Trang 1/3 123 cuốicuối
kết quả từ 1 tới 6 trên 13

Tựa Đề: Phi Đoàn I Khu Trục - Phượng Hoàng Kim Cương

  1. #1
    Ga Ru's Avatar
    Status : Ga Ru v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Feb 2014
    Nguyên quán: San Jose, CA
    Posts: 95
    Thanks: 67
    Thanked 181 Times in 53 Posts

    Default Phi Đoàn I Khu Trục - Phượng Hoàng Kim Cương


  2. The Following 9 Users Say Thank You to Ga Ru For This Useful Post:

    Cowboy72A (02-14-2014), gunship (02-15-2014), hieunguyen11 (02-21-2014), hoang yen (02-22-2017), khongquan2 (02-15-2014), kqcantho (02-26-2014), philong51 (02-24-2014), Tinh Hoai Huong (03-20-2015), Yankee-Caribou (02-15-2014)

  3. #2
    Ga Ru's Avatar
    Status : Ga Ru v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Feb 2014
    Nguyên quán: San Jose, CA
    Posts: 95
    Thanks: 67
    Thanked 181 Times in 53 Posts

    Default

    Xin thành thật cám ơn Cowboy72A rất nhiều . Đây là lần đầu tiên post trên Diễn Đàn Phi Dũng nên rất là lạng quạng, dù rằng có theo lời chỉ dẫn nhưng vẫn không biết là sai chổ nào.
    Tạ Thượng Tứ
    tuthuongta@gmail.com

  4. #3
    Yankee-Caribou's Avatar
    Status : Yankee-Caribou v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Aug 2013
    Posts: 65
    Thanks: 59
    Thanked 220 Times in 57 Posts

    Default

    Kính thưa bác Phượng Hoàng Kim Cương , cháu xin cảm ơn bác rất nhiều đã bỏ công sức thời giờ để viết lại tiểu sử của PĐ514 .
    Đây là một tài liệu rất quí giá .

    Trong bài bác có nhắc đến những chiếc Texan T-6G mà phi đoàn 514 dùng để transition pilot qua AD-6 .

    Kính tặng bác hình ảnh một trong những chiếc T-6G của VNAF được hãnh diện mang huy hiệu của PĐ 514 .




  5. The Following 9 Users Say Thank You to Yankee-Caribou For This Useful Post:

    Cowboy72A (02-15-2014), gunship (02-15-2014), hieunguyen11 (02-21-2014), hoang yen (02-22-2017), khongquan2 (02-15-2014), kqcantho (02-26-2014), phitrang (02-15-2014), SVSQKQ (03-03-2014), Tinh Hoai Huong (02-15-2014)

  6. #4
    Ga Ru's Avatar
    Status : Ga Ru v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Feb 2014
    Nguyên quán: San Jose, CA
    Posts: 95
    Thanks: 67
    Thanked 181 Times in 53 Posts

    Default

    Xin cám ơn Yankee-Caribou đã tặng 2 bức ảnh thật đẹp.

  7. #5
    Administrator
    khongquan2's Avatar
    Status : khongquan2 v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2011
    Posts: 2,013
    Thanks: 14,012
    Thanked 6,062 Times in 1,567 Posts

    Default


  8. The Following 9 Users Say Thank You to khongquan2 For This Useful Post:

    Ga Ru (02-20-2014), hieunguyen11 (02-21-2014), kqcantho (02-26-2014), PhiLan (02-20-2014), raumuong (02-20-2014), SVSQKQ (03-03-2014), thanhcanh (03-03-2014), Tinh Hoai Huong (03-24-2015), Tn07 (03-16-2014)

  9. #6
    Administrator
    khongquan2's Avatar
    Status : khongquan2 v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2011
    Posts: 2,013
    Thanks: 14,012
    Thanked 6,062 Times in 1,567 Posts

    Default Phi Đoàn Khu Trục (Phần I)

    Phi Đoàn I Khu Trục

    Phượng Hoàng Kim Cương



    Lời phi lộ: Viết về Phi Đoàn 1 Khu Trục trước đây NT Nguyễn Quang Tri đã có bài viết đăng trên trang báo điện tử “Cánh Chim Tự Do”. Cũng có 1 bài viết ngắn của NT Bồ Đại Kỳ đã được phổ biến trên ĐSKQ Bắc Cali tháng 6 năm 2012. NT Nguyễn Quang Tri đã bay vào miên viễn ngày 15 tháng 11 năm 2012. Ông ra đi trong sự vô vàn thương tiếc của bạn bè, của những người em KQ đã vô cùng kính phục ông. Dưới bút hiệu Tarin65 và Gman, ông đã để lại cho KQVNCH một nguồn tài liệu vô giá về những hoạt động của KQVN từ ngày thành lập, nhất là tài liệu về ngành Khu Trục lúc mới thành hình cho đến năm 1963. Bài viết nầy đã được đăng tải trên ĐSKQ Bắc Cali, xuất bản tháng 6 năm 2012 nhân dịp Đại Hội Khu Trục lần thứ II diễn ra tại San José (CA). Đây là một bài viết với sưu tầm khá công phu cộng thêm trí nhớ rất là “siêu” của NT DHB đã làm sống lại hoạt đông của phi đoàn 514 Phượng Hoàng với những chiến sĩ bay hào hùng và gan dạ trong nhiệm vụ “Bình Nam Phạt Bắc” từ năm 1963 cho đến ngày miền Nam VN lọt vào tay bọn Cộng Sản miền Bắc. Xin giới thiệu cùng bạn đọc Diễn Đàn Phi Dũng tác phẩm đặc biệt nầy của Phượng Hoàng Kim Cương.


    Lời cảm tạ: Được sự cho phép rộng rãi của NT Nguyễn Quang Tri để sử dụng tài liệu ‘Phiđoàn 514 (56-63), Gman’, ‘Ngựa Bất Kham F8F Bearcat, Tarin65’, ‘Phượng Hoàng Đen/Xám Một, Bằng Lăng’ cũng như sự nhiệt tình đóng góp nhiều chi tiết do các Phượng hoàng Nguyễn Thế Qui, Nguyễn Đại Điền, Trịnh Trọng Khang, Vĩnh Anh, Nguyễn Quan Vĩnh, Nguyễn Đình Lộc, những hình ảnh quí báu do Không quân Phạm Quang Khiêm, người em của Phượng hoàng Phạm Quang Minh, Phượng hoàng Lê Phước Cung, Ó đen Trần Mạnh Khôi, cùng những tin tức góp nhặt của nhiều bạn bè và gia đình trong Phi đoàn cũng như trong Không quân, kể cả nhiều dữ liệu đã thu lượm được trên các trang mạng ‘Cánh Thép’, ‘Quân sử/ Không quân VNCH của Liên hội Ái hữu Không Quân QLVNCH/ Úc châu’, ‘vnafmamn.com’, ‘wikipedia.org’, ‘huongduong.com’ với bài ‘Mộng viễn phương’ của tác giả Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, tôi xin mạn phép được ghi lại Tiểu Sử oai hùng của đơn vị hàng đầu trong QLVNCH nói chung cũng như trong KLVNCH nói riêng, hầu để lại cho hậu thế cái di sản hào hùng của những người đã từng liều thân để ‘Bảo Quốc, Trấn Không’.

    Tiểu sử Phi Đoàn I Khu Trục
    Phượng Hoàng Kim Cương


    Theo tài liệu của phòng Tham mưu phó Chương trình và Kế hoạch thuộc Bộ Tư Lệnh KQ thì Phi đoàn 514 là đơn vị tổng trừ bị của KLVNCH, hoạt động gần giống như các đơn vị Dù hay Thủy Quân Lục Chiến của Lục Quân vậy; nghĩa là biệt phái đi khắp nơi, tiếp ứng các đơn vị khu trục khác ở mọi vùng chiến thuật. PĐ514 là hiện thân của Phi đoàn I Khu trục (đọc là Đệ nhất Phi đoàn Khu trục), là phi đoàn khu trục kỳ cựu nhất của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa.

    Không quân Pháp chuyển giao.

    Phi đoàn I Khu trục bắt nguồn từ Premier Groupe de Chasse et de Reconnaissance (1er GCR), tạm dịch là Đệ nhất Phi đoàn Khu trục và Trinh sát, của Không quân Pháp, gồm có 25 chiếc F8F Bearcat, được mệnh danh là ‘Con Ngựa Bất Kham’, vì những tật khó lường của nó và 13 hạ sĩ quan phi công, đồn trú tại Căn cứ 2 Trợ lực Không quân Biên Hòa.

    Được biết Quốc gia Việt Nam được thành lập vào ngày 5-6-1948, và Quân đội QGVN được lần hồi tạo dựng lên. Sau khi Pháp thất thủ tại trận Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được ký kết vào ngày 20-7-1954 đòi Pháp phải triệt thoái mọi chánh quyền thuộc địa cùng toàn bộ các lực lượng viễn chinh ra khỏi Đông Dương. Họ hứa sẽ huấn luyện nhân viên và chuyển giao các phòng sở thiết bị lại cho Quân đội QGVN.

    Ngày 1-6-1956, Không quân Pháp chuyển giao phi đoàn nói trên lại cho KQVN, do Đ/úy Huỳnh Hữu Hiền tiếp nhận. Phi đoàn lấy danh hiệu là Phượng hoàng.

    Ban Chỉ huy Tham mưu:

    1. Đ/úy Huỳnh Hữu Hiền Chỉ huy trưởng
    2. Đ/úy Huỳnh Bá Tính Chỉ huy phó
    3. Đ/úy Nguyễn Kim Khánh Trưởng Phòng Hành quân
    4. Tr/úy Dương Thiệu Hùng Phi đội trưởng Phi đội 1
    5. Tr/úy Hà Xuân Vịnh Phi đội trưởng Phi đội 2

    Phù hiệu Trường Phi hành Không quân Pháp


    Hoa tiêu:

    6. Tr/úy Nguyễn Hữu Chẩn
    7. Tr/úy Nguyễn Quan Huy
    8. Ch/úy Nguyễn Ngọc Biện
    9. Ch/úy Trần Công Chấn
    10. Ch/úy Võ Văn Hội
    11. Ch/úy Hồ Xuân Đệ
    12. Ch/úy Nguyễn Thông

    Và 13 hạ sĩ quan hoa tiêu của đơn vị gốc, được thăng cấp Chuẩn úy:

    13. Ch/úy Phạm Phú Quốc
    14. Ch/úy Nguyễn Thế Long
    15. Ch/úy Võ Văn Sĩ
    16. Ch/úy Nguyễn Tấn Sĩ
    17. Ch/úy Mạc Kĩnh Dung
    18. Ch/úy Vũ Khắc Huề
    19. Ch/úy Trương Đăng Lượng
    20. Ch/úy Lê Ngọc Duệ
    21. Ch/úy Nguyễn Đình Nam
    22. Ch/úy Nguyễn Hữu Bách
    23. Ch/úy Thái Văn Dương
    24. Ch/úy Võ Văn Xuân
    25. Ch/úy Huỳnh Hữu Bạc

    Nhân viên không phi hành gồm có:

    1. Th/úy Dương Xuân Nhơn Trưởng Phòng Vật liệu
    2. Ch/úy Nguyễn Văn Tấn Trưởng Phòng Hành chánh
    3. Tr/úy Quảng Đức Phết Trưởng Ban Tiếp liệu
    4. Th/úy Nguyễn Minh Tiên Trưởng Ban Vô tuyến
    5. Tr/úy Phan Đàm Liệu Trưởng Ban Vũ khí
    6. Th/úy Bùi Quang Đài Trưởng Ban Bảo trì Phi đạo

    Th/tá Huỳnh Hữu Hiền CHT phi đoàn kiêm luôn CHT Căn cứ thay thế Đ/úy Lê Trung Trực về làm Tham Mưu trưởng KQ, cho Tr/tá Trần Văn Hổ, Tư lệnh KQ đầu tiên.

    Phái bộ Cố vấn Quân sự Pháp gồm có:
    1. Th/tá Commandant Marthy
    2. Tr/úy Lieutenant Gillote
    3. Tr/úy Lieutenant Ruelle

    Và một số hạ sĩ quan Pháp huấn luyện viên hoa tiêu, như Trung Sĩ Sergent Bùi và nhiều hạ sĩ quan cố vấn kỹ thuật khác.

    Th/tá Hiền xuất thân từ khóa 1 Lê Văn Duyệt Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức – Nam Định 1951, đã tốt nghiệp hoa tiêu vận tải qua các trường Ecole de Pilotage Marrakech ở Maroc 1952, BE 702 Avord, học lái máy bay 2 động cơ Marcel Dassault MD315, CIET (Centre d’Instruction des Equipages de Transport) ở Pháp, Blida ở Algérie để thụ huấn tác xạ, rồi qua Orléans để được xác định trưởng phi cơ vận tải trên C-47.

    Vì vấn đề tiếp nhận các đơn vị KQ quá cấp bách, cho nên sau khi hồi hương (1954), Tr/úy Hiền, cùng với các Tr/úy Tính (Khóa 1 Sĩ quan Trừ bị), Tr/úy Khánh, Hùng (Khóa I Hoa tiêu Quân sự), Th/úy Chẩn (Khóa 52 Marrakech), Th/úy Huy (Khóa 4 Cương Quyết Liên trường Võ khoa Thủ Đức 1954), và các Ch/úy Chấn, Biện, Hội, Đệ, Thông, vừa mới mãn Khóa II Hoa tiêu Quân sự trên phi cơ Morane Saulnier MS500 ở Trung tâm Huấn luyện Không quân Nha Trang, được gởi ngay qua trường bay École de Pilotage Marrakech ở Maroc, để học bay T-6 trong vòng 9 tháng.


    Từ trái sang phải,
    Hàng ngồi: HLV Pháp, Tr/úy Huỳnh Bá Tính, Tr/úy Dương Thiệu Hùng, Th/úy Nguyễn Hữu Chẩn, Th/úy Hà Xuân Vịnh,…
    Hàng đứng đầu: HLV Pháp, Tr/úy Huỳnh Hữu Hiền, HLV Pháp, Tr/úy Nguyễn Kim Khánh,…

    Chiếc phi cơ ở phía sau là loại F6F Hellcat của Trường bay Hải quân Pháp Base Ecole de l’Aéro- navale Française de Khouribga ở Maroc.


    Chiếc MD-450 Ouragan của Trường Ecole de Chasse ‘Christian Martell’ à Meknès, Maroc

    Còn Ch/úy KQ Pháp Hà Xuân Vịnh, xuất thân từ dân chính trúng tuyển vào Võ bị Không quân Pháp Ecole de l’Air à Salon-de-Provence khóa 1953, lấy tên là Brunschwig, đã có căn bản phi hành trên T-6 ở Marrakech, Maroc, hồi năm trước (1952), được qua Avord để học bay trong mây mù (entrainement au vol sans visibilité) và được gắn cánh bay hoa tiêu vận tải tại đây.

    Tất cả những người trên đây được chuyển qua Khouribga, Maroc, để xuyên huấn trên F6F Hellcat, trước khi về nước. Về đến đơn vị thì các anh Huy, Chấn, Biện, Hội, Đệ đều không lái F8F, nhưng vẫn được giữ lại để bay L-19 của đơn vị.

    Khóa đặc biệt 13 người, thoạt đầu có tất cả 50 người dân chính, được Không quân Pháp tuyển mộ vào năm 1952, để theo học căn bản phi hành tại Trường bay vở lòng Ecole de Début Aulnat (trên phi cơ Stampe SV4D) và về ngành khu trục tại Bordeaux (trên phi cơ Morane Saulnier MS475 VanneauV). Những người này ra trường mang cấp bậc hạ sĩ quan; sau khi về nước, được gởi đi xuyên huấn trên F8F Bearcat trong đơn vị Không quân Pháp ở Vũng Tàu.

    Khóa Brunschwig (1953) ở Salon-de-Provence còn có Tr/úy Nguyễn Ngọc Loan (Khóa 1 TĐ-NĐ) và 2 SVSQ Lưu Văn ĐứcNguyễn Quang Tri. Anh Loan đã có căn bản quân sự, nên sau một năm huấn luyện văn hóa, đã được qua Marrakech để học căn bản phi hành ngay. Còn các anh Đức và Tri, sau 2 năm huấn luyện quân sự và địa huấn, thì được học căn bản phi hành trên Sipa 12, là chương trình phi huấn đầu tiên tại VBKQ Pháp. Sau đó 3 anh được chuyển sang Meknès ở Maroc để học khu trục phản lực trên T-33 của Mỹ và VampireV (de Havilland) của Anh, trước khi được gắn cánh bay.

    Anh Loan và anh Đức trở về nước ngay sau khi được gắn cánh (tốt nghiệp). Nhưng khi về đến phi đoàn thì anh Loan không đủ sức khỏe, nên được chuyển qua Phi đoàn Quan sát. Còn anh Tri thì ở lại 6 tháng để qua Khouribga ở Maroc, là trường bay của Hải quân Pháp (Base Ecole de l’Aéronavale Française), xuyên huấn trên F6F Hellcat, sau 10 giờ quen tay trên SNJ (T-6 của US Navy). Rốt cuộc thì anh Tri, kể từ khi là một sinh viên dân chính trúng tuyễn vào VBKQ Pháp, đến lúc ra trường, trở thành một sĩ quan phi công khu trục phản lực, theo đúng tiêu chuẩn của Không quân Pháp, phải mất hơn 4 năm trời (1953-1957).

    Phi cơ thì có 25 chiếc khu trục cơ F8F Bearcat và 6 phi cơ quan sát L-19A Bird Dog. Mấy phi cơ quan sát màu nhà binh (cứt ngựa), có huy hiệu KQVN ở hai bên hông và lá cờ vàng 3 sọc đỏ to tướng nằm choán hết phần giữa của bánh lái đuôi. Còn mấy chiếc khu trục màu đen, được đánh số đuôi từ A đến Z trừ W. Huy hiệu của phi đoàn là ‘Đầu chim Đại bàng màu đen, nằm trên chữ V màu vàng, có viền nổi màu đỏ, tượng trưng cho chiến thắng của VNCH’ được vẻ lên hai bên má (cowling) của phi cơ. Hai bên hông phi cơ là huy hiệu KQVN. Lá cờ vàng 3 sọc đỏ được vẻ ở phần trên của bánh lái đuôi. Loại phi cơ F là fighter aircraft tạm dịch là chiến đấu cơ, có khả năng không chiến, được trang bị 4 khẩu đại liên 12,7 ly/đại bác 20mm (mỗi khẩu 200 viên), 1 giá napalm dưới bụng, 2 giá bom 1,000 lbs ở dàn trong và 4 giá hỏa tiễn 5” ở dàn ngoài dưới cánh.

    Các phòng sở gồm có:

    1. Bộ Chỉ huy Phi đoàn, trong đó có:

    - Phòng Chỉ huy trưởng, có chổ tiếp khách, có để Quyển Tiểu sử Đệ nhất Phi đoàn Khu trục (Historique du Premier Groupe de Chasse et de Reconnaissance) do anh Nguyễn Thế Long viết bằng tiếng Pháp; giá cờ có Quốc kỳ bên trái, cờ Phi đoàn ở giữa và cờ Quân chủng Không quân bên mặt; tủ sắt để hồ sơ mật và tiền quỹ đen (caisse noire).
    - Phòng Hành chánh và Văn thư.
    - Phòng Cố vấn.


    - Phòng Hành quân có bàn cho Trưởng phòng Hành quân, trên đó có Quyển Huấn thị Điều hành Đơn vị (SOP - Squadron Operating Procedures), Quyển Huấn thị Khu trục (Règlements de Chasse), bảng Phi lệnh, bảng Notams, bàn Sĩ quan trực Phi đoàn, trên đó có Quyển Phi vụ, ghi lại các chi tiết của từng phi vụ trong từng ngày một.
    - Phòng thay đồ (vestiaire) của hoa tiêu có mấy tủ sắt (lockers) để đồ bay của hoa tiêu. Mỗi hoa tiêu ngoài áo bay (combinaison de vol), giày cao cổ, nón bay (helmet), áo phao và túi cấp cứu, súng lục và dao găm, còn có một sổ phi bạ để ghi giờ bay cá nhân được Phi đoàn trưởng ký nhận hằng tháng, bản đồ quân sự trong vùng, kneeboard (giống như cái clipboard có dây gài ngang đầu gối).

    2. Phòng Vật liệu là một hangar lớn có các Ban Tiếp liệu, Vô tuyến và Vũ khí.
    3. Phi đạo cũng có một hangar lớn, dành cho cơ khí viên và chuyên viên bảo trì phi cơ.

    Công việc của Phái bộ Cố vấn Quân sự Pháp, trong thời gian còn ở lại VN, là huấn luyện xác định hành quân cho hoa tiêu và cao huấn cho các ngành.

    Chỉ riêng công việc xác định hành quân cho hoa tiêu, để trở thành một phi tuần viên (équipier confirmé) không thôi, đã là một vấn đề cực kỳ vất vả lắm rồi, chưa nói đến việc cao huấn để nâng cấp chuyên môn cho họ lên hàng huấn luyện viên khu trục (moniteur de chasse), để họ vừa có khả năng vừa có thẩm quyền dẫn dắt một phi tuần nhẹ (patrouille légère) 2 chiếc. Mà đặc biệt ngành khu trục đòi hỏi phải ít nhất 2 phi cơ mới có thể hành quân được. Mỹ gọi phi tuần nhẹ là ‘element’, trong đó ‘lead’ là người dẫn phi tuần (phi tuần phó/phi tuần trưởng) và ‘wingman’ là phi tuần viên, chỉ số chuyên nghiệp là 1030.

    (In Air to Air Combat a fighter element is the smallest combat unit, it is the unit where the pilots are all directly tasked to look after each other. Members of the same element are called a lead and wingman. Fighter elements usually contain two or three aircraft with elements grouped into a flight, with a squadron being composed of several flights. US units prefer the two-plane element. During an engagement, the two planes will fly roughly parallel and or side by side. This orientation permits each pilot to check his wingman's belly and tail, spots not easily seen from the cockpit. Covering your wingman is a pilot's most important duty, even more so than the attack. During combat, the element is never supposed to separate, even when the larger subunit may choose to for tactical reasons), trích trong everything2.com của Transitional Man.

    Cho đến khi Phái bộ Quân sự Pháp rời VN, nghĩa là khoảng một năm sau ngày chuyển giao đơn vị, chỉ có 8 người được bằng Huấn luyện viên Khu trục. Đó là:

    - Thiếu Tá Huỳnh Hữu Hiền
    - Đại Úy Nguyễn Kim Khánh
    - Đại Úy Dương Thiệu Hùng
    - Trung Úy Hà Xuân Vịnh
    - Thiếu Úy Lưu Văn Đức
    - Thiếu úy Nguyễn Quang Tri
    - Chuẩn Úy Phạm Phú Quốc
    - Chuẩn Úy Nguyễn Thế Long


    Giai đoạn Tổ chức & Huấn luyện

    Tháng 6-1957 Phái bộ Cố vấn Pháp vừa rời khỏi đơn vị, thì trong vòng tháng 7, Phái bộ Cố vấn Hoa kỳ, dẫn đầu là Th/tá Maj. Parker, có mặt ngay tại phi đoàn.

    Phái bộ Cố vấn Pháp rút đi, các huấn luyện viên của họ cũng đi theo luôn. Với con số huấn luyện viên ít ỏi mà đơn vị hiện có, cộng với số tiếp liệu giới hạn trong thời bình về xăng nhớt và bom đạn, nhất là bộ phận rời (spare parts) của loại phi cơ F8F không còn sản xuất nữa, công việc đào tạo huấn luyện viên khu trục cho đơn vị, mặc dầu vẫn tiến hành liên tục, nhưng thời gian phải kéo dài ê chề. Mỗi tháng, người bay nhiều nhứt chỉ chừng trên dưới 15 giờ.

    Chương trình huấn luyện gồm có:
    - Nghệ thuật dẫn phi tuần nhẹ, phi tuần nặng
    - Truy cản (intercept) - Truy kích không địa (assault)
    - Tác xạ không địa: đại bác và napalm tại xạ trường Phú Lợi
    - Không hành xa: Biên Hòa - Đà Nẵng
    - Kiến thức hàng không tổng quát (CCAG: Certificat de Connaissances Aéronautiques Générales) và Quy luật Tác chiến Khu trục (Règlements de Chasse).

    Theo kỹ thuật khu trục của Pháp thì phải có khả năng bay hợp đoàn ở cao độ thấp, và tiến đánh từ cao độ 100 bộ, hay tốt hơn là sát mặt đất (rase-mottes). Khi còn 30 giây đến mục tiêu mới cho phi tuần lấy cao độ thích hợp để bắn súng, thả bom hay bắn hỏa tiễn. Khó nhất là đánh bằng bom napalm, vì phải đúng trục thả và vừa lên chừng 1,000 bộ là phải lấy trục tấn công và xuống cao độ, nên khóa sinh thường không hành lạc đường, và lấy trục không đúng, hay thả không chính xác mục tiêu vì chưa kịp nhận ra mục tiêu trên bản đồ tỷ lệ 1/100,000. Chiếc F8F lấy cao độ rất nhanh (gần 5,000 ft/pm), nên chỉ cần 30 giây là đủ để có cao độ thả bom hay bắn hỏa tiễn được. Hỏa tiễn dùng lúc đó là loại có đường kính 5”, mỗi lần chỉ mang được bốn hỏa tiễn lắp (load) trên bốn giá (accroche/ rack) dành riêng cho hỏa tiễn mà thôi. Thường thì huấn luyện viên chỉ cho biết các yếu tố sau đây trong một phi vụ truy kích:

    - Điểm chờ, thường chọn Nhà Bè, bay ở cao độ vừa phải để tiết kiệm xăng là 3,000 bộ.
    - Bom tuyến, thường là một con sông, hay một đường lộ dễ thấy, mà lúc nào bay qua bên kia là đất địch thì cao độ phải sát đất. Không hành phải tránh những nơi mà huấn luyện viên cho biết có cao xạ, thường chọn các quận lỵ có nhiều nhà, cấm bay qua.
    - Tọa độ mục tiêu sẽ cho trên trời trước khi xuất phát từ điểm chờ. Thường thì dùng một bản đồ tỷ lệ 1/100,000 cho một phi vụ, nhưng có khi phải dùng đến 4 bản đồ. Điểm thực tập khó nhất lại nằm ở ngay chỗ các bản đồ ráp với nhau. Nên nhớ là trên F8F, chỉ có một mình, vừa lái, không hành cho đúng trục và thời gian (axe et minutage), còn phải lo sắp xếp phi tuần để đánh, ban hành chỉ thị cho phi tuần viên rõ ràng, đúng lúc, không thiếu sót điều gì, đồng thời cũng bật lên các nút điện điều khiển tác xạ cho đúng, hay khóa an toàn vũ khí sau khi tấn công. Nhiều anh rất ngại nhìn lâu vào bản đồ, loạng quạng sẽ chúi đầu xuống đất vì tốc độ khá nhanh (7km/phút).

    Sau khi đánh xong, phải tập họp phi tuần lại theo đội hình hành quân ở cao độ thấp và đường về phải khác hơn đường đi để bảo vệ phi tuần khỏi bị địch bắn từ dưới đất hay từ phi cơ nghênh cản.

    Nếu là phi vụ khảo sát để trở thành huấn luyện viên khu trục thì không thể sai một mục tiêu nào cả. Bạn còn được chấm điểm về chỉ huy, dẫn phi tuần từ đầu đến cuối. Bạn hướng dẫn phi tuần có an toàn không, chẳng hạn như bay sát đất mà bạn đổi hướng về phía có nhiều phi tuần viên (turn into echelon), hay bạn giải tỏa trái với lệnh mà bạn đã cho, là dứt khoát không được. Còn về kinh nghiệm thì nếu bạn cho thả bom ngược gió bạn cũng sẽ bị trừ điểm, bạn cho thả bom trên gió mà dưới gió là quân bạn, bạn cũng bị trừ điểm.


    Ch/úy Vũ Khắc Huề , Ch/úy Phạm Phú Quốc, Tr/úy Dương Thiệu Hùng, Ch/úy Nguyễn Đình Nam,
    và Ch/úy Nguyễn Thế Long, đứng trước Bộ Chỉ Huy Phi đoàn I Khu trục

    Quy chế cũ ấn định phải có 200 giờ bay khu trục đủ loại mới được đề nghị học huấn luyện viên khu trục. Sau khi khảo sát ra MC (moniteur de chasse) được một thời gian thì mới được Quyết định của Bộ Tư lệnh Không quân xác định Phi tuần phó Khu trục, chỉ số chuyên nghiệp 1034, chánh thức có quyền dẫn phi tuần 2 chiếc. Rồi phải chờ mãi đến khi có trên 500 giờ khu trục, mới được tiến cử theo học khóa Phi tuần trưởng Khu trục CP (chef de patrouille), chỉ số chuyên nghiệp 1035, với khả năng dẫn một phi tuần 4 chiếc trở lên, mà khó nhứt là phải có thể dẫn phi tuần bay trong mọi thời tiết, tất nhiên là phải có thẻ xanh (thẻ phi cụ màu lục/ carte verte).

    Về truy cản, Phi Đoàn I Khu Trục lúc ấy không có phương tiện huấn luyện tác xạ không/không (F8F không có trang bị máy nhắm với con quay hồi chuyển để bắn phi cơ (collimateur gyroscopique) và cũng không có máy gun camera để thu hình tác xạ không/không), nên không có ai có đủ khả năng để xác định khả năng không/không cho người khác được. Do đó chỉ có tập truy cản giữa các phi công có kiến thức căn bản về truy cản thu thập từ các trường bay khu trục bên Pháp mà thôi. Thường chúng tôi tổ chức thành ba phi tuần. Một phi tuần hai phi cơ làm oanh tạc cơ (plastron/foe/phe địch) bay theo một lộ trình nhất định: Thủ Dầu Một, Nhà Bè, Chứa Chan, ở cao độ 5,000 bộ. Một phi tuần bốn phi cơ làm hộ tống (escorte) cho oanh tạc cơ và đánh trả khi bị truy cản. Đó là nhiệm vụ phản không (counter air). Một phi tuần bốn phi cơ thực tập truy cản (intercepteur) bay lên vùng Trảng Bom, cao độ 7,000 bộ và chờ ở đó. Khi oanh tạc cơ báo cho biết rời một điểm nào đó để lấy hướng đến điểm kế tiếp, thì phi tuần truy cản cũng bấm đồng hồ lấy hướng đi truy cản. Cái khó ở đây vì không có radar hướng dẫn (lúc đó VNCH chưa có radar) nên chúng tôi phải lấy mắt nhìn. Bên nào thấy trước là có hy vọng thành công hơn, bên hộ tống cũng như bên truy cản. Người có cặp mắt nhìn xa nổi tiếng là anh Phạm Long Sửu. Một cuộc truy cản kết thúc bằng một cuộc không chiến (combat tournoyant/dogfight), ai thắng ai bại giữa anh em với nhau đều thấy rất rõ. Thành công của phe truy cản là làm sao đánh thủng đơn vị hộ tống mà tiến bắn được đoàn oanh tạc cơ, sử dụng passe de tir Cazaux. Còn hộ tống thành công là khi nào đánh đuổi được phe truy cản không cho vào phía sau của oanh tạc cơ.

    Tuy không mấy thực tế cho lắm, nhưng những sự dàn xếp đều cho ta có khái niệm phải làm gì, và làm thế nào thì đạt hiệu quả tốt. Sau này có radar, chúng tôi cũng đã có dịp phải đối diện với T-28 của Cao-Miên trên vùng Hạ Lào. Tuy không đến giai đoạn phải nổ súng vì địch né tránh, ra khỏi không phận của ta, nhưng mục đích hành quân cũng đã đạt được.

    Trên bản đồ truy cản có tỷ lệ 1/500,000, vẻ các đường thẳng nối liền 3 điểm xuất phát của oanh tạc cơ/plastron, Thủ Dầu Một (A) – Nhà Bè (B) – Chứa Chan (C). Các đường thẳng góc với 3 đường trên từ điểm chờ Trảng Bom (O) là hướng đi gần nhứt của phi tuần truy cản đến trục đi của plastron.

    Còn muốn có hướng đi gặp plastron sớm nhứt thì lấy khoảng cách đi 1 phút của plastron trên đoạn đường AB.

    AM = 180nm : 60 = 3nm (tốc độ bình phi ‘normal cruise’ là 180 kts) Từ tâm M, hình cung có bán kính MN = 260nm : 60 = 4⅓ nm (khoảng cách đi 1 phút của phi tuần truy cản với tốc độ 260 kts ở cơ chế chiến đấu ‘combat power’) cắt OA ở điểm N.

    Đường song song OI với MN là hướng đi của phi tuần truy cản để gặp plastron sớm nhứt trên đoạn đường Thủ Dầu Một – Nhà Bè .

    Về passe de tir Cazaux, thì khi bắt gặp plastron ở cách mình chừng 5 - 7km, chúng ta quẹo gắt vào hướng plastron, rồi đổi quặt ngược lại, giữ hơi cao hơn và nhắm vào phía trước mũi plastron như chận đầu họ, để rồi nhả cánh thăng bằng (0G’s) trên đà chúi xuống, nhắm vào ¾ phía sau plastron ở góc độ 15°(hướng 5 – 7giờ của plastron) chừng một giây, rồi lòn phía dưới plastron,


    qua phía bên kia và lấy cao độ để chuẩn bị cho vòng đánh kế tiếp. Xong rồi thì tập họp phi tuần và lấy hướng trở về điểm chờ Trảng Bom.

    Nếu plastron có 2 chiếc và truy cản có 4 chiếc, thì tách ra làm 2 elements, phi tuần thứ nhứt đánh plastron số 1, còn phi tuần thứ 2 đánh plastron số 2. Nhớ ra lệnh và nhận lệnh cho rõ ràng.

    Vẫn trong năm 1957, còn có một số sĩ quan hoa tiêu, xuất thân từ VBKQ Pháp Salon-de- Provence và tốt nghiệp Trường Khu trục Ecole de Chasse Christian Martell ở Mecknès, Maroc trên loại phản lực cơ T-33 T-Bird và Marcel Dassault MD450 Ouragan, về phi đoàn; đó là các anh:

    1. Trung Úy Nguyễn Thanh Tòng
    2. Trung Úy Phạm Long Sửu
    3. Trung Úy Vũ Thượng Văn
    4. Chuẩn Úy Nguyễn Đức Khánh
    5. Thiếu Úy Trần Duy Kỷ

    Đặc biệt, Tr/úy Sửu và Tòng xuất thân từ Khóa I Hoa tiêu Quân sự (1952) của Trung tâm Huấn luyện Không quân Nha Trang mà Tr/úy Sửu là vị Sĩ quan Khóa sinh tốt nghiệp Thủ khoa với Bằng Hoa tiêu Quân sự số 1 của KQVN, còn Tr/úy Văn xuất thân Khóa II HTQS (1953).

    Mấy sĩ quan có cấp bậc cao (gọi là sắp đụng plafond) bắt đầu rời đơn vị, trước tiên là Đ/úy Tính về Bộ Tư lệnh KQ trước năm 1957. Rồi vào 1958 thì Th/tá Hiền về làm Tham mưu trưởng KQ, bàn giao quyền chỉ huy phi đoàn và căn cứ lại cho Đ/úy Hà Xuân Vịnh. Đ/úy Nguyễn Kim Khánh ra làm Giám đốc Huấn luyện ở TTHLKQ Nha Trang. Vào năm 1959 thì Đ/úy Dương Thiệu Hùng cũng ra Nha Trang làm Trưởng Trường Phi hành.

    Rồi thì trong năm 1958, các Tr/úy Tô Minh ChánhPhan Thiện Tâm từ đơn vị vận tải và Ch/úy Nguyễn Văn Long từ đơn vị quan sát, chuyển về phi đoàn và được thả bay (checked out) trên F8F. Được biết là Tr/úy Chánh đã xuất thân từ SVSQ Khóa 55-57 VBKQ Pháp Salon-de- Provence. Trong lúc này Tr/úy Tri ra Nha Trang phụ giúp dạy Địa huấn cho Khóa Trần Duy Kỷ. Khóa 58A Trần Duy Kỷ mãn khóa phi công L-19A vào cuối năm 1959, về phi đoàn có 6 người:

    1. Ch/úy Chế Văn Nghĩa, thủ khoa
    2. Ch/úy Lê Xuân Lan, xuất sắc về phi huấn
    3. Ch/úy Đặng Thành Danh, xuất sắc về địa huấn
    4. Ch/úy Lê Bá Định
    5. Ch/úy Đinh Văn Chương
    6. Ch/úy Hà Ngọc Hạnh

    Trong năm 1959 này, Đ/úy Vịnh về BTLKQ và bàn giao phi đoàn lại cho:

    - Đ/úy Lưu Văn Đức Chỉ huy trưởng
    - Đ/úy Phạm Long Sửu Chỉ huy phó
    - Tr/úy Nguyễn Quang Tri Trưởng phòng hành quân
    - Cố vấn Mỹ: Maj. Kline?

    Trong thời gian này, phần nhiều tai nạn không phải do chiến tranh gây ra, mà vì con ngựa bất kham Bearcat. Phi công kinh nghiệm còn ít, về kỹ thuật cũng như về chiến thuật, nên số người ra đi vì tai nạn quá cao, có thể nói lên đến 10% hằng năm. Tổng số chúng tôi chưa đến 30 người mà cứ năm lẻ là mất 1 hoặc 3 người, còn năm chẳn là 2 hoặc 4 người.


    (Xem tiếp phần II - Phi Đoàn I Khu Trục)

  10. The Following 10 Users Say Thank You to khongquan2 For This Useful Post:

    daminh95 (03-12-2014), Ga Ru (02-24-2014), hieunguyen11 (02-24-2014), hoang yen (02-22-2017), kqcantho (02-26-2014), Nguyen Huu Thien (12-01-2015), SVSQKQ (03-03-2014), thanhcanh (03-03-2014), Tinh Hoai Huong (03-24-2015), Tn07 (03-16-2014)

Trang 1/3 123 cuốicuối

Similar Threads

  1. Phượng Hoàng Đen
    By Tn07 in forum Quân Sử Không Quân
    Trả lời: 1
    Bài mới nhất : 02-15-2014, 07:25 PM
  2. Phi Đoàn I Khu Trục - Phượng Hoàng Kim Cương
    By Ga Ru in forum Diễn Đàn Bạn Đọc
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 02-13-2014, 01:26 AM
  3. Phi đoàn 514 phượng hoàng (1956-1963)
    By Tn07 in forum Quân Sử Không Quân
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 01-09-2013, 08:30 PM
  4. Phi Đoàn II Khu Trục
    By chimtroi in forum Quân Sử Không Quân
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 01-03-2013, 03:41 AM

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter