kết quả từ 1 tới 6 trên 9

Tựa Đề: Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI

Threaded View

Previous Post Previous Post   Next Post Next Post
  1. #7
    Moderator
    saomai's Avatar
    Status : saomai v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2008
    Posts: 2,038
    Thanks: 2,964
    Thanked 5,569 Times in 1,978 Posts

    Default Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI

    Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 12) – MÙA THU CỦA CÁC TRƯỞNG LÃO*
    Khuất Đẩu


    Như thế là tội ác – Tranh: Thanh Châu

    Mặc dù đang ở cái tuổi lão giả an chi và đã đi qua hết mùa thu của cuộc đời, nhưng vì là một công dân hạng hai, nên tôi chỉ được gọi là lão già, chưa kể khi đọc bài viết của tôi có kẻ còn gọi là thằng già nhiễu sự.

    Trưởng lão, được dùng để thưa gửi các vị quyền cao chức trọng đã từng lừng lẫy một thời.

    Như các vị từng là thủ tướng, chủ tịch quốc hội, chủ tịch nước và cao chót vót là tổng bí thư. Còn trong quân đội, bét lắm cũng từ hàng đại tá trở lên.

    Có một thời đáng xấu hổ, giữa thủ đô Hà Nội, nhiều vị đại tá từng vào sinh ra tử ở chiến trường miền nam, khi trở về trong vinh quang lại ra ngồi vỉa hè …vá xe.

    Hay tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, với đồng lương hưu còm cõi đã bị cô con dâu là bác sĩ đem những thai nhi sinh non về nuôi chó bẹt giê, rồi phất lên, coi khinh cả bố chồng khiến ông buồn rầu lên biên giới để được chết.

    Giờ, sau đổi mới thì đổi đời, các cụ đều hạ cánh an toàn. Cụ nào cũng nhà cao cửa rộng, nhiều cụ ngự trong những dinh thự còn lộng lẫy xa hoa hơn cả biệt thự của công tử Bạc Liêu ngày nào.

    Có cụ thờ Bác bằng tượng vàng 24 cara, có cụ ngồi trên ngai chạm đầu rồng, có cụ bê nguyên cả một trống đồng nghìn năm văn hiến…

    Đấy là bề nổi của một tảng băng, còn bề chìm thì chỉ có trời mới biết được khối tài sản của các cụ lớn đến cỡ nào.

    Mặc dù đã về vui thú điền viên, xin làm người tử tế, nhưng vẫn còn những thuộc hạ đủ sức giúp các cụ ngồi trong bóng tối mà vẫn thao túng cả chính trường và thị trường.

    Nhiều lệnh được ban ra: khử thằng này, diệt thằng kia, ném cứt vào nhà nó, đốt đi! Đốt nữa đi, cho nó hộc máu, làm cho nó đột quỵ… cứ như các băng đảng Mafia khét tiếng.

    Đúng là các cụ bây giờ vừa lạnh lùng tàn nhẫn, vừa quyền uy đáng sợ như nhân vật bố già trong bộ phim nổi tiếng Godfather.

    Đó là các trưởng lão đã về vườn hay bị ép buộc phải về vườn. Còn các trưởng lão không thể về được vì đất nước đang cần, hay tưởng rằng đất nước không còn mình thì không còn đảng nên quyết tâm ngồi lại, thì quả thật hết sức bận rộn.

    Mặc dù xây lò để đốt cho tiêu đời luôn thay vì ném mắm tôm kiểu mấy con mẹ mất gà, đưa vào lò chẳng những củi khô mà cả củi còn tươi, nhưng xem ra các băng đảng tiểu mafia vẫn coi như nơ pa.

    Đó là chưa kể trùm giang hồ phương bắc, miệng thì thơn thớt mười sáu chữ vàng mà trong nham hiểm cho hằng trăm tàu ngầm lặn dưới biển sâu chờ đánh úp.

    Đại trưởng lão một mình tứ phương thọ địch, chỉ mới què chứ chưa chột đã là may.

    Còn có một cụ, chỉ nghe thấy tiếng chứ không thấy hình, tên gọi là cách mạng mùa thu, có thể tôn lên hàng đại trưởng lão.

    Cái mùa thu của cụ sao mà nó dài quá đỗi, kéo dài từ năm một chín bốn lăm đến nay, đã là ba phần tư của thế kỷ vẫn chưa chịu chết?!

    Chết đi, chết giùm đi lão mùa thu già mắc dịch, chết đi để bài tình ca của Phạm Duy được vang lên trọn vẹn.

    Ta ngắt đi một chùm hoa cộng sản!

    Em nhớ cho mùa thu

    đã chết rồi!

    Mùa thu đã chết

    đã chết

    đã chết

    rồi!

    Sướng quá em!

    Mùa thu đã

    chết rồi!



    25/9/2019

    Khuất Đẩu

    *mượn tựa một truyện ngắn của G.Marquez



    10/13/2019
    Khuất Đẩu: NGHE TIN DU TỬ LÊ MẤT, ĐỌC LẠI BÀI THƠ: ĐÊM, NHỚ TRĂNG SÀIGÒN!
    Khuất Đẩu


    (Tùy bút)



    Đêm về theo vết xe lăn

    xe lăn, mà sao nghe như xe tang

    xe chở xác qua phường Dạ lạc

    của Văn Cao?!

    dù cờ đã thay

    dù tên thành phố đã đổi

    thì trái đất vẫn quay

    ngày vẫn đi và đêm vẫn tới

    xe vẫn lăn

    và nhịp đời vẫn chuyển

    nhưng trăng Sài Gòn

    trăng của tôi thưở nào

    giờ đã là trăng viễn xứ

    trăng viễn xứ buồn xiết bao

    hồn tôi một thưở xanh phơi phới

    giờ ủ ê vàng vọt

    tôi đâu có đau gan đau phổi

    mà sao trông ốm yếu ho hen

    thì hãy đừng tìm tôi

    vì bạn sẽ thấy đèn thắp hai hàng

    như hai dãy nến cháy trên nắp áo quan

    Phố xá ngày xưa đông vui

    giờ hoang vu đến nỗi

    chỉ thấy cờ đỏ trên cây

    và khẩu hiệu giăng ngang

    như mạng nhện

    Trần Dần thấy mưa sa trên màu cờ đỏ

    tôi cũng chỉ thấy sương quàng cổ cây

    chúng tôi lạc nhau

    tôi và hồn của tôi

    giữa thành phố hoang vu

    tôi nổi chiêng trống gọi

    mà hồn tôi vẫn mỗi ngày mỗi xa



    Từng chuyến xe qua

    và đêm vẫn về

    tôi ngồi nhớ tôi

    nhớ tôi xa lộ

    nhớ nhà Hàng Xanh

    nhớ mưa Thị Nghè

    nhớ nắng Trương Minh Giảng

    nhớ lá reo trên đường Tự Do

    giờ là Đồng Khởi mà không đồng hành

    nhớ em kim chỉ khíu tình

    trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre

    tội nghiệp làm sao

    khi thấy em cắt chiếc áo dài

    chiếc áo học trò

    hai phần gió thổi một phần mây

    chiếc áo mỗi khi em mặc

    cánh tay em mềm như cánh chim

    giờ may áo cụt

    để xuống ruộng nhiều đỉa

    học lao động

    học đan đát dưới khóm tre

    và tôi nhớ dù không muốn nhớ

    pho tượng người lính ngồi nhớ bạn bè đã chết

    cây súng buồn đặt trên gối

    mắt buồn rưng rưng

    được đặt tên Thương Tiếc

    ở nghĩa trang quân đội Biên Hòa

    không muốn nhớ vì tượng đã bị cắt cụt đầu

    đem nung thành đồng nát



    Bài thơ được làm năm một chín bảy tám

    năm mà ông và Mai Thảo

    bị kết án tử hình trên đài phát thanh

    năm mà Sài Gòn bị bao vây

    một cân gạo, một ký thịt cũng bị tịch thu

    năm ông đi làm ca hai ở đất nước người

    chỉ thui thủi một mình với một vầng trăng

    năm mà con sông xưa thành phố cũ

    giờ đã xa rồi, xa thăm thẳm

    chính vì vậy mà ông thấy trăng Sài Gòn

    đẹp hơn trăng viễn xứ

    và ông nhớ, không chỉ trăng mà cả mưa cả nắng, cả lá cây cả bụi đường

    nhớ những gì gần gũi nhất

    tầm thường nhất

    mà cũng đau đớn nhất

    không như Trịnh Công Sơn ở trong nước

    thoải mái nhớ ly chè quen

    nhớ ngựa thồ ngoại ô xa vắng

    nhớ phố đêm đêm hàng quán xôn xao



    Ông có bài thơ Khi tôi chết hãy đưa tôi ra biển

    cũng như trường ca Mẹ về biển Đông

    bỡi vì đi hết biển Thái Bình là về tới Việt Nam quê nhà

    là chấm hết nỗi đau của một người viễn xứ.

    giờ, có thể thân xác ông nằm cạnh mẹ trên đất Mỹ

    nhưng hồn ông chắc đã lang thang trên phố Trương Minh Giảng, phố Thị Nghè và tìm đến nghĩa trang Biên Hòa, dù pho tượng người lính không còn nữa.

    Bài thơ của ông đã xé nát tim tôi

    buồn không viết thêm được nữa.

    13/10/2019

    Khuất Đẩu



    ©T.Vấn 2019

    Phụ Lục:

    (Nguồn: www.thivien.net)
    Đêm, nhớ trăng Sài Gòn

    Du Tử Lê
    Đêm, nhớ trăng Sài Gòn – Phạm Đình Chương phổ nhạc, Trần Thái Hoà thể hiện



    Đêm về theo vết xe lăn
    Tôi trăng viễn xứ hồn thanh niên vàng
    Tìm tôi đèn thắp hai hàng
    Lạc nhau cuối phố sương quàng cỏ cây

    Ngỡ hồn ta xứ mưa bay
    Tôi chiêng trống gọi mỗi ngày mỗi xa
    Đêm về theo bánh xe qua
    Nhớ em xa lộ nhớ nhà Hàng Xanh

    Nhớ em kim chỉ khứu tình
    Trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre
    Nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
    Nắng Trương Minh Giảng trưa hè Tự Do

    Nhớ nghĩa trang quê hương bạn bè
    Nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường
    Đêm về theo vết xe lăn
    Tôi trăng viễn xứ sầu em bến nào?

    1978Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc thành bài hát cùng tên.


    Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 13) – BA CHÀNG THI SĨ TÊN SƠN
    Khuất Đẩu




    Một họ Trịnh, hai họ Nguyễn.

    Chàng họ Trịnh, ai cũng biết là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Nhưng ngoài tài xếp 7 nốt thành những bản nhạc bay bổng tuyệt vời, còn có tài sử dụng tiếng Việt như một thi sĩ thực tài.

    Văn Cao bảo Trịnh Công Sơn chọn chữ dễ dàng như thò tay vào túi áo. Có lẽ ông thấy vậy, chứ không phải vậy.

    Trịnh Công Sơn tuy sinh ở Buôn Mê Thuộc, nhưng gốc Huế, học ở Huế, cái máu Huế điệu đàng và yêu thích thơ vẫn không ngừng chảy trong ông.

    Mỗi chữ, mỗi hình ảnh được ông lựa chọn còn kỹ hơn cả Nguyễn Tuân.

    Trong khi Nguyễn Tuân gõ lên từng chữ để nghe xem nó kêu leng keng ra sao rồi mới xếp vào đúng chỗ trong từng câu, thì Trịnh Công Sơn, một tay cầm điếu thuốc, một tay cầm ly rượu ngồi một mình trong yên lặng, lắng nghe từng chữ rơi xuống lòng mình như những giọt mưa ngoài hiên vắng. Những con chữ tìm đến nhau, ngân nga thánh thót… Thế là chàng dụi tàn thuốc, cạn ly rồi cầm lấy bút ghi lên giấy. Tôi tin Trịnh Công Sơn làm thơ trước khi viết nhạc. Và mỗi bản nhạc với lời là một bài thơ, có khi là lục bát, có khi bảy tám chữ, có khi tự do, khi nhạc được vang lên thì hồn thơ cũng bay lên theo.

    Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ
    Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao
    Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ
    Đường dài hun hút cho mắt thêm sâu

    Mưa vẫn hay mưa trên hàng lá nhỏ
    Buổi chiều ngồi ngóng những chuyến mưa qua
    Trên bước chân em âm thầm lá đổ
    Chợt hồn xanh buốt cho mình xót xa

    Chiều nay còn mưa sao em không lại
    Nhỡ mai trong cơn đau vùi
    Làm sao có nhau, hằn lên nỗi đau
    Bước chân em xin về mau

    Mưa vẫn hay mưa cho đời biển động
    Làm sao em nhớ những vết chim di
    Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng
    Để người phiêu lãng quên mình lãng du

    Mưa vẫn hay mưa cho đời biển động
    Làm sao em biết bia đá không đau
    Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng
    Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau.

    Hồn thơ ở đây bay lên từ tầng tháp cổ, từ lá thu mưa reo mòn gót nhỏ, từ ngồi ngóng những chuyến xe qua…sau cùng đọng lại trong ta một cái gì tưởng chừng rất lạ, nhưng cũng rất quen, gần như chân lý khiến ta trầm ngâm, gật gù thấm thía

    Đó là Làm sao em biết sỏi đá không đau.

    Và ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau.

    Thật khác hẳn với Em đến thăm anh một chiều mưa của Tô Vũ: mặt nhìn mặt cầm tay bâng khuâng không nói một câu để rồi lòng bồi hồi nhìn theo chân em chìm trong ngàn xanh và cầu mong em đến thăm một chiều thêu nắng và quên đường về.

    Một bên nâng hồn ta lên, khiến ta từ cái riêng hòa vào cái chung. Còn một bên xui ta những ước mơ thường tình!

    Một bên cần có nhau mà chưa có, nên nghe mưa trên tầng tháp cổ nó mới thật hiu hắt là buồn.

    Một bên đã có nhau rồi, còn muốn có nhau nữa, và có nhau cả trong đêm, trong khi nàng một mình trên đường ngoài mưa, chân chìm trong ngàn xanh, tội nghiệp làm sao và cũng tàn nhẫn xiết bao!

    Nhật Ngân và Y Vũ trong Tôi đưa em sang sông bàn tay nâng niu ân cần, sợ bến đất lấm gót chân, sợ bến gió buốt trái tim,…sợ lấm trong bùn khi mưa. Rất đàn ông và rất galant.

    Vì vậy bản nhạc của Tô Vũ theo tôi tuy rất nổi tiếng nhưng không có hay có rất ít hồn thơ.

    Không cầu kỳ như Mai Thảo, không gọt dũa như Đinh Hùng, cũng không làm ra vẻ dễ thương nũng nịu như Nguyên Sa…chỉ là những câu những chữ, những hình ảnh bình thường như

    Mưa vẫn hay mưa

    Mưa vẫn mưa bay

    Buổi chiều ngồi ngóng

    Làm sao em biết

    Làm sao em nhớ…

    mà sao vào trong khuôn nhạc của chàng rồi nở ra trên môi người ca sĩ, bỗng trở nên bóng bẩy thơm tho đến như vậy, nếu không phải phát sinh từ một thi sĩ thực tài như Hàn Mặc Tử hay Hồ Dzếnh.

    Trịnh Công Sơn bóng bẩy điệu đàng một cách kín đáo, hay tài tình một cách tự nhiên khiến nhiều người gọi là thiên tài, thì chàng họ Nguyễn, tên Bắc Sơn lại ba gai bụi đời rất lính tráng.

    Người ta nói nhiều về bốn câu thơ trước khi đi vào văn học sử đã nằm trên đầu môi của lính miền Nam

    Mai ta đụng trận ta còn sống

    Về ghé sông Mao phá phách chơi

    Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm

    Đốt tiền mua vội một ngày vui!

    Cũng từ đây người ta tán rộng đến cả cuộc chiến tranh phi nghĩa, đến lý tưởng của thanh niên, đến nỗi cô đơn cùng cực phải chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm và cho rằng ít nhiều đã lý giải vì sao miền nam thua trận.

    Cũng được thôi, bốn câu thơ này mà ở miền bắc thì không biết tác giả đã bị đem ra đấu tố bao nhiêu ngày bao nhiêu đêm trước khi bị tống vào trại cải tạo không biết đến ngày ra tù.

    Thực ra, đây chỉ là khẩu khí của một anh lính địa phương quân, một loại lính dùng để hợp lệ quân dịch cho những ai trốn lính, chỉ lẩn quẩn ở gần nhà, rất hiếm khi đụng trận, mà nếu có như tết Mậu Thân, thì tốt nhất là chuồn.

    Cái khẩu khí của chàng còn dùng để trêu chọc cả người yêu, như bốn câu thơ cũng nổi tiếng không kém sau đây:

    Ta vốn ghét đàn bà như ghét cứt

    Mà vì sao ta lại yêu em

    Ôi mắt em nhìn như là bẩy chuột

    Ta quàng xiên nên đã sa chân.

    Nói cho oai vậy thôi, chứ cái “vốn ghét” ấy chỉ cần một cái nguýt thôi là bay sạch cả. Và một triệu bài thơ cũng chưa chuộc lại được nói chi đến một triệu đóa hoa hồng.

    Tôi rất thích bài thơ chàng tâm sự với cha. Ông cụ là một đại tá quân chánh quy miền bắc.

    Bài thơ có những câu thiệt thà như đếm:

    Bố tôi ước mơ làm cho loài người sung sướng

    Và thế là ông từ tuổi thanh xuân

    Cùng bạn bè đi làm cách mạng

    Ông càng làm cách mạng chừng nào

    Thì loài người càng thêm sặc máu



    Tôi ước mơ cõi đời tốt đẹp

    Và thế là tôi làm thơ ca tụng loài người

    Tôi càng ca tụng chừng nào

    Thì loài người càng xấu xa chừng nấy!

    Người ta thường nói không ai hiểu con bằng cha. Ở đây, phải nói ngược lại, không ai hiểu cha bằng con.

    Đấy không phải là lời buộc tội, mà là một sự thật vừa khủng khiếp vừa cay đắng. Hai chữ “sặc máu” rất du côn, rất xã hội đen, thật đúng với cái nước cộng hòa xã hội đen bây giờ.

    Một chàng họ Nguyễn tên Đức Sơn còn độc đáo hơn nữa, gây sóng gió thi đàn với bài thơ chỉ có 3 từ:

    Hột thì le

    Chàng được xếp vào nhóm dị nhân mà nhóm trưởng dị thường nổi tiếng nhất là Bùi Giáng.

    Chàng có bài thơ Một mình nằm thở đủ kiểu rất giống bài tập dưỡng sinh, hay hơn cả bài tập thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Bài thơ như vầy:

    Đầu tiên tôi thở cái phào

    Bao nhiêu phiền não như trào ra theo

    Nín hơi tôi thở cái phèo

    Bao nhiêu mộng ảo bay vèo hư không

    Sướng nên tôi thở phập phồng

    Mây bay gió thổi trời hồng muôn năm

    Mai sau này chỗ tôi nằm

    Sao rơi lạnh lẽo âm thầm biển ru

    Lúc làm bài thơ này chàng vẫn còn trẻ trung khỏe mạnh, nên thở cái phào, rồi thở cái phèo, bây giờ già yếu “chàng” chỉ có thể nằm thở pheo pheo, để chờ ngày hết thở.

    Ông có bài thơ mà tôi cho là cực kỳ dữ dội mà cũng cực kỳ tình cảm, rất lạ lùng có thể nói chỉ có Sơn Núi mới làm ra được mà thôi.

    Bài Đêm thăm bạn sắp đẻ ở Di Linh

    Sắp đẻ ở Di Linh cây cối chào chị

    Sắp đẻ ở hư không rừng và chị ôm nhau hát



    Tôi dấu mặt đi ven hồ lạnh giá

    Căn nhà gỗ phần mộ thanh xuân

    Những ván thông dày đặc gỗ quan tài

    Của tóc của chị của tình nhân

    Của dương cầm bỏ phế đúng một năm

    Sắp đẻ ở Di Linh cô đơn hùng dũng

    Chị thu mình như con mèo mun

    Chị thu mình như một vũ nữ Ba Lan

    Chị thu mình như một đĩa hát cũ



    Ôi nắng vàng dòng thác Gougah

    Rừng và chị ôm nhau hát

    Sẽ đẻ ra một đứa con

    Rừng và chị ôm nhau chết.

    Thơ viết như thế này, nói theo các cụ xưa là động đến cả quỷ thần.

    Người “chị” trong bài thơ là một nữ sĩ cũng rất dị kỳ, rất mực thông minh, rất mực tài hoa và là dịch giả miền nam chỉ xếp sau Bùi Giáng. Chị và đứa con sinh ở Di Linh, sau 1975, bị lính Khơme đỏ giết chết ở đảo Thổ Chu.

    Nếu ai tin có linh hồn, đọc bài thơ này, sẽ thấy từ cõi hư vô chị linh hiển dắt con trở về.



    Ba chàng ngự lâm pháo thủ có một chỗ đứng rất vẻ vang trong văn chương Pháp. Còn ba chàng Sơn thi sĩ, tôi cũng tin có một chỗ đứng xứng đáng trong nền nghệ thuật miền Nam, và khi đất nước thật sự thống nhất, thì hẳn nhiên được ngồi cùng hàng với các vị tiền bối.

    25/9/2019

    Khuất Đẩu

    ©T.Vấn 2019


    Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 14) – MỘT MÌNH QUA PHỐ
    Khuất Đẩu


    Sài Gòn ngày trở lại – Tranh: Thanh Châu

    Bốn chữ này tôi mượn của Trịnh Công Sơn, không phải để âm thầm nhớ nhớ tên em nào, mà để nhớ lại một thời để yêu và một thời để chết.

    Đó là thời của những năm sáu mươi, bảy mươi, thời của hai mươi năm nội chiến từng ngày, thời mà nằm ngủ trên giường, ngồi quán cà phê hay đi xe đò cũng chết huống gì ra mặt trận.

    Thời đó, những người con trai mới lớn, vừa bước chân vào đời đã phải đối diện với cái chết, thì tổ quốc, tương lai…chỉ là những tên gọi mơ hồ, tuyệt vọng… chỉ có em, chỉ có tình yêu dù đơn phương, mới là tất cả.

    Em là chút mầm xanh của cây đời đang gãy đổ. Em là đóa hoa súng trên mặt hồ lạnh lẽo. Em mong manh, nhưng quý hóa biết chừng nào.

    Thì đúng là may mà có em, cuộc đời mới dễ thương, nếu không, Vũ Hữu Định trên đường ra biên giới khác nào tử tội ra pháp trường.

    Một mình, đương nhiên là chỉ một người. Nhưng không phải một mình trên đường lớn rất triết của Tô Thùy Yên, cũng không phải một mình đứng giữa quãng chơ vơ rất cô đơn của Trần Tế Xương. Lại càng không phải một mình mình một bơ thờ vịn cây cây ngã vịn bờ bờ xiu rất tuyệt vọng như trong ca dao.

    Một mình qua phố, tuy mình ên, nhưng rất xôn xao vì còn có tên ai đó để nhớ, còn có ai tan trường về để lầm lũi bước theo sau.

    Một mình có thể là anh học trò nghèo bụng lép kẹp nhưng hồn đầy mộng mơ, có thể là nhà tu dù đã tu qua chín kiếp nhưng vẫn chưa rũ hết mùi tục lụy, cũng có thể là một cô học trò lãng mạn đang fall in love viết nên bài thơ này:



    Tôi đi trên đường nắng

    Thương những buổi trưa vàng

    Những bờ hoang xa vắng

    Đôi tâm hồn lang thang



    Kiếm tìm trên lối ngõ

    Bàn chân yêu thương qua

    Nhà ai in ngói đỏ

    Trời xanh ôm mái nhà*



    Chữ phố, đứng một mình, không có thành, không có khu phía trước, cũng không có vắng có xa phía sau, rất trơ trọi, nhưng có thế phố mới trở nên thân quen ấm áp. Phố bỗng trở thành một người bạn cùng bước song hành để cho ta rù rì tâm sự.

    Mặc dù xe ngựa ồn ào, kẻ đi người lại bon chen, ta vẫn thấy phố thật vắng, thật yên, phố vẫn đi theo ta lặng lẽ như bóng với hình.

    Kìa là những cột đèn, những ban công, những mái lầu, rồi tháp chuông và trên cao là mây trắng…

    Phố có mùi hương, có thể là của hoa dã quỳ vàng rực, có thể là của hoa ngọc lan đài các, hay hoa sữa nồng nàn, và nếu trời đang mưa, ta có thể nghe ra mùi của hương nước mưa mát lạnh.

    Vì đi chỉ để mà đi, cần gì phải ngang qua những con phố sang trọng với cửa hiệu sáng choang, hàng hiệu đắt tiền hay những ba những bảy xập xình…

    Thế rồi, trên những con phố nghèo, bỗng dưng dưới một mái hiên hay một khung cửa nào đó, e ấp một mái tóc nghiêng nghiêng, mộng mơ một đôi mắt đuôi dài, thì dù lộn xộn, dù nhếch nhác đến đâu, ta vẫn thấy con phố bỗng trở nên giàu có sang trọng và sao mà nó lại sạch sẽ thơm tho đến như vậy.

    Từ đây con phố có linh hồn, và ta bỗng trở nên chàng thi sĩ có thể làm thơ dù là thơ con cóc.

    Vậy đó, cứ thế lửng thửng mà đi, vô tình mà bước, không cứ gì phải tìm ai, gặp ai, cứ đi như sông là phải chảy, mây là phải bay và mưa là phải rơi xuống.

    Cái thời mới lớn của tôi đó, nó nhà quê, nó cả ngố làm sao! Nhưng dù đã xa thật xa, tận cùng trong quá khứ nhạt mờ, tôi vẫn thấy cậu ta bước đi chân không hề mỏi, mắt nhìn đâu đâu, tưởng chừng như đang lạc bước vào chốn thần tiên. Và khi trông thấy con gái bay nhiều quá, những cánh tay mềm như cánh chim**, cậu tưởng chừng cũng sắp bay lên. Ôi chao cậu muốn được ôm tất cả vào lòng chứ không chỉ một riêng ai.

    Tham lam quá phải không, nhưng có như vậy mới đáng để cậu ta một mình qua phố chứ.



    26/9/2019

    Khuất Đẩu

    * thơ của Nguyễn thị Hoàng

    ** thơ của Hoàng Trúc Ly



    Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 15) – TIẾNG NƯỚC TÔI
    Khuất Đẩu


    Quê Hương – Tranh: Mai Tâm

    Đó là tiếng mẹ đẻ, và không riêng gì Phạm Duy, tôi cũng yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời.

    Âm đầu tiên mà mọi đứa trẻ phát ra từ đôi môi bé xíu, là âm mờ/m/ cùng với tiếng khóc e..e.. a..a.. chỉ dăm bảy tháng sau khi sinh đã bập bẹ ma ma, me me. Rồi cùng với tiếng mẹ ru à ơi, thành ra tiếng đầu lòng, tức là tiếng mẹ ơi, má ơi, chứ không thể và không bao giờ, ngay cả ở Liên xô, tiếng đầu lòng con gọi Xít ta lin*.

    Cho nên cái chủ nghĩa cộng sản thường huênh hoang bách chiến bách thắng, thực ra đã thất bại ngay từ khi mới ra đời.

    Rồi tôi học nói, như con chim học nói trên cành líu lo. Bởi vì, như các cụ cố đạo Bồ Đào Nha, cách đây bốn trăm năm đã nghe các phụ nữ bản xứ, nói như chim hót.

    Con chim không hót thành lời mà ra nhạc. Tiếng nước tôi cũng vậy, mỗi câu nói là những hợp âm cấu thành câu nhạc.

    Bởi thế mới có ca dao, là những lời ca của đồng quê nội cỏ. Có hát chèo, hát quan họ ở bắc, có hò mái nhì, hò mái đẩy, hò bá trạo ở trung và trên một con đò với sông nước mênh mang ở phương nam, buồn quá hát chơi thành ra vọng cổ.

    Những cô đi cấy lấy công, những dân chài, những cô lái đò nào ai biết nhạc, vậy mà vẫn hát được vì trong tiếng nói có nhạc, cứ ngân nga sẽ thành câu hát.

    Mình về mình nhớ ta chăng

    Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.

    Từ đó mà có thơ lục bát, có truyện Kiều, có Hồ Dzếnh, Huy Cận…

    Không như thơ Đường luật với nhiều luật chặt chẽ như luật hình sự, ca dao chỉ cần âm thứ sáu của câu tám vần với âm cuối của câu sáu, và cả hai đều vần bằng.

    Vậy thôi, dễ dàng quá nên ai cũng có thể làm thơ được, mà ai cũng yêu thơ nên nước Việt Nam tự xưng là vương quốc thơ cũng phải thôi. Chỉ có điều, thơ không phải số nhiều mà phải có hồn. Cái ấy mới thực là khó. Ta gọi thi hào Nguyễn Du, nhưng Nguyễn Đình Chiểu là nhà yêu nước, tuy hai người cùng làm thơ lục bát, là vì cái hồn thơ nọ.

    Từ đó, tôi nghiệm ra rằng, tiếng nước tôi rất giàu âm điệu và rất giàu tính từ.

    Trước hết hãy nói về điệp ngữ, điệp âm.

    Sè sè nấm đất bên đàng

    Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

    Thực khó mà dịch ra tiếng nước ngoài. Có thể dịch nghĩa được chứ không thể tìm ra chữ điệp âm.

    Nhớ hồi còn đi học, thầy Cung Giũ Nguyên đã mỉa mai những ai muốn dịch thơ tiếng Việt sang thơ tiếng Pháp với câu ca dao:

    Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

    soir soir pensé soir soir!

    Cũng câu đầu lục bát, cũng soir soir nhưng thật là gượng gạo, ngớ ngẩn.

    Đến tính từ thì phải nói tiếng nước tôi quá giàu. Nhất là những tiếng chỉ về âm thanh, màu sắc.

    Một đèo một đèo, lại một đèo

    Khen ai kéo tạc cảnh cheo leo

    Cửa son đỏ loét tùm bum móc

    Hòn đá xanh rì lún phún rêu

    Lắt lẻo cành thông cơn gió giật

    Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo

    Hiền nhân quân tử ai mà chẳng

    Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo!

    (Đèo Ba Dội của Hồ Xuân Hương)

    Đố ai mà dịch cho được đỏ loét tùm bum móc, xanh rì lún phún rêu, và lắt lẻo, đầm đìa!

    Ngoài đỏ loét, còn có đỏ khé, đỏ bầm. Ngoài xanh rì, có thêm xanh um, xanh lè, xanh lét…

    Âm thanh thì mượn âm của tiếng động phát ra

    Thùng thùng trống đánh ngũ liên

    Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

    Còn có lanh canh, leng keng, tí tách, líu lo, xì xụp, hít hà…

    Nhưng phong phú nhất là cách xưng hô.

    Ngôi thứ nhất, ngoài tôi còn có ta, tao, tớ, mỗ, trẫm…

    Ngôi thứ hai, ngoài mày còn có mi, ngươi, khanh, mình…

    Ngôi thứ ba, ngoài nó còn hắn, chàng, nàng, thằng nọ, con nọ

    Số nhiều thêm chúng, chúng ta, chúng tớ, chúng nó, chúng mày. Hay tụi bay, bọn bay…

    Trải qua bốn ngàn năm, tiếng nước tôi cũng lận đận nổi trôi theo mệnh nước.

    Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu, buộc phải nói rất nhiều tiếng của Tàu.

    Một trăm năm đô hộ giặc Tây, cũng bị chen vào không ít tiếng của Tây.

    Có điều, ông cha ta đã biết nói theo giọng của mình, nên chẳng những đã không bị đánh mất mà còn làm giàu thêm. Như tổ quốc, gia đình, xã hội…hay nhà ga, xà phòng, bơ, bia…

    Và gần một trăm năm đô hộ cộng sản, tiếng nước tôi đang bị làm cho méo mó, què quặt.

    Bác Hồ gọi chiến sĩ gái, thế là cả miền bắc gọi lính thủy đánh bộ, máy bay lên thẳng, nhà đẻ… và giờ bị Hán hóa, cán bộ nào cũng khẩn trương, triển khai, đảm bảo chấp hành nghiêm chỉnh. Đài tiếng nói Việt Nam thì ba rọi đến buồn cười. Như đi xe, gọi là tham gia giao thông, mười con voi thì gọi là mười cá thể voi…

    Dù vậy, dân ba miền vẫn nói tiếng mẹ đẻ nghe như chim hót. Ở bắc, tiếng nói như có mang theo một chút gió nên nghe rất sang. Khi vào miền trung có hơi uốn éo như tiếng Huế, tiếng Quảng. Lúc vào nam thì lại chả chớt, nũng nịu nhất là con gái, như mùa nước nổi tràn bờ.

    Và cũng tại miền nam, gặp nơi đất lành, tiếng nói lại nảy thêm cành thêm nhánh. Nào chèng đét ơi, nào quậy tá lả bùng binh, nào già cúp bình thiếc, nào cùi tận mạng…

    Tôi không phải là nhà ngôn ngữ học, tuy nói quàng nói xiên, nhưng là tiếng của lòng tôi, tiếng của mẹ dạy từ lúc nằm nôi, nói cường điệu là xuất phát từ trái tim. Đúng là tôi yêu tiếng nước tôi, nhưng không phải là thế lực thù địch, cũng không phải diễn tiến hòa bình.

    10/2019

    *Tố Hữu lưu xú vạn niên vì câu thơ này


    Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 16) – NỖI BUỒN MANG THEO
    Khuất Đẩu




    Đường Đi Không Đến – Tranh: Thanh Châu



    chết có mang theo được gì không?

    hãy hỏi Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng

    hãy hỏi Trần Bắc Hà, Trần Đại Quang

    xa hơn nữa, hãy hỏi Thành Cát Tư Hãn

    hãy hỏi Hitler, Mao Trạch Đông

    những người nắm tiền muôn bạc tỷ

    những người nắm sinh mệnh của cả triệu người

    những người làm lệch cán cân của tạo hóa

    hãy hỏi họ

    nhưng chỉ hỏi chơi thôi

    vì chẳng một ai trả lời

    vì chẳng còn gì để nói

    ngoài một tiếng

    không!



    nhưng nếu hỏi những người chết ở Khe Sanh

    chết ở cổ thành Quảng Trị

    chết trong đêm Mậu thân

    chết ở Hoàng Sa, Gạc ma

    chết ở vùng kinh tế mới

    chết trong trại cải tạo

    chết ở đồn công an

    thì hãy còn đó

    nỗi buồn chết oan!



    tôi cũng vậy, dù tôi rất muốn mang theo

    một chút trời xanh qua kẽ lá

    một chút nắng bên hiên nhà

    một chút gió cho dài áo bay

    một chút mây cho màu mắt biếc

    một chút trăng cho sáng đường làng

    một chút sao cho đêm bớt đen

    chỉ một chút thôi nhưng không được

    vì tôi còn đó

    nỗi buồn và nhục



    buồn vì bãi Tư Chính Tàu phù quậy phá nát tan

    buồn vì Tàu khựa căng cờ chụp hình

    ở dốc Lết ở hòn Hèo

    ở Cà mau ở Phú quốc

    ở bất cứ nơi nào chúng muốn

    trong khi dân nước tôi không dám xâm lên ngực

    china get out



    hỡi ơi, nỗi buồn tôi mang theo

    sâu như biển Đông thăm thẳm

    dài như rặng Trường sơn

    xót xa như muối xát

    buốt nhức như dao đâm

    dù chỉ là hạt bụi

    và hồn tôi mong manh

    vẫn phải mang theo

    như Chúa vác cây thập tự

    leo lên đỉnh đồi Golgotha

    như Hamlet trăn trở

    to be or not to be?



    buồn ơi thu xếp xong rồi

    theo chân tôi chớ ngậm ngùi làm chi

    làm chi cũng chẳng làm chi

    dẫu có làm gì cũng thế mà thôi!*



    10/2019

    Khuất Đẩu

    *mượn thơ Phan Khôi

  2. The Following 5 Users Say Thank You to saomai For This Useful Post:

    hoang yen (10-29-2019), khongquan2 (10-29-2019), KiwiTeTua (10-29-2019), Nguyen Huu Thien (10-29-2019), nguyenphuong (11-02-2019)

Similar Threads

  1. Khuấy động Cô mà chi...
    By Longhai in forum Truyện ngắn
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 09-29-2019, 02:32 AM
  2. Khuất Đẩu: PHẬN RAU RĂM
    By saomai in forum Tham Luận
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 06-18-2019, 12:18 AM
  3. Lý Tống: Tinh Thần Bất Khuất VN
    By dnchau in forum Diễn Đàn Bạn Đọc
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 04-08-2019, 04:28 PM

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter