Trang 1/3 123 cuốicuối
kết quả từ 1 tới 6 trên 17

Tựa Đề: Bí mật hai thùng đồ cổ

  1. #1
    Vũ Phan's Avatar
    Status : Vũ Phan v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2016
    Nguyên quán: Saigon
    Posts: 79
    Thanks: 243
    Thanked 213 Times in 67 Posts

    Default Bí mật hai thùng đồ cổ

    BÍ MẬT HAI THÙNG ĐỒ CỔ

    truyện dài: Vũ Phan


    NGƯỜI QUẢN GIA ĐỒN ĐIỀN CAO SU VÀ HAI THÙNG ĐỒ CỔ

    Vùng bán sơn địa phía đông nam Việt Nam là một cao nguyên đất đỏ bạt ngàn, loại thổ nhưỡng ở đây rất hợp với cây cao su, cà phê, trà...

    Người Pháp đem cây cao su vào Việt Nam để trồng thử từ khá sớm, bắt đầu từ những năm của thập niên 20 – 30. Sau đó thấy thành công, họ thành lập các đồn điền cao su rộng lớn trên vùng đất đỏ bazan này, trài dài từ Pleiku xuống cho đến tận Bình Long, Tây Ninh bằng cách mộ phu từ các tỉnh miền Bắc, vùng ven biển miền Trung vào khai phá các cánh rừng già nằm trên vùng cao nguyên phì nhiêu này.

    Sau nhiều thập niên tận dụng lợi thế đất đai, và nhân công rẻ mạt từ các miền quê Việt Nam, cùng với sự hổ trợ của nhà cầm quyền Pháp, đa số các chủ đồn điền cao su là Pháp kiều trở nên rất giàu có.

    Họ xây lên rất nhiều cơ ngơi, nhà cửa đồ sộ, nguy nga ngay trong các đồn điền này. Và chỉ một thời gian sau, họ thường đem cả gia đình từ Pháp qua trú ngụ, và hẳn nhiên họ có cả nhà cửa tại Saigon, Đà lạt, Nha Trang… để gia đình, con cái về sinh sống, học hành và vui chơi, nghỉ mát.

    Nam là một thanh niên đang sống với gia đình ở Saigon, do hoàn cảnh khó khăn sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975, lại thêm ba anh mất sớm, nên phải nghỉ học nửa chừng. Vì vậy Nam phải bươn chải, lăn lộn ra đời kiếm sống, phụ giúp người chị nuôi bà mẹ hay đau yếu và hai em nhỏ.

    Nam có nghề buôn nông thổ sản, anh hay đi về giữa Saigon với các tỉnh đông nam bộ và tây nguyên nên rất quen thuộc với những con đường đất đỏ bụi mịt mù trong mùa nắng, lầy lội như cháo dưới những cơn mưa nặng hạt ở vùng cao bán sơn địa này.

    Nhờ có sức khỏe tốt và đầu óc nhanh nhạy, bắt đầu từ đó, anh và gia đình có cuộc sống tạm ổn. Nam giao thiệp rộng rải với giới buôn bán trong nghề, kể cả dân phá “sơn lâm”, chuyên mua bán, vận chuyển gổ, nông sản lậu…

    Nam còn nhớ khi ba anh còn sống trước năm 75, lúc đó vào khoảng những thập niên 50 – 60. Ông là tài xế lái xe bồn chở xăng dầu cho một công ty của Pháp ở Saigon. Trong mấy lúc nhậu nhẹt, lai rai với bạn bè, ba anh thường kể về những chuyến xe chở xăng dầu đến giao cho các đồn điền cao su tại các tỉnh Bình Long, Phước Long, Ban Mê Thuột. Các ông chủ đồn điền này vài tháng lại gọi về văn phòng công ty ở Saigon yêu cầu cung cấp hàng để họ chạy máy móc, xe cộ…

    Trong số đó, có đồn điền của một ông chủ Tây ở Hớn Quản, Bình Long, ông ta lấy một cô vợ Việt Nam rất đẹp ở Saigon, đồn điền này khá lớn, trải dài trên một vùng đồi đất đỏ, chạy dọc gần khu vực rừng núi với biên giới Campuchia.

    Cứ khoảng hai tháng, ba anh lại lái xe bồn lên trên đó để giao xăng dầu. Trong thời gian này chiến tranh ở Việt Nam còn chưa khốc liệt, các đồn điền cao su tư nhân vẩn hoạt động. Mỗi chuyến đi bắt đầu từ sáng sớm và mất đến bốn, năm tiếng đồng hồ, vào khoảng đầu giờ chiều xe mới đến đó, và phải mất thêm vài tiếng nửa để chuyển hết số xăng, dầu vào bồn chứa của đồn điền.

    Sau một thời gian dài làm công việc này, ông quen thân với người quản gia người Việt làm cho một ông chủ đồn điền, nên thỉnh thoảng họ mời ông ăn uống, thăm hỏi về công việc và gia đình.

    Rồi có đôi lúc, vì công việc quá trễ, ông phải ngủ lại qua đêm trong đồn điền. Những lúc này ba anh được nghe họ kể về sự giàu có của ông chủ Tây này, như nhà cửa, xe cộ… và những món đồ cổ Trung Hoa, các nước Đông Dương… quí giá mà ông ta sưu tầm được.

    Sau đó nhiều năm, cuộc chiến bắt đầu lan rộng ra khắp miền nam, quân du kích miền bắc lén lút xâm nhập vào vùng rừng núi, các khu đồn điền cao su và các trận đánh lớn với quân đội VNCH thường xuyên xảy ra.

    Các chủ đồn điền người Pháp lo lắng trước tình hình chiến tranh ngày càng dữ dội, họ tìm cách bán tài sản và lần lượt bỏ về Saigon hay chính quốc. Các chuyến xe bồn chở xăng dầu cho các đồn điền này cũng dần dần chấm dứt.

    Rồi ba anh kể tiếp, về Saigon bẵng đi một dạo, ông tình cờ gặp lại người quản gia cũ của đồn điền cao su Tây ở Bình Long, ông này tên Thức.

    Do cả hai biết và thân nhau từ nhiều năm về trước, ông Thức rủ ông về nhà chơi và lai rai tâm sự. Sau nhiều buổi nhậu chén anh, chén chú qua lại, trong một lần gặp nhau ở nhà ông Thức, ông ta bất ngờ kể cho ba anh về bí mật hai thùng đồ cổ của ông chủ Tây còn chôn giấu trong khu vực một cánh rừng có con suối chảy qua gần đồn điền.

    Người quản gia cho biết, khi thấy tình hình chiến tranh đang lan dần tới, người chủ bắt đầu chuyển những tài sản quí giá về Saigon.

    Rồi một bửa tối, bất ngờ ông Thức được chủ Tây gọi lên nhà riêng, đêm đã khuya mà còn bị kêu lên có công việc, làm ông Thức thêm suy nghĩ. Bà vợ Việt của ông chủ và hai đứa con Tây lai đã về Saigon hơn một tuần nay, không khí trong căn biệt thự rất vắng vẻ.

    Khi bước vào phòng làm việc, ông Thức thấy hai cái thùng gỗ khá lớn đặt nằm ngay giữa phòng. Gọi ông đến gần, ông chủ mới nói ý định là ông sẽ không đem những món đồ cổ này về Saigon, vì một số lý do, nên tối nay sẽ chở ra gần con suối ở góc phía tây bắc của đồn điền và chôn giấu ở đó. Có một điều là ông Thức không hiểu tại sao ông chủ Tây không chở luôn về Saigon, vì tình hình tuy có căng thẳng, nhưng khả dĩ xe cộ vẫn đi lên xuống được. Nhưng đã quen với công việc của người quản gia, nên ông gật đầu không thắc mắc.

    Hai người cẩn thận khiêng hai cái thùng gổ lên chiếc xe Jeep đang đậu sát cửa nhà. Trên xe đã có sẵn xẻng, cuốc và miếng vải bố nhà binh màu xám, kế bên là khẩu súng trường, rồi ông vòng ra phía trước, ngồi vào sau tay lái và nổ máy.

    Chiếc xe Jeep chạy theo hướng chỉ tay của ông chủ, âm thầm lướt qua các con đường đất đỏ dưới những tàn cây cao su trong đêm tối. Công nhân cạo mủ trong đồn điền đã bỏ đi gần hết vì sợ chiến tranh, khu nhà ở của họ chìm trong bóng tối âm u.

    Khi đã đến khu vực chỉ định, ông chủ Tây ra dấu cho xe dừng lại, rồi ông và ông chủ Tây khiêng hai thùng gổ nặng đi xuống bờ suối dốc cạnh đám rừng, tại đó có một hố đào sẵn trong lòng đất, phía dưới một vòm đá thấp. Sau khi nhẹ nhàng để hai thùng gổ nằm yên bên dưới, ông phủ tấm vải bố lên trên, ông chủ Tây không nói lời nào, cẩn thận lấp đất kín hai cái thùng lại và quay trở về.

    Về đến căn biệt thự, ông chủ Tây mới nói với ông là phải tuyệt đối giử kín, vì sau này khi chiến tranh kết thúc, ông ta sẽ quay trở lại sống trong đồn điền, đến lúc này thì ông Thức mới hiểu.

    Tháng sau, tình hình trong khu đồn điền căng thẳng hơn. Ông chủ Tây thấy vậy liền bỏ về Saigon, còn ông thì phải ở lại để coi sóc mọi thứ.

    Rồi những ngày sau đó, các toán lính bắc việt với vũ khí xuất hiện càng lúc càng đông trong khu rừng cao su, họ đào hầm hố nhiều nơi, không khí chiến tranh rất ngột ngạt…

    Vào một buổi trưa trong cái nắng lay lắt đầu mùa mưa, một trận đánh lớn nổ ra dử dội giữa quân bắc việt với lính VNCH, nhà cửa, kho tàng, máy móc… bị cháy rụi, đồn điền cao su bị bom, đạn tàn phá tơi tả, và đến lúc này ông Thức cùng gia đình cũng phải bỏ chạy về Saigon.

    Cuộc chiến tranh dai dẳng kéo dài 20 năm và chấm dứt sau ngày 30/4/75.

    Sau đó cuộc sống ở miền nam bị đảo lộn hoàn toàn, chính quyền cộng sản mới xóa bỏ mọi quyền tư hữu, họ tịch thu tất cả các loại tài sản, nhà máy, đất đai, phương tiện sản xuất, và khu đồn điền này trở thành nông trường cao quốc doanh. Vùng đất rừng xung quanh bị bom đạn cày xới tan nát trong chiến tranh nay trở thành các khu kinh tế mới, người dân Saigon bị đưa lên đây trồng khoai mì, khoai lang, bắp… để có cái ăn chống đói.

    Nam vì tò mò, nên tìm đọc lại những tài liệu về các đồn điền cao su của người Pháp tại khu vực Bình Long, giáp với vùng biên giới của Campuchia. Trong các chuyến đi buôn về khu vực này, anh giả vờ lân la hỏi thăm những nông dân sống lâu đời ở đây, họ nói nông trường cao su này là đồn điền Pháp ngày xưa, và chỉ cho anh xem ngôi biệt thự to lớn của ông chủ Tây, bây giờ gần như chỉ còn là đống đổ nát, hoang tàn. Nam bùi ngùi nhìn những bức tường rêu phong, loang lổ dấu đạn, bom, rồi tưởng tượng đến sự nguy nga của nó, cùng những món đồ cổ quí giá được trưng bày trong những tủ gổ sang trọng ngày trước…

    Sau khi suy nghĩ, tính toán kỷ càng, Nam quyết phiêu lưu với việc tìm kiếm hai thùng đồ cổ bị quên lãng này, dù anh biết khả năng thành công là rất ít.

    Sau 20 năm chiến tranh, bom đạn cày xới khắp khu vực đồn điền cao su và vùng rừng núi xung quanh, không chắc nó còn nguyên vẹn, địa điểm con suối thì mơ hồ, ở vùng này có cả chục con suối lớn nhỏ… Nhưng Nam quyết chí thử thời vận, nếu thành công thì cuộc đời sẽ thay đổi vĩnh viển, còn thất bại thì anh cũng không mất mát bao nhiêu.

    Tháng sau, Nam hỏi sang nhượng lại miếng đất rẩy của một ông nông dân ở khu vực phía tây-bắc, nằm gần ranh nông trường cao su. Ở trong khu rẩy này vì khuất và xa, nên cây cối còn rậm rạp bao quanh một cái hồ lớn do con suối ngày xưa, đã bị nông trường xây một cái đập chận ngang để lấy nước tưới tiêu.

    Có người thắc mắc hỏi, anh trả lời là muốn mua rẩy để tự canh tác, rồi sau đó đem nông sản về bán lại ở Saigon kiếm lời nhiều hơn, vì đi buôn càng lúc càng khó khăn.

    Nhờ quen biết mấy tay cán bộ ở địa phương, rồi chịu khó đút lót chút đỉnh cho mấy tay cán bộ ở xã này cũng đang cần “cải thiện”, nên việc mua bán, sang nhượng đất rẩy xong dể dàng.

    Sau khi hoàn tất giấy tờ mua đất, Nam xách ba-lô trong có vài bộ đồ vừa để mặc hàng ngày và khi làm rẩy, một số thuốc men linh tinh phòng khi đau yếu, các vật dụng cần thiết như diêm quẹt, dao nhỏ, đèn cầy… Và một túi xách tay có khoảng chục ký gạo, đường, muối, cá khô. Vì đã có vài lần được người chủ cũ dẫn vào đó, nên anh cũng đã rành đường đi, nước bước.

    Anh quá giang một chiếc xe máy cày của nông trường có rờ-mọc phía sau, thường dùng để chở công nhân đi một đoạn đường đến một lối mòn rẽ trái, anh xuống đi bộ thêm gần ba, bốn cây số nửa để đến khu rẩy nằm trên vùng chân đồi thấp thoai thoải về phía bờ một hồ nước.

    Người chủ cũ cũng tốt bụng, ông ta để lại tất cả cuốc, rựa, dao và linh tinh nồi niêu, xoong chảo cho anh xài.

    Những ngày đầu ở chỗ mới, Nam vác rựa đi dọc con suối nằm cuối miếng đất để nắm địa hình, nó chảy qua đây từ khu rừng cao su của nông trường nằm xa về phía bên trái hồ nước. Dòng nước len lỏi ra khỏi rừng cây, rồi chảy qua gần vùng rừng chồi tái sinh, và trườn róc rách như con rắn xuyên qua các tảng đá đen nằm giữa ranh miếng đất của Nam và đất bên kia, cuối cùng nó đổ vào hồ nước.

    Phần đất ở đây dốc và thường có nước từ con suối, nên các bụi cây và dây leo lên rậm rạp, mọc chen lấn với những khối đá lớn, nhỏ rải rác khắp nơi, vì người chủ cũ thấy nó là “khúc xương, khó nuốt”, không trồng trọt gì được, nên ông ta để nguyên, không khai phá.

    Nam nhìn lại khu rừng, có dòng suối chảy kề bên và so sánh, thấy thế đất khá giống như những gì ông Thức kể về cái đêm cùng ông chủ Tây đem chôn hai cái thùng đó.

    Hằng ngày anh cầm cuốc hay rựa đi ra vùng bờ hồ, chặt cây và cuốc, đào như đang dọn đất rẩy để chuẩn bị gieo trồng. Trong khu vực hẻo lánh này, cũng ít người qua lại, thỉnh thoảng Nam gặp vài người đi ở phía bên kia bờ hồ gần một cái làng nhỏ, lát sau, cái bóng nho nhỏ của họ khuất vào trong đám cây cối um tùm, quang cảnh lại trở nên vắng vẻ như cũ.

    Chiều anh trở về căn nhà tranh của chủ rẩy trước dựng lên làm chỗ ở, vừa là nơi chứa cuốc xẻng, phân bón và nông sản sau khi thu hoạch.

    Buổi tối ở vùng rừng núi đến nhanh, ăn qua loa cho xong bửa, Nam ra ngồi hút thuốc trên khúc gổ to bên hàng hiên. Nhìn ra hồ nước, cảnh vật xung quanh im lìm, chỉ có tiếng côn trùng kêu rỉ rả. Khi màn đêm âm u buông xuống trên vùng bán sơn địa thưa người, trong ngôi nhà tranh nhỏ của anh nằm bên hồ nước, không khí lặng lẻ, u tịch pha chút lạnh lẽo.

    Anh nhận thấy việc truy tìm hai thùng đồ cổ này không dể dàng chút nào, sáng nay thử lội xuống chỗ suối chảy ra hồ nước, ở đoạn đó đáy dốc xuống sâu, sau nhiều lần lặn xuống, Nam phát hiện bên dưới làn nước lạnh và ngổn ngang nhiều thân cây, cành lá bị ngâm trong nước lâu ngày bám đầy rong rêu đã mục rã, anh thấy rờn rợn, nên không dám lặn sâu hơn nên vội vã trồi lên.

    Ngồi suy nghĩ đến gần khuya, sương đêm vùng rừng núi xuống dầy đặc, Nam thấy lạnh và cùng lúc cơn buồn ngủ kéo đến làm nặng hai mi mắt, anh vứt bỏ điếu thuốc hút dở và đứng dậy đi vào nhà.

    Đã hơn một tháng kể từ ngày Nam đến đây, thời gian trôi qua nhanh chóng.

    Gần cuối năm nên thỉnh thoảng cũng còn vài cơn cơn mưa kéo về vào buổi chiều và tối, nhìn những hạt mưa lạnh rơi xuống những luống bắp, đậu xanh, khoai rồi quét qua mặt hồ tạo nên làn bụi nước trắng xóa, chạy dài như những cơn trốt nhỏ chơi trò trốn tìm với nhau, làm Nam thêm nhớ nhà và cô bạn gái cũ ở năm cuối trường trung học.

    Cô bạn gái đó tên Thủy học ở một trường nữ sinh gần trường của anh, nàng có khuôn mặt nhỏ nhắn và nụ cười thu hút. Gia đình nàng từ Đà Nẵng chạy giặc vào Saigon năm 72, và họ mua căn nhà khang trang ở phường kế bên.

    Anh quen Thủy vào dịp học sinh các trường phải đi lao động mùa hè bắt buộc của chính quyền cộng sản ở một công trường đào kênh ở Thủ đức. Tuy hai người ở hai đội khác nhau, nhưng trên đường từ lán trại ra chỗ làm thì cách một khoảng xa, từ đó Nam có dịp làm quen và bất ngờ khi biết Thủy học gần trường của anh, cô cũng tỏ ra thích thú khi nghe anh nói cả hai học gần trường nhau.

    Từ đó họ thành bạn thân, và Nam cũng đã thầm yêu cô bạn này ngay trong lần gặp đầu tiên.

    Nơi công trường lao động tay lấm, chân bùn vào mùa hè đó, đã để lại trong tâm hồn Nam một kỷ niệm rất đẹp và nó khắc sâu mãi mãi vào cuộc đời anh.

    Tốp bạn của Thủy gồm nhiều cô nữ sinh đẹp và dễ thương nên nổi bật trong các đội đi lao động. Cho dù sau năm 75, cuộc sống rất khắc khổ dưới thời cộng sản cầm quyền, nhưng tâm hồn của những chàng thanh niên Saigon như Nam vẫn còn chất chứa nhiều lãng mạn, chân thực. Vì vậy quanh Thủy thường có nhiều chàng trai hay đến nói chuyện, làm quen, nhưng có lẽ do học gần trường nhau và Nam có vẻ ngoài hiền lành và nụ cười dể mến, nên Thủy lại thích trò chuyện với anh.

    Nam nhớ buổi chiều đó, suốt trên đường từ công trường về lán trại, anh cùng cô bạn gái mới quen vừa đi vừa nói chuyện. Đường về dài và phải lội trên những bờ ruộng nhỏ, đi qua những cây cầu khỉ trơn trợt, rất vất vả, nhưng sao hôm đó Nam thấy con đường về quá ngắn! Đến chỗ chiếc cầu sắt nhỏ sơn đen bắc ngang dòng kênh hẹp với màu nước cuộn phù sa vàng nâu, anh định nói chia tay Thủy và rẽ xuống chân cầu là nơi bọn con trai thường tắm sau mỗi chiều đi làm về. Nhưng thấy Thủy vẩn đi theo, trên tay cô cầm cái lon guigoz đựng thức ăn đem theo từ buổi sáng, Nam không biết nói sao, nên đành im lặng và bước xuống dòng nước đang chảy bên cầu tắm rửa như mọi khi.

    Chỗ tắm chiều nay vắng vẻ, không rõ mấy thằng bạn đi đâu cả rồi. Thủy nhìn anh xuống tắm dưới dòng kinh, rồi cười rất tự nhiên làm anh thêm bối rối, còn cô ngồi trên bờ vốc nước rửa tay chân.

    Trong khung cảnh thiên nhiên, buổi chiều dần xuống lặng lẻ trên dòng kênh, và hòa mình với màu xanh cây cỏ hoang vu trong gió, chỉ có hai người. Nam trầm người xuống dòng nước rửa sạch lớp bùn đất còn dính trên tóc, vai… rồi quay vào bờ. Chiều nay vẻ đẹp của Thủy làm anh ngẩn ngơ không hồn, anh vào bờ ngồi kế bên cô khoát nước rửa sạch hai bàn tay, chợt Thủy lấy cái lon múc nước dội nhè nhẹ và lấy tay kỳ cọ vai anh rồi cười nói:

    -Để Thủy xối nước cho anh Nam nhe!

    Anh quay qua nhìn Thủy và mỉm cười, hai tai như bị ù đi và mặt nóng bừng lên. Nam sung sướng quá, muốn giây phút đó kéo dài vĩnh viển, cả người anh như bay bổng lên mây, cảm giác thiên đường dường như đang rất gần!

    Giây phút đó Nam không biết nó kéo dài bao lâu, bộ óc anh bị tê liệt như vừa có một dòng điện mạnh phóng qua, nhưng nạn nhân của cú sốc đó không chết hay bất tỉnh, ý thức về không gian trong anh vẫn tồn tại dù rất mơ hồ.

    Bỗng nhiên có tiếng gọi tên anh từ trên chiếc cầu vọng xuống, Nam ngửng đầu lên nhìn, một thằng bạn ở cùng đội bị lọt lại phía sau, lúc này hắn ta mới lò dò về đến đây và đang tính đi xuống chân cầu để tắm như mọi khi. Thấy Nam được cô bạn gái đẹp dội nước lên lưng, hắn ta nhìn chằm chặp rồi cười, anh cảm thấy ngượng nghịu quá, không biết phản ứng ra sao, nhưng trong bụng thì vui sướng cực độ, nên cũng chỉ biết nhìn Thủy đang e thẹn mỉm cười.

    Chiều đó khi về đến lán trại của bọn con trai đóng trong một ngôi trường tiểu học nhỏ, mấy thằng bạn trong đội nghe thằng kia kể, liền xúm lại hỏi và chọc quê Nam hết cả buổi tối.

    Mấy ngày sau đó, có mấy thằng luôn đi kè kè theo anh, để tìm cách làm quen với mấy cô bạn của Thủy.

    Xong nửa tháng lao động hè, Nam hỏi xin địa chỉ và đến nhà thăm Thủy vài lần. Gia đình Thủy khá giả nên ở căn nhà xây lớn, mỗi lần đến nhà Thủy ngồi chơi, nói chuyện và sau khi ra về, anh ngậm ngùi nhớ đến cái xóm nghèo của mình, rồi vì thấy không thuận lợi, nên một thời gian sau đó Nam cũng ít ghé đến thăm Thủy, và mối tình cũng nhạt phai dần.

    Thêm tâm hồn anh hướng nội, hay suy nghĩ, Nam thấy cuộc sống dưới thời cộng sản quá kham khổ, nhìn những bửa ăn độn bo bo, khoai, sắn … mọi người bơ phờ, ngơ ngác làm anh không tha thiết mấy với chuyện tình yêu.

    Tuy thế khi rảnh rổi, anh hay nhớ đến cô bạn gái dể thương và kỷ niệm buổi chiều bên chiếc cầu sắt nhỏ. Những lúc trống trải, cô đơn, cây đàn gui-ta cũ là người bạn thân thiết của Nam, nhưng những muộn phiền của cuộc tình ngày đó vẩn còn đeo đẳng anh theo thời gian.

    Một hôm Nam đi chơi với mấy thằng bạn thân vừa về đến cửa nhà, bà chị bên trong đi ra gặp anh về liền nói:

    -Nam, có cô Thủy bạn mày vào chơi nhà cô bạn học cùng trường trong xóm mình nè!

    Nhìn người chị nhưng không biết nên nói câu gì, anh dựng chiếc xe đạp vào vách rồi đi vào nhà. Đâu ai biết, trong tim anh đang có nỗi buồn tựa như nỗi khổ hàng triệu người dân Saigon khác đang sống khắc khoải từng ngày sau năm 75.

    Mấy tháng sau, cô bạn trong xóm học chung với Thủy, ghé vào nhà cho anh biết là Thủy đã vượt biên, từ đó Nam không còn được biết tin tức nào về cô bạn gái mà anh đã thầm yêu.

    Từ ngày lên đây, Nam cũng trồng được vài sào đậu xanh, bắp, khoai lang, ít khoai mì… nhằm che mắt chính quyền và dân địa phương. Ở những vùng quê này, mọi dấu hiệu khác thường dể gây chú í, nên anh cũng tỏ ra siêng năng “lao động” để được yên ổn.

    Từ ngày chính quyền cộng sản vào đến miền Nam, người dân từ các vùng quê cho đến các thành phố lớn, ai cũng sợ bị người khác dòm ngó, tố cáo, nó không giống như không khí tự do, thoải mái ở Saigon trước năm 75.

    Ban ngày, ngoài lúc phải làm rẩy, thời gian còn lại anh thường rảo quanh khu bờ hồ và nơi con suối lớn chảy qua gần khu rừng chồi, nhưng cũng không tìm thấy dấu hiệu gì mới, tình hình giậm chân tại chỗ làm anh hơi nản chí.

    Sáng nay Nam tính vòng qua khu rừng chồi, băng qua con suối đi xa hơn về bờ hồ phía trên để xem ở đó có dấu hiệu gì lạ, anh xách theo cây rựa, bắp, khoai luộc và bình nước uống, rồi đi tắt ngang rẫy ra bờ hồ.

    Trong khu rừng chồi tái sinh cây cối lên um tùm, các bụi cây, cỏ dại mọc lan ra khắp nơi, ở xung quanh đó vẩn còn những hố bom, đạn đại bác cây cỏ mọc đầy và nước cạn xâm xấp dưới đáy. Mặt trời đã lên cao, nắng nóng khá oi bức, Nam ra bờ hồ ngồi nghỉ và uống nước dưới bóng cái cây to, kế bên con suối chảy ra từ rừng cao su.

    Hơi nước từ mặt hồ phả lên khá dể chịu, anh ngạc nhiên vì thấy có một chiếc xuồng gổ đang cột vào bụi cây ven bờ, từ chỗ đó có một con đường mòn nhỏ chạy khuất vào hàng cây. Nam còn đang suy nghĩ thì có tiếng bước chân đến từ phía sau lưng, anh quay lại và nghe một người đàn ông hỏi:

    -Chú vô đây tìm ai?

    Nam nhìn người đàn ông vừa mới đến, ông ta dong dỏng cao, trạc khoảng 35 - 40 tuổi, khuôn mặt có bộ râu tua tủa và đôi mắt soi mói, nước da ngăm đen của người làm rẩy lâu năm, đầu đội cái nón vải cũ, vành nón rách te tua.

    Cái áo nhà binh màu xanh ông ta đang mặc có hai, ba miếng vá, quần kaki đen cụt ngang gối, đôi chân trần đi trên đám cỏ xanh, tay cầm một thanh gổ dài như mái chèo, Nam nhìn ông ta trả lời:

    -Nhà tôi ở rẫy bên kia… tôi vòng qua đây đi quanh hồ

    Không chờ Nam trả lời hết câu, người đàn ông hỏi tiếp:

    -Tôi ở đây lâu rồi, nhìn thấy chú lạ quá, mua rẫy ở đây lâu chưa?

    Ông ta vừa hỏi vừa đi xuống bờ hồ, bỏ mái chèo vào chiếc xuồng và xiết chặt sợi dây cột vào mấy thân cây, rồi đi trở lên bờ.

    -Tôi ở Saigon lên đây mua đất làm rẩy được gần hai tháng, nhà anh chắc ở gần đây?

    Ông ta chỉ tay về hướng có con đường nhỏ từ bờ hồ chạy ngược lên hàng cây:

    -Rẩy của tôi ở phía này, từ con suối đi lên, tui ở đây gần năm năm rồi, khu này ít người ở, bửa nay mới biết chú mới đến mua rẩy trong này, lúc trước thỉnh thoảng có gặp ông Năm Lọ làm rẩy ở bên đó.

    Nam gật đầu và đưa gói thuốc lá ra mời, ông ta rút điếu thuốc, tự châm lửa từ cái hộp quẹt của mình, rồi tìm chỗ ngồi trên một mô đất dưới bóng cây. Ông ta nói chuyện với Nam bằng giọng Nam bộ và hỏi:

    -Chú ở quận nào dưới Saigon?

    Nam trả lời:

    -Tôi ở Phú Nhuận, gần cầu Kiệu, còn anh là dân ở đây hay chỗ khác đến?

    -Trước 75 tôi ở quận Gò Vấp, sau này đi kinh tế mới nên lên đây… ở dưới thành phố lúc này khó khăn quá.

    Nhận thấy ông ta cũng khá cởi mở, anh nói:

    -Tôi tên Nam, còn anh tên gì, thứ mấy?

    -Tôi tên Du, thứ ba.

    Trời nắng nóng, Nam cầm bình nước đưa ra mời, ông ta nhìn Nam, lắc đầu nói:

    -Tôi mới uống ở trong nhà ra…

    Ông ta thận trọng, có thể vì thấy anh lạ, Nam ngửa cổ làm vài hớp cho đỡ khát, bất ngờ ông ta đứng dậy và nói:

    -Lúc nào có dịp đi ngang qua đây chú vô nhà tui chơi nghe, ở đây ít người, có hàng xóm qua lại đỡ vắng vẻ…

    -Dạ, hôm nào có dịp tôi ghé lại nhà anh Ba.

    Nam đổi sang gọi ông ta bằng thứ như ở miền tây, và nhìn theo người đàn ông bước đi nhanh nhẹ trên con đường mòn nhỏ về phía căn nhà tranh.

    Đói bụng, anh lấy mấy củ khoai, bắp luộc đem theo từ sáng ra ăn trưa. Buổi trưa, mặt nước hồ thênh thang, tỏa ra hơi mát lạnh, lâu lâu ở phía xa có chiếc xuồng nhỏ và người ngồi giăng câu bơi chậm rải. Thường thì ở những hồ nước thông với những con suối từ các khu rừng vắng đổ ra có nhiều cá to.

    Nghỉ một lát sau bửa trưa, Nam đi dọc ngang dòm ngó khắp khu đất của mình, từ bờ hồ rồi vào trong cánh rừng cao su vắng bóng người trên dãy đồi cao cho đến tận chiều. Nhìn mặt trời đang dần lặn xuống ở khu rừng phía tây, Nam đi ngược ra lại bờ hồ ở phía trên đất của Ba Du, xuyên qua trảng cỏ nhỏ, rồi đến gần chân dốc đồi đá và rừng cây để quan sát. Các con suối đổ ra hồ nơi này thì nhỏ, Nam thấy không đúng với vị trí được ông quản gia đồn điền kể lại.

    Buổi chiều nay Nam đã đi gần hết khu vực quanh bờ hồ, cũng không tìm thấy có gì mới, anh quay về nhà vì trời cũng đã bắt đầu tối. Đi ngang qua chỗ anh gặp Ba Du lúc trưa, không thấy chiếc xuồng cột ở bụi cây, Nam đoán có lẽ ông ta đã chèo thuyền đi câu cá đâu đó trong lòng hồ rồi.

    Buổi gặp Ba Du vào ban sáng chiếm hết suy nghĩ của Nam vào tối hôm đó, anh suy đoán nhiều về người đàn ông này. Ở Ba Du như ẩn giấu điều gì đó, anh nghĩ sau năm 75, thời thế đảo lộn, thân phận con người cũng ba chìm, bảy nổi, nhiều người muốn che giấu danh tính, lý lịch của mình vì nhiều lý do. Linh tính và sự nhạy bén làm anh đoán ông ta không phải là nông dân, có thể vẻ bề ngoài đen đúa đó che dấu được người khác, và làm họ khó nhận ra thân phận thật của Ba Du.

    Mấy ngày hôm nay Nam làm việc quanh quẩn gần nhà, dọn cỏ cho đám đậu xanh và bắp vừa trỉa xuống từ mấy tuần trước.

    Xong công việc, anh ra bìa rẫy nơi có bụi trúc, chặt vài cây về làm cần, Nam có ý định đến ngồi câu ở quanh khu vực con suối chảy vào hồ để có dịp quan sát xung quanh và khu rừng chồi mà không bị ai để ý, và nếu có câu được cá thì có thêm nguồn thực phẩm cũng tốt.

    Buổi trưa, sau khi cơm nước xong, Nam xách cần câu ra ngồi dưới bóng râm của bụi cây lớn bên bờ hồ. Ánh nắng gay gắt chạy lăn tăn trên mặt hồ, Nam móc mồi vào lưỡi câu rồi quăng xuống, làn nước hồ trong xanh xao động nhẹ. Chọn mô đất khô ráo để ngồi, anh muốn tránh xa bọn kiến đen sát thủ đang đi săn mồi thành từng đoàn dài vì sợ những cái hàm sắc của chúng.

    Nam quan sát khung cảnh bát ngát xung quanh, nơi đây thật yên tĩnh, nhìn ra xa trên hồ, anh cố tìm Ba Du và chiếc xuồng, nhưng mặt nước vẩn mênh mông vắng lặng, một vài cánh cò trắng nhỏ bay la đà kiếm ăn ở khúc trên thượng lưu hồ.

    Mùa mưa vừa dứt nên lúc này các con suối chảy ra từ trong rừng vẫn còn nước. Nam theo dõi cái phao làm bằng miếng cao su đang trôi lờ đờ trên mặt hồ, thả mồi nãy giờ khá lâu mà chưa thấy cá cắn câu. Anh dựa lưng vào gốc cây cho đỡ mỏi, chợt một cuộn nước xoáy nổi lên chỗ bụi cây rậm rạp ven bờ của khu rừng chồi làm Nam chú ý, kế đến có tiếng sột soạt trong đám cây, rồi vài phút sau không gian trở lại im vắng.

    Cái phao động đậy, cần câu bị cá lôi đi, Nam nhanh tay giật mạnh, trên đầu dây câu một con cá chép khá to đang vung vẩy cái đuôi, anh mỉm cười, vậy là tối nay có món cá rồi.

    Gần về chiều, ngồi nán lại, câu thêm được vài con cá mè nhỏ, anh khoan khoái đứng dậy xách xâu cá đi về, chợt xuồng Ba Du xuất hiện từ xa, ông ta đưa tay chào Nam và gọi to. Anh cũng đưa tay về phía Ba Du đang chèo nhanh đến chỗ anh đứng, tới nơi chiếc xuồng chậm lại và cặp vào bờ, Ba Du tươi cười hỏi:

    -Câu được con cá nào không chú Nam?

    -Cũng được vài ba con anh Ba, đang tính đi về đây!

    Nam nhìn vào khoang xuồng xâm xấp nước, dưới đống lưới cũ màu xanh, có bốn, năm con cá khá to đang nhảy lạch bạch. Ba Du móc gói thuốc lá ra mời anh, cả hai ngồi hút thuốc trên mô đất ven hồ trong không gian hoang vắng của buổi chiều tà, chợt Ba Du lên tiếng:

    -Có mồi rồi, tối nay chú Nam qua bên tui làm sương sương cho vui, tui còn chai rượu thuốc để từ hồi giửa năm đến giờ, bây giờ tui về trước nghe, chừng hơi tối tối chú Nam qua!

    Nói xong Ba Du nhảy xuống xuồng nhanh nhẹ chèo về bờ hồ phía trên gần nhà ông ta, Nam nghĩ Ba Du đúng là dân Saigon, khoái kết bạn và nhậu nhẹt lai rai, nhưng mà có hàng xóm cởi mở, phóng khoáng như ông ta thì cuộc sống ở nơi đèo heo, hút gió này cũng đỡ buồn chán.

    Chiều tối Nam qua nhà Ba Du, hai người ngồi nhậu trên cái phản tre kê cao khỏi mặt đất vài ba tấc trong căn nhà tranh nhỏ, kế bên là gian bếp kê bằng ba hòn đá tròn, vài cái nồi lớn, nhỏ và ấm nước bằng nhôm ám khói đen kịt treo trên vách. Dọc theo vách là cuốc, xẻng, rựa, dao … ở phía trên cao là hai tấm ván gổ cao su dài làm kệ để mấy lọ muối, chai nước tương, nước mắm, mấy trái ớt…

    Món cá dưới hồ nướng than rất “bắt”, rau xanh thì dồi dào vì xung quanh nhà Ba Du có rất nhiều, Nam và Ba Du vừa lai rai, vừa nói chuyện về thời tiết nắng mưa, các loại giống cây trồng phù hợp với thổ nhưỡng đất đai ở đây, tình hình cuộc sống cơ cực của dân Saigon hiện nay và nông dân quanh nông trường cao su này…

    Nam ngạc nhiên thấy kiến thức và sự hiểu biết của Ba Du rộng rải và sâu sắc, có rượu ngon và câu chuyện hợp ý, giữa anh và Ba Du dần dần cởi mở hơn. Nam hỏi thăm Ba Du về gia đình ở thành phố, Ba Du bỗng trầm ngâm, rót đầy ly rượu và nốc cạn, rồi kể:

    - Sau năm 75, vì là lính VNCH, nên tui bị đi học tập một thời gian ngắn, gia đình nghèo, do vậy cuộc sóng rất khó khăn, phải bươn chải đủ nghề để nuôi mẹ già, vợ con, mấy năm sau, nhà nước bắt ép người dân lên các vùng kinh tế mới sinh sống, gia đình tui cũng thuộc diện phải ra đi, vì trước đây lúc còn là lính, tui hay đóng quân ở vùng này, nên chọn vô đây, nghĩ vì nó cũng khá gần thành phố, đi về cũng dể dàng hơn, thời gian đầu tui định mang cả gia đình lên, nhưng sau một thời gian, thấy cuộc sống ở đây còn khó khăn hơn ở thành phố nhiều, đau ốm bệnh tật không có thuốc men, bịnh viện… nên tui cho bà già và vợ con quay về lại nhà cũ, còn tui ở đây một mình, làm rẩy mỗi mùa có thêm đậu, khoai, bắp … tiếp tế cho dưới đó.

    Nam ngồi lắng nghe Ba Du nói chuyện, anh hiểu phần nào cuộc sống của những người lính miền Nam sau ngày 30/4, nhìn căn chòi trống hoác, đồ đạc sơ sài, Ba Du kể tiếp:

    -Bà xã tôi sau một thời gian về thành phố ở với bà già và đứa con trai, ra chợ mua bán lặt vặt để kiếm tiền, rồi sau đó vì ăn uống kham khổ quá, và là phụ nữ sức yếu, không may bị bệnh và mất cách đây mấy năm rồi!

    Ba Du nói xong nhìn anh, hai người đàn ông cùng im lặng trong bóng tối mờ mờ của buổi chiều ở vùng rừng núi tịch mịch. Ba Du cầm ly rượu lên cụng nhẹ vào ly của Nam như nhắc anh uống, gắp một miếng cá nướng đưa cay, anh nói qua loa về mình:

    -Tôi cũng đang sống với bà già, bà chị và mấy đưa em ở Phú Nhuận, lúc trước đi buôn đường dài, rồi nhà nước ngày càng làm khó khăn, buôn bán đường dài không được bao nhiêu mà còn dể bị bắt và tù tội, nên tôi tính mua miếng đất rẩy trồng trọt để có chút đậu, bắp… nuôi gia đình.

    Ba Du thắc mắc, nhìn Nam và hỏi:

    -Sao chú biết mà đến vùng này mua đất ở đây?

    Dĩ nhiên Nam đâu dám nói thật cho Ba Du biết lý do, anh cầm ly rượu lên rồi suy nghĩ trả lời:

    -Lúc đi buôn có quen vài người dân ở vùng này, nhờ họ chỉ dẩn, nên mua ở đây luôn cho tiện!

    Nhìn cánh tay phải của Ba Du có dấu sẹo che hàng chữ xâm mờ mờ, Nam tò mò định hỏi, Ba Du cười nói:

    -Trước 75, tôi đi lính biệt động quân, mấy thằng bạn thân trong lính xăm đó!

    Nghe xong Nam cũng cười, đâu ngờ người nông dân hàng xóm của anh là sắc lính dử dội đó, anh dư biết những hàng chữ đó là khẩu hiệu của những người lính biệt động quân khi xung trận, anh thấy cảm phục Ba Du. Chai rượu dần hết sạch theo câu chuyện của hai người đàn ông, bóng tối dần xuống trên dãy rừng xa xa bên kia bờ hồ.

    Cả hai ra trước hàng hiên ngồi hút thuốc trên khúc gỗ dài, những cơn gió chiều cuối năm đem theo hơi lạnh từ vùng rừng núi xa xôi ở phía bắc về làm se sắt lòng người.

    Hút hết điếu thuốc, thấy trời cũng đã tối, Nam đứng dậy và chào Ba Du ra về. Tiếng côn trùng vang lên rền rỉ trong bóng chiều tàn, thỉnh thoảng vài tiếng kêu, lẩn tiếng vổ cánh của các loài chim ăn đêm nghe rỏ trong không gian u tịch. Ba Du đưa tay ra bắt lấy bàn tay của Nam và siết nhẹ, anh cảm thấy có một niềm vui nhỏ trong lòng. Vừa quay người dợm bước xuống con đường mòn, anh nghe Ba Du gọi phía sau:

    -Chờ chút chú Nam!

    Nam hơi ngạc nhiên, dừng lại, Ba Du quay vào trong nhà, lúc sau đi ra đưa cho anh một cái đèn tự chế bằng mấy cục pin quân đội cũ và cây gậy có một đầu nhọn. Ba Du chỉ cho anh sợi dây để đeo cái đèn lên vai, rồi đấu nối sợi dây điện vào cục pin để đèn sáng lên, Nam mỉm cười, cám ơn rồi ra về.

    Nhờ có cái đèn chế bằng mấy cục pin quân đội cũ, và cây gậy làm vũ khí trên tay, Nam thấy yên tâm hơn khi lội bộ trong bóng tối mờ mờ ven con đường dọc bờ hồ.

    Đi cách nhà Ba Du được một đoạn khá xa, Nam theo con đường vòng vào phía trong để tránh đám rừng chồi ở ranh giới giữa rẩy của anh và Ba Du. Trong bóng đêm, đám cây rừng trông âm u kỳ lạ, anh thấy hơi lành lạnh, không biết vì sương đêm hay lo sợ.

    Những ly rượu ban chiều làm Nam hơi chếnh choáng, nhưng nó cũng làm cái gan anh to hơn lúc bình thường. Anh tiếp tục bước nhanh và lia cái đèn về phía đám cây tối đen, khi đến đoạn đường ôm sát những lùm cây um tùm, Nam nghe có tiếng sột soạt con vật nào đó đang chạy trong đó giữa các bụi rậm, làm rung lắc cây lá, rồi sau đó mọi thứ lại im lặng trở lại. Anh hơi tò mò nhưng rồi vội bước nhanh hơn, Nam đi trên các tảng đá để băng qua con suối, về hướng căn nhà nhỏ hiện ra mờ mờ ở khúc quanh trên dốc đồi.

    Trời đã khá khuya, Nam đứng trước cửa nhà nhìn về đám rừng chồi đang chìm trong màn đêm, đầu óc nghĩ ngợi vì những điều lạ lùng, khó hiểu mà anh thấy từ lúc về đây.

    Đây là vùng đất hoang vu, trong thời chiến tranh, bom đạn của các trận đánh nhau tàn phá khắp nơi, và có một điều chắc chắn là nhiều dân thường và lính tráng ở hai bên chết trong khu đồn điền cao su này.

    Nghĩ đến đây Nam thấy ớn lạnh, anh không tin có ma quỷ, nhưng sống một mình cũng thấy cô đơn lạnh lẻo giữa rừng núi, dù sao nơi thâm sơn cùng cốc này có được người hàng xóm như Ba Du thì cũng yên tâm hơn.

    Sáng hôm sau, Nam dậy trễ vì hôm qua uống khá nhiều rượu ở nhà Ba Du, làn gió lạnh của thời gian cuối cùng trong năm làm anh tĩnh táo dần, mặt trời vẩn chưa lên rỏ trên dãy đồi phía đông. Đứng trước căn nhà nhìn về phía đám bắp xanh tốt đã có trái to, khoảng ba, bốn tuần nửa thì vừa thu hoạch.

    Năm nay bắp và đậu xanh trúng mùa, ít bị sâu bệnh và thú hoang như sóc, chim … ra phá phách. Tối qua nghe Ba Du kể, có nhiều năm không rỏ vì lý do gì, đến mùa thu hoạch cuối năm như thời gian này, các loài thú trong rừng tràn ra rẫy cắn phá hằng đêm, đến lúc thu hoạch thì chẳng còn được bao nhiêu.

    Ăn sáng qua loa với cơm nguội và cá kho sẵn từ chiều hôm qua, Nam nấu nước uống trong cái ấm nhôm ám khói đen, bắc trên cái bếp bằng ba cục đá to lấy từ con suối về.

    Buổi sáng đầu ngày, vì đang là mùa khô, Nam ra xách nước từ giếng về đổ vào cái thùng phuy cụt ở sau nhà, ông chủ nhà cũ có lẻ tìm được nó trong khu nhà ở của công nhân trong đồn điền cao su và đem về xài. Bên hông thùng còn dấu những lổ đạn bắn xuyên qua, được ông ta trét kín lại bằng mấy miếng vải bao bố cũ xé nhỏ tẩm nhựa hắc ín, rồi nhét vào đó để nước không chảy ra. Còn việc tắm táp, buổi chiều, anh thường ra ngoài hồ cho đỡ phải vất vã xách nước giếng.

    Xong công việc, anh lấy cái nón vải cũ kỹ đội lên đầu và cầm theo cây rựa, sau khi lội một vòng ra rẩy, Nam đi ngược lên phía bờ hồ nhà Ba Du dưới bầu trời nắng nhẹ buổi sáng, mặt nước hồ gợn sóng lăn tăn theo từng cơn gió từ phía đông bắc thổi về. Trong các bụi cây và cỏ dại mọc xanh um tùm gần bờ hồ, vài con chim nhỏ vụt bay lên cao khi nghe tiếng chân anh bước loạt soạt đến gần.

    (còn tiếp)

  2. The Following 6 Users Say Thank You to Vũ Phan For This Useful Post:

    hoang yen (11-07-2016), khongquan2 (10-28-2016), KiwiTeTua (11-03-2016), muahong (10-28-2016), nguyenphuong (10-28-2016), thien ly (10-30-2016)

  3. #2
    Vũ Phan's Avatar
    Status : Vũ Phan v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2016
    Nguyên quán: Saigon
    Posts: 79
    Thanks: 243
    Thanked 213 Times in 67 Posts

    Default Bí mật hai thùng đồ cổ


    Bỗng Nam nghe có tiếng nói chuyện của hai người đàn ông, từ phía bên phải của khu rừng vọng đến chỗ anh đang đứng quan sát dòng suối. Anh quay về hướng đó, và tự hỏi có ai lại vào đây lúc sáng sớm, nghe tiếng nói chuyện thì không phải Ba Du.

    Một lúc sau, Nam thấy hai người đàn ông, một người trung niên độ khoảng 35 – 40 tuổi, nét mặt xương xương, nước da xanh tái, đầu đội nón vải xám và mặc cái áo bộ đội cũ, cái quần tây bằng vải ni-lông đen, mà mấy ông du kích miền nam hay mặc khi ra làm việc ở trụ sở các địa phương sau ngày "giải phóng". Tay thanh niên còn trẻ, khoảng trên dưới 20 tuổi, hắn ta đeo cây M-16 trên vai, cách ăn mặc làm Nam nhận ngay ra đó là du kích địa phương .

    Anh nhìn người đàn ông thấy hơi quen quen, nhớ lại lúc lên trụ sở xã lúc làm giấy tờ sang nhượng đất, có gặp ông ta một vài lần, lúc đó đang nói chuyện với tay chủ tịch xã, đeo sắc cốt chéo qua vai, chân mang đôi dép râu. Nam nghe ông chủ tịch xã gọi ông ta là Tư Có, có lẻ người đàn ông là đội trưởng du kích ở xã này.

    Hai người kia vừa bước qua khỏi đám rừng cây cũng thấy anh, tay đàn ông trung niên bước đến chỗ Nam đang đứng, tay du kích lẽo đẽo theo sau. Cả hai ngừng nói chuyện, ông ta đi qua đám cỏ cao ngang gối, nhìn Nam với vẻ soi mói:

    - Anh là người mới tháng trước tui gặp lên xã làm giấy tờ chuyển nhượng lại đất này của ông Năm Lọ phải không?

    Nam nhìn thoáng khuôn mặt và đôi mắt nhỏ hơi đục của ông ta:

    - Dạ đúng, lúc đó tôi lên xã để làm xác nhận giấy tờ với ông Năm cho đúng thủ tục và đăng ký với địa phương, có phải anh là xã đội trưởng Tư Có phải không?

    Ông ta gật đầu, nhìn cây rựa Nam đang cầm trong tay:

    - Anh tên gì, đi thăm rẫy hay sao sớm vậy, đậu, bắp… năm nay tốt không?

    - Tôi tên Nam, thấy cũng không tốt lắm!

    Nam không dám nói rẫy bái tốt, làm dân thời buổi bây giờ phải khôn, không thì cũng mệt với mấy ông chính quyền xã vụ thuế má, hay kiếm chuyện bắt đóng góp này nọ cho xã. Tay du kích đứng nhìn Nam lom lom, thỉnh thoảng hắn rít điếu thuốc lá, nhả từng bụm khói khét lẹt và nhìn bâng quơ qua bên kia bờ hồ.

    Tư Có đưa tay xốc lại cái sắc cốt màu nâu đen, anh đoán trong đó có khẩu súng ngắn mà mấy tay đội trưởng du kích hay xài. Ông ta im lặng bước ngang qua mặt Nam và đi ngược về phía căn nhà của anh, tay du kích theo Tư Có đi dọc bờ hồ rồi khuất dần.

    Hôm nay, anh định vào bên trong đám rừng chồi để tìm dấu vết hai thùng đồ cổ của chủ đồn điền Tây chôn giấu, nên Nam rất đề phòng, do đó khi Tư Có và tay du kích xuất hiện ở khu vực này, làm anh thấy thắc mắc.

    Anh suy nghĩ, không biết Tư Có và tay du kích chỉ đi tuần như mọi khi, hay họ đi qua ngọn đồi bên kia để săn bắn, phía bên đó đi thêm khoảng 5 - 10 cây số nửa là đến vùng rừng già rậm rạp ngày xưa thuộc mật khu cũ chạy dài lên tận biên giới Campuchia, còn khu vực này chỉ còn rừng chồi, đâu còn thú rừng mà săn bắn.

    Anh tính khi gặp Ba Du sẽ dọ hỏi về tay đội trưởng này để biết rõ thêm, dù sao Ba Du cũng đã ở đây gần năm, sáu năm, chắc hiểu rõ về Tư Có hơn anh.

    Thấy họ đã đi xa, Nam tiếp tục tìm kiếm quanh khu rừng chồi, ở đây các nhánh cây, tầng lá rậm rạp và dây leo quấn quanh thân cây xù xì, làm đám rừng thêm âm u tối tăm, nó như một bức tường thành màu xanh chắn ngang lối đi từ hướng rẩy của Nam ngược lên phía đất của Ba Du.

    Cách đây gần một tuần, Nam cũng đã lội vào đám rừng, nhưng hôm đó không mang theo rựa, nên anh không vào được bên trong vì đám dây leo và các bụi cây gai góc chằng chịt bên dưới.

    Lần này, anh đi sâu vào giữa khu rừng để tìm kiếm manh mối chỗ chôn giấu hai cái thùng, vì chỗ này không quá xa nơi dòng suối đổ ra hồ nước. Dùng rựa dọn lối đi qua đám dây leo và bụi rậm, Nam thận trọng tiến vào, không khí càng vào sâu bên trong càng im vắng. Nghe tiếng động của chân người dẫm lên cành khô và lá bên dưới, vài con chim nhỏ nhanh nhẹ phóng vọt lên các cành cây cao, rồi tò mò thò đầu xuống quan sát và vung vẩy cái đuôi ngắn ngủn qua lại như thách thức kẻ đang xâm nhập vào lãnh địa của nó.

    Không khí âm u trong khu rừng làm Nam thấy nặng nề, khó thở, anh cầm cây rựa phạt mạnh, chặt đứt những sợi dây leo thòng xuống che khuất lối đi, có lúc phải chặt thêm vài ba nhát nữa, mới dọn được cành lá đế lấy lối đi. Tiến lên thêm một đoạn vào gần bên trong, các bụi cây thưa dần, chỉ còn những thân cây to và các loại dây leo bò quấn quanh từ gốc lên tận bên trên các nhánh.

    Nền đất bên dưới phủ một lớp lá vàng khô, những cái rể cây sần sùi nổi lên trên mặt đất giống những con rắn lớn, lan tỏa trong không khí là mùi ẩm mốc của lá mục, các nhánh cây chết lâu năm đang phân hủy.

    Ở đây không thấy có dấu hiệu của những con thú như mễn, nhím, sóc … Nam bước lên lớp lá khô mục, từ từ quan sát xung quanh và đi ra gần bờ hồ. Trên đầu, các tầng lá giao nhau che kín, thỉnh thoảng mới lộ ra vài khoảng hở với màu trời xanh bên trên.

    Nam cố gắng quan sát để tìm các dấu hiệu khác thường, nhưng ngoài dây leo, bụi rậm mọc trùm lên thân cây, các tảng đá nằm chồng chất khắp nơi, anh không tìm thấy được dấu hiệu nào lạ.

    Nam trở ra theo lối cũ của lúc đi vào, bên trong đó bít bùng và độ ẩm cao làm anh thấy ngột ngạt nên mồ hôi ra ướt đẫm áo. Dùng rựa phạt đứt cành lá, dây leo lòng thòng đang cản lối, Nam cố bước nhanh ra ngoài, bầy kiến rừng đen làm tổ bên dưới những gốc cây và các tảng đá bị đánh động vì có người dẫm lên khu vực sinh sống của tụi nó, liền xông ra và bám vào chân tay Nam để đốt, gây ra những cơn ngứa ngáy, bỏng rát rất khó chịu.

    Anh bước ra như chạy cho đến khi thoát ra được bên ngoài, không khí mát mẻ từ hồ nước theo gió thổi qua thật dể chịu. Hít vài hơi thật sâu vào buồng phổi, Nam lấy tay phủi mạnh những con kiến đang hung hăng đang tìm cách cắn, đốt hai cánh tay và hai bàn chân. Ra đến bờ hồ, Nam lấy tay vốc nước rửa sạch lớp bụi bặm dính trên khuôn mặt và thò tay chân xuống ngâm dưới hồ nước, làm dịu bớt những vết đốt của lũ kiến và côn trùng trong đám rừng.

    *
    * *

    Mặt trời đã lên khá cao, thời tiết tháng chạp vùng bán sơn địa Bình Long vào mùa đông tương đối dễ chịu, tuy nhiên về ban đêm, nhiệt độ cũng xuống thấp nên khá lạnh.

    Mấy hôm nay anh loay hoay nhổ cỏ, chăm sóc, bón thêm phân cho đám đậu xanh đã bắt đầu lên cao, rồi xoay qua làm cỏ, tưới nước cho đám bắp. Nhiều đám đậu và bắp bị bọn cào cào, dế, chuột … tràn ra cắn phá, chưa có kinh nghiệm với mấy vụ này, Nam chưa biết cách phòng trừ đám côn trùng này ra sao.

    Anh mỉm cười và suy nghỉ trong bụng, đi tìm đồ cổ đâu không thấy, biết đâu chừng anh lại trở thành một tay nông dân chính cống. Thành phần mà mấy ông chính quyền cộng sản sau năm 75 hay ca tụng là giai cấp công – nông ưu tú lãnh đạo đất nước, được mạnh mẽ tuyên truyền trên báo chí và ra-điô.

    Chắc phải qua gặp Ba Du để hỏi kinh nghiệm xem cách phòng chống mấy con cào cào, dế … này ra sao, Ba Du đã làm rẫy cũng ba, bốn năm rồi thì chắc biết rành vụ này, còn không thì đến lúc thu hoạch chẳng sót lại bao nhiêu.

    Mang cái đèn tự chế mượn hôm trước qua trả lại Ba Du, Nam đi vòng khu rừng, băng ngang con suối qua phía trên. Những cây bắp trên rẫy Ba Du xanh tốt, và đã có trái to vì được trỉa hạt sớm hơn, đám khoai lang thì Ba Du trồng trên diện tích lớn, đến hôm nay các nhánh của nó bò xanh um trên mặt đất, gần khoảnh đất bên hông nhà, Ba Du trồng đậu xanh, nay cũng đã lên cao ngang đầu gối, đám đậu xanh tốt lắc lư mấy cái ngọn nhỏ theo luồng gió thổi lên từ hồ nước.

    Phía trước căn nhà tranh im lìm, cánh cửa tre đóng kín. Trong sân đàn gà năm, sáu con, cả trống lễn mái đang nhủi đầu bươi dưới gốc mấy cây mít và điều, khi Nam đến gần, cả đàn bỏ chạy ra xa và nghểnh đầu lên kêu táo tác.

    Con chó Ki không nhớ hơi Nam, nó nằm bên trong sủa văng vẳng. Hôm anh đến nhậu với Ba Du chủ nó, lúc đầu nó hậm hực nhưng bị Ba Du la, nên chạy lui ra góc nhà nằm ở đó, thỉnh thoảng nó lại liếc nhìn anh và Ba Du xem có bỏ cho nó miếng xương cá nào không. Ba Du có vẻ thương nó, vì trong cái hóc bò tó này, nó là bạn chí cốt của Ba Du trước khi anh đến, chứ xung quanh đây có ai nửa đâu, lâu lâu Ba Du lại gắp miếng xương bỏ xuống, nó chạy đến ăn ngon lành lắm.

    Lúc sau nó có vẻ nhận ra người quen, nên nó bớt sủa, và chỉ đứng gườm qua khe vách thưa. Đi theo lối mòn nhỏ ra bờ hồ nơi Ba Du hay cột chiếc xuồng ở đó, Nam dừng lại dưới gốc cây, nhìn ra mặt hồ mênh mông, nhưng không thấy Ba Du và chiếc xuồng đâu, anh đoán chắc Ba Du đã đi đánh bắt cá rồi, nhìn hồ nước mênh mông và rừng cây mọc xanh ven bờ, Nam thấy nếu có dịp chèo lui tới trên cái hồ rộng này để đánh bắt cá như Ba Du cũng thích thú. Anh nghĩ hôm nào rảnh rỗi, qua hẹn trước và xin Ba Du đi theo đánh bắt vài chuyến, sẵn đó quan sát cho biết hết địa thế của bờ hồ quanh khu này.

    Nghe người dân ở đây kể lại, hồ này lớn và dài, phần cuối của nó giáp với những cánh rừng già ngày xưa là chiến khu, từ đó có thể đi theo các con đường mòn xe be vào khai thác gỗ, và của người thượng đi lên tận biên giới Miên.

    Thêm nữa Nam cũng thuộc loại ưa phiêu lưu, xưa nay sống ở thành phố lớn, đã quen với không khí đô thị tiện nghi, đường xá, nhà cửa rộng rãi, nay vào đây, máu thanh niên trẻ nhìn cảnh rừng núi bạt ngàn, sông hồ bát ngát, hoang vắng nên cuồng chân muốn đi đây, đi đó để khám phá.

    Đang mông lung nghĩ ngợi, bỗng Nam chú ý đến dáng một người đàn ông đang đi dọc bờ hồ khá xa ở phía trên, ông ta vừa đi vừa quan sát cây cối, bụi rậm chen lẫn với những tảng đá nằm rải rác khắp nơi, rồi đi một đoạn nữa về phía nhà Ba Du. Nam bắt đầu thấy rõ hơn dáng đi của ông ta, cái sắc cốt đen đeo trên vai và bộ quần áo làm anh nhận ra đó là Tư Có, tay đội trưởng mà mới cách đây vài ngày, ông ta cùng với tay du kích đi lòng vòng trong khu này. Nam ngồi thấp xuống phía sau một thân cây, xung quanh có vài bụi rậm mọc cao quá đầu gối, kín đáo nhìn xem Tư Có làm gì vào đây mà chỉ có một mình.

    Mấy ông du kích ở vùng sâu, vùng xa này có thể hét ra lửa chứ chẳng kém ai đâu, dân thành phố bị đưa lên vùng kinh tế mới trên này, kể cả nông dân cũ có gốc tích ở đây từ ngày xửa ngày xưa cũng sợ, cũng không dám đụng đến.

    Lúc còn chiến tranh, mấy ông du kích này ở trong rừng sâu thiếu thốn đủ thứ, họ sống và tồn tại nhờ vào sự che giấu, giúp đỡ của những người nông dân chân đất ở đây và trong đồn điền cao su. Thế nhưng sau chiến tranh, nhiều nông dân thất vọng vì sự giúp đỡ của họ bị lãng quên, hơn thế, nhiều nơi họ cũng bị đối xử tệ bạc như những người dân khác của chế độ cũ.

    Nam quan sát Tư Có đi từ phía bên hông trái ra cái sân nhỏ trước nhà Ba Du, ông ta gần như cố nhìn vào trong căn nhà. Con Ki im lặng sau khi Nam bỏ đi ra bờ hồ, bây giờ đánh hơi có người lạ đến gần, nó sủa không ngớt, tiếng nó vang vọng trong căn nhà vắng. Tư Có bước đến gần vách tre thưa để nhìn vào phía bên trong, sau một hồi quan sát ông ta cầm khúc cây trên tay đập mạnh vào tấm phên cửa sổ làm con Ki càng sủa dữ hơn. Quay bước ra góc sân trái, Tư Có đứng nhìn đám bắp và đậu xanh đang lên xanh tốt, nét mặt lạnh lẻo như đang suy nghĩ chuyện gì.

    Trước khi rời khỏi sân nhà Ba Du, ông ta nhìn xung quanh bờ hồ, và phía căn nhà của Nam, rồi lội ngang qua rẫy đi về phía rừng cao su của nông trường.
    Đợi bóng Tư Có khuất hẳn, Nam thận trọng đứng dậy quan sát, vì biết đâu còn tay du kích nào đó đi lọt lại phía sau.

    Nam tò mò muốn tìm hiểu xem Tư Có tìm kiếm thứ gì khi ông ta đi qua mấy chỗ đó, anh bước theo lối mòn nhỏ bên bờ hồ, rồi đi dọc hàng cây trước sân nhà Ba Du, con Ki đứng ở phía bên kia gầm gừ nhìn qua, nhưng không sủa, chắc là cái vách phía sau có lỗ hổng nên nó chui ra được. Khi Nam kêu nó, tiếng gầm gừ im bặt, nó quay trở về nằm trước sân nhà, anh đi ngược về hướng Tư Có lúc nảy vừa đi qua, đất chỗ này dần lên cao thoai thoải đến sát dãy đồi. Vừa đi vừa quan sát dấu chân ông đội trưởng còn lưu lại trên đám cỏ bị ngã rạp xuống, ông ta có lúc đi men bờ hồ, lúc lại đi sâu vào bên trong, khó biết ông ta đang tìm cái gì.

    Càng đi sâu về phía trên này, cây cối mọc xen lẩn các tảng đá tạo nên khu rừng chồi nằm giáp với rừng cao su của nông trường, có lẻ ranh đất của Ba Du cũng ra đến chỗ này, nơi có hàng tre mọc dầy kín, nhìn những dấu chân của Tư Có vừa đi qua những bụi cỏ thành một vệt kéo dài từ rừng cao su, Nam đoán ông ta đi ra từ nơi đó.

    Nam đi lên tận nơi cao nhất của dãy đồi, và nhìn về phía sau, thấy căn nhà của Ba Du nằm lẻ loi trên chân dốc chạy thấp dần xuống hồ, phía trước là hàng rào cây xanh che chắn. Xa hơn nữa là con suối chảy ra hồ nước, bây giờ nó như một đường chỉ ngoằn ngoèo cạnh khu rừng chồi rậm, còn căn nhà của anh thì nằm xa hơn về phía dưới.

    Thấy đã đi quá xa, Nam quay trở lại, anh đi ngang đất Ba Du, lội xuống con suối, qua rẫy khoai mì về nhà.

    Nhìn những cụm mấy xám vần vũ trên cao, và những hạt mưa lất phất bay, gió mùa đông bắc đang thổi về, đêm nay và sáng mai chắc trời trở lạnh.

    Về nhà ăn trưa xong, anh nằm ngủ một giấc lấy sức, không gian yên tĩnh của rừng núi và cơn gió dịu mát dẩn anh vào giấc ngủ lúc nào không hay.

    Nam mơ thấy mình câu được một con cá rất lớn, cái cần câu bị cong oằn lại dưới sức nặng của nó, mỗi lần anh cố kéo nó lên khỏi mặt nước, nó liền vùng vẩy chống cự rất mạnh, cái thân to dài màu đen với cái đuôi quẩy mạnh đập xuống làm nước văng tung tóe. Từ nhỏ đến lớn, anh chưa từng gặp con cá nào khỏe và dữ tợn như vậy. Dồn hết sức mạnh của thân người vào hai cánh tay, Nam cố lôi nó vào sát bờ, con cá quấy cái đuôi to của nó và lặn sâu xuống làm nước hồ ở chỗ đó sôi lên sùng sục, con cá tiếp tục vẫy vùng hết sức dũng mãnh, còn Nam thì quyết tâm bắt nó chứ không để sổng. Cứ mỗi lần anh lôi con cá lên gần mặt hồ thì nó lại vùng vẫy cái thân mình đen dài và cái đuôi lớn thật dữ dội chứ không chịu khuất phục. Bất ngờ từ dưới đáy hồ có bóng một con vật bơi lên, cái hàm của nó đớp thẳng vào thân mình đen dài của con cá với một sức mạnh kinh khủng và lôi con mồi sâu xuống mặt nước, đồng thời kéo luôn Nam và cái cần câu xuống hồ làm anh chơi với trong làn nước lạnh mờ tối, cảm giác bị ngộp thở dưới vùng nước mịt mùng đó làm anh choàng tỉnh.

    Vẫn còn bị giấc mơ kinh khủng đó ám ảnh đầu óc, Nam ngồi bật dậy và ra phía sau lấy nước rửa mặt cho tỉnh táo lại đôi chút. Mặt trời đã xuống lưng lửng ngang bầu trời xám xịt, anh đoán chắc khoảng hai, ba giờ chiều.

    Ra khoảnh đất sau nhà gần chỗ cái chuồng gà cũ, Nam lấy xẻng đào lớp đất gần những bụi cỏ kiếm trùng đất làm mồi. Sau một hồi thấy đã đủ, anh lấy miếng lá chuối to bỏ đám trùng vào đó với nắm đất để bọn nó rúc vào và nằm yên trong đó, không bò đi lung tung.

    Ra đến chỗ bờ hồ ngồi câu lần trước, anh móc mồi và quăng xuống, cái phao nhỏ nổi trên mặt hồ và trôi nhẹ ra xa.

    Nhớ lại giấc mơ lúc nằm ngủ trưa, anh cố nhớ lại lúc con cá đen trũi và to mắc vào lưỡi câu, nó vùng vẩy ở đầu dây và lặn sâu xuống hồ, rồi bị một con vật to kỳ lạ, mà anh không kịp nhận ra hình dáng, tấn công rồi lôi nó và cả anh xuống dưới sâu, đúng là một giấc mơ kỳ quái.

    Nam nhìn chăm chú cái phao đang trôi lờ đờ, chiều nay mặt hồ bị những đám mây xám trên bầu trời phản chiếu xuống, nên cả một vùng nước hồ mênh mông mang một màu tối nhờ nhờ.

    Cái phao bị giật giật nhẹ vài cái rồi lại nằm im, Nam chú ý quan sát và đưa tay cầm hờ cần câu, lần này nó bị kéo sâu xuống và cái cần bị lôi theo, anh ghì lại, sức mạnh của con cá làm đoạn trúc trên cùng cong vòng rồi bật lên xuống vài ba lần. Bật đứng dậy, Nam bước lui về phía sau vài bước, nhấc con cá lên khỏi mặt nước và kéo nó vào bờ, con cá chép to với những cái vảy xám bạc trên lưng và đuôi màu đen, nó phải nặng hơn hai ký, đang giãy giụa trên đám cỏ xanh. Lấy sợi dây ni-lon xỏ qua mang nó và thả xuống nước để giữ nó sống, đầu dây còn lại anh buộc vào cây nhỏ sát bờ, phòng khi nó vùng vẫy tẩu thoát.

    Nam móc lại mồi rồi quăng xuống hồ, cả ngày hôm nay anh không thấy bóng dáng Ba Du đâu. Bên kia bờ hồ là khung cảnh tịch mịch, vắng vẻ của ngôi làng nhỏ, mặt trời đang từ từ lặn về phía tây trên cây rừng ở phía xa xa. Lại có cá cắn câu, anh giật mạnh cái cần và lôi con cá lên bờ cỏ, con cá mè to nằm dẫy đành đạch, nắm chặt cái đầu của nó, Nam gỡ cái lưỡi câu ra khỏi mép và xỏ sợi dây qua mang, thả xuống hồ cùng con kia, giống cá chép và mè ở đây to lớn và háu ăn, cái hồ này giống như một vương quốc riêng biệt của tụi nó.

    Từ ngày dòng suối bị ngăn lại thành hồ nước tràn ngập cái thung lũng nhỏ với vô số hang hóc khúc khuỷu dọc hai bên bờ, tạo thành nơi trú ẩn lý tưởng và nguồn thức ăn dồi dào cho bọn cá từ những nhánh suối nhỏ khác trong rừng đổ ra. Do có các điều kiện thuận lợi như vậy, nhiều giống cá có sẵn trong các dòng suối như chép, mè, rô … sinh sản nhanh và đạt kích thước to lớn trong lòng hồ mênh mông.

    Thấy còn nhiều trùng, Nam móc lại mồi, quăng dây câu ra xa và lấy thuốc lá ra hút. Buổi chiều thanh vắng trong cảnh cô tịch dể lay động lòng người. Nhìn căn nhà tranh nhỏ đơn sơ nằm chơ vơ giữa đồi núi, màu xanh bát ngát của rẫy bắp, đậu, khoai chạy dài đến tận rừng cao su chập chùng bên trong làm Nam thấy trống trải, cô đơn.

    Anh lại nhớ về Saigon, nơi anh có một tuổi thơ tuyệt vời trước ngày chiến tranh chấm dứt, ở đó có những thằng bạn sôi nổi, vui vẻ, hay phá phách nhưng học hành rất giỏi, và những cô bạn gái hiền lành, dể thương. Rồi những con đường Tự Do, Nguyễn Huệ, Lê Lợi đi về chợ Bến Thành … cùng nhiều nơi khác mang đầy những kỷ niệm thời học trò của anh và tụi bạn.

    Tuổi trẻ của anh đi rong chơi trên các con đường tuyệt đẹp đó của Saigon hoa lệ, mặc dù những năm, tháng đó miền nam đâu đã có hòa bình, anh nhớ nhiều về những ngày yêu dấu đó, nhớ cô bạn gái rất dễ thương đã bỏ Saigon ra đi, Nam lặng lẽ cúi đầu và muốn rơi nước mắt.

    Mặt hồ chiều nay yên tĩnh quá, chỉ có những cơn gió lành lạnh cuối năm phảng phất thổi qua ngàn cây ngọn cỏ. Làn nước xanh trong gợn sóng lăn tăn, đàn cò trắng dăm con chen lẫn vài con lông nâu đang lặn lội dọc phía bên kia bờ hồ, cố vớt vát thêm vài con cá, con tôm… bỏ vào bụng trước khi bay về tổ, nằm xa tít tắp đâu đó phía cánh rừng già ở khu vực thượng lưu của hồ nước.

    Chiếc phao nhỏ lại động đậy và chầm chậm trôi ngang làm Nam chú ý, anh đặt hờ tay lên cần câu phòng con cá nào đó ăn mồi rồi bất ngờ lôi mạnh.
    Chiếc phao bị kéo vụt sâu xuống khỏi mặt nước, anh giật cái cần câu về phía sau và đứng dậy nhấc nó lên. Lần này Nam không cảm thấy có sự vùng vẫy, chống cự như hai lần trước khi cá dính câu, nhưng anh cảm thấy nó trì nặng nặng xuống. Nhìn dây câu căng lên và đầu cần cong chúc xuống, sợ kéo mạnh làm đứt sợi dây, Nam lựa thế lôi con cá từ từ vào bờ, khi thấy nặng tay và căng quá, anh lại lơi nhẹ đôi chút rồi tiếp tục kéo mạnh. Một lúc sau nó có vẻ mệt mỏi, nên không trì lại mạnh như lúc đầu, Nam nhắm thấy đã gần bờ, nên hai tay nắm cái cần câu dồn lực kéo con cá vào. Khi vừa lên khỏi mặt nước, ở đầu dây không phải là một chú cá to như anh chờ đợi, đó là một con ba ba suối màu đen. Nó đang bị lật ngửa trên cỏ, bốn cái chân với các móng vuốt quơ quào trên không, cái đầu nhỏ có cái mũi dài, nó đang cong cái cổ lên như muốn tìm cách lật thân mình trở lại. Nam biết loài này, bình thường thì nó rất nhút nhát, hay tìm nơi vắng vẻ để trốn tránh, nhưng khi bị bắt thì nó rất dữ tợn và tìm cách cắn lại.

    Rất khóai chí, anh nghĩ đến Ba Du, con này mà làm mồi nhậu thì rất đã vì thịt nó rất ngon.

    Nam vẫn để nó dính trên lưỡi câu, rồi vác cần câu lên vai và xách nó cùng hai con cá tòn teng trên sợi dây nhỏ đi về nhà.

    Về đến nơi, anh cẩn thận gỡ con ba ba khỏi dây câu, rồi bỏ vào cái thùng phuy nhỏ có ít nước dưới đáy, chiều nay chiên con cá mè cho bữa tối, còn con kia Nam bỏ luôn vào trong cái thùng nước. Thịt hai con cùng một lúc thì quá dư, để nó với con ba ba sống thêm một, hai hôm nữa, khi nào hẹn Ba Du qua nhậu lai rai để giao hữu, sẽ chiêu đãi cùng một lúc vừa có cá chép, vừa ba ba một bữa cho xôm tụ một chút.

    Nam thấy vui vẻ trở lại, cơn buồn phiền buổi chiều khi ngồi câu cá bên bờ hồ dường như biến mất. Anh thấy khoan khoái vì không ngờ cái hồ nước này có nhiều cá như vậy, bửa ăn thiếu thốn hằng ngày có thêm cá tươi ngon, lại có chỗ để giải trí khi rảnh rổi.

    Anh định sáng sớm mai qua Ba Du hẹn trước, rồi về xem qua bắp và đậu xanh vì đã sắp đến lúc chăm sóc và bón thêm phân, qua khoảng một tháng nữa là đến mùa thu hoạch.

    Còn thiếu món rượu, dù đường đi từ trong này ra ngoài xã cũng xa, nhưng Nam vẫn tính vác gùi lội bộ ra đó đong vài lít đế về để sẵn và nhân tiện mua thêm một số món cần thiết như xà bông cục, diêm quẹt, dầu hôi nếu ngoài đó họ có bán.

    Từ ngày cách mạng vào giải phóng miền nam, nền kinh tế gần như sụp đổ, đâu còn nhiều hàng hóa như trước năm 75 để mua, cuộc sống của người dân hết sức thiếu thốn, cùng cực, nhất là mấy vùng thôn quê.

    Xong bữa ăn tối “thịnh soạn”với món cá rán và rau muống luộc mọc gần bờ hồ, Nam thấy khỏe khoắn. Cuối tháng chạp nên trời trở lạnh về đêm, anh khoác thêm cái áo lính cũ màu xanh lên vai và ra ngồi trên khúc gổ phía trước hút thuốc, ánh đèn dầu mờ mờ từ trong nhà không đủ sáng đến ngoài sân, trời tối nhưng Nam đoán chừng mới khoảng hơn bảy giờ.

    Không hiểu ngày hôm nay Ba Du đi đánh cá hay đi đâu mà không thấy tăm hơi. Những lúc nói chuyện với nhau, anh để ý thấy Ba Du rất ý tứ và giữ lời, không phải chuyện nào cũng nói hết cho Nam nghe. Dù sao thì anh cũng chỉ là người mới quen mà thôi, làm sao có thể biết được tất cả mọi nơi mà Ba Du thường lui tơi, hi vọng sau này khi thân tình hơn, may ra lúc đó Ba Du mới kể cho nghe.

    Đang mơ màng suy nghĩ vẩn vơ, Nam nghe như có tiếng chó sủa vọng đến từ phía nhà Ba Du, tiếng con Ki sủa rất lớn trong không gian vắng vẻ về đêm. Anh nghĩ hay là có ai đến gần rình mò để trộm cắp đồ đạc, dụng cụ làm rẩy và mấy con gà. Nam cố nghe ngóng, rồi nghĩ đến hồi sáng nay, lúc gặp Tư Có đi ngang qua nhà Ba Du với thái độ dò la, tìm hiểu. Ngày mai nếu gặp Ba Du, anh sẽ nói chuyện về việc này để xem Ba Du phản ứng ra sao ….

    Sáng nay trời mờ mờ sương, gió heo may thổi nhè nhẹ mang theo hơi lạnh từ hồ nước tỏa lan khắp vùng. Ăn sáng xong Nam cầm rựa ra khỏi nhà và đi về phía nhà Ba Du.

    Mặt trời bị che lấp trong những đám mây bàng bạc ở phía đông, trên bầu trời thỉnh thoảng những đàn chim giang cánh bay về phương nam, anh nhìn lên, có lẽ đó là những con chim di trú, hằng năm bay về đó để tìm chỗ trú đông.

    Anh lội bộ vòng qua rừng chồi, băng ngang con suối ở ranh giới giữa hai khu rẫy, dòng nước buổi sáng sớm thấm ướt hai bàn chân làm Nam thấy lạnh, anh bước nhanh lên những hòn đá trong lòng suối qua bên kia bờ.

    Khi đi ngang qua chỗ Ba Du hay buộc chiếc xuồng, không thấy nó ở đó, anh đoán Ba Du chắc tối qua chưa về hay sáng nay lại đi sớm.

    Cửa nhà Ba Du vẩn đóng im lìm, con Ki đang nằm bên trong nghe tiếng bước chân Nam đến gần, nó gầm gừ định sủa. Anh kêu tên nó vài lần và đi vòng ra phía sau để xem đêm qua có bọn trộm đạo nào cạy vách nhà vào khua khoắng đồ đạc, hay bắt đàn gà không. Mọi thứ vẩn yên ổn, mấy con gà còn đậu ở trên những cây tre dài gác ngang trong chuồng, để tránh rắn rít và chồn cáo vào buổi tối.

    Nam để ý thấy có cái áo lính cũ Ba Du hay mặc khi đi đánh cá phơi trên cây sào tre khác với hôm qua, vậy là tối qua khi con Ki sủa, Ba Du có về rồi sáng nay lại đi sớm. Có chuyện gì mà Ba Du có vẻ tất bật, anh thử đẩy nhẹ cái phên cửa, nó đã bị gài chốt bên trong.

    Suy nghĩ chốc lát, Nam quay về nhà và đeo cái gùi mây cũ lên vai, bỏ vào đó bình nước nhỏ và cây rựa để phòng khi đi đường rồi lấy cái nón vải đội lên đầu.
    Anh đi dọc theo con đường ven hồ, từ trong này ra đến trung tâm xã nơi có ủy ban, chợ và hàng quán cũng gần bốn, năm cây số, vì vậy dân trong này ít khi muốn ra ngoài đó, trừ khi bị bệnh hoạn hay có dịp nào có xe máy cày hay xe chở hàng của nông trường đi ngang qua đây thì xin quá giang.

    Nam đi ngang qua nhiều khu rẫy trồng đậu, bắp, khoai lang, mì … trên các triền đồi dốc của mấy ông nông dân trong vùng. Lúa rẫy ở đây chỉ trồng được vào mùa mưa, và dựa vào nước trời như của người thượng, nên mỗi năm chỉ trồng có một mùa và cho năng suất rất thấp. Nhìn những căn chòi của họ nằm chơi vơi giữa núi rừng, cũng giống như căn nhà của anh và Ba Du, xung quanh nhà trồng vài cây mít, xoài, điều ăn trái và lấy bóng mát, tàn lá lên xanh tốt.

    Thỉnh thoảng vài đứa trẻ con quần áo sốc xếch, vá víu đang ngồi chơi trước sân nhà với mấy con chó ốm sủa inh ỏi khi thấy có người lạ đi ngang. Ngoài rẫy một vài người đang lui cui cuốc đất, nhổ cỏ bên những luống bắp, đậu, khoai mì … họ còn chẳng buồn nhìn ra con đường nơi Nam vừa đi qua. Không khí thêm thê lương, tiêu điều vì cảnh mùa đông ảm đạm và sự nghèo nàn, buồn bả của những khu kinh tế mới.

    Nam cũng thấy chạnh lòng, nếu không vì máu mạo hiểm đi truy tìm hai thùng đồ cổ, chắc anh cũng không muốn đến sống nơi khỉ ho, cò gáy này.

    Nghe ba anh và những người lớn quen biết trong gia đình nói trứơc năm 75, ở nông thôn, người dân đâu đến nổi đói khổ và thiếu thốn như bây giờ, đến thời này, thì thiếu thốn đủ mọi thứ, dân Saigon và toàn thể dân miền nam nếm mùi đau khổ. Chịu đựng không thấu, nên dân chúng ồ ạt vượt biên tìm tự do, dù họ biết cái chết đang rình rập họ ngoài biển khơi.

    Nghĩ đến đó anh càng quyết tâm hơn, mong mỏi Trời Phật phù hộ cho mọi việc thành công để có cơ hội ra đi tìm cuộc sống mới ở nước ngoài.

    Qua hết ngọn đồi thấp, Nam đã thấy con lộ đất đỏ lớn đi ra từ rừng cao su chạy về trung tâm xã. Tinh thần phấn chấn, anh bước nhanh hơn vì chỉ còn non cây số nữa là đến nơi. Lác đác có vài chiếc máy cày đỏ của Liên Xô kéo theo rơ-móc chạy trên đường, một hai chiếc xe đạp của công nhân cạo mủ trong nông trường lạch cạch chạy qua mặt anh.

    Bên kia đường một tay du kích xã đang đứng dưới bóng cây điệp to nhìn Nam lom lom, có lẽ hắn thấy Nam là người lạ, nhưng khi thấy cái gùi trên lưng anh, hắn không muốn chặn anh lại để hỏi giấy tờ. Nam đi tiếp về phía chợ, tiếng loa rè rè của nông trường đang đọc thông báo phát lương thực cho công nhân.
    Anh đi ngang qua con đập xi-măng lớn được xây chận ngang dòng suối để tích nước trong lòng hồ, gần đó có một căn nhà nhỏ của đội quản lý-bảo vệ, có nhiệm vụ theo dõi việc đóng, mở cửa cống để điều chỉnh mực nước hồ, trong mùa khô thì xả nước tưới tiêu cho dân mấy xã phía dưới trồng trọt. Nam nhìn thoáng qua đó, cửa ra vào và hai cánh cửa sổ mở toang hoang, phía trước có treo một lá cờ đỏ sao vàng nhỏ đã phai màu. Giờ này buổi sáng mà không thấy ai làm việc trong đó, căn nhà trống không, chỉ có trơ trọi một cái bàn, hai cái ghế gổ và một số các ống tuýp, thanh sắt dài nằm dài trong góc nhà, có lẽ người ta dùng nó để đóng mở các cửa của con đập.

    Anh rẽ phải theo con đường đất đỏ về cái chợ nhỏ, và mấy quán bách hóa nằm cách ủy ban xã khoảng hơn 100 mét. Dọc đường nhiều công nhân nông trường trong bộ áo quần đồng phục xanh đang vác những bao nhỏ đựng lương thực phát theo tiêu chuẩn, khuôn mặt họ đa số gầy gò, khắc khổ.

    Vài đứa trẻ ôm sách và tập vở trên tay, lếch thếch dắt díu nhau đến ngôi trường nhỏ của đồn điền còn sót lại sau chiến tranh.

    Anh đi ngang văn phòng của ủy ban xã ở trong một ngôi nhà tường gạch, mái ngói trên nền xi-măng khá cao lót gạch tàu, nó cũng là nhà kho cũ của đồn điền cao su nhưng chưa bị tàn phá nhiều, nên được sửa chửa lại để có chỗ làm việc với dân.

    Tháng trước khi làm giấy tờ sang nhượng miếng đất rẫy, Nam phải từ Saigon lên đây nhiều lần để làm cho xong mớ thủ tục rắc rối, vì trình độ của mấy ông trong ủy ban quá yếu kém và quan liêu. Hầu như phần đông họ xuất thân từ du kích và cán bộ nằm vùng ở đây, riêng ông bí thư xã là bộ đội phục viên người Nghệ An, tiếng ông ta trọ trẹ, khó nghe.

    Vừa qua khỏi ủy ban, Tư Có chợt xuất hiện từ ngôi nhà gạch nhỏ kế bên, phía trước mái hiên có vài tay du kích đang ngồi trên cái bàn dài quay ra đường, mấy cây súng M-16 dựng vào bức tường vôi vàng ố kế bên. Tư Có đeo sắc cốt và mặc bộ quần áo cũ nhầu nhầu, chân đi dép râu như hôm vào trong chỗ nhà Ba Du.

    Khi hai người đi ngang qua nhau, Tư Có hướng đôi mắt lạnh lẽo nhìn Nam, anh hơi gật đầu và bước thẳng xuống con dốc về phía chợ.

    Ghé vào tiệm tạp hóa nhỏ mua mấy món cần dùng, và hỏi bà chủ quán có bán rượu đế không, bà ta lắc đầu chỉ tay về phía mấy cái quán nhỏ bán cà phê nằm hơi xa ở bên kia đường. Quảy cái gùi lên vai và băng qua con đường đất, thỉnh thoảng mặt đường bốc lên những đám bụi mù theo bánh những chiếc xe vừa chạy qua, hay theo các cơn gió thổi ngang qua rừng cao su về đây.

    Nam vào cái quán đầu, không khí vắng vẻ, trong quán có ba cái bàn và mấy băng ghế gổ bầy sơ sài, sát vách trong là cái bàn dài để mấy cái ly thủy tinh nhỏ, một cái cốc nhựa đựng muỗng cà-phê, vài cái ấm trà, cái ấm nước móp méo, đen kịt trên bếp than đang cháy.

    Một người đàn bà trung niên, có lẽ là chủ quán mặc bộ bà ba nâu ngồi bỏ một chân lên băng ghế ở góc nhà, thấy có người vào quán, bà ta hỏi:

    - Cà phê hay mua gì cậu hai?

    - Quán có rượu đế không dì?

    Bà ta liền đứng dậy, đi về phía cửa vào phòng trong, vừa đi vừa hỏi:

    - Cậu mua mấy lít?

    - Dì cho hai lít!

    - Cậu có đem đồ đựng theo không?

    - Không có, dì cho vô bình nhựa nhỏ rồi tính tiền chung luôn dùm …

    Lát sau bà ta trở ra đưa Nam cái bình nhựa màu đen, tính tiền hai lít rượu và luôn cả cái bình, anh trả tiền rồi bỏ bình vào gùi và ra khỏi quán.

    Thấy đã mua đủ mọi thứ như dự định, anh tính đi về nhà vì sợ cái nắng ban trưa. Vừa bước ra hàng hiên và tính băng qua bên kia đường, anh nhìn thoáng qua cái quán cà-phê kế bên, có hai người đàn ông đang ngồi ở cái bàn kê gần cửa sổ, thấy lưng áo người đàn ông ngồi xoay ra đường có vẻ quen quen, trên đầu ông ta đội cái nón màu xanh, vành nón rách te tua. Nam nhìn kỹ hơn và nhận ra là Ba Du, anh bước qua đường, tiến đến gần chỗ Ba Du và người đàn ông trung niên:

    - Hôm nay anh Ba cũng ra ngoài này hả?

    Ba Du nghe tiếng người quen liền quay qua:

    - Ủa chú Nam, ra xã mua đồ hay đi đâu?

    - Dà, ra mua thêm mấy món đồ dùng còn thiếu, anh Ba ra đây lúc sáng sớm?

    - Ừ! giới thiệu anh Năm đây là chú Nam ở trong rẫy gần nhà tui!

    Nói xong Ba Du quay sang phía Nam nói:

    - Đây là anh Năm Bình làm bên nông trường cao su, còn đây là quán nhà của anh Năm!

    Nam gật đầu chào và quan sát người đàn ông đối diện. Ông ta cũng trạc tuổi Ba Du, nước da hơi tái, con mắt bên trái hình như bị tật, mái tóc dài phủ hai tai và sau gáy điểm những sợi bạc, nét mặt mang vẻ hiền lành.

    Ba Du nhìn Năm Bình và Nam nói tiếp:

    - Trước chiến tranh gia đình anh Năm làm cho đồn điền cao su Tây, cho đến bây giờ thì làm công nhân trong nông trường, chú Nam uống cà-phê nhé?

    Nam gật đầu rồi đảo mắt nhìn xung quanh quán, bàn ghế cũng bày trí tương tự quán kia. Riêng chủ quán bên này là một cô gái trẻ, nghe Ba Du gọi thêm ly cà-phê, cô liền ra sau cái bàn, rót nước sôi từ cái ấm trên bếp vào cái vợt vải màu nâu cho vào ly thủy tinh nhỏ có chút đường trắng ở dưới đáy, và bê nó ra bàn cho khách.

    Nam nhấp một miếng cà-phê đen còn bốc khói, mùi thơm từ trong ly đưa thẳng lên mủi làm tinh thần khoan khoái.

    Chợt Năm Bình nhìn Nam và nói:

    - Cà-phê trồng trong vườn nhà tôi đó, mỗi năm thu hoạch được vài chục ký nên chỉ dùng để uống và đãi bạn bè, vẩn còn dư nên mở quán bán phục vụ bà con công nhân trong này thôi.

    Tiếng Năm Bình có giọng Bắc nhẹ và dễ nghe, cách nói chuyện cũng thân tình, Nam đoán có lẽ gia đình họ di cư từ ngoài Bắc vào trong Nam và làm cho các đồn điền cao su Tây đã nhiều đời. Anh thấy lạ về việc trồng cây cà-phê ở đây nên hỏi Năm Bình:

    - Trong nông trường cũng có trồng cà- phê sao anh Năm?

    Như hiểu được ý của Nam, Năm Bình nói:

    - Trước năm 75, có mấy người bà con ở cùng làng quê ngoài bắc, khi vào trong này họ định cư trên Ban Mê Thuộc, mỗi mùa nó ra quả đều đặn và gia đình hái chế biến ra cà- phê dùng trong nhà. Sau khi bố tôi mất, tôi tiếp tục lấy hạt trồng thêm, nên hiện nay cũng được vài chục cây!

    Nam nghĩ hèn chi mùi của nó thơm quá, rất khác với ly cà- phê ở Saigon, chợt Ba Du nhìn Nam nói:

    - Chú Nam vừa lội bộ ra đây phải không, vậy chút nữa lên xuồng về với tui luôn nghe!

    Anh nhìn Ba Du tỏ vẻ cám ơn và gật đầu, bây giờ anh mới hiểu tại sao sáng sớm hôm nay qua nhà Ba Du mà không thấy chiếc xuồng. Năm Bình nhìn Ba Du mỉm cười nói đùa:

    - Ông này siêng năng và giỏi giang lắm, biết làm đủ thứ, tôi mà có em gái là làm mai cho ổng liền!

    Ba Du cũng cười, đôi mắt hơi nhíu lại dưới vành nón vải rách tua rua:

    - Anh Năm “ca” tui quá, không quen biết anh ở đây thì tui khó sống đến bây giờ!

    Cả hai cùng cười và có vẻ hiểu nhau nhiều, từ lúc biết Ba Du anh chưa nghe Ba Du nói về mấy người quen ở vùng này, còn nhìn qua cách nói chuyện vui vẻ, cởi mở của Năm Bình, anh đoán ông ta là người giao du rộng rãi, quen biết nhiều người trong nông trường và ngoài xã. Nhìn trời đã gần trưa, Ba Du đứng dậy:

    - Cám ơn nhiều nghe anh Năm, tui đi về với chú Nam đây, hôm nào gặp lại!

    Rồi cả hai đứng dậy bắt tay, Năm Bình quay vào trong nhà gọi:

    - Hạ ơi, con đem cái túi của chú Ba ra đây!

    - Dạ!

    Cô gái có lẽ là con Năm Bình, nhanh lẹ đi vào nhà trong và cầm cái túi vải bằng bao cát màu xanh ra đưa cho Ba Du.

    Nam chào chủ quán xong cùng với Ba Du rảo bước về phía bờ hồ, chiếc xuồng của Ba Du gửi một nhà người quen gần đó, đang nằm im dưới bóng mát của cây me tây, cành lá xum xuê của nó vươn ra xa trên mặt nước.

    Ba Du bỏ cái túi vải xuống xuống và ngồi vào phía sau, Nam cũng hạ cái gùi xuống, tháo sợi dây đang cột vào một nhánh me lớn, anh lấy cái mái chèo nhỏ, ngồi vào phía trước xuồng và chèo phụ Ba Du. Chiếc xuồng nhỏ lúc đầu hơi tròng trành làm anh mất thăng bằng, không dám mạnh tay bơi, dăm ba phút sau ở phía lái, Ba Du chèo mạnh và chắc tay nên con thuyền bắt đầu lao nhanh về phía thượng lưu.

    Thời tiết đã gần trưa nhưng trời dịu mát, Nam bỏ cái nón vải xanh ra khỏi đầu cho đỡ nóng. Anh lấy tay vốc nước mát lạnh từ dưới hồ lên rửa mặt, anh quay ra phía sau hỏi:

    - Hôm qua đi đâu cả ngày mà không thấy anh Ba?

    Ba Du ngập ngừng:

    - Tui chèo xuồng qua xã bên kia sửa nhà dùm người quen bên đó, về hơi tối.

    Nhớ lại Tư Có vào trong rẫy đi lần quần xung quanh nhà Ba Du, anh nghĩ nên cho Ba Du biết:

    - Sáng hôm qua tôi tính qua nhà rủ anh chiều xong công việc rồi, thì qua lai rai vì tui có câu được con ba ba, gần tới nơi chợt thấy Tư Có đang từ phía trên đi xuống và dừng lại phía trước nhà anh Ba, rồi vòng ra phía sau, lát sau ông ta bỏ đi về lô cao su.

    - Tư Có đi một mình hay với tụi du kích?
    - Ông ta đi một mình, quan sát trước, sau có vẻ cẩn thận lắm!

    Ba Du lặng lẽ chèo, vừa dỏng tai nghe Nam kể lại chuyện gặp Tư Có ngày hôm qua, và không tỏ ra lo lắng hay sợ sệt, dường như Ba Du đã biết hoặc đã nghe người khác kể về việc này.

    Cả hai chèo mạnh tay nên chiếc xuống lướt nhanh trên mặt hồ vắng, phía sau có tiếng Ba Du hỏi:

    - Hồi nãy chú Nam đi ra ngoài xã có thấy Tư Có ở đó không?

    - Có, thấy ông ta từ đội du kích xã đi ra

    - Sau này chú Nam phải cẩn thận khi gặp Tư Có và đám du kích

    Nam thắc mắc không hiểu tại sao Ba Du nói anh phải cẩn thận khi gặp Tư Có và đám du kích xã, nhưng chắc phải có lý do nào đó.
    Anh mạnh tay chèo, đàng sau Ba Du cũng im lặng nên câu chuyện chấm dứt và tiếp tục bơi, đôi tay rắn chắc của Ba Du nhịp nhàng lèo lái chiếc xuồng lướt nhanh dọc ven bờ.

    Thoáng chốc sau, Nam nhận ra khung cảnh quen thuộc của cây cối, đồi núi dọc bờ, chắc sắp về đến nhà, anh ngoái cổ ra phía sau mời Ba Du lần nữa:

    - Anh Ba, hôm qua tôi câu được con ba ba, hồi nãy ra xã mua hai lít đế rồi, trưa nay anh qua bên này lai rai nhé, có bận bịu việc gì chiều nay không?

    Ba Du đang vui vẻ, tươi tỉnh, nghe có mồi ngon, mỉm cười gật đầu.

    Cho chiếc xuồng cập vào bờ gần nhà của anh chàng hàng xóm trẻ tuổi, Ba Du cột chặt dây xuồng vào bụi cây cho nó khỏi trôi, và cầm cái túi vải lên đi sau. Còn Nam khoác cái gùi trên vai bước nhanh theo lối mòn lên con dốc, anh đảo mắt quan sát xung quanh căn nhà và hàng cây mít trước sân, mọi thứ vẩn nguyên vẹn như lúc sáng sớm anh đi.

    Đẩy mạnh liếp cửa tre bước vào bên trong, anh bỏ cái gùi lên phản, lấy cây chống cái liếp cửa lên để gió và ánh sáng ùa vào, cái bình nhựa đựng rượu để lên kệ bếp, và bỏ cây rựa vào góc nhà.

    Ba Du bước vào sau, leo lên tấm phản ngồi, bỏ cái nón và túi vải ra kế bên, rồi lấy thuốc lá ra châm lửa hút. Nam đi ra phía sau múc nước vốc lên mặt và hai cánh tay xối mạnh rửa sạch bụi đường.

    Mở tấm gỗ đậy trên cái thùng nhốt con ba ba bên trong, anh thò tay định nắm lấy cái mai bắt nó ra làm thịt, con ba ba nhanh nhẹn xoay cái đầu để đớp về phía mấy ngón tay đang huơ bên trên, làm Nam phải rụt tay lại.

    Đang lóng ngóng chưa biết cách nào bắt con thủy quái nhỏ mà hung dữ này, anh nghe tiếng chân Ba Du bước đến cửa, tay cầm một khúc tre ngắn:

    - Để tui bắt nó làm thịt cho!

    Đưa khúc tre ngay cái đầu của con ba ba đang hung hăng chờ cắn bất cứ cái gì đến gần, thấy đầu đoạn tre đưa tới, nó phập mạnh và cắn thật chặt, Ba Du nhấc nó ra ngoài và nói Nam đưa con dao, rồi kê cái cổ của con ba ba lên khúc gỗ chặt mạnh xuống, một dòng máu đỏ phun ra từ cái cổ nhỏ, còn cái đầu nó vẫn cắn chặt vào khúc tre.


    (còn tiếp)

  4. The Following 6 Users Say Thank You to Vũ Phan For This Useful Post:

    hoang yen (11-07-2016), khongquan2 (10-30-2016), KiwiTeTua (11-03-2016), muahong (10-31-2016), nguyenphuong (11-08-2016), thien ly (10-30-2016)

  5. #3
    Vũ Phan's Avatar
    Status : Vũ Phan v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2016
    Nguyên quán: Saigon
    Posts: 79
    Thanks: 243
    Thanked 213 Times in 67 Posts

    Default Bí mật hai thùng đồ cổ


    Ba Du kêu anh nấu nồi nước sôi để làm thịt con ba ba, rồi sắn tay áo và múc nước ra cái thùng nhựa nhỏ rửa mặt, tay chân.

    Đúng như lời Năm Bình nói lúc sáng khi uống cà- phê ngoài xã, Ba Du làm thịt con ba ba một cách gọn gàng và nhanh chóng xả thịt nó ra thành từng miếng. Trong lúc nhờ Nam lấy mấy củ xả, nghệ, hái thêm mấy trái ớt, rau trồng xung quanh nhà để làm gia vị.

    Ba Du đúng là có “tay nghề” nên chế biến xào nấu con ba ba thành món xào lăng thơm lừng. Nam ra bên ngoài nhanh tay quơ một mớ rau lang, rau muống về luộc để có thêm chất xanh.

    Xong xuôi, Nam dọn món ba ba lên, cả hai ngồi uống rượu trên cái phản tre thấp, món ba ba xào lăng được bày trong cái thố sành thô to, hai dĩa rau luộc trông rất ngon lành bốc khói nghi ngút kế bên chén xì dầu đỏ tươi màu ớt. Nam cầm cái ly nhỏ sóng sánh rượu đế mời Ba Du, cả hai cùng cạn ly và thưởng thức món ba ba xào lăng. Mùi gia vị thơm, cay nồng, lẩn vị béo ngon của thịt ba ba theo những hớp rượu xuống dạ dày làm Nam và Ba Du thấy bừng nóng trong thời tiết lành lạnh và không gian tĩnh mịch, anh hỏi Ba Du lúc này đang hướng mắt ra phía hồ:

    - Bình thường Tư Có có hay vào trong này không?
    - Có, một tháng vài ba lần, ông ta và đám du kích đi tuần tra, sẵn dịp họ qua tuốt bên trong rừng phía mấy cái buôn thượng để đi săn luôn
    - Mấy lần anh Ba gặp mấy ông đó, có bị hỏi han gì không?
    Ba Du bỏ ly rượu xuống phản, hít thở nhẹ vài cái:
    - Họ biết tui là lính chế độ cũ nên cũng có dòm ngó, sống ở sâu tận trong này họ theo dõi coi có ý đồ gì không, nhưng rồi lâu ngày, họ thấy mình chỉ lo cầy cuốc để nuôi gia đình nên cũng để yên.

    Khuôn mặt Ba Du thoáng nét buồn, có lẻ nhớ đến khoảng đời lính trước năm 75. Phong cách của người lính mặc áo hoa rừng ngày xưa vẩn còn phảng phất ở Ba Du. Nam biết nhiều người lính VNCH sau chiến tranh, dù bị thua trận vì người Mỹ bỏ cuộc ra đi, họ vẩn tự hào về cuộc đời lính tráng của mình và sống hiên ngang.

    - Uống anh Ba!

    Hai người nâng ly, Ba Du uống rất cứng, mỗi người đã làm gần hai xị, Nam thấy đầu óc bắt đầu quay quay, còn Ba Du vẩn tĩnh táo, cầm điếu thuốc lá cháy đỏ, nhìn anh cười và hỏi:

    - Chú Nam quen sống ở thành phố lâu rồi lên trên này thấy buồn không?

    Nam bị hỏi bất ngờ nên hơi bối rối, phần bị hơi men làm chếch choáng nên anh câu giờ chậm chạp nói:

    - Lúc đầu cũng nhớ nhà và Saigon đó anh Ba, mấy hôm nay cũng quen rồi
    - Có bồ bịch, bạn gái gì ở dưới đó chưa?

    Nam thấy Ba Du uống rượu vô cũng vui tính, anh cầm ly rượu đưa lên uống rồi cười:

    - Đâu dám có bồ bịch gì, cuộc sống bây giờ khó khăn quá …

    Anh bỏ lửng câu trả lời, nhìn ra hướng bờ hồ, ngoài trời không có gió nên mặt nước phẳng lặng dưới ánh nắng ban trưa. Thỉnh thoảng những con chim bói cá đậu trên cành cây sát bờ hồ, thoắt phóng xuống nước bắt mồi và bay lên về chỗ cũ, tạo nên cơn sóng nho nhỏ, phía xa đàn cò trắng thư thả bay ngang mặt hồ về rừng, Ba Du chợt nói:

    - Chú câu được con ba ba này thịt ngon quá, mấy lúc đi chài lưới tôi cũng bắt được một, hai con. -Hồ này chắc sâu lắm hả anh Ba?
    - Ừ, tui nghe Năm Bình kể trước năm 1975, ông chủ đồn điền đã có ý định xây cái đập ngăn này để làm thành hồ nước, lúc đó ông ta thuê kỹ sư dưới Saigon lên khảo sát và vẽ bản đồ, nhưng rồi bị chiến tranh nên không làm được, sau này bên nông trường tìm thấy mấy bản vẽ cũ đó, họ làm theo, Năm Bình nói có chỗ sâu lắm!

    Ba Du rít điếu thuốc lá, đôi mắt trên khuôn mặt râu ria phong trần nhìn Nam nói tiếp:

    - Năm 74 tui đóng quân ở phía trên xã bên kia, nhưng đôi lúc cũng hành quân xuyên qua vùng này, rồi vô đồn điền cao su phát thuốc men, khám bệnh cho dân, bên dưới lòng hồ là thung lủng cây cối rậm rạp lắm, nhờ vậy mà tui quen biết nhiều người cũ của đồn điền còn sống ở đây.

    Nam say ngà ngà, nhưng nghe Ba Du nói vẩn hiểu và hỏi lại:

    - Anh Ba có lặn xuống lần nào chưa?
    - Có vài lần lưới bị vướng vô cành cây dưới đó, tui lặn xuống để gở, tùy chỗ sâu, cạn khác nhau, thường mấy chỗ có suối chảy vô hồ, nơi đó nước sâu.
    - Mấy chỗ anh Ba thường đến đánh cá có xa không?

    Ba Du gắp miếng rau luộc chấm nước tương ớt đưa lên miệng nhai ngon lành:

    - Đánh dọc theo hai bên bờ, rồi phía xã bên kia và khúc phía trên hồ gần mé rừng già nhiều cá lớn hơn!

    Có rượu và mồi ngon, Ba Du cao hứng rủ:

    - Hôm nào chú Nam rảnh công việc ở rẩy, theo tui lên phía trên kia đánh cá một lần cho biết!

    Nam nghe đề nghị của Ba Du rất hợp ý nên gật đầu:

    - Rồi, khi nào đi anh Ba cho biết trước một, hai ngày!

    Hai người uống thêm vài ba ly rồi kết thúc buổi nhậu, mặt trời đã xế xế, chắc cũng gần bốn, năm giờ chiều, thấy Ba Du đứng dậy sửa soạn ra về, Nam cầm cái túi vải nhỏ lên thấy nằng nặng nên hỏi :

    - Đồ trong này của Năm Bình cho hả anh Ba?
    - Ừ, sáng nay ra quán uống cà- phê rồi xin một mớ đinh, dây kẽm về sửa nhà cho người quen ở xã bên kia, mấy món này nhờ Năm Bình tìm trong nông trường mới có, còn không thì phải về mua trong Chợ lớn, Saigon.

    Lấy cái nón vải rách đội lên đầu, tay xách cái túi, Ba Du nói tiếp:

    - Tui quen anh Năm trước 75 nên bây giờ thì thân nhau, ông già ảnh chết vì đạn pháo kích của bên kia, bà già thì mới mất sau này, ảnh bị sức nổ làm văng cây xà nhà trúng mắt trái nên bị hư, sau giải phóng anh Năm và gia đình ở lại làm cho nông trường, tui nhờ có ảnh giúp đỡ, nói có đi kinh tế mới thì nên về đây, vì vậy tui quyết định vô đây làm rẩy

    Nam cầm cái đèn pin tự chế trả lại, Ba Du xua tay và cười nói:

    -Chú Nam giữ lại xài đi, tui còn mấy cái ở nhà bên đó, khi nào pin hết đem qua thay cái khác.

    Anh mỉm cười cám ơn, Ba Du bước ra cái sân nhìn mấy trái non đeo kín thân ba cây mít to, cành lá sum xuê và mấy con gà đang bươi dưới gốc rồi nói:

    - Kỳ này làm xong nhà người quen bên đó, tui xin cho chú Nam con chó giống tốt về nuôi để giữ nhà và rẩy, còn không trong này mấy con chồn, cáo thấy vắng người là mò về bắt hết gà.

    Nam thấy vui vẻ vì sự nhiệt tình của người hàng xóm tốt bụng, anh nhìn theo dáng Ba Du nhanh nhẹ lội bộ băng qua đám rau lang, rồi vòng ra khu rừng chồi về phía bờ hồ.

    Dần dần Nam thấy hiểu Ba Du nhiều hơn qua những câu chuyện kể, không phải tự nhiên mà Ba Du về vùng này để làm rẩy sinh sống. Cùng lúc anh cũng nhận ra Ba Du là người sống có tình nghĩa, hay giúp đỡ người khác, có nhiều bạn bè, giao du rộng rải.

    Điều đặc biệt là ít thấy Ba Du nói về Tư Có hay đưa ra nhận xét của mình về tay đội trưởng du kích xã, có lẻ đó là sự thận trọng của một người đàn ông đã là lính chiến từng trải với cuộc sống khó khăn sau khi chiến tranh kết thúc.

    Những tay du kích địa phương nằm vùng như Tư Có sau năm 75 thường trở thành cán bộ tham gia chính quyền tại khu vực xã, huyện mà họ hoạt động trong thời chiến tranh, vì nắm vững địa bàn và người dân ở đó, đó là một thuận lợi của họ.

    Còn Ba Du khi đó là lính biệt động quân, thỉnh thoảng hành quân qua đồn điền này, lại là khu vực hoạt động của Tư Có, không hiểu là họ có bao giờ đụng độ nhau chưa, hay nghe dân địa phương có cảm tình với hai bên, nói cho bên này hay bên kia biết, vì trong lúc chiến tranh khó phân biệt ai theo việt cộng, ai theo Cộng Hòa ở những vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh như ở đây.

    Nam nghĩ không biết có nên kể cho Ba Du về hai thùng đồ cổ được chôn giấu trong lòng hồ, theo như câu chuyện tiết lộ từ ông quản gia trong đồn điền Tây.
    Sau một lúc, anh quyết định một mình thăm dò, tìm kiếm thêm một thời gian nửa xem kết quả ra sao, rồi tùy theo tình hình sẽ tính, Nam hi vọng lúc đó sẽ có hướng giải quyết. Vì thật ra, Nam sợ Ba Du sẽ không tin bí mật này hoặc Ba Du nói cho mấy người quen trong vùng biết, mọi chuyện sẽ trở nên rắc rối và nguy hiểm cho anh.

    Vì khi chính quyền xã biết được tin này, chắc chắn những người liên quan như anh, Ba Du hay Năm Bình … sẽ bị họ bắt giam, tra khảo về sự thật của nó. Và dĩ nhiên vẩn như xưa nay, câu họ hay nói khi kết tội người khác là “xâm phạm tài sản XHCN”, cho dù nó có từ trên trời rơi xuống, thì đó vẩn là của nhà nước và nhân dân.

    * * *

    Thời gian trôi qua nhanh, tháng chạp chấm dứt bằng những trận mưa dông từ cơn bảo rớt cuối năm ngoài biển Đông thổi vào khu vực rừng núi Xuân Lộc, Phước Long …

    Tiếp đến là những cơn gió từ cao nguyên Buôn Mê Thuộc, Pleiku thổi qua những cánh rừng già âm u tràn về vùng bán sơn địa phía nam lạnh buốt.
    Cứ khoảng nửa tháng, Tư Có dẩn vài tay du kích đi tuần tra ngang qua rẩy của anh và Ba Du, đôi lúc bất chợt ông ta lại đi một mình, loanh quanh từ rừng cao su ra bờ hồ rồi đi mất.

    Khi gặp Nam đang làm việc một mình, Tư Có dừng lại hỏi thăm tình hình an ninh hoặc về thu hoạch đậu, bắp … anh trả lời ậm ừ cho có.

    Một lần khi Nam đang đào mấy luống khoai lang cuối rẩy gần miếng đất của Ba Du, hôm đó Tư Có và hai tay du kích mang hai cây M-16 xuất hiện từ bìa rừng cao su theo con suối đi về phía nhà Ba Du. Lúc đó Ba Du đang đi trong hàng bắp để tỉa bỏ bớt những cái lá khô già và nhổ cỏ, nên từ bên ngoài nhìn vào chỉ thấy ngọn bắp lay động, đoán Ba Du đang ở trong đó, họ đi quanh về phía bờ hồ. Con Ki đang nằm trong sân thấy người lạ đến gần, nó đứng lên sủa dữ dội cho đến khi Tư Có và mấy tay du kích theo lối mòn nhỏ đi xa dần về khu rừng chồi.

    Nam biết Ba Du đã quá quen với việc “thăm viếng” này của mấy tay du kích xã nhiều năm qua, nên cũng không muốn bước ra để xem có chuyện gì.
    Thỉnh thoảng Ba Du ghé vào nhà cho anh con cá, hai người ngồi trên khúc gổ trước sân hút thuốc nói chuyện mưa gió, mùa màng …

    Hôm nay, Ba Du nói công việc giúp sửa chửa nhà cho người quen ở xã bên kia và công việc ruộng rẩy đã xong, chỉ còn chờ đúng ngày là thu hoạch, hỏi anh ngày mai có đi đánh cá trên hồ, thì sáng mai ra chỗ cột xuồng sớm, chỉ cần đem thêm bình nước để uống, các thứ khác thì để Ba Du lo.

    Chuyến đi đánh cá theo Ba Du dự định có thể đến chiều mới về, Nam nghe xong liền đồng ý với vẻ thích thú, ở một chỗ và cứ suy nghĩ đến một công việc hoài cũng chán. Theo Ba Du và chiếc xuồng phiêu lưu xa xa một ngày thì chắc cũng không uổng công, ở trong này cũng hơn ba tháng rồi mà anh cũng chỉ loanh quanh bờ hồ, và ra ngoài xã, chưa đi đâu xa.

    Tối đó Nam chuẩn bị bình nước uống và mớ khoai luộc sẵn dành cho sáng mai.

    Ra đến bờ hồ khi trời còn tờ mờ trong buổi sáng lành lạnh gió đông, Nam đã thấy Ba Du đội cái nón rách lụp sụp đang bỏ lưới, bình nước, tấm ni-lông che mưa vào lòng xuống, cây rựa được quấn vào tấm vải bố cũ kỹ nằm dưới tấm ván, thêm cây xiên cá bằng sắt ba ngạnh bỏ nằm dọc.

    Con Ki đang đứng vẩy đuôi kế bên ông chủ của nó, khi thấy anh đến, nó vểnh tai lên nhìn chứ không còn gầm gừ và sủa, rồi đưa cái mủi vào ngửi ngửi hai ống quần bị thấm ướt khi anh lội bộ qua đám cỏ bị đọng sương xuống đêm qua.

    Ba Du tháo xong sợi dây buộc, lên ngồi ở phía sau chiếc xuồng, Nam lên trước mủi lấy mái chèo và bắt đầu bơi ra ngoài hồ. Con Ki thấy chủ và chiếc xuồng sắp sửa đi, nó ngoan ngoãn chạy lên con dốc về nhà, không cần đợi Ba Du nhắc nhở.

    Hai người đàn ông vung mái chèo đưa chiếc xuồng lướt đi dọc đám cỏ cây ven bờ còn say ngủ trong làn sương mai. Dòng nước mùa này tĩnh lặng, gần như không chuyển động, không như lúc mùa mưa đổ xuống, các con suối trong rừng sâu bị tràn ngập bởi những cơn lũ chảy ra hồ, làm dòng nước dồn về phía con đập ở hạ lưu, mực nước trong hồ có lúc dâng lên cao ngập bờ, nếu công nhân trực ngoài đập không kịp mở các cửa xả.

    Hơi nước từ mặt hồ tỏa lên làm Nam thấy lạnh, anh sửa lại cái nón để tránh những cơn gió đông lạnh lẻo thổi thốc qua. Chiếc xuồng đã đi được khá xa và qua khỏi rẩy của Ba Du, cây cối ở đây mọc ra gần bờ nước, dây leo quấn quanh thân và nhánh cây tạo nên khung cảnh thiên nhiên rất hoang dả. Càng đi sâu vào bên trong, vùng đất chạy dần lên cao tạo thành các dãy đồi thấp nối tiếp, những thân cây to với bộ rể nổi vồng hẳn lên trên mặt đất, chen chúc với các tảng đá ở rải rác khắp nơi.

    Thấp thoáng trong đám rừng chồi, tiếng kêu của những chim vang lên nghe rất lạ tai, thiên nhiên ở đây còn mang vẽ kỳ bí rờn rợn của những khu rừng già âm u.

    Nam thấy bắt đầu nóng bừng lên vì hoạt động cả hai tay để chèo, phía sau lái Ba Du nói:

    - Được hơn nửa đường rồi, chú Nam có mỏi thì nghỉ một chút và uống nước.

    Anh bỏ mái chèo xuống, với tay lấy bình nước làm một ngụm nhỏ cho đỡ khát, Ba Du cũng đưa bình lên miệng cho dòng nước chảy qua cổ họng để hạ nhiệt, rồi tiếp tục khua mái chèo xuống mặt nước hồ trong xanh.

    Nam ngồi quay lại đối diện với Ba Du, và lột bỏ cái nón trên đầu ra, thấy nước thấm vào bên trong xuồng khá nhiều, anh lấy cái lon nhỏ hắt nước ra ngoài, Ba Du nhìn cánh rừng bên kia hồ và nói với Nam:

    -Đến chỗ rừng già rồi, mình bắt đầu chèo ngang hồ qua bờ bên kia, rồi đi thêm chút nửa là đến nơi!

    Nam ngồi quay lại, chèo phụ với Ba Du ở phía sau đang lái chiếc xuồng băng ngang qua hồ nước, anh hỏi:

    - Hồi đi lính, anh Ba có đi qua khu rừng này bao giờ chưa?

    - Khu rừng này hồi đó là mật khu của mấy ông việt công, mỗi lần qua đây là có đánh nhau, bởi vậy bom đạn, mìn trong vùng này còn nhiều lắm
    - Mấy ông việt cộng trong này là dân du kích hay bộ đội ngoài bắc vào anh Ba?

    Ba Du lấy thuốc lá ra hút và đưa nó cho Nam:

    - Có lúc đụng du kích, có lúc gặp bộ đội chủ lực từ biên giới Campuchia xâm nhập qua, đóng trong này thường là lính địa phương quân, nằm dọc biên giới là biệt động quân và biệt kích, khi cần phối hợp hành quân, lính biệt động quân tụi tui cũng về đây hổ trợ cho bộ binh, địa phương quân…

    Hai người đàn ông ngồi trên chiếc xuồng đang lướt ra giữa hồ trông thật nhỏ bé giữa trời nước mênh mông. Mặt trời lên rỏ dần trên dảy đồi xanh mờ mờ xa ở phía đông, vài con diệc trắng siêng năng dậy sớm đang xoải cánh bay gần dảy gò đất nhỏ ven hồ. Ba Du phía sau lái chiếc xuồng gổ qua vùng đất thấp ngập nước, mọc đầy lau lách đang ngã nghiêng trong nắng sớm mai.

    Nam nhìn phong cảnh đẹp như tranh của hồ nước giữa vùng núi rừng hoang vu, và nghĩ thật là khó tin vì những gì mình đang thấy.

    Ba Du đã đi qua đây nhiều lần nên đọc được những ý nghĩ trong đầu của Nam:

    - Hồ nước này con nhiều cảnh đẹp lắm, lúc nào rảnh công việc tui và chú Nam đi hết một vòng mấy chỗ đó cho biết

    Tiến lên phía trên thêm vài trăm mét nửa, Ba Du lơi mái chèo để tốc độ chiếc xuồng chậm lại và nói với Nam:

    - Tới chỗ rồi, nghĩ tay hút điếu thuốc đi rồi mình bắt đầu thả lưới

    Anh ngồi phía trước nhả khói thuốc nhè nhè lên cao, nhìn vào bờ có trảng cỏ nhỏ xanh mọc lan ra đến gần mặt nước, vết đường mòn nhỏ chạy vô sâu bên trong dưới những tàn cây thưa và mất hút tại cửa rừng già. Ba Du hút xong điếu thuốc và lấy bình nước uống với vẻ khoan khoái của một người đã quá quen thuộc với cảnh rừng núi quanh đây.

    Sợ Nam chưa quen cách đánh cá bằng lưới, Ba Du vừa bơi chầm chậm rồi lấy cuộn lưới thả từ từ xuống hồ, để những cái phao bằng mấy miếng cao su nằm trên dây lưới nổi lên đều trên mặt nước. Thả lưới xong và để chiếc xuồng trôi bập bềnh trên hồ, Nam và Ba Du ngồi hút thuốc, vừa theo dõi hàng phao để canh chừng xem có cá dính vào lưới thì đến gở.

    Nam chỉ tay về phía lối mòn chạy từ bờ hồ vào bên trong đến cánh rừng già hỏi Ba Du:

    - Con đường mòn chạy đó chạy đi về hướng biên giới phải không anh Ba?
    - Ừ, theo con đường đó đi khoảng hai, ba tiếng thì gặp buôn của người S’tiêng, rồi từ cái buôn đó đi về hướng tây khoảng hơn hai mươi cây số nửa là đến Tống Lê Chân, cách biên giới khoảng chục cây!
    - Hồi xưa nó là mật khu của mấy ông việt công?
    - Toàn bộ các cánh rừng của tỉnh Bình Long chạy giáp biên giới và lên cao nguyên dãy Trường sơn là mật khu và nơi đóng quân của bộ đội bắc việt, còn phía VNCH thì đóng các tiền đồn, căn cứ đóng dọc theo biên giới.

    Lúc còn chiến tranh, Nam nghe ba anh, ông chú và cậu trong gia đình nói chuyện đánh nhau trên các chiến trường miền trung, cao nguyên, xung quanh Saigon … có lúc các trận đánh ở dọc biên giới Miên thuộc các tỉnh Bình Long, Phước Long, Ban Mê Thuộc … diễn ra rất khốc liệt, được báo chí và mọi người nói đến hàng ngày.

    Ký ức về chiến tranh của anh chỉ nhớ mập mờ đến đó, còn ở Saigon thì lính tráng đi công vụ hay về phép, Nam hay gặp họ lúc ra đường, có người thì mặc đồ xanh, có người mặc đồ rằn ri với nón bê-rê màu đỏ, xanh, nâu …

    - Trước năm 75, anh Ba thường đóng quân ở vùng nào?

    Ba Du nói với vẽ tự hào:

    - Lính biệt động quân thì có mặt ở nhiều nơi, từ Quảng Trị cho đến Kiên Giang, Hà tiên, thường trong vùng rừng núi biên giới xa xôi, hẻo lánh vì họ thiện chiến và quen với lối đánh ở rừng núi.

    Mải ngồi nói chuyện cuộc chiến ngày xưa, cả Nam và Ba Du không để mắt theo dõi hàng phao trên lưới, có mấy cái bị cá dính lưới lôi ra phía ngoài. Cả hai chèo xuồng đến gần rồi nắm dây phao kéo lên, hai con cá mè to bị mắc cái đầu và vùng vẩy trên những ô lưới cước, Ba Du khéo léo gở ra và thảy vào lòng xuồng.

    Bơi dọc theo hàng phao, Nam bắt thêm vài con cá rô, địa điểm trên hồ này có vẻ ngon lành, mới thả lưới khoảng hai mươi phút mà số cá bắt được cũng kha khá.

    - Vô bờ ngồi nghỉ cho khỏe – Ba Du chèo chiếc xuồng lướt qua đám cỏ lau tiến vào gần bờ.

    Nam bước qua vùng cỏ thấp lên chỗ có gò đất cao, nhìn lối mòn do những bước chân người đi qua lại sau bao năm tháng, tạo nên con đường nhỏ chạy ngoằn ngoèo vào cánh rừng, cỏ cây mọc ven hai bên đường cứ chực chờ phủ kín nó.

    Thiên nhiên ở đây rất đẹp nhưng mang vẻ hoang vu, khắc nghiệt, bất cứ sinh vật nào ngã xuống đất đều bị cái màn xanh rậm rạp của cây rừng và vô số những con côn trùng nhào đến ăn tươi, nuốt sống, qua vài mùa mưa rừng, là thân xác biến mất, mọi thứ lại trở về với lòng đất.

    Ba Du ở phía sau cặm mái chèo xuống bờ đất và cột dây xuồng, tay cầm theo cây xiên cá và bình nước ra gò đất ngồi hút thuốc.

    Mặt trời ẩn trong lớp mây bàng bạc trên cao, những cơn gió lành lạnh thổi từ những cánh rừng cao nguyên qua những dãy đồi len lỏi về đây, rồi chạy lướt qua mặt hồ nước.

    Ngồi nghỉ một lúc, Ba Du rủ Nam đi lại chỗ có nhiều cây cỏ, lau lách gần đó, ở đây có bải đất lài lài ngập nước và mực nước không sâu, chừng dưới phân nửa đầu gối.

    Cầm chặt cây xiên cá trong tay, Ba Du đi chầm chậm và quan sát quanh những bụi cỏ rậm rạp:

    - Cá trong chỗ này vắng vẽ nên rất dạn dĩ, hay bơi vô gần bờ kiếm ăn.

    Đám cò, diệc hôm nay thấy có người đang bên dưới bải đất ngập nước, không dám đáp xuống chỗ quen thuộc, nên bay xa về phía dưới kiếm ăn.

    Ba Du nhanh tay phóng cây xiên ba ngạnh vào bụi cỏ, gần những lá súng tròn mọc đặc kín trên mặt nước. Ở đầu cây xiên nước bị khuấy mạnh, Ba Du ấn chặt nó xuống đáy bùn bên dưới, và thận trọng quan sát:

    - Chắc dính rắn ri cá hay ri voi rồi chú Nam, chiều nay về có mồi rồi lai rai – nhìn Nam cười vui vẽ Ba Du từ từ rút cây xiên lên, nắm phía sau cái đầu con rắn nước to cỡ hai, ba ký. Nam đến chỗ chiếc xuồng lấy cái bao vải cũ, dùng tay bóp mạnh cổ nó và nhanh nhẹn bỏ gọn vào bên trong.

    Những loài rắn nước này không có nọc độc, nhưng có hàm răng sắc bén nên cú đớp của nó rất đau, nhưng thịt rất thơm ngon, làm mồi lai rai thì rất “bắt”.
    Bắt xong con rắn, cả hai tiếp tục đi hết một vòng bải bùn cát bị ngập nước như cái ao nhỏ. Nam bẻ một mớ cọng súng mập mạp tươi ngon, dùng nó nấu với canh chua thì tuyệt.

    Trở lại chiếc xuồng, Nam và Ba Du chèo ra chỗ mấy cái phao đang trôi dạt trên mặt hồ, anh nhanh lẹ kéo lưới lên bỏ vào khoang xuồng vì sợ làm xổng con cá chép to mắc lưới, đang vùng vẩy kịch liệt, Ba Du cũng dừng tay chèo, kéo toàn bộ lưới đang có cá, rồi nhắc lên khỏi mặt nước bỏ vào xuồng.

    Nhìn đám cá nằm lẩn lộn trong lưới, cả hai nhìn nhau cười vui vẽ, chưa hết buổi sáng mà được hơn chục con cá chép, mè, rô … bao nhiêu đó ăn cũng phải được bốn năm ngày, lại còn thêm con rắn ri voi to nửa chứ.

    - Chuẩn bị đi về chú Nam - Ba Du phấn khởi nói.

    Chợt Ba Du nhìn về hướng người đàn ông đi từ trong phía cánh rừng già theo con đường ra bờ hồ, Nam nhìn màu da đen của ông ta, lưng mang gùi, tay cầm rựa nên đoán là dân Thượng trong các buôn làng gần đây, khoác bên ngoài là cái áo kaki xám và quần lính cũ bạc màu, dáng đi rất nhanh nhẹ, nhưng không rỏ là ông ta đi đâu ra ngoài bờ hồ này.

    Lái chiếc xuồng đi chậm vào bờ, đôi mắt Ba Du nhìn người đàn ông đang đi về phía họ, khi ông ta ra đến nơi, Ba Du mỉm cười nói:

    - Điểu Sơn ở trong buôn Bù Đon, tui có quen mấy người S’tiêng trong đó

    Người đàn ông đứng trên bờ hồ cười với Ba Du và nhìn Nam gật đầu:

    - Đánh được nhiều cá không Ba Du?
    - Ờ, cũng được kha khá, khỏe không Điểu Sơn, mùa rẩy năm nay ra sao, Điểu Rút và buôn vẩn khỏe hả?
    - Tàm tạm thôi, mọi người vẩn khỏe, hôm nào Ba Du vô buôn chơi nghe.

    Ba Du cầm hai con cá to lên:

    - Cái này cho Điểu Sơn đem về nghe, chừng vài ba hôm nửa rảnh công việc ngoài rẩy, tui sẽ vô
    - Cám ơn nhiều nghe Ba Du
    - Bây giờ đi thăm bẩy hay đi đâu?
    - Ừ, đang đi thăm mấy cái bẩy đặt tối qua, nhìn ra xa xa thấy chiếc xuồng của anh nên đi ra đây

    Ba Du nhìn Nam:

    - Đây là chú Nam hàng xóm của tui ngoài đó, mới ở thành phố lên đây làm rẩy

    Điểu Sơn nhìn anh gật đầu và cười thân thiện:

    - Hôm nào Ba Du vô buôn nhớ dẩn chú Nam vô trong đó uống rượu cần, ăn thịt trâu

    Ba Du và Nam cười và đưa tay chào tạm biệt, chiếc xuồng quay mủi bơi về phía hạ lưu. Hai người đàn ông đẩy mạnh mái chèo cho nó lướt nhanh trên hồ, ánh nắng mặt trời mùa đông yếu ớt chiếu ngay đỉnh đầu. Để Ba Du ngồi phía sau lèo lái, Nam xuống gở đám cá còn dính trong lưới bỏ vào khoang xuồng xâm xấp nước.

    Uống thêm ngụm nước, anh trở lại mủi xuồng, Ba Du cũng đang chèo mạnh đẩy chiếc xuồng ngang qua mặt hồ về lại đường cũ, qua đến bờ hồ bên này, Nam lơi nhẹ tay chèo:

    - Anh Ba quen mấy người Thượng đó lâu chưa?

    Ba Du im lặng, đưa mái chèo khua nước nghe róc rách rồi trả lời:

    - Cũng lâu rồi, từ trước năm 75, buôn của Điểu Sơn, Điểu Rút đã có ở vùng này từ thời Pháp, sau này đến thời VNCH, buôn làng của họ vẩn ở đó, họ được chính phủ giúp đỡ và sau này người Mỹ cũng đến giúp làm đường xá, trường học, trạm xá … và huấn luyện quân sự, trang bị súng đạn để họ bảo vệ buôn làng
    - Họ có phải đi lính như mọi người Việt không?
    - Thường là do họ tự nguyện, ban đầu họ vô lực lượng chiến đấu do người Mỹ huấn luyện và tổ chức để chống lại du kích ngoài đó xâm nhập phá hoại

    Nam thắc mắc:

    - Vậy họ không phải là lính VNCH?
    - Người Mỹ huấn luyện, trang bị súng đạn, vũ khí và cả trả lương cho lực lượng này, khu vực hành quân của họ là dọc các con đường mòn, xâm nhập vô các mật khu của việt công để theo dõi tình hình, vì họ rất giỏi đi rừng và biết rỏ địa bàn, rồi về báo cáo lại cho cố vấn Mỹ, sau này khi Mỹ rút đi, đa số họ tình nguyện vào lính biệt động quân nên vì vậy tui quen biết Điểu Sơn, Điểu Rút.

    Về đến bờ hồ gần nhà, Ba Du nhảy lên cột dây xuồng vào bụi cây rồi cùng Nam dọn lưới, dụng cụ và cầm mớ cá vừa đánh bắt được đi lên con dốc về nhà.
    Con Ki nghe tiếng ông chủ của nó về, liền chạy ra khỏi nhà vẩy đuôi mừng tíu tít sủa vang. Ba Du chỉ cho Nam cái thùng phuy sắt nhỏ ở phía sau nhà, bên trong có nước thường dùng để trữ cá sống mỗi lần đi đánh bắt về. Thấy đàn gà đang tụ lại phía trước sân, Ba Du đến cái ống lồ ô to ở góc bếp, thò tay bốc nắm bắp rải ra bên hông nhà, mấy con gà chạy đến tranh nhau ăn, kêu quang quác.

    Uống thêm cốc nước cho đã cơn khát, Nam ngồi nghĩ trên tấm phản, đôi mắt hướng về phía căn nhà của mình giữa màu xanh của nương rẩy, cây rừng, Ba Du nói:

    - Trưa nay mình làm món rắn ri voi hầm sả, xào lăng, chú Nam ra hái dùm rau, ớt và thêm mấy củ sả

    Ba Du nhanh tay xách cái túi đựng con rắn ra phía sau, lấy cái rựa chặt bỏ đầu và bắt đầu làm bếp. Thấy bụi chuối sau nhà trổ cái bắp non, Ba Du nói anh hái luôn vô để chút nửa làm món gỏi, chà mới nghe thực đơn của người đầu bếp từng mặc áo lính rừng ngày xưa này, Nam đã thấy cơn đói tấn công dồn dập.

    Làm xong mấy thứ Ba Du nhờ, Nam chất củi vào bếp lửa “dã chiến” kê bằng ba hòn đá rồi nhóm lửa, Ba Du nhờ anh nhóm thêm cái bếp nhỏ kế bên để nấu mấy món thịt rắn cho nhanh.

    Nam cười và suy nghĩ, sống ở rừng núi trong thời buổi cả nước ăn “bo bo, khoai mì, khoai lang”, lại được thưởng thức nhiều món của rừng núi, mà nhiều người ở Saigon cũng không mơ thấy nổi, được như vậy cũng sướng.

    Anh hỏi Ba Du:

    - Bên nhà anh Ba còn rượu không, tui về nhà lấy bình còn hơn lít rượu qua uống
    - Chú Nam khỏi phải về lấy chi cho thêm mệt, hôm trước sửa nhà cho ông bạn cũ ở xã bên kia hồ xong, có cho tui một bầu rượu ngâm mít uống ngon lắm.
    Rất thiện nghệ, một mình Ba Du xào nấu trên hai cái bếp dã chiến. Nam ngồi duỗi chân trên cái phản tre và dựa vào vách căn chòi hút thuốc lá, nhìn hồ nước qua cái cửa sổ nhỏ bên hông nhà.

    Mọi vật như đang chìm đắm vào giấc ngủ trưa, tiếng chim kêu từ hàng cây mọc bên bờ hồ, và trong đám rừng chồi vọng ra nghe thật xa vắng.

    Suy nghĩ của anh lại quay trở về với hai thùng đồ cổ đang nằm đâu đó dưới lòng hồ sâu, giấc mơ tìm thấy nó có vẻ thật xa vời. Không biết là anh có hoài phí thời gian, công sức vì câu chuyện người quản gia đồn điền đã kể sáu, bẩy năm về trước. Tại sao ông ta biết chắc là có, nhưng lại không đi tìm nó, hai cái thùng đó là một gia tài lớn đó chứ, nó có thể làm thay đổi cả thân phận và đời người!

    Nam nhớ có những lúc gia đình muốn cho anh đi vượt biên, nhưng số vàng lên đến gần chục cây của người tổ chức đưa ra cho mỗi người tham gia làm cho gia đình anh không kham nổi. Sau đó họ đi trót lọt làm Nam hết sức buồn, ba anh chỉ biết lặng lẻ nhìn con trai mình lủi thủi đi kiếm việc làm để có tiêu chuẩn lương thực gạo, bắp, bo bo … nuôi gia đình.

    - Nhớ nhà hả chú Nam - Ba Du cười và hỏi đột ngột làm anh giật mình
    - Ờ đâu có gì anh Ba …
    - Xong rồi chuẩn bị nhậu đi

    Nam xuống phụ dọn chén dĩa và các món được Ba Du ra công sức, tài nghệ xào nấu lên phản tre, nơi ngồi nhậu tốt nhất là ở đây.

    Ba Du đến cái kệ gổ dọc vách nhà, gần bếp lấy xuống hai cái bầu rượu có vỏ bên ngoài đen bóng và hai cái ly nhỏ.

    - Sửa nhà xong, ông bạn già bên đó cho hai lít rượu ngâm mít và chuối hột, uống cái này không bị nhức đầu!

    Ba Du rút cái nút bằng lá chuối khô đóng chặt ở miệng bầu và rót vào hai cái ly, hai người im lặng uống loại rượu ngâm có vàng vàng, mùi thơm nhẹ, ngọt dịu. Nam thưởng thức món gỏi và xào lăng rồi khen:

    - Ngon quá, anh Ba làm mấy món này không thua mấy quán ở Saigon!

    Ba Du đưa ly rượu lên uống một mình, nhậu với Ba Du không lo bị ép uống như mấy thằng bạn dưới thành phố, nên anh thấy dễ chịu và thích phong cách đó hơn.

    - Hồi đi lính biệt động quân có nhậu dữ không anh Ba?
    - Có, nhưng tùy lúc và tùy người, khi nào về hậu cứ không bị trực, gác thì lai rai rồi về ngủ, tui chỉ nhậu với mấy người bạn thân, không bắt ép ai uống đến gục tại chỗ …

    Nam biết biệt động quân là binh chủng đánh nhau rất gan lì, họ không biết sợ, về thành phố, một số quan niệm “sống nay, chết mai” nên khi uống rượu vào, họ say sưa, quậy phá làm người dân thành phố Saigon đôi lúc cũng sợ sệt, e dè khi gặp họ.

    Nhưng từ ngày quen biết Ba Du, anh thấy phong cách sống của Ba Du rất khác, nói chuyện với anh và người khác rất đàng hoàng, đôi lúc có thể nói là lịch lảm mặc dù trên người là bộ quần áo nông dân cũ rách. Có lẻ tác phong quân đội và nền tảng gia đình làm cho người lính miền nam được người dân yêu mến, trừ mấy ông việt cộng.

    Hơi men lâng lâng, Nam lại thích hỏi về đời lính chiến của Ba Du:

    - Trong đời lính có trận đánh nào mà anh Ba thấy dử dội và nổi tiếng nhất?

    Ba Du nhìn anh như vừa đánh giá, vừa tìm hiểu, trầm ngâm một lúc như để hồi tưởng lại quá khứ của những ngày hành quân khắp bốn vùng chiến thuật, những lúc nằm giữa rừng sâu âm u với cái chết đeo bám quanh mình, những ngày tiền đồn bị bao vây, pháo kích, Ba Du chậm rải nói:

    - Tiểu đoàn của tui có nhiều trận đánh nhau lớn với việt cộng ở khắp các vùng chiến thuật, từ rừng núi cao nguyên xuống đến đồng bằng miền tây, rồi quanh Saigon, những trận đánh ở vùng núi rừng dọc theo biên giới ở các tiền đồn đóng quân là dử dội nhất …

    Ba Du ngừng lại gắp miếng gỏi chấm vào chén nước mắm cay nồng đưa lên miệng nhai chầm chậm và nhấp ly rượu:

    - Trận đánh gay go, nổi tiếng nhất của tiểu đoàn là trận Tống Lê Chân, và sau đó một thời gian ngắn là miền nam sụp đổ

    Ba Du ngưng vài phút và lấy thuốc lá ra hút:

    - Năm 1970 tui nhập ngủ, sau khi được huấn luyện ở quân trường, tui gia nhập tiểu đoàn 31 Biệt Động Quân, rồi từ đó bắt đầu những ngày hành quân đi khắp bốn quân khu, tiểu đoàn 31 tham gia những trận đánh lớn ở Ba Thu, Mỏ Vẹt, Svay Riêng, Krek … trên đất Miên, đầu năm 72 tôi bị thương vì mảnh pháo trúng vai nên phải nằm điều trị ở quân y viện mất mấy tháng, sau khi bình phục tui được bổ sung về tiểu đoàn 92 tân lập để trấn giữ tiền đồn Tống Lê Chân ở tỉnh Bình Long, tiền đồn này nằm ngay vị trí chiến lược hiểm yếu trên tuyến đường chuyển quân xâm nhập từ các mật khu vào An Lộc, Bình Dương về hướng Saigon, nên việt cộng quyết xóa sổ căn cứ, chỉ huy tiểu đoàn lúc đó là thiếu tá Ngôn, một sĩ quan chỉ huy trẻ và gan dạ, trong khi các căn cứ khác dọc biên giói phải rút đi vì bị pháo kích và tấn công, gây áp lực, nhưng căn cứ Tống Lê Chân và tiểu đoàn quyết ở lại tử thủ, lúc đó anh em binh sĩ người S’tiêng cũng khá đông.

    Nam cắt ngang câu chuyện hỏi:

    - Điểu Sơn cũng có mặt ở Tống Lê Chân?

    Đưa điếu thuốc lá lên môi rít nhẹ và thở ra chậm rải, Ba Du gật đầu:

    - Điểu Sơn, Điểu Rút, Điểu Chắt và một số binh sĩ người Miên, M’nông… đều ở lại với tiểu đoàn, lúc đó người Mỹ đã có ý định bỏ Miền Nam vì áp lực của các cuộc biểu tình trong nước, việt cộng biết được sự yếu kém này của người Mỹ khi cắt viện trợ cho VNCH, nên họ đưa quân chủ lực đến bao vây và đánh vào căn cứ, và nghĩ là sẽ tiêu diệt tiểu đoàn 92 trong thời gian ngắn, nhưng cấp chỉ huy của tiểu đoàn là các sĩ quan gan lì và căn cứ được xây dựng rất chắc chắn, nên các đợt tấn công ào ạt ban đầu bị đánh tan, việt cộng xoay qua dùng pháo lớn nhỏ bắn phá ngày đêm để làm mất tinh thần và gây tổn thất cho tiểu đoàn, nhưng căn cứ vẩn đứng vững tháng này qua tháng khác, đa số thời gian lính sống trong giao thông hào, lô cốt được xây trong căn cứ …

    Nam cầm ly cụng và gắp một khúc rắn ri voi xào lăng vào chén của Ba Du.

    - Từ đó Tống Lê Chân là tiền đồn nằm chơ vơ một mình giữa vùng rừng sâu biên giới, những tháng, ngày mưa rừng về đêm nhớ gia đình và Saigon nhiều lắm, mà vẩn phải tỉnh táo canh phòng việt cộng bò vô đánh đặc công, hay đánh “biển người”, tiếp tế lương thực, súng đạn … bằng máy bay hoặc thả dù, nhưng cũng khó khăn vì súng phòng không dầy đặc, thiếu thốn đủ thứ và người bị thương không đưa ra được, nhưng tinh thần tiểu đoàn vẩn cao, việt cộng tràn lên nhiều lần nhưng đều bị thiệt hại nặng, phải rút ra và pháo vô căn cứ dữ dội hơn, sau một thời gian có thêm một số anh em bên không quân bay vào tiếp tế, tải thương bị bắn rơi, họ may mắn sống sót nên ở lại căn cứ. Qua hết năm 73, sau khi ký kết xong hiệp định hòa bình, người Mỹ bắt đầu rút hẳn khỏi Miền Nam, còn việt cộng vẩn bao vây Tống Lê Chân chứ không rút đi, thiếu viện trợ Miền Nam ngày càng yếu, trong lúc đó việt cộng nhận lại được viện trợ tối đa từ các nước cộng sản khác nên mạnh lên và quyết tiêu diệt các căn cứ, tiền đồn nào cản chân họ …

    - Lúc đó Tống Lê Chân có còn được yểm trợ không anh Ba?
    - Có, nhưng yếu dần, phần vì không được bổ sung quân số, súng đạn, lương thực … nhưng tiểu đoàn vẩn ở lại và đánh trả các cuộc tấn công càng lúc càng dồn dập, ủy ban giám sát quốc tế coi như không có, cuối cùng đến khoảng tháng 4/ 1974, tiểu đoàn trưởng âm thầm ra lệnh toàn bộ lính và thương binh của tiểu đoàn rút ra khỏi căn cứ về đến An Lộc an toàn, làm ngạc nhiên tất cả các cấp tướng tá chỉ huy và cố vấn Mỹ, vì tiểu đoàn đã đánh nhau với lực lượng việt cộng đông hơn gấp nhiều lần, tử thủ hơn một năm trời và làm vang danh biệt động quân VNCH!

    Nam thấy được niểm kiêu hãnh và tiếc nuối qua giọng nói của Ba Du, anh thấy cảm phục người lính miền nam, họ đã chiến đấu can trường, dũng mảnh, rất xứng với bộ quân phục và huy hiệu họ mang trên vai.

    Ba Du uống thêm ly rượu giọng trầm trầm:

    - Sau đó, tiểu đoàn về đóng ở Bình Dương và hành quân bảo vệ Saigon cùng các vùng lân cận cho đến ngày 30/4 mới tan rả …

    Ba Du có vẻ buồn, hút thuốc liên tục, con Ki đang nằm gần cửa nhà, nó ngóc đầu nhìn Ba Du và Nam như nghe ngóng câu chuyện của chủ nó. Nam thấy nó ngoan, không chạy lăng xăng hay sủa ồn ào xin ăn, anh lấy một miếng to bỏ xuống cho nó.

    Trong bầu đã cạn sạch đến đáy khi Nam dốc rượu vào hai cái ly, Ba Du rút nút lá chuối cái bầu rượu kia ra uống tiếp, hôm nay mồi nhậu quá ngon. Nam uống cạn ly rượu mới rót:

    - Sau ngày 30/4 có gặp lại mấy ông bạn cũ không anh Ba?
    - Bạn bè cũ đôi khi cũng có gặp nhau ở Saigon, đa số gặp cuộc sống khó khăn, sĩ quan chỉ huy bị đi học tập, lâu lâu nghe anh em có người vượt biên thóat, thấy vừa vui, nhưng cũng buồn.

    Ba Du bổng đổi đề tài nói chuyện, nhìn Nam cười cười:

    - Chú Nam không vượt biên hả?
    - Ồ, có vàng đâu mà đi anh Ba, mấy người quen ở dưới Saigon tổ chức kêu tham gia nhưng ở nhà không có cây vàng nào nên đành thôi, thấy ở Saigon bây giờ ai cũng muốn vượt biên ra nước ngoài …
    -Bạn bè và người quen của tui cũng rủ nhau đóng tàu, nhưng cũng không đủ số cây như bên tổ chức họ yêu cầu nên rồi cũng bỏ dở …

    Ba Du trầm ngâm nhìn ra hồ nước, mặt trời đã lặng về hướng tây trên vùng rừng núi biên giới xa xa, nhớ gia đình và bà mẹ già, cậu con trai nhỏ, và đứa em sống trong cái xóm nhỏ ở Gò Vấp gần đường rầy.

    Mơ về một tương lai tươi sáng ở đất nước này bây giờ có vẻ xa vời, ngày nào còn ở đây là chịu cảnh nghèo đói, bất công, Ba Du nhận định:

    - Nếu còn sống ở xứ này chắc không có hi vọng gì, dân Saigon vượt biên ra nước ngoài tìm tương lai là vì vậy …

    Lần đầu tiên từ lúc quen nhau, hai người đàn ông là hàng xóm, sống trong rừng núi cô quạnh, mới thổ lộ cho nhau biết một phần những suy nghĩ, và ước vọng trong cuộc đời mình.

    Ba Du cũng nhận thấy người hàng xóm trẻ tuổi này cũng dể mến, nói năng lễ phép, rất hiểu và đồng cảm với những người lính Miền Nam sau ngày thất trận.
    Đối với Ba Du đó là niềm đau rất lớn và nó luôn ở trong tim của một người lính đã hết mình vì đất nước, rồi cuối cùng nhìn thấy những gì mình chiến đấu bảo vệ bị sụp đổ.

    Từ đó Ba Du rất ít kể cho ai nghe về đời lính của mình, chỉ khi gặp lại bạn bè cũ trong tiểu đoàn hay những người quen biết trước đây, Ba Du mới đôi lúc tâm sự.

    Nam ngồi nghe với vẽ tư lự, anh thấy mình may mắn vì ở nơi xa xôi này mà có người hàng xóm tốt như Ba Du, tính tình rộng rải, trầm tỉnh. Vì vậy không biết có nên chia sẽ bí mật về hai thùng đồ cổ với Ba Du không, tâm trí Nam lại bị giằng co về chuyện này.

    Một người từng trải như Ba Du nghĩ gì khi nghe một chàng trai còn trẻ nói về “kho tàng đồ cổ”, nghe sao nó lớn lao quá, liệu có đáng tin không, anh biết người có tính thận trọng như Ba Du, ít khi tin tưởng vào điều gì đó có vẻ không thực tế, thiếu nền tảng khoa học.

    Nhìn thấy cái thúng đựng mấy trái bắp đầu mùa tươi ngon còn lớp vỏ xanh, Nam đến gần:

    - Bắp mới hái hôm trước hả anh Ba?
    - Thấy ngon hái xuống định hôm nào luộc ăn, chú Nam lấy ba, bốn trái bỏ nồi nước luộc đi, thay cơm chiều luôn, chút về nhà khỏi nấu!

    Hai người cùng cười, anh tước bớt vỏ rồi lấy cái nồi thêm nước, bỏ bắp vô và nổi lửa trên cái bếp còn mấy cục than to đang còn âm ỉ.

    Ba Du nhìn ngọn lửa cháy bừng bùng có vẻ sảng khoái, kêu Nam bỏ đó qua phản tre ngồi uống tiếp. Con rắn ri voi to quá, làm thành ba món đầy ú, nhưng sức ăn của hai người đàn ông cũng đáng nể nên mấy dĩa mồi cũng vơi nhiều.

    Con Ki hôm nay được Ba Du và Nam “thưởng công” vì giữ nhà giỏi, lúc Ba Du đi vắng, nó loanh quanh từ sân trước ra phía sau như một ông quản gia tận tâm với công việc, Nam kêu:

    - Ki, đến đây!

    Nghe kêu tên, nó chạy đến gần và ngoe nguẩy cái đuôi, anh gắp cho nó khúc thịt rắn bỏ vào cái tô mẻ dưới đất, nó đến ăn ngon lành.

    - Anh Ba, hôm nào kiếm xin con chó về nuôi ở nhà tôi bên đó nhé
    -Ừ, được chú Nam, vài ngày nửa rảnh qua ông bạn già ở xã bên kia hồ, nhà ổng có bầy chó con mới đẻ cũng được gần tháng, xin một con chó nhỏ về nuôi được rồi!


    (còn tiếp)

  6. The Following 5 Users Say Thank You to Vũ Phan For This Useful Post:

    hoang yen (11-07-2016), khongquan2 (11-01-2016), KiwiTeTua (11-03-2016), muahong (11-02-2016), nguyenphuong (11-08-2016)

  7. #4
    Vũ Phan's Avatar
    Status : Vũ Phan v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2016
    Nguyên quán: Saigon
    Posts: 79
    Thanks: 243
    Thanked 213 Times in 67 Posts

    Default

    CON TRAI NGƯỜI ĐẦU BẾP VÀ CÁI CHÉN MẺ


    Sáng hôm nay không bận công việc ngoài rẩy, Nam vác cần đi câu kiếm vài con cá, anh đến chỗ con suối chảy vào hồ gần bên đám rừng chồi nằm giữa đất của anh và Ba Du.

    Đã qua gần nửa tháng giêng, những trận mưa cuối mùa đông cũng đã chấm dứt từ lâu. Chỉ còn những cơn gió lạnh từ phía bắc tràn về hồ nước trong xanh giữa núi rừng hoang vắng xã Minh Thạnh, khung cảnh nơi anh và Ba Du ở cùng cái làng bên kia hồ, vẩn u tịch như ngày nào.

    Mùa khô đã đến, những con suối đang dần cạn kiệt, những dòng nước ào ạt tuôn ra từ các cánh rừng sâu cuối mùa mưa năm trước, nay chỉ còn lại các mạch nước nhỏ chảy róc rách len lỏi giữa các tảng đá nằm nhô lên trên nền cát.

    Suy nghĩ trong đầu, Nam nhận ra là ở khu vực bán sơn địa này, đến cuối tháng năm mới là đỉnh điểm của mùa khô, lúc đó mực nước hồ sẽ hạ xuống vì tất cả lượng nước ở các con suối chảy không còn nhiều hoặc đã khô cạn rồi.

    Nếu mực nước rút xuống thì độ sâu của hồ cũng giảm, vì vậy nên chờ cho đến thời gian thuận lợi đó, anh có thể lặn xuống thăm dò khu vực bên dưới chắc sẽ dể dàng hơn bây giờ khi nước trong hồ còn cao.

    Việc này phải hỏi lại thêm Ba Du, vì đã ở trong này lâu năm, nên Ba Du có thể cho anh biết sự thay đổi của mực nước hàng năm vào các mùa khô trước.
    Vào tháng này cây cao su và cánh rừng thưa trên các triền đồi lá khô rụng tơi tả, riêng khu rừng chồi, cây cỏ vẩn xanh tươi như đang giữa mùa mưa, nhờ xung quanh có các mạch nước ngầm từ con suối và cái hồ.

    Nam đến ngồi câu trên mô đất cao dưới bóng mát của mấy cái cây gần bờ suối, anh móc mồi và quăng ra xa, nhìn chỗ Ba Du hay buộc chiếc xuồng, Nam thấy nó đang nằm ở đó, phần mủi ghếch lên bờ cỏ. Vậy là Ba Du hôm nay không đi đâu, chắc đang làm cỏ, hoặc bận chăm sóc đám bắp, đậu cũng đang sắp đến ngày thu hoạch.

    Nam nhìn thoáng qua phần rẩy nằm gần phía ngoài này, không thấy bóng dáng Ba Du đâu, có lẻ đang ở đâu đó phía sau nhà, hoặc trong vườn cây ăn trái.
    Anh lấy bao thuốc lá ra hút và nhìn ra phía xa xa trên mặt hồ, chợt nghe tiếng có tiếng động sột xoạc trong bụi cây nhỏ phía sau. Nam quay lại và ngạc nhiên thấy con Ki vừa chạy đến gần bên, nó ve vẩy cái đuôi và đang ngậm trong miệng con thỏ lông xám, hai mắt nhắm nghiền, chắc con thỏ đã bị nó cắn chết. Bộ lông màu trắng, đen, nâu của nó bị thấm ướt vì những giọt sương đêm còn đọng trên các bụi cỏ sáng nay, nó muốn khoe Nam chiến tích vừa mới săn được trong rừng đây.

    Anh kêu nó lại gần, lấy tay vuốt ve cái đầu và bộ lông ướt đẫm nước, con Ki nằm xuống và nhả con mồi ra trên cỏ, Nam nghĩ thầm trong đầu và cười với nó:

    - Mày giỏi quá, sao không đem về nhà cho ông chủ làm mồi chiều lai rai, mà lại đem đến đây cho tao!

    Bây giờ thì nó quen với Nam rồi, không còn sủa dử như ngày đầu tiên khi anh đến nhà Ba Du nhậu, con Ki ngóc đầu lên, cái lưỡi thè ra như cười với Nam, còn cái đuôi thì ve vẩy tỏ vẻ khoan khoái.

    Cái phao động đậy và trôi chầm chậm trên mặt hồ, anh đưa tay nắm cần chờ đợi, con cá đớp mạnh mồi câu và kéo cái phao chìm sâu xuống, Nam giật cái cần, kéo mạnh con cá rô lên khỏi mặt nước và đưa nó vào bờ cỏ.

    Con Ki nhìn thấy con cá đang nhảy lạch bạch trên mặt đất, và dương ra những cái vi đầy gai nhọn, nó chồm tới nhe răng sủa như sắp sửa tấn công, Nam kêu mấy tiếng để nó bình tỉnh lại, rồi móc mồi mới và quăng dây câu xuống nước.

    Nhìn bầu trời trong xanh và vài vệt mây trắng mỏng tít trên cao, Nam đoán chắc mới vào khoảng chín, mười giờ. Con Ki vẩn nằm đó, đưa cái mủi ngửi ngửi con cá đang phùng mang ngáp ngáp và đập nhẹ cái đuôi lên mặt cỏ, nó đã hết hơi rồi nên không còn vùng vẩy sung sức như lúc mới bị quăng lên bờ.
    Bổng con Ki ngóc cái đầu và vểnh hai tai nhọn lên, nó đang nghe ngóng và đánh hơi ra mùi người lạ đến gần, rồi nhìn về chỗ có tàng lá cây rậm rạp mọc chờm ra trên mặt nước từ trong bờ hồ rồi sủa lớn.

    Nam đưa mắt quan sát xung quanh và đang tìm hiểu phản ứng nhanh nhạy của nó. Con Ki thính tai, thính mủi nên nó thường nghe, và đánh hơi từ xa có người đang đến, nếu là Ba Du thì nó sẽ vẩy đuôi mừng rở, chứ đâu sủa lên đinh tai, điếc óc như vậy.

    Anh nghe có tiếng mái chèo khua trên mặt nước, rồi tiếng hai, ba người đàn ông đang nói chuyện lao xao từ phía bên kia của khu rừng, Nam nghĩ ngay đến Tư Có và mấy tay du kích xã, ít có người lạ nào khác vào đây, có lẽ họ đang đi tuần tra trên hồ.

    Ít phút sau, một chiếc xuồng xuất hiện sau những cành lá đong đưa trên mặt nước, Tư Có ngồi giữa, hai tay du kích xã ngồi phía sau lái và mủi đang chèo dọc bờ về phía nhà Ba Du lên thượng lưu. Hai cây súng M-16 nằm trên tấm ván sàn dưới khoang xuồng, Tư Có hình như mang cây súng ngắn dưới cái áo sơ-mi kaki công nhân màu xanh phủ bên ngoài.

    Bơi ngang chỗ Nam đang thả câu, nhận ra anh đang ngồi trên mô đất dưới gốc cây, ông ta chỉ nhìn lướt qua, rồi hướng đôi mắt về phía con dốc đi lên nhà Ba Du. Hai tay du kích trẻ thì nhìn con Ki với vẻ mặt hầm hầm, vì nó cứ nhìn họ rồi sủa mỗi lúc càng thêm dử dội, làm vang động cả mặt hồ khi chiếc xuồng càng đến gần, có vẻ nó không ưa Tư Có và những người đi theo ông ta vào trong này.

    Nam thì im lặng nhìn chiếc xuồng lướt qua, anh nhận ra tay du kích ngồi phía sau lái là người lần đầu anh đã gặp hôm y đi vào trong này với Tư Có. Nhìn khuôn mặt xương xương và cái cằm nhọn hơi nhô ra của hắn ta, anh thấy không ưa được, còn tay ngồi phía trước mủi xuồng thì chừng khoảng hai mươi, hai mươi lăm tuổi, nước da ngăm đen, hơi thấp người và mập mạp.

    Nam cố ghi nhớ những khuôn mặt này, vì biết mình rồi sẽ còn phải gặp họ lâu dài khi vẩn còn sống ở đây.

    Ở những vùng xa xôi, cán bộ địa phương và lực lượng du kích xã, huyện là tai mắt của chính quyền sau năm 75. Thường thì họ hay theo dõi những đối tượng mà được xếp vào tầng lớp mà họ gọi là “ngụy quân, ngụy quyền” và làm việc cho người Mỹ, thành phần mà họ cho là hay chống phá cách mạng. Anh cần nhớ mặt những tay trong đội du kích hay công an để cẩn thận khi giao tiếp lúc ra ngoài xã hay khi gặp ở đâu đó để tránh bị để ý.

    Chiếc xuồng bơi đi một đoạn xa về hướng trên, nhưng con Ki vẩn còn ngóng theo để sủa.

    Chờ cho họ và chiếc xuồng đi khuất, Nam cắm chặt cái cần vào mô đất, và nhấc vài tảng đá đè lên để nó khỏi trôi ra hồ khi cá cắn câu, rồi xách tai con thỏ và kêu con Ki đi về nhà Ba Du. Đến nơi thấy cửa nẻo thì mở, nhưng nhìn từ trước ra sau không có ai, Nam đi ra tìm phía hông nhà, rồi đến bên các luống bắp rậm rạp có các nhánh lá dài xanh rì, nhưng vẩn không thấy Ba Du đâu. Đi vòng ra phía sau, Nam len lỏi vào trong vườn cây, đến chỗ mấy cây chuối mọc ken nhau dầy kín, thấy có dấu chân còn mới giữa những hàng cây ở bên trong, anh bước theo lối đó, vừa đi, vừa gọi:

    - Anh Ba có trong đó không?
    - Chú Nam hả, có chuyện gì không?

    Nam đi tới một bụi chuối to, Ba Du đang cầm cái liềm cắt quầy chuối sắp chín, thấy trên tay Nam có con thỏ và con Ki theo sau, Ba Du cười nói:

    - Ki giỏi lắm, lâu lâu cũng bắt được thỏ, gà rừng lạc vô rẩy
    - Tôi đang ngồi câu gần rừng chồi, nó ngoạm con này chạy đến kế bên … lúc nảy Tư Có đi xuồng với hai tay du kích, con Ki sủa anh Ba có để ý không
    - Nam cười nói tiếp
    - Có, lúc đó tui đang trong vườn kiếm mấy quầy chuối chín, nghe nó sủa tui nhìn ra xem có ai vô không, nhưng không thấy động tỉnh gì nên không đi ra … ông ta có hỏi han gì chú Nam không?
    - Thấy tôi vài lần trước quen rồi nên đi qua luôn, hai tay du kích thì còn trẻ, một tay mặt ốm ốm mà tôi đã gặp một lần ở trong này, tay kia mập, đen, thấp lạ …anh Ba có biết mặt tay đó không?
    - Tay đó tên Mười, hắn ở gần nhà Năm Bình trong nông trường cao su, mới tham gia đội du kích một, hai năm nay

    Ba Du vác quầy chuối lên vai đi trước, Nam và con Ki theo sau, đến nhà, Ba Du bỏ quầy chuối vào trong góc trên miếng ván, cầm con thỏ từ tay Nam bỏ lên cái kệ gổ, Ba Du nói:

    - Chú Nam có thích thỏ thì xách về làm thịt

    Nam chưa quen với vụ này và hơi ái ngại vì thấy Ba Du tính tình rộng rải quá nên cười:

    - Chưa biết cách làm thịt nó ra sao, thôi anh Ba để ở đây đi, tôi đang câu ngoài kia cũng được một, hai con cá rồi

    Ba Du cầm rựa cắt nải chuối xen vài trái đang chín, lấy cọng lá khô cột qua đầu nải thành vòng dây cho dể xách và đưa cho Nam:

    - Chuối trồng trong vườn ngon và ngọt, chú Nam về ăn thử.

    Nam cám ơn và móc ngón tay vào cọng dây cầm nó định bước ra, chợt Ba Du nói thêm:

    - Chiều nay qua nhà ông bạn già ở xã bên kia hồ thăm và xin chó về nuôi, chú Nam có rảnh không?
    - Dạ đi anh Ba
    - Chú Nam cứ ở bên nhà, tôi chèo xuồng ngang qua, khi nghe kêu, chú chạy ra bờ hồ nghe

    Anh cầm nải chuối tòn ten trên tay và đi trở lại chỗ ngồi câu. Thời tiết gần mùa xuân ở vùng bán sơn địa êm dịu, mát mẻ, bầu trời trên cao trong xanh điểm vài vệt mây trắng mỏng vắt ngang qua, trông thật thanh tao, tạo nên một khung cảnh rất hòa hợp với không khí rừng núi tinh khiết, nhẹ nhàng quanh hồ.

    Nam vừa đi, vừa suy nghĩ và bước xuống con đường mòn từ chỗ Ba Du đi về phía hồ nước. Đến chỗ cái cần, anh nhấc nó lên và thay mồi, mấy con cá nhỏ đã rỉa sạch con trùng móc trên lưỡi câu trong lúc Nam bỏ đi qua nhà Ba Du.

    Mải mê ngồi nhìn cánh cò trắng bay nhẫn nha qua mặt hồ ở phía xa xa, Nam không để ý đến bên dưới bóng mát của những nhánh cây rậm rạp từ rừng chồi mọc ra xa bên trên, mặt nước giống như vừa có một con cá to từ dưới bơi lên mặt nước ăn móng, một lúc sau mọi thứ trở lại yên lặng như cũ. Câu thêm được vài chú cá rô và cá mè, Nam lấy cọng dây xỏ vào mang lũ cá, rồi xách cái cần và nải chuối đi về.

    Mặt trời đã lên cao gần đỉnh đầu và bắt đầu tỏa ra hơi nóng hầm hập khắp nơi, lại có tiếng con Ki sủa dồn dập vọng lại từ nhà Ba Du ra phía hồ nước.
    Anh đang đi về nhà theo lối mòn dọc bờ, nghe tiếng sủa, Nam đưa mắt nhìn ra ngoài mặt hồ quan sát, thì ra chiếc xuồng chở Tư Có và hai tay du kích đang quay trở về, sau khi đi tuần tra ngang qua đây rồi lên phía thượng lưu lúc sáng nay, bây giờ thì họ đang quay về xã.

    Chiếc xuồng đi qua va lướt thêm một đoạn xa về phía dưới, Nam thấy Tư Có chỉ tay vào phía gần bờ, hai tay du kích lèo lái chiếc xuồng lách vào bên trong và bơi chậm lại. Ở chỗ đó bờ hồ lỏm vào thành một cai ao nhỏ cạn, do đất cát bên trên bị sạt lở xuống vì những trận mưa rừng dai dẳng sau những năm đầu xây đập chắn. Chiếc xuồng dừng hẳn lại, Tư Có nhìn xuống mặt nước và nói gì đó với hai tay du kích, tên ốm đứng lên cầm trái lựu đạn quăng xa ra, một tiếng nổ vang lên giữa rừng núi, và cột nước bắn tung lên cao trắng xóa khiến chiếc xuồng trồi lên, sụt xuống theo các con sóng.

    Nghe tiếng nổ và thấy nước bắn lên cao, Nam biết bọn họ vừa ném lựu đạn xuống hồ đánh cá, sau vài phút chờ đợi cho những con cá bị sức nổ làm cho ngất ngư phải nổi lên, hai tay du kích ngồi bên trên bơi tới vớt những con cá to nằm phơi bụng trắng xóa trên mặt nước, còn những con nhỏ thì bỏ lại, cho chìm xuống hồ làm mồi nuôi lũ cá khác ở dưới đáy.

    Nhìn từ xa, Tư Có liên tục chỉ tay và quát tháo hai tay du kích vì không kịp làm theo ý của ông ta, thỉnh thoảng còn chửi thề, có lẻ vì tiếc rẻ mấy con cá lớn đang chìm xuống đáy, tay du kích tên Mười liền cởi áo, nhảy ra khỏi xuồng và lặn xuống mò, vài phút sau hắn trồi đầu lên, trên tay cầm con cá bỏ vào xuồng, Tư Có gục gặc cái đầu có vẻ đắc ý, nhưng vẩn còn tiếc nên kêu tay này lặn thêm vài lần nửa để vớt cho hết những con còn lại.

    Trong lúc chờ đợi, ông ta và tay du kích kia ngồi trên xuồng hút thuốc, nhìn xuống hồ coi tay kia lặn mò bên dưới, và chờ hắn ném lên những con cá vừa vớt được dưới đáy.

    Một lát sau, Tư Có cúi xuống nói với tay du kích ở dưới nước, chắc ông ta kêu hắn đi về, thân hình mập mạp của tay du kích tên Mười cố leo lên lại chiếc xuồng, và sau đó họ bơi mất hút về hướng xã.

    Về đến nhà, Nam thảy mấy con cá còn sống vào thùng nước nhỏ ở phía sau, những con vừa chết anh làm thật nhanh và chiên cho bửa trưa, rồi dọn ra ăn với chút cơm độn khoai, bắp.

    Kể cũng lạ sau năm 75, bửa ăn của mọi người trên cả nước thường xuyên thiếu thốn và phải độn với bo bo, khoai lang, mì, bắp … hay bất cứ loại rau củ nào có thể tìm thấy, nhưng ở đây, nhờ có cái hồ này nên dân xung quanh vùng có thêm cá trong bửa ăn, có lẻ ông trời cũng cảm thương vùng quê nghèo khốn khổ này.

    Chính quyền xã dù có muốn ngăn cấm người dân đánh bắt cá cũng khó, vì cái hồ thì quá lớn và lại nằm lọt thỏm giữa bốn bề rừng núi hoang vu, nên họ không quản lý được, mà nếu làm được thì chắc họ đã làm rồi, như vậy nếu người dân xung quanh hồ đánh bắt cá, chắc chắn sẽ bị kết tội “xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa”, trong đó có Ba Du và anh.

    Đang thiu thiu ngủ sau bửa cơm trưa, Nam nghe có tiếng gọi của Ba Du từ bờ hồ vọng lên. Nhanh chóng bật dậy và rửa mặt cho tỉnh táo bằng ca nước mát lạnh sau nhà, anh chộp vội cái nón vải đội lên đầu, khép các cánh cửa rồi đi nhanh ra phía bờ hồ.

    Ba Du và chiếc xuồng đang đậu sát bờ, Nam bước lên phía mũi và cầm mái chèo, cả hai bơi ngang hồ sang phía bên kia. Trời mới khoảng hai, ba giờ, nắng buổi chiều tháng giêng đẹp, nhẹ nhàng buông lơi trên vùng đồi núi tây nam dảy Trường Sơn. Nam chưa từng qua bờ hồ của cái xã kế bên này từ lúc vào đây ở, chỉ nhìn thấy nó từ phía bên này hồ khi đi câu hay mấy lúc ngoài rẩy, Ba Du hai tay chèo nhịp nhàng nói:

    - Lúc Tư Có và hai tay du kích sáng nay đi tuần xong quay về chỗ bờ hồ cạn quăng lựu đạn bắt cá, chú Nam còn ở ngoài này hay về nhà rồi?
    - Lúc đó tôi đang đi về nhà
    - Thường thì ông ta hay đánh mìn ở chỗ tui và chú Nam giăng lưới hôm trước, Điểu Sơn có lúc gặp họ trên khúc hồ đó, ít khi ông ta xuống chỗ này lắm

    Ba Du lấy bao thuốc lá ra hút:

    - Chắc buổi trưa nay về ngoài xã có độ nhậu lai rai
    - Anh Ba ở đây lâu có bao giờ uống rượu với Tư Có không?

    Giọng Ba Du mạnh và dứt khoát:

    - Chưa, mấy lần tui ra uống cà- phê ở quán Năm Bình, Tư Có bước vào, nhưng ông ta nói chuyện với vợ chồng chủ quán, sau đó quay qua tui hỏi chuyện một hai câu rồi đi.

    Nam hơi mỉm cười, anh nghỉ thầm, một người lính biệt động quân “dử dằn” như Ba Du chắc không muốn giao du với một tay du kích nằm vùng. Ngược lại, thì Tư Có bây giờ thuộc phe chiến thắng rồi, cũng có chút chức quyền trong cái xã Minh Thạnh này, ông ta cũng không muốn giao du với mấy người lính VNCH như Ba Du.

    Hai bên thuộc hai phe từng đối đầu với nhau trong chiến tranh, sau đó lại thêm chuyện chính quyền mới bắt lính và sĩ quan phe thua trận đi học tập, cải tạo, do vậy Nam nghĩ họ khó mà hợp với nhau được.

    Thấy Nam ngồi ờ phía mủi im lặng có vẻ đang suy nghĩ, Ba Du nhìn anh như dò đoán ý, nhưng rồi quay qua hỏi chuyện khác:

    - Sáng nay chú Nam câu được nhiều cá không?
    - Được bốn, năm con cá rô và hai con cá mè
    - Trong hồ này có cá lăng, cá này thịt ngon lắm, nhưng câu nó rất khó, thường thì phải lấy cá lóc, cá trê, cá rô con làm mồi sống, từ hôm ra câu đến nay có dính con cá lăng nào chưa chú Nam?
    - Chưa biết cách câu, nên chưa được con nào, mới nghe anh Ba nói, hôm nào phải thử

    Chiếc xuồng đã đi ngang qua gần hết cái hồ, Ba Du ngồi đằng sau lái nó đi dọc bờ về phía hạ lưu thêm vài trăm mét. Qua khỏi rặng cây mọc hoang rậm rạp, Nam thấy một căn nhà gổ nằm trên gò đất thấp, xung quanh những luống khoai mì, khoai lang, bắp, đậu lên xanh.

    Ba Du cho chiếc xuồng tấp vào bờ, Nam nhảy xuống, cột sợi dây vào một thân cây gần đó và theo Ba Du bước lên con đường nhỏ chạy giữa màu xanh mát mắt của khu rẩy xung quanh.

    Mọi thứ ở đây được có vẻ chăm sóc, bón phân … đầy đủ nên cành lá sum xuê, tươi tốt, Ba Du đi phía sau, đưa mắt nhìn rồi khen:

    - Hai Tuất siêng và giỏi nên năm nào rẩy cũng khá

    Khi đến gần căn nhà, hai con chó nằm trước cái sân có hàng cây ăn trái bao quanh chồm tới sủa văng vẳng. Cửa nhà mở toang nhưng không thấy ai xuất hiện, mấy con chó nhỏ nằm dưới cái phản gổ, thấy người lạ đến gần liền đua nhau sủa phụ họa với hai con lớn.

    Ba Du và Nam vòng ra bên hông nhà, bầy gà đông đúc đang kiếm ăn bỏ chạy ra vườn phía sau kêu dáo dác.

    - Anh Hai ơi, có nhà không – Ba Du kêu lớn hai, ba lần

    Có tiếng bước chân đi ra từ vườn chuối, nhiều cây đang trổ ra những buồng nhỏ, ngắn ngủn, gần đó là những dây bầu, bí, mướp bò lên xanh mướt trên ba cái giàn tre cao khỏi đầu.

    Nam thấy một người đàn ông cỡ 35 – 45 tuổi đi tới chỗ anh và Ba Du đang đứng, mái tóc điểm bạc ló ra dưới vành nón, dáng đi hơi khập khiễng vì mang cái chân giả bên phải.

    Để tựa cây cuốc vào chỗ gốc mấy dây bầu, ông ta tươi cười khi thấy Ba Du đang đưa mắt lên giàn bầu, bí … sai trái:

    - Bầu bí bên anh trồng bón phân gì mà xanh tốt vậy?

    Hai Tuất nhìn Nam, cả hai cùng gật đầu chào nhau.

    Nở nụ cười cởi mở trên khuôn mặt tròn, phúc hậu, Hai Tuất vừa đi ra phía cửa trước, vừa trả lời bằng giọng bắc nhè nhẹ:

    - Cũng chăm sóc, bón phân bình thường, có lẻ đất bên này tốt nên nó đậu nhiều hơn, vào nhà uống nước đi anh Ba

    Đi đến cái bàn kê sát vách giữa nhà, Hai Tuất ngồi lên băng ghế dài và lấy ba cái ly, rót nước từ cái ấm ra mời khách. Ba Du đến ngồi cùng phía băng ghế với Hai Tuất, chỉ tay về Nam ngồi ở ghế đối diện:

    - Đây là chú Nam hàng xóm của tui ở bên đó, ở Saigon lên đây làm rẩy được hơn ba tháng nay rồi Hai Tuất cười nói một cách rất tự nhiên:

    - Vậy là Ba Du có hàng xóm rồi, tôi bên này loay hoay một mình lâu nay mà chưa có hàng xóm nào về ở gần gần để lúc rảnh qua nhậu lai rai đỡ buồn
    - Anh … có bà xã vui hơn tui và chú Nam rồi!

    Hai người đàn ông cùng cười lớn, Ba Du chợt thôi cười và hỏi:

    - À, bà xã đâu không thấy?
    - Đi ra xã có chút công việc ngoài đó, chắc chiều mới về
    - Mấy chỗ mái và vách sửa tuần rồi có bị lỏng, sút ra nửa không anh Hai?
    - Mấy chỗ đó tốt rồi Ba Du
    - Lúc nảy dưới bờ hồ, không thấy chiếc xuồng của anh đâu hết?

    Hai Tuất cầm ly nước đưa lên uống và nói:

    - Cho ông hàng xóm ở tuốt bên trong làng mượn đi đánh cá, tháng mượn một, hai lần để cải thiện, hai vợ chồng đó và mấy đứa con cũng nghèo lắm, trước năm 75 gia đình họ cũng làm cho đồn điền cao su của Tây

    Ba Du nghe nói ngồi gật gù cái đầu nhè nhẹ, Hai Tuất cười rồi đứng lên dợm bước vào nhà trong, lấy tay vổ vai Ba Du vài cái:

    - Bắt con gà làm lai rai nhé, sẵn dịp hôm nay có chú Nam về đây, mai mốt cũng là hàng xóm với nhau

    Ba Du nghe Hai Tuất mời nhậu cũng cười và đứng dậy:

    - Qua nhà anh hôm nay là xin con chó nhỏ cho chú Nam về nuôi coi nhà, coi rẩy rồi tụi tui đi về …
    - Ừ, chú Nam thấy thích con nào thì bắt về nuôi, chuyên đó tính sau đi, bây giờ mình lai rai trước cái đã nhé

    Hai người đàn ông cùng đứng dậy đi ra chái bếp phía sau nhà, Nam ngồi liếc nhìn xung quanh, nhà Hai Tuất gọn ghẻ, tươm tất, phòng ngoài bày trí như đa số nhà dân vùng này, ngoài cái bàn, ghế còn có tấm phản làm bằng nhiều miếng ván cao su ghép lại, tuy thô sơ nhưng trông chắc chắn. Có thể dùng để ngủ, hay ngồi nghỉ ngơi. Hai bên vách đều có cửa sổ mở ra lấy ánh sáng và gió trời.

    Chái nhà phía sau rộng rải vừa là bếp, vừa làm nơi chứa hoa màu sau khi thu hoạch, và các nông cụ cuốc xẻng, dao, rựa …

    Hàng cây ăn trái chôm chôm, mít … trồng phía trước nhà có lẻ đã lâu năm nên mấy cái gốc của nó, cái nào cũng to, xù xì. Trên cành đơm đầy trái chôm chôm sắp chín khoe màu đỏ vàng rực rất đẹp mắt, trên những cây mít, những trái mít căng tròn đeo từ sát dưới gốc, chen chút nhau đu lên các nhánh trên cao, cây lêkima ở góc sân có nhiều trái chín to tròn, vỏ bên ngoài màu vàng căng bóng trông ngon mắt.

    Khung cảnh phía bên này hồ có vẻ hoang dã hơn, những đám rừng chồi gần nhà Hai Tuất một thời bị chặt phá, khai hoang để trồng trọt, đến nay sau nhiều năm không còn ai canh tác, lại bị bỏ hoang, sau nhiều mùa mưa thì cây cối, dây leo lại mọc xanh um tùm.

    Nam cúi thấp xuống nhìn bốn chú chó con đang nằm dồn đống với nhau dưới gầm tấm phản, hai con bố mẹ là chó đen và vá nên cả bốn cũng đều có màu lông vá đen trắng.

    Anh để ý thấy có một con có đốm vá đen trên mặt, phân nửa bên kia trắng nhìn rất ngộ nghỉnh. Nó nhìn Nam đang búng tay kêu chóc chóc về phía cả đàn, mấy con kia hơi nhác và bò lui ra xa, còn nó ngoắc cái đuôi, rồi chạy đến ngửi tay anh và đứng yên cho anh vuốt ve cái đầu nhỏ có hai cái tai màu đen trắng cụp xuống rất đẹp, anh bắt đầu thấy thích nó.

    Nam đứng lên và ra phía trước nhà, thả tầm mắt nhìn ra xa trên mặt hồ, phong cảnh về chiều buồn buồn với bầu trời xanh lơ, nắng chiều buông nhẹ trên cây cỏ quanh bờ hồ.

    Phía sau chái bếp, Nam nghe có tiếng dao chặt mạnh lên thớt gổ, Ba Du vừa phụ Hai Tuất làm gà vừa trò chuyện, loáng thoáng anh nghe Ba Du nói về Năm Bình, và Tư Có đi tuần qua rẩy với đám du kích, rồi tiếng Hai Tuất hạ nhỏ giọng xuống nên anh nghe không còn được rỏ …

    Chắc Ba Du quen biết chủ nhà đã lâu, nghe và nhìn cách Hai Tuất nói chuyện với Ba Du tự nhiên và thân tình, cũng giống Năm Bình ở quán cà-phê ngoài xã, nên họ có nhiều thứ để nói và chia sẽ với nhau.

    Làn khói mỏng từ chái bếp sau nhà bay lãng đãng theo gió tỏa lan ra không gian im ắng của khu rẩy. Hai người đàn ông đi lên từ phía sau, Ba Du bê dĩa gà luộc chặt thành miếng ngon lành đặt lên bàn và cười nói rất vui vẻ, Hai Tuất đi sau cầm theo chai rượu ngâm mít có màu vàng sánh nhìn như nước trà đậm, với dân nhậu thì có lẻ nó trông rất hấp dẩn.

    Hai Tuất nhìn ra cửa thấy Nam đang đứng dưới gốc cây lêkima tìm mấy trái chín ở những cành thấp bên dưới liền nói vọng ra:

    - Chú Nam ra sau nhà lấy cây sào dài ra hái mấy quả đã chín trên cao ăn ngon hơn

    Nam vòng ra phía sau lấy cây sào đem ra sân, Ba Du cũng hào hứng với vụ hái trái cây nên theo Hai Tuất ra ngắm nghía những trái lêkima chín ở trên cao, Hai Tuất lấy tay chỉ cho anh những trái to và nói:

    - Trái này ăn rất tốt, có thể ăn thay cơm gạo lúc đói, chú Nam hái nhiều nhiều đem về bên đó ăn dần

    Ba Du chợt hỏi:

    - Trái này ở Saigon kêu là trái trứng gà đó phải không?

    Nam vừa đưa cây sào móc trái trên cành trả lời:

    - Ừ, đúng đó anh Ba, cây này trồng mấy năm mới ra trái anh Hai?
    - Hai cây này trồng đã hơn năm năm, đất ở đây tốt nên nó ra quả sớm

    Thấy mớ lêkima đã được khá nhiều, Nam đem cây sào bỏ ra phía sau nhà, rửa tay cho sạch bụi đất và quay trở lại sân trước.

    Hai Tuất cùng Ba Du đem hết bỏ lên tấm phản trong nhà, ông ta vừa thấy Nam từ sau nhà quay lên liền gọi:

    - Nào vô lai rai đi chú Nam

    Anh bước vào bàn, Ba Du rót rượu vào ba cái ly, chủ nhà tỏ thái độ hăng hái và vui vẻ nâng ly mời hai người hàng xóm đến từ bên kia hồ. Mọi người cạn ly, Nam thấy rượu ngâm mít đi qua cổ họng hơi có vị ngọt, dịu, cỏ vẻ dể uống. Hai Tuất nhìn dĩa thịt gà trên bàn, rồi nhìn Ba Du và Nam cười nói:

    - Chú Nam ăn thử thịt gà luộc đi, Ba Du làm đó, ngon lắm, ổng có hoa tay nấu nướng, ở chỗ này vắng vẻ này, thỉnh thoảng mình làm thịt con gà ăn ít ai để ý, dân xóm này đa số là công nhân trong đồn điền Tây ngày xưa, nên cũng ít có chuyện dòm ngó nhau

    Quả thật dĩa thịt gà được Ba Du luộc lên và chặt thành miếng nhỏ rất gọn và vừa một đũa gắp, bên trên còn rắc thêm lá chanh được thái thành sợi nhỏ nhìn rất nghệ thuật, Nam gắp một miếng chấm vào dĩa muối tiêu và đưa vào miệng ăn thử, thịt gà mềm và ngọt trộn lẩn với mùi thơm hăng hăng của vị lá chanh, đúng như Hai Tuất nói, anh khen:

    - Ừ, thịt gà luộc ngon quá

    Ba Du cười khi nghe Nam gật gù khen, nên nhìn qua Hai Tuất:

    - Ở đây nhờ anh có Hai Tuất nuôi mấy con gà, nên thịt nó mới ngon được như vậy, chớ món này đâu có cần chế biến gì nhiều

    Thấy Ba Du khiêm tốn về tài nấu nướng của mình, Hai Tuất gắp một miếng đùi gà to bỏ vào chén cho Ba Du, nốc cạn ly rượu cười:

    - Hồi xưa đi lính trong quân đội huấn luyện, đào tạo ra sao mà bây giờ cái gì ổng cũng làm rất khéo, làm rẩy, đánh cá, làm mộc sửa nhà, đóng xuồng, bẩy thú rừng, còn đi rừng thì không thua gì dân trong buôn
    - Chút đỉnh tài nghệ đó bây giờ chỉ đủ sống ở đây thôi, nhờ có anh, Năm Bình, Điểu Sơn và bà con trong buôn Bù Đon giúp đỡ tui lúc mới lên đây
    - Ba Du cười nói tiếp
    - Lúc còn ở trong đồn điền cao su Tây, lâu lâu thấy mấy ông lính và anh Ba đến làm công tác khám bệnh, phát thuốc men cho dân, ông già tôi mến mấy anh lắm, ổng cứ nói với tôi ra hỏi anh em lính xem có đói bụng không, trong nhà nấu nướng cho mấy anh ăn uống, ông già biết lính tráng rất khổ, xa nhà, đanh nhau chết chóc … vì vậy khi nấu bếp cho chủ đồn điền có cái gì ngon như rượu tây, bánh trái … ổng hay đem về để ở nhà, có dịp mấy anh đi qua, ổng kêu tôi đem ra cho anh em ăn uống chút đỉnh cho vui - giọng Hai Tuất như chùng lại, rồi cạn ly rượu

    Ba Du nhìn Hai Tuất với vẻ chân tình:

    - Lúc đó lội rừng hành quân cả tháng trời, ra đây thấy anh cầm chai rượu, bánh ra cho anh em lính, đang thèm rượu mà có chai rượu tây uống, đã quá trời, nên tụi tui rất mến gia đình và bà con trong đồn điền, riêng tui thì nhớ ông già nhiều lắm

    Hai Tuất nhìn ra cửa sổ về hướng bờ hồ như hồi tưởng lại:

    - Tụi nó pháo kích bừa bải vào trong đồn điền làm người chết, bị thương, nhà cửa sụp đổ … khi lính mấy anh rút đi, bọn nó về nhưng bà con sợ, không dám ra … thời gian sau, lúc hai bên đánh nhau và Tống Lê Chân đang bị bao vây, khi biết tiểu đoàn của anh Ba rút về đến An Lộc sau hơn cả năm trời kẹt trong căn cứ, đa số bà con ở đồn điền lúc đó mừng lắm, còn trong gia đình tôi thì ông già chỉ nói mỗi câu là không thể tin được

    Ba Du trầm ngâm ngồi nghe, đôi mắt hơi nhíu lại, rồi rót thêm rượu vào ba cái ly và nhìn về phía Nam:

    - Ông già anh Hai làm đầu bếp cho gia đình ông chủ đồn điền, thỉnh thoảng khi anh em biệt động quân vô khám bệnh hoặc làm công tác dân sự giúp bà con, ổng cũng hay đến hỏi thăm anh em và gửi cho chai rượu, bánh trái … ông già thương lính lắm, rồi trong đồn điền cũng có một số tay nằm vùng báo cho tụi du kích, gia đình bị tụi nó về làm khó dể, hăm dọa, tội nghiệp năm 74 gần hết chiến tranh gia đình bị trúng đạn pháo kích, ông già mất, anh Hai Tuất bị thương cái chân nên phải về Saigon chửa trị, về sau này tui và ảnh có gặp nhau dưới đó, anh em mừng quá, tội nghiệp ông già …

    Nam ngồi nghe hai ông “bạn già” nói chuyện với nhau rất hợp ý và nhiều cảm xúc, có vẻ vì vậy mà họ rất thân với nhau trong cảnh xã hội thay đổi điên đảo này, Hai Tuất không ăn nhiều, chỉ ngồi uống rượu, lâu lâu lại gắp một miếng cho vào chén Ba Du hoặc Nam. Đong đưa nhẹ cái chân giả dưới gầm bàn Hai Tuất nói:

    - Cái chân này cũng nhờ có Ba Du quen bên chỗ phục hồi chức năng quân đội kiếm cho nên xài tốt và bền đến bây giờ, đồ của đế quốc Mỹ có khác - Hai Tuất cười khôi hài

    Ba Du tỏ ra yêu thích chó, nhìn thấy hai con chó lớn nằm gần cửa, thỉnh thoảng nó đảo mắt nhìn chủ và hai ông khách ngồi nhậu trên bàn đang say sưa nói chuyện, Ba Du thấy vậy gắp hai khúc xương chân kêu tụi nó lại và bỏ xuống.

    Nam bổng chú ý thấy cái chén nhỏ đựng nước mắm gừng trên bàn, nó bị sứt mẻ một mảnh trên miệng và có vài vết rạn nứt, xung quanh có hoa văn xanh dương đậm hơn trên nền xanh lơ, nhìn rất khác lạ với những cái chén kia, cái chén có vẻ cổ xưa.

    Tâm trí anh lại quay về với hai thùng đồ cổ, không biết cái chén anh đang thấy trên bàn có phải là “đồ cổ” không, và nếu là đúng, thì từ đâu Hai Tuất có nó, trong nhà còn cái nào giống như vậy không. Một loạt các câu hỏi bổng xuất hiện trong cái đầu đang lâng lâng vì rượu mít dịu ngọt của Hai Tuất, anh không dám cầm cái chén lên xem vì sợ gây chú ý, và cũng không dám nhìn quá chăm chú vào nó.

    Nam suy nghĩ miên man, Ba Du và Hai Tuất vẩn đang nói chuyện với nhau nên không để ý nảy giờ anh không ăn uống gì, dù dĩa thịt gà trên bàn còn nhiều.

    Đang tự hỏi có cách nào để biết cái chén mẻ đó có đúng là đồ cổ không, vừa lúc trong đầu anh nghĩ ra một phương cách, Ba Du ngưng nói chuyện và rót rượu nâng ly mời:

    - Chú Nam uống và gắp mồi đi chớ!

    Anh và Hai Tuất cầm ly lên và ngửa cổ uống cạn, rượu ngâm mít có vị dịu ngọt rất dể uống, nhưng độ cồn vẩn cao, nên sau khi mỗi người uống hết khoảng một xị, Nam thấy chếnh choáng, mặt mủi đỏ bừng.

    Lấy đũa gắp miếng thịt gà chấm vào chén nước mắm gừng, đưa lên miệng nhai, anh thưởng thức vị béo, cay hòa lẩn với vị ngọt của rượu còn đọng ở cổ họng. Hơi rượu làm anh bạo dạn hơn, Nam nghĩ, nếu hỏi một, hai câu về xuất xứ của nó chắc Hai Tuất hay Ba Du cũng không đoán ra chuyện gì đâu, xem như anh tò mò một chút vì thấy nó lạ. Nam cầm cái chén cũ lên và xoay qua lại vài vòng để nhìn rỏ hoa văn và những ký tự như chữ Hán trên đó rồi hỏi:
    - Cái chén này thấy lạ là, anh Hai Tuất chắc mua nó lâu rồi hả?

    Hai Tuất đang ngồi nói chuyện với Ba Du về thu hoạch mùa đậu và bắp sắp tới, nghe Nam hỏi, liền ngưng câu chuyện dở dang và nói:

    - Cái chén đó có cũng lâu rồi, trước năm 75 lúc ông già còn làm đầu bếp, ông chủ Tây và gia đình bỏ về Saigon vì thấy chiến tranh mỗi lúc một đến gần đồn điền, ba tôi thì ngày ngày vẩn đến dọn dẹp, trông coi nhà bếp, một hôm sau khi khu nhà bị trúng đạn pháo làm sập một góc và một phần nhà bếp, ổng đến dọn dẹp mấy món đồ đạc bị vở nát, thì thấy vài cái chén cũ nằm lăn lóc, sứt mẻ nằm trong góc tường đổ, ổng thấy lạ nên tiếc đem về xài … bộ chú Nam biết coi đồ cổ hả - Hai Tuất vừa hỏi vừa cười, ánh mắt như dò hỏi.

    - Dạ không, thấy nó là lạ nên hỏi cho biết thôi
    - Ba Du còn nhớ ông chủ đồn điền Tây không – Hai Tuất hỏi


    (còn tiếp)

  8. The Following 4 Users Say Thank You to Vũ Phan For This Useful Post:

    hoang yen (11-07-2016), KiwiTeTua (11-03-2016), muahong (11-03-2016), nguyenphuong (11-08-2016)

  9. #5
    Vũ Phan's Avatar
    Status : Vũ Phan v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2016
    Nguyên quán: Saigon
    Posts: 79
    Thanks: 243
    Thanked 213 Times in 67 Posts

    Default


    - Ừ, cũng còn nhớ mang máng, đôi lúc thấy tụi tui đi hành quân hay công tác ngang qua, ông ta đứng từ xa nhìn lại, anh em lính có khi cũng lấy tay chào, nhưng có vẻ ông ta không có thiện cảm lắm…

    Nghe Ba Du nói, Hai Tuất chậm rải giải thích:

    - Thật ra ông ta là người chủ tốt, trong thời kỳ chiến tranh mà đồn điền đang nằm trong vùng ban ngày là quốc gia, ban đêm thỉnh thoảng việt cộng mò ra, nên ông ta khôn ngoan không tỏ ra có cảm tình với bên nào vì sợ bị tụi việt cộng về hăm dọa công nhân và đốt phá nhà cửa … thỉnh thoảng khi còn lại một mình ba tôi ở lại dọn bửa tối, ông ta nói là biết một số công nhân trong đồn điền làm nằm vùng của tụi du kích trong rừng, nên không muốn rắc rối với tụi đó.

    Lấy bao thuốc lá của Ba Du để trên bàn mời Nam, rút một điếu Hai Tuất lấy quẹt châm hút và nói tiếp:

    - Đời sống công nhân cao su thời đó khá hơn bây giờ nhiều, dù bị mang tiếng là bóc lột nhưng được trả lương đầy đủ, con cái được đi học, bệnh hoạn có thuốc men hoặc đưa vào bệnh viện.

    - Ông ta về Pháp luôn hay có trở lại Việt Nam lần nào sau năm 75 không – Nam hỏi

    - Nghe mấy ông bên nông trường nói là vào năm 78, ông ta có trở qua Việt Nam và nhờ tòa đại sứ Pháp can thiệp về cái đồn điền cao su này, họ có đến ủy ban tỉnh hay sao đó, nhưng có lẻ thấy chuyện đòi lại đồn điền không dể dàng gì nên về bên kia luôn, không thấy trở lại nửa!

    Ba Du vừa uống xong ly rượu liền hỏi:

    - Nghe ba anh và công nhân nói tài sản ông chủ Tây rất lớn phải không?

    - Ừ, họ rất giàu có, tài sản rất nhiều, nhà cửa ở Saigon, Vũng Tầu, Đà lạt … và nhiều nơi khác, đặc biệt là ông ta mê sưu tầm đồ cổ Trung hoa, Việt Nam, Miên, Lào … nhưng quí giá nhất là các món đồ cổ Trung hoa và Việt Nam, khi ba tôi còn làm đầu bếp, đôi lúc ổng cho người làm chạy đến nhà kêu tôi vào ông nhờ chút việc, gặp ông chủ cũng đang ở nhà bếp, thấy tôi vào, ông ta vui vẻ cười, bắt tay và dẩn lên nhà trên giới thiệu với bà vợ, và cho rất nhiều bánh kẹo, đồ chơi, đồ đạc trong nhà sang trọng và đẹp lắm, tôi thấy có hai cái tủ gổ kính trong có trưng bày nhiều chén, dĩa, bình, lọ cổ … Sau đó không biết ông ta đem đi đâu, có người đồn là ông ta không đem về Saigon mà chôn giấu đâu đó trong khu đồn điền này …

    Nghe Hai Tuất kể đến đó Nam chợt tỉnh táo lại như người vừa bị luồng điện chạy qua, anh hút vài hơi thuốc lá cho đầu óc bình tỉnh, vậy là hai thùng đồ cổ ông quản gia kể lại với ba anh là có thật, nhưng nơi chôn giấu thì Hai Tuất cũng không biết, có chắc là nó ở dưới bờ hồ đó không hay ở đâu?

    Hai con chó lớn đang nằm im lìm dưới tấm phản đột nhiên nhổm dậy chạy ra sân sủa vang, mấy con chó nhỏ đang nằm ngủ chen chúc bên nhau, cũng lồm cồm bò dậy chạy ra cửa ngoắc đuôi sủa theo. Hai Tuất và Ba Du ngưng câu chuyện đang nói về chiến tranh và ông chủ Tây, cả hai cùng lắng nghe và nhìn về phía con đường chạy ra từ bên trong xóm.

    Một người phụ nữ trung niên đội nón lá, mặc bộ bà ba đen chạy xe đạp trên con đường nhỏ về phía căn nhà, Hai Tuất nhìn qua khung cửa sổ và nói:

    - Bà xã tôi về, chắc việc xin giấy tờ ở ngoài xã xong rồi.

    Dựng chiếc xe đạp phía sau có chở cái bao vải vào trong sân, người phụ nữ vừa bước qua cửa nhà, thấy có khách quen là Ba Du và Nam đang ngồi nhậu với chồng, bà xã Hai Tuất cười chào và hỏi bằng tiếng nam:

    - Anh Ba Du qua chơi hay có công việc gì đây?

    - Qua chơi thôi chị, sẵn xin con chó nhỏ cho chú Nam ở gần rẩy tui bên đó về nuôi giữ nhà.

    Bà xã Hai Tuất nhìn Nam cười gật đầu:

    - Chú Nam ở dưới thành phố lên đây lâu chưa, làm rẩy cực lắm, dân Saigon có chịu nổi không?

    Nam hơi bối rối nhìn Ba Du và Hai Tuất đang ngồi cười cười bên kia bàn:

    - Dạ chắc rồi cũng quen chị Hai, có anh Ba Du giúp đỡ mấy tháng đầu nên cũng chịu được

    - Ở đây vắng vẻ, cực khổ, dân thành phố đi kinh tế mới lên một thời gian sau bỏ về gần hết, chỉ còn Ba Du là ở lại chịu cực, giỏi thiệt đó.

    Ba Du nghe bà xã Hai Tuất khen liền cười:

    - Giỏi sao bằng anh chị, từ trước 75 đến giờ vẩn sống ở đồn điền và trong cái làng xa xôi này

    - Mùa này năm nay bên đó bắp, đậu xanh tốt không?

    - Cũng tàm tạm, đợt này trong nông trường thiếu phân bón, nên tui cũng không xuống thêm được chút giống nào, đành chịu

    - Ra ngoài xã nghe nói nhu yếu phẩm cung cấp cho công nhân trong nông trường càng lúc càng thiếu, dân than thở quá trời, nhiều người bỏ làm công nhân quay về thành phố buôn bán chợ trời sống qua ngày, không biết sắp tới gạo, bo bo ra sao đây?

    Hai Tuất đang ngồi nghe bổng hỏi vợ:

    - Em xin giấy chứng nhận cho hai đứa nhỏ được không?

    - Ừ, được rồi, xã chịu xác nhận để hai đứa nhỏ về thành phố ở với bà ngoại và xin học dưới đó

    Ba Du nhìn Hai Tuất đang ngồi và thở ra nhẹ nhỏm:

    - Anh chị cho hai đứa nhỏ về Saigon ở với bà ngoại luôn hả?

    - Kỳ này gửi về Saigon ở nên hộ khẩu tạm chuyển về dưới đó, trên này thấy ăn uống thiếu thốn, bệnh hoạn không có thuốc men khổ cực quá, vụ này nhờ có quen biết mấy ông làm việc ngoài ủy ban nên xin cũng dễ.

    Hai Tuất phấn chấn rót rượu đầy vào ba cái ly:

    - Nào mời anh Ba và chú Nam.

    Bà xã Hai Tuất nói:

    -Anh Ba và chú Nam ngồi lai rai với ông xã tui nhe, đi nấu bếp đây.

    Ra chỗ xe đạp dựng trước sân, bà ta tháo sợi dây rồi cầm cái bao vải xanh đựng gạo ra chái bếp sau nhà. Những tia nắng chiều yếu ớt còn đang vương vấn trên rừng núi phía tây, ba người đàn ông ngồi uống rượu trong căn nhà nhỏ bên bờ hồ, khói bếp tỏa ra bay lãng đãng trong không gian lặng yên của cái xóm nhỏ một buổi chiều tháng giêng.

    * * *

    Con chó xin bên nhà Hai Tuất về được hơn tuần lể, Nam đặt tên cho nó là Đốm.

    Mấy ngày đầu thấy có vẻ nó hơi buồn vì nhớ nhà cũ và mấy con kia, nên hay đến nằm dưới tấm phản tre với vẻ ủ dột. Nam thấy tội nghiệp nó quá, vì vậy anh cho ăn uống và chăm sóc nó một cách trìu mến. Mấy ngày sau, con Đốm từ từ quen nhà và chủ mới nên tỏ ra dạn dĩ hơn và bắt đầu ra ngoài sân chạy tới, chạy lui.

    Mấy lúc từ ngoài rẩy về, anh hay đến gần chỗ nó nằm, kêu tên Đốm cho nó quen và đưa tay vuốt ve cái đầu nhỏ có màu lông đen, trắng rất mượt. Những lúc được ông chủ mới quan tâm như vậy, nó nhanh nhẹ chồm dậy hướng đôi mắt nhìn anh một cách thân thiết và nhè nhẹ vẩy đuôi.

    Đốm là giống chó ta nên nó không kén ăn, những bửa cơm nào có cá nó đều chén sạch và còn liếm cái lưỡi nhỏ tỏ ra thèm thuồng, vì vậy nó mau lớn, rất khỏe và hay chạy nhảy xung quanh nhà, thích đuổi theo mấy con gà ra vườn rồi đứng lại gầm gừ, sủa vang.

    Khi nhìn nó cúi thấp cái đầu xuống lăng xăng đánh hơi trong mấy bụi cỏ và cây trước sân, Nam nghĩ chắc sau này, nó cũng có thể săn được mấy con thú nhỏ trong rẩy, trong rừng như con chó Ki nhà Ba Du.

    Từ hôm thấy cái chén lạ và nghe Hai Tuất kể chuyện cũ, anh biết chắc là ông chủ đồn điền cao su trước năm 75 có bộ sưu tập nhiều món đồ cổ quí giá.

    Hôm nhậu bên đó, Nam đã cố quan sát nó rất kỹ và ghi nhớ lại các đường nét và hoa văn trang trí, còn mấy ký tự Trung Hoa thì anh không tài nào nhớ hết vì quá phức tạp, nhiều chi tiết.

    Chợt nhớ đến bảo tàng trưng bày đồ cổ nằm trong vườn thú ở Saigon, ngày xưa thỉnh thoảng anh vào trong đó chơi với gia đình hay bạn bè, Nam có xem các món đồ cổ Việt Nam và nhiều nước được sưu tập từ thời Pháp, đó là thời VNCH, và sau năm 75, anh cũng vào đó một vài lần.

    Anh nảy ra ý định về dưới đó một hoặc hai ngày để vào trong bảo tàng, tìm xem những cái chén tương tự như ở nhà Hai Tuất là của nước nào, tuổi của món đồ cổ như vậy thì được bao nhiêu năm?

    Quyết định xong nhanh chóng, Nam qua nhà Ba Du đề nhờ trông coi nhà giùm anh và gửi con Đốm ít hôm, Ba Du thấy anh về Saigon có vẻ vội vả nên hỏi:

    - Chú Nam có chuyện gì mà phải về dưới thành phố sang sớm mai vậy?

    - Cũng không có chuyện chi gấp gáp anh Ba, từ ngày lên đây cũng chưa về dưới thăm nhà lần nào nên lần này về thăm gia đình vài ngày rồi lên.

    Ba Du nghe nói tưởng anh nhớ nhà thật nên cười:

    - Ừ, để tui coi nhà và rẩy giùm cho, còn con Đốm thì cho nó qua đây ở đây với con chó bên này.

    - Anh Ba có gửi mua gì không?

    Ba Du chậm rải suy nghĩ rồi nói:

    - Chú Nam có rảnh ghé qua thăm bà già và gia đình tui giùm một chút được không?

    Anh liền gật đầu:

    - Dạ, được vì có thời gian mà anh Ba.

    Ba Du ghi cho anh địa chỉ và vài dòng vào một tờ giấy, và chỉ Nam cách tìm con hẻm nhỏ từ ngoài đường lớn vô đến căn nhà, và căn dặn Nam một số câu trả lời nếu có ai trong nhà hỏi han về tình hình trên này.

    Sực nhớ ra điều gì, Ba Du hỏi:

    - Ngày mai chú Nam khoảng mấy giờ đi ra ngoài xã, để tui lấy xuồng đi cho khỏe, xin giấy đi đường về thành phố chưa chú Nam?

    - Mai tính ra ngoài đó sớm rồi đi nhờ xe nông trường ra đường lộ đón xe ngoài đi cho nhanh, chắc khỏi xin giấy của xã vì cũng không có đem theo đậu, bắp gì về dưới thành phố.

    - Vậy sáng mai nghe tui kêu ngoài bờ hồ chú Nam chạy ra nghe.

    Nam gật đầu và chào Ba Du ra về, anh nhìn con Đốm đang nằm ở góc nhà gần chỗ con Ki. Nó hướng đôi mắt lên nhìn Nam với vẻ ngơ ngác như hỏi anh tại sao nó phải ở đây, Nam cười và nói:

    -Đốm ở đây với con Ki nghe, mày đừng chạy đi ra ngoài một mình, coi chừng bị lạc!

    Tối đó Nam đi ngủ sớm hơn mọi khi, nằm trên tấm phản suy nghĩ nhiều thứ nên trằn trọc, khó nhắm mắt.

    Anh cố sắp xếp lại các sự kiện về hai thùng đồ cổ mà anh biết thêm được từ lúc lên đây, đến lúc qua nhà Hai Tuất về, thấy bí mật này dần dần sáng tỏ và có lý.

    Vì ngoài người quản gia cũ của đồn điền, một số người làm khác cũng biết về chuyện này, nhưng họ không biết chắc là bây giờ nó ở đâu.

    Địa điểm chôn dấu thì chỉ có hai người biết chính xác, ông chủ Tây thì không bao giờ quay lại đây nửa, có lẻ ông ta biết là không thể làm gì để lấy lại cái đồn điền này, nên chấp nhận mất luôn hai thùng đồ cổ quý giá. Còn người quản gia ở dưới thành phố vì biết đồn điền bị chiến tranh và bom đạn tàn phá khốc liệt, thiêu rụi hầu như toàn bộ cơ ngơi xưởng máy, kho bãi, nhà cửa … nên ông cũng không hy vọng gì tìm lại được.

    Bây giờ anh là người biết nhiều nhất, nhưng thật ra không dể dàng gì để tìm hai thùng đồ cổ đó. Nếu tin vào lời nói của người quản gia là sự thật, thì hiện nay nó đang nằm đâu đó gần khu rẩy của anh và Ba Du, sâu dưới lòng hồ nước.

    Chưa kể đến chính quyền địa phương, tụi du kích và Tư Có hay bất ngờ đi tuần ngang qua đây, Tư Có và du kích xã cũng rất nguy hiểm, để họ biết anh có tin tức về hai thùng đồ cổ này, chắc họ không để cho anh yên.

    Nam nằm thiu thiu ngủ trong bóng tối của căn nhà nhỏ, anh nghe lơ mơ tiếng những con chim ăn đêm kêu xáo xác ngoài bờ hồ. Những cơn gió thổi lành lạnh qua khe vách căn nhà tạo thành những tiếng vi vu nho nhỏ bên tai.

    Sáng sớm trời con tờ mờ đã nghe tiếng gọi của Ba Du lẩn trong màn sương khói đang bao trùm lên cây cỏ và hồ nước, Nam nhanh nhẹ khép cửa căn nhà nhỏ và đi theo lối mòn ra chỗ Ba Du và chiếc xuồng đang chờ. Anh lên ngồi phía mủi, cả hai đã quen với việc này nên bốn cánh tay cùng nhịp nhàng bơi làm chiếc xuồng lướt nhẹ nhàng trên sóng nước nhấp nhô.

    Hai bên bờ cảnh vật cảnh vật ruộng rẩy, núi rừng vẩn còn ngái ngủ trong cơn gió lành lạnh cuối đông. Thỉnh thỏang từ trong các cánh rừng chồi nằm sâu bên trong, những tiếng kêu vang thành từng tràng dài của các loài thú ăn đêm nghe lạc lỏng và pha chút ghê rợn giữa miền đất rừng hoang vu.

    Ra đến gần xã Ba Du nói:

    -Để nhờ Năm Bình kiếm xe trong này cho chú Nam quá giang ra quốc lộ đón xe đò

    Rồi cho chiếc xuồng cập nhẹ nhàng vào chỗ cũ dưới cây me, Nam nhảy lên bờ tìm chỗ cột dây xuồng và chờ Ba Du.

    Hai người đi về hướng quán cà- phê của Năm Bình, trên con đường đất đỏ chạy qua trung tâm xã, vài chiếc xe máy cày kéo rờ-móc chạy ngang qua, lác đác từng tốp công nhân của đang đi ra bãi tập trung trước căn nhà gổ dùng làm trụ sở nông trường để xe chở ra lô cạo mủ cao su.

    Trời còn sớm nên quán chưa mở cửa, Ba Du lấy tay gõ vào cánh cửa gổ kêu Năm Bình, có tiếng chân trong nhà và tiếng hỏi vọng ra:

    - Ba Du hả, hôm nay đi đâu mà ra ngoài này sớm vậy?

    Một bên cánh cửa quán mở ra, Năm Bình thấy hai người đàn ông đang đứng chờ liền mỉm cười, Ba Du vổ nhẹ vai Nam:

    - Chú Nam hôm nay có công việc đi về thành phố, nhờ anh Năm kiếm giùm xe quá giang ra lộ đón xe đò về dưới cho sớm

    - Ừ, được! anh Ba và chú Nam vào quán ngồi chơi chút đi, tôi ra bãi xem có xe nào ra đó liền không, làm ly cà-phê nhe, tôi kêu bà xã pha

    - Chú Nam muốn đi gấp, chút nửa anh Năm về làm sau cũng được

    Năm Bình vào trong nhà dắt chiếc xe đạp ra đường và chạy về phía trụ sở nông trường. Khoảng năm phút sau, có tiếng xe quay về, Năm Bình dựng xe trước mái hiên nhìn Nam nói:

    - Chú Nam ra đây tôi dẩn đi, có chiếc xe sắp chạy ra ngoài lộ chở hàng sớm về cho trong này

    Anh gật đầu chào Ba Du và theo Năm Bình ra bãi tập trung đoàn xe của nông trường. Chiếc xe máy cày có rờ-móc phía sau chở Nam ra đến quốc lộ và bỏ anh xuống bên lề đường.

    Nam đứng luôn tại chỗ đón những chiếc xe đò hiếm hoi từ thị xã Bình Long – An Lộc chạy ngang qua đây, hàng ngày chỉ có năm, sáu chuyến chạy về thành phố nên phải ra đón sớm.

    Thấy có chiếc xe từ trên con dốc đang chạy tới, Nam đưa tay ra dấu, chiếc xe đò có màu sơn xanh xám cũ kỷ và tốc độ chậm rì đang bò trên con đường nhựa làm tăng thêm cái vẻ thảm hại bên ngoài của nó.

    Chờ cho chiếc xe dừng hẳn lại, anh hỏi tay lơ xe đen ốm ngồi băng ghế đầu bên phải:

    - Về Saigon?

    Hắn ta nhìn Nam gật đầu và mở chốt cửa bên hông cho anh bước lên, trên xe mới chỉ có sáu, bẩy hành khách, nên còn khá trống trải. Anh ngồi vào ghế ngay phía sau lưng tay lơ , chiếc xe mệt mỏi rướn mình chạy tiếp trên con đường nhựa dài hun hút uốn lượn qua lại trên các dãy đồi đất đỏ.

    Từ sau năm 75, do tình trạng xăng nhớt thiếu thốn, nên những chiếc xe đò được chế lại và gắn thêm một cái thùng tròn đốt than phía sau, để giúp nó chạy được quảng đường dài hơn, nếu hành khách phải ngồi gần chỗ cái thùng thì rất khó chịu vì hơi nóng từ cái lò tỏa ra trên suốt chặng đường đi. Do vậy mỗi lần phải đi đâu trên những chiếc xe cổ lổ đó, anh cố tìm chỗ ngồi trên các băng ghế ở xa nó cho thoải mái hơn.

    May mắn, hôm nay chiếc xe chạy một mạch qua các trạm dọc đường một cách suông sẻ, một vài nơi, mấy tay du kích ra xét hỏi giấy tờ và hàng hóa rồi cho xe chạy qua luôn, khi qua khỏi cầu Bình Triệu vào đến thành phố thì đã hơn hai giờ chiều.

    Nam thấy vẩn còn thời gian nên quyết định đến nhà Ba Du ở khu đường rầy Gò Vấp trước, để ngày mai còn rảnh rổi vào bảo tàng viện trong Thảo Cầm Viên.

    Anh xuống bến gần ngả năm Thanh Đa và kêu xe đạp ôm chở về khu vực gần ga Gò Vấp. Nhìn lại địa chỉ nhà Ba Du có đến hai cái “xẹc”, Nam đoán chắc là nó nằm trong một hẻm nhỏ ở gần đây.

    Rồi nhớ lại sự chỉ dẩn của Ba Du lúc còn trên rẩy, anh đi theo con đường đất lởm chởm vào sâu bên trong khu xóm nhà cũ kỹ. Gặp một phụ nữ trung niên đang đứng trước cái cổng nhỏ, anh dừng lại hỏi thêm:

    - Dì cho hỏi nhà anh Ba Du ?

    Bà ta liền đưa tay chỉ về cuối hẻm và nói rẽ trái, đi thêm một đoạn nửa là đến, Nam bước theo hướng người phụ nữ chỉ, đến gần cuối đường anh quẹo vào cái hẻm nhỏ.

    Đứng trước căn nhà bằng gổ có mái tôn rỉ sét màu nâu, rồi nhìn vào cái bảng số, thấy đã đúng địa chỉ, phía trước có cái sân nhỏ tráng bằng xi-măng và vài chậu cây kiểng, cổng rào đang khép hờ.

    Cửa nhà đóng kín, không khí xóm nhỏ ở ngoại ô im lìm trong ánh nắng chiều. Nam lên tiếng gọi chủ nhà hai, ba lần mà vẩn không thấy ai ra, chờ khoảng vài phút anh định mở cái cổng để vào bên trong. Chợt nhà kế bên có một chú bé cỡ độ mười hai, mười ba tuổi chạy ra, Nam hỏi nó:

    - Bên này có phải nhà bà Sáu má chú Ba Du không?

    - Dạ phải chú, để con gọi bà Sáu cho chú!

    Rồi nó cười và chạy qua sân nhà Ba Du, vừa đẩy cửa vô nhà vừa gọi lớn tiếng:

    - Bà Sáu ơi, có người tìm cậu Ba nè!

    Lát sau một người phụ nữ trạc ba mươi, ba lăm, có vẻ lớn hơn Ba Du đi ra, phía sau một bà cụ tóc bạc nhìn rất hiền từ, có lẻ là má Ba Du. Cả hai nhìn vị khách lạ xuất hiện bất ngờ tại căn nhà của mình và cố đoán xem anh là ai.

    Nam lên tiếng chào và giải thích là người quen của Ba Du trên rẩy, hôm nay có công việc về Saigon và Ba Du có nhờ ghé vô nhà thăm và báo gia đình biết trên đó ảnh vẩn khỏe, rồi anh đưa tờ giấy nhỏ có ghi địa chỉ nhà và vài dòng chữ của Ba Du viết cho người phụ nữ trẻ.

    Nghe vậy, bà Sáu và cô chị của Ba Du mau mắn mời anh vào nhà, và rót cốc nước để lên cái bàn nhỏ mời anh uống.

    Nam ngồi nhìn phòng khách đơn sơ nhưng gọn ghẽ, gần cửa sổ là tấm phản gổ cũ lên nước nâu bóng. Gần trên mái là căn gác, trần nhà bên dưới đóng bằng các tấm giấy dầu các-tông lấy từ các thùng hàng của Mỹ, căn nhà mang vẻ ấm cúng.

    Bà má của Ba Du hỏi thăm về công việc rẩy bái và đời sống trên đó của Ba Du và anh rất lâu, bà cụ cũng tốt bụng hỏi thăm cả Nam và cuộc sống gia đình ở thành phố, còn người chị thỉnh thoảng chạy ra đứng nghe rồi lại đi vào trong nhà.

    Nam nhớ Ba Du có cậu con trai nhỏ, anh hỏi thăm:

    - Thưa bác, con trai của anh Ba Du đi học có gần nhà không?

    - Cháu tui nó học cũng gần xóm, chiều dì nó ra đón về, nó hay hỏi ba nó sao lâu quá không thấy về!

    Anh nghe xong cùng bật cười với bà cụ, trên nét mặt của bà lộ vẽ trìu mến khi nhắc đứa cháu trai của mình, anh vui vẽ nói:

    - Cháu sẽ nói lại cho anh Ba nghe khi về trên đó

    Uống thêm chút nước mát lạnh từ cái cốc, Nam đứng dậy chào cả hai và xin phép ra về.

    Từ nhà Ba Du ra, Nam đi theo hướng về ngả năm chuồng chó, vừa đi ngóng xem có chiếc xe đạp ôm nào chạy qua để ngoắc lại và leo lên ngồi cho đỡ phải cuốc bộ.

    Dừng lại hỏi người đàn ông đang đứng dưới hàng tre nghiêng ngã bên con đường lộ nhỏ, hướng đi ra đường lớn, nơi có xe búyt về cầu Kiệu. Ông ta gật đầu và chỉ tay nói cứ đi theo con hẻm sẽ ra đến Nguyễn Kiệm, ở đó có chỗ đón xe về chợ Phú Nhuận, cầu Kiệu và qua quận 3.

    Không khí trong các xóm nhỏ ngoại ô nơi Nam đi qua mang vẻ đìu hiu, nghèo khổ. Chợt nhớ đến thân phận mình và những người dân Saigon còn kẹt lại đây sau năm 75, anh có cảm giác buồn chán về những năm, tháng còn lại dài lê thê, kiếp người sẽ tiếp tục đen đủi, mịt mùng.

    Bây giờ mong ước của anh là thoát ra khỏi cái chốn này, thành phố Saigon nơi anh sinh ra và lớn lên giờ đây như một người già nua mất hết sinh lực, đang trong cơn bệnh nặng không có thuốc chửa.

    Ra đến đường lớn, Nam đứng chờ dưới tấm bảng nhỏ sơn hai màu xanh, trắng ghi tuyến đường xe chạy qua, nó được treo lỏng lẻo trên cột điện rỉ sét bên vỉa hè và khua long cong theo từng cơn gió thổi qua.

    Vài ba người đàn ông, đàn bà xách hay mang những cái túi vải kaki cũng đang túm tụm lại đứng đợi xe quanh đó. Nhìn vẻ bề ngoài và nét mặt mệt mỏi, anh đoán họ là công nhân của các nhà máy quốc doanh ở khu sân bay và nhà máy quân đội cũ gần đây.

    Chiếc xe buýt từ hướng chợ Gò Vấp đang chậm rải chạy đến, trên xe chật ních người, Nam bước lên và định kiếm một chỗ đứng cho thoải mái, nhưng giờ này các bà đi buôn theo xe lửa về ga Gò vấp xuống hàng ở đây và công nhân nhà nước tan ca, đón xe về nhà đã nêm chặc lối đi ở giữa xe.

    Thôi đành phải chịu cảnh chen chúc cực khổ một chút, dù sao thì đứng ngắm đường phố từ trên xe còn thú vị hơn là cuốc bộ về nhà, Nam nghĩ trong đầu và mỉm cười.

    Chiếc xe buýt như bị thiếu hơi, nó chạy khật khưỡng lóc xóc trên con đường trống trải, hành khách hầu như im lặng, chỉ có mấy bà con buôn thỉnh thoảng rù rì nho nhỏ với nhau chuyện giá cả, mua bán trên tuyến xe lửa từ miền trung về đây, mấy ông công nhân trung niên hỏi han về số hàng nhu yếu phẩm ít oi vừa được mua theo tiêu chuẩn, nét mặt trầm ngâm nhìn xuống những căn nhà phố im lìm bên đường.

    Nam cố hít thở mạnh vì hơi nóng ngột ngạt của đám đông tỏa ra, nhớ lại những lần đi xe buýt trước năm 75, mọi người lên xe đều có ghế ngồi. Xe chạy êm ru, gặp lúc đông khách mà có mấy ông, bà cụ lớn tuổi hay bà bầu và mấy em nhỏ lên sau, ai cũng đứng lên nhường ghế trông thật lịch sự. Ôi Saigon ơi, đã xa xôi lắm rồi ngày đó, Nam thầm tiếc trong đầu.

    Vừa chạy qua ngã tư, cũng gần về đến nhà, bổng một tiếng nổ vang trời, hành khách dáo dác chưa hiểu có chuyện gì xảy ra. Chiếc xe bị nổ bánh xe phía trước, nó nghiêng hẳn về bên phải và như một con voi hoang dã nó lao nhanh như chớp lên lề đường theo đà xe đang chạy tới.
    Anh bị dòng người đứng ở giữa dồn đẩy mạnh về phía cửa trước, Nam chỉ kịp nắm chắc thanh sắt treo trên trần để khỏi bị đẩy đi, vài người ở phía sau ngã đè lên nhau. Mấy bà con buôn la hét, hoảng hốt khắp nơi, ông tài xế già nhanh tay lái lủi cái đầu xe cũ kỷ vào chân cột điện bê-tông ven đường tạo nên âm thanh va chạm điếc tai.

    Chiếc xe dừng ngay trên đường phố, hành khách hồn phi phách tán túa ra cửa nhảy xuống, Nam cũng nhanh chân theo mấy ông công nhân đứng gần phía trước, đang tức giận chửi thề đ.m dăm ba câu rồi mới chịu bước ra ngoài. Vài người dân đang đi gần đó lót tót chạy tới đứng nhìn cái vỏ xe bị nổ lòi cả ruột cao su ra ngoài.

    Nam dừng lại vài phút nhìn cảnh tượng móp méo thảm hại của cái đầu xe, còn tay phụ xế ốm, cao nhòng đứng kế bên lấy chân đá vài cái vào cái vỏ xe xẹp lép, rồi lắc đầu tỏ vẻ ngao ngán và đưa mắt nhìn những mảnh kính bể vướng vải khắp nơi. Từ ngày giải phóng vào, Saigon mới có mấy vụ xe buýt đang chạy nhanh bị nổ vỏ, hoặc bánh xe bị sút ốc, bù-lông văng ra đường tông chết người.

    Dân Saigon cũ hay hài hước, nổi máu chế giểu những cái chết từ trên trời rơi xuống đó, ai cũng thấy sợ hãi nó, nhưng rồi cũng phải mò ra đường kiếm sống. Hằng ngày dù có sợ, nhưng họ vẩn phải leo lên những chuyến xe chở hồn ma, bóng quế này để đi đi, về về với tâm trạng lo lắng may rủi. Hú hồn, cũng may là hôm nay nó không lủi trúng, hay gây chết chóc và làm bị thương cho người dân nào trên đường.

    Nam nghĩ, nếu để chết vì chuyện những chiếc xe buýt bị bể bánh vào lúc này thì vô duyên và uổng công quá, phải còn sống để truy tìm hai thùng đồ cổ đó và nếu thành công thì mới có cơ hội thực hiện giấc mơ từ lâu nay. Anh mong trời, phật phù hộ cho mình tai qua, nạn khỏi trong thời buổi đói khát, nhiều tai ương này.

    Nhìn quảng đường về cầu Kiệu thấy cũng không còn xa, Nam bước lên vỉa hè và đành cuốc bộ về nhà. Xa thành phố đã ba, bốn tháng nay, nên có dịp nhìn lại nhà cửa, người, xe … anh thấy vui lên đôi chút so với cảnh núi rừng hoang vu.

    Hai bên đường giăng đầy những khẩu hiệu màu đỏ ca ngợi cách mạng và cuộc chiến tranh chống lại quân Khmer đỏ và Tầu ở biên giới phía bắc, kêu gọi toàn dân tiến nhanh, tiến mạnh lên xây dựng XHCN.

    Nam chợt nhớ đến mấy thằng bạn thân học ở trường, cùng độ tuổi bị bắt đi bộ đội đánh nhau với bọn Pôn Pốt ở Campuchia, đứa thì mất tích không về, đứa thì thương tật, tàn phế, mấy đứa gia đình khá giả thì trốn khỏi các đơn vị, lén lút về Saigon vượt biên …

    Anh may mắn nhờ có ông cậu làm bên ngành y tế phịa ra tờ giấy chứng nhận cái chân bị thương tật nặng nên không phải đi bộ đội. Vì mấy năm trước, lúc về quê chơi anh trèo lên cây, và bị té vào cành cụt nhọn đâm vào đùi bên phải tạo nên cái thẹo rách da phải khâu rất nhiều mủi, ai nhìn thấy cũng “hết hồn”.

    Mỗi lần phường kêu lên khám sức khỏe nghĩa vụ, gia đình anh lo sợ lắm, tuy nhiên lúc vào khám, mấy ông “bác sĩ” bộ đội xem thấy cái sẹo dài, rồi nhìn tờ giấy chứng thương cũng của ông bác sĩ cách mạng dưới tỉnh, cộng với tướng đi có vẻ khó khăn và “dặt dẹo” của Nam, họ liền gạt tên anh ra. Đi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự về đến nhà, ai cũng lo lắng hỏi nhỏ, thấy anh cười cười, mọi người mới yên tâm cười theo.

    Nhiều gia đình giàu có ở Saigon, có con trai tới tuổi đi bộ đội cũng xài mánh không đủ sức khỏe này để trốn tránh đi nghĩa vụ.

    Nam bước vào nhà, ai cũng ngạc nhiên nhìn vẻ phong sương của anh, rồi mẹ và bà chị hỏi thăm lăng xăng đủ mọi chuyện. Anh nói về có công việc chừng một, hai ngày, khi nào xong thì trở lại trên đó.

    Buổi tối ở nhà cơm nước xong, thấy cảnh trong xóm tối mò vì cúp điện, nhà ai cũng đèn dầu, đèn cầy loe loét, Nam lên gác nằm lấy vài cuốn truyện cũ ra đọc thư giản. Càng về khuya, cái xóm nhỏ gần chân cầu Kiệu chìm sâu vào màn đêm u tịch bên dòng kinh cạn, màu nước đen ngòm dưới ánh sao lấp lánh trên vòm trời cao.

    Sáng nay anh thức dậy trễ vì chuyến đi khá mệt mỏi hôm qua, sau khi ăn sáng theo kiểu “khoái ăn sang” xong, Nam mượn chiếc xe đạp ở nhà, chạy qua cầu và rẻ qua Tân Định , rồi đến chợ Đa-kao xuống đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, đi thẳng đến cổng chính Thảo Cầm Viên.

    Gửi chiếc xe đạp vào bãi, anh đến chỗ mua vé vào cổng. Bà phụ nữ trung niên ngồi trong phòng bán vé thấy có người đến hơi sớm, nên tò mò đưa mắt nhìn ra. Nam thò tay trả tiền rồi lấy cái vé, anh muốn biết về giờ giấc mở cửa của phòng trưng bày đồ cổ nên hỏi:

    - Mấy giờ thì bên viện bảo tàng sẽ mở cửa?

    - Chín giờ !

    Và bà ta càng tỏ ra ngạc nhiên hơn, đăm đăm nhìn vẻ bên ngoài của anh, một chàng trai mặc bộ quần áo cũ, lượm thượm giống ông nông dân miền quê, mới sáng sớm đã mua vé vào cửa, và còn lại muốn vào coi phòng trưng bày cổ vật. Dân Saigon thời này đang đói ăn, rách mặc gần chết, còn hơi sức đâu mà đi coi thú, rồi nghiên với cứu mấy món đồ cổ đó!

    Nam chẳng để ý đến ánh mắt mang vẻ soi mói của bà ta, anh tà tà đi vào bên trong, quang cảnh còn vắng vẻ, im lìm, có lẻ anh là người khách đầu tiên trong ngày.

    Vài ba công nhân đang làm công việc quét dọn trên các lối đi ngẩng đầu lên nhìn khi thấy có người vào đây lúc sáng sớm.
    Nam đi về phía viện bảo tàng, hai cánh cửa gổ của ngôi nhà đồ sộ có mái ngói nâu đỏ còn đóng kín im lìm. Anh đến băng ghế đá cũ gần khu vườn thực vật ngồi nghỉ chân.

    Thỉnh thỏang nghe tiếng gầm như thở dài của mấy con sư tử, mấy con hổ vừa thức dậy từ chuồng sắt ở sâu bên trong. Vài con sáo bay sà xuống mặt cỏ, lò dò tìm bắt bọn côn trùng hay nhá nhá mấy đọt lá cỏ non bỏ vào bụng cho bửa sáng, gần đó đám chim sẻ lông nâu sồng líu ríu bay đuổi nhau qua các tàng cây thấp. Bọn nó được trời đất sinh ra với đôi cánh bay để nhảy khắp nơi, chằng phải bận tâm đến đói khổ, giàu nghèo hay các khẩu hiệu hô hào này nọ đang giăng mắc khắp thành phố, được sống như mấy con chim đó, anh nghĩ cũng sướng thật.

    Thấy cũng còn sớm, Nam đứng lên theo con đường lát xi-măng đi ngang chuồng đàn voi ra phía bờ rạch Thị nghè. Thủy triều đang lên, dòng nước lé đé ngập đến gốc hàng cây cao mọc gần bờ, mặt nước vắng lặng bên dưới tán lá xanh vươn ra xa bên ngoài, làm anh nhớ đến hàng cây rậm rạp đứng ven hồ nước trong khu rừng chồi trên rẩy.

    Không khí những buổi sáng ở đó thật vắng lặng và thật thơ mộng, nhưng ít ai ngờ, nếu đúng như người quản gia nói, ẩn chứa dưới đáy hồ là những món đồ cổ quí giá có thể làm thay đổi cuộc đời của nhiều người.

    Nam hy vọng là nó vẩn còn đang nằm ở ngay dưới đó, cho dù bom đạn trong các trận đánh nhau rơi xuống, đào sâu vào trong lòng đất đá, đồi núi và tàn phá khắp nơi.

    Thấy đã có nhiều người khách, và mấy nhóm học sinh tiểu học đi tham quan lao xao dừng lại bên chuồng mấy con voi, anh quay lại ngồi ở ghế đá cũ chờ đợỉ.

    Lát sau, hai cánh cửa của bảo tàng mở toang, chờ vài phút, anh đi qua khoảng sân trống phía trước, bước lên các bậc tam cấp vào bên trong.
    Đến xem cái bảng hướng dẩn dành cho khách vào tham quan khu đồ cổ, Nam đi về khu trưng bày các món đồ sành sứ thời các vua chúa Việt Nam, xa hơn nửa về bên kia là các món đồ cổ của Trung hoa, Chiêm thành, Miên, Ai Lao …

    Anh đi chậm rải và chú ý tìm những cái chén cổ có hình dáng và màu sắc như cái anh thấy ở nhà Hai Tuất, số lượng cổ vật được trưng bày ở đây rất nhiều, lần lượt dưới mắt anh là lọ, dĩa, bát, bình to, nhỏ và nhiều kiểu ký tự , hoa văn trang trí khác nhau …

    Thật rắc rối với một người không có chút chuyên môn hay kinh nghiệm nào về công việc tinh tế và phức tạp này, mà cũng thật hấp dẩn với một người đang bị mê hoặc bởi hai thùng đồ cổ mất tích của ông chủ đồn điền như anh.

    Nam rảo tới rảo lui vài lần bên những cái chén, dĩa, lọ, bình … ám màu thời gian có trên trăm năm, vẩn không thấy có món đồ cổ nào tương tự cái ở nhà Hai Tuất. Mặt trời buổi sáng đã lên cao, anh thấy nóng nực khó chịu trong cái áo kaki công nhân cũ có mấy miếng vá sau vai.
    Đi ngang qua chỗ mấy tượng nữ thần bằng đá thô của các triều đại vua Chiêm thành, anh đưa tay sờ vào thân tượng, cảm giác mát lạnh truyền vào người làm dể chịu. Đầu óc bổng nhiên suy nghĩ vẩn vơ, Nam nhớ về lịch sử của nước này và các ông vua Chiêm một thời rực rở với các công trình xây dựng đền đài, tháp cao đồ sộ kéo dài cả trăm năm, đến nay thì chẳng còn thấy đâu, chỉ còn lại những tàn tích đổ nát dọc dải đất miền trung Việt Nam, và một số những tượng cổ, những món đồ sành sứ trưng bày trong các bảo tàng, kinh đô Chiêm thành uy nghi ngày xưa nay còn lại chỉ là cát bụi thời gian …

    Anh đi qua hàng tủ kính sát trong góc, hàng chữ nhỏ trên bảng ghi chú đây là những món đồ sành sứ dùng trong các bửa ăn của vua, chúa nhà Nguyễn thời cực thịnh.

    Đưa mắt chăm chú quan sát từng cái chén, dĩa, tô … Nam chợt thót tim khi nhận ra một cái chén kiểu có hình dáng bên ngoài, cũng như họa tiết xanh lam như cái ở nhà Hai Tuất, còn các nét ký tự chữ Hán thì không tài nào nhớ và phân biệt nổi.

    Anh say mê đứng nhìn nó đang nằm im dưới lớp kính dầy, xếp cùng dãy với những cái chén, dĩa cổ khác, trong đó có cái vẽ hình rồng ẩn hiện, Nam đoán chắc là của vua dùng trong các bửa ăn.

    Sờ vào bao thuốc lá nằm trong túi áo, anh thầm nghĩ, có giấy để viết và vẽ lại rồi.

    Quyết ghi lại các ký tự chữ Hán khó nhớ, anh nhìn quanh xem có ai đang ở gần đó để mượn bút họa lại, nhưng chỉ có mình anh trong không gian vắng lặng của căn phòng.

    Đi một vòng ra ngoài, nhìn thấy một đám học sinh tiểu học đang được mấy cô giáo trẻ hướng dẩn các trò chơi và ca hát dưới bóng cây râm mát gần đó, Nam bước đến gần cô giáo và cười, gật đầu chào, anh nói muốn mượn cây bút để ghi lại một số công việc rồi sẽ trả lại. Cô giáo trẻ ngần ngừ nhìn chàng trai có vẻ ngoài nông dân, vừa đi ra từ hướng bảo tàng với nét mặt ngạc nhiên trong giây phút, rồi mở cái túi vải lấy ra cây bút chì đưa cho anh.

    Bước nhanh trở lại vào nơi trưng bày cái chén, Nam cố ghi lại chính xác các ký tự và một số đặc điểm trang trí khác của mấy cái chén, dĩa đó lên mặt trong của bao thuốc lá, và quay ra ngoài trả lại bút chì cho cô giáo trẻ đang cùng mấy đứa học trò nhỏ ca hát.

    Anh hăng hái ra bãi lấy xe đạp chạy về nhà, những gì mà anh biết dần dần được sắp xếp lại và tạo nên một bức tranh rõ ràng hơn.

    Bây giờ phải đến nhà thằng bạn cũ trước đã, nhờ ba nó là người biết chữ Hán, Nôm dịch mấy ký tự này xem nghĩa là gì. Anh mau chóng chạy xe qua cầu sắt Đa-kao, và quẹo vào con hẻm nhỏ đến nhà nó.

    Không có Huy ở nhà, anh cẩn thận xin cô em nó một tờ giấy khác viết lại những ký tự và gửi lại, hẹn tối nay sẽ ghé qua và rủ nó đi uống cà- phê, rồi đạp xe về nhà.

    Cả nhà thấy Nam về sau những tháng đầu tiên làm rẩy trên Bình Long, đầu óc anh có vẻ đang suy nghĩ chuyện xa xôi, khó hiểu nào đó. Vì ai hỏi gì anh cũng ừ ừ cho xong, nét mặt đăm chiêu, suy tư rồi lại đi tới đi lui, hay lên cái gác nhỏ nằm lì rất lâu trên đó, đến giờ cơm có ai gọi mới xuống.

    Riêng Nam không muốn cho gia đình hay biết ý định của anh, vì nói ra bây giờ thì chưa phải lúc và rồi không biết mẹ anh và cả bà chị có dám tin vào chuyện hai thùng đồ cổ đó hay không?

    Nếu ba anh còn sống thì có thể ông sẽ hiểu được, vì dù sao thì ông đã tận tai nghe câu chuyện đó từ người quản gia.

    Sáng nay sau khi vào bảo tàng xem gốc tích cái chén cổ và từ nhà thằng bạn về, ăn cơm trưa xong, Nam nghĩ ngơi một lát cho tỉnh táo lại.
    Buổi chiều anh hỏi mượn ở nhà thêm chút tiền và lấy xe đạp chạy vào Chợ Lớn, đến khu bán đồ linh tinh của quân đội cũ ngày xưa như ba-lô, quần áo, dây nịch, xẻng … ở dọc bến Hàm Tử, gần cầu Chà Và kiếm mua một vài thứ.

    Lúc còn đi buôn bán, một đôi khi anh đến đây để tìm mua các túi vải, dây cột … về đựng nông sản, dùng khi vận chuyển đi đường không bị rách, bể làm hao hụt.

    Đến chỗ quầy hàng quen của một người tầu tên A Chí, anh hỏi mua độ mười mét dây dù loại to. Lâu ngày gặp mối quen trở lại mua hàng, A Chí vui vẻ hỏi thăm:

    - Lâu quá mới thấy anh Nam, dạo này làm ăn có được không?

    Nam cười cười lắc đầu:

    - Lúc này đi buôn khó lắm ông chủ ơi, mấy trạm dọc đường dưới tỉnh xét kỹ lắm, tính nghĩ về làm nghề khác kiếm sống

    Ông ta vừa hỏi chuyện vừa nhanh nhẹ lấy cuộn dây dù cho anh xem và nói giá, kỳ kèo qua lại đôi chút, rồi cũng là mối quen nên chịu bớt. Nam móc bóp ra định trả tiền, chợt nhớ là còn một thứ cũng cần thiết, anh hỏi:

    - Ông có thanh thép từ khung ba-lô lính không?

    - Của ba-lô lính Mỹ hả?

    - Ừ, đúng rồi, cái đó dân thợ mộc, thợ làm giầy da hay chế thành dao xài bén lắm

    - À, cái đó có, nị chờ chút đi


    (còn tiếp)

  10. The Following 5 Users Say Thank You to Vũ Phan For This Useful Post:

    hoang yen (11-07-2016), khongquan2 (11-13-2016), KiwiTeTua (11-05-2016), muahong (11-06-2016), nguyenphuong (11-08-2016)

  11. #6
    Vũ Phan's Avatar
    Status : Vũ Phan v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2016
    Nguyên quán: Saigon
    Posts: 79
    Thanks: 243
    Thanked 213 Times in 67 Posts

    Default


    Rồi quay qua nhờ ông già ở kế bên coi chừng giùm cái quầy, ông ta bước qua bên kia đường vào con hẻm độ dăm ba phút và trở lại chỗ Nam đang đứng đợi với thanh thép trên tay:

    - Đồ thiệt đó anh Nam khỏi lo, tui không bán đồ giả cho nị đâu, cái này mài thành dao xài lâu lắm mới hư, mệt nghỉ luôn!

    Anh hỏi giá, A Chí gục gặc trả lời:

    - Rồi bớt thêm luôn, nị có cần mài thành dao về xài luôn hông, tụi nó tính thêm tiền chút đỉnh?

    Nam muốn tránh rắc rối khi đi đường về trên Bình Long lúc qua trạm bị xét hỏi, tụi du kích thấy dao sắc, nhọn hay vặn vẹo, anh lắc đầu:

    - Cho thêm nị mấy cuộn dây ruột xe cao su về quấn làm cán luôn

    Anh trả thêm tiền, cười cám ơn ông ta, rồi cầm gói hàng quấn bằng giấy báo cũ bên ngoài, cột lên ghi đông xe và chạy về hướng Saigon.

    Trên đường về, anh suy tính sẽ dùng sợi dây thắt nút cách khoảng từng mét và một đầu buộc vào cục đá nặng, thả xuống hồ để thăm dò độ sâu, mỗi khi lặn sẽ bám theo nó để lên, xuống nước sẽ an toàn hơn. Còn thanh thép sẽ mài và cắt xéo phần đầu làm mủi dao rồi quấn cán cho dể cầm, nó rất hữu ích khi lặn xuống, lúc dây bị vướng hay rối cuộn vào cành cây, dùng nó nhanh chóng cắt chỗ rối, sau nửa là vũ khí phòng thân hữu hiệu vì con dao rất sắc bén và dẻo.

    Chiều tối, cơm nhà xong, khoảng 7 giờ 30 giờ anh dắt chiếc xe đạp ra định qua nhà Huy. Ôi, thôi chết, bánh sau xẹp từ lúc nào, Nam vào hỏi bà chị xem giờ này ông già vá xe đầu hẻm còn làm không, bà chị lắc cái đầu nói:

    - Năm, sáu giờ là ổng đi về rồi, mày chịu khó lội bộ đi, sáng mai đem ra vá
    - Sáng mai tôi lên đó sớm rồi, tính nhờ chị chở ra bến xe mà lại bị xì bánh sau rồi, thôi để nhờ thằng Huy

    Anh lót tót đi ra đường, lội bộ qua nhà nó để xem ý nghĩa của mấy chữ Hán vẽ trên cái chén vừa gửi cho ba nó dịch ra giùm. Ở trong rẩy lâu ngày, anh cũng quen dần với việc dùng đôi chân đi đây đó, nên quảng đường từ cầu Kiệu xuống nhà thằng bạn, đối với Nam bây giờ cũng không khó khăn lắm.

    Mới hơn bẩy rưỡi mà đường phố đã tối thui, một phần có lẻ do tháng giêng, phần đèn đường cái có, cái không. Lèo tèo vài chiếc xe đạp chậm chạp đi qua, lâu lâu mới có chiếc xe gắn máy với một ông áo xanh bộ đội, thân mình cứng còng trên yên, đầu đội nón cối chạy qua.

    Ngồi trong góc tối vỉa hè dưới các mái hiên nhà, những người dân bỏ vùng kinh tế mới ở các vùng rừng núi xa xôi, lang thang về Saigon kiếm sống qua ngày.

    Không khí thật buồn bả, ảm đạm, Nam nhớ con đường này trước năm 75 buôn bán tấp nập, đông đúc lắm, bây giờ nó lặng lẻ u buồn như con đường dẩn vào cái nghĩa địa nào đó.

    Ngang qua chợ nhỏ Đa-kao đang chìm trong bóng tối, anh băng qua cái cầu sắt cũ màu đen đường Bùi Hữu Nghĩa, xuống khỏi con dốc và quẹo vào cái hẻm nhỏ.

    Cái loa phường treo trên cột điện giờ này vẩn còn léo nhéo kêu gọi thanh niên đang tuổi nghĩa vụ quân sự ra phường khám sức khỏe đúng giờ vào sáng mai, tay đàn ông đang đọc thông báo trên loa với giọng khô khốc, lành lạnh cũng hăm dọa những ai trốn tránh sẽ bị bắt và cưỡng bức đưa đi cải tạo, học tập …

    Vừa đến nhà Huy, thấy nó đang đứng trước cửa nhà, Nam cười hỏi:
    - Mày khỏe không, ăn cơm tối rồi chưa?

    Huy cũng cười vì cả mấy tháng rồi mới gặp lại nhau:

    - Rồi, vô nhà đi, mày nhìn đen và phong sương quá
    - Ừ, chút nửa kiếm quán ngồi cà- phê nói chuyện, lâu quá …

    Nam ngồi chờ trên băng ghế nhỏ dưới hiên nhà, Huy vào trong mặc cái quần tây cũ và chút sau đi ra, tay cầm tờ giấy của anh đưa cho cô em nó ban sáng.

    - Đi Nam, qua bên Đa-kao uống cà- phê
    - Ông bà già đâu, chắc trong nhà hả?

    Thằng bạn gật đầu, cả hai đi bộ ra ngoài đường băng qua cầu, đến phía sau chợ vẩn còn một bà cụ kê vài cái ghế nhỏ bán nước và thuốc lá ở vỉa hè. Cả hai lấy ghế ngồi và cái khác làm bàn, Nam gọi hai ly đen, Huy hỏi:

    - Lên đó làm rẩy mày thấy ra sao?
    - Mới năm đầu chưa biết có làm được gì không, thu hoạch rồi mới biết, còn mày dạo này ngoài chợ trời khá không?
    - Kiếm sống qua ngày thôi, ở nhà không biết làm gì … ông già sắp tới bị cho nghỉ dạy, thấy bà già cũng lo lắng tao tội nghiệp quá …
    -Thằng An vượt biên mấy tháng trước có nghe tin tức gì không?
    - Ghé nhà nó hỏi thăm, em nó lắc đầu nói ở nhà không biết nó còn sống hay chết …
    - Có gặp tụi thằng Can và Ý không?
    - Lâu rồi không thấy hai đưa nó ghé chơi - Huy lắc đầu

    Nam lấy bao thuốc lá ra đưa Huy, anh châm lửa, khói điếu thuốc lá quốc doanh nằng nặng bay trong không gian hờ hững của đêm tháng giêng se se lạnh.
    Huy cầm tờ giấy buổi sáng của anh đưa, ra xem dưới ánh sáng lờ mờ của đèn đường và căn nhà phố kế bên rồi nói:

    - Ông già tao giải thích đây là mấy chữ Hán, thường dùng cho các món đồ sành sứ của triều Nguyễn, có lẻ là thời vua Gia Long hay sau này một chút … à, mà Nam, sao ở đâu ra có mấy chữ này, của nhà hả?

    Thằng bạn nhìn như dò hỏi, anh lắc đầu:

    - Ở nhà làm gì có mấy món đồ quí giá này, tao hỏi giùm một người bà con xa dưới quê bà già ở Mỹ Tho, họ nói có mấy món đồ gia bảo cũ có chữ Tàu không hiểu là gì, nên nhờ tao trên Saigon có quen ai biết tiếng dịch ra giùm họ, chắc bây giờ túng thiếu quá nên định bán kiếm tiền …

    Nam cầm tờ giấy bỏ túi, thấy vui trong bụng và biết ơn Huy rất nhiều, bây giờ chưa thể nói gì cho nó nghe, còn sớm lắm, anh nhấp ly cà-phê và hỏi nhỏ:

    - Ở nhà có cho ai vượt biên không?
    - Có nhiều vàng đâu mà đi, mấy chỗ quen đòi gần chục cây một người – Huy trả lời
    - Ừ, nhà tao mấy tháng trước, lúc ông già còn sống cũng vậy, ở dưới Mỹ Tho lên rủ đi mà họ lấy nhiều quá nên thôi … sáng mai tao lên lại trên đó mà xe đạp ở nhà lúc chiều lại xì bánh, mày qua sớm chở tao ra bến xe giùm nhé Huy!
    - Ừ, sáng mai tao qua sớm, tí có cần tao chở về không?
    - Thôi khỏi, tí nửa tao đi tà tà về được rồi

    Nam uống hết cà-phê, lấy bình trà rót vào ly và trầm ngâm hỏi:

    - Mày có tính tìm nghề khác hay đi làm cho nhà nước không?

    Huy im lặng một lúc rồi nói:

    - Xin vào chỗ ngon thì không dể đâu, lý lịch của tao cũng giống như mày, dân bắc kỳ năm 54, ông già là giáo sư văn chương, ông anh sĩ quan bị học tập cải tạo, nhà tao cũng đâu có bà con hay quen biết mấy ông cán bộ, còn không thì phải chi tiền … khó lắm

    Cả hai không biết nói gì, đành im lặng nhìn ra đường, mới hơn chín giờ mà các căn nhà phố dọc hai bên vỉa hè hầu như đã đóng cửa tối om, đường phố trơ trọi vắng bóng người qua lại.

    Vài người ăn xin nằm ngủ co ro dưới mái hiên căn nhà kế chỗ anh và Huy ngồi, thân hình tiều tụy, quần áo rách tả tơi, bên kia đường cũng vật vưởng hai bóng người lớn và hai đứa nhỏ nằm sát vào nhau trên vỉa hè trong bóng đêm.

    Thấy bà cụ lục đục dọn hàng để nghỉ, Nam hỏi tiền hai ly cà- phê hết bao nhiêu, rồi móc túi ra trả và cùng Huy đứng dậy.

    Anh vổ vai thằng bạn thân, hẹn sáng mai nhớ qua chở anh ra bến xe sớm.

    Mới 5 giờ sáng, Huy đã chạy xe qua chở Nam ra bến xe miền đông, anh mua được vé chuyến xe sớm nhất sắp chạy. Cám ơn Huy và hẹn thu hoạch xong mùa màng trên đó, sẽ về Saigon ăn Tết với gia đình và bạn bè cho vui.

    Cầm cái túi vải đựng mấy món đồ vừa mua hôm qua và chai nước để uống dọc đường, Nam bước lên xe tìm chỗ ngồi thoải mái gần tài xế, phía sau ghế tay lơ và chờ chiếc xe xuất bến.

    Xe chỉ còn vài ghế trống, mấy hành khách vẩn còn ngái ngủ, không ai buồn nói chuyện với ai.

    Thêm vài bà phụ nữ đội nón lá, quần áo bà ba nâu đen, tay xách những cái túi vải cuộn và cột lại thành khúc tròn gọn ghẻ như đòn bánh tét lên xe.

    Nhìn cách họ ăn mặc, nói chuyện và đi những chuyến xe vào sáng sớm thường là con buôn. Tuyến đường này họ mua các loại nông sản đậu, bắp, đường, khoai … ở Bình Dương, Bình Long về bán lại cho các chợ ở thành phố, dĩ nhiên là chợ đen.

    Thấy đã đủ người, tài xế bắt đầu nổ máy, tay lơ xe ra phía sau cầm khúc cây to gõ gõ vào cái thùng đốt than nóng rực như để đánh thức nó dậy, chiếc xe như ông cụ già bị bệnh phổi kêu lên khù khụ vài tiếng và rùng mình rồi từ từ lăn bánh ra khỏi bến.

    Vượt qua cầu Bình Triệu, chiếc xe khách cũ kỹ chạy ra quốc lộ 13 còn vắng vẻ, hai bên đường những mảnh vườn và ruộng lúa hoang vắng tiêu điều, buồn bả như chốn không người.

    Nam dựa vào thành xe chợp mắt, cái túi vải để sát bên chân, anh không muốn để mất nó.

    Xe chạy với tốc độ đều đều, có lẻ đã quá quen với những chuyến xe chạy tuyến đường này, mấy bà đi buôn lấy nón lá úp lên mặt, dựa vai nhau ngủ ngon lành. Hàng ghế trong góc bên trái, cặp vợ chồng trung niên mặt mủi gầy gò, hiền lành giống nông dân lấy mấy củ khoai luộc ra ăn.

    Không khí trên xe lặng im như tờ, chỉ có âm thanh gầm gừ phát ra từ cái đầu máy xe cũ dưới nắp ca-pốt mỗi khi lái xe tăng tốc.

    Nam cũng chợp mắt vì không biết làm gì, trời còn quá sớm, chắc mới khoảng hơn 5 giờ rưởi.

    Chiếc xe đang chạy bon bon, thấy có khách đưa tay đứng đón bên đường, tay lơ đập vài cái vào thành xe ra hiệu cho lái xe dừng lại, tiếng động ầm ầm làm Nam giật mình tỉnh táo lại đôi chút.

    Hành khách vừa bước lên là chàng thanh niên trẻ mặc quần áo xanh bộ đội, đầu đội nón cối được nhét ngồi chung ở băng ghế sau cùng gần thùng đốt than.
    Chiếc xe tiếp tục lăn bánh qua đoạn đường dài lên Bến Cát, rồi đến thị trấn Lai Khê, giờ này có lẻ còn hơi sớm, nên các trạm kiểm soát dọc đường lơ là chuyện xét hỏi giấy tờ. Mỗi khi xe chạy đến một cái trạm nào đó, nằm gần mấy thị trấn, thị xã, lái xe giảm tốc độ và nhìn vào lề đường coi có tay du kích, công an nào ra ngoắt chận lại hay không, nếu không không có ai, ông ta nhấn ga cho chiếc xe chạy nhanh qua luôn.

    Mặt trời đã lên khá cao, chiếc xe bắt đầu chạy qua những cái dốc mỗi lúc lại dài và cao hơn.

    Đôi khi gặp cái dốc quá cao, chiếc xe đò củ kỹ như tay cua-rơ đường trường bị đuối hơi, nó khựng khựng lại, tay lơ liền đi len lỏi qua các hàng ghế sau, đến gần cái thùng đốt than, chỉ tay bộ đội trẻ ngồi ép về bên kia tránh chỗ. Hắn ta lấy khúc gổ chèn bánh xe đập mạnh vào cái thùng mấy cái để than trong đó rớt xuống và cháy mạnh hơn, nhằm tiếp hơi cho chiếc xe vượt lên con dốc.

    Nam thì mong nó chạy nhanh hơn và không bị sự cố nào phải nằm dọc đường, sớm đến chỗ rẻ vào nông trường cao su, rồi đón xe quá giang vào đến trong đó khoảng hai, ba giờ chiều, từ đó lội bộ về nhà cùng phải thêm gần tiếng nửa. Chạy thêm được một quảng xa, thấy địa thế bên lề đường khá bằng phẳng trên con dốc, lái xe từ từ dừng lại gần một lô cao su.

    Mọi người như hiểu ý, lục tục đi xuống để xả “xú bắp”. Nam đi tà tà theo tay lơ vào khuất sau mấy gốc cây cao su, các bà con buôn tản ra và cẩn thận đi sâu hơn vào bên trong. Trên xe chỉ còn lại đôi vợ chồng trung niên lặng lẻ ngồi chờ trên con đường vắng vẻ.

    Lát sau mọi người xong công việc từ từ ra xe với vẻ tươi tỉnh hơn, Nam tính chỉ còn qua trạm kiểm soát tại Chơn Thành và chạy thêm khoảng tiếng nửa là đến ngã rẻ vào nông trường.

    Chợt có tiếng la thất thanh của cặp vợ chồng còn ở trên xe, Nam giật mình nhìn ra , chiếc xe đang từ từ tụt xuống con dốc phía sau, mọi người cùng la lên và bất lực nhìn nó càng lúc càng chạy lùi xa hơn.
    Tay lái xe chửi thề một tiếng lớn, ông ta lúng túng cài khuy quần và chạy nhanh xuống dốc đuổi theo chiếc xe, phía sau là tay lơ cũng đang phóng theo như bay.

    Cảnh tượng rượt đuổi giữa người và xe trông thật ngoạn mục, độ vài phút sau, lái xe kịp chạy đến gần, rồi bám vào cửa bên trái và nhảy lên cabin, ông ta nắm vô-lăng và đạp thắng cho chiếc xe đổ dốc chậm lại, cũng may lúc đó trên quốc lộ còn đang vắng vẻ.

    Nhìn tay lơ với bộ dạng ốm o cố chạy đuổi theo chiếc xe thật khôi hài như trong phim, Nam và mấy bà con buôn không thể nhịn cười được. Cuối cùng thì hắn ta cũng nhảy lên được phía sau, rồi dùng khúc gổ vuông chèn vào bánh xe đang nằm im bên đường. Chiếc xe nổ máy và từ từ leo lên lại con dốc nhỏ, hành khách nói chuyện, bàn tán lao xao và đứng đợi.

    Tay lái xe có vẻ tức giận, dừng lại cho mọi người bước lên, ông ta nhìn tay lơ mặt còn xanh xám như chàm, chửi thề một tràng dài:

    - Đ.m, biểu mày mấy lần dừng xe là nhớ lấy khúc gổ chèn bánh liền đi, … không biết mày lo nhớ nhung mấy con nhỏ nào dưới đó!

    Mấy bà con buôn lúc nảy còn la hét hoảng hốt, bây giờ nhìn nhau mỉm cười khi nghe ông tài xế chửi tay lơ xe chuyện bồ bịch của hắn ta ở Saigon, cặp vợ chồng kia thì khuôn mặt vẩn còn hiện rỏ nét thất thần, Nam leo lên xe ngồi vào chỗ cũ, chiếc xe chầm chậm lăn bánh.

    Tay lơ như biết thân phận bọt bèo của mình, hắn ta leo lên mui, mở nắp cái thùng lấy cây sắt dài chọc vào bên trong để than cháy mạnh hơn, từng bụm than vụn còn cháy đỏ và tro nóng rớt qua đáy thùng, rơi xuống thành vệt dài trên đường.

    Dọc hai bên đường rừng cây cao su rụng hết lá chỉ còn lại cành trơ trụi, thỉnh thoảng mới có vài chiếc xe đò hay xe bộ đội màu xanh xám chạy nhanh qua. Gần đến trạm Chơn Thành, mặt trời đã lên cao tới đỉnh đầu.

    Nam nhìn về phía trước, từ xa đã thấy mấy tay du kích và công an đang đứng. Tài xế cho xe chạy chậm lại và ép vào lề, dừng cách trạm khoảng vài mét, mọi người ngồi im trên xe.

    Tay lơ nhảy xuống chờ, một tay du kích đeo cây CKC đứng bên lề nhìn lên các ô cửa. Hắn ngoắc hết mấy bà con buôn, Nam và tay bộ đội trẻ xuống xe.
    Anh nhảy xuống và đi vào trạm, người bộ đội trẻ bị mấy ông kiểm soát quân sự mang băng đỏ hỏi giấy tờ ở phòng kế bên, còn Nam bị tay du kích mặt tái tái như bị sốt rét kinh niên yêu cầu xuất trình giấy tờ.

    Móc bóp lấy tất cả mọi thứ liên quan đưa cho hắn ta, cầm tờ giấy chứng thương được miễn nghĩa vụ của Nam, hắn đọc đi, đọc lại với vẻ hoài nghi. Cuối cùng hắn yêu cầu anh tụt một bên quần ra cho xem, Nam miễn cưỡng phải làm theo ý hắn vì biết không thể nào từ chối được.

    Vài bà con buôn thấy sao lâu lắc nên tò mò đưa cái đầu thụt vô, thụt ra xem có chuyện gì làm Nam thấy hơi nóng bốc lên mặt.

    Khi nhìn thấy cái sẹo quá to và dài trên đùi, hắn ta cho anh đi ra và tiếp tục kêu mấy bà con buôn đang đứng ngoài kia vào tra hỏi giấy phép đi đường.

    Sau vài phút, mấy bà con buôn cũng lục tục đi ra khỏi trạm, tỉnh táo như vừa ghé vào thăm một chỗ nghỉ chân quen ở ven đường. Dân đi buôn đường dài mấy năm gần đây quá quen với việc này, ai cũng chìa ra tờ giấy có đóng mộc xác nhận ở phường cấp. Mấy tờ giấy đó bây giờ họ có thể móc ngoặc hay mua từ công an các phường dưới thành phố và dùng nó đi buôn đi tứ xứ, Nam cũng quá quen với việc luồn lách này.

    Lái xe và lơ cũng đã quen với nếp xét hỏi hàng ngày trên tuyến đường nên bình thản ngồi đợi sau vô-lăng. Nhìn ra sau hàng ghế và nghe tay lơ đập hai cái vào thành xe, ông ta nổ máy.

    Chiếc xe băng ngang thị trấn và lao qua những cánh rừng cao su chạy dài nối tiếp hai bên đường. Nam dặn tay lơ cho xuống chồ ngã ba rẽ vào nông trường cao su, rồi miên man suy nghĩ về công việc sắp tới.

    Anh muốn cho Ba Du biết về bí mật của hai thùng đồ cổ, nhưng còn ngần ngại vì lo lắng là bí mật này sau đó có được giữ kín hay không? Nhiều người cũ trong đồn điền còn sống ở đây, và nếu tin tức vô tình bị tiết lộ cho chính quyền xã, chắc chắn là Nam sẽ bị công an hoặc Tư Có bắt giam và tra hỏi ngay lập tức. Nhưng nếu có Ba Du tham gia việc tìm kiếm, đó cũng là điều hay và có thể rất thuận lợi.

    Sau lần đến thăm nhà Ba Du ở Gò vấp, nhìn gia cảnh và bà mẹ già có nét mặt hiền lành, chân thật, Nam thấy có thể tin Ba Du là người có tư cách, sống rất tình cảm với mọi người.

    Những câu chuyện kể của những người quen cũ của Ba Du ở đồn điền làm anh tin khá chắc chắn về điều này, Ba Du còn là người tháo vát, biết xoay trở trong nhiều tình huống khác nhau và gan dạ, trầm tỉnh. Nếu câu chuyện này thuyết phục và làm Ba Du tin tưởng, khả năng thành công sẽ lớn hơn khi Nam chỉ có một mình.

    Kỳ thực cho đến bây giờ anh cũng chưa biết sẽ làm gì nếu tìm ra nơi chôn giấu hai cái thùng này, lấy lên rồi đem đi tất cả các món đồ này, nếu về Saigon thì bằng cách nào, nhiều câu hỏi còn bỏ trống.

    Đã gần đến ngả ba rẽ vào nông trường, tay lơ ngồi phía sau lại đập mạnh vào thùng xe, chiếc xe đò chạy chậm và tấp vào bên lề, mọi người trên xe còn đang vật vờ trong giấc ngủ trưa.

    Nam cầm cái túi đồ bước qua hàng ghế ra cửa sau, tay lơ lần này cẩn thận nhảy xuống đường, tay cầm sẵn khúc gổ chèn bánh đề phòng xe chết máy và tụt xuống dốc.

    Anh đi bộ một đoạn ngắn rẽ vào đầu con đường đất đỏ và đứng chờ xe quá giang dưới cây cao su già. Trưa giờ này ít xe ra vào trong đó, chắc phải chờ khá lâu. Nam thấy hơi đói, dù hồi sáng ở nhà anh đã cố nhồi vào bụng với các món bánh mì, khoai luộc nhiều hơn mọi ngày vì biết còn lâu mới đến bửa trưa, anh lấy chai nước đã vơi phân nửa ra uống.

    Chọn nơi đất có ít lá khô, dưới một gốc cây có bóng râm để ngồi nghỉ, anh lột bỏ cái nón ra khỏi đầu cho mát.

    Nhìn ra quốc lộ 13 vắng vẻ chạy tiếp về phía tây – bắc đến An Lộc, Lộc Ninh và biên giới Miên, nơi có các trận đánh lớn với lính Pôn Pốt những năm 78 -79, bây giờ nó là tuyến đường tiếp tế cho các đơn vị bộ đội đóng bên kia đất Miên nên xe qua lại khá nhiều.

    Từ xa có chiếc xe tải màu xám chạy đến ngã ba và sắp rẽ vào con đường đất đỏ, Nam đứng dậy đưa tay vẩy xin đi nhờ, lái xe chạy chậm lại và chỉ tay ra phía sau. Anh quăng cái túi lên trước và trèo lên thùng xe, chiếc xe tăng tốc và phóng xuyên qua các con đường trong lô cao su cuốn theo từng đám bụi mịt mù.

    Gần đến trung tâm xã, tay lái xe dừng lại cho Nam xuống. Anh đưa tay ra dấu cám ơn ông ta, vác túi đi qua cái chợ và hàng quán kiếm xem còn ai bán món gì đó để bỏ vào bụng cho đỡ đói.

    Đã xế chiều, ngôi chợ nhỏ nhóm vào sáng sớm giờ đã vắng teo, cũng may còn một bà cụ ngồi trên cái sạp tre đang bầy bán vài nải chuối chín và mít. Anh hỏi mua một nải, bà cụ da nhăn nheo, hàm răng móm mém, mỉm cười nhìn đầu tóc anh bị phủ lớp bụi đỏ mờ mờ và hỏi:

    - Cậu ở thành phố mới lên hả?

    Nam cười gật đầu, rồi trả tiền và vừa đi vừa ăn. Từ ngoài xã mà lội bộ vào trong rẩy cũng phải hơn một tiếng, Nam ăn thêm vài trái chuối chín, chất đường ngọt làm anh thấy dịu cơn đói, lấy chai nước ra uống thêm vài ngụm và nhanh chân đi theo con đường dọc bờ hồ.

    Khung cảnh thật vắng lặng, những luống bắp, đậu dọc đường … đeo đầy trái nhưng không thấy ai ra hái. Những cơn gió mát thổi lên từ mặt nước làm không khí dể chịu, Nam dừng lại dưới bóng cái cây, để túi xuống đất và lấy tay vốc nước hồ trong xanh lên rửa mặt cho sạch sẻ và tỉnh táo, rồi lấy bao thuốc lá ra, châm điếu cuối cùng hút rồi vác túi lên vai đi tiếp.

    Nhà anh và Ba Du gần như nằm ở cuối xã, nên càng đi vào sâu trong đó, phong cảnh đìu hiu, vắng vẻ hơn. Nhiều người dân Saigon bị ép buộc lên ở trong các khu kinh tế mới trên này, sau một thời gian chịu không nổi lại bỏ trốn về thành phố, nhiều chỗ cây cỏ mọc um tùm trở lại, vì vậy Nam thấy khâm phục Ba Du, cũng là dân Saigon mà ở được bốn, năm năm rồi, còn mấy ông trong xã thấy anh sang nhượng lại miếng đất ở chỗ khỉ ho, cò gáy cũng lấy làm lạ. Nhưng chính sách của nhà nước bây giờ là khuyến khích mọi thành phần dân chúng ở các thành phố về nông thôn tăng gia sản xuất để có thêm lương thực, nên việc anh xin đất canh tác vì vậy mà được dể dàng.

    Về gần đến nhà, Nam thấy phấn chấn hơn, anh nhanh chân vượt mấy con dốc còn lại và bước vào dưới bóng mát của mấy cây mít trồng trước sân.

    Tháo sợi dây cột phên cửa và đẩy vào bên trong, không khí mát mẻ làm anh thấy hạ bớt nhiệt vả dể chịu nhiều. Treo cẩn thận cái túi vải lên vách, cởi bộ quần áo thấm mồ hôi, rồi ra ngồi nghỉ trên khúc gổ to trước sân.

    Nam định nghỉ ngơi một chút rồi qua Ba Du hỏi thăm xem mấy ngày vừa rồi, có gì lạ và dẩn con Đốm về, đi vắng vài ba ngày, Nam thấy mọi thứ vẩn như bình thường.

    Đàn gà đang dẩn nhau đi kiếm ăn trong các bụi cỏ, gà miền cao cũng thích ứng với cách sống ở vùng rừng núi, sáng nhảy xuống khỏi chỗ ngủ trên tấm phên tre trên cao để tránh chồn, cáo vào ban đêm và ra ngoài kiếm ăn, chiều tối về chuồng lại nhảy lên đó, người nuôi thỉnh thoảng chỉ rải thêm nắm bắp, đậu, lúa.

    Nhìn ra luống bắp và đậu đã đến lúc thu hoạch, lớp vỏ bên ngoài những trái đậu nhỏ đã héo khô và ngã sang màu nâu, chiều nay gặp Ba Du, Nam sẽ nhờ chỉ dẩn cách thu hái ra sao, vì đây là mùa vụ đầu tiên, cần biết cách làm sao cho ít bị hao hụt. Phần thu hoạch đậu, bắp, khoai cũng là thành quả từ công sức anh đã bỏ ra, và sau khi “đóng góp” một phần cho xã, Nam có thể xin giấp phép đem về thành phố làm lương thực cho gia đình. Thật ra thì anh có thể dùng để buôn bán, trao đổi tại chợ đen.

    Thấy buổi chiều đang dần xuống, anh vội vàng qua nhà Ba Du. Vừa lên khỏi con dốc trước nhà, con Ki và con Đốm chạy ra sủa ầm ỉ quanh chân anh. Ba Du đang hái bắp, đoán Nam đã về tới và vừa qua đây nên đi ra khỏi các luống bắp cao, trên vai đeo cái gùi đựng đầy trái. Thấy Nam đang đứng ở trước sân, Ba Du cười hỏi:

    - Mới về hả chú Nam, có tìm được nhà tui không?
    - Có, gặp bà già và bà chị anh Ba, mọi người đều khỏe, con trai anh đi học đều … anh Ba đang hái bắp hả?

    Ba Du cười vui vẻ khi nghe anh nói, rồi hỏi về tình hình công việc ở nhà, anh gật đầu nói đã xong.

    Hai người ra ngồi trên mấy tảng đá to ở góc sân, Nam hỏi Ba Du có gì lạ không trong mấy ngày anh đi, Ba Du lắc đầu cho biết mọi thứ đều bình thường.
    Nhớ lại mùa đậu, bắp trồng trong khu rẩy ở nhà, anh hỏi về thời gian và cách thu hoạch, Ba Du chỉ cặn kẻ và hứa ngày mai sẽ qua giúp, khiến anh thấy không còn lo lắng nhiều. Nhưng để cho thuận lợi và kịp thời, Nam và Ba Du sẽ cùng vần công, đổi qua rẩy của mỗi bên một ngày cho đến khi kết thúc công việc.

    Sáng hôm sau, cả hai vác gùi ra thu hoạch đậu và sau buổi trưa thì đến rẩy bắp. Công việc tiếp tục đến hơn nửa tháng, anh và Ba Du tạm nghĩ một vài ngày xả hơi. Phần thu hoạch hoa màu của Nam đã gần xong, phần của Ba Du chắc còn phải làm thêm năm, mười ngày nửa vì diện tích gieo trồng nhiều hơn.

    Có thời gian rảnh, Ba Du rủ Nam đi câu cá lăng, cả hai đem theo cái gùi và xô nhỏ đến chỗ ao cạn nơi Tư Có và hai tay du kích ném lựu đạn xuống hô để kiếm cá con làm mồi. Ba Du rất rành việc này, liền lội xuống dùng cái gùi xúc vào dưới đám lá sen, rau muống mọc ven bờ nơi bọn cá rô, chép, mè non thường hay vào trú ẩn trong đó, độ chừng mười lăm phút sau, trong cái xô nhỏ đã có khoảng chục con cá nho nhỏ.

    Thấy đã có đủ mồi cho buổi đi câu, Ba Du và Nam đi về, ra lấy xuồng và bắt đầu chèo ra ngoài xa gần giữa hồ. Móc hai con cá nhỏ vào lưỡi câu và thả xuống, Ba Du và anh ngồi lấy thuốc lá ra hút và theo dõi cái phao nổi dập dềnh trên mặt nước, chiếc xuồng theo những cơn gió thổi từ đông bắc trôi chậm về phía nam.

    Anh nhớ lại điều cần biết về nước hồ trong mùa khô nên hỏi:

    - Trong mùa khô mực nước hồ có giảm xuống nhiều không anh Ba?

    Nghe Nam hỏi, Ba Du nói:

    - Có, nhưng tùy năm, năm nào ít mưa thì nước xuống nhiều, như năm nay mưa ít, có lẻ mực nước sẽ xuống thấp hơn …
    - Ngoài xã lúc nào thì cho mở mấy cái cửa đập để xả nước?

    Ba Du chăm chú nhìn cái phao đang trôi rồi trả lời:

    - Ừ, có ! khi nào mấy xã phía dưới thiếu nước làm ruộng rẩy, mấy ổng sẽ cho xả nhiều hơn, nên thường cuối mùa khô, mực nước còn rất thấp
    Nghe Ba Du nói, Nam thấy tình hình điều tiết nước hồ qua con đập đúng như anh nghĩ, điều quan trọng ở đây là mực nước xuống càng thấp, càng dể dàng cho công việc truy tìm. Cả hai quay lại chú ý cái phao đang trôi, câu cá lăng cũng không dể như mấy con cá kia, nó là loại cá lớn thường ở dưới sâu, nên người câu phải kiên nhẫn nhiều hơn, chưa kể là phải có tay nghề nửa chứ.

    Trên mặt hồ vắng chỉ có xuồng Ba Du và Nam đang trôi lờ đờ, mặt trời lên cao, ánh nắng khá gay gắt, đã qua tháng hai, mùa khô bắt đầu đến trên vùng bán sơn địa phía nam dãy Trường Sơn. Tết cũng đã gần đến, Nam nói:

    - Tết năm rồi anh Ba có về Saigon không?

    Nghe hỏi về Tết, Ba Du trả lới:

    - Có, năm nào cũng về vài ba ngày với gia đình rồi lên trở lại, Tết này chú Nam có tính về không?
    - Chưa biết anh Ba, tôi mới về mấy ngày trước rồi – Nam cười

    Bổng Ba Du giật mạnh cần tre, làm mặt nước giao động mạnh, đầu cần là chú cá lăng to vùng vẩy quyết liệt khi bị kéo lên cho vào lòng xuồng, gở xong con cá, Ba Du lại móc mồi khác và thả xuống, rồi nhìn Nam nói:

    - Chú Nam thu hoạch và nộp thuế xong, xin xã giấy phép để chở đậu, bắp về dưới cho gia đình hay sao?
    - Ừ, vậy chắc phải về, nhưng trước Tết, còn Tết này tôi sẽ ở lại, anh Ba cứ đi về

    Ba Du cười đồng ý khi nghe anh nói, Nam thấy cái phao bị động, hai mắt anh chăm chú theo dõi, khi nó vừa chìm sâu xuống, anh giật mạnh cái cần lên, một chú cá lăng khác đang dính vào lưỡi câu, gở bỏ vào khoang xuồng, khoan khoái nhìn nó vùng vẩy cạnh con kia trong, rồi chui vào nằm im dưới đống lưới cũ.

    Hai người tiếp tục buông câu, chiếc xuồng trôi dạt ngang qua hồ về gần phía bờ xã bên kia, Nam nhìn thấy rỏ ngôi nhà Hai Tuất nhưng khoảng cách còn khá xa. Khúc hồ này có vẻ nhiều cá, Ba Du và Nam liên tục giật câu và dính thêm cá lăng và trê to.

    Hai Tuất đang ở ngoài bờ hồ nhìn thấy chiếc xuồng, nên đứng lên đưa tay và kêu lớn, Ba Du và Nam cũng hào hứng vẩy tay chào, thấy có chiếc xuồng nằm gần bờ, Ba Du nói:

    - Khỏe không Hai Tuất, ra lấy cá về nghe!

    Bơi xuồng chầm chậm về phía bờ chờ đợi, bên trong Hai Tuất nhanh nhẹ chèo đến gần:

    - Đang ra bờ hồ thấy anh Ba và chú Nam ngồi câu nhàn hạ quá, được nhiều chưa?
    - Hôm nay ra ngoài hồ câu cá lăng, anh lấy một, hai con về ăn, được cũng khá

    Ba Du cười và cầm bỏ con cá lăng và mè to vào xuồng Hai Tuất, hai bên nói chuyện về thu hoạch vụ mùa này, Hai Tuất nhìn Nam hỏi:

    - Con chó hôm đó chú Nam bắt về ra sao?
    - Dạ, nó quen nhà mới rồi nên nuôi mau lớn – Nam cười

    Hai Tuất cám ơn, hẹn hôm nào anh và Ba Du rảnh qua chơi, rồi chèo xuồng vào bờ bên kia.

    Thấy mặt trời lên cao và nắng nóng, Ba Du và Nam chậm rải bơi ngang qua hồ đi về, gần vào đến bờ, cần câu Nam dính thêm một con cá lăng, anh cười nói với Ba Du:

    - Hôm nay là ngày tận số của nó

    Bước lên bờ kiếm chỗ cột dây xuồng, còn Ba Du đang lấy dây xỏ mang mấy con cá xách về nhà.

    Ba Du bắt con cá lăng to nhất ra làm món nướng muối ớt và rủ Nam ở lại lai rai, mấy con còn lại rộng trong cái thùng nhỏ sau vườn, chiều nay Nam cũng xách một vài con về bên nhà.Trong lúc làm món cá, Ba Du chỉ Nam lấy mấy khúc củi cháy dở ra nhóm lại để bếp mau có than.

    Lát sau đã thấy Ba Du xiên từng khúc cá thấm mắm ớt, hành, xả, riềng … qua thanh tre dài và đưa lên nướng, tiếng mở cá nhỏ xuống than đỏ cháy xèo xèo và mùi thơm bay khắp gian bếp.

    Nam ra sau vườn hái thêm rau, ớt … khi anh quay vào nhà thi thấy món cá lăng nướng và hai cái ly đã được bày trên phản. Ba Du lấy bầu rượu có cái vỏ đen bóng từ kệ gổ trên cao xuống, đây là rượu của những người S’tiêng trong buôn Bù Đon cho Ba Du.

    Bên ngoài màu nắng vàng khô khốc rải ra trên khắp cây cỏ và mặt hồ, không khí ban trưa giửa vùng đồi núi thật yên tĩnh và nóng nực. Tiếng những con chim sâu gọi nhau ríu rít trên cành cây mít và điều trước sân nhà Ba Du, có lẻ bọn chim làm tổ trên đó lâu rồi. Ba Du và con Ki ở trong căn nhà tranh, còn tụi nó thì tha hồ bay nhảy trên đó, ai cũng có công việc để lo, không ai để ý ai, sống gần những hàng xóm nhỏ bé hiền lành này, chắc Ba Du và con Ki không phải bận tâm hay phiền toái chút nào.

    Mùa thu hoạch trước Tết như vậy là khá tốt, chỉ cần thêm vài ngày nửa là xong, nên cả Ba Du và Nam thấy yên tâm, thoãi mái. Ba Du rót rượu vào ly và mời:

    - Vô đi chú Nam, thưởng thức món cá nướng xem sao?

    Nam gật đầu cụng ly, ăn thử khúc cá, Ba Du chế biến và nướng rất khéo. Món này ở Saigon bây giờ cũng khó kiếm, thời buổi “ngăn sống, cấm chợ” nên việc chuyên chở gạo, mắm, cá, thịt … từ những vùng nông thôn ở các tỉnh lên thành phố bị cấm và kiểm soát chặt chẻ, gạo lúa, nông sản dư ra không đem đi đâu tiêu thụ được vì chính sách “kỳ dị” này. Người dân ai cũng biết miền nam có đồng bằng sông Cửu Long phì nhiêu, kinh rạch nhiều tôm cá, sau 75 nông dân cả nước bị bắt ép vào hợp tác xã, mọi người làm nhiều mà không được hưởng bao nhiêu, họ chán nản bỏ mặc đồng ruộng hoang vu, từ đó chuyện thiếu thốn lương thực xảy ra khắp cả nước, bây giờ thì mọi người đang phải ăn độn và đói kém, thiếu thốn.

    Ba Du có vẻ vui nói:

    - Ngày mai, nhờ chú Nam qua phụ thêm vài ngày nửa để thu hoạch cho xong
    - Dạ, được anh Ba, bên rẩy tôi cũng xong rồi, số còn lại hái từ từ
    - Ngày mốt tui qua bên đó coi lại cái giàn gác gần mái, có chỗ để phơi bắp và đậu cho mau khô, không bị chuột bọ ăn, chắc là phải thay một số cây tre cũ để treo bắp, đậu lên cho chắc chắn.

    Thấy Ba Du nhớ tới vụ làm giàn để phơi và trữ lại sau khi thu hoạch, chút xíu nửa thì anh quên, Nam gật đầu và cụng ly tỏ vẻ cám ơn Ba Du.


    (còn tiếp)

  12. The Following 3 Users Say Thank You to Vũ Phan For This Useful Post:

    hoang yen (11-07-2016), khongquan2 (11-13-2016), nguyenphuong (11-08-2016)

Trang 1/3 123 cuốicuối

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter