kết quả từ 1 tới 6 trên 6

Tựa Đề: Truyện Ngắn Lê Văn Trung

  1. #1
    Phòng Trực's Avatar
    Status : Phòng Trực v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jul 2010
    Posts: 952
    Thanks: 26
    Thanked 1,575 Times in 510 Posts

    Default Truyện Ngắn Lê Văn Trung

    Như Chiếc Thuyền Trôi – Lê Văn Trung


    Tôi quyết định không về và cũng không ở lại Qui Nhơn làm gì. Tôi sửa soạn ăn thêm một cái tết tha hương. Thật là buồn, làm sao có thể biết rõ ràng quê hương tôi để bây giờ cứ nghĩ tôi là kẻ tha hương. Tôi không có một nơi để nhớ về, không có một thời trẻ thơ để hồi tưởng. Cha tôi lênh đênh như một chiếc thuyền trên bờ vô vọng. Và tôi nằm trong chiếc thuyền đó. Ai cũng có quá khứ, ai cũng có một thời xanh nồng tuổi trẻ đã qua. Tôi bỗng vụt lớn lên, rơi hẳn từ khoảng không mù mịt. Tôi không có khoảng thời gian tuổi trẻ, tôi chỉ thấy tôi đang già nua. Tôi đã nghe Nguyệt kể về tuổi thơ của nàng và tôi thèm.

    Cái gì xuôi tôi buồn bã thế này và khiến tôi không về, dù nơi đó còn có ba và hai em tôi, dù nơi đó còn có những ngọn đồi thấp thoai thoải chập chùng mà đến mùa này bông mua nở tím cả khu mộ má tôi. Cái gì xuôi tôi không ở lại đây dù thân tình vây bọc: chị tôi, mấy đứa cháu ngoan và hồn nhiên. Nhưng tôi biết rằng dù tôi có về, ở lại hay đi thì nơi nào cũng chẳng là quê hương tôi. Nhiều lúc tôi nghĩ phải tạo cho mình một khung trời nào đó có dĩ vãng êm đềm của tôi, như bao người khác; có mẹ tôi đốt đèn dạy tôi những mẫu tự đầu tiên, có những tối mẹ buông màn cho tôi ngủ và trong mơ tôi thấy mẹ biến thành bà tiên đã cho tôi chiếc đũa thần để tôi gõ vào nỗi ước mơ hiền lành của tôi. Ôi, nhưng tôi không thể tưởng tượng để dối mình như vậy được, tôi sẽ rơi vào nỗi thất vọng cay chua.


    Tôi sống và luôn luôn như chọn những quán trọ tạm thời, nên việc ở, về hay đi cũng chỉ là những dấu mốc cho một chặng đường. Cũng như người ta đi tìm một thứ hạnh phúc. Khi đuổi bắt đối tượng người ta loay hoay chạy từ chỗ này qua chỗ khác, và khi đối tượng đó nằm trong tay thì ôi thôi! Không phải là thứ hạnh phúc mà người ta muốn tìm. Cũng như người con gái mười ba tuổi dễ yêu, dễ chán, dễ quên, dễ tạo cho mình những khung trời khác, những giấc mơ khác vì tuổi còn non và đời còn dài. Tôi cũng là người muốn đổi thay và tạo ảo tưởng cho mình. Nhưng tôi dễ chán và khó quên. Thành phố này, con đường này, khu giải trí này đã trở nên quen thuộc đến nhàm chán và tôi muốn bỏ đi, có dịp bỏ đi để hứa hẹn ngày trở lại xem như một đổi thay dù nó chẳng đổi thay chút nào.

    Và tôi đã đi. Hồng đón tôi ở trạm xe ca. Hai đứa bạn sau bốn năm trời gặp nhau mừng rở. Hồng kêu một chiếc taxi. Chúng tôi ngồi băng sau nhìn nhau cười. Phố đã lên đèn, tôi đưa tay xem đồng hồ, gần tám giờ rồi. Đêm nay tôi sẽ đón giao thừa ở thành phố xa lạ này. Lòng tôi bỗng dưng nôn nao kỳ lạ. Phải chăng chút đời thanh xuân còn sót lại, và chiều nay hé nở trong tôi. Không. Đó chỉ là trạng thái khấp khởi của một lần đổi thay. Trạng thái của một người vừa nhận được những sinh hoạt mới, những hình ảnh lạ đã đập vào nhãn quan và chạy luồn trong cơ thể khiến mạch máu dồn dập và trái tim nhịp sai lạc, hết vẻ bình thường. Gió hắt hơi mát của cơn mưa buổi chiều còn sót lại. Tôi ngữa người thoải mái trong lòng xe mơ màng nghĩ về chiếc thuyền của cha tôi trên mặt nước mông mênh. Đời con rồi cũng thế. Phải không. Một chiếc thuyền và một mặt nước vô bờ.

    Nhà Hồng ở trong con hẽm của khu Lò gốm vùng Chợ Lớn. Hồng đưa tôi lên gác. Bây giờ tôi mới có dịp nhìn kỹ lại Hồng. Cái vẻ mặt non và cái đầu tóc quăn ngày nào vẫn còn, nhưng hắn có vẻ ốm quá. Tôi hỏi ra mới biết hắn nhịn ăn cho sụt cân và được hoãn thêm một thời gian vì lý do sức khỏe. Ôi cái thời đại chúng ta. Có những căn bịnh mà y dược văn-minh-đến-mặt-trăng rồi vẫn không sao trị được. Mấy năm rồi tôi đóng cái vai hướng dẫn tinh thần với đám học trò ngỗ ngáo cũng chẳng qua là tránh “cầm súng làm người yêu nước”. Đó cũng là cái bịnh. Tôi mỉm cười và thầm cám ơn căn bịnh đã nuôi tôi còn sống đến hôm nay. Hay ít ra cũng còn đủ tay chân mặt mày. Mỗi người đều có một lý do để sống. Nếu có một đổi thay nào bên kia cõi chết thì tôi cũng tìm một cái chết êm ái cho tâm hồn mình. Tôi không muốn mình đi về bên kia thế giới với thân thể tàn tật. Tôi sẵn sàng chấp nhận cái chết nhưng là cái-chết-phải-có-của-đời-người. Không sống được nữa thì chết. Tôi không chấp nhận cái chết khi tôi còn đủ sức để sống. Người ta thường ca ngợi “chết cho lý tưởng” thì tại sao không để tôi chết cho cái lý tưởng của tôi? Tôi mỉm cười cho ý nghĩ của mình và đứng dậy kéo Hồng xuống phố.

    Hồng lấy chiếc xe máy dầu và hai đứa đèo nhau đi. Chúng tôi quyết định rong ngoài phố cho đến giờ giao thừa. Phố có vẻ thưa người hơn buổi chiều tôi vừa đến. Giờ này chắc ai cũng lo sửa soạn cúng ông bà và đón một năm mới hy vọng hơn năm qua. Tôi không đoán hiểu hết được họ hy vọng gì, nhưng tôi biết rõ ràng trong lòng mọi người là hy vọng ăn cái tết thanh bình, không ước mơ xa hơn, sự hòa bình vĩnh viễn trên đất nước này. Một vài chiếc taxi lướt qua, vài chiếc xích lô đạp vội vàng như muốn bắt kịp giây phút bình yên dễ tan dễ vỡ của đêm tạm ngừng tiếng súng: 24 giờ hưu chiến. Cứ an lòng mà đi. Tôi tự nhủ thầm. Long rong cho hết phố phường. Một đêm hòa bình của đất nước. Bỏ đi uổng lắm. Những dãy phố cao nghệu, đèn sáng rực muôn màu. Những con đường rậm bóng cây. Tự dưng tôi thấy những hàng thép gai quanh những cộng sự cũng có vẻ yên lành. Đi cho hết mấy phố Saigon. Biết đâu ngày mai không còn như thế nữa. Bỗng từng tràng tiếng nổ vang lên. Tôi đánh thót sau xe. Hồng quay lại cười.
    - Pháo giao thừa đó. Yên lòng đi.

    Từng tràng pháo liên tiếp nỗ theo sáng lòe hai bên phố. Xác pháo tung lên đỏ ối như những bông phượng cuối mùa rụng đầy sân trường. Thì ra mọi người vẫn còn yên vui. Sao tôi sớm bi quan thế! Tôi bảo Hồng chạy chầm chậm. Đêm còn dài mà. Những tiếng cười chen với tiếng pháo vang vang trên một tầng lầu cao. Pháo nỗ đầy khắp các ngã đường và ở đâu cũng có vẻ rộn ràng. Thì ra chúng ta còn sống trong một phút thanh bình.

    *
    * *

    Hồng đẩy xe vào nhà. Chúng tôi ngồi trên mấy cái ghế kê gần bên thang gác. Hồng lấy chai rượu ngâm thuốc bắc rót ra hai cái ly nhỏ đặt trên cái thùng kê gần nơi đó dùng làm cái bàn. Hắn nhìn tôi, cười:

    - Bây giờ mình say chớ. Rượu hão hạng đó. Để tao đi lấy dưa chua.

    Hồng vừa nói vừa đi ra phía sau đem ra một bình đựng củ hành củ cải. Tôi với tay bốc một củ hành nhai nhai và ngụm một ngụm rượu.

    - Rượu ngon à. Khá lắm.

    Hai đứa tôi chén tạc chén thù gần nửa chai rượu. Giọng Hồng có vẻ khề khà:

    - Mày không lấy vợ cho rồi mày. Có nghề có nghiệp lo vợ con đi là vừa. Tụi tao …

    - Tụi mày làm sao? Vợ con cái con khỉ. Tao lo cái thân tao còn chưa kham.

    Hồng ngồi ngay dậy.

    - Chả lẽ tụi mình ở giá suốt đời hả mày?

    - Không cả đời cũng vài chục năm nữa.

    Hồng cười nhỏ trong miệng.

    - Mấy năm rồi mày có về ngoài đó không?

    Tôi không trả lời Hồng mà nhìn lên tấm ảnh được lồng khung kỹ lưỡng treo trên vách:

    - Mày còn yêu Mai dữ thế à?

    Hồng chồm dậy:

    - Ai nói với mày đó?

    Tôi chỉ tấm hình, Hồng nhìn theo, thở dài:

    - Tao tưởng quên được. Nhưng không mày à. Có một điều là tao không về ngoài đó nữa.

    Tôi uống thêm một tí rượu:

    - Mày về cũng thừa rồi. Mai đã có con.

    Hồng bưng ly rượu nốc cạn và rót thêm. Tôi đã thấy choáng váng và không uống nữa.
    Hồng hỏi tôi:

    - Mày có định đi Cần Thơ không?

    Thăm Nguyệt? Tôi chưa hề nghĩ từ khi còn ở Qui Nhơn sẽ vào đây đi Cần Thơ thăm Nguyệt. Còn gì nữa mà tìm kiếm nhau. Sáu bảy năm trời rồi. Tôi tưởng tình yêu đã chết hay cố giết chết đi, ít ra nơi Nguyệt, Nàng hẳn đã quên tôi và đang sống bình yên, có thể bên người chồng có chút ít địa vị, danh giá hơn tôi. Tôi còn tìm kiếm làm gì chỉ phá vỡ hạnh phúc của nàng – nếu thực ở đời có một thứ gọi là hạnh phúc – Tôi đã vô tình gây ra đổ vỡ bây giờ tôi phải gánh chịu. Không thể chia xẻ nỗi khổ của mình cho một người mình yêu. Tôi đã vì chút lòng tự ái: một người nghèo, vô nghề nghiệp, không tương lai. Bác nàng đã nói với nàng về tôi như thế. Nàng thì nói mãi về một quá khứ vàng son. Tôi làm gì có được một dĩ vãng êm đềm đó. Tôi đã tự ý lách mình vào lớp vỏ khô cứng sần sùi nghèo nàn của mình. Và nàng đã hận thù tôi phản bội. “Phải thế không? Nguyệt?”


    Tôi thầm gọi trong trí và bảo Hồng:

    - Không, tao vào đây chơi với mày rồi phải lo về dạy chứ. Vả lại ...

    - Sao?
    - Thì mày đủ can đảm về đó không?
    - Tao khác.

    - Ừ thì mày khác nhưng tao cũng có lý do của tao chứ. Mày bắt tao đi sao được.

    Hồng cười méo xệt:

    - Thì ai bắt mày. Cái thằng. Thôi uống đi, uống nữa đi, uống cho say.

    Hồng rót và tôi nốc cạn liên tiếp mấy ly. Hồng vỗ vai tôi cười khà khà:

    - Khá, khá lắm, ha ha! Tửu lượng cao đấy.

    Tôi phải uống cho say để ngủ đêm này, để khỏi phải suy nghĩ gì hết. Tôi cầm phần rượu còn lại trong chai uống cạn và ngữa người ra ghế mệt nhoài.

    - Uống nữa nhé, để tao lấy chai khác.

    Nhưng chai rượu lấy ra để nguyên trên bàn, không đứa nào uống được nữa. Hồng ngữa cổ ra sau ghế lim dim một lát đã nghe tiếng gáy khò khè. Tôi bò lên gác gieo mình xuống chiếc giường bố, rã rời.

    Tôi mở mắt tỉnh dậy tưởng trời sáng. Bên dưới ngọn đèn vẫn sáng trưng và Hồng gục đầu ngủ trên thùng gỗ. Tôi đưa tay xem đồng hồ. Mới 5 giờ. Giờ thứ năm của một năm mới bắt đầu. Tôi lại già thêm 5 tiếng đồng hồ nữa và gần thêm cõi chết một đoạn đường. Tôi không biết tôi mong ước gì, dự tính gì. Tiếng pháo vẫn còn đì đẹt nhặt thưa xa xa. Tôi trở dậy xuống ngồi trên chiếc ghế cũ. Bình dưa chua vẫn còn mở nắp và một ly rượu uống dở. Tôi mở nút chai rót thêm đầy ly. Chất rượu làm mát cổ họng đang khô và lòng tôi tỉnh lại. Đời con rồi cũng thế. Phải không. Một chiếc thuyền trên mặt nước vô vọng. Tôi lục lọi trong ký ức còn tiềm tàng chăng những hình ảnh tôi đã quên vùi. Một vòm trời xanh. Một phiến mây hồng. Một chiều trên đồng cỏ. Một tối trong gian phòng ấm cúng. Một khuôn mặt dịu hiền cúi xuống. Không. Tuyệt nhiên không có gì cả. Tôi chỉ thấy mơ hồ một khoảng mờ mịt. Tôi đã bị cắt đứt mất dĩ vãng. Tôi bị xô bổ vào hiện tại và phải đối kháng với từng nỗi không may. “Rồi con cũng chỉ là chiếc thuyền lênh đênh trên những bến bờ vô vọng. Hiện tại cũng chỉ là cái bến trong muôn ngàn cái bến của một trường giang bất tận”. Tình yêu có níu giữ chúng ta được không? Hỡi Nguyệt. Sáu bảy năm rồi nó vẫn không chết dù tôi cố giết. Tôi đào huyệt chôn lấp, nó vẫn bùng dậy. Nhưng sao nó đày đọa thế này? Hay tình yêu cũng chỉ là cái bến ảo tưởng ta ghé đến trong ngàn nỗi đắng cay.


    Tôi bỗng nghĩ sáng mai tôi phải xuống Cần Thơ. Anh phải tìm gặp em, Nguyệt ạ. Bảy tám năm trời rồi, không thể kéo dài thêm được nữa. Những giọt nước cuối cùng trên phi trường Đà Nẵng của Nguyệt năm nào bây giờ lại nhỏ vào tôi niềm xao xuyến khôn cùng, nhỏ vào tôi từng giọt đắng cay mà giờ đây tôi thấy quí giá, trong và đẹp. Như những giọt sương. Tôi phải gặp em, ít ra cũng cho em hiểu rằng buổi chiều trên phi trường năm xưa là giờ sinh nhật tình yêu vĩnh cửu của chúng ta. Em đâu nhìn thấy được buổi chiều đó, phải không? Em đã ra đi với chút ít giận hờn dù lòng thắt lại. Em đã ngộ nhận. Anh đã im lặng. Và như thế kéo dài mãi cho đến ngày nay. Tôi hận tôi sao không nén một chút tự ái, gạt một chút ương ngạnh, ngày nào.
    *
    * *
    Tôi quyết định ngày mùng ba đi Cần Thơ và không cho Hồng hay biết. Sáng sớm hôm đó tôi đi và để lại cho Hồng mấy chữ. Tôi định tìm cho Nguyệt một món quà nhưng không biết mua thứ gì. Cuối cùng tôi nghĩ đến cái vòng cẩm thạch đã cẩn thận mang theo từ khi còn ở Đà Nẵng. Thứ vòng bằng đá vẫn được làm ở Non Nước. Tôi đã giữ nó như một kỷ vật. Tôi đã mua từ lâu, hồi còn học nhất cấp trong một chuyến đi chơi với bạn bè, tôi định gởi tặng Nguyệt nhưng không biết vì sao tôi còn giữ đến bây giờ.

    *
    * *


    Tôi ra khỏi quán, tìm một chiếc xích lô, nhưng không có, chỉ toàn loại xe lôi giống như loại xe chạy ở Bồng Sơn. Tôi ngồi trên xe và về ngã nhà Nguyệt. Tôi dừng trước căn nhà xa lạ và bỗng dưng tôi muốn bỏ quay đi. Nhưng một người con gái đã tiến ra tận cửa nhìn tôi tò mò:

    - Xin lỗi ông hỏi ai?

    Tôi hỏi Nguyệt và cô gái trả lời tôi biết là Nhụy, em Nguyệt.
    - Chị Nguyệt không còn ở đây, mời ông vào nhà.

    Tôi định cám ơn quay đi, nhưng Nhụy đã quay vào trong.
    - Má, ông này hỏi thăm chị Nguyệt.

    Tôi tần ngần bước vào nhà cúi chào người đàn bà, bà mời tôi ngồi ghế và bảo Nhụy:

    - Pha trà uống con.

    Trong lúc Nhụy đi pha trà, tôi giới thiệu tôi là bạn Nguyệt ở Saigon xuống nhân tiện ghé thăm. Bà hỏi tôi phải người Trung không, làm tôi giật mình. Có lẽ nào bà lại biết tôi. Bà tiếp:

    - Nguyệt đã ở riêng rồi. Nó mới dẫn con nó coi hát bóng về có ghé đây. Mẹ con nó vừa ra khỏi đó.

    Nguyệt đã có chồng. Thế là hết. Tôi thấy chẳng buồn chẳng vui. Cuộc đời rồi mỗi người có một cảnh, phân định từ hồi nào, bởi một bàn tay vô hình nào. Chúng ta chỉ chấp nhận dù trong ngàn nỗi xót xa. Nguyệt đã yên vui. Tôi chẳng còn lý do gì để tìm kiếm nữa.

    Khi Nhụy bưng nước lên tôi đứng dậy xin phép cáo từ và xin địa chỉ của Nguyệt, nhưng chắc là tôi không đủ can đảm đến thăm Nguyệt nữa, dù đến thăm như một người bạn thăm một người bạn.

    Cầm cái địa chỉ Nguyệt trên tay tôi đi thẳng về khách sạn trong lòng thầm nhủ sáng mai phải về sớm. Giờ phút này tôi mới thấy tìm đến Nguyệt là vô lý. Thế là hết. Vĩnh viễn không bao giờ tôi tìm gặp nàng nữa.

    *
    * *

    Khi mở cửa phòng tôi kề tai người bồi phòng nói nhỏ. Hắn gật gật đầu và tôi dúi vào tay hắn tờ giấy năm chục. Tôi khép hờ cửa nằm chờ. Người con gái hiện ra ở khung cửa, tôi ra dấu nàng lách vào không quên khóa cửa lại. Tôi lấy diêm bật lửa đốt điếu thuốc nằm nhả khói lên trần nhà, lòng trống rỗng. Người con gái đã nằm gọn trên giường và mỉm cười với tôi. Tôi quay sang:

    - Em tên gì?
    - Nguyệt.

    Tôi như hốt hoảng và hỏi lại:

    - Tên gì?
    - Nguyệt. Gì mà hết hồn vậy?

    Nguyệt. Tôi thầm gọi trong miệng và Nguyệt quàng tay qua vai tôi.
    - Tại sao em tên Nguyệt?

    Thiếu nữ trố mắt nhìn tôi:

    - Ơ hay.

    Tôi bỉu môi:

    - Mấy cô thì có hàng vạn tên, nhưng tại sao với tôi cô bảo là Nguyệt.

    - Ờ thì em nhớ tên nào nói đại tên đó.

    Tôi thấy nàng tội nghiệp:

    - Anh yêu em, Nguyệt à.

    Nguyệt đẩy tôi ra:
    - Lãng xẹt.

    Tôi lầm bầm:

    - Ừ lãng xẹt nhỉ.

    Nguyệt trườn lên nhìn vào mắt tôi

    - Anh chàng này thất tình hả.
    - Ừ, thất tình em đó, Nguyệt.

    Nguyệt choàng ngồi dậy:

    - Cái gì đây anh.

    Nguyệt mở cái hộp đựng chiếc vòng cẩm thạch của tôi ra.

    - Chèn ơi, anh mua cho ai đây hả?

    Tôi nhìn Nguyệt:

    - Cho em đấy. Nguyệt à.

    Nguyệt nheo mắt:

    - Thôi đi cha.

    Tôi cầm chiếc vòng đeo vào tay Nguyệt.

    - Cho em thật mà.

    Rồi kéo nàng nằm xuống.

    Tiếng động dưới phố đã im. Có lẽ trời đang mưa nhẹ. Tôi vói tay tắt đèn và Nguyệt trườn lên ôm quấn lấy tôi như một con mèo. Tôi trôi trên vùng lặng câm. Đời con ngàn đời vẫn thế. Như chiếc thuyền trôi. Như chiếc thuyền trôi…


    Lê Văn Trung

  2. Xin cám ơn Phòng Trực

    khongquan2 (10-05-2019)

  3. #2
    Phòng Trực's Avatar
    Status : Phòng Trực v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jul 2010
    Posts: 952
    Thanks: 26
    Thanked 1,575 Times in 510 Posts

    Default đời có nhiều chuyện đáng buồn

    ĐỜI CÓ NHIỀU CHUYỆN ĐÁNG BUỒN

    http://www.hocxa.com/Truyen/DoiCoNhieuChuyenDangBuon_LeNamPhuong.php

    (Tác giả:LÊ NAM PHƯƠNG tức Thi sĩ Lê Văn Trung)


    1.


    Người đàn ông loay hoay mãi với chiếc xe đạp cà tàng của mình. Gọi là xe đạp cho có vẻ như thế. Thật ra đó chỉ là một mớ sắt hoen rỉ được nối kết lại với nhau. Một cái khung vá chằng vá đụp bằng những mũi hàn lỡm chỡm. Hai vành xe được chế tạo bởi những vòng cắt ra từ cover, một loại ống cống bằng kim loại từ thời quân Mỹ mang sang. Bọc ngoài lớp vành ấy là một lớp cao su được cắt ra từ những ruột xe phế thải. Những nan xe được hàn bằng những thanh sắt phi 10 chen lẫn với nhũng que gỗ. Không có bàn đạp. Không có xích. Không có tay lái. Để điều khiển chiếc xe, người đàn ông phải buộc vào một que gỗ nơi đáng lý phải là cái ghi đông. Ấy thế mà chiếc xe đã cùng ông lang thang trên khắp nẻo đường xuôi ngược. Len lỏi vào các làng mạc hẻo lánh, những vùng nông thôn heo hút. Ăn bờ ngủ bụi là chuyện thường. Có khi ông leo lên tận đỉnh núi, hay vào sâu trong rừng. Lạc mấy ngày, ăn đọt cây đoát, môn rừng, uống nước bùn, ngủ với sên vắt muỗi rừng.


    Người đàn ông ấy là ai? Chẳng ai biết.
    Nhưng ông biết ông là ai.
    Ông đang làm cái việc mà hình như nhiều người cùng thời đang làm để kiếm cái ăn, cho ông và cho người vợ đang ngày đêm trông ông về với món tiền nho nhỏ sống qua ngày: Ông đi thu nhặt phế liệu về bán lại cho các vựa thu mua. Vài ba tuần ông mới về nhà một lần. Bởi vì với chiếc xe như thế ông không thể đi, về dễ dàng được.


    Trong nhũng chuyến lang thang vì cơm áo, ông đã gặp được nhiều người, nghe được nhiều chuyện. Những lúc ấy ông lại nghĩ về đời mình, nghĩ về bao nhiêu người, bạn bè người thân. Kè còn, kẻ mất. Người nằm dưới mộ sâu, người lênh đênh phiêu bạt ở xứ người. Kẻ bỏ xác trên rừng, người gởi thân nơi đại dương thăm thẳm. Và cũng còn bao người như ông đang lang thang lếch thếch khắp cùng trời cuối đất. Tất cả đã mất hết. Chỉ còn lại những thây người biết cử động, đang đi tìm miếng ăn. Bởi vì phải sống. Phải sống.

    Không ai có thể tự chọn lựa cho mình. Làm sao chọn cho mình cái chết?

    2.


    Cho chiếc xe lăn xuống triền dốc. Ông chạy theo với một tốc độ vượt sức chịu đựng. Con đường mòn nho nhỏ, hai bên hình như không có nhà. Trời nắng gắt. Mồ hôi dường như không còn. Người ông khô kiệt. Không chịu nổi. Ông thả tay để chiếc xe tự do lao xuống con đường với một vận tốc không có gì kiềm lại. Ông ngã nhoài bên đường. Hai mắt nhắm lại. Ông thấy người nhẹ tênh. Giá mà chết được lúc này.


    Ông mở mắt. Bầu trời trên cao mây trắng trôi bập bềnh. Ông cũng thấy mình trôi bập bềnh. Giờ này chắc vợ ông đang ngồi ngoài hiên mái chòi lợp lá cọ. Nàng chải tóc và nói chuyện với con mèo lông vàng ngồi dưới chân nàng mong tìm chút hơi ấm của con người vốn từ lâu không còn đủ thời giờ để âu yếm vuốt ve nó. Cái chòi dựng tạm bợ bên bìa rừng hoang vắng quạnh hiu. Ông thấy thương nàng vô hạn. Và ông mơ màng thấy nàng từ xa xa đi gần về phía ông. Ông nhắm mắt để cho ảo giác chập chờn hi vọng đó chính là nàng. Nhưng hình như ông nghe tiếng ai đó đang gọi:
    - Ông gì đó ơi!


    Tiếng gọi yếu ớt, giọng khàn khàn, buồn đục như tiếng gọi từ trong sâu thẳm của rừng già. Ông đã từng nghe tiếng gọi này trong những giấc mơ của mình.
    - Ông ơi? Ông đang làm sao thế?


    Ông mở mắt. Một bà già tóc đã bạc, lưng còng, tay chống một cái gậy tre, người gầy và run run, duy chỉ có đôi mắt là còn linh hoạt. Bà tiến gần về phía người đàn ông và cúi xuống như để kiểm tra xem người nằm đó còn sống hay đã chết.


    - Dạ chào bà, người đàn ông mỏi mệt nói, bà có thể cho tôi xin miếng nước không ạ?


    - Lạy trời! Ông còn sống. Lão cứ tưởng ông đã chết. Thôi hãy ráng đứng dậy, cố đi với lão về nhà. Bà đưa tay chỉ về cuối chân đồi.


    Người đàn ông đứng lên dùng tay phủi bùn đất bám dính vào áo quần và mệt mỏi theo sau bà lão. Con đường mòn chỉ vừa một người đi đổ xuống chân đồi. Hai bên cỏ dại mọc tràn lan, những dây cỏ gai nở bông màu tím nhẹ, những cây cúc dại lác đác những nụ vàng, vài con bướm đủ màu sắc bay chập chờn từ hoa này sang hoa khác. Đồi dốc đổ thoai thoải xa dần xuống tận bờ một con suối mùa này hình như cũng cạn khô nên nom rõ những tảng đá hai bên, những gốc cây đã bị đốn nhô lên như những hình nhân quái dị.


    Bà lão bước đi nặng nề phía trước, lưng còng quá nên có cảm giác mặt bà luôn luôn nhìn xuống đất. Có cái gì đó nơi bà lão này khiến người đàn ông nhớ đến mẹ mình, và ông cảm thấy gần gũi như được chở che. Ông cảm thấy một nguồn thương cảm vô hạn dâng lên trong lòng. Bất chợt ông gọi nhỏ "Mẹ". Bà lão không nghe gì, cứ lầm lủi bước đi.



    3.




    Từ dưới triền đồi chiếc xe đạp của ông nằm chỏng chơ, hai bánh xe với những cái nan xe bằng gỗ vẫn còn quay quay theo mỗi đợt gió thốc tới. Đống sắt vụn đổ tung toé nằm rải rác giống những mãnh bom bên một cái hố con.
    Người đàn ông nhìn chiếc xe buột miệng:
    - Thấy mẹ. Không biết có gãy xe không.


    Bà lão mơ hồ như nghe người đàn ông gọi;
    - Ông nói sao? Ờ, nhà lão ở tận dưới kia gần con suối cạn ấy. Cơ khổ! Làm sao mà ông nằm ở đây vậy?

    Không đợi người đàn ông trả lời, bà lão kể lể;

    - Năm ngoái cũng có một người ngang qua đây, cũng trạc tuổi ông. Mà sao ông lại đến đây? À mà thôi, tôi tò mò chuyện các người làm gì. Hãy vào uống nước nghỉ ngơi, rồi muốn đi thì đi. Mà có ở lại cũng không sao. Lão sống cô độc, buồn lắm, muốn có người trò chuyện cho đỡ buồn.

    Bà lão đưa tay kéo liếp cửa lợp bằng lá cọ, quay về phía người đàn ông:
    - Ông vào trong đi, tôi đi lấy ít nước nấu nắm lá vối. Đây là loại nước giải khát duy nhất và cũng ngon lắm, hơn hẳn các loại danh trà mà ông thường uống đấy.


    Bà lão cười hóm hém sau câu nói đùa của mình và chống gậy đi về phía bờ suối. Người đàn ông bước vào trong. Một chiếc chỏng tre ọp ẹp kê sát vách lợp bằng lá rừng và được nẹp vào nhau bằng những cây sậy tròn cở ngón tay. Phía cuối giường là cái bếp được kê bởi ba hòn đá. Vài cái soong đã móp méo treo lủng lẳng trên vách. Hơi nóng hãy còn trong lớp tro ủ, thỉnh thoảng một cọng khói lẻ loi hiu hắt bay lên. Ông bước ra sân nhặt một ít cành khô đem vào nhuốm bếp. Bà lão vào mang theo một ấm nước với ít lá vối đã rửa sạch. Bà ngồi xuống cạnh người đàn ông, không nhìn ông, bà nói bâng quơ:

    - Đôi lúc lão cũng thấy buồn thật. Nhưng quen rồi.

    Thưa cụ, thế con cái cụ đâu? Cụ sống một mình thế này lỡ đêm hôm mưa gió...

    Bà lão vẫn chăm chú nhìn vào bếp lửa đang cháy, thở dài não nuột:
    - Con với chả cái. À mà tôi cũng có một đứa con đấy chứ. Tôi và ông lão nhà tôi hiếm muộn chỉ có một mặt con. Ôi mà thôi! Thà không có con còn thấy đở khổ hơn, đở đau lòng hơn...

    - Cháu xin lỗi đã gợi lại những chuyện không vui cho cụ. Nhưng mà...

    Người đàn ông bỏ lửng câu nói, nhìn bà lão, lòng ông thấy xót xa, ông linh cảm trong người đàn bà này đang chứa chất một nỗi đau đớn kinh khủng lắm.

    Ấm nước sôi sục sục, bọt tràn ra khỏi miệng, một mùi thơm ngai ngái xông lên khắp căn chòi, ông hít thật sâu, mùi thơm xông lên tận não. Ông cảm thấy dễ chịu vô cùng. Bà lão lấy hai cái bát sành đã sứt miệng thong thả rót nước ra, một lớp bọt trắng trắng vàng vàng sóng sánh trên miệng chén. Đẩy chén nước về phía người đàn ông, bà lão mời:


    - Ông uống đi, nóng thì thêm ít nước lạnh vào. Loại nước này lợi gan, mật, ăn dễ tiêu, đả khát. Này mà ông có con không? Hãy dạy cho con ông cái điều mà trước đây chúng ta không được phép dạy. Đó là lòng thương yêu, sự quí trọng mạng sống của con người. Trước đây chúng chỉ được dạy lòng căm thù, một viên đạn phải giết cho được hai mạng người. Và đau xót hơn nữa, chúng được dạy phải giết chính những người thân yêu của mình để chứng tỏ lập trường kiên định không khoan nhượng đối với những người được qui cho là giai cấp bóc lột, giai cấp tiểu tư sản...

    Hình như khi nói những điều này đôi mắt bà lão ánh lên một tia giận dữ nhưng rồi bà nén lại, đôi mắt chùng xuống. Bà hớp một ngụm nước, lấy tay cời thêm que củi cho lửa cháy bùng lên.
    - Thưa cụ thế ông cụ?

    - Ông nhà tôi mất cách đây hai mươi năm rồi. Chết vì buồn bã quá. Vì đau lòng quá. Vì tủi hổ với giòng giống tổ tiên

    Nhưng mà... Người đàn ông tò mò.


    4.


    - Từ cái đêm cách đây hai mươi năm ấy, ông biết không, từ cái đêm oan nghiệt đó, ông nhà tôi như người mất linh hồn, sống vất vưởng như cái bóng. Suốt ngày không nói. Đôi mắt sâu hun hút như một vực thẳm chứa nỗi buồn của kiếp người. Từ cái đêm ấy.


    Bà lão chợt im lặng. Ngoài kia mặt trời đang xuống thấp. Lác đác có vài cánh chim bay về phía đồi xa. Một luồng gió lành lạnh thổi nhẹ qua khung cửa mang theo mùi hương của chiều. Ông vấn một điếu thuốc rê và châm lửa.

    - Ông lão nhà tôi trước kia cũng hút thuốc. Nhưng từ cái đêm oan nghiệt đó... À, ông có biết uống rượu không? Trong cái chai dưới gầm giường kia còn một ít đấy.

    Người đàn ông lấy cái chai và rót rượu ra cái bát vừa uống nước xong.
    - Mời cụ.

    - Không, tôi không biết uống rượu. Từ hôm giỗ ông nhà tôi vẫn còn đấy. Ông không có con à? Phải dạy chúng đấy ông ạ. Lòng thương yêu. Quí trọng mạng sống của con người. Đừng nuôi lòng thù hận, bất cứ ai.

    Người đàn ông vẫn chưa hiểu tận tường câu chuyện mà bà lão đang kể. Hình như bà thấy quá khó khăn nếu phải kể ra cái điều mà bà muốn quên đi, cái điều mà từ đó tai họa đổ ập lên gia đình bà, lên đời ông cụ, lên đời bà. Ông nhấp một tí rượu và chờ đợi.

    - Ông biết không, nó là một thằng bé rất kháu khỉnh, đôi mắt sáng, môi đỏ tươi, vầng trán thông minh. Nhưng ông biết sao không? Chúng tôi hình như càng ngày càng mất cái quyền được dạy dỗ nó. Không có quyền.

    Giọng bà trầm lại gần như bà đang nói với chính mình. Người đàn ông thấy một giọt nước mắt đặc quánh nặng nề lăn từ hốc mắt sâu hoắm của bà lão, dường như không đủ sức lăn xuống nữa, giọt lệ nằm lại nơi lưng chừng gò má nhăn nheo.

    - Năm mười lăm tuổi nó bỏ nhà đi không nói với chúng tôi lấy nửa lời. Hoảng. Chúng tôi đi tìm nó trong vô vọng. Mất ăn mất ngủ. Bệnh viện nào chúng tôi cũng đến, nhà giam nào chúng tôi cũng đến. Mấy thầy cô nơi trường cháu học cũng không thể trả lời chúng tôi. Chúng tôi chia nhau đi tìm. Ông về tận dưới quê nội, tôi ra tận quê ngoại. Không có. Chúng tôi tuyệt vọng ê chề.

    Người đàn ông nôn nao:
    - Nhưng cuối cùng có tìm ra anh ấy không? Thưa bà.

    Bà lão rót thêm cho mình một chén nước nữa, bà thổi nhẹ lớp váng và uống từ từ. Giọt nước mắt trên gò má nhăn nheo của bà cũng đã khô, chỉ còn để lại một chấm màu xam xám. Bên ngoài trời đã bắt đầu tối. Bà lão đưa tay dò tìm trong góc bếp lấy ra chiếc đèn dầu làm bằng một nửa cái chai nho nhỏ.

    - Ông thắp giùm đèn đi, tôi luộc mấy củ lang. Tôi đãi ông bữa tối bằng củ lang. Nhà chỉ còn có thế. Hôm nay tôi không xuống làng được, hết gạo từ mấy bữa nay.

    Người đàn ông đỡ cái soong từ tay bà lão và bắt lên bếp. Bài trường ca buồn vô hạn của đêm mùa hạ nơi đồi nương bắt đầu rả rích. Bóng của hai người rung rinh lay động trên vách lá rách nát. Hai mái của túp lều không đủ kín để che ánh sáng yếu ớt của những vì sao xa, và những con đom đóm chớp sáng khiến người đàn ông nhớ tới những đêm nằm rừng, ngửa mặt lên trời, nhớ đôi mắt của nàng, đôi mắt chứa đựng cả bầu trời xanh thăm thẳm.

    Mùi của khoai lang đang chín thơm lựng, ông nhớ đôi môi đỏ thắm của nàng. Đôi môi ấy đã mím chặt lại khi lần đầu tiên đưa một mẩu khoai mì lên miệng. Nhưng rồi gần chín năm trời, hai vợ chồng ông đã ăn khoai mì thay cơm.

    Bà lão cẩn thận vớt từng củ khoai để lên chiếc đĩa bằng sành cũng đã sứt mẻ. Từ cái bọc bằng nilon bà lấy ra một ít muối.


    Hai người ngồi ăn trong im lặng. Mỗi người đang thả dòng suy nghĩ của mình theo một hướng. Bà lão hình như chưa thể nói ra điều đau lòng. Người đàn ông lại nôn nao muốn biết tại sao người con bỏ đi, tại sao bà lão lại vừa đau xót vừa có vẻ như uất giận. Cuối cung bà lão lên tiếng:
    - Ừ này, ông ở đâu đi lạc về đây? Ông đang làm gì?

    - Cháu ở cách đây cũng xa, người đàn ông trả lời ậm ừ. Nói chung có nói cụ cũng không biết. Nhưng cụ yên tâm. Cháu là người đang cố sống lương thiện. Bây giờ cháu đi đâu, bất cứ nơi nào cũng chỉ để kiếm cái ăn, kiếm cái ăn bằng mồ hôi của mình.


    - Mà thôi. Trước đây cũng có một người lạc tới chỗ này. Người ấy cũng trạc tuổi ông. Cũng ít nói. Cũng cho mình đang cố sống lương thiện.

    5.


    Bà lão hình như quên mất câu chuyện mình kể dở dang, loay hoay dọn chiếc chõng tre.
    - Tối nay ông trải mấy cai bao kia gần bếp ngủ cho ấm. Đêm ở đây lạnh lắm.

    - Nhưng thưa cụ, người con của cụ sau có trở về không ạ?

    Bà lão leo lên chõng tre, chưa muốn nằm, ngồi thu gối lại, mắt lim dim xa vắng:
    - Thật ra tôi không muốn nhớ tới chuyện này ông ạ. Lại càng không muốn nhớ tới đứa con mà mình đã bứt ruột sinh ra. Nhưng biết làm sao, thưa ông. Giọt máu của chúng tôi mà!

    Người đàn ông đứng dậy kéo liếp cửa lại, trời bắt đầu trở lạnh. Gió thổi qua những khe cửa rách làm những mãnh lá kè rung lên tạo nên một thứ âm thanh rin rít. Xa xa về phía tận ngôi làng vọng đến tiếng chó sủa bâng quơ.

    - Nếu còn sống năm nay nó cũng gần bằng tuổi ông, à, mà tôi có biết tuổi ông là bao nhiêu đâu.

    Bà lão thở dài. Một lần nữa giọt nước mắt khô đặc lại rỉ ra nơi khoé mắt sâu hun hút của bà lão, rồi cũng như lần trước, nó không đủ sức lăn xuống mà đọng lại cam đành, chịu đựng.

    Nó bỏ đi thật ông à, bà lão lại xoay về chuyện cũ, không tin tức, không để lại chút dấu vết gì, như thể nó chưa hề hiện diện trên đời này. Còn chăng là nỗi đau trong lòng chúng tôi.

    Bà lão hít một hơi dài như để lấy can đảm để tiếp câu chuyện:

    - Hai năm sau từ ngày nó bỏ đi, một người trong làng đến nhà tôi với vẻ mặt hớt hải và bí mật, kéo tôi ra một góc sân, kề sát miệng vào tai tôi: "Đêm qua, nó về làng bà ạ." "Ai?". "Thì thằng con bà chứ ai". Giọng người đó nhỏ lại hơn "Nó mang súng có cả hai người lạ nữa cùng đi với nó" Lúc đó tôi nghe hai tai mình ù ù, đôi mắt hoa và không còn đứng vững nữa. Sau khi người khách ra về, tôi vào báo lại với nhà tôi. Ông im lặng. Tôi cũng im lặng. Nhưng trong lòng không khỏi khấp khởi mừng. Ít ra nó cũng còn sống ông ạ.

    Bà lão lại lau giọt nước mắt đã khô và cũng đọng lại một vệt xam xám trên gò má nhăn nheo.
    - Làm sao mà nó không ghé về nhà nhỉ? Ít ra cũng để thăm chúng tôi một lát chứ. Bà lão như nói chuyện với chính mình.

    - Có lẽ anh ấy bận công chuyên quá, người đàn ông an ủi. Ông hiểu ra chuyện gì rồi. Anh con trai đó đi đâu, làm gì, với ai, và trở lại làm gì, ông mơ hồ thấy được. Hình như trong thời kỳ ông sống trước đây, ông đã nghe nhiều chuyện như thế. Dĩ nhiên mỗi chuyện có khác nhau, nhưng cơ bản là giống nhau cái chung nhất

    Hồi còn học trung học, trong lớp ông cũng có vài người tự dưng biến mất, về sau thì nghe nói người này chết chỗ này, người kia đang xuất hiện đâu đó, bí mật, hư hư thật thật. Học xong trung học, cố gắng ngồi ở giảng đường đại học vài năm cuối cùng rồi cũng phải đi đánh nhau, tham dự vào cái trò chơi chém giết chẳng để làm gì, chỉ tìm cách trốn chạy những vây bắt của số phận con người trong cái thời buổi mà con người bị điều khiển bởi một hệ thống đủ màu sắc của cái gọi là văn minh vật chất, trong cái thời buổi mà ngôn ngữ của nhân gian cần phải được định nghĩa lại.

    Im lặng một lát bà lão lại lên tiếng:
    - Ông có mệt lắm thì đi ngủ trước đi, à, mà để lão kể tiếp chuyện này cho ông nghe.

    Bả lão thở ra một cái dài, nằm xuống, nghiêng người về phía người đàn ông, đôi mắt nhắm lại như cố ngăn một giọt nước mắt cũng gần như khô đặc chực len qua hai mí mắt.

    - Hai tháng sau kể từ lần trở về thứ nhất, cũng người hàng xóm ấy, vào buổi sáng sớm hớt hải chạy tới đập cửa nhà tôi, hổn hển "Khi đêm hắn về cũng với hai người lần trước, tập hợp dăm ba người gì đó, bắt chú nó trói lại quì xuống, nó đọc cái gì đó, xong hai người kia đè chú nó xuống và cắt đầu, không một tiếng kêu, chỉ thấy một vòi máu đỏ tươi phun ra. Xong họ lẳng lặng bỏ đi".


    Người hàng xóm nói một thôi dài, tôi chưa kịp nhận ra việc gì cả. Người hàng xóm vụt chạy đi. Tôi thẩn thờ bước vào nhà, không đủ sức gọi ông nhà tôi dậy. Tôi ngồi không biết bao lâu, chìm trong cơn mê và hình như tôi lịm đi cho đến khi tiếng kêu khóc vang lên chung quanh, tôi ngồi bật dậy. Tôi bắt đầu tỉnh lại và hiểu ra mọi chuyện.



    - Xác của chú nó được phủ một tấm vải trắng để nằm trên chiếc giường tre kê trước sân. Tôi thẩn thờ bước ra ngồi xuống bên cái xác đã gần như lạnh ngắt và cứng đờ.


    Tôi hiểu ra mọi chuyện rồi. Nó bỏ đi đâu suốt mấy năm trời, làm gì, theo ai, rồi tại sao chú nó bị chính nó giết. Chú nó làm hội đồng gì đó ông à. Mà tại sao lại giết chú của mình cơ chứ. Đau xót quá ông ơi. Mà ai bảo nó làm việc đó cơ chứ?


    Bà lão nấc lên nhưng tiếng nấc đọng lại trong cổ họng, trong đêm tối người đàn ông mơ hồ thấy một dòng máu lệ đang nghẹn ngào trào ra tận con tim già cỗi của bà lão.

    6.


    Sáng hôm sau, thu gom xong mớ sắt thép phế liệu và chất lên chiếc xe đạp đẩy của mình, người đàn ông sửa soạn lên đường, bà lão ra tận bờ suối. Ban mai trời lành lạnh, sương còn đọng trên lớp cỏ khô. Nhưng giọt sương không giống những giọt lệ khô của bà lão, chúng lóng lánh như những hạt thủy tinh đủ màu sắc. Một vài con chim sẻ ríu ra ríu rít bay tới bay lui như muốn hỏi tại sao con người lại có mặt tại đây và lấy cái gì để ăn khi chính chúng ngay hạt cỏ cũng khó mà tìm.

    - Ông sửa soạn đi đó à? Bà lão lên tiếng.
    - Cháu sẽ vào uống nước với cụ rồi xin phép đi.

    Khi đã vào trong nhà, ấm lá vối đã sôi sùng sục, ông rót ra hai chén, không mời bà lão, ông bưng chén và từ từ nhắp từng ngụm nhỏ.
    - Thưa cụ, ông nói, cháu không có gì nhiều, xin cụ nhận cho.

    Ông lấy cái bọc nilon nhét cẩn thận trong túi áo, lấy ra mấy đồng bạc đặt trước mặt bà lão.

    - Cám ơn ông, tôi không nhận đâu, tôi không cần tiền, tôi chẳng có việc gì phải tiêu tiền. Nếu cần gì tôi chỉ mang những thứ tôi có được xuống làng đổi, không cần tiền. Ông cất đi.

    Người đàn ông không dám nài nỉ. Sau khi uống hết bát nước lá vối, ông từ giả bà lão và lên đường. Chiếc xe đạp không đạp được lại cùng ông lang thang qua muôn dặm đường để tìm cái ăn. Chuyến này ông hi vọng có chút tiền khá khá với đống sắt chất thải chiến tranh này. Vợ ông hẳn đang mong ông về lắm. Chuyến này ông đi hơi lâu, không biết vợ ông ở nhà ra sao, có còn đủ gạo tiền cho nàng không.

    Người đàn ông trong một lúc quên mất bà lão và câu chuyện đau lòng của bà. Ông đang nghĩ đến vợ mình và tưởng tượng cái giây phút hạnh phúc ôm nàng trong tay. Đôi mắt xanh thăm thẳm hun hút một nỗi thèm khát cháy bỏng, cặp môi của nàng lúc nào cũng mọng lên như chờ đợi nguồn ái ân cuồng nhiệt. Thế nào cũng phải có với nàng một đứa con, anh nghĩ thầm và mỉm cười một mình. Không! Phải hai đứa con mới được. Một trai, một gái. Rồi ông lại tưởng tượng ra khuôn mặt của hai đứa con. Thằng cu sẽ giống ông. Bé gái sẽ giống nàng. Bấy giờ ông sẽ không đi làm cái việc này nữa. Sẽ dành dụm tiền mua vài công đất, làm một cái nhà lá, nuôi vài ba con heo, dăm bảy con gà. Hàng ngày ông sẽ làm vườn, nàng chăm các con và lo việc vặt trong nhà. Gia đình ông sẽ sống một cuộc sống bình dị, đầm ấm và hạnh phúc. Ông sẽ trở lại vùng này để đón bà lão về chăm sóc. Ông sẽ gọi bà là mẹ. Các con ông sẽ có bà nội.

    Mãi nghĩ mông lung, ông ra đến đường cái lúc nào không hay. Lòng đang phấn chấn ông đẩy xe chạy bon bon, quên cả mệt nhọc.

    7.


    Với đống chất thải chiến tranh đó ông kiếm được cũng khá. Gởi chiếc xe-đạp-không-đạp-được tại nơi thu mua phế liệu, ông vừa đi vừa chạy mong sao khoảng bốn năm giờ sáng hôm sau là ông về đến nhà. Có lúc khát quá ông ghé vào bất kỳ một nhà dân nào đó xin gáo nước lạnh rồi bối hả đi tiếp. ông đang vui với cái tương lai tưởng tượng của mình, lòng ông tràn ngập về một cái-hạnh-phúc-chưa-có-thật.

    Bóng tối đổ xuống bao giờ ông cũng không hay. Ông vẫn lầm lũi trong bóng tối. Say cái hơi men của một hạnh- phúc-chưa-có-thật trong bóng tối. Bóng tối của đất trời. Bóng tối của thế gian. Bóng tối đã chụp xuống đời ông, đời bao nhiêu người khác trong từng giờ, từng ngày, từng tháng năm. Và bây giờ thì ông đang chạy trong bóng tối mà lòng thì mơ về một thứ ánh sáng của hạnh phúc.

    Ông mệt lã ngồi xuống bên bờ một cái mương trước lối vào cái chòi của minh. Hình như có một tia sáng yếu ớt rựng lên ở phía xa bầu trời, lác đác vài tiếng gà eo óc gáy nặng nề đâu đó không đủ sức xua đuổi khí lạnh u uất đang trùm lên mọi vật.

    Ông gắng đứng dậy đi về phía chòi của mình cũng vừa lúc liếp cửa chòi hé mở. Một người đàn ông hơi khom lưng xuống để bước ra, chợt nhìn thấy có người đến, ông ta quay ngay vào. Ông bỡ ngỡ đứng lại. Và chỉ một thoáng sau, vợ ông bước ra đi vội về phía ông. Khuôn mặt nàng lạnh lùng dù đôi mắt hãy còn ngái ngủ. Nàng không nhìn ông, đưa tay chỉ về hướng mà ông vừa từ đó đi tới:

    - Có lẽ ông nên đi khỏi đây thì hơn, nàng nói, tôi đã tự lo cho tôi được rồi, và ông, ông cũng hãy biết tự lo cho ông đi. Mong rằng ông không bao giờ trở lại đây nữa.

    Tia sáng yếu ớt không đủ sức xuyên qua lớp mây mù đang ùn lên khắp nơi. Trời chưa kịp sáng hình như đã tối lại. Người đàn ông nghe tim mình nhói đau, dòng máu lạnh tanh đọng từng cục len đi lạo xạo trong người ông. Không một lời, ông quay lại lối cũ, con đường ông vừa mới đi qua trong đêm tối, giờ trở lại, ngày vẫn chưa lên.

    (Ghi chú của tác giả: Hình như người đàn ông sau đó có tìm lại căn chòi của bà lão nhưng không gặp, bà đã bỏ đi đâu hay đã chết, không ai biết. Người đàn ông thì nghe đâu sau đó mấy năm đã định cư ở nước ngoài. Và cho đến bây giờ chưa bao giờ tác giả gặp lại hay biết tin tức gì.)


    Lê Nam Phương (vantrungle.blog)
    Thư Quán Bản Thảo tập 31, Tháng 4-2008

  4. Xin cám ơn Phòng Trực

    khongquan2 (10-05-2019)

  5. #3
    Phòng Trực's Avatar
    Status : Phòng Trực v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jul 2010
    Posts: 952
    Thanks: 26
    Thanked 1,575 Times in 510 Posts

    Default Bóng Tối Của Quá Khứ

    Bóng Tối Của Quá Khứ

    Lê Nam Phương (Lê Văn Trung)

    Đường phố chìm trong màn đêm lạnh lẽo. Tiếng gió hú trên ngọn các cây long não nghe như tiếng khóc của một người đàn bà. Những cành cây chìa xuống ngang đầu lung lay như những cánh tay dài ngoằn và lông lá, chập chờn như muốn bấu vào một người đang đi về hướng nhà thờ. Chiếc cầu ngắn vắt ngang qua dòng sông nhỏ nặng nề không muốn chảy, không nối được lời bình an của Chúa qua đôi bờ.

    Đêm tối đen đặc.

    “Mình phải qua được cầu, người đàn ông nghĩ, phải can đảm lên”. Nhưng ông chợt nghe âm vang trầm buồn của tiếng nói từ một gốc cây long não bên đường:

    “Mày sẽ không vượt nổi chiếc cầu này để qua bên kia đâu, hỡi con chiên lạc lõng cuối cùng của Chúa”.

    Ông thấy lạnh buốt trong đầu và máu trong tim đông cứng lại.
    “Ông là ai? Ông vừa nói gì?”

    Không ai cả. Chẳng ai trả lời ông. Đây là ảo giác trong cơn mộng du dai dẳng hay là cõi địa ngục của một trần gian không có thực?

    Tiếng nói lại buồn buồn vọng tới:
    “Sẽ không bao giờ, mày biết không, sẽ không bao giờ mày vượt qua khỏi chiếc cầu này, ôi tội nghiệp mày, đứa con lạc lỏng của đức tin”.

    Người đàn ông nhìn quanh, nhưng bóng tối đậm và lạnh khiến ông không nhìn thấy gì. Ông biết chỉ bước vài mươi bước nữa là đến cầu nhưng sao ông thấy mình đi mãi mà con đường cứ dài ra như thể ảo giác trên sa mạc. Kề bên đầu cầu, về mé trái là một lô cốt bê tông hình như có từ thời Pháp còn chiếm đóng trước 1954, dọc theo sông, cũng về mé trái, đối diện với bờ bên kia, là nơi ở của bà từ Cung. Vương triều nhà Nguyễn chỉ còn là cái bóng của quá khứ. Im lặng. Lãng quên. Bội ân bội nghĩa. Chẳng còn ai nhớ. Và nhớ hay quên cũng thế thôi. Chẳng để làm gì. Lịch sử liên tục đổ xuống đất đá gạch vụn của hận thù, che chắn quá khứ, cản lối tương lai, chỉ còn cái hiện tại què quặt đui mù.

    “Mày nghĩ gì? Này thằng người lạc lối kia! Mày tưởng mày đang trên đường đến đồi Golgota? Để làm gì? Jésus cũng không làm được gì. Hiện tại này! Hiện tại này đây!”

    Ông bất lực, ngồi xuống bên vệ đường ẩm ướt. Bên kia sông, ngôi nhà thờ như một khối mù sương đen thẫm.

    “Người là ai?”
    “Ta là bóng tối. Bóng tối của quá khứ. Quá khứ của những điều tồi tệ hung bạo. Ta là bóng tối. Bóng tối của máu. Máu của ảo tưởng về tự do và nô lệ. Ta là bóng tối. Bóng tối của tình yêu và thù hận. Tình yêu bị đánh cắp và thù hận được vinh danh”.

    Thôi rồi, người đàn ông nghĩ và nhớ, chỗ này đây, ngay chỗ lô cốt cạnh đầu cầu Hải bị bắn vỡ sọ mắt trợn trừng nhìn cây thánh giá trên đỉnh nhà thờ, cả tiểu đội không còn ai. Ông không hiểu nhờ đâu mình còn sống, lành lặn, không trầy trụa, nằm trên vũng máu cạnh những xác người.

    Tại sao ông lại lần mò về đây trong bóng tối lạnh lẽo này?

    “Mày đi tìm tiếng nói của bóng tối. Bóng tối của quá khứ. Quá khứ của những ngụy anh hùng, ngụy vĩ nhân. Quá khứ của sự man rợ cuồng tín và ngụy tín”.

    Tiếng nói yêu ma vọng từ cõi âm ty nào cứ vo vo trong đầu ông, hay là có ai đó, ở quanh đây, hay là ông, một ông khác ở trong ông. Ông đưa tay dụi mắt, căng con ngươi ra nhìn vào bóng tối. Chẳng thấy gì. Ông nhặt một cục đá, ném về phía trước, chỉ nghe một tiếng “cạch” khô khốc vọng lại.

    “Tôi không đi tìm bóng tối của quá khứ, tôi đi tìm tôi trong quá khứ, nhưng quá khứ dày đặc bóng tối”.

    “Và trong bóng tối dày đặc của quá khứ đó, có mày, có Nguyệt và cái sọ vỡ của Hải”.

    Nguyệt là nỗi ám ảnh đau thương của tình yêu và Hải là nổi ám ảnh kinh hoàng của thù hận.

    “Tôi phải đi, tôi phải vượt qua cây cầu này”.

    Dòng sông đục ngầu ở dưới và bầu trời xám xịt trên kia. Trần gian, địa ngục, thiên đàng có gì khác nhau không? Trời ơi làm sao vượt qua khỏi bóng tối của quá khứ!

    ***

    Có những khoảng cách không thể đo bằng năm tháng, không thể tính bằng khái niệm thời gian mà nó được cảm nhận bằng nỗi hoài nhớ ray rức khôn nguôi. Hôm qua! Có thể không là hôm qua. Có thể không là những năm tháng đã qua. Có thể không là trăm năm đã qua. Nó là cái gì ở trong hồn ta chập chờn tan hợp như bóng mây. Nó là cái gì ở trong máu ta chảy buốt qua từng mạch li ti xuôi ngược không cùng. Nó là cuộc đuổi bắt vô vọng và triền miên. Nhưng cái kết cuộc là ở đâu khi ông ngồi ở đây, bên vệ đường, dưới gốc những cây long não, đêm tối âm u và lạnh lẽo.

    Và phía trước là chiếc cầu nhỏ, bắc qua một dòng sông nhỏ đục ngầu, chỉ cần vài mươi bước là qua khỏi chiếc cầu đi về hướng nhà thờ. Thế mà ông đi mãi với với con đường hình như dài ra vô tận, vo vo tiếng nói của bóng tối, bóng tối của quá khứ đặc quánh như vũng máu khô đọng lại trong lô cốt với cái sọ của Hải vỡ ra mà đôi mắt vẫn trừng trừng nhìn về cây thánh giá trên tháp nhà thờ. Và trong lớp bóng tối đó có đôi mắt của Nguyệt nhìn ông. Đôi mắt sầu não về một tình yêu bi thương trong những mạch đời bất trắc và oan nghiệt. Cuộc kiếm tìm như một rượt đuổi về phía hư vô.

    Saigon cuối những năm 60.
    Núi đồi Bảo Lộc.
    Sân ga quạnh vắng bên kia bờ hồ và phi trường Liên Khương mù sương.
    Ngày trở lại Cần Thơ và nỗi tuyệt vọng chán chường.
    Phải không hỡi Nguyệt!
    Phải không hỡi Hải!
    Phải không hỡi bóng tối của quá khứ!

    “Lại mày nữa rồi, kẻ chối bỏ thiên đường, kẻ khinh mạn trước địa ngục, kẻ cô độc cõi trần gian. Lại mày, phải không? Tìm gì ở quá khứ? Ở trong bóng tối của quá khứ”. Sống là một cuộc kiếm tìm thiên thu.

    “Đừng ruồng bỏ tôi, đừng ruồng bỏ tôi”.
    Ông lại nói với cái bóng tối của đêm đen.
    Không đứng dậy nổi. Ông bò lê như con thú bị thương về hướng cầu. Đêm đầy hăm dọa rình chờ. Ánh sáng một trái hỏa châu leo lắt trên bầu trời đen như một vì sao hấp hối. Có tiếng nổ lạc loài đâu phía đồi Thiên An, ông không phân biệt được tiếng súng hay tiếng nổ gì, vì âm vang của nó lạnh lùng và nổi buốt giá chảy trong đầu ông. Chỉ một tiếng nổ và cái sọ của Hải vỡ ra. Sau đó là những lưỡi lê sáng lạnh ghim thật ngọt vào từng trái tim. Máu từng vòi bắn vòng cung qua người ông. Cả tiểu đội không còn ai. Ông nằm trên vũng máu và nghĩ mình đã chết. Đôi mắt Hải trợn trừng. Ông nhớ tới Nguyệt và một nỗi êm đềm chua xót dìm ông vào cơn hôn mê sợ hãi và lặng căm. Rồi ông thấy mình ngồi trên ghế đá ở bến Ninh Kiều, còn Nguyệt thì đang xé vụn một mẫu giấy thả xuống dòng sông. Tình yêu đôi khi chỉ là khoảng khắc ngưng chảy của một dòng sông, nhưng rồi tích tắc, dòng nước lại trôi xuôi cuốn theo bao nhiêu khát vọng dồn ứ suốt tuổi thanh xuân.

    “Mày lại nhớ đến cái quá khứ của một khoảnh khắc, hỡi con người yếu đuối bé nhỏ tội nghiệp. Hay là không có gì cho mày hôm nay và ngày mai?”

    Ánh sáng hỏa châu hấp hối tóe lên rồi vụt tắt. Trong cái chớp mắt lóe lên đó, ông thấy một vật thể đen ngòm cũng bò lê dè dặt về hướng cầu. Ý thức mòn mõi của một người lính trong ông gượng dây. Ông lặng im dừng lại, nín thở, căng mắt nhìn vào bóng tối, lắng nghe. Đằng kia trườn đi không một tiếng động. Chỉ có tiếng gió hú trên đầu các cây long não và tiếng dế chìm khuất dưới sương lạnh.

    “Không có gì cho tôi hôm nay và ngày mai chăng? Tôi chỉ còn khoảnh khắc của quá khứ nhỏ nhoi và đầy bóng tối sao?”

    Ông nhớ Hải hãy còn quá trẻ, hình như chưa có ý niệm gì về chiến tranh, không một chút ý nghĩ về một kẻ thù, chưa bao giờ nhận cụ thể mình phải bắn vào ai, vào một sinh vật nào. Anh cầm súng như một món đồ chơi và khi ngồi gát bên lô cốt. Hải cũng nghĩ mình đang tham dự một trò chơi của thời niên thiếu. Và kẻ nào đó bắn vỡ sọ anh có bao giờ đớn đau vì mình đã hủy diệt mạng sống một con người vô tội?

    Ông cũng nhớ về Nguyệt, nàng quá trẻ như một mảnh trăng non dõi theo đời ông chênh vênh lẻ loi bên trời. Ông đến và đi không hẹn không hò và nàng thì lặng lẽ cam đành. Ngày xa nhau dài vô tận. Đường xa nhau đầy ứ tai ương. Viên đạn sau cùng ông dành cho mình vẫn còn nguyên. Không có ngày về. Chắc chắn không có ngày về. Nhưng không thể vì thế mà có thể kê súng vào đầu bất cứ lúc nào, bởi vì, ông không thể rũ bỏ cái quá khứ đáng rũ bỏ, không thể lãng quên cái quá khứ đáng lãng quên. Ông phải tận mắt nhìn thấy lại rõ ràng kẻ bắn vỡ sọ Hải. Để làm gì. Cũng chẳng để làm gì. Ông không phải là kẻ trả thù xương máu. Chỉ nhìn cho rõ, thế thôi, để không còn ảo tưởng về cái quá khứ được thần thánh hóa. Ông muốn tìm trong bóng tối quá khứ đó, có ông, như một nhân chứng cho lương tri con người.

    “Này con người bé nhỏ tội nghiệp kia, mày không qua nổi chiếc cầu, phải không? Chúa ở bên kia. Không có một cánh tay nào của Chúa giơ ra để dẫn mày qua khỏi chiếc cầu”.

    Cái bóng đen đằng kia vẫn đang di động thận trọng, rất nhẹ, như chẳng hề di chuyển chút nào.

    Ánh hỏa châu lại lóe lên trên bầu trời đêm. Bóng đen như một khối đá bất động.

    Ông cũng nằm lặng yên, áp người sát mặt đường. Nghe ngóng. Hồi hộp. Chờ đợi. Ông nghĩ, nó đấy, nó là một vệt bẩn trong bóng đêm của quá khứ. Nó bỏ về đây làm gì trong cái đêm vắng lạnh của thành phố rêu phong hàng thế kỷ hứng chịu bao vùi dập của lịch sử. Nó về đây để tìm lại quá khứ đổ nát mà nó đã có lần ra tay đập phá, hay nó về đây để tìm lại cảm giác lạnh buốt từ chiếc lưỡi lê trong tay nó đâm suốt trái tim của đồng loại và ngây ngất nhìn vòng máu đỏ bắn vòng cung qua những thây người. Nó về đây để xác định lần nữa nó đã nhúng tay vào tấn bi kịch của lịch sử để khẳng định bạo lực sẽ thống trị được con người.

    Hỡi ơi, những tên ngụy anh hùng, ngụy vĩ nhân, đui mù trong ngụy tín. Nó mò về đây để tiếp tục tạo ra một thứ bóng tối của quá khứ.

    “Mày đang nghĩ gì hỡi con người bé nhỏ tội nghiệp kia. Đừng mang lòng thù hận. Có thể chiếc cầu là điểm nối đôi bờ, nhưng có thể lời bình an của Chúa không thể nối được đôi bờ, nhưng không vì thế mà chúng ta hủy diệt nhau. Hãy để cho chiếc cầu là chiếc cầu, một ngày kia tình yêu sẽ đi qua trên cầu này, một ngày kia thù hận sẽ trôi dưới cầu này”.

    Ông phải làm gì bây giờ. Từng milimet một ông vẫn trườn tới, và đằng kia, chắc cái bóng đen đó cũng đang trườn tới. Nó có thấy ông không, ông không biết, nhưng chắc chắn ông có thấy nó. Ý thức mỏi mệt của một người lính mách bảo ông thế. Ông và nó là hai cái bóng tối quá khứ, nhưng ông biết ông không phải là nó, nó không phải là ông.

    Viên đạn sau cùng vẫn còn nằm nguyên trong ổ đạn và khối thép lạnh băng của khẩu Colt 12 vẫn ép sát vào ngực ông như lời nhắc nhở lạnh lùng về một cái chết tất yếu sau cùng của định mệnh. Nhưng, ông nghĩ, chưa phải bây giờ, càng không biết bao giờ, đôi khi giờ phút đó sẽ đến trong mầu nhiệm đớn đau của số phận.

    Ông không chờ đợi, cũng không sợ hãi.

    Và hình như Nguyệt cũng không chờ đợi ngày về của ông. Có thể nàng cũng còn ở đâu đó trong cõi phiền muộn của mình. Nhưng nàng không chờ đợi. Có những chiếc cầu đã gãy và không bao giờ nối lại đôi bờ, những chiếc cầu đã gãy vì bom đạn hay vì một chia cắt trong một thứ gọi là ý thức hệ mê muội và che đậy. Không bao giờ nối lại. Không thể. Giọt máu chia cắt đã thấm sâu vào những cái đầu cuồng ngông đặc sệt thứ bùn nhão của học thuyết trong quá khứ tạo ra một thứ bóng tối u uất nặng nề.

    Ông không tự đặt cho mình một sứ mạng gì. Ông len lỏi vào cái quá khứ tối đen đó, để nhìn cho rõ kẻ đối diện là ai và ông là ai như một khát vọng chứng giải nỗi đau thương phi lý phủ chụp lên thân phận con người.

    “Này người anh em, giọng nói có vẻ nhẹ nhàng hơn, người anh em đã thấy ra rồi đấy, nhưng không phải chỉ thấy ra rồi chấp nhận hay phẩn nộ. Thấy ra là để mở một con đường mới, là để đôi bờ nối lại nhau, là để tình yêu đi qua trên cầu, và hận thù trôi phía dưới như bèo bọt rác rến. Nhưng người anh em có qua được chiếc cầu không? Ta tin rằng mày, giọng nói lại thay đổi nặng nề, mày sẽ không vượt nổi cây cầu, hỡi đứa con lạc loài của đức tin”.

    Bóng đen hình như di chuyển nhanh hơn, vẫn thận trọng và im lặng. Hắn là ai? Mục đích hắn là gì khi hắn trở về đây trong đêm tối dày đặc này? Mục tiêu của hắn là đâu? Chiếc cầu? Nhà thờ? Hay biệt thự LT? Hay hắn trở về để tìm kiếm cái đã bị đánh cắp, bị lừa dối? Hắn trở về để nhận ra cái ảo tưởng về sự giải phóng con người bằng bom đạn? Hắn trở về để biết rằng bạo lực không là quyền năng giải quyết được những mâu thuẩn? Hắn trở về để nhận rõ lại bàn tay vấy máu của mình chỉ là chứng tích của một sự điên rồ ngây ngô của tuổi trẻ? Hắn trở về để vượt qua cây cầu trước nhà thờ, quỳ dưới bậc đá bên tượng Chúa để sám hối ăn năn, để xin được tha tội, cầu xin cánh cửa thiên đường mở ra cho hắn bước vào?

    Có phải hắn trở về trong cái đêm đầy hăm dọa và hiểm nguy này vì những điều như ông nghĩ không? Hay hắn vẫn còn trong cơn mông muội chưa thoát ra được những vây khốn của học thuyết?

    Cái bóng đen vụt đột ngột lao về phía cầu. Nhanh như chớp, bằng một sức mạnh bản năng, từ một mô đá đầu cầu, ông phóng người lên, hai cái bóng đen ngả nhào trên mặt cầu, hắn cố vùng vẫy để thoát ra hai vòng tay cứng như hai gọng kềm đang ôm siết lấy hắn. Hắn vụt rút tay ra được. Ánh thép phản chiếu ánh sáng leo lắt của những vì sao đêm loáng qua mắt ông, cảm giác đau buốt như một dòng điện cực mạnh xuyên suốt qua người. Hắn vùng đạp ông thật mạnh, tay nắm chặt cán dao, theo đà lao tới của hắn, lưỡi dao được rút phựt ra; Hắn lảo đảo đứng lên định chạy ra giữa cầu, nhưng ông đã lại vùng dậy quật ngả hắn xuống. Một vật gì đó trong người hắn văng ra. Cảm giác bén nhạy của một người lính từng trải, ông biết vật đó là gì. Ông buông hắn ra, chụp lấy khối thuốc nổ, dùng hết sức lực còn lại, chạy bay ra giữa cầu, vận dụng tối đa kỷ năng của một người ném tạ, ông dùng tay phải ném tung khối thuốc nổ về phía hạ lưu dòng sông, càng xa càng tốt. Cùng lúc đó, với sự hung dữ của một con thú, với dao găm trên tay, hắn lao vào người ông. Nhưng tác động phản hồi của lực ném khối thuốc nổ đã khiến ông ngã bật về phía sau, hắn lao tới mất đà, nhào lộn một vòng và vụt rơi xuống. Cùng lúc đó, một tiếng nổ long trời bùng lên, hình như nước bắn lên rất cao, rơi trên mặt cầu, thấm ướt người ông. Chiếc cầu hình như cũng rùng mình vì tiếng nổ và ông có cảm giác đu đưa nhẹ như nằm trên võng.

    Ông đứng lên, với cánh tay trái còn chảy máu và cánh tay phải đau buốt vì té xuống nền cầu, ông nhìn xuống dòng nước đen ngòm bóng đêm, hình như dòng nước vẫn im lìm chảy nặng nề. như thể trước đó chưa có gì xáo động nỗi thầm lặng muôn đời của nó.

    Ông bước trên cầu, hướng về phía nhà thờ.

    Chuông lễ Misa gióng giả vang lên.


    Lê Nam Phương (Lê Văn Trung)

  6. #4
    Phòng Trực's Avatar
    Status : Phòng Trực v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jul 2010
    Posts: 952
    Thanks: 26
    Thanked 1,575 Times in 510 Posts

    Default Những xác chết cụt đầu

    NHỮNG XÁC CHẾT CỤT ĐẦU

    Lê Nam Phương (Lê Văn Trung)



    Tôi vừa qua cầu thì chạm mặt nàng.
    Nàng đứng đấy như một pho tượng.
    Mắt hướng về phương Đông.
    Và cũng như mọi lần,
    Nàng trần truồng không một chiếc lá nho.
    Da thịt trắng như sữa
    Và bầu vú căng đầy.
    Không bao giờ nàng nhìn tôi.
    Không bao giờ nàng nhìn ai.
    Nàng nhìn về phương Đông.
    Nhưng nàng biết tôi đang đến cạnh nàng.

    Nàng nói:

    - Ông hãy quay về đi. Phía trước là hố thẳm.

    Tôi búng mẫu tàn thuốc xuống dòng sông. Nàng nói:

    - Lửa đã tắt.

    Tôi thấy dòng sông rất đen và chảy nặng nề. Có tiếng chuông từ bên dòng Chúa cứu thế. Nàng hát thầm trong miệng bài Thánh ca nói về bữa tiệc ly. Những người qua lại trên cầu không nhìn nàng. Bởi vì nàng trần truồng. Chắc nàng ngạc nhiên vì sao con người vốn trần truồng mà không trần truồng. Ấy là tôi nghĩ thế. Nàng không hề thắc mắc vì sao? Thế nào?

    Tôi bỗng nhớ đến nàng Remediot. Nàng trần truồng trinh bạch.

    Tôi đứng cạnh nàng và cũng không nhìn nàng. Tôi nhìn về phương Đông. Có một chòm mây màu vàng giữa một nền xanh màu thiên thanh. Tôi nghĩ nơi đó là biển. Nàng nghĩ nơi đấy là hư không. Tôi thấy nàng hiện hữu. Nhưng nàng thấy nàng đang là hư không. Tôi không biết nói gì với nàng. Có tiếng ai đó hát dưới chân cầu. Nàng bảo đó là tiếng sóng ngầm trong lòng sông.

    Tôi định bỏ đi nhưng nàng cũng không có ý giữ tôi ở lại. Nàng bảo tôi quay về. Trước mặt là hố thẳm. Không xoay về phía tôi, nàng bảo:

    - Ông còn viên đạn nào không?

    - Tôi còn một viên đạn cuối cùng.

    - Hãy bắn vào nỗi cô đơn của loài người.

    Tôi thấy nàng chảy nước mắt và tôi không đành bỏ đi.
    Có một người nào đó mang tấm vải màu trắng đến choàng lên người nàng. Nàng không có phản ứng gì. Mắt vẫn đăm đắm nhìn về phương Đông có giải mây vàng trên nền da trời xanh. Tôi thấy nàng đẹp như Đức Mẹ Đồng Trinh.

    Người mang tấm vải đến là một thiếu nữ rất trẻ và cũng đẹp như nàng. Cô gái nói với tôi.

    - Chị ấy bị rối loạn thần kinh ông ạ từ đêm chị ấy cõng cái xác cụt đầu đã chương sình của anh ấy về từ trong rừng.

    Tôi nói với cô gái.

    - Tôi biết rồi. Tôi đã nghe chuyện đó rồi.

    Nhưng cô gái vẫn tiếp.

    - Chị ôm cái xác không đầu đó không cho ai chạm vào. Đến ngày thứ ba thì chị loạn thần. Và hơn tháng nay đúng vào giờ này, ngày nào cũng vậy, chị ở đây, đứng im như một pho tượng.

    Không quay về phía tôi, nàng lên tiếng:

    - Này ông, ông chưa về sao? Ông có nghe em gái tôi vừa hát? Khúc bi thương của loài người. Khúc hát về nỗi cô đơn.

    Cô gái nắm tay nàng lay nhẹ.

    - Chị ơi, về thôi chị.

    Nàng nói:

    - Về thôi. Ông có nghe không?

    Con người luôn luôn phải quay về. Về đúng cái nơi hắn là. Nguyên vẹn của ban đầu. Không phải về nơi hắn đang là. Trước đây tôi không hề biết nàng là ai. Nhưng những chuyện về một người phụ nữ điên trong thành phố tôi được nghe nhiều người kể lại. Mỗi người một mẫu. Như một huyền thoại. Nàng là một người đẹp có giọng hát hay từ khi còn học ở Jean D’art. Hình ảnh đó vẫn còn lưu mãi trong bốn năm nàng ngồi ở giảng đường. Sau này nàng còn hút thuốc lá và uống rượu. Và nàng thường bật khóc nức nở trong cơn say rất tỉnh táo. Nhiều người đàn ông đeo đuổi nàng. Nhưng nàng chọn sự cô đơn.

    - Ông còn đó không?

    Nàng lập lại.

    - Tôi đang đứng đây.

    Tôi trả lời.

    - Ông không thể đứng đấy mãi mà không mất đi được. Ông sẽ mất đi. Anh ấy cũng mất đi.


    Nàng nói nàng ghét các triết gia nhưng nàng yêu Đức Phật và Jesus. Nàng là một người điên dễ thương nhất mà tôi gặp.

    Vào giai đoạn phát triển cực độ nền văn minh vật chất và công nghệ chiến tranh có rất nhiều người điên trên hành tinh chúng ta.

    “Về gặp gỡ máu tim anh một lúc
    Rồi anh điên như từng đã điên rồi” *

    Mỗi người điên một vẻ. Khó có thể thâm nhập vào thế giới điên của từng con người. Không thể hiểu hết họ. Trừ khi, rồi có một ngày mình cũng phát cơn cuồng điên.

    - Ông còn đó không?

    Nàng lại hỏi.

    Tôi không hề nghĩ nàng điên. Nàng ăn nói rất chuẩn và tỉnh táo, dẫn dắt tôi vào những bí ẩn kỳ lạ. Tôi bị nàng cuốn hút không những với sắc đẹp não nùng mà còn vì những điều nàng nói đầy tính ẩn dụ và nhất là đôi mắt nàng đăm đắm nhìn về một phương.

    Tôi nói với người thiếu nữ:

    - Cô đưa nàng về đi.

    Nhưng nàng bỗng nhiên quay ngoắt về phía tôi:

    - Ông hôn em đi. Anh hôn em đi Thụy ơi.

    Rồi bỗng nàng cười vang. Tiếng cười dội xuống dòng sông và nước mắt nàng ràng rụa. Cô gái nắm tay nàng kéo đi.

    - Về thôi chị ơi.

    Nhưng nàng vùng ra bỏ chạy rất nhanh vào hướng cổng vào thành nội. Tôi bỗng nghe một tiếng rú kinh hoàng và tiếng xe thắng gấp rít lên phía bên kia đường.

    ***

    Hôm sau tôi ôm một đóa hoa hồng đến thăm nàng nơi bệnh viện. Gian phòng trắng lạnh thoảng mùi ete và mùi xà phòng. Nàng nằm ngủ như một nữ thánh. Da trắng bệch. Một vết máu loang đỏ trên tấm băng quấn quanh trán nàng. Cô gái không có ở đó.

    Tôi đặt bó hoa lên đầu giường, định quay đi nhưng nàng mở mắt nhìn tôi rất dịu dàng.

    - Ông đấy à. Ồ hoa đẹp quá!

    Nàng định cầm bó hoa nhưng không cử động được. Nàng nhờ tôi cắm hoa vào chiếc bình đặt trên table de nuit và nàng nói cám ơn.

    Tôi quay lại định nói với nàng vài câu thì nàng đã nhắm mắt chìm vào cơn mõi mệt. Tôi ngồi nơi chiếc ghế đặt ở cuối giường ngắm nhìn nàng. Trông nàng thật đẹp và tội nghiệp.

    Một tay nàng duổi thẳng và một tay đặt lên ngực. Những ngón tay thon, trắng muốt, nổi những đường gân li ti xanh.

    Tôi nghĩ đến Thụy, người đàn ông của nàng … Tôi không biết anh là ai và vì đâu phải nhận cái chết bi thảm như vậy. Mặc dù, đôi khi, tôi nghĩ, thắc mắc về nguyên nhân cái chết của một người thật vô cùng ngớ ngẩn và thừa thải. Thế giới loài người là một thế giới đầy dẫy cái phi lý, không giải thích vì sao được.

    Và cái chết của con người là một ẩn số chứa đầy cái phi lý đó.

    Chúng ta hoài nghi và chúng ta đi tìm một sự giải thích, nhưng tất cả những giải thích của chúng ta đều đưa đến phi lý như một tảng đá oan nghiệt đè mãi lên kiếp người.

    Tôi nghe nói Thụy là một nhà phân tâm học. Khác với nàng, anh yêu các triết gia và nghiên cứu tất cả các học thuyết. Và anh bị chặt đầu vì anh là trí thức. Phải chặt bỏ cái đầu chứa quá nhiều tư tưởng của anh. Và anh chết vì một nguyên nhân vô cùng phi lý.

    Nàng chợt mở mắt nhìn tôi và bảo tôi lấy cho nàng tách nước.

    Tôi rót nước và đỡ nàng ngồi tựa đầu vào chiếc ghế cao sau lưng. Tôi đưa ly nước. Tay nàng yếu quá không đỡ được. Tôi đưa lên miệng nàng. Đôi môi đỏ nhợt. Nàng uống từng ngụm nhỏ. Tôi cảm nhận hơi thở nàng thoáng mùi ngai ngái của rong biển.

    - Người ta bảo em điên ông ạ.

    Nàng nói nhỏ qua hơi thở.

    - Nhưng em thấy em rất tỉnh táo. Người điên là người mất trí phải không ông? Nhưng đầu óc em rất bình an mà. Em còn nhớ hôm qua ông đến thăm em khi em đứng ở nghĩa địa đầy những thây người chưa ai chôn cất.

    Tôi định nhắc nàng hôm qua tôi gặp nàng ở bên cầu lúc mặt trời đang lên có một giải mây vàng và nền trời xanh. Nhưng không hiểu sao tôi lại bảo nàng:

    - Vâng, hôm qua, đúng là thế.

    - Ông đi xem từng thây người, ông bảo xem có ai quen không, nhưng ông tìm không ra vì tất cả đều bị chặt đầu.


    - Vâng, không ai còn cái đầu.

    Tôi biết nàng đã bị ám ảnh một thảm cảnh kinh hoàng. Có thể nàng đã cõng cái xác cụt đầu chương sình nào đó trong đống xác người ở một góc rừng và nghĩ đó là Thụy. Cho đến bây giờ nỗi kinh hoàng đó vẫn đè nặng tâm trí nàng không thể nào thoát ra được.

    - Tôi đỡ cô nằm xuống nhé?

    Tôi nói với nàng mong dẫn nàng ra khỏi cơn mê sảng. Nàng ngoan ngoãn tựa đầu vào tay tôi. Tôi kéo chăn lên đắp ngang ngực nàng và cuối xuống hôn lên dải băng trên trán nàng. Nàng nhắm mắt lại. Không rõ nàng có ngủ không.

    Tôi đứng lên, không định bỏ đi vì không nỡ để nàng nằm một mình. Nhưng cánh cửa phòng xịch mở. Cô gái, em nàng, đứng đấy với một cái làn đựng thức ăn trên tay. Tôi nhìn đồng hồ: Đã mười giờ. Cô gái bước vào:

    - Chào ông. Ồ hoa đẹp quá, cám ơn ông.

    Tôi nói với cô gái tôi phải đi đây. Cô nắm tay tôi ấn xuống ghế.

    - Không. Ông ở lại đây với em. Ở lại đây với chúng em.

    Cô gái nhìn tôi thật lâu rồi nói:

    - Hình như từ khi gặp ông, chị em tỉnh hơn. Em cảm ơn ông vô cùng.

    Tôi nói với cô gái là cô không cần cảm ơn tôi vì sự xuất hiện của nàng trong cơn điên ấy đã gõ vào trái tim tôi những tiếng vọng của quá khứ, cái quá khứ bi thương mà anh em tôi đã hứng chịu, cái quá khứ bi thương bị che đậy bởi những học thuyết, những lừa lọc, những âm mưu. Cái quá khứ mà ở đó anh em tôi đã bị ma thuật quỉ ám che đậy dưới đủ thứ màu sắc tự do trá hình.

    Nàng đã khiến tôi nhớ lại và xin nhắc tất cả hãy đừng quên. Đừng quên như kẻ đang dọ dẫm trong đêm tối nhớ rằng phía trước mặt trên con đường đi tới phải băng qua vực thẳm.

    Nàng đã nói:

    - Ông hãy quay về đi. Phía trước là hố thẳm.

    Trên những con đường tôi đã đi qua trong ba mươi năm đời mình tôi luôn phải băng qua những vực thẳm. Có lắm khi tưởng chừng không vượt nổi. Định mệnh khắc nghiệt của mỗi phận người gắn liền với định mệnh khắc nghiệt của lịch sử.

    Lịch sử của một bộ tộc. Lịch sử của một quốc gia. Lịch sử của loài người. Cho nên hố thẳm anh phải rơi vào là hố thẳm của nhiều người khác cùng bị dìm vào. Vì thế mà cùng một thời điểm có nhiều người chết cụt đầu. Cùng một giai đoạn có nhiều người bỏ xác trên rừng, nhiều người cùng nổi trôi trên biển. Cùng một thòi kỳ nhiều người cùng ở tù. Và cùng một thời kỳ rất nhiều người vong xứ.

    Nàng thường nói: “Ông hãy quay về đi. Phía trước là hố thẳm”.

    Tôi định nói với nàng là chúng ta quay về đâu được bởi vì chúng ta đang nằm trong cái hố thẳm vô hình. Chúng ta là những con thú nằm trong chuồng thú. Cái chuồng thú được cấu tạo bằng những chất liệu có sức hủy diệt tập thể. Chúng ta chưa bị cắt đầu moi tim gan vì chúng ta đang được chọn để chưng bày cho thế giới biết rằng chúng ta cần phải hiện hữu để chứng tỏ không có cái học thuyết hủy diệt con người, hủy diệt tri thức.

    Cô gái đến đứng tựa bên cửa sổ không có rèm che nhìn xuống con đường chạy dọc theo tả ngạn dòng sông.

    Tôi đến bên cô, nói khẻ sau lưng cô và nghe một mùi hương quyến dụ ngây ngất từ cơ thể bé bỏng của cô tỏa ra, khiến lòng tôi nôn nao một nỗi đau kỳ lạ từ một dĩ vãng xa xôi của tuổi thiếu niên.


    - Khi cô lớn lên thì thành phố đã đổi thay nhiều rồi.

    - Vâng, em cũng cảm nhận thế. Cô gái nhỏ nhẹ.

    - Chúng ta mất những ngày tháng bình an.

    Ngày xưa bóng chiều trên dòng sông, trên con đường này là lời ngọt ngào tình tự. Bây giờ, trên mỗi bờ đá, nơi mỗi gốc cây là sự rình chờ của những bóng ma.
    Người ta đang giăng một màn lưới vô hình vây khốn chúng ta, và ai đủ sức phá rách màn lưới đó thì cũng lại bị rơi vào một lớp lưới vô hình khác.

    - Chị em dậy rồi ông kìa.

    Tôi quay lại thấy nàng mở mắt nhìn tôi mỉm cười, nụ cười xanh xao như lời từ biệt. Nàng nói:

    - Ông vẫn còn đấy ư? Bên ngoài trời đang nắng phải không em?

    - Vâng. Cô gái trả lời. Trời đang nắng nhưng se lạnh chị ạ. Chị thấy có đỡ không?

    Nàng không trả lời mà ra dấu muốn tôi đỡ nàng ngồi dậy.
    Đỡ nàng ngồi tựa chiếc ghế sau lưng tôi ra hiệu với cô gái cho nàng ăn, nhưng nàng khoát tay bảo không đói. Nàng nói:

    - Em không đói. Cứ để đấy cho em. Mọi việc rồi thế nào cũng xong ông ạ. Khi đứng bên chân cầu nghe ai đó hát dưới dòng sông, em cảm thấy như lời tiển đưa em về nơi an nghỉ, vĩnh viễn trở về cái nơi mình là, không phải cái mình đang là. Nhưng khi em lội vào cái hố đầy xác người cụt đầu, em chợt nghĩ ra rằng, rồi mình cũng không biết cái nơi mình là đó ở chốn nào?

    Tôi thấy nàng vừa tỉnh táo vừa bấn loạn. Nàng cứ bơi lội trong dòng chảy êm đềm của ký ức, vừa lặn hụp trong cơn cuồng lưu dữ dội của quá khứ.

    Và tôi cảm thấy mơ hồ rằng nàng đang bị ám ảnh bởi một cái chết vô cùng đớn đau một cách thầm lặng như cái buổi chiều tang tóc lạnh lẽo nơi một góc rừng xa, nàng vừa chạy hối hả vừa bước đi lảo đảo như kẻ mộng du bị rượt đuổi bởi chính cái bóng ma của mình, chân nàng lún sâu vào những thây người nhầy nhụa, máu đặc ẩm ướt bám vào chân và áo quần nàng mỗi khi nàng rút chân lên và té nhào nằm đè lên những cái xác không đầu, đôi khi nàng lịm đi và nghĩ mình cũng đang chết một cách kỳ lạ, bởi vì cái xác chết của mình vẫn đang cử động và miệng lẩm nhẩm cầu kinh.

    Tôi không nhìn nàng nhưng tôi nhìn vào một khoảng trống vắng lạnh bên ngoài khung cửa sổ và ở đó bóng dáng nàng ẩn hiện chập chờn như một dải mây, khuôn mặt nàng méo mó và mái tóc chảy dài xuống che lấp nửa bầu vú trắng có từng vòi sửa chảy ra lẫn những sợi máu màu đỏ tươi.

    Tôi nghe lành lạnh ở sống lưng và chợt nhận ra mình vừa ngủ mê nhưng vẫn mở mắt nhìn vào bình hoa có những đóa hoa màu trắng và màu đỏ rung rinh theo thoáng gió từ bờ sông thổi vào.

    Tôi nói với cô gái tôi phải đi đây và dặn cô ép nàng ăn uống đầy đủ. Nàng nhìn tôi mỉm cười xa vắng và nhấc một cách yếu ớt cánh tay lên gởi tôi lời chào từ biệt.
    Tôi bảo với nàng.

    - Tôi lại sẽ đến thăm.

    Nàng nói cám ơn và không nhìn tôi. Tôi khép nhẹ cửa và bước ra ngoài hành lang lạnh lẽo của bệnh viện.
    Những nữ y tá qua lại lặng lẽ trong bộ blue trắng như những bóng ma.
    Tôi băng qua đường và đi dọc bờ sông về hướng cầu. Dòng sông không chảy, chỉ gợn ít sóng làm nhăn nhúm những lớp da trên khuôn mặt già nua của thành phố cổ kính mục rữa.

    ***

    Chiếc cầu sắt bắt qua sông như một gợn sóng chết được một công ty có tiếng ở Pháp xây dựng đâu đầu thập niên thế kỷ 19 thời kỳ Pháp đô hộ xứ này, nó là dấu tích còn lại của chế độ thực dân mà cho đến bây giờ nó lại là hình ảnh được tôn vinh và niềm kiêu hãnh bi thương của người dân xứ này.

    Và trong tâm trí nàng, chiếc cầu là chứng nhân bi phẩn nhất của những tang thương bất chợt đổ lên thành phố yêu dấu của nàng bởi những kẻ nhân danh độc lập tự do, chính họ, cả hai phía, cùng một lúc ra sức hủy diệt cái thế giới mà họ đã giương cao ngọn cờ để bảo vệ.

    Nàng ngây thơ không bao giờ biết được rằng họ, cả hai, chẳng bảo vệ nền tự do nào cả ngoài những âm mưu giành giật và bảo vện quyền lợi của chính họ, và những con người vô tội là vật hy sinh sau cùng cho chính lòng tham lam kiêu ngạo và phi nhân của họ.

    Đã biết bao lần tôi qua lại trên chiếc cầu này và lần nào tôi cũng cảm thấy một nỗi xót xa vô hạn khi chạnh nhớ đến điệu hò Nam Ai lắng đọng trên dòng nước không muốn trôi, điệu hò như một nỗi niềm cay đắng ray rức khôn nguôi về thân phận con người dưới sức đè nặng tàn khốc của những học thuyết.

    Tôi dừng lại trên cầu nhìn về phía bên kia, nơi tôi thường gặp nàng, người phụ nữ tâm thần đứng bất động nhìn về phương Đông, nơi mặt trời sẽ mọc, đỏ thắm như màu máu, và bầu trời thì xanh với một sợi mây vàng như chút lòng nuối tiếc đau thương chảy vào cơn mộng mị phôi phai của nàng.

    Tôi hình như nghe ai đó hát dưới chân cầu, lời hát buồn nói về cuộc chia ly của những mối tình mù mịt trong đạn bom. Nàng thường bảo đó là tiếng sóng ngầm trong lòng sông, con sông đã quằn quại bên những ly tan của kiếp người.

    Tôi mập mờ thấy nàng hình như vẫn còn đứng đó, bên kia cầu, da thịt trắng như sữa, không áo quần, tóc xõa xuống hai bên vai, và đôi bầu vú phập phồng theo từng hơi thở nhẹ. Đôi mắt nàng chứa chất nỗi u hoài và đăm chiêu, đôi mắt của một người điên rất tỉnh táo chìm trong nỗi bình yên ngậm ngùi và quên lãng.

    Tôi thấy nàng đứng đó dù tôi biết một cách chắc chắn rằng nàng đang nằm trong căn phòng trắng lạnh của bệnh viện, rằng nàng yếu đuối và mong manh đến nỗi không nhấc nỗi cánh tay lên mà cầm lấy bó hoa, và vì tôi vừa từ căn phòng đó đi ra và nhận nơi nàng lời từ biệt lặng căm.

    Tôi chợt nghe một tiếng rơi rất nhẹ, như chỉ là chiếc lá khô, như chỉ là một giọt mưa, như chỉ là một hạt bụi từ thân phận cô đơn của một vì sao đã tắt, vừa rụng, làm chao nhẹ mặt sông và làm vỡ trào niềm đớn đau trong tôi.

    Tôi vội chạy trở lại bệnh viện. Không nhìn thấy gì hai bên đường. Một bóng tối đen đặc và lạnh băng phủ xuống lòng đường. Tôi nhảy hai cấp lên một cầu thang. Hành lang bệnh viện vắng lặng chập chờn những bóng trắng như những bóng ma cụt đầu trở về từ quá khứ mù mịt.

    Tôi đến trước phòng nàng. Cửa phòng không đóng. Nàng nằm đó, đôi mắt nhắm như mắt lá chưa kịp mở, đôi môi tái nhợt, một ít máu rỉ ra nơi trán, chưa khô. Tấm drap trắng kéo lên ngang ngực, một cánh tay buông xuôi, một tay khác đặt hờ hững lên bó hoa hồng trên ngực.

    Cô gái gục đầu dưới chân nàng, vai rung lên theo tiếng nấc nghẹn và cam đành. Tôi đứng nhìn nàng, tâm trí đặc cứng và khô quánh. Tôi đặt một tay lên vai cô gái. Cô ngước đôi mắt đẫm lệ nhìn tôi, và từ cô, vẫn mùi hương ấy, mùi hương quyến dụ ngây ngất từ cơ thể bé bỏng của cô, khiến lòng tôi nôn nao một nỗi đau kỳ lạ.

    Cô đưa tay chỉ cái làn đựng thức ăn - bấy giờ và trước đó tôi vẫn nghĩ đó là cái làn đựng thức ăn - đặt trên bàn về phía kề cửa sổ. Tôi với tay xách cái làn lên và vô ý để bật cái nắp bằng mây làm nghiêng và đổ ra: một cái sọ người đã khô và xạm nâu lăn lóc cóc trên nền gạch tráng men.

    Tôi hoảng hốt và lạnh buốt. Trời ơi! Một cái sọ người! Làm sao mà cô gái mang cái sọ người để trong cái làn đựng thức ăn vào đây?

    Tôi bỗng thấy một chuỗi dài những hình ảnh dồn dập ùa về: sọ người chất thành đống. Xương người chất thành đống. Có người ca sĩ cuồng điên “hát trên những xác người”, “chiều đi qua bãi dâu” (**). Đường nội thành chảy máu. Xác nào là em? Xác nào là anh? Xác nào là cha? Xác nào là mẹ? Máu chảy vô tâm. Máu chảy tội tình. Máu chảy trong lời thánh ca bi thương đêm giáo đường hắt hiu trăm ngọn nến. Tôi thắp bao nhiêu ngọn nến để cho đủ tưởng nhớ bao nhiêu người.

    Tôi lay tấm thân đã lạnh cứng của nàng, người phụ nữ tôi không biết tên, người phụ nữ điên trong thành phố. Người phụ nữ đã mang từ cánh rừng lạnh lẽo nào đó một cái xác không đầu. Không biết là ai. Có thể là Thụy, người đàn ông của nàng. Có thể là ai? Là anh? Là em? Là bạn bè? Là ai? Và bây giờ phải đem về cho nàng cái sọ người không biết là ai.

    Có thể là Thụy. Là anh. Là em. Là bạn bè. Là ai?

    - Là ai? Cô biết không?

    Tôi bỗng hét to làm cô gái giật mình sợ hãi ngồi tụp xuống, khóc to lên. Tiếng khóc xé vào tim tôi.

    Tôi vụt bỏ chạy như một người điên.
    Và hình như có một tiếng nổ phía chân cầu. Chiếc cầu oằn xuống như cuộc đời của chúng tôi gãy gấp lại giữa hai lằn ranh hận thù.


    Lê Nam Phương (Lê Văn Trung)

    Ghi chú: (*): Thơ Bùi Giáng.
    (**): Trịnh Công Sơn.

  7. Xin cám ơn Phòng Trực

    nguyenphuong (12-11-2019)

  8. #5
    Phòng Trực's Avatar
    Status : Phòng Trực v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jul 2010
    Posts: 952
    Thanks: 26
    Thanked 1,575 Times in 510 Posts

    Default Không chốn dung thân

    KHÔNG CHỐN DUNG THÂN

    Truyện ngắn Lê Nam Phương
    (Lê Văn Trung)



    Đôi khi người sống không phải vì muốn sống. Người ta phải sống vì không thể chết được. Thế là phải sống. Cho dù sống chui sống nhủi, sống lăn sống lốc, sống trầy sống trụa, sống hụp lên lặn xuống, sống trôi sống nổi, sống cơ sống cực, sống lang thang lếch thếch. Và cứ phải căng hai con mắt ra mà nhìn cuộc đời, nhìn người và nhìn mình, nhìn thấy cái rách rưới tanh hôi, nhìn thấy cái bọt bèo rác rến, nhìn thấy cái lọc lừa xảo quyệt, nhìn thấy đình chùa miếu mảo đầy các ông sư bà vải, tấp nập thiện nam tín nữ xì xụp lạy xin cái lợi cái danh, nhìn thấy ông Chúa ông Phật được sơn son thếp vàng để chở che giùm lắm cái nổi cái chìm nằm trong cái bụng to hơn cái đầu, nhìn thấy phố xá đông vui phố phường tấp nập bên ngoài khu ổ chuột, và nhìn thấy các em cởi truồng đi ngang về dọc khắp chốn khắp nơi để minh chứng cho một xã hội công bằng dân chủ văn minh…và để nhìn thấy lắm kẻ không thể nuốt nổi một bữa điểm tâm trị giá gần cả trăm ngàn đồng bên cạnh những con người không mua nổi ổ bánh mì lót dạ để có sức đạp chiếc xích lô.

    Dĩ nhiên là phải nhìn tất cả, bởi vì còn sống nhăn ra đấy cho dù không đủ cháo đủ rau để lấp đầy cái dạ dày, cho dù tấm vải rách không che đủ ấm cho xương da. Không thể nhắm mắt bịt tai, nên phải thấy phải nghe. Nghe cuộc đời chảy lạo xạo trong đầu một dòng sông đục ngầu đầy xác người và xác súc vật, đầy cứt đáy bọ sâu…. Nghe cuộc đời chảy trong đầu những cơn bão tố thổi sập cả căn nhà đạo lý, thổi bay cả cột kèo chống đỡ bao ngàn năm, thổi bay cả tấm lòng con người, chỉ còn trơ lại đất đá gạch vụn ngổn ngang lúc nhúc một bầy cơ hội…

    Muốn chết cũng không được, nên phải sống, và sống là phải nhìn phải nghe như thế, cho dù vào cái ngày đen tối nhất của lịch sử đời mình ông đã phải quyết định từ bỏ cái xã hội này mà vào sâu trong rừng. Sống với rừng với núi với khe với suối. Sống với chim với chóc với cỏ cây. Ông dắt díu vợ con, gánh gồng linh tinh nào áo rách quần vá, thau bể chậu hư, vào rừng. Chỉ có rừng núi hoang vu. Vợ ông dù không muốn vẫn phải nghe lời chồng. Chị cam đành làm theo quyết định của chồng nhưng chị không khỏi ngậm ngùi mỗi lần nhìn mình trong gương. Người phụ nữ nhan sắc một thời nay đã đành bỏ lại quảng đời thanh xuân đằng sau bức mành lịch sử. Đôi lúc một mình trong suối, chị trút bỏ hết quần áo, đầm mình trong dòng nước mát, chợt những rạo rực xưa cũ trở về làm xao xuyến trong lòng và làm hai bầu vú chị trắng như hoa quỳnh căng cứng lên. Hai giọt nước mắt ứa ra trôi xuống như một số phận đã buông trôi.

    Mấy đứa con chị còn quá nhỏ, chúng chẳng có một ý niệm gì về cuộc đổi thay. Đối với chúng bỏ phố phường vào rừng chỉ là một cuộc dã ngoại, một chuyến du lịch vài ngày. Chúng tha hồ đuổi theo những con bướm màu sặc sỡ, hái những chùm bông dại ngát hương. Nhất là được lội trong suối, những con cá, những con cua đá, những viên cuội đủ màu. Chúng luôn nằm mơ những cảnh thần tiên và chúng cười vang trong mơ.

    Ông thì luôn im lặng. Một mình lầm lũi chặt cây cắt tranh. Một tháng tránh mưa tránh nắng trong mấy tấm bạt, giờ thì cả nhà đã có một cái lều sàn nho nhỏ. Và đêm, ánh lửa chập chờn, than củi nổ tí tách, cả nhà ngồi quanh một nồi khoai mì, một rổ rau rừng, một bát nước muối. Đói, cái gì ăn cũng ngon. Lũ trẻ ăn no lăn ra trên sạp tre ngủ, mơ thấy suối lớn thành sông, thấy chiếc thuyền lá thành chiếc thuyền nan, cứ thế chúng đi vào giấc ngủ say, đưa cái lưng trần cháy nắng cho muỗi đốt.

    Hai vợ chồng ngồi nhìn nhau, thở dài, rồi nhìn ra bầu trời rừng đêm, nghe gió lao xao, tiếng lá rụng và tiếng côn trùng nỉ non.

    Ông tin rằng mình sẽ sống được. Núi rừng sẽ không phụ ông đâu. Cứ chỗ nào có một khoảng đất trống là ông trồng mì, trồng khoai….Ông về dưới chợ cũ mua hạt bí hạt bầu. Chắc chắn sẽ sống được. Không có gì phải âu lo. Lo là lo cho lũ nhỏ không kiếm đâu ra mấy chữ để biết thế nào là con người. Chắc ông phải vừa làm bố vừa làm thầy. Nhìn vai trò thầy giáo lúc này ông cũng buồn.

    Ông đã từng chứng kiến lũ học trò đánh Thầy. Ông cảm thấy bị xúc phạm và đau lòng, cho dù suy cho cùng người thầy giáo bây giờ không còn đứng cái vị trí bao nhiêu năm về trước. Phần đông họ đến lớp không phải vì tương lai của lũ trẻ, họ đi dạy dù chỉ nhận mấy đồng lương chết đói, còn hơn bán mặt cho đất bán lưng cho trời ngoài đồng ruộng, chỉ để được trả cho mấy cân thóc lép không đủ nghiền ra nấu cháo. Ông biết họ cũng cảm thấy hổ thẹn. Nhưng họ không làm khác được. Thôi thì dù có buồn cũng đừng trách họ làm chi.

    Ông ngồi im lặng nghĩ lan man đủ thứ chuyện. Ngày mai phải đi chặt mấy cái măng tre rừng mà chiều qua ông đã để ý thấy, đem xuống chợ cũng đổi được mấy chai nước tương. Lòng buồn rười rượi nhưng ông vẫn mỉm cười. Chị nhìn ông thấy lạ hỏi:

    - Có gì thích trong bụng mà cười vậy?

    Ông không trả lời, chỉ nhìn chị. Lửa nóng làm mặt chị đỏ ửng lên và đôi mắt long lanh. Chị sà đến bên ông, nắm tay anh đặt lên bầu vú đang căng dưới lớp vải mỏng, rồi kéo ông ngã xuống sàn. Ông nói nhỏ:

    - Nhè nhẹ, lũ nhóc dậy bây giờ.

    ***

    Tưởng chừng cuộc sống cứ thế lặng lẽ trôi, cho dù phải vật lộn với bao nổi gian nan vất vả, sên vắt muỗi rừng, gió chướng mưa ngàn, trầy vi tróc vải mới có được củ khoai củ mì, bụi chuối luống rau. Cho dù phải đôi khi ngậm ngùi nhìn quảng đời đã qua, bước cuộc đời trước mặt, lại muốn nhảy từ trên vực cao.

    Nhưng chết để được gì? Dĩ nhiên sống cũng chẳng làm gì, nhưng ai mà không hy vọng. Nuôi chút hy vọng mong manh nhưng vẫn là hy vọng. Và vẫn còn hy vọng thì cớ gì phải chết! Cho nên con người sống, sống vì biết bao cái tưởng chừng. Và tưởng chừng đã về với núi rừng hoang vắng để tránh xa cái thế giới mà ông cảm thấy ói mửa, kinh hoàng và lo sợ. Tưởng chừng!

    Rồi một hôm ông thấy, không biết từ đâu tới từng nhóm người, cũng nhếch nhác rách rưới như ông ngày nào, cũng gánh gồng nào nồi niêu soong chảo, trẻ có già có, nheo nheo nhóc nhóc, chó gà heo qué lào xào lục xục kéo về dưới khu rừng, chặt tre chặt gỗ dựng lều, mỗi ngày một nhóm mang theo cái ồn ào hổ lốn từ phương nào tới. Lại lọt vào tai ông tiếng chửi thề văng tục, tiếng hát eo éo phát ra suốt ngày từ những chiếc máy transistor họ mang theo. Khu rừng trở nên ồn ả.

    Ông nhìn cơ ngơi mình vừa đổ mồ hôi dựng nên, chẳng lẻ lại đi nữa. Tiến sâu vào rừng hay lên tận những rẻo cao. Ông mong rằng họ, những người không mời mà đến ấy, cũng như ông, không hít nổi cái khí độc của nền văn minh suy đồi, không hít thở nổi cái hơi hám giả dối tanh hôi của cả một hệ thống quyền lực đè lên lớp dân đen chưa kịp thoát ra khỏi các thế lực phong kiến thực dân.

    Nhưng ông thất vọng. Họ chẳng có gì giống ông. Họ bỏ quê hương bản làng vào đây chỉ vì cái bao tử. Họ hàng đoàn lủ lượt ra đi vì đói, vì rách. Mảnh đất ít ỏi nơi họ ở không đủ nuôi sống họ, không đủ thỏa mãn những nhu cầu càng ngày càng nhiều của một đời sống duy vật chất. Họ không quan tâm tới lịch sử, không màn đến báo chí sách vở. Nhân quyền nhân phẩm không đáng quan tâm. Họ đến đây vì cái bao tử nên họ bỏ lại đằng sau lưng những nhu cầu khác.

    Họ tự phương nào tới?
    Ông tự phương nào tới?
    Vì đâu?
    Nhà cửa quê hương bản làng họ thế nào?
    Còn ông?
    Vì sao lại bỏ đi?
    Đất nước này của ai?
    Quê hương là chốn nào?
    Từ đường hương hỏa còn không?
    Ai là người thờ phụng tổ tiên?

    Thôi hỏi để làm gì! Trả lời để làm gì! Tất cả chỉ còn là cuộc rượt đuổi, cuộc chạy trốn. Kẻ thù ta và anh em ta. Chạy trốn anh em và chạy trốn luôn bản thân mình. Cuộc trốn chạy tưởng chừng không dứt mà con đường trước mặt thì hình như đã nghẽn lối.

    Ông đang đi về cái thời khắc giờ thứ hai mươi lăm.

    ***

    Những cư dân mới đến đã khuấy động cái yên tĩnh của núi rừng. Tiếng đốn gỗ chặt tre, cây cối ngã ào ào. Tiếng người gọi nhau í ới, tiếng trẻ con la khóc ầm ỉ lẫn trong tiếng gà lợn. Khu rừng bỗng chốc trống hoác để lộ một khoảng trời cao mây mù đọng từng khối đục bay nặng nề.

    Ông nhìn vào cái khối mây đùng đục nặng nề đó như nhìn vào cái địa ngục tối đen, nơi đó ông từng ngày đêm vật lộn với ma quỷ. Ông nói với chị:

    - Chắc ta phải vào sâu trong rừng nữa mẹ nó ạ. Tôi không thể căng tai ra mà nghe tiếng tru tréo của mấy cái loa phóng thanh và cũng không chịu nổi cái đám người hổn tạp này nữa.

    Chị âu sầu nhìn ông:

    - Không đi đâu mà thoát được. Ông định biến mấy đứa nhỏ thành người rừng cả sao?

    - Thành người rừng thì đã sao nào?

    Ông nghĩ, con người sẽ trở về cái thuở nguyên sơ ban đầu, dĩ nhiên là không phải ăn lông ở lổ, nhưng là gần gũi với thiên nhiên, con người sống trong lòng thiên nhiên, không làm vẫn đục bầu trời, không đốt sạch núi rừng, không vét cạn kiệt mầm sống của thiên nhiên. Bởi thế mà từ khi vào đây, dù thiếu thốn trăm bề, ông vẫn dành dụm từng đồng để mua từng cây thông con, cọc cạch chở trên chiếc xe đạp cà tang, ì ạch đẩy lên đồi qua những con đường mòn đất đỏ lầy lội trơn nhẫy. Mua từng cây. Trồng từng cây. Chăm bón từng cây. Da ông thì xanh xao vàng vọt. Da chị thì bạc thếch. Da mấy đứa nhỏ thì vàng óng. Tóc ông đã lốm đốm bạc. Chị thường trùm khăn kín đầu vì mấy cọng tóc oan nghiệt cứ trắng dần ra. Nhưng ngọn đồi thì xanh thắm. Thông càng xanh thì nỗi lo của ông càng lớn. Đã lắm phen phải đối mặt với hiểm nguy để bảo vệ đồi thông, sứt đầu vỡ trán, có lần phải nằm cấp cứu. Một mình ông trồng nhưng có lắm kẻ đến đốn phá. Và cái biệt danh “lão già điên trồng rừng” đã đến với ông lúc nào không biết. Ngoài vài anh nhà báo ở tận xứ mặt trời mọc đến thăm anh và làm vài cái phóng sự về ông với sự quý trọng ông là một nhà trí thức, một nhà văn, và hơn nữa là thái độ ông trước lịch sử, còn có vài đài truyền hình địa phương đến làm phóng sự tôn vinh ông là một người có công trong việc trồng cây gây rừng! Họ chả cần quan tâm ông là ai, đơn giản là một lão nông dân trồng rừng, đối với họ, cái tri thức, cái chức năng văn học của ông là đồ bỏ, là mối hiểm nguy. Nhưng ông chả quan tâm. Việc ông, ông cứ làm, và ông viết rất hăng say. Có điều, tất cả những gì ông viết ra cho hết vào một cái ba lô nhà binh, đi đâu cũng mang theo, bất khả ly thân. Chẳng ai đọc được. Không phổ biến ở bất cứ đâu. Không biết trước khi từ giã cõi đời này, ông có cho công bố những tác phẩm của ông không.

    ***

    Thôi thì ở không được, phải đi. Trời sinh ông ra ban cho ông cái tính khó hòa nhập với thế giới mà ông cảm thấy xa lạ lạc loài, thậm chí ông còn cảm thấy cái thế giới đó quá cay độc. Ông không chấp nhận, và cũng chẳng được chấp nhận.

    Một buổi sớm, sương còn nặng hạt, khí đã lạnh buốt da, ánh sáng vẫn xóa được cái âm u của núi rừng. Một mo cơm độn, một bi đông nước, một cái rựa, ông vào rừng, quyết tâm đi tìm một mảnh đất dung thân, chạy trốn cái thế giới đã đuổi mãi sau lưng ông, chạy trốn cái không khí nồng nặc của thời đại, chạy trốn lòng thù hận mù quáng và tình yêu giả tạo… Ôi không biết bao cái, theo ông, không chịu đựng nổi, đang từng giây từng phút làm ung vữa trí óc.

    Co ro trong manh áo không đủ ấm, chị đứng nhìn theo bóng ông nghiêng ngả trong sương lạnh. Chị nói vói theo cái bóng ông đã dần khuất dưới bóng rừng:

    - Ông đi cẩn thận, nhớ về sớm, đừng để tối quá lạc trong núi.

    Hình như ông cũng không nghe. Chị lâm râm cầu nguyện.

    Tiếng gà rừng lẻ loi đâu đó vẳng tới, tiếng chó sủa vu vơ nơi xóm những người mới đến. Người đàn bà một thời hương sắc chợt thấy lòng mang mang một nỗi hoài nhớ xa xôi. Chị nhớ đến ngôi biệt thự nho nhỏ xinh xắn nằm dưới những tàng cây im bóng trong khuôn viên trường Nông Lâm Súc ở một thị trấn cao nguyên bốn mùa xanh thắm, những triền hoa dã quỳ vàng tận những dòng suối trong vắt. Chị, người con gái bấy giờ, như một đóa hồng rực lửa giữa một thảm hoa vàng và tình yêu như ánh mặt trời hừng hực thiêu đốt da thịt làm bật ra những âm thanh vừa rộn rã vừa lắng buồn.

    Cơn mơ màng chợt tắt khi mấy đứa nhỏ thức dậy gọi mẹ. Chị trở vào lều và tới bếp đun thêm mấy que củi, chuẩn bị bữa ăn sáng cho con.

    Bên xóm xa, đã nghe tiếng người gọi nhau í ới, tiếng máy hát khẹt khè và tiếng loa phóng thanh thông báo quyết định thành lập đơn vị hành chánh mới, chưa có tên chính xác, cứ tạm gọi là Xóm Mới. Chị thở dài đánh thượt một cái:

    - Không biết rồi có yên ổn không.

    Cũng chẳng hiểu cái nghĩa “yên ổn” của chị là sao nhưng rõ ràng là chị nghĩ thế nào cũng có một cuộc bỏ chạy nữa, bởi chị biết quá rõ tính khí của chồng. Đôi lúc chị nghĩ thôi thì cứ sống đại chỗ nào cũng được, cứ che mắt bịt tai mà sống. Cuộc đời ngắn ngủi quá mà cứ chạy mãi thế này thì làm sao gầy dựng được chút gì cho lũ nhỏ. Thằng Tí Anh mười tuổi rồi mà lỏm bỏm không hết hai mươi bốn chữ cái, còn Tí Em thì suốt ngày chỉ đọc được mỗi chữ “đờ-đờ-i-đi”. Chắc chắn nó chẳng có ý niệm gì về việc đi hay ở, nhưng với chị, chỉ mỗi cái chữ “đi” mà thằng nhỏ bập bẹ suốt ngày đó như một điềm báo chẳng khi nào dừng chân được.

    Ba mẹ con đang ngồi nhai mấy củ khoai thì một người đàn ông lạ xuất hiện đột ngột như một bóng ma ngay tấm liếp che mưa tạt trước lều. Không đợi mời, hắn bước xộc vào nhà, hắn hỏi:

    - Ông già người rừng đâu rồi?

    Chị ngơ ngác (?)

    - Ông chồng chị đó, đâu rồi?

    - Ừ, ổng vào núi rồi. Nhưng anh hỏi ổng có chuyện gì không?

    Hắn chìa ra trước mặt chị một tờ giấy lắm lem bùn đất và ướt nước mưa:

    - Đây, có tấm giấy gọi ổng, mai 8 giờ về dưới xã trình diện.

    Không biết lành dữ ra sao, chị nghe mấy từ “có giấy gọi” là chị đã run rẩy tay chân rồi, bởi sống trong cái thời buổi mà muôn vàn đố kỵ, hoài nghi bao phủ như mây đen xuống từng số phận con người ở xứ sở này, khiến ai cũng thấp thỏm lo âu không biết giờ nào bất chợt tai ương ập đến.

    Hắn đưa mảnh giấy cho chị rồi quày quả bước ra cũng nhanh như khi hắn bước vào, thoáng cái hắn đã khuất xa nơi lối mòn cây cối rậm rạp.

    Chị cầm mảnh giấy trên tay thẩn thờ nhìn hai đứa con đang ngồi im lặng bên rổ khoai luộc.

    ***

    Mặt trời chưa khuất núi mà bóng rừng đã âm u như thể chút ánh sáng vàng vọt sau cùng của mặt trời không đủ sức giằng co với bóng chiều đang phủ xuống. Cảnh vật trở nên thê lương vì cái lạnh buốt của núi rừng.

    Cả ngày cứ vào ra thơ thẩn với tấm giấy chị cẩn thận nhét vào lưng quần, chị có cảm tưởng như mình đang mang cái tai họa mà chẳng dám vứt bỏ nó đi. Phần thì cứ nao nao lo cho ông, không biết ông đi những đâu mà giờ này chẳng thấy tăm hơi.

    Chị hết đứng lại ngồi, mắt dán chặt vào con đường mòn dẫn vào rừng sâu, gió lay động cành cây xa xa cũng làm chị thót người chồm về phía trước, tiếng động rất nhẹ của những cành cây khô bị gãy cũng làm chị tưởng bước chân ông.

    Nhưng màn đêm cứ dần dần buông xuống, nhẹ nhàng, thầm lặng và u uất như chẳng để cho bất cứ ai, bất cứ hiện tượng gì, bất cứ quyền phép gì có thể xua đuổi được bóng tối, như thể bây giờ và mãi mãi nghìn sau, đêm tối sẽ chế ngự thế gian này.

    Và cái đêm tối đó, không phải cho đến giờ phút này, mà đã từ bao năm nay đã vây chụp xuống đời ông rồi.

    Đêm cứ dằng dặc trôi qua, lòng chị nặng nề chùng xuống như chìm lắng tận đáy cơn giông bão. Chị không tin đấng thiêng liêng nào có thể ban ơn lành, nhưng chị cứ lâm râm cầu nguyện rồi chìm vào giấc mê mộng mị. Chị thấy ông thất thểu trở về máu me đầy người, máu chảy xuống từng dòng trên lối ông đi, chị ôm choàng lấy ông và những giọt máu sau cùng trong ông lấp đầy hai hốc mắt chị làm chị ú ớ thét vang và bừng tỉnh rã rượi,

    Bên ngoài vẫn một màu đen của đêm thâu.

    ***

    Sáng hôm sau ông vẫn chưa trở về. Chị bắt đầu nghĩ tới những tai ương đổ xuống đời ông sẽ kéo theo những hoạn nạn đời chị, đời hai đứa nhỏ. Chị nhớ đến cơn mộng dữ đêm qua. Chắc chắn đó là một điềm báo chẳng lành. Nhìn hai đứa con ôm nhau ngủ say, không nén được nỗi đau ùa đến xé lòng, hai dòng nước mắt chị ứa ra quặn thắt. Tưởng cứ lâm râm cầu nguyện là ông sẽ trở về, cho dù trở về thương tích đầy mình, nhưng còn được trở về là may mắn lắm rồi.

    Nhưng lời cầu nguyện có lẽ chưa được chấp nhận, vì cho đến giờ này, quá nửa ngày trôi qua rồi mà trời đất thì đang đe dọa một cơn giông bão sắp tới. Chỉ mới quá trưa mà trời đã tối sầm lại, mây đen nặng như chì phủ thấp xuống khu rừng, gió bắt đầu dập từng hồi, cây cối ngả nghiêng, mái lều bị giật từng cơn run rẫy, Trời ầm ầm giông, sấm chớp xẹt lửa ngang dọc. Chị hét hai đứa nhỏ:

    - Ngồi im trên giường, đừng có mà chạy lung tung.

    Hai đứa nhỏ chẳng nghe được mẹ nói gì, nhưng mặt mày đứa nào cũng tái xanh, ngồi ôm nhau co ro một góc giường.

    Hình như gió không phải từ một hướng, những luồn gió giao nhau giận dữ tạo nên những vòng xoáy sát mặt đất rồi bốc cao lên, cây cối hay bất cứ cái gì nằm trong tâm xoáy đó đều bị nhổ tung, bốc lên cao rồi đổ nhào xuống. Căn lều như nhờ một phép lạ dẫu đu đưa lắt lư nhưng chưa bị nhổ đi. Cả một đồi thông nằm chổng chơ nghiêng ngả trông thảm hại.

    Rồi nước từ trời cao ào ào đổ xuống, không thể gọi đó là cơn mưa, đó là thác nước từ trời, nước từ một cái biển bao la treo trên cao tràn xuống, không biết cơ man đâu là nước. Nước chảy thành suối, nước chảy thành sông, không thấy đâu là bờ bến. Và bây giờ là biển nước mênh mông đục ngầu dập duềnh cây gỗ rác rều… Nước tràn vào lều. Nước dâng ngập giường, mùng mền, áo quần, nồi niêu nổi bập bềnh. Chị một tay bồng thằng Tí Em, trên lưng cõng thằng Tí Anh, đứng trên giường. Nước vẫn dâng lên dù cơn mưa hình như có giảm. Nước vẫn ầm ầm đổ về. Càng lúc càng dữ dội. Nhấn chìm tất cả.

    Hình như không còn khóc được, chị ngước mắt nhìn lên cao. Có gì ở trên cao đó không?

    Đột nhiên cả một bờ núi đổ nhào xuống, đất đá cây cối đổ nhào theo với đà sụt lở dữ dội, trong chốc lát, hình như căn lều đã biến mất, và cả cái Xóm Mới cũng vùi sâu dưới lớp đất đá. Và dĩ nhiên chỉ còn trông thấy một vài cành thông cố vươn lên hụt hẩng giữa cái hoang tàn ghê rợn của cuộc tàn phá kinh hoàng.

    ***

    Có lẽ, nếu người đàn ông đã chết trong rừng thì mãi mãi muôn đời sau không ai biết dưới khu rừng này đã từng có một cái xóm mang tên Xóm Mới.

    Ông thất lạc trong rừng hai ngày, ăn lá cây, uống nước suối đục ngầu, đêm co ro trong hốc đá. Hai ngày trôi qua với cơn bão quét kinh hoàng, ông tưởng mình sẽ chết. Tuy nhiên ông vẫn hy vọng vợ con bình yên.

    Ngày hôm sau trở về, không tin mình đúng hướng, không tin mình về đúng cái nơi mình vừa từ đó ra đi cách mới có hai ngày. Vừa ra khỏi núi, một quang cảnh lạ lùng trước mặt, cả một vùng đất đá và nước đỏ ngầu mênh mông, chẳng còn nhận ra chỗ nào. Oái oăm thay, ông không thấy ghê rợn trước sức tàn phá hủy diệt của đất trời mà ông thấy trước mặt mình một cảnh rực ngời hùng tráng của cái chết.

    Chẳng còn nhận ra chỗ nào.
    Ông nghĩ mình đã nhầm.
    Ông mong mình đã nhầm.
    Nhưng ông đâu có nhầm, phải không?
    À, thì ra ông trời cũng không để cho ông còn một chốn để dung thân.

    VN, 1980
    Lê Nam Phương (thi sĩ Lê Văn Trung)

  9. The Following 2 Users Say Thank You to Phòng Trực For This Useful Post:

    khongquan2 (01-07-2020), nguyenphuong (01-07-2020)

  10. #6
    Phòng Trực's Avatar
    Status : Phòng Trực v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jul 2010
    Posts: 952
    Thanks: 26
    Thanked 1,575 Times in 510 Posts

    Default Không Thể Tiễn Đưa Nhau

    Không Thể Tiễn Đưa Nhau

    Lê Nam Phương (Lê Văn Trung)


    Anh ngồi nhìn những giọt mưa rời rã mỏi mệt bên thềm sân ga lạnh lẽo, xa lạ và cô đơn. Những giọt mưa không gieo một âm vang, nó lặng câm nhỏ xuống như thể giọt nước mắt ngậm ngùi của Trâm lăn âm thầm thấm vào lòng anh xót xa hai mươi mấy năm về trước, khi nàng đứng tội nghiệp trơ trọi trong cảnh chiều mùa đông phi trường Liên Khương sương mù.
    Bây giờ trên sân ga nhỏ ở một thị trấn nhỏ miền Trung, sau những ngày mưa bão tơi bời, bầu trời vẫn còn đang nặng nề và dai dẳng mưa, anh lại mong ước, một cách nhiệm mầu nào đó, Trâm, trong màu áo mưa tím nhạt, chiếc ô màu hoa khế, chạy đến ôm chầm lấy anh, mắt nhòa lệ và nói với anh lời chia tay tràn yêu thương.

    Hai mươi mấy năm trôi qua, bao biến động của lịch sử, bao đổi thay của vòng đời, bao va chạm của những xung đột, bao nổi trôi lận đận của kiếp người, không biết rồi Trâm có còn nhớ đến anh, có còn giữ lại chút hương đời dịu ngọt của một thời hoa dại ngày xưa, hay rồi nàng cũng chỉ, như bao người con gái khác, rũ bỏ những khát vọng tuyệt vời lãng mạn, để bị cuốn vào những lo toan, những mưu cầu trần gian nhất, rồi tự bằng lòng với những gì có được của một đời sống bình thường, nếu không muốn nói là quá tầm thường, và tự tô hồng nó bằng chút màu sắc ảo mộng kiếm tìm trong đó chút hạnh phúc mỏng manh của đời người vốn bao giờ nỗi phiền muộn cũng nhiều hơn niềm hoan lạc.

    Điều đẹp nhất bao giờ cũng luôn còn ở phía trước, hoặc là nó đã mất ở đâu đó rồi, con người trong hiện tại vẫn hoài niệm quá khứ và khát khao tìm kiếm ở tương lại. Nhưng trong lòng anh bây giờ, khi ngồi nhìn mưa rả rích nơi sân ga tỉnh lẽ này, nhìn những con người di động như những cái bóng, lặng lẽ cam đành, dáng vẻ người nào cũng như đang lục tìm, chạy trốn, âu lo, anh lại nhớ đến Trâm, nhớ đến những ngày sôi nổi của tuổi trẻ, những đêm lửa trại cầm tay nhau hát điên cuồng, những ngày xuống đường bừng bừng nhiệt huyết kêu gọi hòa bình tự do no ấm; những đêm đốt đèn cầy đọc thơ phản chiến, những ngày chạy trốn và những tuần lễ nằm trong trại giam, rồi lại vẫn tiếp tục, vẫn chuyển cho nhau tấm lòng khao khát về một thế giới tràn ngập yêu thương. Nhưng điều đẹp nhất đó chỉ là những ước mơ trong quá khứ. Và cho đến bây giờ, nó cũng chỉ nằm lại ở đó: ở quá khứ!

    ***

    Giờ đây, anh, một lần nữa, không biết bao nhiêu lần trong đời mình đã qua, thực hiện một chuyến đi, có điều khác biệt là ngày xưa, cho dù ở sân ga bến cảng nào, cho dù vào thời khắc nào, những chuyến đi cũng mang đầy những ước vọng, mang đầy lòng thương yêu, những vòng tay ôm giã từ, những nụ hôn thắm thiết và những lời hẹn hò. Bây giờ, một mình, một túi xách với vài cuốn sách, anh cũng đi, cũng trên sân ga, nhưng, một mình, không một người đưa tiễn, không một cái bắt tay, không một lời từ biệt. Và anh, người hành khách cô đơn này, sẽ lên chuyến tàu chiều nay, để lại làm một chuyến đi vô vọng và hoài nghi. Có thể anh không chỉ là người hành khất duy nhất mang đầy tâm trạng như thế. Những bóng người di động trên sân ga, chắc cũng có kẻ như anh. Mà không biết đâu chừng đây là chuyến tàu chung, chuyến tàu của thế hệ anh, chuyến tàu của những người thua cuộc, bó tay bất lực trước định mệnh nghiệt ngã của lịch sử.

    Hình như cũng có một vài người, ở nơi góc sân ga này, nơi góc phòng đợi kia, hoặc đi tới đi lui dưới màn mưa trên sân ga, với nét mặt u hoài và âu lo. Họ tiển đưa nhau? Hay là họ đang vĩnh biệt nhau?

    Bây giờ có thể Trâm đang ở một nơi nào đó rất xa, chắc nàng sẽ không bao giờ tưởng ra nổi anh đang đứng đây, nơi sân ga tỉnh lẽ này dưới màn mưa rả rít này, để tiếp tục cuộc hành trình còn lại của đời mình, đơn độc, lẻ loi, với một ước vọng tội nghiệp: có một người để chào từ biệt.

    Anh đưa mắt nhìn một cách thân thiện nhưng người đi ngang qua anh, những mong nhận lại một ánh nhìn cảm thông, để anh tự ủi an lòng mình, ít ra cũng có một người thầm lặng từ giã anh.

    ***

    Và rồi anh như chợt sững sờ, kinh ngạc và xao động, nhịp đập trái tim anh tê buốt như dừng lại, anh đưa tay bấu chặt vào ngực mình, cái túi xách nơi vai tụt xuống, anh mở to mắt nhìn dán vào chiếc áo mưa màu tím và chiếc ô màu hoa khế đang đứng bất động cuối sân ga. Thật không thể tin được. Chẳng lẽ là Trâm? Điều mầu nhiệm anh mơ ước đã hiển linh thật rồi. Anh ngửa mặt lên trời, đưa tay làm dấu và tiến về cuối sân ga. Khi còn cách chỗ chiếc áo mưa màu tím dăm bước, anh dừng lại, không nén được nỗi xúc động và nguồn vui dâng trào, anh buộc miệng gọi:

    - Trâm!

    Chiếc áo mưa màu tím quay về phía anh, nhưng khuôn mặt còn khuất dưới chiếc ô màu hoa khế. Không kìm lại được, niềm hân hoan và nỗi đớn đau buốt giá vỡ òa trong anh, anh bước tới vài bước, toan đưa tay nắm bàn tay trắng như hoa sứ đang cầm chặt cán chiếc ô màu hoa khế. Một cơn gió nhẹ đẩy chiếc ô lệch về sau một chút lộ rõ khuôn mặt thanh tú có đôi mắt u buồn của cô gái. Anh lúng túng:

    - Xin lỗi, tôi nhầm, xin lỗi cô.
    Cô gái nở một nụ cười hiền dịu để lộ hàm răng trắng sáng như ngọc bên trong đôi môi tím nhạt vì mưa lạnh.

    - Không có gì cả. Không sao anh ạ.

    Tiếng nói của cô ngọt và nhẹ len vào anh như một làn hương làm cho niềm thất vọng tưởng chừng quặn buốt trong lòng được vỗ về và xoa dịu.

    - Xin lỗi. Xin lỗi. Tôi… Cô cũng đi chuyến chiều nay?

    Cô gái quay hẳn về phía anh, ánh mắt không dấu nổi bồn chồn và buồn bã:

    - Không. Em đi tiển một người bạn. Anh đi chuyến tàu chiều nay?

    - Vâng tôi đi chuyến chiều nay.

    Nghe giọng nói lạ của anh, không nhìn anh, cô hỏi:

    - Hình như anh không phải người vùng này?

    - Tôi từ xa đến, được vài hôm. Trên đường đi tôi dừng lại đây hy vọng tìm được người bạn cũ rất lâu không gặp nhau. Nhưng không may, anh ấy không còn ở đây. Còn cô?

    - Gia đình bố mẹ em chuyển về đây gần mười năm rồi.

    Tiếng cô gái dễ thân thiện và gần gũi, lòng anh ấm lại và hạnh phúc. Anh nhớ đến Trâm qua hình ảnh cô gái đứng bên anh trên sân ga dưới màn mưa nhẹ, se lạnh. Anh thèm được nắm bàn tay cô gái, hôn lên năm ngón tay mềm mại và tội nghiệp, để được cám ơn cô, cám ơn trời đất cho anh gặp cô trong buổi chiều cô đơn nơi xa lạ này.

    - Nếu anh ấy đến, anh nhìn cô gái và nói, chúng tôi sẽ làm quen nhau, tôi sẽ có một người đồng hành, chuyến đi chắc đỡ quạnh hiu hơn.

    Cô gái vẫn nhìn hun hút về phía xa, nơi con đường dẫn về sân ga, xe cộ qua lại thưa thớt và vài bóng người vội vã che ô đi ngược về phố.

    - Vâng, em sẽ giới thiệu hai anh với nhau. Tha hồ hai người tâm sự trên chuyến đi này.

    Cô gái thoáng buồn và xa xôi:

    - Chuyến đi chẳng có một dự báo gì rõ ràng ở phía trước.

    Anh như thấy được tâm sự u uất nơi cô gái và cảm thấy, hình như, người bạn đồng hành chiều nay với anh cũng chẳng là một hành khách bình thường.

    - Hai người có hẹn với nhau ở đây.

    Anh thấy mình hơi ngớ ngẩn khi hỏi cô như thế, song anh chẳng dám hỏi gì hơn ngại đi sâu vào riêng tư của cô và người bạn chưa đến của cô. Anh hỏi cốt để được nghe tiếng nói của cô và biết đâu cô gái sẽ bộc bạch cùng anh.

    Trong những chuyến đi đã qua trong đời mình, có lần anh đã để Trâm đợi chờ vô vọng trên sân ga mùa đông ở Huế. Lần đó anh hẹn nàng sẽ đến Huế trong chuyến tàu đêm từ Sài Gòn, nhưng anh đã bị cảnh sát giữ lại trên đường từ cư xá đến Bình Triệu. Tình hình Sài Gòn bấy giờ vô cùng bất ổn, chính quyền tăng cường đàn áp và bắt bớ. Các phe nhóm đối lập, khối Phật Giáo Ấn Quang, các tướng tá cơ hội, công khai hay bí mật ráo riết lao vào cuộc chạy đua chính trị cho tình hình thủ đô miền Nam bấy giờ đã bất an càng náo động và tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Anh và một số anh em lần lượt bị bắt và phong trào có cơ tan rã.

    Lúc ấy Trâm đã chờ anh trên sân ga mùa đông Huế với nỗi tuyệt vọng và buồn giận, sau này nàng đã tỏ lại với anh như thế và anh đã để nàng khóc trong tay anh với niềm thương yêu vô bờ.

    Cô gái có nghe anh hỏi nhưng không trả lời, cô đưa tay nhìn đồng hồ, nét mặt hiện rõ nỗi lo âu bồn chồn. Hình như cô đang khóc. Đôi mắt cô ướt long lanh. Nhìn đôi mắt của một cô gái đang khóc, anh thấy đẹp lạ lùng, vẻ đẹp của nỗi đau dồn hết lại nơi hai giọt lệ ứa ra từ hai khóe mắt.

    ***

    Tiếng loa thông báo cho hành khách chuẩn bị lên tàu vang lên trong màn mưa bụi, mọi người vội vã tiến về phía cửa sau phòng đợi. Anh cho tay vào túi xem tấm vé tàu còn không, chưa vội vã từ giã cô gái.

    - Còn những hơn mười lăm phút nữa tàu mới chạy. Chúng ta cố chờ anh ấy.

    Cô gái đưa mắt nhìn anh như thầm cảm ơn.

    - Không biết anh ấy có gặp gì bất trắc không.

    - Chắc không đâu cô. Có lẽ trục trặc xe cộ gì đó thôi.

    Tiếng loa phóng thanh lại vang lên lần nữa. Cô gái quay hẳn về phía anh:

    - Anh lên tàu đi kẻo trễ. Em đứng đây chờ anh ấy đến, em sẽ báo có anh, à mà anh, gọi anh là gì nhỉ?

    - Hoàng. Tên tôi, Hoàng.

    - Em là Trang.

    - Tạm biệt Trang.

    Anh đưa tay muốn bắt tay từ biệt cô gái, nhưng cô gái hình như không để ý, mắt vẫn hướng về con đường dẫn đến ga.

    Anh lầm lũi bước đi về phía cửa ra tàu, lòng buồn rười rượi, thầm mong cho cô gái gặp được người bạn, và anh cũng nôn nao chờ người thanh niên xa lạ chưa một lần gặp đó, kẻ đồng hành với anh trên chuyến tàu chiều nay, chuyến đi mà, như cô gái đã nói: “Không có dự báo gì rõ ràng”.

    Đi chỉ là đi. Không thể đứng lại là đi. Không thể đọng lại như ao tù mà phải chảy như dòng sông. Không thể tụ lại mà phải lang thang như mây trời. Đi chỉ là đi. Không như những chuyến đi mấy mươi năm về trước. Và cũng không thể như mấy mươi năm về trước đi vì những khát vọng sáng ngời, vì những thôi thúc lên đường của tuổi trẻ đẹp như hoa cỏ mùa xuân. Bây giờ, ra đi vì không chịu đựng nổi những vây khốn của đời sống, vì những ức chế như bị giam cầm, vì chán chường và mỏi mệt, vì suy kiệt cả xác lẫn hồn. Đi vì không thể quanh quẩn trong những phân vuông đầy những chất thải của cả một hệ thống cà lăm nhai nhãi suốt ngày từ những hố rác này đến hố rác nọ. Dù biết rằng đi đâu rồi cũng vậy. Nhưng thà lăn đi để biểu tỏ một thái độ, một cách sống, còn hơn nằm chết đi cam đành, mục rữa.

    Anh chưa vội bước lên tàu. Con tàu đen và dài như một con sâu khổng lồ gầm gừ phun khói lên trời và thét một hồi còi xé rách không gian ẩm ướt. Người đi kẻ tiển nắm tay nhau chưa muốn rời. Có những đôi mắt ứa lệ và những nụ cười méo xệch. Anh nhìn hút về cuối sân ga. Cô gái vẫn đứng cam đành, màu tím chìm trong mưa bụi. Anh nhớ Trâm và thương cô gái vô chừng.

    Tàu sắp chuyển bánh rời ga. Anh quay lại nhìn về cuối sân ga. Chiếc áo mưa màu tím vẫn bất động ở đó. Anh nói thầm trong miệng: “Thôi, từ biệt Trang”. Anh đến bên cửa tàu, một tay nắm tay vịn, chân bước hờ lên, lòng buồn vô hạn. Có bàn tay ai đó vỗ nhẹ vào lưng anh:

    - Này anh gì ơi, anh lên cho người khác lên, hay làm ơn tránh ra…

    Anh buông tay vịn, bước hẳn xuống, không nhìn người vừa nói, anh quay vội ra sân ga. Một hồi còi rú lên nghe ghê rợn và tiếng động cơ xình xịch sau anh. Anh chạy băng về cuối sân ga. Sân ga vắng ngắt. Chiếc áo mưa màu tím cũng không còn ở đó. Anh dáo dác đi tìm và tự dưng một nỗi ân hận vô cớ dâng ứ trong lòng. Anh tự trách mình sao không quyết định sớm hơn để ở lại với Trang rồi ngày mai đi cũng có sao đâu. Biết đâu ngày mai tốt hơn cho anh, ít ra cũng hy vọng gặp người bạn của cô gái, hay ít ra khi còn ở bên Trang anh thấy đỡ lẻ loi hơn. Tâm trạng lẻ loi và cô đơn trong buổi chiều mùa đông mưa rả rích trên sân ga này anh nhớ Trâm vô bờ và anh thấy giờ phút gần bên Trang chiều nay thật cần thiết.

    ***

    Thời tiết trở nên âm u hơn. Anh buồn rủ ngồi xuống. Hình ảnh cô gái chập chờn trong đầu. Không biết tìm nàng ở đâu. Điều anh biết duy nhất chỉ là tên của nàng, màu tím của chiếc áo mưa và cái ô màu hoa khế. Anh đốt một điếu thuốc và nghĩ tới cái phòng trọ bình dân bẩn thỉu đêm nay với những cô gái làm tiền chưa quá hai mươi, ăn mặc lôi thôi, mặt mài nhễ nhại phấn son rẻ tiền, căn phòng đầy chuột bọ tối om với những mảng tường vôi nham nhỡ viết đầy những câu tục tỉu.

    Bây giờ ở lại nơi cái thị trấn tỉnh lẽ này, thật vô nghĩa nếu không gặp lại cô gái. Tàu thì đã đi xa. Anh thầm rủa mình và tự mỉm cười chua chát. Anh toan đứng lên đi về phía con lộ dẫn vào trung tâm thị trấn với hy vọng tìm ra cô gái, nhưng một tiếng gọi thật khẻ sau lưng anh:

    - Anh!
    Anh quay lại. Chiếc áo mưa màu tím đang đứng trước mặt anh, mắt đỏ hoe, chiếc ô màu hoa khế gấp lại cầm nơi tay, đầu tóc cô ướt nước mưa. Anh bàng hoàng như mình đang chiêm bao, không nói gì với cô gái, anh lấy cái ô nơi tay cô bung ra và che mưa cho cô.

    - Sao anh còn ở đây?

    - Tôi không nỡ đi được Trang à.

    Cô gái cảm động cầm tay anh.

    - Cảm ơn anh, nhưng lỡ chuyến đi của anh rồi.

    - Không sao, những chuyến đi không có dự báo gì ở phía trước, như cô nói đó, thì trễ một ngày hay sớm một ngày cũng chẳng thay đổi gì. Chẳng thay đổi được gì đâu, Trang à. Nhưng cô ở đâu từ hồi giờ, tôi loay hoay trên sân ga, thất vọng.

    Trang buông tay anh ra, đi sát vào người anh. Mùi hương con gái nơi nàng thoảng vào anh nhẹ như làn hơi thở mong manh và tinh khiết.

    - Tàu sắp chạy, cô nói, anh ấy không thấy đến, em nghĩ phải vào gặp anh để nói cái gì đó, không biết anh lên cửa nào, em dáo dác chạy dọc theo tàu cho đến khi tàu chuyển bánh, chẳng thấy anh đâu. Em đứng nhìn theo con tàu mà khóc. Thất thểu ra về thì gặp anh đây. Không biết em cảm ơn anh hay ân hận vì em mà anh lỡ chuyến đi.

    - Cô đừng bận tâm. Tôi vô cùng cảm ơn là đã được gặp Trang ở đây. Tôi thấy được an ủi trong chuyến đi đơn độc này.

    Dù trong lòng hai người cùng đang nặng trĩu và lo buồn nhưng họ cũng cảm thấy ấm lại phần nào khi đi bên nhau dưới làn mưa rắc lạnh này.

    - Anh định đi tận đâu?

    Cô gái e dè hỏi.

    - Cũng chưa có một chốn dừng chân cụ thể, Trang à. Tôi đi chỉ là muốn thoát ra khỏi cái nhàm chán thường ngày, muốn chạy trốn cái thành phố dày đặc rác bẩn và bụi bặm. Đi để tự đánh lừa mình về một sự đổi thay dễ chịu hơn.

    - Ở đâu rồi cũng vậy anh à.

    - Vâng, ở đâu rồi cũng vậy.

    - Anh ấy cũng đã nói với em như anh, luôn luôn cảm thấy tù túng. Bọn em, phụ nữ dễ an phận. Không biết đến bao giờ thì chúng ta mới an tâm sống bên nhau.

    Hai người đi tới một ngã tư, Trang lưỡng lự chậm bước lại. Trời đã thôi mưa, nhưng đường đầy nước đọng từng vũng. Thị trấn nhỏ bé và nghèo nàn, những hàng quán hai bên đường thưa thớt người. Anh gấp cái ô lại trao cho cô gái:

    - Nhà Trang về ngã nào?

    Nàng cầm cái ô và nhìn anh.

    - Hay là đêm nay em mời anh về nhà em. Ba mẹ em cũng không sao đâu.

    - Thôi được, cám ơn Trang. Tôi sẽ ghé thăm. Nhưng bây giờ ta tìm anh ấy ở đâu?

    Cô gái chưa trả lời thì một tiếng kêu hớt hãi sau lưng:

    - Chị! Chị Trang!

    Cô giật mình quay lui. Một thanh niên chừng hai mươi hăm hai, dáng cao gầy, lao chiếc xe đạp về phía hai người, chiếc xe lạng quạng rồi dừng lại. Đôi mắt anh mở to nhìn người đàn ông xa lạ đứng bên cô gái, rồi nhìn cô. Trang, sau phút giây bối rối, bước đến bên người thanh niên, một tay vịn vào ghi đông xe, một tay vẫn cầm chiếc ô:

    - Có gì không em? Nàng nói với người thanh niên. Anh Tuyên đâu?

    Người thanh niên lại nhìn người đàn ông đang cố ý nhìn tránh đi nơi khác để cho hai người nói chuyện. Cô gái hiểu ra:

    - À, đây là anh Hoàng.

    Quay về phía anh cô gọi nhỏ:

    - Anh Hoàng, Anh Hoàng, đây là Sơn, em họ em. Nhưng anh Tuyên đâu?

    Người thanh niên tên Sơn dẫn chiếc xe đạp vào lề:

    - Anh Tuyên gởi lời xin lỗi chị, anh ấy không thể lên tàu ở ga chính này được. Em phải chở ảnh bằng xe đạp gần hai chục cây số để đến một ga nhỏ. Ảnh đã lên tàu rồi. Ảnh buồn lắm. Không lên ga này được. Có hai người bạn của ảnh đã bị bắt.

    - Nhưng tại sao? Anh Tuyên có làm gì hả?

    - Em không biết. Ảnh chỉ nhắn xin lỗi chị và nói: “Cậu cố gắng săn sóc Trang, anh đi chưa biết khi nào quay về được”.

    Trang, hai con mắt rơm rớm, nàng nhìn anh, nàng nhìn như cầu cứu, như dò hỏi, đớn đau.

    Anh nhìn Trang, nhìn Sơn, rồi nhìn bầu trời ẩm đục đang tối dần.

    Hình ảnh con tàu đang vút đi trong màn mưa đêm, mang trên mình nó một người khách đang trốn chạy vì bị rượt đuổi, lòng vẫn mang hy vọng trở về. Anh không biết Tuyên là ai, đang đeo đuổi những mục đích gì, nhưng anh vẫn thầm cám ơn những con người ấy, ít ra họ cũng biểu tỏ một thái độ, một nhân cách sống, không đầu hàng. Anh thầm nhủ trong lòng: “Tuyên, anh không đơn độc đâu, trên những chuyến tàu xuôi ngược đó, vẫn còn, vẫn còn những người như anh, tiếc là chúng ta chưa có cơ hội để gặp nhau”.

    Anh đưa tay bắt tay Sơn, nhìn Trang:

    - Như vậy là anh ấy đã lên tàu bình an rồi. Cô đừng lo lắm. Chúc chuyến đi của anh ấy may mắn.

    Trang nhìn anh, hai giọt nước mắt long lanh như hai giọt sương:

    - Em xin lỗi, anh đã vì em mà lỡ chuyến tàu.

    - Đừng bận tâm. Những chuyến đi của chúng tôi chưa dừng lại, còn đi mãi, cho đến một ngày …

    Anh bỏ lững câu nói, nhìn Sơn:

    - Thôi xin tạm biệt. Đừng buồn. Hãy hy vọng.

    Anh vội vã bước đi về phía trung tâm thị trấn. Ánh đèn đường bệnh hoạn hắt xuống hiu hắt. Phố xá vắng hoe. Anh vừa đi vừa quay lại, giơ tay vẫy chào. Chiếc áo mưa màu tím chìm trong ánh sáng mờ mờ. Anh thấy một cánh tay của nàng đưa lên rồi buông thỏng xuống. Nàng vẫn chưa chịu bước đi.

    Anh dừng hẳn lại, lòng dâng lên một mối thương cảm vô bờ. Một làn gió nhẹ lan qua lạnh buốt. Anh định bước về phía nàng. Nhưng Trang đã quay đi, lặng lẽ. Màu tím chiếc áo mưa tối lại như một cái bóng trôi đi trong mưa.

    Lê Nam Phương (Lê Văn Trung)

Similar Threads

  1. Truyện ngắn Truơng Kim Báu
    By Bao Vu in forum Trang Thành Viên
    Trả lời: 37
    Bài mới nhất : 09-12-2019, 10:03 PM
  2. Bà Sáu bỏ cuộc chơi
    By Hai Hùng SG in forum Truyện ngắn
    Trả lời: 1
    Bài mới nhất : 07-17-2019, 06:58 PM
  3. Những mẫu truyện ngắn...rất cảm động
    By Luctuan in forum Truyện ngắn
    Trả lời: 74
    Bài mới nhất : 05-21-2019, 07:58 PM
  4. Mục Lục Truyện Ngắn HQPD
    By chimtroi in forum Truyện ngắn
    Trả lời: 2
    Bài mới nhất : 01-12-2013, 01:18 AM

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter