Nội chiến Hoa Kỳ
Một phần của Lịch sử Hoa Kỳ




Quân đội Liên bang xung phong

Thời gian 12 tháng 4 1861 – 9 tháng 4 1865
Địa điểm Phía Nam Hoa Kỳ
Nguyên nhân bùng nổ Quân miền Nam cướp phá đồn Sumter
Kết quả Liên bang miền Bắc chiến thắng ;
Tái thiết lại Hoa Kỳ;
Kết thúc chính sách chiếm hữu Nô lệ

Tham chiến
Liên bang miền Bắc
("Union")

--------------------------
Liên minh miền Nam
("Confederacy")


Nội chiến Hoa Kỳ là cuộc tranh chấp quân sự giữa Chính phủ Liên bang và 11 tiểu bang phía nam Hoa Kỳ giữa thế kỉ 19.

Mục lục

Trận Antietam 2.4 1863
Trận Gettysburg 2.5 1864 - 2.6 1865

Sơ lược

Năm 1861 Abraham Lincoln đắc cử tổng thống và muốn thay đổi dự luật để xóa bỏ thể chế nô lệ. Trước ngày ông nhậm chức, bảy tiểu bang miền nam Hoa Kỳ phản đối chính sách cởi mở này và tuyên bố ly khai chính phủ liên bang, thành lập chính phủ riêng do Jefferson Davis làm tổng thống [1]. Chính quyền Abraham Lincoln không công nhận chính phủ Liên minh miền Nam này. Khi quân miền Nam tấn công đồn Sumter, Nội chiến Hoa Kỳ bùng nổ và thêm 4 tiểu bang khác gia nhập phe miền nam chống lại lực lượng Liên bang miền Bắc.

Cuộc phân tranh Nam-Bắc kéo dài 4 năm và chấm dứt khi quân miền Nam đầu hàng năm 1865.

Trong năm đầu của cuộc chiến, quân Liên bang miền Bắc chiếm đóng và kiểm soát dọc biên giới các tiểu bang, đồng thời phong tỏa mặt biển. Hai bên thi nhau tăng cường quân lực. Những cuộc đụng độ đẫm máu bắt đầu từ năm 1862. Sau trận đánh tại Antietam vào tháng 9 năm 1862, Lincoln đọc bản Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ, coi việc trả tự do cho nô lệ là mục tiêu chính yếu. Mặc dù lúc đó có nhiều phe phái bên trong chính phủ vẫn còn ủng hộ thể chế nô lệ, họ phải đồng ý với tuyên cáo này vì an ninh của chính phủ liên bang. Bản Tuyên ngôn đã làm cho Anh và Pháp khó lấy cớ ủng hộ quân miền Nam. Cũng nhờ tuyên cáo giải phóng nộ lệ mà quân miền Bắc chiêu mộ được một lực lượng khá đông đảo là binh lính Mỹ gốc Phi. Trong khi đó miền Nam không muốn quân đội của họ có sắc dân gốc Phi.

Trong các trận đánh dọc sông Potomac, tướng miền Nam Robert Edward Lee đạt nhiều thắng lợi ở Mặt trận miền Đông. Viên tùy tướng giỏi của ông là Stonewall Jackson bị thiệt mạng trong trận Chancellorsville vào tháng 5 năm 1863. Lee tiến quân lên miền Bắc nhưng bị đánh bại trong trận chiến trứ danh tại Gettysburg - suýt chút nữa Lee bị bắt nhưng may mắn lắm mới chạy thoát về Virginia.

Về Tây, quân miền Bắc chiếm được cảng New Orleans năm 1862. Tướng miền Bắc là Ulysses S. Grant đem quân chiếm Vicksburg, khống chế sông Mississippi vào tháng 7 năm 1863 - cắt đôi lực lượng miền Nam.

Đến năm 1864, quân miền Bắc với nhiều lợi thế về địa hình, quân lực, kỹ nghệ, tài chánh, kế hoạch chính trị và tiếp vận bắt đầu chiếm ưu thế đối với quân miền Nam. Hai tướng Grant và Lee đánh nhau nhiều trận khốc liệt tại vùng Virginia trong mùa hè 1864. Tuy chiến thắng về mặt chiến thuật, Tướng Lee lại thua về mặt chiến lược vì quá hao binh tổn khí - do đó phải rút về Richmond đóng giữ trong các tuyến chiến hào. Trong lúc đó, tướng miền Bắc William Tecumseh Sherman chiếm được Atlanta thuộc tiểu bang Georgia và tiến thẳng ra bờ biển, phá vỡ vòng đai cố thủ của Georgia.

Năm 1865, Tướng Lee ký văn kiện đầu hàng tại tòa án địa phương của Appomattox, Virginia- đây là thời điểm chấm dứt cuộc chiến tương tàn giữa hai miền Nam Bắc nước Mỹ và cũng là thời điểm khởi đầu công cuộc giải phóng nô lệ tại đất nước này.

Thời kỳ hậu chiến là những năm hồi phục khó khăn. Hậu quả của cuộc phân tranh là 970.000 người chết, trong đó 620.000 là binh lính, gần hai phần ba do bệnh tật. Cho đến nay nhiều người Mỹ vẫn còn tiếp tục tranh cãi về những khía cạnh của cuộc chiến tàn khốc này.

1860 6 tháng 11 - Abraham Lincoln, đảng viên Cộng hòa đầu tiên đắc cử tổng thống với 180 phiếu thuận trong tổng số 303 phiếu. Lincoln tuyên bố chính phủ không thể chấp nhận một xã hội có nô lệ.

20 tháng 12 - Tiểu bang South Carolina phản đối chính sách của Lincoln và tuyên bố ly khai. Hai tháng sau, các tiểu bang Mississippi, Florida, Alabama, Georgia, Louisiana và Texas cũng ly khai.


1861 9 tháng 2 - Các tiểu bang miền Nam thành lập Liên minh miền Nam và bầu lãnh tụ là Jefferson Davis - cựu sĩ quan quân đội Hoa Kỳ, từng học trừ bị tại Trường Võ bị West Point.

4 tháng 3 - Abraham Lincoln chính thức tuyên thệ nhậm chức Tổng thống Hoa Kỳ.

12 tháng 4 - Lúc 4:30 sáng, quân miền Nam dưới chỉ huy của Tướng Pierre Beauregard bắn đại bác vào đồn Sumter ở Charleston, South Carolina. Nội chiến Hoa Kỳ bùng nổ.

15 tháng 4 - Lincoln ra tuyên cáo tuyển mộ 75.000 binh sĩ và họp quốc hội đặc kỳ cho ngày quốc khánh 4 tháng 7.

Tướng Robert E. Lee, con trai của một anh hùng cách mạng Mỹ, cựu sĩ quan với 25 năm kinh nghiệm chiến trường và cựu hiệu trưởng Trường Võ bị West Point được đề cử thống lĩnh quân miền Bắc, nhưng ông từ chối.

17 tháng 4 - Virginia ly khai, tiếp theo là Arkansas, Tennessee, và North Carolina - tạo khối 11 tiểu bang, gồm 9 triệu dân, trong đó có 4 triệu nô lệ. Chính phủ miền Bắc Hoa Kỳ chỉ còn 21 tiểu bang và 20 triệu dân.

19 tháng 4 - Lincoln ra lệnh phong tỏa các hải cảng phía nam. Do đó, miền Nam bị thiếu nguyên liệu trong khi miền Bắc tiếp tục phát triển kỹ nghệ.

20 tháng 4 - Tướng Lee sau khi từ chối không giúp miền Bắc, từ chức và trở về quê quán tại Richmond, Virginia và nhận chỉ huy quân đội miền Nam.

Quân miền nam bắn phá đồn Sumter


4 tháng 7 - Lincoln đọc diễn văn tại quốc hội. Quốc hội đồng ý kêu gọi 50.000 binh sĩ cho cuộc chiến với miền Nam.

21 tháng 7 - Quân miền Nam dưới chỉ huy của Stonewall Jackson ngăn chận nhiều đợt tấn công của quân miền Bắc. Tướng miền Bắc Irvin McDowell bị đánh bại tại trận Bull Run thứ nhất, cách Washington 25 dặm phía tâynam.

27 tháng 7 - George B. McClellan được thăng chức thay thế McDowell. Sau đó McClellan được cử làm chỉ huy tham mưu trưởng.

8 tháng 11 - Khủng hoảng bang giao quốc tế với Anh Quốc. Hai tùy viên miền Nam trên chuyến tàu sang Anh bị hải quân miền Bắc bắt giữ. Chính phủ Anh đòi trả tự do cho hai người này, không thì sẽ khai chiến. Tổng thống Hoa Kỳ Lincoln đành nhượng bộ thả họ ra vào tháng 12.
1862

Lincoln và tướng McClellan (1862)6 tháng 2 - Tướng miền Bắc Ulysses S. Grant đánh thắng chiếm đoạt đồn Henry va 10 ngày sau hạ được đồn Donelson. Ông được biệt hiệu "Tướng chuyên bắt đầu hàng vô điều kiện".

8 tháng 3 - Trong trận Hampton Roads tàu chiến bọc sắt Merrimack của miền Nam đánh chìm hai tàu chiến gỗ miền Bắc. Sau đó bất phân thắng bại khi đụng độ với tàu bọc sắt Monitor của miền Bắc.

Tháng 3 - McClellan kéo Quân đoàn Potomac từ Washington dọc sông Potomac và vịnh Chesapeake xuống bán đảo phía nam của Richmond và tiến về thủ phủ của miền Nam. Lincoln tạm thời giữ chức tham mưu trường chỉ huy quân miền Bắc.

6 tháng 4 - Quân miền Nam bất thình lình đánh úp quân của tướng Grant tại Shiloh trên sông Tennessee. Gần 13.000 quân miền Bắc và 10.000 quân miền nam tử trận. Các chính giới miền Bắc đòi đuổi Grant nhưng Lincoln không nghe, tin tưởng tài nghệ của vị tướng này.

24 tháng 4 - Sĩ quan hải quân miền Bắc David Farragut đem 17 chiến thuyền theo sông Mississippi lên đánh chiếm New Orleans, một hải cảng quan trọng của miền Nam.


Edwin Jennison - chết trận khi 16 tuổi31 tháng 5 - Tướng miền Nam Joseph E. Johnston bị thương nặng trong trận đánh bật quân của McClellan bên ngoài Richmond. Hôm sau tướng Robert E. Lee lên thay thế Johnston, đổi tên lực lượng miền Nam thành Quân đoàn Bắc Virginia. McClellan khinh thường Lee, cho ông ta là người "...bẽn lẽn và thiếu cơ mưu trong tác chiến".

25 tháng 6 - 1 tháng 7 - Trận Bảy Ngày. Lee đánh nhau với McClellan gần Richmond. Hai bên đều tổn thất nặng nề. McClellan thấy không xong bèn từ từ rút về Washington. Trong trận đánh tại Malvern Hill, binh sĩ miền Nam Edwin Jennison tử trận khi mới 16 tuổi.

11 tháng 7 - Tướng Henry W. Halleck lãnh chức chỉ huy tham mưu trưởng quân đội miền Bắc.

29 tháng 8 - Trận thứ nhì tại Bull Run giữa 75.000 quân miền Bắc do tướng John Pope chỉ huy đánh 55.000 quân miền Nam của hai tướng Stonewall Jackson và James Longstreet. Quân miền Bắc thua to và chạy về Washington. Pope bị cách chức.

4 tháng 9 - Tướng Lee dẫn 50.000 quân tấn công miền Bắc. Tướng McClellan dẫn 90,0000 quân miền Bắc đuổi theo. Stonewall Jackson tấn công Harpers Ferry, cách Washington 50 dặm phiá tây bắc.


Trận Antietam


17 tháng 9 - Trận Antietam là trận đẫm máu nhất lịch sử Hoa Kỳ. Tướng McClellan và các tướng tùy tùng chận đánh quân của tướng Lee tại Antietam Maryland. Hơn 26.000 binh lính tử trận, bị thương hay mất tích. Tướng Lee phải rút lui chạy về Virginia.

22 tháng 9 - Lincoln tuyên cáo sơ khai về cuộc giải phóng nô lệ.

7 tháng 11 - Tổng thống Lincoln thất vọng khi thấy McClellan không biết nhanh chóng thừa thắng xông lên, bỏ lỡ cơ hội tấn công miền nam khi Lee thua chạy. Tướng Ambrose Burnside được bổ nhiệm thay thế McClellan.

13 tháng 12 - Burnside thất bại nặng nề trong trận chiến tại Fredericksburg thuộc Virginia. Sau 14 lần công kích các chiến hào gần Marye's Heights, quân miền Bắc bị chết mất 12.653 lính so với 5.309 bên miền Nam.

1863
George Gordon Meade1 tháng 1 - Tổng thống Lincoln chính thức ra Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ - trả tự do cho mọi người Mỹ gốc Phi xưa nay là nô lệ của các địa chủ Mỹ. Đồng thời kêu gọi những người nô lệ này nhập ngũ. Cuộc chiến lúc đầu có ý nghĩa bảo vệ quyền hạn chính phủ; lúc này trở thành cuộc chiến cách mạng giải thể chế độ nô lệ.

25 tháng 1 - Tướng Joseph Hooker thay thế Burnside chỉ huy Quân đoàn Potomac.

29 tháng 1 - Tướng Grant được cử chức chỉ huy trưởng quân đoàn miền Tây với nhiệm vụ chiếm Vicksburg.

3 tháng 3 - Quốc hội ra lệnh tổng động viên, bắt buộc người nam tuổi từ 20 đến 40 phải nhập ngũ - trừ khi đóng $300 thế chân hay mướn được ai khác đi thay mình.

1 tháng 5 - Tướng Lee đem 60.000 quân miền Nam đánh 130.000 quân miền Bắc do tướng Hooker cầm đầu tại Chancellorsville. Do chiến thuật tài tình táo bạo, Lee đánh tan quân miền Bắc. Bên miền Nam 13.000 lính thiệt mạng, so với 17.000 lính miền Bắc tử vong.

10 tháng 5 - Tướng miền Nam Stonewall Jackson chết vì vết thương trong trận Chancellorsville. Ông bị quân của chính mình bắn nhầm.

13 tháng 6 - Tướng Lee kéo 75.000 quân đánh miền Bắc lần thứ nhì, nhắm hướng Pennsylvania.

28 tháng 6 - Tướng George G. Meade được Lincoln cử làm chỉ huy quân đoàn Potomac thay thế Hooker. Trong vòng 1 năm chức vụ này thay người 5 lần.


Trận Gettysburg


Trận đánh Gettysburg
Xuất bản: Currier & Ives1 tháng 7 - Meade đem quân ngăn chận quân của tướng Lee từ miền Nam lên. Hai bên dàn trận tại Gettysburg. Hàng rào phía tây bắc của làng do một đội kỵ binh miền Bắc phòng thủ, sau đó tăng cường thêm hai đội bộ binh. Nhưng quân miền Nam tràn vào thật nhanh phá vỡ hàng phòng thủ này. Quân miền Bắc phải rút vào trong làng và chạy về ngọn đồi phía nam.

Ngày hôm sau, quân đội hai bên dàn dựng chỉnh tề. Quân miền Bắc có đội hình móc câu. Tướng Lee xua quân miền Nam tràn vào đánh từ cánh trái và hai bên đánh nhau kịch liệt. Tuy thiệt hại nặng nề, quân miền Bắc giữ được phòng tuyến, không lùi bước.

Ngày thứ ba của trận đánh, trong khi kỵ binh hai bên đánh xáp lá cà tại nhiều nơi, tướng Lee quyết định xua 12.500 quân bộ binh miền Nam tấn công trung điểm của hội hình quân miền Bắc. Nhưng cả đoàn quân bị miền Bắc đem súng và đại bác ra bắn tan tành. Lee phải rút quân chạy về Virginia.

Khoảng 45-50 ngàn người lính Mỹ chết trong trận đánh kinh hồn này.

4 tháng 7 - Tướng Grant chiếm Vicksburg, thủ phủ cuối cùng trên sông Mississippi của miền Nam. Lực lượng miền Nam do đó bị chia hai không liên lạc tiếp tế được cho nhau.

13 tháng 6 - Cuộc bạo động chống tổng động viên tại New York do người di dân da trắng chủ động. Có đến 120 người da đen, kể cả trẻ con, bị giết và nhà cửa bị đốt. Quân đội từ Gettysburg phải kéo về giữ an ninh.

Đội quân da đen
Trung đoàn 54 Massachusetts
Quân đoàn 54 Massachusetts tấn công đồn Wagner
Trận Chancellorsville



18 tháng 7 - Đội quân da đen của Trung đoàn 54 Massachusetts dưới sự chỉ huy của Trung tá Robert G. Shaw tấn công đồn Wagner thuộc South Carolina của quân miền Nam. Shaw và 600 binh sĩ của ông bị bắn chết. Quân miền Nam cố giữ đồn này được 60 ngày thì bỏ chạy.

10 tháng 8 - Chính trị gia Frederick Douglass đòi quyền bình đẳng cho binh sĩ của Đội quân da đen.

21 tháng 8 - William C. Quantrill và 450 người ủng hộ thể chế nô lệ tràn vào tỉnh Lawrence của Kansas và giết 182 người, đàn ông và thiếu niên.

19 tháng 9 - Quân đoàn Tennessee do tướng miền Nam Braxton Bragg thống lãnh chiến thắng tại Chickamauga. Tướng miền Bắc William S. Rosecrans và Quân đoàn Cumberland của ông bị vây chặt tại Chattanooga, Tennessee.

16 tháng 10 - Tướng Grant được tổng thống Lincoln giao phó chức vụ tổng chỉ huy toàn Mặt trận miền Tây.

19 tháng 11 - Tổng thống Lincoln đọc diễn văn Gettysburg Address dài hai phút - công bố chiến trường Gettysburg là Nghĩa Trang Quốc Gia.

23 tháng 11 - Tướng Grant kéo đến đánh quân miền Nam của tướng Bragg, phá vỡ vòng vây tại Chattanooga.


1864 William T. Sherman9 tháng 3 - Tổng thống Lincoln đề cử tướng Grant làm tổng chỉ huy toàn bộ quân đội Hoa Kỳ. Tướng William T. Sherman nhậm chức chỉ huy quân đoàn miền Tây.

Tháng 5 - Grant kết hợp các quân đoàn thành một lực lượng 120.000 lính tiến về Richmond. Tướng Lee lúc này chỉ còn 64.000 quân. Hai bên đánh nhau tại nhiều nơi: Trận Wilderness (5 tháng 5), Trận Spotsylvania (8 tháng 5). Tại phía tây, tướng Sherman đem 100.000 quân nhắm hướng Atlanta để đương đầu với 60.000 quân Tennessee của tướng miền Nam Joseph E. Johnston.

11 tháng 5 - Tướng kỵ binh J.E.B. Stuart của miền Nam bị bắn trong trận Yellow Tavern và chết ngày hôm sau.


J.E.B. Stuart3 tháng 6 - Tướng Grant tính toán sai lạc khi tấn công Cold Harbor và lãnh thiệt hại nặng nề với 7.000 quân miền Bắc tử vong. Trước đó nhiều viên chức sĩ quan trong đội quân này đã biết không thể nào chiếm được Cold Harbor. Một binh sĩ bị chết trong trận này đã biết trước số phận của mình và viết trong nhật ký: "3 tháng 6, Cold Harbor, Virginia. Tôi bị giết."


George H. Thomas15 tháng 6 - Quân miền Bắc bỏ lỡ cơ hội không chiếm được Petersburg và cắt đường xe lửa của miền Nam. Petersburg bị bao vây trong suốt 9 tháng.

20 tháng 7 - Sherman kéo đến Atlanta, khiêu chiến với quân phiến loạn. Tướng miền Nam John B. Hood thay thế tướng Johnston cố thủ Atlanta.

29 tháng 8 - Đảng Dân Chủ đưa George B. McClellan ra ứng cử tổng thống.

2 tháng 9 - Atlanta thất thủ. Đây là thắng lợi lớn cho Lincoln khi ông đang vận động tranh cử.

19 tháng 10 - Kỵ binh miền Bắc do tướng Philip H. Sheridan chỉ huy thắng lớn tại thung lũng Shenandoah, phá tan đội quân miền Nam do Jubal Early cầm đầu.

8 tháng 11 - Abraham Lincoln tái đắc cử tổng thống.

15 tháng 11 - Sau khi phá huỷ các thiết bị xe hoả và nhà máy tại Atlanta, tướng miền Bắc Sherman được Washington chấp thuận cho kéo 62.000 quân lội bộ ra hướng biển, tiến về Savannah thuộc Georgia.

15 tháng 12 - Tại trận Nashville, 23.000 quân miền Nam do tướng Hood chỉ huy bị 55.000 quân miền Bắc (trong đó có cả quân da đen) cùa tướng George H. Thomas đánh bại. Quân đoàn Tennessee của miền Nam hầu như hoàn toàn tan rã.

21 tháng 12 - Tướng Sherman đến Savannah, sau một cuộc tàn phá tiêu thổ 300 dặm từ Atlanata. Ông đánh điện cho tổng thống Lincoln, hứa sẽ dâng Savannah làm quà Giáng sinh.

1865
31 tháng 1 - Quốc hội Hoa Kỳ thông qua sửa đổi thứ 13 của CHiến pháp, bác bỏ thể chế nô lệ.


Joseph E Johnston3 tháng 2 - Lincoln đến gặp phó tổng thống miền Nam là Alexander Stephens tại Hampton Roads của Virginia để thương lượng hoà giải nhưng không thành. Cuộc nội chiến vẫn tiếp diễn.

Quân miền Nam lúc này chỉ còn hai nơi: Quân đoàn Bắc Viriginia của tướng Lee đang bị vây tại Petersburg và quân của Johnston tại North Carolina. Trong khi đó lực lượng quân miền Bắc lên đến 280.000 lính.

4 tháng 3 - Tổng thống Lincoln tuyên thệ nhậm chức lần thứ nhì.

25 tháng 3 - Tướng Lee kéo quân từ Petersburg ra đánh phá vòng vây nhưng chỉ 4 tiếng sau cuộc công kích bị phá vỡ.

2 tháng 4 - Tướng Grant tấn công Petersburg, phá từng tuyến phòng thủ của Lee. Tướng miền Nam A.P. Hill bị giết. Lee bỏ Petersburg. Nhiều vụ đốt phá và cướp bóc xảy ra. Hôm sau cờ Liên bang Hoa Kỳ được kéo lên tại thủ phủ Richmond của miền Nam.

4 tháng 4 - Lincoln tham quan Richmond và vào xem văn phòng của Jefferson Davis tại Toà Bạch Ốc của Liên minh miền Nam.

9 tháng 4 - Tại toà án khu vực Appomattox, Virginia, tướng miền Nam Robert E. Lee ký giấy đầu hàng tướng miền Bắc Ulysses S. Grant. Grant cho phép hàng quân được tiếp tục giữ súng tay bên hông, và cho giữ lừa ngựa. Tướng Lee khuyên nhủ quân sĩ của mình: "Sau 4 năm chiến đấu khó khăn, với sự can đảm và ngoan cường chưa từng thấy, Quân đoàn Bắc Virginia bị bắt buộc phải nhượng bộ một lực lượng và hậu thuẫn quá to lớn".

10 tháng 4 - Cuộc liên hoan chiến thắng bắt đầu tại Washington.

14 tháng 4 - Cờ Hoa Kỳ được kéo lên long trọng tại đồn Sumter nơi cuộc nội chiến bắt đầu 4 năm trước. Tối hôm đó, tổng thống Lincoln cùng vợ là bà Mary đi xem vở kịch "Người bà con Mỹ của chúng ta" tại Ford's Theater. Lúc 10:30 tối, trong phần 3 của vở kịch, John Wilkes Booth thò súng ngắn bắn vào đầu Lincoln. Ông bất tỉnh và chết vào lúc 7 giờ 22 phút sáng hôm sau.

15 tháng 4 - Phó tổng thống Andrew Johnson lên thay làm tổng thống.

18 tháng 4 - Tướng miền Nam Joseph Johnston đầu hàng tướng Sherman tại Durham thuộc North Carolina.

13 tháng 5 - Trận Palmito Ranch là trận đánh sau cùng của cuộc Nội chiến.

Hậu quả
Quân phục binh sĩ Liên Bang trong Nội chiến Hoa Kỳ năm 1863Sau khi chiến cuộc kết thúc, người ta vẫn tranh cãi vấn đề quân miền Nam có cơ hội chiến thắng hay không. Nhiều học giả cho rằng miền Bắc quá hùng mạnh và quân miền Nam không bao giờ có hy vọng chiến thắng, chỉ đánh để đình hoãn thất bại. Trong phim tài liệu về Nội chiến Hoa Kỳ của Ken Burns, sử gia Shelby Foote tổng kết: "Tôi nghĩ miền Bắc đánh trận chấp một tay sau lưng. Nhỡ khi miền Nam thắng nhiều trận, nhiều hơn nữa, thì miền Bắc sẽ lôi tiếp tay sau lưng ra mà đánh. Tôi không nghĩ miền Nam có cơ hội nào thắng được cuộc chiến." [2] Lực lượng miền Nam cố gắng giữ độc lập bằng cách chờ cho Lincoln hết nhiệm kỳ. Nhưng sau khi Sherman phá được Atlanta, Lincoln thắng cử lần thứ nhì thì hy vọng chiến thắng chính trị của miền Nam tan biến. Lincoln đoạt nhiều thắng lợi lớn, được thêm ủng hộ từ các tiểu bang ranh giới, từ phe chủ chiến trong Đảng Dân chủ, từ các nô lệ được giải phóng và từ các nước ngoài như Anh và Pháp. Lincoln đánh bại McClellan và Đảng Dân chủ, đồng thời dập tắt nhóm chủ hòa Copperheads [3]. Ngoài ra, Lincoln có tướng tài như Grant và Sherman, sẵn sàng đẩy hết quân lực hùng hậu, không sợ tốn lính. Những vị tướng không sợ đổ máu đã đem lại chiến thắng. Đến cuối năm 1864 mọi hy vọng chiến thắng của miền Nam đều tan biến.

Theo James McPherson thì miền Bắc nhờ có lực lượng hùng hậu, tài nguyên nhiều nên thế thắng cao nhưng không thể gọi là tất thắng được. Trong nhiều chiến tranh khác, phe ít lính, thiếu súng đạn vẫm có thể thắng (như Chiến tranh Độc lập Hoa Kỳ, Chiến tranh Việt nam). Quân miền Nam đáng lý không nên tấn công miền Bắc mà chỉ nên phòng thủ kéo dài cuộc chiến làm lung lay tinh thần chiến đấu của miền Bắc, cho dân miền Bắc thấy được cái giá quá đắt của cuộc chiến. Quân miền Bắc phải tấn công, chiếm giữ và kiểm soát một lãnh thổ quá to lớn, sẽ bị tốn phí rất nhiều.

Một điểm quan trọng nữa là khả năng kêu gọi của tổng thống Lincoln. Ông dùng tài biện thuyết, thuyết phục các tiểu bang đang lừng khừng tại ranh giới Nam Bắc ngả theo miền Bắc. Bài tuyên cáo giải phóng nô lệ tuy được đề xuất trễ nhưng có hiệu lực tạo điều kiện cho miền Bắc tiếp tục dấy binh đánh miền Nam.



Bảng so sánh hai miền
Miền Bắc Miền Nam
Dân số 22.000.000 (71%) 9.000.000 (29%)
Dân tự do 22.000.000 5.500.000
Nô lệ tại các tiểu bang ranh giới năm 1860 432.586 Không có
Nô lệ tại các tiểu bang miền Nam năm 1860 Không có 3.500.000
Lính 2.200.000 (67%) 1.064.000 (33%)
Tuyến xe lửa (dặm) 21.788 (71%) 8.838 (29%)
Sản xuất công nghệ 90% 10%
Sản xuất súng đạn 97% 3%
Vải 1860 Không đáng kể 4.500.000 cuộn
Vải 1864 Không đáng kể 300.000 cuộn
Xuất khẩu (tiền chiến) 30% 70%
Vì miền Bắc có phát triển kỹ nghệ kinh tế cao nên có khả năng sản xuất vũ khí, đạn dược nhiều hơn, đồng thời có điều kiện tốt về tài chánh và vận tải. Bảng bên đây so sánh khoảng cách kinh tế giữa hai miền vào đầu cuộc chiến. Khoảng cách này tăng xa lên trong cuộc chiến, trong khi kinh tế miền Bắc tiếp tục phát triển thì miền Nam tụt dốc. Năm 1861, miền Bắc có 22 triệu dân, miền Nam 9 triệu; trong đó có 3,5 triệu là nô lệ và 5.5 dân da trắng - khoảng một phần tư số dân da trắng miền Bắc. Khi quân miền Bắc thành công trong việc chiếm đoạt các đồn quân sự, khống chế biên giới, cắt đường tiếp vận của quân miền Nam ở sông Mississippi, kiểm soát 80% đường sông, đường biển, xây dựng thêm cơ xưởng đóng tàu, thì miền Nam coi như không còn hy vọng chiến thắng.[7] Trong khi miền Bắc xây được đường xe lửa tốt liên kết giữa các khu vực chính yếu thì tuyến đường xe lửa của miền Nam bị trì trệ, hư hỏng, không kịp tu chỉnh.

Tổng thống miền Nam Davis thiếu khả năng thuyết phục các tổng đốc của Georgia và North Carolina, bỏ mất cơ hội tăng cường lực lượng cho miền Nam.[9] Chính quyền miền Nam lại tiên đoán nhầm về kinh tế thế giới, tự mãn về khả năng sản xuất vải của mình, thiếu tế nhị trong ngoại giao nên chóng bị cô lập. Một thí dụ điển bình là chần chừ không chịu cho chuyên chở vải bán ra nước ngoài trước khi bị miền Bắc khống chế mặt biển.[10]

Sau bản tuyên ngôn giải phóng nô lệ của Lincoln, khoảng 190 nghìn dân nô lệ tình nguyện tòng quân, quân số của miền Bắc lên gấp bội.[11] Trong khi đó miền nam không dám cho nô lệ nhập ngũ vì sợ đi ngược lại chính sách nô lệ của mình. Quân da đen miền Bắc chiến đấu anh dũng trong nhiều trận then chốt của cuộc nội chiến [12] Ngoài ra còn có dân di cư từ châu Âu cũng gia nhập quân miền Bắc. Khoảng 23.4% quân miền Bắc có gốc Đức, với gần 216 nghìn sanh tại Đức.[13]


Tái thiết
Bài chi tiết: Thời tái thiết (Hoa Kỳ)
Giới lãnh đạo miền Bắc đồng ý rằng chiến thắng thực sự không thể dừng lại khi chiến cuộc chấm dứt mà phải tiếp tục cho đến khi đạt được hai mục đích: một là dập tắt hoàn toàn các chính quyền ly khai, hai là giải thể hoàn toàn hệ thống nô lệ dưới mọi hình thức. Tuy vậy, giữa các chính giới lại có nhiều quan điểm khác nhau về phương cách thực hiện hai mục đích này. Họ cũng tranh cãi gay go về vai trò của miền Bắc trong cuộc kiểm soát miền Nam sau cuộc chiến, và làm thế nào cho miền Nam kết hợp trở lại với chính quyền liên bang.

Cuộc tái thiết đất nước Hoa Kỳ sau cuộc nội chiến kéo dài cho đến năm 1877 (Thỏa ước 1877), gồm nhiều đợt thay đổi phức tạp trong chính sách từ liên bang đến tiểu bang. Ba điều được thay đổi trong Hiến pháp Hoa Kỳ: điều XIII (giải thể nô lệ), điều XIV (chính phủ liên bang có nhiệm vụ bảo vệ công lý cho mọi công dân bất kể sắc tộc) và điều XV (xóa bỏ kỳ thị chủng tộc trong việc bỏ phiếu bầu cử). Thay đổi hiến pháp thực ra chỉ là lý thuyết vì trên thực tế, nạn kỳ thị chủng tộc tại Hoa Kỳ vẫn tiếp tục kéo dài cho đến khi phong trào dân quyền bùng nổ vào thập niên 1960.[14]


Kết quả
Toàn thể người nô lệ tại các tiểu bang miền Nam được thả tự do. Nô lệ tại các tiểu bang ranh giới, kể cả Washington, D.C., được trả tự do vào mùa xuân năm 1865. Khoảng 4 triệu người nô lệ được phóng thích.

Khoảng 970,000 người bị tử thương, gần 3 phần trăm tổng số dân Mỹ - trong đó 620,000 là binh sĩ chết trận hay vì bệnh tật.[15] Số binh sĩ tử trận trong Nội chiến Hoa Kỳ cao hơn tổng số lính chết trong những chiến cuộc khác của quân Hoa Kỳ.[16] Ngày nay người ta vẫn còn tranh cãi về nguyên nhân và tên gọi cuộc chiến đẫm máu này. Căn cứ theo thống kê dân số năm 1860, 8% người nam da trắng Mỹ tuổi từ 13 đến 43 chết trong cuộc nội chiến (6% miền Bắc và 18% miền Nam).

Sưu tầm online