Trang 55/56 đầuđầu ... 54553545556 cuốicuối
kết quả từ 325 tới 330 trên 334

Tựa Đề: Bạch Mã

  1. #325
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,245
    Thanks: 8,159
    Thanked 5,448 Times in 1,219 Posts

    Button Xanh Mối Tình 30/4/75...

    Mối Tình 30/4/75 Giữa Chàng Tây Đức Thân Cộng
    và Nàng Xướng Ngôn Viên Đài Truyền Hình VNCH.



    Hình minh họa

    Chàng là một người cộng sản Tây Đức (CHLB Đức) và là một nhà quay phim trẻ, tên là Stephan Köster, 27 tuổi. Anh là thành viên của nhóm sinh viên cộng sản tại thành phố Cologne (Köln) thành lập ra “Ủy ban khởi xướng tăng cường ngành điện ảnh cách mạng Việt Nam” (Initiativkomitee für die Stärkung des revolutionären vietnamesischen Filmwesens), viết tắt là IK.

    Nhờ thông thạo 6 ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Pháp, và từng có kinh nghiệm tiếp xúc với du kích Nam Mỹ khi sống ở Bolivia, nên Stephan Köster được IK cử sang Sài Gòn.

    Stephan Köster kể lại: “Vào khoảng đầu tháng 4/1975, các đồng chí của IK từ Hà Nội trở về đã gặp tôi hỏi, liệu tôi có nhận nhiệm vụ đó không?

    Tôi đồng ý ngay, thế là ngày 26/4/1975 tôi nói dối bố mẹ là đi Tây-Ban-Nha, rồi đáp máy bay đi Bangkok. Tại đây, tôi hầu như là hành khách duy nhất, chẳng còn ai muốn bay về thành phố Sài Gòn đang bị bộ đội Bắc Việt và du kích miền Nam bao vây.

    Tôi đến miền Nam Việt Nam với nhiệm vụ bí mật là quay phim cho đài truyền hình Bắc Việt cuộc rút lui của quân đội Mỹ khỏi thành phố Sài Gòn đang bị bao vây và được chứng kiến cuộc chiến. Không có nhà quay phim Bắc Việt nào có thể thực hiện một kế hoạch như vậy, họ sẽ bị bắt và bị tra tấn cho đến chết. Để không bị nghi ngờ, tôi đã ngụy trang như một nhà báo Tây Đức và không mang bất cứ một thứ gì có thể lộ ra rằng tôi là người của Việt Cộng”.

    Nàng là Đào Thị Ngọc Xuân, xướng ngôn viên của đài truyền hình Việt Nam Cộng Hòa tại Sài Gòn. Bố mẹ Xuân là chủ một hãng bào chế thuốc Tây tại Sài Gòn. Stephan Köster đã mô tả Xuân bằng ngôn ngữ sặc mùi cộng sản:

    “Xuân, nàng là người phía bên kia, làm xướng ngôn viên cho đài truyền hình phản động ở Sài Gòn, hình như có lần nàng khiêu vũ với Tướng Westmoreland của Hoa Kỳ.

    Bố mẹ nàng đã đi di tản bằng trực thăng bay ra tàu sân bay Mỹ, và nghĩ rằng nàng sẽ cùng tôi xuất cảnh. Bà vú nuôi của Xuân kể như vậy qua điện thoại.

    Dĩ nhiên nàng không hề biết tôi làm việc cho Mặt trận Giải phóng. Xuân hỏi:

    – Anh làm việc cho ai?

    Tôi nói dối:

    – Cho truyền hình Tây Đức.

    – Em hãy giúp anh!

    Và tôi quyết tâm sẽ ở lại với nàng nơi đây”.

    Ngày 28/4/1975 – Tiếng sét ái tình!

    Ngày 28/4/1975 là ngày định mệnh, lần đầu tiên chàng cộng sản Tây Đức và nàng xướng ngôn viên đài truyền hình VNCH tình cờ gặp nhau tại một tiệm chụp ảnh trong thương xá TAX trên đường Nguyễn Huệ. Chàng Stephan Köster cần chụp ảnh vì khách sạn Caravelle, nơi chàng trú ngụ, đề nghị người nước ngoài phải nộp ảnh để làm giấy tạm trú theo lệnh thiết quân luật. Còn Xuân cần có ảnh để làm thủ tục xin xuất cảnh.

    Tại tiệm chụp ảnh, Stephan Köster bị thôi miên bởi ánh mắt của một cô gái Việt đang nhìn mình. Xuân có cảm tình ngay với chàng trai Đức đang nói chuyện với chủ tiệm bằng giọng Pháp rất êm. Tiếng sét ái tình!

    Stephan Köster kể lại: “Câu chuyện của tôi với Việt Nam và câu chuyện một cô gái Việt với tôi bắt đầu bắt đầu trong một tiệm chụp ảnh.

    Nàng cần một tấm ảnh để xuất cảnh, còn tôi cần một tấm ảnh để ở lại đây. Nàng có một chiếc xe con cóc VW (xe ô tô Volkswagen của Tây Đức) màu trắng và có thời gian rảnh rỗi. Nàng thích giúp tôi quay phim và đồng ý để tôi tự lái xe”.

    Tối hôm đó (28/4/1975) số ít ỏi phóng viên nước ngoài còn ở khách sạn Caravelle quyết định chuyển sang khách sạn Continental, nơi có đông người phương Tây hơn, để có thể bảo vệ lẫn nhau. Stephan Köster vẫn còn nhớ như in vào đầu đêm khuya hôm đó:

    “Ngày 28 tháng Tư 1975. Khuya. Tôi đã ở Việt Nam được hai ngày. Vài tiếng súng lác đác ở những con đường Sài Gòn không đèn. Dẫu là lệnh giới nghiêm 24 tiếng đồng hồ. Chúng tôi nằm trong phòng tắm không có cửa sổ để tránh đạn lạc và những mảnh nổ sắc nhọn. Xuân ngồi dậy và dựa lưng vào bồn tắm. Khuôn mặt nàng sưng húp do khóc, không son phấn trông thật lạ. Nàng nói:

    – Tụi Mỹ bỏ rơi chúng ta.

    Tôi nghĩ nhưng không nói ra:

    – Bọn chuột đang tháo chạy khỏi chiếc tàu sắp chìm.

    Ở cửa phòng tắm tôi đã chuẩn bị sẵn trang bị thoát hiểm. Máy quay phim của tôi, đôi giầy bốt chắc chắn và một gói băng cứu thương. Và cả đôi giày cao gót nhỏ nhắn, cao 10 cm của Xuân. Khi ngủ thiếp đi, tôi thấy những vẻ mặt không tán thành của các đồng chí của tôi ở Tây Đức”.


    Hình minh họa

    Ngày 29/4/1975 cả thành phố Sài Gòn thức dậy trong căng thẳng và sợ hãi, những ngày cuối cùng của cuộc chiến ba mươi năm, những ngày đầu tiên của một cuộc cách mạng. “Ngày 30/04/1975 tôi chạy xuống đường kịp lúc việt cộng đang chiếm tòa nhà Hạ Nghị Viện VNCH và hạ lá cờ vàng sọc đỏ. Các lực lượng vũ trang Việt Nam Cộng Hòa đã buông súng. Tôi mới ở đây ba ngày rưỡi và cuộc chiến tranh Việt Nam 30 năm đã chấm dứt.

    Khi đó tôi cũng quay phim Xuân thật ngắn chỉ 4 giây. Nàng là con gái của gia đình tư sản giầu có và bảo thủ phải đối mặt với chính quyền mới như thế nào?

    Nàng quay sang tôi. Gương mặt cực kỳ hốt hoảng”, Stephan Köster kể.

    Quay bộ phim “Giải phóng Sài Gòn”.

    Từ cửa sổ khách sạn Caravelle, nơi trú ngụ đầu tiên khi đến Sài Gòn, Stephan Köster đã quay cảnh đầu tiên cho bộ phim tài liệu về trận đánh Sài Gòn tháng 4/1975.

    Trong hai tháng ở Sài Gòn, anh ta đã phải cưỡng lại sự thất vọng ê chề về cái-gọi-là cuộc cách mạng của bọn MTGPMN và mối hoài nghi mới nẩy sinh, để quay bộ phim tuyên truyền “Giải phóng Sài Gòn” cho đài truyền hình Bắc Việt. Một phim tường thuật ngây ngô và ngớ ngẩn về cái thắng lợi may mắn của những kẻ xâm lược từ phương bắc, hoàn toàn không đúng với tình hình lịch sử và cũng không đúng với trải nghiệm riêng tư mà anh đã từ từ nhận thấy: “Giờ đây Việt Nam bị chia cắt, không phải về địa lý nữa, mà về tâm hồn và có lẽ sẽ không bao giờ có chuyện hòa hợp giữa hai miền”.

    Xuân đã phụ giúp anh ta quay bộ phim này. Có lần, trong một bữa ăn sáng, Xuân nói với Stephan Köster:

    – Em nghĩ rằng anh là một người cộng sản – cộng sản chính cống.

    Anh ta trả lời:

    – Đúng vậy, nhưng chỉ khi nào cách mạng Việt Nam hoàn toàn thành công.

    Các đồng chí nôn nóng của Stephan Köster ở Tây Đức cũng trông chờ bài “tường thuật về thắng lợi” của anh ta. Họ đánh điện tín nói anh ta phải về ngay, họ đang cần tư liệu.

    Sau khi từ Sài Gòn trở về Tây Đức vào đầu tháng 7 năm 1975, bộ phim tuyên truyền của Stephan Köster đã được hoàn thành đúng hạn.

    Một bản gửi về Hà Nội, một bản giữ ở Đức. Ngày nay, xem lại phim này, anh ta có cảm giác như đang bị bịt mắt. Stephan Köstler cho biết một trong những nguyên do tại sao hồi đó sau ngày 30/4/1975 anh ta thất vọng não nề:

    “Không chỉ bởi vì chủ nghĩa xã hội ở Đông Dương đã không giữ đúng những gì mà chúng ta mong đợi, nên ngày nay tôi cảm thấy nhạt nhẽo vô vị khi nghĩ về công việc tuyên truyền của mình. Có phải đó là sự ảo tưởng chính trị của chúng ta? Người đàn ông với máy quay phim là ai? Điều gì đã xảy ra trong đầu anh ấy và trong tâm trí của những đồng chí của anh ấy? Về những câu hỏi này sẽ không bao giờ có một câu trả lời nhanh chóng. Chỉ nói cho tôi thôi: Tôi quan tâm đến sự ngây ngô của tôi, sự cống hiến của tôi, sự ngạo mạn của tôi và tính cơ hội của tôi. Tôi cảm thấy bất an khi tôi phải làm công việc tuyên truyền.

    Những tên cán bộ này bỗng từ đâu kéo vào miền Nam VN nhỉ? Đó không phải là những việt cộng mà tôi vẫn yêu. Sự ngạo mạn của chúng sẽ làm hỏng cuộc cách mạng. Trong khi các bậc tiền bối không đeo quân hàm, thì con cháu của chúng phải lớn lên trong các bộ đồng phục với khăn quàng đỏ và đứng nghiêm khi hát. Vậy mà tôi vẫn quay cảnh đó và quyết dùng nó làm cảnh kết thúc hùng tráng cho cuốn phim “Giải phóng Sài Gòn” tường thuật về thắng lợi của cuộc cách mạng. Một nước Việt Nam mới, trẻ trung. HẾT PHIM”. Sài Gòn trong tôi/ netfile21.

    Trở về lại Tây Đức – Chia ly

    Stephan Köster và Xuân đã cố gắng làm thủ tục giấy tờ kết hôn tại Sài Gòn, nhưng không được. Xuân thất vọng nói:

    – Họ sẽ không cho em theo anh về Đức, đó đúng là kiểu cộng sản mà.

    Anh ta đáp lại:

    – Họ còn bận nhiều việc khác hơn việc cưới xin cho người khác. Ngay sau cách mạng làm gì có người bình thường nào lại đòi cưới.

    Stephan Köster còn nhớ lại không khí nặng nề trong thời gian cuối khi sắp rời khỏi Việt Nam:

    “Việc tôi phải trở về Đức làm cho mọi thứ trở nên vô nghĩa, partir c’est mourir, ra đi là chết trong lòng. Sự bất lực của mọi cử chỉ của tôi, của mọi cố gắng giải thích của tôi. Sự thù nghịch trong lòng tin của nàng. Đôi mắt nàng cảm thấy tôi sẽ phụ bạc nàng.

    Tôi rời Sài Gòn và Xuân sau hơn 2 tháng ở đó, vào ngày 01/07/1975. Sài Gòn – Vientiane – Bangkok – London”.

    Các đồng chí cộng sản ở Tây Đức

    Stephan Köster cảm thấy đầu óc trống rỗng khi nghĩ đến việc gặp lại các đồng chí của mình ở Tây Đức. Công việc chung mà đã gắn bó chúng tôi là cái gì nhỉ? Cái tổng thể bao trùm? Cái tổng thể bao trùm tất cả là sự lạnh lẽo của vũ trụ. Ngồi trên máy bay từ Sài Gòn về Đức, trên trời cao, anh ta nghĩ như vậy.

    Tổ chức IK ở Colonge (Köln – Tây Đức), tức là “Ủy ban khởi xướng tăng cường nghành điện ảnh cách mạng Việt Nam”, được đảng cộng sản Tây Đức KDP thành lập từ mùa hè năm 1972, đã tổ chức nhiều cuộc quyên góp nhằm trang bị cho cách mạng Việt Nam những thiết bị như máy quay phim truyền hình v.v. Khoảng Tết ta đầu năm 1975 tổ chức IK đã tặng cho đài truyền hình Hà Nội 3 chiếc xe truyền hình lưu động. Sau đó Stephan Köster được IK cử sang Sài Gòn quay phim “Tường thuật về thắng lợi” như đã nêu trên.


    Hình minh họa

    “Khi trở lại Tây Đức, tôi bỗng thất đảm: Một kẻ nào đó đã mạo danh tôi viết các bài tường thuật. Trong thời gian tôi đang ở nơi xa xôi tại Sài Gòn, các đồng chí thiếu kiên nhẫn của tôi ở Cologne Tây Đức đã nghĩ ra các bài tường thuật nhân chứng giàu trí tượng tưởng. Họ đem ra đọc như những lá thư của tôi trong các buổi tổ chức lớn mà có cả bố mẹ tôi tham dự và sau đó họ còn đem đăng báo dưới tên của tôi.

    Để không trừng phạt họ vì sự dối trá này và không làm hại cho tổ chức, tôi không dám kể câu chuyện rối rắm của mình ở Việt Nam nữa, cũng như những mâu thuẫn do sứ mạng của tôi mang tới cho tôi”, Stephan Köster cho biết nguyên do tại sao anh ta “lui về ở ẩn” không còn tích cực hoạt động cho cộng sản nữa.

    Các "đồng chí" của anh ta ở cái-gọi-là Ủy ban đoàn kết Việt Nam đăng trên báo một bức ảnh hồi thời anh còn hoạt động chung với nhau; nhưng chúng lại đểu cáng xóa hình anh đứng ở ngoài cùng phía bên trái.

    Rồi mấy tên "đồng chí" của anh cũng cho đăng trên báo bức ảnh về một cuộc hành quyết dã man của Khmer đỏ, kèm theo lời bình xảo trá và trơ trẽn: "Ảnh giả đểu cáng". Mặc dù cả thế giới đều biết rõ tội ác diệt chủng của bọn Polpot là có thật.

    Với tâm trạng chán chường và thất vọng về lý tưởng mà đã theo đuổi bao năm nay, Stephan Köster băn khoăn tự vấn: “Tôi đã làm việc gì đó vì những lý do chính đáng, nhưng như thế nào đó rốt cuộc kết quả lại sai, tuy nhiên vẫn tốt hơn là chẳng làm gì cả. Nghiền ngẫm vấn đề này sẽ nẩy sinh ra hàng nghìn câu hỏi mới. Bởi vì chúng ta đã hình dung mọi việc quá đơn giản: Cái thiện sẽ chiến thắng cái ác”. Sài Gòn trong tôi/ netfile21.

    Phụ bạc – Phản bội

    Sau khi trở về Tây Đức từ Sài Gòn, Stephan Köster vẫn giữ chặt lấy Xuân, anh ta muốn đón nàng sang châu Âu, đến tháp Eiffel. Anh ta muốn giữ lời hứa. Anh ta đã đến Đại sứ quán Việt Nam ở Đông Berlin xin kết hôn với nàng. “Đồng chí phải kiên nhẫn chờ 1 năm”, tay bí thư đại sứ quán cs nói và ghi chép tất cả.

    “Tôi chẳng tin chút nào, mọi việc trở nên vô nghĩa. Nhưng tôi không buông tay. Những bức điện tín của tôi gửi đi Sài Gòn đầu tiên là thề thốt yêu đương, tôi khuyên nàng kiên nhẫn. Nàng không tin tôi, nhưng nàng không bỏ cuộc. Nhưng những bức điện tín sau này, lúc đầu là khuyên can và kết thúc bằng sự phản bội. Tôi yêu một người khác”, Stephan Köster thú nhận.

    Stephan Köster nghĩ rằng Xuân sẽ không bao giờ được cho rời khỏi Việt Nam, và như thế sẽ tốt hơn cho cô ấy. Khi còn ở Sài Gòn, Xuân kể, lúc còn nhỏ nàng đã từng sang Paris và nàng là hậu duệ của vị vua cuối cùng Bảo Đại và muốn tìm hiểu thế giới, thì anh ta bảo nàng là một người mơ mộng và tốt hơn là nàng nên theo cách mạng và tham gia xây dựng xã hội chủ nghĩa.

    Với một bức điện tín có dụng ý xấu xa là cắt đứt liên lạc với Xuân, Stephan Köster viết: “Từ trong tim, anh tôn trọng quyết định của em ở lại phụng sự tổ quốc. Anh ôm em”.

    Ngày 28/4/1976 Xuân được cấp visa xuất cảnh sang Pháp

    Trái với lời tiên tri trên của Stephan Köster, sau một năm Xuân bất ngờ được phép xuất cảnh. Khoảng tháng 5 năm 1976, tình cờ anh ta biết tin Xuân đã sang Paris. Điều đáng ngạc nhiên, Xuân ra phi trường Tân Sơn Nhất lên máy bay rời khỏi Việt Nam vào ngày 28/4/1976, đúng 1 năm sau ngày Xuân và Stephan Köster lần đầu tiên gặp nhau ở Sài gòn (28/4/1975). Sài Gòn trong tôi/ netfile21.

    Nhưng việc Xuân được phép xuất cảnh không phải là do đại sứ quán Việt Nam cs ở Đức giữ lời hứa, vì Xuân được xuất cảnh sang Pháp chứ không phải sang Đức. Đại sứ quán Việt Nam tại Đức không có chút quyền hành hoặc thẩm quyền gì liên quan đến việc Xuân được phép rời Việt Nam để định cư ở nước Pháp.

    Ngày 28/4/1981 tái ngộ sau 7 năm xa cách

    Mặc dù biết tin Xuân xuất cảnh sang Paris hồi tháng 5 năm 1976 nhưng mãi đến 6 năm sau hai người mới gặp lại nhau. Stephan Köstler tự bạch:

    “Ngày 28/4/1982 Việt Nam xa vợi bên kia thế giới, tôi sang Paris thăm Xuân. Nàng kể với tôi qua điện thoại rằng nàng đã trở thành một nữ doanh nhân thành đạt. Tôi chẳng tin chút nào. Hồi đó nàng chẳng phải là đã luôn sống trong một thế giới mộng mơ?


    Hình minh họa

    Đến Paris. Quả thật, Xuân có một cửa hàng quần áo mode. Trước ống kính, tôi và nàng đã có cuộc trò chuyện nghiêm túc đầu tiên từ bảy năm qua. Chúng tôi rất vui mừng gặp lại nhau. Và Xuân muốn được xem cuốn phim hai chúng tôi làm hồi đó. Trên màn hình chiếu phim tuyên truyền “Giải phóng Sài Gòn”, Xuân trông thật xinh đẹp trong cơn giận dữ của nàng. Xuân thấy bộ phim đó cũng chẳng hay ho gì. Sài Gòn trong tôi/ netfile21.

    Xuân đọc cho tôi nghe một đoạn bằng tiếng Việt về cảm tưởng của nàng khi được xuất cảnh rời khỏi Việt Nam. Tôi nói:

    – Anh chẳng hiểu một từ nào hết!

    Nàng đáp:

    – Hồi đó ở Sài Gòn anh cũng quay phim mà có "hiểu" chút gì đâu!

    Đây là lần đầu tiên nàng chỉ trích tôi.

    Tôi hỏi:

    – Hồi đó ở Sài Gòn em có thực sự yêu tôi, hay em chỉ muốn kết hôn với tôi để được giấy phép xuất cảnh?

    Nàng trả lời một cách nghiêm túc:

    – Đó sẽ luôn là bí mật của em.”

    Trường hợp Stephan Köster không phải là trường hợp đơn lẽ, mà là một trường hợp điển hình cho cả những kẻ theo phong trào phản chiến tại CHLB Đức, đươc gọi là “phong trào 68”.

    Sau ngày 30/4/75 tương tự như Stephan Köster, hầu hết những kẻ phản chiến tại Tây Đức lúc đó đều đã vỡ mộng, tỉnh ngộ, chán chường, thất vọng về cái-gọi-là cuộc cách mạng Việt Nam sau khi nhận ra sự thật chỉ là một sự xâm lăng ăn cướp miền Nam của bọn cộng sản miền bắc, thực chất là bọn tay sai đánh thuê cho khối cộng sản quốc tế Tàu - Nga.

    Kể từ đó họ giữ một khoảng cách đối với Việt Nam như Stephan Köster: “Sự cúi mình của tôi trước người Việt Nam đã không phải là một sự xích lại gần …Tôi hy vọng có thể nhìn lại Việt Nam, từ trên máy bay, tít trên cao, từ một khoảng cách xa”.


    - Sài Gòn trong tôi/ netfile21/st
    - Hiếu Bá Linh compiled
    - Bài viết của Stephan Köster: https://www.arsenal-berlin.de/…/down...gsbericht.html
    - “30.4.75- nhìn từ một góc khác” của Tho Nguyen


    https://www.facebook.com/photo.php?f...&theater&ifg=1

  2. The Following 5 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    hoang yen (03-23-2020), khongquan2 (03-10-2020), Phạm Văn Bản (04-27-2020), Tinh Hoai Huong (03-10-2020), ttmd (04-03-2020)

  3. #326
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,245
    Thanks: 8,159
    Thanked 5,448 Times in 1,219 Posts

    Button Xanh 12 Tháng Anh Đi

    12 Tháng Anh Đi
    MX Giang Văn Nhân


    Hình minh họa

    Đoàn xe quân vận nối đuôi nhau trên quốc lộ 4, bỏ lại sau lưng thị xã Cà Mau với những tà áo dài trắng thướt tha vào lúc tan trường. Trên xe vài anh lính quân phục màu sóng biển dùng hai ngón tay đưa vào miệng làm còi trêu đùa, các cô gái miền Nam hồn nhiên nở nụ cười, cùng giơ tay vẫy chào. Trung tuần tháng 5 năm 1970, Tiểu Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến tăng phái cho quân Kiến Văn, hoạt động bảo vệ Liên Tỉnh Lộ 30 từ ngã ba Giáo Đức đi về Cao Lãnh. Cả bốn đại đội hàng ngày lưu động, lục soát rộng trong vùng trách nhiệm với nhiều mìn bẫy.

    Tuần lễ sau thì được lệnh di chuyển về Cần Thơ, rồi Chương Thiện, tại đây cả tiểu đoàn được trực thăng vận xuống quận Cái Nước tỉnh Cà Mau. Tiểu đoàn chạm địch, Tiểu Đoàn Phó điều động hai đại đội tiếp ứng cho đơn vị bạn, tảo thanh truy lùng thành phần thuộc đơn vị chủ lực miền thì được lệnh tìm bãi đáp và trực thăng bốc toàn bộ về phi trường Quản Long. Tại đây các sĩ quan nhận bản đồ và lộ trình phải di chuyển gấp đến Châu Đốc. Đoàn xe qua thị xã Bạc Liêu khi thành phố đã lên đèn.

    Đến Sóc Trăng, rồi ngã bảy Phụng Hiệp, gió đồng nội mát lạnh, sự mệt nhọc làm các anh ngủ gật gù trên xe. Trên khoảng đường từ Cầu Trắng qua Ngã Ba Cái Tắc, khu vực nhà máy xay lúa gần kinh So Đũa, mọi người được đánh thức, tỉnh táo, trong tư thế sẵn sàng tác chiến vì đây là khu vực cần phải cẩn thận. Ban đêm sự hoạt động cũng như tầm quan sát của các đơn vị bạn bị hạn chế, không có phi cơ bao vùng, chỉ khi nào lâm trận thì sẽ có Hỏa Long tiếp ứng. Tới Cần Thơ theo Liên Tỉnh Lộ 27 qua Ô Môn (Phong Phú) , Thốt Nốt rồi vào Long Xuyên. Đoàn xe tẽ qua Liên Tỉnh Lộ 10 rồi thẳng đường đến Châu Đốc vào lúc 8 giờ sáng. Đường lộ trên thế đất đắp cao, nhà sàn dọc hai bên, đất trũng thấp. Mùa khô, bên dưới là chuồng gia súc, vào mùa nước nổi từ Biển Hồ Cao Miên đổ xuống, nước sẽ ngập lấp xấp. Một tấm ván vững chắc bắc làm cầu từ mé đường vào nhà.

    Hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc có cuộc sống an bình, không một ai theo Cộng Sản có thể được tồn tại trong vùng đất của đạo Hòa Hảo. Mọi người được một ngày rảnh rổi, giũ sạch bụi đường bên bờ sông Hậu Giang. Sông Mékong mang đất phù sa màu mỡ từ thượng nguồn Tây Tạng, xuyên qua Trung Quốc, Lào, Cam Bốt rồi vào Việt Nam. Mùa này người dân dùng cái vợt to (nhà nào cũng có) bằng kim loại để cào ốc gạo lẫn lộn trong cát dưới lòng sông. Đặc biệt là tháng này cá rô phi tập trung về Biển Hồ đẻ trứng, cá con mới nở theo dòng nước trôi về Châu Đốc.

    Sau khi giỡ đáy, cá được chứa trong thùng và đem về nhà. Cá được san qua những chậu nước to, người dân dùng vợt vải, lựa cá rô phi để riêng ra rồi bán cho mối lái. Cá Rô Phi được bán cho các tỉnh khác của miền Nam và giá cả tùy theo kích thước của nó. Nếu cá con không được vớt bắt ở đây, thì sẽ trở thành nguồn thực phẩm cho các loài cá khác trong đồng bằng. Ở tạm trên căn nhà sàn, Thảo được chủ nhà cho biết là lễ Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam vào mấy ngày hôm trước. Hàng năm cứ đến khoảng thời gian từ ngày 23 đến 27 Tháng Tư âm lịch là dân chúng tứ xứ đổ xô về Châu Đốc, đoạn đường dài năm cây số từ thị xã đến núi Sam chật cứng người và xe cộ đủ loại. Tương truyền Bà rất linh thiêng, những bạn hàng thường đến xin lộc, khi thành công họ trở lại cảm tạ thật hậu hỷ. Lễ Vía chính thức vào nửa đêm 25 rạng 26 âm lịch và lễ hội kết thúc vào chiều ngày 27. Tuy vậy thị xã Châu Đốc vẫn còn nhộn nhịp khách thập phương.

    Thảo cùng một số anh em đến xem cho biết, mở rộng kiến thức, dù muộn màng nhưng đây là dịp may hiếm hoi, trùng hợp với sự hiện diện của đơn vị tổng trừ bị TQLC . Dọc theo bờ sông có bến đò mà bên kia bờ là xã Châu Giang. Sống ở thành phố nhất là Sàigòn thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa, ít nhất ai cũng một lần trông thấy những người có nước da ngâm ngâm đen, đến từng nhà rao bán vải lụa “Satin”. Loại vải này bóng láng ở mặt trên và thô mờ mặt dưới,đặc biệt là “Lãnh Mỹ A” một loại satin được nhuộm từ vỏ cây mặc nưa trồng tại Tân Châu. Những người bán thường kéo căng vải ra thật mạnh, cho thấy độ bền chắc đôi khi co dãn do đặc tính của loại tơ tầm. Họ bằng lòng bán chịu, có nghĩa là họ sẽ trở lại nhận tiền vài tháng sau. Người dân thường cho rằng họ có tài ăn nói do “Ngải”, và bùa “Thư” nếu ai đó mua và quịt tiền không trả.

    Với suy nghĩ đó, sau khi đồng ý giá cả, người mua trả tiền ngay. Hầu hết không ai muốn mắc nợ, nhất là dính líu đến người Chà Châu Giang xa lạ, tiềm ẩn nhiều nét thần bí. Đối diện với nhà lồng chợ lúc chập tối, một quán nhỏ có nhiều thực khách vây quanh, đến gần mới biết những người này đang chờ đợi ổ bánh mì nướng dòn thơm phức nhét đầy thịt jambon từ tay hai cô gái trắng trẻo và trẻ đẹp.

    Có lẽ biết chúng tôi lần đầu tiên đến đây, hai cô nở nụ cười: - Mời các anh bánh mì đặc biệt ở đây. Lúc trao bánh, hai cô còn dặn dò: - Nếu có dịp, xin mời các anh ghé lại. Thảo và mấy anh em thưởng thức bánh mì, nhìn bảng hiệu Luyến Lưu, nhớ lại lời nói của hai cô gái mỹ miều, mà thầm hiểu ý nghĩa của tên quán. Ngày mai chúng mình lên đường qua Cam Bốt và biết bao giờ có dịp trở lại để được thưởng thức hương vị bánh mì thịt nguội này nữa. Người lính tổng trừ bị miệt mài nơi chiến trận, bước chân in dấu trên bốn vùng chiến thuật, đã chọn màu áo sóng biển, đội mũ beret xanh là chấp nhận tất cả. Có những mộng mơ mà đường hành quân đơm hoa kết trái, ngược lại có những mối tình tàn phai theo năm tháng đợi chờ.

    Thảo nhớ đã có dịp đọc được trong tạp chí Khởi Hành bài thơ “Tường Trình Cho Em” của anh Phạm Văn Bình. Lời thơ đã diễn tả đúng tâm trạng và thể hiện hình ảnh cuộc sống của người lính TQLC. Hành trang chỉ vỏn vẹn cái ba lô, lúc trên rừng núi cao, khi thì vùng sình lầy nước đọng, khắp mọi nơi đâu cũng là nhà, lẽ sống là đem sự an bình cho người dân, tâm hồn vương vấn theo vạn nẻo đường. Năm 1959, Tổng Thống Ngô Đình Diệm cắt băng khánh thành đường xe lửa Sàigòn thông suốt tới Đông Hà, sau bao năm bị VC phá hoại. Hướng Tây QL1 là đồi nhấp nhô nối liền với dãy Trường Sơn, đất khô cằn sỏi đá. Hướng Đông là cồn cát xen lẫn cánh đồng lúa trải rộng ra biển. Chính nơi đây anh Phạm Văn Bình đã mở mắt chào đời. Tuy hoàn cảnh khắc nghiệt, cuộc sống lam lũ nhưng tuổi thơ được đến trường, vì đó chính là niềm vui và mong ước của cha mẹ.

    Thời gian đó Đông Hà là một thị trấn nhỏ, nên sau khi xong Tiểu Học phải vào học tiếp ở Quảng Trị. Hoàn cảnh gia đình không có đủ tài chánh cho việc ở trọ, mỗi ngày anh Bình phải đạp xe vô Quảng Trị cách nhau trên 15 cây số, và buổi chiều thì ngược lại.

    Thật khó khăn với cơn gió Lào nóng rát khi mùa Hè đến, lúc sang Đông mưa rỉ rả không dứt hột, dai dẳng ngày này qua ngày khác, mưa phùn gió bấc, lạnh buốt từ trong cơ thể. Thức dậy thật sớm từ 5 giờ sáng, một giờ sau rời nhà mang theo mo cơm có cá khô và vài con tép do mẹ bới, hôm nào bán ế, mẹ cho cơm và gói muối mè nhỏ. Thương con Mẹ buôn bán tảo tần, dành dụm cho tương lai con trẻ, đến lớp đệ tam anh được Mẹ cho trọ học ở Quảng Trị, trường trung học Nguyễn Hoàng, sau đó trường Quốc Học và Đại Học Văn Khoa Huế. Cộng Sản phá tan cảnh thanh bình, mở rộng chiến tranh, bành trướng Chủ Nghĩa Cộng Sản, bao nhiêu nhân lực cùng vũ khí ồ ạt đưa vào Nam, gieo đau thương tang tóc.

    Cuối năm 1966, anh lên đường, rời xa hơn nữa nơi chôn nhau cắt rún, từ giã Mẹ hiền, gia nhập khóa 24 Trường Bộ Binh Thủ Đức. Chín tháng mồ hôi hòa lẫn đất cát ở thao trường, bầu nhiệt huyết được nung sôi muốn vỡ tràn dưới nắng Hè đồi Tăng Nhơn Phú, anh chững chạc bước hiên ngang theo nhịp quân hành trong Thủy Quân Lục ChiếN VN buổi lễ tốt nghiệp vào tháng 9 năm 1967.

    Anh được bổ sung về binh chủng TQLC, phục vụ ở Phòng Tâm Lý Chiến, phụ trách thông tin và báo chí. Bên cạnh có anh Hoàng Đại Long (Khóa 23 đàn anh), hàng ngày theo dõi tình hình chiến sự của các đơn vị hành quân để phổ biến cho các hảng thông tấn, đặc biệt phụ trách chương trình phát thanh mỗi tuần của Sư Đoàn TQLC trên Đài Phát Thanh Quân Đội với thời lượng ba mươi phút.

    Anh còn viết bài phóng sự về các đơn vị, phỏng vấn các chiến sĩ xuất sắc được đơn vị đề cử. Anh cũng là thư ký tòa soạn cho Đặc San Sóng Thần mà Tư Lệnh Sư Đoàn là Chủ Nhiệm, Trưởng Khối Chiến Tranh Chánh Trị là Chủ Bút. Thỉnh thoảng anh được đề cử tháp tùng theo các cuộc hành quân, làm phóng viên chiến trường tại các mặt trận nóng bỏng như Tết Mậu Thân ở Huế, cuộc hành quân ở Cà Mau gần cuối năm 1968, hay chiến trường Cam Bốt năm 1970.

    Chính sau những lần tham dự này anh đã sáng tác bài thơ “Tường Trình Cho Em” . Khi có người tò mò hỏi động lực nào giúp anh có những vần thơ mà người đọc cảm giác thấy được những hình ảnh (Họa trung hữu Thi) sống thực đó trước mặt. Giọng từ tốn anh cho biết: - Bài thơ “Tường Trình Cho Em” đã được đăng trên tạp chí Khởi Hành, viết được bài thơ đó do tôi nghĩ và tôi đã tham dự.

    Người lính Tổng Trừ Bị TQLC quanh năm từ tháng Giêng cho đến tháng Chạp khi nào cũng đi hành quân với ba lô, súng đạn ở trên vai, hết vùng này đến vùng khác, bốn vùng chiến thuật khi nào cũng có mặt TQLC cả, do đó tôi xúc động, và lấy hứng khởi làm bài thơ mà Phạm Duy đã phổ nhạc đổi lại là “Mười Hai Tháng Anh Đi”, và có cái tên nữa là “Hành Trình của anh TQLC” Sau cuộc hành quân Cam Bốt, Tiểu Đoàn 3 TQLC về dưỡng quân ở Vũng Tàu, rồi lên đường ra Quảng Trị. Từng tiểu đoàn, rồi lữ đoàn, kể từ đó vùng trách nhiệm giao các Lữ Đoàn TQLC bao gồm căn cứ hỏa lực A2 Dốc Miếu, A4 Cồn Thiên, C1, C2 từ sông Bến Hải và Động Toán, Ba Ho, Holcomb dọc theo thung lũng Ba Lòng. Năm 1971 Sư Đoàn TQLC tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719 qua Hạ Lào,

    Năm 1972 toàn bộ Sư Đoàn TQLC di chuyển ra Huế trong cuộc chiến phòng thủ bảo vệ phòng tuyến Mỹ Chánh, và phản công chiếm lại Quảng Trị. Sau Hiệp Định Ba Lê 1973, TQLC trở thành đơn vị diện địa, đóng chốt đối diện ngày đêm với địch. Những quân nhân bổ sung về Binh Chủng sau năm 1973 khi nghe bản nhạc “Mười Hai Tháng Anh Đi” tưởng chừng như một huyền thoại.

    Còn đâu nữa bước chân ngang dọc của người lính Tổng Trừ Bị. Đôi khi chợt nghe giọng ca thánh thót của người ca sĩ, Thảo mường tượng những vùng đất đã đi qua từ cuối năm 1967: Bình Định, Sàigòn, Cần Thơ, Tây Ninh, Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Gò Dầu Hạ, Kiến Phong, Kiến Hòa, Mỹ Tho, Rạch Giá Chương Thiện, Cà Mau, Bình Long, Phước Long, Bình Dương, Biên Hòa, Bến Cỏ Phú Hòa Đông, Bến Lức Lương Hòa Thượng, Phước Tuy, Long Khánh Kế Sách Ba Xuyên, Châu Đốc, Cam Bốt, Hạ Lào, Cùng các mật khu, và cuối cùng chôn chân tại Quảng Trị, Thừa Thiên tới ngày bị bức tử.

    Tình cờ gặp anh Bình trong ngày Đại Hội TQLC tại San Jose 2010, và Dallas 2011, được biết thêm thơ văn của anh đăng trên các tạp chí Văn, Bách Khoa, Khởi Hành, Quần Chúng, Tuổi Ngọc và Ngàn Khơi. Anh đã cùng với Phạm Lê Phan xuất bản thơ “ Chiến Ca Mùa Hè” cũng do Phạm Duy phổ nhạc.

    Xuất bản chung tập truyện ngắn ‘Dòng Sông Trước Mặt” với nhà văn Song Linh, Trần Ngọc Toàn và Huỳnh Văn Phú. Tuyển tập truyện ngắn “Lối Xưa Thiên Đường” đã được Tuổi Ngọc ấn loát và phát hành. Tháng 4/1975, anh bị đi tù 7 năm, 2 năm ở miền Nam và 5 cuốn lịch ở miền Bắc, Tháng Giêng năm 1997, được định cư tại Hoa Kỳ. Anh dự định sẽ xuất bản tập thơ “Lối Xưa Thiên Đường” và sau đó là tuyển tập thơ nhạc lấy tên là “Khi Hoa Xương Rồng Nở” gồm có 12 tình tự khúc, và những bài thơ đã đăng trước và sau năm 1975.

    Trong ngày Tiền Đại Hội ở Dallas 2011, do lời yêu cầu một phu nhân của TQLC hát bản nhạc “Chuyện Tình Buồn” do Phạm Duy phổ nhạc từ bài thơ của anh, quá bất ngờ không chuẩn bị trước, chị lúng túng trên sân khấu vì chỉ nhớ một ít lời ca. May mắn được anh Bình chép lại nguyên văn bài thơ đó. Các động tác và đối thoại rất tự nhiên của chị và anh Bình làm những người có mặt trong hội trường ngỡ rằng đây là hoạt kịch ngắn, tiếng ca vừa dứt, tiếng vổ tay tán thưởng nhiệt liệt.

    Năm năm rồi không gặp
    Từ khi em lấy chồng
    Anh dặm trường mê mải
    Ðời chia như nhánh sông
    Năm năm rồi trở lại
    Một màu tang ngút trời
    Thương người em năm cũ
    Thương góa phụ bên song...


    Bài thơ gói ghém kỷ niệm mối tình đầu của anh, vì không cùng chung một tôn giáo, người con gái đã lên xe hoa về nhà chồng, một người bạn học cùng trường. Chuông giáo đường thánh thót giờ hôn lễ, Chúa kết hợp hai tâm hồn làm một (mà loài người không thể phân chia). Anh cuộn mình trong chăn như trốn chạy, mắt nhìn khoảng tối, tai chỉ còn nghe tiếng thở của chính mình cùng sự thổn thức con tim.

    Nghe tin người bạn cùng trường đã hy sinh vì tổ quốc, anh tìm đến để tiễn biệt, nhìn những vành khăn tang trắng của gia quyến, anh bồi hồi cảm xúc qua vần thơ”Chuyện Tình Buồn”. Lời ca “Mười Hai Tháng Anh Đi” từ bài thơ “Tường Trình Cho Em” của anh làm sống lại hình ảnh người lính Tổng Trừ Bị TQLC, hy sinh tuổi đời trai trẻ và hạnh phúc riêng tư cho quê hương.

    Trước mặt các anh là rừng sâu núi thẳm, sình lầy muỗi đỉa, từ sông Bến Hải đến mũi Cà Mau mà kẻ thù hung hãn giựt mìn, pháo kích, sát hại dân lành, phá hoại cảnh thanh bình. Các anh tiến tới, bảo vệ phía sau cuộc sống an vui, nhộn nhịp, ánh đèn tỏa sáng khắp phố thị. Thời chinh chiến, có mấy ai biết chắc chắn khi ra đi sẽ có ngày trở lại!

    Cám ơn các anh, kính cẩn tri ân những chiến sĩ đã nằm xuống cho quê hương tự do, những Thuơng Phế Binh đã để lại máu và phần thân thể của mình trên khắp nẻo đường hành quân.

    MX Giang Văn Nhân
    Trích hồi ký “Người Lính Tổng Trừ Bị”

    https://www.facebook.com/photo.php?f...&theater&ifg=1

  4. The Following 3 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    hoang yen (03-23-2020), Phạm Văn Bản (04-27-2020), Tinh Hoai Huong (03-23-2020)

  5. #327
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,245
    Thanks: 8,159
    Thanked 5,448 Times in 1,219 Posts

    Button Xanh Những Anh Hùng Vô Danh

    Những Anh Hùng Vô Danh
    Trường Sơn Lê Xuân Nhị


    Hình minh họa

    “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” Đại úy Ngọc thòng một câu đùa trong chiếc Phi Cơ L19 ở cao độ 8 ngàn bộ, hôm chúng tôi cất cánh từ Nha Trang đi Kontum với hành trang cho 15 ngày biệt phái. Đồng ý đó là một câu đùa, nhưng tôi không cười được chút nào cả vì lòng tôi đang héo hon như cái vỏ xe bị xì lốp.

    Đang vui vẻ với đám bạn bè từ Ban-Mê-Thuột về Nha Trang nghỉ mát, ngày nào cũng sáng tiểu yến với cà phê, phở, thuốc lá 555, chiều đại yến với la-de, nem nướng, sò huyết mà phải khăn gói qủa mướp ra đi như thế này thì thật là đau khổ vô cùng, lại mới bị Thủy giận, tôi chưa có dịp làm hòa. Tính vốn lo xa, tôi đâm ra hãi. Đi biền biệt 15 ngày mà không từ gĩa em được, em tưởng mình… rớt máy bay chết rồi bèn đi cặp khác thì hết một đời trai.

    Cứ tưởng tượng cái cảnh Thủy cặp tay một chết tiệt nào đó đi coi hát bóng, đi nhảy đầm vung vít là tôi cảm thấy… hết muốn bay bổng. Đời phi công sao khổ thế nầy, tôi than thở. có lẽ thấy được những cái vẻ đau khổ khó chịu trên khuôn mặt Thiếu úy trẻ, anh Ngọc cười. Nhìn thấy cái bản mặt táo bón của chú mầy tao nhớ đến cái thuở huy hoàng của những ngày..chưa lấy vợ. Tôi phản đối “ở Phi Đoàn 114 mà không biết phản đối thì chẳng bao giờ lớn được”.

    Chưa lấy vợ thì khổ bỏ xừ đi chứ huy hoàng gì anh?. Bị đào hành lên hành xuống, quay vòng vòng như con mắm có gì mà huy hoàng,. Lại còn phải đi biệt phái lâu ngày như thế này, xát thân ở nơi tiền tuyến không sợ mất mà chỉ sợ… mất đào ở nhà. Đại úy Ngọc bật cười lên khoái chí. Hậu sinh…. chẳng biết mẹ gì cả. Mày lấy vợ đi rồi mới thấy cái gía trị của những ngày biệt phái. này nhé, ở nhà với vợ, có chó nào dám ti teo, đi phải thưa về phải trình, tiền bạc phải “báo cáo” đầy đủ.

    Ấy là chưa nói đến chuyện ở gần mặt trời thì phải sống có qui củ, có nề nếp, gặp xếp từ xa là phải cung tay chào rốm rốp. nào cũng muốn kiếm thêm tí điểm thì phải biết điếu đóm v..v.. Đi biệt phái, nói một cách văn chương, đó là “những ngày nghỉ mát” vì thứ nhất mình thoát khỏi vòng cương tỏa… bà tư lệnh , muốn làm gì thì làm, gặp bất kỳ cô thôn nữ yêu kiều nào cũng có quyền đấu tưới hột sen, muốn khoe mình chưa vợ hay vợ… mới chết thì đó là quyền của mình. Các cô thôn nữ vốn dễ dãi và cả tin, chẳng ai thèm khiểm chứng hay thắc mắt lôi thôi.

    Thứ hai, đi biệt phái, cuộc sống không gò bó như ở phi đoàn. Mình tự chỉ huy lấy, đời sống thoải mái hơn, chỉ làm sao đừng bê trể công việc, thứ ba, làm việc trực tiếp với bộ binh có nhiều cái thú. Mười tám tuổi bỏ nhà đăng lính đâu phải để suốt ngày dòm ba cái đồng hồ phi cơ rồi cứ hết cất cánh rồi hạ cánh. Phải có “Action” phải có đánh bomb, có ăn pháo kích v..v. Nghe anh Ngọc thuyết một lúc là tôi đã thấy xiêu lòng. Mẹ, tôi đâu biết là lấy vợ sẽ khổ như thế này. Sống bị kềm kẹp vậy chả trách gì ông nào cũng có vẻ chán đời. Anh Ngọc cảm thấy hình như tôi đã thấm ý, nên kết luận.

    – Đó là những cái khác nhau giữa hai thế hệ, Thế hệ chưa vợ và thế hệ có vợ. Bây giờ nhìn lại mấy chú, anh thấy tiếc hùi hụi. Rồi hứng tình, anh chơi thêm hai câu thơ, giọng vịt cồ nghe không có tính chất…văn học chút nào hết.

    Tình chỉ đẹp khi còn dang dở
    Đời hết vui khi đã vẹn câu thề


    Sau hai câu thơ là một chuỗi cười hì hì nghe rất ngứa lỗ tai. Men rượu của buổi tiệc gĩa từ tối hôm qua còn ngây ngất trong máu tôi, làm đầu óc cứ dật dờ. Tôi tắt radio, bảo anh Ngọc:

    – Anh bay hộ, em buồn ngủ quá.

    Anh Ngọc dễ dãi:

    – Ngủ đi, tao bay cho. Ráng ngủ lấy sức, xuống đến Kontum chuyến này có nhiều chuyện lắm.

    Tôi kéo tuột ghế ra sau, nhắm mắt làm một giấc ngon lành…. Biệt đội Kontum lần ấy, các phi hành đoàn ở trong cư xá vãng lai Sĩ Quan của Tiểu Khu. Cả thành phố Kontum như một trại lính khổng lồ, đi đâu cũng chỉ gặp toàn lính là lính. Từ lính không quân đến lính bộ binh, lính nhảy Dù, lính Lôi Hồ, lính Biệt Động Quân, lính Biệt Kích….., ai nấy võ khí trang bị tới răng trông phát khiếp.

    Lâu lâu, phải chịu khó tìm tòi và chờ đúng giờ tan học mới nhìn thấy được vài tà áo dài phất phơ cuả các em nữ sinh, Những tà áo dài bé nhỏ xinh xinh coi có vẻ vừa lạc lõng vừa hiền lành làm sao trong cái thế giới đầy dẫy súng đạn của thành phố địa đầu này. Cũng như một con én không làm được mùa xuân, một chiếc áo dài tha thướt cũng không làm mất đi được cái vẻ chinh chiến của quê hương khốn khổ. Đứng nhìn ngắm những tà áo này, tôi thấy nhớ Thủy chi lạ, buổi chiều cơm nước xong về khu tạm trú thắp đèn cầy đánh bài cho hết giờ.


    Hình minh họa

    Buổi tối, cái khổ nhất của chúng tôi là hai cây cà nông 175 ly to tổ bố của thiết đoàn 14 Kỵ Binh đặt cách dẫy nhà chúng tôi ở chừng 500 thước. Hai cây súng mắc dịch này, ban đêm, giữa lúc mọi người đang ngủ say, cứ thỉnh thoảng nổ một vài phát bắn quấy rối rồi nằm im. Đang mơ màng giấc diệp, tiếng súng đại bác ở sát bên bắn một phát làm chúng tôi nẩy tung muốn văng ra khỏi giường ” Đêm hôm khuya khoắc, bắn con C…gì mà bắn độc thế? Sao không về nhà mà bắn… bà xã cho được việc”, một giọng càu nhàu cất lên. Lại có giọng khác hăm dọa ” ngày mai tao phải “phản đấu”mới được.

    Đó là tiếng nói của Đại úy Bá, trưởng biệt đội. Ông đại úy này người dân xứ Quảng, lâu lâu phải để cho ông ấy “phản đấu” ai một lần thì ông ăn cơm mới ngon. Mất cả tiếng sau mới dỗ được giấc ngủ. Nhiều khi vừa mới chợp mắt thì lại “ầm” một tiếng như trời long đất lở tiếp theo, lỗ tai như bi ai tống vào một cây đinh. Đến lúc này thi đại úy Bá không nhịn được nữa, chửi thề um sùm “Đ..” mọa nó, bén chi mà bén miết..”. Thế là hết mẹ nó một tiếng đồng hồ nữa rồi…

    Tôi không hiểu các anh em bộ binh làm sao mà sống được như vậy không phải chỉ trong 15 ngày biệt phái như tôi mà tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác.

    Phải đi biệt phái những nơi như vầy mới hiểu được và thương các anh em bộ binh. Người lính bộ binh Việt Nam khổ qúa. Khổ đến độ sự khác biệt giữa sự sống và cái chết hầu như không có ranh giới. Cuộc đời là địa ngục thì chết chắc cũng chẳng có ai sợ. Và có lẽ, chết sẽ là một giải thoát. Tôi đã tận mắt nhìn thấy nhiều người sống suốt mấy tháng trong giao thông hào nước ngập tới háng. Đó là nơi mà anh em vừa ăn, ỡ ngủ v.v.. Các anh cũng là người với những cảm giác bình thường, biết lạnh, biết nóng, biết thèm ăn ngon, biết sợ đau khổ, sợ chết.

    Mãnh lực nào. sức lôi cuốn nào đã khiến anh em từ bỏ gia đình ôm cây M16 để trở thành người lính bộ binh. Trở thành người linh bộ binh để “chết thay dùm dân tộc” để chấp nhận mọi đắng cay, mọi hiểm nguy, Chắc chắn không phải để lãnh số lương mười mấy ngàn , chỉ đủ mua bao gạo.

    Cũng không phải vì sợ cảnh sát bắt đi quân dịch ở đầu ngõ. Cũng càng không phải vì mủi lòng bỡi vài cái bích chương kêu gọi rẻ tiền của chính phủ dán trong thành phố, hay vì câu hát của Hùng Cường, Mai Lệ Huyền. Tôi nghĩ, anh em đã ra đi chỉ vì lòng yêu nước.

    Vì, anh em nghĩ rằng cầm súng chiến đấu là bổn phận của ngững người trai thời ly loạn. Chỉ biết rằng đi để thể hiện chữ “Yêu” yêu Quê Hương yêu Tổ Quốc, không cần tính toán, không đo lường gía cả. Chỉ vài ngày đi bay mà anh em ai cũng bị hốc hác thấy rõ. Đêm mất ngủ, lên trời gió mát, chỉ muốn nhắm mắt. Cùng tắc biến, biến tất thông, mấy hôm sau chúng tôi biết cách trị.. Pháo Binh. Trước khi leo lên giường ngủ, chúng tôi lấy bông gòn nhét kín hai lỗ tai. Thế là mấy chú thiết giáp cứ mặc sức mà bắn.

    Có Thiếu úy tên On nằm gần giường tôi, mới được cho đi hành quân lần đầu nên lẩm cẩm không chịu được. Tên nghe đã lẩm cẩm mà người lại còn lẩm cẩm hơn. Đang đêm, tôi thấy nó thỉnh thoảng ngồi dậy, móc bông gòn ra khỏi hai lỗ tai, nghe ngóng một chút rồi lại nhét vào, nằm xuống. Mặt mày nó làm ra vẻ quan trọng lắm. Trằn trọc không ngủ được, tôi thắc mắc:

    – Mày làm cái trò khỉ gì đó ông Thiếu úy On?

    Nó đáp tỉnh queo:

    – Tao phải thức dậy để nghe ngóng xem có pháo kích không.

    Tôi suýt bật cười. Đúng là lẩm cẩm, nó làm như Việt Cộng chờ nó tháo bông gòn ra khỏi hai lỗ tai rồi mới thèm pháo. Tôi phịa một câu:

    – Tao có ý kiến này hay hơn. Mày chỉ cần rút bông gòn ra khỏi một lỗ tai thôi. Một tai bịt kín để khỏi nghe pháo binh mình, tai kia bỏ trống để nghe VC pháo kích.

    Một thoáng êm lặng, rồi như biết được câu móc lò của tôi, On chửi thề:

    – Đ.. M.. mất dạy. Mày mà đòi móc lò tao sao được. Tao đâu có ngu.

    Thấm thoát mà 15 ngày biệt phái của tôi trôi qua mau. Con người qủa thật là dể thích ứng với hoàn cảnh mới. Tôi chỉ còn nhớ Thủy… sơ sơ thôi chứ không còn “nồng nàn da diết” như những ngày mới đến đây nữa. Cuộc đời biệt phái cũng có nhiều niềm vui khác như đi uống cà phê đêm, nhậu nhẹt, gặp lại bạn bè cũ, kết bạn bè mới. Với lại, chúng tôi vừa khám phá ra một quán cà phê mới khai trương.

    Cô Cashier coi xinh không chịu được. Thế là chiều chiều cơm nước xong, chúng tôi bảy tám người chất nhau lên chiếc xe Jeep ra quán cà phê ngồi… lì đến tới tối. Giữa khu rừng núi hoang dại này, dể gì kiếm được một cành hoa. Tôi để ý thấy Thiếu úy On yêu đời ra mặt. Không hiểu nó tính dợt le với ai mà đi biệt phái ở nơi rừng sâu núi thẩm này cũng mang theo được mấy cái khăn quàng cổ đủ các màu. Đi uống cà phê những lần sau này nó nhất định phải đóng thêm cái khăn quàng cổ màu tím vào cho ra cái điều như là… màu tím hoa sim, coi chán đời không chịu được.

    Vào quán cà phê, Thiếu úy On ăn nói chững chạc đàng hoàng, không láu cá nham nhở như tôi.. Có mấy lần tôi tính thò tay ra sờ mông em thì bị nó gạt phắt đi, điệu hung hãn làm như nó… chưa sờ đít ai bao giờ. Nó muốn mang khăn quàng màu gì hay tán tỉnh gì thì kệ nó, tôi không để ý tới. Cái làm tôi thích thú nhất là mỗi lần ra về, cu cậu nhất định dành trả tiền cho kỳ được. Dĩ nhiên, tôi không bao giờ phản đối cái mục này. Tôi biết khỉ này nó có bao giờ trả tiền cà phê cho ai đâu. Hóa ra là con người khi yêu ai cũng trở thành dễ thương hết.

    Chả trách gì nhà văn Shakespeare đã phán một cau “everybody loves the lover”. Cả thế giới đều yêu một kẻ si tình. Đúng thật. Tôi ước giá phi đoàn có chừng chục như Thiếu úy On thì tôi khỏi sợ tốn tiền cà phê thuốc lá. Được trớn, tôi xúi dại nó, bảo hay là mầy xin ở lại Kontom luôn cho anh em nhờ. Nhưng nó quắc mắt lên, cười khỉnh ”Vừa phải thôi… tám. Tao tuy ngu nhưng đâu có ngu hơn mày.”

    Lần biệt phái này, trái với lời anh Ngọc tiên đoán, sư đoàn 23 BB không có đụng trận nào ra hồn cả. Thỉnh thoảng một bọn ” giặc cỏ” đến quấy rối rồi lặn mau như chuột.

    Dường như cả hai bên đang nghỉ ngơi dưỡng sức. Dưới đất mà không thèm đánh nhau thì trên trời biết ăn thua với ai. Những phi vụ air cover nhàn rỗi, tôi hỏi đại úy Ngọc đi ”duy trì khả năng” bắn rocket. “duy trì khả năng” là một danh từ không quân dành cho những anh chàng phi công văn phòng, sợ lâu quá không bay thì lúc leo lên tàu, thì quên béng nó mất cái cần lái nằm chỗ nào nên phải bay “duy trì khả năng” cho khỏi quên. Tôi thì khoái tập bắn rocket sao cho nó đẹp như ‘Dăng gô” bắn súng. Chỉ đâu bắn trúng đó.

    Cái kiểu bắn rocket của tôi phi đoàn ai cũng chán vì lối bắn mất dạy. Bay trên mục tiêu, tôi cắt ga cho tàu rơi cái rào nhiều khi gần như cắm đầu thẳng xuống. Cứ thế mà bóp cò. Bắn thì dể nhưng khi kéo tàu lên mới là cực hình. “G” đâu mà lắm thế, mặt mũi cứ dài ra cả thước. nhưng đại úy Ngọc chịu chơi, lần nào cũng cho tôi bắn.

    Nhiều khi anh còn nhìn “tác phẩm” của tôi phê bình “Số mày sinh ra để bay khu trục mà bị trời bắt lái .. L19. Đúng là con nhà vô phúc”. Ngày cuối cùng của cuộc biệt phái, chúng tôi cất cánh phi vụ thứ hai vào khoảng 3 giờ chiều. Lên trời, làm vài vòng, tôi hỏi đại úy Ngọc:

    – Hay mình làm vài vòng, nếu không có gì thì đi kiếm cái chòi thượng nào đó “duy trì khả năng” rồi về đáp. Mai đổi biệt đội khác rồi.

    Đại úy Ngọc tự nhiên phản đối:

    – Thôi cứ để đó, mày bay dọc lên Dak Pek đi. Tao đi quan sát lần chót để bàn giao vùng trách nhiệm cho phi hành đoàn mới.

    Có cái gì thắc trong đầu anh mà tôi không nghĩ ra. Lát sau anh nói:

    – Mày để ý thấy chiến trường lần này, đặc biệt là cách mấy ngày hôm nay yên lặng một cách quá đáng không?

    Tôi chả biết gì, trả lời:

    – Yên thì có yên đó, nhưng mà có gì không anh?

    – Thường thường mà yên quá như thế này là thế nào cũng có đánh lớn.

    Tôi nói xuôi:

    – Mai mình về rồi, nhằm nhò gì.

    Khoảng 5 giờ chiều tôi đang lơ lửng gần một cái đồn nhỏ gọi là đồn Dakseang, phía Nam của Dakto. Đại úy Ngọc chợt giật cần lái, quẹo một vòng.

    – Để tao coi. Đ.M. hình như đồn này đang bị pháo kích.

    Chỉ một thoáng sau anh la lên:

    – Đ.M. đúng rồi. Đ.M. nó đang pháo vô đồn.

    Anh Ngọc gọi máy về Trung Tâm Hành Quân, báo cáo những gì mình thấy và xin tần số liên lạc ngay. Chỉ trong vài phút, Trung Tâm Hành Quân xác nhận với chúng tôi là đồn bị pháo kích, và có nhiều dấu hiệu cho thấy đồn sẽ bị tấn công. Chúng tôi được chỉ thị ở lại làm việc với đồn. Bắt được liên lạc, trao đổi danh hiệu xong là chúng tôi giảm cao độ. Vừa tà tà bay vô thì bổng hàng chục cây phòng không nhắm vào chúng tôi nổ tới tấp. Chắc chắn phải có vài viên trúng tàu vì tôi nghe lên vài tiếng bụp bụp. Tôi càu nhàu: ”15 ngày biệt phái không sao, ngày cuối cùng mà lãnh một viên vào.. đít là xui quảy..” vô không nổi, tôi quẹo ra. Đại úy Ngọc phê bình:

    – Trên trời mà phòng không “kèm cứng một rừng” như vậy là dưới đất nó đã chuẩn bị trận địa pháo rồi. Lạng quạng thì đồn này chắc mất tối nay. Anh giở tấm bản đồ, ba cái FM trên phi cơ được sử dụng liên tục. Cái gọi pháo binh, cái trực với đồn Dakseang, cái nói thẳng với Bộ Tư Lệnh chiến trường. Cường độ pháo kích càng ngày càng trở nên khốc liệt,

    Tôi lên cao chút xíu rồi rình rình lại chui vào từ một hướng khác. Bố khỉ, tôi lúc ấy mới khám phá ra là khu vực làm việc bị mây “broken” từng cụm nhỏ bao phủ khoảng từ 5 đến gần 8 ngàn bộ trên trời.

    Đang quan sát, tàu chui vào mây là coi như mù. Ra khỏi mây thì phải mất một lúc mới trở lại được chổ quan sát cũ. Đại úy Ngọc chửi thề “Đ.M. mây mà cũng bị VC dụ dỗ đâm sau lưng chiến sĩ. Trời đất bao la sao không kiếm chỗ bay mà cứ lẩn quẩn làm con C.. ở đây.” Tôi đã cắt ga xuống dưới trần mây mấy lần nhưng vừa xuất hiện là bị hàng chục họng phòng không thổi rào rào vô mặt, đuổi trở lên “súng đâu mà chúng nó lắm thế” Tôi đành vật lộn với mấy cụm mây…VC này.

    Bi thảm hơn, giặc bắt đầu nả 130 ly vào đồn, Hai cây đại pháo, một cây đặt ở ven làng cách đó chừng 15 cây số, cây kia ở hướng đối diện cứ tà tà nã từng trái một vào đồn.

    Từ trên, tôi nhìn thấy rõ ràng những quả đạn rơi rất chính xác vào trong đồn. Cứ mỗi quả đại bác rơi xuống là có chừng mười mấy trái súng cối nổ kèm theo “phụ diễn”. Tôi và anh Ngọc lồng lộn trên tàu bay. Máy vô tuyến gọi đến gần nát cả họng, nhưng bất ngờ quá, chả thấy phi tuần xuất hiện, anh Ngọc gọi pháo từ căn cứ pháo binh gần đó nhất để yểm trợ. Vừa nhận được tọa độ, đã nghe ở dưới đất kêu trời:

    – Vô ích bạn ơi. Xa quá, bắn tới… Têt cũng huề.

    – Thì bạn quay nòng xuống thổi đại cho một chục tràng đi, bắn dọa nó cũng được.

    – Xong rồi, để tôi cho yếu tố tác xạ – Yếu tố mẹ gì, bắn đi bạn….

    Khoảng 5 giờ rưỡi chiều, người chỉ huy đồn Dakseang có vẻ bối rối:

    – Bạch Ưng, đây Thanh Trị.

    – Nghe 5 bạn

    – Báo cho bạn biết đến giờ phút này con cái tôi đếm được là 500 trái rồi đó bạn. Hầm hố tôi 50% thiệt hại.

    Tôi muốn nhảy nhổm trong tàu bay. 500 trái vừa cối vừa pháo xuông một diện tích tí teo như thế kia thì còn hầm còn hố nào.

    Anh Ngọc bổng nẩy ra một kế…chết người.

    – Nếu để nó pháo điệu này thì chừng tí nữa quân mình chẳng còn gì hết. Mình phải “chiến tranh chính trị” mới được. – Có học trường chiến tranh chính trị ngày nào đâu mà đòi…chiến tranh chính trị anh?

    Người phi công chiến tranh chính trị bất đắc dĩ lên mặt dạy dỗ.

    – Từ từ để tao cắt nghĩa. Chiến tranh chính trị nghĩa là…có là không, không là có. Bây giờ chưa có phi tuần thì mình phải làm như có phi tuần. Mình phải xuống ngay trên đầu mấy cây pháo làm bộ như phi tuần sắp tới thì pháo nó mới câm được.

    – Xong rồi.

    Mặc dù vẫn còn ngán mấy chục họng phòng không nhưng trong hoàn cảnh này, đạn tránh người chứ người làm sao tránh đạn? Tôi cắt ga cho tàu rơi cái rào, cứ nhắm họng đại bác bay tới. Đạn nổ tùm lum chung quanh tàu. Anh Ngọc trấn an tôi:

    – Mầy đừng lo, tao có bùa nanh heo rừng. Đạn nó né tao.

    Nghe sao mà chán đời, Tàu bay chỉ có 2 người, đạn nó bay vào đây mà né anh Ngọc thì nhất định nó phải kiếm người khác để chui vào. Người đó còn ai khác hơn tôi. Bỗng nhớ ra điều gì, anh sờ tay vô ngực quờ quạng rồi rú lên:

    – Bỏ mẹ rồi, nanh heo rừng đíu có đem theo. Đ.M. hôm qua đi tắm treo nó chỗ phuy nước quên đeo vô rồi. Nhưng anh nói ngay:

    – Nhưng tử vi nói tạo sống thọ lắm, yên chí lớn đi em.


    Hình minh họa

    Tôi nghiệm ra rằng con người, lúc ở trong những hoàn cảnh nguy hiểm đều kiếm ra một lý do gì đó để tự tin và hy vọng. Càng đi xa đồn thì phòng không càng bớt dần. Thấp thoáng con gà cồ của giặc đã nằm ngay dưới cánh, chúng tôi xuống thấp thêm tí nữa, lượn vòng chung quanh cây pháo. Đúng y như anh Ngọc đoán, pháo im bặt. Rồi như một cơn mưa rào đổ xuống mùa hạn hán, một hợp đoàn Cobra của Tây xuất hiện. Đại úy Ngọc qua được tần số của Tây xí xa xí xồ một chập, tôi nghe được mấy tiếng “everywhere”.

    Vừa vào vùng là mấy anh Cobra làm ăn liền. Tôi ngạc nhiên thấy họ thay phiên nhau bắn rào rào chung quanh đồn. Như vậy con cháu họ Hồ đang “tùng thiết” đi vô chăng?

    Dĩ nhiên phòng không giặc bây giờ đổi mục tiêu, nhắm mấy anh Cobra nhả đạn. Trận thư hùng coi rất đẹp mắt nhưng ngắn quá. Mấy ông Tây bắn chừng 5 phút là hết đạn, quay lui. Khốn nạn hơn cái món chiến tranh chính trị xem ra hết ép phe. Có lẽ giặc biết chúng tôi chỉ dọa giả nên cây pháo bắt đầu nổ trở lại. Đại úy Ngọc gầm lên:

    – Đ.M. tụi mày, lát nữa khu trục lên tao cho nó…bỏ bomb thấy mẹ mày.

    Tức quá mà không làm gì được thì…chửi cho đã tức. Chúng tôi chỉ có 4 quả Rocket khói, chẳng sơ múi gì được. Rồi Peacock gọi thông báo sẽ có phi tuần khu trục A-1 đang cất cánh khẩn cấp từ Pleiku lên làm việc với chúng tôi. Đại úy Ngọc hớn hở gọi máy:

    – Thạnh Trị, đây Bạch Ưng.

    – Nghe 5 bạn, gần ngàn trái rồi. Tụi nó mới xung phong đợt đầu đó bạn.

    – Có sao không bạn?

    – Không, mấy * chuồn chuồn tới đúng lúc với lại con cái tôi đánh giặc còn “tới” lắm bạn ơi. Tụi nó rút hết rồi. Khoảng chùng 50 xác nằm dài dài. Mấy * Tây đánh đẹp lắm.

    – Chúng tôi sẽ có 2 phi tuần lên liền bây giờ với bạn.

    – Bạn ráng dùm, hầm hố gần nát hết rồi bạn.

    – Tôi hiểu bạn.

    Cây 130 ly quái ác vẫn đì dạch phọt ra từng cụm khói đen. Tôi bảo anh Ngọc. – Anh để em lên làm đại một trái khói vô đó coi, may ra…. – Ờ, may ra….

    Tôi làm vòng bắn, nghiêng cánh quẹo vào, nhắm và bóp cò. Oành cái Rocket nổ…gần cây đại pháo. L-19 mà bắn được vậy là nhất rồi, nhưng có chết * chó nào đâu? Không chết nhưng cây pháo lại im tiếng một lần nữa. Tốt! Tôi tính cứ lâu lâu nhào xuống xịt cho tụi nó một trái để mua thời gian chờ khu trục lên. Rồi tiếng rè rè thử vô tuyến của mấy ông khu trục A-1 nghe lên bên tai. Phải thú nhận, cái tiếng rè rè đực rựa lúc này nghe sao mà nó…đáng yêu thế. Đó là thứ tiếng nói của hy vọng, của niền tin, của sức mạnh, của tình chiến hữu. Anh Ngọc trao đổi vô tuyến với phi tuần khu trục rồi gọi máy cho quân bạn.

    – Thạnh Trị, đây Bạch ưng.

    – Nghe bạn 5.

    – Chim sắt của tôi lên rồi đó bạn. bạn muốn tôi đánh đâu?

    – Bạn lo dùm mấy con gà cồ trước đi.

    – OK! Roll.

    Phi tuần khu trục vừa xuất hiện thì cả bầu trời biến thành một biển lửa. Số lượng phòng không bây giờ không biết là bao nhiêu cây, nhưng dòm hướng nào cũng chỉ thấy lửa và lửa. Trời đã về chiều nên những viên đạn lửa bay vút lên cao càng được thấy rõ ràng hơn. Phi tuần đầu nhào lên nhào xuống mấy lần vẫn không làm câm họng được cây pháo phòng không vì trời quá xấu.


    Hình minh họa

    Những đám mây…phản quốc, khốn nạn vẫn chình ình khắp nơi. Khó khăn lắm họ mới kiếm được cái lỗ chui xuống, bay giữa những loạt đạn phòng không trùng điệp, để tới mục tiêu, bấm rơi bomb, rồi kéo lên. Còn 2 trái cuối cùng, người phi công A-1 “để” vào ngay trên ổ súng chính xác như để bi vào lỗ. Ầm một tiếng vang lên rồi tiếp theo là nhiều tiếng nổ phụ. Cha con nó đang đền tội. Xong một cây. Anh Ngọc hướng dẫn phi tuần thừ hai đang làm ăn thì tôi nghe tiếng gọi:

    – Bạch ưng, đây Thạnh Trị.

    – Nghe 5 bạn
    – Báo bạn biết, hầm chỉ huy tôi xập rồi. Tôi ra giao thông hào với mấy đứa con.

    – Bạn nhớ giữ liên lạc với tôi.

    – Bạn…

    Không có tiếng trả lời. Tôi hoang mang. “ra giao thông hào với mấy đứa con” vậy là bi đát lắm rồi. Anh Ngọc bảo tôi:

    – Anh đang bận hướng dẫn khu trục, em qua FM gọi thẳng TTHQ xin gấp cho anh ít nhất là 2 phi tuần nữa, lên liền lập tức, nếu không kịp là tụi nó sẽ “over run” Dakseang trong vòng nửa tiếng đồng hồ.Tôi đổi tần số FM, anh Ngọc cẩn thận dặn dò thêm:

    – Phải nhớ la ơi ới lên như là đang bị bóp…dái thì cha con nó mới chịu chạy dùm.Tôi phì cười, ông đại úy nầy lúc nào cũng đùa được. Khỏi cần bị ai bóp dái tôi cũng la được vì hò hét và tả oán là sở trường của tôi. Tôi gọi máy và có kết qủa ngay. Anh Ngọc mừng rú lên khi được thông báo có một phi tuần F4 của Hải Quân Mỹ sẽ cất cánh ngay từ hàng không mẫu hạm vào làm việc. Giọng nói từ dưới đất bây giờ nghe có vẻ hốt hoảng:

    – Bạch ưng, đây Thạnh trị.

    – Nghe bạn 5.

    – Bạn cho mấy con chim sắt đánh sát quanh đồn gấp đi bạn. Tụi nó đang “à lát xô” lên.

    Anh Ngọc la ùm lên trong tần số khu trục. Hai chiếc khu trục A-1 còn mấy trái bomb bỏ dở cây, hối hả trở về đồn nhào xuống đánh sát chung quanh rào. Một ông la to khi kéo tàu lên.

    – Tụi nó đông như kiến bạn ơi.

    – Còn phải hỏi.

    Khu trục đánh hết bomb nhưng vẫn bay trên mục tiêu để bắn hết những tràng cà nông 20 ly. Tình hình lúc này đã bi đát lắm rồi. Giặc xung phong lên ào ào. Thạnh trị thông báo là một góc phòng tuyến đã bị vỡ và con cái anh đang xáp lá cà với giặc. Tôi nghe Trung tâm hành quân “TTHQ” thêm ba căn cứ khác cũng bị tấn công một lúc. Anh Ngọc bảo tôi: Tao còn lạ gì cái trò này, tụi nó đánh nghi binh để dứt điểm Dakseang đó. Phải cẩn thận. Trong vô tuyến, tiếng tàu bay gọi nhau tiếng trao đổi gã trên trời và dưới đất nghe loạn cào cào..

    Bởi trong những tiếng ồn ào đó, có tiếng gọi của mấy ông F 4 Hoa Kỳ. Mấy ông Tây trang bị vũ khí tận răng. Hai chiếc F4 mỗi chiếc mang 18 trái 500 pouds đang làm vòng chờ ở khoảng 20 ngàn bộ. Anh Ngọc chỉ “briefing” một tí, mấy ông “Roger” và “Sir”lia lịa nhào xuống làm ăn liền. Khu trục Việt Nam đánh đã đẹp, mấy ông Tây đánh cũng không thua ai. Từ khoảng 15 ngàn, mấy ông nhào xuống dưới trần mây, để những trái bomb thật chính xác. Phòng không bắn dữ dội nhưng xem ra không ăn thua gì với mấy chiếc F4 này. Đang đánh ngon lành thì tôi nghe tiếng gọi từ dưói đất:

    – Bạch ưng, đây Thạnh trị.

    Giọng nói lúc này không có vẻ hốt hoảng mà bình tĩnh lạ thường.

    Anh Ngọc bấm máy:

    – Nghe bạn 5, cho biết tình hình đi bạn.

    – Tôi yêu cầu Bạch ưng cho đánh ngay vào trong đồn.

    Cả hai chúng tôi giật nẩy mình, chỉ hy vọng là mình nghe…lộn. Chúng tôi sững sờ không trả lời được. Người chỉ huy phía dưới đất xác nhận lại:

    – Bạch ưng, tôi xác nhận lại, tôi xin bạn đánh xuống đầu tôi.

    – Bạn nói bạn xin đánh thẳng vào đồn?

    – Đúng 5. Hết hy vọng rồi bạn ơi. Cứ đánh vào đây để tụi nó chết chùm luôn với chúng tôi.

    – Bạn suy nghĩ kỹ chưa?

    – Giọng nói dưới đất lúc này nghe có vẻ hết kiên nhẫn:

    – Không còn lựa chọn nào khác bạn ơi. Bạn đánh lẹ giùm. Chúc bạn may mắn. “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” mà bạn…

    Đó là những tiếng nói cuối cùng tôi nghe được từ đồn Dakseang “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”. Anh Ngọc hốt hoảng gọi máy về xin chỉ thị quân đoàn. Quân đoàn trả lời phải xác nhận với đồn Dakseang một lần nữa rồi cho biết kết qủa. Chúng tôi gọi muốn đứt hơi nhưng không còn liên lạc được với Thạnh Trị nữa.

    Báo cáo trở lại, quân đoàn quyết định: cho đánh thẳng vào đồn nhưng phải… cẩn thận. “Cẩn thận con C… ông” anh Ngọc lẩm bẩm chửi thề rồi gọi máy thong báo cho mấy ông Tây, bảo đánh thẳng vào đồn. Người phi công hải quân Mỹ vừa kéo con tàu lên sau một loạt tấn công cũng bối rối không kém:

    – Roger! Sir, Did you say…right on it? Over.

    – Yes sir, it’s all over. I said you salvo right on it. Over.

    – Roger, sir, I understood, sir, Over.

    Chỉ có vậy thôi, đồn Dakseang biến thành một biển lửa sau hai đợt bomb salvo của mấy chiếc Phantom. Tôi đang chứng kiến một hình ảnh mà có lẽ suốt đời sẽ không bao giờ quên được. Tôi biết nói gì lúc này đây cho những người chiến sĩ Địa Phương Quân QLVNCH? Tất cả những ngôn từ, những ý nghĩ đều trở thành vô nghĩa trước cảnh tượng bi thảm hào hung này.

    Bay cách đó chừng 5 cây số với cao độ 5 ngàn bộ mà con tàu tôi như rung lên dưới tiếng nổ và sức ép khủng khiếp của mấy chục trái bomb 500 cân Anh nổ một lần. Làm sao còn có ai sống sót sau cơn tàn phá khủng khiếp này?. Những thịt, những xương, những máu của các anh hùng Dakseang đã tung bay khắp nơi rồi rơi xuống lẫn lộn với bụi, với đá, với sắt, để rồi nằm im trên mặt đất.

    Cũng trên mặt đất nầy của quê hương, ở một nơi nào đó, những người vợ, những đứa con, những bà con thân bằng quyến thuộc của các anh đâu biết người thân của mình vừa anh dũng đền nợ nước, vừa ” Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” như lời trăn trối cuối cùng của người đồn trưởng, vừa chết để cho cả dân tộc được sống, được hít thở không khí Tự Do dù chỉ trong một khoảnh khắc…

    Ngày mai đây, những chiếc khăn tang trắng sẽ được chít vội vã lên đầu những người thiếu phụ nghèo nàn khổ sở kia, những khuôn mặt bầu bĩnh vô tội của trẻ thơ. Nước mắt nào khóc cho hết nỗi bi thương của người vợ lính VNCH đây hỡi ông trời xanh thẩm? hình ảnh nào có thể thay thế được hình ảnh ngọt ngào của Cha chúng nó, suốt khoản đời còn lại của những em bé hồn nhiên vô tội kia hỡi ông trời?


    Hình minh họa

    Dân tộc tôi đã làm gì nên tội, “Tử biệt sinh ly” câu nói nghe được từ thuở học trò bầy giờ mới thấy trọn nghĩa ý đau thương. Máu nào chảy mà ruột không mềm, mắt tôi bỗng chan hòa nước mắt. Tôi tống ga bay trở lại đồn. Qua màn lệ nhạt nhòa, tôi chẳng còn thấy gì, ngoài những cụm khói đen bốc lên giữa đồn. Những cụm mây oan khiên vừa rồi vẫn còn vần vũ như những chiếc khăn tang trắng lồng lộng bao phủ cả bầu trời. Mây ơi là mây, còn sống chẳng chịu giúp nhau, bây giờ người đã chết, đồn đã mất sao còn lảng vảng để khóc thương.

    Trời chiều cao nguyên vốn đã thê lương cô quạnh lại càng trở nên tang tóc sầu thảm hơn. Hai chiếc Phantom Hoa kỳ ráp thành một hợp đoàn tác chiến bay những vòng tròn thấp chung quanh đám đất đá điêu tàn không hiểu để quan sát hay để chào vĩnh biệt những chiến sĩ gan dạ anh hùng của Địa Phương Quân QLVNCH. Dưới trời chiều nắng tắt, trông hợp đoàn Phantom như hai con chim hải âu ủ rủ lượn từng vòng quanh xác chết của đồng loại. Sau khi nhận kết oanh kích của anh Ngọc, giọng nói xúc động của người phi tuần trưởng Phantom vang lên:

    – Sir, may I reach out across the fires and destructions of today to tell you this: Those people down there have fought like men and have gone in honor.

    Giọng anh Ngọc run run nghẹn ngào:

    – Yes sir, they have gone in honor. That was an Alamo by all means, sir. An ever greater Alamo than ours, Over.

    Tôi thấy hai hàng nước mắt chảy dài trên má anh Ngọc.

    – Roger! We have thousand of Alamo like that every day in our country.

    – Roger, I believe that, sir, God bless you all. Over.

    Hai chiếc Phantom liếc cánh chào vĩnh biệt rồi bốc lên cao, mất hút giữa bầu trời ảm đạm. Alamo, cái tên nghe đã đi vào huyền sử của dân tộc Hoa Kỳ mà bất cứ công dân Mỹ nào nghe cũng phải hảnh diện. Alamo, làm tôi nhớ đến bài học Anh văn năm đệ ngũ. Alamo, đúng ra là một ngôi nhà thờ “Y pha nho” mà hai ngàn chiến sĩ kỵ binh Hoa Kỳ đã tử thủ khi chống cự lại với hàng chục ngàn quân Mễ Tây Cơ cho đến giây phút cuối cùng.

    Không ai đầu hàng và tất cả đã bị tàn sát. Người Mỹ chỉ có một thành Alamo trong suốt 200 năm lập quốc mà cả thế giới đều biết, đều mến phục. Đất nước tôi có bao nhiêu thành Alamo còn tàn khốc hơn, đẩm máu gấp ngàn lần hơn suốt bao nhiêu năm chinh chiến.

    Sáng hôm sau tôi và anh Ngọc bay thêm một phi vụ sớm trước khi bàn giao biệt đội. Tối đêm qua một trận mưa bomb của B52 đã cày nát khu tập trung quân giặc. Dù biết là vô ích, chúng tôi vẫn mở lại tần số cũ để gọi cho Thạnh trị. Nhưng chả còn Thạnh trị nào để trả lời cho Bạch ưng nữa. Đồn Dakseang chỉ còn là đống đất vụn điêu tàn. Gió thổi lên từng cơn cuốn theo những lớp bụi đỏ mù. Tôi nhìn xuống đó, tưởng nhớ đến những cái chết oai hùng chiều qua.

    Trong một quê hương khói lửa, kiếp người quả thật mong manh như gió, như đám bụi mù kia. Mới nói nói cười cười mà giờ đây đã ngàn thu vĩnh biệt. Bay thêm vài vòng quanh đồn để tưởng nhớ ngậm ngùi cho các anh rồi cũng đến lúc phải từ giã để ra đi. “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” Thôi thì xin thành kính nghiêm trang giơ tay chào vĩnh biệt các anh.

    Những người lính Địa Phương Quân âm thầm của một tiền đồn xó núi. Địa Phương Quân, cái tên nghe khiêm nhường và hiền lành như đất, như bộ đồ xanh bạc màu của các anh. Địa Phương Quân, thứ lính…âm thầm nhất trong các thứ lính của quân lực; không màu mè, không áo rằn ri, không có những huyền thoại khủng khiệp, không “truyền thống, binh chủng” không có đến những khẩu hiệu nẩy lửa chết người.

    Nhưng Địa Phương Quân Pleiku chiều hôm qua đã bình tỉnh xin “cho nó nổ trên đầu tôi”. “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi bạn ơi” Xin vĩnh biệt và cảm tạ. Cảm tạ các anh đã đem cái qúi giá nhất của cuộc đời là mạng sống mình để đổi lấy cho quê hương dù đã rách nát tả tơi còn có được những ngày xanh hy vọng. Cho buổi hợp chợ ban mai, dù nghèo nàn thưa thớt vẫn còn được an bình. Cho ngôi trường quận lỵ thấp lè tè những mái tôn cháy nắng còn rộn tiếng trẻ thơ cười. Cho mái chùa cong cong nơi sườn núi còn được ngân lên những hồi chuông tín mộ. Và cho những người ở lại như tôi đây biết rằng mình sống tức còn nợ phải trả….

    Các anh chính là những người được mô tả trong một bài học thuộc long tôi thuộc làu làu lúc còn là một đứa bé:

    Họ là kẻ khi quê hương chuyển động; Dưới gót giày của những kẻ xâm lăng? Đã xông vào khói lửa quyết liều thân? Để bảo vệ tự do cho tổ quốc? Trong chiến đấu không nài muôn khó nhọc? Cười hiểm nguy bất chấp nỗi gian nan? Người thất cơ đành thịt nát xương tan? Những kẻ sống lòng son không biến chuyển? Tuy tên họ không ghi trong sử sách? Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên? Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên? Không ai đến khẩn nguyền dâng lễ vật? Nhưng máu họ đã len vào mạch đất? Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông? Và linh hồn chung với tấm tình trung? Đã hòa hợp làm linh hồn giống Việt.

    Xin thành kính viết lại một phần bài thơ của Đằng Phương để tặng các anh. Các anh chính là những “Anh Hùng Vô Danh”. Tổ Quốc Việt Nam, dân tộc Việt Nam ngàn đời sẽ còn ghi ơn các anh. Xin vĩnh biệt và cảm tạ!!!


    Trường Sơn Lê Xuân Nhị

    https://www.facebook.com/groups/6443...6119692507186/

  6. The Following 3 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    hoang yen (04-02-2020), khongquan2 (04-02-2020), ttmd (04-19-2020)

  7. #328
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,245
    Thanks: 8,159
    Thanked 5,448 Times in 1,219 Posts

    Icon Laughing Ti Vi chạy đầy đường..

    Chuyện dài sau 30 tháng 4/1975..



    Sau 30/4/75, anh bộ đội đứng bên cạnh chiếc xe đạp thồ
    (phương tiện vận chuyển thời Pháp thuộc) nói:

    "..Ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa chúng tôi Ti Vi chạy đầy đường,
    cà rem ăn không hết phải đem phơi khô,
    uống toàn sữa ngoại như sữa Honda, Suzuki.."
    kinh chưa...


    " không thành công .... thành gà"

  8. The Following 4 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    khongquan2 (04-13-2020), Phạm Văn Bản (04-27-2020), Tinh Hoai Huong (04-13-2020), ttmd (04-19-2020)

  9. #329
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,245
    Thanks: 8,159
    Thanked 5,448 Times in 1,219 Posts

    Button Xanh Tự Tử Đi Anh Em! Tao Không Đầu Hàng!

    “Tự Tử Đi Anh Em! Tao Không Đầu Hàng!”
    (Hào Kiệt Phương Nam) Những Chiến Sĩ Anh Hùng của Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù VNCH
    Tự sát chứ không đầu hàng giặc (30/ 04/ 1975)


    Tuy mạnh, yếu có lúc khác nhau
    Song, ‘Hào Kiệt’ thời nào cũng có

    (Bình Ngô Đại Cáo - Nguyễn Trãi)

    ---oo0oo---


    Hình minh họa

    Sáng sớm ngày 29 tháng 4, 1975, chúng tôi tiếp tục công việc như mọi ngày nhưng trong lòng nôn nao khôn tả. Từng đoàn dân chúng hoặc quân nhân của Sư Đoàn 18 Bộ Binh ào ạt kéo về hướng Sài Gòn, chúng tôi kêu gọi họ ở lại tiếp sức trấn giữ cây cầu nầy nhưng họ nói là được lệnh về bảo vệ Thủ Đô Sài Gòn.

    Còn căn cứ Giang Thuyền của Hải Quân tại bờ sông Đồng Nai cạnh cây cầu nầy ngày hôm qua còn có bóng người thấp thoáng, đến hôm nay sao im vắng như vậy? Dưới sông còn mấy chiếc giang đỉnh nằm yên trên sóng nước lăn tăn dưới làn gió nhẹ.

    Anh em tôi kéo đến hỏi ý kiến Trung Sỹ Ngôn là người có cấp bậc cao nhất và cũng lớn tuổi nhất trong bọn tôi:

    - Tính sao Trung Sỹ?

    Trung Sỹ Ngôn đáp tỉnh bơ:

    - Không tính gì cả, giặc đến thì đánh chớ còn tính gì nữa, lúc trước ta phải sang Campuchia, sang Lào, đi ra Vùng I, Vùng II tìm giặc mà đánh, nay chúng kéo đến đây thì ta phải đánh chứ còn nghĩ ngợi gì nữa.

    Lời nói khẳng khái của TS Ngôn khiến anh em Nhảy Dù và các chiến sĩ Công Binh, Địa Phương Quân cũng lên tinh thần. Một vài người phát biểu ý kiến:

    - Trung Sỹ Ngôn đúng là một chiến sĩ can đảm của quân đội, lẽ ra anh phải có cấp bậc khác hơn mới đúng, quân đội cần phải có những chiến sĩ đảm lược như vậy.

    Trung Sỹ Ngôn khoát tay bảo đừng nói tiếp nữa, ông nói:

    - Các bạn đừng cho tôi uống nước đường tưởng tượng nữa, đời binh nghiệp của tôi nếu có được kéo dài thì cũng thế thôi, một tên quân phạm được Bộ Tổng Tham Mưu cho tiếp tục phục vụ thì còn lên xuống gì nữa!!!

    Ai nấy đều không tin câu nói của Trung Sỹ Ngôn, ông ta phải xác minh tới lui mấy lần mà chưa có ai tin.

    ***

    Riêng tôi thì tôi tin ông nói thật vì tôi là HSQ quân số của Tiểu đoàn, tôi nắm giữ hồ sơ lý lịch của quân nhân trong đơn vị nên tôi biết nhiều về quân nhân trong đơn vị.

    Tôi xin mở dấu ngoặc nói về người Hạ sĩ quan nầy:

    Sau những trận “Mùa Hè Đỏ Lửa” năm 1972, vì nhu cầu bổ sung quân số cho các đơn vị tác chiến đang thiếu hụt, Bộ Tổng Tham Mưu nghiên cứu và quyết định cho tiếp tục phục vụ các quân phạm được coi là thường phạm hiện đang bị giam giữ trong Quân Lao Gò Vấp. Ông Trung Sỹ Ngôn được xuất lao trong đợt đầu tiên và được bổ sung về Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù.

    Ngày tôi đến Khối Bổ Sung nhận về 30 quân phạm trong đó có Trung Sỹ Ngôn, vừa gặp ông là tôi có thiện cảm liền. Tôi đưa các quân nhân nay về Hậu cứ Tiểu đoàn ở cổng số 9 trong Căn cứ Long Bình, Biên Hòa, trang bị cho họ và chờ ngày tăng cường hành quân.

    Trong những ngày chờ đợi tôi có dịp tiếp xúc với các quân nhân nầy để tìm hiểu và giúp đỡ chuyển thư từ, nhắn tin người nhà đến thăm, tiếp tế cho họ, phần các quân nhân ở xa hoặc ở trong vùng mất an ninh thì chỉ gởi thư theo đường bưu điện thôi.

    Riêng Trung Sỹ Ngôn, quê ở Hốc Môn, tuy không xa lắm nhưng xã ấp ở vùng xôi đậu nên tôi không thể đem thư đến nhà cho ông được, tôi cố gắng đi đến chợ quận Hốc Môn, rồi hỏi thăm tìm những người cùng xã ấp với ông nhờ họ chuyển thư về gia đình ông.

    Cuối cùng, thân nhân của ông cũng đã tìm đến thăm ông được. Và nhờ vậy ông mang ơn tôi, có tâm sự gì ông đều phun ra hết, và con đường tù tội của ông như sau:

    “Sau Tết Mậu Thân, Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến gần như thường xuyên có mặt tại Quân Khu I và Quân Khu II, các người lính Tổng Trừ Bị nầy hầu như là “Trấn thủ lưu đồn” của thời xa xưa, có khi hai ba năm chưa được về thăm gia đình một lần, Trung Sỹ Ngôn tuy là đã có gia đình, nhưng vì lính xa nhà trong lúc sức lực phương cường, nên thường lén rời đơn vị đi thăm “Đệ Thất Hạm Đội” cắm sào trên sông Hương.

    Một lần, sau khi lãnh lương, anh đi lả lướt trên sông Hương, Đến sáng ngày tỉnh dậy mới hay bị mất ví cả giấy tờ tùy thân và tiền lương tháng mới lãnh chưa kịp gởi về cho vợ. Còn chiếc thuyền thì đã cập bến nhưng người lái không có ở đó.

    Trên đường trở về vị trí đóng quân bị Quân Cảnh xét giấy tờ không có nên bị bắt giữ rồi giải giao về đơn vị thọ phạt. Quá uất ức, nên sau khi thọ phạt xong Trung Sỹ Ngôn cầm một quả lựu đạn tìm đến bờ sông thì rất may anh gặp lại cô lái đò hôm trước. Anh đòi lại cái ví và số tiền anh đã bị đánh cắp, cô lái chối cãi là không có lấy, anh đập trái lựu đạn vào đầu cô ta phun máu, cô ta mới chịu nhận là có lấy nhưng gã anh trai ma-cô của cô ta đã cất giữ rồi, theo lời cô lái đò nói lại là nếu anh có tiền chuộc mới được trả lại.

    Quá tức giận, anh lại cầm trái lựu đạn đập vào đầu cô ta khá mạnh khiến cô ta kêu thét lên rồi ngất xỉu luôn. Các người trên thuyền bên cạnh tri hô lên là có án mạng nên lính Quân Cảnh và An Ninh Quân Đội đến bắt anh, anh kháng cự đưa ra trái lựu đạn dọa nếu ai đến gần sẽ cùng chết với anh. Anh về đơn vị trình diện và bị An Ninh Quân Đội của đơn vị bắt giải về Sài Gòn đưa ra tòa án Quân Sự Mặt Trận Quân Khu III.

    Tôi hỏi chen vào:

    - Anh có mướn luật sư bào chữa cho anh không? Tòa án xử anh có nặng lắm không?

    Trung Sỹ Ngôn thở ra, chán nản nói:

    - Tiền đâu mà mướn luật sư, tiền của mình nó lấy hết rồi nên mình mới gây nên tội. Tôi trình bày tất cả sự việc để ông Chánh Án quyết định chứ không thèm xin ân giảm gì hết.

    Tôi tò mò hỏi anh về quang cảnh của phiên Tòa, anh đáp:

    - Đầu tiên, họ điệu tôi ra giữa phòng xử, các viên chức trong tòa lần lượt đi ra, cuối cùng tới ông Chánh Án, là một vị Trung Tá trong QĐVNCH. Đầu tiên họ đọc cáo trạng về trường hợp phạm pháp của tôi, tiếp theo ông Ủy viên Chính Phủ tức là Công Tố lên án tôi, tôi bị khép vào 3 tội.

    Tội thứ 1: Phạm vào điều Giáo lệnh thứ 5: Không được bê tha, rượu chè, cờ bạc, trai gái, và nghiện hút.

    Tội thứ 2: Can tội sát nhân, đánh chết người phụ nữ chân yếu tay mềm không thể tự vệ.

    Tội thứ 3: Dùng vũ khí để chống lại nhân viên công lực làm nhiệm vụ. Cuối cùng Ủy viên Chính phủ xin ông Chánh Án lên án thật nặng đối với quân nhân vô kỷ luật để làm gương.

    Đến phần luật sư biện hộ, vì không có luật sư của bị cáo nên Tòa chỉ định một luật sư tình nguyện giúp tôi, tôi nói là tôi không cần, tôi tự trả lời lấy.

    Về tội thứ 1: Các điều bê tha, rượu chè, cờ bạc, nghiện hút tôi không có, còn vấn đề trai gái thì tôi sống theo luật tự nhiên, giải quyết sinh lý, vì một người bình thường mà phải xa nhà cả hai, ba năm, thậm chí bốn năm năm thì bị mất quân bình, họ còn lo chiến đấu, sống chết bất ngờ, ăn uống thiếu thốn, nằm rừng ngủ bụi, thì làm sao chịu nổi.

    Tôi đặt ví dụ: Một người công chức mỗi ngày làm việc 8 giờ, tan sở đã có công xa đưa đón, về nhà có vợ con săn sóc, họ được ba bữa ăn nóng. Còn giới quân nhân thì sao, có nhà mà cả mấy năm không được về, có vợ mà phải đi ngủ với gái điếm lại còn bị tội bê tha, trai gái.

    Về tội thứ 2: Tôi nhìn nhận có nóng nảy, quá mạnh tay với cô đó. Nhưng thưa quan Tòa, tôi ăn bánh trả tiền sòng phẳng. Tại nó lấy tiền, lấy giấy tờ của tôi khiến tôi bị bắt, bị phạt kỷ luật, sau đó nó còn đòi tiền chuộc thì tôi không nóng sao được.

    Về tội thứ 3: Tôi dùng lựu đạn để gây áp lực chứ không hề mở khóa an toàn, không gây thương tích hay nguy hiểm cho nhân viên công lực, tôi không để nhân viên công lực bắt tôi vì tôi không muốn để những người phè phỡn ở thành phố bắt những thằng đi tác chiến, tôi quyết về đơn vị để cấp chỉ huy định đoạt. Phần trình bày của tôi đã xong.

    Tôi hỏi anh:

    - Sau đó thì sao, Công tố viên còn nói gì không? Tòa tuyên bố thế nào? Có nặng lắm không?

    - Khi tôi nói, Ủy viên Chính Phủ có vẻ bất bình, muốn ngăn lại, nhưng ông Chánh Án không tỏ thái độ gì nên ông ta cũng nín luôn, cuối cùng Ông Chánh Án thay vì kết án là tôi “cố sát” hay ít ra là kết tội “Cố ý đả thương, nhân thương trí mạng” gì gì đó, thì Ông Chánh Án đã lên án là “ngộ sát” và hình phạt là năm năm tù ở. Nhưng mới hai năm thì được cho ra ngoài tiếp tục phục vụ. Tôi nói thiệt, nếu có được đi ra ngoài đó nữa, tôi sẽ vẫn đi thăm “Đệ Thất Hạm Đội” đó nữa”.

    ***

    Vậy mà giờ đây, trước giây phút hấp hối của Thủ đô VNCH anh vẫn hiên ngang đóng tại cửa ngõ vào thành phố, vẫn cùng 6 người thương binh tự đặt dưới quyền điều khiển của anh, cạnh đó, các quân nhân Công Binh, Địa Phương Quân cũng lây cái hào khí của anh, họ hứa sẽ ở lại cùng chiến đấu với anh em Nhảy Dù.


    Hình minh họa

    Và bây giờ chúng ta hãy nghe Binh Nhất Hào Hoa của Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù kể tiếp:

    "Từ buổi trưa đến chiều ngày 29 tháng 4, 1975, các quân nhân của Sư Đoàn 18 BB đi về càng nhiều, có người thì đi lẻ tẻ, có tốp thì đi chung nhiều người. Tôi nghĩ đây là họ “di tản chiến thuật” để sẽ được “tái phối trí” ở một vùng nào đó". Nhiều người dân di chuyển trên đường giục chúng tôi:

    - Mấy chú Nhảy Dù ơi, bọn Việt cộng tràn tới rồi kìa !

    "Nghe họ nói, tôi cũng cảm thấy lo ngại, hàng đoàn quân còn chạy, thì mấy mươi người chúng tôi có nghĩa lý gì với cơn thác lũ của chiến cuộc. Tôi liếc nhìn các bạn Nhảy Dù tại đó, thấy họ vẫn bình tĩnh chứ không có vẻ lo sợ gì cả". Tôi nghĩ họ đã dày dạn phong sương, đã tôi luyện trong máu lửa nên lòng họ đã chai lì rồi chăng?

    ***

    "Từ ngày Tổng Thống Nixon lên chức, ông quyết định rút hết quân về nước trong “Danh dự”. Ông đưa ra áp dụng kế hoạch “Việt-Nam Hóa Chiến Tranh” là (bỏ của chạy lấy người). Quân Mỹ và Đồng Minh ào ạt đến rồi cũng ào ạt rút lui". Các căn cứ quân sự được chuyển giao lại cho QĐ VNCH, trong các căn cứ đó có căn cứ Long Bình là rộng lớn và ở gần thủ đô Sài Gòn nhất.

    Trong khi đó Chính Phủ Việt-Nam Cộng Hòa cũng đã có kế hoạch chỉnh trang thành phố, mà hai doanh trại của Nhảy Dù là trại Nguyễn Trung Hiếu của Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù nằm trên đường Lê Văn Duyệt đối diện với Nghĩa Trang Đô Thành Sài Gòn và doanh trại Phạm Công Quân của Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù nằm trong vườn cao su của nhà thờ Chí Hòa tại ngã tư Bảy Hiền là bị ưu tiên chiếu cố để chuyển đi. Cả hai Tiểu Đoàn 1 và 3 Nhảy Dù đều được giao cho một số nhà tole tại Cổng số 9 trong căn cứ Long Bình để làm doanh trại cho đơn vị mình.

    Vì doanh trại cũ của TĐ 3 ND sẽ được ưu tiên xây Bệnh Viện Vì Dân, nên toàn bộ trại nầy được chuyển về doanh trại mới gần cuối năm 73, còn TĐ 1 ND chưa kịp chuyển về căn cứ nầy, nên chỉ đưa một bán đội sáu người đến tiếp nhận và trông chừng doanh trại, và tôi là B.I “Hào Hoa” là một trong sáu quân nhân được phái đến giữ trại đó.

    Sáu người anh em chúng tôi thường hay sang doanh trại của TĐ 3 ND chơi với các quân nhân phụ trách về các việc chuyên môn của đơn vị nầy.

    Lý do tôi được đến giữ doanh trại mới nầy là trong lúc cùng đơn vị tham dự Hành quân tại Quảng Trị, tôi bị thương, được di tản về Bệnh Viện Đỗ Vinh để điều trị, khi vết thương đã bình phục, tôi chuẩn bị tăng cường HQ thì gặp lúc Tiểu đoàn cần một số quân nhân đến tiếp nhận và trông coi doanh trại mới vừa được chuyển giao và tôi được chọn cùng với 5 anh em khác.

    ***

    Vì vậy mà tuổi chiến trường, kinh nghiệm chiến trận của tôi còn kém cỏi, nên khi nghe dân chúng bảo chạy đi tôi cũng thực sự lo ngại lắm, các binh sĩ kia cũng có vài người dao động, lo lắng trước những việc diễn biến quá nhanh. Binh 2 Kha rụt rè hỏi TS Ngôn mà cũng có thể hỏi chung anh em Nhảy Dù.

    - Làm sao bây giờ Trung Sỹ?

    Trung Sỹ Ngôn đáp không do dự:

    - Như tôi đã nói ngày hôm qua, lúc trước ta tìm giặc mà đánh, bây giờ chúng nó tới thì ta phải đánh chứ còn tính gì nữa, nếu anh em nào sợ thì chạy theo đoàn người di tản đó đi, tôi không cản trở, còn anh em nào không sợ thì ở lại chúng ta cùng nhau chiến đấu tới cùng.

    Trước lời nói quyết liệt của Trung Sỹ Ngôn, anh em lên tinh thần trở lại, họ hứa sẽ ở lại chiến đấu tới cùng với TS Ngôn. Riêng tôi không có ý kiến, ai làm sao tôi làm vậy thôi.

    Trọn đêm đó tiếng súng nổ từ xa đến gần, hướng Sài Gòn thỉnh thoảng có tiếng pháo kích rải rác đó đây tuy không nhiều lắm.

    Chúng tôi cũng thay nhau ngủ gà ngủ gật trong các công sự bằng bao cát.

    Trời vừa hừng sáng ngày 30 tháng 4, 1975, Trung Sỹ Ngôn đốc thúc anh em tìm chỗ có thể vừa ẩn nấp vừa chiến đấu bên dưới gầm cầu, chứ mấy cái công sự bằng cát đó chẳng có nghĩa lý gì đối với xe thiết giáp T-54 của bọn cộng phỉ. Trung Sỹ Ngôn còn phái Hạ Sĩ Đắc và Binh Nhất Tân sang bên kia đầu cầu lấy thêm một ít súng chống chiến xa M.72 để tăng cường cho đầu cầu bên này, hai người đi một chập trở lại với mấy khẩu M.72.

    Trung Sỹ Ngôn chưa kịp có ý kiến gì thì chợt có tiếng động cơ của xe thiết giáp chạy rần rần từ xa. Dân chúng chạy tán loạn vào vệ đường la hoảng lên:

    - Bọn Việt cộng tới, nó có xe tăng nữa.

    Chúng tôi thấy giữa đường có 2 chiếc xe thiết giáp treo lá cờ thổ phỉ xanh, đỏ và ngôi sao vàng ở giữa, hai bên đường, bọn cộng phỉ xâm lược hộc tốc chạy theo. Chợt chiếc xe chạy đầu dừng lại và bắn vào ụ cát làm công sự trên cầu, sau tiếng nổ lớn ụ cát đó biến mất, chúng lại bắn tiếp các ụ khác.

    Chúng tôi nấp ở gầm cầu nên không bị thương tích gì, 3 người chúng tôi thủ M.72 bốn người kia thủ M.16 đồng loạt nhả đạn khiến lũ giặc xâm lược sợ hãi nằm rạp xuống vệ đường, chiếc xe chạy đầu sau khi bắn mấy phát liền chạy tới bị trúng đạn M.72 bị đứt xích đang xoay tròn trên xa lộ. Chiếc xe T.54 còn lại và lũ giặc cộng phỉ bắt đầu phản công, chúng đã biết chỗ ẩn nấp của chúng tôi nên tất cả đều nhắm bắn vào chỗ chúng tôi.

    TS Ngôn vừa chiến đấu vừa bảo anh em tôi:

    - Súng M.16 bắn vào bọn vc chớ đừng bắn vào xe thiết giáp chỉ gãi ngứa cho nó thôi, còn súng M.72 bắn vào xích của nó có kết quả hơn.

    Chúng tôi bắn xong một loạt liền thay đổi vị trí mới nên bọn vc tuy đông người hơn nhưng chưa bắn trúng anh em chúng tôi một viên nào. TS Ngôn và HS Đắc bảo anh em tôi bắn phủ đầu bọn nó cho hai anh sử dụng súng M.72. Chúng tôi làm y lời họ và hai anh đã bắn cháy chiếc T.54 thứ 2.

    Tuy áp lực trên 2 chiếc T.54 không còn, nhưng bọn giặc xâm lược tràn tới càng lúc càng đông, Trung Sỹ Ngôn căn dặn anh em:

    - Các bạn hãy tiết kiệm đạn, chúng ta phải chiến đấu lâu dài đó, không có ai tiếp viện đâu!


    Hình minh họa

    Chúng tôi bắt đầu bắn dè sẻn từng loạt một cũng có thể chận đứng bọn cộng quân xâm lược được chốc lát. Nhưng kìa, hai chiếc PT.76 khác lại ào ào chạy đến, chúng tôi chỉ còn có hai khẩu M.72. TS Ngôn thủ một khẩu, HS Đắc thủ một khẩu, chúng tôi lại bắn ào ạt yểm trợ cho hai người bắn chiến xa, nhưng phía cộng quân cũng bắn rát quá nên hai anh bắn không trúng chỗ hiểm, hai chiếc thiết giáp liền chạy thẳng qua bên kia cầu, bọn bộ đội cũng nương đà đó chạy theo xe qua cầu, một số quây tại đầu cầu gọi chúng tôi đầu hàng, bọn tôi đáp lời lũ giặc xâm lược từ phương bắc bằng những phát đạn thật chính xác, vì thế chúng không dám xông vào chỗ ẩn nấp của chúng tôi.

    Chúng tôi mong các quân nhân của đơn vị bạn giật sập cầu hoặc dùng súng M.72 bắn hạ mấy chiếc xe vừa thoát chạy sang bên đó, nếu để nó thoát được thì tai hại lắm.

    Nhưng chờ mãi mà chẳng thấy động tịnh gì cả, chúng tôi nghĩ là họ đã bỏ trốn hết rồi. Quá thất vọng TS Ngôn nói:

    - Chúng ta muốn góp sức để ngăn chận đường tiến của bọn cộng phỉ xâm lược, nhưng chúng ta cô đơn chiến đấu, sức chúng ta chỉ có hạn, đạn dược sắp hết rồi, bây giờ các bạn muốn tiếp tục chiến đấu hay muốn trốn đi đâu tùy ý. Riêng tôi quyết chiến đấu đến viên đạn cuối cùng.

    Ai nấy lên tiếng quyết chiến đấu, không lùi bước, riêng tôi có hơi do dự. Thấy vậy, Trung Sỹ Ngôn nói với tôi:

    - Em có thể chui vào đám lục bình trên mặt nước kia để rút đi, bây giờ còn kịp.

    Tôi cảm thấy bị chạm tự ái nên quyết ở lại. Bây giờ, bọn cộng phỉ xâm lược trên cầu kêu lớn:

    - Hàng sống, - chống chết!

    - Hàng sống, - chống chết!

    Chúng tôi trả lời bọn thổ phỉ xâm lược bằng mấy loạt đạn. Chống trả thêm một lúc, chúng tôi đã thực sự hết đạn.

    Bây giờ đến quyết định cuối cùng, Trung Sỹ Ngôn nói:

    - Anh em nào vì gánh nặng gia đình, muốn rút lui để giữ mạng sống thì cứ tự nhiên.

    HS Đắc hỏi lại:

    - Còn Trung sĩ thì sao?

    TS Ngôn đáp:

    - Tao không đầu hàng!

    Đắc nói:

    - Tôi cũng không đầu hàng!

    Cả bốn anh Lương, Tân, Kim và Kha cũng đồng lên tiếng:

    - Chúng tôi cũng vậy, không đầu hàng, còn mấy viên đạn bắn hết rồi tính.

    Thế là chúng tôi lại tiếp tục bắn tỉa những tên nào ló đầu vào gầm cầu.

    Rồi viên đạn cuối cùng cũng đã được bắn đi.

    Trung Sỹ Ngôn tuyên bố:

    - Chúng ta không đầu hàng giặc, cũng không để cho giặc bắt. Vậy chúng ta cùng nhau chia cái nầy.

    - Tự tử đi anh em ! Chúng ta dứt khoát không đầu hàng !

    Trung Sỹ Ngôn cầm trái lựu đạn M.26 đưa ra đoạn bắt tay từng người, xong tất cả ngồi quây vòng tròn quanh trái lựu đạn. Tôi cũng ngồi xuống như mọi người nhưng bất chợt Trung Sỹ Ngôn cầm cái ba-lô để trước mặt tôi và đẩy tôi ngã ngửa ra, tôi vội đưa tay ra dẹp cái ba-lô nhưng không còn kịp nữa...

    ***

    Khi tôi tỉnh dậy, cảm thấy mặt mũi tay chân đau buốt vì những vết thương, tôi khẽ rên lên, và một người thợ câu chèo thuyền nghe được đã ghé vào cứu giúp cho tôi. Từ đó đến nay tôi vẫn còn buồn anh em TĐ 3 ND đã chơi xấu với tôi, đã làm cái việc: “ăn đồng, chia... không đều” vì nhờ có cái ba lô Trung Sỹ Ngôn để trước mặt tôi mà tôi đã không chết cùng anh em.


    (SGtt-MĐ. Nguyễn Văn Nơi)

    https://www.facebook.com/photo.php?f...type=3&theater

  10. The Following 2 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    Phạm Văn Bản (04-27-2020), ttmd (04-19-2020)

  11. #330
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,245
    Thanks: 8,159
    Thanked 5,448 Times in 1,219 Posts

    Button Xanh Những Phi Vụ Trao Trả Tù Binh

    Những Phi Vụ Trao Trả Tù Binh
    Hồ Viết Yên



    KQ - Hồ Viết Yên

    Qua email chuyển tiếp, tôi đọc được bài viết "Nhớ Lại Cuộc Trao Trả Tù Binh 30 Năm Trước" của tác giả Cán bộ Việt Cộng (VC) Nguyễn Hoàng Long đề ngày 7/3/2003.
    Bài viết chỉ vỏn vẹn một trang giấy, nên tôi tò mò muốn biết thực hư ra sao, mức độ chính xác như thế nào về câu chuyện trao trả tù binh ngày 10-3-1973, tại thôn Long Quang, xã Ân Tín, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định của vị "Cán ngố" này.

    Cũng vẫn giọng điệu tuyên truyền, những con số đưa ra không chấp nhận được vì không phản ảnh tính trung thực cộng thêm những lời lẽ thù hận, nhục mạ Dân Quân Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) và Đồng Minh dầu rằng cuộc chiến đã chấm dứt hơn 27 năm rồi. Thật đáng buồn và ai oán cho kẻ cầm bút thiếu lương tâm, thiếu đạo đức.

    Ngày nay con người Cộng Sản và Việt Cộng đã hiện nguyên hình, ai cũng thừa biết họ là thứ người thế nào. Họ vinh thân phì da, họ quỵ lụy Tàu Cộng, họ xiết chặt và áp bức dân nghèo. Nỗi buồn cho vận nước, nỗi xót xa cho Dân tộc Việt Nam cứ mãi âm ĩ trong tôi. Càng cố quên, không nghĩ tới những việc đã nằm trong quá khứ, nhưng chuyện xưa cứ chập chờn trong trí nhớ, kéo tôi trở về những Phi Vụ xa xưa. Muốn hay không muốn thì những chuyến bay trao trả tù binh vẫn còn đây và ăn sâu trong tiềm thức nên tôi muốn ghi lại để chia sẻ cùng các bạn.

    Hiệp định Paris được ký kết, lệnh ngưng bắn bắt đầu có hiệu lực và kế đến là việc trao trả tù binh giữa hai miền Nam Bắc mà tôi đã có mặt trong nhiều phi vụ này. Cảm nghĩ của tôi lúc đó thật vui vì cuộc chiến sắp chấm dứt, những ngày thanh bình sắp đến trên quê hương. Vui vì sẽ không còn thấy chết chóc, thương tật bởi bom đạn. Vui vì những anh em tù binh của mỗi bên sẽ được trở về sum họp với gia đình, vợ con.

    Thời gian đó Phi Đoàn 237 mỗi ngày biệt phái hai máy bay Chinook để thi hành phi vụ trao trả tù binh. Những phi vụ này được đặt ưu tiên hàng đầu. Tù binh sẽ lần lượt được trao trả theo thứ tự. Thành phần quân Chính quy Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) trước. Sau đó đến những thành phần của mặt trận Giải phóng, VC nằm vùng và những phần tử hoạt động cho VC.

    Mỗi ngày 2 chiếc Chinook cất cánh từ Biên Hoà lên đáp phi trường Trảng Lớn, Tây Ninh. Tại đây Phi Hành Đoàn (PHĐ) đợi chỉ thị của Ủy Ban Quân Sự 4 bên (Gồm: Hoa Kỳ, VNCH, Mặt Trận Giải Phóng và CSBV). Mọi chuyến bay được điều động, thu xếp, và đặt dưới quyền kiểm soát của Ủy Ban Quân Sự 4 bên. Tôi được biết những phi cơ C-130 sẽ chở các tù binh từ Côn Sơn hay Phú Quốc về đây. Họ sẽ qua thủ tục trao trả và sau đó lên Chinook để chúng tôi chở tới địa điểm bàn giao.


    Hình minh họa

    Nhìn các phi cơ C-130 lần lượt đáp, những đoàn tù binh xuống máy bay. Họ được Quân Cảnh VNCH hướng dẫn và sắp xếp mỗi toán 45 người theo sức chở của Chinook.

    Tôi thấy họ không có vẻ gì khác thường ngoại trừ vài người phải chống nạng vì bị thương ở chân, họ nối đuôi nhau, và không ai nói với ai lời nào. Khuôn mặt họ không biểu lộ vẻ vui hay buồn phiền.

    Kế phi đạo, là một khu dành riêng dùng làm địa điểm cho thủ tục trao trả. An ninh, trật tự ở đây là phần vụ của lực lượng Quân Cảnh. Những người tù binh khi đến đây họ có quyền quyết định xin ở lại hay tiếp tục trở về phía bên kia. Ranh giới "Đi hay Ở" chỉ là 1 lằn vẽ, hay những sợi dây. Quyền lựa chọn dành cho mọi tù binh, điều này chứng tỏ sự yêu chuộng Tự Do và lòng nhân đạo của Chính quyền miền Nam Việt Nam.

    Mỗi toán đều được đưa đến lằn ranh "Đi hay Ở". Nếu bước qua lằn ranh thì sẽ được ở lại, còn đứng yên trong hàng thì sẽ lên Chinook để tới địa điểm bàn giao. Mỗi toán đều có vài người xin ở lại. Một số ít người vì đứng cách xa lằn ranh, muốn chạy qua để xin ở lại nhưng không kịp, họ đã bị kéo lại và ăn đòn. Nếu không bước qua được lằn ranh thì Quân Cảnh cũng không được quyền can thiệp. Đó thật là điều oái ăm, tội nghiệp cho ai không may mắn, bị kéo lại. Nhiều lúc ngồi đợi, tôi hỏi chuyện những người lính Quân Cảnh và được nghe họ kể những câu chuyện tù binh CSBV trừng trị nhau trong tù và có nhiều câu chuyện thật ghê rợn. Nghe để thấy con người Cộng Sản thật tàn ác.

    Có lệnh cất cánh bay đến Căn cứ Thiện Ngôn, gần biên giới Campuchia (Lúc này đang ở dưới sự kiểm soát của Việt Cộng). Tôi đã từng đáp vào căn cứ này hằng ngày dưới thời của Đại Tướng Đỗ Cao Trí. Thiện Ngôn là bộ Chỉ huy của Lữ đoàn Dù trong trận săn đuổi và triệt hạ nguồn dự trữ, kho súng đạn và đồ tiếp tế của VC trên đất Miên.

    Chúng tôi cất cánh bay sau chiếc trực thăng UH-1 có sơn màu cam của Ủy Ban Quân Sự 4 bên. Khi đáp xuống Thiện Ngôn, chúng tôi tắt máy và chờ lệnh, tôi bước ra khỏi phòng lái, nhìn về phía những tù binh theo nhau xuống phi cơ.

    Dưới đất đã có các cán bộ VC đến nhận tù binh. Vài người đầu tiên vừa đụng chân tới đất thì bắt đầu cởi quần áo quăng xuống đất, thế là tất cả những người còn lại đều cởi quần áo quăng đầy trong máy bay. Tôi bắt đầu thấy họ không còn như khi từ C-130 xuống nữa. Họ giơ tay, la ó, hò hét những khẩu hiệu, nào hoan hô, nào đả đảo, số tù binh đông, nên tôi không nhìn thấy được ai ra lệnh và những khuôn mặt tôi mới nhìn thấy bình thường kia giờ đây trở nên đằng đằng sát khí. Tôi nghĩ là chúng ta đã lầm và đang thả cọp về rừng. Nhưng đây là điều quan trọng trong hiệp định Paris thì dầu muốn dầu không cũng phải thực hiện.

    Bên trong chiếc Chinook giờ đây giống như phòng chứa rác. Không những quần áo mà còn những đồ mà Chính phủ VNCH cho. Anh em Cơ Phi, Xạ Thủ và Áp Tải phải ra công dọn dẹp vì nếu để, khi quay máy những quần áo này sẽ bị hút lên dính vào cánh quạt, làm hư hại máy bay. Mỗi chuyến đáp đều phải dọn dẹp, đều phải nghe và đều phải thấy những điều chướng tai gai mắt. Trong lúc chờ đợi lệnh được cất cánh, tôi đi vòng chung quanh máy bay để kiểm soát, quan sát cánh quạt và toàn thân của máy bay.

    Khi tôi quay lại thì thấy cô Phóng viên VC đang chụp hình tôi. Rồi trong những lần đáp khác cũng thấy cô chụp hình. Có lúc cô đứng xa chụp, có lúc cô lại gần chụp. Máy hình hiệu Canon, coi cũng có vẻ “Pro” lắm. Nhưng sau đó tôi để ý và suy nghĩ thì hình như cô cốt ý chụp chiếc Chinook ở những góc cạnh khác nhau hơn là chụp hình tôi.

    Tôi muốn chọc nên tôi đợi cô đến gần máy bay thì làm bộ đi ngang và nói “Nếu trong máy có phim thì tôi sẽ cho địa chỉ để gởi hình”. Cô không nói không rằng bỏ đi một nước. Thế là “Thúy đã đi rồi”, và từ đó tôi không còn được cô chiếu cố chụp hình nữa.

    Chở trả tù binh CSBV thì nhiều nhưng nhận lại bạn mình không được bao nhiêu. Cứ vài ngày thì nhận được năm hay mười người. Lâu lâu nhận được một toán vài chục người. Trong một bữa trưa để chờ nhận khoảng 15 hay 16 anh em, nghe nói họ đang được dắt đi bộ từ sáng sớm bên kia Biên giới Campuchia và băng rừng về đây. Tôi ngồi đợi mà lòng bồn chồn, náo nức vì nghe nói trong danh sách có 2 Hoa Tiêu của Phi Đoàn 237 Chinook. Đó là Thiếu Tá Trọng và Trung Úy Thanh, đã bị bắn rớt và bị bắt làm tù binh, còn anh em Cơ Phi, Xạ Thủ và Áp Tải đã không may phải hy sinh cho Tổ quốc. Bất chợt, 2 chiếc F-5 bay rất thấp qua căn cứ Thiện Ngôn.


    Hình minh họa

    Trong lúc chúng tôi còn đang ngơ ngác, nhìn theo, không biết lý do gì họ lại bay thấp như vậy. Lúc ngó lại sân bay và những căn lều tranh thì không còn thấy một bóng dáng nào trên mặt đất. Tôi định lên quay máy để liên lạc với UH-1 của Ủy Ban Quân Sự 4 bên. Nhưng súng ống từ đâu đã chỉa vào chúng tôi, những khẩu phòng không cũng đã được lộ ra, đang chỉa lên trời. Chúng tôi bị giữ lại Thiện Ngôn hơn cả giờ, trong suốt thời gian chờ đợi Ủy Ban Quân Sự 4 bên điều đình và thuyết phục đơn vị VC đang đóng tại đây cho chúng tôi cất cánh về Tây Ninh, và điều buồn hơn hết là trong ngày hôm đó các anh em đáng lẽ được trả về với gia đình thì đều bị giữ lại.

    Sau khi đã trao trả hết tù binh chính quy CSBV, chúng tôi lại bắt đầu chở tù của những thành phần Mặt Trận Giải Phóng, VC nằm vùng và những phần tử hoạt động cho VC trong đó có cả thành phần Sinh viên hoạt động cho VC. Đây là đám người “Ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng Sản”.

    Những chiếc xe GMC bít bùng chở họ vào phi trường Biên Hoà, rồi được sắp xếp lên Chinook để chúng tôi chở lên Lộc Ninh, một tỉnh nằm sát biên giới Miên Việt, đã bị VC chiếm giữ. Nhắc đến Lộc Ninh không bao giờ tôi quên được Phi Hành Đoàn của Đại Úy Trần Tấn Thọ và Thiếu Úy Ngô Kim Hoàng cùng anh em Cơ Phi, Xạ Thủ và Áp Tải. Khoảng đầu năm 1971 khi đến đây đáp, móc hàng và bay tiếp tế cho Căn cứ Snoul, Phi Hành Đoàn đã bị phòng không bắn cháy khi vừa tới Snoul. Phi Hành Đoàn bị phỏng nặng, nhưng may mắn không ai bị thiệt mạng. PĐ 237 mất đi 1 Chinook.

    Khác với những lần trao trả trước ở Tây Ninh, địa điểm trao đổi lần này diễn ra tại Lộc Ninh, thuộc vùng kiểm soát của Việt Cộng cho nên sự quyết định “Đi hay Ở” của những tù binh VC gặp nhiều khó khăn hơn bởi vấn đề an ninh không được chặt chẽ như ở Tây Ninh. Khi bị kéo lại là bị đánh tơi bời. Tôi chở những người về Biên Hoà mà mặt mày bầm dập, còn dính máu, dầu đã được bên mình băng bó.

    Trong kỳ trao trả này, chỉ có trả mà không có nhận, thêm điều buồn là một Nhân viên phi hành của PĐ237 đã hy sinh cho Tổ Quốc vì trúng đạn VC bắn lên khi Chinook đang giảm cao độ để vào đáp Lộc Ninh. Điều này làm cho cả PĐ237 rất đau buồn. Nhưng vì lệnh từ trên đưa xuống cho nên các phi vụ vẫn phải tiếp tục.

    Qua những phi vụ trao trả tù binh, đối diện với những điều mắt thấy tai nghe, nhìn thấy rõ con người CSBV và VC, thấy đồng đội bị bắn chết, dầu hiệp định Paris đã ký kết, lệnh ngưng bắn đã ban hành, tôi thấy buồn và chơi vơi vì đàn cọp dữ nay được thả về rừng. Sớm muộn gì cũng sẽ tới phiên chúng tôi, cũng sẽ lãnh những viên đạn thù từ những kẻ mà chúng tôi đã chở trả về. Thật vậy, thời gian không bao lâu, vào cuối năm 1973 trong ngày lễ Chúa Giáng Sinh thật đẹp, Phi Hành Đoàn chúng tôi đã nhận viên đạn phòng không đầy hận thù gởi tặng ở cao độ 4.500 bộ tại mật khu Đồng Xoài và chỉ trong gang tấc thân xác chúng tôi đã bị nổ thành tro bụi, nhưng Thượng Đế vẫn còn thương và cho tôi sống để tôi có cơ hội kể lại chuyện này.


    Hồ Viết Yên
    K7/68KQ
    PĐ237 / PĐ241 Chinook[/B]

    https://www.facebook.com/groups/1051...9383096433124/

  12. Xin cám ơn BachMa

    Phạm Văn Bản (04-27-2020)

Trang 55/56 đầuđầu ... 54553545556 cuốicuối

Similar Threads

  1. Trả lời: 20
    Bài mới nhất : 12-17-2019, 03:19 AM
  2. Trả lời: 18
    Bài mới nhất : 08-20-2017, 06:40 PM
  3. Hình Ảnh Kỷ Niệm Xưa Không Bao Giờ Quên !
    By TAM73F in forum Phòng Chiếu Phim Dài
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 03-14-2013, 01:33 AM
  4. Không Cho Phép Mình Quên
    By Longhai in forum Truyện ngắn
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 11-03-2012, 12:42 AM
  5. 27 Tháng Giêng 1973 : Không Thể Nào Quên
    By Longhai in forum Chuyện Đời Lính
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 08-03-2012, 11:36 PM

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter