kết quả từ 1 tới 3 trên 3

Tựa Đề: Trại Đầm Đùn

  1. #1
    Moderator
    KiwiTeTua's Avatar
    Status : KiwiTeTua v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jul 2008
    Posts: 2,689
    Thanks: 4,792
    Thanked 9,676 Times in 2,592 Posts

    Default Trại Đầm Đùn

    Tôi tình cờ có đọc chuyện "Trại Đầm Đùn" này bên Mỹ, khoảng những năm '90.
    Truyện viết hay, lột tả được sự khổ đau ngút ngàn của tù nhân dưới bàn tay tàn ác của bọn Việt cộng....
    Địa Ngục trên Trần Gian!


    Nxb Nguyễn Trãi, 1969, Sàigòn, Việt Nam

    Đọc Trại Đầm Đùn .... để thấy hết những đau khổ, bi thương mà người Quốc Gia đã phải chịu đựng trong những trại tù cộng sản, điển hình nhất là TRẠI TÙ ĐẦM ĐÙN.

    Nghe chuyện kể về trại Đầm Đùn mới hiểu được, mới thấm được, mới nhận thấy được những đau thương, những hy sinh, những chịu đựng mà cha anh chúng ta đã phải trải qua...

    Họ phải trả giá bằng cả cuộc đời của họ. Và ước mong, nghe chuyện kể về trại Đầm Đùn đề cho những kẻ đón gió trở cờ mong rằng CS sẽ thay đổi sau bao nhiêu năm.

    Đó chỉ là chuyện không tưởng...

    ______________________


    Trần Văn Thái


    Tên thật: Nguyễn Văn Ký, sanh năm 1919 tại Hà Nội.
    - Tập viết văn từ hồi còn là học sinh Trường Cao Đẳng Tiểu Học Đỗ Hữu Vị (Hà Nội) và bắt đầu viết bài đăng báo từ 1936.
    - Nguyên Tổng Thư Ký Tòa Soạn các Nhật Báo Cấp Tiến Hà Nội, Dân Chúng Hải Phòng, Hòa Bình (1955) Sài Gòn.
    - Đã cộng tác thường xuyên với các báo Cách Mạng Quốc Gia, Ngày Nay, Tin Điển, Thứ Tư v.v...
    - Thư Ký Tòa Soạn Nguyệt San Đại Từ Bi từ 1965 đến nay.


    **********

    ĐÔI LỜI GIỚI THIỆU

    Đã lâu lắm, chúng ta mới có một cuốn sách chống Cộng có một vóc dáng đầy đặn, chứa đựng một nội dung xúc tích, sống động và xác thực vượt hẳn lên trên những sách cùng loại xuất bản trong nước từ trước đến nay. Đó là cuốn phóng sự tiểu thuyết "Trại Đầm Đùn" của Nhà Văn TRẦN VĂN THÁI, được chấm hạng Ba, giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật 1967-1969 của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa trong 62 tác phẩm dự thi về bộ môn tiểu thuyết.

    Thông thường, những sách chống Cộng được viết dưới hai hình thức. Một là chống Cộng bằng lý thuyết, tác giả nêu ra những lỗi lầm sơ hở của chủ nghĩa cộng sản, những điểm không hợp thời, hoặc thoái hóa của chủ nghĩa cộng sản, nói một cách khác tác giả đánh thẳng vào ý thức hệ cộng sản bằng lý luận chánh trị, để bác khước chủ nghĩa này.

    Hình thức thứ hai là mô tả những cảnh đọa đầy, khổ sở của người dân dưới chế độ tàn bạo, độc tài, bất công của cộng sản để chứng minh rằng thiên đường cộng sản là một chuyện không có, không thể có trên thế giới này. Trái lại, cuộc sống dưới chế độ cộng sản còn nhọc nhằn, tủi cực hơn cuộc sống dưới bất cứ chế độ nào khác.

    Viết cuốn TRẠI ĐẦM ĐÙN, Nhà Văn Trần Văn Thái đã dùng hình thức thứ hai, mô tả cuộc sống của những người bị đưa đi học tập lao động sản xuất tại một Trại Sản Xuất và Tiết Kiệm ở Tây Bắc Tỉnh Thanh Hóa. Nói là Trại Sản Xuất và Tiết Kiệm nhưng thật ra, đó là trại giam thực sự mà những người điều khiển đã bóc lột sức lao động của "trại viên" đến xương tủy, khiến họ gục xuống chết tại chỗ. Bị khổ sai quá mức, bắt buộc phải thi đua tăng năng suất, bệnh mà không có thuốc, bị đòn phạt khi bị buộc là vi phạm luật lệ của nhà giam, tù nhân Trại Đầm Đùn đã có thời gian chiếm kỷ lục về con số thương vong hàng tháng. Đã thế, trại viên lại phải sống thường xuyên trong một bầu không khí khủng bố tàn bạo, bị đem ra đánh, ra giết bất cứ lúc nào cũng được vì không có luật pháp nào bảo vệ cho họ, họ không biết kêu cứu với ai. Đối với nhà cầm quyền Việt Minh, những người bị giam hoặc bị khổ sai tại những trại sản xuất bị nhìn như những tên Việt gian phản động, có hại cho xã hội chủ nghĩa và gây phí tổn vô ích cho nhà nước cộng sản.

    Vì thế cho nên trong một Trại Sản Xuất và Tiết Kiệm của cộng sản, sự sống và sự chết đều vô nghĩa như nhau. Con người chỉ là một công cụ sản xuất của nhà nước trong những điều kiện vật chất ít tốn kém nhất, không sản xuất được nữa thì liệng xuống hố, lấp đất là xong bất kể đã chết hay còn sống. Những viên chức điều khiển trại tất nhiên phải là đảng viên đảng cộng sản, đối với tù nhân thì họ căm thù, hành hạ, nhưng đối với nhau, họ cũng tàn nhẫn không chút nương tay khi cần phải thanh toán một đồng chí có hại cho quyền lợi cá nhân hay bè phái. Họ là những người không có tim vì họ là cộng sản, bạo lực là phương tiện sở trường và hữu hiệu nhất đối với họ.

    ******

    Phóng sự tiểu thuyết Trại Đầm Đùn ghi lại rất nhiều mảnh sống của tù nhân trong một Trại Sản Xuất và Tiết Kiệm của việt cộng. Nghĩa là một trại giam tàn bạo nhất, tàn bạo một cách thâm trầm độc địa theo lối cộng sản Á Châu. Tất nhiên trên thực tế, các mảnh sống này rời rạc xẩy ra trong nhiều thời gian và tại nhiều trại giam khác nhau ở Liên Khu 3 và 4, Nhà Văn Trần Văn Thái đã ráp từng mảnh sống đó lại với nhau để tạo thành một cơ thể sống động, làm rùng mình biết bao độc giả và cho họ trông rõ bản chất hiếu sát của con người cộng sản và bản chất phi nhân phi nghĩa của chế độ cộng sản.

    Một vai chánh trong truyện là một nhân vật thuộc giai cấp tiểu tư sản tên Trần Văn Toàn đang làm việc cho chính quyền quốc gia ở Hải Dương thì bị du kích Việt Minh bắt, đưa đi giam tại Trại Đầm Đùn. Cho tới khi hai bên Việt Minh và Pháp ký kết Hiệp Định Geneva, Toàn mới được phóng thích cùng một số người sống sót và may mắn. Trong thời gian học tập lao động sản xuất với cả ngàn tội nhân khác, Toàn trông thấy, gặp biết bao cảnh khủng khiếp, chua xót, nhọc nhằn, hụt chết nhiều lần đến nỗi bao phen, anh muốn tự giải thoát khỏi kiếp sống tù đầy, nhục nhã. Nhưng không được vì con người -dù là tù nhân của cộng sản- cần rất nhiều can đảm để sống thì cũng cần rất nhiều can đảm để chết. Vả lại, dần dà Toàn nhận thấy rằng chết không phải là một phương sách chống Cộng. Phải sống để đấu tranh chống Cộng đến cùng. Ít ra, cũng cứu được những thế hệ tương lai.

    Cố chịu đựng mà sống, Toàn đã lần lượt được chứng kiến bao nhiêu sự việc chỉ con người máy cộng sản mới làm được.

    Nhờ tính cách xác thực và sự phong phú của các tài liệu sống, với một bút pháp điêu luyện, tác giả đã trình bày trên 500 trang giấy đời sống tù nhân trong một trại giam và làm chẩy nước mắt nhiều người. Có nhiều đoạn, người đọc cảm thấy tác giả đã viết bằng máu, nước mắt, tình thương và căm giận nữa khiến người đọc phải rùng mình khiếp hãi, nổi da gà như lên cơn rét.

    Thật vậy, dưới chế độ cộng sản, tai họa bất ngờ không biết đâu mà lường trước được. Miệng cán bộ, miệng đảng viên có gang có thép, họ bắt bẻ, buộc tội như thế nào, tù nhân cũng đành chịu, cán bộ bảo sống là sống, bảo chết là chết, tù nhân không thể nào tránh né được.

    Bằng một lối văn tả chân sâu sắc, trong sáng và giản dị, tác giả đã lôi cuốn và làm say mê người đọc. Giản dị nhưng không rơi vào cái tầm thường. Trái lại là khác. Nhiều đoạn, độc giả bật cười trong khi dơm dớm nước mắt.

    Để chứng minh nhận xét trên, tôi định trích dẫn ra đây vài đoạn đặc biệt nhưng không biết chọn đoạn nào. Vì những đoạn hay trong Trại Đầm Đùn nhiều quá, rải rác khắp cuốn truyện.

    Chỉ xin nhắc sơ qua những đoạn tả chân như: "Cảnh Đầu Trâu đánh đòn trừng phạt tù nhân bằng roi song mật khiến tù nhân bật tủy xương sống chịu không thấu phải nhai nát lưỡi tự tử "tại trận" trước mắt sáu, bẩy trăm người, đoạn tả ba người tù đói nhai một lúc bẩy tám củ su hào sống dưới ruộng đến no phưỡn bụng rồi chết vì bội thực trước sự chứng kiến bất lực của giám thị, những đoạn tả cơn đói triền miên thê thảm của người tù bị "phong vương" phải nuốt thạch sùng cho qua cơn đói. Đoạn tả đòn tuốt nứa bắt độc giả rợn người, ớn xương sống, toát mồ hôi lạnh, đoạn tả người tù đói liếm đốt xương cá mỗi bữa ăn sau khi hít hít, ngửi ngửi lấy mùi tanh của cá còn sót lại, đoạn tả cảnh thợ rèn đóng xiềng vào chân tù và cho tù nếm đòn trợt búa để đòi tiền hối lộ, đoạn tả tù phong vương cắt xiềng mở cùm rồi đào ngạch chui qua hàng rào trốn vào rừng, gặp bao cảnh giở khóc dở cười, giở sống dở chết v.v..." Nhiều lắm, những đoạn hay không kể hết được, tiếp nhau nối từ chương này đến chương khác để thêu dệt và trang trí cho một cốt truyện độc đáo có nhiều tình tiết đột ngột, sôi nổi, bất ngờ như truyện trinh thám, làm tăng giá trị cho nội dung một cuốn truyện chống Cộng bằng những hình ảnh xác thực trăm phần trăm .

    Với cuốn Trại Đầm Đùn, tác giả Trần Văn Thái đã có một hình dáng rõ rệt, đặc biệt trong những người cầm bút đứng đắn, tự trọng. Điều này không làm chúng ta ngạc nhiên khi ta biết "Trần Văn Thái" là một bút hiệu khác của nhà văn có một bút hiệu được nhiều người biết hơn: Hoàng Cung (Nguyễn). Và cũng chính nhà văn này dưới một bút hiệu khác nữa Thanh Lâm (Nguyễn), đã chiếm giải nhất và giải ba trong một cuộc thi truyện ngắn Phật Giáo năm 1966 do Nha Tuyên Úy Phật Giáo tổ chức để tuyển lựa những tác phẩm giá trị trên địa hạt văn nghê Phật Giáo.

    Với những người chưa có kinh nghiệm sống chung với cộng sản. Trại Đầm Đùn sẽ cho họ biết rất nhiều về một phương diện của đời sống dưới chế độ cộng sản và về thực chất của con người cộng sản. Do đó, họ sẽ suy luận ra và phải có một thái độ chính trị thích hợp.

    Nhất định TRẠI ĐẦM ĐÙN sẽ có một tác dụng hữu hiệu trong cuộc đấu tranh chung của miền Nam tự do: Chống Cộng Để Bảo Vệ Tự Do và Hạnh Phúc Của Chính Mình.

    N.M Ch
    Nhà xuất bản Nguyễn Trãi


    ******

    TUỐT NỨA

    Hôm nọ, gặp mấy người bạn cũ, những người chủ trương cần phải chấm dứt ngay cảnh bom đạn này, mặc dầu có phải chấp nhận chế độ cộng sản.

    Tôi về nhà mở tờ bán nguyệt san "Đại Từ Bi" của Nha Tuyên Úy Phật Giáo, tiếp tục đọc thiên phóng sự "Trại Giam Đầm Đùn" của Trần Văn Thái, số 44, tả lại cảnh "tuốt nứa" thi hành với tù nhân 983. Đọc xong, tôi thẫn thờ đứng dậy, sờ vào áo thấy sũng mồ hôi, toàn thân như đang lên cơn sốt. Từ 21 số báo "Đại Từ Bi" rồi, nhiều lần đọc xong "Trại Giam Đầm Đùn", tôi đã tự nhủ: Thôi lần sau không đọc nữa. Rùng rợn và thê thảm quá. Hơn cả những "lò giết người" của Đức Quốc Xã tôi đã được xem cách đây hơn 10 năm, nhân chuyến đi xây nhà cho đồng bào nghèo bên Tây Đức. Nhưng mỗi lần báo "Đại Từ Bi" đến tay, tôi lại tìm đọc "Trại Giam Đầm Đùn" (ngoài những bài tham luận, quảng bá giáo lý Nhà Phật, hoặc mục Họa Thơ, Đố Chữ v.v...) không phải để căm thù Cộng sản hơn, hay để cổ động tiêu diệt người Cộng sản ngay trên phần đất của họ. Tôi tiếp tục đọc, mong tìm thấy hình ảnh một số bạn hữu của tôi, những kẻ bị Việt Minh bắt đi cách đây hơn 20 năm.

    Họ có phải là tên tù 684, hay những người tên Thanh, tên Toàn, hay tên tù 983 "hai bắp đùi bị nứa cắt nát bấy, thịt da bị vằm tơi tả...trong khi miệng hắn há hốc như con heo bị thọc tiết...Tiếng rên la của tội nhân có một âm hưởng bi thiết lạ lùng, tưởng như mảnh nứa mà có tim, mảnh nứa cũng phải động lòng chảy nước mắt".

    Có lẽ tôi chẳng bao giờ tìm thấy hình bóng họ. Tôi sẽ không nhận ra họ. Làm sao tôi nhận được ra họ trong đám hình hài rách nát, bị tra tấn cùng cực "mặt sưng vều, méo mó, tím bầm, hai mắt sưng như hai trái nhót...một tay bị đánh trật khớp, chân lết đi một cách khó nhọc...".

    Nhắc lại những cảnh rùng rợn này không phải để thêm hận thù với ai. Nhân dân miền Nam hết muốn hận thù với ai. Nhưng cũng không muốn để ai tiếp tục ngụy biện: Một là chấp nhận làm nô lệ Cộng sản, hai là phải kéo dài cuốc chiến tranh vô vọng này!

    Con đường giải thoát Quê Hương đâu phải chỉ nằm trong 2 ngã: Chấp nhận bị hình phạt "tuốt nứa", hoặc chấp nhận đánh nhau bất tận?

    [B]T.H.[/B]
    Trích trong mục "NGƯỜI VÀ VIỆC"
    Nhật báo Xây Dựng số 1.486 ngày 17.1.1969


    ******
    TRƯỚC KHI VÀO CHUYỆN

    Tất nhiên, trên thế giới ngày nay có trại giam nào là không đáng sợ?

    Nhưng Trại Giam Đầm Đùn lại đáng sợ gấp bội về mọi phương diện, bị bắt vào đó, không mấy ai dám hy vọng có ngày trở về. Dưới chế độ cộng sản, trại giam là một thứ khủng khiếp, mà Trại Giam Đầm Đùn thì thật là "thần sầu quỷ khốc!".

    Phải công nhận người cộng sản có một kỹ thuật tàn ác phi thường về phương thức trừng phạt những kẻ bị chúng kết tội hoặc coi là phản động. Kỹ thuật đó đã được nghiên cứu bởi những kẻ không tình cảm, còn mang thêm căm thù không nguôi ở trong lòng vì đấu tranh giai cấp. Vì thế, Trại Giam Đầm Đùn đã phá kỷ lục về số tội nhân thương vong hàng ngày vì xung phong bắt buộc, thi đua tăng năng suất, bị bóc lột quá sức lao động, vì đòn trừng phạt, bịnh, khủng bố tinh thần và nhất là đói, liên miên đói...


    ° ° °

    Tác giả không biết đích xác Việt cộng lập ra Trại Giam Đầm Đùn từ bao giờ nhưng có những người bị việt cộng kết tội hay quy vào một tội tưởng tượng nào đó khoảng 1952 đã bị đưa đến giam tại Trại Đầm Đùn rồi.

    Trại tọa lạc trên một khu đất trống gần rừng thuộc làng Đầm, Huyện Thọ Xuân Tỉnh Thanh Hóa, rộng chừng năm, sáu mẫu tây, chung quanh có hai lớp rào nứa bao bọc. Nứa rừng nguyên cây cứng như tre, cắm sâu xuống đất khít với nhau cheo đi chéo lại buộc bằng giây kẽm, con gà chui không lọt.

    Trại chia làm hai khu riêng biệt, ngăn bằng một hàng rào nứa: Một khu nhốt tù binh Pháp, một khu nhốt tội nhân người Việt. Trong khu nhốt tù Việt, nhiều dãy nhà, căn lớn căn nhỏ, lợp lá, vách phên tre hay vách đất, dùng làm nhà giam từng loại tù: Tù thường tội, tù xiềng, tù cùm, tù lãnh án tử hình, đợi "ra bai" v.v...

    Cách các lớp nhà giam khá xa, một dãy nhà rộng rãi, lợp lá gồi, trống rỗng không vách, mang tên nhà Tiểu Công Nghệ là nơi đan lát, xay thóc, giã gạo, xàng, xẩy gạo v.v... Ngoài ra, nhà này còn dùng làm nơi ăn cơm của gần một ngàn tù mỗi bữa. Gần đấy là nhà bếp. Xa xa hơn nữa, ở gần cuối vườn là một căn nhà nhỏ để dùng làm Lò Rèn, nơi sản xuất những xiềng sắt, khoen sắt để xiềng chân tù, và là nơi chế tạo những vật dụng bằng sắt của trại: Sẻng, cuốc, mai, thuổng, dao rừng, rìu...dùng cho việc canh tác và đốn cây chặt củi trong rừng.

    Các căn nhà của nhân viên ban quản trị Trại Sản Xuất và Tiết Kiệm Đầm Đùn tập trung vào một khu ở đằng trước. Để tiện việc kiểm soát, bên ngoài cổng lớn vào trại có chòi canh. Cảnh vệ gác thường xuyên. Đã thế, bên trong hàng rào nào cũng có chòi canh và cảnh vệ gác.

    Trong vườn có một cái ao khá rộng, sâu ngập đầu người, rau muống thả kín một góc. Nước ao quanh năm suốt tháng đục lờ lờ, dùng để tưới vườn, tưới rau, tưới cây và tưới... người. Mỗi buổi sáng, hàng trăm tù nhân xếp hàng ra ao một lượt, rửa mặt, súc miệng, rửa các mụn lở loét trong người do sự thiếu giữ gìn vệ sinh cá nhân và rửa vết thương do đòn hoặc tai nạn.

    Làm công việc vệ sinh buổi sáng xong, tù nhân quay vào nhà Tiểu Công Nghệ, ăn bữa cơm sáng rồi đi lao tác tùy phần việc được chỉ định trong ngày.

    Riêng ngày Chủ Nhật, trước khi ăn cơm, tù nhân phải tập trung giữa sân rộng để làm một việc quan trọng: Chào cờ!

    Sau đó, họ làm công tác vệ sinh chung trong trại, quét sân, dọn dẹp phòng giam cho gọn gàng sạch sẽ. Xong, có thể làm những công việc vặt cho riêng họ như vá quần áo, săn sóc các vết thương, bắt chấy, rận, rệp v.v...Những tù bị xiềng, xoay sở hay đổi chác lấy giẻ rách quấn quanh khoen sắt ở hai cổ chân cho cạnh sắt khỏi cứa chân chảy máu. Giẻ rách rất khó kiếm vì không ai thừa.

    Đứng bên ngoài "Trại Sản Xuất và Tiết Kiệm Đầm Đùn" trông vào, trại có bộ mặt hiền lành, không có vẻ chi giam giữ, trừng phạt một số người đang đi đoạn chót ngắn ngủi của cuộc sống trên dương thế! Khi thấy những người ở bên trong đi lại dáng điệu thiểu não, thân hình tiều tụy gầy còm, quần áo rách rưới hay vá chằng vá đụp, có người vừa đi vừa té nằm cả phút mới lóp ngóp đứng lên loạng choạng bước, khách bàng quan chỉ tưởng là trại tế bần hay trại bịnh của nhà thương.

    Vì đứng bên ngoài mà quan sát, Trại Đầm Đùn không có chi khủng khiếp, kinh hồn.

    Nhưng...


    ____________________

    TRẠI ĐẦM ĐÙN

    1. Lúc bấy giờ vào khoảng sáu giờ chiều, một chiều cuối Thu.

    Gió núi từ tứ phía thổi lại, tạt qua Trại Giam Đầm Đùn, liên tiếp đem đến những cơn rùng mình cho các tù nhân trong trại. Và đem những nỗi nhớ quê nhà, nhớ vợ, con cho những tù còn những kẻ thân yêu mà nhớ. Dưới chế độ cộng sản, những người thân yêu còn lại thật là hiếm hoi. Khi người ta ít có thì giờ nghĩ đến chính mình thì hơi sức đâu nghĩ đến kẻ khác để tạo nên những kẻ thân yêu!

    Nhất là tù nhân trong Trại Giam Đầm Đùn lại càng có ít thì giờ hơn nữa.

    Một bọn tù mười người do trưởng toán dẫn về trại sau khi rửa mặt mũi chân tay tại cái ao đục ngầu ở cuối vườn. Họ đi không có thứ tự cho lắm vì sau công tác này họ được nghỉ xả hơi năm, mười phút đợi giờ ăn cơm. Có ba người trong toán đi chậm hơn cả, lùi mãi về cuối: Hai người bị xiềng một chân và một người trung niên chừng như bị đau chân nên đi khập khiễng. Dáng điệu vụng về, chậm chạp, nét mặt nhăn nhó ủ dột, người trung niên tò mò ngó cảnh tượng chung trong trại. Mấy người đàn bà gánh nước tưới rau trong vườn đang cất thùng vào kho và bà già quét lá ngoài sân cũng đã cất chổi đi rửa mặt, rửa tay để về trại phụ nữ ăn cơm. Người trung niên dáo dác kiếm trưởng toán và khi nhận ra người này đứng ở mé đầu hồi đằng kia, anh ta lật đật bước những bước thật dài tới gần.

    Trưởng toán đếm đầu người của Toán mình rồi khẽ gọi, giọng hơi gắt:
    - 271! Lại đây, ăn cơm.

    271 là số tù của người trung niên nọ. Trong trại, người ta thường gọi người tù bằng con số, bạn thân với nhau mới gọi tên mà thôi.

    271 lừ lừ tiến lại bên một mâm cơm, ngồi xổm xuống như các bạn đồng trại. Trưởng toán cũng ngồi xuống với bốn người kia, thành năm người một mâm. Những tiếng rì rào nói chuyện nổi lên từ đầu hồi đằng này đến đầu hồi đằng kia. Tuy nhiên, chưa ai cầm đũa như còn đợi hiệu lệnh. 271 ngó xuống mâm cơm mà thấy chán ngấy đến cổ họng. Anh ta biết trước không thể nuốt hết được nửa chén cơm. Trái lại, những tù nhân khác lại như nôn nao chờ được ăn vì họ có vẻ đói quá sức. Mâm cơm là một cái mẹt đan bằng những thanh tre dày dặn. Trên mâm, có một địa rau muống, một tô nước rau trong vắt như nước mưa, một dúm muối đựng trong một chén đàn miệng chén mẻ gần hết, và một đĩa muối mè, vì ướt nên mè trở nên sẫm màu. Giữa hai mâm có đặt nồi cơm gạo hẩm đầy tới miệng. Một vài người lộ vẻ nóng ruột ngoái cổ lại phía sau, như để nhìn vật gì mà 271 nhất thời không đoán ra.

    Bỗng ba tiếng kẻng vang lên.

    Tiếng đũa chén lao xao chạm vào nhau cùng với tiếng nói thì thào, tuy nhỏ nhưng vì số người đông bảy tám trăm nên cũng thành ồn ào như phiên chợ nhỏ. Thì ra tiếng kẻng là lệnh cho khởi sự ăn cơm. Trưởng toán lần lượt sới cơm vào các chén. Y sới cơm như máy, vục chén vào nồi xúc mạnh một cái. Cầm ngay ngắn chén cơm, rồi bằng hai chiếc đũa, y gạt ngang miệng chén một lượt. Thế là đã sới xong. Coi kỹ lại, không chén nào nhiều nhơn chén nào một miếng, tưởng chừng có lấy cân mà cân, cũng chỉ đúng đến thế là cùng. Đó là một nghệ thuật và đó cũng là một việc làm thận trọng để tránh những sự phiền phức đôi khi gây nên hậu quả tai hại. Tù nhân có thể giết nhau vì chén cơm nặng nhẹ không đồng đều, hơn kém nhau tới một miếng như đã có nhiều lần xẩy ra tại trại giam này.

    Chén cơm liền được phân chia cho mỗi người. Khi nhận, người nào cũng liếc nhìn chén cơm của người bên cạnh để so sánh với chén cơm của mình. Cử chỉ đó trở thành một cái tật chung của những người quanh năm ăn đói.
    - Anh Toàn! Ăn đi chứ ngồi nhìn à? Cứ ăn đi rồi cũng thấy ngon miệng.

    Tù nhân 271 tên là Toàn. Và người gọi anh ta là Mạnh. Buổi trưa, trong sau mươi phút nghỉ ngơi, Toàn làm quen với người bạn tù cùng giường -tù nhân nằm hai người cùng một giường, có khi ba người vì số tù quá nhiều mà giường ít. Toàn được biết Mạnh bị giam ở Trại Đầm Đùn đã hai tháng. Theo Mạnh nói thì anh ta đã phạm tội với nhân dân vì đã tiếp xúc với viên chỉ huy đội quân Pháp khi đội quân này vào khám xét làng anh để bắt Việt Minh và buộc làng anh vào Tề.

    Nghe Mạnh khuyên, Toàn gượng mỉm cười đáp:
    - Mời các anh xơi cơm đi. Tôi không đói nên không muốn ăn.

    Mấy người cùng mâm nhìn Toàn với vẻ mặt khó hiểu. Toàn không hiểu họ muốn gì, có ý định gì? Toàn có ngờ đâu các bạn tù mong ước được Toàn chia phần cơm còn lại của anh cho họ được ăn thêm vài miếng đỡ đói và đỡ thèm. Tại Trại Giam Đầm Đùn, tù nhân luôn luôn ăn đói. Từ ngày bị giam, bất kể lúc nào, họ cũng như những kẻ chết đói, luôn luôn thèm cơm hay thèm bất kể thức ăn gì khác, miễn có thể bỏ được vào miệng, nuốt được xuống bao tử cho bớt trống rỗng là tốt rồi.

    Trong chế độ trại giam, khẩu phần được chia ra nhiều hạng khác nhau: A-B-C-D v.v... Tùy theo sự xếp hạng, căn cứ vào thành phần và tội trạng nặng nhẹ, tù nhân được ăn theo khẩu phần dành cho mỗi hạng. Hạng A được 4 miệng chén cơm một bữa. Hạng B, 3 miệng chén. Hạng C, 2 miệng chén và hạng D, hạng đói khổ nhất, được một miệng chén (tức là một nắm cơm) với mấy hột muối, không có thức ăn. Nếu phạm lỗi nặng trong trại giam, phạm nhân lập tức bị cùm cả hai chân, mỗi bữa một nắm cơm ăn với muối và không được uống cho tới khi gần chết khát. Có người khát quá, cơ thể khô hết nước, phải tiểu tiện vào tay mà uống. Nhưng ác thay, đã khát thì tiểu tiện lại chỉ được mấy giọt mà thôi, tù nhân đành phải liếm láp bàn tay cho đỡ khát vậy.

    Với Toàn, bữa cơm này là bữa cơm thứ hai theo khẩu phần hạng C, được 2 miệng chén một bữa. Còn cầm chén cơm ngần ngừ chưa ăn miếng nào, anh ta đã thấy mấy người cùng mâm nhất loạt cho một tay vào cạp quần, móc ra mỗi người hai, ba trái ớt rừng đỏ chót. Sau này, Toàn mới biết tù nhân nào cũng ăn rất nhiều ớt mỗi bữa cơm. Thứ nhất là vì ớt có nhiều sinh tố, bù cho cơ thể thêm chút sinh tố nào hay chút ấy. Thứ hai, vì tù nhân tin tưởng ăn được nhiều ớt có thể ngăn chận được phần nào bệnh sốt rét và bệnh báng nước! Tù đi đẵn củi ở rừng thường có dịp kiếm được ớt.

    Chỉ thoáng cái, sau hai ba lần lùa cơm vào miệng, chén của mỗi người đã sạch trơn, họ không dám nhai để chậm tiêu hóa, lâu đói. Dường như đối với tù nhân của trại, hạt cơm chín ngon ngọt quá nên họ ít ăn rau lẫn với cơm, mà nhai cơm riêng, rau riêng. Ăn hết nửa bữa -một miệng chén cơm- trên mâm chỉ còn có chén muối mè: Không ai bảo ai mà họ đồng ý ngầm dành đĩa muối mè cho chén cơm thứ hai mà cũng là chén chót. Trưởng Toán lại sới lượt thứ hai cho năm chén mâm này và năm chén mâm kia. Bữa nay đặc biệt làm sao, còn một lượt mỏng cơm cháy. Trưởng toán bèn vét hết cơm trên mặt cháy, chia đều cho mười chén, mỗi chén may mắn được thêm một miếng "lớn" bằng miếng cơm của đứa bé mới tập ăn cơm hột. Rồi lột miếng cháy ra khỏi đáy nồi, sẻ ra làm mười miếng nhỏ bằng nhau, đặt lên mỗi chén một miếng. Có tiếng người xuýt xoa khen, vì trước khi ăn bằng miệng, họ đã cân nhắc và ăn bằng...mắt:
    - Chà! Cháy ngon quá, chia miếng cháy đúng như chia phần việc làng. Không ai hơn kém!

    Một người bẻ:
    - Sao phần việc làng lại không hơn không kém? Tụi cường hào ác bá chẳng được phần lớn hơn những người khác là gì?

    Nhưng rồi họ cũng nhồm nhoàm ăn luôn, bỏ dở câu chuyện. Mỗi người sớt vào chén một í muối mè để ăn với cháy. Có người đã quay nhìn ra ngoài chứ không chăm chú nhìn vào mâm và dòm chừng như lúc nãy vì một lẽ rất giản dị là mâm đã sạch nhẵn và nồi cũng sạch nhẵn, không còn gì để có thể gây ra tranh chấp nữa.

    Cố ăn hết chén cơm thứ nhất, Toàn không nuốt thêm được nữa. Anh ta thoáng nhớ đến những bữa cơm ở nhà và những bữa tiệc linh đình ở quận, nơi anh ta giúp việc ông Quận Trưởng với tư cách Thư ký hành chánh. Một người cùng mâm nhìn anh rồi hỏi:
    - Ủa, không ăn nữa à? Ăn mau kẻo hết giờ rồi!

    Toàn buồn bã trả lời:
    - Tôi no rồi.

    Hai, ba tiếng cùng cất lên:
    - Thôi, chia cho chúng tôi ăn kẻo phí.

    Toàn vừa gật đầu đồng ý, một người đã chia chén cơm thừa, sẻ ra cho mỗi người một phần. Ăn cùng mâm, có một người gầy gò, ốm yếu, chừng như mới khỏi bệnh ăn trả bữa, sắc mặt còn xanh mét như tàu lá. Anh ta chỉ lùa hai miếng là bát sạch trơn, vừa nhai, anh ta vừa lết lại gần nồi lặt hết những hạt cơm còn dính lại quanh sườn nồi mà bỏ vào miệng rất hùng... hồn! Sau cùng, anh ta đưa hai đầu đũa vào miệng định ngậm sạch những chất cơm tưởng tượng còn dính vào đũa thì có tiếng người nói: "Coi chừng, phạm quan điểm của nhân dân, nghe không?" khiến anh ta sợ hãi lật đật bỏ đũa, đứng lên.

    Nhờ có người nhà mới tiếp tế, Trưởng toán rút trong cạp quần ra một món ăn rất quý: Một quả chuối. Anh ta nhai chuối tóp tép khiến mấy người kia thèm nhỏ rãi. Chao ôi! Ăn cơm xong mà có một trái chuối tráng miệng, còn hạnh phúc nào bằng. Toàn thấy anh ta liệng vỏ chuối trên mâm. Vừa nhìn chỗ khác, khi quay lại. Toàn không thấy vỏ chuối đâu nữa. Ngẫm nghĩ vài giây, anh ta phát giác một sự thật: Không có chuối, tù giành nhau ăn vỏ chuối cũng được no bụng thêm một chút. Sự sống trong Trại Đầm Đùn thật gay go phải giành sự sống từng chút một, khiến người tù bước dần tới mức độ loài vật mà không hề bận tâm.

    Toàn bất giác nén một tiếng thở dài. Có thể một ngày kia nếu cần, anh cũng ăn vỏ chuối một cách thản nhiên như mọi đồng cảnh trong trại. Trong một giây, anh bỗng nhận thấy rằng tranh đấu chống cộng sản đã ghê gớm nhưng tranh đấu, vật lộn để giành lại sự sống còn trong một trại giam cộng sản còn ghê gớm, khó nhọc, tủi cực gấp bao nhiêu lần! Sự thật đã hiển nhiên trước mắt!

    Ý nghĩ trên làm lóe trong óc anh một chân lý, đồng thời bác bỏ hết những quan niệm, những tư tưởng của anh trước đó về sự sống, về cuộc đời: Miễn sao chịu đựng nổi những ngày bị giam cầm để mà sống sót trở về. Bất giác anh thấy tiếc chén cơm vừa bỏ, tiếc vô cùng. Ngu quá! Trong tù, hạt cơm là hạt ngọc, một hạt ngọc ăn được, nuôi sống con người chứ không vô dụng như hạt ngọc dùng để trang sức! Vậy mà anh đã bỏ một bát đầy ngọc thực!

    Bài học đầu tiên trong tù có một tác động mạnh trong đầu óc Toàn đến nỗi khi mọi người đứng lên, bưng mâm chén đi rửa, anh còn bâng khuâng suy nghĩ.
    - Cám ơn anh! Thêm được một miếng cơm anh nhường cho, tôi thấy khỏe lên nhiều lắm. Cần phải khỏe hơn, mai mới xay lúa được.

    Toàn nhìn người vừa thốt ra với anh mấy lời cám ơn. Đó là một người gầy ốm, mặt sáng sủa có vẻ học thức. Anh mỉm cười:
    - Anh em bớt cho nhau miếng cơm, có gì đáng kể. Vả lại tôi cũng không đói.

    Toàn liếc nhìn con số 782 trên ngực người bạn ốm yếu nọ rồi hỏi:
    - Anh "được" vào đây bao lâu rồi?
    - Năm tháng. Tôi tên Tuyên, người Nam Định. Ngày mai, tôi khỏi bệnh và được cắt vào việc xay lúa với anh em...

    Rồi hỏi Toàn:
    - Anh mới vào hả? Ở đâu đưa đến đây?
    - Vào chiều hôm qua. Bị bắt ở Hải Dương.

    Mấy người trong toán, dọn dẹp rửa chén xong, đã quay về ngồi túm năm tụm ba nói chuyện. Toàn mới vào còn bỡ ngỡ nên được anh em cùng toán đặc biệt miễn cho rửa chén. Toán của Toàn ngồi chung lại một góc nói chuyện phiếm, chờ đến giờ học tập. Có toán ra ngồi ngoài sân, có toán ngồi mãi gần góc vườn. Không có lệnh bắt buộc ngồi trong nhà nên họ có thể ngồi tản mát nhiều chỗ trong trại.

    Mạnh cũng lại ngồi bên Toàn và Tuyên nói chuyện phiếm rồi rút ra gói lá chuối trong có dúm thuốc lào. Anh ta móc trong túi một ống tre khô, dài một gang tay và lớn bằng cây bút chì, đặt một mồi thuốc lào nhỏ vào "nõ", bật quẹt châm vào đóm rồi trịnh trọng kéo một hơi dài, lim dim cặp mắt thả khói lên không. Lúc đó Mạnh có cái vẻ mơ màng quên hết cuộc đời tù ngục nhưng không quên cất ngay gói thuốc lào vào trong người.

    Toàn thèm quá, nhưng không còn điếu thuốc nào đành xin Mạnh một điếu, kéo một hơi tàn hết bã. Mới vào tù được 24 giờ đồng hồ, Toàn đã bắt đầu biết quý vật dụng một cách đặc biệt, kể từ điếu thuốc lào.

    Hỏi anh em, Toàn được biết, mỗi ngày ăn cơm chiều xong nửa giờ là mọi người phải học tập một giờ về một vấn đề chính trị hay một vấn đề nào đó liên quan đến sự sinh hoạt và bổn phận của tù nhân trong cộng đồng trại giam. Nhưng có một điều cán bộ học tập không nói ra, đó là trại bắt học tập để biết rõ lập trường và tư tưởng của tù nhân, căn cứ vào đó, người có trách nhiệm quản trị trại sẽ áp dụng những biện pháp thích nghi: Trừng phạt, khoan hồng hay cho "ra bai".

    Toàn biết rõ điều đó lắm nhưng lại chưa biết điều khác. Trong mỗi toán, có tù nhân xin được báo cáo với ban quản trị những điều mà ban quản trị cần biết về tư tưởng, thành phần cũng như hành động và lý lịch của mỗi trại viên, tù nhân đó làm công việc của mật vụ.

    Học tập xong, mọi người được "giải trí" một giờ trước khi ngủ. Nhưng dù mệt nhọc vì công việc lao tác ban ngày đến thế nào chăng nữa, dễ gì vào giường tù nhân ngủ ngay được. Đó là lúc họ kiểm điểm lại công việc trong ngày, coi có sơ suất gì không, về phương diện lao tác cũng như về phương diện phát biểu tư tưởng, trình bầy ý nghĩ với trưởng toán, với nhân viên ban quản trị là hạng người có toàn quyền bắt họ chết hay ban sự sống cho họ. Rồi nghĩ đến gia đình, vợ con, tương lai v.v...Có người, có nhiều người chẩy nước mắt trong bóng tối. Họ khóc mà tuyệt nhiên không có tiếng thút thít vì họ phải nuốt những tiếng thút thít đó vào trong ruột trong gan họ.

    Trong trại thường tội, mỗi giường, một cái chõng tre đúng hơn, có ba tù nhân nằm. Giường chót mới chỉ có hai người nằm là Toàn và Mạnh vì người tù thứ ba chưa...gửi tới trại giam.

    Mỗi tù nhân được một manh chiếu mỏng để đắp, mùa nóng cũng như mùa rét, một gối đầu bằng mấy thanh tre đóng trên hai mẩu gỗ vuông, hình dáng như viên gạch thẻ. Sáng dậy, tù nhân có bổn phận gấp chiếu, đặt đúng chỗ mình nằm cho gọn ghẽ. Tất cả tài sản của tù gói trong manh chiếu này.

    Trại thường tội chia làm nhiều căn, có vách tre ngăn, mỗi căn kê chừng 30 giường, nghĩa là trên nguyên tắc có chín mươi tù nhân một căn. Mỗi căn và mỗi ngày -24 tiếng đồng hồ- có tù nhân được luân phiên cử ra làm nhân viên trực để coi đồng cảnh. Ngoài ra, ban quản trị còn chính thức cử một giám thị, người của ban quản trị, coi tù nhân ban đêm có tù nhân trực phụ tá.

    Luật lệ trại giam là phải kiểm soát lại tù nhân trước khi cho ngủ. Người nào người nấy đều nằm ngửa trên giường chờ làm xong thủ tục. Hai ngọn đèn dầu nhỏ đặt trên kệ đóng sát vách, chiếu sáng xuống một dẫy giường, mỗi dẫy giường có ba người nằm, ngoại trừ hai, ba giường khuyết một hoặc hai người. Đó là những tù nhân vắng mặt tạm thời hay vĩnh viễn mà chưa có người thay thế. Ốm nặng sẽ được nằm ngay trên bệnh xá để điều trị, hoặc phạm tội nặng bị nhốt trong xà lim tối, nằm trên sàn xi măng, còn vắng mặt vĩnh viễn là những người đã bỏ Trại Giam Đầm Đùn đi "chuyến tàu suốt" để sang bên kia thế giới. Thường họ được giải thoát bằng hai cách:

    Mang bệnh mà chết hay bị "ra bai" 1.

    Cách thứ ba ít khi xẩy ra, là vượt ngục. Trên thực tế, ít tù nhân vượt trại giam này mà thoát. Có nhiều tù nhân thắt cổ tự tử trong rừng để khỏi bị đưa ra "hành quyết" khi biết rằng không thể nào trốn thoát được màng lưới của nhân dân. Dưới chế độ cộng sản, nhân dân bắt buộc phải làm tai mắt cho chính quyền.

    Trong cái yên lặng nặng nề của trại giam, viên giám thị leo lên đứng sừng sững trên ghế, ngó vào đám tù nhân nằm, rồi quát vang:
    - Kiểm điểm.

    Ngừng một giây để mọi người đủ thì giờ chuẩn bị, y lại quát:
    - Bắt đầu.

    Tức thì từ số một đến số sau chót, mỗi tù nhân hô to con số thứ tự nằm của mình. Người đầu tiên hố lớn "Một", người kế tiếp hô "Hai". Cứ thế, lần lượt cho đến số chót. Người nào hô lầm số sẽ bị phạt truất nửa hay cả phần cơm hôm sau, nặng hơn nữa thì bị vụt thêm năm hay mười roi song rừng đau quắn thịt, hoàn toàn tùy quyết định của giám thị. Những người hô chậm vì luống cuống cũng bị coi như có ý "bất lương" định trốn hay che chở cho người khác trốn. Miệng giám thị có gang có thép, họ buộc tội như thế nào là đúng lý lẽ như thế, không chối cãi vào đâu được!

    Bữa nay, không có ai hô lầm hay hô chậm số thứ tự của mình, tiếng hô đều đặn nhẩy từng bước, từ miệng tù nhân này đến miệng tù nhân kia cho đến số 85 là hết. Tuy lắng hết tinh thần chờ đến lượt mình mà khi Mạnh hô "84", Toàn cũng cứng lưỡi mất một giây mới hô được "85 chót". May mà giám thị không lưu ý đến sự luống cuống của anh tù mới.

    Giám thị lại gần đèn sáng ghi sổ rồi ra lệnh cho tù nhân trực tắt đèn dầu thay bằng hai đĩa đèn dầu chai thắp bằng sợi bấc rút ở cây bấc ra, phơi khô.


    ******

    2. Thấm thoát, Toàn đã chính thức mặc áo có số của Trại Giam Đầm Đùn được mười ngày. Trong thời gian này, anh chỉ nghe gọi đến tên cúng cơm của anh ba lần cả thảy. Một lần, anh được gọi lên văn phòng ban quản trị. Một nhân viên của trại mặc thường phục nhưng có đeo súng sáu trễ xuống trước bụng, mang kính đen, lừ lừ tiến lại trước mặt anh, khiến anh giật mình toát mồ hôi đẫm người.

    Không khí trong Trại Đầm Đùn thật đáng sợ. Các việc làm nặng nhọc kiệt sức trong và ngoài trại, tình trạng đói khổ liên miên làm hao mòn sức sống của tù nhân, hình dáng những người tù gầy ốm như que củi, quần áo rách tả tơi, ở nơi khác đã phạm tội "công xúc tu sỉ" mà ở Trại Đầm Đùn lại coi là thường, những vết thương lở loét kinh tởm, những chiếc khoen sắt đeo ở cổ chân với những sợi lòi tói sắt quét lê trên mặt đất, những cây roi mây rừng tàn nhẫn, tác dụng như roi cá đuối, những giọt nước mắt, những khuôn mặt méo mó lệch lạc, những tiếng quát tháo, những khẩu súng đen sì có cắm lưỡi lê thỉnh thoảng lại xiên thẳng vào tim vào bụng những người bị chế độ ghét bỏ và thù hận, tất cả những thứ ghê rợn đó tạo nên một làn không khí khủng khiếp luôn luôn bao trùm trại giam. Rồi thì bốn phía quanh trại giam là núi, là rừng, là nhân viên tay chân của chính quyền, tất cả đều thù ghét những kẻ bị kết tội. Nên, nhân viên luôn luôn rình rập để trả thù, để trừng trị những kẻ đã chống lại hoặc đã làm hư hỏng chế độ. Tất cả, người cũng như thiên nhiên và sự việc, liên kết, phối hợp với nhau để đánh mạnh vào kẻ có tội, khiến họ luôn luôn khiếp đảm kinh hoàng.

    Đến nỗi cứ mỗi lần nhân viên ban quản trị gọi đến danh số là tù mất hồn toát mồ hôi lạnh vì biết lành rất ít mà dữ thì nhiều. Phước thay, Toàn chỉ được gọi lên văn phòng để xác nhận lại những đồ vật riêng của anh còn mang trên mình khi bị dẫn vào trong trại giam: Một đồng hồ, một nhẫn cưới bằng vàng, một kính trắng, cùng giấy tờ hộ tịch và ít giấy bạc Đông Dương.

    Nhân viên có phận sự ghi sổ, trừng trừng nhìn vào mặt Toàn khiến anh sợ hãi bất giác cúi gầm mặt xuống -dáng điệu của kẻ phạm tội, rồi mới lạnh lùng cất tiếng:
    - Bao giờ anh được nhân dân tha tội, sẽ được trả lại những thứ này. Còn giấy bạc của giặc thì phải hủy bỏ theo luật lệ, hiểu không?

    Toàn nuốt nước miếng, run run:
    - Dạ, hiểu.

    Nhân viên nhìn Toàn một lát như để nhận diện anh cho kỹ càng hơn rồi sẵng giọng:
    - Thôi, về trại làm việc!

    Toàn cúi đầu kính cẩn tỏ vẻ cám ơn rồi lủi thủi xuống xuống trại, có một nhân viên công an đi kèm phía sau. Anh cắm đầu nhìn xuống đất, chỉ dám ngẩn mặt những lúc cần nhìn lối đi, để tránh gây những thành kiến không hay đối với anh.

    Về đến căn trại, nơi phạm nhân đang lao tác tùy phần việc được giao phó, anh quay lại chào thì không thấy nhân viên công an đâu nữa. Thì ra hắn đã "bỏ" anh từ lúc nào mà anh không biết vì không dám quay lại nhìn, sợ phạm luật lệ nhà giam. Tuy nhiên anh cũng thoáng thấy hắn núp sau một cậy cột ở đằng xa, đang nhìn theo dõi anh. Toàn làm như không biết, bắt tay ngay vào việc.

    Công tác của anh hôm nay là xay lúa, cùng với năm phạm nhân khác. Trong số năm người này, có một ông già tóc đã đốm bạc, tuổi chừng trên dưới sáu mươi, vừa xay lúa vừa thở hổn hển như bị bệnh hen. Hai cánh tay ông già khẳng khiu và tím bầm, gân xanh nổi lên chằng chịt. Dường như ông già vừa làm vừa khóc vì Toàn liếc thấy hai giòng nước mắt long lanh trên bộ mặt loang lỗ vì bụi và cám. Nhưng lát sau, anh thấy ông già vã mồ hôi đầy mặt nên cho là mình trông lầm.

    Toàn luôn tay xay, không dám ngừng lại phút nào vì hai nỗi lo ngại: Thứ nhất, anh biết là ở đâu đó, lúc nào cũng có người theo dõi từng cử chỉ của anh, thứ hai, anh sợ không hoàn tất công tác đúng giờ.

    Theo luật lệ nhà giam, tội nhân phải xay hết, bất cứ bằng cách nào, 10 thúng thóc một ngày, nghĩa là 5 thúng buổi sáng và 5 thúng buổi chiều. Mỗi cối xay nửa thúng. Khi tiếng kẻng báo giờ nghỉ nổi lên, tội nhân phải có đủ 5 thúng gạo cất vào kho.

    Xay lúa là công việc nhẹ nhất mà tù nhân phải làm nên thường dành cho tù mới lành bịnh, tù nhân nhẹ tội hoặc mới vào trại. Tuy làm việc nhẹ, tù nhân vẫn phải làm đều tay, cần cối không mấy khi ngừng ngang trừ những lúc phải đổ thóc vào cối. Làm việc được một, hai tiếng đồng hồ, người nào cũng đổ mồ hôi hột dù trời rét, thỉnh thoảng họ dùng ngón tay vuốt một hai cái trên trán để gạt mồ hôi cho khỏi chảy vào mắt.

    Làm lâu quen việc, cứ đến giờ nghỉ trưa tù nhân đã xay xong trên 5 thúng và khoảng xế chiều là họ xay những cối cuối cùng. Họ trông bóng nắng để ước lượng thì giờ đặng xay cho kịp.

    Làm việc được chừng hai tiếng đồng hồ sau giấc nghỉ buổi trưa, người nào cũng lộ vẻ mệt mỏi, tay đẩy cần cối không được đều hòa như trước và thường hay nghỉ...vặt. Và họ cảm thấy đói bụng, đói lắm...

    Toàn thấy bụng sôi "òm ọp" như có giun quấy phá. Cái cảm giác đói mỗi phút càng thêm rõ rệt, muốn rã rời cả chân tay. Mắt anh có lúc hoa lên, nhìn không rõ. Toàn ao ước có được một miếng cơm cháy bỏ vào miệng nhai thì dễ chịu, khỏe sức biết chừng nào. Anh không dám uống thêm nước vì đã có ít nhiều kinh nghiệm sau mười mấy ngày trong trại giam: Lúc đói mà uống nhiều nước sẽ bị nôn thốc nôn tháo ngay.

    Mà nôn thì mệt và mất sức, không thể tiếp tục công việc một cách bình thường!

    Cách anh độ mươi thước, một tù nhân già vẫn đều tay xay nhưng coi bộ hết "tủy", lết không muốn nổi nữa. Toàn suýt bật cười vì thấy ông ta không xay lúa bằng hai cánh tay mà dùng sức nặng của cả thân hình để đẩy cần cối. Hiển nhiên, hai cánh tay không còn sức.

    Cạnh cối của ông già có ba thúng lúa đầy chưa rờ tới, trong khi Toàn chỉ còn mỗi một thúng. Toàn thấy thương hại ông già quá, định cố gắng xay cho mau hết phần của mình, rồi xay giúp ông một thúng, chắc chắn ông già xay không kịp. Mà xay không kịp đương nhiên bị trừng phạt, nhẹ thì bị giảm phần cơm, nặng thì bị giam vào hầm tối thêm năm, mười roi cháy da, bứt thịt.

    Ý nghĩ "giảm phần cơm" khiến Toàn tỉnh hẳn người như đang mê mà chợt tỉnh. Hai cánh tay anh như có thêm sức mạnh bên ngoài phụ lực, thớt cối xiết vào nhau nghe rào rào như tiếng mưa rơi trên mái lá. Chừng như ông già khẳng khiu kia nghe thấy tiếng cối xay khác lạ nên quay lại nhìn Toàn rồi nhìn xuống mấy thúng thóc của mình chưa làm tới. Từ lúc đó, ông già như được thêm ý chí, xay đều tay hơn.

    Hai tay đẩy cần cối đều như máy, Toàn liếc nhìn trại bên kia, ngăn cách với trại bên này bằng một hàng rào nứa rừng dựng xeo xéo. Đó là trại giam gần hai trăm tù nhân Pháp, theo như anh em trong trại cho biết. Lúc này, có ba bốn tội nhân Pháp đang xay lúa dưới hiên. Mới đầu, Toàn thấy lạ mắt trước cảnh tượng tù Pháp xay lúa theo lối cổ lỗ của dân quê Việt Nam. Bị bệnh và cái đói kinh niên hành hạ, anh nào cũng khẳng khiu như cây sào. Mặc dầu vậy, Toàn nghe nói họ xay lúa rất khỏe, lần nào cũng xong việc trước giờ cả tiếng đồng hồ.

    Trong chế độ trại giam, tù nhân Pháp được hưởng khẩu phần đồng đều: Loại A. Nghĩa là họ được hưởng 4 chén cơm một bữa ăn. Nhưng họ cũng đói như tù Việt. Vốn quen ăn nhiều thịt nên khi họ chỉ được ăn cơm với chút xíu thịt trâu bạc nhạc mỗi bữa, họ luôn luôn đói và thèm ăn bất kể thức gì có thể ăn được.

    Khi đói, người ta giống nhau bởi sự thèm muốn, tư cách và hành động. Và khi đói, người ta trở nên gần gũi với loài vật hơn, nghĩa là làm theo bản năng hơn lý trí. Nhận xét này được chứng minh rõ rệt ở trong tù.

    Bất cứ người nào cũng sợ đói như nhau. Và vì đói cơm ăn trở thành ngọc thực, một miếng cơm hơn kém có thể gây nên loạn đả, một chén cơm gây ra những án mạng chết người. Một câu chuyện xảy ra trong trại giam tù nhân Pháp vẫn thường được nhắc lại trong trại người Việt.

    Một lần kia, sáu tù nhân Pháp được cắt đi vác tre từ bến sông về. Mỗi người có phận sự vác mười cây tre. Cả đi lẫn về, đường dài tổng cộng là hai mươi cây số, mười cây số đi tay không và mười cây số vác cây tre, nặng chừng hơn mười ký lô. Trong sáu tù nhân được giao phó "công tác nặng" này, có một người mới khỏi bệnh nên vác đến cây thứ tám thì kiệt sức, ngã lên ngã xuống bốn lần trên khoảng đường từ bờ sông về trại. Lần cuối cùng ngã xuống, chẳng may anh ta bị cây tre rớt theo đà giáng một cái vào đầu nên bất tỉnh luôn. Không biết ngất bao lâu, đến lúc tỉnh dậy anh trông trước trông sau, cả trưởng toán lẫn người cảnh vệ đi kiểm soát cũng không thấy. Đường rừng vắng vẻ, trời đã về chiều, bóng đêm sắp xuống...Một ý tưởng thoáng trong trí: Trốn! Anh ta vừa lau vết máu trên mặt vừa suy nghĩ rất nhanh. Nhưng khi nhìn lại chiếc áo tù và con số trên ngực với hai chữ "FN" 1, anh ta trở lại sáng suốt, lẳng lặng vác tre lên vai lừng lững về trại. Được mấy bước, nghe có tiếng chân phía sau, ngoái trông lại, anh ta thấy viên cảnh vệ lăm lăm khẩu súng trường có cắm lưỡi lê vẫn theo sau từ bao giờ. Anh ta không ngờ người lính đó đã nhẩy xuống nấp dưới hố liền khi thấy anh ngã, sẵn sàng nổ súng nếu anh rời xa con lộ nhỏ được chỉ định quá mười thước. Về đến trại, vì kiệt sức, anh điều đình với người bạn cùng toán, vác thay cho anh cây tre chót, trả công một chén cơm buổi chiều. Hai bên thỏa thuận.

    Bữa cơm chiều, trái với lời hứa vì quá đói, ăn hết ba chén cơm vẫn chưa thấm gì, anh tù đổi giọng, khất đến chiều hôm sau sẽ trả công chén cơm đã hứa. Thế là cuộc xung đột xẩy ra, dữ dội như cuộc xung đột giữa hai kẻ thù không đội trời chung khiến anh ta bị gẫy hai cái răng cửa và té bất tỉnh vì một cú đấm thẳng vào giữa mặt. Kết quả là cả hai bị nhốt trong hầm tối hai ngày và truất nửa khẩu phần, bốn bữa ăn cơm với muối trắng.

    Về vụ tranh nhau ăn trong trại giam, có nhiều chuyện tức cười và thương tâm không nói xiết, người tù nào đã trông hay nghe kể lại, sẽ không bao giờ quên được.

    Môt lần, một bọn tù Pháp và một bọn tù Việt được cử đi làm công tác chung: Làm cỏ một sườn đồi để canh tác hoa mầu và cấy lúa thêm cho trại giam. Hai bên chia nhau, mỗi bên làm phân nửa diện tích, phải nhặt cỏ, chặt cây. Đến giờ nghỉ, một tù nhân Pháp mừng quýnh, cặp mắt biếc long lanh vì thèm: Trong khi cuốc đất làm cỏ, anh ta bắt được một con cóc lớn từ trong hốc đá nhẩy ra. Sau khi đập chết con cóc, anh ta dùng dao rừng rạch một đường ở sống lưng "cậu ông Trời" lột phăng làn da sù sì phát tởm liệng đi, mổ bụng moi bỏ hết ruột gan, chặt đầu cóc, bức lá vò ra để chùi máu cho sạch rồi lăng xăng xin người lính gác mồi lửa châm vào đống lá khô. Có lửa rồi, anh bỏ mấy cành cây khô đốt lấy than đặng nướng thịt cóc cho chín vàng. Mỡ cóc cháy xèo xèo thơm phức khiến nhiều anh tù rỏ rãi. Nướng một lát, chừng nóng ruột quá, tù nhân vừa may mắn vớ được "món bở" cầm cả con cóc lên táp một miếng, cắn đứt gọn hai cái đùi chín vàng ăn trước. Trong khi nhồm nhoàm nhai, anh ta tiếp tục nướng cóc một tay, còn tay kia moi ở túi quần ra mấy trái ớt, bỏ vào miệng "đưa cay" rất ngon lành. Mấy "khán giả" đứng gần không biết có thèm không nhưng nhún vai rồi cười gượng một cách khó hiểu.

    Cũng chiều hôm đó, trước khi ra về, lính cảnh vệ đặc biệt cho phép tù nhân được tắm ở con suối chảy ngang chân đồi. Một tù nhân đang tắm bỗng đứng lặng nhìn chòng chọc vào hòn đá cách anh ta dăm thước. Rồi anh ta vụt chạy lên bờ, lội xuống chỗ vừa quan sát như khám phá ra vật gì đặc biệt.

    Cả bọn tò mò nhìn theo. Anh chàng kia lên bờ, giơ cao một vật tròn tròn và đen thui bóng loáng cầm ở tay. Đó là một con ốc nhồi. Cả bọn tù đều "ồ" lên một tiếng vừa ngạc nhiên vừa mừng.

    Không cần suy nghĩ, anh tù mũi lõ cầm ngay ngắn con ốc rồi mài xoèn xoẹt trôn ốc trên tảng đá, rất thành thạo. Con ốc bị "bỏng" đít đành thò đầu ra khỏi vỏ. Chỉ đợi có thế, anh tù dùng răng cửa cắn chặt vẩy ốc, nhất định không cho ốc thụt đầu vào trong vỏ, dằng mạnh một cái là cả mình con ốc sút ra ngoài. Anh ta bóp vào bụng ốc để loại bỏ cái chất không tiêu thụ được, rồi ngắm nghía qua loa trước khi bỏ tọt con ốc sống vào miệng trệu trạo nhai thành tiếng sừng sựt. Thịt ốc dai nên mãi mới thấy anh ta vươn cổ ra nuốt, yết hầu chỉ nhấp nhô chuyển động có hai cái là xong. Chừng ăn rồi mới thấy tanh tưởi, anh ta cúi xuống ngậm nước suối súc miệng hai ba lần. Lúc lên đường về trại, không biết nghĩ sao, anh ta còn lấy ớt trong túi ra nhai một nửa trái.

    Một lần, một bọn tù nhân Việt đi cầy ruộng. Đêm hôm trước mưa lớn nên ruộng cầy lõm bõm những nước. Người cầy bỗng "họ" trâu đứng lại. "Trâu" đây là năm người tù đeo dây vào bả vai thay trâu kéo cầy. Người cầm cầy báo động cho "trâu" biết trong ruộng có nhiều cá, mưa xuống nên cá ở dưới suối "rạch" lên ruộng. Rồi cả bọn tiếp tục cầy cho đến hết giờ. Không biết làm cách nào mà chỉ trong giờ nghỉ, họ bắt được bẩy con cá rô lớn bằng hai ngón tay, rồi kiếm một sợi cỏ cứng xâu qua hai bên mang thành một xâu cá. Về đến trại, họ cử người "vận động" với nhà bếp nấu cho họ một bát canh cá với trái sấu rừng "ngon tuyệt trần đời ăn quên chết" như họ nói. Bữa cơm, mỗi người húp vài miếng tấm tắc khen ngon: "Thật không kém gì ăn bát yến". Cuối bữa, bẩy con cá rô hoàn toàn không để lại vết tích gì trên mâm.

    Bữa tiệc cá rô này thỉnh thoảng vẫn được tù nhân nhắc lại với những lời lẽ nồng nhiệt để làm tăng thêm "khẩu vị" cho bữa cơm thường lệ.

    ° ° °

    Nhớ đến bữa cơm, Toàn đã thấy khẩu phần ít quá, mỗi bữa phải thêm hai chén nữa mới tạm lưng lửng bụng. Không như mấy bữa đầu tiên không nuốt được, Toàn đã ăn với vẻ ngon lành háo hức như mọi người trong trại. Anh thiết tha mong chóng được lên hạng B nghĩa là được ba chén một bữa cho đỡ đói. Nhưng bỗng anh đăm đăm nhìn.

    Bốn, năm người cảnh vệ từ ngoài sân bước vào, súng ống hẳn hoi, trong thế sắp xung kích.

    Ai nấy lật đật đứng xích lại gần cối của mình, chờ nhân viên ban quản trị kiểm soát trước khi mang gạo vào kho.

    Toàn nhận thấy chiều nay, nhân viên ban quản trị nghiêm nghị khác thường. Họ chia nhau tản ra khắp nơi trong trại chứ không đi từng bọn như mọi lần. Toàn đưa mắt nhìn Mạnh có ý hỏi, Mạnh cũng lộ vẻ không hiểu. Còn ông già tóc bạc thì không để ý đến sự khác lạ, miễn sao xong việc đúng giờ là mừng quá rồi.

    Nghe tiếng ồn ào ở ngoài sân, Toàn và Mạnh vội nhìn ra: Bọn tù đi gánh than từ hôm trước, hôm nay trở về mặt mũi quần áo người nào cũng lem luốc những bụi than. Sau khi sắp hàng nghiêm chỉnh trình diện giám thị để kiểm điểm lại, tù nhân làm than vào trong sân ngồi nghỉ trước khi ra tắm rửa ngoài ao. Trong khi đó, trưởng toán đi theo giám thị lên văn phòng, như có việc gì quan trọng cần báo cáo gấp. Tiếng xì xào lại bắt đầu. Tuy luật lệ trại giam nghiêm ngặt như thế mà đã có tin vừa xẩy ra một vụ tù trốn trong khi làm củi trong rừng.

    Tuy thầm mong cho người tù trốn vượt qua những trở ngại dọc đường, nhưng Toàn chưa dám nghĩ đến việc trốn về vùng quốc gia. Lần này, quan trọng hơn, tên tù trốn lại là một trưởng ngành trong Tổ Sản Xuất-Tiết Kiệm, nghĩa là một tù nhân được ban quản trị tương đối tín nhiệm. Y mới được cất lên chức trưởng ngành củi nhờ sự học tập hăng hái, tiến bộ, nhờ có tư tưởng giác ngộ và nhiều thiện chí muốn chuộc lại "tội đối với nhân dân".

    Bữa cơm đó, tù nhân ít chuyện trò, anh nào cũng muốn chóng xong bữa, cho khỏi bị tai bay vạ gió vì những câu lỡ lời hay những chuyện không đâu...

    --------------------------------
    1 FN: Phạm nhân.


    _______________________________

    3. Đến sáng hôm sau, tất cả tù nhân Trại Giam Đầm Đùn đều hay là trưởng toán 15 (chứ không phải trưởng ngành như tin đầu tiên) đã trốn trong lúc làm củi ở rừng. Những người đeo số tù từ lâu và có dịp đi làm củi với trưởng toán 15 thẩy đều lấy làm ngạc nhiên, không ngờ anh nọ lại có gan đến thế. Cho hay không thể trông mặt mà bắt hình dong, nhất là trông tướng mạo của người đang ở tù.

    Tù nhân cùng toán hoặc là bạn cùng giường cùng trại tương đối thân, mới dám thì thào với nhau về những "giai thoại" hay những thành tích của người vừa trốn. Trong trại, người ta gọi tù bằng số và nhắc đến "thành tích" của mỗi người. Đại khái: Thằng cha ăn cóc, ăn vỏ chuối v.v...Tuy vậy, không phải bất cứ lúc nào cũng cứ thì thầm bàn tán mà chết uổng mạng. Chỉ khi nhìn trước nhìn sau không thấy giám thị, không thấy cảnh vệ, không thấy cả những tù nhân khác trại mới dám nói vài lời...Nhưng những người khôn ngoan, có kinh nghiệm, có thủ đoạn và có óc tự chủ, luôn luôn lạnh lùng nín như thóc, việc của ai người ấy làm, không liên hệ và không biết gì đến việc tù trốn, coi như việc ấy xẩy ra ở đâu đâu chứ không phải trong trại giam này.

    Nhưng vì lý do gì trưởng toán 15 đang đi làm củi trong rừng chỉ huy mấy chục tù nhân, lại bỏ trốn? Trong toán đi làm củi có tay chân, có đồng chí của anh ta, phụ giúp một cách gián tiếp hay trực tiếp không? Dù sao, phải quá một tuần lễ mà không bị bắt trở lại, tù nhân mới có phần nào hy vọng thoát. Lệ thường, chỉ hai, ba ngày tù nhân trốn trại quay đầu về trại giam vì lý do này hay vì lý do khác.

    Vượt Trại Đầm Đùn, người tù đã đem tính mệnh ra đánh một tiếng bạc, thua tiếng bạc đó, coi như kết liễu luôn đời mình. Mà thua tiếng bạc là cái chắc vì cái may chỉ bằng một phần mười cái rủi: Chín cửa tử, một cửa sinh! Họ đặt vấn đề như vậy khi tính toán vượt ngục.

    Tin tù mới trốn trong khi đi làm củi ở rừng đã lan đến trại giam tù nhân Pháp. Mấy anh tù mắt biếc mũi lõ nhìn sang phía trại Việt mà mỉm cười để tỏ sự thích thú cảm phục và đồng lõa trên phương diện nguyên tắc. Vì từ khi có Trại Giam Đầm Đùn đến giờ, chưa có tù nhân Pháp nào dám vượt ngục.

    Hôm nay, Toàn được may mắn làm việc trong trại. Buổi sáng tưới cây, gánh nước đổ vào ruộng rau muống, buổi chiều xếp dọn cho gọn ghẽ vựa củi. Nghĩa là công việc tương đối nhẹ so với việc đi cày, đi cuốc đất, vào rừng làm củi hay vất vả hơn nữa, vào rừng làm than. Tuyên, Mạnh và ông già tóc bạc xay lúa chiều hôm qua không được may mắn như Toàn, đã đi làm củi rồi.

    Công việc làm củi rất nặng nề, nhất là đối với những người bệnh hoạn, yếu đuối già cả như ông già tóc bạc nọ. Vậy mà sau bữa cơm sáng của tù nhân, nhân viên ban quản trị xuống trại, tập trung tù nhân lại thành hàng, rồi hỏi:
    - Tổ Sản Xuất Tiết Kiệm cần thêm 10 người làm củi ngày hôm nay. Trại viên nào "xin" xung phong?

    Tiếng nhao nhao nổi lên rồi những cánh tay giơ cao. Nhân viên ban quản trị liếc nhìn tổng quát một lượt, đứng né sang một bên, cánh tay chỉ lên trời hơi nghiêng về phía trước. Chừng chín, mười người nhanh nhẹn tách khỏi hàng ngũ, xắp thành một tốp trước mặt viên giám thị. Kiểm điểm lại có Tuyên, Mạnh và ông già ốm yếu tóc bạc cùng mấy tù nhân khác. Trong trại giam chỉ thiếu người, thiếu thiện chí chứ không thiếu công việc.

    Một bọn hơn bốn chục người do trưởng ngành củi dẫn ra cổng để vào rừng. Mỗi người có một con dao rừng và 2 người chung nhau một chiếc rìu, loại rìu đốn cây trên rừng do ban thợ rèn của trại giam chế tạo. Tù sẽ phải đổ mồ hôi trong rừng, đến xế chiều mới trở về trại với cái kết quả cụ thể họ sẽ gánh trên vai. Củi này mang về trại, xếp thứ tự vào một khu, một phần dùng vào việc đun nấu cho trại giam. Còn phần khác, Tổ Sản Xuất Tiết Kiệm sẽ trao cho các hợp tác xã, cho mậu dịch, để bán lại cho dân chúng tiêu thụ hay chuyển nhượng cho các cơ quan quân sự và dân sự.

    Công việc đẵn củi sẽ làm từ sáng cho tới chiều được nghỉ giải lao khoảng 2 tiếng đồng hồ vào buổi trưa. Giờ nghỉ, tù nhân có thể ngủ, tắm rửa ở suối, hoặc kiếm những trái cây ăn được như xim, ổi, chuối, muỗm...ăn lén cho đỡ đói. Hoặc nếu có hoàn cảnh, họ sẽ tìm bắt thú rừng làm thịt để đánh chén, chuột rừng, sóc, rắn...Nhưng phải coi chừng giám thị.

    Như thế, ta thấy tù nhân lao tác ngoài trại được tự do hơn. Vừa làm vừa nghỉ tùy ý, miễn là lúc kiểm điểm công tác trước khi về trại, tù nhân đã làm đầy đủ bổn phận theo tiêu chuẩn ban quản trị ấn định là được rồi. Những người làm củi phải gánh một số lượng củi tối thiểu là 50 ký lô trên khoảng đường dài 12 cây số. Ngoài ra, còn phải làm sẵn một gánh củi lưu lại trong rừng.

    Vào đến rừng, tù nhân quây quần đốn cây trong một khu dưới sự trông coi của một giám thị, hay cảnh vệ võ trang súng trường có cắm lưỡi lê. Có hai lý do buộc tù nhân làm việc gần nhau: Để tiện việc kiểm soát cho giám thị và đề phòng hổ, báo, trăn...là những thú rừng có thể xuất hiện bất chợt bắt người ăn thịt mà không kể con mồi gầy ốm hay béo tốt.

    Từ trại đến khu rừng làm củi, đi mất hai tiếng rưỡi. Nên khi tù bắt tay vào làm việc, mặt trời đã lên cao, phải làm gấp mới kịp. Tù nhân có thể riêng rẽ lựa cây, đốn ngã rồi chặt ra từng khúc dài một thước, chẻ nhỏ ra rồi cột làm hai bó bằng song rừng hay dây nâu, đường kính mỗi bó tối thiểu là bốn mươi phân. Muốn tiện việc hơn, họ thường lựa những cành cây bằng cổ tay, chặt dài một thước. Rồi họ kiếm một cành cây vừa vặn làm đòn gánh, vạt nhọn hai đầu đòn, xiên ngập vào hai bó củi gánh về. Còn gánh củi làm sẵn sẽ có người tới gánh sau.

    Nhưng tù nhân lại cũng có thể liên hiệp với nhau, hai ba người hoặc bốn năm người một bọn, để chung sức hạ một cây lớn có khi tay ôm, rồi chia ra từng phần, mỗi người làm phần của mình miễn sao cho đủ số lượng 2 gánh bắt buộc là được.

    Một trong những tốp đẵn củi hôm nay gồm bốn người, ba người mà bạn đọc đã nghe nói đến là Mạnh, Tuyên, ông già tóc bạc ốm yếu và người thứ tư tên Thanh, tuổi gần bốn mươi, tương đối vạm vỡ và có vẻ giang hồ từng trải nhất. Tuy không thân với Thanh nhưng cả ba người kia đều có cảm tình, vì Thanh tính tình vui vẻ, chuyện trò cởi mở tuy cười nói có chừng mực, ít khi to tiếng với anh em. Thanh vào Trại Đầm Đùn đã hơn năm nay -theo như anh kể với anh em nhân một bữa đi rừng- khi còn ở "ngoài đời" làm thơ máy xe lửa. Trong bốn người cùng bọn, anh là người sức lực và nhanh nhẹn nhất, hơn Mạnh và Tuyên nhiều. Cái đó cũng dễ hiểu khi ta biết Mạnh là con một tiểu điền chủ nghĩa là thuộc giai cấp tiểu tư sản thôn quê, quanh năm ăn chơi "chỉ tay năm ngón" sai người làm, chứ trên thực tế không trực tiếp bắt tay làm công việc cày sâu cuốc bẫm bao giờ. Còn Tuyên vốn là một công tử phong lưu trước kia, nhờ có tiền bạc mà chẳng khi nào cần đến sức mạnh của bắp thịt.

    Cả bốn người lựa cây rồi đồng ý hạ một cây soan mọc lẻ loi gần chân núi, cách xa chỗ làm của mọi người đến trăm thước. Nhưng, giữa hai nơi làm việc, cây cối khá quang đãng, sự canh phòng và kiểm soát của người cảnh vệ không bị cản trở.

    Mạnh bàn với mấy người cùng tốp "hạ" cây soan bằng một giọng thành thực:
    - Chúng ta làm riêng tại một chỗ như thế này, càng tự nhiên và dễ nói chuyện "bù khú" với nhau hơn.

    Thanh nhìn Mạnh thoáng vẻ nghi ngờ, suy nghĩ giây lát rồi nói một cách tự nhiên:
    - Phải rồi! Làm riêng ở một chỗ thì tự do hơn, không bị nhòm ngó, miễn sao ta xong công việc trước giờ làm là được.

    Rồi anh cười như dò xét ý tứ của Tuyên và Mạnh:
    - Nhưng chúng ta có điều gì bí mật đâu?

    Thật ra, Thanh là một trong số tù nhân bị ban quản trị trại theo dõi nhiều nhất. Cơm ăn trong tù thiếu thốn, việc làm khổ cực như thế mà Thanh vẫn cứ mạnh khỏe như thường. Và không mấy khi tỏ vẻ rầu rĩ nhớ nhà, nhớ vợ con nhất là nhớ cuộc đời tự do bên ngoài. Thanh là phần tử "bất cần" hay y đang "có nhiệm vụ" gì trong trại giam nên không rầu rĩ?

    Mạnh cười xòa nhắc lại một câu thường nói trong các buổi học tập như con vẹt:
    - Chúng ta đã vào đây còn có điều gì là "bí mật" nữa? Chỉ mong sớm giác ngộ, tiến bộ, tẩy não cho sạch những tư tưởng lạc hậu phản cách mạng, để sớm được nhân dân tha thứ...

    Ông già tóc bạc nghe đến đây chừng nóng ruột, ngước nhìn lên trời cao mà thở dài:
    - Thôi, anh em chúng ta bắt tay vào việc đi kẻo nắng sắp đứng bóng rồi.

    Mọi người như chợt nhận ra, lăng xăng bắt tay vào việc.

    Cây soan khá lớn, đường kính dưới gốc tới bốn mươi phân. Để bắt đầu, Tuyên và mạnh leo lên trên cao, chặt bớt những cành lớn, những chạc ba trong khi Thanh chặt ướm vào gốc cây.

    Ngồi trên cành cao, Mạnh chặt ít nhát dao rồi nhân lúc nghỉ tay, lơ đãng nhìn bốn phía. Càng sâu vào trong núi, rừng càng rậm rạp, vắng lặng không một bóng người. Phía dưới thung lũng, con đường mòn ngoằn ngoèo khi ẩn khi hiện sau những tảng đá, bụi cây, dẫn đến những nhà sàn lênh khênh đứng rải rác của dân sơn cước. Vài con trâu đang gặm cỏ ở thung lũng.

    Trong làn không khí u tịch như vậy, chỉ nghe những tiếng rìu, tiếng dao chặt cây chan chát, lúc khoan, lúc mau. Thỉnh thoảng những tiếng "quát" báo hiệu đề phòng rồi tiếng cành cây gẫy răng rắc, rớt trên mặt đất rào rào. Tiếp sau là những tiếng hò reo mừng rỡ, tiếng gọi nhau oang oang đội vào tận vách núi.

    Tiếng rìu chặt "bốp...chát" không ngừng nghỉ. Ai nấy đều hối hả làm việc. Chặt hết cành, Tuyên và Mạnh tuột xuống đất tiếp tay Thanh đốn gốc để hạ nằm cây soan xuống. Ông già tóc bạc ra suối mài lưỡi rìu xong đưa cho Thanh.

    Thanh vuốt mồ hôi đầm đìa trên mặt, chậm rãi bảo ông già:
    - Ông ra suối mài lưỡi dao này, lát nữa tôi nghỉ ông sẽ tiếp tay chặt gốc cho mau đứt.

    Ông già tóc bạc xách dao ra bờ suối, kiếm một tảng đá nhấp nhô trên mặt nước ngồi xuống, lừng lững mài...Thỉnh thoảng ông cầm lưỡi dao lên, lấy đầu ngón tay đưa ngang qua lưỡi để thử...đầu óc ông lưởng vưởng những chuyện đau buồn xẩy ra cho ông hồi gần đây.

    Máu chẩy rươm rướm theo nếp nhăn ở cổ chân từ lúc nào mà ông không biết. Mấy ngày trước, còn phải đeo xiềng ở cả hai chân, cạnh khoen sắt cọ vào làm xây xát da rồi lở loét vì không có điều kiện giữ gìn sạch sẽ, nay gặp lúc trời vào tiết mạnh Đông, gió hanh thổi, da dẻ khô nẻ nên bật máu tươi, xót quá sức. Ông già vừa đau cổ chân vừa bực mình, lại cám cảnh cho thân phận, tiện tay tạt nước ở suối lên cho trôi những vệt máu, chẳng cần biết nước suối độc có thể gây tai hại ghê gớm cho vết thương.

    Rồi ông tập tễnh xách dao mới mài đưa cho Thanh đổi lấy chiếc rìu, tiếp tay đốn gốc cây như điên như khùng. Bao nhiêu nỗi tức giận buồn phiền trong lòng ông bỗng nhiên phát ra và biến thành những nhát rìu chặt chan chát vào gốc cây, những mảnh gỗ vụn văng tứ phía. Chẳng mấy lúc, ông già đã chặt đứt được thêm quá nửa gang tay. Chừng như ông đã thấm mệt nên rìu "phạt" vào gốc cây không còn được chắc tay nữa.

    Nhưng ông già vừa thở hổn hển vừa vung rìu chặt lấy chặt để, hình như ông muốn hoạt động mê man cho đầu óc khỏi có thì giờ nghĩ đến bất cứ chuyện gì khác.

    Thanh, Tuyên và Mạnh đều nhận thấy có điểm bất thường trong cử chỉ và hành động của ông già, tò mò đưa mắt nhìn nhau. Thấy tay rìu của ông già lật bật không còn vững vàng, sợ rìu sút khỏi tay có thể gây tai nạn cho người làm bên cạnh, cả Thanh lẫn Mạnh đều ngỏ lời can ngăn:
    - Thôi, ông già hãy nghỉ một lát, chúng tôi tiếp tay cho...

    Ông già tóc bạc như bừng tỉnh, nhìn hai người như tỏ vẻ cảm ơn một cách buồn bã. Rồi ông lững thững đến ngồi dựa lưng vào một gốc cây gần đó mà hổn hển, hai đầu xương bả vai nhô lên thụt xuống theo nhịp thở...

    Ông già vừa mệt mỏi chán nản, vừa lo cho những ngày sắp tới. Chế độ giam cầm trong trại giam cộng sản cay nghiệt như vậy, chắc chắn ông không còn sống được bao lâu nữa. Ông biết làm củi ở rừng là công việc nặng nhọc nhưng làm việc khác trong trại cũng chẳng nhẹ hơn gì. Mà không chịu làm việc hăng hái như mọi người, hoặc lẩn tránh công việc, tù nhân sẽ bị trừng phạt, xiềng cả hai chân, nằm trên giường và "được" giám thị mắng, chửi một cách mát mẻ, trước khi bắt thọ hình phạt thật nhẹ mà giết người một cách chắc chắn.
    - Anh không chịu làm việc hả? Anh muốn "làm vua" phải không? Vậy thì cho anh được làm vua, không phải mó tay vào việc gì ngoài việc ăn và ngồi chơi.

    Đúng, viên giám thị nói đúng. Tù nhân không chịu xung phong hay cố gắng thi đua một tháng tối thiểu mười lần sẽ được ngồi chơi hoàn toàn nhưng bị xiềng và cùm luôn, mỗi bữa được lưng chén cơm ăn với muối, không được uống nước cho tới khi gần chết khát! Như thế chẳng bao lâu anh tù làm biếng bị phù lên mà chết. Ngược lại, có người không chịu làm việc, bị phạt cuốc hai sào đất ngoài nắng suốt 12 tiếng đồng hồ một ngày, một người cầm roi song rừng đứng canh chừng bên cạnh, cứ thấy anh tù ngơi cuốc là vụt túi bụi không tiếc tay. Phải công nhận cách chữa bệnh lười của Trại Đầm Đùn thật là hiệu nghiệm. Người lỳ lợm đến đâu cũng khỏi bệnh trừ phi nhất định tìm cái chết để giải thoát mọi sự.

    Ông già tóc bạc không muốn làm "vua" nên khi Tổ Sản Xuất Tiết Kiệm cần người làm củi, ông xung phong liền. Nhưng ông còn mục đích thực hiện một ý định tối hậu.

    Trong khi một người chặt cành, hai người chặt gốc. Chẳng mấy chốc, chỉ còn một thân cây đứng thẳng trụi hết cành lá. Ông già đã bớt mệt, chạy lại tiếp tay. Thanh lẳng lặng leo lên ngồi trên một hòn đá cao, phanh ngực áo cho bớt nực. Mạnh đang chặt gốc bỗng chống rìu xuống đất, xòe hai bàn tay ửng đỏ, nhổ nước miếng vào lòng bàn tay, xoa xoa hai tay vào nhau rồi cầm rìu tiếp tục chặt chan chát. Hai bàn tay của Mạnh đã rát như phải bỏng.

    Tuyên sắp sửa vào đốn tiếp gốc cây, bỗng có người la lớn:
    - Coi chừng! Cây đổ! Cây đổ!

    Tuyên vừa chạy ra ngoài tầm thì cây đổ rầm. Mấy cái miệng cùng reo mừng, nhưng không ai để ý đến sự vắng mặt của Thanh.

    Bây giờ là lúc chia thân cây thành từng khúc rồi chẻ ra từng thanh nhỏ bằng cánh tay.

    Đến lúc nghỉ giải lao, mỗi người chẻ được chừng một bó. Người nào thường làm củi và có sức lực làm được một bó rưỡi. Tới giờ phút này, ai nấy đều mệt mỏi rã rời và đói. Nhất là khát.

    Người mang theo ống nứa đựng nước thì có sẵn nước để giải khát, có người xin phép lính đến nhà thổ dân gần đấy kiếm miếng nước. Người lười và liều chép miệng ra suối kiếm quãng nước sâu, bụm tay lại vốc lên mà uống đỡ trước khi rửa mặt mũi tay chân hay tắm rửa.

    Mọi người đói bụng như cào, nhưng không ai dám lên tiếng phàn nàn. Đành là kiếm chỗ, rải lá cây ra nằm nghỉ lưng chốc lát. Nếu có thể, chợp mắt đi một lúc để...thay ăn. Trong nhiều trường hợp, ngủ cũng bồi bổ sức lực như ăn vậy!

    Thanh đã trở về nhập bọn từ nay sau khi vắng mặt một lát. Không ai hỏi nhưng anh ta cũng nói cho biết anh ta kiếm chỗ tống những chất thừa trong bụng ra ngoài.

    Nhiều người nằm ngổn ngang ngay bên thân cây bị đốn, úp nón hoặc lá cây lên mặt cho khỏi chói mắt. Họ cố chợp mắt một lát, lấy lại sức khỏe.

    Mạnh gối đầu lên một cành cây nhẵn nhụi cố chợp mắt mà không được. Vì đói...Anh khẽ nhấc cao mép nón nhìn trộm Tuyên nằm bên cạnh. Tuyên đang ngủ, hơi thở đều đều. Mạnh nhổm người lên nhìn về phía người lính cảnh vệ ngồi trên một tảng đá, tay nắm cây súng dựng đứng trước mặt, vẻ mệt mỏi đờ đẫn như người đang ngủ gật. Một người ăn bận lành lặn ngồi gần đấy, dựa lưng vào vách đá. Đó là trưởng ngành củi trong Tổ Sản Xuất và Tiết Kiệm của Trại Đầm Đùn.

    Mạnh nhẹ nhàng đứng lên, dáng điệu rất tự nhiên, nhưng cố ý bước thật lẹ cho khỏi gây tiếng động, len lén vòng ra sau bụi cây gần đó rồi ngồi xổm xuống...

    Qua khe lá, anh nhìn kỹ một lượt nữa. Không có gì đáng ngại. Mạnh cúi rạp xuống chạy thật mau về phia trước rồi quẹo tay trái. Nơi này có con suối róc rách chảy. Nhưng mục tiêu anh định tới không phải là con suối mà là một ruộng mía tươi tốt. Hồi sáng, khi leo lên cây soan chặt cành, anh đã thấy những cây mía màu nâu tím giữa đám lá xanh. Thế là nước miếng cứ nhểu ra vì anh thèm chất ngọt quá. Được ăn một tấm mía thì "đã" biết chừng nào! Anh bèn nẩy ra một ý định. Tuy biết là nguy hiểm nhưng bị sự thèm khát thúc đẩy, anh nhất định liều.

    Luật lệ trại giam thật nghiêm khắc nhất là đối với những vụ ăn trộm, ăn cắp trong và ngoài trại. Người phạm tội bị cùm liền. Xâm phạm tài sản của người khác là phạm quan điểm của nhân dân. Nhưng trường hợp nhân viên ban quản trị trại giam xâm phạm tiền bạc, vật dụng của người bị bắt giam lại là chuyện khác, có lẽ vì dưới nhãn quan của ban quản trị, người tù không còn tư cách pháp nhân của con người nữa?

    Mạnh ngồi thụp xuống bên một khóm mía, nhìn khắp chung quanh thật kỹ một lần nữa, ánh mắt loang loáng thèm muốn và hung tợn tột độ, bất cứ người nào trông thấy cũng phải rùng mình khiếp hãi. Bàn tay anh vươn ra nắm ngang thân cây mía bẻ gập xuống thật mạnh. Một tiếng "rắc", thân cây mía gẫy rời đến gốc. Mạnh bẻ luôn một khúc bằng cánh tay, phần còn lại anh cắm xuống đất. Cây mía mới "trồng" tuy có ngắn đi nhưng không mất vẻ tự nhiên, dễ gì ai nhận ra ngay. Mạnh chạy vào quá trong vách đá xa ruộng mía, nấp sau một bụi cây rậm rạp rồi lật đật đưa tấm mía vào miệng tước vỏ rất nhanh, vừa tước vừa vun vỏ lại thành đống dưới đất, dùng bàn chân ngoáy đất thành một lỗ khá sâu, gạt vỏ mía xuống, hất đất lấp kín rồi dẫm chân lên trên xóa hết dấu vết vỏ mía, nghĩa là xóa hết dấu vết tội lỗi.

    Những khẩu mía đầu tiên, Mạnh vừa nhai rập vừa nuốt nước quá vội, suýt hóc mấy lần. Nước mía ngọt thật là ngọt! Mạnh tỉnh người như vừa chích một thứ thuốc thần hiệu. Nuốt không kịp, nước mía ngọt sánh chẩy lòng thòng xuống cằm. Mạnh đưa tay gạt ngang vụng về như một đứa trẻ. Thoáng trong mấy phút, Mạnh đã nhai hết đẵn mía. Lần thứ hai, anh cẩn thận vun bã lấy tay đào lỗ, vun đất đắp kín. Dấu vết ăn trộm hủy hết. Mạnh trở lại làm người lương thiện. Anh thở dài nhè nhẹ, nghĩ thầm: Thoát!

    Thản nhiên như không, anh thong thả bước ra khỏi ruộng. Bỗng Mạnh giật mình, thiếu chút nữa la lên một tiếng kinh hãi. Vì trước mặt anh, một người đứng sừng sững từ lúc nào. Vừa rồi trong khi ăn trộm mía, Mạnh vẫn lắng tai nghe động tĩnh, giương hai mắt trông mà không nhận ra có người đang rình mình.

    Nhưng cũng còn may vì người ấy là...Tuyên!

    Tuyên đứng sau tảng đá lớn nhìn anh mà cười gượng. Nụ cười của Tuyên thật khó hiểu. Tuyên muốn gì đây? Chẳng có lẽ Tuyên lại định hại mình, đi báo cáo với trưởng ngành hay người lính có súng? Nếu sắp bị tố cáo, Mạnh chỉ còn một cách. Thớ thịt trên mặt Mạnh thốt nhiên đanh lại như bằng thép. Mạnh không khỏe gì nhưng đủ sức...hủy diệt một người vào cỡ Tuyên. Tuyên vẫn giữ nụ cười gượng trên môi, rất buồn, sau chừng sợ Mạnh hiểu lầm, Tuyên chậm rãi nói:
    - Tôi định rủ anh thì anh đã ra đây trước rồi. Vậy bây giờ anh coi dùm tôi. Tôi thèm chất ngọt quá nên cũng đành liều...

    Nét mặt Mạnh dịu hẳn xuống. Như bạn thân chiều nhau, đứng vào giữa hai khe đá, trông chừng phía trước trong khi Tuyên thoăn thoắt len lỏi vào tận giữa ruộng, nhổ một cây mía đến gốc như Mạnh làm hồi nãy, rồi đưa lên đầu gối bẻ một khúc, cắm cây mía còn lại xuống đất, chúi vào sau một bụi rậm mà tước và nhai rau ráu như heo rừng. Tuyên mới nhai được mươi khẩu, Mạnh đã sốt ruột, quay lại giục:
    - Mau lên, kẻo đi lâu quá rồi!

    Tuyên cố nhá thêm một khẩu nữa rồi đành cắm khúc mía đang ăn xuống đất cho ngập hẳn, lấp đất kín, chùi kỹ mồm mép hai ba lần, thong thả bước sau Mạnh trở về, trong lòng hãy còn tiếc rẻ và hồi hộp.

    Những người tù vẫn nằm la liệt như lúc nãy. Mạnh yên trí liếc mắt nhìn Tuyên thoáng mỉm cười. Lúc nằm xuống bên cạnh ông già tóc bạc, nghe có tiếng hỏi, phào phào như người ốm nặng sắp chết:
    - Chú đi đâu về đấy?

    Mạnh giật mình. Thì ra ông già tóc bạc vẫn thức nhưng nằm yên nên Mạnh tưởng ông ta ngủ. Anh chưa biết trả lời thế nào cho tiện, ông già đã quay sang hỏi:
    - Đói quá! Trong rừng có kiếm được hoa quả gì ăn cho đỡ đói không?
    - Không biết! Nhưng chắc là không có.

    - Có ruộng khoai, ruộng sắn nào không?
    - Không biết. Nhưng cũng không dám lấy trộm! Nguy hiểm lắm.

    Ông già tóc bạc "hừ" một tiếng, buột ra một câu chửi thề rồi nói:
    - Như thế này, trước hay sau gì cũng chết...Chi bằng...

    Mạnh đoán không ra, ông già lại tiếp:
    - Tôi đã nghĩ mãi rồi chú ạ! Không trước thì sau, cũng một lần. Vả lại tôi đã hơn sáu mươi, chả thiết sống nữa...

    Mạnh nhìn ông già, thấy hai dòng nước mắt chảy dài trên khuôn mặt xương xẩu gầy nhom. Mới từ sáng đến giờ, coi ông già gầy tọp hẳn đi, suy nhược rõ rệt. Mạnh lấy làm lạ lùng vì sự biến đổi đó, nhưng sau cho rằng vì ông nằm nên anh trông ra như vậy. Ông già gằn giọng nói một hơi dài:
    - Tôi có một việc muốn nhờ chú Tuyên. Tôi già rồi mà lại yếu quá, không biết chết lúc nào! Nhưng chắc chắn chẳng còn bao lâu nữa. Tôi có hai đứa con trai tên là Trại và Đông, Lê văn Trại và Lê văn Đông, người làng Văn Lâm, Tỉnh H.N. Nếu có ngày nào chú trở về gia đình, xin chú cho các cháu Trại và Đông biết tôi chết oan ức như thế nào. Chúng còn sống ngày nào là phải trả thù bằng được những quân tàn ác giết người không gớm tay đã giết cha chúng, một người vô tội đối với luật pháp.

    Rồi ông già kể tóm tắt lại những sự việc xẩy ra đã đưa ông đến Trại Đầm Đùn. Nguyên ông là một nông dân có ít nhiều điền sản ở làng Văn Lâm. Trước khi phong trào đấu tố và cách mạng cải cách ruộng đất của việt cộng được phát động, ông đã hiến điền cho nhà nước cộng sản. Vậy mà ủy ban nhân dân xã vẫn không tha, vẫn tìm cách hại ông cho "tuyệt cái giống điền chủ", ông tức quá không dằn lòng được nữa, nhiếc mắng om xòm nên bị cán bộ bắt đem giam tại Trại Đầm Đùn.

    Hai con trai ông đã lớn, đang đêm trốn thoát, một đứa đăng vào quân đội viễn chinh Pháp, một đứa đi lính quốc gia vì không có cách nào hơn, đặng chờ dịp trả thù cho cha.

    Ông già kể xong gạt nước mắt, ngồi nhỏm lên. Mặt ông bừng bừng như người uống rượu, những đường gân xanh nổi chằng chịt trên trán, trên cổ. Trong tay, ông cầm một bó dây nâu cuộn tròn. Trong rừng, dây nâu rất dễ kiếm, chỗ nào cũng có. Tù dùng dây này để buộc củi hoặc kéo cây cho đổ khi đã đẵn gần đứt gốc.

    Vừa lúc đó, người lính cảnh vệ bỗng đứng lên thổi một tiếng còi dài. Những tù nhân còn nằm nhỏm phắt dậy như có lò xo ở chân. Tiếng gọi nhau, tiếng nói, tiếng rìu chan chát lại nổi lên, phá tan cái yên lặng của khoảng rừng ở chân núi.

    Mọi người hăng hái tiếp tục làm mau tay để về trại cho kịp giờ.

    Một lúc lâu, công việc đã gần xong, vẫn không thấy ông già tóc bạc đâu, Mạnh bàn với Tuyên:
    - Tôi ngờ ông già có thể "làm liều" vì không chịu đựng nổi.

    "Làm liều" như Mạnh nói có nghĩa là thắt cổ tự vẫn. Đối với ban quản trị trại, những trường hợp tự tử trên không có gì quan trọng. Người lính có phận sự đi canh tù vào rừng làm củi, khi có người tự tử, lại tận nơi chứng kiến rồi làm báo cáo lên ban quản trị, ban quản trị làm xong thủ tục, xóa đi một con số, một khẩu phần ăn, tư giấy xuống nhà bếp giảm đi một xuất gạo, một xuất thức ăn. Thế là xong.

    Tuyên ngừng tay rìu, lặng thinh suy nghĩ. Ông già giải quyết những ngày tàn của ông như vậy là phải. Nếu có khi cần phải can đảm để sống thì nhiều khi cần rất nhiều can đảm để chết. Chết còn có ý nghĩa giải thoát chứ sống trong Trại Đầm Đùn thì khó lòng hy vọng có ngày trở về với cuộc đời bình thường, nhất là đối với tù nhân già cả. Chỉ một chứng bệnh bất ngờ, một hai lần đại tiện, tiểu tiện ra máu, một hai cơn sốt rét mê man là "đi đứt luôn".

    Chờ đến xế chiều, Mạnh, Thanh và Tuyên đều đã buộc xong mỗi người hai bó củi mà vẫn không thấy ông già tóc bạc, bàn nhau phải báo cáo cho người lính hay. Lập tức, người lính xách súng đi kiếm.

    Vòng ra xa một quãng, họ thấy xác ông già treo tòn ten ở đầu sợi dây nâu, lưỡi lè dài, mặt sưng phù tím như quả bồ quân. Theo lệnh của cảnh vệ, một người tù leo lên tháo sợi dây.

    Xác ông già rớt đánh "bịch" xuống đất, đổ chổng kềnh. Thanh vội tháo thòng lọng ở cổ xác chết. Sau khi khám nghiệm qua loa cho phải phép, người lính viết mươi chữ làm tờ báo cáo lên ban quản trị có trưởng ngành củi và hai tù nhân ký tên với tư cách nhân chứng.

    Mấy người tù xuýt xoa tiếc rẻ khi thấy bộ quần áo của người chết hãy còn lành lặn, sạch sẽ, chưa có miếng vá nào. Nếu không có đông người chứng kiến, chưa chắc ông già khỏi bị lột trần truồng trước khi bị vùi xuống đất. Đành là phải chôn cả quần áo! Mấy người tù rách rưới không ngớt chép miệng tiếc bộ quần áo tốt quá. Tuyệt nhiên không ai tiếc ông già.

    Người lính cảnh vệ vào trong nhà dân địa phương mượn cuốc xẻng cho tù đào lỗ.

    Mấy người tù đào huyệt sơ sài bỏ xác ông già tóc bạc xuống, lấp đất rồi nói nửa đùa nửa thật, nhưng chưa nói hết câu miệng đã méo xệch:
    - Thôi ông già nằm nghỉ ở đây cho khỏe! Và phù hộ cho anh em chúng tôi mạnh chân khỏe tay để làm trả nợ nhân dân!

    Không biết là lời nói đùa hay nói thật, nhưng ai nghe cũng thấy thấm thía thương thân mình muốn khóc. Mạnh, Thanh, Tuyên mỗi người nhặt một hòn đất liệng xuống hố.

    Đoàn tù lên đường về trại, mỗi người một gánh củi trên vai. Đường về còn dài nhưng chẳng ai muốn nói chuyện. Gánh năm mươi ký củi trên đường núi, lên dốc xuống đèo, đất đỏ trơn như mỡ dưới mưa phùn, thật là khó nhọc. Có người gánh đi băng băng, có người vừa gánh vừa lẩy bẩy xiêu vẹo chỉ chực té.

    Nhưng rồi họ cũng về tới trại đủ hết. Chỉ thiếu ông già tóc bạc nằm lại cô độc trong rừng sau khi tìm được cách trút bỏ mọi nỗi đoạn trường.

    Chuyện còn được nhắc lại một hai lần trong bữa cơm của tù nhân. Sau đấy, hình ảnh một ông già tóc bạc, gầy yếu xiêu vẹo mới dần dần mất hẳn trong đầu óc mọi người.

    (còn tiếp)

  2. The Following 3 Users Say Thank You to KiwiTeTua For This Useful Post:

    khongquan2 (08-29-2019), Nguyen Huu Thien (08-28-2019), saomai (09-01-2019)

  3. #2
    Moderator
    KiwiTeTua's Avatar
    Status : KiwiTeTua v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jul 2008
    Posts: 2,689
    Thanks: 4,792
    Thanked 9,676 Times in 2,592 Posts

    Default

    4. Từ đầu tháng Chạp năm ấy, nhiều chuyện xẩy ra trong Trại giam Đầm Đùn khiến tù nhân bị khủng hoảng tinh thần không ít.

    Mỗi ngày, người tù lại có thêm nhiều bằng chứng để hiểu rằng đối với chính thể, những người bị giam giữ ở đây là những phần tử không những vô ích mà còn có hại. Cho nên bớt đi tên tù nào, chính thể trở nên lành mạnh, sạch sẽ thêm bấy nhiêu.

    Trời năm đó bỗng rét lạ lùng. Ngày nào cũng có tù nhân chết rét, chết bệnh. Nói cho ngay, những tù nhân này bị sốt rét rừng lại phải lao tác quá sức khi vừa cất cơn bệnh nên không còn sức chịu đựng nổi cái lạnh căm căm từ trong núi rừng lùa ra. Ăn thiếu, không có chất bổ, mặc không đủ ấm, lại bệnh hoạn mà không có thuốc, lúc này nhân cơ thể suy nhược các bệnh phát ra cùng một lúc để mà hành hạ xác thân, tinh thần người tù trước khi cướp luôn đời sống của họ.

    Đêm đêm, Toàn nằm trên chõng tre lạnh lẽo, quấn tròn manh chiếu như tổ sâu, buồn nỗi trước, lo nỗi sau, có đêm trằn trọc mãi không dỗ được giấc ngủ mặc dầu cả ngày làm việc quần quật. Anh cũng không thể hiểu nhờ đâu anh có sức làm nổi phần việc của mình hàng ngày: Xay lúa, gánh nước, cuốc đất, chặt củi ở rừng v.v…Anh chưa gánh nước lần nào từ hồi còn nhỏ, chưa cuốc đất, chặt củi ở rừng bao giờ, vậy mà lúc được giao công tác vẫn làm xong kịp giờ. Thật là lạ lùng. Thì ra ở đời, cứ gặp hoàn cảnh bắt buộc phải làm, không làm nổi thì ăn đòn là sẽ làm được như mọi người. Hai chữ “không thể” không có trong một Trại giam Cộng sản. Cách đây vài ngày, Toàn được chứng kiến một sự việc khiến anh chợt tỉnh ngộ và thấy nhận định của mình là đúng.

    Bữa đó, có bốn người tù được giao cho công tác khiêng về trại một thân cây lớn bằng hai bắp đùi dài chừng sáu thước, từ một nơi cách trại hơn cây số. Trời mưa, đường trơn như mỡ, gió lạnh thổi từng cơn như cắt da cắt thịt khiến chân tay tê cóng. Bốn người tù da dẻ tím bầm vì lạnh, co ro bên cây gỗ, hè nhau lấy sức ôm cây gỗ đưa lên vai hai ba lần không xong.

    Cứ đưa cây gỗ lên đến gần bả vai lại lúng túng để tuột rớt xuống đất. Bốn người tù chia nhau hai người đứng một đầu. Khúc trên vừa đưa được lên vai thì khúc dưới nặng hơn lại tuốt xuống đất khiến hai người tù khiêng khúc trên phải liệng nhanh nếu không, cây gỗ rớt xuống sẽ gây tai nạn. Sau cùng, rán sức đặt được cây gỗ lên vai, nhưng đi được mươi thước họ lại xiêu vẹo, chập choạng làm rớt cây gỗ nặng xuống đất.

    Giám thị Trại giam đứng đốc thúc tù làm, sầm mặt lại mà không nói. Thốt nhiên, y rút phắt cây roi song rừng vụt túi bụi bất kể vào mặt, mũi bốn người tù, vừa đánh vừa mắng nhiếc là đồ tiểu tư sản, chỉ ăn hại của nhân dân, bóc lột xương máu của đồng bào mà không bao giờ mó tay làm việc gì hết. Đánh nhiếc xong, y chọn trong bốn người một người yếu nhất, ra lệnh đứng ngoài để cho ba người tù còn lại làm công tác khiêng cây về trại.

    Chao ôi! Bốn người khiêng còn không nổi thì ba người làm sao nổi. Tuy vậy, trước ngọn roi song rừng và trước khuôn mặt lầm lầm lì lì uống máu người không biết tanh của viên giám thị, họ phải tận lực cố gắng đưa kỳ được cây gỗ lên vai đã, rồi sau đó muốn ra sao thì ra. Nhưng mới đi được một quãng ngắn, một người lẩy bẩy trượt chân vì đường trơn, cây gỗ lại rớt xuống đất, thiếu chút nữa một người bị cây đè gẫy chân.

    Tên giám thị cười nhạt một tiếng rợn người, cầm roi chỉ vào một người tù, ra lệnh:
    – Thằng kia! Ra đứng ngoài! Còn hai thằng này (y vừa nói vừa chỉ ngọn roi vào hai người còn lại), mỗi thằng khiêng một đầu, khiêng thẳng một mạch về Trại, không được nghỉ. Để tao coi tụi bay có khiêng nổi không?

    Y nhếch miệng cười nhạt:
    – Nếu không khiêng nổi, bắt đầu từ chiều nay truất phần cơm và nhốt vào xà lim.

    Hai người tù còn lại không dám phân trần biện bạch gì hết, lạy van viên giam thị cho phép họ nhờ hai người kia phụ lực nhấc cây gỗ đặt dùm lên vai cho họ khiêng. giám thị lạnh lùng gật đầu cho phép.

    Thế là hai người tù kia loạng choạng chập chững trên con đường mòn ướt át và trơn như mỡ, khiêng cây gỗ về đến trại mà…không rớt lần nào.

    Nghĩ đến đây, Toàn kết luận:
    –Trong trại giam, tù nhân không có quyền nói “không thể” làm nổi.

    .... Toàn đã quen dần với công việc nhưng vẫn chưa quen được với khẩu phần hạng C. Anh luôn luôn đói, lúc nào cũng đói, ngày đêm chỉ mong được “cải lên” hạng B nghĩa là được ba chén cơm một bữa. Cả tuần nay, anh chờ đợi tin được “cải hạng” mà chưa thấy vân mòng gì hết! Mỗi lần xung phong lấy điểm anh lại hy vọng.

    Sáng nay, anh phải khiêng đi chôn một tù nhân bị bệnh rét rừng, nằm chết queo trên giường trong khi mọi người ăn sáng. Tối hôm trước, lúc điểm số, anh tù nọ còn cất được tiếng hô con số "tám chục". Sau đó, Toàn nghe tiếng rên ư ử như mèo rên, run rẩy rung cả chõng, và tiếng nói như khóc: "xin làm phúc đè lên mình tôi, không tôi chết mất". Rét quá. Ai nấy đều biết anh nọ đang bị cơn sốt rét rừng hành hạ. Thế rồi, Toàn ngủ thiếp đi, không ngờ rằng cách hai giường một người đang chết.

    Sáng sớm tinh sương, sau tiếng kẻng đánh thức, tù nhân trong trại lật đật gấp chiếu, ra tập hợp trước sân để Trưởng toán dẫn đi rửa mặt, rửa các vết thương lở loét, bằng nước của cái ao độc nhất trong trại mà độc giả đã nghe nói đến. Trước khi ra sân, một đồng cảnh tiện tay rờ trán người bệnh, thấy còn hâm hấp sốt, nghĩ thầm một cách chua chát: "Hãy còn nóng, chưa chết" rồi lật đật theo mọi người ra ngoài.

    Lúc ăn cơm trong nhà Tiểu Công Nghệ, Trưởng toán sực nhớ đến người tù bệnh bèn sớt ra một lưng cơm để đem vào cho anh này. Một người tù cùng toán có mấy miếng thịt heo rang mặn để ăn dần, bỗng chạnh lòng thương phát tâm cho một miếng thịt ít mỡ nhất giúp người bệnh dễ nuốt miếng cơm. Một người khác sớt cho ít muối mè. Vài sợi rau muống nấu canh với tép riu cũng được gắp vào chén cơm của người bệnh cho thêm ngon lành.

    Người bạn tù đặt chén cơm trên trõng, vừa lay vừa khẽ gọi người bệnh tỉnh dậy ăn cơm, rồi đi ra. Chừng như ngủ được một giấc, sức khỏe đã hồi lại, người tù bệnh nặng nhọc ngồi lên, ngơ ngác, rụi mắt cho tỉnh hẳn, run run cầm chén cơm rồi rầu rĩ bốc từng miếng bỏ vào miệng trệu trạo nhai như người mất hồn. Anh ta ăn cơm mà không biết mình đang là gì. Ăn được mấy miếng, bỗng mở mắt trừng trừng: mọi hình ảnh mờ hẳn. Cả bàn tay cầm nắm cơm cũng bị nhòa đi mau chóng, anh bàng hoàng như người sắp bất tỉnh vì một cơn gió độc. Anh ta sợ hãi chớp mắt lia lịa, đến lúc chăm chú nhìn lại, thì mọi hình ảnh lờ mờ đảo lộn quay cuồng giây lát rồi biến hết. Chỉ còn lại một hố sâu tối om quanh chỗ anh ngồi. Người tù cố nhớ đến những hình ảnh thân yêu để tự đánh thức thần trí mình tỉnh lại, nhưng không nỗi. Mọi hình ảnh, mọi ý nghĩ tản mát không tập trung lại được trong đầu óc, người tù bệnh định nói lớn một câu đặng nghe tiếng mình nói. Nhưng cổ họng đã tắc khiến anh ta nghẹt thở và ngã vật xuống. Sau hết, anh ta còn giẫy giụa mấy cái là sô lệch cả manh chiếu và làm rớt xuống đất chiếc gối đẽo bằng gốc tre có quấn là chuối khô gối khỏi đau đầu.

    Mười phút sau đó, một tù nhân vào trại ngủ, thu chén đũa ra rửa. Anh này sững sờ khi thấy người bệnh nằm co quắp đè sấp lên chén cơm đổ tung tóe trên giường. Có lẽ người bệnh đã chết. Do phản ứng tự nhiên, anh ta định kêu lên cho mọi người biết nhưng lại ngậm miệng kịp. Còn lưng cơm trong chén và bàn tay người chết vẫn giữ miếng thịt nạc ngon lành không chịu bỏ. Những hình ảnh chết chóc đáng sợ trước mắt biến hết. Anh tù này liếc ra sân, đảo mắt một vòng. Mọi người còn ngồi trong nhà Tiểu Công Nghệ.

    Rất điềm tĩnh, không coi cái thây ma vào đâu, anh ta thản nhiên như không, đè ngửa những ngón tay cứng đơ của xác chết, nhặt miếng thịt lên ngắm nghía sơ qua rồi bỏ tọt vào miệng nhai nghiến ngấu. Anh ta bốc thêm một miếng cơm trong chén đưa vào miệng nhai ngon lành, rồi tiện thể nhai luôn miếng cơm thứ hai cho sạch chén. Xong đâu đấy, thấy không còn gì ăn thêm được nữa, anh ta mới lấy giọng hốt hoảng gọi đồng cảnh vào cấp cứu cho cái xác không hồn.

    *****

    Rồi thì cả đến sự quan trọng nhất đối với con người là cái chết cũng không có nghĩa gì với Trại giam Đầm Đùn. Ngày tháng lạnh trôi qua trên đói khổ và nước mắt của đám nạn nhân của chế độ.

    Chẳng bao lâu đã gần tới 23 tháng Chạp, ngày ông Táo chầu Trời.

    Lòng người tù tưởng như đã chai đá, dè đâu còn thấy nôn nao. Tết Nguyên Đán sắp tới, đem lại hy vọng vu vơ cho bọn người tuyệt vọng.

    Từ mấy hôm nay, trại giam có vẻ tấp nập, vui vui như có luồng sinh khí mới thổi qua trại. Ngoài những giờ làm việc và buổi tối sau giờ học tập đều đặn như máy, tư tưởng theo chiều ấn định, tù nhân có một tiếng đồng hồ rảnh rỗi đánh cờ hay ngồi nói chuyện bù khú với nhau. Mọi người lại hướng về chuyện Tết sắp tới.

    Thật ra, từ hai hôm nay, ban Quản-trị trại đã phổ biến một thông cáo cho biết trong dịp Tết Nguyên Đán sắp tới, ban Quản-trị sẽ tổ chức một chương trình văn nghệ có diễn kịch cho tù nhân coi vào đêm giao thừa. Và cũng nhân dịp năm mới, nhờ lượng khoan hồng của “Hồ Chủ Tịch”, một số tù nhân giác ngộ được “cải hạng” nghĩa là sẽ được tăng khẩu phần ăn thêm một chén cơm mỗi bữa. Đỡ đói! Đỡ khổ! Tù nhân mừng biết chừng nào!

    Ngoài ra, cũng theo thông cáo, trước khi khai mạc đại hội sẽ có một buổi học tập của toàn thể tù nhân về đề tài: Tết đến, nhớ ơn Hồ Chủ Tịch khoan hồng, trại viên ăn đủ no, không cần đến đồ tiếp tế của thực dân Pháp.

    Muốn hiểu rõ đề tài học tập do ban Quản trị trại giam đưa ra, tưởng nên kể qua những sự việc đã xảy ra trong một tháng trước, nhân ngày Lễ Giáng Sinh.

    Trước Lễ Giáng Sinh vài ngày, tù nhân trong trại giam, những người tinh ý hoặc có kinh nghiệm đều nhận thấy có sự khác thường. Một số du kích quân không biết từ đâu tới đóng tại một địa điểm ngụy trang ở gần chân núi cách trại giam gần một cây số. Bên trong, cũng có một tiểu đội du kích quân tăng cường, luân phiên nhau đi tuần tiểu khắp trại. Những nhân viên ban Quản trị trại được võ trang súng, lựu đạn, cũng xuống hết dưới trại canh chừng như đề phòng những chuyện bất ngờ.

    Những tù nhân Việt có kinh nghiệm, kín đáo ngó sang trại giam lính và thường dân Pháp. Từ giữa trưa ngày 23 tháng chạp dương lịch, tất cả tù nhân Pháp được nghỉ ngơi nhưng bắt buộc vào ngồi bên trong căn trại, không được đi lại ngoài sân như những ngày nghỉ khác. Cả tù nhân Việt cũng tuyệt đối bị cấm ra sân nếu không được giám thị đặc biệt cho phép.

    Dù sao, Lễ Giáng Sinh tới cũng là một nguồn an ủi lớn cho tinh thần tù nhân Pháp và những người theo Thiên Chúa Giáo bị giam tại Trại Đầm Đùn.

    Chiều ngày 23 tháng 12, tù nhân bỗng nghe tiếng phi cơ trực thăng bay ầm ầm rất thấp, rồi liền sau đó lượn ầm ầm ngay trên không trại giam. Một số tù nhân Việt ngơ ngác nhìn nhau, hoang mang không hiểu chuyện chi sắp xảy ra mà các giám thị lộ vẻ xúc động, luôn luôn theo dõi coi chừng, không cho tù nhân bén mảng ra gần hiên. Nghĩa là họ cấm tù nhân ngó lên trời nhìn hai chiếc trực thăng của phe địch đang bay lượn cách mặt đất chừng trăm thước mà không gây phản ứng chi hết về phía lực lượng nhân dân. Những lần khác, khi có phi cơ bay gần như thế, luôn luôn có tiếng súng ở dưới bắn lên liền, cả súng lớn lẫn súng nhỏ, nhưng phần nhiều là súng trường của du kích quân và súng liên thanh của quân chính quy.

    Về sau, tù nhân mới vỡ nhẽ ra rằng đó là hai phi cơ trực thăng của Hội Hồng Thập Tự quốc tế chở quà đến tặng tù nhân Việt Nam ở trại này. Phi cơ trực thăng của Hội Hồng Thập Tự quốc tế lượn phành phạch trên bãi cỏ trong trại giam và thả dù hằng trăm phần quà đựng trong các bao ny lông, bên ngoài có ghi hàng chữ thật cảm động: "Thân tặng các bạn bị cầm tù vì chiến cuộc".

    Quà Giáng Sinh đại loại gồm thực phẩm như sữa hộp, cà phê, đường, kẹo, mức, bánh mặn và ngọt v.v…Ngoài ra, lại còn các tặng phẩm gồm quần áo len và dạ, xà bông dao cạo râu, thuốc cảm sốt, thuốc ký ninh v.v…nghĩa là những thức ăn và vật dụng cần thiết mà tù binh Pháp rất thiếu thốn và thèm thuồng.

    Trực thăng bay đi sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Lúc đó, các nhân viên trong ban Quản trị và các du kích quân mới hối hả đi thu lượm các gói tặng phẩm đã được thả dù xuống, để kiểm soát lại từng gói kỹ càng trước khi phân phát. Vì nhiều lý do khác nhau, tù nhân Pháp được hưởng gần đầy đủ số tặng phẩm Giáng Sinh. Mấy hôm kế tiếp ngày lễ trọng đó, họ lộ vẻ thỏa mãn ra mặt, và âm thầm tiếc rẻ những ngày vàng son sung sướng của thời Thực Dân oanh liệt.

    Như trên đã nói, trước đó mươi ngày, có những buổi học tập để hướng dẫn thái độ của tù nhân Việt đối với hành động "giả dối", chỉ có tính cách tuyên truyền của Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế. Trong buổi học tập, để tỏ ra mình đã thấm nhuần chính sách của Nhà nước, có tinh thần tự lập, tư tưởng tiến bộ, tù nhân nhất loạt phát biểu ý kiến không thèm dùng những đồ viện trợ của thực dân bóc lột v.v…

    Thế là ban Quản trị trại giam buộc lòng phải thu thập các tặng phẩm…vô giá trị của Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế, để… chia nhau dùng tạm, hoặc bán hoặc mang đi đâu không ai biết. Có một lần độc nhất, không biết vì lý do gì, ban Quản trị cho tù nhân Việt được uống mỗi người một chén sữa để chứng minh rằng sữa của thực dân không có mùi vị, chẳng ra cái quái gì hết. Thật ra, người ta đã pha hai hộp sữa đặc vào một chảo lớn nước (chảo vẫn dùng để nấu cơm cho mấy chục người tù ăn mỗi bữa) khiến mầu sữa chỉ còn hơi thờ nhờ trắng như màu nước xà bông loãng.

    Ấy vậy mà tù nhân còn khen lấy khen để rằng sữa thơm ngon quá, cứ một tháng được hai chén sữa như vậy cũng đủ bồi bổ sức khỏe biết bao nhiêu. May thay, lời khen lạc hậu mất lập trường đó không lọt vào tai các chức việc có nhiệm vụ tẩy não tù nhân.

    Sau Lễ Giáng Sinh, chẳng mấy ngày lại sắp đến Tết Nguyên Đán Âm Lịch. Ngày 23 tháng Chạp Âm Lịch năm ấy trúng vào ngày Chủ Nhật.

    Buổi sáng, sau khi làm lễ chào cờ, mọi người được nghỉ ngơi hoặc làm một vài công tác tập thể nhẹ nhàng như quét sân, quét vườn, dọn dẹp vệ sinh nhà tiêu, giặt giũ quần áo và chiếu nằm, lau chùi hoặc mở cuộc tổng tấn công chấy, rận, rệp v.v…

    Xong những công việc trên, tù nhân tụ tập ngồi ngoài sân, sưởi nắng cho ấm, vừa chuyện trò vừa khâu vá quần áo rách bằng những mụn hoặc mảnh quần áo cũ để dành hay đổi chác được.

    Lệ thường, mỗi tù nhân được phát một kim khâu để dùng trong hai tháng và mỗi tuần lễ, vào ngày Chủ Nhật, được phát năm thước chỉ đen để khâu vá tùy theo nhu cầu. Năm thước chỉ sợi mà quý như chỉ bằng vàng, không có chỉ quần áo sẽ rất khó coi vì rách.

    Toàn cũng đem quần đùi ra khâu lại đũng, quần này nguyên màu trắng nay đã trở thành màu cháo lòng, sợi vải đã mòn xác xơ, không biết sẽ "tét ra" lúc nào. Anh rất ý tứ khi ngồi, cố giữ cho quần lâu rách. Sau khi nghĩ ngợi rất lung, Toàn quyết định hai việc quan trọng. Một là đắp thêm hai miếng vải cũ lên hai bên mòng quân. Hai là cắt hai ống quần dài ra may thành một quần xà lỏn đặng có đồ thay đổi. Nhân tháng trước, có một tù nhân được phóng thích về quê ở Hải Dương, Toàn năn nỉ van người này mang tay dùm một bức thư về cho gia đình anh ở cùng tỉnh. Trong thư, có một câu dặn dò cần thiết nhất: bảo vợ con rán tiếp tế cho anh một chiếc quần dài nhuộm nâu, nếu không thì chẳng bao lâu nữa, nhất định sẽ phải…ở truồng, không thể tránh khỏi. Ban đêm, vì không có quần, anh sẽ phải ở truồng như những trẻ sơ sinh, mặc dầu trời rất lạnh. Toàn ngồi ngẫm nghĩ, không đoán ra được vợ anh sẽ cười hay khóc khi đọc thư của anh. Suy tính lan man, anh chắc chắn không bao giờ vợ anh có thể đến đây tiếp tế cho anh vì vợ anh còn ở vùng Tề. Và từ Hải Dương đi bộ đến Thanh Hóa, mà đều phải đi đường làng đường ruộng thì đi cả năm, người đàn bà thật thà đó cũng chẳng tìm được nơi giam giữ chồng. Toàn nghĩ đến nỗi đau buồn của vợ lại nghĩ đến nỗi khổ nhục của chính mình, bất giác hai hàng nước mắt chảy ròng ròng.

    Bỗng tiếng nói của một người ngồi đó khiến anh ngửng lên nhìn.
    – 271 nghĩ gì mà nước mắt ngắn dài thế kia?…“Bắt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mới được phần thanh cao”. Số phận hết. Kệ cha đời, muốn tới đâu thì tới. Miễn sao sống sót đến cái ngày được nhân dân tha tội vì đã giác ngộ là được rồi.

    Toàn đang căm tức và buồn khổ nên suýt buộc miệng:
    – Giác ngộ cái cục c…Phạm lỗi gì mà giác ngộ!

    Anh ta lầm lầm nhìn vào đồng cảnh không nói năng. Vì người vừa hỏi anh không phải là loại bạn tương đối tri kỷ như bọn Mạnh, Tuyên, Thanh. Bọn này xung phong vào rừng làm lò than cách đây mấy chục cây số cả tháng nay rồi. Năm nay, chắc chắn họ ăn Tết trong rừng, bên những lò than. Họ đi xa, Toàn đã cô đơn lại càng cô đơn hơn bao giờ hết. Nhất là vào thời gian gần Tết như mấy ngày nay.

    Thỉnh thoảng ngoài giờ lao tác, Toàn thấy giám thị trại gọi một người tù lên văn phòng ban Quản-trị. Tù nhân thất sắc, mặt cắt không được hột máu vì không biết chuyện gì. Lên đến văn phòng, tù nhân mới hay có vợ con đến thăm và tiếp tế đồ dùng hoặc chút ít tiền nong.

    Tại văn phòng, người tù được đưa vào ngồi trong một căn buồng có vách ngăn với bên ngoài, phía bên trên vách là những chấn song bằng tre, nhờ đó anh ta được nhìn thấy vợ hay con ngồi đợi bên ngoài.

    Trong những cuộc gặp gỡ này, phần nhiều người tù nghẹn ngào không nói được tiếng nào với vợ, chỉ nhìn trừng trừng mà ứa nước mắt. Còn người vợ luôn tay đưa vạt áo lên lau cặp mắt đỏ hoe, đôi khi bồng một đứa con nhỏ đùa nghịch trong lòng. Lát sau, hai vợ chồng trao đổi một vài câu thăm hỏi về sức khỏe, tin tức gia đình trước sự chứng kiến của nhân viên ban Quản-trị, rồi người vợ mở hầu bao lấy ra đưa cho người chồng một món tiền cùng mấy thứ cần dùng như chai dầu gió, một ít thuốc đi tiêu chẩy, thuốc cảm sốt, ít viên thuốc ký ninh hoặc thuốc ho, vài phong thuốc lào. Về tiền bạc thì lát nữa đây, người tù bắt buộc gởi ban Quản-trị trại giam đổi phiếu lãnh tiền trong trại người tù sẽ giữ phiếu này thay tiền mặt. Còn thuốc men lặt vặt, ban Quản-trị trại giam cho tù nhân giữ lấy mà dùng hoặc nhượng lại cho các bạn đồng trại, tùy ý. Thời gian được phép gặp người nhà rất hạn chế. Trước khi chia tay người tù thường buồn bã bảo vợ:
    – Thôi, mình về thay tôi rán săn sóc phụng dưỡng cha mẹ già cho phải đạo và trông nom dạy dỗ các con nên người. Tôi còn phải trả nợ nhân dân và mong nhân dân sẽ khoan hồng mà tha tội. Ngày được về sum họp với gia đình chưa biết chắc chắn bao giờ! Tôi xin gởi lời thăm hỏi cha mẹ và cầu xin cha mẹ hãy tha thứ…Dù sao, tôi vẫn hy vọng.

    Người đàn bà không nói, chỉ luôn tay chấm nước mắt. Cái khung cảnh rờn rợn kinh khủng của trại giam đã khiến người vợ phải nghiến răng để khỏi khóc òa lên. Rồi người đàn bà lếch thếch ẵm con ra khỏi trại, tìm nơi ngủ trọ trong làng gần đấy....

    Toàn đã may đắp xong hai miếng vải vào quần đùi.

    Anh giơ quần lên cao và thoáng lộ vẻ mừng rỡ khi thấy hai miếng vải khâu đắp còn khá tốt. Nhờ đó, quần còn mặc được thời gian nữa. Một người tù khác cũng đang vá quần ngồi gần đó, cất tiếng khen.
    – May đẹp quá, thật khéo tay, khi mãn hạn có thể về mở cửa hàng thợ may được đó.

    Rồi người đó nhìn Toàn, nói tiếp:
    – Anh khéo tay như thế, nên xung phong vào ban trang trí sân khấu. Đêm giao thừa, ban Quản-trị có tổ chức trình diễn kịch để giúp vui cho anh em…

    Toàn thẫn thờ, hỏi như người mất hồn:
    – Giúp vui cho anh em trong trại?…Ai sẽ làm đạo diễn vở kịch?
    – Thằng cha Cương đó. Thằng cha bị án tử hình đó!

    Toàn sự nhớ đến anh chàng có tên Cương, trưởng ban Vui Sống của trại. Anh này trước kia làm việc cho chính phủ quốc gia, giữ một nhiệm vụ quan trọng về an ninh nên có những sự đụng cạm thường xuyên với Việt Minh. Là một chiến sĩ quốc gia, vốn có quan điểm đối nghịch với Việt cộng bị rơi vào màng lưới của anh. Một lần kia, vì sơ xuất khinh thường, anh lọt vào cạm bẫy của kẻ thù không đội trời chung rồi bị đưa về đây. Biết không thoát khỏi tay kẻ thù, anh ta nén được cơn sợ hãi để sống bình tĩnh, chịu đựng sự trừng phạt ghê gớm của trại giam Cộng sản. Anh ta thường phát biểu ý kiến với vài bạn tù quen thân từ hồi còn làm việc ở vùng quốc gia: ai chẳng một lần chết, dù mình sợ chết, cái chết nó vẫn lù lù đi tới. Chi bằng không sợ, cứ chiến đấu chống nó, được thì thoát, không được thì..thôi, chết trước hay sau ít năm cũng không nghĩa lý gì…

    Trong trại giam Đầm Đùn, anh cũng sống, cũng học tập, cũng làm công việc khổ sai, nhưng làm với một tinh thần chịu đựng, không sợ hãi và vẫn lợi dụng hoàn cảnh để hưởng thụ được chừng nào hay chừng đó, những cái thú mà con người sinh ra đều có quyền hưởng. Vì cầm cái chết trong tay, dần dần không còn sợ, anh ta ca hát luôn mồm. Có đồng cảnh lại phê bình rằng anh ta ca hát để che lấp, lấn át nỗi sợ ở trong lòng.

    Là tù chờ ngày thi hành án tử hình của Tòa án Nhân dân nên anh ta phải thường xuyên mang xiềng và cùm, nằm dưới hầm tối.

    Buổi sáng mỗi Chủ Nhật, được tháo cùm, sau khi chào cờ, với tư cách Trưởng ban Vui Sống, anh ta hoạt động “vui sống” với anh em, buộc dây lòi tòi vào giải rút quần, vỗ tay đánh nhịp nói rất lớn: “Nào chúng ta vui sống” rồi hát mấy câu rất nhàm chán với lỗ tai tù nhân:

    "Ta nắm tay chúng ta ca hát
    Trong kháng chiến, chúng ta vui vầy".


    Mặc dầu biết là do hoàn cảnh bắt buộc, nhưng nhiều tù nhân vẫn ghét đắng chỉ vì anh thường nói đến hai chữ “vui sống” trong khi mọi người “buồn chết” đi được. Nhưng nhiều khi họ cũng thấy thương hại vì ca hát vui sống xong, anh ta buồn thỉu đi như người sắp chết. Có lẽ khi đó anh nghĩ đến cái kết thúc thê thảm của cuộc đời người tù bị kết án tử hình không mấy hy vọng ở đơn xin ân xá! Chủ Nhật sau, tù nhân cùng trại lại thấy anh ta hăm hở buộc xiềng sắt vào giải rút quần, khập khiểng bước rồi ca hát “vui sống” vang sân.

    Một đêm kia, đang mưa, một giám thị vẻ mặt nghiêm khắc u tối, cầm đèn xuống trại, vào xà lim tử hình gọi Cương dậy đi theo hắn.

    Bên ngoài, đêm tối đen. Một người cầm bó đuốc phừng phừng cháy, đứng chờ sẵn ngoài hiên, coi như quỷ dữ đến bắt tội nhân dưới Diêm La Thập Điện. Cương đang ngủ say chợt nghe gọi đúng danh số hốt hoảng ngồi dậy, theo ra bên ngoài nhưng vẫn chưa tỉnh hẳn. Đến lúc trông rõ người cầm đuốc. Cương chợt hiểu. Mồ hôi bỗng toát ra đầy mình, một ý nghĩ thoáng trong đầu khiến anh như bị một luồng điện quật chúng: Có lẽ ta bị “ra bai” chăng?

    Theo luật lệ của Trại giam Đầm Đùn, tội nhân bị án tử hình luôn luôn bị xiềng và cùm cứng ngắc hai cổ chân, nhốt trong xà-lim tối thui. Một đêm khuya nào đó, khi các tù nhân đã say giấc, có người của ban Quản-trị trại chính thức vào đánh thức tử tội dậy, dẫn xuống nhà Tiểu Công Nghệ. Nơi đây, một mâm cơm thịnh soạn đã bày sẵn đợi người tử tù thưởng thức. Thường thì một đĩa thịt gà, một đĩa thịt heo, trứng chiên, một ly rượu, một nồi cơm, nải chuối tươi tốt và một, hai điếu thuốc lá. Đó là bữa cơm cuối cùng của phạm nhân trên dương thế nên cũng cần tươm tất.

    Thấy mâm cơm, người tù biết ngay mình đã đến lúc tận số. Trại giam Đầm Đùn không đãi tội nhân sống một cách sang trọng như vậy bao giờ mà chỉ chịu đãi người nào phải ăn bữa cơm cuối cùng với nhân thế. Nhưng tử tội không nuốt được vì sợ. Các bắt thịt co rút lại, cổ tắc nghẹt, thở cũng muốn nghẹt nói gì đến ăn. Vì thế, hầu hết tử tội không ăn được cơm, không uống được rượu mà chỉ nuốt nổi trái chuối một cách khó khăn, nghẹn hai, ba lần. Có người không ăn uống, chỉ hút nửa điếu thuốc lá là liệng bỏ rồi òa khóc như một đứa trẻ.

    Ra bai, thật là kinh khủng!

    Khi ra đến ngoài nhờ gió lạnh làm cho tỉnh lại, tử tội Cương muốn hỏi một câu nhưng líu lưỡi không nói được, hai cẳng chân bủn rủn như người bị bệnh tê liệt. Y không đứng vững, phải dựa vào cột hiên mới khỏi té.

    Lời nói nghiêm nghị của giám thị giúp Cương tỉnh hẳn:
    – Trại viên theo tôi lên Văn phòng.

    Tội nhân bị án tử hình lắp bắp hỏi:
    – Lên Văn phòng chứ không phải... "ra bai" sao?

    Viên giám thị nhìn kỹ phạm nhân rồi bật cười:
    – Anh muốn "ra bai" hay sao mà nói vậy?

    Dưới ánh đuốc bập bùng, phạm nhân méo xệch miệng cười gượng trong khi nước mắt mừng rỡ chẩy ròng ròng:
    – Dạ, không! Tôi ngỡ.... đang đêm....
    – Anh lên Văn phòng khêu đậu lào cho con gái ông trưởng ban...

    Nguyên ông Trưởng ban Quản Trị có một cô gái 20 tuổi bị đậu lào. Ông ta không dám chích thuốc Tây cho con gái vì theo nhiều người, chích thuốc Tây thì bệnh nhân bị đậu lào hết sống. Ông ta nghe nói phạm nhân Cương biết môn "khêu" để chữa bệnh đậu lào và y đã từng cứu sống mấy tù nhân trong trại.

    Đêm nay, ông ra lệnh gọi Cương lên khêu những nốt đậu lào cho con gái. Chứ không phải đánh thức Cương cho "ra bai".

    Sau này, Cương có thổ lộ rằng may mà anh ta không mắc bệnh tim, chứ đau tim mà tưởng lầm bị gọi "ra bai" là đủ chết ngắc vì quá sợ rồi...

    Nhờ Cương cứu được cô gái nọ mà án tử hình của Cương được ông trưởng ban hoãn thi hành. Sau đó gặp dịp, anh ta trốn được về miền quốc gia khiến nhiều đồng cảnh tiếc ngẩn ngơ vì chưa kịp học phương pháp khêu đậu lào.
    ___________


    5. Hôm nay là 30 Tết, tù nhân được nghỉ lao tác để sửa soạn ăn Tết, đón mừng năm mới. Đối với người tù dưới chế độ Cộng sản -nhất là tù nhân ở Trại giam Đầm Đùn- tục lệ ăn Tết Nguyên Đán, một tục lệ thiêng liêng đầm ấm nhứt từ ngàn xưa để lại, đã mất hết tính cách thiêng liêng và trở nên vô nghĩa, rỗng tuếch, giả dối, chỉ nhằm mục đích tuyên truyền chính trị cho Cộng sản.

    Ba ngày trước, ban Quản-trị trại giam đã nhận được một thông điệp của họ Hồ gởi về chúc Tết và huấn giáo các tù nhân, lời lẽ làm ra vẻ thân ái và độ lượng, khuyên nhủ các tù nhân cố gắng sửa mình, học tập để mau giác ngộ, đặng hưởng sự khoan hồng của chính phủ, trở về cuộc sống bình thường của một công dân tốt. Bản thông điệp đó, ngay buổi tối, đã được mang ra học một cách máy móc, trong một đại hội học tập toàn thể tù nhân, có ban Quản-trị trại tham dự và hướng dẫn. Như mọi lần, tù nhân nào được phát biểu ý kiến cũng bày tỏ lòng biết ơn chính phủ, hối ngộ sự lầm lạc của bản thân và hứa sẽ cố gắng học tập theo đúng đường lối của chính phủ để trở thành một công dân hữu ích v.v…

    Ngồi trong một góc tranh tối tranh sáng, Toàn lấy vẻ nghiêm chỉnh theo dõi buổi học tập như cố gắng thấm nhuần hết ý nghĩa bản thông điệp, mặc dầu anh đã chán ngấy những lời lẽ cùng luận điệu một chiều, giả dối, công thức, như chán ngấy những bữa cơm tù trong trại giam Cộng sản. Chán ngấy, ghê sợ như thế mà vẫn phải nghe, phải nhập tâm, đề phòng trường hợp bị bắt buộc phát biểu ý kiến mà lúng túng phát biểu lạc đề thì nguy hiểm, không biết hậu quả sẽ tai hại đến chừng nào.

    Nhưng thỉnh thoảng, Toàn lại cảm thấy máu chảy dần dật trong đầu. Mắt anh mờ đi vì lửa căm hờn trong lòng lại bốc ngùn ngụt. Anh muốn hét lên một tiếng cho hả, cho vơi cái uất ức ở trong lòng và chửi thề một câu rất tục tĩu để cho cả cái chế độ độc tài, tàn bạo, vô nhân, vô đạo nghe rõ. Có lúc anh tưởng chừng như sắp phát điên bắt gặp mình đang trừng mắt nhìn một kẻ thù tưởng tượng đứng trước mặt. Toàn phải cố bình tĩnh lại. Anh biết có đến chín phần mười tù nhân cùng một tâm trạng như anh, cùng một thèm khát, căm hờn như anh mà không ai dám để lộ. Chỉ vì họ còn muốn sống, hy vọng trở về với gia đình vợ con, với những người thân yêu sau khi thoát khỏi quãng đời tủi nhục này.

    Hôm nay được nghỉ lao tác, tù nhân lại làm những công tác dọn dẹp vệ sinh chung, nên trại giam thêm vẻ khang trang. Sau đó, nhiều người lấy quần áo ra may vá cho bớt rách rưới để “diện” trong mấy ngày Xuân thủ. Những người chỉ còn nhất bộ mượn tạm áo của bạn đồng trại trong chốc lát đặng khoác lên mình khỏi rét, rồi cởi áo đang mặc ra bắt rận. Bắt được con rận nào, người tù đưa lên miệng cắn “tanh tách” lấy làm thích thú lắm. Dường như vá quần áo và bắt rận…kịch liệt giúp người tù quên nỗi buồn đau trong ngày ba mươi Tết.

    Khi mới vào trại giam, mỗi lần Toàn thấy tù nhân bắt rận đưa lên miệng cắn làm anh lợm giọng buồn nôn, cái tanh hôi của máu rận như thấm vào chân răng, bắt anh nhổ nước miếng và nôn khan hoài. Nhưng lâu dần quen đi, anh cũng có thể làm như mọi người. Trại bên kia, tù nhân Pháp bắt rận, cũng đưa lên miệng cắn “tanh tách” không khác chi tù nhân Việt bên này. Toàn triết lý vụn và mỉm cười: Thì ra mọi sự ở đời này, cái sướng, cái khổ, cái vui, cái buồn, bẩn, sạch rồi cũng…quen hết!!

    Một tiếng nói cất lên phía sau khiến Toàn giật bắn mình. Anh lấy vẻ mặt nghiêm trang và chuẩn bị câu chống chế. Trong Trại giam Đầm Đùn, không ai muốn để lộ ý nghĩ thầm kín của mình, dù là ý nghĩ rất hiền lành. Nhưng khi nhận ra người tù mang số 382 nói câu đó, anh lại thản nhiên cúi xuống tiếp tục may với sợi chỉ chót trong năm thước chỉ rồi nói bâng quơ cho qua chuyện:
    – Mùa Xuân tới, tự kiểm thảo thấy mình đã “tiến bộ” đôi chút nên cũng vui vui…

    382 cũng nói bâng quơ:
    – Vậy hả?

    Toàn quên tên người tù mang số 382 nhưng vẫn nhớ kỹ y là một tù nhân nổi tiếng khéo nịnh bợ nhân viên ban Quản-trị, mới được hưởng ân huệ cải hạng ăn theo khẩu phần B chừng nửa tháng nay. Toàn và bọn Tuyên, Thanh, Mạnh ngờ 382 làm mật vụ cho ban Quản-trị nên hết sức tránh tiếp xúc với y. Họ cố tránh xa bao nhiêu, 382 lại càng tìm cách gần gũi với họ bấy nhiêu nên bọn Toàn càng sợ sệt đề phòng.

    Toàn lấy vẻ thản nhiên nhưng trong bụng đang nghĩ cách “đánh trống lãng” thì dịp may ở đâu đến. Từ phía cổng lớn mấy người khiêng tre và ván vào trại để dựng sân khấu diễn kịch đêm giao thừa. Toàn mừng rỡ, lật đật xếp quần áo gọn gàng, thận trọng cắm cây kim còn lòng thòng sợi giây chỉ vào khuyết vải dùng làm “đê” đeo tay, rồi nói như giải thích cử chỉ đột ngột của mình:
    – Nào, đi tham gia công tác dựng sân khấu với các anh em…

    Anh mỉm cười xã giao một cách nhạt nhẽo với 382 rồi đứng lên đem cất đồ vào đầu giường, trong khi 382 nhìn theo anh, có vẻ như đang mưu tính điều gì.

    Sân khấu dựng trong nhà Tiểu Công Nghệ vuông vắn mỗi bề năm thước, cao một thước, sàn bằng ván ở khoảng giữa, chung quanh lót bằng những cây tre đặc bổ đôi mặt phẳng ngửa lên trên. Bên trong cùng sân khấu là buồng “hóa trang” của diễn viên.

    Sân khấu trang hoàng và sửa soạn xong trước khi tù nhân dùng bữa cơm cuối cùng của một năm. Có một điều hiển nhiên dễ nhận là bữa cơm chiều nay vắng mặt nhiều tù nhân. Mâm nào cũng khuyết ít ra một người. Những người có mặt ăn một cách thật vội vã hoặc uể oải, có người mới ăn vài ba miếng đã buông đũa buông bát, thở dài đứng lên. Tuy tù nhân của Trại Đầm Đùn lúc nào cũng đói, cũng thèm ăn, vậy mà chén cơm chiều ba mươi Tết, họ cũng không nuốt nổi.

    Chỉ vì năm hết Tết đến, ăn bữa cơm chiều ba mươi Tết trong tù, họ nhớ đến gia đình, đến cái không khí đầm ấm thân yêu, tự do của những Tết đã qua mà họ buồn nẫu ruột. Nhiều người ngồi bó gối co ro tại một góc trại, thỉnh thoảng lại rút trong túi ra gói thuốc lào, vê một mồi thuốc, nhét vào nõ điếu cày, kéo một hơi thật dài tưởng đến long cả nõ điếu rồi bâng khuâng nhìn ra ngoài sân, mưa phùn lất phất bay như rắc bụi.

    Trời vừa sập tối được một lúc, tù nhân đã lục tục kéo đến nhà Tiểu Công Nghệ xem diễn kịch và những màn diễn xuất đặc biệt của buổi đại hội.

    Trước sân khấu, trên hàng băng dài lố nhố những người. Đằng sau hàng ghế “danh dự”, ban tổ chức đã đặt nhiều cây tre dài làm ghế cho tù nhân ngồi. Hàng ghế danh dự dành cho nhân viên ban Quản-trị và các thân hào, các nhà chức trách địa phương như chủ tịch ủy ban kháng chiến và hành chánh, các ủy viên và dăm bẩy nhân viên đặc biệt khác, trong số có một nhân vật ghê gớm đối với các tù nhân, được chức quyền trong trại giao cho một nhiệm vụ đáng làm cho người khác khiếp hãi, đánh đòn trừng phạt kẻ phạm lỗi.

    Không biết nhân vật này tên thật là gì nhưng tù nhân Trại Đầm Đùn đặt cho y hỗn danh bí mật là “Đầu Trâu” 1 nói lên được phần nào thể xác của con người mang hỗn danh đó. Vóc dáng vạm vỡ, đi đứng lầm lũi, mắt nhìn chậm chạp, tay chân bắp thịt nổi cuộn như thừng, không biết y học được võ nghệ ở đâu mà mỗi lần ra tay, ít tội phạm chịu nổi tới roi thứ ba mươi.

    Tù nhân kháo nhau rằng Đầu Trâu là dân miền núi cao, nói tiếng Việt chưa được rành, mỗi khi được tra tấn hay đánh người, Đầu Trâu khoái trá mắt long lanh như mắt cọp.

    Toàn liếc thấy Đầu Trâu ngồi một cách lạnh lùng, lầm lì, riêng biệt một chỗ cũng đủ khiếp đảm, không dám nhìn lâu dù nhìn trộm.

    Phía giữa, ban Quản-trị mượn đâu hai cái đèn “ba dây” treo tòn ten nên sân khấu sáng choang, làm nổi bật lá cờ đỏ từ trên cao rủ xuống ở trong cùng sát vách. Bên dưới lá cờ là bức hình vẽ bằng sơn màu chân dung một người đã già trán hói, có bộ râu dài, mặc áo ka ki gài khuy cổ, hai con mắt nham hiểm, độc địa, tàn bạo như mắt chim ưng. Trước ánh đèn, lá cờ đỏ óng ánh như vấy máu, người trong bức hình nhìn xuống đám khán giả tù nhân nửa như căm hờn, nửa như thích thú mãn nguyện.

    Toàn nhìn đăm đăm, cố tìm trong diện mạo người trong hình những nét đặc biệt. Anh thấy cái trán thông minh, hai con mắt xảo quyệt, độc ác thâm trầm, nham hiểm một cách dị thường. Anh tưởng tượng ngày xưa, cặp mắt của Tần Thủy Hoàng cũng “hiếu sát” đến thế là cùng.

    Từng cơn gió bấc lùa vào nhà Tiểu Công Nghệ thổi qua các khe cột rào rào khiến Toàn rùng mình. Anh bất giác so hai vai, kẹp chặt hai cánh tay vào cạnh sườn giữ cho thân thể bớt run rẩy. Vẫn thấy lạnh, anh khoanh tay, luồn hai bàn tay dấu trong nách cho khỏi buốt, chợt nhớ câu thơ “xương cọ vào xương, bớt nỗi hàn” tả cái cô đơn rét mướt của người nằm dưới mộ, cố nén một tiếng thở dài.

    Khán giả tới đã đông, tiếng xì xào cười nói nho nhỏ khắp trong các hàng ghế. Giữa đám người cùng đồng cảnh đến mấy trăm mà Toàn vẫn thấy cô đơn, giá lạnh, trống rỗng ở trong lòng. Anh nghĩ thầm giờ này theo tục lệ, gia đình anh đã cúng thỉnh tổ tiên về ăn Tết với con cháu. Nhưng vợ anh, con anh vẫn buồn rầu ngồi trước bàn thờ ảm đạm tưởng nhớ đến người bị bắt đem đi, không biết sống hay chết, bao giờ về, mà chắc gì về được?

    Khi anh bị Việt cộng bắt, đứa con thứ ba mới được một tháng, hiện giờ nó đã biết làm gì rồi? Dưới chế độ Cộng sản, cuộc đời thật đầy rẫy những chuyện đau buồn, oán hờn khổ ải, không biết rủi ro thế nào mà lường trước được.

    Bỗng hàng băng bên tay phải, có người quay lại nhìn trộm về phía anh. Toàn hơi hoảng cố tạo nét mặt vui vẻ, miệng hơi mủm mỉm cười, nhìn lên sân khấu như hân hoan chờ đợi buổi đại hội khai diễn…

    *****

    Đại hội “liên hoan” chấm dứt. Một người trong ban Quản-trị trại giam leo lên sân khấu, cầm loa nói những lời tri ân Hồ Chủ Tịch, đảng và chính phủ, rồi chúc trại viên sớm giác ngộ, sửa đổi những lỗi lầm đã mắc phải, học tập tiến bộ, cố gắng tăng năng xuất để xứng đáng với những sự khoan hồng của Hồ Chủ Tịch, đảng và chính phủ. Rồi tuyên bố giải tán.

    Tiếng vỗ tay ran như pháo. Toàn chợt nhận ra anh cũng vỗ tay hăng hái như mọi người.

    Tù nhân xếp hàng từng toán theo Trưởng toán về mỗi trại, đặng ngủ một giấc, mai dậy sớm đón một mùa Xuân mới.

    Toàn lầm lũi bước theo những bạn đồng trại.

    Trong bóng đêm, Toàn không nhìn rõ mặt các tù nhân nên không đoán được họ đã nghĩ gì về vở kịch trên sân khấu. Nhưng riêng anh, anh thấy phẫn nộ, một cảm tưởng chán nản mênh mông tràn ngập trong lòng. Dù anh có hạn mãn tù, sống sót trở về cuộc đời bình thường thì coi cũng như chết nếu phải sống dưới chế độ Cộng sản. Trong màn kịch vừa rồi có vai một đứa trẻ mười hai, mười ba tuổi tố bố đẻ ra nó là địa chủ một cách lạnh lùng, đểu cáng như sự việc có thật đang xảy ra. Và đứa trẻ được một đại diện nhân dân khen ngợi và đề cao như một thứ nhi đồng gương mẫu đã sớm giác ngộ biết gạt bỏ những tình cảm cá nhân lạc hậu mà lên án cha đẻ là địa chủ – chủ nhân của mười lăm mẫu ruộng- để nhân dân loại trừ một phần tử có hại cho chế độ.

    Màn kịch gay cấn nhất lúc cậu nhi đồng cứu quốc chỉ vào người cha đáng thương bị trói giật cánh khỉ và quỳ trên một đống đá dăm lổn nhổn mà sỉ vả mắng nhiếc, tiếng vỗ tay nổ ran như pháo. Toàn không biết đó là tiếng vỗ tay khen ngợi hành vi “lên án cha” của cậu nhi đồng nọ hay là những tiếng vỗ tay nguyền rủa chế độ, đã tạo nên một lớp người bất hiếu, phi nhân. Toàn thấy lòng anh chết lặng đi lúc lâu trước một sự thật phũ phàng, chỉ nghe kể lại chứ chưa được thấy tận mắt nên đã có lúc ngờ vực, không tin là có thật. Thế là hết! Anh nghĩ thầm: Nếu con anh sau này cũng được nhào nặn để biến thành một đứa trẻ tương tự thì thà anh chết đi trong thời gian bị giam ở Trại Đầm Đùn này còn hơn là phải sống với lũ quỷ đỏ.

    Tâm hồn Toàn bấn loạn hoang mang đến nỗi anh không còn tâm trí theo dõi màn kịch “chửi” chính phủ Trần Văn H…, chỉ mang máng nghe diễn viên dùng những lời lẽ nặng nề thô tục vẫn thường nghe thấy ở những giới vô giáo dục, đúng với quan niệm “văn hóa đại chúng” của Cộng sản. Nhưng rồi sau cùng cũng có những tràng pháo tay nổ ran để khen ngợi hay làm ra vẻ khen ngợi những diễn viên và ý nghĩa vở kịch.

    .... Đám tù nhân đi băng qua bãi cỏ trở về trại. Được một quãng, Toàn quay lại nhìn, nhà Tiểu Công Nghệ vẫn còn ánh đèn sáng choang, nhân viên ban Quản-trị còn đứng lố nhố bàn tán với nhau. Có lẽ họ đang khen ngợi lẫn nhau về kết quả buổi đại hội vừa rồi, nên giơ chân múa tay, ra vẻ thích thú lắm.

    Đêm đã khuya, Trại giam Đầm Đùn lại nằm giữa một vùng núi non nên khí núi bốc ra giá buốt căm căm. Toàn ngước nhìn lên trời cao tối thui như hũ nút rồi trông về phía Trại ngủ, mãi mới nhận ra ánh đèn le lói lúc ẩn lúc hiện. Sương muối dầy đặc quá, che lấp cả ánh đèn.

    Anh xuýt xoa vì lạnh, co ro đi sát vào người bạn tù kế bên, liên tưởng đến bếp lửa ấm ở quê nhà, nồi bánh chưng sôi xình xịch, những nồi nước tắm thơm phưng phức hương lá mùi, lá bưởi đặt ghé bên nồi bánh, những bông hoa đào nở thắm in bóng trên tường, trên bàn thờ nghi ngút khói. Rồi giờ phút cúng giao thừa thiêng liêng, tiếng pháo, tiếng đại hồng chung từ ngoài chùa ở đầu làng văng vẳng, những tiếng gọi nhau đầm ấm ra chùa lễ Phật, rồi về nhà xông đất Năm Mới…

    Toàn mải mê, miên man nghĩ, vấp một cái điếng người, hơi đất lạnh lẽo thấm vào gan bàn chân buốt thon thót như kim châm.

    ... Về đến Trại ngủ, người nào người nấy lật đật lên giường làm một giấc. Không ai nói một tiếng. Hình như ai cũng thấy lạnh lẽo muốn ngủ cho quên hiện tại.

    Toàn liếc nhìn người bạn “đồng sàng” đang rơm rớm nước mắt trong lúc sửa soạn chỗ nằm, thốt nhiên anh thấy tủi thân muốn khóc òa lên cho vơi bớt tấm tức ở trong lòng.

    Sau những tiếng hô số để kiểm tù theo lệ thường. Trại ngủ lại hoàn toàn yên lặng. Thỉnh thoảng mới nghe tiếng rên khe khẽ của những tù bệnh. Những tiếng trở mình trên trõng tre của những người khó ngủ tiếp nối nhau đến sáng.

    *****

    Dù sao ngày Mồng 1 Tết vẫn là một ngày thiêng liêng, đáng ghi nhớ trong cuộc đời tù nhân tại Trại Đầm Đùn. ban Quản-trị cũng nhận ra điều đó nên cho tù nhân được hưởng vài ân huệ tập thể đặc biệt.

    Hôm 30 Tết, tù nhân không biết nghe tin tức ở đâu, kháo nhau rằng trong ba ngày Tết, tù sẽ được ăn một món đặc biệt mà cả năm nay, chưa được hưởng: Đó là món thịt bò.

    Sáng sớm Mồng 1, sau khi xếp hàng ra ao rửa mặt trở về, tù nhân tụm năm túm ba nôn nao chờ bữa cơm thịnh soạn.

    Như mọi tù nhân khác, Toàn băn khoăn chờ đợi bữa ăn sáng mồng 1 Tết với sự hồi hộp khác thường. Thèm khát làm cho con người “hèn” đi là sự thường. Từ bao tháng nay, tù nhân ăn đói, cơ thể thiếu tất cả các chất bổ dưỡng làm nên sự sống của con người nên đối với họ, chất bổ rau muống luộc cũng quan hệ và ngon lành không kém bát canh thịt, không kém một chén cơm, một miếng đậu. Vốn có cái tự ái của con người tiểu tư sản nên trong một giây, Toàn như ngó vào gương thấy cái bóng dáng tầm thường, hèn hạ của mình. Nhưng anh lại tự an ủi ngay: cứ đem một “ông vua” vào đây giam và bắt ăn đói một thời gian như tù nhân ở trại giam Cộng sản, coi có thèm khát như “quân chết đói” không? Tinh thần mình vẫn sáng suốt, vẫn phân biệt được cái “cao thượng”, cái thấp hèn nhưng cơ thể mình nó cứ đòi hỏi, cứ bắt mình phải thèm thuồng, phải ao ước, phải chẩy rãi. Nhớ đến câu “vật chất quyết định tinh thần” anh thấy đúng với hoàn cảnh của anh, của các tù nhân.

    Còn đang mãi suy nghĩ miên man, quên đi trong giây lát cái thèm được một bữa ăn có chất thịt hơi thịt. Toàn bỗng thấy cảnh tượng nhộn nhịp hẳn lên. Tiếng kẻng báo giờ ăn vừa điểm. Tù nhân chia việc xuống nhà bếp bưng cơm. Lúc ấy Toàn mới nhận thấy người nào người nấy mặt mũi quần áo sạch sẽ hơn ngày trong năm nhiều.

    Theo lệnh mới, bốn người ngồi một mâm.

    Mâm cơm “đầu năm thiên thủ” quả có thịnh soạn hơn nhiều. Không ai dám công khai “bình luận” gì nhưng đều liếc mắt ngó mâm cơm kỹ càng để làm một “bản phân tách” trong đầu. Ngoài dĩa rau xào, muối vừng, một dĩa muối hột, còn một chút mắm tép với hai tô nước canh đục lờ lờ trong có những khúc xương chặt nhỏ. Nhìn kỹ, tù nhân nhận ra còn những miếng giống như thịt cuốn lại cong queo nằm đáy tô.
    – Đầu năm, năm mới, xin mời trên có các bậc đàn anh lớn tuổi, dưới có các bạn đồng tuổi, xin quý vị nâng chén, nâng đũa…

    Một tù nhân thèm quá, không dằn được lòng vì hương vị thịt từ tô cánh bốc lên ngào ngạt bắt nhẩy mũi đến nơi, chắp tay mời cho phải phép rồi chọc luôn đũa vào tô canh coi nấu với thịt gì. Mọi người nhất loạt bới cơm vào chén. Một tiếng reo mừng rỡ nho nhỏ:
    – Thịt trâu! Xương trâu! Chà! Ngon quá!

    Nhưng có người cải chính tức thì:
    -.... Da trâu! Xương trâu!

    Rồi vội vã giải thích thêm:
    – Bữa cơm hôm nay thật là bữa tiệc! Nhờ ơn Chính phủ…

    Đúng vậy, nhờ ơn huệ đặc biệt của già Hồ, tù nhân Trại giam Đầm Đùn được ăn một món canh mà họ đã “ăn” trước bằng tưởng tượng năm lần bảy lượt. Đó là món canh nấu với xương trâu và da trâu. Tuy vậy, có nhiều tù nhân phải buộc miệng thốt lên những lời khen thành thực:
    – Trời ơi! Tô canh ngọt quá, ngon quá. Ngon hơn..... bát vây!

    Thật thế, chất ngọt của xương trâu có một hương vị thơm ngon lạ lùng và có tác động thần kỳ ma quái, húp được thìa nào, chất béo bổ thấm ngay vào chân răng, vào lưỡi vào miệng, đem ngay cái tỉnh táo sảng khoái cho cơ thể. Ăn xong bữa cơm, tù nhân thấy sức khỏe đã tiêu hao trong bấy lâu hồi phục phần nào.

    Bữa cơm đầu năm là bữa tiệc lớn, một năm mới có một lần, nên tù nhân phải chia nhau rất đều, không thể hơn kém một chút mắm, một miếng rau xào, nhất là một thìa canh xương trâu, khẩu phần cơm bữa nay cũng gia tăng đặc biệt nên người nào cũng được bới bốn lần, không kể miếng cháy xém ăn cuối bữa với muối mè. Một người tù nêu lên ý kiến:
    – Cứ ba tháng được ăn một bữa cỗ như bữa nay thật là khỏe vô cùng. Ước gì một năm có đến 4 cái Tết Nguyên Đán để anh em được…

    Vài người gượng cười, vẻ chua chát. Sự thật, nhiều bữa, cơm còn bốc khói nghi ngút đã hết vì người tù đói quá, làm cả ngày quần quật được có hai lưng cơm chưa ăn đã hết.

    Trước khi ăn cơm, vì thèm quá, một người đề nghị húp trước tô canh xương trâu mỗi người một thìa để thưởng thức. Rồi sau bữa cơm mới chia làm bốn phần, phần nước phần cái đều nhau. Vì thế, khi bốn người trong mâm xong bữa, Trưởng toán xếp bốn chén gần nhau rồi sớt nước canh vào mỗi chén. Nhưng sớt nước canh rồi, Trưởng toán phải chia lại vì phần còn trong tô canh có nhiều chất huyết béo bổ đọng ở đáy. Trưởng toán phải dùng đũa khuấy cho đều, lúng túng làm sao, nước canh tràn ra ngoại tô mất hơn một nửa khiến mấy người kia ngẩn người, nghiêm nét mặt vì tiếc.

    Cho khỏi có chuyện xích mích,Trưởng toán tự công nhận sự sơ xuất bằng cách rút bỏ phần nước canh của anh, tuy vẫn mủm mỉm cười nhưng anh ta tái mặt đi vì hậm hực và tiếc.

    Chia xong nước đến chia “cái”. Mỗi người được hai cục xương nhỏ và hai miếng da trâu (nấu thay thịt), da trâu ninh kỹ nên đã mềm nhưng xương trâu thì không nhai rập được, người nào người nấy đều “hít” lấy “hít” để chất tủy ở trong. Có người nửa đùa nửa thật bàn nên lấy đá ghè bể khúc xương để hút chất tủy còn sót lại.

    Lát sau, nhiều người liệng bỏ cục xương xuống mâm khi xương đã hết chất dính và sạch sẽ như chùi. Nhưng có người còn tiếc rẻ vẫn cầm khư khư khẩu xương trong tay.

    Đến đây mới xảy ra chuyện bất ngờ…

    (1) Về sau thành tên chính thức.

    __________

    6. Mới đầu, chỉ dăm ba người trông thấy. Nhưng thoáng sau, nhiều người đang còn mê mải gặm xương cũng hay và đều quay nhìn về phía Trại ngủ. Họ sững sờ rồi lộ vẻ kinh ngạc. Đằng xa, một hình người gầy ốm tong teo, loạng choạng từng bước, dường như muốn kiếm đường lên nhà Tiểu Công Nghệ nhưng chưa nhớ ra lối nên vừa bước vừa nhớn nhác tìm kiếm. Người đó gầy lắm, chỉ có bề cao chứ không có bề ngang, bước chập chững như đứa trẻ tập đi, nhiều lúc xiêu vẹo tưởng té sấp té ngửa đến nơi mà vẫn gượng đứng vững được. Rồi lại tiếp tục bước. Con người dị hình đó mặc quần xà lỏn rách bươm, hai cẳng chân khẳng khiu như hai cây sậy đã chết khô, trên dưới bằng nhau chỉ có khúc đầu gối là lớn nhất. Trên mình đeo nham nhở nhiều mầu: màu trắng cháo lòng, màu nâu bạc và mầu đen, mỗi màu là một áo và mỗi áo là hai ba màu

    Một dải khăn trùm kín đầu quấn quanh cổ buộc múi dưới cằm cũng rách tơi tả.

    Trời rét căm căm, gió thổi lật tung dải áo phía trước khiến người đó phải lấy tay chặn ngang bụng. Khi không, hắn ngồi thụp xuống, có lẽ chóng mặt nên thấy đưa tay lên ôm trán. Ánh nắng ngày đầu Xuân chiếu rõ vào mặt. Hai mắt hắn trũng sâu như lỗ đáo và nhắm nghiền.

    Sự xuất hiện bất ngờ, và lạ lùng trên gây ra những tiếng than khe khẽ trong đám tù:
    – Trời ơi! Trời ơi! 325 lần mò đi đâu thế kia?
    – Tội quá, hắn tỉnh dậy hồi nào không ai biết!

    – May ra thì sống được đấy!

    Một người sốt sắn, nêu ý kiến:
    – Đề nghị ông Trưởng toán vào bếp xin cho hắn phần cơm hay cháo. Đầu năm, anh em ai cũng được hưởng bữa cỗ mà đồng cảnh 325 chẳng được miếng nào! Tội nghiệp!

    Dăm, bẩy người động lòng trắc ẩn, rời mâm bước ra hiên, đứng ngó hình người quái gỡ nọ với vẻ thương xót pha lẫn tò mò. Thật ra, họ không ngờ giữa lúc mọi người cùng trại tin chắc tù nhân số 325 phải “ngoẻo” trước khi mùa Xuân tới thì y sống lại và chập choạng bước đi dưới nắng Xuân như quỷ hiện hồn. Sức chịu đựng của người tù thật phi thường.

    Tù nhân xì xào bàn tán về trường hợp quái đản nọ…

    Ngoài sân, bộ xương người lại run rẩy đứng lên, tiếp tục bước tới nhà Tiểu Công Nghệ. Hình như từ bộ xương ấy có phát ra tiếng rền rỉ vì có người nghe loáng thoáng trong gió lạnh:
    – Các…ông ơi! Cho tôi xin một miếng! Đói quá! Đói…quá!

    Toàn rợn người trước người trước hình ảnh ghê rợn và tiếng rền rỉ như tiếng mèo gào đêm giữa buổi sáng mồng 1 Tết. Rồi thốt nhiên anh thấy thương xót lạ lùng.

    Lúc đó, anh đã xong bữa. Hai mẩu xương thuộc phần của anh đã bỏ xuống mâm sau khi kỹ càng mút đi, mút lại cả chục lần. Đưa mắt nhìn bao quát một lượt trong trại. Toàn thấy vẫn còn người chưa xong bữa tiệc…xương. Phía sau lưng anh, mấy người cũng đã ăn xong nhưng vẫn cầm khư khư mẩu xương trong tay. Họ quay nhìn ra sân, nơi có hình người rách gầy ốm đang chận choạng bước.

    Không ai biết rõ 325 bị tội gì, chỉ biết anh ta bị giam tại Trại Đầm Đùn đã hơn năm nay và ba tháng gần đây, ngay từ đầu mùa Đông anh ta mang bệnh, nằm liệt giường liệt chiếu. Nhờ có hạnh kiểm tốt, tính tình hiền lành, hay làm ít nói, xung phong hăng nhất, nhiều thiện chí học tập nên mặc dầu ốm đau không sản xuất cho Trại, anh ta vẫn được bỏ mặc cho sống lây lất. Bất cứ người tù nào mang bệnh như anh là cầm chắc cái chết rồi. Vì ban Quản-trị trại giam chỉ ra lệnh cho nhà bếp một tiếng là người tù bệnh cứ nằm chịu trận đói lả trên giường cho đến lúc hấp hối, thở hắt ra mà vẫn còn cố đợi một miếng cơm, một chén cháo loãng hay một chén nước cơm chắt không bao giờ mang tới. Ngoài đời sống tự do, những thức ăn kể trên tầm thường không đáng kể, nhưng trong trại giam Cộng sản, những thức đó có ảnh hưởng trực tiếp đến hơi thở, mạch đập của người tù. Cả những thức không ăn bằng miệng được cũng rất quý báu. Có người tù may mắn lượm được khúc xương sống cá dài hơn ngón tay -khúc chót đuôi- vứt sau nhà bếp. Anh ta run rẩy vì sung sướng, gói khúc xương đó trong một mảnh giấy cất trong túi áo. Bữa ăn, để tăng thêm khẩu vị, người tù kín đáo lấy khúc xương cá ra, đặt vào giữa hai bàn tay khum khum, đưa lên gần mũi hít mạnh mấy hơi lấy hương vị cá rồi thè lưỡi liếm một cái. Trên thực tế, liếm một đốt xương khô còn có gì nữa, nhưng trên phương diện tâm lý, bữa ăn đó người tù trại giam Cộng sản mơ màng đến cá và nhớ lại những bữa cơm ăn với cá trong dĩ vãng. Và bữa cơm anh ta thấy dễ nuốt hơn dù chỉ “ăn” cá bằng mắt, bằng mũi và bằng tưởng tượng.

    Ít lâu sau, sơ ý đánh mất cái xương cá, người tù băn khoăn, bứt rứt, khổ sở và mất tinh thần đến nửa tháng trời mới tìm lại được sự bình tĩnh.

    Câu chuyện “cái xương cá”, nhiều tù nhân biết, nhất là Toàn vì người tù ăn cá bằng tưởng tượng cùng toán với anh. Mỗi bữa cơm, cứ đến chén thứ hai và là chén chót, Toàn thấy người nọ ngó chừng giám thị rồi lấy vẻ tự nhiên, kín đáo giở gói xương cá thường xuyên mang theo. Nhưng lúc người nọ quay lại phía sau, đưa cái xương ra ngửi ngửi trước khi thè lưỡi liếm một cái thật lẹ thì Toàn quay nhìn chỗ khác, để che dấu sự buồn tủi chính trong lòng anh. Nhưng riết rồi Toàn cũng không chú ý đến hành vi của người bạn tù nữa.

    Trường hợp tù nhân 325 mới thật lạ lùng. Từ đầu tháng Chạp ta, anh lâm bệnh nặng luôn luôn mê man đến nỗi buổi sáng anh em đặt anh ta nằm theo chiều nào, buổi trưa anh em trở về trại vẫn thấy anh nằm nghiêng chiều đó, không nhúc nhích. Rận, chấy trong người 325 như sung, bò lổm ngổm từng đám trên mấy manh áo rách. Thỉnh thoảng, tiện dịp, một người bạn tù tự động đem chiếc áo ra sân rũ thật mạnh mươi cái cho rận rớt bớt rồi đem vào đắp lên mình bệnh nhân như cũ. Nhưng vì nằm riết lại không tắm rửa, một tai bệnh nhân bị lở loét. Một buổi sáng, người tù nằm trõng bên bỗng giật mình vì phát giác từ bên trong tai bệnh nhân có những vật gì bò ra. Nhìn kỹ là “ròi”. Ròi cắn tai bệnh nhân loét hết, làm chẩy máu đỏ lòm mà bệnh nhân không biết, hoặc giả có biết nhưng không còn đủ sức để phản ứng. Anh em thương hại năn nỉ với giám thị xin cho phép lau rửa vết thương giúp và xin bệnh xá cho thuốc bôi vào vết thương. Nhưng ròi không sợ thuốc của bệnh xá và tai cứ lở loét thêm.

    Chừng như ròi trong trại giam Cộng sản cũng đói như tù nên đến gần Tết, chúng gặm gần hết, một tai tù nhân.

    Thỉnh thoảng, có đồng cảnh thương hại làm phước đem cái gối đầu bằng mây đan của 325 ra sân đập xuống đất một chặp khiến ròi và rệp trong gối văng ra bò lổm ngổm. Toàn trông thấy phát nổi da gà, lợm giọng, không biết làm cách gì cho khỏi buồn nôn, phải bỏ một trái ớt vào miệng nhai để thay dầu gió. (Lúc nào Toàn cũng có ớt rừng tươi hay khô dắt trong người, như các tù nhân khác trong trại. Anh cũng tin ăn nhiều ớt tránh được bệnh ngã nước).

    Đến gần ngày cuối năm, bỗng nhiên tù nhân 325 có vẻ tỉnh táo lại, ngồi lên được một mình và chìa tay xin ăn. Anh ta đã biết đói. Nhân dịp gần Tết, nhiều tù nhân được nhà tiếp tế, động lòng thương hại, chia sẻ cho vài mẫu bánh, dăm cái kẹo, một hai trái chuối. Xin được đến đâu, 325 ăn hết đến đó một cách ngon lành…Rồi đến bữa cơm, anh ta xin ăn và nhờ anh em đem phần cơm vào tận giường nằm. Mấy ngày sau, anh ta bắt đầu tỉnh người lại, khi đó mới biết mất nửa tai lúc nào không hay nhưng cũng không tỏ ra vui hay buồn. Anh em chỉ thấy 325 thường đưa tay đặt vào nơi trước kia là vành tai mà rờ rờ rồi lặng người đi, suy nghĩ…

    Giữa đêm Giao Thừa, anh ta lên một cơn sốt nóng li bì. Sáng mồng 1 Tết tỉnh dậy, trong trại vắng tanh nhìn lên nhà Tiểu Công Nghệ thấy mọi người đương ngồi ăn cơm, cơn đói bỗng nổi lên dữ dội, 325 ngồi nán lại trên giường dăm phút cho tỉnh hẳn rồi bước đại xuống đất, chập chững lần lên nhà Tiểu Công Nghệ để kiếm bữa…

    Tay chân còn yếu và đầu óc còn bàng hoàng chưa tỉnh hẳn, quãng đường không xa quá một trăm thước, 325 phải đi một lúc lâu. Khi tới bực thềm nhà Tiểu Công Nghệ, 325 không làm sao bước lên nếu không được Toàn và một người nữa ra dìu vào đặt ngồi bên một mâm cơm đã sạch trơn.

    Toàn nhìn vị trí của vành tai bị ròi “nhắm” cụt gần nửa vừa buồn cười, vừa thương hại. Anh ngửi một mùi hôi từ người 325 bốc ra nên ngồi lùi ra xa một chút. Trong khi đó, 325 nhìn lần lượt những người ngồi quanh như những người xa lạ chưa gặp bao giờ, rồi lạnh lùng nhìn xuống mặt đất, tìm kiếm. Mãi mãi mới thấy 325 nhặt được mấy hạt cơm vãi còn dính đất đưa lên miệng mấp máy nhai. Sau cùng, 325 nhặt cục xương trâu bỏ trên mâm đưa lên miệng gặm lại rồi mút lấy mút để. Một tay 325 giữ mẫu xương đưa vào miệng gặm, tay kia lượm 4, 5 mẩu xương khác cầm chặt trong tay như sợ người ta đem đi mất.

    Một tháng sau, Toàn vẫn thấy 325 giữ đủ 5 cục xương. Lúc rảnh rang và tỉnh táo, ngồi chồm hổm trên trõng, anh tù nọ lại đưa cục xương lên miệng mút chơi như ta ngậm và mút hột khi ăn trái nhãn. Sau này, Toàn có dịp nhìn kỹ, nhận thấy những mẩu xương đó đã nhẵn thín, những cạnh gồ ghề do vết dao chặt trở nên trơn tru, thì ra những cục xương trâu đó mòn đi thật!

    Mãi khi 325 khỏi hẳn bệnh, phải đi lao tác cùng với anh em, phần khác sợ mút xương là vi phạm quan điểm của nhân dân, lúc đó 325 mới chịu liệng bỏ những cục xương trâu quý báu một cách ngập ngừng tiếc rẻ. Anh thú thật, nhờ có mấy cục xương đó, anh đã dằn được nhiều cơn đói. Phải chi hàm răng đủ mạnh, anh cũng dám nhai nát mà nuốt từ lâu.

    Chiều Mồng 3 Tết, lại xảy ra một vụ lộn xộn trong bữa ăn.

    Bữa “tiệc vây” sáng ngày mồng 1 Tết chỉ còn là một kỷ niệm trong ký ức tù nhân. Ân huệ đặc biệt của đảng và chánh phủ không dài quá một bữa cơm. Vì vậy, từ bữa cơm sáng Mồng 2 Tết lại là những bữa cơm thường lệ, ăn theo khẩu phần. Thực đơn bữa cơm chiều mồng 3 Tết (cho một mâm 4 người ăn) gồm bốn món như sau:

    – Một dĩa nhỏ rau muống luộc (đếm được 20 cọng rau).
    – Một chút mắm tép.
    – Một tô nước rau luộc.
    – Một dúm muối hột.

    Tù nhân sớt muối làm hai phần, múc một thìa nước rau luộc pha vào muối làm nước chấm thay nước mắm. Đã lâu lắm, tù nhân không được ăn nước mắm dù đó chỉ là muối hột ướp với cua đồng (thay cá), cua ngấu thành thứ nước đen thui. Đó là nước mắm thượng hạng của tù, mỗi tháng được ăn nhiều nhất bốn lần.

    Bữa cơm này là bữa cơm cuối trong ba ngày Tết. Đáng lẽ ra, ngày mai tù nhân bắt đầu lao tác nhưng vì nhằm Chủ Nhật nên tù nhân được nghỉ thêm một ngày, làm công tác vệ sinh chung trong trại rồi ngày mốt mới đi làm, toán xay lúa lại xay lúa, toán cuốc đất lại vác cuốc đi làm, toán đi rừng làm củi lại vào rừng v.v…Chỉ còn toán làm than là năm nay ăn Tết luôn trong rừng bên những lò than, gắn liền đời sống của họ vào kết quả của từng lứa than ra lò.

    Trước Tết, có mấy tù nhân gánh than về trại, Toàn hỏi thăm sức khỏe của Mạnh, Thanh và Tuyên, được biết họ vẫn bình yên. Không khí ở trại than tương đối được tự do khiến Toàn càng ao ước được đi làm than với các bạn. Còn tại Trại Đầm Đùn, não cân lúc nào cũng căng thẳng, tù nhân luôn luôn hốt hoảng trong một tình trạng lo lắng, hồi hộp, khiếp sợ thường xuyên.

    Toàn vừa ăn vừa nghĩ cách vận động xin vào rừng làm than cùng mấy người bạn. Dường như các tù nhân đều nghĩ rằng hết bữa nay là hết Tết, hết nghỉ ngơi, ngày mai cuộc đời vất vả, nhọc nhằn lại tiếp tục nên ai cũng chán nản, buồn bã nhọc nhằn lại tiếp tục nên ai cũng chán nản, buồn bã ít nói, bữa cơm càng mau rồi.

    Cả bốn người trong toán đã buông đũa, đặt bốn chén sát bên nhau để chia phần nước rau luộc trong tô. Thói quen của bọn bốn người này là uống nước rau muống luộc sau bữa. Đó cũng là một cách súc miệng nhưng thay vì nhổ ra, họ lại nuốt để những thứ cơm, rau, mắm v.v…còn dính vào miệng trôi hết xuống dạ dày mà có người ví như “thùng nước vo gạo” kẻo phí của trời. Ăn còn chẳng đủ, làm gì có của đổ đi!

    Vả lại, như trên đã nói qua, trong Trại giam Đầm Đùn, cái gì cũng cần thiết, từ cái kim, sợi chỉ, mảnh vải rách nát, nước điếu thuốc lào, cục xương trâu đã ăn rồi, nghĩa là bất cứ cái gì cũng cần thiết đối với tù nhân. Các thực phẩm còn cần thiết hơn một bậc nữa.

    Mấy thìa nước rau muống luộc trong bữa ăn cũng quan trọng không kém mấy thìa cơm, một miếng cháy, vì không có một miếng nước, rau luộc tức là cơ thể thiếu chất “rau”. Mà thiếu chất rau, tù nhân “phù thũng” mấy hồi? Trong Trại Đầm Đùn, bị phù thũng thì cầm chắc sắp được mặc “sơ mi cói”. (Tù nhân đáp “chuyến tàu suốt” cũng không được mặc “sơ mi…cây”).

    Bốn chén được đặt gần nhau, một người nhấc tô nước rau lên lần lượt sớt vào bốn chén còn lại nước rau trong tô, y lại sớt thêm lần nữa, gia giảm cho phần nào phần nấy bằng nhau như có cân lượng hẳn hòi, không thể hơn kém nhau dù nửa thìa, theo đúng khẩu hiệu: Một giọt nước rau luộc là một giọt máu của tù.

    Trưởng toán ngồi yên, “án binh bất động”, quan sát việc chia nước rau luộc. Toàn còn chần chờ đợi cho cặn lắng xuống đáy chén, hai người kia đã nhấc chén của mình định đưa lên miệng. Trưởng toán nhanh nhẹn như cắt, thoắt nắm chặt tay một người tù trong toán, dằn xuống và quắc mắt giận dữ nói:
    – Hồi nãy, anh có ăn sang phần mắm tép của tôi một miếng. Vậy, phải bớt phần nước rau của anh một nửa. Cũng như sáng hôm kia, tôi đã phải bù một phần canh thịt của tôi.

    Vừa nói, Trưởng toán cầm chén của người nọ, dợm sớt nước rau qua chén mình thì người tù nọ dằng lại để phản đối, không dè lỡ tay làm đổ nước rau xuống đất. Thoáng cái, mặt đất hút hết, chỉ còn để lại, một vết xẫm loang trên nền nhà. Trưởng toán tái mặt vì tức, bàn tay cầm chén run run như người đang lên cơn rét, lặng người nhìn kẻ tranh chấp quyền lợi với mình, chưa kịp có thái độ thích ứng thì người kia đã như người mất trí, cuống quýt nhấc một chén khác còn đầy nguyên đưa vào miệng.

    Không khí bữa ăn đột nhiên trở thành nghiêm trọng. Toàn đoán ngay sẽ có sự không hay nên vội cầm chén của mình ngồi lùi ra, rồi nói để giải hòa hai bên:
    – Tôi xin các anh bớt nóng để giữ hòa khí với nhau. Anh nào cần, tôi xin nhường một nửa…

    Không ai lưu ý đến lời hòa giải của Toàn. Trong khi người kia ngậm vành chén vào miệng, Trưởng toán vội nắm chặt vành chén dằng ra. Dằng không được, Trưởng toán nổi giận thêm, thốt ấn mạnh chén vào đối phương khiến người tù mất thăng bằng ngã về đằng sau. Lúc anh ta lổm nhổm ngồi lên, miệng đã đỏ lòm. Vành chén đã bị mẻ một miếng, cứa vào môi anh ta. Một tay cầm chén mẻ, tay kia đưa lên xoa miệng, chìa tay ra coi thấy đỏ lòm những máu, người nọ nổi khùng, lạnh lùng “hừ” một tiếng căm giận rồi xuất kỳ bất ý đập thật mạnh vào giữa mặt Trưởng toán bằng chiếc chén vỡ trong tay. Mọi người chỉ kịp nghe chén bể vụn, nhìn lại thấy mặt Trưởng toán đã đỏ lòm, máu phun ra có vòi. Trưởng toán kêu “ối” một tiếng đưa tay lên bịt chặt mặt, thoáng cái, hai bàn tay bê bết chan hòa những máu rồi máu chảy qua các khe ngón tay, nhỏ giọt xuống đất.

    Nhìn những giọt máu tóe ra như những ngôi sao trên mặt đất, Toàn thấy chóng mặt. Anh vốn yếu tim, không dám lại gần can gián đôi bên nữa.

    Không khí trong trại căng thẳng thêm khi tù thấy máu đổ. Có người nói:
    – Trình giám thị ngay và xin phép đưa người bị thương lên bệnh xá.

    Rồi có người chạy nhốn nháo và tiếng quát:
    – Yêu cầu giữ trật tự. Cấm đi lại nháo nhác. Ngồi hết cả xuống…

    Tiếng quy-lát súng kéo xành xạch khiến nhiều người tái mặt. giám thị xách súng chạy tới, mũi súng lăm lăm chỉa vào đám tù nhân gây…rối.

    Theo lệnh của giám thị, tù nhân răm rắp ngồi xuống bên mâm cơm, không nhúc nhích. giám thị đã có nhiều kinh nghiệm về các vụ xung đột của tù nên tiến thẳng đến bên mâm cơm lưu huyết. Y nhìn bộ mặt be bét những máu, dõng dạc hỏi:
    – Đầu đuôi ra sao? Vì lý do gì làm mất trật tự?

    Người tù rách môi vừa cất tiếng phân trần đã nghe quát:
    – Im mồm! Chưa tới anh.

    Trưởng toán vuốt máu chan hòa trên mặt, nhắm mắt và nói:
    – Trại viên 125 đã đập chén vào giữa mặt tôi. Hắn đã ăn sang phần mắm tép của tôi lại cướp nước rau luộc để uống hết, làm đổ hết phần nước rau của anh em trong toán…

    Người tù rách môi định phân trần, giám thị đã chỉa súng vào ngực y và quát hỏi dữ tợn:
    – Anh có đả thương Trưởng toán không?
    – Dạ…thưa ông giám thị, Trưởng toán không cho tôi uống phần nước rau của tôi…Anh ta lại....

    Giám thị cắt ngang:
    – Im! Trả lời câu hỏi: Anh có đả thương người này không?
    – Dạ…Dạ…có! Tôi trót nóng vì…

    – Câm miệng!

    Một chiếc còng khóa liền tay hai thủ phạm phá rối trật tự. Giám thị ra lệnh:
    – Lên Văn phòng khai.

    Hai tù nhân cùng một toán, cùng cảnh tù tội, lúc bình thường đôi khi còn thương vay cho nhau, nay vì một sự thèm ăn thèm uống nhất thời mà thành đối thủ sắp phải buộc tội lẫn nhau để dành phần phải về mình. Họ lo sợ khi nhớ ra rằng ở trong tù “cái sẩy nẩy ra cái ung”, chỉ vì một miếng nước rau, một miếng mắm tép mà hết sống bởi không chịu nổi những hình phạt của trại giam.

    Tối hôm đó, nghe điểm danh trước khi tù nhân ngủ, Toàn không nghe tiếng hô số của hai người bị còng tay dẫn lên Văn phòng hồi chiều. Không ai dám hỏi, chỉ đưa mắt ra hiệu cho nhau giữa những người cùng toán.

    Một làn không khí nặng nề bao phủ khắp trại và hình ảnh máu me, trừng phạt khủng khiếp theo dõi người tù cả trong những giấc ngủ. Đêm khuya, những người khó ngủ thường nghe những tiếng ú ớ nói mê của đồng cảnh. Hôm nay, tù nhân được chứng kiến một cảnh tượng khó quên khiến nhiều người dị đoan cho rằng: Năm nay, tù nhân phải chịu nhiều cảnh đau đớn, khổ não khác thường. Vận nước càng điêu linh bao nhiêu, nạn nhân của chế độ càng phải chịu nhục nhã, khổ ải bấy nhiêu.

    *****

    Sáng Chủ Nhật, theo thường lệ có lễ chào “quốc kỳ”.

    Những tù nhân có kinh nghiệm và tinh ý đều nhận ra ở giữa sân, trước cột cờ, có đóng bốn cái cọc thấp lè tè như cọc dùng để cột trâu ngoài bãi cỏ. Họ giựt mình sợ hãi nhưng không dám hỏi han bàn tán. Nhiều người bỗng trở nên rụt rè, khép nép, bất giác kiểm điểm lại quần áo coi có gì cần sửa cho gọn gàng sạch sẽ hơn không. Khốn nạn! Còn gì nữa mà sửa, anh nào cũng quần một manh, áo một mảnh. Họa hoằn lắm, có anh mặc chiếc áo mới, quần lại tơi tả, rách bươm như sơ mướp. Tình cảnh đã bi đát, thê thảm đến như thế mà có người còn bông lơn một cách vô duyên:
    – Ối dào! Cho nó... thoáng!

    Không ai cười ai hết vì không có can đảm và thì giờ cười người khác. Bất cứ một sự chẳng may nào cũng có thể khiến người tù “được” mặc quần không đũng!

    Một tên lính cảnh vệ bận đồ ka-ki nội hóa, đội nón lá, lăm lăm khẩu súng trường hách dịch nhìn bẩy tám trăm tù nhân một cách giận dữ. Theo lệnh của giám thị, tù nhân răm rắp sắp hàng chuẩn bị làm lễ chào cờ.

    Trại bên kia tù nhân Pháp cũng đang chuẩn bị hàng ngũ để làm lễ chào “quốc kỳ” của những người cầm tù họ.

    Lá cờ đỏ rực một cách tàn bạo, lúc nào cũng như vừa ăn gan uống máu nạn nhân của chế độ, từ từ tuồn lên ngọn cột trong khi sáu bảy trăm cái miệng hết hơi vì đói vì bệnh, cố gào lên những lời thù hận của bài quốc ca. Tiếng hát chào cờ vọng vào tận những lùm cây xa xa dưới chân núi.

    Thủ tục chào cờ xong, trái với lệ thường, tù nhân không được giải tán để về trại ăn cơm sáng mà còn phải đứng lại nghe một tin làm tái mặt nhiều người. Đó là tin một tù nhân bị trừng trị vì phạm tội phá rối trật tự trong trại. Y đã đả thương Trưởng toán sau khi “vi phạm quan điểm của nhân dân”: Ăn lấn sang khẩu phần của người khác, làm hư hao thức ăn và làm hư hại “nghiêm trọng” đồ dùng của trại giam (Toàn đoán ra là bị can đã làm bể một chén sành bới cơm cho tù). Ngoài hư hao về vật chất, thương tích trên cơ thể, thiệt hại về năng xuất, bị can còn nêu một gương xấu có phương hại cho kỷ niệm chung của trại.

    Viên giám thị nhìn mặt các tù nhân để nhận định tầm mức ảnh hưởng gây ra bởi những lời tuyên bố đanh thép của y rồi trịnh trọng dằn từng tiếng:
    – Hình phạt cho kẻ phạm lỗi lần đầu: 50 roi.

    Có những tù nhân nuốt nước miếng ừng ực. Có những anh mặt tái đi vì sợ tuy biết chắc mình vô can trong vụ này.

    Sau khi tuyên bố lý do áp dụng luật lệ, giám thị ra lệnh giải tán hàng ngũ. Nhưng giải tán để đứng vây quanh kẻ phạm lỗi đặng chứng kiến sự trừng phạt mà cảnh giác.

    Cả một đám đông sáu, bảy trăm người mà không nghe một tiếng xì xào. Chỉ thỉnh thoảng nghe những tiếng ho sù sụ không giữ nổi trong lồng ngực. Tù nhân khép nép trong trật tự, đứng bao quanh một khoảng đất trống giữa bãi chào cờ, lấy bốn cái cọc tre đóng trên bãi làm trung tâm điểm.

    Bỗng mọi người nháo nhác quay nhìn về một phía. Rồi không ai bảo ai, các tù nhân tự động đứng dãn ra, để hở lối đi cho một tội nhân khấp khễnh bước vào với sợi xiềng lòng thòng giữa hai cẳng. Toàn chỉ quan sát sơ qua là biết tội nhân trước lúc đó đã bị xiềng thượng khẩn, nghĩa là đã bị ban Quản-trị quy cho một tội nặng. Vì không có vải rách hoặc lá chuối khô quấn vào cạnh khoen sắt, cổ chân tội nhân đã tóe máu.

    Hình như y không lưu ý đến cổ chân chảy máu, chỉ lộ vẻ ngơ ngác đần độn có lẽ vì quá sợ hình phạt sắp phải chịu. Mới từ chiều hôm qua là lúc xẩy ra vụ đánh lộn với Trưởng toán vì mấy thìa nước rau luộc, đến sáng hôm nay, mặt y già xọm và hốc hác trông thấy.

    Vào bên trong hàng rào người, y thẫn thờ nhìn viên giám thị rồi đứng lặng người, khoanh tay ngó khoảng đất giữa 4 chiếc cọc. Thốt nhiên tội nhân chẩy nước mắt ròng ròng.

    Y chưa khóc được bao lâu thì ngoảnh cổ ngó một người đang bước tới. Thốt nhiên lại yên lặng như tờ. Cả đến những tù nhân mắc bệnh ho kinh niên, ho sù sự luôn miệng, lúc đó cũng…tịt cả ho. Chỉ vì họ thất đảm trước sự xuất hiện của một nhân vật tuy giữ địa vị tầm thường mà có “quyền hành” ghê gớm. Mấy trăm người có mặt đều thì thầm trong trí hai tiếng khủng khiếp: Đầu Trâu.

    Phải! Đầu Trâu đã tới làm nhiệm vụ. Y cầm lắt lẻo trong tay một khúc roi dài chừng hơn thước tây. Đó là một khúc “roi mây mật”, khi đánh, roi quất vào thịt cứ “ngọt lịm” đi như mật.

    Vài tù nhân lúc rảnh rỗi bàn phiếm về tác dụng ghê gớm của cây roi mây mật đã giải thích một cách hài hước như vậy. Nhưng khi trông thấy Đầu Trâu xách roi, hồn vía họ bay tuốt lên mây.

    Bỗng Đầu Trâu nhìn sững kẻ sắp là vật hy sinh dưới ngọn roi của y rồi ra lệnh:
    – Nằm xuống!

    Tội nhân lắp bắp trong miệng hai tiếng “vâng ạ” lúng túng cởi áo. Trời rét ngọt, gió bấc vùng núi thổi đều từng ngọn như mũi dao lách vào da thịt. Thoáng cái, tội nhân chỉ còn đeo trên mình có chiếc xà lỏn rách. Đầu Trâu đưa mắt một cái, tội nhân rụt rè mấy giây rồi cởi quần ra, liệng xuống đất. Y run lên cầm cập, lấm lét nhìn Đầu Trâu. Có lẽ y nghiến hai hàm răng vào nhau cho bớt sợ nên Toàn thấy xương quai hàm của y giây lát lại nổi lên rõ mồn một.

    Lệ đánh đòn của Trại giam Đầm Đùn là như vậy. Khi chịu đòn, tội nhân phải trần truồng không mảnh vải trên người. Nếu mặc quần áo thì đó là quần áo chứ không phải tội nhân chịu đòn. Tội nhân lạnh lùng nằm sấp xuống đất, dang hai tay và hai chân. Một người đã chờ sẵn theo lệnh của giám thị với vật dụng cần thiết: đó là bốn sợi dây luộc, nhỏ bằng ngón tay. Người nọ buộc hai cổ tay, hai cổ chân tội nhân bằng bốn sợi dây, còn bốn đầu dây buộc vào bốn cây cọc, siết thật chặt.

    Bốn sợi dây căng thẳng nằm lơ lửng cách mặt đất chừng ngón tay khiến thân thể người tù nằm đó có vẻ dài thêm ra. Hắn nằm nghiêng một bên má, ngó về phái Đầu Trâu như an đành với số phận, hai hàng nước mắt bỗng lại ròng ròng. Toàn thấy cảnh tượng như vậy cũng muốn ứa nước mắt. Đây là lần đầu tiên được chứng kiến nên anh vừa hồi hộp vừa thương tâm. Nhưng cảm giác rõ rệt nhất trong lòng anh là sự sợ hãi kinh khủng. Nhất là cái khung cảnh đã làm cho anh mất vía, bàng hoàng như đang sống trong một cảnh tra tấn của quỷ dữ dưới âm ty địa ngục vẫn tả trong các kinh sách Nhà Phật.

    _________

    7. Nằm nghiêng một bên má, ngó chừng Đầu Trâu, tội nhân 125 đang nghĩ ngợi, tính toán để “hóa giải” bớt hiệu lực của những ngọn roi song mật. Mặt anh ta lại thộn ra một cách kỳ cục. Đầu Trâu liếc nhìn và mỉm cười, ra vẻ đã khám phá được mưu kế của nạn nhân. Y cười mà không phải cười, nghĩa là y nhếch mép để lộ mấy cái răng cửa đen thui khập khểnh, nom tàn nhẫn một cách khiếp đảm.

    Chung quanh vẫn yên lặng như tờ. Không khí nặng nề như sáu, bảy trăm người có mặt đang coi xử tử hình một người trong khi chờ đợi đến lượt mình, chứ không phải một vụ đánh đòn trừng phạt tầm thường.

    Đầu Trâu cầm ngọn roi mây nằm ngang trong tay, đắn đo từng bước trên bãi đất, đi vòng quanh người nằm đấy, kiểm soát lại bằng mắt những mối dây buộc vào cọc. Đó là một việc làm gần như vô ích vì từ khi Đầu Trâu nhận lãnh công việc đánh người, chưa bao giờ xảy ra vụ sút dây trói.

    Không khí thật căng thẳng trong sự chờ đợi. Phạm nhân hồi hộp, não cân căng thẳng quá nên mọi người thấy anh ta nhắm mắt lại và hai hàm răng nghiến hằn lên sau lằn da má, như anh ta đang nhai gì trong miệng, sự sợ hãi hay sự thống khổ nhục nhã chẳng hạn. Một tiếng quát vang lên của Đầu Trâu khiến mọi người kinh hãi:
    – Úp mặt xuống đất! Thằng kia!

    Phạm nhân lập tức gục trán chống xuống đất, đưa miệng và mũi hơi cao hơn mặt đất để thở. Anh ta chỉ kịp thoáng nghĩ “Thôi, thế là chết”, rồi nhăn rút mặt lại, chuẩn bị một sự chịu đựng phi thường. Nhưng Đầu Trâu vẫn chưa múa roi. Y còn vờn chung quanh phạm nhân với những mục đích khác nhau.

    Thứ nhất, về phương diện tâm lý. Nếu y đánh ngay, thần kinh hệ phạm nhân đỡ bị căng thẳng và cả những người chứng kiến cũng bớt khiếp hãi, hồi hộp. Mối nguy hiểm sắp sửa tới, ta kinh sợ, nhưng khi tới rồi, sự sợ hãi giảm đi và ta sẵn sàng chịu đựng.

    Thứ hai, y nghiên cứu đặt những ngọn roi vào vị trí nào trên cơ thể, đánh làm sao cho “đẹp” và phạm nhân thấm đòn!

    Đột nhiên mấy tiếng “vút vút” rít lên trong làm gió lạnh khiến mọi người rùng mình, vài tù nhân quá nhát sợ nhắm cả mắt lại như chính mình đang bị đòn. Người nằm dưới đất hơi quằn quại, một vài thớ thịt trên lưng, trên mông nổi lên lặn xuống. Toàn đã được những tù nhân có kinh nghiệm truyền cho một bí quyết chịu đòn. Khi bị đòn, phải cố gắng bắt tâm trí nghĩ đến những chuyện vui sướng đã qua, dồn hết tâm trí vào những chuyện đó, mặc cho xác thân bị hành hạ. Như thế, hiệu lực của ngọn roi sẽ giảm đi rất nhiều. 125 cũng biết “bí truyền” ấy, vậy mà khi chưa một ngọn roi nào chạm vào da, bắp thịt anh đã chuyển động gồng lên như đang chịu đòn. Cho hay từ lý thuyết đến thực hành biết bao khó khăn công sức, khác chi đang ăn theo khẩu phần C làm thế nào để được cải sang khẩu phần B vậy.

    Nhìn người bạn tù cùng toán nằm trên mặt đất không mảnh vải trên người, tứ chi bị trói vào cọc ở bốn góc mường tượng như con chó sắp bị đưa ra làm thịt, anh cảm thấy nhục nhã vô cùng, tưởng đang sống dưới thời phong kiến mấy trăm năm về trước. Không biết vì xấu hổ hay thương xót cho số phận con người dưới chế độ phi nhân, anh lại ứa nước mắt, phải cúi mặt xuống đưa tay quệt thật nhanh. Vì ứa nước mắt như thế là không tiến bộ là vi phạm quan điểm của nhân dân, là đồng lõa với kẻ phạm lỗi.

    May quá, không có ai thấy trước khi mắt anh đã ráo hoảnh.
    – Đét..! Đét..! Đét..! Đét!!

    Bốn năm đường roi mây quật tới tấp lên mình tội phạm giữa lúc bất ngờ nhất. Cây roi siết vào không khí lạnh bật ra những tiếng veo véo, tức thì thân thể phạm nhân nẩy lên như nằm trên tấm nệm lò xo. Rồi những tiếng “đen đét” như mưa rào tháng Tư vụt xuống khoảng bên dưới thắt lưng và trên hai mông đít.

    Người nằm dưới đất bật lên khóc ai oán:
    – Trời đất ơi! Cha mẹ ơi!

    Đầu Trâu ngừng tay roi thốt giận dữ như một ông tướng bị lính xúc phạm đến danh dự:
    – Câm mồm! Trừ năm roi!

    “Trừ năm roi”, có nghĩa là năm roi vừa đánh không tính, phải đánh lại. Khi đó Đầu Trâu đã đánh được 15 roi rồi, nhưng chỉ kể 10 roi. Còn 40 roi nữa.

    Phạm nhân úp mặt xuống đất, nức nở như muốn than van với đất nỗi đau đớn đang phải chịu. Nhưng đất dầy quá lại không có tai không nghe. Đầu Trâu chú ý nhìn những vết roi đang thành hình trên mông phạm nhân.

    Vừa rồi, vết roi mới bầm, lúc này đã xẫm lại vì máu đã rớm ra.

    Đã đến lúc Đầu Trâu vào bài, vì y đánh có bài. Y lùi lại một bước, nhắc tay roi lên và vụt xuống. Nhưng y tính sao cho khoảng roi chạm vào da thịt không dài quá 15 phân để bao nhiêu sức mạnh của bắp thịt cánh tay chỉ dồn vào một diện tích tối thiểu. Như thế, sự đau đớn gây ra cho kẻ bị đánh sẽ gấp bội.

    Nhưng chưa phải có thế mà thôi. Đúng lúc đầu roi song mật vừa quất vào da thịt phạm nhân thì y “vặn” cổ tay cầm roi một cái, đồng thời giựt mạnh theo chiều dài của ngọn roi với một kỹ thuật lạ lùng. Tức thì làn da của phạm nhân bị bứt lên từng mảnh hoặc bị xé như cứa bằng dao.

    Đến roi thứ 30, máu ở hai bên mông đít đã chan hòa. Trên cơ thể của phạm nhân, hai mông đít là bộ phận nhiều thịt nhất đã bị tơi tả rách nát. Phạm nhân chỉ còn rên hừ hừ, ngay cả lúc Đầu Trâu ngừng tay roi. Đám tù vây quanh thấy phạm nhân thở rất gấp, bụng y phồng lên xẹp xuống rất mạnh. Nhưng ít người rõ được thâm ý ác độc của Đầu Trâu, hậu quả của vụ trừng phạt này còn tác động lâu dài rất nguy hiểm đến đời sống của phạm nhân sau này.

    Lúc bị đánh đau quá, khí lực trong người vận dụng lên hết để chịu đựng rồi thoát ra bên ngoài theo hơi thở, theo lỗ chân lông. Đến lúc hít vào thì hít phải hơi “đất” có chất “hàn”. Chất “hàn” đó liếm vào trong cơ thể, vào lục phủ ngũ tạng rồi gây nên nhiều ác chứng về sau. Hơn thế nữa, luôn luôn tù nhân bị đòn vì phạm lỗi nặng phải giam trong xà lim, cùm hai chân. Đít và lưng bị rách nát, tù nhân đau không thể nằm ngửa nằm nghiêng mà phải nằm sấp trong lúc cơ thể suy nhược. Hơi đất liếm vào phủ tạng nên tù nhân bị “chướng”, mất mạng như bỡn!

    Cây roi trong tay Đầu Trâu lại vun vút trong gió lạnh liền một hơi đến chục lần. Phạm nhân luôn miệng “hứ! hứ!” như đang bị bào thịt rách da rồi nằm ngay đơ…hệt người ngủ say. Mặt anh ta nghiêng về một bên. Một số tù nhân thấy hai đường máu đỏ quạch từ hai lỗ mũi nạn nhân bò ra và bên mép sát đất cũng rỉ máu tươi. Đầu Trâu đánh cách nào mà tuy chỉ đánh trên lưng và mông đít, máu phạm nhân lại ứa ra đằng miệng, đằng mũi! Những người chưa thấy lần nào run lên cầm cập, một số toát mồ hôi đầm mình còn một số dấu mặt bật lên khóc nức nở như con nít. Họ không thể giữ sự thương tâm ở trong lòng lâu hơn nữa.
    – Lấy một gáo nước lạnh!

    Tội nhân đã chết giấc, phải dùng nước lạnh làm cho tỉnh lại đặng còn chịu đòn tiếp. Đánh một người đã chết giấc khác gì đánh vào thây ma. Mà thây ma còn biết gì là đau đớn! Nếu tiếp tục, đòn phạt sẽ vô hình trung trở nên vô dụng, phí công!

    Đầu Trâu thong thả nghiêng gáo nước lạnh cho chảy thành một giòng nước nhỏ vào giữa mặt tội nhân rồi đưa lần xuống phía dưới cho chẩy trên lưng và mông đít. Gặp gió lạnh, máu đã đông lại từng mảng trên mông, giờ gặp nước bong ra và trôi xuống đất, để lộ những khoảng thịt bầy nhầy nát bấy! Bấy giờ, mọi người mới thấy rõ Đầu Trâu đã luyện khoa đánh đòn đến mức tinh vi tuyệt đỉnh: ngọn roi sau đè lên ngọn roi trước không sai mảy may khiến da thịt rách tung như thế. Có tù nhân quá khiếp sợ đòn của Đầu Trâu phê bình rằng: Đầu Trâu quen tay quen bài đến mức có thể nhắm mắt cũng không trật một ngọn roi ra ngoài vết roi trước, nếu hắn muốn.

    Tội nhân chợt tỉnh, bỡ ngỡ nhìn lên trời cao vòi vọi và đỉnh núi xanh xanh phía xa xa, rồi lại não nề nhắm mắt. Sau đó vài giây, anh ta bàng hoàng mở mắt rồi chừng như tỉnh hẳn, nhận thức được việc đang xảy ra, anh ta gào lên một tiếng trong cổ họng. Tiếng gào đó dù không có âm thanh rõ rệt nhưng chắc chắn có ý nghĩa như một lời uất hận, một lời than thân, một lời nguyền rủa độc địa khiến những người nghe thấy đều rùng mình khiếp hãi. Đầu Trâu quắc mắt, nhe răng định quát…lại thôi.

    Ngọn roi song mật lại veo véo trong gió lạnh. Còn hai chục roi, Đầu Trâu nhắm đánh vào khoảng giữa hai mông đít, trên ba đốt xương sống cuối cùng. Chỉ thấy tội nhân nhổm đít lên thật cao rồi rơi phịch xuống, quằn quại như con rắn bị đánh dập đầu. Cuối cùng, tội nhân nằm ngay đơ để chịu đựng mấy roi kết thúc.

    Đấu Trâu hạ ngọn roi, bước lại trước mặt giám thị, lễ phép nói:
    – Thưa đồng chí giám thị, đã đủ năm mươi roi!

    Giám thị không bỏ sót một chi tiết nhỏ nào từ đầu đến cuối, lạnh lùng gật đầu:
    – Được rồi!

    Rồi quay lại bảo đám đông:
    – Cởi trói ra, cho về xà-lim.

    Cùng với mọi người, Toàn sán lại gần tội nhân và thấy đốt xương sống đã bị đánh bật xương lòi tủy ra ngoài. Trong khi mỗi người cởi một đầu dây, Toàn khẽ vỗ vai người nằm đó, ra hiệu ngồi lên. Nhưng anh ta vẫn nằm nguyên vị khiến một người khác vừa đắp chiếc áo rách lên mình anh cho bớt lạnh vừa nắm tóc mai giật cho tỉnh lại. Cũng vô hiệu.

    Lúc đó, Toàn mới thấy mồm anh ta đầy máu. Vài ba người hốt hoảng xúm lại nhấc lên, nhận ra thân thể anh đã mềm một cách khác thường, không phải cái mềm của thân người còn sống.

    Một người rờ vào tim tội nhân, tim đã hết đập! Một người vạch mồm để coi máu ở đâu chảy ra nhiều như vậy. Khi đó, mọi người mới hiểu tại sao tim anh ta hết đập.

    Thì ra anh ta đã nhai nát lưỡi để tự tử.

    *****

    Cách đó 3 ngày, một buổi sáng, Toàn xung phong theo đoàn tù đi chặt củi ở rừng. Kể từ ngày ông già tóc bạc treo cổ tự tử trong rừng bằng giây luộc, anh còn xung phong nhiều lần nữa. Mỗi lần đi làm củi, anh lại nhớ mấy người bạn đi làm lò than.

    Hình ảnh vụ Đầu Trâu đánh đòn bữa trước lại hiện ra trong óc Toàn, rõ ràng và đẫm máu. Nhất là cái kết cục, thật bất ngờ đáng sợ. Anh biết chắc suốt đời không thể quên nổi. Tuy đa số tù nhân tội nghiệp cho 125, nhưng mừng thầm anh ta đã được giải thoát khỏi cảnh ô nhục.

    Bữa nay, số người vào rừng làm củi có tới 60 tức là 12 toán 5 người, do Trưởng Ngành Củi trong Tổ SảnXuất hướng dẫn và chỉ huy. Về phía ban Quản-trị có một giám thị và hai cảnh vệ võ trang, theo vào khu rừng xa khoảng 15 cây số, một khu rừng vẫn được khai thác lấy gỗ, củi lâu nay.

    Từ hôm xẩy ra vụ xung đột vì mấy thìa nước rau luộc đưa đến kết quả một người bị đòn trừng phạt khiến phải tự tử ngay trước mặt sáu bảy trăm đồng cảnh và một người nằm bệnh xá điều trị trước khi phải thọ hình phạt chưa biết như thế nào, toán của Toàn chỉ còn hai mống. Hôm sau, có gần trăm tù nhân từ các nơi đưa đến, theo lệnh của ban Quản-trị bọn này được chia ra nhiều toán. Toàn được chỉ định làm Trưởng toán, coi 4 người khác trong phạm vi toán của anh. Toàn mừng thầm không phải vì Trưởng toán có quyền lợi gì hơn các toán viên nhưng ít ra đã được công nhận có hạnh kiểm tốt, tư tưởng đúng đường lối Nhà nước ấn định, có thiện chí xung phong trong mọi công tác v.v…

    Nhận xét tổng quát, các tù nhân mới nhập Trại giam Đầm Đùn tang thương không kém những người đã bị giam lâu ngày tại đây. Người nào, người nấy đều bị mòn mỏi, tinh thần hoảng hốt, ghẻ lở, quần áo tả tơi, mặt mày hốc hác một vẻ đặc biệt “ốm đói” như bất cứ tù nhân nào của trại giam CS thời đó. Trong một lúc vắng vẻ, Toàn kín đáo và thân mật hỏi một trong hai người mới nhập toán, được biết họ từ một trại giam gần Thái Nguyên bị đưa về. Họ phải lẽo đẽo đi hơn 4 tuần lễ mới về đến Đầm Đùn sau khi đã rơi rớt quá nửa ở dọc đường, một số lớn chết gục trên đường thiên lý, một số bị bắn chết vì mưu toan trốn và một số rất ít còn đủ sức chạy thì trốn thoát nhờ chạy đại được vào giữa mặt trận, nơi hai bên đang rình rập nhau mà chưa được lịnh khai hỏa. Do đó, lính cảnh vệ không dám nổ súng vì sợ quân viễn chinh Pháp phát giác cuộc di chuyển tù nhân. Cũng do người này, Toàn được biết thêm tình hình chiến sự vùng Trung Châu Bắc Việt đang cực kỳ gay go, nghiêm trọng nên chính quyền CS phải cho di chuyển tù nhân các nơi vào các vùng xa xôi, núi non hiểm trở trong vùng Chí Nê và Tây Bắc Thanh Hóa v.v…

    Hai người tù mới nhập toán mang số 982 và 983, một người có vẻ thuộc thành phần trí thức tiểu tư sản, một người thuộc thành phần thợ thuyền lao động như thợ máy, và có bàn tay bốn ngón. Khi Toàn hỏi thăm người này thản nhiên kể lại trường hợp hy hữu nhờ nhanh trí và gan dạ anh ta đã thoát chết. Một bữa nọ ở Việt Bắc sau khi phạt cây, anh ta xúc đất đổ nền lấy chỗ dựng lều tạm trú trong rừng cho đoàn tù đang bới đất chợt thấy buốt đánh nhói nơi đầu ngón tay trỏ bàn tay trái như bị rắn độc cắn, anh ta vội nắm chặt ngón tay bị thương hãm cho máu độc khỏi chạy về tim và thấy một con bò cạp đen thui đang chui và lỗ nứt dưới đất. Biết bị bò cạp chích, anh ta vội giằng lấy con dao trong tay người bạn, kê ngay ngón tay bị chích lên hòn đá, chặt một nhát. Chẳng may khi đó, mắt đã bắt đầu hoa, anh ta chỉ chặt được có một đốt, liền ngay bên vết cắn, nên cái cảm giác buốt nhói vẫn còn. Anh ta phải chặt lại nhát thứ hai, cụt luôn hai đốt còn lại, rồi loạng choạng ngã xuống đất, miệng la rầm rĩ, tay vẫn bịt chắt vết thương cho khỏi mất nhiều máu. Mấy người bạn tù xúm vào nhấc anh lên và kiếm lá dịt vết thương cho cầm máu. Ấy vậy mà cũng phải gần hai tháng vết thương mới lên da non.

    Nọc bò cạp độc đến nỗi chỉ một lúc sau, đốt tay bị chặt đen thui lại, đến quá trưa hôm sau bắt đầu thối. Anh ta đào một lỗ nhỏ chôn mấy đốt ngón tay, khi đó anh ta buồn bã một cách kỳ cục và có cảm tưởng như đang đào huyệt để tự chôn mình.

    Theo thể lệ mới, công tác làm củi nặng nề hơn trước nhiều. Ngoài hai bó củi tù nhân phải gánh về, còn phải chặt thêm hai gánh củi nữa (4 bó) xếp ngay ngắn bên những đống của người khác, để tù nhân khác sẽ đến gánh về trại. Như thế luôn luôn có một số lượng củi đã làm sẵn xếp trong rừng. Cho thi hành công tác làm củi theo tiêu chuẩn mới ấn định lại, nhà cầm quyền CS nhằm hai mục đích:
    – Sử dụng hết mức sức lao động của tù nhân.
    – Đầy đọa tù nhân cho mau chết đặng loại bớt một số phần tử không có lợi, hoặc có hại cho xã hội chủ nghĩa.

    Vì tiêu chuẩn đặt ra cao hơn trước nhiều nên khi vào tới rừng rồi, người nào người nấy hăm hở bắt tay vào việc ngay, chỉ sợ không đủ làm kịp số lượng bắt buộc. Toàn cùng ba người đồng toán chung sức làm một cây như mọi lần.

    Trời tuy rất lạnh, nhưng làm củi chừng tiếng đồng hồ, người nào người nấy lột bỏ áo, buộc hai tay áo trước cổ, thân áo để lòa xòa trên lưng ướt đẫm mồ hôi. Riêng Toàn vì yếu phổi và chớm bị bệnh hen nên vẫn mặc áo trong lúc làm cây tuy anh cho đó là một sự phí phạm tai hại.

    Chợt nhớ đến tù nhân 125 chết mấy hôm trước, Toàn ngừng tay dao hỏi người bạn cùng toán:
    – Này, không biết xác của 125 ra bãi lúc nào nhỉ?
    – Sau bữa cơm một tiếng đồng hồ. Khi ban Quản-trị đã xóa tên, cho “chạy giấy” xuống đem chôn ngoài bãi.

    – Tội nghiệp! Lúc chôn 125 có được mặc quần áo không?
    – Nghe đâu chỉ có các quần đùi rách, còn các áo thì…tuy cũng rách nhưng bị ai lột từ bao giờ.

    Toàn hiểu ý câu nói của người bạn. Anh hỏi qua mục khác:
    – Thế có được quấn manh chiếu không?

    Người bạn lắc đầu:
    – Lúc này chiếu khan lắm! Trong trại thiếu nhiều chiếu nên ban Quản-trị cho bó qua loa bằng bao cói cũ rồi cho khiêng xác 125 ra bãi chôn.

    Ngừng lại, nhìn trước nhìn sau, người tù nọ hạ thấp giọng:
    – Nghe nói lúc bỏ xác xuống hố, miệng 125 bỗng ứa ra nhiều máu tươi. Không biết anh ta còn uất ức điều chi vậy? Thấy Đầu Trâu múa roi mà tôi mất vía vì sợ, 125 uất ức Đầu Trâu chớ còn uất ức ai nữa! Anh em có tranh giành nhau chẳng qua vì đói, trong tâm vẫn thương xót nhau chớ đâu có thù ghét gì!

    Bỗng anh chàng nọ bỏ dao xuống, lật đật cởi hai tay áo buộc trên cổ ngắm nghía tìm tòi, nói một mình:
    – Trời ơi! Rận cắn ngứa quá, bị bệnh chấy rận thì bỏ mẹ!

    Anh ta vừa lột áo ra cầm tay, Toàn đã rợn da gà khắp mình. Trên lưng áo, những con rận bò chi chít như kiến, mỗi lúc một nhiều. Tù làm việc nặng, nhiệt năng trong cơ thể bốc ra, rận gặp hơi ấm, bò lổm ngổm đi kiếm ăn.

    Vấn đề rận, rệp và ròi (ở các vết thương lở loét lâu ngày) của tù nhân là một vấn đề nan giải vì nơi đâu có tù là có những thứ “chết tiệt” đó. Lâu ngày, tù cũng quen đi, ít bận tâm, chỉ những lúc rảnh rỗi mới phát động chiến dịch “tổng tấn công” rận và rệp.

    Người nào chẳng may mắc vòng lao lý – đặc biệt là tù nhân trại giam CS- đều hiểu thế nào là rệp, ròi và rận, nhất là rận. Vì lý do thiếu vệ sinh chung, nên chỉ nằm một lúc trong trại giam là có rận, dù trước đó trong người không có một con. Rận truyền từ người nọ sang người kia bằng đủ mọi cách, nhưng có một cách nhiều người không biết là rận di chuyển nhờ hơi gió. Một cơn gió thổi lướt qua đủ để cả chục con rận đực, rận cái lợi dụng cánh gió bay sang người khác để sinh sôi nẩy nở. Vả lại mặt khác, cả Trại Đầm Đùn chỉ có một cái ao hàng ngày 7, 8 trăm người tắm rửa, giặt rũ, làm sao tránh được nạn rận, chấy. Rận nổi lền bềnh trên mặt ao ngoi ngóp chờ những người sau đến giặt là bám vào quần áo giặt của họ.

    Vì thế, một trong những công việc chính và cần thiết cho tù lúc rảnh rỗi là ngồi ngoài nắng bắt rận. Buổi tối trước khi đi ngủ, tù nhân nằm trong bóng đêm, đưa tay lần áo trong, rờ rờ các nếp áo cũng bắt được rận như thường. Nhưng bắt rận một cách thiếu khoa học như thế cũng coi như chẳng có kết quả gì nên tù nhân truyền cho nhau nhiều cách bắt rận, tựu trung có mấy phương pháp chính tùy hoàn cảnh áp dụng:
    – Dùng nước sôi ngâm quần áo cho chết rận và trứng.
    – Giết rận bằng máy.

    – Dùng sâu bọ cho chúng bắt rận thay người.

    Phương pháp đầu rất hiệu nghiệm nhưng tù nhân không có điều kiện thực hiện. Trong trại giam CS người tù nào được quyền có nồi nước sôi ngâm quần áo trong khi một ấm nước đun sôi để uống cũng không thể có, không bao giờ có.

    Theo phương pháp thứ hai, người tù trải quần áo lên trên một mặt phẳng và rắn, như mặt bể nước bằng xi măng hay mặt sàn gạch, rồi dùng một cái chai lăn mạnh lên trên quần áo để giết rận. Phương pháp này giết mau nhưng không giết hết vì rận khôn không kém người, thấy nguy là chúng chui vào ẩn núp giữa những khe nếp áo hoặc những đường khâu dầy, sức “cán” của chai không ảnh hưởng tới chúng. Như thế, phương pháp thứ hai cũng chỉ có hiệu quả phần nào thôi.

    Còn phương pháp thứ ba, Toàn có nghe nói nhưng chưa có dịp áp dụng.

    Hai tù nhân mới tới trại mấy bữa nay nhập toán do Toàn làm trưởng, cả hai đang bị rận cắn đỏ mẩn cả người cả cổ, luôn luôn thò tay vào trong áo gãi lấy gãi để, mặt “nhăn nhó như nhà khó ăn gừng”. Cả hai nhất tề cởi trần, phơi áo trên một tảng đá có ánh nắng rọi tới, dùng ánh sáng buộc rận ra khỏi các “hầm trú ẩn” của chúng.

    Toàn bỗng thấy ngứa ngáy khắp người như hàng trăm con rận cắn anh một lúc. Sự thật, hơi nóng trong người khiến rận bị khích thích bò lung tung gây cho anh cảm giác đó. Anh bèn cởi khuy áo cho bớt nực, rồi quay nhìn hai người tù mới làm việc gần đó. Hiển nhiên hai người này đã có nhiều kinh nghiệm ở trại giam nên dù mới nhập trại đã dám xung phong đi rừng làm củi không bỡ ngỡ chút nào. Nhưng trong hai người, một người có vẻ làm nghề trí óc, còn người kia khỏe mạnh hơn làm đến đâu gọn gàng đến đấy, rõ ràng là một tay lao động, chuyên nghiệp. Số lượng củi anh ta làm ra tới lúc này coi đã bộn, ngổn ngang một đồng. Toàn so sánh với đống củi của mình, thầm phục trại viên kia làm giỏi thật sự.

    Mặt trời đã gần đứng bóng. Ánh nắng một ngày đầu Xuân ấm áp, tưng bừng xao động trên ngọn cây, nhẩy múa trên bãi cỏ, lấp loáng trên những tảng núi đá rải rác đây đó. Cơn mưa phùn lúc sáng sớm đã tạnh hẳn khi mọi người vượt được già nửa quãng đường vào rừng. Mấy người tù ngước trông bầu trời mưa phùn trong sương muối và “nghe” thoảng hơi gió nồm, đã đoán rằng ngày hôm nay trời sẽ nắng ấm. Vậy mà đúng quá. Kinh nghiệm về thời tiết của người tù bị khổ sai nơi nước độc thật là kinh nghiệm xương náu.

    Toàn bỗng thấy đói bụng. Anh sợ nhất thời giờ gần trưa là lúc anh bị cơn đói hành hạ, gần nửa năm mà anh chưa làm quen được với cơn đói buổi trưa, nhất là khi vào rừng làm củi. Những lúc đó, mặt anh thường nhợt nhạt, mồ hôi vả ra cùng mình.

    Toàn lại leo lên ngọn cây đã chặt gần trụi hết cành, xách luôn cả con dao theo, làm như sắp chặt thêm nếu thấy giám thị hay lính cảnh vệ theo dõi việc làm. Đứng trên cao, anh đưa mắt quan sát một vòng. Hai chú cảnh vệ đã mỏi lưng và chán ngán công việc buồn tẻ của tù nhân, dựng súng một bên và chăm chú đánh cờ, giây lát mới ngửng đầu lên ngó chừng tù. Còn giám thị kè kè khẩu súng bên hông, thong thả đi từ nơi này đến nơi khác kiểm soát công việc của từng toán.

    Tiếng rìu chặt chan chát vào thân cây, lúc mau lúc thưa, dội vào tận các vách đá. Thỉnh thoảng, có tiếng la báo hiệu rồi thân cây đổ rầm rầm.

    Đứng trên cây cao, Toàn thấy mấy thửa ruộng bỏ hoang, sau vách đá. Trong năm, nơi đây là mấy ruộng mía rậm rạp xanh tươi, Mạnh và Tuyên đã lẻn đến ăn trộm mía như những kẻ chết khát. Nghe họ kể lại, Toàn chảy nước miếng vì thèm.

    Toàn đảo mắt nhìn kỹ lại lần nữa. Không một ruộng khoai, ruộng cà, ruộng sắn. Nghĩa là không có một thứ gì ăn được. Để an ủi, Toàn lẩm bẩm:
    – Thôi! Càng đỡ nguy hiểm.

    Tù luôn luôn nhớ ăn trộm hoa mầu của nhân dân là một tội rất nặng sẽ bị cùm, nhốt xà-lim liền. Và rất có thể bị “phong vương”. Hình phạt phong vương thật khủng khiếp, từ trước đến nay, bị tội này, chỉ có một tù nhân sống sót không hiểu vì lẽ gì. Danh tính tù nhân đó được ghi vào niên giám với lời cước chú cần thiết để ban Quản-trị có tài liệu nghiên cứu thêm về tính cách hữu hiệu của hình phạt và sức chịu đựng của tù.

    Nhưng ăn trộm hoa màu vô chủ cũng bị kết tội không kém nặng nề. Vì nếu vô chủ, hoa mầu đó thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, và là tài sản quốc gia. Mà ăn trộm tài sản quốc gia là kẻ phá hoại chế độ.

    Toàn bất giác lạnh người vì sợ, tưởng tượng rằng nếu lát nữa đây trong giờ nghỉ trưa, có tìm thấy một trái mít rừng, anh cũng đành lắc đầu từ chối không dám sờ tới, sợ mất mạng!!

    Toàn nghĩ thế nên bao nhiêu sinh lực trong người như toát thành hơi bay đi hết. Anh chán nản leo xuống tiếp tục tính toán thầm số lượng củi đã chặt được. Luôn luôn anh lo sợ không kịp đạt đúng tiêu chuẩn.

    Một hồi còi ré lên, lệnh tạm nghỉ một tiếng đồng hồ được thông báo cho toàn thể tù nhân xa gần. Mọi người xếp dọn dụng cụ nghỉ mệt một lát lấy sức, đặng làm cho xong trước khi gánh một phần củi về trại.

    Toàn còn đương lom khom thu xếp, tù mới 982 bước lại gần thì thầm:
    – Hay quá, anh Trưởng toán à!

    Toàn chưa kịp hỏi, 982 đã mừng rỡ, hí hửng:
    – Tôi vừa kiếm được một thứ rất có ích cho anh em trại viên.

    Toàn ngạc nhiên, đoán chừng là một thứ cây, quả hay lá gì có thể ăn được, nước miếng liền ứa ra đầy miệng. Nhưng Toàn vẫn dè dặt:
    – Gì thế, bạn?

    982 chỉ bụi trẻ mọc bên vách đá rồi nói:
    – May quá, tôi tìm thấy một ổ kiến bò nhọt.

    Đang đói, Toàn liên tưởng đến tổ ong và mật ong, tưởng tổ kiến này là thứ ăn được cho đỡ đói đã mừng. Tuy vậy, anh vẫn làm bộ, hỏi:
    – Để làm chi vậy?

    982 thản nhiên:
    – Để bắt... rận!

    Toàn vừa lạ lùng vừa chán nản vì anh lại đói cào đói cấu, ngơ ngác hỏi như người mất hồn.
    – Có ăn được không?

    982 bật cười:
    – Mình không ăn được kiến bò nhọt nhưng nó "ăn" được mình!

    Toàn chán phè, lơ đãng nhìn đây đó, hai tay bóp bụng.

    982 nói đúng phần nào. Kiến bò nhọt là một loại kiến dữ tợn thường để lại kỷ niệm khó quên cho những người chẳng may bị nó đốt. Loài kiến này thường kiếm ăn trong đám cỏ bên vệ ao nên nhiều thợ câu đánh rớt luôn cần câu xuống ao vì bị bò nhọt đốt. Kiến bò nhọt mình lớn bằng hạt thóc màu đen lợt, cẳng cao, chạy rất mau, đặc biệt là lúc nào cũng đi kiếm ăn một cách hăm hở, dữ tợn, sẵn sàng tấn công con mồi hay địch thủ. Nọc kiến rất độc, cho ta một cảm giác buốt như kim châm kéo dài 1, 2 phút đồng hồ không hết, nhiều khi nọc làm sưng tấy cả ngón tay, không kém gì nọc ong.

    Toàn sực nghĩ ra một chước để quên đói, tiếp tục nói chuyện với 982 về kiến bò nhọt. Sau nữa, đó cũng là một kinh nghiệm có khi cần đến. Ở tù, kinh nghiệm nào cũng có thể cần đến và có thể hữu ích. Anh chậm rãi hỏi 982:
    – Kiến bò nhọt ở đâu? Làm thế nào để chúng bắt rận?

    981 dẫn Toàn lại gần bụi tre. Trên một đốt tre ở lưng chừng cao, có một tổ kiến to phình dính vào thân cây, nhiều con kiến to cẳng cao chạy đi chạy lại hăm hở, dữ tợn, tha những thức ăn lớn gấp năm thân hình, chạy rất nhanh, 982 quan sát một lát, ấn định một kế hoạch, rồi quay sang bảo Toàn:
    – Tôi sẽ bắt đàn kiến này về trại để chúng bắt rận cho anh em mình. Chỉ chúng mới bắt hết rận, trứng rận và cả rệp ở quần áo nữa. Đấy rồi anh Trưởng toán coi tôi nói có đúng không?

    982 nghĩ giây lát, nói tiếp:
    – Tôi bắt một phần đàn kiến này nhốt trong ống tre là đủ rồi.

    Nói xong, 982 đi vòng ra phía sau bụi tre, lựa một khúc tre vừa lớn bằng chai la-ve, chặt một gióng cả đốt rồi ngắt một nắm lá vo tròn, lấy nhợ buộc chặt làm nút. Ống tre dùng để nhốt kiến và nút đậy kín ống. Về trại, 982 sẽ thả kiến bò nhọt vào giữa bọc quần áo của mình, của anh em khác để kiến “làm việc” rồi kiếm một vuông vải rộng bao kín quần áo không cho bò nhọt chui ra ngoài.

    Bò nhọt còn là một giống kiến tham ăn và ăn rất phũ. Đánh hơi thấy mùi lạ, tanh tưởi, ngọt ngào, hay hôi hám như rận, chấy và rệp, bò nhọt sẽ tấn công như điên, chỉ trong vòng một đêm chúng sẽ cắn chết hết rận, trứng rận trong quần áo. bò nhọt sẽ tàn sát hết trước khi tha mồi về một nơi mà chúng làm kho chứa. Khi đó, chỉ cần đem bọc quần áo đã “tảo thanh” ra sân, rũ cho sạch kiến, xác rận và trứng rận!

    Toàn nghe xong, hoan nghênh việc làm của 982, nhưng nói thêm:
    – Nếu bò nhọt tảo thanh rệp, chúng sẽ "tảo thanh" luôn anh em trong trại. Sợ rằng anh em khó chịu nổi nọc của một chú bò nhọt.

    Không ai ngờ kiến bò nhọt cũng ghét tù, cũng gieo tai họa cho tù.

    (còn tiếp)

  4. The Following 2 Users Say Thank You to KiwiTeTua For This Useful Post:

    Nguyen Huu Thien (09-26-2019), saomai (09-09-2019)

  5. #3
    Moderator
    KiwiTeTua's Avatar
    Status : KiwiTeTua v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jul 2008
    Posts: 2,689
    Thanks: 4,792
    Thanked 9,676 Times in 2,592 Posts

    Default

    8. Nói một cách tổng quát, không nơi đâu kinh nghiệm được phổ biến cấp tốc như trong tù.

    Những người tù tự xem như cùng một giai cấp, giai cấp bị trị, phải chịu đựng sự trừng phạt của một giai cấp khác, giai cấp thống trị. Vì thế, trừ lý do đặc biệt, họ đối xử với nhau rất tận tình, thương yêu nhau, chỉ dạy lẫn nhau những kinh nghiệm ngục tù, những kinh nghiệm về tra tấn để làm giảm bớt cho nhau đau đớn về thể chất cũng như tinh thần. Vì thế, sau trận đòn tra tấn, có tù nhân bò về đến phòng giam hay xà-lim của mình, sống dở chết dở, cũng cố lấy hết sức tàn thì thầm vào tai kẻ cùng đến lượt lên phòng lấy cung chịu thử thách, mấy lời dặn dò hay " mách nước " trước. Rồi mới chịu ngã xuống mê man bất tỉnh.

    Trong hoàn cảnh eo hẹp của nhà tù, kinh nghiệm nào cũng thật quý giá. Một vài loại lá cây có dược tính chữa đòn, chữa thương, thường được tù nhân hái lúc lao tác trong rừng, cất đi dự phòng cho những trường hợp cần dùng. Muối, nước tiểu, " dáy " tai (bôi lên chữa đinh râu), giấy vỏ bao diêm (nơi có diêm sinh), thuốc lào và nước điếu thuốc lào (chữa ghẻ hờm)... đều được sử dụng hợp thời hợp bệnh.

    Rồi thậm chí cả đến cách thức chữa thương, chữa gân, khớp xương, chữa đòn bị tra tấn cũng được truyền dạy cho nhau chẳng khác chi những phương thuốc ngoại khoa hay gia truyền. Trong trại giam, thiếu gì tù nhân chết vì bệnh chấy rận nên cách diệt trừ chấy rận cho hiệu quả rất cần thiết. Vì vậy, không ai lấy làm lạ khi họ " truyền " cho nhau cách thức giết rận bằng kiến bò nhọt.

    Tổng tấn công chấy rận bằng kiến bò nhọt rất có hiệu quả nhưng muốn bắt kiến bò nhọt, người tù phải chờ dịp thuận tiện. Loại kiến này rất thích chất béo, người ta bỏ miếng mỡ vào trong lòng ống tre rồi đặt bên ổ kiến bò nhọt. Đánh hơi thấy mùi mỡ, kiến từ trong ổ kéo ra, ùn ùn chui vào ống, tha mồi. Khi chúng đã chui vào khá nhiều, người tù dùng lá hoặc một khúc cây nút thật kín ống tre, nhốt đàn kiến bò nhọt bên trong, đem về.

    Bữa đó, 982 lùng bắt một con thằn lằn trong bụi cây, ngắt đuôi đập dập ra làm mồi nhử kiến. Đuôi thằn lằn cũng như đuôi cắc kè là bộ phận nhiều mỡ nhất trong cơ thể, dùng để nhử bò nhọt rất hiệu quả.

    Theo dõi từ đầu vụ bắt kiến bò nhọt, Toàn thấy cũng hay hay. 982 nút chặt ống tre đựng kiến rồi dựng bên một tảng đá cạnh nơi anh ta đặt đồ nghề với chiếc nón lá gồi mang từ Việt Bắc về. Lúc đó, mọi người còn ngồi nghỉ tản mác dưới bóng cây hay dựa lưng vào vách đá thiu thiu ngủ. Hai tên cảnh vệ đã ngưng đánh cờ, mỗi tên quay nhìn một phía canh tù. Giám thị leo lên ngồi trên một tảng đá cao hơn đầu người, phì phèo điếu thuốc lá một cách kênh kiệu đáng ghét. Làn khói thơm phức thoảng lan rộng, nhiều anh tù thèm chẩy rãi, liếc trộm hoài.

    Toàn không thèm thuốc lá nhưng đói. Trong thời gian bị tù, anh vẫn bị thói quen ăn bữa trưa dằn vặt, bụng đói như cào và " sôi " òm ọp, cách cả thước cũng nghe " sấm động " trong bụng. Để quên đói, anh bước sâu vào sau vách núi vài chục bước làm như cần tống các " chất thừa " trong bụng ra ngoài!

    Sự thật, anh " đói meo " vì có gì trong bụng đâu. Đã có lần làm củi rồi đói quá, Toàn nghĩ lẩn thẩn, phì cười một mình:
    - Giá mà cứ một tuần lễ đi cầu một lần, có lẽ bụng cũng bớt... trống rỗng! Sau đó, anh suy nghĩ rồi tự nhiếc mắng thầm: Tinh thần mình sa sút quá! Không chừng cảnh khổ trong trại giam làm mình mất trí, lẩn thẩn rồi trở nên điên khùng cũng nên!

    Toàn bỗng đứng khựng lại. Có tiếng sột soạt rất khẽ trên cành cây, chỉ những người quen làm việc trong rừng mới nhận thấy. Rồi ngay phía trên đỉnh đầu anh, có tiếng kêu của cắc kè nhưng là tiếng kêu thất thanh, đặc biệt sợ hãi. Nhờ trực giác bén nhạy, Toàn lật đật nhẩy lùi lại dăm bước, đề phòng rồi ngửng lên nhìn nơi phát ra tiếng " Cắc kè... Cắc kè ".

    Ra trên cành cao đang xẩy ra một vụ xung đột giữa một con cắc kè và con rắn đen dài tới hơn một thước. Con cắc kè khá lớn, mình bằng cổ tay đứa nhỏ, đang chống cự một cách tuyệt vọng với con rắn đen. Con rắn quấn mình vào cành cây, tuồn dần đến trước con cắc kè, chụp lấy địch thủ. Con cắc kè nhẩy thoát sang cành kế bên, kêu rời rạc vài tiếng rồi rơi xuống đất.

    Con rắn tấn công trượt cũng rớt theo, bỏ mồi bò vào bụi rậm. Còn cắc kè ngất ngư loạng choạng giây lát rồi chạy về phía có vách đá.

    Một ý nghĩ thoáng qua trong óc, Toàn quơ lẹ một cành cây đập trúng cón cắc kè khiến nó nẩy lên, toàn thân run bần bậ rồi nằm ngay đơ. Toàn đè cành cây lên đầu cắc kè nhìn quanh để phòng con rắn đen quay lại. Không thấy gì, anh ta đập thêm một roi lên mình cắc kè rồi lật nó nằm ngửa trên mặt đất.
    - Đánh được rồi phải không? Hay quá!

    982 mừng rỡ nói tiếp:
    - Ngon lắm! Béo lắm! Thịt nó lại còn chữa được bệnh nữa.

    Toàn tò mò hỏi:
    - Chữa bệnh gì? Mà thịt nó ăn có độc không?

    Toàn vốn nhát và chưa ăn thịt cắc kè lần nào. Anh chỉ thấy người ta ngâm cắc kè trong rượu thuốc chứ chưa thấy làm thịt ăn bao giờ!
    - Chữa " bệnh hen " chứ còn bệnh gì nữa!

    Toàn mừng quýnh nhưng vẫn giữ vẻ thản nhiên. Anh chớm mắc bệnh hen từ tháng nay; nếu đúng như vậy, thật là dịp may hiếm có:
    - Anh đã ăn thịt cắc kè lần nào chưa?
    - Nhiều lần!

    - Ăn bao giờ?
    - Mấy tháng trước, khi còn ở Việt Bắc. Ngon lắm, bổ lắm!

    Toàn thân mật cười hỏi:
    - Biết làm thịt không?
    - Biết.

    Toàn ngẫm nghĩ rồi lại hỏi:
    - Trong cơ thể cắc kè, có bộ phận nào độc, ăn nguy hiểm chết người như gan cóc không?
    - Không! Vả lại, cóc còn ăn được, huống hồ là cắc kè.

    Nghĩ đến cóc, Toàn lại sợ, mất hết nhuệ khí. Nhưng khi anh nhớ trước đây, tù nhân Pháp đã nướng cóc ăn vì đói quá mà không nghe nói có người chết thì ăn thịt cắc kè chắc cũng không sao.

    982 ngó quanh giây lát rồi hỏi:
    - Có còn thì giờ không? Được nghỉ bao nhiêu lâu nữa, anh Trưởng toán?
    - Chừng 20 phút là nhiều.

    - Có thể kịp làm thịt cắc kè.

    Nói rồi, 982 bảo Toàn cầm dao trong khi y lật đật vun lá khô và ít cành cây để dúm lửa.

    982 rạch một đường dao từ trán cắc kè xuống đến khấu đuôi rồi lột như lột da ếch, rất gọn gàng. Thịt cắc kè hồng lợt như thịt ếch, Toàn thấy mà thèm. Rồi 982 mổ bụng con vật, moi hết ruột gan ra liệng bỏ, dùng hai ngón tay nắn khúc đuôi rồi nhìn Toàn gật gù nói, môi bĩu dài ra:
    - Béo quá, mỡ không!

    Sau khi chặt " mõm " cắc kè và bốn chân, 982 dùng một cây que nhỏ xiên qua mình con vật, đưa đi đưa lại nướng trên ngọn lửa nổ lách tách. 982 hỏi Toàn:
    - Có khói, giám thị trông thấy có sao không?

    Toàn suy nghĩ, ngập ngừng:
    - Thôi! Để xin phép giám thị cho chắc chắn...

    Vừa đi được mấy bước, đã nghe một hồi còi ré lên: hết giờ nghỉ!

    Anh thở dài quay lại, thẫn thờ bảo 982:
    - Hết giờ! Dập tắt lửa đi. Trở lại làm việc!

    982 gập đôi con cắc kè dấu trong nón lá, lấy mấy chiếc lá đậy thật kín.

    Mọi người hăm hở tiếp tục công việc. Tiếng chặt cây vang đội, tiếng hò kéo đổ cây khiến khu rừng náo nhiệt trở lại. Mấy người trong toán của Toàn bàn nhau xếp số củi thước đã chặt trước khi sửa soạn từng bó cho mỗi người gánh về.

    Đầu óc Toàn vẫn vẩn vơ nghĩ đến con cắc kè. Anh luôn miệng tiếc rẻ: chỉ sớm mươi lăm phút nữa, anh và 982 đã đủ thì giờ nướng chín con cắc kè. Nếu không tiện ăn ngay thì mang về Trại, đến bữa ăn đem thịt cắc kè béo ngậy thơm phức ra chấm với muối ớt thì " ngon quên chết ". Tiếc quá! Tiếc quá! Toàn lại càng thấy đói, ao ước lát nữa đây trên con đường về dài mười mấy cây số, kiếm trộm được trái cây gì bỏ vào miệng thì sướng quá! Cái gì chớ ăn lén giám thị, tù có cả trăm mánh lới khác nhau. Đã có lần, Toàn ăn hết nửa củ khoai sống trong khi ngụp lặn dưới nước.

    Nghĩ đến bữa cơm chiều hôm nay có chất thịt cắc kè vừa béo lại vừa chữa được bệnh hen, Toàn đã thấy ngon miệng quá chừng.

    Cảnh vệ xách súng đi đi lại lại, ngó đám này, trông chừng đám kia. Toàn nhìn mặt trời để đoán giờ giấc. Phía xa, trên lưng chừng sườn núi, đã có sương mù loáng thoáng.

    Trời sắp về chiều. Mấy căn nhà sàn ở chân núi xa xa lẫn trong sương hồi nào. Toàn khẽ hối anh em:
    - Sắp tới giờ rồi. Anh em nhanh tay lên cho kịp.

    Năm người đã xếp xong số củi thước lưu lại trong rừng theo tiêu chuẩn mới của trại giam. Và bắt đầu bó gánh củi lại từng bó, đường kính hai gang tay. Một người chạy đi chặt thêm dây leo và mây buộc củi. Toàn lựa năm cành cây thẳng và vừa cỡ, làm đòn gánh cho cả bọn.

    Ai nấy đều nhanh chân nhanh tay cho kịp. Công việc nhộn nhịp hẳn lên. Những " dây " củi được xếp thành một hàng dài sát với vách núi, đống nọ cách đống kia một khe nhỏ làm giới hạn cho mỗi toán. Giám thị lần lượt kiểm soát kết quả công việc của tù nhân. Bữa nay, có mấy đống củi không hợp lệ, Trưởng toán cùng toán viên phải làm gấp, xếp thêm một, hai lượt củi nữa trên đống củi cho đủ. Cố nhiên, Trưởng toán cùng ba toán viên làm không đúng thể lệ bị ghi tên vào sổ đen. Ba lần thiếu thiện chí trong công việc sẽ bị phạt, nặng nhẹ tùy theo đề nghị của gáim thị và quyết định của ban Quản trị trại.

    Giám thị cầm cây roi, vừa đi vừa gõ lên những đống củi mà y cho là hợp lệ. Toàn hồi hộp chờ cho hắn gõ một cái vào đống củi của toán anh rồi mới quay lại liếc nhìn mấy người trong toán đang bó củi gánh mà tủm tỉm cười. Thế là xong một phần công tác.

    Phần thứ hai nặng nhọc và dai dẳng hơn khiến nhiều tù nhân bị... gục vì mệt và đói, nhất là đói. Đó là gánh 50 ký củi trên quãng đường 14, 15 cây số.

    Không có thì giờ nói chuyện vì ai cũng chăm chú làm cho mau rồi. Những bó củi được xếp dựng đứng, có dây nâu hay dây mây buộc chặt hai đầu và giữa bó. Mỗi người tù có một cành cây thẳng hai đầu vạt nhọn, dùng làm đòn gánh. Họ dùng sức xiên thẳng cây đòn ngập vào hai bó củi, gánh thử ước lượng nặng nhẹ thăng bằng. Rồi đặt xuống đất, chờ lệnh của giám thị là lên đường về trại.

    Gió lạnh từ trong núi đá bắt đầu thổi ra ào ào. Mưa xuân ngớt từ hồi sáng, lại dăng dăng mờ mịt xóa nhòa hết các ngọn cây cao.

    Ngọn núi sau rừng biến mất trong làn mưa bụi. Con đường đất đỏ sắp phải đi qua trở nên ướt át và trơn láng. Trông con đường về, anh nào anh nấy đều ngán thầm.

    Toán của Toàn đã chuẩn bị đâu vào đấy, từ nẫy chỉ còn chờ lệnh của giám thị là lên đường. Những cành lá rơi rớt rải rác và những mẩu cây vụn vặt được thu vào một đống cho gọn gàng sạch sẽ. Tù gọi công việc đó là " thu dọn chiến trường ". Toàn đã dùng lá bọc kín con cắc kè buộc lại rồi trịnh trọng treo vào đòn gánh. Chiều nay, có miếng thịt thì sướng " thần khẩu " biết chừng nào! Từ lúc 982 nói thịt cắc kè " béo ngậy ", hai phẩm từ này cứ " xoáy " vào óc Toàn. Đã lâu lắm, từ khi bị đưa vào Trại giam Đầm Đùn, Toàn chưa được " thưởng thức " một miếng thịt nào " béo ngậy ". Thèm thật là thèm! Toàn nuốt ừng ực, nước miếng ứ đầy miệng hoài.

    982 lại gần Toàn, thì thầm:
    - Coi chừng nhé!
    - Coi chừng cái gì?

    - Cột cẩn thận, coi chừng lúng túng lại rớt mất thì tiếc lắm đó.

    Toàn tủm tỉm cười, liếc nhìn gói lá bọc con cắc kè treo lủng lẳng ở đòn gánh, trả lời vẻ hóm hỉnh:
    - Kiến trong miệng chén còn bò đi đâu! Có rớt vào miệng thì có!

    982 cười vơ vẩn:
    - Biết đâu đó!

    Một hồi còi ré lên. Đó là lệnh lên đường trở về trại của giám thị. Đám đông ào ào chuyển động. Rồi tiếng đòn cây xiên sần sật vào bó củi, tiếng gọi nhau, tiếng nói xì xào, tiếng bước chân, tiếng nguyền rủa gánh nặng, phàn nàn trời mưa...

    Nhưng tại hàng cuối cùng của đoàn tù gánh củi, bỗng có mấy tiếng nói lớn vượt hẳn lên tiếng xì xào chung. Toàn vẫn giữ gánh củi trên vai, quay lại ngó. Đã có mấy người hạ gánh xuống, vây quanh và cúi ngó vật gì trên mặt đất mà Toàn nhìn không thấy, đoán không ra.

    Giám thị xăm xăm chạy lại, mặt bừng bừng sát khí như mỗi khi y không vừa ý. Đám đông rãn rộng và nứt ra một lối để giám thị bước vào. Toàn hạ gánh xuống, tò mò lại gần.

    Thì ra có hai người té xỉu. Một người đang cố đứng lên nhưng không nổi, mặt xanh lét như trúng gió. Còn người kia, mồ hôi vã ra đầy mặt, đã ngồi lên được và đang lau mồ hôi bằng một mảnh giẻ rách, mệt nhọc như người ốm nặng. Toàn thầm nghĩ không hiểu trại viên này sẽ làm thế nào đặng bò về trại với gánh củi 50 ký trên vai. Nếu lâm cảnh này Toàn cầm chắc cái chết.

    Giám-thị bỗng nổi giận, chỉ ngọn roi vào mặt một trong hai người đang nhăn nhó và quát:
    - Thằng kia! Có đứng lên không?
    - Dạ, dạ...

    Người này lại quệt mồ hôi trên mặt, chống tay xuống đất, lấy sức cố đứng nhổm lên. Đứng được rồi, y mới bước tới gần gánh củi bỗng lại dừng, đầu chúi xuống giây lát, thốt nhiên y chạy quanh gánh củi mấy vòng mà không té, chẳng khác con gà bị liệng gạch trúng đầu choáng óc chạy vòng vòng quanh sân. Sau cùng, y vịn vào một người gần đó, rán đứng ngay ngắn. Giám thị cũng ngạc nhiên chưa kịp la, y đã chậm rãi nói sau một hơi thở ra thật dài:
    - Những khi quá mệt, tôi thường bị " động kinh ". (1)

    Giám thị không cần biết lý do đã khiến tù nhân bị té xỉu, quát lớn:
    - Muốn gánh củi về trại hay muốn " nằm ngủ luôn " trong rừng?

    " Ngủ luôn " có nghĩa là ngủ một giấc vĩnh viễn. Người tù sợ quá, chắp hai tay lễ " sống " giám thị. Tên này lại mắng:
    - Thôi! Vẫn chưa bỏ được những cử chỉ phong kiến, lạc hậu.

    Người thứ hai cũng đã gắng gượng đứng lên. Anh ta nhăn nhó ôm bụng rồi trong lúc mọi người không ngờ, anh ta nhìn quanh quất như tìm kiếm vật gì rồi chạy lại bên vách đá. Nơi đây có một mô đất, cỏ non mọc mơn mởn nhờ mấy trận mưa xuân. Người tù xoè bàn tay ra nắm lấy một búi cỏ, bứt lên một nắm ngọn cỏ xanh trong tay. Y ngần ngừ một giây rồi nhét luôn nắm cỏ vào miệng trệu trạo nhai, như ăn rau ghém.

    Lúc anh ta loạng choạng trở lại bên gánh củi, chỉ còn vài lá cỏ thò ra ở miệng. Rồi thì nhai hết. Người tù đã đánh lừa được cơn đói và nhấc gánh lên vai như mọi người. Toàn ngây người nghĩ thầm chua chát:
    - Tù nhân trở thành một " loài ăn cỏ " như trâu bò. Nhưng coi chừng! Ăn cỏ là mất lập trường, vi phạm quan điểm của nhân dân. Lại chết nữa!

    Anh lan man nghĩ trong khi vẫn đều đều bước theo người đi trước: " Nếu người ăn cỏ mà sống được, may ra tù nhân cũng bớt đói ".

    Đoàn gánh củi đi thành một hàng dài trên con đường ngoằn ngoèo đưa họ trở về nơi có bữa cơm chiều. Đi được một thôi, Toàn nhận ra anh đã tụt xuống hàng cuối cùng. Anh đổi vai ba lần và bắt đầu cảm thấy ê ẩm cả hai vai. Có khúc đường trơn như mỡ khiến anh suýt té nhiều lần.

    Gió thổi từng cơn dài trên quãng đường vắng mà anh không thấy lạnh, hai bên trán còn xâm xấp mồ hôi. Đường càng đi càng trơn. Toàn tránh một vũng nước trượt chân một cái, chỉ kịp thấy thoáng một khoảng trời mờ mịt mưa bay trắng xoá thì đã nằm lăn kềnh trên vũng nước, gánh củi đổ nghiêng về một bên trên đám cỏ.

    Toàn chửi thề một câu tục tĩu, lóp ngóp bò dậy. Cả lưng áo bị lấm bùn be bét. Anh cởi áo ra chùi lên ngọn cỏ ướt đẫm mưa xuân cho trôi bớt bùn và nước dơ. Sau đó, anh dựng lại hai bó củi, xiên đòn gánh cho chắc chắn, lặng nhìn về phía trước, thấy con đường dài dằng dặc mà sợ.

    Mưa xuân vẫn không ngớt hạt. Một làn bụi nước bay mờ mịt. Phía trước, Toàn chỉ còn thấy mấy chục người loáng thoáng đi trong mưa rơi. Toàn bỗng nhớ đến mấy bức tranh thuỷ mạc cổ của người Tàu treo tại phòng khách nhà anh Hải ở Hải Dương. Trong bốn bức tranh, có bức vẽ một người tiều phu gánh củi, lom khom bước trên tuyết, đầu đội nón tu lờ, chung quanh là núi trắng xoá lềnh bềnh trong sương. Vai gánh củi, tay xách một con cá , có lẽ anh tiều phu Trung Hoa bắt được trong khe suối. Còn Toàn gánh củi đi trong mưa phùn và có con cắc kè treo ở đòn gánh.

    Toàn bất giác thở dài. Chao ơi! Không ngờ cái cảnh trong tưởng tượng của hoạ sĩ lại là cái cảnh thực tế của anh bây giờ. Đúng anh là người tiều phu trong tranh. Nếu vợ con tiều phu Toàn gặp anh lúc này, họ sẽ nghĩ sao?

    Toàn xốc gánh củi, đổi vai, rảo bước cho kịp đoàn. Anh chăm chú nhìn mặt đất để tránh những chỗ trơn trợt dễ té, cố lết mỗt thôi dài mới chịu dừng lại đổi vai. Đến lúc ngửng lên theo dõi đoàn người ở phía trước, anh đứng sững lại vì nghe có tiếng quát tháo om xòm tại một thửa ruộng xanh ngắt mé tay mặt. Trên lề đường có tới 6, 7 gánh củi dựng ngổn ngang mà không thấy người. Thì ra họ đã xuống hết đám ruộng xanh vừa nói. Toàn lật đật đặt gánh chạy đến coi.

    Một cảnh tượng kỳ cục, quái gở, thảm thương một các tức cười hiện ra.

    Giữa một thửa ruộng trồng xu hào xanh ngắt, có ba người tù nằm, ngồi ngả nghiêng. Người tù nằm không ngớt lăn lộn người dưới đất, vật vã hết bên trái lại qua bên phải, hai tay ôm bụng, cứ giây lát lại há hốc mồm ra để ngáp. Còn hai người kia ngồi phệt, chân duỗi dài, hai tay chống trên mặt đất, cặp mắt trợn ngược chỉ còn lòng trắng trông phát gớm, bụng căng phồng đưa lên đưa xuống theo từng hơi thở rất dài. Cũng như người nằm dưới đất, chốc chốc hai người này há ngoác mồm ra để mửa mà không được, chỉ thấy nhớt rãi lòng thòng.

    Toàn thấy lá xu hào liệng rải rác và cả chục gốc xu hào còn dính đất vất đây đó. Hai ba trái xu hào đã nhổ lên rồi nhưng còn nguyên vẹn. Toàn thoáng suy nghĩ, đoán ra ngay đầu đuôi câu chuyện, nhất là khi anh nhận diện được hai trong ba người: khi nãy, một người vì đói quá đã phải bứt cỏ bỏ vào miệng nhai, và một người bị " kinh vì quá mệt " nên té xỉu.

    Giây phút này, hai người đó đang ngoác mồm ra thở từng hơi như cá ngáp chết, mắt trợn ngược như bị bóp cổ. Tên giám thị từ nãy không nói gì, chỉ nhìn một vẻ giận dữ, bỗng vụt túi bụi vào hai người má mắng:
    - Chúng bay đã xâm phạm hoa màu của nhân dân, ăn sống nuốt tươi cả chục củ xu hào, bây giờ chúng bay nằm ăn vạ ở đây hẳn?

    Quát xong, tên giám thị vụt tới tấp năm, sáu mươi roi mây vào mặt, vào cổ, vào lưng hai người. Lạ thay, hai người này không phản ứng cũng không lộ vẻ sợ sệt, chỉ ngoác rộng thêm miệng thở hổn hển, mắt mở trừng trừng mà không thấy lòng đen trông càng thêm khiếp hãi. Trong khi đó, người nằm lăn dưới đất bỗng cong rút người lại, mửa ra được một đống, khởi sự rên hừ hừ và càng thở mạnh, tuyệt nhiên không lưu ý đến sự việc đang xẩy ra ở ngay kế bên.

    Toàn chứng kiến cảnh thảm thương từ nãy đến giờ, vừa sợ vừa tội nghiệp, lại vừa thương thân mình vô hạn. Qua hình ảnh đang phơi bày trước mắt, anh thấy cảnh ngộ của anh, cảnh ngộ chết đói chết khát thường xuyên của tù nhân trại giam Cộng sản.

    Toàn biết ba người này khó lòng thoát chết vì bội thực. Nhưng cái chết là phương tiện giải thoát cho họ. Trong cảnh đói khổ liên miên, chết là lối thoát vĩnh viễn, nhất là chết sau khi ăn một bữa thật no, thật nhiều. Ba người tù này đã phát giác ruộng xu hào từ lượt đi, nên bàn nhau khi về sẽ lén xuống ruộng làm một bữa no nê phưỡn bụng cho đã thèm, rồi sau muốn ra sao thì ra, chết cũng được.

    Quả nhiên, ăn đầy chặt một bụng xu hào sống, họ bị bội thực và đang chết... no. Măc cho giám thị đánh mỏi tay tét cả ngọn roi song, họ chỉ lặng thinh trả lời bằng cách nhắm mắt lại ngửa mặt lên trời, há hốc miệng thở dồn dập từng chập. Mưa phùn ướt đẫm mặt, họ cũng không vuốt cho bớt nước.

    Toàn lại gần giám thị, xin phép được cứu chữa cho mấy người này. Anh nghĩ ra cách chữa cấp thời cho người bội thực. Đang lúc tức giận, giám thị gật đầu cho phép, mặt y vẫn cau có dễ sợ.

    Toàn bảo mấy người đứng đó phụ anh xốc người bội thực qua một bãi đất phẳng phiu gần bên, để anh làm cho họ mửa ra bớt số lượng thức ăn trong dạ dày.

    Khi họ đã xốc nách " người ăn cỏ " qua bãi đất phẳng. Toàn nắm tay người này và quay cho chạy vòng quanh. Nhưng chỉ rán chạy được hai vòng, anh ta loạng choạng té huỵch xuống đất, mửa ra một ít. Rồi anh ta ngồi lên, trợn ngược mắt mà thở dồn dập như đứt hơi đến nơi, coi bộ khó lòng chịu nổi cơn bội thực.

    Toàn ghé vào tai " người ăn cỏ " và nói:
    - Cho tay vào miệng, móc họng để mửa ra. Ráng làm, không thì nguy đó.

    Người đó rán hết sức mới lắc đầu được vài cái, tiếp tục thở gấp một cách nặng nhọc hơn trước, bụng y thốt nhiên trương phình lên rõ rệt. Từ nãy, giám thị vẫn lộ vẻ suy nghĩ gay go. Nhìn về phía xa xa, thấy chỉ còn thấp thoáng vài người gánh chậm chạp đi sau cùng, y bèn lạnh lùng ra lệnh:
    - Nếu ba thằng kia không đứng lên gánh củi trở về thì tao cho chúng bay nằm luôn cho được việc. Tao không có thì giờ chờ chúng bay tiêu hoá xong cả chục củ xu hào ăn trộm!

    Rồi chỉ vào Toàn và mấy người đứng coi, quát:
    _ Mấy người này cũng ở lại đây luôn, hả?

    Toàn và mấy người tù hoảng kinh thui thủi quay trở lại nơi đặt gánh, thì thầm bên nhau:
    - Chắc chắn ba người đó " đi đứt " mất rồi. Hết phương cứu chữa. Nếu ở trong trại, may ra...

    Rồi họ xốc gánh lên vai rảo bước, sau khi quay nhìn lần chót về phía ruộng xu hào. Trời vẫn mưa phùn, cảnh vật về chiều thêm ảm đạm, bóng tên giám thị đứng sừng sững trên bờ ruộng. Toàn tự hỏi: Không biết hắn đang làm gì?

    Sự thật, tên giám thị đang suy nghĩ lung lắm. Trước khi " giải quyết ", y ngầm nhìn ba người tù bội thực lần cuối. Người tù nằm đang hấp hối sắp chết xong, mắt còn mở ti hí như người buồn ngủ. Nước mưa đọng trên hàng mi mắt anh ta như giọt tranh. Còn hai người kia vẫn ngồi trong một dáng điệu kỳ cục, giay lát " ngoáp " một cái, hai con mắt trắng dã mất hết lòng đen như lườm trời, oán trách lần cuối Trời cao bất công, độc địa. Bụng đã trương phồng lên khiến họ phải ngả người ra sau gần té ngửa. Giám thị rút súng lục, chỉa vào một người ngồi, kéo quy lát sành sạch cho nghe tiếng, rồi quát:
    - Lần chót, có đứng lên không?

    Người nọ không nghe hoặc nghe mà không thèm trả lời, chỉ " ngoáp " một cái để giỡn với câu hăm doạ. Giám thị lạnh lùng đến trước mặt người thứ hai chỉa súng hỏi nhưng cũng vẫn không gây được sự sợ hãi như mọi lần. Y chẳng nói chẳng rằng bước tới trước mặt người thứ ba. Người này nằm yên, bụng thôi phập phồng vì đã hết thở. Giám thị nghĩ thầm; còn hai tên phải thanh toán!.

    Đã tới giây phút chót, giám thị lật áo mấy người tù, thò tay vào túi áo họ, rờ khắp lưng quần rồi bĩu môi khinh bỉ. Mấy tên tù này không có đồ vật chi hết, thật đáng chết!

    Trong khi đó, Toàn và mấy người tù gánh củi đang cố rảo bước để đuổi kịp bọn đi trước. Một người bỗng quay lại phía sau nhìn kỹ rồi rút trong người ra một củ xu hào còn nguyên cả lá. Anh ta đã lợi dụng lúc giám thị quay đi nhìn nơi khác, lượm vội một củ dấu trong áo, mang đi luôn. Lúc này, anh ta mới lấy ra, bứt mấy cành lá cho người đi kế bên. Người này cho liền vào miệng nhai nhồm nhoàm. Chủ nhân củ xu hào vừa gánh vừa cạp hai miếng nhai rau ráu rồi chia cho Toàn. Toàn không nói không rằng, cập luôn hai miếng thật lớn rồi chuyền tay cho người thứ ba. Anh này làm luôn như hai người trước. Chuyền tay nhau được bốn lượt thì củ xu hào không còn. Người thứ tư là người ăn miếng chót trong bọn buột miệng khen:
    - Mát ruột quá! Chẳng trách ba người kia bội thực mà...

    Đúng lúc đó, một tiếng nổ như tiếng pháo vẳng nghe trong làn không khí ẩm ướt.

    Toàn lặng thinh đưa mắt cho ba người kia, thở dài. Một người chép miệng:
    - Thế là xong!

    Họ rảo bước như để khỏi phải nghe thêm tiếng súng giết người.

    Nhưng tiếng nổ thứ hai lại vang lên, không ai nói mà cùng nhau thở dài. Toàn sực nghĩ ra bèn nhe răng cho người đi bên cạnh coi, rồi hỏi:
    - Có dính răng không?

    Người nọ lắc đầu rồi cũng nhe răng nhờ bạn coi dùm.

    Bỗng Toàn hét lớn làm mọi người hoảng kinh:
    - Thôi, chết tôi rồi!

    Rồi đặt gánh đứng sững lại: con cắc kè đã rớt mất từ lúc nào!

    Toàn thẫn thờ, chán nản như chưa bao giờ chán nản đến như thế. Anh đã có lần thua một canh bạc lớn cũng không thấy tiếc bằng đánh rớt mất con cắc kè. Trời ơi! Con cắc kè béo ngậy, con cắc kè múp míp chất thịt béo bổ chữa được bệnh hen rớt mất rồi.

    Từ đó về đến trại, Toàn như người câm người điếc, không nói, không nghe một tiếng. Đầu óc anh chán chường, thân thể anh rã rời, anh chỉ muốn chết phứt cho xong! Con cắc kè đã mất, cuộc đời anh coi như hết luôn!

    Về đến trại, sau khi xếp củi vào vựa, câu nói đầu tiên của Toàn là phàn nàn với 982 về vụ làm rớt con cắc kè. 982 nhìn anh để nhận định Toàn nói thiệt hay không, rồi nói:
    - " Nhất ẩm nhất trác giai do tiền định ". Tôi đã dặn trước rồi mà vẫn không giữ được! Chỉ có ổ kiến bò nhọt của tôi là còn nguyên.

    982 xách ống tre nhốt ổ kiến đặt khuất dưới chân giường, hắn định tối nay trước khi đi ngủ sẽ thả kiến bắt rận trong quần áo của mình và của một số anh em muốn tẩy uế. Đợi sau buồi học tập, lúc sửa soạn đi ngủ, hắn sẽ " thông báo " cho anh em sau.

    Ai ngờ trong trại giam Cộng sản, thiện chí lại gây ra tai hoạ tầy trời.

    *****

    Bữa cơm chiều hôm đó, bọn tù làm củi về muộn hơn mọi ngày cả tiếng đồng hồ nên ăn xong, trời vừa tối. Trong bữa ăn, tên giám thị đi đi lại lại bên đám tù về chậm, hầm hầm tức giận chưa nguôi.

    Bọn tù lấm lét nhìn trộm y, ăn vội vàng cho mau xong. Tuy thế tin ba người tù lén xuống ruộng ăn sống củ xu hào bị bội thực rồi ngắc ngoải khiến giám thị tốn mấy viên đạn, đã được lan truyền rất mau. Đến giờ học tập, hầu hết trại viên đều rõ chuyện.

    Một làn không khí ủ ê buồn thảm phảng phất khắp trại. Mới đầu năm, đã có ba người bị " ra bai " một cách " lãng nhách ". Đó là một điềm bất tường cho tù nhân. Nhớ đến vụ Đầu Trâu đánh đòn phạt. Người tù bâng khuâng, lo lắng cho số phận mình. Sau giờ học tập tại nhà Tiểu Công Nghệ, vì trời mưa không ngồi được ngoài sân - tù âm thầm sợ sệt về trại ngủ. Trước khi đi nằm, 982 cho biết hắn sẽ phát động cuộc tổng tấn công rận đêm nay bằng kiến bò nhọt, người nào muốn " tẩy uế " hãy đưa luôn quần áo cho hắn.

    Gặp cơ hội tốt, nhiều đồng cảnh lật đật đưa quần áo cho 982 nhờ tẩy uế. 982 giở hết quần áo ra bỏ trong một tấm vài rộng, dùng tấm vải như cái túi rồi buộc chặt, thật chặt mép túi lại. Trước lúc đó, ống tre đựng kiến độc cũng được bỏ vào giữa đống quần áo. 982 còn cẩn thận dùng dây quấn thêm nhiều vòng quanh mép túi, ngăn kiến độc chui ra ngoài. Xong đâu vào đấy, hắn mới mở khúc cây nút ống tre, thả đàn kiến. Kiến độc " càn " cả một đêm trường, khỏi có chú rận hay trứng rận nào sống sót nổi.

    Trong bóng tối, 982 thích chí mỉm cười, đặt bọc quần áo ngay dưới chân giường của hắn, định bụng đến trưa mai, vào giờ nghỉ sẽ đem quần áo ra sân giũ hết bò nhọt, giũ luôn xác rận, rệp cho sạch sẽ rồi trả lại mọi người.

    Tù nhân trực vặn nhỏ ngọn đèn dầu lửa trên kệ sát vách, Việc hô số tù đã xong, thiếu mất 3 người. Đó là 3 người tù đã "ngủ" trên bãi đất phẳng phiu bên cạnh ruộng xu hào, sau khi được ăn một bữa thật no nê như ao ước từ lâu.

    Toàn nghĩ vẩn vơ đến con Cắc Kè rớt mà tiếc.

    Sau cùng, Anh nhớ ra lúc trượt chân té, cây đòn gánh sút một đầu làm con Cắc Kè rớt luôn xuống bãi cỏ. Anh mải đứng lên, quên phứt coi lại nên không dè. Toàn tiếc ngẩn tiếc ngơ mãi đến lúc thiếp đi trong giấc ngủ mệt nhọc. Đêm hôm đó, Anh mơ kiếm lại được con Cắc Kè, ăn một bữa thịt ngon thật là ngon. Ăn xong,làm một giấc thật kỹ.

    ... Mấy tiếng la thét vang sân khiến Toàn bừng tỉnh. Bên ngoài, trời đã tờ mờ sáng. Đúng lúc đó, tiếng kẻng đánh thức nổi lên một hồi lanh lảnh. Dưới chân giường 982, viên giám thị đang la thét om sòm, vừa la, vừa rờ lung tung khắp mình như đang bị giống gì độc chui vào trong người cắn tứ tung.

    Toàn giật mình tỉnh ngủ hẳn. 982 cũng đã ngồi nhổm lên rồi hốt hoảng nhảy xuống đất, nhìn nơi chân giường có đặt một bọc quần áo lớn. Chết rồi! phen này ắt chết rồi. Bất giác, 982 toát mồ hôi đầm mình như tắm.

    Các tù nhân lật đật nhổm dậy suốt lượt. Ai nấy đều hoảng sợ, ngơ ngác không hiểu chuyện gì xảy ra, chỉ thấy một người dở mếu, dở khóc khoanh tay đứng chết trân nhìn tên giám thị một cách thiểu não như chưa biết xử trí ra sao. Nhìn kỹ, họ nhận ra trại viên 982.

    Giám thị vừa la hét vừa hấp tấp lột bỏ áo ngoài, cuống quýt xoa trên cổ, trên lưng, trên bụng, hai chân nhảy lung tung như điên như cuồng.

    Bỗng y nắm được một vật gì bé nhỏ trong tay, hốt hoảng thả xuống đất, cúi nhìn. Té ra đó là một con kiến bò nhọt. Những tù nhân có quần áo đưa cho 982 tẩy uế nhất loạt hiểu ra ngay. Một người đánh bạo lại gần cúi thấp xuống ngó bọc đồ dưới chân giường. Trên tấm vải bọc ngoài đống quần áo, hàng trăm con kiến bò nhọt đang hăm hở bò, đen ngòm.

    Giám thị bỗng la lên một tiếng thất thanh rồi vừa nắm chặt một khoảng quần dưới rốn, vừa cởi dây nịt lưng lột luôn quần, rũ phành phạch. Mấy chú kiến bò nhọt rớt rải rác trên mặt đất. Giám thị đạp luôn bốn năm cái xuống đất, mấy con kiến độc nát bấy. Chứng cớ đã rành rành. Y quát rầm rĩ :
    - Thằng nào đem kiến bò nhọt ở rừng về thả cho đốt nhân viên trong trại? Thằng nào ? khai ngay, nếu không chúng bây vào nằm xà lim cả lũ.

    Trước cơn lôi đình của giám thị, nhiều tù nhân run lên cầm cập. Sáng sớm, trời lạnh như thế mà y chỉ còn mang quần đùi, vì quần áo ngoài y đã cởi hết vắt lên lưng ghế. Một anh tù có máu nịnh bợ, trịnh trọng cầm quần của giám thị giũ thật mạnh. Mãi mới có một con kiến độc rớt ra giúp anh ta dịp tâng công :
    - Thưa giám thị : Có kiến ! Có kiến bò nhọt !

    Trong trại, anh chàng này cũng có biệt danh là " Lưỡi dài ".

    Giám thị hét lên một tiếng như bị rắn cắn. Y cởi luôn quần cụt đang mặc ngay trước mặt tù nhân, rồi giũ phành phạch mươi cái.

    Trên ngực, trên bụng, lưng, cổ, đùi giám thị nhiều vết đỏ mẩn loang thành quầng. Nọc độc kiến bò nhọt đang lan khắp cơ thể hắn. Tuy rất sợ giám thị mà Toàn phải nghiến răng mới nhịn được cười. Giám thị xuýt xoa luôn miệng, hai tay thoa nắn cùng hết. Mặc dầu trần truồng như con nhộng, hắn vẫn đeo súng lục trước bụng, trông càng dơ dáy, bẩn mắt. Nhưng có một điều chắc chắn: Nọc kiến bò nhọt độc bao nhiêu, tai họa kẻ phạm lỗi phải chịu càng ghê gớm bấy nhiêu. Cái nguy ở chỗ đó !

    Sau khi mặc lại quần áo đàng hoàng, sửa cây súng lủng lẳng cho oai vệ, giám thị quắc mắt nhìn đám tù, rồi chỉ bọc quần áo dưới đất, lớn tiếng :
    - Bọc quần áo này của ai ?

    982 rụt rè bước lại trước mặt giám thị, thở không ra hơi :
    - Dạ, thưa ông giám thị, của cháu và mấy anh em cùng trại ...
    - Sao mày dám thả kiến độc trong trại ngủ ? Thằng nào là thủ phạm tha kiến ở rừng về trại?

    - Dạ...dạ...cháu nhốt kiến trong bọc đã buộc kín cho kiến bắt rận...Không dè vải bọc có lỗ thủng, kiến chui ra...Xin ông giám thị rộng lượng tha lỗi cho cháu.
    - Giấu giếm mang kiến độc vào trại ngủ thả cho đốt người... gần chết!... Tha hả?...Tha hả !

    Bất ngờ, giám thị co chân đạp vào giữa ngực 982 đến "Hự" một cái, 982 văng tới cuối giường ngã phịch xuống đất. Biết mình có tội, 982 lại khúm núm đến trước mặt giám thị chắp tay, cúi gằm mặt. Giám thị ra lệnh:
    --Mọi người ra ngoài. Trại viên 982 ở lại...

    Các tù nhân mừng thầm kéo nhau ra ngoài, xếp hàng đi rửa mặt. Còn một mình 982 với giám thị. Chẳng nói chẳng rằng, giám thị lặng lẽ giơ cánh tay lên coi vết kiến độc cắn, Mấy vầng đỏ trên da đã lan rộng bằng quả trứng, giám thị rờ lên vết cắn, nhăn nhó rồi gật gù, hầm hầm quát:
    - Lên văn phòng !

    982 lại chắp hai tay " lễ sống " viên giám thị như bổ củi và lộ vẻ khiếp hãi đến tột bực. Trên khuôn mặt bừng bừng sát khí, miệng giám thị bỗng toét ra thành nụ cười giễu cợt, đểu cáng:
    - Lên văn phòng khai về tội " mưu sát " nhân viên ban Quản Trị. Sắp đáp chuyến tàu suốt rồi con ơi!

    Giám thị rút trong túi ra một vật. Sau một tiếng " cách " nhỏ, hai cổ tay 982 đã bị còng. 982 phải đưa cả hai tay còng lên để chùi những giọt mồ hôi vã ra đầy mặt.

    Rồi thất thểu bước như người mất hồn, đi lên văn phòng. Giám thị theo sau, vừa đi vừa suýt xoa , rên rỉ.

    Ngoài kia, tù nhân đã xếp hàng trở lại nhà Tiểu- Công Nghệ đợi ăn bữa sáng trước khi đi lao tác. Vì sợ quá, 982 quên cả đói. Và cũng vì sợ quá, anh đái vãi ướt hết chân lúc nào không biết. Trước khi vào văn phòng, 982 chợt nhận thấy, phải dừng lại mấy giây, dùng bàn chân nọ chùi lên cẳng chân kia cho khô nước tiểu, để khỏi bị bắt lỗi là vô lễ, và khỏi chọc giận thêm nhân viên ban Quản Trị.

    (1) Làm kinh

    ____________________________


    9. Đứng ở nhà tiểu công nghệ trông ra, căn lều đó chỉ hẹp và không cao hơn túp lều dùng làm cầu tiêu ở nhà quê bao nhiêu. Nhưng khi lại gần, người tù thấy khác hẳn và bất giác rùng mình vì cái hình ảnh đơn độc vắng vẻ của túp lều. Thật là một điều lạ lùng, rất khó giải thích. Tuy không thấy dấu vết gì để lại, tù nhân ngắm nhìn túp lều đã đoán ngay ra có nhiều người bỏ mạng nơi đây rồi!

    Cách xa văn phòng đến ba trăm thước, những túp lều vẫn đứng bên trong hàng rào nứa bao vây trại, cách con đường nhỏ dành cho lính cảnh vệ đi tuần không quá 20 thước. Bên ngoài con đường nhỏ còn hàng rào nứa thứ hai, chắc chắn không kém gì hàng rào thứ nhất.

    Bằng súng, bằng lưỡi lê hoặc bằng bất cứ võ khí gì khác, cảnh vệ và giám thị có quyền hạ sát ngay tù nhân nào đặt chân lên con đường cấm này mà không cần phải "khuyến hàng" trước.

    Tù nhân bất hạnh bị giam riêng tại túp lều nói trên, tự coi như sắp thoát khỏi cảnh ngục tù, chậm lắm, tù nhân sẽ lên đường đáp "chuyến tàu suốt' trong vòng mười ngày trở lại. Từ trước đến nay, chỉ có một trường hợp ngoại lệ mà thôi còn không tù nhân nào sống sót nổi quá một tuần lễ. Vì đói, vì khát, vì bịnh và kiệt quệ tinh thần.

    Trong trại giam cộng sản hồi đó, chế độ dành riêng túp lều nói trên cho những tù được phong vương. "Phong vương" là phong cho làm vua, một mình một "long sàng", một cung điện. Tù "phong vương" ăn, ngủ một mình tại lều rồi chết đơn độc, không được mà cũng chẳng cần ngó lần cuối hình ảnh những người còn sống. Đó là một túp lều tầm thường như nhiều lều khác vẫn thấy ở miền quê, dựng trên sáu cây cột chắc chắn, mái lợp rạ. "long sàng" cao khoảng hai thước, bằng tre ghép lại, tù lên xuống bằng một thang cây. Tù nhân nằm hay ngồi trên sàn lều, lính cản vệ hoặc giám thị dễ kiểm soát, từ xa đã trông thấy người tù phong vương mà không phải mất công lại gần. Nói một cách khác, tù nhân rời long sàng leo xuống đất là người ta biết ngay.

    Đã bị xiềng cả hai chân, tù phong vương còn phải đeo cùm. Vì thế, suốt ngày anh ta chỉ ngồi hoặc nằm dài trên long sàng, nhàn rỗi không phải làm gì. Mỗi buổi sáng, một giám thị tới coi tù phong vương chết chưa, nếu chưa chết, y sẽ mở cùm cho tù nhân ở dưới đất đi đại tiện, tiểu tiện, rửa mặt trong vòng mười, mười hai phút đồng hồ. Rửa mặt, nghĩa là thò tay xuống một vũng nước rộng gần bằng chiếc chiếu, vốc nước đưa lên mặt rửa. Không biết đất có chất gì mà nước vũng cứ lờ lờ như nước luộc hến và tanh không thể tả được. Có người tù bị giam lâu biết chuyện nói vũng này nguyên trước đào để chôn tù nhưng đào phải nhiều xác người nên bỏ dở. Trời mưa, nước ngập đọng lại thành vũng nước. Giữa vũng, dăm ngọn cỏ mọc vượt lên khỏi mặt nước thường là nơi hạ cánh của mấy con chuồn chuồn nhàn hạ hay mỏi cánh giang hồ. Một người tù mô tả với anh em như sau: Đây là một thau nước lớn, tù phong vương rửa mặt, giặt quần áo, rửa những vết thương, mụn ghẻ lở, rồi lại súc miệng và uống luôn mà không bao giờ chịu thay thua nước mới.

    Sau công việc "vệ sinh" buổi sáng, tù phong vương lồm cồm leo lên sàn, vội vã đút hai cổ chân vào cùm cho giám thị khóa lại. vì phải thường xuyên đeo xiềng vào cùm hai chân, tù nhân bắt buộc phải mặc quần không đũng, có như vậy mới thay được quần.

    Khẩu phần của tù phong vương rất đặc biệt vì giản dị. Mỗi ngày, vào buổi sáng, người của ban quản trị tới phát cho hai nắm gạo, tù nhân muốn làm thế nào ăn được gạo thì làm. Tất nhiên, vì không có vật dụng nấu cơm, tù nhân không có cách gì khác hơn là nhai gạo sống khi không chịu nổi cái đói, tuy biết trước là ăn gạo sống, chỉ ít hôm sẽ "ỉa cứt cò" nghĩa là phân trắng toát như nước vo gạo đặc rồi đau lỵ hay đau tả mà chết. Về khoản nước uống thì buổi sáng, nhân lúc đi đại tiện, tù mang theo một ống tre múc nước ở "thau nước lưu cữu" đem về uống trong một ngày. Trong những điều kiện ăn uống như thế, tất nhiên cái chết phải rất gần, không thể nào tránh né được.

    Ấy thế mà hai năm trước, một người tù đã có sáng kiến nấu được cơm ăn trong những điều kiện thiếu thốn như vậy. Bọn cộng sản quản trị trại giam phải khiếp phục sát đất rồi tìm cách giết cho mau, khỏi lo hậu họa.

    Hồi ấy, tù phong vương bị nhốt riêng tại lều này chỉ bị xiềng hai chân chứ không bị cùm nên vẫn có thể di chuyển.

    Tù nhân cùng trại được biết lờ mờ rằng anh này là một nhân vật chính trị có khuynh hướng quốc gia, đã đỗ kỹ sư ở ngoại quốc, bị cộng sản bắt vì có tư tưởng đối lập rồi bị giam tại Khu Tư cho tới chết.

    Giấu được bao diêm trong mình, viên kỹ sư đó định dùng bao diêm -nghĩa là lửa- làm phương tiện vượt trại khi nhận khẩu phần gạo, viên kỹ sư biết ngay tụi cộng sản định giết anh. Anh ta nhất định không chịu chết vì bịnh ruột nên tìm cách nấu cơm ăn bằng được. Ít nhất, anh cũng tỏ cho bọn cộng sản biết rằng người quốc gia chiến đấu đến cùng chống bọn cộng sản, dù trong cảnh tù đày.

    Trước tiên, anh kiếm một bẹ chuối, một tầu là chuối và vét một vốc bùn đất sét dưới vũng lên. Xong anh ta đào một lỗ nông trên mặt đất, đổ nước vào cho đất ngấm nước thành nhão. Ngâm gạo trong nước cho gạo ngấm kỹ nước, anh ta bọc gạo thật kín trong mấy lượt lá chuối, dùng bẹ chuối bọc thật kín bên ngoài như một đòn bánh tét. Sau khi cột kỹ bằng dây tước ở bẹ chuối, anh ta lấy đất nhão bao kín bên ngoài gói gạo, bỏ xuống lỗ rồi lấp đất.

    Sau khi đổ nước xuống lỗ cho ngấm đẫm nước, người tù chất lá và củi lên trên mà đốt, đốt mãi. Tới khi đất bùn đã khô queo dưới sức nóng, anh còn chờ thêm một lúc lâu cho đủ sức chín cơm rồi mới giỡ bọc cơm lên ăn. Tuy không ngon lành gì nhưng gạo đã nấu chín thành cơm, ăn không bị bịnh.

    Đến lần nấu cơm thứ ba, mưu kế của anh bị khám phá và bao quẹt bị tịch thu. Khi đó viên kỹ sư mới đành chịu bó tay và từ đó trại giam áp dụng biện pháp cùm luôn tù phong vương để chặn hết mọi phương tiện di chuyển.

    Tù nhân đành phải ăn gạo sống nếu không muốn chết đói chăm chú hai nắm gạo sống trên miếng lá chuối khô ở góc long sàng rồi thở dài. Trông lại, nhận ra ngay 982, người đã có sáng kiến thả kiến bò nhót bắt rận trong quần áo tù, để ngừa bệnh chấy rận bị kiến bò nhót phản lại nên "được" đưa đến giam tại lều phong vương!

    Nhắc lại bữa đó, 982 cứ sự thật mà khai và nhận hết tội lỗi về phần mình vì không muốn anh em bị liên lụy một cách vô ích. Sau một trận đòn tơi bời, 982 được "phong vương" ngay sáng hôm đó do quyết định của phó trưởng ban quản trị trại.

    Một nhân viên mở hồ sơ cá nhân của 982, đọc qua loa rồi ghi thêm bản án tử hình:
    - Phạm tội mưu sát nhân viên ban quản trị, được phong vương kể từ ngày...4.1954.

    Y đặt cây viết trên tờ lý lịch cá nhân, tò mò nhìn 982 từ đầu đến chân như để xem tướng mạo một người sắp chết rồi buông mấy tiếng nhạt nhẽo:
    - Muốn được "làm vua" thì "phong vương" ngay tức thì! Thôi, về cung điện mà ngự lên "long sàng"!

    982 ngẩn mặt ra một cách sợ hãi, chưa hiểu ất giáp gì hết, viên giám thị bị kiến độc đốt đã hầm hầm nhìn hắn và nạt:
    - Đi theo đây!

    982 lần lũi theo sau giám thị, băn khoăn lo lắng, không biết sẽ bị trừng phạt cách nào. Giám thị đưa đầu ngón tay trỏ lên miệng, chấm nước miếng, day lên vết độc cắn hãy còn xưng vù rồi cau có nói:
    - Xuống dưới lò rèn để đánh xiềng! Biết không?

    Tuy chưa biết đích xác lò rèn ở đâu, 982 cũng thưa:
    - Dạ, biết!

    Rồi toát mồ hôi đầy mình, bước trên mặt đất mà bàng hoàng như đi trong mây. Đang là tội nhân thường, nghĩa là có hy vọng một ngày kia được phóng thích, nay bỗng biến thành tù trọng tội mang xiềng và cùm. Chỉ vì mấy con kiến bò nhọt oan nghiệt!

    Đến đây, tác giả xin mở một dấu ngoặc để nói qua về một ngành hoạt động chuyên môn trong Trại Giam Đầm Đùn.

    Nguyên số tù nhân của Trại Đầm Đùn khi đông nhất có thể tới hơn ngàn người và ngay khi chết dần chết mòn vì "ra bai", vì thương vong hàng ngày hay vì nhiều lý do khác, cũng còn bảy tám trăm người. Tất cả số tù nhân đông đảo ấy thuộc nhiều giai cấp, thành phần và làm nhiều nghề khác nhau: Cày ruộng, thợ cấy, thợ gặt, trồng tỉa, thợ máy, đào giếng, làm củi, làm than, giáo sư trí thức, thanh thiếu niên, du đãng, thợ rèn, thợ mộc, bếp nấu ăn, thương gia, viết văn, nhà chính trị cách mạng, tu sĩ và cả cường hào ác bá nữa v.v...Thôi thì đủ mặt anh hùng thiên hạ không sao kể hết.

    Khi họ bị đưa vào giam tại Trại Sản Xuất và Tiết Kiệm Đầm Đùn, ban quản trị sắp xếp chia ra làm nhiều hạng theo nghề nghiệp, thành phần, giai cấp. Vì thế, trại có một số thợ chuyên môn, để phụ trách về các công tác chuyên môn khi cần đến. Cũng bởi lý do trên, Trại Giam Đầm Đùn có một ban thợ rèn do một tay thợ rèn khá chuyên môn điều khiển. Hai thanh niên phụ giúp những công việc lặt vặt cho ban này.

    Tù nhân phải mang xiềng đều được giám thị dẫn xuống lò rèn đặng làm xiềng đeo vào chân.

    Thường những ngày ít việc, thợ rèn "đánh" sẵn những sợi lòi tòi dài cả mấy chục thước quấn thành một đống lù lù lớn như đống mả ở góc nhà. Vậy mà có khi chỉ trong mấy ngày là cả ba bốn chục thước xiềng đã xài hến nhẵn, tù thợ rèn phải luôn tay quai búa chan chát trên đe mới thỏa mãn kịp cho nhu cầu của Trại.

    Lò rèn cách nhà tiểu công nghệ cả bốn, năm chục thước, đặt trong một căn nhà lá khá rộng, ba bề không có vách. Đứng trên nhà tiểu công nghệ trông xuống, tù nhân chỉ thấy lấp ló mái nhá lá vì lò rèn bị lấp sau dãy nhà bếp. Nhưng có ngày những tiếng búa đập chan chát trên đe để rèn xiềng nghe như tiếng đóng "cá" quan tài khiến nhiều tù nhân thấy đau nhói ở tim, chịu không nổi. Nhiều người tù khó ngủ hay bịnh, đêm nằm nửa tỉnh nửa thức, bỗng nghe vắng tiếng búa đập chan chát xuống mắt xiềng rồi lo sợ nghĩ ngợi lan man thao thức cho đến sáng không chớp mắt. Bởi vì hình ảnh sợi xiềng sắt xích liền hai cổ chân tù nhân là một hình ảnh thiểu não cùng cực đã in sâu vào tâm thức họ. Tuy thế, cũng chưa ghê rợn bằng nghe tiếng xiềng kéo lê trên mặt đất chạm nhau lách cách, nhịp theo bước chân ngắn dài của tù nhân đi trong ánh trăng non buổi tối mùa Thu, sương mù đầy sân. Nhiều tù nhân không phải mang xiềng tự thương thân bật khóc tức tưởi.

    Muốn "được" đeo xiềng vào chân, tù nhân còn phải đau đớn khá nhiều, vì ở trong trại giam, vẫn luôn luôn xảy ra những vụ bóc lột, hối lộ, làm tiền. Nhiều tù nhân đã bị què trước khi mang xiềng vào chân.

    Đến trước lò rèn, 982 sợ hãi bước chậm lại rồi đứng trên ngưỡng cửa trân trối nhìn một người cởi trần, mình đẫm mồ hôi đang đập búa lên một mắt xích. Khi ngước thấy giám thị, người này mỉm cười gật đầu chào, và lễ phép đứng lên. Tuy giám thị chưa nói, anh ta đã biết giám thị sẽ ra lệnh cho làm việc gì. Sau khi nhìn giám thị, thợ rèn liếc mắt thật nhanh ngó 982 rồi chừng như nhận thấy dấu hiệu đặc biệt gì của giám thị -một cái đưa mắt chẳng hạn-. thợ rèn ngó sững bộ đồ trên mình 982.

    Tuy bộ đồ không còn mới nhưng lành lặn nguyên vẹn và may bằng loại vải dầy và bền, vải chúc bâu trắng. Đợi cho tù thợ rèn nhận định xong, giám thị mới nói:
    - Đánh sợi xiềng dài một thước cho thằng này (vừa nói vừa chỉ vào giữa trán 982). Nó mới được phong vương vì tội thả kiến độc trong trại ngủ cho cắn nhân viên gần chết!

    892 vừa ức vừa sợ, nhất là sợ, định lắp bắp phân trần để giám thị hiểu cho là y không dám có ác tâm ấy nhưng không nói ra hơi. Quá tuyệt vọng trước một định mệnh tàn ác, y ngớ ngẩn nhìn giám thị rồi cúi gầm mặt xuống, lặng thinh luôn.

    Tù thợ rèn hỏi:
    - Thưa ông giám thị, cho đeo liền bây giờ?
    - Xiềng hai chân luôn. Dài một thước. Nghe rõ chưa?

    - Dạ, thưa rõ...
    - Nửa giờ nữa, tôi quay lại lãnh tù. Làm xong, biểu nó ngồi chờ ở đây.

    Rồi giám thị quay nhìn 982, quát lớn:
    - Đeo xiềng xong, ngồi đợi tao đưa mày đến long sàng mới của mày. Không được bước ra ngoài ngưỡng cửa lò rèn, hiểu chưa?

    982 khúm núm:
    - Thưa ông giám thị, xin tuân lệnh.

    Giám thị nhìn thợ rèn lần nữa, nháy mắt một cái rồi quay đít, lên thẳng nhà bếp. Hắn kiếm bữa ăn sáng.

    Tù thợ rèn mỉm cười, nhìn theo bóng dáng tên giám thị giây lát, nhưng đến lúc quay lại nhìn 982, mặt y đanh lại, với một vẻ tàn nhẫn lạnh lùng như vừa đeo một mắt nạ bằng sắt. 982 nhìn tù thợ rèn, lễ phép xuống nước năn nỉ:
    - Kính chào ông anh. Xin ông anh thương giùm em bị oan, làm phước nhẹ tay cho em nhờ...

    Thợ rèn lạnh lùng nghe rồi gay gắt hỏi:
    - Nghề lò rèn phải quai búa tạ, đâu có nhẹ tay được! Mà nếu "nặng tay" thì sao?

    982 luống cuống chưa biết trả lời cách nào để khỏi phật ý thợ rèn, tên này đã gườm gườm cặp mắt, nhìn chằm chặp bộ đồ 982 đang mặc với vuông khăn quấn ở cổ và nói:
    - Bộ quần áo còn tốt quá nhỉ? Ra lều "phong vương" mặc bộ đồ này uổng quá, phí của giời. Thôi, người anh em "bán lại" cho tôi đi.

    Rồi hắn nhìn 982 toét miệng mà cười...cầu tài. 982 thấy rõ vẻ làm tiền sống sượng của hắn, bẽn lẽn còn chưa kịp trả lời, hắn đã gằn giọng:
    - Đưa cổ chân ra coi!

    982 sợ hãi đưa cổ chân lại gần bên cho thợ rèn ước lượng. Thợ rèn nheo mắt ước cỡ cổ chân của 982 rồi lẳng lặng lại sát vách, nơi có một thùng cây vuông vắn như cái rương đựng quần áo. Trước khi mở nắp rương, y quát bảo thiếu niên từ nãy vẫn đứng cạnh bễ tò mò theo dõi sự việc và các mẩu đối thoại giữa hai bên:
    - Thắng kia! Thổi lửa lên! Mày cũng muốn được "phong vương" hả?

    Thiếu niên lặng lẽ kéo bễ thì thụt. Đống than bỗng hồng lên theo từng hơi thụt rồi ngọn lửa xanh từ đống than vươn lên liếm vào không khí. Một làn hơi nóng bốc lên ngùn ngụt. Thợ rèn nhấc nắp rương, thò tay kéo. Tiếng kim khí loảng xoảng, một sợi xích sắt được nhấc ra vứt xuống đất, dài tới ba thước. Cảm tưởng đầu tiên của 982 là cảm tưởng nặng nề. Sợi lòi tòi này phải nặng tới 20 kg là ít.

    982 định thần nhìn kỹ. Hai đầu sợi lòi tòi đã dính liền vào hai cái đai sắt tròn vành vạch, đường kính rộng hơn cổ chân chút ít. Đai sắt cao khoảng hai phân và dầy bằng tập vở học trò. Một chi tiết làm 982 hoảng kinh, cạnh đai sắt cứa vào cổ chân và mu bàn chân thì đến bật xương rách thịt, làm sao chịu cho thấu. Lần thứ hai, 982 khép nép, xuống nước nhỏ năn nỉ:
    - Xin ông anh làm phước cho em cái đai sắt nào cạnh bớt sắc. Hoặc giả, xin ông anh cho phép em mượn cái giũa, giũa vài nhát vào cạnh đai cho bơt bén. Tội nghiệp em lắm!

    982 chẩy nước mắt lúc nào không biết. Y chợt thấy thiếu niên đứng phía sau thợ rèn ra hiệu cho ý, một tay thiếu niên vẫn kéo bể còn một tay nắm vào ngực áo, kéo ra kéo vào vài cái, 982 vẫn chưa quyết định tính toán cách nào, thợ rèn đã quát:
    - Lại gần đe, ngồi xuống.

    Như người mất hồn, 982 sợ sệt nhích lại gần đe ngồi thụp xuống, rồi duỗi dài hai chân ra khi thấy thợ rèn giơ tay ra hiệu.

    Hai đầu sợi lòi tòi đã gắn chặt vào đai sắt. Nhưng mép nối của đai sắt hãy còn mở, khi nào tù nhân cho lọt vào trong vòng đai rồi, người ta mới tán cho hai mẫu sắt ở mép đai cắn chặt với nhau bằng một đanh sắt có mũ gọi là "ri-vê". Bao nhiêu công việc đóng xiềng vào chân tội nhân nguy hiểm là ở chỗ này. Có thể vô tình hay cố ý, khi đập xuống đanh ri-vê để tán, cây búa tạ đánh vào xương ống quyển hay mắt cá chân. Chỉ thấy tội nhân hét lên một tiếng điếng hồn rồi què luôn từ giây phút ấy. Nhưng trong tù có nhiều hiện tượng lạ lùng, què hẳn hoi mà vẫn phải lõng thõng bước đi như thường, khi cần.

    982 theo lệnh của thợ rèn, cố đút bàn chân to như bàn cuốc cho lọt qua vòng đai sắt trong khi thợ rèn dùng kìm mở cho đường kính vòng đai rộng thêm ra. Đút lọt một chân vào trong đai sắt rồi, 982 mới nhìn lại bàn chân đã xây xước rướm máu. Chưa kịp chùi vết máu, anh ta đã phải ghếch cả cổ chân có đai sắt lên trên đe trong khi thợ rèn ướm thử một chiếc đanh ri-vê vào lỗ chuẩn bị tán:
    - Ê, thằng kia, ra giữ đai cho tao "đóng" đây!

    Thiếu niên ngừng thụt bễ, lại gần dùng kìm, kẹp chặt hai mẫu sắt ở mép đai, có lỗ thủng sẵn đặng thợ rèn tán ri-vê 982 rùng mình khiếp hãi, nghĩ thầm:
    - Trượt búa một cái, đành là mình gẫy đứt một giò.

    Nghĩ vậy, anh ta nhắm mắt lại không dám nhìn. Nhưng lúc mở tí hí mắt thì vừa vặn đúng lúc thợ rèn giơ cao tay búa giáng xuống. Chẳng may, búa trượt ngang, đập trúng mắt cá chân đến "cốp" một cái 982 "ối" mấy tiếng đau đớn nằm lăn quay ra đất mà rên hừ hừ.
    - Câm cái mồm lại! Chưa được!

    Quả nhiên, khi nhìn lại 982 thấy cây đanh đi-vê chưa dính chặt vào lỗ và miệng đai sắt vẫn chưa đóng kín. 982 ràn rụa nước mắt vì nhức nhối, chép miệng, cởi khuy áo, lạy van rối rít:
    - Thế này thật không phải, xin biếu ông anh chiếc áo này và xin ông anh thương tình cho lại em chiếc áo rách, rách thế nào cũng được, miễn còn được chỗ lành để em xin "in số" là được. Ông anh thương mà nhẹ tay giùm.

    Lúc bấy giờ thợ rèn mới mỉm cười ra vẻ thông cảm. Hắn ngẫm nghĩ giây lát rồi quay ra phía thiếu niên kéo bễ và nói:
    - Mày kiếm một chiếc áo còn khá tốt đổi cho ông bạn, kẻo tội nghiệp. Trời rét này mà ở trần, làm sao chịu nổi.

    Gần nửa giờ sau, 982 đã mang xong xiềng vào chân. Gần đúng như lời dặn của giám thị, sợi xiềng nối liền hai cổ chân đo được 98 phân. Lúc tới lò, 982 mặc áo lành lặn, lúc ở lò ra theo giám thị, mặc áo rách, cũ kỹ, ngắn ngũn như áo con nít. Tuy vậy, trên ngực và lưng áo còn hai khoảng lành lặn nhờ có đắp thêm hai mảnh vải còn tốt, 982 có thể năn nỉ xin ban quản trị cho in số tù trên khoảng áo lành là được rồi.

    Anh ta khập khễnh như người què. Cũng còn may, cạnh vòng đai sắt đã được thợ rèn giũa qua mấy nhát cho bớt sắc, nếu không, chỉ đi mười bước là tóe máu chân ra liền. Tiếng xích sắt lách cách tiến về phía lều phong vương.

    982 bàng hoàng nhìn túp lều, ngừng bước chân. Không nghe tiếng mắt xích đập vào nhau, giám thị quay lại quắc mắt, 982 lại vội cất bước.
    - Bắt đầu từ giờ phút này (giám thị nhìn đồng hồ tay) 8 giờ 45 ngày...tháng 4.1954... tôi tuyên cáo từ 982 được chính thức phong vương theo quyết định của ban quản trị.

    Với một giọng điệu đầy vẻ đểu cáng, giám thị mỉm cười thích thú. 982 ngẩn ngơ như người mất trí, tiến không dám, lùi thì sợ...nên chẳng khác chi người chết đứng. Túp lều phong vương thảm nhiên chờ đợi trong cái vắng lặng của khu trại, người bạn ăn nằm với túp lều trong một thời gian ngắn ngủi ít ngày.

    _____________________


    10. Không biết lần thứ mấy, 982 nhìn lại nắm gạo bỏ trên mảnh lá chuối khô tại góc sàn lều mà ban quản trị đặt cho mỹ danh là "long sàng" đặng xứng với danh từ "tù phong vương". Phải, bắt đầu từ 8 giờ 45 sáng nay, anh được thăng làm "tù phong vương" và gần như chắc chắn rằng 8 giờ 45 phút cũng ngày này tuần tới, anh sẽ không còn sống trên cõi đời này nữa.

    Ý nghĩ trên làm 982 thắt ruột vì tiếc nuối, căm hờn và đau đớn...Đầu óc 982 trở lại trống rỗng như không còn đủ sức suy nghĩ đến một việc cỏn còn nào hết. Tên giám thị đểu cáng, sau khi cho anh làm công việc "vệ sinh" buổi sáng và rửa mặt bên cái vũng nước đục lờ lờ, hất ngón tay ra lệnh cho anh trèo lên sàn. Rồi y lấy hai mảnh ván cùm vứt lăn lóc trên sàn từ bao giờ, cùm hai chân anh lại. 892 biết chắc cùm này đã "chiếu cố" đến nhiều tù phong vương khác, những người đã sang bên kia thế giới trước anh. Cứ coi các góc cạnh đã nhẵn thín cũng dư biết thành tích giết người của cùm. Ít ra cũng cả trăm cả tù nhân đã mất mạng vì nó.

    Dần dà, đầu óc 982 bình tĩnh lại, bản năng sinh tồn của con người vùng dậy. Anh tự nhủ thầm: Hoảng hốt, sợ hãi lại càng mau chết. Đành rằng nếu tổ chức bên ngoài không thực hiện kịp thời một kế hoạch giải cứu, anh khó lòng thoát chết. Nhưng tìm cách kéo dài sự sống vẫn hy vọng hơn. Biết đâu chẳng có một cuộc đời xá...một đặc ân bất ngờ nào đó. Hoặc giả, gặp dịp may trốn thoát về vùng Tề. Biết đâu chừng!

    Mắt cá chân buốt đánh thót một cái vì anh vừa gượng co đầu gối lại. Khi đó 982 đang ngồi dựa vào chân cột, ngó khung cảnh chung quanh "điện ngọc" vắng vẻ, im lìm. Dưới đất, những ngọn cỏ còn ướt đẫm sương đêm. Trên chòi xa, một tên cảnh vệ canh gác, đang ngó về phía anh...982 nhìn chiếc áo cụt ngủn đang mặc mà giận. Đằng nào cũng mất áo mà còn bị búa đánh toét mắt cá chân. Thật ngu dốt đần độn quá, 982 tự rủa thầm như vậy.

    Nhất là khi nhớ ra những chuyện bạn tù kể lại về tác phong của tên tù thợ rèn, 982 càng giận thêm. Họ đã cho anh biết những vụ làm tiền, bóc lột vật dụng quần áo là chuyện tất nhiên phải có, khi tù bị thợ rèn đóng xiềng vào chân. Dù không muốn có những hành động khốn nạn đó, nó vẫn phải làm theo lệnh của giám thị. Vì giám thị của Trại Giam Đầm Đùn cũng túng thiếu, phải bóc lột tù mới đủ ăn. Làm việc ở vùng nước độc khỉ ho cò gáy, xa nơi thị tứ, quanh năm buồn như chấu cắn, giám thị là những phần tử phạm lỗi, phải thuyên chuyển đến trại này vì lý do kỷ luật, tác phong hủ hóa, để chia sớt sự thiếu thốn với bọn tù ốm đói sắp chết và đang chết.

    Thế cho nên khi tù nhân đến lò rèn để đóng xiềng, gần như bắt buộc phải mất một vật dụng gì cho giám thị qua trung gian là tù thợ rèn. Tùy giá trị món đồ bóc lột được, giám thị sẽ chia cho thợ rèn một phần.

    Nhưng có những tù nhân nghèo quá, chỉ còn một bộ đồ rách bươm, giám thị có lột lấy bán lại cũng chẳng được là bao. Trường hợp này, đành phải châm chước mà tùy nghi định liệu. Tù nhân bị đóng xiềng muốn khỏi bị búa trợt vào ống quyển, vào mắt cá chân, có thể điều đình bằng cách nhường cả một bữa cơm cho thợ rèn. Thợ rèn cũng là tù nhân nên vẫn "đói" chẳng khác chi các tù nhân cùng trại. Nhường cho hắn một bữa cơm, hắn tán đanh ri-vê mỗi đai cổ chân một cái, trúng ngay. Nếu không, hắn bèn trợt búa thì chết mẹ cái cẳng chân ăn tù cần đeo xiềng. Bữa cơm, nếu không ăn hắn cất đi, đổi lấy thuốc lá, thuốc lào hay áo cánh, quần đùi, rồi nộp giám thị hoặc bán lấy tiền đưa giám thị chia theo nguyên tắc "tứ lục", giám thị hưởng 6 phần, thợ rèn 4 phần.

    Nhưng trên thực tế, phần của sư tử bao giờ cũng phải lớn hơn nhiều nên tù thợ rèn chỉ được một, hai phần mười là đã toại nguyện lắm rồi. Để được đền bù phần nào, thợ rèn còn được giám thị che chở, nâng đỡ về tinh thần nên hắn có quyền hống hách, muốn cho ống quyển tù nhân bị đeo xiềng ăn..."đòn trợt búa" lúc nào cũng được.

    Đã biết nguyên tắc nộp "thuế đóng vào chân" như vậy, 982 còn để cho búa táng vào mắt cá chân, thật đáng tội què!

    Nhưng có một mánh lới làm tiền khác của thợ rèn, 982 chưa được nghe nói đến nên chưa biết. Tù nhân phải đeo xiềng nhưng đến một hạn nào đó, tất nhiên cũng phải tháo xiềng ra trả lại cho trại. Hoặc là tù xiềng được đặc ân (trường hợp này rất hiếm) hoặc gặp kỳ đại xá, ban quản trị có thể xét cho họ tháo xiềng để trở về làm tù nhân hạng nhẹ. Lúc tháo xiềng ra mới thật khổ, không khác chi lúc đeo xiềng.

    Tù thợ rèn có hai cách tán ri-vê vào đai sắt của xiềng, một là tán toét đầu ri-vê ra, hai là tán vừa đúng mức mà tù vẫn không thể nào tháo ra được. Trong trường hợp thứ nhất, khi tù nhân được bỏ xiềng, thợ rèn phải chặt đứt ri-vê bằng đục và búa. Độc giả khó tưởng tượng nổi cổ chân phải đau đớn đến mức nào khi thợ rèn chặt ri-vê trên đe!

    Trong trường hợp dưới, thợ rèn chỉ dùng một cái chốt sắt đặt đúng lên ri-vê, "đột" một cái là trúng phóc, ri vê bật ra liền, cổ chân không hề đau đớn gì hết.

    Cách tán ri-vê trong trường hợp thứ nhất còn gây ra nhiều điều không hay.

    Nếu tù nhân này chết, cố nhiên phải khiêng ra bãi để chôn.

    Tháo ri-vê ra phiền phức mất công quá nên thợ rèn thấy không gì tiện hơn là chặt phăng bằng dựa hay rìu hai cổ chân xác chết, thu hồi xiềng trả lại ban quản trị rồi liệng hai chân xuống hố phân là xong chuyện. Chỉ trong ít hôm, ròi ăn hết hai bàn chân liền. Dưới âm phủ, cái xác mất hai bàn chân làm sao đi lại được như những xác còn nguyên vẹn thân hình (!)

    Nhiều tù nhân mê tín hoặc lẩm cẩm lại còn ngẫm nghĩ cả về điềm vớ vẩn vừa nói nữa.

    982 ngắm nhìn cây ri-vê đóng vào đai sắt, gọn gàng, nhẵn nhụi, bỗng cau mặt tức giận. Chắc chắn bị "cúp" mất bữa ăn sáng nay rồi. Thật là họa vô đơn chí! 982 rền rĩ trong họng:
    - Đói quá! Đói quá!!

    Anh ta vòng hai tay ôm bụng, co đầu gối ép lên hai cánh tay thật chặt. Chiều hôm qua đi làm củi ở rừng về, ăn hết hai lưng cơm mà vẫn đói như chưa được hột cơm nào. Vậy mà sáng nay lại phải nhịn nữa thì chịu sao nổi. Cái đói ùa đến thật nhanh khiến mồ hôi 982 toát ra ướt đẫm lưng. Đôi mắt lờ đờ chợt hướng về phía vũng nước, anh nghĩ thầm:
    - Có vũng nước thì phải có ếch, có nhái, cóc hay là tôm, cá nữa, không biết chừng. Hay ta liều xuống kiếm coi.

    Liền khi đó, một ảo giác hiện ra trước mắt 982. Ngay giữa "long sàng", một con ếch tròn vành vạch đang ngồi, gương mắt nhìn anh. Một lưỡi câu có dính bông hoa mướp vàng nhẩy nhót để nhử. Bị khích thích vì màu vàng hoa mướp, con ếch nhoài mình đuổi theo mồi. Một sức mạnh giựt ở đầu sợi dây câu khiến lưỡi câu bung lên đóng chặt vào miệng con ếch béo múp míp.

    982 dụi mắt, con ếch biến mất. 982 vừa tưởng tượng đến những lần câu ếch trong dĩ vãng xa xôi ở ven ao làng. Cái đói, cái khát thường tạo ra ảo ảnh như vậy.

    982 chợt ngước lên mái lều, nơi vừa phát ra tiếng lạt sạt rất khẽ nhưng vì không khí quá yên tĩnh nên anh nghe được. 982 phát giác một con thạch sùng đang bắt muỗi trên mái, da con thạch sùng vàng ngậy lẫn với màu rạ. Một ý nghĩ thoáng trong đầu 982 như một cứu cánh, mắt anh không rời con vật và lóe ra những tia sáng chói của thèm muốn. Im lặng như cái bóng, 982 vẫn ngồi mà lết dần đến bên dưới khoảng mái rạ có con thạch sùng trong khi tay anh lần cởi khuy rồi lột áo ra, xoắn lại thành một sợi dây lớn, nắm chặt một đầu trong tay. Anh vẫn ngửa mặt nhìn lên nóc nhà, cằm đưa ra đàng trước, mắt lom lom theo dõi con thạch sùng.

    Con vật bỗng bò nhanh để bắt một con nắc nẻ đậu gần đấy. Khi đã lại gần đúng tầm, nó nhô mạnh về phía trước để đớp con mồi thì cũng đúng lúc đó, 982 vụt đứng thẳng lên, vung tay cầm áo đập giữa mình con thạch sùng, nhanh không thể tả.

    Chiếc áo rơi xuống mang theo con thạch sùng. Nhưng con vật chỉ bị đau sơ chứ không chết. Vừa rơi trên "long sàng", nó loạng choạng chạy về cây cột lều nhưng 982 đã nhoài người vồ được nắm gọn trong tay, mặc cho con vật vùng vẫy.

    Một khoảng đầu con thạch sùng còn thò ra ngoài nắm tay của người tù đói, nhưng nó chạy sao cho thoát! Vừa định quật chết con thạch sùng, anh chợt ngừng kịp cánh tay đang giơ lên nửa chừng. Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu. Hai mắt tóe lửa thèm khát của 982 nhìn chòng chọc miếng ăn sống trong tay.

    982 há nhẹ hai hàm răng, đút đầu con thạch sùng lọt vào bên trong miệng. Bằng hai ngón tay, anh cấu vào đuôi con vật một cái, đồng thời lỏng bớt tay nắm. Bị đau, con thạch sùng vùng chạy chui thẳng tọt vào cổ họng 982 rồi biến luôn. 982 đã ngậm miệng như thường. Một cảm giác ngứa ngáy khó chịu khi con thạch sùng chạy theo ống thực quản xuống bao tử khiến 982 so hai đầu vai lên như bị thọc nách.

    Rồi anh ngẩn người ra ngẫm nghĩ: Cũng may, con thạch sùng không bị rụng đuôi khi rớt, chứ chỉ nuốt riêng cái mẫu đuôi thì cũng dỡ dang, mà bỏ đuôi cũng uổng!

    Một lát sau, cái cảm giác nhột và buồn bực do con thạch sùng bò trong bao tử gây ra mới hết dần. 982 cho là còn may, mới tới đã kiếm được thức ăn bỏ vào miệng để dằn cơn đói quái ác! Nhưng sẽ làm gì với nắm gạo sống này đây?

    982 giật mình quay về phía trại vì anh lại nghe tiếng chân dẫm trên đất ướt. Quả vậy, một người đang đi tới, tay cầm gói gì mà anh chưa nhận ra. Dáng người trông quen quen, gầy gò, nhỏ nhắn, không phải là tên giám thị khốn nạn. Người đó lại đội cái nón chóp bằng lá gối dậy dặn anh đã cố công mang từ Việt Bắc về. Không thấy mặt nhưng 982 đọc được số 271 in trên ngực người đội nón.

    271 là danh số của trại viên Toàn. Hôm nay, 271 được cắt công tác xay 5 thúng lúa ở nhà tiểu công nghệ và gánh hai chục gánh nước tưới rau, vườn cà của trại. Chưa gánh xong nước, Toàn được giám thị sai mang đến trao cho 982 một bọc gồm mấy cái quần áo. Ba bốn miếng giẻ, một bao tải, một đôi dép cao su "con hổ" đế đã mỏng như lá bàng. Với tư cách trưởng toán, Toàn sẽ cho biết luôn 982 không còn thuộc toán của anh nữa. Như thế con số 982 đã được gạch bỏ trên danh sách trại thường tội trước khi người mang con số đó bị bỏ một cách lạnh lùng ra khỏi cõi nhân thế.

    Tới chân thang, Toàn giở nón là ngước nhìn lên "long sàng" mà cười gượng như để an ủi "tân vương". Nhưng 982 không lưu ý đến vẻ mặt cùng thái độ của Toàn mà chỉ đợi Toàn cho biết những sự việc xảy ra sau lúc anh ta bị gọi lên văn phòng và xin Toàn giúp cho một việc rất hệ trọng.

    Toàn ý tứ nhìn quanh quất tứ phía, coi có ai rình rập theo dõi chăng, rồi chăm chú ngó chòi lính canh đàng xa. Tên cảnh vệ ngồi xây lưng lại phía lều phong vương, 271 yên trí leo lên thang, ngồi ghé xuống "long sàng".

    Thấy mắt cá chân của 982 tím bầm như quả bồ quân. Toàn lờ đi, không muốn gợi cái đau ra cho bạn đồng cảnh. Anh chìa bọc quần áo, cầm hết vật dụng trong tay lần lượt đưa từng thứ cho 982 và chợt có một cảm tưởng kỳ lạ, gặp 982 lần này là lần cuối cùng. Trong Trại Giam Đầm Đùn, cái sống xa cách cái chết không quá mươi bước chân. Toàn lặng lẽ nói:
    - Đây, tất cả đồ dùng của anh, không thiếu thứ gì, còn quần áo, tôi đã rũ thật sạch, anh yên trí mà mặc...

    Toàn cố tránh nhắc đến đàn kiến bò nhọt chết tiệt đã gây ra tai họa cho 982. Toàn thấy 982 mấp máy định nói rồi ngậm chặt vành môi đến gần chảy máu. Hắn giở từng thứ ra coi qua loa, liệng đống ngay bên cạnh, rồi thở dài. Trong giọng nói của 982, Toàn thấy một âm hưởng căm hờn, ngao ngán, nhưng không sợ sệt:
    - Tôi bị "phong vương" rồi, anh ơi! Chắc khó sống hết tháng này...Tôi gởi lời chào tất cả các bạn và mấy anh em trong giam cầm này. Dè đâu...

    Thiếu chút nữa Toàn bật lên khóc thành tiếng, vừa thương người đồng cảnh, vừa lo cho thân mình. 982 bỗng ngưng ngang, mắt hắn ráo hoảnh long lanh dữ tợn, hai bàn tay nắm chặt thành hai quả đấm, run run. Toàn đoán hắn đang có những ý nghĩ liều lĩnh, bất thường. Người tù nào mới được đưa đến lều phong vương cũng có phản ứng như thế. Thoạt đầu là cảm giác sợ sệt hoang mang, rồi sau đó là lòng căm phẫn, thù hận, những ý tưởng liều lĩnh giết người hay vượt trại giam. Còn sau này có gan thực hiện những mưu định không, lại là chuyện khác.

    Toàn đưa mắt nhìn địa thế quanh lều...Tuy đã vào trại giam sáu tháng, Toàn chưa có dịp đến khu này lần nào. Sự vắng vẻ, yên tĩnh, cô độc gây cho anh một cảm giác hồi hộp, sợ hãi 982 chợt hỏi bâng quơ:
    - Này anh trưởng toán, sáng nay tôi bị "cúp" mất bữa cơm một cách oan uổng nên đói quá. Trước khi bị đưa tới đây, cũng không được ăn bữa cơm cuối cùng với anh em. Thiệt đáng hận...

    Nói đến cơm, dường như 982 lại càng đói thấm thía nên hãm ghì chặt hai cánh tay ôm bụng. Toàn xúc động mạnh trong lòng nhưng vẫn làm lơ, giả bộ quay nhìn xuống vũng nước và mấy ngọn cỏ mọc vượt lên khỏi váng nước vàng như gạch cua...Anh định hỏi: "uống nước ở vũng này à?" nhưng lại thôi.

    Hai người cùng yên lặng giây lâu. Trán 982 đẫm mồ hôi và hai hàm răng hắn bỗng nghiến ken két. Toàn rùng mình ba bốn lần liên tiếp.
    - Chà, cơn đói quái ác!

    Mắt 982 bỗng tóe tia lửa khiến Toàn bất giác rợn người. Nếu đúng giây phút này, nhét vào tay hắn một con dao rồi dẫn hắn đi tìm giám thị, hắn giám liều. Toàn sực nhớ đến cảm giác căm thù hết mọi người khi anh bị cơn đói hành hạ. Nếu anh đủ sức khỏe, chắc anh có lần phạm tội sát nhân chứ chẳng không. Rồi so sánh với hiện cảnh của 982, anh thấy anh còn có diễm phúc. Đây là lần đầu tiên trong trại giam, sự so sánh khiến Toàn tự thấy bớt đau khổ, và còn may mắn hơn nhiều người khác.

    Ngập ngừng vài giây rồi lấy hết can đảm. Toàn rút trong cạp quần ra một trái bắp luộc còn cả áo bên ngoài, mạnh dạn chìa ra cho 982 và nói:
    - Tôi xin tặng anh trái bắp này. Tôi vừa đổi nửa ống quần lấy trái bắp, định tách hạt bắp ra cất để dành, phòng khi đói hay đau ốm, bây giờ chỉ ăn lõi bắp và nhai mấy tấm áo bọc ngoài hít lấy nước ngọt. Nhưng thấy anh tội nghiệp quá, tôi không đành lòng...

    982 trợn tròn mắt một cách ngạc nhiên và dữ tợn, bất thần nhanh như cắt chộp luôn trái bắp trên tay 271, dường như sợ 271 thay đổi ý kiến. Rồi lột luôn bắp cạp liền, nhai ngồm nhoàm, vừa nhai vừa nói:
    - Cám ơn anh! Cám ơn anh! Đói quá! Không ăn ngay thì chết mấy!

    Toàn cười vớ vẩn nửa như tiếc rẻ, nửa như tự mãn, lặng thinh không nói. Lúc này Toàn mới nhận mình quá "anh hùng cá nhân" thì đã muộn! Cướp lại sẽ gây phiền phức rắc rối, nguy cho cả hai, nội vụ sẽ vỡ lỡ. Thôi đành vậy.

    Nhưng Toàn lại lần cạp quần phía trái, lấy ra một vật gì mà 982 chưa nhận định được. Toàn xuống thang, bước đến đất mới đưa vật đó vào miệng mà nhai ngon lành. 982 vừa nhận ra đó là một miếng cháy lớn bằng bàn tay thì hắn đã ngượng nghịu chìa bàn tay ra xin lúc nào rồi. Hai người không khác chi hai đứa trẻ dụ ăn của nhau. Toàn lắc đầu không trả lời, tiếp tục lạnh lùng nhai miếng cháy. Khi đó 982 đã cạp hết những hạt bắp vàng ửng chắc nịch và tiếp tục nhai lõi bắp, vừa nhai vừa hít nước, hít hết nước nhả bã lõi bắp lả tả vào bàn tay, trải xuống mặt "long sàng", vun lại thành hàng đều đặn. Toàn đoán:
    - Phơi để dành, khi đói quá không chịu nổi sẽ nhai lại nuốt hết.

    Loáng cái Toàn cũng nhai hết miếng cơm cháy.

    Anh đứng bên chân cầu thang, nói vọng lên, tự coi như mình nhiệm vụ tinh thần với anh em.
    - Thôi, anh bạn ngồi nghỉ, tôi về trại đây.

    Nhưng 982 lật bật năn nỉ:
    - Xin anh làm phúc cho tôi nhờ anh một việc.

    Toàn ngập ngừng leo lên thang, 982 đã chắp hai tay lại và nói nhỏ:
    - Nhờ anh làm phúc hỏi dùm tôi thằng nhỏ làm ở lò rèn có phải tên Hợi, người Sơn Tây không? Rồi nhắn cho tôi biết. Nếu đúng thằng Hợi, xin anh bảo nó có chú Dũng đang bị "phong vương" đó. Cảm tạ anh trước.

    Toàn gật đầu nhận lời, lừng lững quay đi, nghĩ bụng dù Hợi có là người nhà của 982 cũng không giúp gì được hết vì tù phong vương phải ăn gạo sống, uống nước vũng, như thế khó lòng "thọ" được quá tuần lễ! Ngược lại, 982 lại rất hy vọng...và xắp đặt trong đầu một kế hoạch vượt trại giam tuy thấy rằng lúc này có lẽ quá muộn!

    Tuy vậy, bắt đầu từ phút đó, nếu rình trộm, giám thị sẽ luôn luôn thấy 982 ngó trừng trừng vào quãng không, vẻ suy nghĩ lung lắm. Mặt hắn ta đanh lại như bằng đá. Sự thật, tuy bề ngoài có vẻ hiền lành chậm chạp nhưng 982 là một người chiến sĩ có thành tích trong hàng ngũ những người trời sinh ra là đã không thể chấp nhận được chủ nghĩa cộng sản vì bản năng hơn vì lý trí.

    Cách đây năm năm, 982 gia nhập một tổ chức chính trị có khuynh hướng quốc gia cực đoan nhưng sau này tổ chức bị nứt rạn trầm trọng, 982 phải lẩn tránh, thay đổi họ tên, sống một cuộc sống che đậy giả tạo chuẩn bị trốn về Tề thì chẳng may bị chính quyền cộng sản bắt vì một lỗi chỉ có tính cách dân sự, rồi chẳng được xét xử gì hết, bị đưa lên mạn ngược, khổ sai tại các công trường tập thể trước khi bị đưa về Trại Giam Đầm Đùn. Tội trạng ghi trong hồ sơ không có yếu tố cấu thành rõ rệt như tội trạng của bao người khác bị bắt hồi bấy giờ, đó là tội lừng chừng, "không triệt để ủng hộ mặt trận Việt Minh" v.v...

    982 may mắn dấu được lý lịch thật của mình, cũng nhờ trước đây anh chỉ hoạt động chìm trong tổ chức nên thành tích chính trị của anh không bị tụi công an việt cộng phát giác. Nếu không, chắc anh đã phải bỏ thây ở Việt Bắc sau khi nhận một nhát dao găm vào ngực hay một ngọn búa vào gáy như hàng trăm, hàng ngàn người khác trong hàng ngũ đối lập với mặt trận.

    Vừa ngẫm nghĩ, 982 vừa nhai những tấm lá cuối cùng bọc ngoài trái bắp. Anh nhai kỹ như nhai trầu, càng nhai càng thấy mềm môi nên nuốt luôn cả bã. Dù sao, cũng còn có chất bổ dưỡng hơn nhai vớ vẩn mảnh rẻ rách như mấy người tù mất trí vì quá đói vẫn thường làm.

    982 nghĩ lan man từ chuyện này qua chuyện khác, sau cùng cũng quay lại một sự kiện thực tế lúc nào cũng sôi bỏng như lửa đốt. Đó là vấn đề "đói". Hiển nhiên yếu tố "đói" là một đòn ban quản trị sử dụng tới mức để trừng phạt và làm tán loạn tinh thần tù nhân. Điểm đáng sợ là lúc nào, bọn cộng sản cũng tạo được một không khí khiếp đảm hoang mang trong trại, tù nhân bị đàn áp về tinh thần lại bị chi phối gay gắt về sự sống thực tế trong mỗi giờ, mỗi khắc. Luôn luôn bất kể lúc nào, tù nhân cũng đói, thèm ăn, thèm uống, lại bị kiệt sức như người bịnh nặng nên không thể đủ minh mẫn để suy nghĩ tính toán đến việc gì khác.

    982 cau mày lại một cách tức giận. Anh chỉ còn một cách trốn ngay khỏi trại giam, nếu không chỉ trong vòng một tuần lễ anh sẽ lâm bệnh nặng nếu chưa chết, và tới khi đó mọi phương tiện đều trở thành vô dụng, dù có dịp cũng không thực hiện được nữa. 983 tự nhủ:
    - Chỉ cần vượt được khoảng 30 cây số xa Đầm Đùn là hy vọng thoát...

    Đi bộ 30 cây số đối với tù nhân của trại giam cộng sản là việc làm tầm thường có thể đi thẳng một hơi không cần nghỉ chặng nào. Một ngày chỉ gánh bốn mươi gánh nước tưới rau, cà cũng phải đi trên 30 cây số. 982 suy tính và cho rằng anh chỉ cần bốn bữa ăn đủ no trước khi lên đường và có một lon gạo rang kỹ làm lương khô, phòng bị kẹt...không tiện xuất đầu lộ diện kiếm bữa, sợ bị phát giác. Thế thôi!

    Từ lúc bị lọt trong màng lưới cộng sản, 982 phải đóng một vai ngớ ngẩn, thật thà, đặc biệt nông dân để giấu lý lịch thực hiện của anh. Vì thế, anh luôn luôn phải lộ vẻ sợ hãi quá mức, có dịp là xung phong tăng năng xuất để tỏ ra đã giác ngộ, cố gắng đái tội lập công. Nhờ tác phong đó nên 982 thoát chết khi có lệnh mật của Tổng Bộ phải "thanh toán" càng nhiều càng tốt số tù nhân bị đưa lên Việt Bắc cho nhẹ bớt phí tổn của nhà nước. Sau đó, 982 được dắt về giam tại Đầm Đùn cùng một số đồng cảnh đã được đãi lọc rất kỹ trên phương diện tác phong và thành phần giai cấp.

    Theo tin bên ngoài đưa vào, 982 phải tìm cách bắt liên lạc với một thiếu niên tên Hợi, một phần tử bị tình nghi (vì con một người bạn anh hoạt động trong đảng phái quốc gia) cũng đang bị giam ở trại và lao tác tại ban lò rèn. 982 không biết mặt Hợi, nên trong hoàn cảnh bất đắc dĩ đã đánh liều nhờ Toàn tìm hỏi giùm. Nếu 982 bắt liên lạc được, mưu định có cơ thành tựu...Lúc này ở bên ngoài, chiến tranh Việt-Pháp đã đi đến giai đoạn quyết liệt một mất một còn, mặt trận xảy ra khắp nơi, tàn bạo dữ dội...Biết đâu 982 chỉ vượt khỏi trại vài chục cây số là gặp cuộc hành quân của quân đội quốc gia hay của quân viễn chinh Pháp. 982 sẽ nhào vào giữa cửa tử để tìm sinh lộ. Anh sẽ tìm đến Bộ Chỉ Huy để trình diện và xin xung phong làm hướng đạo dẫn quân đội quốc gia đến đánh phá Đầm Đùn, giải cứu cho các tù nhân đang bị giam giữ và để trả thù...

    Ý nghĩ 982 lan man theo óc tưởng tượng. Chưa ra thoát cảnh ngục tù, anh đã nghĩ đến sự trả thù...rửa hận. Nhân lúc này tâm trí bình tĩnh lại, anh cố nhớ đến những kinh nghiệm bản thân, nhớ đến chuyện vượt ngục cộng sản đã được nghe, hoặc đọc trong sách, báo v.v...rút ưu khuyết điểm mang ra thực hiện trong một ngày gần đây, nếu Trời còn tựa những người quốc gia yêu nước...

    982 bàng hoàng nhìn ánh nắng Xuân trên bãi cỏ, trên hàng rào nứa và trên mặt con đường đất nhẵn thín quanh trại. Anh chợt nhớ đến một chuyện viết bằng ngoại ngữ dịch ra tiếng Việt đã đọc vào khoảng 1940 gì đó, trên một tuần báo xuất bản tại Hà Nội. Tuy đã đọc trên mười năm nhưng những sự việc chính ghê sợ, kinh tởm và vô nhân đạo nhất, anh vẫn nhớ. Anh suy ngẫm và thấy cộng sản dù là cộng sản Âu, Nga, Tầu hay Việt cũng vẫn là một thứ phi nhân, phi nghĩa, không thể để cho tồn tại trên trái đất nếu loại người còn muốn đứng trên loài ác thú. Đó là câu chuyện vượt trại giam cộng sản của một đám tù bị đày ở Tây Bá Lợi Á, một câu chuyện có thực 100 phần 100, nhưng hồi đó ít người dám tin là chuyện có thật, kể cả người đã có kinh nghiệm sống chung với cộng sản.

    _________________________

    11. Sau cuộc thanh trừng rộng lớn năm đó, có tới năm ngàn người Nga bị chánh quyền vô sản đem đầy ở Tây Bá Lợi Á, một vùng sa mạc quanh năm tuyết phủ trắng xóa. Năm ngàn người đó bị giam trong những căn nhà cất giữa sa mạc mênh mông, tuyết rơi liền nhau. Ban ngày họ phải đi lao tác tại các công trường vĩ đại xây cất trong rừng núi, cách trại dăm cây số.

    Chừng 6 tháng sau, tù nhân chỉ còn gần một nửa, đa số đã chết vì công tác khổ sai, bệnh tật và thời tiết.

    Hàng trăm trại nhỏ, mỗi trại ở vào một khu riêng biệt, lạnh lẽo đứng dưới tuyết.

    Trong một trại kia, số tù nhân đông hơn trăm người, sáu tháng sau chỉ còn 50. Tất cả tù nhân đều biết chắc với mức thương vong hàng tháng như thế, chỉ ít lâu nữa họ cũng sẽ theo các bạn đồng cảnh mà vùi thây dưới tuyết, nên bàn nhau liều vượt ngục. Vượt trại giam cộng sản thì thiên niên vạn nan thật đấy nhưng còn một phần mười hy vọng sống sót, nếu cứ chịu sống trong trại sẽ cầm chắc cái chết gần kề cả mười phần.

    Cùng trong một căn trại đó, có ba tù nhân thân thiết với nhau hơn tình ruột thịt vì phải chung sống trong cảnh tù tội, phần vì cùng thuộc một giai cấp trong xã hội, giai cấp trí thức. Nhưng đúng nhất là vì họ có cùng một lý tưởng chống cộng sản đệ tam, một người nguyên là kỹ sư, một là nhà văn và người thứ ba là một cựu sĩ quan cao cấp của Hồng Quân bị thanh trừng khỏi quân đội và lý do chính trị.

    Sau khi dò xét kỹ càng tinh thần của mấy chục tù nhân cùng trại, ba người thuyết phục họ vượt ngục và được hưởng ứng nhiệt liệt. Địa bàn, bản đồ, khí giới chuẩn bị đầy đủ nhờ có những đường dây liên lạc bí mật giúp đỡ tổ chức ngay trong trại.

    Nửa tháng sau, dịp may tới, trại chỉ còn 43 người.

    Luật lệ của trại nghiêm ngặt như bất cứ luật lệ của một trại giam cộng sản nào. Tù nhân -tất cả bị án khổ sai chung thân hay hữu hạn- đều bị ban quản trị đóng dấu "sống" trên trán để phân biệt họ với thường dân. Một miếng sắt nung đỏ lửa ấn vào trán để đóng dấu như người ta đóng dấu trâu bò. Dân chúng bắt gặp tù nhân mang dấu, bất kỳ ở đâu ngoài trại mà không có giám thị trông coi, có quyền và có bổn phận phải hạ sát, không tội vạ gì hết. Cách xa trại giam ba, bốn chục cây số, mới có nhà của dân chúng, biện pháp này nhằm ngăn chặn những vụ liên lạc với tù, nếu có. Như vậy, khỏi nói cũng thấy rằng tù khổ sai ở Tây Bá Lợi Á hoàn toàn bị cắt đứt liên lạc với thế giới bên ngoài và trên thực tế, họ bị án chết mòn trong trại giam.

    Nhằm ngăn chặn tù nhân giấu giếm vật dụng hoặc khí giới đem vào trại để phá hoại hay nổi loạn, mỗi khi tù nhân vào rừng làm củi hay làm việc ở công trường về, giám thị khám xét rất kỹ. Bọn tù phải cởi truồng, dưới một thời tiết lạnh 30, 40 độ dưới độ không, để giám thị xét từng chiếc áo, từng chiếc quần và thân thể rất tỷ mỷ.

    Ấy thế mà tù nhân cũng vẫn mang được dụng cụ vào trại để cưa đứt chấn song sắt vây quanh phòng giam to bằng ngón chân cái.

    Người chịu hy sinh đau đớn về thể xác để giấu dụng cụ phá ngục là viên kỹ sư trong ban lãnh đạo. Không biết phải bao nhiêu lâu và làm thế nào mà anh ta giấu kín được bên trong làn da của bộ phận sinh dục ba lưỡi cưa nhỏ, mỗi lưỡi dài hơn hai đốt ngón tay, do dây thiều của đồng hồ biến chế thành. Ba lưỡi cưa đó do một đồng chí vẫn sống trà trộn trong dân quanh vùng, tìm cách chuyển đến tay viên kỹ sư.

    Với ba lưỡi cưa nhỏ, đêm đêm ba người trong ban lãnh đạo bọn tù nhân vượt ngục, kiên nhẫn cưa một cây chấn song sắt. Công việc mỏi mệt nguy hiển đó tiến hành liên tiếp trong hai mươi mốt đêm. Mỗi đêm 5 người luân phiên nhau cưa và 5 người canh chừng. Lưỡi cưa đầu tiên gẫy nửa chừng, lưỡi cưa thứ hai mòn gần hết và phải "giũa" nhiều lần bằng dao giũa do một tù nhân mang vào trại từ lâu chưa kịp sử dụng thì chết. Khi dùng mòn lưỡi cưa thứ ba được một phần, chấn song đã bị cắt đứt. Đêm hôm đó, mấy chục người tù mừng rỡ khóc trong đêm tối và chắp tay cảm tạ Thượng Đế đã cứu thoát đời họ. Họ nhất loạt quỳ xuống cầu nguyện và xin Thượng Đế giúp họ thêm nghị lực và sức chịu đựng để họ vượt thoát hơn một ngàn cây số sa mạc tuyết đặng trở về đời sống nhân gian như mọi người.

    Đám tù nhân phải chờ hai hôm nữa mới có dịp bẻ oằn chấn song sắt, chui ra khỏi phòng giam rồi trốn ra ngoài sa mạc.

    Đêm hôm đó, tuyết rơi tới tấp như mưa sa, gió thổi như bão trên sa mạc. Thời tiết có lẽ lạnh tới 60 độ dưới không. Các giám thị và chức việc chúi đầu ngủ trong những căn buồng ấm có củi đốt trong lò sưởi. Củi đó do tù chặt ở rừng về. Những con chó canh trại lớn như con bê, bị đánh bả bằng thuốc độc không biết bọn tù kiếm được bằng cách nào, đã nằm lăn quay từ hồi tối ở ngoài sân, bị tuyết lấp kín không để lại dấu vết.

    Nương bóng tối, bọn tù lặng lẽ trốn ra sa mạc, dắt nhau đi về hướng Tây. Vừa ra khỏi trại, một số tù chợt nhận thức được sự vất vả giam nam, sợ hãi ngập ngừng định thối lui nhưng không được. Để khỏi bị tiết lộ, các đồng cảnh sẽ buộc lòng phải giết họ.

    Người nào cũng giấu được rìu, dao, búa mang theo dùng làm khí giới tự vệ. Nhưng cần nhất là những tấm chăn trắng. Khi có nhân viên của trại hay dân làng đuổi theo, họ sẽ nằm xuống tuyết, trùm chăn lên trên mình. Không tới năm phút, tuyết sẽ phủ kín họ, không sao tìm thấy. Lương khô họ dành dụm trong hai tháng trời nên sẽ kiếm cách đánh bẫy hay săn các thú rừng làm lương thực. Tuy không chắc chắn về kết quả song họ đành phải liều, hy vọng vào sự may mắn.

    Đoàn tù gồm 43 người đi suốt đêm đầu tiên, xa trại càng mau càng đỡ nguy hiểm, nhưng đến gần trưa hôm sau khi vừng Thái Dương ảm đạm chiếu xuống sa mạc tuyết mênh mông, kiểm điểm lại, ban chỉ huy mới thấy mất năm người. Đó là những người yếu đuối không chịu nổi thời tiết và mệt nhọc, đã ngã gục ở dọc đường. Không ai biết mấy người nọ gục xuống lúc nào nhưng dù cho có biết, cũng không ai dám dừng lại để cứu vì sợ mất thì giờ vô ích, vả lại, chính những người đang lết đi cũng mệt mỏi quá sức rồi.

    Bây giờ những hiểm nguy cấp bách lúc đầu đã vượt qua, họ quây quần lại để kiểm điểm tình hình và ấn định kế hoạch "vạn lý trường chinh". Ban ngày họ sẽ đi luôn từ lúc có mặt trời đến quá trưa, và đêm thì nghỉ ngơi trong rừng có kín gió. Mỗi đêm, họ cắt cử mươi người luân phiên nhau canh gác, võ trang bằng rìu, dao, búa gậy v.v...cho những người khác ngủ, đề phòng những trường hợp bị thú dữ như gấu tuyết, chó sói tấn công. Lương thực là vấn đề khó giải quyết nhất trong mọi vấn đề đặt ra cho đoàn tù nên họ ăn rất dè dặt, càng ít càng tốt, càng có nhiều hy vọng tới đích hơn.

    Đến chiều ngày thứ ba, hầu hết đoàn người vượt ngục đều không giấu được vẻ mệt nhọc chán nản. Hai người già nhứt trong bọn khoảng trên dưới 60 tuổi, tóc đã bạc trắng như tuyết, ngước nhìn trời rồi nhìn sa mạc tuyết mênh mông trắng xóa tứ phía, bất giác chảy nước mắt. Dưới trời lạnh, những giọt nước mắt lăn nửa chừng trên má đã đông lại thành đá. Mọi người thấy thế đều buồn nản lo lắng cho những ngày sắp tới, nhưng không ai dám thở dài thành tiếng.

    Quá trưa hôm sau, theo ý kiến của ban lãnh đạo, đoàn tù vào ẩn náu trong một cánh rừng khá rậm rạp và sau lúc nghỉ ngơi ngắn ngủi, họ chia nhau đi tìm kiếm săn bắn bắt thú rừng làm lương thực. May mắn quá, lần đó họ đập chết một con chồn, hai con thỏ rừng và một con nhím. Họ làm thịt luôn mấy con thú rừng và đốt lửa nướng ăn ít miếng cầm hơi, còn bao nhiêu chia đều để dự trữ ăn dần. Sau đó, họ bàn nhau lưu lại rừng này một ngày nữa để "kiếm thêm lương thực. Họ bắt được một con chồn và một con cu-ly (marmotte) đang ngủ say trong giấc ngủ mùa Đông.

    Đêm đó, trong đám tù, đã có nhiều tiếng ho sù sụ không ngớt. Nhiều người không chịu nổi cái lạnh ngoài trời mắc bệnh sưng phổi rất trầm trọng.

    Trưa hôm sau, khi mặt trời đã lên cao khỏi khu rừng, mọi người lục tục sửa soạn để lên đường. Khi đó, họ mới thấy có bẩy người ngủ luôn thức dậy nữa. Trong số này, có hai ông già lớn tuổi nhất đám ngồi dựa lưng vào nhau mà chết. Còn năm người kia thì có kẻ nằm gục trên tuyết, có kẻ ngồi mà chết rét lúc nào không hay. Khi viên kỹ sư trong ban chỉ huy xô mạnh vào vai để đánh thức, cái xác đổ lăn kềnh, giữ nguyên thế ngồi chết cóng.

    Trước cảnh đó, một tù nhân nguyên là văn sĩ thay mặt ban lãnh đạo, ngỏ lời tiếc thương mấy người ra đi vĩnh viễn, cầu nguyện cho họ tìm thấy yên ổn ở bên kia thế giới. Rồi xin những người chết tha thứ cho họ nếu vì tình thế họ phải lấy quần áo và vật dụng của người chết cấp phát cho những người thiếu thốn trong đoàn. Nghe nói vậy, nhiều người tù thiếu quần áo ấm lật đật nhìn một cách soi mói vào mấy cái xác chết như để ước lượng giá trị thực tiễn của những vật dụng các xác chết mang trên mình.

    Sau đó, họ đào hố để chôn tập thể cả 7 xác sau khi ban chỉ huy đã lột lấy nhiều vật dụng cần thiết. Một người chặt cành làm cây thập tự cắm trên mộ nhưng viên chỉ huy ngăn cản, nói không nên để lại dấu vết có thể phát giác bọn tù đã đi qua nơi đây. Mọi người đều ngậm ngùi đồng ý.

    Hôm sau, một trận bão tuyết nổi lên bất ngờ nên cả đoàn tù không thể lên đường, phải chui hết vào trong một cánh rừng. Để tránh những tai nạn bất ngờ, viên kỹ sư trong ban lãnh đạo hội họp tất cả mọi người thực hiện gấp mấy cái mái bằng cành, lá cây, rồi đốt lửa bên dưới đặng sưởi cho khỏi bị chết cóng.

    Để xua đuổi không khí chán nản, ban lãnh đạo đề nghị mọi người cùng hát bên ngọn lửa bài hát "Niềm hy vọng của đoàn tù vượt ngục" mà nhà văn trong bọn tù đã viết lời ca và một tù nhân khác nguyên là nhạc sĩ, đã phổ nhạc. Hát xong, họ ngồi dựa vào nhau mà ngủ gà ngủ vịt để lấy lại sức và...quên đói.

    Sáng hôm sau, bão tuyết tan cơn, song việc di chuyển còn nhiều khó khăn nên ban lãnh đạo đưa ra ý kiến ở lại ngày nữa săn thêm thú rừng lấy lương thực đi đường.

    May thay hôm đó, bọn tù vây đập chết được một con sói bị thương đi kiếm ăn lẻ loi và một con cáo. Họ làm thịt ngay hai con thú rừng rồi nhúm lửa, nướng thật chín. Lần này, bọn người vượt ngục ý thức đúng tầm quan trọng của lương thực trên sa mạc tuyết nên không bỏ phí một miếng thịt hay cục xương nào cả. Cả bộ lòng của con chó sói, đoàn tù cũng làm rất sạch sẽ rồi nướng ăn hết. Mặc dầu không ai loại bỏ một miếng nào, vì thòi quen, có một, hai người vừa nhai vừa nhăn nhó gượng gạo.

    Lần đầu tiên có sự bất đồng ý kiến trong việc chia khẩu phần người được phần lớn, người phần nhỏ nên một tù nhân còn trẻ đề nghị ban chỉ huy sửa đổi lại cách thức chia lương thực cho công bằng.

    Sau khi hội ý, thể thức sau đây được áp dụng: Mỗi con vật được chia làm 31 phần đều nhau, đánh số từ 1 đến 31. Rồi rút thăm, ai được số nào nhận phần mang số ấy.

    Viên kỹ sư lên tiếng nhắc nhở mọi người nên ăn thật dè dặt, phòng khi lương thực cạn mà chẳng may chưa hạ được con thú nào.

    Sáng hôm sau, khi ai nấy đang chuẩn bị hành lý để lên đường thì có tiếng la bải hãi làm mọi người hoảng hốt. Thì ra một người tù đã bị đánh cắp phần thịt xấy mà hồi hôm, trước khi đi ngủ, anh ta đã cất kỹ trong bọc. Nay phần lương thực đã bị đánh cắp mất, làm sao anh ta có sức đi nổi. Người bị mất trộm giở tung quần áo, hành lý trước mặt mọi người để "phân bua" rồi lạnh lùng xếp gọn lại bỏ vào bọc, nhìn mọi người như dò xét thủ phạm rồi yêu cầu ban chỉ huy giải quyết.

    Ba người trong ban chỉ huy bèn đứng riêng ra một chỗ thảo luận với nhau rồi viên kỹ sư tập họp mọi người lại. Trước tiên, ông ta ngỏ ý lấy làm tiếc rằng một việc như thế đã xảy ra trong đoàn. Nếu đó là một vụ "đùa nghịch" thì sự đùa nghịch đó nên chấm dứt để khỏi làm thiệt hại đến quyền sở hữu của người khác. Vả lại, đoàn tù vượt ngục tuy nhiều người nhưng chỉ là một, vì cùng một ý chí, một quyết tâm đi tìm tự do, không sợ chết, không sợ nguy hiểm. Như vậy, nếu phải nhịn đói thì cùng nhịn đói như mọi người chớ nhất định không chịu chiếm phần ăn của người khác đồng cảnh ngộ gian khổ như mình.

    Viên kỹ sư ngừng lại giây lát rồi tuyên bố:

    - Để chia sẻ sự thiệt thòi với một đoàn viên, ban chỉ huy sẵn sàng chia sớt bớt phần lương thực của ba người trong ban để đền bù phần nào cho người anh em, nạn nhân của một hành động không đẹp.

    Nhiều tiếng vỗ tay hoan nghênh nổi lên. Bốn người khác tuyên bố theo gương ban chỉ huy rồi mở bọc lấy gói thịt ra thì bất ngờ, người nọ lên tiếng cám ơn, từ chối sự giúp đỡ và nói:

    - Tôi tự xét không đủ sức theo anh em nên tôi biết trước sau gì tôi cũng không thực hiện được ý định tìm tự do mà tôi hằng ôm ấp. Hơn thế nữa, xét mình không giúp ích gì mà còn là một gánh nặng cho anh em, tôi xin rút lui khỏi đoàn và xin chúc anh em gặp mọi sự may mắn hơn tôi...

    Nhiều tiếng xì xào nổi lên...Viên kỹ sư nghiêm nét mặt rồi lạnh lùng hỏi:

    - Đi theo đoàn là tùy tâm, không bắt buộc, nhưng bạn ở lại, bạn có biết những hình phạt bạo quyền sẽ giành cho bạn không?

    - Biết...Tử hình...!

    - Vậy mà bạn đành chịu lãnh án tử hình?

    - Khi cùng đường, tôi sẽ có cách tự xử. Tôi tự kết liễu cuộc đời...

    Nhiều người nhìn nhau thở dài như chợt nghĩ đến thân phận mình. Người kia nói xong, ngồi xếp trên bọc hành lý, cúi gầm xuống nhìn đôi giầy dính đầy tuyết. Ba người trong ban chỉ huy thảo luận thầm thì với nhau một lát rồi nhà văn đút hai ngón tay vào miệng. Một tiếng còi ré lên tan liền trong bầu không khí lạnh và vô cùng tận của sa mạc. Lệnh lên đường đã ban hành.

    Mọi người lục tục bước theo hàng, mỗi người cầm một cây gậy để chống trên tuyết. Sau cơn bảo, trời quang đãng trở lại. Được một quãng, người hướng dẫn ra lệnh ngừng. Khi đó, mọi người mới biết là viên kỹ sư và viên sĩ quan cao cấp còn ở lại thảo luận với người "bỏ cuộc" hồi nãy, chưa theo kịp đoàn.

    Lát sau, hai người trong ban chỉ huy đuổi kịp cả bọn. Mọi người thấy sắc mặt của hai người nọ bừng bừng sát khí nên không đoán được việc gì đã xảy ra. Đến khi thấy vết máu trên lưng áo của viên sĩ quan, họ mới xì xào bàn tán với nhau, nhưng vẫn chưa dám tin là "chuyện đó" có thực.

    ° ° °

    Nhưng "chuyện đó" có thực một trăm phần trăm. Viên sĩ quan và viên kỹ sư đã phải hạ sát người bỏ cuộc, vì sợ hành tung của đoàn tù vượt ngục bị bại lộ vì người này.

    Sau vụ thủ tiêu bất đắc dĩ của một đồng chí bỏ cuộc, viên sĩ quan và viên kỹ sư đã rửa sạch các vết máu nhưng không chùi hết một vết máu thấm trên lưng áo. Hậu quả của sự sơ xuất này thật là trầm trọng.

    Chiều hôm đó, đến một cánh rừng nhỏ, đoàn tù dừng lại nghỉ ngơi, tìm chỗ trú ẩn. Viên kỹ sư chợt nhận thấy có một bọn chừng 10 người ngồi riêng ra một chỗ và đang xầm xì bàn tán với nhau. Viên kỹ sư lảng vảng lại gần thì họ ngưng bàn tán, rồi bắt sang nói chuyện khác. Thái độ của bọn này từ lúc đó có vẻ bí mật, không tự nhiên nên viên kỹ sư phải ngầm báo động ngay cho hai người bạn đặng đề phòng. Đêm hôm đó, ba người trong ban chỉ huy luân phiên nhau canh chừng, luôn luôn thủ khí giới trong tay.

    Qua đêm đến sáng, chẳng có chuyện gì xẩy ra hết. Mọi người sửa soạn lên đường, và nhận ra có sự thay đổi về nhân số của đoàn. Kiểm soát lại, thấy thiếu mất mười người. Đúng là bọn người có thái độ bất mãn, nghi hoặc chiều hôm trước. Khi đó viên cựu sĩ quan mới sực nhớ lại rằng vào hồi gần sáng dường như ông ta có nghe những tiếng động do nhiều người bước trên mặt tuyết gây ra, nhưng ông ta tưởng lầm là gió thổi làm tuyết trên cây rớt xuống đất.

    Ban chỉ huy tập họp mọi người, báo cáo sự việc đáng tiếc rồi nói thêm:

    - Chúng ta chỉ cần những người can đảm, chịu đựng gian khổ và tin tưởng mãnh liệt rằng chúng ta phải tới đích. Cứ đi theo cái mức bình thường, chỉ phải cố gắng trong một tháng rưỡi đến hai tháng là nhiều, sẽ tới thị trấn đầu tiên có thể giúp ta phương tiện muốn đi đâu tùy ý. Nghĩa là khi đó, ta đã đến bến Tự Do để tìm cuộc sống thích hợp với mỗi người...

    Một ông lão lạnh lùng hỏi:

    - Chúng ta đã đi được bao nhiêu đường đất rồi?

    Viên kỹ sư lẩm nhẩm tính rồi đáp:

    - Trên dưới 100 cây số...Mới vượt được khoảng một phần mười con đường phải đi.

    Nhưng cũng bắt đầu từ buổi sáng hôm đó, một làn không khí chán nản, phảng phất nghi kỵ bao bọc đoàn người vạn lý trường chinh. Họ ít nói chuyện với nhau, lầm lầm lỳ lỳ, người nào cũng lộ vẻ suy nghĩ bí hiểm. Sự bất đồng ý kiến manh nha từ bữa chia khẩu phần thịt chó sói xấy lại phát hiện trong một vài sự việc khác như canh gác ban đêm hay đi săn. Đoàn tù chỉ còn 21 người, nghĩa là còn một nửa.

    Chiều hôm đó, trước khi ăn để cầm hơi, họ căng mấy tấm chăn che tuyết rồi cầu kinh khá lâu. Sự tin tưởng ở Đấng Tối Cao chí công chí chính hiển nhiên đã mang lại cho mấy người trong bọn sự bình tâm và sự hăng hái. Đã có người mỉm cười buổi sáng khi thức dậy.

    Nhưng việc phải đến đã đến. Đến ngày thứ 25 trong cuộc trường chinh, chỉ còn lại một nhóm 4 người, sau khi chịu nhiều sự tang thương biến đổi. Một số đoàn viên quá nản chí trước những gian nan nguy hiểm do vấn đề lương thực gây ra vì yếu tố may rủi là yếu tố chính hoàn toàn chi phối sự sống của họ, một số khác quá kiệt sức buộc lòng bỏ cuộc, đành ngồi lại trong rừng rưng rưng nước mắt nhìn theo các đồng chí lên đường, xa dần, nhỏ dần trên sa mạc tuyết. Lại có người không chống chỏi nổi với bệnh hoạn, buổi tối còn lẩm nhẩm cầu kinh rồi sáng hôm sau không đứng dậy nữa, chẳng một lời từ biệt...

    Tối hôm trước, khi bọn tù vào ẩn trong rừng, chỉ còn vỏn vẹn ba người trong ban chỉ huy với một ông già trên 50 tuổi và một thanh niên đúng hai mươi. Nhưng sáng hôm sau, ông già đã lên đường sớm hơn mọi người để tìm Tự Do ở một thế giới khác, chỉ có trong niềm tin của những người có đạo. Ông già vẫn ngồi trên bọc hành lý nhỏ, lưng dựa vào một chỗ lõm của thân cây nhưng độ lạnh của tuyết đã khiến cơ thể ông cứng nhắc liền sau khi mạch đập vừa ngừng.

    Mặc dầu vậy, 4 người còn lại vẫn phải lên đường. Ban chỉ huy đã tự ý giải tán vì hết đoàn viên! Viên kỹ sư nhờ có nhiều khả năng đặc biệt, sức mạnh tinh thần và thể chất ít có nên vẫn được 2 người tín nghiệm và yêu cầu dẫn dắt họ. Liệu viên kỹ sư còn dẫn dắt họ được bao lâu nữa?

    Bốn người đã phải nhịn đói gần một ngày vì cạn lương. Mãi đến chiều hôm qua mới bẫy được con chồn nhỏ xíu không đủ bốn bữa ăn trong 48 tiếng đồng hồ cho 4 người. Thanh niên nọ đang sức ăn, lại bị đói suốt ngày nên không ăn dè được mặc dầu đã có lời khuyến cáo của nhà văn. Chỉ từ sáng đến tối, khẩu phần dành cho hai ngày đã chui hết vào bụng thanh niên một cách thòm thèm.

    Tình hình lương thực như vậy, nên hôm nay, mới quá trưa một lát, cả bọn phải vào một cánh rừng tìm thú. Viên kỹ sư vẫn có một chiếc rìu, viên sĩ quan một con dao rừng, nhà văn đeo một con dao găm to bản, thanh niên nọ thì lúc vượt trại giam đã kiếm đâu được một sợi dây kẽm gai dài mà cậu ta chấp lại làm bốn thành một võ khí trông khá dữ dội, cầm lắt lẻo trong tay. Từ ít ngày nay, không người nào để tay không mà luôn luôn cầm võ khí. Họ rất ít nói và lộ vẻ đăm chiêu. Họ nghĩ gì? Và họ đề phòng sự gì?

    Cho tới xẫm tối bữa đó, không săn được con mồi nào hết. Cả bốn người đều phải nhịn đói tìm chỗ trú ẩn dưới hốc cây mà ngủ cho qua đêm. Sự thật thì ba người kia -trừ anh thanh niên- đều còn một ít lương thực nhưng họ phải để dành cho ngày hôm sau.

    Bốn người ngồi dựa lưng vào nhau cho bớt lạnh. Nhưng nào họ có ngủ được! Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh! Quá nửa đêm, ba người kia mới chớp mắt được một lúc lại giật mình thức dậy vì thanh niên nọ cứ lục đục ngọ nguậy hoài, làm sô lệch mấy bọc hành lý lót bên dưới chỗ họ ngồi ngủ.

    Vừa sáng, viên sĩ quan giật mình tỉnh dậy trước tiên vì thấy như có vật gì luồn dưới bọc hành lý. Ông ta đứng nhổm lên, bắt quả tang thanh niên nọ đang luồn tay vào trong bọc hành lý của ông ta lấy trộm miếng thịt xấy. Ông ta thét lên một tiếng dọa nạt thì thanh niên nọ bất ngờ xô nhà văn ngã lăn cù ra xa, để cướp miếng thịt xấy bằng bàn tay mà hắn đã moi ra ngoài bọc được quá nửa. Thanh niên nọ dữ tợn như con thú điên. Trong lúc thảng thốt, có lẽ tưởng rằng chính mình bị cướp đoạt, sẵn con dao rừng vừa tầm tay, viên kỹ sư vung lên rồi bổ lại xuống một nhát. Đầu thanh niên hứng chịu cả sức mạnh của lưỡi dao, chỉ nghe "phập" một tiếng rồi thanh niên nọ loạng choạng ngã vật xuống đống tuyết, cây roi bằng kẽm gai chập lại chưa kịp sử dụng từ tay hắn văng ra xa.

    Sự việc xẩy ra bất ngờ. Ba người kia đứng lặng nhìn xác của người bạn trẻ, không nói một lời. Sau cùng, một người nuốt nước miếng, lên tiếng trước tiên:

    - Hắn có lỗi vì xâm phạm vật sở hữu của người khác. Dù sao, việc này cũng rất đáng tiếc...

    Viên kỹ sư nói rồi nhìn hai người bạn dò xét phản ứng. Hai người này mặt tái nhợt như xác chết, vẫn không nói một tiếng...Nhà văn quay đi nhìn nơi khác, thở dài suy nghĩ.

    Ba người xách hành lý ra cách xa đó mươi bước chân rồi lấy lương thực ra ăn, mặc dầu là khẩu phần cuối cùng. Họ đói quá, không nhịn lâu hơn được nữa. Khi ăn, mỗi người nhìn đi một phía như sượng sùng không muốn trông mặt nhau. Dù sao, lương tâm của họ cũng không thể yên ổn được. Người thanh niên kia là một đồng chí, đã chia sẻ những phút nguy hiểm từ đầu đến cuối và đã quyết theo họ đến cùng để tìm Tự Do.

    Vậy mà nay chính thanh niên đó lại bị chết trong tay một đồng chí!

    Ăn xong, theo ý kiến của viên kỹ sư, ba người lại đi sâu vào rừng để săn thú lấy lương thực. Cho đến quá trưa không gặp một con thú nào hết, ba người đành phải quay lại gốc cây nơi giấu hành lý. Cách mấy mươi bước chân là xác của người chết, tuyết phủ gần kín. Ba người lầm lầm lì lì, bụng đói, tâm hồn nặng chĩu lo âu bực dọc. Những ngày sắp tới ăn bằng gì đây? Rừng mỗi ngày một thấy xác xơ hơn, không loài cầm thú nào sinh sống nổi. Mà muốn sống để đi đến đích phải có gì bỏ vào bụng mỗi ngày, không thể thiếu được.

    Đêm hôm đó, cả ba bóp bụng trống rỗng leo lên cây ngủ.

    Viên cựu sĩ quan là người háu đói nhất, đã dậy từ lúc nào không ai biết. Khi hai người kia thức giấc, thấy ông ta đứng nhìn xác thanh niên với một vẻ mặt khó tả, vừa sợ hãi vừa hung tợn. Nhà văn liếc nhìn viên kỹ sư có ý ngầm hỏi, ông này nhún vai một cách lờ mờ khó hiểu.

    Hình như xác thanh niên nọ có mang một cái gì hấp dẫn lắm nên viên cựu sĩ quan để hết tâm trí vào đó, không biết ở phía này, hai đồng chí đang theo dõi nhất cử nhất động của ông ta. Lát sau, lại thấy ông ta lúi húi cúi xuống, tháo chiếc giày của xác chết ra, rồi cầm dao chặt mạnh xuống vật gì trên mình xác chết.

    - Này, anh bạn! Làm cái gì vậy?

    Lúc đó, một cẳng chân của xác chết đã bị chặt đứt băng khỏi thân thể. Chà! Cái bắp chân núc ních những thịt, trông bắt thèm. Viên cựu sĩ quan đăm đăm nhìn như đang ước lượng sức nặng của miếng thịt tươi tốt, trắng như thịt heo mới cạo sạch sẽ. Nghe hỏi bất ngờ, ông ta giật mình, cười ngượng:

    - Liệng bỏ ở đây, thú rừng cũng sẽ ăn hết. Chi bằng mang đi theo một cẳng làm...kỷ niệm!

    Viên kỹ sư bỗng bật cười lên khanh khách như người điên, nghe mà bắt rùng mình. Ông ta mân mê cái rìu trong tay rồi hỏi với một giọng gần như khiêu khích:

    - Vậy chớ tôi cũng mang một khúc làm..."kỷ niệm" được không?

    - Được chớ! Cả ba chúng ta đều có phần tình cảm bằng nhau đối với "hắn", nên có quyền được mang theo những kỷ niệm "nặng" bằng nhau về "hắn".

    ° ° °

    ...Kể từ ngày vượt ngục, đây là lần đầu tiên họ có điều kiện ăn no đủ nhất. Nhưng vì một lẽ dễ hiểu, họ nhai một cách gượng gạo và nuốt rất khó khăn những miếng thịt người xấy kỹ, nghẹn ngào như bị một bàn tay vô hình chặn lấy họng, không cho nuốt.

    Rồi ba người lại thu xếp lên đường một cách vội vã như sợ trông thấy những hình ảnh nhắc nhở họ sự việc ghê tởm đã xảy ra.

    Số lương thực mang theo khá nhiều, đầy đủ cho một thời gian hai mươi ngày là ít. Ngoài ra, mỗi người lại còn một bọc hành lý và khí giới, tất cả đều khá nặng nề trong cuộc trường chinh nên họ không đeo trên lưng mà kéo lê hành lý trên mặt tuyết. Ba người bèn làm một cái khung bằng cây, giống như khung của chiếc xe "kéo trên tuyết" (Traineau), xếp hết mọi thứ lên trên ngoài khí giới rồi dùng một sợi dây dài buộc vào kéo theo. Như thế gọn hơn lại đỡ mệt sức.

    Từ cái buổi sáng ghê sợ đó, thái độ và tính nết của ba người thay đổi hẳn...Ít nói, chỉ nói khi thiệt cần. Viên kỹ sư từ sáng đến chiều luôn luôn trầm ngâm, viên cựu sĩ quan càng lầm lì hơn trước và thỉnh thoảng phải nhìn trộm hai người kia. Còn nhà văn nét mặt u tối, đăm chiêu, nhưng khi nghỉ ngơi cố ý ngồi cách xa hai người bạn, lấy bút hí hoáy ghi vào cuốn sổ tay rồi cất trên túi áo ngực. Hai người kia nhiều lúc tò mò muốn biết nhà văn ghi những gì, song không hỏi.

    Có lương thực đầy đủ nên họ có sức chịu đựng, đi đều đặn hơn trước từ trưa cho đến xế chiều, mới kiếm chỗ nghỉ ngơi. Sự mệt nhọc giảm rất nhiều.

    Chiều đó, như thường lệ, họ vào trú ẩn trong một khoảng rừng, đốt lửa nướng lại phần thịt mang theo. Trong lúc quân quần bên ngọn lửa, nhà văn lạnh lùng cất tiếng hỏi viên kỹ sư:

    - Còn chừng bao nhiêu lần nữa thì...hy vọng tới?

    - Nếu tính không lầm và nếu ta không đi sai đường, khoảng hơn một tháng nữa!

    Rồi viên kỹ sư rút trong túi ra một bản đồ vẽ tay. Y chỉ chỉ, vạch vạch trên bản đồ, tính cộng lại những quãng đường đã qua, thời gian đi mỗi ngày, ngày nào có người chết, có người trốn, nhất nhất viên kỹ sư đều ghi rõ.

    Ăn xong, trong khi hai người kia đang kiếm chỗ ngủ, nhà văn lững thững đi ra xa một quãng để thỏa mãn một nhu cầu về tiêu hóa.

    Ít phút sau, bỗng có tiếng la hét rùng rợn từ phía sau một gốc cây lớn đưa lại, hai người bạn lật đật xách khí giới chạy tới tuy chưa hiểu chuyện gì. Đến nơi, họ thấy nhà văn đang bị một con chó sói tấn công rất hiểm nghèo.

    Nguyên con chó sói lạc loài này đi theo rình ba người tù đã hai tiếng đồng hồ mà họ vô tình không biết. Không dám tấn công vì thấy lực lượng của người mạnh hơn, nó đành lẽo đẽo theo, chờ cô hội. Lúc ba người ngồi ăn, chó sói nấp sau một gốc cây, thèm chẩy rãi. Chẳng may, nhà văn lại tự dẫn thân đến miệng nó. Khi vừa nhận ra có mùi khác lạ của thú vật, ông ta chưa kịp đứng lên, chó sói đã phi tới như tên bắn, chồm lên cắn vào cổ và đè dí xuống. Ngã ngửa trên tuyết, vừa la được mấy tiếng kêu cứu, nhà văn đã bị chó sói táp một miếng vào cổ họng rồi tha đi một quãng. Viên kỹ sư lật đật xách rìu đuổi theo, phang mạnh một đòn trúng giữ sống lưng chó sói, nó mới chịu nhả mồi, khập khiễng bỏ chạy.

    Đêm hôm đó, nhà văn nóng mê man, cổ họng bị rách toác, không trả lời được những câu hỏi của hai người bạn, chỉ ra hiệu một cách khó nhọc. Bị thương vào chỗ phạm, máu ra nhiều, phần khác, vì thời tiết quá lạnh, sự đau đớn tăng thêm nên nhà văn kiệt sức rồi lịm chết trước khi trời sáng rõ. Trước đó, hai người bạn đốt lửa sưởi cho người bị thương và đề phòng chó sói quay trở lại tấn công, họ đành leo lên cây ngủ. Đến sáng, họ mới dám leo xuống, người bịnh đã chết từ lúc nào. Cũng may! Con chó sói bị thương không quay lại.

    Lương thực của người chết được lấy ra chia đều làm hai phần. Nhờ thế, số lương thực dự trữ của hai người còn sống lại tăng thêm nên hai người cho là tạm đủ đến khi săn được thú rừng. Vả lại, nếu đem thêm lương thực nữa thì nặng quá, đi mau không nổi.

    Thật ra, chỉ vì lúc này hai người không bị cái đói thắt ruột thắt gan dầy vò nên cả hai đều không đủ can đảm chặt lấy hai bắp đùi và hai cánh tay mang theo. Nhờ đó, người bạn chết được vùi sâu dưới tuyết, đầy đủ cả thân hình.

    ° ° °

    Tính đến hôm nay, hai người tù còn lại đã vượt sa mạc tuyết được thêm 25 ngày. Sự vất vả mỗi ngày một nhiều, đã có lúc tưởng bỏ thây ngoài sa mạc vì gặp bão tuyết. Nhiều lần, lại thấy cả vết chân hàng đàn chó sói.

    Ban đêm, họ đều ngủ trên cây nhưng mỗi người một nơi. Và cẩn thận hơn, họ đem theo luôn cả bọc hành lý, lương thực cất kỹ càng ngay kế bên họ cùng khí giới. Viên kỹ sư không lúc nào rời chiếc rìu. Còn viên cự sĩ quan vẫn có con dao rừng to bản cán dài. Lúc sau này, một người chiếm con dao găm nhà văn đã bỏ lại, còn người kia chiếm luôn cây roi bằng dây kẽm gai của thanh niên bị hạ sát.

    Cả hai đều đề phòng cẩn thận hơn trước nhiều, làm như kẻ thù lúc nào cũng lẩn quẩn trước mặt! Thật là kỳ cục vì không hề có hình bóng một người thứ ba.

    Thì ra, hoàn cảnh bất ngờ đã đưa hai người đến một tình trạng thê thảm lạ lùng.

    Hai người tù khổ sai kia, đồng một chí hướng, không thể sống dưới một chế độ tàn bạo nên liên kết lại để có thêm sức mạnh đặng vượt ngục. Giờ đây, họ có thêm một kẻ thù tàn bạo ghê gớm không kém mà hàng ngày, hàng giờ họ phải chống cự rất gay go.

    Đó là thần đói.

    Cái đói làm thay đổi nhãn quan của con người, làm thay đổi luôn lòng dạ và quan niệm về sự sống còn và cái chết.

    Do đó, hai người sống sót cuối cùng của đoàn người vượt ngục bắt đầu đề phòng nhau vì họ bắt đầu kính sợ, ghê tởm nay. Hai bên sức lực gần tương đương nên cuộc tranh sống sẽ rất gay go gian khổ.

    Đã hơn mười ngày, họ không đánh bẫy được con mồi nào để bù đắp số lượng lương thực hao hụt lần mòn. Những ngày họ sống trên sa mạc tùy thuộc vào số lương thực dự trữ. Nói một cách khác, ăn hết đến đâu đời sống của họ thu ngắn lại đến đấy. Hai người cũng biết như thế nên cùng bị một nỗi ám ảnh. Tuy vậy, họ cứ không thể rời bỏ nhau mà vẫn phải đi cùng một đường nhưng cách xa nhau vừa đủ để người nọ không thể tấn công bất ngờ mà người kia không kịp đối phó.

    Cái xe kéo trên tuyết đã liệng vào một xó rừng. Lúc này, người nào vác hành lý của người nấy, riêng biệt. Viên kỹ sư vẫn là người dẫn đường vì có địa bàn, viên cựu sĩ quan vẫn lẽo đẽo theo nhưng đi ngang hàng, bên tay mặt hoặc tay trái. Như thế, lúc nào hai người cũng vẫn "thấy" nhau mà không cần nhìn.

    Cả hai cùng có một nhận định đáng sợ: Người nào chịu đựng được lâu hơn dù chỉ một tiếng đồng hồ, là người ấy sống. Muốn thế, cần phải ăn ít hơn mỗi bữa một vài miếng, chịu đói gan hơn và nhất là ít và tỉnh ngủ hơn. Khi ngủ say, làm sao đỡ hoặc tránh được một nhát búa hay một nhát dao vào đầu.

    Rồi thì lương thực cũng hết mà đã hai ngày ròng đã không gặp một con thú rừng nào. Viên cựu sĩ quan có tật háu đói, đã có lúc phải vặt mấy cái lá cây rừng nhai. Hoặc giả lão ta đã bắt đầu mất trí? Lão đói quá, đói không chịu nổi, đói từ sáng đến chiều và từ chiều đến sáng, liên miên bất tận. Có lúc lão ta toát mồ hôi đẫm lưng trong khi tuyết rơi lả tả chung quanh. Cả hai người bạn cùng lấy vẻ thành thực nói cho nhau biết đã cạn hết lương thực dự trữ rồi và đành chịu chết đói. Nhưng trong thâm tâm, người nào cũng tha thiết mong mỏi người cùng thề nguyền sống chết với mình ngã gục xuống trước mình dăm, mười phút là đủ. Đủ cho mình sống thêm một thời gian khá dài nữa.

    Cả hai cầm khí giới trong tay, sẵn sàng tấn công và sẵn sàng tự vệ. Viên cựu sĩ quan nhìn viên kỹ sư một cách căm thù hiển nhiên vì hắn biết người kia nói dối, còn hai miếng thịt bằng bàn tay giấu trong mình mà nói là hết, chờ đến tối mới kín đáo lấy ra ăn một mình. Sáng hôm sau hắn năn nỉ mãi, bạn hắn mới liệng cho một miếng bằng ngón tay trỏ và ngón tay giữa chập lại. Rồi nhất định không cho nữa, mặt hầm hầm, tay lăm lăm cán rìu. Viên sĩ quan ước lượng sức khỏe của địch thủ ngang tay với mình, lại còn nhanh nhẹn hơn nên tính hạ thủ hắn bằng sức mạnh, ắt không xong. Phải tìm thế đánh bất ngờ mới mong có kết quả.

    Viên kỹ sư lặng lẽ đi, bước hơi mau hơn lúc thường khiến viên cựu sĩ quan phải cố gắng mới đuổi kịp. Y thấy mồ hôi khi không lại toát ra đẫm mình rồi ruột gan thắt lại vì đói, cẳng chân rời rã không muốn nhấc nữa. Song y vẫn phải bám sát, không thể bỏ người bạn đồng hành, chẳng khác chi con chó đói đuổi theo miếng mồi. Lúc đói, người ta không còn bạn, chỉ có địch thủ giành ăn để sống.

    Viên cựu sĩ quan thầm nhủ: Phải hết sức tỉnh táo mới được! Giây phút này là giây phút của định mệnh. Tâm trí mình bàng hoàng, tay chân mình lẩy bẩy là...không xong rồi.

    Hắn rảo bước và hướng chênh chếch về phía viên kỹ sư với mục đích sát lại gần đối thủ mà không muốn cho đối thủ nhận thấy dụng ý của hắn. Đằng kia, viên kỹ sư vẫn lầm lũi bước, nửa mình trên ngả về trước, nhìn thẳng, cây rìu cầm chắc bên tay trái. Viên cựu sĩ quan lại nghĩ thầm:

    - Thắng cha này thuận tay trái. Vậy phải nhớ: Ta từ phía trái tiến lên.

    Rồi đặt một kế hoạch tấn công chớp nhoáng. Thời gian này đây, chỉ còn mỗi "cách đó" để tự cứu.

    Trong khi ấy, viên kỹ sư vẫn lầm lũi bước như không hay gì hết.

    Hai người chỉ còn cách nhau mươi bước chân thì vừa vặn tới hàng cây đầu tiên của một khu rừng thưa. Vẻ mệt nhọc, viên kỹ sư đặt bọc hành lý dưới gốc rồi ngồi lên trên, chống cây rìu xuống tuyết, ngẩn nhìn người bạn cùng đường.

    - Lại mất một dịp thuận tiện rồi!

    Viên cựu sĩ quan nghĩ thầm như vậy một cách tức tối rồi cũng đặt hành lý bên gốc cây. Nhưng lão ta không ngồi mà đứng, tính toán mưu kế và ước lượng địa thế. Hai người cách nhau khoảng sáu thước, nghĩa là chỉ ba bước nhẩy là tới bên, vừa tầm tay.

    Bỗng viên kỹ sư thò tay vào trong ngục móc ra một khúc thịt bọc bên ngoài một ống xương chân. A! Lần này hắn không cần giữ gìn che dấu nữa mà ăn ngay trước mặt địch thủ. Hiển nhiên là một sự thách thức, hắn đưa thịt vào miệng cắn một miếng nhai ngon lành, mắt long lanh một vẻ thỏa mãn. Vừa ăn hắn vừa nhìn nơi khác để khỏi trông thấy người kia đang nhăn nhó chìa tay ra xin như một kẻ hành khất sắp chết đói. Hai con mắt viên cựu sĩ quan vẫn đăm dăm nhì, lóe ra những tia sáng thèm giết người. Rồi miệng hắn nhếch thành một nụ cười, rãi rớt chảy lòng thòng như rãi chó sói.

    Trong khi đó, viên kỹ sư lạnh lùng nhai nhồm nhoàn, mắt lấm lét liếc ngang liếc dọc, nhưng vì say mê với miếng ăn, không biết rằng kẻ địch đang nhích lại gần, chỉ còn một bước là nhẩy tới...Đúng lúc đó, xẩy ra một sự việc bất ngờ. Khi dằng cho đứt một miếng đã ngậm một nửa trong miệng, viên kỹ sư dùng quá sức nên tuột tay, cả một khúc xương còn dính thịt văng xuống mặt tuyết, khoảng giữa 2 kẻ thù. Nhanh như cắt, viên cựu sĩ quan lăn xả tới, ngả người trên tuyết chụp lấy khúc xương đưa ngay vào miệng. Giữa khi đó, nhanh hơn cắt, một đường búa đã vung lên tựa ánh chớp đập trúng gáy người nằm trên tuyết, khiến khúc xương văng ra xa. Người bị thương mất trí liền sau khi trúng đòn, cố nhỏm lên mà không nổi, còn ngơ ngác ngước nhìn kẻ đã giết được mình thì một đường búa thứ hai lại đập trúng giữa sọ hắn. Sau nhát này, hắn nằm thẳng cẳng không cục cựa, máu tuôn xối xả.

    Liền sau đó, giữa sa mạc mênh mông, những tiếng cười -hay những tiếng khóc thì đúng hơn- nổi lên, man rợ và đau đớn, vừa hùng tráng tàn bạo lại vừa thảm thiết thê lương. Chó sói nghe thấy cũng phải rùng mình khiếp hãi mà chạy trốn.

    ...Bóng tối buông xuống dần trên sa mạc tuyết lạnh lẽo, phủ lên một cái xác chỉ còn khúc giữa. Đằng xa, một bóng người nặng nề mỏi mệt lẻ bước vào trong rừng...

    °

    Bốn tháng sau đó, một buổi chiều, tại một tiệm rượu đường X...ở Thủ Đô Varsovie (Ba Lan), một người đàn ông hốc hác kể xong câu chuyện cho mấy bạn nghe, run rẩy đưa tay lên vuốt mồ hôi tên trán, trên mặt, nốc một hơi cạn ly rượu, rồi quay về phía quầy rượu, quát lớn.

    - Ê bồi! Rót cho tao ly rượu nữa đấy! Một ly cối nghe. Tao phải uống để quên hết chuyện cũ...

    Đó là một nhân vật độc nhất còn xót lại trong số 43 người tù khổ sai vượt ngục Tây Bá Lợi Á kể trên.

    Nhưng 3 tháng sau, y phát điên thật sự, phải nhốt vào "Trung Tâm Những Người Mất Trí". Luôn luôn lúc cười lúc khóc, y chối bai bải - dường như với người vô hình đứng trước mặt- rằng y không hề ăn thịt mấy người bạn "cùng vượt ngục".

    _________________________

    12. 982 nhăn nhó vì hai cẳng chân tê dại trong chiếc cùm, gần như không thể sai khiến được nữa. Anh ta cầm mép cùm kéo hai cẳng chân lại gần rồi bóp từ đầu gối xuống bắp chân, đến đầu các ngón chân cho máu chảy đều hòa. Lúc đó, trăng sắp lặn. Anh ước đoán là 4 giờ sáng. Rồi không sao ngủ lại được nữa.

    Vụ 43 người tù khổ sai vượt ngục Tây Bá Lợi Á lần lượt diễn ra trước mắt anh như một cuốn phim dài linh động, nhất là khúc cuối thật bi thảm chua xót.

    Quay về hiện tại, 982 rán sức tập trung tư tưởng để sắp xếp trong trí những kế hoạch vượt Trại Giam Đầm Đùn, rời bỏ túp lều phong vương này. Anh tính nhẩm: Còn bốn ngày nữa để chuẩn bị.

    Bữa nay là Rằm, trăng tròn. Đợi đến tối 19, trăng hạ tuần mọc rễ, xẩm tối sẽ trốn trại, chạy vào ẩn trong rừng rồi đợi trăng mọc, anh sẽ nương ánh trăng lu mà cao chạy xa bay. Sau nữa ra sao, đành nhờ Trời, nhờ số phận. Có một điều bất lợi là anh không thuộc đường lối trong địa phương Thanh Hóa. Nhưng tùy cơ ứng biến, anh sẽ hỏi thăm đường về Chi Nê, Nho Quan rồi từ đấy sẽ kiếm cách vào làng Tề, là thoát!

    Ước gì giữa đường gặp mặt trận, công việc sẽ dễ dàng biết bao nhiêu!

    982 lại quay về thực tại. Sự việc cần phải giải quyết trước khi vượt ngục, ngay giờ phút này đây là vấn đề ăn, uống, nghĩa là vấn đề đói, khát. Phải làm sao cho khỏi phải ăn gạo sống, tránh uống nước vũng. Nếu không, mọi việc đều hư hết, anh sẽ mắc bệnh "phân cò" như mọi người bị phong vương trước anh, và vấn đề vượt ngục sẽ coi như không có. Như thế, chỉ còn mỗi việc là ngồi hay nằm chờ chết, cho tới khi chết thực sự, không nhổm dậy được nữa.

    Cả ngày hôm qua cũng vẫn không gặp thằng nhỏ Hợi làm ở ban thợ rèn. Và cả Toàn cũng biệt tích luôn. Mới có một ngày 982 bị gạt ra ngoài cuộc sống chung trong trại mà đã thấy dài thật là dài. Đúng vậy: Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại. Nhưng phải là một ngày ở lều phong vương thì câu ví mới đúng hết ý nghĩa của nó.

    Cái đêm đầu tiên ngủ tại lều phong vương thật là đêm thê lương khủng khiếp mà 982 sẽ nhớ mãi, nhớ suốt đời cho đến khi xuống lỗ. Cái cảm giác rõ rệt nhất là cảm giác cô đơn, sợ hãi. Nằm trên "long sàng" bằng tre mà 982 tưởng là nằm dưới mộ, nghe gió thổi rào rào lạnh lẽo như mưa đêm Đông. 982 nhận chân một sự thực, anh đã bị gạt ra ngoài cộng đồng Đầm Đùn trước khi bị gạt ra ngoài nhân thế. Vừa đói bụng lại vừa lạnh, rét từ trong ruột rét ra, anh đã cắt một đường sợi gai ở đáy bao tải vừa đủ rộng để chui lọt đầu rồi chụp luôn bao tải vào mình, thò đầu ra ngoài bao, hai tay lùng bùng ở bên trong quấn chặt bao tải vào mình. Ấy vậy mà khí lạnh vẫn thấm vào trong người khiến 982 run lên từng hồi.

    Gió từ trong rừng thổi ra, rít lên từng chập như tiếng thở dài của sơn lâm. Mấy cây cột rung rinh, mái rạ rào rạt như bị bốc đi đến nơi. 982 nhích lại nằm sát bên cây cột, đề phòng gió thổi sập lều sẽ ôm chặt cứng cây cột.

    Cách một giờ, tiếng mõ cầm canh của cảnh vệ lại lóc cóc một hồi. Rồi yên lặng hoàn toàn.

    982 nghe nói hồi trước đó, sàn nằm của lều phong vương hẹp lắm, mỗi bề không quá 90 phân, tù nhân phong vương chỉ ngồi chứ không nằm. Vì chỉ có một khoảng từ bả vai đến mông đít được nằm, còn đầu và hai cẳng chân thì lủng lẳng chênh vênh "chân chẳng đến đất, cật chẳng đến giời". Nằm trong tư thế đó, mỏi đến gẫy xương nên tù nhân chỉ ngồi còm cọm sáng đến tối ngày. Nay, không biết vì lý do gì ban quản trị cho làm lại sàn lều rộng rãi để tù nhân nằm một cách thoải mái đàng hoàng. Nhờ vậy, đêm hôm trước, 982 chợp mắt từ canh ba cho đến gần sáng. Anh cần ngủ để quên đói.

    Chiều hôm qua, vì đói quá, anh ta đành bỏ mấy dúm gạo sống vào miệng nhai nát rồi chiêu ngụm nước. Nhai xong gạo lại thấp thỏm sợ vì lo mắc bệnh "phân cò". Đến tối, trước khi "đi ngủ" anh bốc hết gạo vào trong mảnh áo, gói kỹ rồi giữ luôn bên mình. Phòng đang đêm, cần dúm gạo nhai cho đỡ đói. Lại nữa, chuột bọ khỏi ăn mất. Nghĩ đến chuột, 982 hơi hy vọng. Trước khi cất bọc gạo, anh ta đếm đủ ba chục hạt gạo, vãi trên một mảnh là chuối khô, đặt trên sàn lấy đồ đè lên kỹ cho khỏi bay. Nếu sáng dậy, thấy mấy chục hạt gạo biến mất, ắt là đã có chuột tới. Như thế, anh sẽ tìm cái bẫy chuột, vì thịt chuột ăn rất...ngon nếu được nấu chín đàng hoàng. 982 lẩm bẩm: Sáng mai, sẽ lạy van giám thị xin được để trên sàn lều một cành cây, phòng đêm hôm có rắn leo lên sàn thì đuổi. Sự thực anh sẽ dùng cành cây đập chuột, lấy thịt ăn. Ăn bằng cách nào, 982 chưa nghĩ tới, bẩy được chuột, nghĩ cách cũng chưa muộn.

    Trời sắp sáng rõ, tuy thế sương mù còn dầy đặc trong rừng và trên những lùm cây. Chưa có lệnh kẻng, tù nhân chưa được ra sân, nhưng giám thị và mấy tên cảnh vệ đã đi lại trong sân trại. Bọn này vẫn phải có mặt dưới trại từ trước lúc có tiếng kẻng.

    Nghĩ đến ăn cơm, 982 thấy thèm rõ rãi, mặc dù khẩu phần hạng C không đủ vào đâu cho tù. Tuy vậy, tù chỉ đói dài mà chưa đến nỗi chết. Giờ đây, 982 lại không có cả hai chén "cơm chín" mà chỉ được hai nắm gạo sống mỗi ngày! Hai ngày nay, không có "hơi cơm chín" vào bụng, cơ thể anh ta yếu đi nhiều lắm. Bất giác 982 tha thiết cầu mong được ân huệ trở lại làm tù nhân thường tội dù khẩu phần C cũng tốt! Anh biết mong ước đó đối với anh từ lúc này, không thể nào thực hiện nổi. Rồi 982 triết lý vụn: Cái khổ cũng như cái sướng lại còn có cái sướng hơn, và sướng hay khổ là do sự so sánh mà có.

    982 vẫn tiếp tục vẩn vơ suy nghĩ, nhìn về phía nhà tiểu công nghệ. Tù nhân đang tấp nập bưng cơm từ bếp lên. Hơi nóng từ các chảo cơm bốc lên nghi ngút, ăn được chén cơm nóng no lòng ấm bụng, khỏe sức biết là dường nào. Người ta sinh ra, ai cũng có quyền có chén cơm, đến con chó nuôi cũng được quyền có miếng cơm, vậy mà 982 không bằng con chó, vì có ai bắt chó mình nuôi phải ăn gạo sống thay cơm bao giờ!

    982 thấy uất ức, phẫn nộ căm thù cả xã hội loài người, căm thù cái chế độ vô nhân đạo! Ý định vượt ngục lại sôi lên sùng sục trong lòng.

    - Nhưng quái lạ! Không thấy giám thị tới mở cùm cho mình xuống dưới đất!

    982 băn khoăn lo lằng, chờ đợi trong sự phập phồng.

    Đến lúc tù nhân, đám sắp hàng đi làm củi, toán đi cuốc đất, người gánh nước tưới rau hay ra ngoài ruộng cuốc đất làm màu, trại vắng hẳn người mà vẫn không thấy bóng vía giám thị đâu hết. Bụng rân rân đau khó chịu, 982 đành phải men ra mép sàn, nắm lấy cột lều cho khỏi té, lom khom nửa đứng nửa ngồi vì vướng cùm ở chân, rồi tống các chất thừa trong bụng xuống bên dưới sàn.

    ° ° °

    684 ngừng tay thụt bể, cầm xẻng xúc đầy than đá lấp kín lên đống than hồng. Không biết có chuyện gì, giám thị vừa tới gọi tù thợ rèn lên văn phòng ban quản trị. Thằng nhỏ thứ hai phụ việc ở lò rèn bữa nay được cắt công tác gánh nước tưới ruộng cà, đến trưa mới về. Thỉnh thoảng, một trong hai thiếu niên thuộc ba thợ rèn vẫn phải cắt đi làm công tác bên ngoài một, hai buổi những khi kẹt người. Lúc này, chỉ có một mình 684 ngồi bên lò rèn. Hắn đem một cuộn sắt tròn cũ ra, nắn lại cho thẳng theo lệnh của trưởng ban thợ rèn trước khi hắn ta lên văn phòng. Nắn xong là cắt ra từng khúc 12 phân một, để rèn thành mắt xích làm xiềng cho tù.

    684 nhớ lại câu chuyện tán ri-vê hôm vừa đây mà tù nhân 982 bị tên thợ rèn cố tình cho trượt búa vào mắt cá chân để lột lấy chiếc áo cánh còn tốt. Lúc đó, vì thương hại 982 nên 684 đã ra hiệu cho biết nên đổi áo tốt cho thợ rèn để khỏi bị què chân. Khi giám thị dẫn 982 khập khễnh ra lều phong vương, 684 nhìn theo mà vẫn không nhớ đã gặp 982 ở đâu, trong trường hợp nào. Nhất định 982 không phải là người xa lạ. Cả ngày, cố sức bới trong trí mà 684 vẫn không nhớ ra là ai?

    684 vừa nắm cây sắt tròn cho thẳng, vừa suy nghĩ...

    Bỗng một người đến trước lò rèn liệng lưỡi cuốc xuống mặt đất, nhanh nhẩu nói:

    - Cháu làm ơn sửa dùm...

    Thiếu niên ngửng lên nhìn, nhận ngay được Toàn, vui vẻ hỏi:

    - Bác cần sửa như thế nào? Tra cán vào cuốc, hả?

    - Phải, tra cán vào cuốc. Và làm dùm ngay, nghe cháu?

    684 kiếm dao dựa, gọt bớt cán cho vừa lỗ, rồi lanh lẹ đóng chặt cứng cán vào bàn cuốc. Xong, hắn lại còn cẩn thận đóng thêm một cây đinh vào cán, đánh quặp lại cho lưỡi cuốc khỏi lung lay.

    Thiếu niên này thường gặp Toàn trong giờ ăn và hai người -một lớn một nhỏ- có cảm tình với nhau. Thấy 684 nhanh nhẹn, mặt mũi sáng sủa, ăn nói ra vẻ con nhà tử tế, cùng thuộc giai cấp tiểu tư sản nên Toàn mến 684, định có dịp thuận tiện sẽ hỏi lý do đã đưa 684 vào trại giam này. Một lần, Toàn đã cho ba thìa đường nên 684 nhớ mãi. Khi đó 684 đang bịnh, thèm một miếng đường kinh khủng.

    Bữa nay Toàn xung phong đi cuốc đất trồng khoai. Đang làm, Toàn thấy thằng cha thợ rèn lên văn phòng, anh nghĩ không còn dịp nào tốt hơn, bèn cố ý đẩy mạnh cán cuốc cho gẫy, để có dịp đến lò rèn nhờ sửa lại và được gặp thiếu niên 684.

    684 cắm cúi sửa cán cuốc. Toàn bỗng lộ vẻ suy nghĩ nhìn quanh quất một vòng thấy không có người, anh cúi nhìn đăm đăm vào mặt 684, khẽ buông một tiếng vừa cho người đối thoại đủ nghe:

    - Hợi!

    Thiếu niên vẫn tiếp tục đóng như không nghe. Nhưng Toàn cũng kịp nhận thấy cậu ta hơi giật mình mà trầm tĩnh kịp. Toàn khen thầm 684 còn nhỏ mà có bản lãnh, khẽ gọi lần nữa:

    - Hợi! Hợi!!

    Lần này, thiếu niên mới ngửng lên nhìn vào mắt Toàn, lạnh lùng và soi mói.

    - Bác biết cháu là người thân của bác Dũng. Cháu không cần phải giấu bác nữa. Bác Dũng đang muốn gặp cháu lắm. Cháu không nhận ra bác Dũng sao?

    Bây giờ 684 mới nhớ ra người tù phong vương là bác Dũng, đầu năm ngoái vẫn hoạt động trong cùng một tổ chức chính trị với ba của Hợi. Hắn mừng rỡ thốt lên:

    - Cháu nhớ ra rồi!

    Sau đó, Toàn tóm tắt kể lại cho Hợi nghe 982 đã nhờ anh việc gì. Hợi vẫn nghe, luôn luôn liếc ngang liếc dọc đề phòng có người tới bất ngờ. Toàn nhắc đi nhắc lại:

    - Bác Dũng rất cần gặp cháu. Bác ấy đói lắm và đặt hết hy vọng vào cháu đấy.

    - Cháu sẽ gặp bác Dũng, bằng bất cứ giá nào.

    Toàn vác cuốc đi khỏi, Hợi tiếp tục cắm cúi làm việc. Nhưng tâm trí hắn chỉ nghĩ đến 982. Không ngờ bác Dũng lại bị bắt vào đây cùng với hắn. Một lần kia, ba của Hợi bị bọn cộng sản bắt hụt tại nhà riêng, chúng liền bắt luôn con để thế cho bố. Rồi Hợi bị đưa vào giam tại Đầm Đùn với các tội danh bịa đặt: Làm tay sai cho Phòng Nhì của Pháp! Hợi có máu liều lĩnh gan dạ của bố nên cắn răng chịu tội, nghĩ mưu tính kế chờ dịp vượt trại giam.

    Nay gặp đồng chí của bố trong hoàn cảnh hiểm nghèo, Hợi nhất quyết sẽ giúp ích phần nào.

    Còn đang nghĩ ngợi, Hợi thấy 271 quay lại lò với cây cuốc. Lúc đó, tù thợ rèn vẫn chưa về. Toàn xin đóng thêm một cây đanh nữa vào gần cổ cuốc, không thấy ai, Toàn nói vội:

    - Cháu nói với bác Dũng rằng bác Thanh ở trên lò than đã về trại, được lưu lại trại vài hôm. Bác ấy hỏi thăm và sẽ đưa bác Dũng ít viên thuốc phòng trường hợp ăn gạo sống bị bệnh tả lỵ. Chiều nay, trong bữa cơm, sẽ chuyển thuốc cho cháu để đưa bác Dũng dùng khi cần.

    Rồi Toàn vác cuốc đi thẳng ra ruộng, thoáng nghĩ đến Thanh. Tối hôm qua, sau lúc học tập, Thanh mới tâm sự với Toàn và tiết lộ anh ta là bạn thân của 982. Toàn quyết đoán hai người cùng hoạt động trong một đảng phái quốc gia và bỗng thấy có cảm tình với họ hơn trước. Vừa làm, Toàn vừa liếc nhìn chung quanh, coi có ai để ý đến mình không. Trên bờ ruộng, tên cảnh vệ vẫn đi đi lại lại, coi chừng bọn tù cuốc đất, gánh nước tưới rau và cầy ruộng. Trước khi đi, Toàn lại trình tên cảnh vệ, đưa xem cán cuốc gẫy vì mục và được phép quay về lò rèn sửa lại cán cuốc đàng hoàng. Tuy thế, bản tính nhút nhát Toàn vẫn thấp tha thấp thỏm.

    Vừa cuốc như máy, Toàn vừa suy nghĩ tính toán mưu định riêng của anh. Thấm thoát tới cuối tháng 4 rồi. Toàn vẫn chưa "xoay" được lên làm than trong rừng với bọn Tuyên, Thanh và Mạnh...Thanh cho biết lứa than cuối đã ra lò được mấy bữa, từ đầu năm đến giờ, được 5 lứa than rất tốt, xếp đầy một khu trong rừng mà ban quản trị Trại Sản Xuất và Tiết Kiệm chưa cho người lên gánh về phân phối. Thanh được cắt vào việc gánh than về trại. Tuyên và Mạnh cũng xung phong xin gánh than. Thấy có dịp, Thanh nhắc Toàn "vận động" xin lên rừng làm than như Toàn vẫn mong ước. Nghe các bạn kể lại, Toàn thấy công việc làm than "thích" hơn, nhất là được tự do hơn, thỉnh thoảng tù được gánh than ra chợ, bán được hàng lại có tiền thưởng, đủ mua một quả chuối, một phong thuốc lào, có thể lui tới các xóm của dân thiểu số địa phương, gặp dịp tán chuyện với đàn bà, con gái...Đã lâu nay, Toàn không được nghe tiếng nói trong trẻo của đàn bà con gái, chỉ nghe tiếng hô "báo cáo", quát tháo, mắng nhiếc, đe dọa cục cằn, tiếng búa rèn xích trên đe, tiếng roi song quất đen đét. Toàn mĩm cười ví von: "Tai mình thèm nghe tiếng chim hót, mắt mình thèm trông thấy bông hoa cười..." Phải chỉ lúc khác được tự do, cao hứng như thế, Toàn dám lấy giấy bút ra làm thơ ca ngợi tiếng oanh vàng rồi đó. Cái chất "phiếm" đặc biệt của con người tiểu tư sản vẫn thường lộ ra như vậy, ngay ở trong nhà tù.

    Nhưng trên hết, đi làm than ở rừng có một điểm khoái nhất là được ăn no, và tù có thể làm lấy món ăn nếu có tiền mua thực phẩm sống ngoài chợ.

    Tại sao tù làm than lại được ăn no?

    Lý do cũng giản dị: Chỉ những tù nhẹ tội có hạnh kiểm tốt, mới được cho đi làm than và họ hy vọng sẽ được trả tự do khi có đại xá. Trên phương diện phục vụ, tù nhân làm than đem lại một mối lợi khổng lồ, đủ sức nuôi cả Trại Giam Đầm Đùn nên được hưởng chút xíu ân huệ. Vả lại, công tác làm than cũng rất vất vả nguy hiểm, dễ mất mạng, khác với tưởng tượng của Toàn.

    Vì có mục đích riêng, Toàn đang cố gắng xung phong trong mọi công tác, và làm đầy đủ công việc không dám để giám thị chê trách. Dịp này, Toàn hy vọng lắm. Nghĩ vẩn vơ xa gần, Toàn sực nhớ đến số quần áo còn lại mà buồn. Hồi đầu tháng, khi thấy vô hy vọng nhận đồ tiếp tế của gia đình, anh đã liền cắt nốt nửa chiếc quần dài may thành quần đùi vì quần cũ đã bợt lắm không còn mặc được. Nhớ lại, dịp Lễ Giáng Sinh vừa rồi, Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế có thả dù cho tù nhân Pháp -ở riêng trại bên kia- và tù nhân Việt mà họ gọi chung là "nạn nhân của cuộc chiến", bao nhiêu thực phẩm và quần áo. Nhưng tù nhân Việt phải khăng khăng từ chối, không thèm ăn hay dùng đồ của thực dân phản động. Ít lâu sau, tù thấy nhân viên ban quản trị mặc nhiều kiểu áo lạ mắt lắm, không phải ở Việt Nam. Nhưng không anh nào dám nhìn kỹ, ngắm nghía hay bàn tán gì. Vì họ không muốn mất mạng một cách lảng nhách.

    (Tù nhân Pháp tương đối mặc lành lặn hơn. Thời gian đầu tiên ở tù, tù nhân Pháp cũng rách rưới không tả được. Và có nhiều chuyện tức cười lắm. Vốn phong lưu, tác phong thực dân đã quen, mỗi lần đi cầu không có giấy chùi, tù nhân Pháp phải xé quần, xé áo ra để chùi cho sạch. Chùi riết mất tiêu luôn cả quần lẫn áo. Về sau, học theo lối tù Việt, "đi" xong lấy que "chùi" đỡ. Tù nhân Việt không kiếm được que, dùng hòn đất cũng được. Nhưng tù Pháp phải kiếm là thay que. Một lần, bất đồ hái phải lá han, anh tù Pháp nọ gần chết vì ngứa và dát, nhẩy đùng đùng trong trại như thằng hóa dại.

    Với "kinh nghiệm xương máu" đó, tù nhân Pháp bảo nhau đề phòng lá han, loại lá có "chất độc nguy hiển". Câu chuyện "thiếu vệ sinh" này, tù vẫn thường kể lại cho nhau nghe...những giờ rảnh rỗi. Người kể chuyện còn tả lại từng nét mặt anh tù binh Pháp, vẻ cuống quít vì ngứa và dát nên cả bọn cùng cười, quên được nỗi buồn trong giây lát. Toàn buồn chán như thế, cũng phải bật cười).

    ...Toàn chợt thấy gan bàn tay rát như bị bỏng. Anh đã cuốc được một khoảng hơn hai chục thước vuông nghĩa là từ sáng sớm đến giờ mới được một phần năm công việc phải làm trong một ngày. Anh chống cuốc xuống đất, nhổ toẹt vào mỗi bàn tay một miếng nước bọt, rồi vội vã nắm chặt cán cuốc, nghiến răng cuốc như máy. Có làm tận lực như thế mới đạt tới mức trung bình...

    Hợi làm không hở tay trong khi đầu óc suy tính đến trường hợp của 982 không ngừng. Từ khi vào trại giam, chính mắt hắn đã thấy sáu tù phong vương lần lượt mất mạng trước sau không đầy một tháng. Vì thế Hợi cho rằng nếu bác 982 không tìm cách vượt Trại Đầm Đùn ngay, e không kịp. Bây giờ, có hai phương pháp giúp đỡ 982, một là giúp bác ta làm sao khỏi chết vì tả lỵ, hai là giúp bác ta làm cách nào tháo cùm và xiềng để trốn. Về điểm trên, phải lấy trộm cơn hay cháy của nhà bếp đặng tiếp tế cho 982. Đó là một việc rất khó khăn không biết có làm nổi không? Trong Trại Đầm Đùn, một miếng cơm chín, một thìa nước rau, một cục xương, một điếu thuốc lào, thường đổi lấy mạng người như bỡn, vẫn thường thấy.

    Muốn cắt xiềng, phải kiếm cho bác ta một cái giũa -cố nhiên phải giấu kín nhẹm thằng cha thợ rèn- để giũa mắt xiềng. Còn việc mở khóa cùm thì không khó, chỉ một sợi dây kẽm cứng, đập bẹt đầu, bẻ quặp lại như cái mỏ, cho vào lỗ khóa, nậy đúng khớp lò xo bật ngay. Điều này không đáng ngại. Hợi nghĩ tiếp:

    - Bây giờ, nhân lúc lão thợ rèn vắng mặt, ta có thể chế tạo luôn chìa mở khóa đã.

    May quá, Hợi vừa mở thùng đựng sắt vụn, tình cờ thấy một cây nan hoa (căm) xe đạp đã rỉ. Hợi vội rút ra, ngó coi chừng thợ rèn trong khi đập bẹt đầu cây nan hoa, rồi bẻ quặp lại thành một đầu mẩu vuông thước thợ, bằng hột thóc. Cẩn thận hơn, Hợi đập bẹt luôn đầu kia, nhưng làm "khấc" ngắn hơn chút đỉnh. Chỉ ba phút là xong, Hợi giấu luôn lên mái rạ rồi thảm nhiên tiếp tục chặt sắt làm mắt xích. Thợ rèn vẫn chưa về.

    Tuổi trẻ vẫn hăng, nhất là vừa thực hiện xong một phần chương trình, Hợi tính đến việc kiếm giũa. Hợi nhớ mang máng trong một lần dọn đồ, cách đây hơn một tháng, có thấy một chiếc giũa cũ, nhưng xài vào việc vặt như cắt mắt xích của xiềng thì dư sức, không biết thợ rèn cất đâu. Thủng thẳng sẽ kiếm ra, quanh quẩn chỉ trong hai thùng đựng đồ nghề.

    Hợi tiếp tục nghĩ, phấn khởi vì kết quả:

    - Nhưng khi trốn vào rừng mà không có khí giới tự vệ sẽ rất nguy hiểm. Phải kiếm cho bác Dũng một con dao, có thể dùng để cắt trái cây, chặt cành cây v.v...Thôi cho luôn bác con dao của mình, làm con dao khác sau.

    Hợi có rèn được một con dao bằng thép, chưa kịp làm cán, vẫn giấu trong thùng sắt vụn phòng khi cần. Như vậy, chỉ còn kiếm được giũa là hoàn toàn.

    Hợi vẫn có dịp vào nhà bếp tuy có lệnh cấm rất nghiêm ngặt. Vì tù vào nhà bếp thường không dằn nổi sự thèm muốn, thấy thức ăn gì cũng lấy trộm bỏ vào miệng, thuận tiện sẽ nhai, không thì nuốt chửng. Nhiều tù bị đánh hộc máu mũi, máu miệng chỉ vì giả đò vấp té sấp vào rổ rau muống luộc, cố bốc một miếng rau bỏ vào miệng nuốt chửng. Lần nọ, một anh chẳng may bị nhà bếp, -ban hỏa thực cũng là tù trừ trưởng ban và dăm phụ tá- khám phá được mưu kế bắt há miệng nhe răng ra coi. Không còn sợi rau nào dính vào răng, anh tù ăn vụng tưởng đã thoát nhưng tên trưởng ban hỏa thực bắt há miệng đứng yên đó rồi quát nhân viên lấy chén nước lã bắt anh tù súc miệng nhổ vào chén. Coi lại, nước súc miệng còn xanh chất rau, tang chứng rành rành.

    Sau đó một lát, anh tù đói ôm mặt từ nhà bếp đi ra, máu mồm máu mũi đổ ra ròng ròng vì bị "ăn" gần hai chục quả tống thay cho rau muống.

    Như trên đã nói, tù không tha nuốt một thứ gì. Lần kia, một người tù vào bếp bưng cơm lên trại, chợt liếc thấy mấy cái xương cá đã ăn hết thịt và một nắm vỏ tôm đã giã lọc lấy nước ngọt (nấu riêng cho nhân viên ban quản trị) vứt bỏ ở góc bếp. Người tù mừng quá vội bốc hết bỏ vào túi đem lên trại, định ăn lại. Không may bị bắt quả tang, người tù bị phạt nhịn ăn một bữa là lãnh đủ năm roi song vì đã hành động trái với quan điểm của nhân dân và làm hại đến uy tín của chính phủ (!). Như thế khác gì nói xấu chính phủ không săn sóc đến đời sống của tù nhân (!), cho tù nhân ăn đói ăn khát??!! Tối hôm đó, trong giờ kiểm thảo, người tù phạm lỗi công nhận hành động hủ hóa của mình đáng tội và long trọng hứa sẽ sửa đổi, đề cao cảnh giác để không có những cử chỉ phương hại đến uy tín của chính phủ, bêu xấu chế độ.

    Từ trước tới nay, Hợi vẫn vào nhà bếp, tuyệt nhiên chưa bao giờ ăn vụng, ăn trộm. Nhiều khi hắn cũng đói lắm nhưng tự kiềm giữ được. Có một vài lần nhân viên nhà bếp giương bẫy, nhưng Hợi may mắn không mắc, nhờ đó hắn được trưởng ban hỏa thực tin cậy và có cảm tình. Mấy chục con dao của nhà bếp đều do tay Hợi sửa lại khi quằn hay mài khi lụt. Hợi có "tay" mài dao, cả nhà bếp ai cũng thích hắn! Vì cảm tình riêng, lâu lâu trưởng ban hỏa thực lại giấu diếm cho Hợi một miếng cơm cháy lớn bằng hai bàn tay, Hợi để dành ăn dần ba, bốn ngày mới hết.

    Cách đây tám hôm, được miếng cơm cháy lớn bằng nửa trang giấy học trò, Hợi chưa ăn đến, bẻ vụn ra bỏ vào lon sắt để dành. Đã có lần Hợi chia cho Toàn một miếng cháy thật lớn, bằng gói thuốc lá. Toàn giấu liền vào cạp quần, hồi hộp, mừng rỡ, yêu đời, yêu bạn đồng cảnh, đợi lúc vắng vẻ lấy ra nhai từng chút, ngon không thể tả được. Còn một miếng bằng hai đốt ngón tay, Toàn muốn kéo dài sự thích thú nên để dành đến đêm, mọi người trong trại ngủ yên, Toàn len lén vạch lưng quần lấy miếng cháy bỏ dần vào miệng, ngậm cho nát ra, chất gạo ngọt lừ, cho đến khi "miếng ngọc thực" biến dần...đi đâu mất hết! Toàn có kể lại cho Hợi nghe, cả hai bác cháu cùng cười.

    Hợi miên man suy nghĩ, định chiều nay hay mai, mài dao cho nhà bếp xong, hắn sẽ ngoại giao xin một miếng cơm cháy nữa đặng tiếp tế cho bác Dũng.

    Mọi việc tạm xếp đặt xong.

    - Thế nào, làm xong chưa?

    Thợ rèn tươi cười bước vào. Hợi ngửng lên trả lời:

    - Dạ, chặt cũng sắp xong hết.

    - Thôi, bỏ đấy ra thụt bể, đặng tao có chuyện làm đồ gấp...

    Đến trưa, vừa có tiếng kẻng nghỉ việc, tên giám thị lại lò mò tới. Thợ rèn đang thu dọn đồ nghề, thấy giám thị vội ngừng tay kính cẩn gật chào, kiếm chuyện bợ đỡ:

    - Giờ này, ông giám thị còn chưa được nghỉ vì công việc. Ông giám thị nên nghỉ một chút cho đỡ mệt.

    Giám thị hách dịch gật đầu, quay sang bảo Hợi:

    - 684! Vào nhà bếp nói với ông trưởng ban đưa cho lưng bát gạo, mày cầm ra cho thằng cha phong vương. Cho nó ăn nhiều gạo một chút đặng nó mau về với tổ tiên. Tao còn nhớ nọc kiến bò nhọt của nó, chưa hết buốt đây.

    684 mừng thầm, lễ phép hỏi lại:

    - Thưa ông giám thị, một lưng bát gạo phải không ạ?

    - Ừ! Nếu nó đã nằm ngủ luôn không dậy nữa, báo cáo cho tao biết ngay. Để cho nó "ra bai" gấp.

    - Vâng.

    Thợ rèn phụ họa:

    - Trước khi phát gạo, hãy gọi nó tỉnh dậy đường hoàng, nhận khẩu phần cho đủ, biết không?

    Rồi nháy 684 một cách rất đểu, hạ thấp giọng:

    - Mầy ngó luôn mắt cá chân nó, coi đã..."sâu quảng" chưa?

    - Vâng.

    Giám thị quay mặt lại, tủm tỉm cười một vẻ đồng lõa rồi đi thẳng lên văn phòng. Thợ rèn vội vã ra ngoài làm chi đó. Một mình trong lều, nhanh như chớp, Hợi với tay lên mái lều rút cây căm xe đạp trong mình, thủng thẳng lên nhà bếp.

    Lát sau, tay cầm bát gạo, hắn theo con đường nhỏ đến lều phong vương, trong lòng xốn xang hồi hộp, nửa mừng nửa sợ...Vì trong quần phía trước bụng, hắn lại giấu được miếng cơm cháy, đủ nuôi sống người tù trong một ngày rưỡi. Cơm cháy vẫn bền no hơn cơm nạc. Qua cơn nguy hiểm ngặt nghèo, 684 đã hết hoảng sợ, hai chân bước thoăn thoắt. Khi đó, trên lều phong vương, 982 gần xỉu vì đói. Nhưng anh ta còn đủ tỉnh táo để mong mỏi, gói gạo sống còn lại từ hôm qua đặt trước mặt, 982 vẫn chưa dám bỏ vào miệng nhai. Anh ta có linh tính thế nào Toàn hoặc thiếu niên Hợi cũng đến. Nhưng hết cả buổi sáng, hồi kẻng nghỉ việc đã vang lên hồi nãy mà không có người nào tới. Giám thị cũng mất mặt luôn, không tới mở cùm như mọi ngày, cũng không phát cho gạo sống. 982 bỗng rợn người vì ý nghĩ:

    - Hay nó bắt mình nhịn đói luôn tới chết để trả thù?

    Nếu đúng như thế, đằng nào cũng chết, khi tên giám thị léo hánh lại lều, nhất định phải làm cách nào giết chết được nó, rồi mới chịu nhắm mắt sau. Không có vũ khí, anh sẽ ôm chặt nó cắn vào mũi, vào tai, vào cổ họng cho tới khi nó chết mới thôi. Ít nhất cũng trả thù được một kẻ trong đám cộng sản, một kẻ thù anh muốn giết hơn hết dù phải đổi mạng.

    Mặt 982 bỗng bừng bừng, hai con mắt trũng sâu vì đói ăn trường kỳ quắc lên một cách dữ tợn. Nhưng...

    982 lắng tai nghe rồi quay phắt về bên phải. Một người đang xăm xăm bước tới. 982 nhận ngay ra Hợi tuy Hợi có lớn hơn và thay đổi chút ít nét mặt, so với hồi còn ở Hà Nội. Vậy mà hôm nọ ở lò rèn, anh không thể nào nhớ ra Hợi, con một đồng chí chứ không phải em như anh nhớ lầm lúc đầu. Thiếu chút nữa, 982 hét lên một tiếng mừng rỡ.

    Nhưng Hợi thảm nhiên leo lên cầu thang, mặt hắn tai tái vì xúc động, miệng nửa cười nửa lại như mếu một cách kỳ cục khó tả.

    - Cháu Hợi!

    - Bác Dũng!

    982 định đứng lên nhưng bị cản trở vì cùm, đành ngồi nguyên vị mà chìa tay ra. Hợi nắm lấy bàn tay gầy guộc, nhìn thẳng vào mắt 982. Mới ba ngày mà 982 đã tóp đi nhiều. Cả hai cùng yên lặng trong mấy giây rồi 982 nói:

    - Lấy tư cách là đồng chí của ba cháu, bác mong cháu giúp bác trong lúc này, tận tình giúp bác.

    - Bác hãy tin ở cháu. Cháu xin cố gắng hết sức.

    982 vội cho Hợi biết kế hoạch chuẩn bị: Nội tuần trăng này anh phải trốn. Muốn vậy, phải tháo cùm, cưa xiềng, phải có cơm ăn để khỏi và bịnh mới có sức băng rừng, vượt suối... 982 mong Hợi đang làm lò rèn. 982 nói không chút dè dặt, hoàn toàn tin chắc Hợi sẽ tận tình giúp anh.

    Hợi chăm chú lắng nghe. Đến lúc 982 ngưng nói, Hợi lạnh lùng rút trong lưng quần miếng cơm cháy đưa cho 982. Phản ứng thật lạ lùng. 982 sững sờ, nhăn nhó vì cảm động, trông không khác chi một người gặp chuyện đau lòng, không nói được một tiếng, đến lúc chớp mắt mấy cái, hai giòng nước mắt đã lã chã. 982 đã có thuốc hồi sinh cứu tử một cách bất ngờ.

    - Bác cất kín, kẻo giám thị thấy thì cả bác lẫn cháu đều mất mạng. Bác giấu từng miếng nhỏ trong nơi kín đáo để ăn dần. Cháu sẽ cố tiếp tế cho bác một lần nữa.

    982 bẻ một miếng cháy bỏ tọt vào miệng, giữ thêm một miếng lớn hơn trong tay, rồi vịn cột lều đứng lên, đút miếng cơm cháy còn lại ngập trong lớp rạ thật kín. Một bữa của tù phong vương bấy nhiêu là tạm đủ.

    - Bác sẽ nhớ ơn cháu mãi mãi.

    Hợi liếc ngang liếc dọc tứ phía, buổi trưa, trong trại vắng vẻ, yên tĩnh. Tù nghỉ ngơi hết trong trại ngủ. Hợi đưa nhanh cây căm xe đạp cho 982 và nói:

    - Đây là chìa khóa mở cùm...

    982 chỉ xuýt xoa mấy tiếng "Hay quá! Hay quá!" rồi ngắm nghía cây căm và nói nhanh:

    - Được rồi! Lúc lại đây, cháu thấy có mấy hòn đá trong đám cỏ. Nhưng cháu nghĩ không cần đến!

    - Còn cái này?

    982 chỉ vào sợi lòi tòi, đưa mắt hỏi. Hợi lặng lẽ đáp:

    - Cháu sẽ mang cho bác một cái giũa còn tốt. Phút chót, trước khi rời lều này, bác sẽ cưa mắt xích. Cần nhất, bác phải nhớ mang theo cây giũa đừng để tụi nó kiếm thấy. Nếu không, đành là cháu vào ngồi thay bác ở lều này...Cháu còn trẻ quá, lên ngôi "vua" không xứng.

    982 mỉm cười, thầm phục sự bình tĩnh, gan dạ và khôn ngoan của thiếu niên. Sực nhớ ra, anh vội nói:

    - À, có chỗ giấu đồ kín lắm. Đủ rộng để cất 4, 5 miếng cơm cháy lớn và nhiều thứ khác. Cháu khỏi lo không có nơi kín đáo.

    - Bác nên tập mở khóa cùm cho thạo, khi cần sẽ mở được ngay. Ngày một, ngày hai, cháu sẽ mang giũa cho bác. Thôi cháu về.

    - Có tin của ba cháu không?

    - Không! Bác Thanh trên lò than đã về trại được mấy bữa. Bác Thanh sẽ chuyển cho bác ít viên thuốc phòng bệnh tả lỵ, cháu sẽ đưa bác sau...

    982 đưa Hợi ống tre, nhờ múc đầy một ống nước.

    Hợi vác ống tre lại bên vũng nước. Mấy con chuồn chuồn đậu trên ngọn cỏ ở giữa vũng cất cánh bay đi. Hợi khỏa nhẹ ông tre cho tan váng "riêu cua" rồi múc đầy ống mang về cho 982.

    Hợi đã quay về tới lò rèn mà 982 còn nhìn theo.

    Quan sát khóa cùm, 982 biết ngay là một thứ khóa thường. Anh mừng thầm trong bụng, nhìn trước nhìn sau rồi vịn cột đứng lên, rút cây căm, cho đầu mẫu vào trong lỗ khóa. Hồi nhỏ, anh ta có học việc với một người thợ khóa ở Phố Lò Rèn Hà Nội nên chỉ một phút sau, nghe "cách" một tiếng, khóa bật ra liền. 982 lặng người đi vì mừng tuy biết trước kết quả, sau đấy anh mở ra, khóa vào mấy lần cho quen.

    Sau cùng, 982 khóa cùm như trước, gài cây căm lên mái rạ, thầm nghĩ một cách sung sướng, đêm nay anh sẽ tháo cùm ra một lúc cho thoải mái cặp giò, để hiểu thấm thía thế nào là tự do của hai cẳng chân.

    Từ lúc mở được khóa cùm, 982 có cảm tưởng tìm lại được sinh lộ và giờ khắc vượt trại chẳng còn xa. Anh ngồi dựa vào cột lều, ước lượng khoảng cách từ lều phong vương đến hàng ráo nứa thứ nhất, băng qua lối đi hẹp đến hàng rào thứ hai rồi...hết. Tự do! Tự do!

    Khoảng hai mươi thước là ba chục bước chân, bước thật đều. Trong đêm tối, phải lấy bước chân tính đường. Tới hàng rào thứ nhất, anh sẽ đào ngạch dưới chân để chun qua, rồi đào ngạch chun qua rào thứ hai. Đào xong một ngạch, phải mất nửa tiếng đồng hồ đào hai ngạch mất một tiếng. Bỏ thêm ra nửa giờ nữa cho những trở ngại bất ngờ, thế là một tiếng rưỡi đồng hồ dùng vào việc đào ngạch.

    Bảy giờ tối, trời đã tối mịt, sẽ bắt đầu mở cùm giũa xích. Mất một tiếng đồng hồ để cắt hai mắt xích ở hai đầu sợi xiềng, nửa tiếng cho một mối sắt, đào ngạch một tiếng rưỡi, 7 giờ tối khởi sự thì 9 giờ rưỡi sẽ ra lọt bên ngoài trại giam. Chạy vào rừng, chừng một tiếng đồng hồ nữa sẽ vượt được nửa cây số, hay nhiều lắm một cây số. Tối 19 âm lịch, tới 10 giờ khuya trăng mới mọc. Cố chạy thêm hai tiếng nữa dưới ánh trăng rồi leo lên cây ngủ, tới gần sáng sẽ chạy nữa. Khi đó vẫn còn trăng. Thế là thoát trận đầu.

    Trong mình tràn trề một sinh lực mới vì 982 đã thấy lóe ra một niềm hy vọng chắc chắn. Theo kinh nghiệm, tù nhân nào còn nuôi hy vọng trong lòng sẽ là tù nhân sống sót.

    982 bỗng ngồi thẳng người lên, nghểnh cổ đếm lại từng bước chân theo đường tưởng tượng, từ lều đến hàng rào. Lần này anh ước lượng khoảng đường đó dài từ 20 đến 21 thước nghĩa là từ 30 đến 32 bước chân. Trong đêm tối, cứ đếm đủ bước chân thì vừa tới hàng rào. Nhưng còn nhiều khó khăn khác trong thời gian lẩn trốn trong rừng, kiếm đâu ra thức ăn?

    Vào nhà dân mượn nồi nấu cơm hoặc đổi gạo lấy thức ăn chín? Không được! Lộ hành tung thì nguy! Kiếm hoa quả trong rừng ăn tạm vậy. Nhưng nếu không kiếm được trái cây, củ sắn, củ khoai...? Đành vào nhà dân ăn xin lấy cỡ lỡ độ đường, cùng lắm sẽ ăn trộm, miễn sao sống sót!

    982 miên man suy tính, tự đặt hàng trăm câu hỏi rồi tự trả lời. Tù nhân trong trại đã làm việc lúc nào không biết. Anh đang sống hoàn toàn trong giấc mơ giải phóng, tưởng tượng đang là con chim tự do bay trong rừng, sắp bay về tận tổ ấm gia đình, về tận trụ sở bí mật để hội họp, thảo luận, hoạt động với các anh em cùng chí hướng.

    Trong trại giam cộng sản, quên được hiện tại khổ não mà hướng tâm trí về tương lai một cách tin tưởng là một sự kiện hiếm có và quý báu vô cùng. Cũng vì có tác dụng làm quên được khổ não nên một điếu thuốc lào mới trở thành một thức vật quan trọng, quan trọng ngang mạng người. Có người tù không được tiếp tế, phải để dành cả tháng mới kiếm đủ một điếu thuốc lào vì mỗi lần có dịp "mót" bã thuốc chỉ được một, hai sợi thuốc chưa cháy hết là nhiều. "Mót" được thêm sợi nào, người tù lại gom vào mảnh lá chuối dắt trong mình. Tới khi có ngót nghét một điếu thuốc, tù nhân đó mới chuẩn bị nửa ngày hay cả một ngày trời, đợi lúc thuận tiện nhất, thường thì vào buổi tối, sau khi học tập kiểm thảo xong trở về trại ngủ. Ngồi rảnh rang, người tù thận trọng sửa soạn kỹ càng cái điều cầy, rồi xin lửa kéo một hơi...thật dài, để hết cả thần lẫn trí vào điều thuốc.

    Vừa tàn điếu thuốc là nằm lăn quay xuống trõng, lập tức không phí một giây, người tù dùng sức mạnh của tâm tưởng, nghĩ đến người thân nhất đối với mình, thường tình là cha mẹ, vợ con. Như vậy, người tù quên được hiện cảnh đau khổ và sống hai, ba mươi giây trong mộng ước. Rồi quay về sống thực tế trong trại giam.

    Trường hợp của 982 không phải là điếu thuốc lào mà là mấy miếng cơm cháy và cây căm xe đạp có tác dụng mở khóa cùm để trốn khỏi trại giam....

    (còn tiếp)

  6. The Following 2 Users Say Thank You to KiwiTeTua For This Useful Post:

    Nguyen Huu Thien (10-22-2019), saomai (10-15-2019)

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter