Được đăng bởi Lực Nguyễn |

VietnamDefence - Quan hệ hợp tác Nga-Việt trong những năm gần đây đã có tính chất đối tác chiến lược. Nga là nhà cung cấp vũ khí lớn nhất của Việt Nam.
Trong tương lai, hợp tác kỹ thuật quân sự song phương sẽ còn mở rộng hơn nữa. Nga đang hợp tác với Việt nam về tất cả các loại vũ khí trang bị.

Trong quá trình hiện đại hóa hoàn toàn Hải quân, Việt Nam đã trở thành một trong những khách hàng lớn nhất của vũ khí trang bị hải quân Nga. Tổng giá trị các đơn đặt hàng mua vũ khí hải quân của Việt Nam có thể sánh với các hợp đồng hiện tại đang thực hiện cho Hải quân Ấn Độ.

Cuối năm 2009, Nga và Việt Nam ký hợp đồng mua bán 6 tàu ngầm diesel Projekt 636 Kilo trị giá gần 1,8 tỷ USD. Ngày 26.8.2010, tại xưởng đóng tàu Admiralteiskye Verfi đã diễn ra lễ khởi đóng tàu ngầm đầu tiên trong 6 chiếc Kilo mà Hải quân Việt Nam đặt hàng. Các tàu ngầm Kilo của Việt Nam sẽ được trang bị hệ thống tên lửa Club-S.

Ba tháng sau khi ký hợp đồng, hai bên đã bắt đầu đàm phán về việc xây dựng căn cứ tàu ngầm và hạ tầng liên quan. Dự án này trị giá dự đoán tương đương, hoặc thậm chí lớn hơn giá trị các tàu ngầm.

Việt Nam muốn Nga cấp tín dụng xây dựng cả căn cứ tàu ngầm, cũng như các loại tàu khác (kể cả tàu cứu hộ và bảo đảm) và máy bay hải quân.

Lực lượng tàu ngầm và không quân hải quân là những đơn vị mới trong quân đội Việt Nam.

Dự án lớn thứ hai trong lĩnh vực vũ khí hải quân là chương trình mua sắm và đóng theo giấy phép các tàu tên lửa Molnya, tổng trị giá ước 1 tỷ USD. Trong thập niên 1990, Việt Nam đã nhận được 4 tàu tên lửa Projekt 1241RE Molnya trang bị hệ thống tên lửa chống hạm Termit. Năm 1993, Việt Nam mua giấy phép đóng các tàu tên lửa Projekt 1241.8 Molnya trang bị hệ thống tên lửa Uran Việc chuyển giao các tài liệu kỹ thuật, tiêu chuẩn và công nghệ để đóng các tàu này bắt đầu từ năm 2005. Từ năm 2006, bắt đầu quá trình chuẩn bị đóng tàu. Theo hợp đồng ký năm 2003, 2 tàu Projekt 1241.8 Molnya trang bị hệ thống tên lửa Uran dự định đóng tại Nga và 10 tàu còn lại đóng theo giấy phép tại Việt Nam. Tàu Molnya Projekt 1241.8 với hệ thống Uran-E đầu tiên được chuyển giao cho Việt Nam vào năm 2007, chiếc thứ hai vào năm 2008. Năm 2010, việc đóng theo giấy phép 10 tàu trong giai đoạn đến nă 2016 bắt đầu với việc khởi đóng tàu đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh.

Nga vẫn tiếp tục chương trình cung cấp tàu tuần tra cho Việt Nam. Mùa hè năm 2002, 2 tàu tuần tra Projekt 10412 Svetlyak, do Hải quân Việt Nam đặt hàng đã được hạ thủy tại xưởng đóng tàu Almaz (St. Petersburg). Hai tàu này đã được bàn giao cho Việt Nam vào tháng 1.2003. Trị giá mỗi tàu là 10-15 triệu USD.

Các tàu này đóng theo hợp đồng ký giữa Việt Nam và Rosoboronoexport vào tháng 11.2001. Tàu lớp Svetlyak dùng để bảo vệ hải phận, các tuyến giao thông ven bờ và chống đánh cá trộm. Vũ khí trên tàu gồm 2 ụ pháo АК-306, 1 bệ phóng tên lửa phòng không Igla-1М.

Hồi đó, Việt Nam cũng bày tỏ ý định tiếp tục đóng tàu Svetlyak (tổng số lên tới 10-12 chiếc). Chương trình này tiếp tục vào năm 2009. Mùa hè 2009, 2 xưởng đóng tàu Nga (hãng đóng tàu Almaz và Nhà máy sửa chữa tàu Vostochnaya Verf ở Vladivostok) đã khởi đóng tổng cộng 4 tàu Projekt 10412 Svetlyak (mỗi xưởng đóng 2 tàu) theo đơn đặt hàng của Việt Nam.

Projekt 10412 do hãng TsMKB Almaz ở St. Petersburg thiết kế. Tàu có khả năng đi biển tốt, tốc độ gần 30 hải lý/h. Tàu được trang bị 1 khẩu pháo, các súng máy phòng không, thủy thủ đoàn gồm 28 người.


Hệ thống tên lửa bờ biển
cơ động K-300P Bastion-PViệt Nam là khách hàng đầu tiên mua hệ thống tên lửa bờ biển cơ động К-300P Bastion-P sau khi ký hợp đồng mua 2 hệ thống này vào năm 2006.

Nga đang chuẩn bị hợp đồng hỗ trợ Việt Nam sản xuất tên lửa chống hạm Yakhont. Hợp đồng này trị giá ước 300 triệu USD.

Tháng 1.2002, công ty Kronshtadt đã cung cấp cho Hải quân Việt Nam hệ thống huấn luyện tổng hợp Laguna-1241RE. Kronshtadt đã sử dụng các công nghệ phần mềm hệ thống huấn luyện của công ty Tranzas để thiết kế hệ thống Laguna.

Laguna được sử dụng để huấn luyện các kỹ năng điều khiển các tàu tên lửa lớp Projket 12141RE trang bị hệ thống tên lửa Termit được cung cấp cho Việt Nam trong những năm 1990.

Việt Nam cũng bày tỏ ý định mua hệ thống huấn luyện tổng hợp cho 3 tàu Projekt 1241RE, Projekt 1241.8 và cho các frigate mới mua Gepard-3.9.

Tháng 9.2006, hãng Rosoboronoexport đã ký hợp đồng với Hải quân Việt Nam nhằm hiện đại hóa hệ thống huấn luyện Laguna-1241RE và cung cấp các hệ thống huấn luyện mới cho các tàu tên lửa Projekt 1241RE và 1241.8 Molnya. Hợp đồng đã được thực hiện vào tháng 12.2007.

Nga cũng đang thực hiện các dự án lớn bán máy bay chiến đấu và vũ khí phòng không cho Việt Nam.
Nguồn: Armstrade, 27.5.2011.
source: http://www.socmai.tk/2011/05/viet-na...u-ten-lua.html


7 loại tên lửa chủ lực của Việt Nam
1, Tên lửa chống tàu chiến Uran-E ( tên lửa SS-N-25 ) :

Trọng lượng: 630 kg
Trọng lượng đầu chiến đấu : 145 kg
Tầm bắn tối đa: 130 km
Tốc độ chiến đấu: 300 m/s ( bằng tốc độ âm thanh)
Chiều cao bay từ 5 - 10 m trên mực nước biển
Ngoài ra phiên bản phóng từ tàu chiến còn có phiên bản phóng từ máy bay ( Su 22, Su 27, Su 30 ) và trực thăng ( KA 12, KA 25).
Nguồn gốc: Mua từ Nga


Tên lửa Uran E được trang bị cho tàu tên lửa Molniya . (Việt Nam đã được Nga chuyển giao 2 tàu này và 20 chiếc khác sẽ được đóng tại Việt Nam theo công nghệ do Nga chuyển giao. Mỗi tàu Molniya mang 16 quả tên lửa Uran E ).

Loại tên lửa này cũng được trang bị cho loại tàu BPS 500
2, Tên lửa hành trình Moskit ( SS-N-22 ):
http://farm4.static.flickr.com/3151/...7cd58bc0_o.jpg
Mua từ Nga. Được trang bị cho tàu tên lửa Tarantul ( mỗi tàu 4 quả ) . Việt Nam có khoảng 8-10 tàu này . Đây là loại tàu sử dụng tốc độ cao để bất ngờ tấn công rồi nhanh ***ng rút chạy .
Sang năm 2009, Nga sẽ giao cho VN 2 khu trục hạm Gepard , loại tàu này có khả năng tàng hình, chống tàu ngầm, phòng không tốt, có thể phóng cả tên lửa Uran và Moskit.
3, Tên lửa diệt tàu chiến Yakhont ( tên lửa SS-N-26 ):

Nguồn gốc: Mua từ Nga. Tên lửa nặng khoảng 7 tấn, tấm bắn 200 km ( có thể khống chế mặt biển ở vịnh Bắc Bộ ) , có khả năng tàng hình trước ra đa, thích hợp với mọi địa hình bắn.

Theo hợp đồng quân sự đã kí giữa Nga và Việt Nam thì Nga đã chuyển giao công nghệ sản xuất Yakhont với giá 300 triệu đô cho Việt Nam. Hiện Việt Nam mới chỉ có thể phòng Yakhont từ đất liền, VN chưa thể phóng Yakhont từ tàu chiến vì nó đòi hỏi phải có kĩ thuật làm bệ phóng để lắp đặt Yakhont trên tàu chiến .

Đầu đạn nặng 800kg hay 100 kT (hạt nhân)
Tầm xa 460 km ( bao trùm vịnh Bắc Bộ, đảo Hải Nam và quần đảo Hoàng Sa )
Tốc độ Mach 1,4 /480m/s ( gấp 1,4 lần tốc độ âm thanh )
Chiều dài 10m
Đường kính 0,9 m

Sải cánh 2,6 m.

Trọng lượng phóng 4500kg


Nước sử dụng: Chỉ có Liên Xô ( nay là Nga ) và Việt Nam có loại tên lửa này .

Gần đây trên mạng internet của TQ có xuất hiện nhiều bài viết mang tính chất khiêu khích ( VD: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/viet...st_china.shtml) . Trên thực tế lực lượng tên lửa phòng thủ bờ biển của Việt Nam dư sức đánh tan về cơ bản đội tàu đổ bộ của đối phương khi chúng còn cách bờ biển Việt Nam trên 200 km và trước khi các máy bay của đối phương có thể phát hiện ra các vị trí phóng tên lửa .


Theo 1 bài viết trên mạng Sina của TQ thì Việt Nam đang nghiên cứu cải tiến 1 loại tên lửa của Nga. Nếu thành công loại này có tầm bắn 550 km, mang được đầu đạn 1 tấn , tốc độ gấp 2,5 lần tốc độ âm thanh.

5, Tên lửa Brahmos:

Theo nhiều nguồn tin thì Ấn độ đã bán cho VN tên lửa chống tàu chiến Brahmos . Tên lửa này nặng 3 tấn, có tầm bắn 290 km , tốc độ gấp 2,8 lần tốc độ âm thanh, mang đầu đạn 300 kg có thể phóng từ bệ phóng trên mặt đất, tàu chiến hoặc máy bay ( VN có Su 30 có thể mang và phóng loại tên lửa này ).
heo tính toán, cần 3 quả Brahmos để đánh đắm 1 tàu chiến cỡ 20 000 tấn và cần khoảng 10 quả để đánh đắm 1 tàu sân bay. Có tin nói rằng VN đã nhờ Ấn Độ cải tạo loại tàu chiến Petya của hải quân Việt Nam để có thể trở và phóng tên lửa Brahmos :

6, Tên lửa phòng không S300 :
cái này có riêng 1 bài rồi đáy
Việt Nam đang đàm phán với Nga để mua loại S400 - loại hiện đại hơn .


7, Tên lửa đất đối đất Scub C :

Phóng từ mặt đất để tấn công các mục tiêu mặt đất . Năm 1998 VN đã mua 50 tên lửa Scud C của Bắc Triều Tiên có tầm bắn 500 km . Nhưng quan trọng hơn có nhiều nguồn tin trên internet có kèm các hình ảnh nói rằng Việt Nam đã cải tiến được tên lửa Scud nâng tầm bắn lên 600 đến 900 km . Quân đội VN chưa công bố việc này nên chưa thể khẳng định chắc chắn nguồn tin đó có đúng hay không nhưng tên lửa Scud không phải là loại quá hiện đại nên nếu Việt Nam dựa vào hình mẫu có sẵn để chế tạo được loại riêng cho mình thì cũng không có gì đáng ngạc nhiên

Tên lửa Scud có độ chính xác không cao ( có thể rơi cách mục tiêu hàng trăm mét) nên chỉ hiệu quả khi tấn công các căn cứ quân sự lớn hoặc ... thành phố đông dân .

Tên lửa Shaddock Việt Nam bảo vệ Biển Đông
Saturday, 3. October 2009, 08:56

Bản đồ chủ quyền Việt Nam
VIỆT NAM CŨNG LÀ NƯỚC DUY NHẤT ĐƯỢC RUSSIA BÁN CHO LOẠI TÊN LỬA NÀY.

Tên lửa Shaddock

Là loại tên lửa do Liên Xô nghiên cứu chế tạo, dài 10 mét, nặng 4,5 tấn, có tầm bắn 460 km, tốc độ 1,5 Mach, đầu đạn shaddock có thể là 800 Kg thuốc nổ hay 100 kilo Ton (đầu đạn hạt nhân).

Sau khi phóng lên, tên lửa leo lên tầm cao, tăng tốc tới Mach 1.5, và bắt đầu tìm kiếm vùng phía trước với rađa tìm đuờng của nó. Hình ảnh kết quả được truyền tới tàu phóng thông qua 1 kênh TV. Khi một mục tiêu được xác định, thao tác viên trên tàu xác minh liệu có phải đó là mục tiêu mong muốn hay không(VD như hàng không mẫu hạm trong một nhóm tàu), như vậy thì, thao tác viên điều khiển tên lửa bằng cách bật hệ thống tìm đường của nó sang chế độ tự động. Kế đó, tên lửa đi xuống tầm thấp, vẫn ở tốc độ siêu âm, tên lửa được định trước sẽ chui xuống nước 10-20m trước khi tới mục tiêu và sẽ nổ dưới nước để tăng thiệt hại.

VN chỉ có phiên bản phóng từ bệ phóng (xe tải) từ đất liền nhưng với tầm bắn 460 km bao trùm hoàn toàn vịnh Bắc Bộ, đảo Hải Nam và quần đảo Hoàng Sa và một phần vùng biển Trường Sa. Không rõ hiện Việt Nam đang có bao nhiêu quả Shaddock nhưng theo bài viết 'Việt Nam đe dọa Trung Quốc bằng tên lửa siêu âm' trên mạng internet của Trung Quốc thì Việt Nam đã đang nghiên cứu cải tiến loại tên lửa này để nâng tầm bắn lên 550 km, đầu đạn nặng 1 tấn và có tốc độ 2,5 lần vận tốc âm thanh.
Khả năng kiểm soát của tên lửa Việt Nam
source: http://my.opera.com/toquoctrongtoi/b...ow.dml/4292618


Sự kiện chiến hạm Gepard: Trung Quốc đánh giá hải quân Việt Nam
Vấn đề Biển Đông đã và đang trở nên nóng bỏng khi liên tiếp xẩy ra nhưng sự việc ảnh hưởng đến chủ quyền Biển Đông Việt Nam, do đó Việt Nam luôn luôn coi trọng xây dựng lực lượng hải quân, ngày 27 tháng 10, tại triển lãm Quốc tế hải quân tại Pháp lần thứ 21 ,Tổng giám đốc Cục kiến thiết The Nuduli Аму́ре Liên Bang Nga Shalapifu đã cho biết , Nga đang đóng cho Việt Nam chiến hạm Gepard -Con báo – 3.9 loại 11661,dự định sẽ bàn giao năm 2009 và 2010 nhưng nay thay đổi sẽ giao hai chiếc năm 2010 vì có những yêu cầu thêm từ phía Việt Nam .

Được biết, hợp đồng 4 chiến hạm Gepard giữa Nga và Việt Nam đã trải quan 3 năm đàm phán, đến cuối năm 2006 mới thành công. Sở dĩ Gepard được hải quân Việt Nam lựa chọn là do thế hệ đầu tiên của tàu này hiệu: ‘ Tatarstan ” (Trước kia đặt tên “Eagle”) chính thức được trang bị cho lực lượng hải quân Nga vào năm 2003 và hoàn toàn trở thành các tàu chỉ huy của các hạm đội trên biển. Hải quân Việt Nam cho rằng Gepard được hải quân Nga chấp nhận đưa vào trang bị và đầu tư lớn cho sản có thể thấy rằng những tính năng của thế hệ tàu chiến này được hải quân Nga thừa nhận. Phía Nga đã chấp nhận nhiều yêu cầu do phía Việt Nam đề
xuất, đồng ý tiến hành cải tiến cơ bản về các nền tảng quan trọng của thế hệ tàu chiến này, trong đó bao gồm tính năng tàng hình do được phủ một lớp hợp kim Nhôm-Magiê hấp thụ sóng Radars .




Theo tin tức từ các trang mạng của Nga, Gepard – 3.9 là phiên bản xuất khẩu của Nga dành riêng cho Việt Nam theo đơn đặt hàng, nếu như so sánh với tàu Tatarstan của hải quân Nga, ngoài tính năng tàng hình ra phía đuôi boong tàu còn được trang bị thêm trực thăng cơ động. Trọng lượng nổi trên mặt nước của Gepard là 2100 tấn, tốc độ của tàu là 20 hải lí, tàu có thể hoạt động độc lập trong 20 ngày.


Vũ khí

Tên lửa
• 4×4 ống phóng tên lửa đối hạm Uran-E (16 Kh-35 quả, tầm bắn 130km)
Pháo
• 1 pháo chính 76.2mm AK-176M
• Hệ thống pháo/tên lửa phòng không Palma, tầm bắn tối đa với tên lửa 8,000m, đối với pháo là 4,000m, được điều khiển bằng quang-điện và hỗ trợ dữ liệu từ radar.
• 2 súng máy phòng không 14.5mm

Chống ngầm
• 2 ống phóng kép cho ngư lôi 533mm
• Hệ thống phóng bom ngầm RBU-6000 với 12 ống
• Hệ thống kiểm soát hỏa lực chống ngầm Purga




Hệ thống kiểm soát hỏa lực
• Radar Laska có khả năng vừa sục sạo vừa bám các mục tiêu từ khoảng cách tới 30km, dùng để điều khiển pháo các cỡ từ 30 tới 76mm nhằm tiêu diệt các mục tiêu như máy bay, tên lửa và tàu nổi cỡ nhỏ. Nó được tích hợp với các kênh TV và hồng ngoại.
• Hệ thống SP-521 RakursTrực thăng
• Ka-28 ASW chống ngầm (hoặc Ka-31 mang radar chuyên nhiệm cảnh báo sớm) có hăng-ga và bãi đậu.

Hệ thống tác chiến điện tử
• Hệ thống MP-407E ECM system
• Hệ thống mồi bẫy PK-10 (4×10 ống phóng)

Thiết bị định vị
• Hệ thống định vị Gorizont-257 kết hợp cùng radar Gorizont-25
• Hệ thống EKNIS MK-54IS và GPS NT200D

Hệ thống quản lý thông tin tác chiến
• Hệ thống Sigma-E

Hệ thống nhận dạng
• Thiết bị 67R IFF

Thông tin liên lạc
• Hệ thống thông tin liên lạc tự động Buran-6VE



Thiết bị điện tử
• Radar mảng pha 3 chiều trinh sát mục tiêu trên không và trên biển Pozitiv-ME1 tầm trinh sát tối đa 150km trong điều kiện biển động cấp 3; có thể phát hiện mục tiêu bay có diện tích phản xạ radar 1m2 bay ở độ cao 1000m từ khoảng cách 110km; có thể phát hiện mục tiêu là tên lửa đối hạm có diện tích phản xạ radar 0,03m2 bay ở độ cao 15m từ khoảng cách 15km. Có thể bám cùng lúc 3-5 mục tiêu. Có thể phát hiện mục tiêu là tàu nổi có diện tích 10,000m2 từ ngoài đường chân trời.

Tàu chiến

Thông số kỹ thuật
Lượng choán nước đầy tải: 2,100 tấn
Kích thước ngoài (dài x rộng x mớn nước): 102.2 x 13.1 x 5.3m
Tốc độ:
- Tối đa: 28 hải lý/h
- Tốc độ hành trình: 18 hải lý/h
Tầm hoạt động ở tốc độ tiết kiệm: 5,000 hải lý
Dự trữ hoạt động: 20 ngày
Sử dụng vũ khí không hạn chế trong điều kiện biển động tới cấp 5
Động cơ chính: 2×11,000hp
Thủy thủ đoàn: 103 người .



Gepard- 3.9 có thể tác chiến độc lập hoặc làm nhiệm vụ phối hợp với hạm đội, tiến hành săn tìm, bám sát và tấn công tầu chiến địch trên mặt nước, tầu ngầm, và các mục tiêu trên không, và cũng thích hợp chi viện hoả lực cho các tàu hộ vệ, tuần tra, tàu phóng ngư lôi hoặc các lực lượng lục quân. Tàu chiến này sau khi được bàn giao cho Việt Nam sẽ thay đổi đáng kể về hiện trạng còn thiếu hụt chiến hạm cỡ lớn, và năng lực tác chiến tổng hợp tầm xa của hải quân Việt Nam cũng được đề cao một cách rõ ràng. Việc Việt Nam có Gepard 3.9 sẽ tạo một làn sóng mới trong các thế hệ chiến hạm của Đông Nam Á .



Việc mua từ Nga chiến hạm tiên tiến Gepard- 3.9 ‘ chỉ là một bước đi nhằm tăng cường xây dựng hiện đại hoá trang bị của lực lượng hải quân trong ” kế hoạch phát triển lực lượng hải quân trong thế kỷ 21 ” của hải quân Việt Nam. Trên thực tế cùng với chiến lược quân sự quốc gia ” Bắc phòng thủ Nam tấn công ” do đó cũng chuyển biến theo hướng” lục quân phòng thủ hải quân tấn công “, trong những năm gần đây Việt Nam không ngừng tăng cường mạnh mẽ tiềm lực hải quân, cố gắng lợi dụng các trang bị hạng nhẹ tấn công nhanh hiệu quả hiện nay làm chủ chốt cho các lực lượng trên biển gần bờ, xây dựng lền tảng cho năng lực tác chiến xa bờ và năng lực tác chiến của một lực lượng hải quân hiện đại.Chính vì như vậy mà Việt Nam đã áp dụng rất nhiều biện pháp:
- Điều chỉnh kết cấu của lực lượng hải quân, trong đó có một biện pháp rất quan trọng đó là thành lập lực lượng bảo vệ giám sát bờ biển nhằm từ việc bảo vệ và giám sát bờ biển sẽ từng bước đảm nhận nhiệm vụ tăng viện trên biển, mà trong tình huống cần thiết sẽ kết hợp tác chiến với lực lượng hải quân. Hiện nay lực lượng hải quân lục chiến đã chiếm 2 phần 3 quân lực của hải quân trở thành lực lượng tác chiến chủ lực trên biển của hải quân Việt Nam.


Chiến hạm Petya mới nâng cấp
- Nâng cấp trang bị vũ khí, hiện nay lực lượng hải quân đã quản lí 4 quân khu duyên hải, tổng binh lực khoảng 50,000 người, trong đó có hơn 120 chiến hạm tác chiến các loại tuy vậy hiện nay tồn tại phổ biến vẫn là các loại chiến hạm đã cũ, trang bị vũ khí lạc hậu, và các tàu trọng tải nhỏ…và nhiều khiếm khuyết khác. Khó thể hài lòng được yêu cầu chiến lược mở rộng vùng biển của Việt Nam, thậm chí khó đáp ứng được nhiệm vụ chống buôn lậu, hộ tống, bảo vệ tầu cá, thị sát, tuần tra… càng ngày càng nhiều trên biển. Nhằm thay đổi trang bị lạc hậu hiện nay hải quân Việt Nam đồng thời với việc gia tăng mua sắm từ Nga đã không ngừng mở rộng các nguồn cung cấp vũ khí khác, như mua các tên lửa chống hạm, tầu tuần tra và nhiều thiết bị vũ khí khác từ một số nước như Pháp, Hàn Quốc, Ba Lan, Hungary, Ukraina…Trong việc mua vũ khí từ bên ngoài, trong đó phải kể đến 4 tầu phóng tên lửa ” Kiến trắng ” ( Molniya ) trang bị hệ tên lửa chống hạm ” tia chớp “, 2 tầu tuần tra cao tốc ” Con đom đóm ” trạng bị 48 tên lửa ” tia chớp ” chống hạm loại X – 35.

Tên lửa X – 35 có thể được trang bị trên xe di động


- Xây dựng căn cứ Hải quân mới, Việt Nam hiện nay có 119 cảng biển các loại, trong đó chủ yếu là các căn cứ Hải quân và hơn 10 cảng dùng cho quân sự. Nhưng bố trí tổng thể các căn cứ hải quân Việt Nam lại có đặc điểm, ” Trọng ở phía Nam và nhẹ ở phía Bắc “. Để Nam Bắc cân bằng trọng tâm phòng tuyến trên Biển, bộ quốc phòng Việt Nam bắt đầu từ năm 2007 đã xây dựng một cảng quân sự mới cỡ lớn tại thành phố trọng điểm của Bắc Bộ là Hải Phòng. Quân cảng Hải Phòng sau khi hoàn thành sẽ có khả năng cập cảng các tàu quân sự hạng nặng trọng tải 40,000 tấn và từ 40 đến 60 các chiến hạm và tàu ngầm. Trở thành căn cứ hải quân lớn thứ hai Việt Nam sau quân cảng Cam Ranh .


Và một tiết lộ khác từ truyền thông của Nga, trong vài năm gần đây phía quân đội Việt Nam đặc biệt coi trọng xây dựng mạng Internes tin tức hoá trong hải quân. Liên tục nhập khẩu từ Hoa Kỳ, Anh Quốc, Pháp, Nga , Belarus … các hệ thống giám sát tầm gần và tầm xa, cảnh báo sớm . Mục đích là nhằm xây dựng mở rộng phạm vi phủ sóng hình thành tổ hợp mạng trinh sát giám sát bờ biển.




Việt Nam là nước quan trọng nhất đưa ra yêu sách về lãnh thổ của vùng biển Đông , các chuyên gia quân sự cho rằng trong hơn 10 năm trở lại đây việc Việt Nam điều chỉnh chiến lược quân sự, trọng điểm là tăng cường xây dựng lực lượng hải quân, mục đích là thực hiện hết khả năng có thể để giám sát và khống chế khu vực Biển Đông một cách hữu hiệu, kết hợp với các nước có cùng tranh chấp với Trung Quốc bảo vệ và khai thác nguồn tài nguyên dầu khí phong phú tại vùng biển Đông. Đầu năm 1995 lúc đảm nhận chức vụ Bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam ,ông Đỗ Mười đã tuyên bố: ” cần đặc biệt tăng cường việc xây dựng hiện đại hoá lực lượng Hải quân nâng cao năng lực tác chiến, tấn tốc đề cao việc bảo vệ chủ quyền Việt Nam, lợi ích quốc gia và nguồn tài nguyên tự nhiên Biển “.




.Dựa vào những dự tính hiện nay của Hải quân Việt Nam, trong việc dựa vào tuyến đường biển trải dài từ Bắc vào Nam theo hình chữ ” S ” và lợi dụng vị trí tuyệt vời ở các đảo Trường Sa đang giữ chủ quyền , có thể hình thành một trận địa quốc phòng tương đối hoàn chỉnh. Hải quân Việt Nam hoàn toàn có khả năng dùng ” trọng điểm khống chế toàn diện “, lợi dụng ưu thế của địa hình để phát huy năng lực chiến đấu của các tầu chiến cỡ nhỏ tấn công nhanh, từ đó mà chống lại và cân bằng sức mạnh hải quân của khu vực và đối với các quốc gia khác.



Chiến hạm Molniya Việt Nam ở Trường Sa

Cùng với việc sử dụng một số trang thiết bị quân sự tiên tiến, những năm gần đây hải quân và không quân Việt Nam cùng phát triển một phương hướng, nhiều lần tiến hành tập trận quy mô lớn trên biển với các tình huống tập trận hợp đồng tác chiến của hải quân , không quân cùng lính thủy đánh bộ , chi viện cho Trường Sa, bảo vệ các căn cứ trọng yếu, nâng cao năng lực quốc phòng giữ vững chủ quyền biển đảo.

source: http://tbmainam.wordpress.com/2010/0...quan-phia-nam/