kết quả từ 1 tới 4 trên 4

Tựa Đề: Mặt Trận Tân Cảnh - Kontum 1972

  1. #1
    Moderator
    KiwiTeTua's Avatar
    Status : KiwiTeTua v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jul 2008
    Posts: 2,595
    Thanks: 4,603
    Thanked 9,326 Times in 2,498 Posts

    Default Mặt Trận Tân Cảnh - Kontum 1972

    Mặt Trận Tân Cảnh - Kontum 1972
    Cố Ðại Tá Trịnh Tiếu


    Tháng 8 năm 1970, Thiếu Tướng Ngô Dzu (Tư Lệnh Quân Đoàn 4, sau khi Thiếu Tướng Nguyễn Viết Thanh tử trận), được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 và Quân Khu 2. Tướng Ngô Dzu, theo nhận xét của các giới chức Hoa Kỳ, là một tướng lãnh thông minh, giỏi về tham mưu, hăng say phục vụ cho đất nước và quân đội. Tuy nhiên, theo nhận xét của họ, ông không can đảm bằng các tướng khác như Ðỗ Cao Trí hay Dư Quốc Ðống.

    Ông đến Pleiku với vài sĩ quan thân tín của ông, lập một bộ tham mưu riêng để làm việc. Trong thời gian này, tôi (Ðại Tá Trịnh Tiếu) là Trưởng Phòng Nhì Quân Đoàn 2 và Quân Khu 2 từ thời Trung Tướng Vĩnh Lộc và Lữ Lan. Ðây là lần đầu tiên tôi phục vụ dưới quyền Tướng Ngô Dzu mặc dù đến năm này (1970) tôi đã phục vụ trong quân đội được 17 năm. Những ngày đầu làm việc với Tướng Ngô Dzu, tôi phải trải qua một thời gian trắc nghiệm khả năng chuyên môn và thủ tục tham mưu theo sách vở Hoa Kỳ thật gay go. Có những buổi, tướng Ngô Dzu gọi tôi lên văn phòng của ông hàng giờ để nhận xét xem tôi có hiểu những danh từ chuyên môn về tình báo theo sách vở tham mưu của quân đội Hoa Kỳ mà ông đã biết. Rất may là tôi đã tốt nghiệp khóa tình báo cao cấp tại Hoa Kỳ vào năm 1968. Tôi trả lời ông rất rõ ràng và đầy đủ những gì ông muốn trắc nghiệm tôi, lúc đó tôi có cảm tưởng ông là vị Tướng Chỉ huy Trưởng Tham Mưu Hoa Kỳ, vì ông rất giỏi về thủ tục Tham Mưu.

    Tướng Ngô Dzu giữ chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 vào một thời gian rất thuận lợi cho ông, vì trước đó 3 tháng (tháng 5/1970), Tướng Lữ Lan đã tổ chức một cuộc hành quân vượt biên qua lãnh thổ Cam Bốt đánh thẳng vào Quân Khu 702 của Cộng Sản tại tỉnh Ratanakiri. Quân đội VNCH phá hủy toàn khu hậu cần của Cộng Sản tại mật khu này, và tịch thu rất nhiều vũ khí nặng của địch, như súng phòng không, cối 120 ly, đại liên 12.7 và hỏa tiễn, v.v... Còn những mật khu nhỏ của Cộng Sản trong lãnh thổ Quân Khu 2, thì đã được Sư Đoàn 22 và 23 BB cùng với địa phương quân đã thanh toán.


    Trong thời gian này, Cộng Sản rất yếu, các đơn vị chính quy của họ hầu như bị tê liệt. Vì thế tướng Ngô Dzu đặt hết trọng tâm vào công tác bình định và phát triển tại Quân Khu 2. Ông say mê làm việc suốt ngày đêm, vợ con ông đều để lại Saigon. Bà Ngô Dzu đặc biệt không bao giờ tham gia vào công việc của chồng. Có nhiều đêm, Tướng Ngô Dzu gọi tôi qua để thảo luận tình hình vào lúc 2, 3 giờ sáng. Ông cũng thường điện thoại các tỉnh trưởng trong vùng cũng vào giờ này.

    TƯỚNG NGÔ DZU VÀ CỐ VẤN JOHN PAUL VANN
    John Paul Vann là vị sĩ quan Trung Tá Bộ Binh làm cố vấn cho Sư Đoàn 7 BB tại Vùng 4 Chiến Thuật từ năm 1962-63. Sau đó, ông về Hoa Kỳ, xin giải ngũ để tiếp tục đại học. Ðến năm 1966, ông sang Việt Nam trở lại và làm cố vấn dân sự cho các chương trình bình định và phát triển. Tướng Ngô Dzu rất tâm đắc với John Paul Vann về kế hoạch bình định phát triển tại Vùng 4 Chiến Thuật trước đây. John Paul Vann thông minh, can đảm, hiếu thắng, kiêu căng, tự phụ và thích làm anh hùng cá nhân. Sau khi Tướng Ngô Dzu được bổ nhiệm Tư Lệnh Quân Đoàn 2 thì John Paul Vann cũng muốn chức cố vấn Quân Đoàn 2, mặc dù ông là dân sự.


    Dịp may đến với John Paul Vann: Tháng 4 năm 1971, quân đội Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam phải giảm quân số từ 543,500 xuống còn 270,000 quân. Vị Tướng đang làm cố vấn cho Tướng Ngô Dzu cũng được lệnh về Mỹ trong đợt giảm quân này. John Paul Vann liền nắm cơ hội hiếm có, vận động ngầm với Tướng Ngô Dzu xin Hoa Kỳ bổ nhiệm John Paul Vann làm Cố vấn Quân Đoàn 2.

    Một điều rất khó xử cho Ðại Tướng Hoa Kỳ Creighton Abrams lúc bấy giờ là làm thế nào để một người dân (VNCTLS ghi chú: John Paul Vann lúc đó đã giải ngũ, không còn trong quân đội) chỉ huy Hoa Kỳ còn lại tại Quân Đoàn 2. Trong lịch sử Hoa Kỳ, chưa bao giờ có một dân sự giữ chức vụ cấp Tướng và chỉ huy các đơn vị Hoa Kỳ tại mặt trận trong thời chiến, trường hợp của Vann là một biệt lệ.

    Theo ước tính của các tướng lãnh Hoa Kỳ tại Việt Nam, vào năm 1972 Bắc Việt sẽ mở nhiều mặt trận lớn tại Quân Đoàn 1 và Quân Đoàn 2, vì thế kế hoạch bình định và phát triển phải đặt hàng đầu trong năm 1971 để các đơn vị chính quy rãnh tay đối đầu với quân Bắc Việt vào năm 1972. Quân Đoàn 2 cần có một cố vấn nhiều kinh nghiệm về bình định phát triển, hợp tác chặt chẽ với Tướng Ngô Dzu. Người cố vấn đó không khác ai ngoài John Paul Vann vì ông đã xuất sắc trong chức vụ này. Tháng 5 năm 1971, John Paul Vann đã được Tướng Abrams bổ nhiệm làm Cố Vấn Tư Lệnh Quân Đoàn 2 và Quân Khu

    TIN TÌNH BÁO HOA KỲ
    Tháng 12 năm 1971, tôi đang làm việc tại văn phòng, Ðại Tá Cahn (Cố vấn Tình Báo của tôi) đến mời tôi qua văn phòng ông John Paul Vann (cũng ở tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, gần văn phòng Tướng Ngô Dzu) để thảo luận tình hình. Mở đầu, ông Vann hỏi tôi:
    - Ðại tá có biết Sư Đoàn 320 của Bắc Việt hay không?

    Tôi trả lời:
    - Sư Đoàn 320 là sư đoàn nổi tiếng tại Ðiện Biên Phủ trong thời gian chiến tranh với Pháp vào năm 1954.
    - Ðại Tá có biết sư đoàn này đang ở đâu không?

    - Vị trí đóng quân của các sư đoàn Bắc Việt, Phòng Nhì của Bộ Tổng Tham Mưu nắm rất vững, tôi sẽ hỏi và cho ông biết sau.

    Paul Vann nói tiếp:
    - Tôi có nguồn tin chính xác, sư đoàn này đang dưỡng quân tại Thanh Hóa và tháng 2 năm 1972 này sẽ di chuyển vào vùng Tam Biên (biên giới Việt Nam, Lào, và Cam Bốt) để tham chiến với ta.

    Ông nói thêm:
    - Kỳ này tôi nghỉ phép Giáng Sinh 15 ngày tại Hoa Kỳ. Vậy đại tá cố gắng dùng các phương tiện về tình báo của Đại Tá để xác nhận chính xác vị trí của Sư Đoàn 320. Sư Đoàn này sẽ chuyển vào vùng Tam Biên. Tướng Ngô Du và tôi sẽ có kế hoạch tiêu diệt họ.

    Tôi cám ơn về những tin tức vừa cho. Trước đây, tôi đã có dịp đi quan sát phi trường Nakhon Phanom của Hoa Kỳ nằm trên lãnh thổ Thái Lan, đối diện với tỉnh Thakkhet của Lào. Tại phi trường này, khi phi cơ cất cánh lên cao độ thì có thể quan sát đèo Mụ Gia trên đường đi qua biên giới Việt-Lào nằm giữa Vinh và Ðồng Hới. Với những phương tiện tình báo điện tử rất tối tân, Hoa Kỳ có thể biết được sự di chuyển của Cộng Sản từ Bắc vào Nam, vì thế tôi tin những tin tức tình báo của Hoa Kỳ trên lãnh thổ Bắc Việt là chính xác.

    TUNG MÀNG LƯỚI TÌNH BÁO ĐIỆN TỬ VÀO THÁNG 1 NĂM 1972
    Tôi cho thả rất nhiều chùm điện tử (được ngụy trang như những cây nhỏ trong rừng) trên đường mòn Hồ Chí Minh để báo động khi có người đi qua. Các máy điện tử đều hướng về Mật Khu 609, nơi trú quân của Tướng Hoàng Minh Thảo, Tư Lệnh Mặt trận B3 của Cộng Sản tại vùng Attopeu (Nam Lào) để dò bắt các mật điện của Bộ Tư Lệnh này.

    Hàng ngày đều có máy bay không thám của Quân Đoàn và phi cơ chụp không ảnh của Bộ Tổng Tham Mưu Cộng Sản, chụp ảnh một khu vực rộng lớn trên đường mòn Hồ Chí Minh để theo dõi các hoạt động của họ trên các đường mòn đưa vào lãnh thổ Quân Khu 2. Các toán Viễn thám, Biệt kích, Trinh sát và Tình báo được thả xuống khắp nơi tại vùng ba biên giới để rình bắt các cán binh Cộng Sản đi lẻ tẻ trong rừng.

    Đến cuối tháng 1 năm 1972, các toán thám báo bắt được một cán binh Cộng Sản khoảng 17 tuổi. Người này cho biết anh thuộc Sư Đoàn 320 vừa mới hành quân đến vùng Tam Biên. Và Sư Đoàn 320 đã di chuyển ngày đêm, đúng một tháng từ Thanh Hóa đến vùng này thì anh ta bị bắt. Tôi liền trình lên Tướng Ngô Dzu và cố vấn John Paul Vann các tin tức mà người tù binh này đã cung cấp.

    KẾ HOẠCH TIÊU DIỆT SƯ ĐOÀN 320 BẰNG PHÁO ĐÀI B-52
    Tướng Ngô Dzu và John Paul Vann không muốn các đơn vị Bộ Binh VNCH tiến sâu vào các mật khu kiên cố đầy rừng núi hiểm trở để tiêu diệt địch như Tướng Westmoreland đã từng làm trước đây trong các cuộc hành quân Truy Lùng và Tiêu Diệt (Search and Destroy). Năm 1967, Lữ Đoàn 173 Nhảy Dù và Sư Đoàn 4 Hoa Kỳ bị mất 287 người và trên 1,000 người bị thương tại Mật Khu 609 của tướng Hoàng Minh Thảo, nhưng Tướng Westmoreland tuyên bố chiến thắng tại Hoa Thịnh Ðốn. John Paul Vann muốn bắt chước Tướng Walton Walker trong kế hoạch đánh bại quân Bắc Triều Tiên năm 1953. Vì thế, hai ông đã đưa ra kế hoạch dụ Sư Đoàn 320 tiến sâu vào trong lãnh thổ Quân Đoàn 2 (vùng Tân Cảnh - Dakto thuộc Kontum) để tiêu diệt toàn bộ sư đoàn thiện chiến này bằng pháo đài B-52.

    John Paul Vann hứa với Tướng Ngô Dzu rằng ông có thể xin Ðại Tướng Abrams tất cả 25 "boxes" (mỗi "box" là một hình chữ nhật có chiều dài 3 km, chiều ngang 1 km, được thả bằng 3 chiếc B-52 chứa trên 100 quả bom đủ loại, từ 100 đến 500 pounds) của pháo đài bay B-52 mà Hoa Kỳ đang dùng để yểm trợ cho Việt Nam trên 4 vùng Chiến Thuật mỗi ngày. Đây là kế hoạch để triệt tiêu tối đa quân Bắc Việt tại Quân Đoàn 2.

    Sư Đoàn 22 BB tại Bình Ðịnh được lệnh di chuyển 2 trung đoàn và bộ tham mưu một của Sư Đoàn lên Tân Cảnh để giao chiến với Sư Đoàn 320 Cộng Sản Bắc Việt (CSBV). Quân Đoàn dự trù Cộng Sản sẽ tăng cường Sư Đoàn 2 Sao Vàng cho mặt trận này. Tướng Ngô Du thiết lập thêm hai căn cứ hỏa lực là Căn Cứ 5 và 6 trên các sườn đồi phía nam Tân Cảnh để yểm trợ hỏa lực Pháo Binh cho Sư Đoàn 22 BB. Toàn bộ Pháo Binh và chiến xa cơ hữu của sư đoàn cũng được điều động lên vùng này. Ngoài ra, Quân Đoàn còn tăng cường thêm Biệt Ðộng Quân để củng cố vững chắc đồn biên phòng Ben Het, cửa ngõ đi vào lãnh thổ Quân Ðoàn 2 và Quân Khu 2. Nhiệm vụ của Sư Đoàn 22 BB là dụ cho địch xuất hiện và đi vào thật sâu để Không Quân Hoa Kỳ tiêu diệt bằng B-52.

    Sau khi dàn binh bố trận xong, Tướng Ngô Dzu mời Ðại Tướng Cao Văn Viên lên quan sát mặt trận vào cuối tháng 2/1972. Qua một ngày đi thăm tất cả các đồn bót và công sự bố phòng, trước khi ra về tướng Viên bắt tay Tướng Ngô Dzu và John Paul Vann. Ông nói: "Tôi chưa thấy một cuộc phối trí quân sự nào chu đáo và đầy đủ như sự phối trí này. Tôi tin tưởng hai ông sẽ tiêu diệt được Sư Đoàn 320 bằng hỏa lực Không Quân và Pháo Binh của Việt Nam và Hoa Kỳ. Chúc 2 ông thành công tốt đẹp."

    NHỮNG TRỤC TRẶC ĐÁNG TIẾC
    Quân Đoàn 2 có hai sư đoàn chính quy là Sư Đoàn 22 và 23 BB. Sư Đoàn 22 BB chịu trách nhiệm lãnh thổ 5 tỉnh phía Bắc Quân Đoàn 2, gồm Bình Ðịnh, Phú Yên, Phú Bổn, Pleiku và Kontum. Sư Đoàn 23 BB chịu trách nhiệm lãnh thổ 7 tỉnh còn lại của Quân Đoàn 2 là Ban Mê Thuột, Tuyên Ðức, Quảng Ðức, Khánh Hoà, Cam Ranh, Ninh Thuận và Bình Thuận. Sư Đoàn 22 BB do Thiếu Tướng Triễn làm tư lệnh, và Sư Đoàn 23 BB do Thiếu Tướng Cảnh làm Tư Lệnh.

    John Paul Vann đề nghị Tướng Ngô Dzu thay thế 2 vị tư lệnh này viện lý do sau đây: Mặt trận sắp tới sẽ sôi động và gây cấn, cần phải có các tư lệnh sư đoàn năng động, trẻ tuổi. Hai Tướng Triễn và Cảnh đã lớn tuổi. Như đã nói trên, John Paul Vann rất năng động, hiếu thắng và kiêu căng, nên ông chỉ thích các đại tá trẻ, có can đảm làm Tư Lệnh Sư Đoàn. Tướng Ngô Dzu bị bất ngờ trước ý kiến này của John Paul Vann, nên đã nói với John Paul Vann biết rằng việc bổ nhiệm tư lệnh sư đoàn là do tổng thống quyết định, ông không có quyền. Hơn nữa, 2 vị tướng tư lệnh nói trên không phạm lỗi gì, nên không thể đề nghị thay đổi được.

    Nhưng John Paul Vann nhất quyết đề nghị thay thế 2 vị Tư Lệnh Sư đoàn này. Tướng Triễn và Tướng Cảnh biết được những khó khăn của Tướng Ngô Dzu trong lúc mặt trận sắp bùng nổ nên hai ông đã nói với Tướng Ngô Dzu rằng vì đất nước và quân đội, hai ông sẽ sẵn sàng làm đơn lên tổng thống xin từ chức vì lý do sức khoẻ để Tướng Ngô Dzu tiện việc sắp xếp. Thái độ của hai Tướng này đã làm cho quân nhân các cấp ở trong Quân doàn khâm phục.

    John Paul Vann đề nghị: "Ðại Tá Lý Tòng Bá và Ðại Tá Lê Minh Ðảo là các sĩ quan trẻ, năng động và có nhiều kinh nghiệm chiến trường mà tôi biết tại Quân Đoàn 2.

    Tướng Ngô Dzu hỏi:
    - Quân Đoàn 2 có nhiều Đại Tá trẻ và giỏi như Ðại Tá Lê Ðức Ðạt. Ðại Tá Tôn Thất Hùng, và nhiều Đại Tá khác, tại sao ông không đề nghị?"

    John Paul Vann trả lời: "Ðại Tá Lê Ðức Ðạt mang tiếng tham nhũng tại Quân Đoàn 2, nên tôi không đề nghị, còn Ðại Tá Tôn Thất Hùng tôi chưa có cơ hội được biết khả năng của ông ta."

    Tình hình quân sự tại mặt trận càng ngày càng khẩn trương, Tướng Ngô Dzu cần phải thỏa mãn gấp điều kiện của John Paul Vann, nhưng ông chỉ có thể thỏa mãn 50%. Ông đề nghị Tổng Thống Thiệu bổ nhiệm Ðại Tá Lý Tòng Bá làm Tư Lệnh Sư Đoàn 23 BB và Ðại Tá Lê Ðức Ðạt làm Tư Lệnh Sư Đoàn 22 BB. Sở dĩ Tướng Ngô Du đề nghị Ðại Tá Lê Ðức Ðạt là vì Ðại Tá Ðạt đang là Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 22 BB, lên thay thế Tư Lệnh sư đoàn là hợp lý. Hơn nữa, Ðại Tá Ðạt rất thân với Ðại Tướng Cao Văn Viên, nên ông nghĩ rằng khi Ðại Tá Ðạt lên làm Tư Lệnh tại mặt trận thì Ðại Tướng Viên sẽ yểm trợ tối đa. John Paul Vann rất giận Tướng Ngô Du đã không đề nghị Ðại Tá Lê Minh Ðảo trong chức vụ tư lệnh Sư Đoàn 22 BB.


    Ðại Tá Lê Ðức Ðạt

    Ðại Tá Ðạt làm Tư Lệnh Sư đoàn được một tuần lễ thì quân Bắc Việt bắt đầu mở các cuộc chạm súng lẻ tại nhiều nơi. Tướng Cao Văn Viên liền tăng cường cho Ðại Tá Ðạt một lữ Đoàn Nhảy Dù. Tướng Ngô Du đã thổ lộ với tôi trên trực thăng chỉ huy của ông là John Paul Vann là một người Mỹ rất hăng say muốn giúp Việt Nam, nhưng không thông cảm cho hoàn cảnh và tình cảm của người Việt.

    MẶT TRẬN BÙNG NỔ
    Theo tin tức khai thác được của các tù binh Cộng Sản thì mặt trận sẽ nổ lớn vào trung tuần tháng 3 năm 1972, nhưng Hà Nội đã ra lệnh cho tướng Hoàng Minh Thảo tấn công vào đầu tháng 4/1972 để phối hợp nhịp nhàng với các mặt trận khác tại Quân Đoàn 1 và Quân Đoàn 3. Theo tin tức tình báo mà Phòng 2 chúng tôi thu thập được vào giờ chót thì tướng Hoàng Minh Thảo sẽ cho Sư Đoàn 2 CSBV đương đầu với các đơn vị của Sư Đoàn 22 BB để cầm chân sư đoàn này tại Tân Cảnh. Còn Sư Đoàn 320 của họ sẽ tiến quân vào Kontum. Ðể đối phó với tình thế mới, Tướng Ngô Dzu cho lữ đoàn Nhảy Dù tăng cường, tiến chiếm dãy đồi phía Tây sông Poko và thiết lập 2 căn cứ hỏa lực mới đặt tên là Charlie và Delta để ngăn chận Sư Đoàn 320 của Cộng Sản. Kế hoạch phối trí này rất tốt đẹp lúc đầu.

    Vào 4 giờ sáng ngày 3 tháng 4/1972, Sư Đoàn 320 đánh trận biển người vào căn cứ Delta, nhưng gặp sức kháng cự mãnh liệt của các binh sĩ Nhảy Dù. Sau nhiều đợt pháo kích và tấn công, họ chỉ chiếm được hàng rào đầu tiên. Tướng Ngô Dzu và ban tham mưu lên căn cứ Võ Ðịnh trên Quốc Lộ 14 để chỉ huy mặt trận. Cố vấn John Paul Vann được tin này rất phấn khởi, cũng bay lên quan sát hai căn cứ Delta và Charlie. John Paul Vann thấy rõ một số cán binh Bắc Việt đông đảo đang bao vây căn cứ Delta giữa hàng rào thứ nhất và thứ hai, ông liền gọi các phi tuần của Không lực Hoa Kỳ cất cánh từ Thái Lan bay qua oanh kích liên tục chung quanh căn cứ Delta. Ông còn gọi thêm các phi cơ Stinger và Spectre, được trang bị đặc biệt đại bác Bofors và đại liên Vulcan để yểm trợ căn cứ này.

    Chiều ngày 3 tháng 4/1972, phía Bắc Việt tuy chưa chiếm dược đồn nhưng các binh sĩ Nhảy Dù đã hết đạn dược, thuốc men, và nước uống. Trực thăng Chinook được lệnh của Tướng Ngô Dzu tiếp tế khẩn cấp cho Delta để có thể bảo vệ căn cứ trong đêm nay. Nhưng trực thăng bị hỏa lực phòng không của Bắc Việt bắn rớt ngoài đồn. Thấy thế, John Paul Vann đã liều lĩnh xử dụng trực thăng nhỏ OH-58 Kiowa (loại mới nhất của quân đội Hoa Kỳ, chỉ có 2 chỗ ngồi) để tiếp tế. Ðích thân ông lái máy bay còn Trung Úy Huỳnh Văn Cai, người được Tướng Ngô Dzu chỉ định làm sĩ quan tùy viên cho John Paul Vann, đạp từng thùng đạn, thùng thuốc xuống giữa căn cứ, mặc dù súng phòng không đủ loại 14.5 ly, 12.7 ly bắn lên tới tấp.

    Bất chấp mọi nguy hiểm, John Paul Vann đã tiếp tế cho đơn vị Nhảy Dù đầy đủ đạn dược, mìn chiếu sáng, thuốc men và nước uống, để đơn vị này có thể cầm cự với địch quân đêm sắp tới. Chuẩn Tướng Gerge Wear, Tư lệnh Phó, và Ðại Tá Joseph Pizzi, Tham mưu Trưởng của John Paul Vann phải kêu lên: "Thật là điên rồ!" Tướng Ngô Dzu phải khâm phục hành động táo bạo này của John Paul Vann.

    Kết quả, Sư Đoàn 320 của Cộng Sản bị thảm nặng tại căn cứ Delta. Tướng Hoàng Minh Thảo phải bổ sung quân số cấp tốc cho sư đoàn này, sau đó 10 ngày (14 tháng 4/1972) lại cho mở cuộc tấn công vào căn cứ Charlie. Lần này, một hỏa tiển 122 ly của Cộng quân rơi trúng vào hầm chỉ huy làm Trung Tá Bảo tử trận ngay lập tức. Sau vài ngày cầm cự, căn cứ Charlie phải triệt thoái.

    Ngày 20 tháng 4/1972, áp lực tại Quảng Trị quá nặng, Ðại Tướng Viên phải rút Lữ Đoàn Nhảy Dù từ Kontum để tăng cường cho mặt trận Quảng Trị. Tình hình quân sự tại Tân Cảnh bắt đầu đen tối. Tướng Ngô Du vô cùng lo lắng.

    KHÔNG TIN NHƯNG PHẢI LÀM
    Câu chuyện sau đây do chính Trung Tá Trần Hữu Công, chánh văn phòng của Tướng Ngô Dzu, kể lại cho tôi. Thân sinh Tướng Ngô Dzu là cụ Ngô Khôi, một viên chức của chính quyền thuộc địa Pháp. Ðang sống tại Qui Nhơn, thấy con mình quá lo âu cho chiến trường sắp đến, nên đã vội lên Pleiku và nói với Tướng Ngô Dzu như sau: "Con à, cha biết trách nhiệm của con rất nặng đối với đất nước và quân đội, nhất là sinh mạng của các chiến sĩ. Vậy con phải xin ơn trên phù hộ. Cha đề nghị con xuống Qui Nhơn, ở đó có đền Ðức Thánh Trần. Dân địa phương rất tin vào sự thiêng liêng của ngài. Con mang lễ vật đến xin ngài phù hộ, cứu độ sinh mạng đồng bào và các chiến sĩ trong vùng trách nhiệm của con."

    Lắng nghe lời dặn của cha, tướng Ngô Dzu vâng dạ lễ phép, nhưng ông không thi hành vì ông theo đạo Thiên Chúa. Tuy nhiên, Tướng Ngô Dzu giao nhiệm vụ này cho Trung Tá Công. Khi Trung Tá Công đem lễ vật vào đền thì vị sư trụ trì nhìn thẳng vào Trung tá và nói rõ: "Ông không có niềm tin thì đến đây làm gì? Hãy mang lễ vật rở về."

    Trung Tá Công giật mình hoảng sợ, đã trình bày lý do tại sao ông cần phải đến cầu xin Ðức Thánh Trần và xin vị sư đó giúp cho. Vị sư này chấp nhận và cùng với Trung Tá Công khấn vái. Lễ lạc xong, nhà sư đưa cho Trung Tá Công một lá bùa, bảo đốt ra tro và rải xuống những vị trí nào thấy nguy hiểm nhất. Trung Tá Công đã làm đúng theo lời vị sư, ông dùng trực thăng rải xuống đồn Ben Het (giáp biên giới Lào) theo lệnh của Tướng Ngô Dzu.

    Ngày 28 tháng 4/1972, Cộng Sản tấn công đồn này bằng 10 chiến xa T-54, nhưng bị John Paul Vann điều động 2 trực thăng AH-1 Cobra trang bị hỏa tiễn chống chiến xa bắn rất chính xác, tiêu diệt 5 chiến xa T-54 tại chỗ. Năm chiếc còn lại phải tháo lui qua biên giới Lào. Tuy nhiên, các đơn vị VNCH phải rút quân khỏi đồn này vì vị trí quá xa và hẻo lánh.

    ÐẠI TÁ LÊ ÐỨC ÐẠT VÀ JOHN PAUL VANN
    Các toán biệt kích và viễn thám VNCH phục kích sâu trong rừng, hằng đêm đều nghe tiếng chiến xa của Cộng Sản di chuyển. Tôi báo động về sự xuất hiện của chiến xa T-54 để Tướng Ngô Dzu và John Paul Vann tìm cách đối phó. Tướng Ngô Dzu tin những báo cáo của tôi, nhưng John Paul Vann thì hoài nghi. Ông cho rằng đó chỉ là loại xe thường, hoặc là PT-76, chiến xa lội nước hạng nhẹ không đáng kể của Cộng Sản. Ðối với John Paul Vann phải trông thấy tận mắt mới tin.

    Tướng Hoàng Minh Thảo thấy Lữ đoàn Nhảy Dù đã rút, nên ông có kế hoạch tấn công cấp tốc để dứt điểm Sư Đoàn 22 BB tại Tân Cảnh bằng Sư Đoàn 320, Sư Đoàn 2 Sao Vàng, cùng chiến xa T-54 và hỏa tiễn AT-3 Sagger do Liên Xô chế tạo. Chiến xa T-54 và hoả tiễn Sagger là hai loại vũ khí tối tân được sử dụng lần đầu tiên tại chiến trường miền Nam vào mùa hè 1972. T-54 là loại chiến xa bọc sắt cứng, dày, tương đương với chiến xa M-48 của Hoa Kỳ. Hỏa tiễn AT-3 Sagger là loại hoả tiễn chống chiến xa được điều khiển bằng giây điện-tử, giống như hỏa tiễn TOW của Mỹ, nhưng tầm tác-xạ ngắn hơn.

    Các toán biệt kích và viễn thám VNCH phục kích sâu trong rừng, hằng đêm đều nghe tiếng chiến xa của Cộng Sản di chuyển. Tôi báo động về sự xuất hiện của chiến xa T-54 để Tướng Ngô Du và John Paul Vann tìm cách đối phó. Tướng Ngô Du tin những báo cáo của tôi, nhưng John Paul Vann thì hoài nghi. Ông cho rằng đó chỉ là loại xe thường, hoặc là PT-76, chiến xa lội nước hạng nhẹ không đáng kể của Cộng Sản. Ðối với John Paul Vann phải trông thấy tận mắt mới tin. Tướng Hoàng Minh Thảo thấy lữ đoàn Nhảy Dù đã rút, nên ông có kế hoạch tấn công cấp tốc để dứt điểm Sư Đoàn 22 BB tại Tân Cảnh bằng Sư Đoàn 320 và Sư Đoàn 2 Sao Vàng.

    Trong những ngày 20, 21 và 22 tháng 4/1972, các sư đoàn Bắc Việt áp sát bao vây Tân Cảnh. Khi đã khám phá đầy đủ các vị trí của họ, tôi trình Tướng Ngô Du phải diệt địch ngay bằng B-52 theo như kế hoạch trước đây mà ông và John Paul Vann đã tính toán. Nhưng John Paul Vann đã từ chối xử dụng B-52, vì trong thâm ý, ông không muốn yểm trợ cho Ðại Tá Lê Ðức Ðạt. Tướng Ngô Du nổi giận la t "Ông John Paul Vann, ông là bạn hay là kẻ thù của tôi?" John Paul Vann làm thinh bỏ đi. Ông dùng trực thăng bay xuống mặt trận Bắc Bình Ðịnh.

    Thời gian này, mặt trận mặt Bắc Bình Ðịnh cũng rất sôi động. Tướng Ngô Du chỉ dịnh Ðại Tá Trần Hiếu Ðức, Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 40 thuộc Sư Đoàn 22 BB làm Tư Lệnh chiến trường, chịu trách nhiệm bảo vệ 3 quận Hoài Ân, Bồng Sơn và Tam Quan. Sư Đoàn 2 Sao Vàng Cộng Sản được lệnh phối hợp với các mặt trận khác nên đã tung quân bao vây quận Hoài Ân. Tại đây, John Paul Vann cũng gây khó khăn cho Ðại Tá Ðức về yểm trợ hỏa lực trong khi bị áp lực nặng nề của địch quân. Ðại Tá Ðức ra lệnh rút bỏ quận Hoài Ân để cố thủ quận Bồng Sơn.

    Ngày 21 tháng 4/1972, John Paul Vann bay lên Tân Cảnh thăm Ðại Tá Philip Kaplan, cố vấn cho Ðại Tá Lê Ðức Ðạt. Tại hầm chỉ huy, mặc dù biết John Paul Vann không ưa thích, Ðại Tá Ðạt vẫn trình bày đầy đủ chi tiết cho John Paul Vann rõ. John Paul Vann đã có hành động thiếu lịch sự, ông chỉ mạnh vào bản đồ và nói cộc lốc bằng giọng mũi: "Ðại Tá Ðạt, ông sẽ là vị tư lệnh sư đoàn Việt Nam đầu tiên làm mất sư đoàn và bại trận." Ðại Tá Ðạt rất tức giận, ông đã vứt điếu thuốc đang hút xuống đất, cười gằn và bảo John Paul Vann: "Chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra."

    Ngày 23 tháng 4/1972, một tiểu đoàn Bộ Binh của Sư Đoàn 22 chạm súng với quân Bắc Việt rất sớm, không quá xa Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, đồng thời đạn pháo kích của Cộng Sản tới tấp vào căn cứ Tân Cảnh. Chiến xa bảo vệ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn của Ðại Tá Ðạt gồm 10 chiếc được điều động ra để chống lại địch, đã bị hỏa tiễn Sagger bắn cháy mất 8 chiếc, còn lại 2 chiếc thì bị đứt xích. Người bạn rất thân với tôi trước đây tại Qui Nhơn là Thiếu Tá Như cùng Ðại Úy Kenneth Yonan, 23 tuổi, xuất thân từ trường Wespoint, đã leo lên tháp nước cao tại căn cứ, xử dụng đại liên 12.7 ly để tấn công địch, cũng đã bị hỏa tiễn Sagger bắn, bồn nước nổ tung và cả hai người chết tại chỗ. Các đơn vị Sư Ðoàn 22 chạm súng suốt ngày với địch tại Tân Cảnh. Tướng Ngô Du sử dụng tối đa hỏa lực không quân để yểm trợ cho Ðại Tá Ðạt.

    Khoảng 10 giờ tối ngày 23 tháng 4/1972, quận Dakto cách Tân Cảnh 2 km về phía Bắc, do Ðịa Pương Quân và Nghĩa Quân người Thượng bảo vệ, đã quan sát thấy đèn của 11 chiến xa T-54 đang tiến về hướng quận. Quân Đoàn liền điều động phi cơ lên thả trái sáng. Các binh sĩ VNCH trong các hầm chiến đấu cá nhân đã thấy tất cả 15 chiếc chiến xa T-54 xếp hàng dọc chạy tiến về Tân Cảnh. Phi cơ C-130 tác xạ để ngăn không cho chiến xa địch tiến, nhưng vô hiệu quả, vì loại phi cơ này không có loại đạn chống chiến xa[*].
    [*]GHI CHÚ: AC-130 Spectre là loại vận tải cơ võ-trang, tức là máy bay vận tải, nhưng được cải biến để trở thành một phi cơ võ trang với nhiều loại súng gắn bên hông. Năm 1967, các vận tải cơ võ-trang AC-130 chỉ được trang bị đại liên 7.62-ly và 20-ly. Về sau đến giai đoạn 1971-72, thì các phi cơ này mới bắt đầu được gắn đại bác 40-ly và 105-ly. Theo tài liệu The Battle of Kontum (Trận Chiến Kontum) của Ðại Tá Jack Heslin, khuya 23 tháng 4/1972, một phi cơ AC-130 phát hiện một đoàn chiến xa Bắc Việt trên một con lộ về phía bắc căn cứ Tân Cảnh. Chiếc AC-130 liền khai hỏa với khẩu đại bác 105-ly và báo cáo đã bắn trúng 3 chiếc, nhưng số còn lại vẫn tiếp tục di chuyển về hướng Tân Cảnh. Nhóm VNCTLS có sưu tầm và nghiên cứu một số tài liệu, nhưng vẫn không rõ đêm 23 tháng 4/1972 chiếc AC-130 bay yểm trợ trên bầu trời Tân Cảnh là loại nào (được trang bị hay là không được trang bị loại súng 105-ly).

    Khoảng 2 giờ sáng ngày 24 tháng 4/1972, 15 chiến xa Bắc Việt bao vây căn cứ Tân Cảnh. Ðại Tá Philip Kaplan yêu cầu John Paul Vann lên cứu ông vào lúc 4 giờ khi trời chưa sáng tại bãi đáp rất nhỏ bên cạnh bãi mìn. Ðại tá Kaplan cho Ðại Tá Ðạt biết và yêu cầu cùng lên trực tăng cấp cứu của John Paul Vann nhưng Ðại Tá Ðạt từ chối. Ðại Tá Ðạt biết tình hình rất bi đát, địch sẽ tràn ngập căn cứ vào khoảng 7 giờ sáng, nhưng ông không yêu cầu Tướng Ngô Du lên cứu như Ðại tá Kaplan đã làm. Ông ra lệnh cho tất cả các sĩ quan và binh sĩ còn lại tìm cách thoát ra ngoài trước khi trời sáng. Ðại Tá Tôn Thất Hùng đã thoát được nhưng bị thương. Ông chạy vào một buôn Thượng gần đó. Nhờ nói được tiếng Thượng rất rành, nên đã được một gia đình người Thượng che dấu và bảo vệ ông, đưa ông về đến thị xã Kontum sau 15 ngày đi loanh quanh trong rừng. Ba tháng sau, ông cùng gia đình lên Pleiku để đền ơn cho gia đình người Thượng này đang sống trong trại tị nạn.

    Ðại Tá Lê Ðức Ðạt đã ở lại trong căn cứ Tân Cảnh. Theo lời Ðại Tá Kaplan, có lẽ Ðại Tá Ðạt đã tự sát sau khi đồn Tân Cảnh bị Cộng quân tràn ngập. Ðó là ngày 24 tháng 4/1972, lúc 10 giờ sáng.

    AI CỨU KONTUM TRONG CƠN HẤP HỐI
    Sau khi Tân Cảnh thất thủ, Tư Lệnh Sư Đoàn 22 BB chết tại mặt trận, một số sĩ quan trong Bộ tham Mưu Sư Đoàn, các hạ sĩ quan, cũng như nhiều binh sĩ đã chết hoặc bị bắt làm tù binh. Chỉ có một số rất ít chạy được về Kontum. Sư Đoàn 22B tan rã. Vì thế, phòng tuyến kiên cố nhất để bảo vệ thị xã Kontum coi như không còn nữa. Tòa hành chánh tỉnh Kontum với dân số 25,000 người sống trong thị xã đã hoang mang giao động cao độ, chuẩn bị tản cư.

    Tướng Ngô Dzu rất khổ tâm trong thời gian này. Ông bị xúc động khi được tin Ðại Tá Lê Ðức Ðạt tử trận. Những hy vọng thắng trận vinh quang mà ông ấp ủ trong lòng trên 3 tháng nay đã tiêu tan và biến thành thảm bại cay đắng vì có những bất đồng giữa ông và John Paul Vann, và thành kiến không tốt đẹp của John Paul Vann đối với Ðại Tá Lê Ðức Ðạt. Do đó, bệnh tim của ông bị tái phát.

    Thông thường chiến thuật phía Bắc Việt là thừa thắng xông lên. Do đó, chúng tôi không loại bỏ giả thuyết họ sẽ đánh Kontum, vì nơi đây chỉ có Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân trấn giữ. Tướng Ngô Dzu phải cho tái phối trí lực lượng, điều động hai trung đoàn Bộ Binh từ Ban Mê Thuột lên cố thủ Kontum, chỉ để lại một trung đoàn phòng thủ bảy tỉnh phía Nam của Quân Đoàn.

    Ðại Tá Lý Tòng Bá, Tư Lệnh Sư Đoàn 23 BB, được chỉ định làm tư lệnh mặt trận Kontum. Tướng Ngô Du chỉ mong Tướng Hoàng Minh Thảo hoãn tấn công vào Kontum 5 ngày thôi, thì ông và Ðại Tá Lý Tòng Bá đủ thời gian phối trí quân và đào công sự vững chắc phòng thủ thị xã này.


    Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá

    Ðường chuyển quân và tiếp vận chính giữa Pleiku-Kontum là Quốc Lộ 14 rất yên tĩnh trong 3 ngày đầu, đến ngày thứ tư thì Cộng quân chiếm và đóng chốt đèo Chu Pao, giao thông bị gián đoạn. Rất may khi Bắc Việt chiếm đèo Chu Pao thì phía VNCH vừa chuyển quân xong. Cộng quân không tiến quân tiếp theo vào Kontum sau 5 ngày như Tướng Ngô Du dự tính mà đến 20 ngày sau.

    Như vậy, có thể cho rằng Sư Đoàn 320 và Sư Đoàn 2 của Cộng quân đã bị tổn thất khá nặng trong các cuộc chạm súng trước đây với lữ đoàn Nhảy Dù và Sư Đoàn 22 BB. Các chiến xa T-54 của họ cũng bị tiêu hao một số tại phi trường Dakto do Không quân VNCH bắn cháy và một số tại đồn Bến Hết do trực thăng Cobra của Hoa Kỳ phá hủy. Vì thế, Tướng Hoàng Minh Thảo cần thời gian củng cố lại đơn vị của ông chớ không thể mở cuộc tấn công mới ngay được.

    Phối trí quân xong tại Kontum, Tướng Ngô Du ngã bịnh nặng, không ăn, không ngũ. Tôi thấy ông ngày đêm ôm tim và nhăn nhó. Trước đó một ngày, ông đã điện thoại Tổng Thống Thiệu và yêu cầu Tổng thống đề cử người thay thế ông. Tại Saigon, Tổng Thống Thiệu và Ðại Tướng Cao Văn Viên tham khảo ý kiến. Cuối cùng, Tổng Thống Thiệu chọn Thiếu Tướng Nguyễn Văn Toàn, và Tướng Toàn đồng ý tử thủ tại Kontum.

    Ðại Tá Lý Tòng Bá, người mà John Paul Vann khẩn thiết yêu cầu Tướng Ngô Du đề nghị Tổng Thống Thiệu đề cử làm Tư Lệnh Sư Đoàn 23 BB, nay đang nằm tại mặt trận chính. John Paul Vann làm việc tại Kontum với Ðại Tá Lý Tòng Bá trong lúc chưa có cố vấn của Sư Đoàn. John Paul Vann nhớ đến Ðại Tá Rhotenberry là người làm cố vấn cho Ðại Tá Lý Tòng Bá tại Bình Dương. Khi đưa Ðại Tá Rhotenberry đến Kontum, John Paul Vann nói: "Ông và tôi phải hết sức yểm trợ Ðại Tá Bá vì tôi đã hứa với Ðại Tướng Abrams là không để mất Kontum. Nếu mất Kontum, thì Kissinger, trưởng phái đoàn Hoa Kỳ tại hoà đàm Paris, sẽ gặp nhiều khó khăn."

    THIẾU TƯỚNG NGUYỄN VĂN TOÀN VÀ QUÂN ÐOÀN 2
    Ðầu tháng 5/1972, Tổng Thống Thiệu bổ nhiệm Thiếu Tướng Nguyễn Văn Toàn giữ chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 thay thế Trung Tướng Ngô Du. Trước khi nhận nhiệm vụ, Tướng Toàn trình diện Ðại Tướng Cao Văn Viên và yêu cầu đại tướng chấp thuận những thay đổi nhân sự do ông đề nghị. Tướng Toàn cho rằng Quân Đoàn 2 thất trận là do Bộ Tham Mưu Quân Đoàn thiếu khả năng. Ðến Pleiku, việc đầu tiên của Tướng Toàn là tập họp các sĩ quan Quân Đoàn lại và xỉ vã nặng lời. Ông chỉ trích Bộ Tham Mưu Quân Đoàn yếu kém, thiếu khả năng tham mưu nên tình hình Quân Đoàn mới đen tối như hiện nay. Ông giận dữ và tỏ ý muốn đưa hết các sĩ quan trong Bộ Tham Mưu ra tuyến đầu với các đơn vị tiểu đoàn và trung đoàn để chiến đấu.

    Sau khi nghe tường trình về tình hình, ông chỉ thị Ðại Tá Vĩnh Phúc, Trưởng Phòng 4 Quân Đoàn, ra làm việc tại phi trường Kontum tiếp nhận vũ khí và đạn dược từ Saigon không vận ra. Thời gian này phi trường Kontum luôn luôn bị pháo kích bằng hỏa tiễn 122 ly, nên có một vài phi cơ C-130 tiếp vận đã bị trúng đạn bốc cháy.

    Tướng Toàn kêu Trưởng Phòng 2 đi cùng với ông lên Kontum. Tôi liền cầm bản đồ theo ông lên trực thăng của vị tư lệnh. Trên trực thăng chỉ huỵ chỉ có ông và tôi cùng sĩ quan đại úy tùy viên. Tôi thấy tướng Toàn rất lo âu, mồ hôi nhễ nhại, mặc dù khí hậu Cao nguyên không nóng. Ông hỏi tôi: "Anh cho tôi biết, chúng ta có đủ khả năng giữ vững được Kontum không?"

    Thời gian bay lên Kontum chỉ 20 phút nên tôi phải trả lời ông rất ngắn gọn. Căn cứ theo các chuyện đã xảy ra tại mặt trận Tân Cảnh, tôi tính toán kỹ và nói: "Thưa thiếu tướng, ta có thể giữ được, mặc dù quân địch có đến 3 sư đoàn (Sư Đoàn 2, 320, và Sư Đoàn 968), ta chỉ có một (Sư Đoàn 23). Nhưng với điều kiện là thiếu tướng và cố vấn John Paul Vann phải thảo luận với nhau không có gì trục trặc xảy ra. Ðại Tá Lý Tòng Bá là người quen rất thân với John Paul Vann đang ở lại mặt trận nên sẽ được John Paul Vann giúp đỡ tận tình."

    Sau này tôi mới biết câu trả lời của tôi đã trùng hợp với lời khuyên của Ðại tướng Cao Văn Viên trước khi Tướng Toàn đi nhận chức: "Ông lên trên đó phải nghe theo cố vấn John Paul Vann mới xong được."

    Ðến Kontum, Ðại Tá Lý Tòng Bá và Ðại Tá Rhotenberry hướng dẫn Tướng Toàn thăm tuyến đầu bảo vệ Kontum về phía Bắc 5 km. Tại đây, các sĩ quan các cấp và các binh sĩ Sư Đoàn 23 BB, mỗi người một chiêc xẻng cá nhân, đang đào công sự phòng thủ. Tướng Toàn vui vẻ an ủi, khích lệ và nhắc nhủ mọi người phải cố gắng chuẩn bị chiến đấu, quyết tâm tử thủ, không để Cộng Sản chiếm một tấc đất nào tại Kontum. Ông chỉ thị cho Ðại Tá Lý Tòng Bá và các trung đoàn trưởng, tiểu đoàn trưởng phải chọn một số binh sĩ can đảm để thành lập ngay các tổ chống chiến xa bằng súng phóng hỏa tiển M-72, cho các binh sĩ này thực tập tác xạ vào các chiến xa hư của VNCH vào ngày kế để họ tin tưởng rằng vũ khí M-72 có thể tiêu diệt được các chiến xa T-54 của Cộng quân.

    Ông cho Ðại Tá Bá biết ông sẽ cho không vận trung đoàn còn lại của Sư Đoàn 23 BB tại Ban Mê Thuột lên Kontum để Ðại Tá Bá có đầy đủ quân số và thống nhất chỉ huy. Về hành chánh, Tướng Toàn chỉ thị Ðại Tá Nguyễn Bá Long tự Thìn, Tỉnh Trưởng Kontum, phải lo trấn an và ủy lạo dân, làm cho họ tin tuởng vào chính phủ và quân đội. Khuyến khích dân chúng phải hết sức ủng hộ Quân Đoàn để tử thủ.

    Trở về Pleiku, tướng Toàn bàn ngay với cố vấn John Paul Vann nhiều giờ về kế hoạch bảo vệ Kontum. Sau đó, ông chỉ thị Ðại Tá Hoàng, Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị Quân Đoàn xử dụng phi cơ C-47 của ông đi Phan Thiết và Saigon mua cá tươi và xoài tượng đem lên phân phát cho các binh sĩ tại Kontum để bữa ăn có thêm chất tươi.

    Về hành quân, Tướng Toàn chỉ thị Trung Tá Nguyễn Ðức Dung chỉ huy Lữ Ðoàn 2 Thiết Giáp với một liên đoàn Biệt Ðộng Quân tăng cường phải đem các chiến xa lên Kontum bằng mọi giá. Ông nói rằng không cần thanh toán các lực lượng địch chốt tại đèo Chu Pao mất thời giờ, phải mở Quốc Lộ 14 bis vòng quanh sau lưng địch để đi. Ông chỉ thị trong 3 ngày phải thực hiện xong cuộc hành quân này. Cuộc hành quân của Trung tá Dung gặp rất nhiều khó khăn vì sức kháng cự của Cộng quân rất mãnh liệt. Nhưng với quyết tâm thi hành đúng chỉ thị của Tư Lệnh Quân Đoàn, Lữ đoàn 2 Thiết Giáp và Biệt Ðộng Quân đã thanh toán được các lực lượng Cộng quân, mở được Quốc Lộ 14 bis quanh đèo Chu Pao đem nhiều chiến xa lên mặt trận Kontum đúng thời hạn.

    Ðoàn xe thiết giáp và Biệt Ðộng Quân qua cầu Dak Bla tiến vào Kontum, đồng bào trong thị xã chạy ra xem rất đông, nồng nhiệt chào mừng và hoan hô vang trời. Ðây là chuyện chưa từng có trước đây. Tướng Toàn gắn cấp bậc đại tá tại mặt trận cho Trung Tá Nguyễn Ðức Dung ở đầu cầu Dak-Bla.

    Tính đến ngày thứ ba, kể từ ngày nhận chức, Tướng Toàn đã tăng cường cho Ðại Tá Lý Tòng Bá Bá một Trung đoàn Bộ Binh, một Liên đoàn Biệt Ðộng Quân, trên 20 chiếc xa thiết giáp, nhiều đạn dược, nguyên liệu, và thuốc men mới được không vận từ Saigon lên. Số đạn dược và nhiên liệu này đủ để bảo đảm cho các đơn vị tại Kontum phòng thủ trong thời gian một tháng. Tình hình Kontum bắt đầu sôi động. Các hỏa tiễn 122 ly của Bắc Việt cứ đều đều rót vào các căn cứ quân sự và phi trường Kontum làm tinh thần dân và quân luôn luôn bị căng thẳng.

    Về tình báo, Tướng Toàn chỉ thị tôi phải báo cáo cho ông biết trước ngày giờ Cộng quân tấn công vào Kontum và làm gấp kế hoạc trải thãm bom B-52 phía Bắc tuyến đầu để ông và John Paul Vann áp dụng kế hoạch khi địch tấn công. Hôm sau, tôi trình lên ông kế hoạch 100 "Box" B52 (mỗi Box chiều dài 3 km, chiều ngang 1 km) chận đứng các mũi tấn công và tiêu diệt các ổ phòng không của quân Bắc Việt, căn cứ vào địa hình, địa vật và tin tức bằng không ảnh. Tướng Toàn và John Paul Vann đã chấp thuận ý kiến của tôi.

    CHỜ ÐỢT TRẬN TẤN CÔNG ÐẦU TIÊN VÀO KONTUM
    Tướng Toàn rất chú trọng đến vai trò tình báo. Lần đầu tiên trong binh nghiệp tôi phục vụ dưới quyền ông. Sau vài ngày làm việc, tôi thấy ông có vẻ có phần tin tưởng nơi tôi, nên tôi càng lo và cố sứ chu toàn nhiệm vụ. Tôi đốc thúc các phần hành chuyên môn, nhất là các toán tình báo kỹ thuật, ngày đêm bám sát địch, không được chểnh mảng trong nhiệm vụ giao phó.

    Ngày 13 tháng 5/1972, nhân viên kỹ thuật báo cáo đã bắt được mật điện của Mặt Trận B3 của Cộng Sản. Trong mật điện này, Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B3 ra lệnh như sau: Mũi tấn công hướng Bắc, Sư Đoàn 2, tăng cường mỗi sư đoàn 10 (chiếc) T-54, ngày giờ tấn công hướng tây bắc Sư Đoàn 320, ngày giờ tấn công 05g00 ngày 14 tháng 5. Tôi vội vàng trình ngay tin này cho Tướng Toàn. Ðọc xong mật điện, ông liền bảo tôi theo ông lên Kontum.

    Trong giao thông của tuyến đầu, Tướng Toàn và Ðại Tá Lý Tòng Bá đi từng hầm để nhắn nhủ từng binh sĩ hãy can đảm nằm yên tại chỗ khi địch tấn công. Tướng Toàn nói: "Khi địch nổ súng thì sẽ có B-52 thả ngay trên đầu địch. Các em phải chịu khó bịt tai lại và hả miệng để bớt áp lực của bom nổ." Áp lực của bom sẽ rất lớn đối với các binh sĩ của VNCH vì theo kế hoạch đã vạch sẵn, B-52 sẽ thả bom sát quân ta ở mức an toàn là 500 mét thay vì 1000 mét như thường lệ.


    Thiếu Tướng Nguyễn Văn Toàn

    Tại hầm chỉ huy Sư Đoàn 23, Tướng Toàn, John Paul Vann, Ðại Tá Bá, Ðại Tá Rhotenberry nghiên cứu trên bản đồ và thảo luận vị trí từng box B-52 sẽ dội bom xuống và thời gian dội. John Paul Vann gọi máy yêu cầu trung tướng chỉ huy Không Quân Chiến Lược Hoa Kỳ (Strategic Air Command) tại Thái Lan để thảo luận với ông về thể tức chuyển đổi các box B-52 cho thật hợp với tình hình mặt trận dưới đất. John Paul Vann cũng điện đàm với Ðại Tướng Abrams tại Saigon khẩn khoản cho ông được xử dụng hết tất cả 25 box B-52 dành để yểm trợ cho 4 vùng chiến thuật trong ngày 14 tháng 5/1972, để Quân Đoàn 2 có thể tiêu địch tối đa.

    Ðề nghị này được Ðại Tướng Abrams chấp thuận. Ðêm 13 rạng 14 tháng 21/1972, Tướng Toàn, John Paul Vann và 2 bộ tham mưu Việt-Mỹ đều thức suốt đêm theo dõi tình hình từng phút và hồi hộp chờ đợi. Phi đoàn A-37 của Sư Đoàn 6 Không Quân VNCH tại Pleiku túc trực 100 phần trăm. Chiếc trực thăng của Chuẩn Tướng John Hill cấp tốc gắn 2 giàn đại liên 12.7-ly bên hông và các xạ thủ luôn túc trực ở trực tăng. Tướng John Hill đang nghĩ dưỡng sức ở Cam Ranh để chờ ngày về nước, cũng đã tình nguyện ở lại để giúp John Paul Vann đối phó với Cộng Sản tại mặt trận Kontum.

    Nhiều cặp phi cơ trực thăng võ trang Cobra của Hoa Kỳ đã ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu kể từ 12 giờ đêm. Hai toán B-52 cất cánh từ đảo Guam và Sattahip ở Thái Lan đã xuất hiện trên bầu trời biển Thái Bình Dương. Tất cả hồi hộp chờ đợi giờ xuất phát (tức 5 giờ sáng).

    Năm giờ kém 5 phút sáng, Ðại Tá Lý Tòng Bá báo cáo trên máy rất lớn, địch đã bắt đầu nổ súng. Trực thăng của Chuẩn Tướng John Hill với 2 khẩu đại liên 12.7-ly cất cánh đầu tiên, tiếp theo là trực thăng của John Paul Vann và sau cùng là trực thăng chỉ huy của Thiếu Tướng Nguyễn Văn Toàn bay về hướng Kontum trong sương mù. John Paul Vann ra lệnh cho phi hành đoàn B-52 bay vào vùng đúng 5 giờ ngày 14/2/72. Tất cả 25 box B-52 đồng loạt bấm nút thả xuống trên 3,000 quả bom đủ loại, từ 100 lbs (cân-anh) đến 500 lbs, gây những tiếng nổ long trời lỡ đất, khói bụi bay mịt mù. Diện tích trải thảm của các phi cơ B-52 là 75 km vuông. Tiếp theo từng đoàn máy bay A-37 và AD-6 của Sư Đoàn 6 Không Quân VNCH bay vào mục tiêu tiếp tục bắn vào các chiến xa và các ổ phòng không địch. Vì bị áp lực quá mạnh của bom, các đơn vị Bắc Việt phải tháo lui về phía sau, nhưng họ lại bị trực thăng của Chuẩn Tướng John Hill và trực thăng võ trang Cobra bọc hậu thanh toán rất nhiều.

    Tại tuyến đầu, 9 chiến xa T-54 của Bắc Việt nằm ngoài khu ném bom của B-52 chạy thẳng vào tuyến phòng thủ của VNCH, nhưng bị các chiến xa phòng thủ bắn cháy mất 6 chiếc. Ba chiếc còn lại muốn rút lui, nhưng các xa đoàn Bắc Việt trong những chiến xa này đã bị sức dội quá mạnh của B-52, không còn chủ động được, nên họ đã bị bắt sống. Một giờ sau, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Toàn và John Paul Vann bay vào vùng thả bom B-52 để kiểm soát. Họ thấy rất nhiều xác của cán binh Bắc Việt.

    Trong suốt ngày 14 tháng 5, 1972, Không Quân VNCH và Hoa Kỳ tiếp tục thanh toán tàn quân và các ổ phòng không Bắc Việt. Trong các cuộc oanh kích này, một phi cơ AD-6 do Thiếu tá Phạm Thặng làm hoa tiêu đã bị phòng không Bắc Việt bắn trúng. Phi cơ rớt ở phía nam Kontum, và Thiếu Tá Thặng tử thương.

    Kế hoạch trải thảm B-52 đã dứt điểm cuộc tấn công đầu tiên của hai sư đoàn Bắc Việt vào Kontum. Theo ước tính về phía Hoa Kỳ, trong cuộc tấn công này, phía Bắc Việt đã thiệt mất 1,000 người và 20 chiến xa T-54. Việt Nam Cộng Hòa thắng trận đầu. Các chiến xa T-54 tịch thâu đã được mang về triển lãm tại Saigon.

    Thị xã Kontum được xây cất bên cạnh bờ sông Dak Bla nằm về hướng bắc. Sông Dak Bla uốn quanh như con rồng rất đẹp và cảnh hai bên bờ sông rất thơ mộng, nước sông chảy mạnh từ hướng đông qua hướng tây. Dân số Kontum khoảng 25,000 người, cả Kinh lẫn Thượng, đa số sinh sống trong thị xã và các vùng phụ cận thị xã. Khoảng 70% dân theo đạo Thiên Chúa. Vì thế, Tòa Giám Mục giáo phận Kontum (gồm Kontum và Pleiku) đã được đặt ở số 44 Trần Hưng Ðạo, Kontum, do Ðức Cha Seitz, một giáo sĩ thừa sai người Pháp làm Giám mục. Ông nói và viết thông thạo cả tiếng Việt lẫn tiếng Thượng. Về sau này ông đã bị Việt Cộng trục xuất sau 30 tháng 4/1975.

    Kế hoạch phòng thủ Kontum được giao cho Sư Đoàn 23 BB của Ðại Tá Lý Tòng Bá. Sư Đoàn này có nhiệm vụ đảm trách ba mặt nặng nhất của tỉnh là đông, tây và bắc. Hướng nam có phần nhẹ hơn nhờ có chướng ngại vật của thiên nhiên là con sông Dak Bla, nên giao cho Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân phụ trách.

    Sự thảm bại trong trận đánh ngày 14 tháng 5/1972 làm tướng Hoàng Minh Thảo đã phải kiểm thảo rất chu đáo để rút kinh nghiệm. Một câu hỏi quan trọng đã được Tướng Hoàng Minh Thảo đặt ra: Tại sao đối phương biết rõ được lực lượng và ngày giờ Cộng quân sẽ tấn công để xử dụng B-52 ồ ạt ? Tướng Thảo đoán rằng có thể kỹ thuật rà bắt điện-đài của đối phương rất cao nên đã bắt được tất cả những mật lệnh mà Bộ Tư Lệnh B3 của ông đã đánh đi.

    Rút kinh nghiệm, tướng Hoàng Minh Thảo không xử dụng điện đài nữa mà xử dùng điện thoại và người để liên lạc. Vì thế, sau ngày 14 tháng 5/1972, cả toán kỹ thuật của Quân Đoàn 2 đều ngạc nhiên không thấy phía Bắc Việt lên máy nữa. Tôi làm phúc trình lên Tướng Toàn về sự việc này và ước tính địch còn khả năng tấn công ta vài đợt nữa trong những ngày sắp tới. Quân Đoàn nên cẩn thận, không nên khinh địch. Tôi đã liên lạc với ông Archer, Trưởng Toán Tình Báo của Toà Ðại sứ Hoa Kỳ và mượn được 2 máy nghe lén điện thoại. Loại máy này rất tối tân, chỉ nhỏ bằng nắm tay, chỉ cần đâm vào dây điện thoại của địch bằng một cây kim rồi cắm máy chui vào bụi cây cách nơi cắm vài trăm thước cũng nghe được các cuộc điện đàm của địch. Tôi liền cho lính Biệt Kích lọt vào các khu hậu cần của địch, xử dụng máy điện thám nghe lén điện thoại của địch, nhưng chưa ghi nhận được điều gì quan trọng.

    VINH NHỤC TRONG NGÀNH TÌNH BÁO
    Ngày 20 tháng 5/1972, Thiếu Tá Hưng, Trưởng Phòng 2 Tiểu Khu Kontum, báo cho tôi biết một tin động trời là đặc công Cộng Sản đã vượt qua sông tiến vào chiếm được gần nửa thành phố. Bị bất ngờ, tôi hoảng hốt chạy vội vào Trung Tâm Hành Quân của Quân Đoàn để tìm hiểu thật hự Ðại Tá Long, Tỉnh Trưởng Kontum, cho tôi biết độ 2 tiểu đoàn đặc công của Cộng quân đã lợi dụng đêm tối có nhiều sương mù, lội qua sông và tiến chiếm được phi trường, kho đạn và khu Tòa Giám Mục trong thành phố. Cuộc giao tranh giữa Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân của Tiểu Khu với đặc công của địch rất dữ dội. Khu dân chúng và khu Tòa Hành Chánh chưa có địch xuất hiện.

    Ðúng 5 giờ sáng, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Toàn được báo cáo về cuộc tấn công này, ông đã hối hả chạy vào Quân Đoàn. Vừa gặp tôi ông liền quát tháo om sòm và dọa đưa tôi ra Tòa án Quân sự. Ông hỏi:"Tại sao để cho đặc công Cộng quân vào chiếm thị xã Kontum mà không hay biết ?". Tôi nghiêm người đứng chịu trận. Biết nói gì bây giờ? Binh sĩ ta hời hợt, mới thắng một trận mà đã khinh dịch. Cấp chỉ huy của ta thiếu đôn đốc và kiểm soát. Cộng quân biết được yếu điểm của ta nên đã lợi dụng địa hình địa vật xử dụng đặc công len lỏi vào thị xã bằng hướng phòng thủ yếu nhất.

    Lúc 6 giờ sáng ngày 20 tháng 5/1972, tướng Toàn và tôi bay lên Kontum. Trên trực thăng, tôi không dám nhìn thẳng vào ông vì biết ông đang nóng giận và lo âu. Ðến Bộ Chỉ Huy của Ðại Tá Lý Tòng Bá, chúng tôi thấy nơi đây đang bị pháo kích nên trực thăng phải tìm cách lượn quanh tránh đạn mới đáp xuống được. Trực thăng vừa đáp xuống thì chúng tôi thấy Ðại Tá Bá và Bộ Tham Mưu của ông đang ra khỏi hầm chỉ huy và hình như đang muốn di chuyển đi nơi khác.

    Mặc dù tiếng đại liên và AK-47 nổ chát chúa rất gần, Tướng Toàn vẫn bình tĩnh nói lớn với Ðại Tá Bá: "Tử thủ, ông và tôi không chết nơi đây đâu! Không chạy đi đâu hết". Ông yêu cầu Ðại Tá Bá cho biết tình hình như thế nào. Ðại Tá Bá chỉ vào khu nghĩa địa của thành phố cách hầm chỉ huy của ông độ 300 mét và cho biết một đại đội đặc công của địch đang cố thủ ở đó. Ông đã xử dụng một đại đội trinh sát tinh nhuệ nhất của sư đoàn vào nằm chiếm lại khu vực này nhưng gặp sự kháng cự rất mãnh liệt, 2 chiến xa bị cháy, đại đội trinh sát không tiến lên được.

    Tướng Toàn bảo đưa máy cho ông chỉ huy và chỉ thị trong máy:
    - Tư Lệnh Quân Đoàn ra lệnh! Bằng mọi giá phải thanh toán sạch đặc công Cộng Sản đó. Tôi đang đứng đằng sau các anh và chờ kết quả."

    Bên kia đầu máy trả lời:
    - Nghe lệnh! Tin Mặt Trời rõ! Tôi đang thi hành!

    Tiếng đại liên trên 3 chiến xa đang nổ dòn trong khu nghĩa địa.

    Trong khi đặc công tràn vào thành phố, Chuẩn Tướng John Hill dùng trực thăng có gắn 2 khẩu đại liên 12.7 ly bay quan sát vùng Võ Ðịnh (phía bắc Kontum khoảng 15 km) và thấy nhiều đơn vị Cộng quân di chuyển về hướng Nam, ông liền tác xạ liên tục và báo cho John Paul Vann biết để xử dụng B-52. Ngay hôm đó, John Paul Vann đã xử dụng trên 10 Box B-52 để làm giảm áp lực của địch. Thiếu Tướng Toàn quan sát mặt trận và chỉ thị thêm cho Ðại Tá Bá đề phòng tuyến đầu vì địch có ý định tấn công phía trước trong khi ta đang bấn loạn bên trong.

    Sau một giờ đánh nhau ác liệt với đặc công của địch, Ðại đội trưởng Ðại Ðội Trinh Sát báo cáo trong máy:
    - Trình Mặt Trời ! Tôi đã thanh toán xong đặc công tại khu nghĩa địa.

    Ðại Tá Nguyễn Bá Long tự Thìn, Tỉnh Ttrưởng Kontum, chạy qua trình diện Tướng Toàn đã bị xỉ vả một trận tơi bời. Sau đó, Tướng Toàn bảo Ðại Tá Long cùng ông lên xe chạy thẳng vào khu Tòa Giám Mục và nói: "Có gì ông chết tôi cũng chết." Ðại Tá Long hướng dẫn Tướng Toàn đến quan sát các ổ kháng cự của đặc công Cộng quân trong các tòa nhà được xây cất kiên cố từ thời Pháp trong khu Tòa Giám Mục, đang chống trả với Ðịa Phương Quân. Tướng Toàn liền tăng cường cho Ðại Tá Long 5 chiến xa, một liên đoàn Biệt Ðộng Quân, và chỉ thị nếu cần phải bắn sập một vài tòa nhà trong khu Tòa Giám Mục để tiêu diệt đặc công thì cứ làm, sau này chính phủ sẽ xây cất lại, nhưng phải cố gắng đừng gây thiệt hại về nhân mạng cho dân chúng đang ở trong khu. Hai ngày sau, Ðại Tá Bá và Ðại Tá Long mới thanh toán sạch sẽ các lực lượng đặc công Cộng quân trong thành phố. Bên ta chỉ bị thiệt hại nhẹ.

    Trong trận chiến Kontum, Trực thăng chỉ huy của Ðại Tá Long đã một lần bị địch bắn rơi, nhưng ông may mắn không chết. Sau 30 tháng 4/1975, Ðại Tá Long phải đi học tập cải tạo và bị chuyển ra Bắc. Ông là vị đại tá VNCH đầu tiên chết trong trại cải tạo tại miền Bắc. Việt Cộng bắt ông phải gánh nước hàng ngày, ông bị té bể xương chậu và nằm đau đớn cho tới chết vì cán bộ trại giam không cho ông thuốc men hay đưa đi bệnh xá để cứu chữa. Ðại Tá Nguyễn Bá Long tự Thìn đã tốt ngiệp Khóa 8 Sĩ Quan Ðà Lạt và đậu thủ khoa. Ông là một sĩ quan rất giỏi về cả tham mưu lẫn tác chiến.

    CUỘC TẤN CÔNG ÐỢT 3
    Cuộc tấn công của đặc công Cộng quân đã bị thanh toán trong 3 ngày. Các đơn vị chính qui của Cộng quân được bố trí xung quanh để tiến vào thị xã hợp đồng tác chiến với đặc công nhưng đã bị hỏa lực B-52 và Không Quân VNCH tiêu diệt. Cuộc tấn công đợt hai của tướng Hoàng Minh Thảo tiến chiếm Kontum coi như thất bại. Trong những ngày kế tiếp, Bắc Việt trả đũa bằng bằng cách pháo kích vào thị xã liên tục ngày đêm, bất kể khu quân sự hay dân sự. Kontum luôn luôn ở trong tìn trạng căng thẳng.

    Tôi làm tờ trình ước tính tình báo lên Tướng Toàn và John Paul Vann là Bắc Việt còn khả năng tấn công ta đợt ba trong vòng 10 ngày tới. Sư Đoàn 968 trừ bị của Mặt Trận B3 còn chưa ra quân. Ước tín mức độ và cường độ đợt 3 sẽ yếu hơn đợt 1. Tướng Toàn và John Paul Vann tiếp tục nghiên cứu và xử dụng kế hoạc 100 box B-52 mà tôi đã trình khi Tướng Toàn mới nhận chức. Paul Van có uy tín với Ðại tướng Abrams nên được xử dụng nhiều box B-52 hơn các quân đoàn khác.

    Ðúng 5 giờ sáng ngày 28 tháng 5/1972, Cộng quân mở đợt tấn công lần thứ ba vào Kontum bằng 3 mũi chính:
    - Mũi thứ nhất từ hướng bắc do lực lượng của Sư Đoàn 2.
    - Mũi thứ nhì từ hướng tây-bắc do lực lượng của Sư Đoàn 320.
    - Mũi thứ ba từ hướng nam do lực lượng của Sư Đoàn 968.
    Trong đợt tấn công này họ không xử dùng chiến xa T-54.

    Hai mũi tấn công 1 và 2 đã gặp sự kháng cự mãnh liệt của các đơn vị thuộc Sư Đoàn 23 BB. Bộ đội Bắc Việt xung phong nhiều đợt để cố chiếm tuyến phòng thủ đầu nhưng đều bị đẩy lui. Phi cơ chiến đấu của Sư Đoàn 6 Không Quân tại Pleiku xuất trận liên tục để yểm trợ quân bạn tại tuyến đầu.

    Mũi tấn công thứ 3 do lực lượng Sư Đoàn 968, một lực lượng trừ bị của Tướng Hoàng Minh Thảo phụ trách. Lực lượng này mới tham gia trận Kontum lần đầu, chưa gặp hỏa lực B-52 nên khí thế có vẻ mạnh hơn mũi 1 và 2.

    Sông Dak Bla bọc quanh phía Nam thị xã là một chướng ngại vật thiên nhiên ngăn chặn không cho địch tiến quân một các dễ dàng. Sư Đoàn 968 cố gắng vượt sông nhưng bị các phòng tuyến của Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân ngăn chặn. John Paul Vann đã xử dụng các phi tuần của Không Quân Hoa Kỳ cất cánh từ Thái Lan trợ chiến, sau đó ông mới gọi các phi vụ B-52 đến trải thảm bom.

    Trong ngày 28 tháng 5 này, John Paul Vann cũng được Ðại Tướng Abrams cấp hết 25 box B-52 cho mặt trận Kontum. Hai bên quần thảo nhau suốt ngày; đến tối phía Bắc Việt vẫn không chiếm được vị trí nào của ta. Tướng Hoàng Minh Thảo thấy không thể kéo dài cuộc tấn công vì sợ B-52 đến dội bom, đã ra lệnh rút lui.

    Trận chiến Kontum kéo dài đến ba tháng. Bắc Việt không chiếm được thị xã mà còn bị thiệt mất một số quân khá lớn. Theo ước tính của giới chức quân sự Hoa Kỳ, trong trận đánh kéo dài này, Mặt Trận B3 của Tướng Hoàng Minh Thảo bị thiệt mất khoảng một sư đoàn rưỡi, 30 chiến xa T-54 và nhiều đại pháo cùng phòng không bị thiêu hủy. Sau trận này, Sư Đoàn 2 (Sư Ðoàn Sao Vàng) của Bắc Việt đã bị xóa tên.

    Ngày 31 tháng 5/1972, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lên Kontum ủy lạo binh sĩ và gắn cấp bậc Chuẩn Tướng cho Ðại Tá Lý Tòng Bá.

    Cố Ðại Tá Trịnh Tiếu

  2. The Following 9 Users Say Thank You to KiwiTeTua For This Useful Post:

    ducquany (08-13-2019), hoang yen (08-14-2019), khongquan2 (08-13-2019), ks.nhiem (08-14-2019), muahong (08-18-2019), Nguyen Huu Thien (08-13-2019), saomai (08-12-2019), TH-72G (08-22-2019), ttmd (08-20-2019)

  3. #2
    Moderator
    Nguyen Huu Thien's Avatar
    Status : đang online
    Tham gia: Jul 2014
    Posts: 463
    Thanks: 2,073
    Thanked 1,462 Times in 399 Posts

    Default


    Trên Diễn Đàn này tôi đã có lần nhắc tới John Paul Vann, nhân vật chính trong cuốn A Bright Shining Lie của tác giả Neil Sheehan, một bestseller đã đem lại cho tác giả hai giải thưởng cao quý National Book Award (for Non-fiction) năm 1988, và Pulitzer Prize (for General Non-fiction) năm 1989.

    A Bright Shining Lie đã được người Mỹ dựng thành phim và được Cộng Sản Việt Nam cho người dịch sang tiếng Việt (Sự Lừa Dối Hào Nhoáng, nxb Công An Nhân Dân, 2003)

    Một cách ngắn gọn, Neil Sheehan, nguyên là một phóng viên nổi tiếng của tờ New York Times, là một tác giả có sức thu hút độc giả nhưng thiếu lương tâm, John Paul Vann là một người chống cộng nhưng có đầu óc võ đoán và cung cách “thái thú” (có lẽ nên viết John Paul Vann “thích trò chơi chiến tranh” thì chính xác hơn là “chống cộng”).

    Ngày ấy ở Quân Đoàn II, chúng tôi ghét John Paul Vann chỉ vì đầu óc võ đoán và cung cách “thái thú” ấy. Mãi sau này đọc hồi ký Mặt Trận Tân Cảnh - Kontum 1972 của cố Ðại tá Trịnh Tiếu mới biết John Paul Vann còn là một con người tàn nhẫn, đã quay lưng để quân CSBV tràn ngập Tân Cảnh, xóa sổ Sư Đoàn 22BB của QLVNCH, chỉ vì ông ta không ưa vị Tư lệnh Sư đoàn, Ðại tá Lê Ðức Ðạt.

    Tôi vẫn còn nhớ buổi sáng hôm ấy, mặt trời chưa mọc, khi địch quân đang tràn ngập Tân Cảnh, hai trực thăng UH-1 của Phi đoàn 229 do đích thân Thiếu tá PĐT Lê Văn Bút chỉ huy, còn cố đáp xuống Tân Cảnh để cứu “Soleil Đạt” nhưng không nghe tiếng ông trả lời trên tần số... Một trong hai chiếc UH-1 đã phải bỏ lại trên ngọn đồi này!

    Vẫn biết không phải người Mỹ nào cũng xấu, cũng khinh miệt QLVNCH, cũng xuyên tạc đầy ác ý, nhưng vì cả John Paul Vann lẫn Neil Sheehan đều tệ hại tới mức cùng cực, mỗi khi nhắc tới tên, nhìn thấy hình của họ, nhớ lại cuộc chiến vừa qua cùng những hệ lụy của nó, tôi không khỏi thương tội dân tộc tôi ngày ấy đã phải "làm bạn" với người Mỹ.

    Nguyễn Hữu Thiện




    Trích “Mặt Trận Tân Cảnh - Kontum 1972”, Ðại tá Trịnh Tiếu:

    Trong những ngày 20, 21 và 22 tháng 4/1972, các sư đoàn Bắc Việt áp sát bao vây Tân Cảnh. Khi đã khám phá đầy đủ các vị trí của họ, tôi trình Tướng Ngô Du phải diệt địch ngay bằng B-52 theo như kế hoạch trước đây mà ông và John Paul Vann đã tính toán. Nhưng John Paul Vann đã từ chối xử dụng B-52, vì trong thâm ý, ông không muốn yểm trợ cho Ðại Tá Lê Ðức Ðạt. Tướng Ngô Du nổi giận la to "Ông John Paul Vann, ông là bạn hay là kẻ thù của tôi?" John Paul Vann làm thinh bỏ đi. Ông dùng trực thăng bay xuống mặt trận Bắc Bình Ðịnh.

    ...Khoảng 2 giờ sáng ngày 24 tháng 4/1972, 15 chiến xa Bắc Việt bao vây căn cứ Tân Cảnh. Ðại Tá Philip Kaplan yêu cầu John Paul Vann lên cứu ông vào lúc 4 giờ khi trời chưa sáng tại bãi đáp rất nhỏ bên cạnh bãi mìn. Ðại tá Kaplan cho Ðại Tá Ðạt biết và yêu cầu cùng lên trực thăng cấp cứu của John Paul Vann nhưng Ðại Tá Ðạt từ chối. Ðại Tá Ðạt biết tình hình rất bi đát, địch sẽ tràn ngập căn cứ vào khoảng 7 giờ sáng, nhưng ông không yêu cầu Tướng Ngô Du lên cứu như Ðại tá Kaplan đã làm. Ông ra lệnh cho tất cả các sĩ quan và binh sĩ còn lại tìm cách thoát ra ngoài trước khi trời sáng...

    Ðại Tá Lê Ðức Ðạt đã ở lại trong căn cứ Tân Cảnh. Theo lời Ðại Tá Kaplan, có lẽ Ðại Tá Ðạt đã tự sát sau khi đồn Tân Cảnh bị Cộng quân tràn ngập. Ðó là ngày 24 tháng 4/1972, lúc 10 giờ sáng...

  4. The Following 8 Users Say Thank You to Nguyen Huu Thien For This Useful Post:

    BachMa (08-13-2019), hoang yen (08-14-2019), khongquan2 (08-13-2019), KiwiTeTua (08-14-2019), ks.nhiem (08-14-2019), muahong (08-18-2019), saomai (08-15-2019), TH-72G (08-22-2019)

  5. #3
    Moderator
    Nguyen Huu Thien's Avatar
    Status : đang online
    Tham gia: Jul 2014
    Posts: 463
    Thanks: 2,073
    Thanked 1,462 Times in 399 Posts

    Default

    “...Phi cơ chiến đấu của Sư Đoàn 6 Không Quân tại Pleiku xuất trận liên tục để yểm trợ quân bạn tại tuyến đầu.”

    Xin được một lần nữa vinh danh các cánh chim "Biên Trấn" ngày ấy, còn ở chốn này hay đã khuất xa, cách riêng người hùng Thặng “fulro”, gẫy cánh chiều 26/5/1972.



  6. The Following 8 Users Say Thank You to Nguyen Huu Thien For This Useful Post:

    BachMa (08-17-2019), ducquany (08-14-2019), hoang yen (08-14-2019), khongquan2 (08-22-2019), ks.nhiem (08-14-2019), muahong (08-18-2019), saomai (08-15-2019), TH-72G (08-22-2019)

  7. #4
    TH-72G's Avatar
    Status : TH-72G v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Nov 2009
    Nguyên quán: vietnam
    Posts: 321
    Thanks: 229
    Thanked 607 Times in 231 Posts

    Default


    Cố vấn John Paul Vann của Quân đoàn II:

    Bộ chỉ huy sư đoàn 22 Bộ Binh ở Tân Cảnh.



    Lính Thượng ở Tân Cảnh.

  8. The Following 4 Users Say Thank You to TH-72G For This Useful Post:

    hoang yen (08-22-2019), khongquan2 (08-22-2019), KiwiTeTua (08-26-2019), Nguyen Huu Thien (08-22-2019)

Similar Threads

  1. Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 07-24-2019, 06:26 PM
  2. Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 07-24-2019, 06:13 PM
  3. Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 05-13-2019, 11:26 AM
  4. Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 01-15-2019, 04:56 PM

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter