Trang 2/2 đầuđầu 12
kết quả từ 7 tới 9 trên 9

Tựa Đề: Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI

  1. #7
    Moderator
    saomai's Avatar
    Status : saomai v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2008
    Posts: 2,010
    Thanks: 2,929
    Thanked 5,489 Times in 1,950 Posts

    Default Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI

    Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 12) – MÙA THU CỦA CÁC TRƯỞNG LÃO*
    Khuất Đẩu


    Như thế là tội ác – Tranh: Thanh Châu

    Mặc dù đang ở cái tuổi lão giả an chi và đã đi qua hết mùa thu của cuộc đời, nhưng vì là một công dân hạng hai, nên tôi chỉ được gọi là lão già, chưa kể khi đọc bài viết của tôi có kẻ còn gọi là thằng già nhiễu sự.

    Trưởng lão, được dùng để thưa gửi các vị quyền cao chức trọng đã từng lừng lẫy một thời.

    Như các vị từng là thủ tướng, chủ tịch quốc hội, chủ tịch nước và cao chót vót là tổng bí thư. Còn trong quân đội, bét lắm cũng từ hàng đại tá trở lên.

    Có một thời đáng xấu hổ, giữa thủ đô Hà Nội, nhiều vị đại tá từng vào sinh ra tử ở chiến trường miền nam, khi trở về trong vinh quang lại ra ngồi vỉa hè …vá xe.

    Hay tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, với đồng lương hưu còm cõi đã bị cô con dâu là bác sĩ đem những thai nhi sinh non về nuôi chó bẹt giê, rồi phất lên, coi khinh cả bố chồng khiến ông buồn rầu lên biên giới để được chết.

    Giờ, sau đổi mới thì đổi đời, các cụ đều hạ cánh an toàn. Cụ nào cũng nhà cao cửa rộng, nhiều cụ ngự trong những dinh thự còn lộng lẫy xa hoa hơn cả biệt thự của công tử Bạc Liêu ngày nào.

    Có cụ thờ Bác bằng tượng vàng 24 cara, có cụ ngồi trên ngai chạm đầu rồng, có cụ bê nguyên cả một trống đồng nghìn năm văn hiến…

    Đấy là bề nổi của một tảng băng, còn bề chìm thì chỉ có trời mới biết được khối tài sản của các cụ lớn đến cỡ nào.

    Mặc dù đã về vui thú điền viên, xin làm người tử tế, nhưng vẫn còn những thuộc hạ đủ sức giúp các cụ ngồi trong bóng tối mà vẫn thao túng cả chính trường và thị trường.

    Nhiều lệnh được ban ra: khử thằng này, diệt thằng kia, ném cứt vào nhà nó, đốt đi! Đốt nữa đi, cho nó hộc máu, làm cho nó đột quỵ… cứ như các băng đảng Mafia khét tiếng.

    Đúng là các cụ bây giờ vừa lạnh lùng tàn nhẫn, vừa quyền uy đáng sợ như nhân vật bố già trong bộ phim nổi tiếng Godfather.

    Đó là các trưởng lão đã về vườn hay bị ép buộc phải về vườn. Còn các trưởng lão không thể về được vì đất nước đang cần, hay tưởng rằng đất nước không còn mình thì không còn đảng nên quyết tâm ngồi lại, thì quả thật hết sức bận rộn.

    Mặc dù xây lò để đốt cho tiêu đời luôn thay vì ném mắm tôm kiểu mấy con mẹ mất gà, đưa vào lò chẳng những củi khô mà cả củi còn tươi, nhưng xem ra các băng đảng tiểu mafia vẫn coi như nơ pa.

    Đó là chưa kể trùm giang hồ phương bắc, miệng thì thơn thớt mười sáu chữ vàng mà trong nham hiểm cho hằng trăm tàu ngầm lặn dưới biển sâu chờ đánh úp.

    Đại trưởng lão một mình tứ phương thọ địch, chỉ mới què chứ chưa chột đã là may.

    Còn có một cụ, chỉ nghe thấy tiếng chứ không thấy hình, tên gọi là cách mạng mùa thu, có thể tôn lên hàng đại trưởng lão.

    Cái mùa thu của cụ sao mà nó dài quá đỗi, kéo dài từ năm một chín bốn lăm đến nay, đã là ba phần tư của thế kỷ vẫn chưa chịu chết?!

    Chết đi, chết giùm đi lão mùa thu già mắc dịch, chết đi để bài tình ca của Phạm Duy được vang lên trọn vẹn.

    Ta ngắt đi một chùm hoa cộng sản!

    Em nhớ cho mùa thu

    đã chết rồi!

    Mùa thu đã chết

    đã chết

    đã chết

    rồi!

    Sướng quá em!

    Mùa thu đã

    chết rồi!



    25/9/2019

    Khuất Đẩu

    *mượn tựa một truyện ngắn của G.Marquez



    10/13/2019
    Khuất Đẩu: NGHE TIN DU TỬ LÊ MẤT, ĐỌC LẠI BÀI THƠ: ĐÊM, NHỚ TRĂNG SÀIGÒN!
    Khuất Đẩu


    (Tùy bút)



    Đêm về theo vết xe lăn

    xe lăn, mà sao nghe như xe tang

    xe chở xác qua phường Dạ lạc

    của Văn Cao?!

    dù cờ đã thay

    dù tên thành phố đã đổi

    thì trái đất vẫn quay

    ngày vẫn đi và đêm vẫn tới

    xe vẫn lăn

    và nhịp đời vẫn chuyển

    nhưng trăng Sài Gòn

    trăng của tôi thưở nào

    giờ đã là trăng viễn xứ

    trăng viễn xứ buồn xiết bao

    hồn tôi một thưở xanh phơi phới

    giờ ủ ê vàng vọt

    tôi đâu có đau gan đau phổi

    mà sao trông ốm yếu ho hen

    thì hãy đừng tìm tôi

    vì bạn sẽ thấy đèn thắp hai hàng

    như hai dãy nến cháy trên nắp áo quan

    Phố xá ngày xưa đông vui

    giờ hoang vu đến nỗi

    chỉ thấy cờ đỏ trên cây

    và khẩu hiệu giăng ngang

    như mạng nhện

    Trần Dần thấy mưa sa trên màu cờ đỏ

    tôi cũng chỉ thấy sương quàng cổ cây

    chúng tôi lạc nhau

    tôi và hồn của tôi

    giữa thành phố hoang vu

    tôi nổi chiêng trống gọi

    mà hồn tôi vẫn mỗi ngày mỗi xa



    Từng chuyến xe qua

    và đêm vẫn về

    tôi ngồi nhớ tôi

    nhớ tôi xa lộ

    nhớ nhà Hàng Xanh

    nhớ mưa Thị Nghè

    nhớ nắng Trương Minh Giảng

    nhớ lá reo trên đường Tự Do

    giờ là Đồng Khởi mà không đồng hành

    nhớ em kim chỉ khíu tình

    trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre

    tội nghiệp làm sao

    khi thấy em cắt chiếc áo dài

    chiếc áo học trò

    hai phần gió thổi một phần mây

    chiếc áo mỗi khi em mặc

    cánh tay em mềm như cánh chim

    giờ may áo cụt

    để xuống ruộng nhiều đỉa

    học lao động

    học đan đát dưới khóm tre

    và tôi nhớ dù không muốn nhớ

    pho tượng người lính ngồi nhớ bạn bè đã chết

    cây súng buồn đặt trên gối

    mắt buồn rưng rưng

    được đặt tên Thương Tiếc

    ở nghĩa trang quân đội Biên Hòa

    không muốn nhớ vì tượng đã bị cắt cụt đầu

    đem nung thành đồng nát



    Bài thơ được làm năm một chín bảy tám

    năm mà ông và Mai Thảo

    bị kết án tử hình trên đài phát thanh

    năm mà Sài Gòn bị bao vây

    một cân gạo, một ký thịt cũng bị tịch thu

    năm ông đi làm ca hai ở đất nước người

    chỉ thui thủi một mình với một vầng trăng

    năm mà con sông xưa thành phố cũ

    giờ đã xa rồi, xa thăm thẳm

    chính vì vậy mà ông thấy trăng Sài Gòn

    đẹp hơn trăng viễn xứ

    và ông nhớ, không chỉ trăng mà cả mưa cả nắng, cả lá cây cả bụi đường

    nhớ những gì gần gũi nhất

    tầm thường nhất

    mà cũng đau đớn nhất

    không như Trịnh Công Sơn ở trong nước

    thoải mái nhớ ly chè quen

    nhớ ngựa thồ ngoại ô xa vắng

    nhớ phố đêm đêm hàng quán xôn xao



    Ông có bài thơ Khi tôi chết hãy đưa tôi ra biển

    cũng như trường ca Mẹ về biển Đông

    bỡi vì đi hết biển Thái Bình là về tới Việt Nam quê nhà

    là chấm hết nỗi đau của một người viễn xứ.

    giờ, có thể thân xác ông nằm cạnh mẹ trên đất Mỹ

    nhưng hồn ông chắc đã lang thang trên phố Trương Minh Giảng, phố Thị Nghè và tìm đến nghĩa trang Biên Hòa, dù pho tượng người lính không còn nữa.

    Bài thơ của ông đã xé nát tim tôi

    buồn không viết thêm được nữa.

    13/10/2019

    Khuất Đẩu



    ©T.Vấn 2019

    Phụ Lục:

    (Nguồn: www.thivien.net)
    Đêm, nhớ trăng Sài Gòn

    Du Tử Lê
    Đêm, nhớ trăng Sài Gòn – Phạm Đình Chương phổ nhạc, Trần Thái Hoà thể hiện



    Đêm về theo vết xe lăn
    Tôi trăng viễn xứ hồn thanh niên vàng
    Tìm tôi đèn thắp hai hàng
    Lạc nhau cuối phố sương quàng cỏ cây

    Ngỡ hồn ta xứ mưa bay
    Tôi chiêng trống gọi mỗi ngày mỗi xa
    Đêm về theo bánh xe qua
    Nhớ em xa lộ nhớ nhà Hàng Xanh

    Nhớ em kim chỉ khứu tình
    Trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre
    Nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
    Nắng Trương Minh Giảng trưa hè Tự Do

    Nhớ nghĩa trang quê hương bạn bè
    Nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường
    Đêm về theo vết xe lăn
    Tôi trăng viễn xứ sầu em bến nào?

    1978Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc thành bài hát cùng tên.


    Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 13) – BA CHÀNG THI SĨ TÊN SƠN
    Khuất Đẩu




    Một họ Trịnh, hai họ Nguyễn.

    Chàng họ Trịnh, ai cũng biết là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Nhưng ngoài tài xếp 7 nốt thành những bản nhạc bay bổng tuyệt vời, còn có tài sử dụng tiếng Việt như một thi sĩ thực tài.

    Văn Cao bảo Trịnh Công Sơn chọn chữ dễ dàng như thò tay vào túi áo. Có lẽ ông thấy vậy, chứ không phải vậy.

    Trịnh Công Sơn tuy sinh ở Buôn Mê Thuộc, nhưng gốc Huế, học ở Huế, cái máu Huế điệu đàng và yêu thích thơ vẫn không ngừng chảy trong ông.

    Mỗi chữ, mỗi hình ảnh được ông lựa chọn còn kỹ hơn cả Nguyễn Tuân.

    Trong khi Nguyễn Tuân gõ lên từng chữ để nghe xem nó kêu leng keng ra sao rồi mới xếp vào đúng chỗ trong từng câu, thì Trịnh Công Sơn, một tay cầm điếu thuốc, một tay cầm ly rượu ngồi một mình trong yên lặng, lắng nghe từng chữ rơi xuống lòng mình như những giọt mưa ngoài hiên vắng. Những con chữ tìm đến nhau, ngân nga thánh thót… Thế là chàng dụi tàn thuốc, cạn ly rồi cầm lấy bút ghi lên giấy. Tôi tin Trịnh Công Sơn làm thơ trước khi viết nhạc. Và mỗi bản nhạc với lời là một bài thơ, có khi là lục bát, có khi bảy tám chữ, có khi tự do, khi nhạc được vang lên thì hồn thơ cũng bay lên theo.

    Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ
    Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao
    Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ
    Đường dài hun hút cho mắt thêm sâu

    Mưa vẫn hay mưa trên hàng lá nhỏ
    Buổi chiều ngồi ngóng những chuyến mưa qua
    Trên bước chân em âm thầm lá đổ
    Chợt hồn xanh buốt cho mình xót xa

    Chiều nay còn mưa sao em không lại
    Nhỡ mai trong cơn đau vùi
    Làm sao có nhau, hằn lên nỗi đau
    Bước chân em xin về mau

    Mưa vẫn hay mưa cho đời biển động
    Làm sao em nhớ những vết chim di
    Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng
    Để người phiêu lãng quên mình lãng du

    Mưa vẫn hay mưa cho đời biển động
    Làm sao em biết bia đá không đau
    Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng
    Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau.

    Hồn thơ ở đây bay lên từ tầng tháp cổ, từ lá thu mưa reo mòn gót nhỏ, từ ngồi ngóng những chuyến xe qua…sau cùng đọng lại trong ta một cái gì tưởng chừng rất lạ, nhưng cũng rất quen, gần như chân lý khiến ta trầm ngâm, gật gù thấm thía

    Đó là Làm sao em biết sỏi đá không đau.

    Và ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau.

    Thật khác hẳn với Em đến thăm anh một chiều mưa của Tô Vũ: mặt nhìn mặt cầm tay bâng khuâng không nói một câu để rồi lòng bồi hồi nhìn theo chân em chìm trong ngàn xanh và cầu mong em đến thăm một chiều thêu nắng và quên đường về.

    Một bên nâng hồn ta lên, khiến ta từ cái riêng hòa vào cái chung. Còn một bên xui ta những ước mơ thường tình!

    Một bên cần có nhau mà chưa có, nên nghe mưa trên tầng tháp cổ nó mới thật hiu hắt là buồn.

    Một bên đã có nhau rồi, còn muốn có nhau nữa, và có nhau cả trong đêm, trong khi nàng một mình trên đường ngoài mưa, chân chìm trong ngàn xanh, tội nghiệp làm sao và cũng tàn nhẫn xiết bao!

    Nhật Ngân và Y Vũ trong Tôi đưa em sang sông bàn tay nâng niu ân cần, sợ bến đất lấm gót chân, sợ bến gió buốt trái tim,…sợ lấm trong bùn khi mưa. Rất đàn ông và rất galant.

    Vì vậy bản nhạc của Tô Vũ theo tôi tuy rất nổi tiếng nhưng không có hay có rất ít hồn thơ.

    Không cầu kỳ như Mai Thảo, không gọt dũa như Đinh Hùng, cũng không làm ra vẻ dễ thương nũng nịu như Nguyên Sa…chỉ là những câu những chữ, những hình ảnh bình thường như

    Mưa vẫn hay mưa

    Mưa vẫn mưa bay

    Buổi chiều ngồi ngóng

    Làm sao em biết

    Làm sao em nhớ…

    mà sao vào trong khuôn nhạc của chàng rồi nở ra trên môi người ca sĩ, bỗng trở nên bóng bẩy thơm tho đến như vậy, nếu không phải phát sinh từ một thi sĩ thực tài như Hàn Mặc Tử hay Hồ Dzếnh.

    Trịnh Công Sơn bóng bẩy điệu đàng một cách kín đáo, hay tài tình một cách tự nhiên khiến nhiều người gọi là thiên tài, thì chàng họ Nguyễn, tên Bắc Sơn lại ba gai bụi đời rất lính tráng.

    Người ta nói nhiều về bốn câu thơ trước khi đi vào văn học sử đã nằm trên đầu môi của lính miền Nam

    Mai ta đụng trận ta còn sống

    Về ghé sông Mao phá phách chơi

    Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm

    Đốt tiền mua vội một ngày vui!

    Cũng từ đây người ta tán rộng đến cả cuộc chiến tranh phi nghĩa, đến lý tưởng của thanh niên, đến nỗi cô đơn cùng cực phải chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm và cho rằng ít nhiều đã lý giải vì sao miền nam thua trận.

    Cũng được thôi, bốn câu thơ này mà ở miền bắc thì không biết tác giả đã bị đem ra đấu tố bao nhiêu ngày bao nhiêu đêm trước khi bị tống vào trại cải tạo không biết đến ngày ra tù.

    Thực ra, đây chỉ là khẩu khí của một anh lính địa phương quân, một loại lính dùng để hợp lệ quân dịch cho những ai trốn lính, chỉ lẩn quẩn ở gần nhà, rất hiếm khi đụng trận, mà nếu có như tết Mậu Thân, thì tốt nhất là chuồn.

    Cái khẩu khí của chàng còn dùng để trêu chọc cả người yêu, như bốn câu thơ cũng nổi tiếng không kém sau đây:

    Ta vốn ghét đàn bà như ghét cứt

    Mà vì sao ta lại yêu em

    Ôi mắt em nhìn như là bẩy chuột

    Ta quàng xiên nên đã sa chân.

    Nói cho oai vậy thôi, chứ cái “vốn ghét” ấy chỉ cần một cái nguýt thôi là bay sạch cả. Và một triệu bài thơ cũng chưa chuộc lại được nói chi đến một triệu đóa hoa hồng.

    Tôi rất thích bài thơ chàng tâm sự với cha. Ông cụ là một đại tá quân chánh quy miền bắc.

    Bài thơ có những câu thiệt thà như đếm:

    Bố tôi ước mơ làm cho loài người sung sướng

    Và thế là ông từ tuổi thanh xuân

    Cùng bạn bè đi làm cách mạng

    Ông càng làm cách mạng chừng nào

    Thì loài người càng thêm sặc máu



    Tôi ước mơ cõi đời tốt đẹp

    Và thế là tôi làm thơ ca tụng loài người

    Tôi càng ca tụng chừng nào

    Thì loài người càng xấu xa chừng nấy!

    Người ta thường nói không ai hiểu con bằng cha. Ở đây, phải nói ngược lại, không ai hiểu cha bằng con.

    Đấy không phải là lời buộc tội, mà là một sự thật vừa khủng khiếp vừa cay đắng. Hai chữ “sặc máu” rất du côn, rất xã hội đen, thật đúng với cái nước cộng hòa xã hội đen bây giờ.

    Một chàng họ Nguyễn tên Đức Sơn còn độc đáo hơn nữa, gây sóng gió thi đàn với bài thơ chỉ có 3 từ:

    Hột thì le

    Chàng được xếp vào nhóm dị nhân mà nhóm trưởng dị thường nổi tiếng nhất là Bùi Giáng.

    Chàng có bài thơ Một mình nằm thở đủ kiểu rất giống bài tập dưỡng sinh, hay hơn cả bài tập thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Bài thơ như vầy:

    Đầu tiên tôi thở cái phào

    Bao nhiêu phiền não như trào ra theo

    Nín hơi tôi thở cái phèo

    Bao nhiêu mộng ảo bay vèo hư không

    Sướng nên tôi thở phập phồng

    Mây bay gió thổi trời hồng muôn năm

    Mai sau này chỗ tôi nằm

    Sao rơi lạnh lẽo âm thầm biển ru

    Lúc làm bài thơ này chàng vẫn còn trẻ trung khỏe mạnh, nên thở cái phào, rồi thở cái phèo, bây giờ già yếu “chàng” chỉ có thể nằm thở pheo pheo, để chờ ngày hết thở.

    Ông có bài thơ mà tôi cho là cực kỳ dữ dội mà cũng cực kỳ tình cảm, rất lạ lùng có thể nói chỉ có Sơn Núi mới làm ra được mà thôi.

    Bài Đêm thăm bạn sắp đẻ ở Di Linh

    Sắp đẻ ở Di Linh cây cối chào chị

    Sắp đẻ ở hư không rừng và chị ôm nhau hát



    Tôi dấu mặt đi ven hồ lạnh giá

    Căn nhà gỗ phần mộ thanh xuân

    Những ván thông dày đặc gỗ quan tài

    Của tóc của chị của tình nhân

    Của dương cầm bỏ phế đúng một năm

    Sắp đẻ ở Di Linh cô đơn hùng dũng

    Chị thu mình như con mèo mun

    Chị thu mình như một vũ nữ Ba Lan

    Chị thu mình như một đĩa hát cũ



    Ôi nắng vàng dòng thác Gougah

    Rừng và chị ôm nhau hát

    Sẽ đẻ ra một đứa con

    Rừng và chị ôm nhau chết.

    Thơ viết như thế này, nói theo các cụ xưa là động đến cả quỷ thần.

    Người “chị” trong bài thơ là một nữ sĩ cũng rất dị kỳ, rất mực thông minh, rất mực tài hoa và là dịch giả miền nam chỉ xếp sau Bùi Giáng. Chị và đứa con sinh ở Di Linh, sau 1975, bị lính Khơme đỏ giết chết ở đảo Thổ Chu.

    Nếu ai tin có linh hồn, đọc bài thơ này, sẽ thấy từ cõi hư vô chị linh hiển dắt con trở về.



    Ba chàng ngự lâm pháo thủ có một chỗ đứng rất vẻ vang trong văn chương Pháp. Còn ba chàng Sơn thi sĩ, tôi cũng tin có một chỗ đứng xứng đáng trong nền nghệ thuật miền Nam, và khi đất nước thật sự thống nhất, thì hẳn nhiên được ngồi cùng hàng với các vị tiền bối.

    25/9/2019

    Khuất Đẩu

    ©T.Vấn 2019


    Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 14) – MỘT MÌNH QUA PHỐ
    Khuất Đẩu


    Sài Gòn ngày trở lại – Tranh: Thanh Châu

    Bốn chữ này tôi mượn của Trịnh Công Sơn, không phải để âm thầm nhớ nhớ tên em nào, mà để nhớ lại một thời để yêu và một thời để chết.

    Đó là thời của những năm sáu mươi, bảy mươi, thời của hai mươi năm nội chiến từng ngày, thời mà nằm ngủ trên giường, ngồi quán cà phê hay đi xe đò cũng chết huống gì ra mặt trận.

    Thời đó, những người con trai mới lớn, vừa bước chân vào đời đã phải đối diện với cái chết, thì tổ quốc, tương lai…chỉ là những tên gọi mơ hồ, tuyệt vọng… chỉ có em, chỉ có tình yêu dù đơn phương, mới là tất cả.

    Em là chút mầm xanh của cây đời đang gãy đổ. Em là đóa hoa súng trên mặt hồ lạnh lẽo. Em mong manh, nhưng quý hóa biết chừng nào.

    Thì đúng là may mà có em, cuộc đời mới dễ thương, nếu không, Vũ Hữu Định trên đường ra biên giới khác nào tử tội ra pháp trường.

    Một mình, đương nhiên là chỉ một người. Nhưng không phải một mình trên đường lớn rất triết của Tô Thùy Yên, cũng không phải một mình đứng giữa quãng chơ vơ rất cô đơn của Trần Tế Xương. Lại càng không phải một mình mình một bơ thờ vịn cây cây ngã vịn bờ bờ xiu rất tuyệt vọng như trong ca dao.

    Một mình qua phố, tuy mình ên, nhưng rất xôn xao vì còn có tên ai đó để nhớ, còn có ai tan trường về để lầm lũi bước theo sau.

    Một mình có thể là anh học trò nghèo bụng lép kẹp nhưng hồn đầy mộng mơ, có thể là nhà tu dù đã tu qua chín kiếp nhưng vẫn chưa rũ hết mùi tục lụy, cũng có thể là một cô học trò lãng mạn đang fall in love viết nên bài thơ này:



    Tôi đi trên đường nắng

    Thương những buổi trưa vàng

    Những bờ hoang xa vắng

    Đôi tâm hồn lang thang



    Kiếm tìm trên lối ngõ

    Bàn chân yêu thương qua

    Nhà ai in ngói đỏ

    Trời xanh ôm mái nhà*



    Chữ phố, đứng một mình, không có thành, không có khu phía trước, cũng không có vắng có xa phía sau, rất trơ trọi, nhưng có thế phố mới trở nên thân quen ấm áp. Phố bỗng trở thành một người bạn cùng bước song hành để cho ta rù rì tâm sự.

    Mặc dù xe ngựa ồn ào, kẻ đi người lại bon chen, ta vẫn thấy phố thật vắng, thật yên, phố vẫn đi theo ta lặng lẽ như bóng với hình.

    Kìa là những cột đèn, những ban công, những mái lầu, rồi tháp chuông và trên cao là mây trắng…

    Phố có mùi hương, có thể là của hoa dã quỳ vàng rực, có thể là của hoa ngọc lan đài các, hay hoa sữa nồng nàn, và nếu trời đang mưa, ta có thể nghe ra mùi của hương nước mưa mát lạnh.

    Vì đi chỉ để mà đi, cần gì phải ngang qua những con phố sang trọng với cửa hiệu sáng choang, hàng hiệu đắt tiền hay những ba những bảy xập xình…

    Thế rồi, trên những con phố nghèo, bỗng dưng dưới một mái hiên hay một khung cửa nào đó, e ấp một mái tóc nghiêng nghiêng, mộng mơ một đôi mắt đuôi dài, thì dù lộn xộn, dù nhếch nhác đến đâu, ta vẫn thấy con phố bỗng trở nên giàu có sang trọng và sao mà nó lại sạch sẽ thơm tho đến như vậy.

    Từ đây con phố có linh hồn, và ta bỗng trở nên chàng thi sĩ có thể làm thơ dù là thơ con cóc.

    Vậy đó, cứ thế lửng thửng mà đi, vô tình mà bước, không cứ gì phải tìm ai, gặp ai, cứ đi như sông là phải chảy, mây là phải bay và mưa là phải rơi xuống.

    Cái thời mới lớn của tôi đó, nó nhà quê, nó cả ngố làm sao! Nhưng dù đã xa thật xa, tận cùng trong quá khứ nhạt mờ, tôi vẫn thấy cậu ta bước đi chân không hề mỏi, mắt nhìn đâu đâu, tưởng chừng như đang lạc bước vào chốn thần tiên. Và khi trông thấy con gái bay nhiều quá, những cánh tay mềm như cánh chim**, cậu tưởng chừng cũng sắp bay lên. Ôi chao cậu muốn được ôm tất cả vào lòng chứ không chỉ một riêng ai.

    Tham lam quá phải không, nhưng có như vậy mới đáng để cậu ta một mình qua phố chứ.



    26/9/2019

    Khuất Đẩu

    * thơ của Nguyễn thị Hoàng

    ** thơ của Hoàng Trúc Ly



    Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 15) – TIẾNG NƯỚC TÔI
    Khuất Đẩu


    Quê Hương – Tranh: Mai Tâm

    Đó là tiếng mẹ đẻ, và không riêng gì Phạm Duy, tôi cũng yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời.

    Âm đầu tiên mà mọi đứa trẻ phát ra từ đôi môi bé xíu, là âm mờ/m/ cùng với tiếng khóc e..e.. a..a.. chỉ dăm bảy tháng sau khi sinh đã bập bẹ ma ma, me me. Rồi cùng với tiếng mẹ ru à ơi, thành ra tiếng đầu lòng, tức là tiếng mẹ ơi, má ơi, chứ không thể và không bao giờ, ngay cả ở Liên xô, tiếng đầu lòng con gọi Xít ta lin*.

    Cho nên cái chủ nghĩa cộng sản thường huênh hoang bách chiến bách thắng, thực ra đã thất bại ngay từ khi mới ra đời.

    Rồi tôi học nói, như con chim học nói trên cành líu lo. Bởi vì, như các cụ cố đạo Bồ Đào Nha, cách đây bốn trăm năm đã nghe các phụ nữ bản xứ, nói như chim hót.

    Con chim không hót thành lời mà ra nhạc. Tiếng nước tôi cũng vậy, mỗi câu nói là những hợp âm cấu thành câu nhạc.

    Bởi thế mới có ca dao, là những lời ca của đồng quê nội cỏ. Có hát chèo, hát quan họ ở bắc, có hò mái nhì, hò mái đẩy, hò bá trạo ở trung và trên một con đò với sông nước mênh mang ở phương nam, buồn quá hát chơi thành ra vọng cổ.

    Những cô đi cấy lấy công, những dân chài, những cô lái đò nào ai biết nhạc, vậy mà vẫn hát được vì trong tiếng nói có nhạc, cứ ngân nga sẽ thành câu hát.

    Mình về mình nhớ ta chăng

    Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.

    Từ đó mà có thơ lục bát, có truyện Kiều, có Hồ Dzếnh, Huy Cận…

    Không như thơ Đường luật với nhiều luật chặt chẽ như luật hình sự, ca dao chỉ cần âm thứ sáu của câu tám vần với âm cuối của câu sáu, và cả hai đều vần bằng.

    Vậy thôi, dễ dàng quá nên ai cũng có thể làm thơ được, mà ai cũng yêu thơ nên nước Việt Nam tự xưng là vương quốc thơ cũng phải thôi. Chỉ có điều, thơ không phải số nhiều mà phải có hồn. Cái ấy mới thực là khó. Ta gọi thi hào Nguyễn Du, nhưng Nguyễn Đình Chiểu là nhà yêu nước, tuy hai người cùng làm thơ lục bát, là vì cái hồn thơ nọ.

    Từ đó, tôi nghiệm ra rằng, tiếng nước tôi rất giàu âm điệu và rất giàu tính từ.

    Trước hết hãy nói về điệp ngữ, điệp âm.

    Sè sè nấm đất bên đàng

    Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

    Thực khó mà dịch ra tiếng nước ngoài. Có thể dịch nghĩa được chứ không thể tìm ra chữ điệp âm.

    Nhớ hồi còn đi học, thầy Cung Giũ Nguyên đã mỉa mai những ai muốn dịch thơ tiếng Việt sang thơ tiếng Pháp với câu ca dao:

    Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

    soir soir pensé soir soir!

    Cũng câu đầu lục bát, cũng soir soir nhưng thật là gượng gạo, ngớ ngẩn.

    Đến tính từ thì phải nói tiếng nước tôi quá giàu. Nhất là những tiếng chỉ về âm thanh, màu sắc.

    Một đèo một đèo, lại một đèo

    Khen ai kéo tạc cảnh cheo leo

    Cửa son đỏ loét tùm bum móc

    Hòn đá xanh rì lún phún rêu

    Lắt lẻo cành thông cơn gió giật

    Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo

    Hiền nhân quân tử ai mà chẳng

    Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo!

    (Đèo Ba Dội của Hồ Xuân Hương)

    Đố ai mà dịch cho được đỏ loét tùm bum móc, xanh rì lún phún rêu, và lắt lẻo, đầm đìa!

    Ngoài đỏ loét, còn có đỏ khé, đỏ bầm. Ngoài xanh rì, có thêm xanh um, xanh lè, xanh lét…

    Âm thanh thì mượn âm của tiếng động phát ra

    Thùng thùng trống đánh ngũ liên

    Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

    Còn có lanh canh, leng keng, tí tách, líu lo, xì xụp, hít hà…

    Nhưng phong phú nhất là cách xưng hô.

    Ngôi thứ nhất, ngoài tôi còn có ta, tao, tớ, mỗ, trẫm…

    Ngôi thứ hai, ngoài mày còn có mi, ngươi, khanh, mình…

    Ngôi thứ ba, ngoài nó còn hắn, chàng, nàng, thằng nọ, con nọ

    Số nhiều thêm chúng, chúng ta, chúng tớ, chúng nó, chúng mày. Hay tụi bay, bọn bay…

    Trải qua bốn ngàn năm, tiếng nước tôi cũng lận đận nổi trôi theo mệnh nước.

    Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu, buộc phải nói rất nhiều tiếng của Tàu.

    Một trăm năm đô hộ giặc Tây, cũng bị chen vào không ít tiếng của Tây.

    Có điều, ông cha ta đã biết nói theo giọng của mình, nên chẳng những đã không bị đánh mất mà còn làm giàu thêm. Như tổ quốc, gia đình, xã hội…hay nhà ga, xà phòng, bơ, bia…

    Và gần một trăm năm đô hộ cộng sản, tiếng nước tôi đang bị làm cho méo mó, què quặt.

    Bác Hồ gọi chiến sĩ gái, thế là cả miền bắc gọi lính thủy đánh bộ, máy bay lên thẳng, nhà đẻ… và giờ bị Hán hóa, cán bộ nào cũng khẩn trương, triển khai, đảm bảo chấp hành nghiêm chỉnh. Đài tiếng nói Việt Nam thì ba rọi đến buồn cười. Như đi xe, gọi là tham gia giao thông, mười con voi thì gọi là mười cá thể voi…

    Dù vậy, dân ba miền vẫn nói tiếng mẹ đẻ nghe như chim hót. Ở bắc, tiếng nói như có mang theo một chút gió nên nghe rất sang. Khi vào miền trung có hơi uốn éo như tiếng Huế, tiếng Quảng. Lúc vào nam thì lại chả chớt, nũng nịu nhất là con gái, như mùa nước nổi tràn bờ.

    Và cũng tại miền nam, gặp nơi đất lành, tiếng nói lại nảy thêm cành thêm nhánh. Nào chèng đét ơi, nào quậy tá lả bùng binh, nào già cúp bình thiếc, nào cùi tận mạng…

    Tôi không phải là nhà ngôn ngữ học, tuy nói quàng nói xiên, nhưng là tiếng của lòng tôi, tiếng của mẹ dạy từ lúc nằm nôi, nói cường điệu là xuất phát từ trái tim. Đúng là tôi yêu tiếng nước tôi, nhưng không phải là thế lực thù địch, cũng không phải diễn tiến hòa bình.

    10/2019

    *Tố Hữu lưu xú vạn niên vì câu thơ này


    Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 16) – NỖI BUỒN MANG THEO
    Khuất Đẩu




    Đường Đi Không Đến – Tranh: Thanh Châu



    chết có mang theo được gì không?

    hãy hỏi Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng

    hãy hỏi Trần Bắc Hà, Trần Đại Quang

    xa hơn nữa, hãy hỏi Thành Cát Tư Hãn

    hãy hỏi Hitler, Mao Trạch Đông

    những người nắm tiền muôn bạc tỷ

    những người nắm sinh mệnh của cả triệu người

    những người làm lệch cán cân của tạo hóa

    hãy hỏi họ

    nhưng chỉ hỏi chơi thôi

    vì chẳng một ai trả lời

    vì chẳng còn gì để nói

    ngoài một tiếng

    không!



    nhưng nếu hỏi những người chết ở Khe Sanh

    chết ở cổ thành Quảng Trị

    chết trong đêm Mậu thân

    chết ở Hoàng Sa, Gạc ma

    chết ở vùng kinh tế mới

    chết trong trại cải tạo

    chết ở đồn công an

    thì hãy còn đó

    nỗi buồn chết oan!



    tôi cũng vậy, dù tôi rất muốn mang theo

    một chút trời xanh qua kẽ lá

    một chút nắng bên hiên nhà

    một chút gió cho dài áo bay

    một chút mây cho màu mắt biếc

    một chút trăng cho sáng đường làng

    một chút sao cho đêm bớt đen

    chỉ một chút thôi nhưng không được

    vì tôi còn đó

    nỗi buồn và nhục



    buồn vì bãi Tư Chính Tàu phù quậy phá nát tan

    buồn vì Tàu khựa căng cờ chụp hình

    ở dốc Lết ở hòn Hèo

    ở Cà mau ở Phú quốc

    ở bất cứ nơi nào chúng muốn

    trong khi dân nước tôi không dám xâm lên ngực

    china get out



    hỡi ơi, nỗi buồn tôi mang theo

    sâu như biển Đông thăm thẳm

    dài như rặng Trường sơn

    xót xa như muối xát

    buốt nhức như dao đâm

    dù chỉ là hạt bụi

    và hồn tôi mong manh

    vẫn phải mang theo

    như Chúa vác cây thập tự

    leo lên đỉnh đồi Golgotha

    như Hamlet trăn trở

    to be or not to be?



    buồn ơi thu xếp xong rồi

    theo chân tôi chớ ngậm ngùi làm chi

    làm chi cũng chẳng làm chi

    dẫu có làm gì cũng thế mà thôi!*



    10/2019

    Khuất Đẩu

    *mượn thơ Phan Khôi

  2. The Following 5 Users Say Thank You to saomai For This Useful Post:

    hoang yen (10-29-2019), khongquan2 (10-29-2019), KiwiTeTua (10-29-2019), Nguyen Huu Thien (10-29-2019), nguyenphuong (11-02-2019)

  3. #8
    Moderator
    saomai's Avatar
    Status : saomai v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2008
    Posts: 2,010
    Thanks: 2,929
    Thanked 5,489 Times in 1,950 Posts

    Default Nghĩ Vẫn Vơ Cuối Đời

    Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 17) – NHỮNG BÔNG HOA
    Khuất Đẩu


    Những bông hoa – Tranh: Mai Tâm
    Món quà dễ thương nhất mà thượng đế tặng cho loài người trên trái đất này, chính là những bông hoa.

    Dù có người chồng tình nghĩa tặng vợ đến những 100 đóa hoa hồng để mừng sinh nhật thứ 100 của nàng, thì cũng không sánh được với Thượng đế, khi ngài tặng cả tỷ tỷ hoa đủ màu đủ loại, không chỉ mùa xuân mà ngay cả mùa đông băng giá, không chỉ những miền đất tốt tươi mà ngay cả núi đá khô cằn hay sa mạc nắng cháy.

    Ở đâu có một ít hạt bụi là có hoa. Ngay cả trên một thanh sắt cũ, cũng nở ra những nụ hoa trắng bé xíu mà những người con của Phật gọi là hoa Ưu đàm.

    Giá như không có hoa, thì trái đất đâu còn được gọi là tinh cầu xanh, mà cũng chỉ là một trái cầu khổng lồ, xám xịt như mặt trăng hay đỏ rực như sao Hỏa. Và nhân loại khi đó chắc sẽ sống như những con trùn đất, làm gì có thơ có nhạc, và những con trùn cũng chỉ có thể tặng nhau một chút nước bọt dẻo quẹo, vậy thôi.

    Thế mới biết thượng đế vô cùng độ lượng và hào phóng.

    Hoa là của Thượng đế, nhưng con người lại đặt tên cho hoa. Ấy thế, nên cùng một loại hoa, mà người Pháp gọi là rose, người miền bắc gọi là hồng, người nam gọi là hường, còn người Mohican gọi là gì chỉ có họ biết thôi.

    Thường, người ta chọn những tên đẹp nhứt, như thủy tiên là nàng tiên trong nước, dạ lai hương là hương đến trong đêm. Hay tùy theo đặc thù của hoa, như hoa hướng dương vì hoa lúc nào cũng hướng về phía mặt trời, hoa mười giờ vì hoa nở từ mười giờ…

    Nhưng cũng có nhiều tên thật xấu xí, như hoa mõm chó, hoa cứt lợn, tệ hơn nữa còn có hoa thúi địt! Những loại hoa này chắc là do những người ăn nói cục mịch, đặt tên chẳng khác gì chỉ thẳng vào mặt hoa mà chửi. Thật tội nghiệp cho hoa.

    Nhưng các nhạc sĩ khi đưa vào nhạc lại đặt tên một cách nâng niu, trìu mến, như hoa trinh nữ, bông cỏ may.

    Các nhà thơ còn hơn thế nữa, từ một loài hoa dại, nhờ những bài thơ của họ mà nổi danh hơn cả hoa hậu, như hoa sim trong màu tím hoa sim của Hữu Loan, hoa ti gôn của T.T.Kh. trong bài Hai sắc hoa ti gôn.

    Cũng có một lòai hoa bị gán ghép với lãnh tụ khiến cho hoa phải mắc cỡ đỏ mặt như hoa sen trong Tháp Mười đẹp nhất bông sen/ Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ. Câu lục bát này được một cán bộ nào đó phịa ra là ca dao, chứ không phải ca dao thiệt. Vì nếu người bình dân nam bộ đặt ra thì họ sẽ hát như thế này: Tháp Mười đẹp nhất bông sen/ Việt Nam đẹp nhất là tên cụ Hồ! Chữ “có” và chữ “bác” rất gượng ép, rặt một giọng điệu tuyên truyền kiểu Lê Văn Tám.

    Hoa vốn không có lời và tất cả đều đẹp, ngay cả hoa cứt lợn. Nhưng khi con người, nhất là người mình sử dụng vào một mục đích nào đó, thì hoa cũng bị biến đổi theo.

    Như Kiều, khi còn phong gấm rũ là thì hoa khôi, đến lúc tan tác thì hoa giữa đường, và đến khi bị Hoạn Thư bắt làm nô tì, thì hoa nô, bình dân gọi là con sen, con ở. Và trong suốt 15 năm lưu lạc cô chỉ bán có mỗi một thứ trời cho, thứ mà Kiệt Tấn gọi là nụ hoa mướt rượt, nên để tránh cái tiếng con đĩ Kiều của cụ Ngô Tất Tố, cô được gọi là gái bán hoa.

    Có một dạo, cả nước ồn ào vì muốn tìm một loài hoa để biểu trưng cho tổ quốc, gọi là quốc hoa. Có người đề nghị hoa sen, hoa cúc, hoa vạn thọ…ỏm tỏi cả lên. Đúng lúc đó, một vị tiến sĩ được coi như đại trí thức liền tung ra một trái bom, nổ tung văng miểng tùm lum: ngài Vũ Khiêu lớn tiếng đòi quốc hội lấy hoa mào gà làm quốc hoa!

    Hoa mào gà thì tự nó chẳng có gì xấu, cũng chẳng có tội tình gì. Sở dĩ bị thiên hạ ném đá vì nó được dùng để chỉ cái của để dành của đàn ông, đã trở nên sần sùi vì bị bệnh lậu! Quốc hoa mà như thế sẽ trở thành quốc nhục!

    Và hiện giờ, chẳng những cả nước Việt Nam anh hùng bất khuất, mà cả thế giới, nhất là tổng thống Trump của Mỹ đều phản đối cái xứ sở gọi là Tàu, tức Trung Hoa, về cái lưỡi bò và đường chín đoạn.

    Trung Hoa là hoa nằm chính giữa, đẹp quá, tự hào quá đi chứ, nhưng bị nguyền rủa tơi bời vì cái mộng bá quyền của tân hoàng đế họ Tập, muốn làm chủ biển Đông để rồi làm chủ cả thế giới.

    Chữ hoa đẹp đẽ lại còn bị sử dụng một cách hèn hạ, là làm bẫy để săn, như trăm hoa đua nở đã bẫy cả nhóm Nhân văn giai phẩm sa vào lưới, trói gô bọn họ đưa vào tù.

    Hoa của tạo hóa ban cho, tất cả đều sống chung đề huề trên mặt đất. Dù cụ Nguyễn Du bảo hoa ghen thua thắm là nói vậy chứ hoa đâu có tính ghen. Cũng như hoa không hề ỷ hoa lớn bắt nạt hoa nhỏ, không hề đánh nhau mẻ đầu sứt trán. Không có một thứ gì trên đời này hiền như hoa, chịu chơi như hoa, phơi mở hết mình để cho con ong tỏ cả đường đi lối về. Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết chứ hoa, ngay cả đánh nhẹ lên đàn bà cũng không.

    Thế thì, hoa có xấu, có ác cũng bởi con người mà ra. Cái gì rơi vào tay con người cũng đều trở nên tội lỗi. Như trái táo của A dam, nếu không cắn một miếng thì đâu đến nỗi phải bị đày ra khỏi vườn địa đàng.

    Dù vậy, trái đất có thêm hoa là một ơn phước lớn. Chẳng những hoa làm đẹp cho người mà còn biết cảm thông, biết an ủi dỗ dành. Như hoa nở vì người tù Tô Thùy Yên. Đóa hoa không tên ấy, cho dù không có mùi hương, vẫn là đóa hoa nhân ái nhất, không chỉ khép nép nở bên đường mà còn nở cả trong lòng thi sĩ.

    Cảm ơn hoa đã vì ta nở.

    Tôi cũng xin cảm ơn hoa, vì hoa mà tôi viết được bài viết này.

    10/2019

    Khuất Đẩu




    10/25/2019
    Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 18) – ĐẤT NƯỚC NÀY CHƯA MẤT KỂ CŨNG LẠ!
    Khuất Đẩu



    Kiếp Khác – Tranh: Thanh Châu



    Một đất nước mà

    Vua chẳng ra vua

    Quan chẳng ra quan

    Đồng chí không ra đồng chí

    Dân làm chủ mà nghèo hơn đầy tớ

    Một đất nước mà

    Chiều chiều ra bến Ninh Kiều

    Bác ơi có thấy đĩ nhiều hơn dân?!*

    Một đất nước mà

    Rượu bia số một ai bằng

    Sáng say chiều xỉn lăng quăng đầy đường



    Đất nước gì làm ra tiền chảy máu con mắt

    Mà tiêu xài như tỷ phú đô la

    Đất nước gì tượng Bác Hồ mọc lên như nấm

    Mà nhà thương không đủ chỗ người nằm

    Đất nước gì đi chỗ nào cũng chặn

    Bê ô tê mãi lộ đứng nghênh ngang

    Đất nước gì sao không thèm tiến bộ**

    Vẫn giậm chân tại chỗ suốt trăm năm

    Đất nước gì trên bảo dưới không nghe

    Mỗi một tỉnh là sứ quân một cõi



    Đất nước mà với giặc thì hèn với dân thì ác

    Đất nước mà tướng lĩnh không biết đọc bản đồ quân sự

    Không biết cầm súng

    Chỉ biết cầm tiền***

    Đất nước mà coi kẻ thù là bạn

    Còn nhân dân yêu nước lại là thù

    Đất nước mà bệnh lạ nghiệt ngã thay

    Chủ tịch nước chết không nhắm mắt



    Đất nước đó của tôi

    Bốn ngàn năm ròng rã ngược xuôi

    Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi****

    Chưa mất nước kể cũng là chuyện lạ!



    15/10/2019

    Khuất Đẩu

    *ca dao mới

    **Phạm Chi Lan

    ***Lê Mã Lương

    ****Phạm Duy



    ©T.Vấn 2019



    10/28/2019
    Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 19) – NHỮNG CHIẾC LÁ
    Khuất Đẩu


    Cõi Tạm – Tranh: Thanh Châu


    Bạn tôi, nhà viết kịch Lữ Kiều, từng có lần muốn viết một vở kịch không lời. Bối cảnh chỉ có một chiếc ghế dài. Nhân vật, một nam và một nữ.

    Màn một: cả hai cùng rất trẻ, ngồi trên ghế, phía sau những khóm cây xanh non. Nhạc nền là những âm thanh trong trẻo của dương cầm.

    Màn hai: vẫn chàng và nàng ngồi trên ghế, những khóm cây bắt đầu lớn lên, ra hoa. Rất nhiều hoa. Âm thanh có tiếng đàn, tiếng trống.

    Màn ba: Chàng và nàng đã là hai người đàn ông và đàn bà. Âm thanh có thêm tiếng violon réo rắt. Những khóm cây trĩu quả.

    Màn bốn: Một ông già, một bà già. Vài chiếc lá rơi. Rồi lá đổ muôn trùng. Lá phủ kín cả sân khấu trong tiếng nhạc trầm buồn của contre bass.

    Vở kịch nếu được trình diễn, có thể coi như nghệ thuật sắp đặt và tên của nó là Cuộc đời.

    Cũng có một câu chuyện về những chai rượu như thế này:

    Một nhóm bạn ở Mỹ trong thế chiến thứ hai, trước khi ra mặt trận, hẹn nhau ngày trở về sẽ gặp nhau một ngày nào đó, ở một nơi nào đó để uống mừng. Mỗi người nhớ mang theo một chai rượu.

    Chiến tranh chấm dứt. Rất may là hãy còn đủ cả và không một ai bị thương. Họ gặp nhau rất vui, uống hết những chai rượu đã được mang tới.

    Năm sau và nhiều năm sau nữa, họ vẫn gặp nhau, có cả vợ con, cùng uống mừng nhau được sống thêm một tuổi.

    Rồi có người chết, những chai rượu cứ ít dần đi. Sau chỉ còn hai, cuối cùng chỉ còn một. Người chủ của chai rượu buồn quá, không uống nổi. Ông ta dặn con, khi ông chết hãy mang chai rượu chôn theo.

    Cũng vẫn là cuộc đời, vẫn là nghệ thuật sắp đặt, nhưng người nghệ sĩ dấu mặt ai cũng biết đó là tạo hóa.

    Những năm gần đây, bạn bè như những chiếc lá cứ rơi rụng dần. Cái chết của họ dù có tiếng khóc của vợ con, cũng chỉ gây nên một tiếng động rất khẽ như khi lá rơi chạm đất.

    Cho dù được đưa tiễn đông đến hàng vạn người như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, hay cả ngàn người lặng lẽ đứng nép bên đường nghiêng mình chào như đại tá Nguyễn Văn Đông, đối với cuộc tồn sinh thì cũng chẳng hơn gì nhạc sĩ Trúc Phương, chết trong đói nghèo và quên lãng.

    Buồn là buồn cho những chiếc lá cứ rơi rụng dần, cho những chai rượu cứ ít dần đi. Nếu sau một trận chiến khốc liệt, chỉ còn một mình mình sống sót, thì đó là cái may hiếm có. Nhưng trong cuộc tồn sinh, nếu là chiếc lá cuối cùng, hay chai rượu cuối cùng, thì không còn nỗi buồn nào buồn hơn.

    Vậy nên, nếu phải sống trong khi những người cùng thời đều đã đi vào cõi trời quên, thì quả thật đáng sợ.

    Giả sử 20 năm nữa mà vẫn còn sống, dù cho chế độ này có tiêu tùng thì cũng đâu có gì vui.

    Bạn tôi, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, người viết rất hay về tuổi gió heo may, về già sao cho sướng, một hôm bàng hoàng nhận ra cái thắc mắc rất bất ngờ: để làm gì?

    Có nghĩa là tới lúc hết muốn sống nữa rồi, mới đó mà đã thấy mình đứng bên bờ huyệt. Cho nên nhiều người bảo sao mà muốn chết quá, là nói thiệt chứ không phải nói chơi.

    Thế nhưng cắc cớ bảo những người muốn chết đó, thôi thì một hai ba chúng ta cùng chết, ai cũng bảo để coi lại đã, tưởng đã thu xếp xong rồi mà hình như vẫn chưa, có vẻ như đâu đó có tiếng nức nở, ông ơi (hay bà ơi), ông chết đi thì tôi biết sống với ai!

    Cho nên, người nghệ sĩ sắp đặt dấu mặt là tạo hóa kia, tưởng là khắc nghiệt tàn nhẫn, thực ra vô cùng độ lượng, ngài sẽ giúp ta rời khỏi cuộc đời này một cách dứt khoát, một đi không trở lại, nếu không thì còn có thêm nhiều rắc rối nữa.

    Thì thôi, chờ vậy.

    Khuất Đẩu



    Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 20) – HẾT BIẾT!

    Khuất Đẩu

    Tin trên mạng: chính quyền trục xuất nhân viên tòa đại sứ Anh đến tìm hiểu thân nhân những người Việt đã chết trong xe đông lạnh!

    Ngay khi chiếc xe chở họ vừa đến địa phận của xã, đã bị đưa vào trụ sở ủy ban, vặn vẹo tra hỏi suốt cả giờ đồng hồ, rồi tống xuất họ đi cho khuất mắt.

    Người đưa tin bảo rằng chính quyền Hà Tĩnh, nơi được coi là cái nôi của cách mạng, cũng là nơi cá chết trắng biển, sợ thế giới biết cái nghèo cái đói của rất, rất nhiều người nên đã đuổi họ đi.

    Rất may, họ là người Anh, nên dù có bực bội cũng không đến nỗi uất quá mà phải tự chọn một cái chết lãng xẹt với sợi dây thun.

    Nhiều người bảo rằng, bọn họ ngây thơ quá, cứ tưởng mình là những điệp viên 007, nên cứ chỏ cái mũi (lõ) vào. Có biết đâu rằng, nơi đây đã có sẵn những siêu điệp viên không-không-thấy, ngay cả Nguyễn Bá Thanh, Trần Đại Quang và mới đây là Lê Hải An, chỉ trong chớp mắt đã phá được án.

    Kẻ thì chết vì bệnh lạ, kẻ chết vì vấp phải một thanh gỗ nên (tự) bay qua khỏi lan can trên lầu tám mà rơi xuống đất, chết êm ru bà rù không một tiếng kêu, không một giọt máu.

    Đó là chính sách ngoại giao nhất quán ba không.

    Không-không-thấy!

    Không-không-nghe!

    Không-không-nói!

    Hãy đọc George Orwell, để nhớ rằng đây chính là trại súc vật. Những con vật hơn con người ở chỗ có cái đuôi, để che cái chỗ xấu xí nhất đáng che!

    Thế nên trước sự thực khiến cả thế giới bàng hoàng, bọn chúng chỉ biết cụp đuôi xuống.

    Che đậy và che đậy! Từ bao lâu nay, chỉ có vậy mà thôi.

    Những con thú mặt người còn có một cái miệng chẳng những để ăn không-chừa-một-thứ-gì mà còn để sủa.

    Nhiều đứa trên mạng sủa rằng, cái con gì đẹp đẹp đó mê tư bản rẫy chết thì chết là đáng đời, thương cái nỗi gì!

    Sủa như thế thì hết biết!

    Và, cũng hết nói luôn!

    Khuất Đẩu



    Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 21) – NHỤC CHƯA RỬA MÀ ĐẦU ĐÃ BẠC!*

    Khuất Đẩu


    Tranh: Thanh Châu



    Xưa, Nguyễn Vỹ nhục vì bưng thúng theo đàn bà

    Giờ, tôi nhục vì đám trẻ nhà quê mất dạy

    Đất nước tôi mất ải Nam Quan

    Mất thác Bản Dốc

    Mất Hoàng Sa/Gạc Ma

    Rồi sẽ mất Trường Sa/Tư Chính

    Mà chúng bảo chưa bao giờ đất nước đẹp như hôm nay

    Đẹp cái mả cha nhà nó!



    Khi bọn chó sói phương bắc

    Cắn xé nát tan thịt da tổ quốc

    Máu nhuộm Lào cai

    Xương phơi Lũng cú

    Nước sông Hồng đã đỏ càng thêm đỏ

    Sóng Bạch Đằng trắng lóa một màu tang

    Mà chúng vẫn lạy mừng nị hảo!

    Nị cái mồ mẹ nó!



    Từ nam chí bắc

    Từ Hải Phòng đến mũi Cà mau

    Nào tôm/nào cá

    Nào vàng đỏ/vàng đen

    Nào của ngon vật lạ

    Gái miền bắc trắng như bông bưởi

    Gái miền nam ngọt tựa dừa xiêm

    Hảo lớ hảo lớ

    Hảo cái bàn thờ nhà nó!



    Tiếng nước tôi dễ nói dễ nghe

    Có người bảo nghe như chim hót

    Thay vì nói hãy nhanh nhanh lên

    Chúng lại bảo khẩn trương trương khẩn

    Thay vì nói voi một con/vòi một cái

    Chúng lại bảo cá thể voi/cá thể vòi

    Cá thể tiên sư nhà nó



    Cả một lũ thằng thì ngoẹo thằng thì lú

    Cả một bầy con thì mít con thì lu

    Ăn của dân ăn đến cả cái đáy quần

    Ngu đến nỗi thức canh Cu ba ngủ

    Dại đút túi Maduro nửa tỷ mỹ kim

    Bảo rằng khôn bỏ đít đón đầu

    Khờ đến nỗi quạt nghe phành phạch

    Nhạc thính phòng đâu phải chọi trâu

    Cho cá ăn mà ngỡ heo ăn

    Bưng cả cão trút xuống hồ cái rụp

    Ngu quá xá lâu!

    Ngu bảy đời bần cố



    Vậy mà chưa lôi được chúng ra đánh đòn

    Chưa lột hết áo quần đem đi diễu phố

    Chưa đứa nào chui vào ống cống như Gadaphi

    Cũng chưa đứa nào bị treo cổ như Sadam Hussein

    Chúng vẫn vo ve như ruồi như nhặng

    Vẫn cao giọng chửi những ai yêu nước

    Vẫn hăm he đòi hốt hết vào tù

    Vẫn muôn năm trường trị!

    Trường trị cái mụ nội!



    Lỗi tại tôi!

    Tại tôi hèn bắt chước Nguyễn Tuân

    Phải biết sợ để mà sống sót

    Sợ mất sổ gạo

    Sợ đi kinh tế mới

    Sợ lý lịch xấu hại đời con đời cháu

    Sợ bị ném mắm thối vào nhà

    Sợ được mời lên đồn công an làm việc

    Sợ chết tự chọn với sợi dây thun

    Bá ngọ tôi!

    Vì quá sợ nên đành chịu nhục



    Nhục chưa rửa mà đầu đã bạc

    Vậy thì xin trọn kiếp mang theo

    Hãy tin rằng nằm dưới mộ sâu

    Cười sao nổi chỉ nằm mà khóc!

    Khuất Đẩu

    10/2019

    *mượn ý thơ Đặng Dung

    ©T.Vấn 2019

  4. The Following 5 Users Say Thank You to saomai For This Useful Post:

    hoang yen (11-19-2019), khongquan2 (11-05-2019), KiwiTeTua (11-04-2019), Nguyen Huu Thien (11-05-2019), nguyenphuong (11-05-2019)

  5. #9
    Moderator
    saomai's Avatar
    Status : saomai v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2008
    Posts: 2,010
    Thanks: 2,929
    Thanked 5,489 Times in 1,950 Posts

    Default Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI

    Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 22) – CHỒNG TÔI LÀ MỘT NHÀ THƠ!



    Tranh không đề – Tranh: Thanh Châu



    Không còn ngờ gì nữa

    Chồng tôi là một nhà thơ

    Một nhà thơ có nhãn mác hẳn hòi

    Được gắn bởi vua không ngai Tố Hữu



    Đất nước tôi, một đất nước làm thơ

    Nhiều như lá không ai đếm xuể

    Như một đội quân

    Có binh nhì đơ dèm cùi bắp

    Có đại tướng vàng chóe bốn sao

    Có thứ bực đàng hoàng

    Gọi cho oai là đẳng cấp



    Chồng tôi là đại tá thơ

    Từng lăn lộn vào sinh ra tử

    Từng đánh bọn Nhân Văn giai phẩm chạy dài

    Từng đấu tố Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp

    Từng ngợi ca Mao Trạch Đông vĩ đại

    Giờ Tập Cận Bình hoàng đế muôn năm



    Đại tá thơ nên có nhà lầu xe hơi là chuyện nhỏ

    Không như Tản Đà nghèo rớt mồng tơi

    Ngồi giữa chợ dài lưng xem bói

    Không như Hữu Loan thồ đá oằn vai

    Không như Quang Dũng đói ăn xỉu lên xỉu xuống

    Lại càng không giống bọn làm thơ lề trái

    Nhiều đứa chết rục trong tù



    Chồng tôi vì đảng quên thân

    Quên cả quê hương

    Quên cả chính mình

    Như con chó biết lúc nào cần phải sủa

    Như con ngựa biết lúc nào cần phải khom lưng

    Như Hàn Tín biết lúc nào cần phải luồn trôn luồn háng

    Dẫu cho là háng đàn bà



    Vì lẽ đó tôi quyết tâm li dị

    Dù hứa tặng tôi một triệu bài thơ

    Dù hứa đưa tôi lên đài cao ngất ngưởng

    Tôi cũng quyết đi thôi

    Để mai sau các con tôi thành người

    Làm nhà gì cũng được

    Nhưng không làm nhà thơ!

    Khuất Đẩu

    10/2019




    Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 23) – TÌNH GIÀ
    Khuất Đẩu



    Một Đôi – Tranh: Thanh Châu



    Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trong khi bàn về cái gọi là già sao cho sướng, có đưa ra một lời khuyên: hãy bắt chước ông già lấy le bà già/ chiều chiều dắt ra bờ sông. Lãng mạn thật đấy! Nhưng hai người cũng sẽ rớt xuống sông là cái chắc. Xe cấp cứu sẽ hú còi inh ỏi và thiên hạ sẽ xầm xì rằng, đã già mà sao còn dại!

    Dù được thân thiết gọi là bạn già, nhưng tôi chẳng dám đâu. Hãy để cái chuyện dắt ra bờ sông dành cho nhà văn Kiệt Tấn, thưở 17, đã cùng một em tên Tuyết lăn lóc đến nỗi rớt xuống sông (ướt cái quần ni lon) mà vẫn tỉnh queo đèo vespa đưa em về nhà, dọc đường còn tí tởn yêu nhau chút chút.

    Vẫn bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc kể lể rằng, nhà âm nhạc học Trần Văn Khê, ở thì tít trên tầng cao của một chung cư, mà ăn thì lấy cơm từ trong tủ lạnh ra hấp trong lò điện, mặc dù tiếng tăm lừng lẫy nhưng giữa lòng Paris hoa lệ mà sống quạnh hiu như vậy, rất là đáng thương.

    Nhưng bác sĩ Thân Trọng Minh lại bảo, tuy vậy, ông vẫn sống rất hạnh phúc vì cuối đời còn có một người yêu ông. Chỉ vào bức ảnh nằm lọt thỏm giữa những chồng sách đụng tới trần nhà, bậc trưởng thượng bảo rằng, đây là mối tình già của hai người, bà yêu ông từ lâu nhưng chỉ sống với ông được vài tháng, rồi mất vì bệnh ung thư. Đương nhiên ông yêu bà không phải vì tóc em ướt mắt em ướt mà vì bà là kẻ tri âm, và hơn thế nữa, ông đã có những bữa ăn với cơm nóng canh sốt rất ấm áp nghĩa tình.

    Thưở còn lang thang, có một dạo tôi sống với một đôi vợ chồng già ở Tùng Nghĩa. Hai người không con cháu, sống trong một căn nhà gỗ ọp ẹp tận bìa rừng xa hút.

    Ông trước kia, con một điền chủ ở đồng bằng Bắc bộ, theo lời bà, chỉ có mỗi một việc là ăn và chơi. Còn bà là con một vị quan đầu tỉnh ở Thanh Hóa, mẹ mất sớm, rất được cưng chiều.

    Những lúc rảnh rỗi bà kể, ông nhà tôi ngày trước ghen đáo để. Được bố mẹ chồng mua cho một căn phố, tôi ra đó nấu cơm tháng. Có một anh làm quan huyện còn trẻ đến ăn, thế là ông uống rượu rồi thuê xe kéo chạy quanh suốt buổi, đợi khi anh ta đến, ông bảo phu xe dừng lại trước nhà, rồi nằm gác cẳng lên mà nhìn vào. Anh quan huyện hoảng quá không đến ăn nữa và tôi cũng dẹp tiệm luôn.

    Khi di cư vào nam, nhất định không chịu sống ở thành phố, bảo rằng đến đâu cũng phải bỏ giày dép ngoài cửa, mất tự do, nên mua một cái rẫy và chôn chân từ đó đến giờ.

    Bà cụ hồi ấy 60, hơn ông những 6 tuổi, vẫn đẹp ngời ngời và rất mực quý phái, khi đi ăn cưới, trang điểm vào trông như người 40, nhưng ông cụ không ghen nữa, chỉ đứng ngắm vợ và cười.

    Cái mối tình vừa già vừa nghèo ấy, tình không ở đầu mày cuối mắt mà là ở những bữa ăn, đúng hơn là những bữa nhậu. Gọi là nhậu, chứ thực ra chỉ có nửa góc chai rượu, nửa trái cật hay vài trái chuối già, được bà chế biến rất khéo. Ông ngồi nhậu một mình, thỉnh thoảng hát chèo và đánh trống miệng thì thùng.

    Bà tôi, cũng yêu ông tôi bằng cái bánh tráng nướng, mấy miếng bánh hỏi mua về cho ông sau khi bán được cau, chuối trong vườn. Trong những đêm đông lạnh, chẳng những bà nhường cho ông tấm mền duy nhất trong nhà, mà còn đốt than ủ tro lót dưới gậm giường cho ông nằm. Khi còn sống bà thường càm ràm ông để râu nhúng vào canh và hay bỏ quên khăn ở nhà người khác khi đi chúc Tết.

    Vậy thì, xem ra cái tình của những người già ở xứ mình, nhất là những người đã thuộc về người của muôn năm cũ, nó tĩnh đến nỗi tưởng chừng họ là những kẻ xa lạ, chẳng những đã không lấy le đưa nhau ra bờ sông mà cũng chưa hề thốt ra một lời nào âu yếm. Chỉ có cằn nhằn và cằn nhằn!

    Không như ở Mỹ sáng ông I love you, bà me too, rồi chiều có thay đổi chút ít, bà I love you và ông me too! Ở mình mà ỏn ẻn như vậy thế nào cũng bị mắng cho “biết rồi! khổ lắm! nói mãi!”

    Bồ Tùng Linh có viết một truyện với cái nhan đề tình già, rất ngồ ngộ như sau: có một ông cụ nọ chết đi chưa kịp chôn đã sống lại, hỏi sao, cụ bảo trên đường xuống âm phủ, nghĩ thương bà vợ già, sống lủi thủi với đám con cháu, thế nào chẳng bị chúng nó tiếng nặng tiếng nhẹ, buồn lắm!. Thế là đòi quỷ dẫn về và gọi vợ ra cùng chết. Cả nhà ai cũng che miệng cười, bà cụ thì mắc cỡ vì trước mặt con cháu mà lại nằm chung giường với chồng coi sao được. Nhưng thấy ông cụ nghiêm sắc mặt, đành phải nằm kế bên. Thế là xuôi tay đi luôn.

    Hóa ra, cái chữ tình của người già ít nhiều đều gắn với cái chết. Sống bên nhau mà bảo là oan gia, nhưng khi một người chết đi, người còn lại mới thấm thía thế nào là cái lẻ bóng.

    Thật khác xa với cái xứ Macondo ở Nam Mỹ. Có

    một ông già đã 90 tuổi, ham sống đến nỗi muốn rằng, trong đêm sinh nhật thứ chín mươi của mình phải là một đêm nhớ đời với một em hãy còn trinh. Và nhà chứa đã cho ông qua đêm với một con bé mà theo lời bà chủ, là hãy còn mang tã lót. Thấy cô bé có dáng nằm của đứa bé còn nằm trong bụng mẹ, đang ngủ say vì được bà chủ cho uống hợp chất đồng với lá cây gì đó để em khỏi hoảng sợ, thế là ông không hề động đến, chỉ hát ru cho em ngủ. Sau nhiều đêm như thế, ông mới nhận ra rằng dù đã chung giường với hơn 500 người đàn bà, nhưng ông chỉ ăn bánh trả tiền chứ chưa hề biết đến tình yêu là gì. Giờ ông mới thực sự yêu em, biết ghen tuông như trai 17 và nguyện đem hết của cải và những ngày còn lại để làm cho em hạnh phúc.

    Ở xứ mình mà còn sung đến thế sẽ bị mắng cho là già mất nết, hay già dịch, già dê.

    Mà thôi, nói chơi vậy thôi, chứ già cúp bình thiếc như tôi mà nói tới chữ tình, nó lụp cụp giống như nhai bắp rang vậy.

    Khuất Đẩu

    10/2019


    Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 24) – KHỔ VÌ SÁCH

    Khuất Đẩu

    Gã Biết Chữ – Tranh: Thanh Châu

    Từ những chữ tượng hình, những mẫu tự la tinh, đến những nét loằng ngoằng giống như sợi mì gói, rồi tìm cách làm ra giấy để in thành sách, con người quả đã làm nên những điều kỳ diệu mà ngay cả thượng đế cũng không thể ngờ được.

    Sách là cái dấu ấn rõ nét nhất của nhân loại trên tinh cầu này. Kinh Phật, kinh Thánh, rồi kinh Coran, từ lâu đã là những ngọn hải đăng cho những con tàu mất phương hướng vì bão tố của cuộc đời. Sách là tiếng vọng từ ngàn xưa còn vang dội mãi ngàn sau. Sách còn là bệ đỡ cho những tượng đài tư tưởng hùng tráng.

    Cũng chính vì vậy, mà sách là lời nguyền không thể vượt qua được đối với những chế độ toàn trị. Cho nên, Tần Thủy hoàng đã đốt sách chôn học trò, và gần đây cộng sản miền bắc đã thiêu hủy tất tần tật những gì được in trên giấy và giam cầm những nhà tư tưởng, nhà văn nhà thơ miền nam.

    Trong muôn ngàn tội ác, thì cái tội lớn nhất chính là tội đốt sách.

    Nhưng sách báo miền nam quá nhiều và thực ra những kẻ được coi là những hồng vệ binh mới tập tễnh ấy, cũng chỉ a dua chứ chưa thực lòng tin theo đảng, nên chỉ ít lâu sau lại thấy sách nằm phơi lõa thể ở các vỉa hè và được những người mặc đồ bộ đội nhưng không phải bộ đội từ miền bắc, lấy cớ vào thăm miền nam để tìm mua, rồi thoải mái mang về như bộ đội mang búp bê bằng nhựa hay khung xe đạp. Có lẽ, đảng tin rằng họ được miễn nhiễm trước các nọc độc của văn hóa đồi trụy, vì đã được tiêm chủng nhiều đợt bằng thơ của Bác và thơ Tố Hữu.

    Nhờ vậy mà sách miền nam thay vì bị thiêu rụi, lại làm một cuộc di cư thầm lặng từ nam ra bắc, âm thầm thế chỗ cho những Hồ Chí Minh, Lê Duẫn, Lênin toàn tập để giải phóng nhiều người đang bị giam giữ trong ngục tù tư tưởng.

    Nhưng giờ đây, sau bốn mươi năm hơn, sách lại tràn ngập khắp nơi với những nhà sách khổng lồ, những con phố sách xinh xắn. Sách in trên giấy trắng thơm tho, bìa đủ màu đẹp lộng lẫy, giá cả nhiều lúc giảm đến 50%. Chỉ có điều, sách hay thì ít mà sách dở, sách bậy bạ thì nhiều vô số kể.

    Ngày trước, nhiều người khổ vì bị cầm nhầm hay mượn rồi cố tình quên trả. Giờ thì ngược lại, khổ vì được tặng và bị tặng quá nhiều.

    Và, bởi Việt Nam là vương quốc thơ, nên gần như nhà nhà đều in thơ. Các quán cà phê muốn có đông khách, nhất định phải thiết kế một sân khấu hoành tráng, để các nhà thơ đưa bạn bè đến ra mắt sách.

    Thiệt là vui mà cũng thiệt là cực, nhất là những ai nổi tiếng (hay mang tiếng) là nhà văn, nhà thơ, thế nào cũng được (bị) mời cho bằng được. Khi ra về không có phong bì nhưng có cả một chồng sách được (bị) tặng nhiều đến nỗi phải thuê xích lô chở về nhà.

    Khổ nỗi phòng văn của các vị đều nhỏ như cái lỗ mũi, giờ trở nên ngạt thở vì mùi mực in và mùi giấy mới. Sách chất cao đụng trần, nhét chật cứng dưới gậm giường, đi tới đi lui đều đụng sách. Có người xệnh xạng bị té gãy răng, u đầu. Có người, vợ ở dưới nhà bỗng nghe một cái rầm, hốt hoảng chạy lên, chỉ thấy sách và sách, mếu máo gọi anh ơi anh hỡi, mãi môt lúc sau mới thấy chồng mình lóp ngóp bò ra. Cứ như sau một trận động đất.

    Cái sự gọi là về thu xếp lại mà thu xếp hoài vẫn chưa xong, ấy là những sách được tặng và bị tặng. Bỏ đi ư, không được, vì đây là tâm huyết của cả một đời người. Anh ta không đủ sức và đủ tiền để ra mắt sách, nhưng dù nằm thoi thóp trên giường bệnh vẫn cố sức ký tặng, thì sao nỡ bỏ đi. Tội lắm, thương lắm!

    Ngay cả bị tặng cũng không nỡ lòng nào. Đem cho bà bán bán ve chai, bà ta liền nhét vào giỏ cùng với bịch ni lon và đủ thứ hầm bà lằng, thấy nó tội tội làm sao. Đành phải xếp qua một bên rồi sẽ tính.

    Có nhà nhạc sĩ nổi tiếng bảo khi chết hãy chôn theo tôi cây đàn. Thì mình cũng sẽ chôn theo vậy. Nhưng chôn cây đàn hay cây bút thì được, chứ chôn cả một kho sách thì hòm nào chứa nổi. Đó là chưa kể, khi xuống âm phủ, không chừng bị Diêm vương sai quỷ lấy chỉa ba xóc đem đi nướng vì cái tội chết mà còn mang theo sách.

    Nhưng bắt chước người xưa, để lại cho con cháu, cũng không được nữa rồi. Đám con cháu bây giờ, chúng nó đâu còn thèm ngó ngàng gì tới sách. Muốn tìm kiếm thứ gì, chỉ việc gõ vào đầu thằng Gù (gồ), là tìm ra ngay.

    Thế nên, trước khi xuôi tay nhắm mắt, nhìn đám con cháu đang sùi sụt hay giả bộ sụt sùi, mà thều thào rằng, ta để lại cho chúng mày mỗi đứa một căn phố mặt tiền. Còn tiền mặt gửi ở ngân hàng, mỗi đứa nhận thêm một tỷ nữa, thì chúng lại khóc rống lên như còi xe chữa lửa, rằng ba ơi (hay má ơi) sao nỡ bỏ chúng con mà đi.

    Nhưng nếu đem hết sức tàn ra mà bảo, ba để lại cho các con cả một gia tài tinh thần đồ sộ là hàng ngàn quyển sách kia, thì chúng chỉ ngước mắt lên trần nhà, làm như không nghe không thấy, để rồi sau khi an táng xong, đứa nọ lại đùn đẩy cho đứa kia, ráng mà lãnh cái của nợ to đùng ấy.

    Khổ vì mất sách và rồi khổ vì nhiều sách, trong một đời người mà chịu đến những hai cái khổ to như thế, kể cũng đáng thương thật.

    Khuất Đẩu

    10/2019

    *Lời cuối của Khuất Đẩu trước khi tạm chấm dứt loạt bài “Nghĩ vẩn vơ cuối đời”:

    Bạn thân mến
    Có nhiều chuyện muốn khóc mà không khóc được. Như chuyện Trà My và 38 người chết trong xe đông lạnh. Còn buồn hơn “em bé Napan”, bé Sirya và bé Phi châu.
    Cả thế giới xúc động, nhưng thằng lú thằng ngoẹo không hề lên tiếng. Chỉ muốn chửi thôi, mà tôi chửi không bằng ai, nên đành thôi vậy.
    Tôi rất biết ơn bạn đã đưa những “nghĩ vẩn vơ cuối đời” lên mạng,
    Tôi cũng xin cảm ơn bạn đọc đã vẩn vơ suy nghĩ cùng tôi. Tôi thấy mình vẫn còn nợ bạn đọc rất nhiều. Tiếc rằng, tuổi già lại thêm bệnh tật, nên không dám hứa một điều gì.
    Tôi đang ấp ủ về một truyện của những lưu dân ở Bình Định. Trở về xưa và nghĩ tới mai sau, tôi thấy dân tộc mình đâu có khác gì dân Do Thái. Nỗi buồn cố xứ vẫn còn mãi mãi.
    Xin tạm biệt với tất cả lòng yêu mến.

    Khuất Đẩu

  6. The Following 5 Users Say Thank You to saomai For This Useful Post:

    hoang yen (11-19-2019), khongquan2 (11-19-2019), KiwiTeTua (11-19-2019), Nguyen Huu Thien (11-19-2019), nguyenphuong (11-19-2019)

Trang 2/2 đầuđầu 12

Similar Threads

  1. Khuấy động Cô mà chi...
    By Longhai in forum Truyện ngắn
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 09-29-2019, 02:32 AM
  2. Khuất Đẩu: PHẬN RAU RĂM
    By saomai in forum Tham Luận
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 06-18-2019, 12:18 AM
  3. Lý Tống: Tinh Thần Bất Khuất VN
    By dnchau in forum Diễn Đàn Bạn Đọc
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 04-08-2019, 04:28 PM

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter