nam sẽ ‘kiên quyết xử lý vấn đề tụ tập đông người ở Việt Nam, và dứt khoát không để sự việc tái diễn... Việt Nam không bao giờ dựa vào bất kỳ một nước nào để chống Trung Quốc”.
    (Do đó mà Công An Nhân Dân -tôi nhấn mạnh hai chữ “Nhân Dân”- thẳng tay đàn áp Nhân Dân qua 12 cuộc biểu tình kể từ cuộc biểu tình lần 1 vào ngày 5/6/2011, để bày tỏ lòng yêu nước phản đối Trung Cộng lấn chiếm Biển Đông của Việt Nam. PB Hoa)
    (3) Ngày 27/9/2011, với bài viết “Linh Hồn Quân Đội Nhân Dân Lâm Nguy”, ông Bùi Tín (trước kia là Đại Tá trong quân đội Các Anh), viết về phái đoàn Tổng Cục Chính Trị do Trung Tướng Ngô Xuân Lịch, Chủ Nhiệm Tổng Cục Chính Trị hướng dẫn sang Bắc Kinh theo lời mời của Trung Cộng. Thành viên của phái đoàn gồm 6 Chính Ủy Quân Khu với một số Cục Trưởng của Tổng Cục... Ông Bùi Tín cho rằng, hệ thống Quân Ủy là “linh hồn của quân đội nhân dân”. Theo ông Bùi Tín, phái đoàn chính trị quân đội nhân dân Việt Nam được Phó Chủ Tịch Nước kiêm Phó Bí Thư Quân Ủy Trung Ương, ông Tập Cận Bình tiếp rất nồng hậu. Ông Tập Cận Bình sẽ thay ông Hồ Cẩm Đào trong chức Tổng Bí Thư kiêm Chủ Tịch Nước từ cuối năm 2012, tức ngay sau đại hội đảng cộng sàn Tàu lần thứ 18. Ông Tập Cận Bình căn dặn phía Việt Nam hãy thực hiện 3 điều: (1) Kiên trì hiệp thương hữu nghị. (2) Kiên trì tầm nhìn đại cục. (3) Kiên trì hợp tác 2 bên cùng có lợi.
    Chỉ vài câu ngắn gọn nhưng hiểu rộng ra, thì: (a) “Kiên trì hiệp thương hữu nghị”, là Trung Cộng có trưng ra hình lưỡi bò, có tuyên bố toàn vùng biển Đông là sở hữu cốt lõi không ai được tranh cãi. Còn cho tàu chiến vào vùng này, ngăn cấm ngư dân Việt đánh cá, ngăn cả tàu Ấn Độ vào thăm hữu nghị Việt Nam, lúc ấy Việt Nam không được phản đối, không để cho dân biểu tình, mà chỉ nên hiệp thương một cách ôn hòa hữu nghị với nhau. (b) “Kiên trì nhìn đại cục”, nghĩa là phía Việt Nam chỉ nên coi những việc như nhân nhượng chút ít đất đai, vài vùng biển nhỏ, vài quần đảo chỉ là chuyện nhỏ, mà chuyện lớn là tình hữu nghị truyền thống, là «16 chữ Vàng», là “quan hệ bốn tốt”. Trên đại cục 2 nước là láng giềng tốt, trên đại cục 2 nước là bạn tốt, trên đại cục là đồng chí tốt, trên đại cục cũng là đối tác tốt. Có gì xấu chỉ là về tiểu tiết, không đáng kể, nên bỏ qua. (c) “Kiên trì hợp tác 2 bên cùng có lợi”, nghĩa là không đấu tranh chống đối, tố cáo nhau làm gì cho lôi thôi, phức tạp, hãy coi nhau là bạn bè, là anh em đồng chí, luôn giữ hòa khí với nhau, hợp tác chiến lược toàn diện, sẽ duy trì tình anh em hòa thuận, có lợi cho cả 2 bên, chống đối nhau chỉ bất lợi, thiệt hại cho cả 2 bên.
    Ông Bùi Tín nhận định: “Trung Tướng Ngô Xuân Lịch và phái đoàn, chẳng những đã tán thành ý kiến được coi như chỉ thị của ông Tập Cận Bình, còn cam kết rằng là quân đội 2 nước sẽ gương mẫu thực hiện thỏa thuận giữa 2 đảng, 2 nước là giải quyết những vấn đề tồn tại giữa 2 nước bằng đối thoại song phương. Ông còn nhấn mạnh “phía Việt Nam không có ý định quốc tế hóa các vấn đề bất đồng về biển đảo, không kéo nước này chống nước khác”. Rõ ràng đó là lập trường “hèn với giặc, ác với dân” phơi bày công khai. Đất nước quả là lâm nguy, đại lâm nguy”. Cuối cùng tác giả Bùi Tín “xin để toàn thể Tướng Lãnh, Sĩ Quan, Binh Sĩ, và toàn dân nhận xét và đánh giá trên lập trường bảo vệ Tổ quốc, một cách khách quan và công bằng”.

    4. KẾT LUẬN.

    CSVN đánh thực dân Pháp không phải vì giành độc lập tổ quốc, mà là nhuộm đỏ một nửa giang sơn phía Bắc với chế độ độc tài tàn bạo hơn thực dân Pháp. CSVN từ nước Viêt Nam Dân Chủ cộng Hòa đánh chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa không phải để thống nhất đất nước, mà là nhuộm đỏ toàn cõi giang sơn Việt Nam dưới sự cai trị độc tài tàn bạo của cộng sản quốc tế.
    Với những diễn biến trên lãnh thổ Việt Nam trong 36 năm qua, từ chính sách của lãnh đạo cộng sản Việt Nam cai trị người dân một cách tàn bạo nghiệt ngã, thậm chí thẳng tay đàn áp khi người dân quá phẫn uất đã cùng nhau biểu tình phản đối Trung Cộng hà hiếp lấn chiếm Việt Nam, đến chính sách quy lụy lãnh đạo Trung Cộng, thậm chí quy lụy cả những nhà thầu của Trung Cộng một cách hèn hạ đến khiếp nhược, nhưng xem ra lại phù hợp với “biên bản” thỏa thuận giữa lãnh đạo cộng sản Việt Nam với lãnh đạo cộng sản Trung Hoa hồi tháng 9 năm 1990.
    Nhớ lại những năm trong trại tập trung trên đất Nam lẫn đất Bắc, “nhờ bị học chính trị” nên tôi còn nhớ bài học ca tụng cộng sản Liên Sô rằng: “Liên Sô là thành trì vững chắc của chủ nghĩa xã hội”. Chắc chắn là Các Anh “phải thuộc bài này” hơn tôi nhiều. Vậy, tôi mời Các Anh đọc vài đoạn dưới đây của cố, cựu, và đương kim lãnh đạo nước Nga sau thời cộng sản:
    (1) Cựu Tổng bí thư đảng cộng sản Liên Xô Gorbachev nói: “Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng: Đảng cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá.”
    (2) Cố Tổng thống Nga Boris Yeltsin nói: “Cộng sản không thể nào sửa chữa, mà cần phải đào thải nó.”
    (3) Ngày 07/05/2010, đương kim Tổng Thống Nga Dmitry Medvedev đã trả lời phỏng vấn của nhật báo Nga Isvestiai. Trích vài đoạn: “Chế độ chính quyền ở Liên Xô khi trước không thể diễn tả bằng cách nào khác hơn là một chế độ độc tài toàn trị. Thực không may, đây là một chế độ đàn áp các quyền tự do căn bản không những chỉ người dân của nước mình, mà còn cho nhân dân các nước nằm trong khối CS, tôi muốn nói tới các nước XHCN khác, trong gần nửa thế kỷ nay. Và vết nhơ này không thể nào bôi xóa trong lịch sử”. Lời phát biểu của ông đã gây chấn động hệ thống truyền thông Nga và nhiều nước trên thế giới. ... Năm 1940, khoảng 22.000 sĩ quan Ba Lan đã bị Staline ra lệnh thảm sát tại rừng Katyn. Mãi sau này, chính quyền Ba Lan mới đưa vụ thảm sát ra tòa án Nhân Quyền Âu Châu tại Strasbourg với những bằng chứng. Thân nhân những người bị sát hại đã đòi chính phủ Nga phải bồi thường. Tháng 3/2010, Viện Công tố Quân Sự Nga đã trả lời Tòa Án Nhân Quyền Âu Châu rằng: “Vụ thảm sát xảy ra từ năm 1940, tới nay đã vượt qua thời hiệu pháp lý. Nước Nga ngày nay, không thể chịu trách nhiệm cho một chính quyền 70 năm về trước. Ông nói: “Nếu ngày hôm nay, nhắm mắt trước những tội ác này, thì trong tương lai, những tội ác như vậy sẽ còn lặp lại, ở dạng này hay dạng khác, ở nước này hay nước kia. Vì vậy, thời gian khiếu nại tuy khá xa, nhưng tội ác tày trời như vậy không bao giờ mất thời hiệu. Những người gây tội ác, bất cứ là ai, bất kể thời gian là bao nhiêu năm, cũng phải gánh trách nhiệm ! Đây là vấn đề trách nhiệm và đạo đức, một sự kiện đáng để cho các thế hệ tương lai rút kinh nghiệm”.

    Tổ Quốc Việt Nam chúng ta thật sự lâm nguy rồi!

    Nếu nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam không thức tỉnh thì dân tộc Việt Nam bị cái tròng “Bắc thuộc lần thứ 5” đang trên cổ dân tộc Việt Nam sẽ từ từ siết lại cho đến năm 2020 như đã thỏa thuận giữa lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam với lãnh đảng đảng cộng sản Trung Hoa. Từ đó, Văn hoá Việt Nam sẽ dần dần bị tan biến trong văn hoá Tàu cộng sản!
    Nhưng, đã là cộng sản và là cộng sản Việt Nam, tôi hoàn toàn không tin là họ sẽ trở thành người tử tế như những người tử tế trong xã hội, để nhận ra điều đúng điều sai mà rút ra bài học kinh nghiệm ứng dụng vào trách nhiệm lãnh đạo. Vì cho đến nay, nhìn vào sự thật, chúng ta nhận rất rõ là lãnh đạo CSVN đã thành công khi tạo nên một xã hội mà mọi người phải sống với nhau bằng gian trá lọc lừa “đúng theo bản chất” của đảng cộng sản, họ cũng đã thành công khi tạo nên một nước Việt Nam “sẳn sàng trở về” với nước Tàu cộng sản đúng theo nhóm lãnh đạo CSVN đã “đề nghị” và được lãnh đạo CSTH chấp nhận từ năm 1990!
    Vậy, Việt Nam chỉ còn cách duy nhất là phải tranh đấu giành lại những quyền căn bản của con người từ tay chế độ độc tài. Từ đó, sẽ vô hiệu hóa những văn kiện mà cộng sản Việt Nam đã ký với Trung Cộng vi phạm Hiến Pháp Việt Nam làm thiệt hại cho Việt Nam về biên giới, biển cả, và nội địa.
    Xin gởi sự suy nghĩ nhỏ nhoi hạn hẹp của tôi đến Các Anh, “Những Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam”, hãy bình tâm mà nhận định một chuỗi sự kiện đã diễn ra, và suy nghĩ từ chiều sâu tâm hồn của chính mình chớ không phải tâm hồn của người đảng viên cộng sản. Các Anh đừng đứng nhìn một cách vô cảm nữa mà hãy hành động “như một đầu tàu”, kéo theo 89 triệu bà con trên quê hương Việt Nam thân yêu, và mạnh dạn đứng lên quật sập cái chế độ cộng sản độc tài tàn bạo với dân nhưng vô cùng khiếp nhược với Trung Cộng, để mọi người Việt Nam trong nước và hải ngoại cùng nhau vá lại mảnh giang sơn đã rách loang lỗ, xóa tan những “vệt da beo trên da thịt quê hương”, để xây dựng một nền văn hoá nhân bản khoa học, và phát triển một xã hội dân chủ pháp trị mà mọi người được hưởng một cách tự nhiên những quyền căn bản của mình.
    Tôi vững tin rằng, bà con trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại -đặc biệt là Những Người Lính Chúng Tôi- vẫn hết lòng hỗ trợ Các Anh và quí vị đồng bào, những thế hệ làm nên lịch sử.

    “Tự Do, phải chính chúng ta tranh đấu, vì Tự Do không phải là quà tặng”.

    Houston, tháng 11 năm 2011.



  2. The Following 11 Users Say Thank You to tieuchuy For This Useful Post:

    Cantho63 (01-09-2012), hieunguyen11 (11-21-2011), Hoanghac (08-16-2012), khongquan2 (04-21-2012), lethucthang (05-23-2013), levannhan (10-08-2012), nguyenphuong (01-05-2013), TAM73F (02-22-2012), Tinh Hoai Huong (10-09-2012), trananh (07-10-2012), ttmd (07-07-2016)

  3. #2
    tieuchuy's Avatar
    Status : tieuchuy v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Feb 2010
    Posts: 191
    Thanks: 3
    Thanked 331 Times in 133 Posts

    Default Thư số 2

    Thư số 2 gởi
    Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam.


    ******
    Phạm Bá Hoa


    1. XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ.

    Xin lặp lại đoạn này trong thư gởi Các Anh hồi tháng 11/2011 để Các Anh nào chưa đọc thư đó cũng nhận ra vị trí người viết với vị trí người nhận, từ đó tiếp nhận nội dung dễ dàng hơn.

    “Tôi là một trong hằng triệu Người Lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chống lại cuộc chiến tranh do nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gây ra. Trong bang giao quốc tế, quốc gia này đánh chiếm quốc gia kia, không có tên gọi nào khác ngoài hai chữ “xâm lăng”. Ngày cuối tháng 4/1975, bối cảnh chính trị đưa chúng tôi vào tình thế thua trận, chúng tôi bị lãnh đạo cộng sản Việt Nam đày đọa trong hằng trăm trại tập trung trong số hơn 200 trại mà cộng sản gọi là trại cải tạo. Người 5 năm, 10 năm, thậm chí 17 năm ròng rả, riêng tôi là 12 năm 3 tháng. Giờ đây, Quân Lực mà tôi phục vụ không còn nữa, nhưng linh hồn của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn nguyên vẹn trong tôi. Tôi là Người Lính thua trận, nhưng tôi rất hãnh diện vì được phục vụ tổ quốc và dân tộc với tư cách một công dân trong thời chiến tranh bảo vệ dân chủ tự do, dù chưa tròn nhiệm vụ. Giờ đây tôi đang sống xa quê hương đến nửa vòng trái đất, tôi chưa bao giờ và sẽ không bao giờ về Việt Nam, cho đến khi nào quê hương cội nguồn của tôi có một chế độ tự do và nhân quyền trong một xã hội dân chủ pháp trị đúng nghĩa”.
    “Các Anh là Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam hôm nay. Chữ “Người Lính” viết hoa mà tôi sử dụng ở đây, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lãnh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng. Là Người Lính trong Quân Đội Nhân Dân, Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, vì Tổ Quốc Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản chỉ là một giai đoạn của lịch sử, và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó”.

    Xin được gọi “Người Lính Quân Đội Nhân Dân” ngắn gọn là “Các Anh” để tiện trình bày.

    Tôi trích một đoạn trong bài viết “Quá Khứ & Hận Thù” để Các Anh nhận ra quan điểm của tôi khi viết thư này gởi Các Bạn: “Trong paltalk tối 30/04/2010 trên Diễn Đàn Chính Nghĩa Việt Nam Cộng Hòa tại hải ngoại với trong nước, tôi đóng góp đề tài “Việt Nam, sau 35 năm xã hội chủ nghĩa”. Ngay sau 45 phút trình bày, một người xưng là “Em gái Mỹ Tho” nêu câu hỏi: “Với một quá khứ như vậy, ông có hận thù cộng sản không?” Tôi đáp: “Tôi không hận thù cộng sản, nhưng tôi không bao giờ quên quá khứ của cộng sản, vì lòng hận thù thường xuyên trói buộc sự suy nghĩ của mình, làm cho mình chỉ quanh quẩn với những ý nghĩ tìm cách trả thù. Và khi không thoát ra được sự trói buộc đó nên không thể có được suy nghĩ gì để đóng góp cho cuộc đấu tranh thực hiện một xã hội công bằng, dân chủ, tự do, cho đồng bào trên quê hương. Do cai trị bằng chính sách độc tài nên lãnh đạo CSVN luôn sợ hãi mọi người đứng lên lật đổ, nên họ sử dụng “Công An Nhân Dân” tạo cho người dân thường xuyên sống trong sợ hãi để bản thân lãnh đạo của Các Anh bớt sợ hãi. Với những ai vượt lên sự sợ hãi để giành lại quyền làm người cho đồng bào, tức khắc sẽ bị hằng trăm cánh tay cầm gậy gộc, cầm roi điện, cầm súng đàn áp nhân dân, bắt nhân dân bỏ tù, và trong nhiều trường hợp đã giết chết nhân dân mà không hề vi phạm cái gọi là pháp chế xã hội chủ nghĩa, cho dù Công An cũng như Quân Đội Các Anh đều có hai chữ Nhân Dân kèm theo tên gọi, có nghĩa là Quân Đội và Công An là của Nhân Dân, phải bảo vệ Nhân Dân.

    2. CÁC ANH HÃY NHÌN LẠI.

    Trong thư gởi Các Anh hồi tháng 11 năm 2011, tôi mời Các Anh nhìn lại lịch sử Việt Nam 1.000 năm bị Trung Hoa phong kiến cai trị, và lịch sử đương đại qua các góc nhìn: Biên giới, Vịnh Hạ Long, trên Biển Đông, và trong nội địa Việt Nam, dưới quyền lãnh đạo của đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa.
    Trong thư này, mời Các Anh nhìn lại những sự kiện xoay quanh nhóm chữ “quá khứ - hận thù - hòa giải - hòa hợp” mà lãnh đạo đảng với lãnh đạo nhà nước Các Anh thường sử dụng để kêu gọi Cộng Đồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại hãy quên quá khứ để về giúp đất nước, đồng nghĩa với giúp lãnh đạo đảng với nhà nước tăng thêm khối tài sản riêng tư.

    Chắc Các Anh còn nhớ ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ Tướng đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) sang đất nước mà lãnh đạo của Các Anh gọi là “đế quốc Mỹ đang giẫy chết tại dinh lũy cuối cùng của chủ nghĩa tư bản” hồi tháng 6/2008 chớ. Tôi gọi “Thủ Tướng đảng cộng sản” vì Bộ Chính Trị cử ông Dũng chớ có phải vị lãnh đạo do dân bầu ông ấy vào chức Thủ Tướng đâu mà gọi là Thủ Tướng Việt Nam. Đây là tôi nói theo cách nói của tiến sĩ Lê Đăng Doanh của Các Anh chớ không phải tự tôi tưởng tượng đâu. Nhưng cũng có thể Các Anh phản bác lại rằng: “Anh nói bậy, Thủ Tướng Việt Nam là do Quốc Hội bầu ra”. Đúng là Quốc Hội bầu ông ta, nhưng toàn thể đại biểu trong Quốc Hội là do đảng cộng sản chọn trước rồi mới đưa danh sách cho dân bầu. Chẳng lẽ Các Anh lại quên bài học “Nhân Dân làm chủ, Nhà Nước quản lý, Đảng lãnh đạo” rồi sao. Vì đảng lãnh đạo toàn diện, cho nên toàn bộ hệ thống tổ chức nhà nước gồm cả các ngành các cấp và suốt chiều dọc hệ thống giáo dục đều có tổ chức đảng bên cạnh, và quyết định của tổ chức đảng là quyết định chánh thức của các cơ quan mà. Vậy là từ Quốc Hội, Nhà Nước, Tư Pháp, đều trực tiếp dưới quyền lãnh đạo của đảng, người dân phải bực mình (dường như Các Anh gọi là bức xúc thì phải) khi bị bắt buộc phải đi bầu, vì mất thì giờ vô ích.
    Thêm nữa, tôi tin rằng, vào khoảng khắc nào đó khi mà Các Anh được sống với con người thật của mình, không biết Các Anh có tự hỏi: “Tại sao lãnh đạo đảng với nhà nước anh hùng Các Anh, hết người này đến người khác, cứ đến cái đất nước đang giẫy chết này hoài vậy?” Tôi tạm trả lời Các Anh nghe: “Tại vì, tên đế quốc này nó giẫy hoài chẵng những nó không chết mà nó vẫn cứ mạnh lên về mọi lãnh vực, cho nên lãnh đạo Các Anh phải quy lụy để cứu đảng CSVN mà trong đó có Quân Đội Nhân Dân Các Anh đang bên bờ vực thẳm. Nếu không như vậy thì cái đảng cộng sản và quân đội Các Anh bị phá sản từ đầu những năm 90 giống như Liên Sô, thành trì vững chắc của cộng sản mà lãnh đạo Các Anh tôn sùng đã tan rã vậy”. Tôi nói thêm cho rõ, câu “đế quốc Mỹ đang giẫy chết .... không phải do tôi đặt ra đâu, mà là bài học số 1 trong trại tập trung Long Giao hồi tháng 8/1976 do Thượng Tá Công An tên Bình từ Bộ Công An ở Hà Nội vào bắt chúng tôi phải học đó.
    Không biết lãnh đạo đảng với nhà nước của Các Anh có cảm nhận nỗi nhục khi nhìn thấy Tượng Đài Nạn Nhân Cộng Sản Thế Giới tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn không nhỉ? Tượng đài này khánh thành ngày 12/6/2007 do Tổng Thống “đất nước đang giẫy chết” chủ tọa đó. Tượng đài này là biểu tượng thảm họa kinh hoàng trong thế kỷ 20 của nhân loại nói chung, và 25 quốc gia bị cộng sản cai trị nói riêng. Từ nay, oan hồn của hơn 100 triệu nạn nhân cộng sản -gồm cả nạn nhân Việt Nam thân yêu của chúng tôi đã bị quân đội Các Anh giết chết- được những thế hệ hôm qua, hôm nay, và những thế hệ mai sau tưởng nhớ. Tưởng nhớ để tận diệt chế độ cộng sản đến tận cùng gốc rễ, vì chế độ cộng sản là phi nhân tàn bạo. Hai nhóm chữ tô đậm này là lời lên án mạnh mẽ trong bài phát biểu của Tổng Thống Hoa Kỳ, dĩ nhiên là lời lên án này có đảng CSVN của Các Anh nữa đó.
    Trở lại Thủ Tướng CSVN đến Houston ngày 26/6/2008. Từ sáng sớm, chúng tôi đông đảo đến mức như một rừng người với một rừng cờ vàng ba sọc đỏ cùng với cờ Hoa Kỳ dọc theo đại lộ Westheimer trước cửa khách sạn “The Westin Oaks”, nơi ông ta hội họp để xin Hoa Kỳ đầu tư vào Việt Nam. Những máy thu hình của các đài phát hình Việt Nam lẫn đài phát hình Hoa Kỳ cùng máy thu thanh của phóng viên các đài Hoa Kỳ phát thanh chương trình Việt ngữ, thu thanh tiếng Anh lẫn tiếng Việt rõ ràng từng câu: “Tự Do Cho Việt Nam - Nhân Quyền Cho Việt Nam - Cộng Đồng Tị Nạn Cộng Sản Không Cần Tòa Lãnh Sự Cộng Sản”, … . Không một câu nào đòi bất cứ điều gi cho Cộng Đồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại cả.

    Trong buổi họp tối tại khách sạn Hilton, ngoài phái đoàn của Thủ Tướng CSVN cả trăm người, số người mà ông Thủ Tướng gọi là kiều bào doanh gia khoảng “30 khúc ruột ly hương ngàn dặm bị ung thư” lẻn vào tham dự. Với chiếc bàn hình vuông, ông Thủ Tướng và ông Phạm Gia Khiêm ngồi giữa, Thủ Tướng CSVN cất lời kêu gọi: “Bà con hãy hướng về quê hương bằng mọi đường mọi nẻo, chúng ta hãy gác lại quá khứ để cùng nhau chung sức xây dựng đất nước. Làm được cái gì thì làm dù là việc nhỏ, ngay cả một tiếng nói ủng hộ cũng là đóng góp. Đừng mặc cảm quá khứ nhất là khi đất nước còn nhiều khó khăn. Khi ngồi nói chuyện với Tổng Thống Bush, tôi nghe kiều bào hô đả đảo Thủ Tướng mà thấy buồn. Chưa hẳn họ thù ghét cá nhân Thủ Tướng mà chỉ là mặc cảm với quá khứ …”
    Thật ra thì nhóm chữ “hãy quên quá khứ, đừng mặc cảm với quá khứ mà về xây dựng đất nước …” không phải là sản phẩm của ông Dũng đâu, mà là Thủ Tướng CSVN nói theo lời ông Nguyễn Minh Triết đã nói trong bữa tiệc tại khách sạn Saint Regis Resort vùng Nam California ngày 23/6/2007. Nhưng câu đó cũng không phải sản phẩm của ông Chủ Tịch nước, mà ông Triết nói theo ông cựu Thủ Tướng CSVN Võ Văn Kiệt sau khi hết quyền lực, vậy mà ông Kiệt cũng bị chết bất đắc kỳ tử rồi.
    Nhớ lại từ giữa những năm 70 đến giữa những năm 80, lãnh đạo Các Anh gọi chúng tôi là “cái bọn phản quốc, bọn ôm chân đế quốc, bọn đỉ điếm, bọn lưu manh cặn bả của xã hội, .....”. Giá mà bác Hồ của Các Anh còn sống đến bây giờ, không biết ông ấy nghĩ gì khi nhìn thấy cái bọn lưu manh cướp giật đỉ điếm Hồ Chí Minh nườm nượp khắp phố phường so với Sài Gòn chúng tôi thời chiến tranh, chắc bác Các Anh mừng lắm vì chính sách trăm năm trồng người của ông ấy thành công rồi! Thế nhưng từ giữa những năm 80 khi lãnh đạo Các Anh nhận thấy Cộng Đồng tị nạn giàu lên và gởi tiền về Việt Nam cùng với tuổi trẻ thành đạt trong nền học vấn văn minh tân tiến ngày càng nhiều thêm, lãnh đạo Các Anh hạ giọng gọi Cộng Đồng chúng tôi là “Việt kiều yêu nước”. Từ giữa những năm 90 về sau, lại hạ giọng lần nữa để gọi Cộng Đồng chúng tôi là “khúc ruột ly hương ngàn dặm”, .... Nhưng Các Anh có biết tại sao lãnh đạo của Các Anh lại hạ giọng như vậy không?” Mời Các Anh đọc một đoạn trong bài viết của ông Nguyễn Phú Bình, Thứ Trưởng Ngoại Giao đảng CSVN, “Chủ Nhiệm Ủy Ban Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài” viết ngày 11/8/2005, đăng trên trang báo điện tử với tựa bài Cộng Đồng Người Việt Nam Ở Nước Ngoài, Khơi Dậy Nguồn Lực Chất Xám Của Việt Kiều. … “Trong số gần 3.000.000 người Việt Nam sinh sống định cư ở nước ngoài, ước tính có khoảng 300.000 người được đào tạo ở trình độ đại học và công nhân kỹ thuật cao, có kiến thức cập nhật về văn hoá, về khoa học, công nghệ, về quản lý kinh tế. Trong đó có nhiều người đạt vị trí quan trọng trong các viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện, công ty kinh doanh của các nước, và các tổ chức quốc tế. Tiềm lực khoa học và công nghệ của các thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài không ngừng phát triển. Trong đó, một thế hệ trí thức mới người nước ngoài gốc Việt đang hình thành và phát triển, nhất là ở các nước Bắc Mỹ, Tây Âu, và Châu Đại Dương. Đội ngũ này tập trung ở nhiều lãnh vực khoa học chuyên ngành và kinh tế như tin học, viễn thông, điện tử, vật liệu mới, chế tạo máy, điều khiễn học, sinh học, quản lý kinh tế, ngân hàng, chứng khoán, ..v..v.. “
    Chưa hết, về số tiền mà Cộng Đồng chúng tôi gởi chánh thức về trong nước trong năm 1991 là 35 triệu mỹ kim, gia tăng dần, trong năm 1999 là 1 tỷ 100 triệu mỹ kim, trong năm 2005 là 3 tỷ 800 triệu mỹ kim. Cộng chung các năm từ 1991 đến năm 2005 là 33 tỷ 803 triệu mỹ kim (Nếu tính đến năm 2010, con số đó lên đến 53 tỷ 0 trăm 34 triệu mỹ kim).
    Chắc Các Anh dễ dàng nhận thấy sức mạnh về trí thức và tài chánh của Cộng Đồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại rồi chớ? Do vậy mà lãnh đạo Các Anh luôn miệng kêu gào Cộng Đồng chúng tôi “hãy quên quá khứ để mang tiền mang vàng, tài năng, và hãy hòa giải hòa hợp để xây dựng đất nước”. Có thiệt không đây? Vì Việt Nam xã hội chủ nghĩa càng có nhiều dự án thì lãnh đạo các cấp của các Anh -chớ không phải Các Anh- càng có thêm nhiều mỹ kim, và sau khi rửa sạch đem gởi ngân hàng ở ngoại quốc để khi tháo chạy có mà thụ hưởng. Chúng tôi đâu có điên mà giúp lãnh đạo Các Anh nuôi dưỡng cái chế độ cộng sản độc tài tham nhũng để gây thêm đau khổ cho đồng bào trên quê hương Việt Nam.

    Vậy mà, đến nay đã 36 năm sau khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Các Anh xâm lăng đánh chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi, lãnh đạo Các Anh cứ theo dụ dỗ Cộng Đồng tị nạn cộng sản quên quá khứ kinh hoàng của mình để về làm việc cho họ? Tôi nói “làm việc cho họ”, vì lãnh đạo CSVN có phục vụ đất nước dân tộc đâu mà gọi là phục vụ quê hương đồng bào. Bằng chứng: (1) Nếu phục vụ đất nước thì lãnh đạo Các Anh: Đâu có bán cho Trung Cộng 789 cây số vuông trên bộ và 11.362 cây số vuông trên biển: Đâu có đồng tình để Trung Cộng sáp nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào quận Tam Sa của Tàu. Đâu có bán đất cho ngoại quốc dưới danh nghĩa kinh doanh! (2) Nếu phục vụ dân tộc thì lãnh đạo Các Anh: Đâu nỡ bán hằng chục ngàn thanh thiếu nữ ra các nước lân bang làm điếm. Đâu có đẩy hằng mấy trăm ngàn thanh thiếu nữ Việt Nam ra ngoại quốc làm vợ thiên hạ ngang qua các dịch vụ quốc doanh trá hình. Đâu có bắt vào nhà tù hằng trăm công dân dũng cảm đứng lên giành lại quyền làm người mà Hiến Pháp CSVN qui định. (3) Nếu phục vụ dân tộc thì lãnh đạo Các Anh: Đâu nở đàn áp bắt giữ thanh niên sinh viên học sinh biểu tình chống đối Trung Cộng lấn chiếm đất đai biển cả, bắn giết ngư dân. Đâu có hành hạ dối gạt hằng chục ngàn thậm chí là hằng trăm ngàn đồng bào kêu oan khiếu nại thưa kiện vì đất đai tài sản bị các loại cường hào ác bá CSVN tại các địa phương trấn lột cướp đoạt dưới những tên gọi khác nhau. (4) Và nếu phục vụ người dân tại sao tổng sản phẩm quốc gia (GDP) Việt Nam có gia tăng mà người dân ngày càng nghèo khổ như chưa thời nào nghèo khổ đến như vậy! Trong khi đại đa số người dân càng nghèo thì tất cả đảng viên hàng lãnh đạo các cấp từ trung ương xuống đến hạ tầng cơ sở ngày càng giàu thêm, giàu đến mức phung phí trong các cuộc cá độ đá banh lên đến hằng triệu mỹ kim, giàu đến mức mua xe với giá bạc triệu đô la, còn mua cả phi cơ riêng nữa chớ. Một phần của nguồn gốc khối tư bản đỏ đều gắn liền giữa kinh tế quốc doanh với các cấp lãnh đạo của Các Anh qua những chằng chịt khác nhau.

    Nói đến quá khứ, bản thân tôi rất muốn quá khứ trôi vào quên lãng giúp não bộ thêm phần thư giản, nhưng không thể nào quên được! Vì cái quá khứ mà lãnh đạo Các Anh gây ra trên dãi đất quê hương, trên thể xác lẫn tâm hồn của mọi người dân Việt, nó cay đắng quá, nó tàn bạo quá Các Anh à! Đây là sự thật mà lãnh đạo CSVN không thể nào phủ nhận được. Tôi vẫn hiểu rằng, lịch sử là không thể thay đổi, nhưng có những điều sai trong lịch sử vẫn sửa được trong hiện tại, để có điều kiện hướng đến một tương lai. Nghĩa là lãnh đạo Các Anh phải làm ngược lại những gì mà họ đã làm sai từ những ngày đầu năm 1975 và sau đó, chúng tôi mới có thể quên được quá khứ. Việc sai thì không sao kể hết, nhưng tôi tóm vào 7 vấn đề sau đây, mời Các Anh đọc:

    Một. Vào ngày 30/4/1975 và những ngày trước đó, hằng chục ngàn thương phế binh chúng tôi đang trong các Tổng Y Viện và Quân Y Viện, Các Anh đã vô cùng tàn nhẫn khi quẳng Họ ra ngoài đường sau khi chiếm Việt Nam Cộng Hòa, rồi lãnh đạo Các Anh bảo “quên quá khứ” làm sao chúng tôi quên được! Bây giờ lãnh đạo Các Anh có trách nhiệm bồi thường tổn hại vật chất lẫn tinh thần cho Họ kèm thoe lời xin lỗi từ Bộ Chính trị. Đó là hành động sửa sai để cùng quên quá khứ, để tiến đến hòa giải & hoà hợp.

    Hai. Lãnh đạo Các Anh đã cướp đoạt nhà cửa ruộng vườn cùng những tài sản khác của chúng tôi dưới những nhóm chữ khác nhau để che đậy cái bản chất gian trá lọc lừa của đảng CSVN. Tài sản của chúng tôi bị lãnh đạo Các Anh chiếm đoạt, rồi bảo chúng tôi “quên quá khứ để hòa giải hòa hợp”, làm sao chúng tôi quên được! Bây giờ lãnh đạo Các Anh phải hoàn trả tất cả những tài sản ấy lại, đồng thời bồi thường thiệt hại đúng mức trên những tài sản ấy, và kèm theo lời xin lỗi từ Bộ Chính Trị. Đó là hành động sửa sai để cùng quên quá khứ, để tiến đến hòa giải & hòa hợp.

    Ba. Lãnh đạo Các Anh không thông qua một cơ quan luật pháp nào khi bắt giam ít nhất là 222.809 quân nhân viên chức cán bộ Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi, đưa vào hơn 200 trại tập trung trong mục đích vừa tẩy não vừa cho chết dần chết mòn trong các xó rừng mà Các Anh gọi là “trại cải tạo”, và hành hạ tinh thần lẫn thể xác cho đến 17 năm mới thả hằng trăm người cuối cùng, và cho đến nay lãnh đạo Các Anh trong những bài phát biểu trước đám đông vẫn gọi chúng tôi là “ngụy quân ngụy quyền”, rồi bảo chúng tôi “quên quá khứ” làm sao chúng tôi quên được! Bây giờ lãnh đạo Các Anh phải bồi thường thiệt hại vật chất lẫn tinh thần cho ngần ấy tù nhân chính trị chúng tôi, trong ngần ấy thời gian bị giam giữ, kèm theo lời xin lỗi từ Bộ Chính Trị. Đó là hành động sửa sai để cùng quên quá khứ, để tiến đến hòa giải hòa hợp!

    Bốn. Chắc lãnh đạo Các Anh không thể nào quên trong 10 năm đầu kể từ những ngày cuối tháng 4/1975, khi mà những công dân Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi không thể sống nỗi dưới sự kềm kẹp chính trị độc tài, nên phải liều chết tìm đường đến bến bờ tự do với cái giá phải trả thật khủng khiếp! Lúc ấy, lãnh đạo Các Anh sử dụng tất cả những lời lẽ xấu xa nhất để sỉ nhục chúng tôi, rồi bảo chúng tôi “quên quá khứ” làm sao chúng tôi quên được! Bây giờ Bộ Chính Trị của Các Anh phải chánh thức xin lỗi Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn cộng sản tại hải ngoại, để rút lại những lời sỉ nhục đó. Đó là hành động sửa sai để cùng quên quá khứ, để tiến đến hòa giải hòa hợp!

    Năm. Nghĩa trang quân đội Biên Hòa, nơi an nghỉ của hơn 16.000 người Việt Nam đã tròn bổn phận công dân với quốc gia dân tộc. Tưởng được yên bình vĩnh cửu trong lòng đất nơi đây, nhưng với bản chất vô nhân của đảng cộng sản đã “thêm một lần tàn sát thi thể Họ” qua hành động đào xới mồ mả, vừa thỏa lòng thù hận của kẻ chiến thắng do bản chất gian trá vi phạm những điều mà lãnh đạo Các Anh đã ký kết, vừa chiếm đoạt đất đai làm tài sản riêng, rồi bảo chúng tôi “quên quá khứ” làm sao chúng tôi quên được! Bây giờ lãnh đạo Các Anh phải hoàn chỉnh lại phần cấu trúc toàn cảnh như trước khi quân đội Các Anh tàn phá, kể cả tượng Thương Tiếc, kèm theo lời xin lỗi gia đình tử sĩ Việt Nam cộng Hòa từ Bộ Chính Trị của Các Anh. Đó là hành động sửa sai để cùng quên quá khứ, để tiến đến hòa giải hòa hợp!

    Sáu. Lãnh đạo các Anh sau khi chiếm được Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi, đã áp dụng chính sách cai trị độc tài, bịt mắt bịt tai bịt miệng nói chung là tước đoạt tất cả quyền căn bản của mỗi con người mà thế giới thừa nhận, rồi bảo chúng tôi “quên quá khứ” làm sao chúng tôi quên được! Bây giờ lãnh đạo Các Anh phải trả lại những quyền căn bản của con người, những quyền được sống tự do, và những quyền tư hữu cho 89 triệu công dân trên quê hương Việt Nam. Trước mắt, trả tự do cho tất cả những công dân nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã dũng cảm đứng lên đòi lãnh đạo của họ phải bảo vệ đất đai biển cả trước kẻ thù từ trong lịch sử kèm theo lời xin lỗi từ Bộ Chính Trị, và thực hiện đúng đắn những Công Ước Quốc Tế đã ký kết về quyền con người.

    Và bảy. Về vấn đề hòa giải hòa hợp. Tôi nghĩ, nhóm chữ “hòa giải và hòa hợp” phải đặt đúng vị trí của nó, vì có “hòa giải” được với nhau mới có thể “hòa hợp” được với nhau, vì từ hòa giải đến hòa hợp còn một khoảng cách nữa. Nhưng với lãnh đạo Các Anh, dù là lời nói hay lời viết, họ chỉ dùng chữ “hòa hợp“ hoặc “hòa hợp hòa giải”, mà thực chất chỉ là kêu gọi dụ dỗ Cộng Đồng chúng tôi tị nạn cộng sản hòa hợp dưới quyền cai trị của họ, chớ không có hòa giải hiểu theo nghĩa hai bên cùng thỏa thuận.

    Nhưng tại sao lãnh đạo của Các Anh không hòa giải với người dân trong nước trước, vì đây là vấn đề hoàn toàn trong tầm tay của họ mà, vì:

    (1)Theo tài liệu của Bộ Tài Nguyên & Môi Trường của nước CHXHCNVN phổ biến ngày 08/07/2010, chỉ riêng trong 6 tháng đầu năm 2010, có khoảng 100 đoàn dân oan từ các thành phố: Rạch Giá, Cần Thơ, Long An, Sài Gòn, Đồng Nai, Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Hà Nội ... đến cơ quan trung ương đưa đơn khiếu nại oan ức vì đất đai nhà cửa bị các địa phương cướp đoạt”.
    Theo bản tin AFP ngày 25/11/2011, một báo cáo về tình trạng tham nhũng trong lĩnh vực đất đai tại Việt Nam đã được công bố. Nghiên cứu này, được tiến hành theo yêu cầu của Ngân Hàng Thế Giới, sứ quán Thụy Điển và Đan Mạnh tại Việt Nam. Tài liệu nhận định tệ nạn tham nhũng đã trở nên phổ biến. Theo đại sứ Thụy Điển Staffan Herrstrom: “Có tới 86% số hộ gia đình được hỏi cho biết là họ có cảm giác nạn tham nhũng tồn tại trong lĩnh vực đất đai, 33% số doanh nghiệp nói rằng họ đã phải hối lộ để có được quyền sử dụng đất. Theo luật Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu của nhà nước nhưng người dân hoặc doanh nghiệp có thể mua, trao đổi hoặc bán giấy chứng nhận sử dụng đất. Bản nghiên cứu nhấn mạnh, việc cấp giấy sử dụng đất là một trong những nguồn gốc của tệ nạn tham nhũng”. Đại sứ Thụy Điển nói: “Thủ tục cấp giấy phép sử dụng đất rất nặng nề, cực kỳ quan liêu, tạo ra một môi trường tham nhũng sinh sôi nẩy nở”. Trong khi đó, đại diện sứ quán Đan Mạch nhấn mạnh: “Do tham nhũng, người nghèo càng nghèo hơn và người giàu càng giàu hơn. Nguyên nhân là do việc chuyển giao đất đai của một bộ phận dân chúng ở nông thôn cho các nhà đầu tư và những người gi àu có ở thành thị, với mức giá thấp hơn thị trường. Bản báo cáo nhận định, tình trạng này dẫn đến việc người dân mất tin tưởng vào chính quyền, bởi vì có hiện tượng xung đột lợi ích, nói một cách khác là các quan chức hưởng lợi, nhận hối lộ khi ra các quyết định trưng dụng, thu mua đất đai của dân nghèo, để giao cho các đối tác khác và tham nhũng đã tạo ra một sự bất ổn định xã hội thực sự. Tại Việt Nam, cho đến nay, vẫn có khoảng 70% dân số sống ở nông thôn. Việc trưng dụng đất đai, đền bù thấp đã gây ra nhiều bất bình trong tầng lớp dân nghèo ở nông thôn. Nhiều vụ xung đột, tranh chấp đất đai, thậm chí dẫn đến chết người, đã xẩy ra trong những năm gần đây”.

    Vậy, lãnh đạo Các Anh hãy hòa giải bằng cách:
    “(a) Hủy bỏ Luật Đất Đai và tất cả các luật liên quan, vì đây là nguồn gốc của những mánh khóe cướp đoạt từ các cấp lãnh đạo, là một trong những nguyên nhân tham nhũng kinh hoàng trong hệ thống đảng với nhà nước.
    (b) Trả lại quyền tư hữu cho tất cả những ai từng là chủ hoặc người thừa kế của ruộng đất.
    (c) Hoàn trả toàn bộ nhà cửa cũng như cơ sở kinh doanh thương mãi cho đồng bào mà CSVN ngang nhiên tịch thu sau khi chiếm Việt Nam Cộng Hòa, và bồi thường sở hữu chủ về thiệt hại vật chất đã sử dụng suốt thời gian tịch thu trái phép.
    (d) Bộ Chính Trị chánh thức xin lỗi đồng bào vì chính sách sai lầm này”.

    (2) Với những cuộc mít tinh biểu tình của tuổi trẻ Việt Nam, thể hiện tinh thần trách nhiệm của người dân thức tỉnh trong một xã hội bị CSVN bịt mắt bịt tai bịt miệng, với mục đích bảo vệ chủ quyền đất đai biển cả của Việt Nam từ trong lịch sử xa xưa, được nói lên tiếng nói dân chủ tự do và nhân quyền, nhưng lại bị bắt bỏ tù. Vậy lãnh đạo Các Anh hãy hòa giải với thành phần dũng cảm này bằng cách: “(a) Thực hiện kế hoạch bảo vệ quần đảo Hoàng Sa Trường Sa và các hải đảo trong Vịnh Bắc Việt và trong vùng Biển Đông của Việt Nam. (b) Bảo vệ ngư phủ Việt Nam đánh cá trong phần lãnh hải của mình, Hải Quân Nhân Dân anh hùng hãy tấn công các tàu lạ xâm nhập hải phận Việt Nam bắt ngư phủ và ủi chìm tàu của ngư dân Việt. (c) Hủy bỏ Điều 4 cùng lúc thực thi những điều qui định trong Hiến Pháp liên quan đến dân chủ và các quyền tự do của người dân theo Công Ước quốc tế. (d) Trả tự do vô điều kiện cho tất cả tù chính trị mà tòa án nhận lệnh từ lãnh đạo Các Anh ghép họ vào tội hình sự, và bồi thường thiệt hại về mức thu nhập của họ trong suốt thời gian giam giữ”.

    (3) Với hoạt động của các tôn giáo, tại sao phải sử dụng mọi mánh khóe gian trá để cắt ra từng mảng rồi khai sinh ra những tổ chức “tôn giáo quốc doanh trong khi miệng thì nói đoàn kết?” Hóa ra đoàn kết của lãnh đạo Các Anh là chia cắt để trị, giống như thời thực dân Pháp chia Việt Nam thành Nam Kỳ Trung Kỳ Bắc Kỳ để cai trị hơn trăm năm trước. Vậy, lãnh đạo Các Anh hãy hòa giải với tôn giáo bằng cách: “(a) Giải tán các tổ chức tôn giáo quốc doanh. (b) Rút tất cả Công An lồng trong các tổ chức đó cũng như đã tung ra hải ngoại trở về ngành lo bảo vệ an toàn cho dân và dọn dẹp xã hội sạch sẽ. (c) Hoàn trả đất đai tài sản lại cho các tôn giáo và bồi thường thiệt hại vật chất từ khi tịch thu trái phép đến khi hoàn trả, hủy bỏ các văn kiện liên quan đến tôn giáo quốc doanh và tôn giáo ngoài quốc doanh.

    3. KẾT LUẬN.

    Nếu lãnh đạo của Các Anh hành động được như vậy với 89 triệu đồng bào trong nước, thì Cộng Đồng chúng tôi tị nạn cộng sản tại hải ngoại không có lý do gì mà không hòa giải & hòa hợp với lãnh đạo Các Anh, đồng thời cung ứng tài năng và tài chánh về tham gia xây dựng đất nước.
    Về phần Các Anh, tôi mong là Các Anh đừng nhìn những sự kiện trên đây một cách vô cảm nữa. Tôi mong Các Anh tìm lại được chính mình, còn suy nghĩ hay hành động gì là tùy Các Anh.

    Để chấm dứt bài này, tôi mượn vài đoạn dưới đây trích trong bài viết “Bao Giờ Mới Có Được Sự Hòa Giải Giữa Người Việt Với Người Việt” của tác giả Trần Mạnh Hảo, trình bày trong cuộc hội thảo nhà văn xã hội chủ nghĩa tại Hà Nội năm 2011:

    “ ......Trong hội thảo vừa rồi, tôi là người được phát biểu sau cùng, và với thời gian cũng rất hạn hẹp. Tôi cũng không hiểu tại sao khi tôi phát biểu được khoảng mươi, mười lăm phút thì có ý kiến của Chủ Tịch Đoàn ra dấu hiệu là thời gian không còn nhiều, tôi phải rút ngắn bài phát biểu của tôi đi. Thế nhưng tôi rất quan tâm đến vấn đề hòa hợp giữa người Việt với người Mỹ bởi vì chính cái đợt William Joiner mời tôi qua Mỹ để nghiên cứu về cộng đồng người Việt, tôi đã thấy một thực tế không thể quay lưng lại được. Đó là vấn đề cách đối xử, quan hệ giữa người Việt với người Việt sau chiến tranh thì phải nên như thế nào.... Đến phần cuối cùng tôi có nói như thế này: “Thưa các bạn trẻ, trong hội trường của chúng ta hôm nay, số lượng các bạn trẻ là sinh viên khoa Văn của trường đại học Văn Hóa Hà Nội tới đây rất là đông. Các bạn là tương lai, cho tôi được đối thoại với tương lai. Tất cả những tham luận trước không đề cập đến vai trò của các bạn trong hội thảo này. Tôi muốn nói với các bạn rằng, vấn đề hòa hợp giữa người Việt và người Mỹ thì coi như đã xong, cái kết rất có hậu. Nhưng cái gánh nặng để hòa hợp hòa giải giữa người Việt với người Việt thì hình như đến thế hệ các bạn vẫn phải lo. Mà cái chuyện này nó dài, các bạn sẽ có thời gian để tìm hiểu một cách thấu đáo một cách khách quan, một cách chân thành. Nhưng theo thiển ý của tôi, bằng vào những va chạm và sự hiểu biết của tôi, thì tôi thấy để tiến tới được việc hòa hợp hòa giải giữa người Việt trong nước và người Việt ngoài nước, thậm chí cả người Việt trong nước với nhau, thì có lẽ cũng phải đặt trên những cơ sở, những nguyên tắc nào đó, những định hướng nào đó thì mới trở thành hiện thực được.

    Có thể có những góc nhìn khác nhau: Góc nhìn của người ở hải ngoại, của những người trong nước, góc nhìn của những người cầm quyền, góc độ của những người không có quyền, những người bình dân, góc độ của những người trí thức…Nhưng theo thiển ý của tôi, theo sự hiểu biết rất sơ sài và ít ỏi của tôi, thì tôi nghĩ rằng có lẽ có hai nguyên tắc chính để đi tới sự hòa hợp hòa giải. Nguyên tắc thứ nhất mà tôi nghĩ rằng rất quan trọng là phải chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt thì mới có thể có sự hòa hợp hòa giải thực sự. Và nếu không chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt thì không bao giờ đi đến sự hòa hợp hòa giải cả. Đây là vấn đề khoa học, chứ không phải là vấn đề lập trường quan điểm hay tư tưởng. Nguyên tắc thứ hai mà tôi cho rằng cũng rất quan trọng, mà kinh nghiệm này thì chúng ta thấy tình hình thế giới diễn ra như bây giờ, thấy sự hòa hợp hòa giải giữa Đông và Tây Đức, và của chính nước Mỹ sau cuộc nội chiến năm 1860-1865, là chúng ta phải đặc biệt công bằng và minh bạch với quá khứ. Khi chúng ta biết chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt rồi, mà chúng ta không công bằng và không minh bạch với quá khứ, thì chắc chắn là cũng không thể dẫn đến sự hòa giải thực sự bền vững được. Có lẽ đấy là những điều căn bản nhất mà tôi tâm niệm, tôi rất là tha thiết và cũng đã trình bày điều đó trước cuộc hội thảo này.....

    Điều cuối cùng mà tôi muốn nói với các bạn trẻ rằng: “Thưa các bạn, tâm hồn con người nặng gấp trăm lần thể xác. Bởi thế chúng ta phải đặc biệt coi trọng đời sống tinh thần của một dân tộc”.

    Đúng ra là bài viết chấm dứt ở đây, nhưng tôi vừa nhận được bài viết ngày 1/12/2011 của Thiếu Tướng cộng sản Nguyễn Trọng Vĩnh, “Chưa bao giờ Việt Nam bị hại bởi người láng giềng hữu nghị như từ 1979 đến nay” từ trong nước gởi ra, mời Các Anh ráng thêm khoảng 3 phút nữa là đọc xong.

    “Việt Nam không hề khiêu khích và xâm phạm vào đất Trung Quốc. Thế mà năm 1979, Trung Quốc huy động hàng chục sư đoàn “dạy cho Việt Nam một bài học”, giết hại dân và tàn phá bốn tỉnh của Việt Nam; đánh chiếm cao điểm 1509 trong huyện Vị Xuyên - Hà Giang của chúng ta; năm 1988, đánh đắm tàu hải quân, giết hơn 70 chiến sĩ, sĩ quan và chiếm một số bãi đá ngầm trong quần đảo Trường Sa của chúng ta. Trong đàm phán biên giới, họ ép ta làm ta mất một nửa thác Bản Giốc, dân ta cũng không được đặt chân đến Ải Nam quan nữa, tất cả ta mất hàng trăm km2 đất. Họ xóa hiệp định phân định ranh giới vịnh Bắc Bộ giữa hai Chính phủ Pháp - Thanh (do lịch sử để lại) đòi chia lại, ăn hơn của ta một phần hải phận.

    “Sau khi nêu ra phương châm 16 chữ và 4 tốt với lãnh đạo ta, họ đã nghiễm nhiên đứng được trên nóc nhà Đông Dương, vị trí chiến lược xung yếu của ta, khai thác Bốc-xít, di hậu họa cho hàng triệu đồng bào ta.
    Các công ty của họ thuê rừng 50 năm để trồng cây Bạch Đàn, trước tiên là chặt cây phá rừng, tạo thêm nguyên nhân gây lũ lụt cho ta. Bạch Đàn là cây ăn rất hại đất, hết hạn thuê, họ rút đi để lại cho ta hàng dãy hecta đất trống đồi trọc, vì không cây gì mọc được. Đây là một mưu kế rất thâm hiểm hại ta. Nguy hiểm hơn nữa là các công ty của họ thuê các khoảnh rừng trong đó ôm cả những đồi cao 600-700m tại các huyện Tràng Định, Bảo Lộc của Lạng Sơn và Tiên Yên của Quảng Ninh, có nơi chỉ cách biên giới Trung Quốc 700m. Họ phá rừng để trồng Bạch Đàn, phá rừng làm đường vào khu rừng họ thuê, họ làm đường xoáy trôn ốc lên đỉnh các đồi cao nói trên. 50 năm không ai kiểm soát được, họ có xây dựng công sự gì trên đỉnh các cao điểm ấy cũng không ai biết, liệu có để sau này sử dụng như cao điểm 1509 ở Vị Xuyên trước đây không?

    “Ngoài việc năm 1974, đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của ta, họ tự ý vẽ một cái “lưỡi bò” rất phi pháp bao chiếm gần hết biển Đông của Việt Nam, khoanh vùng cấm ngư dân ta vào đánh cá trong hải phận của mình, bắn chết, bắt ngư dân ta, tịch thu tài sản, ngư cụ, giam giữ, phạt tiền, dùng “tàu lạ” đâm chìm tàu cá của ngư dân ta. Cậy có Hải Quân mạnh, tập trận diễu võ dương oai ở Biển Đông, uy hiếp ta, luôn tuyên bố sẽ “thu hồi” Tây Sa tức Trường Sa của Việt Nam, mà họ to mồm nhận xí là của họ.

    “Họ thuê dài hạn một đoạn bờ biển ở Đà Nẵng, nói là để xây dựng “khu vui chơi giải trí”, xây nhà máy điện nguyên tử chỉ cách biên giới tỉnh Quảng Ninh 60km, nếu rò rỉ phóng xạ thì bên ta mang họa.

    “Trên thượng nguồn sông Mê Kông, Trung Quốc xây một hệ thống đập trong đó có đập Tiểu Loan, chặn mất một khối nước vô cùng lớn. Nam Bộ của chúng ta ở cuối dòng sông, mùa khô đồng bằng sông Cửu Long sẽ thiếu nước, liệu còn nuôi được cá tra, cá basa nữa không? Có đủ nước tưới cho các vùng cây trái không? Vựa lúa Nam Bộ có bị ảnh hưởng không? Sông cạn, nước mặn sẽ dâng sâu vào nội địa, triều cường càng dữ, nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh liên quan sẽ sống ra sao? Trung Quốc chặn nguồn nước thượng lưu của một con sông quốc tế, thật là một kế hoạch ích kỷ, ác độc.

    “Họ trúng thầu một loạt nhà máy nhiệt điện và một số công trình, họ tự do đưa ồ ạt lao động của họ vào. Thế là, trên khắp đất nước ta, từ “nóc nhà Đông Dương”, từ rừng núi tới đồng bằng, đến ven biển đã có hàng vạn người Trung Quốc rải ra, có phải là mối nguy tiềm ẩn không?

    “Từ những tình hình trên, rõ ràng Việt Nam ta bị hại đủ đường, và bị o ép tứ phía. Vì đâu nên nỗi này? Nhân dân ta nghĩ gì?./.



    Từ xứ cao bồi Texas, cuối tháng 12 năm 2011

    *********

  4. The Following 6 Users Say Thank You to tieuchuy For This Useful Post:

    Cantho63 (01-09-2012), hieunguyen11 (12-30-2011), Hoanghac (08-16-2012), khongquan2 (04-21-2012), TAM73F (02-22-2012), Tinh Hoai Huong (10-09-2012)

  5. #3
    tieuchuy's Avatar
    Status : tieuchuy v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Feb 2010
    Posts: 191
    Thanks: 3
    Thanked 331 Times in 133 Posts

    Default Thư số 3 gởi Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam.

    Thư số 3 gởi

    Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam.

    ******
    Phạm Bá Hoa

    Tôi tên Phạm Bá Hoa, chào đời năm 1930 tại đồng bằng sông Cửu Long. Tôi phục vụ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 21 năm trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc, sau đó tôi bị tù không án trong các “trại tập trung” mà lãnh đạo của Các Anh gọi là “trại cải tạo” 12 năm 3 tháng. Hiện cư ngụ tại Hoa Kỳ.

    Xin được gọi “Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam” là Các Anh để tiện trình bày. Chữ “người lính” mà tôi sử dụng ở đây, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lãnh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng, gọi chung là “cấp lãnh đạo”. Là người lính trong quân đội “Nhân Dân”, chắc rằng Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, vì Các Anh trong quân đội nhân dân mà. Với lại, Tổ Quốc & Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng chính trị nào cũng chỉ là một giai đoạn của lịch sử. Và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó.

    1. GIÁO DỤC.

    “Giáo dục là nền tảng trang bị con người về nhân cách và kiến thức”. Nhân cách, cần kiến thức hậu thuẫn những lý lẽ để tránh bị lợi dụng vào mục đích không tử tế. Kiến thức, cần nhân cách trợ giúp biến kiến thức trở thành những dự án những công trình hữu ích trong cuộc sống, đồng thời tạo môi trường cho con người gần gủi nhau hơn, bởi ngày nay mọi sinh hoạt đều tương quan tác động lẫn nhau, ngay cả sinh hoạt từ thiện cũng vậy.

    Giáo dục, bao gồm: “Giáo dục gia đình , giáo dục học đường, và giáo dục xã hội”.
    (a) Giáo dục gia đình, do bẩm sinh, huyết thống, và cung cách sống của các thành viên trong gia đình, nhất là ông bà cha mẹ.
    (b) Giáo dục học đường, do chính sách của chánh phủ, hệ thống tổ chức, biên soạn sách giáo khoa, chính sách hỗ trợ nhà giáo, hỗ trợ học sinh sinh viên, phương pháp giảng dạy, cung cách của thầy dạy.
    (c) Giáo dục xã hội, do những chính sách cùng hệ thống điều hành của chánh phủ, những sự kiện phát sinh và những phương cách giải quyết trong các lãnh vực sinh hoạt xã hội.

    Giáo dục, thể hiện đường lối của lãnh đạo thực hiện mục tiêu quốc gia. Muốn đất nước phát triển như thế nào, chánh phủ phải hoạch định chính sách chiến lược như thế ấy: (a) Các ngành, căn cứ vào đó soạn thảo những chính sách dài hạn và những kế hoạch ngắn hạn để thực hiện, và cung cấp nhu cầu chuyên viên chuyên gia theo từng giai đoạn cho ngành giáo dục. (b) Ngành giáo dục, đào tạo chuyên viên chuyên gia thích ứng cho nhu cầu đó. Đồng thời liên tục đào tạo và phát triển đội ngũ sư phạm về đạo đức lẫn kiến thức, cải tiến và phát triển sách giáo khoa phục vụ cho nhu cầu chiến lược, cải tiến dụng cụ trợ giáo, phương thức giảng dạy, cơ sở và trang bị, ..v..v...

    Nói chung, “giáo dục” trang bị cho những thế hệ về phẩm chất làm người trong khuôn thước văn hoá dân tộc, về khoa học kỹ thuật của thời đại thích hợp với mục tiêu quốc gia, về tinh thần trách nhiệm với cộng đồng dân tộc, và bổn phận công dân đối với tổ quốc. Vì vậy mà đường lối chính sách giáo dục của cấp lãnh đạo quốc gia như thế nào, sẽ dẫn đến một xã hội như thế ấy.

    Đến đây, tôi nghĩ là Các Anh nhận thức được tầm quan trọng của Giáo Dục đối với những thế hệ công dân trong bổn phận bảo vệ tổ quốc và phát triển toàn diện các lãnh vực trong xã hội.

    2. CÁC ANH HÃY NHÌN LẠI.

    Với đoạn này, tôi mời Các Anh nhìn lại nền giáo dục xã hội chủ nghĩa 36 năm qua, và nhìn với nét nhìn từ con người thật của Các Anh (không phải con người của đảng) mới nhận ra sự thật, và tác hại của sự thật này trong hiện tại cũng như trong tương lai dài lâu.

    Tôi muốn nói với Các Anh rằng, những sự kiện từ giữa thế kỷ 20 đến nay, đã chứng minh lãnh đạo đảng cộng sản với nhà nước Việt Nam chỉ phục vụ cho quyền lợi của đảng chớ không phục vụ nguyện vọng người dân, mà quyền lợi của đảng lại đồng nghĩa với quyền lợi riêng tư của lãnh đạo các cấp trong các ngành sinh hoạt xã hội. Để tạo được một xã hội như vậy, chế độ giáo dục học đường và giáo dục xã hội chủ nghĩa đặt trên nền tảng “xin và cho”, là một chính sách giáo dục vô cùng hiểm độc, vì chỉ đào tạo những thế hệ thần dân -hay ngu dân- để tuân phục, chớ không đào tạo những thế hệ công dân để xây dựng đất nước, nhưng lại được lồng trong cái tủ kính trưng hàng “con người là vốn quí” hay “trăm năm trồng người” của nhân vật lãnh đạo tàn độc nhất trong lịch sử Việt Nam: Hồ Chí Minh, và những nhóm lãnh đạo tiếp nối đến nay.

    Một số công dân xã hội chủ nghĩa đã vượt khỏi chính sách giáo dục thần dân, cố gắng làm những việc tử tế cho xã hội mà trước mắt là giành lại những quyền căn bản của con người được qui định trong Hiến Pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCN/VN), lại bị lãnh đạo Các Anh qui trách những công dân đó vào tội hình sự để bắt vào tù hoặc giam lỏng tại nhà dài hạn. Nếu muốn được tự do, phải chấp nhận sống lưu vong hải ngoại như nữ đạo diễn Song Chi lưu vong Na-Uy, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy lưu vong Hoa Kỳ, ..v..v... Bài bản cũ mèm này trong chính sách siết thòng lọng vào cổ người dân, đến khi cần dối trá với quốc tế thì nới ra đủ cho nhân viên truyền thông ăn lương nhà nước rao giảng cái gọi là chính sách “khoan hồng nhân đạo”. Tất cả, do nền giáo dục xã hội chủ nghĩa mà ra.

    Tôi dẫn chứng chính sách giáo dục liên tục từ năm 1989 đến nay:

    Năm 1989. Trích bài viết của Vũ Hạnh đăng trong báo Công An ngày 31/05/1989 tại Sài Gòn, cho thấy giáo dục như thế nào trong hội nghị tại Viện Nghiên Cứu Giáo Dục miền Nam.
    (1) Nhà giáo Tôn Thuyết Dung trình bày: “Sách giáo khoa đang sử dụng đã lỗi thời vì nó được soạn ra trong thời kỳ chiến tranh, và chỉ nhắm vào lớp trẻ sống ở nông thôn miền Bắc. Tất cả chỉ phục vụ mà không quan tâm đến đạo đức, chuyên chở những chủ đề mà tầng lớp thanh thiếu niên không dễ gì cảm nhận được chứ nói gì đến học hỏi. Sách giáo khoa lại tham lam khi đề cập nhiều vấn đề, nội dung phản lại giáo dục ở điểm trưng dẫn những sự kiện xấu mà không chỉ dạy cách sửa đổi. Sách không đào tạo con người trước khi nói đến chủ nghĩa cộng sản. Về các câu hỏi để học sinh trả lời không nhắm vào chủ đề rõ rệt, không giúp học sinh phát huy nhận thức, trái lại gò ép học sinh trả lời một cách dối trá”.
    (2) Ông Xuân Diệu nhận xét thật ngắn nhưng rất sâu sắc: “Một trong những thiếu sót quan trọng là giáo dục không đào tạo con người, nên rốt cuộc xã hội chúng ta chỉ có thần dân mà không có công dân”.
    (3) Một nhận thức sâu sắc khác: “Giáo dục phải nhắm mục đích đào tạo con người dân chủ từ bé, phải chống lại sự tha hóa lớn nhất hiện nay là sự quanh co dối trá, sự thiếu thành thật giữa con người với nhau…”.

    Năm 2000. Cố Trung Tướng cộng sản Trần Độ, để lại tập nhật ký “Rồng Rắn” ngày 7/12/2000, có đoạn liên quan đến giáo dục như sau: “Bộ máy quản lý xã hội đã thực hiện một nguyên tắc chuyên chính tàn bạo hơn tất cả các thứ chuyên chính. Đó là chuyên chính tư tưởng, được thực hiện bởi một đội ngũ nòng cốt là “những lưu manh tư tưởng”. Nền chuyên chính tư tưởng định ra những điều luật tàn khốc để bóp nghẹt mọi suy nghĩ, mọi tiếng nói. Nó làm cho tất cả trí thức không dám suy nghĩ gì, hay ít nhất cũng không muốn suy nghĩ. Từ đó làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của dân tộc và biến họ trở thành những con rối, chỉ biết nhai như vẹt những nguyên lý bảo thủ giáo điều. Nó cũng làm cho nền giáo dục khô cứng, làm cho các hoạt động văn học nghệ thuật nghèo nàn, mất hết cơ hội sáng tạo và mất hết hào hứng. Nó cũng làm cho các hoạt động khoa học bị khô cứng và nô dịch. Nó tạo ra và nó bắt buộc nhân dân phải có một tâm lý lệ thuộc đảng, lệ thuộc nhà nước, lệ thuộc cán bộ, và một tâm lý phải tuân phục, kể cả người cao nhất cũng phải tuân phục vào một cái gì bí và hiểm (có lẽ ông Trần Độ muốn nói “người cao nhất” cũng phải tuân phục lãnh đạo Trung Cộng mà ông gọi là bí và hiểm chăng?. PB Hoa). Nói chung, nền chuyên chính tư tưởng hiện nay ở Việt Nam là một tổng hợp các tội ác ghê tởm của Tần Thủy Hoàng cùng các vua quan tàn bạo của Trung Hoa phong kiến, cộng với tội ác của các chế độ độc tài phát xít. Nó tàn phá cả một dân tộc, hủy hoại tinh anh của nhiều thế hệ. Suy cho cùng, đó là tội nặng nhất về sự vi phạm nhân quyền. Vì không phải nó chỉ xâm phạm đến quyền sống của con người, mà nó còn hủy hoại đời sống tinh thần, đời sống tư tưởng của cả một dân tộc. Nó đang làm hại cả một nòi giống”.

    Năm 2004.
    (1) Giáo Sư Hoàng Tụy trong nhóm nghiên cứu giáo dục Hà Nội phát biểu: “Chương trình giáo dục Việt Nam trong bao nhiêu năm qua vẫn trong tình trạng lạc hậu, thi cử nặng nề với phẩm chất (mà ông gọi là chất lượng) rất kém. Sách giáo khoa cũng không thích ứng với hoàn cảnh đất nước, nghĩa là những cải cách trước đây không đạt được hiệu quả so với nhu cầu đất nước. Những sự kiện gian dối trong giáo dục cũng như trong thi cử, làm xói mòn niềm tin của tuổi trẻ lẫn của phụ huynh mà thành phần này luôn kỳ vọng vào nền giáo dục nước nhà, đã dẫn đến tình trạng ngày càng trở nên trầm trọng, thậm chí nó đánh mất niềm tin của mọi người trong xã hội”.
    (2) Nhóm nghiên cứu giáo dục này cho biết thêm: “Ngày 23/2/2004 Bộ Giáo Dục & Đào Tạo đã ban hành Quyết Định, bắt buộc sinh viên đại học toàn quốc phải học và thi tốt nghiệp các môn học chính trị, bao gồm triết học Mác-Lê, kinh tế chính trị, chủ nghĩa xã hội khoa học, lịch sử đảng, và tư tưởng Hồ Chí Minh. Quyết định này có hiệu lực từ ngày 9/3/2004, và tất cả sinh viên không có quyền chọn lựa mà phải học theo giáo trình chọn sẳn. Các môn học bắt buộc này chiếm đến 203 giờ, chiến khoảng 9% (?) thời lượng của chương trình đại học”.
    (3) Một chuyên viên giáo dục tại Hà Nội, ông Quốc Việt nhận định: “Việc Bộ Giáo Dục bắt buộc sinh viên phải học các môn vô bổ đó là một quyết định phản khoa học, không phù hợp với chuẩn mực giáo dục quốc tế. Đồng thời lãng phí thời gian học, lãng phí tiền thuế của đồng bào đóng góp cho ngân sách quốc gia, nhất là tước bỏ quyền chọn lựa môn học thích hợp của sinh viên”.

    Trong hội thảo tại Hà Nội hồi tháng 7 năm 2004 tổng kết sau thời gian cải cách giáo dục, với số đại biểu trong ngành giáo dục tham dự lên đến gần 1.000 người do Thủ Tướng chủ tọa, cho thấy tầm quan trọng của ngành này. Ông Trần Hồng Quân, Bộ Trưởng Giáo Dục trình bày diễn tiến và kết quả. Ông kết luận: “…Cuộc cải cách giáo dục trong thời gian qua là hoàn toàn thất bại. Vì cải cách theo quan niệm chắp vá chớ không cải cách toàn diện…”. Dựa theo kết luận đó, Tiến sĩ Hà Sĩ Phu sử dụng câu nói của ông Phan Hiền để châm biếm cải cách giáo dục: “Sai đâu (thì) sửa đấy, sai đấy (nhưng) sửa (ở) đâu, (mà) sửa đâu (thì) sai đấy”.

    Năm 2008. Tại Việt ISD Hà Nội vào ngày 6/6/2008, giáo sư Hoàng Tụy là một trong số ít trụ cột của nền giáo dục Việt Nam trình bày một cách thẳng thắn. Trích vài đoạn: “… Nếu Việt Nam cô lập với thế giới bên ngoài thì không đến nỗi lo lắng, nhưng nếu đặt giáo dục Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và nhìn một cách khách quan và có trách nhiệm, không thể nhắm mắt trước sự tụt hậu ngày càng xa của giáo dục Việt Nam so với các nước chung quanh, và so với yêu cầu phát triển của xã hội... Thực tế, đất nước ngàn năm văn hiến này đang trả giá nặng nề cho sự suy thoái trầm trọng của giáo dục kéo dài suốt 30 năm qua... Nội dung và phương pháp giáo dục thể hiện xu hướng hư học cổ lỗ, dành nhiều thời gian học những kiến thức lạc hậu vô bổ... Đặt nặng quá mức thi cử và bằng cấp, nhà trường đã vô tình trút vào xã hội mọi thứ rác rưởi độc hại là bằng cấp giả, bằng cấp dỏm, học giả... ... Phẩm chất (GS Tụy gọi là chất lượng) giáo dục sa sút một thời gian dài nhất là ở bậc đại học, cao đẳng, và dạy nghề. Khối nhân lực đào tạo ra còn rất xa mới đáp ứng được đòi hỏi của thực tế về số lượng lẫn phẩm chất giáo dục, nó trở thành nhân tố cản trở nghiêm trọng sự phát triển kinh tế...Tư duy giáo dục xơ cứng mà mấy thập niên qua hầu như không thay đổi…”
    Vẫn theo Giáo sư Hoàng Tụy trên Vietnam Net ngày 7/6/2008 với bài “Nhìn thẳng vào khủng hoảng giáo dục Việt Nam”.
    (a) Mở đầu với nhận định sắt bén: “Dù bảo thủ đến đâu, Bộ Giáo Dục & Đào Tạo cũng như bất cứ ai đều không thể làm ngơ trước nhiều vấn nạn giáo dục đã và đang làm đau đầu cả xã hội. Chỉ có nhìn thẳng, gọi tên đúng sự vật và chấp nhận thay đổi, coi cải cách là mệnh lệnh của cuộc sống mới có thể khắc phục tình trạng nguy kịch của ngành giáo dục Việt Nam. Chính Thủ Tướng Phan Văn Khải khi từ nhiệm đã thừa nhận chánh thức sự không thành công của giáo dục, dẫn đến thực trạng nghiêm trọng của giáo dục Việt Nam hiện nay vẫn chưa được đánh giá đúng mức. Nhiều người có trách nhiệm vẫn tự ru ngủ mình với những thành tựu thực và ảo của giáo dục...”.
    (b) Trong đoạn khác, ông nhấn mạnh: “Những sai lầm trong giáo dục do tư duy xơ cứng mà không hề thay đổi. Vẫn cách nghĩ thiển cận, vẫn giáo điều thời bao cấp được biến tướng ít nhiều để thích nghi với xu hướng du nhập từ bên ngoài phù hợp với lợi ích riêng của từng nhóm. Nền giáo dục chân chính của quốc gia nào cũng có sứ mạng cao cả về giáo dục con người, đồng thời mỗi xã hội có nhiệm vụ và yêu cầu khác nhau cho nền giáo dục của mình. Thêm nữa, con người sống trong xã hội lành mạnh cần cuộc sống trung thực và óc sáng tạo để góp phần phát triển đất nước. Nhưng tiếc thay, những điều đó đã không đuợc chú ý trong xây dựng nền giáo dục Việt Nam. Ngày nay, môi trường quốc tế đã biến đổi cực kỳ sâu sắc trong khi Việt Nam vẫn dựa vào kinh nghiệm giáo dục tư tưởng chính trị thời đấu tranh giành độc lập và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự giả dối lan tràn trong giáo dục tại Việt Nam”.

    Tóm tắt bài viết “Giáo dục Việt Nam dưới nét nhìn của chuyên gia giáo dục Hoa Kỳ” do ông Nguyễn Gia Thưởng chuyển ngữ, trích trong trang Web của nhóm Thông Luận ngày 23/8/2008. Nội dung bài này là đề tài thảo luận khi Thủ tướng cộng sản Nguyến Tấn Dũng gặp Tổng Thống Hoa Kỳ hồi tháng 6 năm 2008 tại Washington DC. “Việt Nam đang đối mặt với cuộc khủng hoảng toàn diện về giáo dục: Viên chức không được đào tạo quản trị. Nhà giáo được đào tạo rất kém với đồng lương quá thấp. Cơ hội học đại học rất hạn hẹp vì cơ sở không phát triển, số giảng viên giảng sư không gia tăng, bằng chứng là năm 2007 các trường đại học chỉ tuyển 300.000 sinh viên trong tổng số 1.800.000 thí sinh. Mặt khác, số lượng sinh viên ghi tên vào ngành giáo dục chỉ 10%, trong khi Trung Hoa cộng sản 15%, Thái Lan 41%, Đại Hàn 89% (thống kê của Ngân Hàng Thế Giới). Bằng tiến sĩ thì mua, còn giáo sư thì được đề cử qua thủ tục hành chánh chớ không do công trình và sự nghiệp sư phạm. Nạn tham nhũng tràn lan chẵng khác bệnh ung thư trong ngành giáo dục. Việt Nam thua kém các quốc gia chung quanh về việc cung ứng hiểu biết và canh tân giáo dục, khi nhìn vào số lượng tập san khoa học do các trường đại học ấn hành. Năm 2006, hai đại học lớn nhất Việt Nam là đại học quốc gia và đại học kỹ thuật Hà Nội ấn hành 34 tập san, trong khi đại học quốc gia Seoul (Đại Hàn) là 4.556 và đại học Bắc Kinh gần 3.000 tập san khoa học. Cũng trong năm 2006, về đơn xin bằng sáng chế của Việt Nam chỉ nộp có 2 đơn, trong khi Trung Hoa cộng sản đến 40.000 đơn. Số sinh viên từ các trường đại học Việt Nam có trình độ rất kém, bằng chứng là công ty Intel của Hoa Kỳ phỏng vấn 2.000 sinh viên Việt Nam vừa tốt nghiệp đại học được xem là giỏi nhất trong tổng số, kết quả là công ty này chỉ chọn được 40 thí sinh có trình độ tối thiểu. Công ty Intel nói đây là kết quả tồi tệ nhất mà công ty gặp phải tại bất kỳ quốc gia nào mà công ty đầu tư. Do tình trạng giáo dục Việt Nam trên đây, có thể phá hỏng những phát triển kinh tế trong nước và tiến trình hội nhập thế giới”.

    Năm 2009. Tham khảo và trích dẫn bài nghiên cứu của đại học Harvard Hoa Kỳ về “Hiện Trạng Gíáo Dục Bậc Cao Đẳng & Đại Học tại Việt Nam”.
    (1) Mở đầu với nhận định sắc bén: “Thật khó mà phóng đại hơn nữa về mức độ nghiêm trọng của tình trạng suy sụp trong hệ thống giáo dục mà Việt Nam đang đối đầu. Nếu không có một công cuộc cải tổ cấp thời từ thể chế cho hệ thống giáo dục bậc đại học thì Việt Nam sẽ thất bại hoàn toàn trong mục tiêu đạt đến các tiềm năng to lớn của quốc gia này. Sự phát triển kinh tế của vùng Đông Bắc Á và Đông Nam Á cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa nền giáo dục với sự phát triển quốc gia, cho dù mỗi quốc gia trong vùng Đông Bắc Á như South Korea, Singapore, Taiwan, ... theo đường lối có phần riêng biệt, nhưng căn bản vẫn là từ giáo dục dẫn đến phát triển. Trong khi đó, vì không đạt được sự xuất sắc trong giáo dục nên Thailand, Philippines, và Indonésia, tuy thành công trong sự phát triển nhưng chưa đạt được nền kinh tế tân tiến so với các quốc gia vùng Đông Bắc Á nói trên. Và điều chẳng lành cho tương lai Việt Nam do giáo dục của Việt Nam nhất là ở bậc đại học, còn sa sút đến mức đứng sau cả các quốc gia kém mở mang lân cận. ...

    (2) Nhận định về bậc đại học: “... Trong danh sách 100 trường đại học nổi tiếng của Châu Á, Việt Nam không có một trường nào cả, trong khi Nam Hàn có đến 16 trường, Trung Cộng có 14 trường, đảo quốc Đài Loan có 11 trường, Malaysia có 5 trường, Thái Lan có 5 trường, Nam Dương có 4 trường, Singapore có 2 trường, Phi Luật Tân có 2 trường, và tệ nhất là Pakistan cũng có được 1 trường trong danh sách đó. Điều này chứng minh là nền giáo dục Việt Nam nhất là giáo dục bậc đại học, bị tách biệt ra ngoài dòng kiến thức khoa học kỹ thuật quốc tế. Một chứng minh rõ nét nhất là thống kê số lượng những công trình nghiên cứu khoa học nói trên. Vì vậy mà không có gì phải ngạc nhiên, vì học sinh sinh viên Việt Nam chỉ được trang bị hành trang giáo dục một cách tồi tệ, nên kết quả mà quốc gia mong đợi chỉ đến đó là cùng. ....

    (3) Bảng nghiên cứu nhận định về nguyên nhân: “Việt Nam trải qua giai đoạn bị Pháp cai trị từ nửa cuối thế kỷ 19 đến giữa thể kế 20, giai đoạn chiến tranh giữa cộng sản với tự do, tiếp theo là giai đoạn Việt Nam bị cai trị bởi chế độ độc tài xã hội chủ nghĩa với chính sách giáo dục mà bậc đại học lệ thuộc vào cơ quan quyền lực cấp trung ương, với sự kiểm soát cao độ. Nhà nước quyết định tất cả, các trường đại học không được quyết định bất cứ vấn đề hành chánh lẫn chuyên môn của trường, ngay cả vấn đề lương bổng và thăng thưởng cũng căn cứ trên lý lịch gia đình, lý lịch chính trị, nhất là những móc nối cá nhân. Phát sinh kiến thức là một công trình không biên giới, nhưng sinh viên Việt Nam thiếu hẳn mối liên hệ với quốc tế để học hỏi....

    (4) Năm 2005, nhà nước ban hành Nghị Quyết 14 cải tổ giáo dục cao đẳng đến năm 2020 về những vấn nạn giáo dục, nhưng Nhà nước Việt Nam vẫn giữ quan niệm trọng tâm của mọi vấn đề cải tổ phải là nhà nước, mà lẽ ra phải là các học viện, trong khi hệ thống đại học Hoa Kỳ thì các học viện là nhân tố chính còn nhà nước giữ vai trò rất hạn chế.. ...

    (5) Về sinh viên du học, cũng là vấn đề gai góc: ..
    (a) Sinh viên Việt Nam du học ngoại quốc bắt đầu gia tăng từ năm 1986, nhưng chỉ là con em của những gia đình cán bộ đảng viên, và những sinh viên may mắn nhận được học bổng.
    (b) Hiện nay, xã hội Việt Nam có sự chênh lệch quá xa về mức sống giữa người thành thị giàu sang tột đỉnh với người nông thôn nghèo khổ tột cùng.
    (c) Việt Nam không thể nào chỉ trông cậy vào số sinh viên du học mà không tạo nên một hệ thống giáo dục thích ứng với mục tiêu phát triển quốc gia, thì các chuyên gia Việt Nam đào tạo từ đại học ngoại quốc vẫn tránh né nghề giảng huấn nếu phải trở về Việt Nam. Mặc khác, đại học danh tiếng quốc tế không bao giờ chấp nhận những sinh viên Việt Nam yếu kém, vì như vậy sẽ gây tổn thương danh tiếng của họ.

    (6) Bản nghiên cứu kết luận: Cách duy nhất là Việt Nam phải cải tổ toàn bộ thể chế điều hành, đó là chìa khóa cải tiến toàn diện hệ thống giáo dục cho xã hội Việt Nam tương lai.

    Tiếp theo bản nghiên cứu nói trên, Giáo sư Hoàng Tụy nhận xét: “Chúng ta có biết bao tiến sĩ, giáo sư và gần đây rộ lên cả mấy tá viện sĩ (chức danh này chưa có ở VN, nhưng nếu muốn trưng ra thì cả nước hiện nay cũng có thể trưng ra cả nghìn viện sĩ kiểu này chứ không ít), rồi lại có cả những bộ óc vĩ đại thế kỷ 21, nhiều nhân vật trí thức xuất chúng đến nỗi đang có kế hoạch phải dành 25 hecta đất vào thời buổi đất quý hơn vàng, để xây một Văn Miếu hiện đại mới đủ chỗ vinh danh bấy nhiêu bậc đại trí. Thế nhưng có ai dám chắc cái gia tài trí thức lớn ấy sau này sẽ được con cháu hoan nghênh khi đất nước đến hồi hưng thịnh? Bởi trí thức Việt Nam dễ mắc bệnh vĩ cuồng, không hòa nhập vào dòng chảy văn minh của thời đại, không chấp nhận luật chơi quốc tế, rồi ngày càng tụt hậu mà vẫn tự ru ngủ mình, tự đánh lừa mình, và đánh lừa nhân dân mình với những thành tích không có thật. Chạy theo danh hão, chạy theo quyền lực, chạy theo chức tước, là căn bệnh thời đại của trí thức Việt Nam hiện nay”.

    Năm 2010. Trên "vietnamnet.vn/giaoduc" ngày 26/05/2010, nhà văn Dạ Ngân (trong nước) dùng chữ “du học để tị nạn giáo dục” khi trả lời cuộc phỏng vấn. Thoạt nghe tưởng như đùa, nhưng thật ra là chuyện rất thật nếu chúng ta nhìn vào nền giáo dục Việt Nam ngày nay. Bà nhận định: “Các ông bố bà mẹ hiện đại ở các đô thị đang có xu hướng “ấn” con đi du học càng sớm càng tốt? Xu hướng này phản ánh điếu gì về tâm lý và sự thay đổi trong xã hội hiện nay? (Xin lỗi là tôi để nguyên chữ hiện đại và phản ánh trong nguyên văn. PBH) ... Nhưng tại sao có tâm lý đua nhau cho con đi sớm? Là vì cung cách của nền giáo dục Việt Nam không thể nào làm cho bậc cha mẹ an tâm. Tính hiếu học của người Việt đang bị thách thức. Những người có tiền không dại gì để con mình chịu đựng sự thể nghiệm mãi của những nhà cải cách, và phải học theo kiều “nhồi sọ” ở trường, lại còn phải học thêm và học thêm mãi”.

    Năm 2011. Nhà giáo Phạm Phúc Thịnh “kỹ sư tâm hồn xã hội chủ nghĩa”, giảng viên khoa ứng dụng tin học trường Đại Học Kinh Tế Kỹ Thuật Bình Dương, tâm sự nhân “Ngày Nhà Giáo 20/11 Năm 2011”. Lời mở đầu của tác giả: “Nhà giáo đang cô đơn giữa cộng đồng”. Rồi ông nói thêm:

    (1) Ngày 20/11 lại đến! Một ngày mà lúc đầu mang ý nghĩa tôn vinh những người làm công tác giáo dục. Nhưng, theo dòng đời trôi nỗi, cùng với tác động của cơm áo gạo tiền, ngày ấy đã trở thành “ngày lễ thầy” với đúng nghĩa đen của nó. Thật vậy, cách tổ chức mừng ngày này tại các trường na ná giống nhau về hình thức. Các thầy cô giáo phải đến trường, nghe những lời huấn dụ phải thế này, thế kia... Điều quan trọng nhất là làm gì để cho vị thế của giáo viên trong xã hội được nâng cao, được tôn trọng, lại chia ở thì tương lai với động từ “sẽ...” mà không biết bao nhiêu năm “sẽ...” đã trôi qua. Tại sao trong ngày này, giáo viên không được nghỉ ngơi thư giãn, đi chơi đâu đó để có thể đón nhận những niềm vui thật sự từ học trò, từ người thân, từ bạn bè...

    (2) Có ngày 20/11 để làm gì, khi những món quà tặng thầy cô bị biến tướng thành phong bì, voucher quà tặng với 1 chữ số khác 0 đứng trước và đi kèm theo đó là 5 hoặc 6 chữ số 0. Để rồi sau đó, các phương tiện truyền thông và một bộ phận xã hội người dân nói những lời xúc phạm nặng nề đến nhân cách của giáo viên. Là giáo viên chân chính không ai muốn điều đó cả. Nhưng hình như mọi người quên rằng, có những phụ huynh thật sự có điều kiện về kinh tế, họ không được tặng cho người thầy cô mà con cái họ yêu quý những món quà có giá trị lớn sao? Và giáo viên nhận những món quà này có gì sai chăng?

    (3) Có ngày 20/11 để làm gì, khi mỗi ngày trong cuộc sống, giáo viên đang là những cố gắng giáo dục cho học trò viết đúng tiếng Việt, tôn trọng những chuẩn mực đạo đức của xã hội, tuân thủ luật pháp. Trong khi hàng loạt “Cối Xay Gió” kiểu “Sát Thủ Đầu Mưng Mủ” lại in vào đầu các em những câu văn vô nghĩa, những câu nói vớ vẩn mà một số người lớn lại biện minh đó là “sự sáng tạo của tiếng Việt hiện đại”. Những hành động vô cảm trước hoạn nạn của người khác, thậm chí còn hưởng lợi từ sự thiếu may mắn của người khác. Để rồi đến một ngày khi đám trẻ trở thành sát thủ, giải quyết mọi mâu thuẫn bằng bạo lực, mọi nguyên do lại được quy về “không biết thầy cô dạy dỗ như thế nào?”

    (4) Có ngày 20/11 để làm gì, khi có những phụ huynh vì không nhìn thấy cái sai của quý tử nhà mình, sẵn sàng hành hung giáo viên, hả hê khi thấy giáo viên bị kỷ luật chỉ vì không kiềm chế được trong lúc nóng giận đã lỡ quất vào mông của quý tử đó một roi. Chưa thời nào mà nhà giáo lại là người dễ bị “bắt nạt” như thời bây giờ, nhà giáo bị phụ huynh hành hung, bị học sinh tấn công thì mọi chuyện sẽ không có gì ầm ĩ. Nhưng chỉ cần nhà giáo có một hành động gì đó không đúng chuẩn mực lắm thì ngay lập tức hàng loạt "cơn mưa đá" sẽ trút xuống nhà giáo rất tội nghiệp, mà hình như mọi người ném đá lại quên mất rằng nhà giáocũng có đầy đủ hỷ nộ ái ố của một con người bình thường.

    (5) Khi cuộc sống đời thường của người giáo viên quá nghèo khổ thì bị nhìn với cặp mắt thương hại. Nhưng khi người giáo viên vươn lên thoát nghèo bằng chính nghề nghiệp của mình thì bị xã hội mỉa mai gọi là “bán chữ”, thậm chí còn bị xem đó là hành vi phạm tội, lập ra đội chống dạy thêm để hạch sách. Xã hội đòi hỏi giáo viên phải sống thanh bạch như những “nhà giáo ngày xưa“ trong làng xã, nhưng quên mất rằng những “nhà giáo ngày xưa“ chỉ chăm lo việc dạy, còn cuộc sống được dân trong làng đảm bảo không để thầy phải bận tâm về cơm áo gạo tiền. Những người thầy mẫu mực được gọi là “vạn thế sư biểu” trong lịch sử như Chu Văn An, Khổng tử... đều có một cuộc sống đời thường thanh bạch giản dị nhưng không phải thiếu thốn những nhu cầu cần thiết...

    (6) Có lẽ, rất nhiều giáo viên đều ước rằng, thay vì một năm có một ngày 20/11 với đủ các lời chúc hoa mỹ, quà tặng, với những lo lắng “đua quà” của phụ huynh, thì suốt cả năm cha mẹ hãy cùng chung tay với thầy cô trong việc giáo dục con em mình trở thành những người có ích trong xã hội, nói đúng ngôn ngữ tiếng Việt..... Cả xã hội thay đổi cách nhìn, nâng cao vị thế và cuộc sống thực tế của giáo viên trong cuộc chiến chống lại những cái xấu, để giáo viên xuất hiện trước mắt học sinh thân yêu với hình ảnh đẹp và mẫu mực của một thầy cô giáo đúng nghĩa. Và kết thúc lời tâm sự của nhà giáo Phạm Phúc Thịnh: “Ước gì đừng có ngày 20/11 hằng năm!“

    Tôi tóm lược vài đoạn trong bài viết “Văn Hoá Cà Chớn” của một nhà văn trong nước. Tháng 11/2011 vừa qua tại Sài Gòn mà Các Anh gọi là Hồ Chí Minh, Công Ty Văn Hóa Truyền Thông Nhã Nam phát hành tập truyện “Sát Thủ Đầu Mưng Mủ” (mà nhà giáo Phạm Phúc Thịnh đã nói ở trên). Cái tên rất ư là kỳ cục vì nó không hàm chứa một ý nghĩa văn chương nào cả, nhưng lại là loại sách dành cho tuổi trẻ Việt Nam với nội dung gồm nhiều bức tranh vẽ vội nếu không nói là vẽ sơ sài, và dưới mỗi bức tranh có một thành ngữ được xếp vào loại “thành ngữ sành điệu”. Tất cả có khoảng 120 câu thành ngữ thông dụng của tuổi trẻ hiện nay, chẳng hạn như: “Ngất ngây con gà tây - Phi công trẻ lái máy bay bà già - Thuận vợ thuận chồng con đông mệt quá - Tào lao bí đao - Tự nhiên như cô tiên - Xấu nhưng biết phấn đấu - Đói như con chó sói - Một con ngựa đau cả tàu được thêm cỏ - Một điều nhịn chín điều nhục - Cái khó ló cái ngu - ....”
    Dưới nét nhìn của bất người Việt Nam nào còn quan tâm đến văn hoá dân tộc cũng tự hỏi: “Đây có phải là văn hoá mới xã hội xã hội chủ nghĩa không? Hỏi, cũng là trả lời: “Đúng vậy”. Câu trả lời này gợi lại chính sách của lãnh đạo cộng sản Việt Nam khi chiếm được Việt Nam Cộng Hòa đã ra lệnh tịch thu toàn bộ văn hoá phẩm trong xã hội dân chủ tự do, để thay vào bằng văn hoá mới xã hội chủ nghĩa, một thứ văn hoá “sáng tạo” ra một xã hội gian trá, dối gạt, lưu manh, .... nói chung nó là thứ văn hoá của một xã hội độc tài đảng trị. Tác giả cũng cho biết rất nhiều ý kiến phản đối dữ dội, vì cho rằng đây là một cuốn sách nhảm nhí, xuyên tạc thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt. Chị Thanh Hà, một nhân viên ngân hàng tức giận: “Tôi không hiểu vì sao một cuốn sách nhảm nhí như vậy lại được nhà nước cho xuất bản. Những câu thành ngữ tục ngữ Việt Nam đã bị cải biên xuyên tạc một cách trắng trợn. Thử hỏi, khi các cháu học sinh sinh viên sẽ học được điều gì trong sách? Với câu “Có chí thì ghê”, đã xuyên tạc ý nghĩa giáo dục tinh thần của câu “Có chí thì nên” của ông cha ta bao đời để lại cho con cháu noi theo. Nhìn chung, loại sách như vậy là phản lại truyền thống đạo đức Việt Nam.

    3. CÁC ANH NGHĨ GÌ?

    Chỉ mới ngần ấy sự kiện, tôi nghĩ cũng đủ giúp Các Anh nhận ra nền giáo dục xã hội chủ nghĩa của lãnh đạo Các Anh “đã trồng được những thế hệ thần dân“ đúng theo bản chất của đảng, để tuân phục đảng chớ không phải lắng nghe nguyện vọng của dân, phục vụ đảng chớ không phải phục vụ dân mặc dù “dân là chủ còn cán bộ đảng viên là đầy tớ“, và chết cho đảng chớ không phải chết cho tổ quốc nhân dân. Cũng vì “những thế hệ mà giáo dục xã hội chủ nghĩa đã trồng được, đã dẫn đến một xã hội mà mọi người từ lãnh đạo cao nhất trải dài xuống các lãnh đạo trong hệ thống đảng với nhà nước, đến tận người dân, phải sống với nhau bằng những phương cách lọc lừa dối trá với nhau. Hãy nhớ rằng, người dân hoàn toàn không có lỗi gì trong xã hội Việt Nam ngày nay, mà là bắt nguồn từ bản chất của lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản.

    Với một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa đã thật sự tác hại vào hai thế hệ đã qua, hai thế hệ hiện nay, và vẫn còn tiếp tục. Tác hại ngay trên cuộc sống thường ngày của mỗi người trong xã hội, và đã tạo nên một xã hội băng hoại đến mức mà văn hoá dân tộc từ bao đời Ông Cha truyền lại hầu như tan biến ngược chiều với sự vươn lên một cách thảm hại của dòng “văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa“, trong khi thứ văn hoá đó đã bị cộng sản Liên Sô và các quốc gia cộng sản vùng Đông Âu liệng vào thùng rác lịch sử hơn 20 năm trước rồi.

    Tôi gởi sự suy nghĩ nhỏ nhoi hạn hẹp này đến Các Anh, hãy bình tâm mà nhận định một chuỗi sự kiện mà Các Anh vừa đọc qua, và suy nghĩ từ chiều sâu tâm hồn của chính mình chớ không phải tâm hồn của người đảng viên cộng sản. Mong Các Anh đừng đứng nhìn một cách vô cảm nữa mà hãy hành động “như một đầu tàu”, kéo theo 89 triệu bà con trên quê hương Việt Nam thân yêu, và mạnh dạn đứng lên quật sập cái chế độ cộng sản độc tài tàn bạo, một chế độ đã tạo nên một xã hội băng hoại bắt nguồn từ chính sách giáo dục ngu dân, để cùng nhau xây dựng một nền văn hoá khai phóng, nhân bản, khoa học, và phát triển một xã hội dân chủ pháp trị mà mọi người được hưởng một cách tự nhiên những quyền căn bản của mình. Nếu Các Anh “không thể đứng dậy làm đầu tàu” thì khi người dân đứng dậy, Các Anh hãy đứng về phía đồng bào mà hành động.

    Tôi vững tin rằng, bà con trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại -đặc biệt là Những Người Lính Chúng Tôi- vẫn hết lòng hỗ trợ Các Anh và quí vị đồng bào, những thế hệ làm nên lịch sử.

    “Tự Do, phải chính chúng ta tranh đấu, vì Tự Do không phải là quà tặng”.

    Texas, tháng 1 năm 2012.


    “Nhân Tết Nguyên Đán, tôi chúc Các Anh cùng gia đình Một Năm Nhâm Thìn 2012, được An Lành và Hạnh Phúc. Năm Mới, với nét nhìn mới về mọi lãnh vực sinh hoạt xã hội vì nó bắt nguồn từ lãnh đạo của Các Anh, để nhận ra chân dung xã hội hiện nay mà nghĩ về một xã hội tương lai cho con cháu“.

  6. The Following 4 Users Say Thank You to tieuchuy For This Useful Post:

    Hoanghac (08-16-2012), khongquan2 (04-21-2012), TAM73F (02-22-2012), Tinh Hoai Huong (10-09-2012)

  7. #4
    tieuchuy's Avatar
    Status : tieuchuy v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Feb 2010
    Posts: 191
    Thanks: 3
    Thanked 331 Times in 133 Posts

    Default Thư số 4 gởi Người Lính Quân Đội Nhân Việt Nam

    Thư số 4 gởi

    Người Lính Quân Đội Nhân Việt Nam


    *********
    Phạm Bá Hoa

    Tôi tên Phạm Bá Hoa, chào đời năm 1930 tại đồng bằng sông Cửu Long. Tôi phục vụ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 21 năm trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc, sau đó tôi bị tù không án trong các “trại tập trung” mà lãnh đạo của Các Anh gọi là “trại cải tạo” 12 năm 3 tháng. Hiện cư ngụ tại Hoa Kỳ.

    Xin được gọi “Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam” là Các Anh để tiện trình bày. Chữ “người lính” mà tôi sử dụng ở đây, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lãnh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng, gọi chung là “cấp lãnh đạo”. Là người lính trong quân đội “Nhân Dân”, chắc rằng Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, vì Các Anh trong quân đội Nhân Dân mà. Với lại, Tổ Quốc & Dân Tộc là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng chính trị nào cũng chỉ là một giai đoạn của lịch sử. Và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó.
    Với thư này, tôi mời Các Anh nhìn lại “Chân Dung Xã Hội Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” dưới góc cạnh tham nhũng trong xã hội Việt Nam ngày nay.

    1. XÃ HỘI.

    “Quốc Gia” bao gồm: Một lãnh thổ, một dân tộc, một nền văn hoá, một dòng lịch sử, một hệ thống công quyền, những công trình kiến trúc mỹ thuật.

    “Xã Hội” hình thành từ gia đình. Mỗi gia đình là một đơn vị, nhiều đơn vị gia đình hợp lại thành một đơn vị hành chánh, và tất cả các đơn vị hành chánh trong hệ thống dọc từ dưới lên trên hợp lại thành một xã hội của quốc gia.
    “Sinh Hoạt Xã Hội” được ví như sự vận hành của cái đồng hồ, với hằng chục hằng trăm bánh xe lớn nhỏ sắp xếp bên trong lớp võ, mỗi bánh xe được nhà phát minh đặt vào một vị trí với một công việc nhất định, và tất cả công việc của các bánh xe gộp lại được gọi là sự vận hành của cái đồng hồ, giúp con người biết được thời gian đi qua từng giây từng phút. Tương tự như vậy, con người sinh ra, lớn lên, và thành đạt trong sinh hoạt xã hội chớ không thể tự mình trong riêng rẽ. Do đó, mỗi người phải tạo dựng cho mình mối tương quan tốt với mọi người, chớ không thể tự cho mình giỏi hơn mọi người mà coi thường mọi người, bởi không có nghề nào trong xã hội là không cần thiết, vì tất cả các ngành nghề đều có mối tương quan với nhau trong sự vận hành của guồng máy xã hội.

    “Xã Hội Thăng Tiến Hay Suy Sụp” là do các cấp trong hệ thống lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp quốc gia, thể hiện trong chính sách giáo dục học đường, và những chính sách giáo dục xã hội ngang qua các lãnh vực sinh hoạt trong đời sống, đặc biệt là các phương tiện truyền đạt tin tức trong hệ thống truyền thông.

    2. HÃY NHÌN VÀO XÃ HỘI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.

    Lãnh đạo cấp quốc gia mà xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam gọi là Bộ Chính Trị với 14 đảng viên cộng sản, là cơ quan quyền lực tuyệt đối. Bởi trong hệ thống tổ chức không có cơ quan nào kiểm soát, vì vậy mà nhóm lãnh đạo quyền lực này tự đứng trên Tổ Quốc, trên Dân Tộc, trên Quốc Hội, trên hệ thống Nhà Nước, và trên hệ thống Tư Pháp. Đã có lần ông Nguyễn Văn An khi giữ chức Chủ Tịch Quốc Hội, trong lúc quá bực tức đã phát biểu: “Bộ Chính Trị là 14 ông vua tập thể!” Đúng vậy, Bộ Chính Trị là nơi hình thành hệ thống tham nhũng để bảo vệ sự sống còn của đảng cộng sản, vì đảng không còn lý tưởng làm điểm tựa từ khi “thành trì vững chắc của chủ nghĩa cộng sản là Liên bang Sô Viết sụp đổ từ đầu những năm 90 của thế kỷ 20, kéo theo sự sụp đổ của các quốc gia cộng sản Đông Âu. Tự bản thân các đảng viên lãnh đạo trong Bộ Chính Trị tham nhũng, cùng lúc ăn chia với lãnh đạo cấp dưới tham nhũng, khi cấp dưới bị phát giác tham nhũng thì lãnh đạo cấp trên che chắn, vì mục đích của luật pháp xã hội chủ nghĩa đặt ra là bảo vệ đảng viên. Nếu không như vậy thì đảng cộng sản với chế độ độc tài của Các Anh đã sụp đổ từ cuối những năm 90 rồi.

    Dưới đây chỉ là những trường hợp điển hình, cộng với những gì mà chính Các Anh biết về những vụ tham nhũng từ vụn vặt đến những vụ mà báo chí “lề phải” trong xã hội Các Anh được phép đăng tải, tôi nghĩ, nó sẽ giúp Các Anh tìm lại được chính mình trong một xã hội mà đảng với nhà nước đã tạo cho người dân phải chấp nhận “quốc nạn tham nhũng” một cách bình thường như một nếp sống trong văn hoá mới xã hội chủ nghĩa ngày nay. Từ đó, tôi hy vọng Các Anh có đủ lý lẽ để đánh giá các cấp lãnh đạo trong hệ thống đảng và hệ thống nhà nước Việt Nam.

    Năm 2001. Báo Tuổi Trẻ phát hành tháng 08/2001, số sinh viên tốt nghiệp đại học mà không tìm được việc làm gia tăng hằng năm: Năm 1997 thất nghiệp 64%. Năm 1998 hơn 80%. Năm 1999 là 89%. Số còn lại tìm được việc làm thì hầu hết là gia đình của các cấp lãnh đạo đảng và lãnh đạo nhà nước, những chuyên viên chuyên gia ngoài đảng cộng sản phải có tiền mới “mua” được chỗ làm. Mời Các Anh đọc tiếp để hiểu rõ chữ “mua” nó tàn nhẫn như thế nào.

    Năm 2002. Đặc san Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam/Houston 2002, trong bài “Những Con Ký Sinh Trùng Làm Chủ”, của Nguyễn Bảo An, định cư ở Pháp, có đoạn sau đây: “Lúc ở Paris, tôi cũng theo dõi thời cuộc Việt Nam, nên cũng biết dân tôi khốn khổ vì nạn tham nhũng, nhưng lúc đó tôi khó hình dung được là dân tôi khốn khổ vì tham nhũng như thế nào, và đến mức độ nào. Nhưng sau hai tháng hè về thăm quê hương, tôi mới hiểu nạn tham nhũng tàn bạo và khốc liệt ngoài sự tưởng tượng của tôi, và của mọi người. Trong một lần cùng người nhà đưa cháu tôi vào bệnh viện, tôi đã chứng kiến cảnh một bà mẹ ôm xác con khóc sướt mướt ở phòng chờ đợi. Chỉ vì bà quá nghèo, không có tiền hối lộ cho bác sĩ nên họ bỏ mặc cho mẹ con bà ngồi đó, và con bà đã chết”. Trong suốt thời gian ở quê nhà, tác giả đến bất cứ nơi đâu cũng bị làm tiền một cách trắng trợn. Tại phi trường, tại những cơ quan hành chánh, nơi đâu cũng phải xì tiền hối lộ mới được làm giấy tờ. Bị bắt buộc hối lộ nhiều đến nỗi tác giả không chịu được nữa, tác giả đem những điều tai nghe mắt thấy về tham nhũng nói với người em họ, một cán bộ trong cơ quan chánh phủ từ Hà Nội vào Sài Gòn, anh ta trả lời một cách tỉnh bơ cứ như tham nhũng như là một nếp sống rất bình thường: “Mọi người phải trả hối lộ cũng là hợp lý thôi, vì một nhân viên sở di trú phải bỏ ra chục triệu đồng mới mua được chỗ làm. Nếu họ không làm tiền đồng bào thi bao giờ họ mới thu lại được số vốn bỏ ra mua lấy chức vụ. Chức vụ của những viên chức là một dịch vụ thương mại, mà đã là thương mại thì phải có lợi nhuận. Người em cộng sản của tôi phát ra một tràng lý luận kiểu bất lương, lưu manh, nham nhở, ”. Nghe đến đó tác giả cảm thấy lạnh xương sống trước lý luận kiểu xã hội chủ nghĩa, hoàn toàn trái với đạo đức con người. Vậy là tham nhũng đã đánh đổ cả lương tri, làm đảo lộn tất cả những giá trị đạo đức trong xã hội. Quay trở lại Paris, tác giả tự mình khẳng định: “Từ nay, đọc những bài báo nói về tham nhũng tại Việt Nam, tôi thật sự hiểu tham nhũng tại đó là gì, và nó đã gây thiệt hại, đớn đau, mất mát, đổ vỡ cho dân tộc Việt Nam, quê hương Việt Nam như thế nào! Không bút mực nào diễn tả hết nỗi thống khổ của đồng bào trên quê hương về nạn tham nhũng khủng khiếp. Dân tôi bị bóc lột, bị làm tiền một cách trắng trợn vô liêm sỉ từ những kẻ tự xưng là “đầy tớ của nhân dân”!

    Tôi nhấn mạnh với Các Anh rằng, tiền thuế là mồ hôi nước mắt của người dân làm ra sản phẩm hay dịch vụ để có tiền đóng thuế cho nhà nước, nhà nước dùng tiền đó trả lương cho những viên chức chánh phủ, và viên chức chánh phủ có trách nhiệm phục vụ người dân. Đó là sinh hoạt trong một xã hội văn minh là như vậy, nhưng với xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì khác. Những viên chức nhà nước được trả lương bằng tiền thuế của dân, lại đem những chức vụ có trong tay bán cho những viên chức cấp dưới, những viên chức cấp dưới đem bán những công việc cho người dân có nhu cầu để thu lại vốn lẫn lời, mà đúng ra họ phải phục vụ người dân. Sau khi cầm quyền trên toàn cõi Việt Nam từ năm 1975, nhóm lãnh đạo CSVN đã phá nát tất cả những giá trị cao quí của văn hoá dân tộc.

    Thêm vào đó, kinh tế thị trường theo “định hướng xã hội chủ nghĩa”, một loại “định hướng không có định hướng trong các nền kinh tế thế giới”, đã biến nhóm lãnh đạo CSVN từ trên xuống dưới thành “giai cấp tư bản đỏ vô luân và vô cảm”. Không sai, vì xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một thứ xã hội đen do nhóm lãnh đạo CSVN cầm đầu, với trợ thủ đắc lực của cả bộ máy đảng và bộ máy nhà nước. Cũng không sai, vì xã hội chủ nghĩa tại quốc gia sản sinh ra nó là Liên Sô đã sụp đổ hoàn toàn do cái tồi tệ của bản thân nó, vì vậy mà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trở thành nơi dung túng xã hội đen để bao che cho sự tồn tại của họ, bảo vệ quyền lợi riêng tư của họ. Đây là cách tận cùng của những cách thực hiện. Nhưng nói cho cùng, nhóm lãnh đạo CSVN chỉ có cách đó là cao nhất của họ, và xứng hợp với cái gọi là “đỉnh cao trí tuệ” của cái đảng cầm quyền độc tài, của bộ máy cầm quyền vô cảm trước nỗi đau của đồng bào! Do vậy mà trong xã hội Việt Nam ngày nay, tham nhũng hoành hành đến tận cùn các ngóc ngách trong các cơ quan đảng, cơ quan nhà nước. Trong nhiều trường hợp, người nộp hối lộ không bực mình vì mất một số tiền, mà phẫn uất vì cái nạn hối lộ tràn lan đến tận hang cùn ngỏ hẻm ở Việt Nam, đến mức không còn một chỗ nào để tránh né được. Đúng là không thể tránh né được, vì bất cứ ngành nào trong bộ máy đảng lẫn bộ máy nhà nước, tất cả đều mua quan bán chức, từ chức lớn xuống chức nhỏ địa phương, mới có một vị trí trong xã hội dù chỉ là vị trí thấp nhất của tổ chức, để từ vị trí đó những người mua chức đều đòi hối lộ, nhận hối lộ, như lời nhận xét thật đau của Nguyễn Bảo An, một tuổi trẻ Việt Nam tại Paris sau chuyến về thăm quê hương hai tháng!

    Chắc Các Anh có biết là nhóm lãnh đạo CSVN từ Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước, đến Thủ Tướng, đều tuyên bố là chống tham nhũng quyết liệt, chống bất cứ kẻ tham nhũng là ai, ở chức vụ nào, đều phải đưa ra pháp luật. Tuyên bố “quyết liệt” như vậy, nhưng khi hai ông Phạm Quế Dương với Trần Khuê nộp đơn xin thành lập Hội Chống Tham Nhũng để trợ giúp cho nhà nước thì nhà nước ra lệnh bắt lên bắt xuống, hành hạ sách nhiễu đủ điều. Rõ ràng là tuyên bố chống tham nhũng chỉ là lời dối trá của nhóm lãnh đạo CSVN, họ dối trá với người dân dưới quyền cai trị của họ, dối trá với thế giới văn minh, và dối trá với chính bản thân họ nữa.

    Năm 2003. Tóm tắt bài viết ngày 4/10/2003 “Trong vòng vây của Công An CSVN, những người Việt Nam xin tị nạn ở Đức bị tống tiền như thế nào”, bài của Việt Hùng từ Cộng Hòa Liên Bang Đức. Đó cũng là tên của bài phóng sự trên đài truyền hình ARD lớn nhất của Đức quốc, tường trình từ thành phố Munchen. Chuyện bắt đầu từ số phận của khoảng 40.000 người Việt bị từ chối tị nạn tại Đức sau khi các quốc gia cộng sản Đông Âu sụp đổ, và đang chờ trục xuất về Việt Nam. Theo “Hiệp Định Hồi Hương” giữa lãnh đạo CSVN với CHLB Đức, hai bên phải thực hiện xong công tác hồi hương trong thời gian 1995-2000. Nhưng đến năm 2003, số người hồi hương mới đạt được con số rất nhỏ. Lý do: CSVN không chấp nhận số người mà họ cho là không xác minh được lý lịch. Chánh Phủ Đức muốn công tác trục xuất được nhanh hơn, nên đồng ý cho CSVN cử phái đoàn Công An sang Đức thẩm vấn trực tiếp để xác minh lý lịch.

    Phần lớn trong số hơn 40.000 người này, không ai muốn trở về “thiên đường xã hội chủ nghĩa”, dù khối người này khi rời Việt Nam dưới danh nghĩa nhà nuớc CSVN cử đi du học, hoặc xuất cảng lao động. Bằng một máy thu hình giấu kín đã được tòa án cho phép, nhóm phóng viên đài truyền hình ARD, có đầy đủ bằng chứng qua người trung gian của Công An đã ra giá cụ thể với ông Vũ Phương Chiến: “Nếu nộp 1.500 Euro thì được ở lại thêm mấy tháng nữa, nhưng vẫn trong tình trạng không hợp pháp. Nếu nộp 5.000 Euro thì anh sẽ đuợc cấp thông hành Pháp và ở lại thêm 1 năm. Có thông hành thì thời gian 1 năm là hợp pháp, mọi sự đi lại đều không sợ bị bắt. Sau đó, cứ 5.000 Euro cho 1 năm hợp pháp với thông hành của Pháp, không sợ chánh phủ Đức trục xuất”. Một người Việt Nam khác, nhận được số điện thoại của một người trung gian đưa qua gầm bàn khi thẩm vấn, để liên lạc trao đổi giá cả. Và anh thuật lại sau khi liên lạc: “Nếu anh nộp 600 Euro thì được ở lại thêm 6 tháng. Điểm chính của vấn đề là nếu người nào nộp tiền theo giá qui định của từng thời gian, thì người đó không hồi hương Việt Nam, cũng không lo sợ sẽ bị tìm ra tung tích, vì phái đoàn Công An CSVN thông báo cho chánh phủ Đức là không xác minh được lý lịch, lúc đó chánh phủ Đức có muốn trục xuất cũng không biết trục xuất đi đâu, và đành phải để những người đó ở lại Đức. Thế là mọi việc ổn thỏa”.

    Dân Biểu Joseph Winkler, người phát ngôn về di trú của Đảng Xanh trong liên minh cầm quyền tại Đức, phát biểu: “Một quốc gia dân chủ như nước Đức, việc mua bán thuộc dạng tống tiền ngay trên lãnh thổ này là không thể chấp nhận được”. Dân Biểu Winkler nói thêm: “Những nạn nhân Việt Nam của những vụ tống tiền này, có quyền đạt đơn xin tị nạn tại Đức, và họ đáng được chấp nhận tị nạn”. Đảng PDS, cũng trong liên minh đảng cầm quyền, đã họp và ra thông báo đệ trình lên Chánh Phủ một bản nghị quyết, tạm thời đình hoản việc cho phép Công An CSVN sang Đức thẩm vấn người tị nạn. Về phía các tổ chức nhân quyền Đức, đã đồng loạt lên tiếng phản đối dữ dội về hành động tống tiền của Công An CSVN. Ông Karl Hafen, nhân danh Chủ Tịch Hiệp Hội Nhân Quyền Quốc tế, trụ sở tại thành phố Frankfurt/Main, tuyên bố: “Đây là một thảm kịch! Những người tị nạn phải chịu sức nặng từ hai phía, một bên là chánh quyền Đức về vấn đề trục xuất, một bên là Công An CSVN về những vụ tống tiền. Họ đứng trước một sự chọn lựa không dễ dàng. Nếu họ chịu tống tiền, thì họ biết rằng cho dẫu có được ở lại cũng không bảo đảm chút nào vì vẫn là không chánh thức, rồi một ngày kia cũng bị trục xuất như những tội phạm. Nếu họ chọn không bị tống tiền, họ có thể bị đưa về Việt Nam, và bị toà án xét xử”.

    Các Anh có nghĩ là lãnh đạo nhà nước Việt Nam cảm thấy nhục khi biết Công An chẳng những đòi hối lộ người dân trong nước, mà còn đòi hối lộ người dân xã hội chủ nghĩa ở ngoại quốc không? Ô, tôi quên, nếu nhóm lãnh đạo CSVN mà biết nhục thì đâu phải là cộng sản.

    Năm 2007-2010. Tóm tắt và trích dẫn bài của ông Nguyễn Duy Vinh, Tiến sĩ ngành Cơ Khí Động Học. Theo tác giả thì ông Trần Văn Tuyền, Tổng Thanh Tra Chính Phủ của nước CHXHCN Việt Nam, một quan chức hàng đầu về chống tham nhũng, phát biểu trong một cuộc họp báo tại Hà Nội: “…Việt Nam coi việc chống tham nhũng là quốc sách, là sự nghiệp quan trọng liên quan đến sự sống còn của chế độ. Việt Nam đã cam kết và sẽ thực hiện đầy đủ các công việc mà Công Ước Liên Hiệp Quốc đã đề ra”.… Rồi tác giả nhận định: Một điều tôi phải nói ngay rằng, nhà nước Việt Nam từng tuyên bố mục tiêu hàng đầu là chống tham nhũng, nhưng những vụ tham nhũng đầy tai tiếng trong 9 năm gần đây cho thấy nhà cầm quyền Việt Nam không đủ quyết tâm để giải quyết tệ nạn này.…” Tác giả nhắc đến đại hội Việt Kiều với hơn 800 người tham dự tại Hà Nội hồi đầu năm 2010, Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết đã phát biểu: “…Chúng ta từ một nước trong chiến tranh, chưa có những cái kinh nghiệm trong quản lý, và ở nước người ta đó thì muốn tiêu cực, muốn tham nhũng cũng khó, vì hệ thống luật pháp nó chặt chẽ. Còn ở Việt Nam của mình, thì có khi không muốn tham cũng động lòng tham, cái người thủ quỹ cứ giữ tiền khư khư, ở quỹ lúc nào cũng có số dư, cho nên lúc bí quá thì em mượn một chút, mượn không thấy ai đòi hết, thì em mượn thêm. Chứ không phải người Việt Nam tham nhũng nhứt thế giới, không phải vậy! Cho nên tui đề nghị quí vị ở nước ngoài khi nghe những thông tin này, rồi nhìn về Việt Nam cũng đừng có hốt hoảng, cứ nghĩ rằng trong nước mình tiêu cực quá… Đây là quy luật muôn đời. Con người ta, trong mỗi người, ai cũng có hỉ, nộ, ái, ố. Chúng ta là con một nhà, là con Lạc, cháu Hồng, cùng một bọc trứng sinh ra, trên thế giới này ít nơi nào có cái đó lắm…”

    Các Anh nghĩ gì khi mà nghe ông Chủ Tịch nước “thành thật khai báo” là Bộ Chính Trị dốt nát đã tạo nên hệ thống tham nhũng trong toàn đảng, toàn nhà nước, và toàn xã hội? Phải hiểu rằng, ông Triết chỉ nói cái người thủ quỹ tham nhũng vụn vặt, chớ không nói đến cái bản thân ông ta cùng với cả cái Bộ Chính Trị là tiền ở đâu ra mà cái ông nào cái bà nào cũng có tài sản đến hằng chục hằng trăm triệu mỹ kim? Những cái người đó là loại người tham nhũng “quy mô” chớ đâu phải “tham nhũng vụn vặt” như cái người thủ quỹ mà ông Triết nói. Chữ “tham nhũng” mà tôi sử dụng ở đây bao gồm: Đòi và nhận hối hộ quốc nội lẫn quốc tế, ăn cướp của dân, ăn cắp tài sản quốc gia, ăn xén ngân khoản trong các dự án lớn của họ đặt ra mà càng nhiều dự án lớn chừng nào thì cả hệ thống lãnh đạo càng thêm nhiều tài sản, ăn xén ngân khoản do ngoại quốc tài trợ, đầu tư ngoại, và tham nhũng do bán đất bán biển của tổ quốc (2 tỷ mỹ kim). Thật là khủng khiếp! Mời Các Anh xem tiếp một số vụ tham nhũng chẳng những trong nước biết mà thế giới cũng biết.

    Vẫn theo Tiến Sĩ Nguyễn Duy Vinh, bản báo cáo của Ban Chỉ Đạo Trung Ương về phòng chống tham nhũng cho biết: Năm 2007 có 584 vụ bị phát giác với gần 1.300 người tham nhũng, gây thiệt hại hơn 860 tỉ đồng VN (860,000,000,000 đồng) (1 USD = trên dưới 20,000 đồng VN). Trong 584 vụ này, đến cuối năm 2011, nhà nước chỉ mới đưa ra xét xử 360 vụ. Việc xử lý các vụ tham nhũng tăng dần mỗi năm và những vụ lớn tập trung tại Hà Nội với Sài Gòn. Những vụ được “báo chí lề phải” của Các Anh và báo chí hải ngoại đăng tải nhiều nhất:

    (1) Vụ PMU 18. PMU là chữ viết tắt của Anh ngữ “Project Management Unit, dịch sang Việt ngữ là Ban Quản Lý các dự án 18 thuộc Bộ Giao Thông Vận Tải (BGTVT) với ngân khoản lên đến hằng trăm triệu mỹ kim mà trong nước gọi là “đô la Mỹ”. Một vụ án phải đưa ra ánh sáng trong bối cảnh chuẩn bị đại hội 10 đảng cộng sản, làm cho Bộ Chính Trị cảm thấy bất an vì tham nhũng đã tràn ra ngoại quốc, khiến dư luận Nhật Bản rất bất mãn khi được biết Tổng Giám Đốc Bùi Tiến Dũng (BTD), đã dùng 7 triệu mỹ kim trong số tiền vay của ngoại quốc để xây dựng hệ thống giao thông đường bộ vào cuộc đỏ đen cờ bạc. Khi bị bắt để chờ ngày xét xử, ông Dũng lại sử dụng khoảng 1 tỉ đồng Việt Nam để hối lộ các viên chức điều tra! Theo báo VietNnamNet, BGTVT đã quyết định đình chỉ nhiều viên chức liên quan trong đó có Thứ Trưởng Nguyễn Việt Tiến. Cuối cùng, trong vụ án PMU 18, Bùi Tiến Dũng và 4 người nữa cùng lãnh án tù. Chưa hết, ngày 27/06/2011, tại Hà Nội, Bùi Tiến Dũng, cùng với 8 tòng phạm khác lại phải ra tòa với tội biển thủ công quỹ với số tiền 3 tỷ 400 triệu đồng, trong dự án xây dựng cầu Bãi Cháy, Quảng Ninh hồi năm 2003.

    (2) Vụ PCI, Nhật hối lộ PMU Việt Nam. Năm 2008, ông Huỳnh Ngọc Sỹ, giám đốc ban quản lý dự án đại lộ Đông Tây, bị bắt do báo chí Nhật Bản tố giác ông đòi và nhận hối lộ 820.000 mỹ kim từ công ty tư vấn Nhật PCI (Pacific Consultants International). Công tố viện Nhật khẳng định là PCI xác nhận đã đưa ông Sỹ tổng cộng 2.600.000 mỹ kim.

    (3) Vụ buôn lậu ở Nam Phi. Vụ này do viên chức tòa đại sứ CSVN tại Nam Phi buôn lậu sừng tê giác. Thật là nhục nhã cho đất nước Việt Nam vì ngay trong ngành ngoại giao cũng buôn lậu. Bản tin của đài truyền hình Nam Phi SABC, phát đi đoạn băng toàn cảnh nhân viên tòa đại sứ CSVN tại thủ đô Pretoria, đang giao dịch mua bán sừng tê giác với một tay buôn lậu ngay trước cửa tòa đại sứ. Trước bằng chứng không thể chối cãi, đại sứ CSVN Trần Duy Thái phải xác nhận người xuất hiện trong đoạn băng chính là bà Bí Thư thứ nhất Vũ Mộc Anh.

    (4) Vụ mua sắm trang bị bưu điện. Với dự án mua trang bị cho 38 bưu điện tỉnh và các thành phố trên toàn quốc do nhà buôn Nguyễn Lâm Thái (NLT) cầm đầu, đã hối lộ hơn 1 tỉ đồng cho Giám Đốc, Phó Giám Đốc, Trưởng Phòng của 9 bưu điện lớn ở Việt Nam.

    (5) Vụ tham nhũng ở Hóc Môn.
    Tháng 8/2009, Tòa Án Nhân Dân thành phố Sài Gòn đã xét xử hai vụ án tham nhũng liên quan đến Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân huyện Hóc Môn Nguyễn Văn Khoẻ. Ngoài 10 bị cáo về tội lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, nhận hối lộ, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, Hội Đồng Xét Xử (HĐXX) còn có 60 nhân chứng. Theo cáo trạng, để xin được dự án khu dân cư và công nghiệp sạch với diện tích hơn 6,9 mẫu tây tại xã Đông Thạnh, Hóc Môn, vợ chồng ông bà Hà & Hòa chủ nhân Công ty Thành Phát, kết thân với Trần Văn Tè (lúc đó là Chủ tịch UBND xã Đông Thạnh), Dương Minh Trung (lúc đó là trưởng phòng tài chính, kế hoạch và đầu tư huyện Hóc Môn) và ông Nguyễn Văn Khỏe, lúc đó là Chủ tịch UBND huyện. Trong thời gian thực hiện dự án này, Công ty Thành Phát đã đưa hối lộ tổng cộng hơn 2 tỷ 200 triệu đồng, và cho các bị cáo mượn hằng tỷ đồng nữa.

    (6) Vụ tham nhũng đất đai tại Sơn La. Đây là vụ tham nhũng đất đai lớn nhất từ trước đến nay ở Sơn La. Lợi dụng trách nhiệm được giao trong thời gian thực hiện các dự án nâng cấp quốc lộ 6 thuộc thành phố Sơn La năm 2002-2005, các bị cáo thực hiện việc kiểm kê và đền bù không đúng quy định. Tám bị cáo đều là cán bộ công chức nhà nước đã làm trái các quy định, gây thiệt hại tài sản cho nhà nước gần 4 tỷ 300 triệu đồng. Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La tuyên án phạt 9 bị cáo.

    (7) Vụ cựu Thống Đốc Ngân Hàng Việt Nam. Ông Lê Đức Thúy, bị báo chí Úc Đại Lợi tố cáo đã nhận hối lộ vụ Việt Nam in tiền giấy nhựa Polymer tại Australia. Vụ hối lộ này đã được chính quyền Australia điều tra trong 20 tháng. Theo nhật báo Anh Financial Times, một người thân cận với giới điều tra cho biết, công ty thầu in tiền Securency mà 50% vốn là Ngân Hàng Quốc Gia Australia, đã thú nhận hối lộ 15 triệu Úc kim cho ông Lê Đức Thúy, bằng cách trả học phí cho con trai của ông là Lê Đức Minh du học trường Đại Học Durham tại Luân Đôn, là trường dành cho con nhà giàu. Ông Lê Đức Thúy là người đứng đầu Ngân Hàng Trung Ương Việt Nam từ năm 1999 đến năm 2007, trước khi được bổ nhiệm làm Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát Tài Chánh Quốc gia.

    Năm 2011. Tập đoàn Công Nghiệp Tàu Thủy Việt Nam Vinashin, cùng hơn 20 tổng công ty liên quan, vừa bị khởi kiện tại tòa án ở London, Anh quốc, vì không trả nợ đúng hạn cho ngân hàng Thụy Sĩ. Viên chức tòa án xác nhận đơn kiện được Tòa Thương Mại, Chi nhánh Queen’s Bench thuộc Tòa Thượng thẩm nhận và mở hồ sơ ngày 01/11/2011, và Cơ Quan Hình Sự Quốc Tế (Interpol) đã phát lệnh truy nã hai cựu lãnh đạo tập đoàn Vinashin, đã làm cho ngành tài chính Việt Nam bị mất uy tín trên thế giới. Hai “bị cáo” này chắc chắn được sự che chắn của nhóm lãnh đạo quyền lực nên nhanh chóng và dễ dàng ra khỏi Việt Nam rồi: “(1) Hồ Ngọc Tùng, nguyên Tổng giám đốc tài chính của tập đoàn Vinashin, xuất ngoại với lý do trị bệnh nhưng không thấy trở về. (2) Giang Kim Đạt, trưởng phòng kinh doanh công ty vận tải viễn dương, một chi nhánh của Vinashin, ra nước ngoài trước khi bị khởi tố”. Báo Tuổi Trẻ cho biết, hai người này thuộc nhóm 10 cựu lãnh đạo và viên chức cao cấp của tập đoàn đóng tàu Vinashin bị truy tố về tội cố ý làm trái các quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, nói rõ hơn là tội tham ô và biển thủ ngân sách. Theo thẩm định chánh thức, tập đoàn Vinashin bị lỗ đến 4 tỷ mỹ kim. Nhưng vào đầu tháng 6/2011, báo chí cho biết Vinashin có thể bị mất thêm 1 tỷ mỹ kim nữa vì bị phạt do không thi hành các hợp đồng. Tháng 8/2011, nhân vật đầu tiên bị bắt do hành vi biển thủ tài sản Vinashin là Tổng Giám Đốc Nguyễn Thanh Bình.

    KẾT LUẬN.

    Xin hỏi: “Có khi nào Các Anh tự hỏi tại sao xã hội chủ nghĩa ưu việt lại quá nhiều tham nhũng như vậy không? Hay Các Anh nhìn những tệ nạn, thậm chí là quốc nạn tham nhũng, chỉ là nếp sống bình thường của những người vô cảm trong xã hội Việt Nam?” Cho dù có, hay không có, mời Các Anh đọc thêm hai đoạn văn dưới đây.

    Trích trong bài viết “Ngày Phán Xét Sẽ Đến” của “Tuổi 20” viết từ Hà Nội, để Các Anh nhận ra “tuổi trẻ Việt Nam” đã vượt lên trên chính sách bịt mắt bịt tai bịt miệng của một chủ nghĩa thối rửa trên chính trường quốc tế: “Trong đêm giao thừa 2012, trước tiên tôi xin cám ơn nhân loại, và đặc biệt cám ơn những người đã sáng tạo ra hệ thống Internet, nhờ đó mà thế hệ trẻ Việt Nam không còn bị giam giữ trong ngục tù ngu dốt của đảng CSVN nữa. Cám ơn ông Bill Gates, ông Steve Jobs, nhờ quí vị mà ngày hôm nay chúng tôi được thênh thang lướt mạng ngay trước mũi bọn Công An. Những bức màn tre, màn sắt trước đây giam giữ cha anh chúng tôi, bây giờ chỉ là trò cười cho thế hệ a-còng (@). Khi những hàng rào ngăn cấm tư tưởng con người bị phá bỏ bằng công nghệ thông tin, khi những bức tường lửa (firewall) trở thành bất lực trước khát vọng tự do, đấy là lúc dân chủ khai sinh. Tuổi trẻ Việt Nam sẽ đồng khởi vùng lên để trả lại tên đường TỰ DO, chúng tôi sẽ nam kỳ khởi nghĩa để đem lại CÔNG LÝ….

    Chúng con xin cám ơn Cha Mẹ đã cho con khối óc chắp cánh bay lên những vì sao cao nhất, và nhận thức được sự giẫy chết của chủ nghĩa xã hội chớ không chủ nghĩa tư bản như người ta đã nói. Cha Mẹ đã dạy chúng con biết thế nào là dân chủ thực sự khi cho phép chúng con nói lên những điều khiến Cha Mẹ lo nhiều, sợ hãi nhiều, Cha Mẹ không bịt miệng chúng con, cũng không bắt chúng con phải suy nghĩ một chiều như đảng CSVN vẫn làm. Chúng con biết tóc Cha Mẹ đang bạc đi vì sợ hãi, để tuổi xanh chúng con vươn lên dưới ánh mặt trời. Xin Cha Mẹ yên tâm, nếu một mai con phải vào tù thì chế độ hôm nay cũng sẽ chẳng còn bao nhiêu thời gian để giam giữ con, bạn bè, và anh chị em chúng con sẽ hàng hàng lớp lớp như thác đổ triều dâng phá đi khung cửa ngục tù, và ngày đó không xa đâu Cha Mẹ. Tại Việt Nam hôm nay làm gì có tự do, chỉ có nhà tù lớn hay nhà tù nhỏ mà thôi. Sợ hãi, chính là tên cai tù nguy hiểm nhất cho mỗi người chúng ta, nhưng khi vượt qua được nỗi sợ hãi thì chính là lúc kẻ thù của chúng ta lo sợ. Con không còn sợ nữa, bạn bè con không còn sợ nữa, chúng con đang tỉnh thức sau đêm dài u mê. Bây giờ là lúc đảng CSVN sợ hãi, chính vì sợ hãi nên chúng ra tay bắt bớ giam cầm bất cứ ai, như con chó điên cắn càn trước khi nhận viên đạn thi ân và bị vất xuống cống. ….”

    Trong đoạn kế tiếp, tác giả như đang nói với nhóm lãnh đạo quyền lực Bộ Chính Trị: “…. Tuổi trẻ Việt Nam ngày hôm nay đã quen với thế giới a-còng (@), iPhone và iPad, sẽ không dễ bị che mắt, bịt mặt, và lừa đảo như thế hệ cha anh chúng tôi. Nếu 14 ông bà bộ chính trị, những đỉnh cao của sở thú còn tin vào quyền năng vô hạn của hơn 700 tờ báo, đài phát thanh, và truyền hình các vị có thể định hướng, dẫn dắt chúng tôi. Hãy tỉnh thức, Việt Nam hôm nay có hằng triệu triệu người trẻ không buồn đọc báo, không thèm nghe đài và đang âm thầm cùng nhau xây thêm ống cống đủ cỡ cho các vị, và các quan tham….. Tuổi trẻ chúng tôi không thích những kẻ loạn ngôn, chúng tôi lợm giọng và buồn nôn khi thấy quý vị ngu dốt, trơ trẽn và vô liêm sỉ đến tột cùng khi tiếp tục lải nhải “Đảng CSVN quang vinh muôn năm”. Có ai lại tôn vinh cái đảng mà bàn tay thấm máu dân mình, cái đảng xây nhà tù nhiều hơn trường học, cái đảng dựng phòng massage nhiều hơn nhà thương, cái đảng đem con gái ra trần truồng phơi bày trước người Đài Loan, Hàn Quốc, … để họ sờ nắn như đi mua gà vịt với một hy vọng mong manh là sớm thoát ra khỏi cái thiên đàng xã hội chủ nghĩa…….”.

    Và đoạn dưới đây trích trong “Lời Kêu Gọi” của ông Đào Văn Nghệ viết ngày 23/10/2010, ông Nghệ là Đại Tá Quân Đội Nhân Dân của Các Anh đó. Ông cất lời than: “Đất nước lâm nguy! Giang sơn rơi lệ! Dân chúng lầm than! …..”
    Rồi ông kêu gọi: “Hỡi toàn dân Việt Nam ở mọi miền đất nước! Hỡi Quân Đội và Công An Việt Nam, hãy bảo vệ cho người dân Việt Nam, như những chiến sĩ Quân Đội và Công An Nga Sô, Ba Lan, Đông Âu trước kia. Họ đã sớm thức tỉnh, nắm lấy thời cơ, cầm súng đứng về phía Nhân Dân, để ngày nay chính họ, gia đình, vợ con họ được dân chủ, ấm no. Họ không còn phải sống trong lo sợ, đói khổ, giả dối dưới chế độ Cộng Sản cũ đầy dối trá và tội lỗi. Chế độ đã bao năm khống chế họ bằng luật rừng, họng súng, nhà tù, cưỡi lên đầu lên cổ nhân dân họ. Bởi vậy, đây là thời điểm nhân dân và đất nước đang cần những anh hùng đứng lên giúp dân làm nên một trang sử, đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên dân chủ, ấm no không còn Cộng sản độc tài. Kỷ nguyên Quốc gia Cộng Hòa….”
    “Quân Đội Nhân Dân còn chờ gì nữa? “Tiên hạ thủ vi cường”. Khẩn cấp tiến hành cách mạng lật đổ chế độ Cộng Sản Hà Nội, kiến lập quốc gia Cộng Hòa Việt Nam…. Tiến hành tổng tuyển cử toàn quốc, để nhân dân được thật sự tự do, ứng cử, bầu cử, tìm những người tài đức lãnh đạo đất nước và có nhiệm kỳ. Thay đổi Hiến Pháp phù hợp với Hiến Pháp chung quốc tế, để bảo vệ quyền con người cho toàn dân. Việt Nam ơi! Thời thế tạo anh hùng. Mẹ Việt Nam ơi! Sinh ra những anh hùng”.


    Xin gởi những hiểu biết cùng với sự suy nghĩ của tôi đến Các Anh, “Những Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam”, hãy bình tâm mà nhận định một chuỗi sự kiện đã diễn ra, và suy nghĩ từ chiều sâu tâm hồn của chính mình chớ không phải tâm hồn của người đảng viên cộng sản. Các Anh đừng đứng nhìn Nhân Dân của mình một cách vô cảm nữa, mà hãy đứng về phía Tuổi Trẻ và Nhân Dân đứng lên giật sập chế độ cộng sản độc tài, tham nhũng, tàn bạo với dân nhưng lại khiếp nhược hèn hạ với Trung Cộng, để mọi người Việt Nam trong nước và hải ngoại cùng nhau vá lại mảnh giang sơn đã rách loang lỗ, xóa tan những “vệt da beo trên da thịt quê hương” do những cơ sở làng mạc Trung Cộng rãi rác khắp nội địa Việt Nam, để xây dựng một nền văn hoá nhân bản khoa học, và phát triển một xã hội dân chủ pháp trị mà mọi người được hưởng một cách tự nhiên những quyền căn bản của mình.
    Tôi vững tin bà con trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại -đặc biệt là Những Người Lính Chúng Tôi- vẫn hết lòng hỗ trợ Các Anh và quí vị đồng bào, những thế hệ làm nên lịch sử.

    “Tự Do, phải chính chúng ta tranh đấu, vì Tự Do không phải là quà tặng”.
    Texas, tháng 2 năm 2012


    Tin đặc biệt gởi Các Anh đọc:

    Tin nhạc sĩ Việt Khang (Võ Minh Trí, Mỹ Tho) bị bắt tháng 12/2011 đã làm tràn ly nước, ly nước đầy lòng uất hận và căm phẫn của người dân đối với lãnh đạo CSVN. Cộng Đồng chúng tôi tị nạn cộng sản tại Hoa Kỳ đã cùng nhau ký vào “Thư Thỉnh Nguyện” gởi trực tiếp Tổng Thống Hoa Kỳ, can thiệp với lãnh đạo CSVN trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm và tù nhân chính trị, kể cả nhạc sĩ Việt Khang. “Tù nhân”, là những người bị bắt chỉ vì nói lên tiếng nói yêu quê hương trước sự lấn chiếm khống chế của Trung Cộng, hát lên tiếng hát thương đồng bào phải sống dưới chế độ độc tài, bị tước đoạt quyền sở hữu đất đai, quyền sở hữu tư tưởng, và quyền làm người của 89 triệu đồng bào trên quê hương Việt Nam.


    Tổng Thống chỉ cần 25.000 thư thỉnh nguyện trong vòng 30 ngày kể từ 0 giờ ngày 08/02/2012, nhưng đến 4 giờ 26 phút chiều 19/02/2012 -tức ngày thứ 12/30- văn phòng Tổng Thống Hoa Kỳ đã nhận 53.722 thư thỉnh nguyện và vẫn tiếp tục gia tăng, cho thấy sức mạnh của Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại nói chung, và tại Hoa Kỳ nói riêng. Sức mạnh này là “Vũ Khí Nhân Quyền”, sẽ tác động mạnh mẽ vào những chính sách của Hoa Kỳ trong bang giao với Việt Nam cộng sản, từ đó gia tăng sức mạnh cho thành phần đấu tranh ôn hòa trên quê hương trong cuộc chiến giành lại quyền làm người cho đồng bào. Bởi, giai đoạn hiện nay và trước mắt, những tiến bộ trong bang giao với Việt Nam, Quốc Hội và chánh phủ Hoa Kỳ đặt trên căn bản “những tiến bộ về Nhân Quyền tại Việt Nam”.


    Xin hỏi: “Các Anh có suy nghĩ gì không?” Nếu không, thì Các Anh là ai? Nếu có, thì Các Anh đừng dành thì giờ để ân hận bất cứ điều gì, mà hãy nghĩ bằng cách nào đó để đứng vào hàng ngũ Tuổi Trẻ và Đồng Bào, chính Các Anh tự lột xác từ “những thần dân” trở thành “những Công Dân” và làm tròn bổn phận với Dân với Nước. Đó cũng là cách đẹp nhất mà Các Anh góp phần giúp cho những thế hệ Con Cháu được hưởng tròn vẹn quyền làm người trong một xã hội văn minh lịch sự, lúc ấy người ngoại quốc sẽ trân trọng khi nghe nói đến DÂN TỘC VIỆT NAM./.

  8. The Following 6 Users Say Thank You to tieuchuy For This Useful Post:

    bebau (02-22-2012), Hoanghac (08-16-2012), khongquan2 (04-21-2012), muahong (06-28-2013), TAM73F (02-22-2012), Tinh Hoai Huong (05-10-2013)

  9. #5
    tieuchuy's Avatar
    Status : tieuchuy v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Feb 2010
    Posts: 191
    Thanks: 3
    Thanked 331 Times in 133 Posts

    Default Thư số 5 gởi Người Lính Quân Đội Nhân Việt Nam

    Thư số 5 gởi
    Người Lính Quân Đội Nhân Việt Nam

    *********
    Phạm Bá Hoa

    Tôi tên Phạm Bá Hoa, chào đời năm 1930 tại đồng bằng sông Cửu Long. Tôi phục vụ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 21 năm trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc, sau đó, tôi bị tù không án 12 năm 3 tháng trong các “trại tập trung” mà lãnh đạo của Các Anh gọi là “trại cải tạo”. Hiện cư ngụ tại Hoa Kỳ.
    Xin được gọi “Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam” là Các Anh để tiện trình bày. Chữ “người lính” mà tôi sử dụng ở đây, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lãnh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng, gọi chung là “cấp lãnh đạo quân đội”. Là người lính trong quân đội “Nhân Dân”, chắc rằng Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, vì Tổ Quốc & Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng chính trị nào cũng chỉ là một giai đoạn của lịch sử. Và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó.


    Bài này do tham khảo và trích dẫn trong một số bài của các tác giả Nguyễn Phát Quan, Huỳnh Ngọc Tuấn, Lê Mạnh Hùng, đài RFI, RFA, và trang báo điện tử trên internet, tôi mời Các Anh tiếp tục nhìn lại “Chân Dung Xã Hội Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” qua góc cạnh rất bình thường trong cuộc sống, xoay quanh hai chữ “đât đai”. Từ nhiều ngàn năm trước, đất đai là vấn đề chìm sâu trong đời sống mọi người, nhưng từ khi có đảng CSVN nhất là từ năm 1945, đất đai trở thành tai họa ập xuống toàn dân Việt, trong đó có Các Anh và thân nhân thân quyến Các Anh, được lãnh đạo CSVN ẩn dưới nhóm chữ “Đất đai sở hữu toàn dân”. Đây là một trong những tội ác của lãnh đạo CSVN, vì đã gieo rắc đau khổ triền miên cho dân tộc từ khi có đảng!

    1. LUẬT ĐẤT ĐAI.

    Khởi thủy là Luật Đất Đai 1988. Sau đó được thay thế bởi Luật Đất Đai 1993, được tu chỉnh năm 1998 và 2001. Mười năm sau, Luật Đất Đai 2003 ban hành, thay thế Luật Đất Đai 1993 và tất cả những văn kiện liên quan ban hành trước đó, hiệu lực từ ngày 1/7/2004. Luật Đất Đai có 146 Điều trong 6 Chương, có các điểm chính: (1) Đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân, do nhà nước bao gồm Quốc Hội, Chính Phủ, Ủy Ban Nhân Dân cấp tỉnh và huyện quản lý. (2) Đất được chia làm 3 loại: “Đất nông nghiệp, đất không sử dụng trong nông nghiệp, và đất bỏ hoang. (3) Người được sử dụng đất với thời hạn 20 năm để nuôi thủy sản, và 50 năm để trồng cây dài hạn, có quyền chuyển nhượng. (4) Mỗi năm cho phép sử dụng đến 100.000 mẫu đất nông nghiệp vào mục đích kinh doanh”. Nhóm lãnh đạo trong Bộ Chính Trị CSVN, đã dựa trên lý luận ngang ngược chẳng khác những nhóm cướp đường, cướp biển, cướp núi, rồi tự cho mình cái quyền sở hữu toàn bộ đất đai trên dãi đất hình cong chữ S, rằng: “Đất đai là kết quả của thời kỳ chế ngự thiên nhiên chớ không của riêng ai. Không một cá nhân nào có thể khai phá và giữ gìn bất cứ mảnh đất nào, để rồi nói là của mình. Họ chỉ có công khai phá và sử dụng.”

    2. NGUYÊN NHÂN THAM NHŨNG.

    Tôi nhấn mạnh để Các Anh nhớ rằng, mỗi cá nhân cũng như mỗi gia đình, cần có một diện tích đất để ở. Mỗi người dân bất cứ là ngành nghề nào trong xã hội, cần một lượng gạo làm lương thực, với một lượng thủy sản & thịt động vật làm thực phẩm để sống. Như vậy, nông dân cũng như ngư dân, ngoài diện tích đất để ở, còn cần một diện tích đất để trồng lúa, để chăn nuôi gia súc và thủy sản, cung cấp cho người dân trong nước. Nhưng sau khi đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa cuối tháng 4/1975, lãnh đạo CSVN đã gom đất đai trên toàn cõi Việt Nam dưới nhóm chữ “sở hữu toàn dân” vào tay nhóm lãnh đạo tự xưng là “đỉnh cao trí tuệ” trong Bộ Chính Trị, nhưng thực tế cho thấy họ là “đỉnh cao gian trá”. Về phía người dân, sau khi bị tước đoạt quyền sở hữu đất đai chỉ được phép sử dụng đất ngang qua chính sách “dân xin đảng cho”, còn cho hay không cho, hoặc cho bao nhiêu, tùy mức độ quyền lợi của lãnh đạo có thẩm quyền. Vậy mà “ông Hồ và các nhóm lãnh đạo của Các Anh” gian dối với nhân dân rằng: “Nhân dân là Chủ, cán bộ là Đầy Tớ”, nhưng mỗi khi “Chủ” có việc phải đến cơ quan thì bị “Đầy Tớ” sách nhiễu đến khi “Chủ” móc túi hay mở tủ thì “Đầy Tớ” vui vẻ giải quyết.
    Lãnh đạo nhà nước xuống đến cấp Huyện, có quyền quyết định giao đất cho các tổ chức, gia đình, hay cá nhân, sử dụng trong thời hạn nhất định. Đồng thời, cũng có quyền quyết định thu hồi đất để sử dụng theo cách riêng có lợi cho bản thân lồng dưới nhóm chữ “lợi ích nhà nước. Vậy, luật đất đai đã tạo cho các cấp lãnh đạo trong bộ máy đảng lẫn bộ máy nhà nước cái quyền tham nhũng không giới hạn, miệng thì nói đến “luật pháp nghiêm minh” nhưng hành động cho quyền lợi riêng tư thì đứng trên pháp luật. Với những vụ tham nhũng của nhóm lãnh đạo trong Bộ Chính Trị thì họ tự che chắn cho nhau, với những vụ tham nhũng của lãnh đạo cấp dưới mà không thể che giấu lấp liếm thì lãnh đạo cấp trên che chắn cho họ, vì họ cùng chia chác nhau trong hệ thống tham nhũng và cùng nhau bảo vệ đảng. Trong nhiều trường hợp tham nhũng, lãnh đạo các địa phương đã sử dụng quân đội nhân dân, công an nhân dân và côn đồ nhân dân, để “trấn áp nhân dân”, thậm chí “tấn công nhân dân” chẳng khác tấn công kẻ thù. Chắc chắn và rõ ràng, đây là nguyên nhân tham nhũng trong lãnh vực đất đai.

    3. THAM NHŨNG.

    Mời Các Anh nhìn lại một số sự kiện dưới đây:
    Năm 2002, tại quận Hoài Đức tỉnh Hà Tây, khi Công An, viên chức, và công nhân, dùng vũ khí buộc khoảng 190 người trong 38 gia đình phải dọn khỏi vùng giải tỏa để xây khu công nghiệp, thì cuộc xô sát xảy ra. Tại đại hội đảng, Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh vừa cảnh báo vừa dạy dỗ các đảng viên rằng: “Những xáo trộn xã hội sẽ gây ra những bất ổn”. Ông Mạnh nói tiếp: “Tội ác và đồi trụy lan rộng, cùng với tình trạng tham nhũng của một số đảng viên và viên chức nhà nước”.

    Các Anh thấy không, ông Mạnh nói tỉnh bơ cứ như ông ấy không hề tham nhũng, không hề gây tội ác vậy. Khi đảng viên lên hàng lãnh đạo đều giống nhau ở điểm “nói dai, nói dài, nói không giống ai, chỉ giống người nói đại, nói như thể mình là người có tài”, nhưng thật ra họ tệ hơn những đảng viên mà ông Mạnh nói nữa.
    Năm 2003-2004. Theo Viện Kiểm Sát Nhân Dân, trong những năm qua, mỗi năm nhận từ 5.000 đến 7.000 đơn khiếu nại thưa kiện. Đến cuối năm 2003, có hơn 120.000 đơn của dân bị oan ức về đất đai. Những lệnh thu hồi đất của đồng bào thiểu số Cao Nguyên trong những năm 2001-2004, đã dẫn đến những hành động phản kháng mạnh mẽ, đáng kể là trường hợp đồng bào tỉnh Bắc Giang đã dùng vũ khí thô sơ như giáo mác, gậy gộc cuốc xẻng, chống đối nhà nước thu hồi đất để công ty Đại Hàn xây dựng sân Golf, đến mức “đầy tớ của nhân dân” đưa “quân đội nhân dân” đến “đàn áp nhân dân” để chiếm đoạt cho bằng được “đất đai của nhân dân”, vừa có tiền đút lót vừa có chỗ cho lãnh đạo tham nhũng giải trí!

    Nhân vụ này tôi có câu hỏi: “Có khi nào Các Anh suy nghĩ: Tại sao quân đội nhân dân lại đàn áp nhân dân không? Nếu không, thật sự Các Anh là ai mà vô cảm đến như vậy? Nếu có, Các Anh đã hành động như thế nào đối với dân oan khi thi hành lệnh cấp trên?”
    Năm 2005. Những người dân khiếu kiện đã gởi ra hải ngoại một lá thư kêu cứu có 44 người ký tên thay mặt cho: (1) 900 gia đình ở thôn Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nội. (2) 560 gia Đình ở xã Lai Vũ, Hải Dương. (3) 100 gia đình ở tỉnh Thái Bình. (4) Và 200 gia đình ở tỉnh Bắc Giang. Thư kêu cứu cho biết các đoàn dân oan thường xuyên có mặt tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng (Hà Nội) để kêu oan, nhưng không cơ quan nào nhân vật nào tiếp xúc cả.
    Trước sự kiện ngày càng có nhiều cuộc biểu tình, ông Nông Đức Mạnh đã phang một câu: “Chế độ dân chủ của chúng ta ngày càng loạn.” Sau đó, nhà nước CSVN ban hành Nghị Định số 38 ngày 18/3/2005, quy định các biện pháp bảo đảm trật tự công cộng với những biện pháp ngăn chặn các cuộc biểu tình. Và Bộ Công An ban hành Thông Tư số 09, “cấm những cuộc tập trung từ năm người trở lên”.

    Tôi nghĩ, chắc Các Anh nghe quen rồi nên không cảm nhận được gì trong câu nói của ông Mạnh, nhưng với tôi thì hai chữ “dân chủ” mà ông Mạnh nói nó tàn bạo lắm! Bởi, Việt Nam áp dụng: (1) Chế độ độc đảng trong chính trị, vì duy nhất chỉ có đảng cộng sản là đảng chính trị. (2) Độc tài trong cầm quyền, vì chỉ có đảng cộng sản cầm quyền. (3) Độc tài trong truyền thông, vì toàn bộ hệ thống phát thanh, phát hình, báo chí, ..v..v.. trong tay của đảng cộng sản. (4) Độc tài trong Quốc Hội, vì gần 90% là những cấp lãnh đạo từ Bộ Chính Trị xuống đến tận cùng hệ thống tổ chức đảng và tổ chức nhà nước, đều là Đại Biểu. (5) Độc tài trong tư tưởng, vì bất cứ ai suy nghĩ khác hành động khác với đảng và nhà nước cộng sản, sẽ là tội phạm và bị bắt. (6) Độc tài trong luật pháp, vì tất cả viên chức từ cơ quan điều tra đến viên chức trong phiên tòa đều là đảng viên cộng sản. (7) Độc tài sở hữu đất đai, vì chỉ có đảng cộng sản là chủ nhân toàn bộ đất đai.

    Một quốc gia độc tài như vậy mà ông Mạnh dám nói đến dân chủ. Liệu ông Mạnh có hiểu được nghĩa của hai chữ “Dân Chủ” không nhỉ? Hay là lãnh đạo CSVN chỉ có tài khôn vặt (chớ không có tài lãnh đạo), nên hiểu biết chỉ có đến ngần ấy thôi? Thật lòng mà nói, lãnh đạo của Các Anh là ai mà lạnh lùng vô cảm với nỗi khổ của dân tộc Việt Nam đến như vậy? Cũng nói thêm rằng, lãnh đạo CSVN rất sợ người dân, vì đâu có ai chấp nhận chế độ độc tài nên lúc nào họ cũng sợ người dân lật đổ, họ mới chuyển nỗi sợ hãi của họ sang người dân mà phương tiện chính là Công An, đôi khi có cả Các Anh nữa. Lãnh đạo đảng với nhà nước chỉ cho thấy, cho nghe, cho nói, những gì mà họ cho phép, vì đội ngũ nhân viên truyền thông “lề phải” xã hội chủ nghĩa chỉ thi hành chính sách bịt mắt bịt tai bịt miệng mọi người dưới quyền cai trị của họ. Trong khi những nhà báo “lề trái” là phục vụ đồng bào, dù khó khăn trong cuộc sống, dù phải tránh né Công An rình mò (mời Các Anh đọc thêm bản tin Việt Khang ở cuối bài).
    Năm 2001-2006. Theo Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn, khoảng 376,000 mẫu trồng lúa đã bị thu hồi làm một triệu nông dân không có đất canh tác để sống. Vì vậy mà Luật Đất Đai 2003 nhắm đơn giản hóa thủ tục cho các hợp đồng lớn, cũng từ đó mà nông dân bị mất đất ngày càng nhiều hơn, nhanh hơn. Cũng theo Bộ này thì số lượng các đoàn có đông dân oan gia tăng trong những năm gần đây: (1) Năm 2008 với gần 1.000 đoàn. (2) Năm 2009 khoảng 2.500 đoàn. (3) Năm 2010 với hơn 3.500 đoàn.

    Các Anh thử làm bài toán bằng cách dùng con số 3.500 đoàn DÂN OAN của năm 2010 x 20 người (trung bình của mỗi đoàn) có ngay con số 70.000 người. Với ngần ấy người bỏ công ăn việc làm từ nhiều địa phương nhất là trong Nam xa xôi lặn lội đến đất Bắc, sống vất vưỡng ở những nơi công cộng để mong được nhà nước giải quyết nỗi đau mất đất mất nhà cửa tài sản của họ, nhưng các cơ quan có trách nhiệm chỉ cần có tấm bảng trưng trước cơ quan làm cảnh, còn viên chức thì bất động cứ như không nghe không thấy không biết gì về nỗi oan ức của người dân xã hội chủ nghĩa rất đáng thương và tội nghiệp. Tôi có ý kiến: “Các Anh thử tìm đến đoàn dân oan nào đó, cố gắng tiếp xúc một vài người, và dùng con tim của Các Anh trao đổi với họ như lời tâm sự chia sẻ cho nhau qua tình người dân Việt, tình Người Lính với tình Người Dân, tôi tin là Các Anh sẽ cảm nhận được nỗi đau cũng từ con tim của họ”. Các Anh nghĩ sao?
    Sau khi tóm tắt một số trường hợp dân oan về đất đai, bây giờ mời Các Anh nhìn vào vụ cưỡng chế đất đai của ông Đoàn Văn Vươn, ông ta là cựu chiến binh của Các Anh đó. Sau khi trở về đời sống dân thường, ông Vươn theo học đại học Nông Nghiệp, tốt nghiệp Kỹ Sư. Và chuyện bắt đầu được nhìn thấy từ ngày 5/1/2012, những ngày trước Tết Nguyên Đán Nhâm Thìn.

    Căn cứ Điều 37 Luật Đất Đai 2003, ông Vươn xin phép và được sử dụng 50 mẫu tây đất ven biển để nuôi thủy sản trong 20 năm. Đây là vùng đất mà không ai dám nghĩ sẽ sản xuất được gì, thế nhưng ông Vươn và gia đình từ 1993, với sáng kiến, kiên nhẫn, tiền bạc, và bao công sức trong hằng chục năm để ngăn sóng, đắp đồng, đã biến khu đầm lầy bỏ hoang, biển mặn, thành khu đất bồi ven biển, trồng cây và nuôi thủy sản. Khi mà “những sản phẩm” sắp đưa vào thị trường thì lãnh đạo của ông tại Xã, Huyện, và thành phố Hải Phòng, ra lệnh cưỡng chế thu hồi toàn bộ phần đất mà ông còn trong thời hạn sử dụng. Ông Vươn khởi kiện. Huyện Tiên Lãng bác đơn, ông Vươn kháng cáo lên tòa án Hải Phòng. Lúc ấy, lãnh đạo Huyện tiếp xúc với ông, dụ dỗ ông Vươn rút đơn kháng cáo thì Huyện cho ông tiếp tục sử dụng đất. Nhưng khi ông Vươn rút đơn kháng cáo thì huyện Tiên Lãng lập tức thi hành cưỡng chế.
    Các Anh thấy chưa, những “đầy tớ lãnh đạo” Huyện Tiên Lãng đã lừa dối “chủ” là ông Vươn. Sự kiện này nhìn theo góc cạnh đạo lý con người là không đúng, nhưng nhìn theo góc cạnh đảng viên thì “những đầy tớ” đó làm đúng theo bản chất của đảng cộng sản. Bởi, từ ngày dẫn đoàn quân xâm lăng từ ngoài rừng tràn vào các thành phố của Việt Nam Cộng Hòa năm 1975 đến nay, lãnh đạo CSVN đã “xây dựng” được một xã hội mà mọi người phải sống với nhau bằng những lọc lừa dối trá. Vì, nếu không như vậy thì không phải là cộng sản.
    Giả thử, nếu Các Anh ở vào trường hợp của ông Vươn, Các Anh có căm phẫn không? Có chớ hả! Và sự căm phẫn đó đã dẫn ông Vươn đến phản ứng tự vệ. Với kiến thức đại học, cộng với những hiểu biết khi là Người Lính trong “quân đội nhân dân” Các Anh, ông tự làm ra “chất nổ và súng hoa cải” để thể hiện sự phẫn uất của người dân cô thế bị lãnh đạo tìm cách cướp đoạt tài sản bằng mồ hôi nước mắt của ông và gia đình, chớ loại vũ khí đó làm sao ngăn chận được Quân Đội với Công An.

    Ngày 5/1/2012, đoàn quân đông đảo hơn 100 người gồm cán bộ các ngành, Công An, Quân Đội, kéo đến cưỡng bách ông Vươn phải thi hành lệnh giao trả khu đất bồi, dù còn trong thời hạn mà ông Vươn được quyền sử dụng. Với phản ứng mạnh mẽ của ông Vươn và gia đình trong ngôi nhà trơ trọi, đoàn quân cướp đất có mấy người bị thương. Ngày hôm sau, lãnh đạo cho máy ủi đến ủi sập nhà ông Vươn, san bằng khu đất, đốt phá hết vật dụng, tài sản, và phong tỏa khu đất. “Công An nhân dân đầy tớ” bắt “nhân dân chủ” là Đoàn Văn Vươn cùng gia đình ông, truy tố như vụ án giết nhân viên nhà nước thi hành công vụ.
    Mời Các Anh nghe ông Phil Robertson, Phó Giám Đốc Khu Vực Châu Á thuộc tổ chức theo dõi nhân quyền thế giới, nhận định về trường hợp ông Vươn: "Hành động này cho thấy sự cùng quẫn mà gia đình này phải đối mặt vì họ không còn con đường nào khác. Nó cho thấy sự thoái hóa của chính quyền địa phương, nó cho thấy sự mất lòng tin vào việc thực thi luật pháp, nó cũng cho thấy ngày càng nhiều suy nghĩ là chân lý thuộc về kẻ mạnh tại Việt Nam, và nó vượt qua cái gọi là nhà nước pháp quyền mà chính quyền Hà Nội thích nói về mình." (RFI ngày 1/2/2012)
    Các Anh có thấy là người ngoại quốc còn nhận ra tình cảnh người dân Việt Nam bị lãnh đạo ức hiếp đến mức không còn sợ chết để bảo vệ tài sản của họ không?.

    Rồi nhìn vào phản ứng của:
    (1) Nguyễn Tấn Dũng, Thủ Tướng, cũng là “đại biểu Quốc Hội” của nhân dân Tiên Lãng, xuống Hải Phòng nghe tường trình sự việc, rồi kết luận: “Hành động của Xã, Huyện, và Hải Phòng là sai”. Rồi ông nhép miệng ra lệnh cho các cơ quan trực thuộc điều tra và báo cáo. Vậy là xong.
    (2) Ngày 16/1/2012, trên báo Lao Động đăng lời nhận định của ông Lê Đức Anh, một thời là Chủ Tịch Nước của Các Anh: “Chính quyền từ Xã đến Huyện đều sai”.
    (3) Ngày 18/1/2012, Đại Tá Đỗ Hữu Ca, Giám Đốc Công An Nhân Dân Hải Phòng kết luận vụ việc trên màn ảnh truyền hình Hải Phòng rằng: “… Sau khi lực lượng chống tội phạm khám nghiệm hiện trường xong, giao lại cho địa phương, thì chính những người dân chung quanh đấy người ta vào đạp đổ, phá đổ. Cho nên việc phá cái chòi ấy cho đến bây giờ chúng tôi kiểm tra lại không có ai ra lệnh phá cái nhà ấy, mà cũng không biết ai phá vì nhân dân lúc ấy đứng rất đông."
    (4) Tương tự như vậy, ông Đỗ Trung Thoại, Phó Chủ Tịch Hải Phòng, tuyên bố trong buổi họp báo tại Hà Nội rằng: “.. người dân bất bình đã phá nhà của gia đình ông Vươn”.
    (5) Tại câu lạc bộ Bạch Đằng, ông Nguyễn Văn Thành, Bí thư thành ủy Hải Phòng, nói như lời thách thức Thủ Tướng của ông, rằng: “… Báo chí nói sai, ghép ảnh chỗ khác vào chứ đâu có chuyện xe ủi nhà ông Vươn…
    (6) Nhưng nhân chứng là ông Lê Văn Kết, nói với báo chí rằng: “Anh Khanh, anh Hoan, và anh Liêm, nhờ tôi gọi máy xúc để ban cưỡng chế giải tỏa mặt bằng. Tôi điện thoại cho anh Thái, chủ máy xúc ở Hồng Thắng, nhưng anh ấy bận nên tôi gọi anh Đỗ Văn Thoàn, chủ máy xúc ở Tiên Hưng. Lúc 8 giờ sáng, ông Hoan, ông Liêm, và nhiều người trong ban cưỡng chế có mặt tại khu vực nhà ông Vươn. Tôi làm theo sự chỉ đạo của ban cưỡng chế mà trực tiếp là ông Hoan với ông Liêm trong công tác ủi sập và san bằng nhà ông Vươn. Đến 11 giờ thì xong, tôi đưa đề nghị thanh toán cho ông Hoan, với tiền công 1.500.000 đồng sau 3 tiếng đồng hồ làm việc”.
    (7) Thiếu Tướng Phạm Chuyên, nguyên Giám Đốc Công An Hà Nội, đã cùng một số cựu đảng viên và trí thức đến Tiên Lãng thăm căn nhà của ông Vươn đã bị tàn phá và tìm hiểu sự việc. Ông ta lên tiếng đề nghị cách chức ngay Bí Thư, Chủ Tịch và Giám Đốc Công An Hải Phòng, và tha bổng cho Đoàn Văn Vươn.
    Về phía nạn nhân, Bà Hiền (vợ ông Vươn) nói như một lời than: “Cơ quan điều tra ngăn cản luật sư, họ không cho luật sư tiếp xúc với những người trong gia đình nhà em”. Chình luật sư cũng nói: “Không hiểu lý vì do gì mà Công An Hải Phòng vẫn không cho ông (luật sư) tiếp xúc với bị can."

    Tôi nhấn mạnh vài điểm hầu giúp Các Anh dễ nhận ra một xã hội độc tài dối trá:
    (1) Ông Nguyễn Tấn Dũng vừa là thành viên trong Bộ Chính Trị, lại là Đại Biểu nhân dân Tiên Lãng trong Quốc Hội. Các Anh thử nhìn vào sân cỏ của một trận banh hào hứng nào đó, nếu Các Anh thấy một người vừa là cầu thủ lại vừa là trọng tài, Các Anh có thấy quái đản không? Thủ Tướng của Các Anh cũng vậy đó, vừa là đại biểu của dân vừa là trong hàng ngũ lãnh đạo tham nhũng, vậy mà chỉ nhép miệng ra lệnh điều tra là xong chớ đâu có bảo vệ cử tri của ông ta. Các Anh cũng nên nhớ rằng, lãnh đạo trung ương ra lệnh là việc của trung ương, còn địa phương có thi hành hay không là việc của địa phương, vì trong cùng hệ thống tham nhũng với nhau mà.
    (2) Ông Ca với ông Thoại, cả hai cùng dựng chuyện nói dối việc ủi sập nhà ông Vươn là do người dân địa phương, trong khi người dân trong vùng không ai có máy ủi thì làm sao ủi sập nhà xây bằng gạch. Thêm nữa, nếu không dối trá thì tại sao Công An tìm mọi cách ngăn chận luật sư tiếp xúc với ông Vươn?
    (3) Trái với lời dối trá trắng trợn của Giám Đốc Công An và Phó Chủ Tịch Hải Phòng, người lái xe ủi và ủi sập rồi san bằng nhà ông Vươn đã tường thuật rõ ràng. Chưa hết, người dân trong vùng cũng như nhiều người dân oan về đất đai từ nhiều nơi trong Nam lẫn ngoài Bắc, đến tận nền nhà ông Vươn mà chia sẻ nỗi đau của ông và gia đình, vì gia đình họ cũng uất ức phẫn nộ khi bị nhà cầm quyền địa phương cưỡng chế thu hồi đất đai đến mức không còn nhà ở, cũng không còn phương tiện sinh nhai.

    Sự kiện cưỡng chế đất đai của ông Đoàn Văn Vươn làm tràn ly nước. Đúng, ly nước đầy lòng căm phẫn của hằng chục ngàn, thậm chí là hằng trăm ngàn gia đình nông dân bị cưỡng chế đất đai đã tràn thật rồi, và nhờ ly nước tràn mới biết thêm những vụ cưỡng chế đất đai trước đó.
    (1) Ông Nguyễn Thế Đọc, chủ đầm nuôi tôm cũng ở Tiên Lãng. Đầu năm 1998, Huyện ký quyết định cho ông thuê 30 mẫu tây đất đầm bãi nuôi thủy sản. Chưa hết thời hạn mà có quyết định thu hồi nhưng ghi rõ “không đền bù”. Ông Đọc không bàn giao. Ông Đọc đưa đơn kiến nghị Huyện tiếp tục cho thuê đất vì chưa hết hạn sử dụng, Huyện không giải quyết. Ngày 18/2/2008, Chủ Tịch Huyện Tiên Lãng tên Lê Văn Hiền, mời ông Đọc lên trụ sở huyện làm việc, và khẳng định sẽ thực hiện cưỡng chế nếu gia đình không bàn giao đầm. Sáng 23/8/2008, cả trăm dân quân, tự vệ, công an viên, lực lượng liên ngành của 4 xã và từ Huyện kéo đến đầm tôm của ông Đọc. Khi đưa máy xúc đến phá đầm, gia đình ông Đọc huy động gần 50 người ra phản kháng, ông yêu cầu lập biên bản về việc tại sao phá đầm. Biên bản lập xong, có chữ ký đầy đủ của ban ngành. Thấy không chiếm được, họ rút lui”.
    (2) Tại Sài Gòn, ông Nguyễn Xuân Ngữ, cũng là cựu chiến binh, đã nhiều lần gởi thư lên Thủ Tướng và lãnh đạo Quốc Hội, Bộ Quốc Phòng, Hội Cựu Chiến Binh. Và gần nhất là ngày 29/1/2012, ông gởi thư cho Trương Tấn Sang, Chủ Tịch Nước. Tóm tắt nội vụ: “Khi đất nước chiến tranh, tôi cũng như triệu triệu thanh niên Miền Bắc đáp lời Đảng gọi. Rất sẵn sàng lúc Đảng gọi thanh niên chiến đấu giỏi cho xóm làng bình yên. Tôi cũng được lịch sử “Kính chào anh con người đẹp nhất, lịch sử hôn anh… Năm 2000, tôi về hưu ở Phường Long Mỹ, Quận 9 Sài Gòn. Hai năm trước đó, tôi mua thửa đất với diện tích 3.601 m2, xây ngôi nhà và một trang trại để kiếm sống khi về hưu vì đồng lương hưu ít ỏi. Năm 2003, Quận 9 ra lệnh miệng thu hồi thửa đất vì nơi đây sẽ xây dựng khu công nghệ cao, và ép gia đình tôi đến ở trong khu nhà trọ, số 41 đường Tăng Nhơn Phú, cũng thuộc Quận 9. Chính quyền Quận 9 được Chủ Tịch thành phố chấp thuận cho tàn phá, hủy diệt, và cướp hết. Nhà mất, trang trại mất, tiền của đổ vào xây dựng mất, vật nuôi bị cướp mất, đất đai mất… Tất cả, tất cả đều mất… Bố tôi sau Cách Mạng Tháng 8 theo Việt Minh bị thực dân Pháp bắt và giết ngay, nhà cửa bị đốt nhưng họ không cướp gia súc gia cầm, không ủi sập hết tường. Nay, tôi là Việt Cộng bị những ông đảng viên đảng CSVN Quận 9 cướp hết. Tất cả… tất cả đều mất, và đang chết dở, sống dở chớ không chết ngay như Bố tôi trước đây. Đảng CSVN, Quốc Hội nước CHXHCNVN hãy cứu giúp gia đình tôi. Nhà Nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền, sao thành phố không có pháp luật? Chủ Tịch UBND thành phố lại chấp nhận sự chỉ đạo của ông Phó Chủ Tịch Quận 9 phụ trách nhà đất chỉ có văn hóa lớp 5. Trước khi là Phó Chủ Tịch Ủy Ban, ông chỉ là người chăn vịt mướn. Hơn nữa, ông chăn vịt còn vô hiệu hoá cả Thanh Tra Chính Phủ”.

    4. KẾT LUẬN.

    Đến đây, tôi nghĩ là trong một chừng mực nào đó, Các Anh đã hiểu được “đất đai sở hữu toàn dân” nó tác hại như thế nào với người dân nông thôn và người dân ven biển phải không? Nếu hiểu được, Các Anh hãy dành chút thì giờ để bình tâm mà nhận định chuỗi sự kiện vừa đọc, và suy nghĩ từ chiều sâu tâm hồn của chính Các Anh chớ không phải tâm hồn của người đảng viên cộng sản. Mong Các Anh đừng đứng nhìn một cách vô cảm nữa, mà hãy đứng về phía đồng bào và hành động đúng với bổn phận công dân là Bảo Vệ Tổ Quốc, Bảo Vệ Nhân Dân.
    Tôi vững tin rằng, bà con trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại -đặc biệt là Những Người Cựu Lính Chúng Tôi- vẫn hết lòng hỗ trợ Các Anh và quí vị đồng bào, những thế hệ làm nên lịch sử.
    “Tự Do, phải chính chúng ta tranh đấu, vì Tự Do không phải là quà tặng”.

    Texas, tháng 3 năm 2012.
    *********

    Trở lại tin về nhạc sĩ Việt Khang.
    Tin nhạc sĩ Việt Khang (Võ Minh Trí, Mỹ Tho) bị bắt tháng 12/2011 đã làm tràn ly nước. Đúng, ly nước đầy lòng căm phẫn của người dân đối với lãnh đạo CSVN, về hành động tào bạo với dân nhưng khiếp nhược hèn hạ với Trung Cộng đã tràn thật rồi. Cộng Đồng chúng tôi tại Hoa Kỳ đã cùng nhau ký vào “Thư Thỉnh Nguyện” (một phương tiện chuyển đạt ý kiến của người dân) gởi trực tiếp Tổng Thống Hoa Kỳ, can thiệp với lãnh đạo CSVN trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm và tù nhân chính trị, kể cả nhạc sĩ Việt Khang. “Tù nhân”, là những người bị bắt chỉ vì viết lên trang giấy phơi trải nỗi giày vò từ trong chiều sâu tâm thức của mình đối với quê hương dân tộc, nói lên tiếng nói yêu quê hương trước sự lấn chiếm khống chế của Trung Cộng, hát lên tiếng hát thương đồng bào phải sống dưới chế độ độc tài, bị tước đoạt quyền sở hữu đất đai, quyền sở hữu tư tưởng, nói chung là quyền làm người của 89 triệu đồng bào trên quê hương Việt Nam.

    Ít nhất phải có 25.000 thư thỉnh nguyện gởi đến tòa Bạch Ốc (White House) trong vòng 30 ngày kể từ 0 giờ ngày 08/02/2012 thì yêu cầu của Cộng Đồng sẽ được cứu xét. Đến hết ngày thứ 30/30 (8/3/2012) chung cuộc, tòa Bạch Ốc đã nhận 148.773 thư thỉnh nguyện. Đây là sức mạnh của Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại nói chung, và tại Hoa Kỳ nói riêng. Sức mạnh này là “Vũ Khí Nhân Quyền”, sẽ tác động mạnh mẽ vào những chính sách của Hoa Kỳ trong bang giao (mà Các Anh gọi là quan hệ) với Việt Nam, từ đó gia tăng sức mạnh cho thành phần đấu tranh ôn hòa trên quê hương trong cuộc chiến giành lại quyền làm người cho đồng bào. Bởi, giai đoạn hiện nay và trước mắt, những tiến triển trong bang giao với Việt Nam, Quốc Hội và chánh phủ Hoa Kỳ đặt trên căn bản “những tiến triển tốt về Nhân Quyền tại Việt Nam”.

    Ngày 5/3/2012, Ông Jon Carson, Giám Đốc Văn Phòng Tiếp Cận Cộng Ðồng (Office of Public Engagement), đón tiếp phái đoàn 185 người của Cộng Đồng tị nạn cộng sản, và thảo luận tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Ngoài ông Jon Carson ra, còn có các vị đứng đầu từng phần vụ trong Bộ Ngoại Giao tham dự:
    (1) Ông George Selin, Vietnam Desk.
    (2) Ông Thomas Debass, Global Partnerships Initiative.
    (3) Ông Eric Barboriak, Văn Phòng Ðông Nam Á Sự Vụ.
    (4) Và ông Michael Posner, Phụ Tá Ngoại Trưởng đặc trách Dân Chủ, Nhân Quyền và Lao Ðộng. Các vị có cùng nhận định: “Tinh thần dấn thân của Cộng Đồng Việt Nam rất cao cho Nhân Quyền tại Việt Nam. Với hơn 130.000 chữ ký (ngày 5/3/2012), quý vị đã tạo ra một hiện tượng đặc biệt chưa từng có”. Cùng thời gian đó, phần còn lại khoảng 700 người đứng bên ngoài dinh Tổng Thống, giương cao rừng cờ vàng ba sọc đỏ với những biểu ngữ tập trong vào một mục tiêu “Ủng Hộ Nhân Quyền Cho Việt Nam” để hỗ trợ phái đoàn bên trong.

    Ngày 6/3/2012, Quốc Hội Hoa Kỳ đón tiếp phái đoàn Cộng Đồng chúng tôi hơn 500 người, được tổ chức thành 40 toán đến từng văn phòng của 100 Nghị Sĩ & Dân Biểu, cùng trình bày tình hình nhân quyền tại Việt Nam, kèm theo danh sách gần 600 tù nhân lương tâm & tù nhân chính trị. Đặc biệt, Bà Chủ Tịch Ủy Ban Đối Ngoại Hạ Viện (gốc Cuba) am hiểu về tình trạng Nhân Quyền tại Việt Nam. Bà biết CSVN đã áp dụng điều khoản 74 và 88 trong Luật Hình Sự để bắt giam những người đấu tranh cho dân chủ trong ôn hòa, và Bà sẽ làm hết sức mình cho vấn đền này.
    Ngay ngày hôm sau, 7/3/2012, Uỷ Ban Đối Ngoại của Hạ Viện Hoa Kỳ đã thông qua Dự Luật “Nhân Quyền Cho Việt Nam” (ký hiệu HR 1410) sau khi cập nhật mới nhất về sự leo thang vi phạm nhân quyền của CSVN.

    Xin nói thêm để Các Anh biết qua một góc trong sinh hoạt dân chủ. Ngày 22/9/2011, tòa Bạch Ốc đáp ứng phong trào quần chúng, trong đó có Cộng Đồng Việt Nam, bằng cách thành lập trang “We the People”, để các công dân Hoa Kỳ đưa “thỉnh nguyện” (petition) giúp chánh phủ biết được nguyện vọng của mình, với yêu cầu trong vòng 30 ngày phải có ít nhất 25.000 thư thỉnh nguyện, sẽ được cứu xét. Đó là sinh hoạt Dân Chủ trong xã hội văn minh, chớ không phải Dân Chủ kiểu xã hội chủ nghĩa mà ông Tổng Bí Thư họ Nông của Các Anh đã nói ở trên.
    Nhớ lại năm 2004 Nghị Quyết 36 ra đời, lãnh đạo CSVN đặt trách nhiệm lên vai toàn bộ hệ thống chính trị, toàn bộ tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, mặt trận tổ quốc, các ngành các cấp từ trung ương đến địa phương, và các đoàn thể nhân dân, từ trong nước ra đến hải ngoại. Họ kêu gọi toàn dân phải coi đây là một nhiệm vụ quan trọng, nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nhưng mục đích tối hậu của lãnh đạo CSVN là “vừa dụ dỗ, vừa mua chuộc, vừa đánh phá, để khống chế mà sử dụng khối tài chánh không lồ cùng với khối chuyên gia tài năng phục vụ cho họ, và moi tất cả “phân bón xã hội chủ nghĩa ưu việt” bên trong những “khúc ruột già ly hương ngàn dặm” trong Cộng Đồng chúng tôi tỊ nạn cộng sản tại hải ngoại mà chia chác cho nhau, như họ đã và đang móc ruột người dân trong nước. Nhưng, với sức mạnh của Cộng Đồng chúng tôi trong cuộc vận động Nhân Quyền sau sự kiện Việt Khang bị bắt, NQ 36 của CSVN tự nó đã chết, như những Nghị Quyết “tài tình sáng suốt” của các đại hội đảng đã từng chết.

    Và bản tin ngắn cuối cùng:

    Bản tin từ Cục Hàng Không Việt Nam, ngày 15/1/2012, chuyến bay VN 416 từ Hà Nội đi Seoul -thủ đô Hàn quốc- Phi cơ cất cánh rời khỏi Hà Nội, khi bay ngang không phận Quảng Châu thì đài kiểm soát không lưu Trung Cộng yêu cầu bay vòng vòng một chỗ trong 55 phút vì chung quanh có hoạt động nguy hiểm, mà thật ra không có gì nguy hiểm gi cả. Sau 55 phút thì nhiên liệu trong bình không đủ để tiếp tục không trình, phải đáp xuống Thượng Hải đế tiếp tế nhiên liệu. Đến Seoul không đúng giờ, hành khách cần chuyển phi cơ đi nơi khác đều bị trễ chuyến bay, nhưng may mắn là an toàn.

    Qua sự kiện nhỏ nhoi này, Các Anh có nhận ra điều gì không? Tôi thì có. Trạm kiểm soát không lưu “nước lạ” có một yêu cầu “rất lạ” đối với chuyến bay quốc tế của một nước “rất quen”. Đây là sự kiện “rất lạ” đối với một nước “rất quen” nhưng lại rất bình thường của “nước lạ”. Các Anh nhớ lại xem, vài ngày trước đó, Bộ Ngoại Giao Việt Nam có nêu vấn đề với Trung Cộng về sự kiện tàu Hải Giám Trung Cộng cướp tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam. Phải chăng, vì vậy mà Trung Cộng “vỗ mặt” lãnh đạo Các Anh chăng?

    ***********

  10. The Following 4 Users Say Thank You to tieuchuy For This Useful Post:

    Hoanghac (08-16-2012), khongquan2 (04-21-2012), Tinh Hoai Huong (05-10-2013), ttmd (07-07-2016)

  11. #6
    tieuchuy's Avatar
    Status : tieuchuy v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Feb 2010
    Posts: 191
    Thanks: 3
    Thanked 331 Times in 133 Posts

    Default Thư số 6 gởi Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

    Thư số 6
    gởi Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

    ******
    Phạm Bá Hoa

    Tôi tên Phạm Bá Hoa, chào đời năm 1930 tại đồng bằng sông Cửu Long. Tôi phục vụ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 21 năm trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc, sau đó tôi bị tù không án 12 năm 3 tháng trong các “trại tập trung” mà lãnh đạo của Các Anh gọi là “trại cải tạo”. Hiện sống tại Hoa Kỳ. Tôi chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ về Việt Nam, cho đến khi nào quê hương cội nguồn của tôi có một chế độ tự do và nhân quyền trong một xã hội dân chủ pháp trị đúng nghĩa.


    Xin gọi “Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam” là Các Anh để tiện trình bày. Chữ “người lính” mà tôi sử dụng ở đây, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lãnh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng, gọi chung là “cấp lãnh đạo”. Là người lính trong quân đội “Nhân Dân”, chắc rằng Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, vì Các Anh trong quân đội nhân dân mà. Với lại, Tổ Quốc & Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng chính trị nào cũng chỉ là một giai đoạn của lịch sử. Và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó.

    Trong Thư số 5 (tháng 3/2012), sự kiện cưỡng chế đất đai của ông Đoàn Văn Vươn đã làm tràn ly nước đầy lòng căm phẫn của hằng chục ngàn, thậm chí là hằng trăm ngàn gia đình nông dân bị cưỡng chế đất đai. Tiếp đến là sự kiện ca nhạc sĩ Việt Khang bị bắt đã làm tràn ly nước đầy lòng căm phẫn về sự tàn bạo của đảng và nhà nước cộng sản với đồng bào, nhưng lại khiếp nhược đến mức hèn hạ với nước Tàu cộng sản, đã dẫn đến 148.773 người ký Thỉnh Nguyện Thư của Cộng Đồng chúng tôi gởi Tổng Thống song song với vận động Quốc Hội Hoa Kỳ, ủng hộ Nghị Quyết về Nhân Quyền Cho Việt Nam. Với Cộng Đồng chúng tôi tị nạn tại hải ngoại, đây là một thành công cao hơn mức dự tưởng trong “Trận Chiến Nhân Quyền”, và chúng tôi đang thực hiện những bước tiếp theo trong mục đích hỗ trợ những thành phần trong nước đấu tranh ôn hòa giành lại quyền làm người cho đồng bào trên quê hương.
    Song song với thành công trong “Trận Chiến Nhân Quyền”, là một thành công khác trong “Trận Chiến Dựng Lại Quốc Kỳ” cũng cao hơn dự tưởng của Cộng Đồng chúng tôi. Xin nhấn mạnh: Nhóm chữ “quốc kỳ nền vàng” hay “quốc kỳ Việt Nam” hay “cờ vàng” trong bài này, phải hiểu là “quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ” đã có từ trong lịch sử lâu đời của Việt Nam. Từ tháng 4/1975 đến nay, quốc kỳ này là biểu tượng “lý tưởng tự do, dân chủ, nhân quyền” của Cộng Đồng Việt Nam chúng tôi tị nạn cộng sản tại hải ngoại nói chung, và tại Hoa Kỳ nói riêng.
    Đọc xong, tôi tin là Các Anh sẽ rất ngạc nhiên, vì chưa bao giờ Các Anh nghe nói đến “trận chiến” này. Hãy suy nghĩ với nhận thức về “trận chiến lạ lùng” đối với Các Anh, nhưng rất lý thú đối với chúng tôi. Và mời Các Anh vào nội dung ….


    Phần một.

    Quốc Kỳ Việt Nam (QKVN) trên nhiều kỳ đài tại nhiều thành phố, trong nhiều cuộc mít tinh biểu tình, trong tham dự diển hành tại các thành phố lớn trên thế giới có Cộng Đồng Việt Nam cư ngụ, được tiêu biểu qua một số trường hợp tóm lược dưới đây: (bài này đầy đủ dài đến 21 trang)

    QKVN nền vàng tại Boston. Ngày 30/07/2003, thành phố Boston tiểu bang Massachussetts chánh thức công nhận quốc kỳ Việt Nam. Ngày 08/08/2003, phái đoàn tòa đại sứ CSVN gồm 4 người do Vũ Đ. Dũng dẫn đầu. Dũng đang xử lý thường vụ chức vụ Đại sứ vì Nguyễn Tâm Chiến đã về Hà Nội nhận lệnh. Từ Washington DC đến Boston, xin gặp Hội Đồng thành phố. Bà Maura Hennigan, Nghị Viên, thay mặt Hội Đồng thành phố tiếp phái đoàn. Vào đề là Vũ Đ. Dũng mạnh mẽ phản đối Boston công nhận quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ,.vì đó là “cờ của Sài Gòn cũ”. Chánh phủ của ông và tòa đại sứ mà ông đang xử lý, quyết lìệt đòi thành phố Boston phải hủy bỏ Nghị Quyết đó, đồng thời chấm dứt việc treo cờ vàng trên nóc tòa thị chánh Boston. Với lời lẽ cứng rắn, Bà Nghị Viên Maura Hennigan đáp: “Chúng tôi rất tiếc là Nghị Quyết công nhận cờ vàng ba sọc đỏ được tất cả 13 vị Nghị Viên thành phố đã ký, Nghị Quyết đã thành Luật và không có vấn đề thay đổi. Cờ vàng ba sọc đỏ đã được treo trên nóc tòa thị chánh Boston từ lâu rồi chớ không phải bây giờ mới treo, Luật mới ban hành là chánh thức công nhận và khuyến khích sự tiếp tục đó. Cử tri trong Cộng Đồng người Mỹ gốc Việt tại đây, đã đóng góp nhiều mặt cho sự phát triển của thành phố Boston, và chúng tôi công nhận nguyện vọng của họ đối với quốc kỳ truyền thống của họ. Chúng tôi treo quốc kỳ đó ngang hàng với quốc kỳ Hoa Kỳ, cờ tiểu bang Massachussetts, và cờ của thành phố Boston chúng tôi. Mặt khác, chúng tôi rất quan tâm đến vấn đề dân chủ tự do tại Việt Nam, chúng tôi đòi hỏi phải cải thiện nhân quyền, tự do tôn giáo, và thả hết tù nhân lương tâm tại Việt Nam”. Nhìn phái đoàn CSVN im lặng, Bà Hennigan nói tiếp với lời lẽ lịch sự của chủ nhà: “Những đòi hỏi của phái đoàn, theo tôi, các ông nên mang về Washington DC là tốt hơn, và nên hiểu rằng, chính trị là vấn đề của địa phương “Politics is local”. Nói xong, bà Hennigan đứng dậy, với cử chỉ thật ngoại giao, bà mở cửa văn phòng, tay hướng ra ngoài cửa như có ý “tôi không nói chuyện với các anh nữa”. Chần chừ giây lát, phái đoàn CSVN ra về với nét mặt thất vọng của những viên chức ngoại giao!

    QKVN nền vàng trên đỉnh Everest. Ông Craig Van Hoy, người Mỹ, sống tại Oregon. Vợ ông là người gốc Lào, nên ông thấu hiểu chính sách tàn bạo của chế độ cộng sản. Vì vậy mà trong những câu chuyện trao đổi giữa ông với người bạn hàng xóm, ông cảm kích tinh thần của Cộng Đồng Việt Nam vì không sống nỗi với cộng sản độc tài nên phải vượt lên sự chết để tìm sự sống trong xã hội dân chủ tự do, nhưng không quên mình là người Việt Nam, nên ông chấp nhận lời yêu cầu của bạn hàng xóm, mang theo lá quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ trong chuyến ông hướng dẫn đoàn thám hiểm chinh phục đỉnh Hy Mã Lạp Sơn (Himalaya). Ông Craig nói: “Ông sẽ cắm lá quốc kỳ này -ông chỉ vào lá quốc kỳ mà ông vừa nhận- lên đỉnh Everest theo ước nguyện của người bạn Việt Nam, nhưng danh dự này không phải chỉ dành riêng cho bạn hay cho 2.700.000 người Việt tị nạn tại hải ngoại, mà ông còn dành cho 82.000.000 người dân đang bị cộng sản độc tài cai trị trên đất nước Việt Nam. Vì nơi đó -tức Việt Nam- một dân tộc đã và đang bị bất hạnh như đồng bào trên quê hương cội nguồn hiền thê của ông”. Ngày 09/05/2004, đoàn leo núi gồm 5 người bắt đầu leo dốc. Sau khi vượt qua những gian nan trên hành trình, ngày 16/05/2004 đoàn đến đỉnh Everest trên độ cao 29.035 feet (bộ Anh). Ông Craig Van Hoy đã cắm quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ của chúng tôi trên đỉnh Everest vào ngày 17/05/2004, như một thông điệp gởi cho nhân loại về chính nghĩa của dân tộc Việt Nam tôn trọng Dân Chủ - Tự Do - Nhân Quyền, từ đỉnh núi cao nhất của thế giới.

    QKVN nền vàng tại Melboure, Australia. Ngày 12/8/2005, một buổi tiếp tân trọng thể tại Quốc Hội tiểu bang để “Vinh Danh Cộng Đồng Việt Nam 30 Năm Tị Nạn tại tiểu bang Nam Úc”. Buổi lễ do ông Mike Rann, Thủ Hiến tiểu bang Nam Úc chủ tọa. Hằng trăm quan khách Việt Nam và Úc Đại Lợi, trong số đó có nhiều viên chức của cơ quan lập pháp và hành pháp tham dự. Hai quốc kỳ Australia và Việt Nam nền vàng được đặt vào vị trí trang trọng nhất. Thủ Hiến Mike Rann đã đọc một bài diễn văn thật ý nghĩa, xin trích vài đoạn: “… Chúng ta không bao giờ được quên những người đã bỏ mình trong cuộc vượt thoát chế độ cộng sản Việt Nam trong thập niên 70. Chúng ta phải vinh danh Họ, và chúng tôi phải vinh danh quí vị, là những người đã sống sót để thuật lại câu chuyện như một chiến thắng vinh quang của mình, một câu chuyện về vô số người Việt Nam đã trốn chạy chế độ cộng sản ác ôn áp bức từ năm 1975. Cuộc trốn chạy can trường của người Việt Nam, đã làm cho cả thế giới nói chung, và nước Úc nói riêng, phải kinh ngạc! … Quí vị phải đương đầu với bão tố và hải tặc, với niềm hy vọng trông thấy một dãi đất nhân hậu bên kia chân trời để bắt đầu cho cuộc sống mới. … Sự đóng góp của quí vị đã tạo ra của cải cho tiểu bang Nam Úc, không chỉ về phương diện kinh tế, mà còn cả về phương diện xã hội và văn hoá nữa. ... Tên của những người Úc gốc Việt trẻ tuổi học hành tận tụy, đã chiếm nhiều hàng tít lớn trên báo chí vào tháng Giêng hằng năm, khi mà kết quả các kỳ thi được công bố với số điểm tối ưu hoặc rất cao. Các em đó cũng học hành xuất sắc như thế ở bậc đại học. Thật ra, tuổi trẻ Việt Nam đã được đứng vững trên đôi vai phi thường của các bậc phụ huynh vĩ đại …Cộng Đồng người Việt cũng đã tiến hành những cuộc tranh đấu đòi hỏi những quyền căn bản cho mọi người dân đang sống tại Việt Nam. Đó là những quyền mà mỗi con người đương nhiên được hưởng, như quyền tự do ngôn luận, quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do đi lại, quyền không bị ngược đãi bằng bất cứ hình thức nào…… Chánh phủ do tôi lãnh đạo, và cá nhân tôi, đứng về phía quí vị trong cuộc đấu tranh không ngưng nghỉ, nhằm mang lại tự do và những quyền căn bản cho mỗi con người Việt Nam trên quê hương của quí vị. Vì vậy, trong khi chúng ta tán dương những thành tựu của Cộng Đồng người Việt hôm nay, chúng ta cũng công nhận sự nghiệp đấu tranh cho người dân tại Việt Nam.”

    QKVN nền vàng tại Đức. Ngày 21/8/2005, một thánh lễ bế mạc Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 20 tổ chức tại thành phố Koln, Cộng Hòa Liên Bang Đức do Đức Giáo Hoàng chủ lễ. Ước lượng có khoảng 800.000 người tham dự và hằng tỷ người trên thế giới theo dõi qua hệ thống truyền thông. Khán giả theo dõi buổi lễ dễ dàng trông thấy rất rõ quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ tung bay phất phới ngay sau lưng Đức Giáo Hoàng.
    QKVN nền vàng tại New York, Hoa Kỳ. Nhận lời mời của Ủy Ban Tổ Chức Ngày Văn Hoá Quốc Tế tổ chức hằng năm tại New York sau khi đánh bại sự vận động của CSVN giành quyền đại diện tại Cơ Quan Di Dân Quốc Tế Liên Hiệp Quốc. Trong cuộc diễn hành năm thứ 22 ngày 18/6/2007, Cộng Đồng Việt Nam chúng tôi tham dự với hơn 2.000 người từ 44 Cộng Đồng qui tụ tại New York, cũng là dịp biểu dương sức mạnh của Cộng Đồng tị nạn ngay trước mặt phái đoàn CSVN do ông Nguyễn Minh Triết của Các Anh dẫn đầu đang có mặt nơi đây. Đoàn nam giới mặc quốc phục cổ truyền, đến màu sắc rất đẹp của đoàn nữ giới với trang phục ba miền Nam Trung Bắc, xe hoa với ảnh Phù Đổng Thiên Vương + bản đồ Việt Nam + lá quốc kỳ Việt Nam nền vàng, đến đoàn nữ giới với chiếc áo dài tha thướt và những chiếc nón lá duyên dáng, rồi đoàn thanh thiếu niên nam nữ với chiếc áo tứ thân và khăn đóng áo dài, và đông đảo bà con đồng hương. Đoàn diễn hành của Cộng Đồng chúng tôi giương cao một rừng cờ vàng ba sọc đỏ, đã tạo được tình cảm của Ban Tổ Chức Liên Hiệp Quốc và mọi người có mặt. Đặc biệt là các đơn vị Cảnh Sát bảo vệ trật tự, đều hô to “Việt Nam, Việt Nam” khi đoàn chúng tôi đi ngang.


    QKVN nền vàng tại Sydney, Australia. Ngày Giới Trẻ Quốc Tế lần thứ 23 tổ chức tại Sydney (Australia) từ 15 đến 20/7/2008, với khoảng 100.000 bạn trẻ bản xứ và 125.000 người từ khắp nơi trên thế giới đến, trong số đó có 15.000 bạn trẻ mà đa số là Mỹ gốc Việt đến từ Hoa Kỳ, và khoảng 600 bạn trẻ đến từ Việt Nam. Ngày 17/7/2008, trên du thuyền gần Cầu Hải Cảng và Nhà Hát Con Sò, bạn trẻ Phạm Vũ Anh Dũng đã kể chuyện với Đức Giáo Hoàng về gia đình anh không thể sống trên quê hương dưới sự cai trị của cộng sản độc tài, nên phải liều chết vượt biển tìm tự do và đã đến Australia. Nói xong, anh dâng dãi quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ lên Đức Giáo Hoàng. Ngài ban phép lành và tự choàng lên cổ với nụ cười hiền hòa. Ngày 20/7/2008, trong Thánh Lễ bế mạc Đại Hội, Cộng Đồng tị nạn đã thành công cao hơn dự tưởng, hoàn toàn không một lá cờ đỏ nào của CSVN xuất hiện trong khi rừng cờ vàng rực rỡ giữa rừng người dự lễ mà cơ quan truyền thông Australia ước lượng khoảng 500.000 người. Ngày 21/7/2008, tờ Sydney Morning Herald với bài viết ngắn “A Flag For Freedom” (Lá Cờ Cho Tự Do) được ông Trần Hưng Việt tại Brisbane, Queensland, Australia, dịch từ Anh ngữ như sau: “Cuộc chiến có thể đã chấm dứt, nhưng đối với nhiều người trong Cộng Đồng người Việt ở Sydney thì không. Quốc kỳ của Nam Việt Nam là biểu tượng được trông thấy rõ ràng nhất giữa rừng quốc kỳ và các biểu ngữ về tôn giáo trong thánh lễ của Đức Giáo Hoàng, mặc dù đó là một biểu tượng không có quốc gia, và bị cấm tại quốc gia nguyên thủy của nó. Đây là quốc kỳ của nước Việt Nam Tự Do. Một người hành hương trong nhóm người Việt đang đứng dưới lá đại kỳ màu vàng ba sọc đỏ, nói rằng: Hôm nay, chúng tôi mang lá cờ này để nhắc nhớ mọi người rằng, đảng cộng sản cầm quyền tại Việt Nam vẫn đàn áp quyền tự do tôn giáo và các quyền tự do khác”.

    Ngày 22/6/2009, Thống Đốc tiểu bang Texas ký ban hành Nghị Quyết HCR 258 sau khi Hạ Viện và Thượng Viện đã thông qua. Nội dung khuyến cáo tất cả các trường đại học trong tiểu bang Texas không treo cờ đỏ cộng sản mà chỉ treo cờ vàng biểu tượng tự do của Cộng Đồng Việt Nam tị nạn tại Texas. Từ nay, 506 trường đại học trong tiểu bang, không treo cờ đỏ của CSVN cho dù có sinh viên từ Việt Nam sang du học, mà chỉ treo cờ vàng biểu tượng của dân chủ tự do của chúng tôi.

    Tôi nghĩ là Các Anh chưa từng biết, hoặc có biết nhưng do “thông tin lề phải” lãnh lương nhà nước và thông tin theo đảng CSVN dạy, chớ Các Anh không thể biết sự thật về lãnh đạo Các Anh nhục nhã như thế nào khi phải đối diện với rừng quốc kỳ Việt Nam nền vàng trong Cộng Đồng chúng tôi. Những phái đoàn của lãnh đạo Các Anh, như phái đoàn Phan Văn Khải (Thủ Tướng, 2006), Phạm Gia Khiêm (Phó Thủ Tướng/, nhất là phái đoàn Nguyễn Minh Triết (Chủ Tịch, 2007) và Nguyễn Tấn Dũng (Thủ Tướng, 2008 và 2010) đến thành phố nào trên đất Mỹ mà có Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn, họ thấy cả rừng cờ vàng ba sọc đỏ của Cộng Đồng chúng tôi. Cho nên lãnh đạo của Các Anh chắc là cảm nhận nỗi nhục đến mức không dám ngẫng đầu lên để đối điện với lá quốc kỳ Việt Nam, “nền vàng” biểu tượng cho dân tộc da vàng, và “ba sọc đỏ” biểu tượng cho đồng bào ba miền Nam-Trung-Bắc thân yêu của chúng ta.

    Phần hai.

    Bia đá tưởng niệm chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa hy sinh trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc, tưởng niệm Thuyền Nhân Việt Nam đã chết trên đường vượt biên vượt biển tìm tự do. Tại mỗi Bia Tưởng Niệm có hai kỳ đài với quốc kỳ Việt Nam nền vàng và quốc kỳ bản xứ:. Và đây là những ngày khánh thành Bia Đá Tưởng Niệm: Tháng 3/2005, trên đảo Galang (Indonesia) và đảo Bidon (Malaysia), với dòng chữ “Bia Tưởng niệm hằng trăm ngàn người Việt Nam đã bỏ mình trên đường tìm tự do 1975-1996. Dù Họ chết vì đói khát, vì bị hãm hiếp, vì kiệt sức, hay vì bất cứ lý do nào khác, chúng ta hãy cùng cầu nguyện để Họ được an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng. Sự hi sinh của Họ sẽ không bao giờ bị lãng quên”. Ngày 30/4/2006, trong khuôn viên “Nghĩa Trang Quốc Gia Thái Bình Dương” tại Honolulu, tiểu bang Hawaii, Hoa Kỳ, với dòng chữ: “Vinh danh Quân Lực và Nhân Dân Việt Nam Cộng Hòa & Quân Lực Hoa Kỳ, Australia, New Zealand, South Korea, Philippines. Taiwan, Thailand, đã cùng với Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu chống cộng sản, bảo vệ dân chủ nhân quyền cho thế giới”. Ngày 12/5/2006, La Fayetteville, tiểu bang North Carolina, Hoa Kỳ. Trung Tướng James B. Vaught, Cố Vấn Sư Đoàn Nhẩy Dù Việt Nam năm 1971, nhấn mạnh: “… Tưởng rằng làm cố vấn giúp các bạn chiến đấu, nhưng thật sự thì chúng tôi học được tinh thần chiến đấu của các bạn thật tuyệt vời....”. Ngày 9/2/2006, tại thành phố Geneve, Thụy Sĩ, với dòng chữ: “Tưởng niệm cuộc ra đi của những Thuyền Nhân trên thế giới 1975 - 2005. Người Việt tị nạn chân thành cám ơn Thụy Sĩ và các nước tiếp cư, đã giúp cho chúng tôi được sống hạnh phúc trong hòa bình, tự do, và dân chủ. Chúng tôi sẽ mãi mãi không quên quê hương Việt Nam, mãnh đất ngàn đời của Tổ Tiên để lại”. Ngày 30/6/2006, tại Công Viên D’Avroy, thành phố Liège, Bỉ Quốc. Ngày 30/4/2007, tại thành phố Troisdorf, Đức Quốc.

    Phần ba.

    Tượng đài tưởng niệm chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc, và tưởng niệm Thuyền Nhân Việt Nam đã chết trên đường vượt biên bượt biển tìm tư do. Tại mỗi tượng đài có quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ và quốc kỳ bản xứ thường xuyên trên đĩnh hai cột cờ. Và đây là ngày khánh thành và địa điểm đặt tượng đài: Ngày 31/8/1991, tại công viên Cabra-Vale, ngoại ô Sydney, Australia. Hai mươi năm sau, ngày 5/3/2011, Dân Biểu Tony Kelly, đại diện bà Thủ Hiến bang New South Wales, chủ tọa lễ khánh thành tượng đài này sau thời gian tân trang và nâng cao tượng đài. Ngày 30/4/1995, tại thủ đô Ottawa, Canada, với “Người Mẹ bồng con chạy trốn cộng sản”. Ngày 7/12/2002, tại thành phố Perth, miền Tây Australia. Ngày 27/4/2003, tại công viên tòa thị sảnh thành phố Westminster, tiểu bang California, nơi được xem là “thủ đô” của Cộng Đồng tị nạn chúng tôi, với tượng “Hai Người Lính Việt & Mỹ”. Ngày 11/6/2005, tại Houston, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ. Ngày 16/9/2005, tại thành phố Brisbane, tiểu bang Queensland, Australia. Ngày 30/4/2006, tại thành phố Dandenong, tiểu bang Victoria, Australia. Ngày 14/10/2006, tại thành phố Hamburg, Cộng Hòa Liên Bang Đức. Ngày 2/6/2007, tại thành phố Saint Cloud, tiểu bang Minnesota, Hoa Kỳ. Ngày 22/9/2007, tại thành phố West Valley, tiểu bang Utah, Hoa Kỳ. Ngày 21/6/2008, tại thành phố Melbourne, tiểu bang Victoria, Australia. Cùng ngày 21/6/2008, tại Montréal, Canada. Ngày 2/11/2008, tại Bagneaux, Pháp quốc. Ngày 25/4/2009, tại thành phố Westminster, California, Hoa Kỳ, với “một gia đình trên chiếc thuyền mong manh trên biển cả”. Ngày 12/9/2009, tại hải cảng Hamburg, Cộng Hòa Liên Bang Đức, với dòng chữ: “Tưởng niệm các đồng hương tị nạn cộng sản đã bỏ mình trên đường tìm tự do”.
    Ngoài ra, ngày 12/6/2007, chánh phủ Hoa Kỳ đã khánh thành Tượng đài tưởng niệm 100.000.000 (100 triệu) nạn nhân cộng sản tại thủ đô Wasington DC do Tổng Thống George W. Bush, chủ tọa. Đây là biểu tượng thảm họa kinh hoàng nhất trong thế kỷ 20 của nhân loại nói chung, và 25 quốc gia bị cộng sản cai trị nói riêng. Từ nay, oan hồn của nạn nhân cộng sản -có cả nạn nhân Việt Nam thân yêu của chúng tôi- được những thế hệ hôm qua, hôm nay, và những thế hệ mai sau tưởng nhớ. Tưởng nhớ để tận diệt chế độ này đến tận cùng gốc rễ của nó, vì “nó” đã lấy đi mạng sống của 100 triệu đàn ông đàn bà và trẻ con vô tội!

    Tôi nhấn mạnh với Các Anh rằng, bất cứ nơi nào có Bia Đá Tưởng Niệm, có Tượng Đài Tưởng Niệm, cơ quan ngoại giao của Các Anh cũng ráo riết vận động với Thị Trưởng thành phố hay Thống Đốc tiểu bang, trong mục đích ngăn chận Cộng Đồng chúng tôi không thể thực hiện, nhưng tất cả đều thất bại nhục nhã. Hơn thế nữa, nhóm lãnh đạo “đỉnh cao gian trá” của Các Anh càng nhục nhã khi yêu cầu Malaysia và Indonesia đục bỏ những dòng chữ trên hai Bia Tưởng Niềm Thuyền Nhân tại hai quốc gia này để xóa bỏ tội ác của họ, nhưng hai mảng trống trên tấm bia trở thành chứng tích tội ác càng rõ ràng hơn. Nhưng suy cho cùng, cho dẫu lãnh đạo của Các Anh có vận động ngăn chận được đi nữa, Các Anh cũng nên nhớ rằng, Cộng Đồng Việt Nam chúng tôi tị nạn cộng sản tại hải ngoại từ thế hệ đương thời truyền sang những thế hệ kế tiếp, “mỗi người chúng tôi là một Tấm Bia sống, một Tượng Đài sống, một Nhân Chứng sống”, sẽ lưu truyền mãi mãi trong dân gian Việt Nam và trên thế giới, về tội ác kinh hoàng nhất trong dòng sử Việt do CSVN đã gây ra cho dân tộc! Bởi, CSVN đã cắt đất xén biển đem đổi chác dâng tặng cho Trung Cộng, kẻ thù từ trong lịch sử xa xưa đến nay vẫn nguyên vẹn bản chất không chế cai trị các quốc gia chung quanh, CSVN đã phá nát nền văn hoá nhân bản, đã làm băng hoại xã hội đến mức mà mọi người từ đảng viên viên chức nhà nước đến đồng bào, phải sống với nhau bằng muôn ngàn cách lọc lừa dối trá! Trong vô vàn tội ác của CSVN, tội ác phá nát nền văn hoá dân tộc là di hại đến nhiều thế hệ mai sau!


    Phần bốn. Những địa phương đã công nhận quốc kỳ Việt Nam.

    Đến ngày 15 tháng 04 năm 2012, quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ đã được các cơ quan hành chánh địa phương chánh thức công nhận theo thứ tự thời gian như sau: (1) Khởi đi từ ngày 19/2/2003 với Nghị Quyết 3750 của thành phố Westminster, tiểu bang California. Ngày 11/3/03, NQ 8486-03, thành phố Garden Grove, California. Ngày 14/4/03, NQ TR-03-07, thành phố Falls Church, Virginia. Ngày 5/5/03, NQ 7300, thành phố Milpitas, California. Ngày 3/6/03, NQ của quận hạt Santa Clara, gồm San Jose và 14 thành phố nữa. California. Ngày 4/6/03, NQ của thành phố Hooland, Michigan. Ngày 18/6/03, NQ 17-2003, thành phố Houston, Texas. Ngày 24/6/03, NQ 03-502, thành phố Saint Paul, Minesota. Ngày 7/7/03, NQ 2003-140, thành phố Pomona, California. (10) Cùng ngày 7/7/03, NQ của quận hạt Fairfax, Virginia. Ngày 15/7/03, Luật số 839, tiểu bang Louisiana. Đây là tiểu bang 1/15. Ngày 30/7/03, NQ của thành phố Sacramento, California. Ngày 30/7/03, NQ 03-1104, thành phố Boston, Massachussetts. Ngày 8/9/03, NQ của thành phố Springfield, Massachussetts. Ngày 12/9/03, NQ của thành phố Oklahoma, Oklahoma. Ngày 16/9/03, NQ 8384, thành phố El Monte, California. Ngày 16/9/03, NQ của thành phố Garland, Texas. Ngày 16/9/03, NQ R2003-013, thành phố Tumwater, Washington. Cùng ngày 16/9/03, NQ của thành phố Malden, Massachussetts. (20) Ngày 17/9/03, NQ của thành phố Rowley, Massachussetts. Ngày 30/9/03, NQ của thành phố Grand Rapids, Michigan. Ngày 9/10/03, NQ của thành phố Lacey, Washington. Ngày 8/10/03, NQ của thành phố Quincy, Massachussetts. Ngày 20/10/03, NQ của thành phố Doraville, Georgia. Ngày 21/10/03, NQ của thành phố Olympia, Washington. Cùng ngày 28/10/03, NQ của thành phố Lowell, Massachussetts. Ngày 3/11/03, NQ của thành phố Norcross, Georgia. Cùng ngày 3/11/03, NQ của thành phố Clarkston, Georgia. Cùng ngày 3/11/03, NQ của thành phố Dekalb, Georgia. (30) Cũng ngày 3/11/03, NQ của thành phố Gwinnett, Georgia. Ngày 4/11/03, NQ của thành phố Lawrence, Massachussetts. Ngày 11/11/03, NQ 03-E-555 của thành phố Arlington, Texas. Cùng ngày 11/11/03, NQ của thành phố Port Arthur, Texas. Ngày 12/11/03, NQ 461 của thành phố Rainer, Washington. Ngày 18/11/03, NQ 2003 của thành phố Marina, California. Ngày 1/12/03, NQ 1834 của thành phố Puyallup, Washington. Ngày 6/12/03, NQ của thành phố Worcester, Massachussetts. Ngày 8/12/03, NQ 2003-29 của thành phố Lakewood, Washington. Ngày 16/12/03, NQ 3017 của thành phố Fort Worth, Texas. (40) Ngày 13/1/2004, NQ của thành phố Lincoln, Nebraska. Cùng ngày 13/1/04, NQ 04-279 của thành phố Dupont, Washington. Cùng ngày 13/1/04, NQ của thành phố Wichita, Kansas. Ngày 14/1/04, NQ R-2004-670 của thành phố San Diego, California. Ngày 27/1/04, NQ của quận hạt Pierce, Washington. Ngày 29/1/04, NQ của thành phố Philadelphia, Pennsylvania. Ngày 3/2/04, NQ 3975 của thành phố Grand Prairie, Texas. Ngày 10/2/04, NQ của thành phố South El Monte, California. Ngày 17/2/04, NQ của thành phố Stockton, California. Cùng ngày 21/2/04, Resolution của Hạ Viện, Resolution của Thượng Viện, và Proclamation của Thống Đốc tiểu bang New Jersey. Đây là tiểu bang 2/15. 50. Ngày 20/2/04, NQ của thành phố Hartfort, Connecticut. Ngày 24/2/04, NQ của thành phố Centralia, Washington. Cùng ngày 24/2/04, NQ của thành phố University Place, Washington. Ngày 28/2/04, NQ của thành phố Jersey City, New Jersey. Ngày 15/3/04, NQ của thành phố West Hartfort, Connecticut. Cùng ngày 15/3/04, NQ của thành phố Salina, Kansas. Ngày 16/3/04, NQ của thành phố Biloxi, Mississippi. Cùng ngày 16/3/04, NQ của thành phố Orlando, Florida. Cùng ngày 16/3/04, NQ của thành phố Fort Wayne, Indiana. Ngày 24/3/04, NQ 04-72 của Honolulu, thủ phủ tiểu bang Hawaii. 60. Ngày 1/4/04, NQ của thành phố Tampa, Florida. Ngày 12/4/04, NQ của thành phố Syracure, New York. Ngày 15/4/04,NQ của tiểu bang Virginia. Đây là tiểu bang 3/15. Ngày 16/4/04, NQ 2004R-155 của thành phố Minneapolis, Minnesota. Ngày 20/4/04, NQ 1667 của thành phố Kent, Washingon. Cùng ngày 20/4/04, N! 36154 của thành phố Tacoma, Washington. Ngày 24/4/04, NQ cùa quận hạt Thurston, Washington. Ngày 30/4/04, NQ 16 của thành phố Saint Louis, Missouri. Cùng ngày 30/4/04, NQ của quận hạt Camden, New Jersey. Ngày 4/5/04, NQ 04 của thành phố West Valley, Utah. 70. Ngày 11/5/04, NQ của thành phố Bonney Lake, Washington. Ngày 3/6/04, NQ của thành phố Seaside, California. Ngày 7/6/04, NQ của thành phố Vancouver, tiểu bang Washington. Ngày 12/6/04, NQ của tiểu bang Colorado. Đây là tiểu bang 4/15. Ngày 15/6/04, NQ của thành phố Coral Springs, Florida. Cùng ngày 15/6/04, NQ của thành phố Carrollton, Texas. Ngày 19/6/04, NQ 1866 của tiểu bang Georgia. Đây là tiểu bang 5/15. Ngày 28/6/04, NQ của thành phố Beaverton, Oregon. Ngày 19/7/04, NQ 2003-7-180 của thành phố St. Cloud, Minnesota. Ngày 20/7/04, NQ của thành phố Portland, Oregon. 80. Cùng ngày 20/7/04, NQ của thành phố Eagle Mountain, Utah. Ngày 10/8/04, NQ của quận hạt Marin gồm 10 thành phố, California. Ngày 24/8/04, NQ của thành phố Sugar Land, Texas. Ngày 7/9/04, NQ của thành phố Missouri, Texas. Ngày 4/10/04, NQ 70 của thành phố Indianapolis, Indiana. Ngày 29/10/04, NQ của tiểu bang Florida. Đây là tiểu bang 6/15. Ngày 11/11/04, NQ của thành phố Austin, Texas. Cùng ngày 11/11/2004, NQ của tiểu bang Texas. Đây là tiểu bang 7/15. Ngày 22/11/04, NQ của thành phố Charlotte, North Carolina. Ngày 13/12/04, NQ R-04-156 của thành phố Albuquerque, New Mexico. 90. Ngày 6/2/2005, NQ của thành phố Reading, Pennsylvania. Ngày 3/3/05, NQ 050233 của thành phố Kansas, Kansas. Ngày 11/5/05, NQ SR0097 Thượng Viện & NQ HR0017 của Minnesota. Đây là tiểu bang 8/15. Ngày 17/5/05, NQ của thành phố San Jose, California. Ngày 18/5/05, NQ của thành phố San Antonio, Texas. Ngày 10/6/05, NQ của thành phố Greenville, South Carolina. Ngày 14/6/05, NQ của thành phố Columbus, Ohio. Ngày 5/10/05, NQ của thành phố Greer, South Carolina. Ngày 28/01/2006, NQ của thành phố Allentown, Pennsylvania. Ngày 26/4/06, NQ 126-06 của thành phố Pennsauken, New Jersey. 100. Ngày 3/6/06, NQ của quận hạt San Diego, California. Ngày 5/8/2006, Sắc Lệnh S-14-06 của tiểu bang California. Đây là tiểu bang 9/15. Ngày 19/8/06, Luật của Ohio. Đây là tiểu bang 10/15. Ngày 10/11/06, NQ của 642-06 của thành phố San Francisco, California. Ngày 3/12/06, NQ của thành phố Davenport, Iowa. Ngày 16/12/06, NQ SA 148-HR16 của tiểu bang Michigan. Đây là tiểu bang 11/15. Ngày 13/4/07, NQ của tiểu bang Oregon . Đây là tiểu bang 12/15. Ngày 26/4/07, NQ của tiểu bang Nebraska. Đây là tiểu bang 13/15. Ngày 30/4/07, Tuyên Cáo của tiểu bang Utah. Đây là tiểu bang 14/15. Ngày 1/1/2008, NQ của thành phố Sunnyvale, California. 110. Ngày 2/2/2009, NQ 85A của thành phố Santa Ana, California. Ngày 26/5/2009, NQ của thành phố Stanton, California. Ngày 16/6/2009, NQ của thành phố Costa Mesa, California. Ngày 15/05/2009, NQ 27 của tiểu bang Oklahoma. Đây là tiểu bang 15/15. Ngày 18/11/2009, NQ của Quân Hạt Lancaster, Pennsylvania. Ngày 26/03/2010, NQ 2010-21 của thành phố Rosemead, California. Ngày 18/10/2010, Tuyên Cáo của thành phố Auburn, Washington. Ngày 22/10/2010, Tuyên Cáo của thành phố Renton, Washington. Ngày 22/10/2010, Tuyên Cáo của thành phố Federal Way, Washington. Ngày 22/10/2010, Tuyên Cáo của thành phố Bellevue, Washington. 120. Ngày 22/10/2010, NQ của thành phố Seattle, Washington. Ngày 18/01/2011, Tuyên Cáo của thành phố Lyberty Lake, Washington. Ngày 18/01/2011, Tuyên Cáo của thành phố Raleigh, North Carolina. Ngày 25/01/2011, NQ của thành phố Fountain Valley, California. Ngày 13/2/2011, Tuyên Cáo của thành phố Taconma, Washington. 125. Ngày 16/2/2011, Tuyên Cáo của thành phố Millwood, Washington.
    Sơ kết 125 địa phương đã công nhận quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ, gồm: 15 tiểu bang, 8 quận hạt, 102 thành phố, và các địa phương này thuộc 29 tiểu bang theo thứ tự mẫu tự sau đây: (1) California. (2) Colorado. (3) Connecticut. (4) Florida. (5) Georgia. (6) Hawaii. (7) Indiana. (8) Iowa. (9) Kansas. (10) Louisiana. (11) Massachussetts. (12) Michigan. (13) Minnesota. (14) Mississippi. (15) Missouri. (16) Nebraska. (17) New Mexico. (18) New York. (19) New Jersey. (20) North Carolina. (21) Oklahoma. (22) Ohio. (23) Oregon. (24) Pennsylvania. (25) South Carolina. (26) Texas. (27) Utah. (28) Virginia. (29) Sau cùng là tiểu bang Washington.
    Chắc Các Anh ngạc nhiên về rừng quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ của chúng tôi lắm phải không, vì tôi tin là chưa bao giờ Các Anh biết đến nội dung thư này? Thêm nữa, riêng tại Hoa Kỳ chỉ có 3 lá cờ của nước Việt Nam cộng sản tại Washington DC, San Francisco, và Houston. Lá cờ với nền đỏ, biểu tượng dòng máu của người dân Việt đã phủ trên toàn cõi Việt Nam do cộng sản gây ra, còn ngôi sao vàng biểu tượng “đỉnh cao gian trá” cai trị trên hằng chục triệu xác chết của đồng bào. Trong khi đó, quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ của đồng bào Việt Nam chọn chế độ dân chủ - tự do - nhân quyền, phất phới song song với quốc kỳ của Hoa Kỳ 24/24 giờ, 7 ngày trong tuần, 365 ngày trong năm, và từ năm này sang năm khác.

    Phần kết.

    Các Anh hãy nhìn lại lịch sử thế giới, chưa có trường hợp nào tên một quốc gia không tồn tại mà quốc kỳ của quốc gia đó vẫn tồn tại trong những trường hợp khác nhau trên thế giới, như quốc kỳ của người Việt Nam tự do chúng tôi.
    Với trận chiến này, Cộng Đồng chúng tôi khắp nơi liên tục vận động với cơ quan hành chánh địa phương, để quốc kỳ biểu tượng cho dân chủ tự do và nhân quyền của Cộng Đồng Việt Nam chúng tôi ngày càng được công nhận nhiều hơn. Mặt khác, trong một mức độ nào đó, đã thể hiện nhãn quan của những nhà chính trị trong những cơ quan Lập Pháp và Hành Pháp Hoa Kỳ cấp tiểu bang, quiận hạt, và thành phố, vì những bài học kinh nghiệm trong sinh hoạt chính trường cho thấy sự kiện chính trị nào cũng mang theo nét nhìn riêng của nó. Và chiến thắng này là điều nhức nhối của lãnh đạo đảng với nhà nước Các Anh. Cái đau của lãnh đạo CSVN, nhất là lãnh đạo ngành ngoại giao Việt Nam đã thấu hiểu sự nhức nhối đó hơn ai hết, nhưng không có bất cứ phương cách nào ngăn chận được.
    Đúng như một đoạn trong bài viết “A Flag For Freedom” (Lá Cờ Cho Tự Do) đăng trên nhật báo “Sydney Morning Herald” phát hành ngày 21/7/2008: “… Cuộc chiến có thể đã chấm dứt, nhưng đối với nhiều người trong Cộng Đồng người Việt ở Sydney thì không. ... Mặc dù đó là một biểu tượng không có quốc gia, và nó bị cấm tại quốc gia nguyên thủy của nó. Đây là quốc kỳ của nước Việt Nam Tự Do”.
    Tôi mong Các Anh bình tâm mà nhìn chuỗi sự kiện đã và đang diễn ra, và suy nghĩ từ chiều sâu tâm hồn của chính mình chớ không phải tâm hồn của người đảng viên cộng sản. Các Anh hãy đứng trong hàng ngũ tuổi trẻ, trí thức, đồng bào, giành lại quyền `làm người cho 89 triệu đồng bào được sống trong một xã hội dân chủ pháp trị, được ngẫng cao đầu giữa thế giới văn minh lịch sự, được hãnh diện trước những người ngoại quốc đến Việt Nam du lịch, tìm hiểu nếp sống văn hóa dân tộc với chiều dài lịch sử ngàn năm trước đã lừng danh thế giới.
    Tôi vững tin rằng, bà con trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại -đặc biệt là Những `Người Lính Chúng Tôi- vẫn hết lòng hỗ trợ Các Anh và quí vị đồng bào, những thế hệ làm nên lịch sử.
    “Tự Do, phải chính chúng ta tranh đấu, vì Tự Do không phải là quà tặng”.
    Texas, tháng 4 năm 2012

    ************

    Bản tin ngắn gởi Các Anh.

    Ngày 23/3/2012, trong cuộc họp thảo luận dự án tiếp tục đổi mới, nâng cao phẩm chất (mà Các Anh gọi là chất lượng) và hiệu quả làm việc của Quốc Hội, ông Nguyễn Hạnh Phúc, Chủ Nhiệm Văn Phòng Quốc Hội cho rằng: “Thực hiện việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với các giới chức lãnh đạo cao cấp do Quốc Hội phê chuẩn hoặc bầu lên là phản ảnh tinh thần của Nghị Quyết Trung Ương lần thứ 4. Như vậy, hàng năm, Quốc Hội sẽ tổ chức bỏ phiếu tín nhiệm và kết quả sẽ được công khai cho dân biết. Những giới chức mà Quốc Hội bỏ phiếu tín nhiệm sẽ là Thủ Tướng và Phó Thủ Tướng chính phủ, Chủ Tịch và Phó Chủ Tịch nước, Chủ Tịch và Phó Chủ Tịch Quốc Hội, Ủy Viên Ban Thường Vụ Quốc Hội, Chánh Án Tòa Án Tối Cao, Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao, và Tổng Kiểm Toán Nhà Nước.....”
    Có thể Các Anh nghe những phát biểu như vậy quen rồi nên không cảm nhận được nội dung đích thực của nó, nhưng với tôi thì có. Vì gần 90% đại biểu trong Quốc Hội là những cấp lãnh đạo từ Bộ Chính Trị xuống đến tận cùng hệ thống tổ chức đảng và tổ chức nhà nước, chẳng lẽ họ bỏ phiếu truất phế họ trong khi họ là “những đỉnh cao gian trá” mà. Nếu Các Anh chưa tin tôi, hãy nghe ông Gorbachev, cựu Tổng Bí Thư đảng cộng sản Liên Xô nói: “Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng, đảng cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá”.
    Và bản tin ngắn cuối cùng Theo bản tin của Thông Tấn Xã Việt Nam, sau 4 ngày xét xử, Tòa án Nhân Dân thành phố Hải Phòng, ngày 30/3/2012, vụ án “Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) đã kết thúc, với bản án như sau: Ông Phạm Thanh Bình, nguyên là Chủ Tịch tập đoàn công nghiệp tàu thủy Vinashin, 20 năm tù giam. Tám bị cáo còn lại đều bị tù giam. Sau phiên tòa, ông Phạm Thanh Bình bị biệt giam cùng với Nguyễn Tuấn Dương tại trại T14. Sáng sớm ngày 31/03/2012, lúc thức dậy thì Nguyễn Tuấn Dương nhìn thấy ông Bình đã chết trong tư thế treo cổ bằng một sợi dây buộc vào chấn song cửa sổ phòng giam, chân của ông Bình cách mặt đất 5-7 phân tây. Tuấn Dương hốt hoảng, kêu cứu với trại giam. Sơ khởi, ban chuyên án xác định ông Phạm Thanh Bình đã ngừng thở trước đó khoảng 3 hay 4 tiếng hồ.
    Điều mà tôi gởi đến Các Anh là Nguyễn Tuấn Dương nói rằng: “Đêm qua trước khi ngủ, ông Bình đã tâm sự với tôi trong trạng thái của ông ấy căng thẳng. Ông nói: Khi ăn thì cùng ăn, nó còn ăn nhiều hơn tôi nhiều lần. Giờ thì nó bỏ mặc tôi chịu một mình với bản án tột khung, không có tình tiết giảm nhẹ. Đã vậy, tôi sẽ đạp đổ tất cả, sẽ khai đúng sự thật để chết thì cho chết hết như nhau”. Cuối bản tin của TTXVN có câu: “Bị cáo Phạm Thanh Bình vừa nói vậy tối hôm trước, nhưng không biết vì sao bị cáo lại thắt cổ tự tử ngay trong đêm đó? Không biết cái chết của bị cáo Phạm Thanh Bình có uẩn khúc gì hay không?”
    Đọc xong bản tin này, Các Anh có nhận ra “Nó là nhân vật nào trong nhóm lãnh đạo đỉnh cao gian trá” không vậy? “Có phải Nó là người đã tuyên bố tại “Quốc Hội hộp thư” là nhận trách nhiệm sự sụp đổ của Vinashin, và Nó cũng nói là Nó không làm điều gì sai?” Tôi nói “Quốc Hội hộp thư” vì Quốc Hội chỉ làm nhiệm vụ của nhóm “đỉnh cao gian trá” chỉ thị, chớ không làm nhiệm vụ “đại biểu” do cử tri giao phó qua lá phiếu, thì giờ còn lại thì ngủ gục vì họ thuộc lòng bài bản của các vị đứng trên bục giảng hết rồi.

  12. The Following 6 Users Say Thank You to tieuchuy For This Useful Post:

    Hoanghac (08-16-2012), khongquan2 (04-21-2012), muahong (06-28-2013), Tinh Hoai Huong (06-27-2013), ttmd (07-07-2016), vdoan (05-22-2013)

Trang 1/6 123 ... cuốicuối

Similar Threads

  1. Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 07-30-2011, 02:59 PM
  2. Nhân ngày Quân Lực 19 tháng Sáu: Nhớ đến Biệt Ðội Thiên Nga
    By buingocthang1965 in forum Sưu Tầm, Biên Khảo
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 06-04-2011, 12:09 AM
  3. Lá Thư Viết Gởi Người Em Gái
    By PS khoá 72G in forum Nhac Trữ Tình
    Trả lời: 1
    Bài mới nhất : 05-29-2009, 07:52 AM
  4. Người Lính không có Số Quân
    By Thùy Dương in forum Truyện ngắn
    Trả lời: 1
    Bài mới nhất : 04-08-2009, 12:15 AM
  5. Trả lời: 1
    Bài mới nhất : 04-05-2009, 12:36 AM

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter