kết quả từ 1 tới 2 trên 2

Tựa Đề: Vụ đánh chìm tàu 645 của Cộng sản Bắc Việt - Trần Lý

  1. #1
    Administrator
    khongquan2's Avatar
    Status : đang online
    Tham gia: May 2011
    Posts: 2,019
    Thanks: 14,072
    Thanked 6,077 Times in 1,572 Posts

    Default Vụ đánh chìm tàu 645 của Cộng sản Bắc Việt - Trần Lý

    Vụ đánh chìm tàu 645 của Cộng sản Bắc Việt

    Trần Lý



    Ngày 24 tháng 4 năm 1972, chiến hạm HQ-4 (Trần Khánh Dư) của Hải quân VNCH đã đánh chìm một chiếc tàu vận chuyển võ khí để tiếp viện cho chiến trường miền Nam của Cộng sản Bắc Việt. Chiếc tàu bị bắn chìm tại vùng biển Phú Quốc.

    Hải sử tuyển tập (Tổng hội Hải quân & Hàng hải-Ấn bản 2004) đã viết về vụ này dưới tên 'HQ-4 đánh chìm tàu địch 'trang 135-140, và theo tác giả Phan lạc Tiếp viết theo lời kể của HQ Trung tá Nguyễn kim Khánh Hạm phó HQ-4 thì HQ-4 đã tìm ra và theo dõi chiếc tàu vận chuyển này từ vùng vịnh Phan Thiết..để cuối cùng đánh chìm tàu địch trong vùng biển Phú Quốc...

    Chiến tích 'đặc biệt' này đã 'quên' không nhắc nhở đến việc theo dõi chiếc tàu vận chuyển 645 của CSBV từ nơi xuất phát đến điểm bị bắn chìm, từ ngày 10 tháng 4 đến ngày..giao nhiệm vụ bắn chìm chiếc tàu này cho HQVNCH của Chiếc tàu ngầm nguyên tử USS Sculpin SSN-590 của HQ Hoa Kỳ..Sculpin đã theo sát chiếc 645 trong cuộc hải trình kéo dài gần 2500 hải lý trên biển Đông..

    Sculpin đã xin lệnh đánh chìm 645 bằng thủy lôi, nhưng bị từ chối và dành chiến tích lại cho HQVNCH.


    Do công trạng này, USS Sculpin SSN-590 trở thành chiếc tàu ngầm duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được ban thưởng Anh dũng Bội tinh của VNCH trong suốt cuộc chiến tranh VN.
    (Bài viết được dựa theo The Sculpin's lost mission : A nuclear Submarine in the Vietnam War, đang trên Tạp chí Naval History của US Naval Institute Số February 2008)

    Theo 'Hải sử Tuyển tập' trong suốt cuộc chiến tranh VN từ 1960 đến 1972, CSBV đã tìm nhiều cách để đưa vũ khí và tiếp liệu vào miền Nam theo đường biển..Lúc đầu BV dùng các loại thuyền gỗ nhỏ trọng tải dưới 10 tấn, ngụy trang dưới dạng thuyền đánh cá ven biển. Lực lượng này được gọi là Đoàn 604. Tuy nhiên, từ tháng 12 năm 1962, Hà Nội lập Đoàn 125 sử dụng các tàu sắt lớn, trọng tải trên 100 tấn để phục vụ cho nhu cầu tiếp liệu cho chiến trường miền Nam..(Tình báo Hoa Kỳ gọi chung các tàu này là trawler=tàu đánh cá bằng lưới kéo)

    Ngày 16 tháng 2 năm 1965, chiếc tàu vận chuyển số 143 của CSBV bị phát giác và sau đó bị đanh chìm tại Vũng Rô trong chuyến xâm nhập thứ 23 của con tàu vào bờ biển VNCH..

    Sau Vũng Rô, còn có thêm 13 vụ tàu BV xâm nhập, bị săn đuổi và bị đánh chìm trong các vùng biển VNCH. Vụ tàu 645 được xem là vụ cuối cùng..

    Vụ Vũng Rô đã khởi đầu cho một chương trình chống BV xâm nhập bằng đường biển, phối hợp hoạt động giữa Hải quân HK và HQVNCH. Chương trình được đặt tên là Operation Market Time.

    USS Sculpin (SSN 590) bắt đầu nhận nhiệm vụ tuần tiễu ngoài khơi đảo Hải Nam từ ngày 10 tháng 4 năm 1972, và sau khi đối chiếu với hình ảnh những loại tàu đánh cá và chuyển vận thường gặp trong vùng biển Đông Nam Á, Hạm trưởng (Đại tá) Harry Mathis đã tìm được một chiếc tàu khả nghi vào ngày 12 tháng 4..

    Tàu di chuyển hướng về vùng biển phía Tây Phillippines, một hải trình bất bình thường của một tàu đánh cá. Sculpin theo dõi và không lâu sau đó, chiếc trawler này đổi hướng, quay xuống phía Nam..phù hợp với sự nghi ngờ.. Chân vịt và tiếng động tạo ra của chiếc Tàu đánh cá này có những đặc điểm rõ rệt mà sonar của tàu ngầm ghi nhận dễ dàng nên Sculpin không cần phải nổi lên mặt nước để quan sát..và bám theo..

    Chiếc tàu đánh cá khả nghi này dài khoảng 200 feet (65m), tương đối lớn và có khả năng đi biển dài ngày, hoạt động ngoài biển khơi. Sculpin đã dùng tiềm vọng kính để quan sát tuy nhiên để tránh bị phát gíác trong một vùng biển tương đối 'lặng' nên Sculpin giữ tình trạng vừa lặn vừa bám sát. Chiếc trawler di chuyển với vận tốc khoảng 11 knots..và để có thể theo dõi một cách bi mật, trao đổi vô tuyến với Bộ Chỉ huy Hạm đội 7, sử dụng tiềm vọng kính khi cần thiết, Sculpin phải hải hành dưới mặt nước với vận tốc từ 18 đến 20 knots.

    Một trở ngại khác là chiếc tàu trawler, khi di chuyển về phía Nam đã chọn một thủy lộ đi qua một khu vực được ghi trong hải đồ của vùng biển Đông Nam Á là 'khu vực nguy hiểm' (một vùng biển rộng khoảng 180 hải lý và dài 300 hải lý, tuy thềm tương đối bằng phẳng nhưng độ sâu chỉ khoảng 200 ft.. ngoài ra dưới đáy còn có thể có đá ngầm, xác tàu chìm và nhiều chướng ngại vật khác..Sculpin đã phải tránh khỏi khu vực và trao việc theo dõi cho phi cơ tuần thám P-3 Orion, yêu cầu phi cơ theo dỏi từ trên cao bằng radar, tránh việc bay ngang trên đầu chiếc trawler để tàu biết là đã bị phát giác để quay trở về nơi xuất phát..

    USS Sculpin đổi hướng về phía Tây, rồi quẹo xuống Nam và trở lại đón đầu chiếc trawler sau khi qua khỏi 'vùng nguy hiểm'. Đùng như dự đoán, chiếc trawler với tiếng động quay của chân vịt quen thuộc lại xuất hiện, Phi cơ P-3 giao trả nhiệm vụ và Sculpin đã đến gần hơn, dùng tiềm vọng kính để quan sát và xác định 'con mồi'.

    Chiếc trawler tiếp tục di chuyển về phía Nam theo thủy lộ ngoài khơi Borneo, nơi có nhiều giàn khoan dầu..Với tàu ngầm, hoạt động của các dàn khoan gây nhiều khó khăn cho việc theo dõi bằng sonar dò tìm tiếng động của chân vịt, nên Sculpin đã phải dùng đến tiềm vọng kính nhiều hơn..

    Sau đó, cuộc hải trình tiếp tục đi đến khu vực Natunar Besa và đi vào Vùng Vịnh Thái Lan theo một thủy lộ quốc tế rất đông tàu bè qua lại di chuyển giữa Singapore và Hong Kong. Sculpin không thể dùng sonar, đành tiếp tục theo bằng tiềm vọng kính, tránh né những tàu buôn to lớn đang di chuyển..Vùng Vịnh Thái Lan, nơi nhiệt độ nước lên đến 86 độ F (được xem là..nóng với tầu ngầm), độ sâu chỉ khoảng 110 ft, mặt biển phẳng lặng như tấm gương soi, giăng đầy phao và lưới đánh cá..chưa kể đến rất nhiều thuyền cá hoạt động. Đường chân trời mờ nhạt, Sculpin phải hoạt động ở độ sâu chỉ 6 fathoms, và khá gần duyên hải.

    Khi Trawler 465 di chuyển xa hơn về phia Nam, rồi chuyển hướng rỏ ràng về phia Tây và sau đó Tây-Bắc: chiếc tàu đã cho thấy đây thực sự là một tàu vận chuyển vũ khí và tiếp liệu của CSBV đang tìm vào nơi 'đổ hàng'. Sculpin nhận được lệnh từ MACV: chụp ảnh đối tượng và sửa soạn thanh toàn đối tượng bằng thủy lôi.. Muốn chụp ảnh, Sculpin phải di chuyển nhanh hơn, vượt qua chiếc trawler rồi chờ để khi trawler chạy ngang..Khả năng bị trawler phát giác là đang bị theo dõi lên cao do tình trạng biển lặng và khối 'u' của tàu ngầm nhô khỏi mặt nước khi phải di chuyển thật nhanh, chưa kể độ rẽ sóng. Để giải quyết, Hạm trưỡng quyết định, tàu sẽ lặn ỡ độ sâu nhất có thể được, dưới mặt nước khoảng 90 ft, chỉ còn 20 ft là đụng thềm biển: kính tiềm vọng chỉ nhô lên 6 inches trong vòng 10 giây, đủ để chụp hình..Ảnh chụp được rất rõ thấy cả được 3 người trên trawler đang nhìn về phía ống kính.

    Ngay sau khi chiếc trawler chuyển sang hướng Tây-Bắc, trong khi Sculpin trao đổi vô tuyến với Bộ Chỉ huy, trawler biến dạng, làm gián đoạn cuộc theo dõi trong gần 2 tiếng..Tuy nhiên như dự đoán, hải trình của trawler đang là Tây-Bắc, giữa Vịnh Thái Lan, cách bờ biển VNCH khoảng 100 miles. Sonar của Sculpin ghi nhận được tiếng quay quen thuộc của chân vịt..Với ánh sáng của một đêm trăng tròn, Sculpin ghi nhận được cả các đèn trên trawler. Đột nhiên chiếc trawler ngưng máy và tắt đèn: sonar không ghi nhận tiếng chân vịt. Sculpin cho mở hệ thống radar nhưng gặp trở ngại..không thể xác định là trawler còn tại chỗ hay đã di chuyển theo vận tốc chậm đi một nơi khác?

    Sculpin thông báo về 'sự kiện mất dấu' này, tạo ra một sự 'hoảng hốt' tại Bộ Chỉ huy ở Saigon vì Bộ CH đã yêu cầu Hải Quân VNCH 'giàn' lực lượng ngăn chặn..theo đúng các tin tức do Sculpin thông báo..Sculpin tiếp tục di chuyển thật nhanh trong đêm để đến một điểm 'dự đoán' (tuy không chắc) là 'có thể chặn đầu chiếc trawler. Ngay sáng sớm, Sculpin đã liên lạc với phi cơ tuần thám P-3 để cung cấp chi tiết về chiếc trawler đang..lạc, đặc điểm rõ rệt nhất là sơn màu trắng.. P-3 cho biết đã thấy khá nhiều tàu bè trong khu vực và chỉ một chiếc sơn màu trắng..và sau khi bay thấp qua.. mục tiêu đã được xác định.. Sculpin được hướng dẫn đã tìm lại đối tượng đang theo dỏi..

    Ban đầu MACV đã xin lệnh cho đánh chìm chiếc trawler này bằng thủy lôi phóng từ Sculpin, nhưng không được chấp thuận. Hải Quân Đô Đốc McCain Tư lệnh Vùng Thái bình dương đã từ chối lời yêu cầu cho phép này và dành việc 'thanh toán' chiếc trawler này cho Hải Quân VNCH..

    Hải sử Tuyển tập viết theo lời kể của Hạm phó HQ-4 Nguển Kim Khánh về vụ này như sau:

    ''2 giờ chiều, tàu rời bến Saigon. Cẩn thận tối đa và tới cửa Cap Saint Jacques vào 5 giờ chiều. Với các chi tiết đã được cung cấp HQ-4 tiến thẳng ra vùng vịnh Phan Thiết (?). Radar mở tối đa, bán kính bao vùng 32 hải lý. Chỉ sau mấy giờ đồng hồ, echo địch đã hiện ra. HQ-4 lại gần tàu địch vơi một phân đội hải hành sẳng sàng trong nhiệm sở tác chiến. Lúc ấy tàu địch ở ngoài hải phận quốc tế, cách bờ từ 25 đến 30 hải lý. Quan sát tàu, kiến trúc đúng như hình ảnh đã được cung cấp. Trên tàu địch chỉ có các ô vuông phủ lưới. Thấy bị theo dõi, tàu địch hướng mũi về phía Hong Kong.

    Ta đi theo, xa xa trong tầm kiểm soát của radar. Sau tàu địch đổi hướng vào vủng Cà Mâu..Đợi địch vào sâu hơn nữa, ta xả hết máy theo sát nó. Sáng ngày 24 tháng 4 năm 1972, tàu địch ở giữa vùng biển từ Phú Quốc đến Thổ Châu. Trên tàu địch không treo quốc kỳ của bất cứ quốc gia nào. Tàu ta và tàu địch rất gần nhau. Ta đánh đèn hỏi, tàu địch vẫn giữ im lặng. Tàu ta đi sát hơn, dùng cờ hiệu hỏi, tàu địch vẫn lầm lì không phản ứng gì. Trên ống nhòm, hình dáng, bộ mặt các nhân viên trên tàu địch rất là Việt Nam. Không còn nghi ngờ gì nữa HQ-4 ở nhiệm sở tác chiến toàn diện. Và tất nhiên mọi diễn tiến đều được thông báo bằng âm thoại tới Trung Tâm Hành quân tại SàiGòn. Tàu ta HQ-4 dùng loa kêu gọi: ''các anh hãy dừng máy, kéo cờ trắng đầu hàng, chúng tôi sẽ cho các anh hưởng quy chế chiêu hồi.. 'Tàu địch hình như ở trong tình trạng hôn mê. Bỗng chúng kéo quốc kỳ Trung cộng lên cột cờ. Hạm trưởng Nguyễn Ngọc Rắc rất tin tưởng vào các xạ thủ của khẩu 76 ly 2 tại mũi tàu. Ông nhắc: 'khi cần chỉ một mình khẩu này bắn thôi..'Tàu mình và tàu địch vẫn chạy song song, hương mũi vào Phú Quốc. Và thật nhẫn nại, vừa theo sát vừa bắc loa kêu gọi, tàu địch vẫn cứ lì. Lệnh từ chính Tư lệnh HQ, Đề đốc Trần văn Chơn bằng âm thoại: ''Theo đúng luật hàng hải quốc tế, hãy bắn 2 phát trước tàu địch để cảnh cáo. Nếu tàu địch không ngưng máy, kéo cờ trắng, hãy bắn thẳng vào tàu địch''. Sau 2 phát đại bác, tàu địch vẫn lầm lì tiến. Hạm trưởng Rắc ra lệnh bắn thẳng vào đài chỉ huy. Khẩu 76 ly 2 do xạ thủ Huệ bóp cò. Chỉ một phát, tàu dịch nghiêng. Trên tàu địch tán loạn. Phát thứ 2, tàu địch bốc cháy và từ từ chìm trong vòng mấy phút..'


    HQ-4 thà xuồng cứu nạn và vớt được hơn 10 thủy thủ CSBV còn sống sót. Cũng theo Tác giả Phan Lạc Tiếp (cho biết là có mặt tại TT Hành Quân HQ) thì khi nhận được báo cáo trực tiếp, Đô đốc Chơn đã cười và lấy khăn ..lau mồ hôi trán..

    Hạm trưởng USS Sculpin ghi tiếp vụ đánh chìm chiếc 645 của CSBV như sau:

    Lực lượng trên mặt biển, do một Destroyer Escort (VN gọi là Khu trục hạm) truy hỏi chiếc trawler, kéo cờ Trung cộng và treo cờ hải hành cho biết là tàu đánh cá. Hạm trưởng chiến hạm VN lưỡng lự, e ngại có thể gây ra một rắc rối quốc tế..tuy nhiên Sculpin đã liên lạc được với một sĩ quan liên lạc của HQHK có mặt trên chiến hạm VN qua đường dây vô tuyến ngầm (UQC underwater telephone). Đầu tiên ông yêu cầu xác định đối tượng, đúng là chiếc trawler đã bị theo dõi? Sculpin đã xác nhận đây là chiếc tàu vận chuyển đã bị theo sát từ khi khởi hành tại đảo Hải Nam, trên suốt hải trình 2500 hải lý vả đề nghị dùng mọi biện pháp cần thiết để giải quyết..Sculpin tiếp tục dùng tiểm vọng kính để theo dõi vụ HQVN bắn chìm tàu 645, tiếng nổ phụ do chất nổ chở tên tàu khi phát cháy, và khi chìm đã gây rung động Sculpin..

    Vẫn theo 'Hải sử Tuyển tập': Hà Nội đã viết về vụ này như sau:

    Theo tài liệu chính thức của Hà Nội. Lịch sử Hải quân Nhân dân Việt Nam, dự thảo tóm tắt, trang 140, nguyên văn như sau:

    '..Trung tuần tháng 4, đoàn lại tiếp tục giao nhiệm vụ cho tàu 645 đưa một chuyến hàng nữa vào Quân khu 9. Trên đường đi, tàu đã lợi dụng mọi yếu tố bất ngờ vượt qua các tuyến tuần tiễu của địch gồm hàng chục tàu chiến, máy bay trinh sát của Mỹ và Ngụy. Đến ngày 24 tháng 4, khi tàu chuyển hướng vào bờ thì gặp địch và xẩy ra chiến đấu. Với âm mưu nham hiểm định bắt sống tàu ta, bọn địch dùng mọi thủ đoạn chiến tranh tâm lý, dụ dỗ, mua chuộc và đe dọa lung lạc ý chí cán bộ, chiến sĩ tàu 645. Sau một thời gian tác động, kêu gọi, chiêu hồi không được, bọn địch liền dùng đại bác bắn vào ta. Thực hiện kế hoạch đã bàn sẵn, tàu 645 chưa bắn trả lại vội, vừa dập lửa cứu máy vừa tiếp tục vận động bình thường để nghi binh nhử địch đến gần. Sau mấy loạt đạn 76.2 mi li mét bắn tới tấp, không thấy tàu ta phản ứng gì, chiếc tàu khu trục địch ngưng bắn, tiến sát lên ngang hông tàu 645. Chỉ chờ thời cơ ấy, tàu 645 bất ngờ tăng hết tốc độ nhắm thẳng tàu địch lao tới. Trong giở phút quyết liệt một mất một còn với kẻ thù, thiếu úy chính trị viên, bí thư chi bộ tàu 645, Nguyễn văn Hiệu đã bình tĩnh, tỉnh táo tổ chức, cho anh em rời tàu, căn dặn anh em tiếp tục, chiến đấu vì miền Nam ruột thịt..'

    - Tập sách Đường mòn trên biển của CSBV viết về chiến công của Đoàn vận chuyển 125 chuyên lo chở vũ khi, và tiếp liệu quân sự cho CQ vào chiến trường Miền Nam, với nhiểu sự kiện 'tiểu thuyết hóa' đã viết vụ chiếc 645 bị đánh chìm như sau:

    'Sau 11 chuyến đi chữ O của nhiều đội tầu khác (đi mà không thể vào bờ, phải trở về bến xuất phát), ngày 12 tháng 4 năm 1972 đội tàu 645 lại lên đường..'
    'Nửa đêm 24 tháng 4, Bộ Tư lệnh HQ (BV) nhận được điện của tàu 645: Chúng tôi đã vào tọa độ N, không có hiện tượng địch theo dõi' (ghi chú của Trần Lý: tàu 645..không biết là đã bị tàu ngầm Sculpin theo sát ngay khi họ rời bến). Tư lệnh HQ: điện cho 645..tiêp tục vào bến..'.

    Sau đây là các bức điện văn mà tác giả cho biết là trích đúng nguyên bản các bức điện thu được của địch (VNCH) lưu trữ tại Phòng bảo mật HQBV:

    ..'Máy bay địch đang bám tôi, vòng lượn thấp, xin chỉ thị gấp..'
    Bộ tư lệnh hải thuyền địch thông báo cho HQ-4: hồi 02 giờ, không tuần Mỹ gặp một tàu lạ dạng SL4, tại đông-nam Phú Quốc 20 hải lý, hướng đi N, vận tốc 10 hải lý, HQ-4 đến vùng Phú Quốc theo dõi..
    6 giờ sáng 24 tháng 4, đài kỹ thuật quân báo BV ghi lại:
    - HQ-4 báo cáo: 2 tàu cách nhau 2 hải lý.
    6 giờ 25 phút, cách 2 hải lý, SL4 ở bên phải HQ-4, HQ-4 đi hướng 245 và bắt đầu chuyển quang hiệu cho SL4..
    - HQ-4 báo cáo:
    Đã nhìn thấy đài chỉ huy của SL4. Có 2 người và 1 khẩu đại liên. Xác định đúng SL4, khoảng cách 2 tàu 700 yards. Vỏ tàu SL4 màu ngà, có cột buồm sau lái. Thân tàu dài 30m, ngang khoảng 5.8m. Cột cờ màu vàng, phía dưới cột cờ có một ổ súng..
    7 giờ Bộ tư lệch địch (VNCH) ra lệnh:
    HQ-4 chuần bị 3 quả đạn..sẵn sàng nổ súng..
    7 giờ 5 phút: HQ-4 nhìn thấy trên đài chỉ huy của SL4 có 3 người ngồi. Tàu không treo cờ quốc tịch nào. Sau đuôi tàu có 2 chữ FU ZAN..
    7 giờ 52 phút: HQ-4 tách ra xa khoảng 600-900 m, bắn một quả đạn 76 ly trườc mủi SL4.
    8 giờ: SL4 vẫn không trả lời..
    8 giờ 12: HQ-4 bắn quả 76 ly thứ nhì, vẫn trước mũi SL 4.
    8 giờ 20 phút, SL 4 tiếp tục chạy..
    9 giờ 5 phút HQ-4 băn quả thứ 3 và SL 4 có tiếng nổ lớn..sau khi tan khói..không còn thấy..


    Ghi chú và nhận xét của người viết:

    USS Sculpin (SSN 590) là chiếc tàu ngầm nguyên tử thứ tư thuộc loại Skipjack, loại tàu ngầm xung kích chạy bằng năng lượng hạt nhân. Tàu được hạ thủy ngày 31 tháng 3 năm 1960 và đưa vào hoạt động từ 1 tháng 6 năm 1961. Tàu dài 76.7 m. Trọng tải khi di chuyển (nổi) 2800 tấn, khi lặn 3500 tấn. Vận tốc khi nổi 15 knot, khi lặn 30 knots. Khả năng lặn sâu đến 400 ft. Vũ trang: 6 ống phóng ngư lôi cỡ 533 ly. Thủy thủ đoàn: 8 sĩ quan và 85 đoàn viên. Tàu được 'giải ngũ' ngày 3 tháng 8 năm 1990.

    Bài viết trên 'Hải sử Tuyển tập' tuy được xem là 'tài liệu chính thức của Hải quân VNCH, do một Hội đồng Hải sử gồm nhiều Sĩ quan cao cấp của Hải quân VNCH có nhiều chi tiết 'chưa' thật chinh xác:

    HQ-4 được cho là đã ra vùng biển Phan Thiết ngày 22 tháng 4 để chặn tàu 645 (?) và sau đó theo tàu này về đến Vịnh Thái Lan (?) để thanh toán ngày 24 tháng 4. Sổ ghi ghép hải hành của Tàu ngầm Sculpin đã cho thấy Sculpin theo dõi chiếc 645 từ ngày 10 tháng 4, khi 645 rời nơi xuất phát từ Đảo Hải Nam..Sculpin đã vừa lặn vừa trồi lên mặt nươc song song vơi 645 trong suốt 14 ngày, có những khi mất dấu phải nhờ sự theo dõi của phi cơ tuần thám..Hải trình ghi rõ 645 di chuyển rât xa hải phận VN, đi xuống đên vùng biển Borneo và sau đó mới đổi hướng đi vào vùng Vịnh Thái Lan..

    Hạm phó Nguyễn Kim Khánh (trong bài) cũng cho biết: 'Lúc ấy HQ-4 vừa lãnh từ Mỹ về, thuốc lá Mỹ, cam táo còn đầy..Ta đem ra mời các tù binh của tàu BV.' Tài liệu chính thức ghi nhận Chiến hạm USS Forster được bàn giao cho HQVNCH ngày 25 tháng 9 năm 1971, được đặt tên là HQ-4 Trần Khánh Dư. Thời gian từ khi nhận tàu đến khi bắn chìm 645 là ..7 tháng (từ 25 tháng 9, 71 đến 24 tháng 4, 1972) không thể còn..cam táo Mỹ (?)

    Về sự hiện diện của Sĩ quan liên lạc HQHK trên Chiếm hạm HQ-4 theo như bài viết của Sculpin, xin quý vị sĩ quan HQVNCH cho biết ý kiến ?

    Bài của Bắc Việt thì hoàn toàn có tính cách tuyên truyền thiếu chính xác về phương diện chiến sử. Các chi tiết không phù hợp với thực tế xẩy ra trên mặt biển: như quay tàu để đâm vào tàu địch, như chạy trên đường bộ (?)..Tàu bị bắn cháy mà..còn lo dập lửa theo kiểu cháy trong bếp.. Chính trị viên lo cho thủy thủ rời tàu (?). Trên thực tế, Chình trị viên bị trúng đạn chết ngay từ đầu, thuỷ thủ bám vào ván, phao và được xuồng của Hải quân VNCH cứu vớt.

    Sau vụ tàu 645, CSBV ngưng các chuyến chở hàng bằng SL và thay đổi phương pháp chuyển vận võ khí từ Bắc vào Nam bằng các phương tiện..hợp pháp, tổ chức các chuyến chuyển vận dùng tàu đánh cá trọng tải 20-30 tấn, đăng kiểm tại VNCH, ra Bắc và chở hàng vào các cơ sở (nằm vùng) dưới tên các Công ty Ngư nghiệp Nam Nhật (Rạch Giá), Ngư Long (Sài gòn)..


    Trần Lý
    (thàng 3, 2012)

  2. The Following 3 Users Say Thank You to khongquan2 For This Useful Post:

    BachMa (02-25-2018), KiwiTeTua (02-27-2018), Tinh Hoai Huong (02-27-2018)

  3. #2
    Administrator
    khongquan2's Avatar
    Status : đang online
    Tham gia: May 2011
    Posts: 2,019
    Thanks: 14,072
    Thanked 6,077 Times in 1,572 Posts

    Default

    The Sculpin’s Lost Mission: A Nuclear Submarine in the Vietnam War

    Admiral Charles R. Larsen US Navy Retired
    Captain Clinton Wright, US Navy Retired
    Paul Stilwell



    USS Sculpin SSN-590

    Naval History Magazine 2008, Volume 22. Number 1

    “One would expect that Cold War “special ops” involving U.S. nuclear-powered submarines are shrouded in secrecy. Other American sub activities during that era, however, are also hidden, one for a very strange reason.

    In 1971, after he had spent two and a half years of duty in the White House as naval aide to President Richard Nixon, Commander Chuck Larson was ready to go back to sea. He was ordered to be executive officer of the attack submarine Sculpin (SSN-590), under Commander Harry Mathis. For several months the boat went through workups off the coast of southern California to prepare for a deployment to the western Pacific. That deployment included active participation in the Vietnam War.

    After leaving the West Coast in January 1972, our first assignment was a classified special operation that lasted about two months. It went very well. The mission helped us hone our ship-handling and intelligence-gathering skills and made us confident in our capabilities and feel good about the way the ship was operating. Although it is still classified after all these years, it’s safe to say that it was intelligence-gathering targeted against the Soviet Union. Years later, Sherry Sontag and Christopher Drew’s book, Blind Man’s Bluff (New York: Public Affairs, 1998), described Cold War submarine operations. Because of security concerns, I can’t specifically discuss the contents, but the book is a good read.

    After the special operation, the Sculpin went into Yokosuka, Japan, for some liberty, and my wife, Sally, met me there. I had grown my beard while at sea and that, combined with my black hair and pale complexion after the extended period underwater, made me look—according to Sally—like Rasputin, the mad tsarist Russian.

    In March, shortly after we began our second operation, patrolling the South China Sea, we were diverted for a specific mission. The U.S. government believed supply trawlers were operating out of Hainan Island, off the southern coast of the People’s Republic of China. They were running arms, ammunition, and supplies from the northern part of the Gulf of Tonkin down to the Vietcong in the IV Corps region, the southernmost portion of Vietnam. U.S. forces discovered this when ground troops caught the enemy in the act of off-loading a trawler on a South Vietnamese beach. The incident sparked a big firefight, creating the legend that the trawler crews were elite forces willing to fight to the death. It also initiated a concerted effort to stop the traffic by convincing the enemy that it could not succeed.

    Each of the trawlers could carry about 100 tons of munitions. Several suspect ships were photographed, so we knew generally what they looked like, but as long as they were in international waters, we had no means to interdict them other than to turn them around by making low passes with a P-3 Orion patrol plane or a close approach by a surface ship. This was complicated by the fact that so many legitimate trawlers like them were in the area. Several gunrunners had been turned around, but this would not stop the at-sea resupply effort. To convincingly discourage the effort, it would be necessary to destroy them in the waters off South Vietnam before they could land their cargo. The plan that evolved was to use a submarine to follow one from Hainan to South Vietnam and finger it for our forces to destroy. We were selected for this mission.

    The Pursuit Begins

    We took up a patrol station off Hainan on 10 April. After referring to a book with images of the different types of trawlers and what we could expect, we picked up our quarry on 12 April. The wardroom was divided on whether she was a good prospect. However, the ship resembled photographs of other known suspects, and her projected track was taking her toward the west coast of the Philippines, which did not make sense for a fisherman. So we took off in trail. Not long thereafter, the trawler turned to the south, and that was the clincher for us. She had an extremely distinctive shaft rub and propeller sound, which our sonar men could easily discriminate from background noise. We relied completely on passive sonar to avoid being detected. The active sonar in the Skipjack – class submarines wouldn’t have been reliable because of the reverberations in shallow water.

    The ship we followed was probably 200 feet long, a large trawler, certainly suitable for open-ocean fishing. We did, of course, identify her by periscope before we started to trail, but we weren’t able to follow her totally by periscope and maintain visual contact. We didn’t want to take the chance of having our periscope seen in the flat, calm waters of the South China Sea. Also, she was making a speed of advance through the water of about 11 knots. That meant that if we were going to do our periscope operations every now and then, get out radio messages, and do our required housekeeping evolutions, we were probably going to have to run an average of about 18 or 20 knots submerged to keep up with her. We also had to include time for ocean analysis and tactical maneuvering to make certain we were staying with the correct target.

    One more challenge was that the trawler was heading south, right through the “dangerous ground.” On charts of the South China Sea, an area about 180 nautical miles wide and 300 miles long is simply labeled dangerous ground. Our charts had one track of soundings through that area—taken in 1885. We assessed that the terrain was fairly level, but the depth was 200 feet or less in most of this area. So we were in a position of running up to 20 knots in 200 feet of water, with between 30 to 80 feet under the keel at that high speed. Our ship could react very quickly to plane (control surface) movements, so we had only our most experienced officers of the deck, diving officers, and planesmen on station. Our chief petty officer diving officers controlled the ship’s depth by supervising the planesmen. They did a superb job.

    As the trawler headed south, she vectored a little to the east and went into an area in the dangerous ground where we couldn’t go. Up to then, although we were in the dangerous area, we felt secure in knowing the bottom was fairly level. But now she went into an area that was littered with rocks, shoals, and shipwrecks. I wondered then if the trawler’s crew was smart enough to do what we called a “sanitization move”—go where even surface ships wouldn’t follow. She doubtlessly believed that if she went through there she would come out the other side well clear of any tailing vessel.

    I was absolutely convinced that the trawler was unaware of our presence (that became clear later when we intercepted a radio message). We believed the ship’s course change was simply a safety move. While we were able to use our fathometer to plot the bottom and know the depth under our keel, the device looks only directly down; it doesn’t look ahead. We were genuinely worried about what we couldn’t see ahead—an undersea mountain, a wreck, or something else.

    Lost and Found

    When the trawler had entered the dangerous ground, we requested cover from an on-call P-3 Orion. Although we were under the operational control of the U.S. Military Assistance Command, Vietnam (MACV) in Saigon, we had the ability to call the shots on the scene. We wanted the aircraft to remain covert, so it would not scare the trawler back into port by making low passes near her. During the ship’s voyage through this very shallow, wreck-strewn portion of the dangerous ground, the plane, remaining at high altitude to minimize the chance of being seen, kept track of her by radar and visual observation. We dodged around the area by hauling off to the west, then south, and finally back to the east, to an area where we predicted the trawler would emerge, still in the dangerous ground. As the P-3 turned the contact over to us, the trawler appeared just about where we thought she would. We picked her up from the distinctive shaft rub and propeller sound and got in close enough to get a good positive periscope observation. We then went back in trail.


    P-3 Orion patrol plane

    As we headed south in the South China Sea, we approached a new hazard. We found a large number of oil-drilling platforms near the coast of Borneo. We first became aware of this hazard through the prolonged tracking of a diesel contact, which prompted the CO, Commander Harry Mathis, to go up to periscope depth for a look. We spotted an uncharted platform. If the rigs were operating, that was no problem; we could plot the location of their noisy diesel engines. We found some charted, some not, some operating and others not. Our concern, of course, was about those uncharted and not running. We made frequent periscope observations to avoid the platforms, which forced us to run faster to maintain the quarry’s speed of advance. We continued south at higher speeds for longer periods of time, sometimes with barely 20 to 30 feet of water beneath the Sculpin’s keel.

    As our target passed between the Great Natuna Islands, we made an end run around North Natuna. After that, our quarry was on a beeline for the Gulf of Thailand, passing through the busy sea-lane between Hong Kong and Singapore. The density of the large shipping traffic in this lane was incredible. Crossing it was like running across a busy freeway. It was night time, and sonar was useless amid all the traffic noise, so we crossed at periscope depth following our quarry’s stern light, maneuvering to avoid the large ships bearing down on us from both directions.

    The Gulf of Thailand presented a new challenge. The water was hot, 86 degrees Fahrenheit, and shallow, averaging 110 feet deep, and the bottom was flat. The surface was a dead calm mirror with fishing buoys and nets everywhere, not to mention small fishing boats of every description. It was also very hazy and so hot that the horizon was somewhat obscure. Such were the wartime circumstances that our operation order authorized us to operate in water as shallow as six fathoms. Who says nuclear-powered submarines can’t operate in the littorals?

    How Invisible?

    During this time we half-jokingly talked about “the hump.” We were trying to visualize what the Sculpin looked like on the surface, running at 20 knots, with maybe only 40 feet from the top of the sail to the surface. We visualized a hump—the water displaced above the boat’s hull—roaring through the South China Sea like a mini tidal wave, with observers wondering what it was. We assumed the ship left some sort of trail but were certain one would have to be very close to be able to see it.

    An incident when I had command duty got my attention. I brought the Sculpin up to periscope depth and saw what I thought was a periscope going by. My first reaction was, “Holy smoke, there’s another submarine up here.” Then I realized it was a small water-saturated log that was floating vertically. Just for a moment I thought there were two submarines staring at each other and wondered which one was going to blink first.

    As the trawler moved farther south, she made a distinct turn to the west and then to the northwest. We were absolutely sure she was a gunrunner, going in to land and off-load her ammunition. Then, two things happened. We were ordered by MACV to photograph our target and alerted to prepare to execute a provision in our operation order for us to sink our target with torpedoes.

    The photographic mission meant leaving our trail position and speeding up ahead of the target to take pictures as the trawler cruised by. The risk of detection was great because of the flat calm sea and our hump as we repositioned at high speed. To avoid this, we had to go as deep as possible. Commander Mathis selected 90 feet keel depth, leaving 20 feet between the keel and the bottom. We limited periscope exposure to 6 inches for less than ten seconds. We did get good pictures and apparently were not detected, although one photograph revealed three men on deck looking in our general direction. The depth control skill of our diving officer chiefs was extraordinary.

    Where’d She Go?

    Immediately after the trawler made the northwest turn, and just before we communicated with higher authorities, we lost contact for about two hours. Up to that point, our target had been somewhat predictable, cruising on a straight course to the northwest near the center of the Gulf of Thailand about 100 miles off the coast of South Vietnam, with the familiar shaft rub being tracked by sonar. It was night with a full moon, and we saw her lights through the periscope. The horizon was indistinguishable. Suddenly, sonar reported she had stopped, and while the CO watched, the trawler turned off her lights. Blind and deaf, we then lit off the radar and made several sweeps that revealed nothing. This was not too surprising. When a radar hasn’t been used in months and is not tuned, taking it out and rotating it a couple of times doesn’t guarantee a high probability of picking up a small target. We were not sure whether she had stopped for the night or was moving away in a new direction at slow speed.

    We reported the lost contact, which threw the operational command authority in Saigon into a panic. They had been moving South Vietnamese naval forces along the coast to maintain a blocking position based on our updates, so the whole operation threatened to unravel. Commander Mathis and I huddled and decided: “Well, we’ve got to assume that she’s making a run toward the border up there. Let’s just go down and run as fast as we can and get about 30 miles ahead of her predicted track and set up a barrier.”

    So we moved up and waited for her farther up into the Gulf of Thailand. We made that sprint at 20 knots with 20 feet under the keel. At first daylight, we contacted our on station P-3 aircraft and described our quarry, particularly her white color. We requested that the Orion’s crew search the area from where we lost contact to the Vietnamese coast. They reported several widely separated contacts; only one of them was white. The CO authorized a low-altitude identification pass, and the P-3 made a positive ID. They reported to Saigon, and we closed the target. As we neared, we regained that familiar shaft rub and when we took another periscope look, it was her—positive identification, both sonar and visual.

    Originally, MACV requested authorization for us to sink the target with our torpedoes, but this was not approved. For years I assumed that the National Command Authority in Washington, D.C., disapproved the request. However, several years later, Harry Mathis, who by then was a captain, was commanding officer of the Submarine Base Pearl Harbor. He regularly played tennis with retired Admiral Bernard “Chick” Clarey, who had been commander-in-chief Pacific Fleet at the time of our operation. Admiral Clarey remembered the operation very well because he and Admiral John McCain, commander-in-chief Pacific, had followed our progress closely in daily briefings. Admiral Clarey told Mathis that he had argued vehemently in favor of having us shoot, but Admiral McCain was not convinced it would work. Instead, South Vietnamese naval forces were called in to do the job on 24 April.

    High-Seas Drama

    The surface forces—led by a South Vietnamese destroyer escort—challenged the trawler, which hoisted a Chinese flag and an international flag signal designating they were fishing. The South Vietnamese commander was hesitant to take action because he was concerned about creating an international incident. Fortunately, we established communications with the U.S. liaison officer on board the destroyer with the UQC underwater telephone. His first question was whether we could verify this ship as our trawler. We told him, “Absolutely, this is the one without a doubt.” We then went to periscope depth to observe.

    The trawler tried to convince the South Vietnamese destroyer that she was an innocent fishing vessel. We spoke once again with the liaison officer and with higher authorities and said: “We are absolutely sure that this ship came out of Hainan flying a PRC [People’s Republic of China] flag. We have tracked her 2,500 miles to this position, and in our opinion she is a gunrunner making a run toward the border and certainly is not a fisherman. We can verify who she is, which should allow us to take whatever action is appropriate.”

    As we later learned from the intercepted communication, the trawler at one point said, “I think there is a submarine out there.” This was the first indication that the trawler crew was aware of us as we coordinated with the destroyer. Based on our identification, the destroyer escort ordered the trawler to stop, and when she failed to comply, began making intimidating runs at her, finally opening fire from a standoff position with her 3-inch guns. The trawler was hit and began burning, running in a circle as if the rudder was jammed hard over. We watched through the periscope, and our crew gathered in their mess to watch on the TV monitor. Suddenly, with a thunderous roar, clearly audible through the Sculpin’s hull, the trawler exploded and disintegrated as its cargo detonated. Flames leaped hundreds of feet in the air, accompanied by the cheers of our crew.

    At this moment, Commander Mathis asked the crew over the 1MC for a moment of silence. Enemy or not, they had perished doing their mission. Later, we were pleased to learn that 16 of the trawler crew had been rescued and they spoke Vietnamese, not Chinese. The captain and the navigator were among them and able to provide valuable intelligence about their operations. One of the few casualties was the political officer.

    Our communication with command headquarters, through the loitering Orion during the urgent final search, was vital. Only later did we learn that, because of atmospheric conditions, the communications link with Saigon consisted of the P-3 aircraft on station relaying to another P-3 revving up its engines on the ground at its airbase while parked next to a phone booth. A flight crew member would run out to the phone and relay the messages between Saigon and us.

    One other significant factor made the mission possible. It could only have been done by a nuclear-powered submarine. That experience gave me great admiration for the diesel-boat crews and skippers of World War II. We had more margin for error than they did because of their speed limitations owing to low battery capacity. If we made a mistake on the Sculpin, we could make it up through speed and repositioning, which couldn’t be done with a diesel boat. Certainly our speed came in handy, not only in the basic trail, trying to stay up with a ship doing 11 knots and do all the things we had to do, but also during that period when we lost them. We were able to run quickly forward, reposition up the track, and get a chance to pick them up again. But that blackout period was a low point. We had trailed the ship 2,300 miles and thought we’d lost her.

    Hidden Valor

    The trawler’s crew verified that their ship was a gunrunner. They had on board enough arms and ammunition to supply the Vietcong in IV Corps for at least 60 days. Her destruction thus made a significant contribution to the safety of U.S. and South Vietnamese troops in the area and set back the enemy’s military operations there.

    The surviving crew were North Vietnamese. They were split up, with U.S. and South Vietnamese intelligence each interrogating half and their stories compared. It was determined that the navigator’s responses were credible because he provided interrogators with exactly the same track we plotted.

    The United States learned much about the North Vietnamese at-sea resupply strategy. It also learned that the trawler crews were not elite forces that would resist until death. One engineer told of being at his station when the political officer came to the engine room hatch, told him the enemy had arrived, and ordered him to stay at his post. The engineer, no doubt considering the nature of the cargo, said, “I immediately went on deck and jumped into the water.”

    It was an unusual operation. We spent more time submerged inside the 100-fathom curve than any U.S. submarine since World War II. Crew training, equipment reliability, ship control, navigation, sonar, communications, propulsion plant—everything and everyone performed superbly. We could not have asked for anything more. For that operation the Sculpin earned the Vietnamese Cross of Gallantry, the only U.S. submarine during the entire Vietnam War to receive that award.

    The Sculpin was also nominated for the submarine combat patrol pin, and our individual awards for the combat “V.” If that had been approved, she would have been the first submarine since World War II to get the combat patrol pin. Instead, the nomination was disapproved somewhere up the chain of command. I assume it was probably rejected by a World War II submariner who thought the operation wasn’t nearly as hazardous as what he did during his war, and it didn’t measure up. I can’t argue with that, but the crew had great hope that they could proudly wear the pin for their contribution, particularly to the safety of our troops. Another consideration, however, might have been that those pins would have raised questions and possibly compromised an operation that was still classified.

    We covered a huge distance in trail during that operation. Someone asked me later how I slept at night. I said, “With a pillow under my head, up against the bulkhead in case we hit something.”

    Admiral Larson went on to serve on active duty for 40 years. His senior position was as commander-in-chief of all United States military forces in the Pacific. Captain Wright served 26 years on active duty. He was commanding officer of USS Puffer (SSN-652) and operations officer for Commander Submarine Group Seven. Mr. Stillwell, the former editor of Naval History and the U.S. Naval Institute Oral History Program, has written the ” Looking Back ” column since 1993.

    Cold War Records

    This article is the result of merging my notes and recollections with those of Clint Wright, who stood a good many watches as Sculpin ‘s officer of the deck during the pursuit of the trawler. Clint also gained access to the unclassified versions of the submarine’s deck logs. Other OODs during the operation included Lieutenants Dick Snaider, Jim Gabala, Alan Beam, and Charlie Krupnick.

    Getting our joint account through security review was an interesting challenge. Clint’s original motive was to publish an article, because he wanted the Sculpin Sailors to get credit for what they did. My motive was to try and get it cleared for my oral history, so at least part of our special operations could be made public to my family and to other interested people. We jointly pursued this effort, dealing with the director of Naval Intelligence and several people who used to work for me. The first thing we discovered was that there were absolutely no records of the Sculpin’s operations. They had all been destroyed.

    This highlights weaknesses in the Naval Intelligence Command’s record keeping. As far as we can determine, the Navy had its standard Cold War intelligence gathering, what we called “special operations,” which were classified and compartmentalized. Those reports appear to have been preserved. But because the Sculpin’s Vietnam operation was not in that category—it was a more conventional, although extremely unusual, operation and didn’t have the protection of that system—the reports were purged at some point when the government discarded old records. There is just no official record of this operation.

    In putting this story together and sending it forward for clearance by the Navy Department, I think we did a double service. We not only got it cleared so those who served in the Sculpin during this time can receive credit, but we made this operation public and prevented it from being lost forever. At some point, an old Sculpin Sailor would have wanted to talk about it, and there would have been no way to find the records. So I’m very pleased that we were able to do that for our fine crew.”


    Admiral Charles R. Larson

    Charles Robert Larson (November 20, 1936 – July 26, 2014) was a four-star Admiral of the United States Navy.


    Source: "https://theleansubmariner.com/2017/0...d-war-warrior/"


  4. The Following 2 Users Say Thank You to khongquan2 For This Useful Post:

    BachMa (02-25-2018), KiwiTeTua (02-27-2018)

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter