Trang 46/53 đầuđầu ... 364445464748 ... cuốicuối
kết quả từ 271 tới 276 trên 316

Tựa Đề: Bạch Mã

  1. #271
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,187
    Thanks: 7,823
    Thanked 5,262 Times in 1,160 Posts

    Button Xanh Câu Chuyện Tù... Số Mạng (Phần I)

    Câu Chuyện Tù... Số Mạng (Phần I)

    LTS. Sau tháng Tư 1975 tại Việt Nam , người viết loạt bài này từng lãnh án tử hình vì bị kết tội “phục quốc.” Đúng như quẻ bói đoán trước trong xà lim tử hình, người tù được giảm án xuống chung thân, hơn 8 năm sau, giảm thành 20 năm. Rồi nhà tù ăn có chính sách đổi mới, cũng đổi mới bằng cách cho tù đi phép để thâu tiền, người tù tử hình về nhà, và duyên số...

    ***
    1. Án Tử Hình

    Tôi lập gia đình năm 1977, vợ của tôi là cô bạn học chung lớp từ thuở lớp 10. Từ tình bạn đồng môn ban đầu, hai năm sau, năm lớp 12, một ngày nọ, bất chợt nhìn thấy ở cuối lá thư của nàng nhờ bạn học lén chuyền cho tôi trong giờ học, nội dung thư cũng chỉ là những chuyện tào lao, ta ri... ta ra... của tuổi học trò như hàng trăm lá thư mà chúng tôi đã gởi cho nhau trước đó, nhưng ở cuối thư nàng lại chấm dứt bằng ba chữ mới tinh: Em yêu anh!

    Nàng đã ngỏ lời yêu tôi trước, còn tôi lại cúi đầu run run e lệ, thẹn thùng, ngoẻo đầu, cắn móng tay... chấp nhận.

    Quen nhau năm 70, yêu nhau năm 72, nhưng mãi hai năm sau ngày “bể dĩa, tan hang” tháng Tư 1975, chúng tôi mới cưới nhau tháng12-1977. Không may, duyên số của chúng tôi lại quá ngắn ngủi vì đến tháng 4-1979, khi con gái đầu lòng của chúng tôi mới 8 tháng tuổi thì cả hai chúng tôi đều bị bắt vì tội "Chặt tre, chống Trời" (Chính trị) !


    Hình minh họa

    Khi ra tòa, tôi bị lãnh một bản án kinh hoàng: Tử hình! Còn vợ tôi, tòa án xét vì cô ấy chỉ làm theo lời chồng và con gái của chúng tôi còn quá nhỏ, cần phải có mẹ nuôi dưỡng nên đã tuyên cho cô ấy một bản án tù ở bằng đúng với thời gian tạm giam cho tới ngày ra tòa, nghĩa là trả tự do ngay tại tòa ngày tuyên án.

    Trong biệt giam tử hình, tôi có một người "bạn tù" cùng mức án, đã ở trong đó trước tôi và chờ ngày thi hành án là chú Ba P. tức là Tr/Tá Đinh Văn P. .

    Sau ngày 30/4/1975, chú Ba đã không chịu ra trình diện mà còn dẫn cả một đoàn quân hỗn hợp đủ mọi quân binh chủng thuộc QLVNCH vào rừng, lập ra một chiến khu kháng chiến chống chính quyền CS.

    Hơn một năm sau, vào đầu năm 1977, khi mật khu kháng chiến bị bao vây tấn công và tan rã, chú Ba bị bắt tại chiến trường, vì mải mê chiến đấu mà quên chừa lại viên đạn hay quả lựu đạn cuối cùng cho bản thân chú!

    Vì là bạn đồng chí & đồng cảnh nên chúng tôi rất mau chóng thân thiết nhau. Chúng tôi vẫn bình tĩnh, vui vẻ sống trong một hoàn cảnh mà giờ đây khi nhớ lại, tôi vẫn còn rợn người, không thể hiểu được vì sao chúng tôi lại tỉnh bơ khi cái chết cận kề đến như vậy?

    Cho đến một ngày kia, bên ngoài nổi cơn giông. Sau một hồi sấm sét rung rinh đất trời, cơn mưa tầm tã đổ xuống ầm ầm tưởng chừng như không bao giờ dứt.

    Tôi ngồi bó gối, ngước lên khe cửa sổ tí xíu nhìn ra ngoài trời mưa gió...nhớ lại hoàn cảnh của bản thân, nhớ tới vợ con, nhớ tới gia đình...tự nhiên tôi tuôn nước mắt trong lặng thinh. Dưới ánh đèn bóng vàng vọt của cát-xô, chú Ba trông thấy tôi như vậy, ông buột miệng:

    - Sao tự nhiên chú em có vẻ nản chí như vậy, chú em có chuyện gì mà buồn vậy?

    - Sao không buồn được chú Ba, chuyện mong ước chưa thành, chưa làm được điều gì cho dân tộc mình nhờ, chưa xong bổn phận với gia đình, vợ con; mới có hai mươi mấy tuổi đầu thì bản thân cháu đã lãnh án tử, nằm chờ ngày chết ở pháp trường thì làm sao mà cháu không buồn?

    Đang nằm, Chú Ba bật ngồi dậy, nhìn thẳng vào mặt tôi chăm chú một hồi rồi ông khẽ khàng nói:

    - Chú em yên tâm đi, chú em không bao giờ chết vì cái bản án tử hình này đâu, đừng có nản chí.

    - Trời đất, tòa đã tuyên án tử mà cháu thì không làm đơn xin tha tội chết, như vậy thì nay mai, sớm muộn gì tụi nó cũng sẽ xách cháu đem đi bắn là cái chắc rồi, làm sao mà cháu không chết vậy Chú Ba?

    - Tao nói chú mầy không chết đó! Nếu muốn biết chắc chắn thì mình xích ra xa nhau một chút cho trống chỗ, tao coi cho chú mầy một quẻ là biết liền.

    Sở dĩ ông nói vậy vì chúng tôi nằm trên nền tráng xi măng, cùng bị cùm hai chân vào một thanh sắt, hai tay của chúng tôi đều đeo đồng hồ Omega (còng số 8).

    Do căn biệt giam quá hẹp, muốn có một chỗ trống giữa hai người, chúng tôi phải dọn dẹp bớt những tư trang ít ỏi, những keo hũ lọ đựng thức ăn gia đình đã thăm nuôi mới có được một khoảng trống cỡ một mặt bàn học trò mẫu giáo. Ông kêu tôi khấn vái một câu gì đi rồi nói cho ông biết, căn cứ vào đó, ông sẽ coi cho tôi một quẻ. Và tôi đã khấn:

    - Cầu xin Trời Phật, những vị khuất mày khuất mặt... cho con biết tương lai, hậu vận của con ra sao.

    Chú Ba dùng chai dầu gió Song Thập viết dòng chữ này xuống nền xi măng, khoảng trống mà chúng tôi vừa tạo ra, rồi chú gạch gạch, xóa xóa, viết ra thành một dề số chi chít, kín cả tấm bản xi măng. Sau mươi phút im lặng, nhìn vào dề số chằng chịt đó, mặt ông dãn ra, tươi hẳn lên, ông thở một cái khì như cậu học trò vừa giải đúng được một bài toán khó. Chú nói:

    - Chuyện đầu tiên tao muốn nói với chú mầy là tao xác định chú mầy sẽ không chết trẻ như vầy đâu. Mạng của chú em mầy rất lớn vì nhờ luôn có ông Quan Đế Thánh Quân với lại nhiều vị Ơn Trên phò hộ. Chú em mầy thọ ghê lắm, tới gần ngót nghét một trăm tuổi lận đó! Hồi nhỏ thì hơi khó nuôi nhưng càng già thì càng mạnh giỏi, không có bệnh tật gì tầm bậy tầm bạ như người khác đâu. Từ bây giờ cho tới đó, có bỏ chú em vô cối mà giã thì chú em cũng văng ra, sống khỏe re. Bây giờ là tháng tư âm lịch phải hông, tới tháng mười, tức là sáu tháng nữa thì chú em sẽ thấy kết quả cụ thể là chú em sẽ không chết. Rồi đó, coi như chú em biết mình sẽ còn sống dài dài. Hễ còn sống tới già thì còn rất nhiều chuyện phải lo, vậy chú em muốn biết thêm chuyện gì nữa đây?

    Không biết có phải vì trong hoàn cảnh tuyệt vọng nên khi tôi quớ được lời phán tiên tri đầy lạc quan của Chú Ba, kể từ giờ phút đó trở đi, tôi trở nên phấn chấn, yêu đời hẳn lên vì tin chắc chắn vào một tương lai tươi sáng (đã thoát chết án tử mà lại còn sống dai nữa) đang chờ đón tôi. Tôi vui vẻ hỏi:

    - Vậy chú Ba cho cháu biết chuyện gia đình, vợ con cháu sẽ ra sao đi?

    Nghe tôi hỏi như vậy, Chú Ba lại cắm cúi nghiên cứu tiếp, một lúc sau, chú trầm ngâm nói:

    - Chú em mầy không có duyên nợ lâu dài với vợ con lần nầy đâu! Vợ chồng, con cái đều... khắc tử với nhau. Nếu ở gần nhau thì vợ chồng, con cái tụi bây sống chưa nát tấm chiếu là sẽ bị mất mạng đó. Con gái của hai đứa bây cũng vậy, nó khắc với cha mẹ ghê lắm. Cái số của nó là phải làm con nuôi của người ta, nó mới không gây hại số phần của cha mẹ và mới nên người được. Sau nầy khi lớn lên, nó vẫn biết chú mầy là cha của nó nhưng nó sẽ không ở chung nhà mà chạy đi, chạy về thăm chú mày thôi. Nói là con nuôi người ta nhưng những người đó cũng là ruột rà, máu mủ gần như cha mẹ ruột của nó vậy.

    (Mãi sau này, tôi mới biết tin là khi chúng tôi bị bắt, vợ chồng người anh hai của vợ tôi đã đón con gái tôi từ nhà ba má vợ tôi mang về nuôi luôn, cho tới khi gả chồng năm nó 22 tuổi. Anh chị của vợ tôi chỉ có hai đứa con trai nên yêu thương, nuôi dạy nó như con ruột, nhưng khi nó vừa có đủ trí khôn, anh chị đã cho biết nó là con nuôi và đúng ra nó phải gọi anh chị là cậu mợ!)

    - Còn vợ của chú mầy thì... nói thật chú mầy đừng buồn, thím nó không có số sống gần chồng con! Hiện thím được thả ra rồi nhưng không có ở gần để nuôi dạy con đâu. Thím nó đang bôn ba kiếm sống xa nhà lắm, rày đây mai đó, đầu đình xó chợ mới có cái ăn qua ngày. Chú mầy đừng buồn, đừng tự trách bản thân đã thiếu trách nhiệm với vợ con. Tao nghiệm trong lá số này, biết chú mày rất thương vợ con và rất nặng lòng muốn lo cho vợ con, nhưng chỉ tại vì cái số của tụi bay là như vậy đó. Trời định rồi, không cãi lại được đâu!

    Và cũng rất lâu về sau, khi gặp mặt gia đình lúc được thăm nuôi, tôi mới biết vợ tôi khi đó đang đi theo một đoàn hát cải lương nhỏ của tư nhân, bán và soát vé vào cửa, vì vậy nên không thể mang con theo mà phải tiếp tục để nó lại cho anh chị hai nuôi và dạy học cho nó.

    Anh chị hai của vợ tôi trước 75 là hai nhà giáo dạy Trung học đệ nhị cấp. Anh bị động viên đi SQ Thủ Đức, cấp bậc & chức vụ sau cùng là Đ/úy chỉ huy phó Căn Cứ tồn trữ nhiên liệu Gò Vấp, cục Quân Nhu /QLVNCH. Sau ngày mất nước, anh bị đi tù cải tạo hơn ba năm, khi trở về thì nhà cửa, cơ ngơi đã bị tiếp thu nên anh phải sống tá túc trong nhà ba má vợ tôi, ngày ngày cùng chị làm những công việc lao động không tên để nuôi sống bản thân anh chị và hai đứa con trai và con gái tôi. Sau đó anh chị bị bắt buộc đi kinh tế mới tận vùng rừng sâu, nước độc Dương-Minh-Châu, Tây-Ninh.

    Đây lại là một câu chuyện dài có dính dáng, liên lụy tới vợ chồng, cha con tôi. Xin sẽ kể lại đoạn sau này.

    Thấy tôi ngồi im lặng không hỏi thêm điều gì nữa, biết tôi đang bị nhiều điều đau đớn cào xé tâm can, chú Ba nói tiếp tới như muốn giúp tôi quên đi cái số phần quá hẩm hiu, đen đủi, oan trái của gia đình và bản thân tôi:

    - Tao nói chú mầy đừng có buồn nữa, tại số Trời đã định như vậy rồi, có muốn cãi lại cũng không được đâu mà.

    Sau ngày mất nước rồi thì còn có biết bao nhiêu gia đình khác bị rơi vô hoàn cảnh túng cùng, khổ ải hơn nhà chú mày nhiều! Tan nhà, nát cửa, mất hết vợ con, còn bị mất mạng luôn nữa, như... tao nè! Vậy mà tao có buồn đâu, số Trời đã định rồi chú ơi. Biết như vậy rồi thì chú mày hãy yên tâm, cam phận. Nếu chịu chấp nhận số phận rồi thì nghe tao nói tiếp chuyện "con vợ sắp tới" của chú mầy nè.

    Vẫn chưa thoát khỏi ám ảnh tiên tri một số phận nghiệt ngã của gia đình, tôi ngơ ngác nhìn chú Ba:

    - Vợ con... sắp tới là sao chú Ba, vợ con nào vậy chú Ba?

    Chú Ba như không nghe câu hỏi ngớ ngẩn của tôi, chú cúi sát bản số tiên tri vận mệnh của tôi, tính toán một hồi thật lâu rồi nói chầm chậm, thật rõ như sợ tôi không chú tâm nghe:

    - Tao nói trước 7 điều về người vợ sắp tới của chú mày nha:

    1/ Năm 36 tuổi, chú mầy sẽ gặp người vợ thứ hai.

    2/ Con nhỏ đó là một người lai nhiều dòng máu chứ không phải người Việt "chánh nòi" đâu.

    3/ Bên cánh tay trái của nó, từ bắp vai xuống tới cùi chỏ, có một cái thẹo hay cái bớt, cái vá heo gì đó dễ thấy lắm.

    4/ Nó ở gần nhà chú mày.

    5/ Nó có quen biết gia đình gia đình chú mày, quen biết luôn gia đình cô vợ hiện nay của chú mày nữa đó.

    6/ Con nhỏ đó chủ động tới tận nhà làm quen, chứ không phải chú mày là người tấn công nó trước đâu. Cái số của chú mày có trốn trong phòng riêng đi nữa thì cũng có đàn bà, con gái tụi nó tới ... kiếm mày hà. Tin tao đi!

    7/ Hai đứa tụi bay làm đám cưới khi đang có... đại tang!

    Tôi suy nghĩ một lúc rồi hỏi chú Ba:

    - Cháu có thắc mắc này xin chú cho cháu biết, năm nay là 1981, cháu 28 tuổi, vậy năm cháu 36 tuổi là 8 năm nữa, năm 1989 phải không? Như vậy nếu cháu "bể án" tử hình xuống án chung thân, cháu chỉ mới ở tù có 10 năm thôi (tôi bị bắt năm 1979) mà án chung thân tội chính trị thì làm gì có chuyện được tha sớm để gặp gỡ rồi cưới vợ trong năm 1989 vậy chú Ba?

    - Nếu muốn biết chi tiết như vậy thì phải tính toán thêm nhiều lắm, mà cái chỗ này viết kín mít rồi làm sao viết thêm đây? Nhưng tao cam đoan 100% năm 36 tuổi chú mày sẽ có vợ, qua năm sau nữa khi 37 tuổi, chú mày sẽ có một thằng con trai. Có... chặt đầu tao, tao cũng vẫn cam đoan đúng là như vậy.

    - Chú cháu mình án tử hình, bây giờ tụi nó xử bắn không hà, chứ đâu còn xài máy chém hay mã tấu nữa, Chú Ba?
    Cả hai chúng tôi vô tư cười lăn ra sau câu nói đùa rùng rợn của tôi...

    Sau đó, tôi cũng quên hết buồn phiền, thản nhiên chờ đợi số phận, chờ đợi có một đêm nào đó, cánh cửa sắt cát-xô biệt giam này mở ra, rít lên ken két như tiếng nghiến răng của Tử Thần, tôi sẽ bị kêu tên để mang ra pháp trường khi trời chưa mờ sáng...

    Những năm đó, án tử hình tội chính trị có nhanh gì cũng phải 2-3 năm sau khi kêu án mới bị bắn. Không phải bởi lý do gì gì khác như chờ thẩm tra lại hồ sơ, chờ cứu xét giảm án, v.v... mà mục đích chính cho chuyện "câu giờ" này là để phòng ngừa tử tội có liên quan tới một hoặc vài vụ án khác, nếu bắn sớm quá thì e rằng sẽ bị những bị can khác đổ thừa cho tử tội đã chết mà chạy tội cho mình. Chính vì vậy mà có những tử tội bị tuyên đến hai, ba cái án tử hình!

    Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại. Câu nói đó có thể đúng với những người tù còn mong có ngày mãn án nên mới cảm thấy ngày tù quá dài. Ngược lại, người tử tù lại thấy sao một ngày trôi qua quá nhanh, cuộc đời mình sao quá ngắn ngủi. Những ngày nằm trong cát-xô tử hình, tôi "giải trí" bằng cách cố nhớ lại quá khứ, những ngày đã qua của cuộc đời mình, từ khi mới bắt đầu có ký ức của một đứa trẻ rồi từ từ lớn lên với bao nhiêu là kỷ niệm vui buồn.

    Với những chuyện đáng tiếc trong quá khứ, tôi phân tách thật chi ly mọi khía cạnh, lỗi lầm, sai sót của tôi để suy ra phương cách hành xử hợp lý nhất cho chuyện đó kết thúc thật hoàn hảo, chứ không tệ hại như trong thực tế đã xảy ra. Với những kỷ niệm đẹp, tối cố tình "chế" ra thêm, tưởng tượng ra thêm cho nó được kéo dài như bất tận....

    Cứ như vậy, tôi sống những ngày trong biệt giam mà tâm trí lại bay thoát tự do ra ngoài trời cao, không còn nhà tù, không còn phòng biệt giam tù túng, chật chội, tăm tối...không nghĩ tới ngày mai tôi sẽ còn cơ hội nhìn thấy ánh bình minh ban mai nữa hay không...

    2. Nửa Đêm Đọc Lệnh

    Cánh cửa phòng cát-xô biệt giam bật mở kêu lên ken két trong đêm khuya khu biệt giam tử hình nghe thật ớn lạnh đến rợn người...

    Tôi và chú Ba ngồi bật dậy, hai cái vòng sắt cùm chân quá chật nghiến thịt tôi tóe máu mà tôi nào có biết đau đớn gì! Đứng ngoài cửa có ba tên cai ngục áo vàng, nón cối che sùm sụp tới tận sống mũi như sợ người tử tù trông thấy mặt rồi sau khi chết sẽ hiện hồn về đòi nợ máu vậy!

    - Thằng nào "nà" Nguyễn Như Ý, đứng "nên", chuẩn bị ra ngoài, đồ đạc để "nại" đó.

    Tôi đưa hai tay, đang bị đeo còng số 8, siết chặt hai tay chú Ba, run run nói:

    - Vậy là cháu "đi" trước chú Ba rồi! Chú ở lại... mạnh giỏi nha chú Ba.

    Chú nhìn thật sâu vào mắt tôi, rất chậm nhưng thật rõ ràng, chú nói lại câu nói ngày nào mà chú đã nói với tôi:

    - Chú em yên tâm đi, chú em không bao giờ chết vì cái bản án tử hình này đâu.

    Tôi choàng hai tay qua đầu chú Ba rồi ôm siết chú, như thay thế một lời vĩnh biệt mà tôi không sao nói lên được. Đó là lần sau cùng tôi còn nhìn thấy chú Ba...

    Ba tên cai ngục dẫn tôi vào văn phòng của tay Giám thị trưởng trại giam, nơi vẫn thường làm cái thủ tục đọc lại bản cáo trạng và bản án mà tòa án đã tuyên cho tử tội nghe, cho họ ăn một bữa ăn và hút một điếu thuốc, trước khi làm nốt thủ tục sau cùng là mang ra pháp trường.

    Trong phòng đã có ba tên nữa đứng dàn thành hàng ngang, chờ sẵn trước khi tôi bị áp giải vào. Tên Thượng tá trưởng trại tay cầm một xấp giấy tờ; tên Trưởng phòng chấp pháp trước kia đã từng trực tiếp "làm việc" với tôi trong thời gian lấy cung (đúng ra phải nói là khảo cung tôi) và một tay lạ mặt vận thường phục, mà sau này tôi mới biết là Thẩm phán đại diện cho tòa án. Tên Trưởng phòng chấp pháp nhìn mặt tôi rồi xác nhận tôi đúng là phạm nhân Nguyễn Như Ý và ký vô biên bản. Tôi thầm nghĩ: "Như vậy là...xong hồ sơ mình rồi!"

    Tên Trưởng trại lạnh lùng ra lệnh cho tháo còng tay tôi rồi nói lớn:

    - Phạm nhân Nguyễn Như Ý đứng nghiêm, nghe đọc quyết định của chủ tịch nước!

    Cái đầu tôi đang trống rỗng không chút suy nghĩ, bỗng làm việc lại thật nhanh: "Sao lạ vậy ta? Mình không làm đơn xin tha tội chết, sao lại có quyết định của chủ tịch nước?"

    Tôi chưa kịp nghĩ tiếp thì tên công an trưởng trại đã đọc một hơi cái quyết định. Thật ra hắn đọc lắp bắp, cà lăm cà lặp vì đọc chữ không thông, nhiều đoạn bị ngắt quãng, im lặng do hắn phải đánh vần thầm. Nội dung cái quyết định nhắc lại tội trạng "phản cách mạng, phản lại Tổ Quốc, phản lại Nhân Dân của tôi và tôi đã bị kết án tử hình.

    Lúc đó có thể vì không còn gì để mà sợ trước cái chết đang hiển hiện chắc chắn không thể thoát khỏi, tôi tự nhiên đâm ra bực bội, nổi giận vì tên này đang kéo dài thời gian chờ chết của tôi và tra tấn tinh thần tôi vì sự dốt nát của hắn. Tôi hít một hơi dài, tính yêu cầu hắn bỏ qua những phần thủ tục rườm rà, đọc ngay cái phần quan trọng nhất cho rồi, khỏi mất thì giờ!

    "Nhưng, xét vì tên Ý chưa gây ra nợ máu với nhân dân, chưa gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho đảng và nhà nước, chưa đến mức cách ly vĩnh viễn cuộc sống (?), còn có thể được cải tạo lâu dài nên nay chủ tịch nước quyết định ân xá cho tên Nguyễn Như Ý từ án tử hình, thành án tù chung thân kể từ ngày bị bắt!

    Tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân và công an nhân dân tỉnh....có trách nhiệm buộc tên Ý thi hành quyết định này"..........

    Hà Nội ngày.....tháng 11 năm 1981,

    Chủ tịch nước đã ký.....

    (Tháng 11 đương lịch là tháng 10 âm lịch năm 1981)

    Tôi bị áp giải ra phòng giam tập thể ngay sau khi nghe đọc quyết định nên không thể trở về cát xô nói lời từ biệt, vĩnh biệt chú Ba, nhất là nói cho chú Ba biết lời tiên tri đầu tiên của chú cho vận mệnh của tôi là hoàn toàn chính xác.

    Sau vài tháng giam ở phòng giam tập thể, đầu năm 1982, tôi được chuyển ra miền Trung thụ hình án tù chung thân khổ sai tại trại tù A-20 Xuân Phước. Trại cải tạo A-20 này còn có tên do anh em tù nhân đặt cho nó là "Thung lũng tử thần" hay như KQ Đỗ Văn Phúc gọi, nó là "Tầng địa ngục cuối cùng".

    3. Trại tù Chung Thân Khổ Sai

    Trong trại tù A-20, tôi có quen biết rất nhiều các bác, chú, anh em đồng cảnh ngộ tù chính trị như tôi. Các vị đó gồm đủ thành phần trong chế độ VNCH từ một người Nông dân chân chất, anh Sinh viên, Giáo sư đại học, Luật sư, Bác sỹ y khoa, các vị SQ Hải- Lục- Không quân QLVNCH, các vị Bộ trưởng trong chính phủ, các Thầy dòng hay Linh mục, các Đại đức, các vị Mục sư, các vị Quản đạo Cao Đài, Hòa Hảo... Và trong số các "bạn tù" đó có vài người thân tình như linh mục Đ., đại đức T.T.S, Đ.Úy ĐPQ H.M.Q, Th/Tá Tiểu đoàn trưởng Công Binh H.Q.T... đã chấm cho tôi lá số Tử Vi. Có một điều lạ lùng là các vị đó đều nói y chang như chú Ba về người vợ trong tương lai của tôi.


    Hình minh họa

    Đọc những hồi ký của cựu tù từ trước tới nay, tôi thường thấy người ta than rằng đói khổ lắm. Điều đó ai mà không biết. Đã thế chúng tôi lại là những Tù Nhân Khổ Sai, bị án chung thân, trong khi cả nước thiếu ăn thì bọn tù no làm sao được!

    Năm 1986, nhà nước CSVN thay đổi, đi theo chính sách gọi là "Đổi mới", xã hội và kinh tế VN như đang hạn hán gặp mưa rào, ngoi ngóp hồi dương sau hơn mười một năm hấp hối. Kinh tế VN khấm khá hơn. Ngoài xã hội "có ăn" thì trong nhà tù cũng được... ăn có!

    Khoai mì lát, bo bo, cao lương đỏ, bột mì luộc... từ từ biến mất trong bữa ăn của tù nhân, thay vào đó là cơm gạo. Thức ăn mặn truyền thống "canh đại dương" (nước muối luộc rau muống) dần dần trở thành: đầu tiên là xác mắm thối kho nước muối, sau rất lâu sau đó là thức ăn mặn thật sự, dù khẩu phần rất là khiêm tốn, như cá tạp kho, thịt mỡ kho...

    Đã đi qua giai đoạn thèm rau xanh tới mức vặt sạch cả cỏ kiểng để ăn, tới giai đoạn đội trồng rau xanh gánh sản phẩm củ cải trắng, cải bẹ xanh tù-xậy... từ ngoài đồng về bếp trại, cân để lấy số liệu báo cáo rồi lại gánh thẳng ra... hố rác đổ bỏ vì không còn bất cứ ai nuốt cho nổi nữa.

    Các CA quản giáo nhận các lô đất khoán, chuyển qua trồng những loại nông phẩm thật sự có lợi ích kinh tế, nhận các ao nuôi cá, lò gạch... hay làm cai thầu nhận các đội tù nhân có tay nghề xây dựng, làm mộc ra ngoài làm thuê nhà cửa cho dân. Tù nhân đã thật sự làm giàu cho các cán bộ CA (thay vì "làm giàu" cho nhà nước) thì cách nhìn của họ đối với tù nhân cũng thay đổi, không còn cực kỳ tàn độc, bất nhân như trước... Đã có những bữa tiệc ăn nhậu thường xuyên được tổ chức trong các nhà lô của các đội với những lý do vu vơ nào đó như mừng vụ mùa bội thu, mừng cán bộ quản giáo mới tậu được chiếc xe Honda cúp (xe second hand nhập cảng từ các nước Đông Nam Á)... mà các cán bộ CA quản giáo và quản chế dẹp cất hết súng ống, ngồi bệt xuống đất chung chén, cụng ly với tù nhân.

    Quà thăm nuôi không còn khống chế chỉ có 3 kí lô nữa mà xả cảng, tùy theo khả năng của gia đình cho bao nhiêu thì tù nhân được nhận bấy nhiêu. Định kỳ thăm nuôi từ ba tháng một lần tăng lên một tháng hai lần. Một nhà thăm nuôi mới khá rộng rãi, khang trang, có vườn hoa cây kiểng rất đẹp được chia ra thành nhiều phòng riêng có giường ngủ, bàn ghế để cho các phạm nhân "cải tạo tốt" được ở lại thăm gặp gia đình, vợ con có khi cả tuần lễ, ăn gần hết quà thăm nuôi mới chịu trở vô.

    Nhà tù “ăn có” đổi mới. Bể án

    Chính nhờ chính sách Đổi mới mà đến giữa năm 1988 có một chủ trương "cách mạng" trong chính sách cải tạo là: nếu các tù nhân đã thụ án được 1/2 bản án, không có thành tích trốn trại, không bị giam kỷ luật vì phạm nội quy trại, được gia đình làm giấy bảo lãnh... thì được phép "cải tạo không cách ly xã hội", nói nôm na là được trại giam cấp một giấy chứng nhận đang cải tạo không cách ly xã hội, mang về trình CA tại địa phương cư trú rồi ở lại nhà mình, đi làm ăn kiếm sống, nuôi gia đình như một người bình thường. Hàng tháng, tù nhân phải quay về trại đổi giấy chứng nhận và đóng cho trại một số tiền, gọi là tiền công lao động đóng góp cho quỹ của trại. Số tiền này không phải là nhỏ, nhưng có rất nhiều gia đình cắn răng ăn mắm húp dòi, chắt mót, tiện tặn để mua sự tự do(!) cho chồng con, cha anh. Chính sách cải tạo không cách ly xã hội này chỉ áp dụng cho tù chính trị phạm. Các tù nhân hình sự, dù chỉ còn dăm ba tháng của bản án cũng tuyệt nhiên không được hưởng chính sách này!

    Năm 1988, tôi "bể án" chung thân xuống mức án 20 năm, sau đó được giảm thêm 6 tháng vào đầu năm 1989. Tính ra từ khi bị bắt đến thời điểm đó, tôi đã thụ hình được 1/2 bản án 20 năm. Như vậy là tôi đã lọt vào danh sách đủ điều kiện "cải tạo không cách ly xã hội".

    Nguyễn Như Ý
    https://www.facebook.com/search/top/...E1%BA%A7n%20I)

    Còn tiếp Phần II

  2. The Following 3 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    hoang yen (11-26-2018), khongquan2 (11-26-2018), muahong (11-30-2018)

  3. #272
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,187
    Thanks: 7,823
    Thanked 5,262 Times in 1,160 Posts

    Button Xanh Câu Chuyện Tù... Số Mạng (Phần II)

    Câu Chuyện Tù... Số Mạng (Phần II)

    4. Tù Đi Phép - Vợ Con - Duyên Số

    Sau khi má tôi đứng tên bảo lãnh và qua hàng loạt những thủ tục "đầu tiên", tôi đã cầm được tấm giấy xác nhận cải tạo không cách ly xã hội do trại giam A-20 cấp, có hiệu lực một tháng và cho phép tôi... "đi lại trên khắp lãnh thổ Việt-Nam, làm ăn mọi ngành nghề mà pháp luật CHXHCNVN cho phép."

    Không thể nào viết lại được niềm vui sướng tột độ của tôi khi cầm được tấm "bùa" sẽ giúp tôi trốn trại hợp pháp này. Đúng nghĩa đen là như vậy vì nhờ có được lá bùa này, đã có mấy chục anh em tù nhân chính trị trọng án như tôi, từ trại giam A-20 trốn trại, vượt biên thoát được ra nước ngoài an toàn. Sau đó họ lại nhờ tấm giấy bùa này, có đóng mộc đỏ chét của trại giam A-20, chứng nhận họ đang là tù Phản Cách Mạng, trọng án đang thụ hình mà họ và gia đình nhanh chóng được cứu xét cho đi tỵ nạn tại các nước tự do khắp thế giới. Chưa bao giờ và sẽ không bao giờ lại có một cơ hội như thế cho những tù nhân chính trị, gia đình và thân nhân của họ như thế nữa!

    Tôi trở về ngôi nhà cũ của mình, nơi đã lớn lên cùng cha mẹ, anh chị em sau mười năm lưu đày biệt xứ. Đã có quá nhiều thay đổi, khung cảnh xưa nay đã gần như không còn lưu lại được mấy nên khi đứng trước con hẻm dẫn vào nhà mình, tôi cứ tần ngần, nhìn đi nhìn lại coi đã đứng đúng con hẻm nhà mình hay chưa? Tôi mở cửa bước vào nhà mà lòng nửa vui mừng, nửa hồi hộp tưởng như mình đang xâm nhập vào nhà của ai đó, vì ngay trong nhà tôi cũng đã thay đổi quá nhiều.

    Nhà trước kia rất đông người, suốt ngày rần rần, rộ rộ nên tôi không thấy nó rộng lớn, nay thì anh em tứ tán bốn phương trời, ngôi nhà vắng ngắt như tờ, chỉ còn lại thui thủi một mình má tôi nên tự nhiên sao tôi thấy nhà mình rộng lớn quá chừng, phòng đâu mà nhiều phòng quá vậy? Nhà rất rộng nhưng gần như trống trơn, không có bao nhiêu đồ đạc vì sau 75, hưởng ứng chiến dịch "Nhà sạch nhà, phố sạch phố", bao nhiêu đồ gỗ như bàn, tủ, ghế, salon đều đã bị bán sạch trơn để đổi lấy cơm gạo! Ngay cái tủ chân quỳ bằng gỗ cẩm lai thật đẹp làm tủ thờ ông bà cũng đã biến mất, thay vào đó là một cái bàn thờ chân cao bằng gỗ tạp.


    Hình minh họa

    Tôi lặng lẽ thắp mấy nén nhang dâng lên, rồi đứng lặng im nhìn những di ảnh của những người thân yêu ngày nào, nay đã không còn nữa. Sau khi bị quy tội Tư sản mại bản và tịch thu hết cơ ngơi, tài sản, mọi xe cộ cơ giới, con cái thì bị đi tù cải tạo, ba tôi phát bệnh và mất năm 1977. Ba tôi trước 75 là một nhà khai thác lâm sản và đồng thời là thầu xây dựng cho Điện Lực Việt Nam , vì vậy nên bị kết tội "công tác với Ngụy quyền Sài-Gòn". Nhưng ngay khi thấy hình ảnh má tôi đang lúi húi nấu bữa ăn chiều sau bếp, cái cảm giác lạ nhà của tôi biến mất và tự nhủ "đúng nhà mình đây rồi"!

    Má tôi biết trước là tôi sẽ về nhưng bà không biết chính xác là ngày nào nên bà rất bất ngờ, vui mừng vì thật sự đã thấy thằng Út đang đứng ngay cửa bếp, im lặng nhìn bà, nó cười rất tươi nhưng trên đôi má lại ướt đẫm hai dòng nước mắt.

    Bữa cơm chiều được dọn ra bàn nhưng hai má con không ăn mà chỉ ngồi kể chuyện, đúng ra là tôi im lặng nghe má tôi kể lại chuyện gia đình. Khi nói đến vợ con tôi, bà ngập ngừng một lúc rồi khẽ khàng nói:

    - Con gái của con vẫn đang sống với cậu mợ Hai của nó ở đâu miệt kinh tế mới Dương Minh Châu, Tây Ninh, từ hồi hai vợ chồng con bị bắt cho tới bây giờ. Nó được cậu mợ Hai dắt về thăm má mấy lần, nó cũng biết mình chỉ là con nuôi của cậu mợ và biết má là bà nội nó, nhưng khi má xin "bắt" về đây mà nuôi thì nó không chịu! Má nói về đây có trường học đàng hoàng, có tiện nghi đèn đuốc đầy đủ, tiện cho nó ăn học hơn ở vùng kinh tế mới thiếu thốn, khổ cực mọi bề... nhưng nó khôn lanh giống con lắm, nó nói rành rọt như người lớn vậy. Nó nói nó sống với Ba Má Hai từ nhỏ tới giờ nên nó thương như ba má ruột, hơn nữa là Ba Má Hai là hai giáo sư hồi xưa nên dạy cho nó hay hơn thầy cô giáo trong trường nhiều. Nó nói trong trường học cái gì thì nó học cái đó, không thiếu một môn gì nhưng không có hắc ám như trong chương trình của Nhà Nước đâu nội ơi! Ba Má Hai còn dạy con tiếng Anh, tiếng Pháp nữa đó nội, trong trường học cỡ lớp của con, họ chưa có dạy nên mấy lần con thử nói chiện bằng tiếng Anh & Pháp với mấy đứa bạn bằng (tuổi) con, tụi nó hỏng biết con nói tiếng gì hết đó nội! Mà thiệt đó con, má thử hỏi nó mấy câu chào hỏi xã giao bằng tiếng Pháp, nó trả lời nhanh như két mẹ vậy, mà lại đúng giọng Parisiène nữa chứ! Ba Hai của nó là giáo sư Pháp Anh cho mấy trường trung học lớn ở SG trước khi ổng là Đ/úy, con biết mà phải hôn?

    Thấy tôi vẫn im lặng không hề hỏi hay nói một câu gì từ đầu câu chuyện, má tôi nói tiếp:

    - Còn vợ của con thì... thì... nó chết rồi! Má nghe cậu Hai nói, vợ con sau khi ra tù, nó đi theo một đoàn hát cải lương, làm nhân viên bán và xét vé vô cửa để kiếm sống. Cách đây mấy năm, đoàn hát đang lưu diễn ở miền Trung, gặp mưa bão, nó bị sưng phổi rồi viêm phổi cấp tính gì đó rồi chết... Đoàn hát chôn nó ở ngoài đó, cả năm sau khi họ có dịp lưu diễn ở DMC, Tây Ninh mới tới nhà báo cho Ba Hai của gái con biết tin!

    Sau đó, tôi có tìm gặp anh hai của vợ tôi, thăm con gái tôi. Anh cho biết vợ tôi mất năm 1985, tại tỉnh Phú Yên nhưng cũng không biết chính xác vợ tôi đã được chôn cất tại nơi đâu. Ngay cả ngày tháng vợ tôi mất cũng không biết, nên có muốn cúng giỗ cũng không biết phải làm vào ngày nào.

    Bất chợt tôi nhớ lại lời tiên tri của chú Ba về vợ con tôi. Chú đã nói trước tám năm nhưng không sai một ly. Cái tâm trạng đau đớn, chua xót dằn xé tâm can ngày nào khi tôi nghe chú Ba tiên đoán vận mệnh cho tôi trong phòng biệt giam, bỗng bùng dậy làm đau thắt tim tôi, đầu óc tôi quay cuồng chao đảo, tự nhiên tôi thấy không ngồi vững, phải lấy hai tay bấu chặt lấy cạnh bàn. Ngày dấn thân vào con đường tranh đấu cho Lý Tưởng Tự Do, tôi đã chấp nhận ngay cả cái chết, nhưng định mệnh đã khiến tôi không chết mà lại đổ ập bao đau thương, khổ ải, ly tán... lên đầu vợ con tôi như thế này? Như vậy khi tôi thoát chết có phải là điều may mắn cho tôi?

    Suốt cả tháng sau ngày trở về, tôi cứ thẫn thờ ra vô trong nhà, có khi ngồi hàng giờ một mình trong phòng nhìn ra cửa sổ, đầu óc trống không. Rồi có khi giữa đêm khuya, tôi lấy xe chạy ra công viên Hồ Con Rùa, ngồi ghế đá, nhìn cảnh đêm khuya cô tịch không bóng người, tôi lại cảm thấy lòng mình nhẹ đi.

    Rồi từ từ tôi lấy lại quân bình tâm trí và sống trở lại với thực tế, chứ không như một người bị mộng du giữa ban ngày nữa. Tôi thấy nguy cơ sẽ có ngày nào đó bị bắt buộc quay trở lại nhà tù, giống như một con dao nhọn hoắc lơ lửng ngay trên đầu mình. Tôi vẫn còn bản án chín năm sáu tháng tù khổ sai chờ tôi trước mắt.

    Tôi cảnh báo với má tôi nguy cơ ám ảnh này, tới lúc đó má tôi mới nói là bà đã lo trước tôi nữa kia. Bà đã âm thầm kiếm đường "binh" cho tôi vượt biên, trốn thoát ra nước ngoài rồi, nhưng vì thấy tôi chưa tỉnh hồn, tỉnh vía nên bà chưa dám "bấm nút". Bà nói sẽ gởi cho tôi đi ngay chuyến nào gần ngày nhất có thể, nhưng bà còn đắn đo vì nếu chẳng may mà tôi bị bắt lại thì phen này bị tăng án là chết chắc! Trời Phật, Thánh Thần không thích chuyện lặp lại hai lần đâu.

    Từ đó, tôi đã nhiều lần vượt biên bằng ghe đánh cá, bằng đường bộ xuyên qua đất Cam-Bốt nhưng... không thoát được. Lần nào cũng bể, bị đuổi bắt quyết liệt, bị bắn hụt xém chết mấy lần! Nhưng đúng như chú Ba đã nói, mạng của tôi rất lớn nên lần bể nào cũng thoát nạn, trở về nhà bình yên vô sự. Chuỗi ngày tháng tôi cải tạo không cách ly xã hội là những chuyến vượt biên ly kỳ còn hơn trong phim nữa.

    "Tận nhân lực, tri thiên mạng" Và rồi tôi đã đón nhận cái thiên mạng an bài cho tôi: gặp người vợ thứ hai!

    Tôi không nhớ rõ ngày nào, chỉ nhớ là sau chuyến đi vượt biên hụt, trở về nằm nhà chờ... chuyến khác thì má tôi nói:

    - Con đừng buồn, con người ta có số mà. Sao má thấy con lận đận quá, trong khi mấy đứa anh em mày hễ má lo cho đi là đi một cái một hà! Hồi lúc mới trở về, mày có kể cho má nghe chuyện chú Ba nào đó có bói là mày sẽ gặp con vợ thứ hai của mày trong năm nay phải hông? Hay là tại mày chưa gặp con vợ thứ hai của mầy nên mày mới... không đi được? Dám đúng là như vậy lắm à nha! Vậy để má dẫn con xuống chợ Bà Chiểu giới thiệu cho con một con nhỏ này ngộ lắm. (Ý bà nói là đẹp lắm) Má biết nó lâu lắm rồi. Nó cũng bán ở chợ Bà Chiểu, gần sạp vải của má. Nhà nó chỉ có ba chị em gái. Chị em của nó đều chồng con lâu rồi mà nó không chịu lấy chồng, cứ ban ngày lo buôn bán rồi tối tối thả đi... nhảy đầm với bạn bè. Má hỏi nó sao gần ba chục tuổi rồi mà không chịu lấy chồng đi, nó chỉ cười rồi nói là chưa thấy ai hạp với nó hết. Biết đâu duyên số khiến nó chờ... mày đó con. À nói vậy mới nhớ, mày có nói tới vợ hai của mày là người VN lai phải hông? Con này nó cũng... lai đó con, mà lai Ấn-Độ Bom-Bai hay sao đó mà nó đẹp ghê lắm, nhất là cặp mắt nó có lông mi dài như cánh con bươm bướm dậy đó.

    Bà nói say sưa một hơi không ngưng, đến khi nhìn thấy mặt tôi nhăn nhó, bà mới khựng lại.

    - Má à, con đang lo muốn chết luôn đây nè! Đi không được cứ bị bể riết, quay về hoài, tâm trí đâu mà nghĩ tới chuyện khác. Hơn nữa con vẫn còn là một thằng tù chính trị trọng án, ai mà thèm hay dám quen biết với con mà má tính giới thiệu chi cho mất công? Hơn nữa nếu nó có chịu làm vợ con thì chỉ khổ thêm vì con mà thôi. Cái thân con đã lo chưa xong, còn lôi kéo thêm người khác dính vô nữa. Con không muốn làm khổ lây cho ai đâu má ơi.

    - Mày nói vậy chứ một khi thương rồi thì mày có là tù đi nữa, nó cũng thương như thường con ơi. À! Mà con nhỏ này nó cũng... vượt biên nhiều lần lắm rồi đó nha con. Nó có kinh nghiệm vượt biên lắm, bể hoài mà có bao giờ nó bị bắt đâu. Hỏng chừng số tụi bay hạp với nhau, nó sẽ... dắt con đi trót lọt thì sao? Dám đúng như vậy lắm à nha.

    Bà nói xong, phớt lờ tôi cự tuyệt, bà bắt tôi phải chở bà xuống Chợ Bà Chiểu, nơi bà có một sạp bán vải trong nhà lồng, để dọn hàng ra bán phụ bà, mục đích là có dịp giới thiệu tôi với... con nhỏ lai Ấn Bom-Bai đó.

    Xuống tới chợ, bà dẫn tôi vô khu tầng trệt nơi có nhiều quầy bán vàng bạc nữ trang, dừng lại trước một quầy khá bề thế, không thấy có ai nên bà gọi:

    - Nga ơi, con đâu rồi?

    Từ phía sau tủ kiếng, một cái đầu tóc mô-đen xù như bờm sư-tử nhô lên và... nàng xuất hiện!

    5. Những Ngày Chưa Quên

    Dù thật lòng không muốn tham gia vô cái vụ giới thiệu này chút nào và tôi có đi cũng chỉ để làm vui lòng bà già thôi, nhưng ngay trong 1% giây đồng hồ khi "đọ nhỡn" với nàng, cái PC trong đầu tôi đã ô-tô-ma-tích cho ra ngay lập tức một nhận xét tổng thể về nàng: Đẹp!

    Đúng như má tôi nói, người con gái tên Nga này có một khuôn mặt và nhất là đôi mắt rất đẹp của những người mang trong mình hai dòng máu Việt - Ấn. Cao ráo, tướng người thon thả, nước da bánh mật, ăn vận rất hợp thời trang nhưng không quá lố lăng.

    Sau khi tươi cười chào hỏi má tôi, nàng nhìn qua tôi:

    - Dì Sáu, anh đây là...

    - Thằng C. con trai út của dì đó con! Cái thằng mà dì đi thăm nuôi nó ngoài miền Trung hoài đó. Nó về rồi nè.

    Quay qua tôi, bà nói:

    - Con nhỏ này là con Nga mà má nói với con đó! Nó bán gần sạp vải của má, nó mua hàng vải của má hoài nên quen, xuống nhà mình chơi... tứ sắc với má cho vui rồi nó chơi thân với con Điệp nhà mình luôn (Điệp là em gái út của tôi). Hai đứa tụi nó rủ nhau đi chơi chung hoài à.

    Nàng cười với tôi rất tươi:

    - Em mừng cho anh. Anh về lâu chưa, sao em gặp dì Sáu hoài mà không nghe dì nói chuyện anh được về, nếu biết thì em đã xuống nhà bắt dì Sáu mở party ăn mừng rồi.

    Chuyện buồn của vợ con vẫn còn sâu nặng và chi phối tinh thần tôi chưa nguôi ngoai. Đã mang mặc cảm tự ti nặng chình chịch trong lòng, nay lại bị bà già giới thiệu cho một cô chủ tiệm vàng xinh đẹp, tôi lại càng bị sốc nặng hơn nữa. Dù rằng gia đình tôi cũng không thua kém gì gia đình nàng, còn có phần nhỉnh hơn nữa kia. Các anh chị em tôi đều ở nước ngoài, còn lại mỗi mình tôi thì "giàu út ăn, nghèo út chịu". Nhưng bản tánh tôi rất độc lập, từ nhỏ đã không muốn lệ thuộc hay ỷ lại vào bất cứ ai, kể cả cha mẹ hay gia đình. Bất chợt tôi thầm nghĩ tôi giống như một tên lưu manh, đang âm mưu đào mỏ vàng với cả hai nghĩa trắng lẫn đen luôn.

    Suy nghĩ như vậy nên tôi chỉ ậm ừ trả lễ một cách miễn cưỡng với nàng cho phải phép lịch sự tối thiểu, rồi tôi tảng lơ qua các quầy hàng khác.

    Biết ý tôi nên sau vài câu xã giao với nàng, má tôi từ giã để kêu tôi vào dọn hàng phụ với bà bên sau nhà lồng. Trong khi hai mẹ con đang bày hàng, bà nói:

    - Con Nga này ngộ lắm nha. Nhà nó ở gần nhà mình, kế bên rạp xi-nê-ma Đại Đồng đó. Nó có mua bán qua lại với bên nhà của vợ con ở gần nhà nó, nên nó có quen biết vợ con nữa mà. Không biết nó có duyên nợ gì với con hay không mà có nhiều lần nó xuống nhà mình chơi, thấy má đang nấu nướng đồ ăn hay đi mua sắm ba món đồ khô để chuẩn bị đi thăm nuôi con, thì tự nhiên nó cũng nhào vô bếp phụ xào mắm ruốc (cái món này ăn thì ngon mà làm thì cực lắm, lại quến mùi vô tóc hôi hám, tắm gội hai ba lần cũng còn mùi nữa đó) rồi kho thịt kho khô, làm thịt chà bông... lại còn đi mua kẹo bánh đủ thứ để gởi cho con nữa đó. Có một lần nó đòi đi theo má ra Xuân Phước thăm con nữa chứ. Má cản không cho nó đi vì đường xá xa xôi, đi về phải mất mấy ngày cơm hàng cháo chợ, cực khổ tội cho nó. Má phải giả bộ hù nó, nói không phải thân nhân thì họ không cho vô thăm đâu, nó mới thôi không đòi đi theo nữa. Mà nó chỉ thân quen với má và con Điệp thôi, chứ nó có biết mặt mũi của mầy ra sao đâu.

    Biết là má tôi đang "châm" vô thêm nhưng tôi vẫn nín thinh không có ý kiến, ý mối gì hết. Vì thấy tôi hoàn toàn vô tâm, không để ý gì tới "con nhỏ Nga" nên sau đó hàng mấy tháng trời, má tôi không nhắc tới tên nàng với tôi, dù tôi biết rằng hàng ngày nàng vẫn gặp mặt má tôi và thỉnh thoảng có cùng bà đi hành hương chùa chiền, hoặc cùng bà làm từ thiện ở các trại tế bần, trại nuôi trẻ mồ côi nào đó. Sau khi tôi coi mắt nàng rồi trở về nhà, thì nàng cũng không còn lại nhà chơi đánh bài tứ sắc với má tôi nữa.

    Cho tới một buổi chiều, tôi còn nhớ rõ lắm, một buổi chiều thứ bảy thật đẹp... Tôi đang ăn cơm chiều với má thì nàng dẫn đứa cháu, con của em gái nàng, bước vào chào hai má con tôi rồi rất tự nhiên, nàng bồng đứa cháu cùng ngồi trên cái võng mắc gần bàn ăn, nói chuyện với má tôi, sau khi từ chối lời mời ăn cơm vì... “con mới ăn xong ở nhà.” Nàng liếng thoắng kể câu chuyện phim "Dòng sông ly biệt" của Quỳnh Dao do hai diễn viên Tần Hán và Lưu Tuyết Hoa thủ vai chính cho má tôi nghe (Trời đất! Chuyện đã hơn hai mươi năm rồi sao tôi lại còn nhớ kỹ chi tiết quá như vậy cà? Phim Tàu, diễn viên Tàu không phải là cái gu của tôi mà. Hay là vì đó là "Định mệnh đau buồn khó quên" chăng? Mong sao nàng đừng đọc được bài này, nhất là đọc được câu tự nhủ đó của tôi thì... hậu quả sẽ thật không lường cho tôi).

    Trong khi nàng kể rồi sau đó cùng bình phẩm truyện phim với má tôi, thì tôi vẫn im lặng lắng nghe chứ không hề góp vô một lời nào. Tôi thầm nhận xét kể ra thì cô nàng này ăn nói rất có duyên. Kể chuyện phim thuộc loại bi kịch mà lại có thể khôi hài hóa, khiến má tôi cười ngặt nghẽo (còn tôi cố làm nghiêm nhưng có lúc nín không nổi, cũng phải tủn tỉm cười theo) thì quả là nàng rất có khiếu hùng biện và vui tính.

    Thấy tôi đã ăn xong từ lâu nhưng không rời bàn mà còn trầm ngâm, đăm chiêu bên ly nước, nàng quay qua... tấn công tôi:

    - Anh C. ít nói quá hén dì Sáu. Từ khi anh về tới giờ cũng đã khá lâu rồi mà em nghe dì Sáu nói anh gần như không đi chơi ở đâu, hay có quen với ai hết. Sao vậy anh? Tù túng lâu ngày quá rồi, bây giờ có được chút tự do thì mình phải tận hưởng đi anh!

    Không đợi tôi trả lời, nàng tỉnh bơ cười lém lỉnh, tấn công tôi tới tấp:

    - Em nghe dì Sáu kể hồi xưa anh... bay bướm ghê lắm, nhiều đào nhất nhà mà phải hông? Dì Sáu nói hồi đó anh ghiền khiêu vũ lắm phải hông? Vậy để hôm nào em mời anh cùng đi chơi với tụi bạn em nha. Dancing của Caravelle có ban nhạc chơi xây tua rất hay, lại còn chơi đèn màu đúng theo điệu nhạc nữa. Chắc là anh sẽ thích lắm vì đúng gu hồi xưa của anh chứ không rầm rầm, tán loạn như mấy tụi nhóc bây giờ đâu anh. Nếu anh không có bận công việc gì thì sáng mai, em... mời anh đi uống cà phê với em nha. Quán cà phê Hồng ở Đinh Tiên Hoàng rất ngon mà khung cảnh, trang trí bên trong dễ thương lắm đó.

    Một cô nàng ngộ như vậy, khả ái như vậy, thân thiện như vậy mà lại ngỏ một lời mời chân thật như vậy, thì bụt trên bàn thờ cũng phải... phóng xuống chứ huống hồ gì là tôi.

    6. Lời Tiên Tri Thành Sự Thật

    Sáng hôm sau, như lời đã mời, nàng chạy xe tới nhà đón tôi ra quán cà phê Hồng thưởng thức. Quả thật, khung cảnh và trang trí của quán rất dễ thương như nàng nói khiến cho ly cà phê đã ngon lại càng ngon hơn. Khi vừa nhấm nháp vài hớp cà phê thì bên ngoài trời đổ mưa. Tôi có rất nhiều kỷ niệm có liên quan tới "chủ đề mưa" nên trong khi nàng nhỏ nhẻ kể chuyện gia đình nàng thì tôi lơ đãng nghe nhưng trong lòng lại bay bổng về những khung trời kỷ niệm...

    “...Ông nội em là người Ấn. Ông qua Cam-Bốt làm ăn và cưới bà nội em là người Cam-Bốt lai Tàu, sinh ra ba em. Ba em bỏ xứ qua VN sinh sống tại Long An và gặp má em tại đó. Như vậy là em lai tới 4 dòng máu lận đó anh..."


    Hình minh họa

    Ngoài trời, một tiếng sấm nổ vang rền khi nàng vưa nói dứt câu... Tôi bàng hoàng sực tỉnh, không phải vì tiếng sấm mà chính là do câu nói cuối của nàng. Chỉ trong tích tắc, tôi vụt nhớ lại chú Ba với 7 điều tiên tri của chú. Tim tôi tự nhiên đánh dồn dập làm tôi muốn ngộp thở. Tôi hít một hơi dài để giữ bình tĩnh rồi hỏi nàng một câu chẳng ăn nhậu gì với câu chuyện nàng vừa kể:

    - Hình như bên tay trái của em, từ vai xuống tới cùi chỏ có một cái thẹo hay bớt hoặc là một cái vá heo gì đó phải hông?

    Với đôi mắt mở to nhìn tôi vẻ ngạc nhiên, nàng hỏi lại:

    -Sao anh biết hay quá vậy?

    Nói xong, nàng vừa vén cái tay áo mô-đen dài rộng đang che tới cổ tay nàng lên tận bả vai vừa nói:

    -Hồi nhỏ em trồng trái (chủng ngừa bệnh đậu mùa) bị làm độc lan rộng ra, khi lành lại thành một cái thẹo tròn quay như đồng tiền nè!

    Tôi không trả lời câu nàng hỏi mà lại nhìn trân trân vào cổ áo chữ V của nàng: một mảnh vải tang màu đen nhỏ xíu đang đính trên đó.

    Chiều tối qua, nàng đong đưa trên cái võng hơi xa nơi tôi ngồi, lại còn bị thằng cháu nàng đang bồng che mất nên tôi nào thấy được nàng đang để tang. Hơn nữa, nàng hay mặc áo tuy mô-đen nhưng chỉ có các hoa văn đen trên nền vải trắng, phải ngồi gần và để ý, tôi mới thấy mảnh vải tang có chút chíu rất... mô đen này. Sau khi tôi hỏi, nàng cho biết đang thọ tang ba nàng từ hơn một năm qua. Còn má nàng đã mất từ khi chị em nàng còn bé.

    Như một người đang mộng du đột ngột tỉnh giấc và cực kỳ tỉnh táo đầu óc, tôi bàng hoàng thầm "kiểm kê, đối chiếu" 7 điều tiên tri số mệnh của tôi với thực tế trước mặt:

    ..." Năm nay mình 36 tuổi... con nhỏ này lai nhiều dòng máu... ở gần nhà và có quen biết cả hai nhà mình và người vợ đã mất của mình... tay trái có một cái thẹo... mình đang ở nhà thì con nhỏ này tới làm quen... Trời đất ơi! Như vậy chỉ còn thiếu điều thứ 7 nữa là hai đứa sẽ làm đám cưới khi đang có đại tang là không sai một lai nào hết"...

    Có bao giờ ai đó đã gặp một tình cảnh tương tự như tôi chưa?

    Mới lần đầu tiên đi uống cà phê nghe nhạc với nhau chưa được nửa tiếng đồng hồ, trong lòng chưa hề dấy lên một tí xíu tình cảm nào chứ đừng nói chi tình yêu mà đã biết chắc chắn 100 % người bạn gái sơ giao này sẽ là người vợ "thiên định" của mình rồi.

    Trên đời này chúng ta phải công nhận là có những sự trùng hợp ngẫu nhiên rất bất ngờ, nhưng với câu chuyện của tôi thì phải nói là cực kỳ hiếm, có một không hai với xác xuất tiệm cận Zê-rô. Không ít trường hợp các quý bạn nam nhi vừa gặp "nửa kia của đời mình" là bị tiếng sét ái tình giáng cho một nhát choáng váng đến nỗi tối tăm cả... lý trí và "hạ quyết tâm" phải chiếm hữu vĩnh viễn cho bằng được nàng cho riêng đời mình và họ đã thành công. Nhưng xin quý vị công tâm xét trường hợp của tôi thử xem đúng là có một không hai hay không?

    - Anh ! Có chuyện gì mà anh có vẻ lo lắng quá vậy anh?

    Tôi giật mình, bối rối, không biết nói sao cho nàng tin tôi đây và có nên nói hay không? Chỉ mới sơ giao mà lại đi nói một chuyện "thần thoại" như vậy với người bạn gái có phải là thời điểm thích hợp hay không? Ngay chính tôi cũng không muốn nói một tí gì cho nàng vì tuy biết trước "tương lai hậu vận" của nàng và tôi sẽ ra sao, nhưng tôi cần có thêm thời gian để tìm hiểu rất nhiều về nàng trước khi tôi xuôi tay, nhắm mắt, phó mặc đời mình cho định mệnh và duyên số đẩy đưa.

    "Tận nhân lực, tri thiên mệnh". Đã biết con người có số thiên định rồi nhưng không có nghĩa là cứ nhắm mắt, há miệng chờ sung. Vận mệnh nằm trong tay ta.

    Lòng đã quyết định như vậy nên tôi kiếm chuyện đánh trống lảng cho qua luôn, không nói gì với nàng hết.

    Xong buổi cà phê, trở về nhà, khi tạm biệt nhau, nhìn nàng chạy xe đi mà tôi cứ bồi hồi nhìn theo, lòng tự hỏi... con nhỏ Nga đó sẽ là vợ mình sao ta?

    Sao lại có thể như vậy được?

    Nguyễn Như Ý
    https://www.facebook.com/photo.php?f...&theater&ifg=1

    Còn Tiếp Phần III

  4. The Following 2 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    khongquan2 (11-27-2018), muahong (11-30-2018)

  5. #273
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,187
    Thanks: 7,823
    Thanked 5,262 Times in 1,160 Posts

    Button Xanh Câu Chuyện Tù... Số Mạng (Phần III)

    Câu Chuyện Tù... Số Mạng (Phần III)

    7. Lễ Hỏi Để Vượt Biên

    Một người con gái như Nga đâu phải quá khó kiếm một tấm chồng, tại sao bao nhiêu năm qua vẫn chưa tìm được? Chị và em của nàng đều đã lập gia đình từ năm họ 18, 19 tuổi. Còn lại có một mình nàng, đã gần ba mươi rồi mà vẫn cứ phây phây rong chơi với cuộc đời độc thân vui tính. Lúc đó tôi chưa biết là có rất nhiều quý ông cộm cán, có cơ ngơi, vai vế địa vị trong xã hội đã và đang rắp tâm bắn sẻ trái tim nàng (vài người trong số đó là bạn bè rất thân của nàng từ thời còn đi học chung lớp, chung trường) nếu biết được như vậy, chắc là tôi sẽ còn thắc mắc ghê hơn nữa cho một câu hỏi mà chỉ có Trời mới trả lời được.

    Ngoài ra, còn có một người nữa, đó là chính nàng. Mãi về sau, khi đã là vợ chồng rồi, nàng mới chịu nói cho tôi biết lý do vì sao nàng đã chấm tôi... trúng tuyển, mà lại còn chấm rất lâu, trước khi tôi trở về nhà và gặp nàng kia. Xin được dành câu trả lời này cho phần sau của bài viết sẽ phù hợp hơn.

    Nói thật với quý bạn, chính là xuất phát từ thắc mắc và tò mò muốn biết câu trả lời cho câu hỏi đó mà tôi đã bặm gan, liều mạng cho... tới luôn bác tài. Chứ lòng tôi vẫn chưa hề có một chút xíu nào gọi là phải lòng nàng, dù sau buổi cà phê kéo dài hết cả buổi sáng hôm đó, tôi đã thấy nàng có nhiều quan điểm, sở thích khá là phù hợp và tương đồng với tôi.

    Tôi đã gia tăng cường độ giao tiếp với nàng bằng vô số cuộc hẹn hò đi cà phê, xem ci-né, dancing... thậm chí còn đi coi khỉ trong Thảo-cầm-viên nữa, bất cứ lúc nào có thể. Và kết quả là các bạn bè cũ của nàng bắt đầu thắc mắc và than phiền là nàng đã quên họ và xé lẻ đi chơi riêng với ai đó, mà hỏi thì nàng dấu biến không nói. Vì trước kia, nàng luôn luôn có mặt và là MC, là cây đinh trong các cuộc tiệc tùng, vui chơi nên vắng nàng là bạn bè biết liền.


    Hình minh họa

    Cho tới một buổi tiệc sinh nhật của một cô bạn thân tổ chức tại nhà riêng, nàng mới chịu dẫn tôi đến ra mắt bạn bè. Tới lúc đó tôi mới biết bạn của nàng ngót nghét quân số của hai đại đội.

    Với bạn gái đã đành, đối với bạn trai hay kể cả vợ hay chồng của bạn cũng vậy, nàng đều xưng hô mầy tao hết ráo. Chính vì vậy nên khi thấy vài người bạn trai thay đổi cách xưng hô, nàng đốp chát liền:

    - Chaa.a.a... hôm nay mầy thành người lớn hồi nào dzậy? Cứ Nga Nga với mình mình hoài! Sao không đổi luôn thành anh anh, em em như tao với anh C. luôn đi. Rớt mặt nạ rồi nha con. Nhưng mà mầy chạy đua không kịp với ảnh đâu con ơi. Chờ kiếp sau nộp đơn đi con...

    Khi chỉ còn tôi với nàng, tôi hỏi vì sao nàng lại đốp chát thẳng tay với bạn bè như vậy thì nàng nói:

    - Mấy đứa đó là bạn học với em từ hồi nhỏ, rất là thân, nhưng khi lớn lên, đứa thì đi CA, đứa thì làm cán bộ. Tiền bạc, địa vị thì có nhưng tụi nó bị đỏ rồi, chơi không vô. Em ghét tụi nó vì tụi nó cơ hội chủ nghĩa lắm.

    Tôi lại biết thêm một quan điểm sống của nàng.

    Có hôm, tôi xuống nhà nàng chơi mà không báo trước. Thấy nhà đang được sơn phết, chà rửa, trang trí lại để chuẩn bị mở thành nhà hàng ăn uống. Tôi đi ngang qua nhóm nhân công, thợ thuyền đang làm việc để lên lầu tìm nàng mà không để ý, khi nghe tiếng nàng gọi giật ngược lại, tôi mới thấy nàng mặc một bộ đồ lao động cũ mèm, không biết mới tìm ở đâu ra, đang... bò càng trên nền nhà, chà rửa chí chạp như một công nhân vệ sinh rành nghề vậy.

    Trong khi chờ nàng lên phòng riêng tắm gội, thay quần áo để đi với tôi, mấy cô bé giúp việc nhà của nàng... nhiều chuyện với tôi, tôi mới biết nàng sống rất hòa đồng với người ăn, kẻ ở trong nhà.

    - Chị Ba (nàng thứ ba) hay phụ giúp tụi em làm việc nhà lắm. Chỉ hay xuống bếp ăn cơm chung với tụi em, chỉ nói ăn chung để giỡn với tụi em cho vui nhưng tụi em biết chỉ muốn coi tụi em ăn uống có bị thiếu thốn hay không. Chỉ cứ cho thêm tiền đi chợ để mua thêm đồ ăn cho tụi em hoài à.

    Biết thêm một đức tính của nàng, ngày qua ngày, tôi... phải lòng nàng lúc nào cũng không hay biết, chỉ biết rằng tôi khó mà tìm được một người nào khác ngoài nàng ra để nâng bóp, lục túi cho tôi.

    Và rồi trước khi nàng dẫn tôi đi trốn trại bằng ghe đánh cá, hai gia đình đã quyết định làm lễ hỏi cho chúng tôi. Hai ngày trước lễ hỏi, gia đình nàng đã làm lễ xả tang cho nàng. Trong lễ hỏi, cả hai gia đình lại quyết định thông báo rộng rãi cho bà con biết là tháng 12 âm lịch sắp tới, sẽ làm lễ cưới cho đôi trẻ bền duyên giai ngẫu.

    Ngay tối hôm lễ hỏi, nàng mở party tại nhà khi đó đã thành nhà hàng Thiên Hồng, Bình Thạnh để khoản đãi bạn bè. Khi nàng đang trong nhà tắm, nhờ tôi lấy dùm cái jupe soirée trong tủ áo. Tôi bất ngờ đến hoảng hồn, xém một chút là té xỉu khi trông thấy hai bộ võ phục đã bạc màu, một của Tae Kwon Do với đai đen... ba gạch (Tam đẳng) và một của Thiếu Lâm Bắc Phái với... Bạch Đai Sư Tỷ!!!

    Khi tôi hỏi thì nàng mới ngỏn ngoẻn cho tôi biết nàng là Huấn luyện viên Tae Kwon Do và Thiếu Lâm của Trung Tâm Thể Dục & Thể Thao quận Bình Thạnh lâu lắm rồi... " Nhưng năm ngoái khi ba mất, em buồn quá nên thôi, không đi dạy nữa". Tới lúc đó tôi mới tá hỏa khi nàng cho tôi biết là trong các buổi party, có những người bạn gọi nàng là Sư Tỷ, những người bạn đó nguyên là võ sinh đệ tử của nàng trước kia.

    Tại sao một tên tù tử hình ví dám làm chuyện "Đòi đội đá vá Trời", mà khi biết hôn thê của mình là một "Sư Tỷ" Thái Cực Đạo & Thiếu Lâm lại hoảng sợ muốn xỉu?

    Như đã kể, tôi bẩm sinh rất nhát gái. Nhưng Trời cho cái số phận tiền định là luôn luôn được (bị) các vị tiểu thư... chiếu tướng. Mà tôi thì không nỡ phụ lòng người, nên nếu phu nhân tôi là một cao thủ võ lâm như vậy, sớm muộn gì cũng có ngày sẽ phải trả giá đắt, rất là đắt cho cái tánh nhân ái của tôi.

    Xin thú thật là cho tới ngày tôi làm đám hỏi với nàng, nàng đã phải cất công "Bình Nam, Phạt Bắc" loại bỏ khỏi vòng chiến đấu... 4 con yêu nữ đã đeo theo rù quến tôi (Nguyên văn lời nàng nói, chứ tôi tuyệt nhiên không bao giờ dám cả gan xúc phạm bất cứ ai, nhất là các tiểu thư).

    Nguyên do sạp vải của má tôi tuy không lớn lắm nhưng rất nổi tiếng vì thường hay có hàng độc, từ vải vóc cho tới mỹ phẩm, nước hoa .v.v. ở nước ngoài gởi về (của 6 anh chị em tôi gởi cho má tôi. Năm 1989 vẫn còn cấm gởi USD và các thứ ngoại tệ về VN nên người ở nước ngoài phải gởi quà về cho thân nhân ở VN bán lấy tiền chi dùng). Mà nơi nào có vải vóc, lụa là, y trang đẹp và độc đáo... là có các quý tiểu thư thường xuyên lui tới.

    Một tháng má tôi nhận được ít nhất là 3 thùng hàng. Bà thông báo cho các mối quen tới tận nhà để họ chọn lựa trước khi má tôi mang ra chợ bán. Bởi lý do đó nên nhà tôi luôn luôn nườm nượp bóng dáng giai nhân.

    Má tôi ra chợ bán vào buổi sáng, chiều nghỉ nên bà chỉ tiếp mối quen vào buổi chiều tối tại nhà. Ấy vậy mà từ khi tôi trở về, các mối quen lại hay đến nhà tôi vào... buổi sáng, dù biết rõ ràng là chỉ có mình tôi ở nhà, để hỏi mua đủ thứ hằm bà lằng trên đời, những thứ tối cần thiết cho người phụ nữ. Và trong một hoàn cảnh như thế, tôi sẽ không cần phải thề độc để các bạn tin tôi là đã có rất nhiều lần, các mối quen này thử các món phụ tùng rất độc... địa như các sản phẩm Victoria’s Secret... ngay tại chỗ, ý tôi nói là vào phòng khác để cởi ra, bận vào. Nhà tôi có rất nhiều phòng ngủ bỏ trống từ khi anh em tôi đi nước ngoài, và nhờ tôi ngắm dùm coi có vừa vặn, đẹp đẽ hay không? Chưa bao giờ tôi lại thấy nghề bán vải vóc, mỹ phẩm và y phục của má tôi lại hạp với tôi đến vậy.

    Và chính là do không muốn tôi phải chịu cực, chịu khổ buôn bán, tảo tần phụ má tôi nên ngay sau khi vừa làm lễ hỏi xong, nàng đã xin phép má tôi cho nàng được gánh vác toàn bộ sinh kế của gia đình nhà chồng. Má tôi không cần phải ngồi sạp vải nữa, cứ dành trọn thời gian Ở NHÀ (xin nhấn mạnh hai chữ ở nhà. Coi như nàng nhờ bà làm... vú em trông coi, canh chừng tôi dùm cho nàng) mà điều binh khiển tướng tứ sắc cho vui thú tuổi già.

    Cái sạp vải muôn vàn kính yêu của má tôi, cái sạp vải đã từng nuôi sống tôi trong tù và nó vừa mới dạy cho tôi chớm biết thế nào là tình yêu lao động, cần cù tảo tần buôn bán... được nàng công khai tuyên bố với các mối quen là: Dẹp tiệm ! Nàng còn ngăn ngừa hậu họa bằng cách xin các anh em tôi không cần gởi quà về cho má tôi nữa, vì đã có nàng xung phong tự nguyện gánh vác giang san nhà chồng rồi.

    Cuối cùng, nàng xin phép má tôi cho nàng mua lại hết số hàng vải, mỹ phẩm, ba cái thứ Victorias Secret ác ôn... còn tồn kho mà tôi chưa kịp bán dùm má tôi để nàng nhổ cỏ tận gốc.

    Nàng thì như vậy đó còn tôi thì lại như đó vậy, thử hỏi làm sao tôi không chết điếng khi biết nàng tuy nhỏ nhỏ mà lại giỏi võ.

    Nhưng tôi đã lầm, nàng sẽ dùng bạo lực để trừng trị tội ăn vụng, cơm nhà không ăn mà đi ăn phở. Mỗi lần tôi bị Tam hợp chiếu, tôi nhiếm kín đến nỗi nàng không bao giờ biết được. Nhưng chính cái tánh thùy mị cùng những chăm sóc, yêu thương chồng, một lòng cung cúc lo cho gia đình hết mực của nàng luôn làm tôi tự cảm thấy ăn năn, hối hận vì đã lừa dối nàng, không xứng đáng với nàng... "Anh ơi, anh nhớ... anh ơi đừng quên... anh ơi trưa nay về ăn cơm nhà nha anh, em có nấu món ăn mà anh thích đó nha...".

    Nàng vẫn hồn nhiên vô tư tin vào tôi tuyệt đối và tận tụy chăm lo cho tôi từng ly từng tí, trong khi cái thằng tôi đốn mạt lại nỡ nhẫn tâm lừa dối nàng. Chịu không nổi sự ray rứt, cào xé của lương tâm, tôi đã quyết định hồi chánh, tự thú tất cả tội lỗi của tôi, xin nàng tha thứ và thề (lời thề cá trê chui ống cống) sẽ không bao giờ tái phạm nữa trước ánh mắt, thoạt đầu là mở to ngơ ngác vì bất ngờ, rồi sau đó là nhạt nhòa lệ đẫm đôi mi... Nàng chỉ khóc và khóc nức nở thôi chứ không hề bao giờ đay nghiến, nói nặng một lời nào với tôi chứ đừng nói chi tới chuyện "xử đẹp" tôi bằng bạo lực. Nhưng chính nhờ nàng cư xử như vậy nên nàng mới... gông cổ, túm dây cương con ngựa bất kham tôi được tới ngày hôm nay.

    Sau chuyến vượt biên... hụt, hai chúng tôi từ Cà Mau vừa trở về đến nhà tôi chừng mươi phút, thì thấy tên cán bộ quản giáo của tôi lù lù đứng trước cổng nhà bấm chuông inh ỏi. Tim tôi đau thắt lại vì biết ngay sẽ có tin dữ đến với tôi.

    Tháng đầu tiên là thời gian thử thách, tôi phải đi trở ra trại A-20 đổi giấy phép hết hạn để lấy giấy phép khác. Sau lần đó là cứ ngày 20 tây hàng tháng, tên quản giáo sẽ vô SG, đến từng nhà trong nhóm anh em tù nhân cải tạo tại địa phương cư trú để thu tiền hụi chết. Nhưng hôm đó mới có 5 tây mà hắn xuất hiện đột ngột như vậy là tôi biết ngay có chuyện chẳng lành rồi.

    8. Tiếp Tục Vô Tù

    Quả là đúng như vậy! Hắn nói vì có thanh tra đột xuất nên trại phải thu gom tất cả các tù nhân đang cải tạo không giam giữ trở về trại gấp. Vừa nghe hắn tuyên bố như vậy, nàng nấc lên một tiếng rồi ôm chặt tôi khóc nức nở, còn tôi chỉ biết đứng chết lặng, lòng đau như cắt theo từng dòng nước mắt tuôn rơi như mưa của nàng. Hắn cười giả lả rất giả tạo, rồi gượng gạo nói:

    - Không có dzì đâu, chuyện thường í mà. Chỉ mất mươi hôm thôi rồi sau khi thanh tra xong, đâu nại vào đấy. Anh C. sẽ trở về nhà như thường nệ thôi. Chị đừng có no!

    Ngày 4/ 6/1989 xảy ra sự kiện Thiên An Môn bên Trung Công, tưởng đâu rằng anh em tù chính trị chúng tôi sẽ bị gom bi về trại để phòng ngừa một chuyện tương tự sẽ xảy ra ở VN. Nhưng rồi lần đó sóng êm biển lặng.

    Ngày 9/11/1989, Bức tường ô nhục Bá-Linh sụp đổ lôi kéo theo hàng loạt biến động tại Đông Âu và Liên Xô. Bên VN, trông thấy tình hình các nước XHCN anh em đang hấp hối, chính quyền HN lập tức tung ra hàng loạt đối sách để phòng ngừa hiệu ứng Domino Dân Chủ lan sang VN. CA cơ động (cảnh sát dã chiến) được thay màu áo rằn ri dữ dằn, trang bị nón sắt, khiên và dùi cui... đứng đầy các ngã tư đường của các thành phố lớn, nhất là Sài Gòn và ngay cả Hà Nội.

    Tôi đã biết ngay là cái quãng thời gian thần tiên thơ mộng của tôi và nàng sẽ chấm dứt. Cái bản án chín năm sáu tháng tù khổ sai lại hiện hình ra trước mắt tôi như một tên ác thần không sao tránh khỏi nanh vuốt của hắn. Tôi đã cố hết sức vùng vẫy để hòng thoát thân bằng những cuộc vượt biên đầy cam go, hiểm nghèo với nàng nhưng chạy đàng Trời cũng không khỏi số.

    Sau cơn xúc động, tự nhiên tôi thấy nàng trở nên bình tĩnh dị thường. Với một khuôn mặt lạnh như băng, nàng trầm giọng nói nhỏ với tôi:

    - Anh vô phòng thu xếp quần áo, đồ đạc vô vali đi. Để em ở đây nói chuyện với thằng nầy một chút.

    Nhìn gương mặt kỳ lạ và nhất là đôi mắt của nàng, đôi mắt to rất đẹp với đôi hàng mi cao vút đã biến thành đôi mắt cá chết của những giai nhân máu lạnh trong các phim Hollywood mà tôi đã xem. Tôi hoảng hồn đến lạnh người, toàn thân nổi gai ốc vì đoán biết nàng chuẩn bị nói chuyện gì với tên CA quản giáo của tôi.

    Tôi đã được nàng cho xem những tấm hình kỷ niệm chụp lúc nàng thi lấy bằng Huấn luyện viên Tae-Kwon-Do, nên tôi biết cái cần cổ của tên CA quản giáo không thể nào cứng hơn cả một chồng gạch nén Đồng Nai rắn như đá, mà nàng đã dùng cạnh bàn tay chém đứt làm hai được. Hắn có lận khẩu K-54 sau lưng nhưng chắc chắn là không bao giờ nàng cho hắn có cơ hội rút súng ra đâu. Chính nàng cũng biết hắn có súng nên nếu nàng có ra đòn, chắc chắn phải là một đòn duy nhất hạ gục hắn ngay tức khắc, mà hắn không kịp phản ứng: Đòn chết!

    Tôi chụp lấy hai vai nàng, nhìn sâu vào mắt nàng, nói nhỏ thật nhanh trong hơi thở dồn dập:

    -Không được đâu em! Đừng làm vậy. Còn một thằng nữa là của CA quận BT đi theo hỗ trợ cho nó, đang ngồi trong quán nước ngay trước cửa nhà mình nè. Hồi nãy ra mở cửa cho nó vô anh thấy. Nhà mình không có cửa sau, không thoát được đâu. Hơn nữa, chuyện anh đã làm, anh chịu. Anh không muốn em vì anh mà bị dính vô làm liên lụy tới em đâu.

    Khi nghe tôi nói như vậy, toàn thân đang vận công căng cứng của một võ sư từ từ mềm nhũn ra, nàng lại ôm chặt rồi vùi đầu vào ngực tôi, khóc mướt trong uất hận.

    -Eo ơi ! Hai anh chị mới yêu nhau mà khắn khít quá nhẩy! Chị yên tâm đi, anh C. chỉ đi vài ngày rồi nại quay về với chị ngay í mà.

    Tên quản giáo vừa nói vừa cười rất xỏ lá mà không hề biết là Tử Thần vừa mới lướt qua sát đầu hắn.

    Cũng cái kiểu nói đó, cũng luận điệu xảo trá đó mà tháng 6/1975, mấy trăm ngàn SQ, cán bộ, viên chức VNCH đã ra đi biền biệt không biết ngày trở về, có rất nhiều người đã không bao giờ trở về! Mười bốn năm sau, tôi lại nghe cái giọng điệu y hệt không thay đổi đó ngay trong nhà tôi. Nhưng có chút khác biệt là tôi biết rõ cái vài ngày hắn nói sẽ kéo dài... chín năm sáu tháng, mức án còn lại của tôi.

    Thời điểm mà tôi bị tập trung trở về trại A-20 là gần cuối tháng 11/89 =>10 â.l. , như vậy chỉ còn chưa đầy 2 tháng nữa là đến ngày cưới của chúng tôi như hai gia đình đã ước hẹn cùng bà con!

    Nàng đã hết lời van xin, thuyết phục tên quản giáo cho nàng đi theo tôi ra trại A-20 để chờ khi nào tôi được trở ra thì sẽ cùng theo tôi về nhưng hắn vẫn lạnh lùng từ chối.

    Không thèm nói thêm một tiếng nào, nàng cởi tấm lắc vàng 18k là sính vật đính hôn tôi đã tặng nàng, đặt lên bàn ngay trước mặt hắn. Hắn trố mắt ngó lom lom tấm lắc, không dấu được vẻ thèm thuồng trong ánh mắt tham lam. Hắn thầm ước lượng giá trị. Hắn có ngu dốt lắm cũng phải biết là cả đời lương CA chết đói của hắn cũng không bao giờ với tới được. Nhưng hắn làm bộ thở dài, chép miệng nói:

    - Theo đúng điều lệnh của CA thì..

    Hắn chưa nói xong thì thêm một sợi dây chuyền có kèm mặt saphia hình trái tim màu xanh lóng lánh được nàng đặt nhẹ nhàng bên cạnh tấm lắc.

    - Nhưng thôi ! Nể tình của anh C. là chỗ... quen biết với tôi lâu năm(!) chị chuẩn bị ngay đi, khoảng 10 phút nữa sẽ có xe của trại tới đón. Tôi sẽ bảo lãnh cho chị đi theo tiễn anh C. ra trại vậy.

    Vừa nói hắn vừa lấy cả hai tay hốt hai món nữ trang sính lễ, đút thật nhanh vào túi quần.

    Khi cùng thu xếp hành trang trong phòng với tôi, nàng nói:

    - Em sẽ vọt về nhà, 30 giây sau em sẽ trở lên cùng đi với anh. Nếu xe trại có tới, anh cố câu giờ chờ em nha!

    Tôi chưa kịp nói gì, nàng đã biến mất.

    9. Cùng Chung Một...Còng

    Loáng sau nàng đã xuất hiện, gọn gàng trong bộ đồ Jean với túi hành trang đeo bên hông.

    Nàng ngồi xuống trước mặt tên quản giáo, lấy trong túi hành trang ra ba cây vàng, nói với hắn, giọng tỉnh rụi:

    - Anh cho em... đổi lại hai món đồ sính lễ mà anh C. tặng cho em nha anh. Hai món đó coi rùm beng vậy chứ chỉ đáng chưa tới một cây rưỡi đâu. Đổi như vầy là anh... lời lắm đó!

    Giống như một thằng ăn trộm bị bắt quả tang, tên quản giáo run run quơ nhanh ba cây vàng nhét ngay vào túi trước rồi mới móc (rất chậm chạp, khó khăn) hai món nữ trang đặt lên bàn, miệng lí nhí:

    - Dzạ !... EM xin chị ạ !

    Trong khi tôi đeo trở lại cho nàng hai món nữ trang, nàng nói nhỏ đủ cho tôi nghe:

    - Nếu thằng giòi bọ đó mà đòi ba chục cây, em cũng thí cho nó chứ có xá gì ba cây!

    Tiếng kèn xe vang inh ỏi trước đầu hẻm cùng lúc với tiếng tên CA quận BT gọi với vào nhà. Chúng tôi ra tới thì thấy một chiếc xe đò lớn 50 chỗ ngồi đã hầu như kín người bên trong, gần như toàn bộ là những anh em tù cải tạo tại địa phương như tôi, số ít còn lại là mấy tên CA quản giáo.


    Hình minh họa

    Lên xe mới biết chỉ có mỗi mình tôi là được ưu ái cho phép người nhà cùng đi theo ra trại A-20. Các anh em bạn tù sau khi hỏi thăm tôi, biết được nàng chỉ mới là hôn thê chứ chưa là vợ tôi, đều không dấu được niềm mến phục nhưng không kém phần ái ngại cho chúng tôi.

    Thử thách cho nàng hãy còn nhiều lắm, lâu lắm vì các anh em đều biết rõ bản án còn lại của tôi. Dường như nàng hiểu được ánh mắt ái ngại của anh em. Rất bình tĩnh và đầy bản lãnh, vui vẻ, thân tình, nàng nói lớn cho cả xe đều nghe:

    - Thưa các anh! Nếu lần này ra A-20 rồi đều được trở về nhà thì em kính mời tất cả các ANH EM BẠN của anh C. đây vui lòng nhín chút thời gian tới dự đám cưới của tụi em vào ngày...........tại nhà của tụi em số ..........vào lúc...........giờ. Em nghĩ là các anh cũng không chấp nhứt chuyện tụi em vì hoàn cảnh nên thất lễ, không gởi thiệp mà mời miệng như vầy phải hôn?

    Cả xe (ngoại trừ mấy tên CA ra vì bọn nó biết nàng chỉ nói riêng với anh em bạn tù của tôi) vỗ tay hoan hô rần rần trong sự im lặng khó chịu của bọn CA.

    Từ SG ra tới trại A-20 gần 600 Km, chúng tôi không được xuống xe ở các tiệm cơm đọc đường mà phải ngồi ăn cơm ngay trên xe. Nếu có đi vệ sinh thì phải đi từng nhóm 5 người có 5 quản giáo đi kèm sát bên. Thấy kiểu cách siết cứng chúng tôi như vậy, tôi biết ngay là chuyến đi này của tôi khó lòng mà có ngày trở về như mong đợi. Tuy không nói ra nhưng nhìn ánh mắt thất vọng của nàng, tôi biết là cái kế hoạch nàng đã âm thầm trù tính cho tôi trốn thoát dọc đường sẽ không thể nào thực hiện được.

    Xe tới Đại Lãnh chuẩn bị leo đèo Cả gần nửa đêm, đột ngột dừng lại một nơi vắng vẻ. Đèn trong xe bật sáng soi rõ những gương mặt đăm chiêu, đầy ái ngại của anh em tù.

    Như kế hoạch đã bàn tính trước, tất cả các tên CA ngồi bật dậy, hai tên nhảy xuống đường đứng hai bên phải và trái của xe, tay cầm đèn pin bật sáng, tay lăm lăm AK-47, phòng ngừa có người trèo cửa sổ phóng xuống đường trốn thoát. Mấy tên CA còn lại lấy còng số 8 ra còng từng cặp hai người tù lại với nhau. Nhưng khi tới tôi (ngồi băng ghế sau cùng của xe. Nàng đã cố tình xin đổi chỗ ngồi của anh em cho chúng tôi ngồi băng ghế sau xe để dễ trốn thoát) thì bị... lẻ do không còn anh em nào để còng chung tay với tôi. Nàng tỉnh bơ giằng lấy cái còng trong tay tên CA (còn đang lúng túng chưa biết xử trí ra sao) bóp vào tay tôi rồi vào tay... của nàng. Nàng đưa cao tay lên lôi theo cả tay tôi, nhứ nhứ trước mặt tên CA, nhìn thẳng vào mặt hắn, nói gằn từng tiếng:

    - Như vầy anh yên tâm chưa?

    Hắn càng thêm lúng túng, bối rối với hành động bất ngờ của nàng, miệng lí nhí:

    - Nhưng mà... chị không phải là... không được phép....

    Nàng cười khẩy:

    - Chấp nhận làm vợ của tù thì phải chấp nhận cùng chung số phận với chồng. Đeo còng vô tay chứ đâu phải đeo huy chương mà phải cần có phép vậy anh?
    Cả xe vỗ tay rầm rầm tưởng như không bao giờ dứt. Tên CA xớ rớ, ngần ngừ một chút rồi lẳng lặng bỏ về chỗ hắn ngồi!

    Nguyễn Như Ý
    https://www.facebook.com/photo.php?f...type=3&theater

    Còn tiếp Phần IV

  6. Xin cám ơn BachMa

    muahong (11-30-2018)

  7. #274
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,187
    Thanks: 7,823
    Thanked 5,262 Times in 1,160 Posts

    Button Xanh Câu Chuyện Tù... Số Mạng (Phần IV)

    Câu Chuyện Tù... Số Mạng (Phần IV)

    10. Cùng Một Tử Vi Duyên Số

    Chuyện nàng theo tôi ra tận trại giam, nhất là hành động và lời nói khí khái của nàng trên chuyến tù xa, đã thành câu chuyện truyền miệng mãi về sau của các anh em tù chính trị trại A-20.

    Ra tới trại, trời vẫn chưa sáng. Xe dừng trước cổng nơi nhà thăm nuôi. Tên quản giáo gọi tôi và nàng xuống xe, dẫn vào giao cho tay CA quản lý khu thăm nuôi, nói là cho tôi được thăm gặp 24 giờ, sẽ nhập trại sau. Tên CA nhà thăm nuôi ngạc nhiên nhìn tay nàng đang bị còng dính tay tôi, cho tới lúc đó vẫn chưa được tháo ra. Thấy hắn đang trố mắt nhìn, nàng cười lớn:

    - À ! Cái này là em mượn của anh N. (tên quản giáo) để giữ anh C. lại với em cho chắc ăn! Em sợ ảnh... lường gạt em, làm đám hỏi với em rồi quất ngựa truy phong đó anh. Bây giờ em xin... bàn giao ảnh lại để các anh canh chừng ảnh dùm em nha.


    Hình minh họa

    Tên CA nhà thăm nuôi ngớ ra một lúc vì chưa kịp hiểu ra lời xiên xỏ, chưởi khéo của nàng. Khi đã thấm ý, hắn cười mếu máo, lắc đầu, chắc lưỡi:

    -Tôi chịu thua chị luôn! Ở đâu mà anh C. tìm ra được chị thật là xứng vợ, xứng chồng quá đi.

    Khi chỉ còn hai chúng tôi trong phòng thăm nuôi, nàng mất hẳn vẻ lanh lợi, sắc xảo mà trở nên mềm nhũn trong vòng tay tôi, khóc trong câm lặng. Tôi không ngờ, hoàn toàn không thể nào ngờ được nàng là một người con gái có bản lãnh khác thường như vậy. Ngay trong nghịch cảnh không lối thoát, nàng vẫn bình tĩnh ứng xử quyền biến, khôn khéo mà không phải ai cũng có thể làm được như vậy.

    Tôi đâu có chọn lựa và cũng không thể nào chọn lựa, chỉ nhờ duyên số tiền định mà thôi!

    Một lúc sau, nàng gạt nước mắt, mở cái túi xách, lấy ra một quyển tập học trò cũ, bìa bên ngoài đã ố vàng vì thời gian, lật lật rồi chọn ngay một trang đưa cho tôi:
    - Anh hãy đọc đi, đây là lá số Tử Vi trọn đời của em do một người bạn thân của ba em đã chấm và giải ra. Bác ấy là một SQ Hiến Binh thời ông Diệm chứ không phải chuyên làm nghề bói toán. Lúc em mới hai tuổi tức năm 1962, ông có tới nhà mừng sinh nhật của em. Không biết tại sao ổng bồng em một lúc rồi nói với ba em:

    - Mầy rán nuôi dạy con nhỏ này nha Ch. (tên ba vợ tôi), sau này khi lớn lên, nó sẽ là đứa vượt trội hơn hết trong số mấy đứa con của mầy. Số của mầy đừng mong có con trai, nhưng con nhỏ này còn hơn ba thằng con trai cộng lại nữa đó. Để tao chấm cho nó một lá số Tử Vi rồi giải ra cho mầy coi tao coi tướng nó có đúng không nha.

    Em đã gìn giữ lá số này bao nhiêu năm nay rồi và gần như em thuộc lòng nó luôn. Anh đã cho em biết 7 điều tiên tri số mệnh của anh rồi thì hôm nay, em sẽ cho anh biết số mệnh của em. Em muốn anh đọc ở cung Phu của em, tức nói tới người chồng của em, nhưng cái đèn dầu con cóc này lù mù lắm anh không đọc được đâu, để em đọc thuộc lòng cho anh nghe nha:

    # Đương số là một người rất gan dạ, bản lĩnh hơn người, cương trực, rất căm ghét sự bất công, áp bức, giữa đường gặp chuyện trái tai, gai mắt hay ra tay nghĩa hiệp, cứu người thế cô. Mạng nữ nhưng do tánh khí như trang nam tử hảo hán nên khó bề lập gia thất sớm được, phải tới năm ba mươi mới gặp được ý trung nhân.

    Chồng của đương số là một ... (xin phép bỏ qua vì không tiện nói về cái tôi) Do là người như vậy nên mới khắc chế, thu phục được đương số. THỜI GIAN ĐẦU, VỢ CHỒNG PHẢI GÁNH CHỊU TAI ÁCH LÀ BỊ MỘT THỜI GIAN DÀI SỐNG XA CÁCH, VỢ NAM CHỒNG BẮC HAI PHƯƠNG. Sau khi tái hợp mới hòa duyên sắt cầm, sống trọn đời hạnh phúc.

    Chính tôi đây cũng đã...thuộc lòng lá số của nàng nên khi viết đoạn này, tôi gõ một mạch từ đầu tới cuối mà không cần phải mở ra đọc lại.

    - Hôm vừa làm đám hỏi của tụi mình xong, anh có nhờ má kể lại cho em nghe chuyện anh đã nói trước với má 7 điều tiên tri về... em, để cho em thấy là anh không dựng chuyện. Em tức cười trong bụng lắm vì thấy sao mà lá số của anh và em giống như in khuôn với nhau vậy đó. Em muốn cho anh đọc lá số này của em rồi nhưng sợ anh nản chí. Em đã cố hết sức tận nhân lực cùng anh mong thoát số mệnh, nhưng cuối cùng thì mình cũng phải chịu thua! Thôi số tụi mình đã như vậy rồi thì anh cũng đừng buồn, đừng lo nữa. Thân cá chậu chim lồng, anh có lo cũng không có được gì đâu.
    Nàng còn dặn thêm:

    - Ở trong trại, em chỉ xin anh cố gắng giữ gìn sức khỏe để còn có ngày về với em. Em nghe má kể lại chuyện của anh trong trại thời gian trước khi anh về gặp em, anh rất là "cứng đầu, khó trị" nên cứ bị chiếu tướng hoài. Thôi bây giờ đã có em rồi, anh cố gắng sống sao cho phải đạo đi. Anh có thể vì nghĩ tới em mà chịu nhục, nhưng không thể vì em mà chịu hèn được. Anh cũng đừng sợ mất em. Như lá số của em đã nói thì không mong gì anh sẽ có mặt trong ngày cưới của tụi mình được đâu. Anh cứ để cho em lo, em sẽ thuyết phục gia đình hai bên cứ đúng ngày đã ước hẹn mà làm đám cưới, cho dù không có mặt... chú rể. Sau khi làm đám cưới xong, em sẽ ra đây hưởng “tuần trăng mật” với anh ở ngay nhà thăm nuôi này. Chịu hông? Cười cái đi em thương!

    11. Án Chung Thân Mãn Đời

    Nhìn cái cười méo xẹo trên gương mặt đau khổ giống như người bị bệnh trĩ kinh niên của tôi, nàng phá lên cười vang vô tư lự như không có chuyện gì bi đát đang xảy ra cho hai đứa, rồi vừa cười nắc nẻ vừa nói:

    - Em nói cho anh biết nha, nhà nước kêu anh án chung thân còn giảm án rồi có ngày tha cho anh về, chứ lần này em kêu cho anh cái án chung thân thì đừng hòng em... giảm án cho anh nha. Em sẽ xiềng cổ anh tới mãn đời luôn đó.

    Qua sáng hôm sau, tôi bị dẫn vào nhập trại, trở lại đội lao động khổ sai như ngày nào. Còn nàng thui thủi một mình trở về nhà báo tin dữ cho hai gia đình biết. Nàng đã thực hiện đúng như đã hoạch định với tôi đêm chia tay trong nhà thăm nuôi.

    Gia đình đôi bên đã tổ chức một đám cưới linh đình với đông đủ bà con, quan viên hai họ nhưng không có... chú rể! Má tôi đã đóng vai chú rể, thay tôi để theo như tục lệ, trao nhẫn cưới, bông tai, dây chuyền cùng các thứ lễ vật cưới cho nàng.

    Ngay sau lễ cưới, má tôi đã dẫn nàng ra thăm tôi và xin cho tôi được thăm gặp... mười ngày để cùng nàng "hưởng tuần trăng mật" ngay tại nhà thăm nuôi của trại tù A-20! (Xin nhắc lại: nhà tù thời đổi mới rồi, chuyện gì cũng có... thủ tục đầu tiên.)

    Có một chuyện đáng nhớ là trong những ngày trăng mật, tôi có nhắn lời mời anh bạn tù rất thân là Th/Tá H-Q-T. (vị Tiểu Đoàn Trưởng Công Binh QLVNCH tôi đã nói ở phần trên. Hiện anh đang định cư tại CA, USA theo diện RD, tù chính trị) ra nhà thăm nuôi để tôi ra mắt vợ mới cưới của tôi cho anh biết mặt. Anh đã cho tôi biết từ năm 82 bảy điều tiên tri số mệnh của tôi giống y như chú Ba P. đã nói. Khi anh T. vừa an vị, tôi gọi nàng ra và nói:

    - Em rất cám ơn anh đã tiên đoán 7 điều về người vợ của em từ 7 năm về trước. Hôm nay em xin được giới thiệu với anh, đây là vợ của em. Anh coi có... đúng là cô này không, hay là còn cô... nào khác để em còn liệu bề tính toán chuyện tương lai.

    Anh T. phá ra cười trong khi tôi vẹo mình đi vì cái ngắt đau điếng một bên sườn non mà nàng tặng cho tôi. Sau tuần trăng mật, cứ mỗi ba tháng một lần, nàng đều đặn lặn lội, trèo đèo vượt suối (Đúng nghĩa đen! Những anh em nào đã từng ở trại tù A-20 và gia đình của họ sẽ rất thông cảm khi thấy tôi dùng câu thành ngữ này) ra thăm nuôi tôi cho tới ngày nàng không thể đi được nữa vì... cái bụng bầu đã gần tới ngày sinh nở, nàng mới bất đắc dĩ tạm giao lại chuyện thăm nuôi cho má tôi.

    Năm 1990, nàng đã sinh cho tôi một đứa con trai đúng như phần số đã định. Khi con tôi được bảy tháng, nàng bồng nó ra A-20 thăm ba của nó lần đầu tiên. Ông Giám Thị Trưởng A-20 hay tin, ra tận nhà thăm nuôi, vừa bồng bế đùa giỡn với con tôi, vừa chúc mừng chúng tôi. Ông ta nổi tiếng là không ưa trẻ con nhưng không hiểu sao lại rất thích thằng con của một tù nhân như tôi. Hễ cứ nghe vợ con tôi ra thăm là thế nào ông ta cũng có mặt làm vú em trông coi con cho chúng tôi.


    Hình minh họa

    Suy gẫm lại, có thể ông ta sau lần xém chết năm 89 may nhờ có cha D. báo trước nên nay ông ta lại một lần nữa chứng kiến tận mắt chuyện "Con người ta có duyên số và định mệnh hay không" nên ông ta mới có ưu ái đặc biệt với con trai của chúng tôi chăng? Và có thể do chính tác động đó mà thay vì phải chịu chung đủ chín năm rưỡi án khổ sai, tôi chỉ phải trả nợ số kiếp thêm có... bảy năm tù! Năm 1996, nàng dẫn con trai tôi, khi đó đã được sáu tuổi, ra tận trại giam đón tôi ngày mãn án, mà nhất quyết không để cho tôi về một mình. Chắc có lẽ nàng đã biết rõ lá số của tôi rồi, nên nàng sợ có con... yêu nữ nào đó phỗng tay trên, uổng công nàng chờ đợi ròng rã suốt bảy năm trời ngày tôi trở về.

    Từ ngày tôi mãn bản án chung thân sau 17 năm ba tháng thụ hình, tôi vẫn đang tiếp tục thụ hình bản án chung thân của chính nàng tuyên án, mà không bao giờ mong có ngày được ân xá!

    Xin chân thành cám ơn các bạn đã đọc chuyện này của tôi và qua câu chuyện dài dòng này, chắc có lẽ các bạn đã có câu trả lời cho câu hỏi mà hàng triệu triệu người trên thế giới vẫn thắc mắc, không biết "Con người có duyên số và định mệnh hay không?"

    Nguyễn Như Ý
    https://www.facebook.com/search/top/...%87n%20T%C3%B9

  8. Xin cám ơn BachMa

    muahong (11-30-2018)

  9. #275
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,187
    Thanks: 7,823
    Thanked 5,262 Times in 1,160 Posts

    Button Xanh Thời Thế, Thiện, Ác, và... Con Người.

    Thời Thế, Thiện, Ác, và... Con Người.
    Vương Mộng Long - K20

    Một ngày cuối tháng Ba năm 1970 Thượng Sĩ Woodell ghé Cư Xá Trần Quí Cáp- Pleiku đón tôi vào Bệnh Viện 71 Dã-Chiến Hoa-Kỳ để ghi tên xin khám bệnh. Hôm sau, tôi chính thức nhập viện để được giải phẫu một vết thương.

    Đúng lý ra, hôm đó, tôi phải lên đường về trình diện Tổng Y Viện Cộng-Hòa theo quyết định của Bác Sĩ Trung, Giám-Đốc Quân Y Viện Pleiku. Chỉ vì sáu tháng trước đây, vết thương trên vai trái của tôi đã được mổ một lần. Lần đó bác sĩ chỉ lấy ra được hai mảnh đạn nhỏ, còn mảnh đạn lớn vì ở quá sâu lại dính với xương vai, nên tôi được xuất viện về đơn vị, chờ ít lâu, sẽ di chuyển xuống vùng sườn trái, khiến cả một vùng cơ bắp sưng tấy, và đang làm độc. Ban Giám Đốc Quân Y Viện Pleiku đã làm thủ tục chuyển tôi về Tổng Y Viện Cộng-Hòa vì nơi đây có nhiều phương tiện chữa trị hơn. Tôi về đơn vị trình bày việc này cho trung tá liên đoàn trưởng, lúc đó cũng có mặt ông trung tá cố vấn trưởng liên đoàn. Ông trung tá Hoa-Kỳ nêu ý kiến, giới thiệu tôi vào Bệnh Viện 71 Dã-Chiến Hoa-Kỳ trước, nếu chữa không xong, họ sẽ chuyển tôi ra Hạm Đội 7.

    Bệnh viện 71 Dã Chiến nằm trong một thung lũng, bên cạnh con đường nhựa nối liền phi trường Cù-Hanh và Bộ Tư-Lệnh Quân-Đoàn II. Bệnh viện này là nơi tiếp nhận thương binh Mỹ từ các chiến trường Cao-Nguyên Vùng 2 chuyển về. Từ đây thương binh được cấp cứu, điều trị sơ khởi, sau đó tuỳ theo tình trạng nặng nhẹ, họ sẽ được chuyển về Sài-Gòn hay chuyển ra Hạm Đội 7.


    Người lính Việt cộng bị trói, người lính VNCH phải đút bánh tét cho anh ta ăn

    Thay quần áo xong, tôi được đưa vào phòng Quang Tuyến X rồi chuyển sang phòng chẩn bệnh.Nơi đây đã có mặt một nữ y sĩ trung tá già da đen. Bà y sĩ trung tá này chính là trưởng khoa giải phẫu của Bệnh Viện 71 Dã-Chiến. Hình dáng của bà ta thật là cao lớn và thô kệch, nhưng giọng nói của bà lại vô cùng ấm áp dịu dàng. Rất từ tốn, bà tự tay đo, và ghi trên hồ sơ, nhịp tim, mạch của tôi. Rồi bà bước ra cửa, nói nhỏ với cô điều dưỡng vài lời. Một phút sau ông đại úy bác sĩ phụ trách ca mổ của tôi có mặt. Ông y sĩ đại úy này da trắng, cũng hơi lớn tuổi, và mang kiếng trắng. Hai vị thày thuốc luân phiên quan sát hai tấm hình X Ray, rồi sờ nắn vùng đang sưng tấy bên nách tôi. Khi ngón tay của họ nắn bóp trên chỗ sưng, tôi cảm như nơi đó là một quả xoài đã chín nhũn, chứ chẳng thấy đau đớn gì cả. Công việc chẩn bệnh chấm dứt, tôi ngồi chờ người dẫn sang phòng mổ.

    Chợt ngoài bãi đáp có tiếng động cơ của trực thăng tản thương. Hai điều dưỡng viên chạy ra khiêng chiếc cáng, trên đó là một thương binh băng kín nửa người phần dưới. Theo sau chiếc cáng là một sĩ quan Mỹ và một sĩ quan Việt-Nam. Người sĩ quan Việt-Nam đó là Đại-Úy Phạm Văn Tư Khóa 19 Võ Bị, tôi quen biết.

    Anh Tư là dân Tình-Báo, đang tăng phái ngắn ngày cho ban thẩm vấn đặc biệt của Mỹ tại Hàm-Rồng. Thấy bệnh nhân là một người Việt-Nam, nên tôi thắc mắc hỏi anh Tư:

    - Ủa! Sao Niên Trưởng không đưa người của Niên Trưởng vào Quân Y Viện Pleiku mà lại đưa vào đây?

    - Có phải người của “moa” đâu? Việt-Cộng đó!

    - Việt-Cộng à?

    - Thằng Việt-Cộng này vướng Claymore ngoài rào trại Dak-Séang. Mỹ bắt được, đem về Camp Enari, giao cho Phòng 2 Sư Đoàn 4 (Hoa-Kỳ )

    - Từ Camp Enari về đây có vài ba cây số sao không dùng xe mà phải xử dụng tới trực thăng?

    - “Moa” thấy đùi của anh ta bị quấn “garô” sưng to quá, sợ xảy ra nội xuất huyết thì chết, nên đề nghị với Mỹ lấy máy bay của sư đoàn, đưa anh ta về đây.

    Nhìn mặt người nằm trên cáng, tôi đoán chừng hắn cũng cỡ tuổi của tôi và anh Tư thôi.

    - Hắn thuộc đơn vị nào vậy?

    - Tụi “moa” vừa ký nhận đã phải đưa tới đây ngay. Chưa hỏi được câu nào.

    - Bộ anh ta đi đánh nhau không mang theo giấy tờ gì sao?

    - Có chứ! Nhưng tài liệu mình còn để trên bàn. Việc cứu người là trọng, phải lo trước. Chiều nay mình sẽ nghiên cứu tài liệu cũng chưa muộn.

    - Ừ nhỉ! Dù gì thì hắn ta cũng là người Việt-Nam, chỉ không cùng chiến tuyến với chúng mình.

    - “Toa” biết không? Trên đường đi, hắn cứ luôn mồm gọi “Xuân ơi! Xuân ơi!” Chắc hắn yêu thương người mang tên Xuân này lắm .

    Tôi gật đầu, tán đồng,

    - Dù là Quốc-Gia hay Cộng-Sản, thì con người nào cũng có một trái tim, biết yêu thương, và biết giận hờn.

    Một năm trước đây, trong trận Dak-Tô (5/1969), tôi đã trải qua tình cảnh tương tự như người cán binh Cộng-Sản này. Ngày đó, vào giờ phút tuyệt vọng nhất, trái tim tôi chỉ còn hình bóng người mà tôi yêu thương nhất. Tôi đã gọi tên người này nhiều lần trước khi bị ngất đi.


    Cảnh người lính VNCH đối xử với tù binh Việt cộng

    Tên tù binh được chuyển vào phòng X Ray rồi sang phòng chẩn bệnh. Hai Quân-Cảnh Hoa-Kỳ được gửi tới canh gác trước phòng chẩn bệnh. Đại Úy Tư bắt tay tôi, rồi cùng viên sĩ quan Mỹ rời bệnh viện.

    Khi tôi và tên tù binh được đẩy vào phòng giải phẫu thì trên bàn mổ đang diễn ra một ca phẫu thuật khá ồn ào. Một nam bác sĩ cùng hai nữ y tá cố gắng và kiên nhẫn lắm mới lấy được cái đầu đạn đồng A.K 47 ra khỏi đùi trên của một anh lính Hoa-Kỳ. Anh lính này da trắng, còn rất trẻ, tuổi chừng mười chín hai mươi là cùng. Anh chàng bị cột chặt nửa người dưới và hai chân xuống bàn mổ, để tránh dãy dụa, gây trở ngại cho bác sĩ.

    Chắc việc mổ xẻ làm cho người trẻ tuổi đau đớn lắm, nên anh ta không ngớt khóc lóc, kêu la. Ông bác sĩ và hai cô y tá cứ phải luôn miệng, dỗ dành, an ủi anh.
    Trước cảnh này tôi cũng thấy tội nghiệp. Mỗi khi hoàn tất một pha mổ, toán phục dịch vệ sinh lại nhanh tay thay cái khăn bàn mới, rồi đẩy vào phòng một khay đựng dụng cụ giải phẫu khác đã tẩy trùng. Ca mổ của anh lính Hoa-Kỳ chấm dứt thì tới phiên anh tù binh Cộng-Sản. Mỗi bên đùi của tên tù binh này bị hai viên chì Claymore ghim sâu tới xương. Bác sĩ phải đánh thuốc tê từng chân, mổ lấy đạn chì từ từng vết thương một. Do đó, thời gian hoàn thành công việc này khá dài.

    Nhìn những giọt mồ hôi chảy thành dòng trên má hắn, tôi nghĩ hắn đang nén cơn đau. Trong suốt nửa giờ đồng hồ, hắn chỉ rên nho nhỏ trong miệng, trừ hai lần bác sĩ gắp đạn ra khỏi đùi phải thì y chịu không nổi, buột miệng hét lên:

    “ Ối! Ối! Đau! Đau quá!... Ư!... Ư!... ư… ư…”

    Với ca mổ này, cô điều dưỡng da trắng cũng tận tình săn sóc tên Việt-Cộng, không khác gì đã làm đối với anh lính Mỹ trong ca mổ trước. Cô dịu dàng lau đi những giọt mồ hôi trên mặt người tù. Dù biết rằng người được chăm sóc không hiểu cô nói gì, nhưng cô cứ dỗ dành:

    “Don't worry! Don't worry! You will be Okay!”

    Qua cử chỉ dịu dàng và giọng nói êm như ru của cô, không ai dám nghi ngờ rằng cô đang đóng kịch. Bốn viên chì đã được lấy ra rồi. Vết thương cũng được may vá và băng bó xong. Y tá chuyển người tù sang chiếc xe lăn, cạnh chiếc xe lăn của anh lính Mỹ.

    Là bệnh nhân cuối cùng, tôi leo lên bàn mổ mà nửa người bên trái nặng như đeo chì. Tôi bị cởi trần, nằm hơi nghiêng về bên trái. Cô y tá vừa lau sạch đám bọt oxygen trên vùng sườn trái của tôi, thì ông bác sĩ bắt đầu dùng mười đầu ngón tay ấn nhè nhẹ quanh quanh, thăm dò. Rồi thật từ từ, ông dùng iode vàng xoa trên vùng đang mưng mủ, rộng dần ra thành một bề mặt cỡ lòng bàn tay. Ông y sĩ đại úy chích cho tôi ba mũi thuốc tê, rồi huyên thuyên cùng tôi đôi chuyện nắng mưa. Vài phút sau, ông mới bắt đầu ra tay. Dưới tay ông, lưỡi dao sắc như nước, nhanh như chớp, cắt ngọt hai nhát chéo chữ “X” xuyên da, thịt, chạm tới xương sườn của tôi. Sau đó, cứ thủng thỉnh, ông xẻ dọc, rồi xẻ ngang, như người ta đang băm một cái bánh mềm. Tới khi thịt da trên cái diện tích cỡ lòng bàn tay đó bị bấy ra rồi, ông bác sĩ mới dùng một lưỡi dao cong như lưỡi hái, mạnh tay cạo từng lọn thịt bầm màu xanh lẫn với máu mủ, cho rơi xuống một cái thau nhôm do cô y tá hứng.Vì nằm nghiêng về bên trái, tôi thấy cái thau nhôm chứa lổn nhổn những cục thịt pha máu đỏ, mủ xanh, mủ vàng, tanh hôi vô cùng.

    Tôi chợt nghĩ, nếu như tôi cứ cứ ỷ y, không chịu nhập viện, chắc chỉ sau một thời gian ngắn nữa thôi, cả vùng sườn bên trái của tôi sẽ thối rữa thành mạch lươn, hết phương cứu chữa.Khi lưỡi dao đục khoét lớp da thịt bên ngoài, tôi chưa thấy đau đớn chút nào, tới lúc lưỡi dao cạo trên xương nghe, “Két! Két! Cột! Cột!” thì điếng người. Ngay cả khi ở ngoài mặt trận, bị mảnh đạn ghim vào, tôi cũng không thấy đau như thế này. Toàn thân tôi run lên bần bật như đang cơn sốt rét. Tôi bật người lên, oằn người xuống, đồng bộ với những nhát dao đang cào, nạo xương sườn của tôi. Tôi cắn chặt hai hàm răng vào nhau. Hình như môi dưới của tôi bị răng tôi cắn chảy máu mất rồi? Mồ hôi trên mặt tôi chảy như tắm, rớt ròng ròng trên tấm nhựa trắng trải bàn mổ. Tôi nghĩ, lúc đó có lẽ mặt tôi đã xám xịt như chàm? Nhưng tôi vẫn còn tỉnh táo lắm. Tôi biết, lúc này, có hai người đồng cảnh ngộ, một bạn, một địch, đang chăm chú theo dõi, đánh giá sức chịu đựng của một người lính Việt-Nam Cộng-Hòa. Một giọt nước mắt, một tiếng kêu la của tôi sẽ nằm trong trí nhớ của họ suốt đời.

    Tôi nhắm mắt, nghĩ tới cảnh những thương binh Việt-Nam Cộng-Hòa khác đã từng lên bàn mổ, bị cưa chân, cưa tay, chắc họ phải chịu đau đớn vạn lần hơn tôi. Tôi tự an ủi rằng, mình còn may mắn hơn những người này rất nhiều...


    Tù binh Bắc Việt được VNCH đưa lên xe trao trả cho miền Bắc sau Hiệp Định Paris 1973

    Rồi tôi hồi tưởng lại truyện Tam Quốc Chí đọc ngày còn bé, với huyền thoại Tướng Quân Quan Vân Trường cứ ung dung ngồi uống rượu, ngâm thơ không màng tới việc Hoa Đà đang xẻ thịt, cạo xương ông để rút mũi tên tẩm thuốc độc đang ghim trên vai ông ta ra. Ngày xưa làm gì có thuốc tê, thuốc mê? Vậy mà Quan Công không hé chút đau đớn nào, thì ông quả là người có sức chịu đựng phi thường. Càng nghĩ, tôi càng phục vị anh hùng thời Tam Quốc này quá!

    Bỗng nhiên bác sĩ ngừng tay dao, đưa tay chụp cái kìm. Ông ngoáy mũi kìm vào cạnh sườn tôi, kẹp chặt một vật, rồi giựt mạnh! Theo phản xạ, tôi vội oằn mình, ưỡn người lên, nương theo hướng lôi kéo của mũi kìm.

    “Bục!” thân mình tôi như bị móc lên cao, rồi rơi xuống mặt bàn. Tôi có cảm giác như vừa bị ông bác sĩ giựt đứt một phần thân thể. Đau thấu xương, đau tới ù tai, hoa mắt luôn! Quá sức chịu đựng, tôi xón đái ra quần mà không hay!

    “Here it is!”

    Ông bác sĩ vừa cười, vừa giơ cái mũi kìm cho tôi thấy một cục thịt to bằng đầu ngón tay cái, máu đỏ bầy nhầy. Đó là cái mảnh 82 ly vừa bị gắp ra từ khe hở giữa hai cái sương sườn. Thả cục đạn xuống cái khay trên bàn, ông bác sĩ lại tiếp tục cào nạo. Tay chân tôi bủn rủn không còn hơi sức. Tôi mệt lả người, nằm im như cái xác. Hồi lâu sau, ông bác sĩ ngừng tay, hất hàm ra dấu cho cô điều dưỡng đứng chờ bên tủ thuốc. Hiểu ý, cô điều dưỡng bưng ra, đặt trên bàn một hộp nhựa chứa hai cái lọ. Bác sĩ nhanh tay lau sạch máu trên vết mổ, rồi mở nắp cái lọ, rút ra một sợi bấc tẩm thuốc bột trụ sinh màu vàng như nghệ.

    Với cái kẹp inox, ông khéo léo nhét hết hai lọ băng bấc đèn màu nghệ vào đầy vết mổ. Xong xuôi, cô y tá dán miệng vết thương bằng một tấm băng hai lớp chứa bông gòn ở giữa, rộng bằng bàn tay. Bên ngoài miếng băng này, cô còn quấn thêm một lớp băng cứu thương quanh ngực tôi để cho tôi bớt đau. Ông bác sĩ và hai cô y tá đều mang băng che miệng, tôi không thấy miệng họ cười, mà chỉ thấy mắt họ cười, khi ca mổ vừa hoàn tất.

    Những gì xảy ra trong phòng giải phẫu buổi trưa hôm đó đã cho tôi thấy cái ý nghĩa cao quý của ngành y. Dưới mắt của người thầy thuốc, việc cứu người là mục đích tối thượng. Mạng sống của mỗi con người đều quan trọng như nhau: Dù người đó là bạn hay thù, là da trắng hay da màu, là Cộng-Sản hay Quốc-Gia.

    Cô điều dưỡng vừa đẩy cái khay dụng cụ đi khuất thì bà y sĩ trung tá trưởng khoa bước vào. Bà nói đôi lời với ông bác sĩ, rồi cúi xuống bế tôi gọn trên đôi cánh tay to lớn của bà. Giọng nói của bà bên tai tôi, dịu dàng như giọng của một hiền mẫu: “Oh! My baby! My baby! You will be Okay! My baby...”

    Anh lính Mỹ và tên cán binh Việt-Cộng cũng sững người, trố mắt. Bà bác sĩ bế tôi đi trước, hai cái xe lăn của anh lính Mỹ và tên cán binh Cộng-Sản được y tá đẩy theo sau.

    Ra tới phòng hồi lực, bà đặt tôi xuống giường rồi lẳng lặng đi ra. Lúc sau bà quay lại, trên tay có gói Salem và cái kẹp diêm cây. Bà để gói thuốc lá và diêm quẹt trên đầu giường tôi, rồi dơ ngón tay trỏ điểm điểm một vòng, ngụ ý món quà này dành cho cả ba người. Giường tôi nằm ở giữa, bên trái là anh bạn Đồng-Minh, bên phải là tên cán binh Cộng-Sản. Chỉ có đầu giường tôi bị treo lủng lẳng dây nhợ chuyền nước biển pha thuốc trụ sinh. Còn giường hai bên không bị vướng vít gì, vì họ đã được chích Penicillin rồi.

    Tôi đốt một điếu Salem đưa cho anh lính Mỹ. Anh ta lắc đầu, nhỏ nhẹ:

    - Thank you!

    Tôi đưa điếu thuốc lên môi, kéo một hơi dài, nhả khói. Tôi trao bao thuốc cho tên Việt-Cộng,

    - Này hút đi! Salem đầu lọc nhẹ lắm!

    - Không thèm! nhìn tôi với ánh mắt lừ lừ, gờm gờm, hắn ta gằn giọng. Tôi tỉnh như ruồi,

    - Không hút thì thôi! Tớ hút một mình.

    - Thuốc của đế quốc, không thèm hút!

    - Thông cảm đi! Ở đây không có thuốc lào. Chỉ có thuốc thơm đế quốc thôi. Không hút thì nằm đó mà ngửi khói.


    Đốt một điếu Salem đưa cho tên Việt-Cộng

    Tới chiều, chúng tôi được cung cấp mỗi người một khay thức ăn, gồm một bánh mì kẹp thịt bò, một hộp sữa tươi, và một chùm nho. Tôi và chú GI ăn uống rất ư là tự nhiên, còn tên cán binh Bắc-Việt thì nằm quay mặt vào tường không thèm chạm tới cái khay.

    Trước khi quay gót đem theo cái khay của tôi, cô điều dưỡng nhìn tên bộ đội một lúc, rồi dịu giọng,

    - Take it! It's good for you!

    Tôi chêm thêm,

    - Ăn đi chứ! Không ăn thì chết đói! Muốn gì thì cũng phải sống trước đã! Ăn đi!

    Cô y tá nhìn tôi, đồng tình,

    - May you tell him to take it?

    Tôi nghiêm mặt, hù cho anh cán binh sợ thêm.

    - Thôi ăn đi! Anh không ăn, cô ấy dẹp mất thì đói đấy!

    Anh chàng hình như cũng đói lắm rồi? Sau một phút ngập ngừng, chàng đưa tay cầm kẹp bánh mì, rồi vội quay mặt vào tường.

    Buổi tối, trời trở lạnh, anh lính Mỹ nổi cơn, la hét, chửi bới om xòm. Cô y tá trực phải tới ngồi ở cuối giường, an ủi dỗ dành, rồi đọc truyện cho anh ta nghe. Tôi mồi một điếu Salem, đưa cho tên Việt-Cộng,

    - Hút đi! Không nguy hiểm tới tính mạng đâu mà sợ.

    Lần này thì hắn ta không từ chối nữa.

    - Ừ! Có thế chứ! Này! Vì sao bị thương và bị “tó” vậy? tôi bắt đầu gạ gẫm.

    - Đang điều nghiên mục tiêu thì bị vướng mìn.

    - E mấy?

    - Hăm Tám (28)

    Tôi đã biết E 28 là tên của Trung Đoàn 28 Mặt Trận B3 Cộng-Sản Bắc-Việt, nên khai thác tiếp,

    - Năm ngoái tớ có đụng E 28 ở Dak-Tô. Trận đó E 28 chết gần hết, cậu còn sống sót là may lắm đó

    - Mới bổ sung về E 28 hai tháng thôi.

    - Cấp chức gì?

    - Trung úy Đặc-Công

    - Quê ở đâu?

    - Hải ... Rương

    - Làng nào?

    - Hỏi gì mà lắm thế?

    - Thôi không hỏi nữa!

    Thấy hắn sắp quạu, tôi không thèm nói chuyện thêm. Tôi xoay người lại, nằm ngửa, quay mặt sang anh bạn Đồng-Minh. Cậu bé đã ngáy khò khò.

    Đêm vào khuya, tôi bị vết mổ hành, chỉ nhắm mắt, chập chờn. Thêm vào đấy, cứ ba tiếng đồng hồ, y tá lại đánh thức tôi dậy, nhét hai viên trụ sinh vào mồm bắt nuốt. Từ sau lần bị thương thứ nhì, cơ thể tôi không thể tiếp nhận Penicillin, nên kỳ này bác sĩ cho tôi uống Erythromycin với liều lượng cao gấp đôi để phòng ngừa vết mổ làm độc.

    Hình như tên tù binh có tâm sự, không ngủ được. Chắc anh ta đang suy tính điều gì gay go lắm? Lâu lâu hắn lại mở mền, hé mắt quan sát quanh phòng. Có lúc hắn gượng gạo ngồi dậy thử đứng hai chân trên nền nhà, nhưng thấy không vững, y đành ngồi phịch xuống nệm, thở dài. Mấy lần y mở miệng gọi tôi:

    “Này! Này!”

    Tôi khoát tay ra dấu cho hắn ta im tiếng, đừng làm ồn lúc đêm khuya. Quá nửa đêm, ba, bốn y tá vào phòng hồi sức, chuyển anh lính Mỹ ra xe, chở đi.

    Lợi dụng lúc căn phòng chộn rộn, ồn ào, anh cán binh hỏi nhỏ:

    - Các anh có đem tôi đi bắn bỏ không?

    Tôi ngạc nhiên

    - Cái gì mà bắn bỏ? Ai nói với anh điều đó?

    Anh cán binh trả lời với vẻ mặt hoàn toàn thật thà,

    - Chính ủy nói mà! Chính ủy nói, nếu để các anh bắt, các anh sẽ đem xử bắn. Tôi phì cười.

    - Ai mà bắn anh làm gì? Tuyên truyền bậy bạ thế mà anh cũng tin!

    Anh Việt-Cộng ngẩn người, ra chiều suy nghĩ, rồi lẩm bẩm:

    “Chẳng lẽ chính ủy nói sai?” tiếng anh ta nhỏ như thể là, anh ta nói, cho chính mình anh ta nghe thôi.

    - Này! Có phải Xuân là vợ anh không? tôi hỏi dò.

    - Đúng! Xuân là vợ tôi đấy! Xuân vừa đẻ đứa con gái đầu lòng thì tôi có lệnh đi B. Không biết kiếp này tôi có còn gặp lại Xuân và Bé Ty không?

    Nghe tâm sự của anh ta, tôi không khỏi mủi lòng. Hai người ngừng trò chuyện khi cô y tá trở về phòng cho tôi uống thuốc. Ngày kế tiếp, sau bữa ăn sáng, hai Quân-Cảnh gác cửa phòng rút đi, Đại Úy Phạm Văn Tư và viên sĩ quan Phòng Nhì Sư-Đoàn 4 Hoa-Kỳ lại xuất hiện. Anh Tư bắt tay tôi, rồi ngồi xuống cạnh giường bệnh của tên tù Phiến Cộng.

    - Hết lo chết rồi nhé! Giờ thì mình đi thôi!

    Viên đại úy Mỹ cũng cúi xuống, vỗ vai người tù, xí xố vài câu hỏi thăm. Sau đó, hai sĩ quan Việt, Mỹ đỡ tên tù Cộng-Sản lên ghế lăn. Tôi đưa bao Salem còn hơn nửa cho tên cán binh.

    - Này! Cầm lấy! Tôi cũng người Hải-Dương...

    Anh trung úy Việt-Cộng rụt rè cầm bao thuốc lá nhét vào túi. Rồi, anh ta nắm lấy bàn tay phải của tôi, lắc lắc vài cái.

    - Các anh đã cứu mạng tôi. Người ta nói rằng các anh độc ác lắm. Nhưng thật ra... các anh có độc ác đâu? Lúc này ánh mắt anh ta không còn vẻ gờm gờm, hằn học nữa. Tới cửa phòng, anh ta dơ tay vẫy tôi lần cuối.

    Tới trưa, tôi được chuyền thêm một bịch nước biển pha trụ sinh rồi rời bệnh viện lúc hai giờ chiều, theo chế độ điều trị ngoại trú.

    Bà bác sĩ trưởng khoa dúi vào tay tôi cái bao nylon, trong đó chứa cục đạn bằng gang màu đen đã được chùi rửa sạch.

    “Don't throw it away! Keep it for memory!” bà dặn dò.

    Bà không bắt tay tôi, mà xoay lưng đi về văn phòng.

    “Take care! Good bye! My son!”

    Phút chia tay, hình như bà tránh nhìn tôi, giọng nói của bà run run.

    Khi đỡ tôi lên xe, cô y tá mới nói nhỏ vào tai tôi: “Her son was a Ranger like you!”

    Hai ngày sau tôi trở lại bệnh viện để thay băng thì cô y tá quen báo cho tôi biết rằng bà y sĩ trung tá trưởng khoa vừa lên đường về nước vì bà đã mãn nhiệm kỳ phục vụ ở Việt-Nam.

    Nhớ tới bà, lòng tôi chợt dâng lên một cảm giác lâng lâng, ngọt ngào.

    Thế là bà đã về quê! Bà đã xa rời chốn hiểm nguy. Bà sẽ về đoàn tụ với người con trai của bà; anh ấy cũng là một “Ranger” như tôi. Bà cũng giống mẹ tôi: những lúc xa con, thấy anh lính nào cỡ tuổi con mình, cũng thấy thương, như là thương con mình

    ***

    Cuối tháng Chín năm 1974 Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân xuống Đức-Lập tăng cường cho Tiểu-Khu Quảng-Đức để tham dự cuộc hành quân khai thông Liên Tỉnh Lộ 8 B. Thiếu Tá Phạm Văn Tư (lúc này là Trưởng Phòng 2 Tiểu-Khu) lại gặp tôi lần nữa. Nhớ chuyện năm nào ở Bệnh Viện 71 Dã-Chiến, tôi hỏi anh Tư.

    - Ngày đó, vì cớ gì mà anh cứu thằng trung úy Đặc-Công Việt-Cộng?

    - Đạo lý làm người mà Long! “Moa” cứu hắn, chỉ vì hắn sắp chết. Vả lại, hắn đâu phải là kẻ thù của chúng ta? Hắn chỉ là kẻ địch của chúng ta thôi. Tôi biểu đồng tình.

    - Đúng! Kẻ thù là người có ân oán với mình. Những tên cán binh đang đánh nhau với mình thì có thù oán gì với mình đâu? Tôi hỏi tiếp.

    - Sau này anh có còn gặp lại y không?

    - Không. Vì khai thác xong thì tụi này chuyển giao anh ta cho Phòng Nhì Quân-Đoàn II ngay. Giữ lâu làm gì?

    Tôi nhắc anh Tư.

    - Anh có nhớ chuyện thằng Vi-Xi đó cứ gọi tên Xuân lúc hôn mê không? Và anh có biết Xuân là ai không?

    - “Moa” không hỏi, mà cũng quên khuấy chuyện này rồi.

    - Xuân là tên vợ hắn. Đứa con gái hắn vừa chào đời, thì hắn có lệnh vào Nam.

    Nghe vậy, anh Tư bèn đưa bàn tay phải lên ngang ngực, dơ ngón trỏ ra nhịp nhịp.
    - Ừ há! Chắc ngày trao đổi tù binh năm 1973 hắn đã về đoàn tụ với gia đình ngoài Bắc rồi.

    Tôi chợt nhớ, tên cán binh ấy là người Hải-Dương, nên buột miệng.

    - Thằng đó là người cùng quê với tôi đấy.

    Anh Tư gật gù.

    - Có khi hai người là bà con cũng nên?

    Tôi cũng gật gù theo.

    - Biết đâu chừng lại là anh em, họ hàng. Tôi có một bà dì và hai ông bác còn ở ngoài Bắc. Nếu như hắn là con của những người này, thì quả là “cốt nhục tương tàn”. Anh Tư phụ họa.

    - Những thằng địch đang cầm súng chỉ là nạn nhân bị tụi đầu sỏ cầm quyền lợi dụng máu xương thôi. Mấy thằng Cộng-Sản “cội” đang ăn trên, ngồi trốc ở ngoài Hà-Nội mới là nguyên nhân gây ra cuộc chiến tranh “nồi da xáo thịt” này. Tụi đó mới chính là kẻ thù của chúng mình!

    ***

    Đầu năm 1976, nghĩa là đúng sáu năm, sau ngày Đại Úy Phạm Văn Tư áp giải viên trung úy Đặc-Công Việt-Cộng tới Bệnh Viện 71 Dã-Chiến Hoa -Kỳ thì tôi và anh Tư đã thành hai trong số vài trăm tù nhân cấp thiếu tá của khu K 3 trại Tam-Hiệp, Biên-Hòa.

    Thời kỳ này, giờ khắc trôi từ từ như đang đợi chờ ngày bầu cử Quốc-Hội nước Việt-Nam Thống-Nhất. Chúng tôi còn ở trong Nam, chưa bị đưa ra Bắc, chưa bị cưỡng bách làm các công tác lao động nặng.

    Riêng anh Phạm Văn Tư và người cùng Khóa 19 Võ-Bị của anh là Trần Văn Bé được trại tuyển dụng làm thợ đóng bàn ghế trên ban chỉ huy. Tám giờ sáng, vệ binh vào mở cổng, dẫn hai anh đi làm công tác. Năm giờ chiều, hai anh tự động trở về K 3, không có ai dẫn độ. Anh Trần Văn Bé là người ở cùng Đại Đội B với tôi trong Trường Võ-Bị thời sinh viên sĩ quan. Anh Bé cũng là người đã huấn luyện tôi những ngày đầu đời lính, nên chúng tôi không lạ gì nhau. Chiều chiều, anh Tư và anh Bé thường rủ tôi tới Lán 2, nơi có cái bàn gỗ của Thi Sĩ Trương Minh Dũng để hút thuốc lào và tán gẫu. Anh Trương Minh Dũng là bạn cùng Khóa 5 Thủ- Đức với Trung Tá Hoàng Kim Thanh, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân. Tôi đã gặp anh Dũng vài lần khi chúng tôi mới tới tăng phái cho tỉnh Quảng-Đức (9/1974). Lúc đó anh Dũng đang giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng Tiểu-Khu này. Bây giờ thì ông Thi Sĩ Tham Mưu Trưởng Tiểu-Khu ngày xưa đã mang biệt danh rất hợp thời là “Dũng Điếu Cày”.

    Anh Tư biết tôi ghét thuốc lào, nên mỗi ngày anh đều vấn cho tôi vài điếu thuốc rê Cẩm-Lệ. Buổi trưa một ngày tháng Hai năm 1976, có tiếng súng liên thanh nổ ròn rã một tràng dài ngoài hàng rào. Tiếng súng ngừng lại vài giây, rồi tiếp tục, nhưng lơi đi, từng phát một, như ai đó đang thực tập bắn bia. Trên con đường nhựa bao quanh các khu cách ly, vệ binh chạy rầm rập nối đuôi nhau. Chúng vừa lên đạn “lách cách!” vừa gọi nhau ơi ới:

    “Báo động! Báo động! Tù trốn! Tù trốn!”

    Cổng chính của tất cả các khu giam giữ tù cải tạo liền bị đóng kín, khóa lại. Chòi gác nào cũng đầy lính canh, súng chĩa vào sân. Tù nhớn nhác nhìn nhau ngơ ngác. Rồi cửa hông được mở cho hai vệ binh ghìm súng A.K đi vào K 3 để kiểm tra. Tù cải tạo bị đuổi về lán. Vệ binh vào từng nhà, đếm đầu, nhận mặt từng người, với sự xác nhận của lán trưởng. Kiểm tra xong, trong sân trại sinh hoạt đã trở lại, nhưng không còn cái không khí ồn ào náo nhiệt thường ngày. Tù cải tạo vẫn tụm năm, túm ba, nhưng không phải để đánh cờ, chơi bóng chuyền, hay tập thể dục dưỡng sinh, mà để rì rầm với nhau về chuyện mới xảy ra lúc buổi trưa.

    Chẳng ai biết vị sĩ quan nào của Việt-Nam Cộng-Hòa đã mạo hiểm làm nên sự kiện này. Trong sân trại, tiếng chim se sẻ nói chuyện với nhau nhiều hơn là tiếng người ta.

    Khoảng hai giờ chiều, loa phóng thanh trên chòi cao ra lệnh cho các lán trưởng lên văn phòng nhận lệnh. Khi trở về, lán trưởng Lán 24 của tôi là Thiếu Tá Trần Thành Trai tập họp tất cả lán viên, rồi tuyên bố: “Trưa nay có hai cải tạo viên trốn trại. Tên Phạm Văn Tư bị bắt lại. Tên Trần Văn Bé còn tại đào. Các anh đừng hoang mang, nghe lời dụ dỗ của bọn phản động mà trốn trại, sẽ mang họa vào thân.”

    Chẳng rõ câu tuyên bố này là do Lán Trưởng Trần Thành Trai ứng khẩu, hay anh ta đã sao y nguyên bản lời của cán bộ? Tôi ra sân bóng chuyền tìm gặp vài người quen để hỏi thăm tin tức của hai người đàn anh Khóa 19. Một anh lán trưởng tiết lộ: Khi anh ta lên họp trên ban chỉ huy trại thì nghe vệ binh nói với nhau rằng anh Phạm Văn Tư bị bắn trọng thương, nhưng vẫn còn bị bỏ nằm trong hàng rào kẽm gai, vì khu vực đó có mìn nên vệ binh không chịu chui vào lôi anh Tư ra. Xế chiều, anh bạn Bắc Hải ngoắc tôi ra góc sân thì thầm.

    - Anh Bé thoát rồi! Còn anh Tư thì bị bắn nát bấy cả hai đùi và hai cánh tay. Người bắn anh Tư là “Thượng Sĩ Buồn” đó! Anh Tư thiệt là số xui. Thằng Thượng Sĩ Buồn đi đái, gặp ngay lúc anh Tư đang bị kẽm gai móc vào lưng áo, cách cầu tiêu có vài thước thôi. Nó chạy vào lấy khẩu A.K 47 nhắm hông và đùi của anh Tư, bắn hết một băng đạn ba mươi viên. Rồi nó ráp băng đạn thứ nhì, tì súng trên hàng rào, cứ nhắm tay, chân của anh Tư mà tiếp tục bóp cò từng viên một, cho tới viên cuối cùng. Chân tay anh Tư đã nát bấy, nên anh ấy chỉ còn nước nằm kêu la đau đớn chờ chết. Mãi tới ba giờ chiều chúng nó mới cho gọi mấy anh cải tạo viên bên K 1 chui vào hàng rào, lôi anh Tư ra. Họ khiêng anh Tư về bệnh xá, thằng thiếu úy trưởng trại không cho băng bó, nó còn bắn thêm ba, bốn phát K 54 vào bụng anh Tư, rồi bắt khiêng anh Tư bỏ trên miếng ván nằm trong cái nhà kho cũ của trại. Anh Tư khát quá, xin uống nước, anh em đi lấy nước cho anh, thì thằng Thượng Sĩ Buồn ngăn lại, không cho uống. Sau đó, nó đuổi mấy anh ấy về lán.


    Tù cải tạo – nguồn youtube

    Nói xong, Hải buột miệng chửi thề:

    - Đù Má! Cái thằng Thượng Sĩ Buồn này độc ác dữ!

    “Thượng Sĩ Buồn” là biệt danh của tên Việt-Cộng quản giáo K 3. Tên này tuổi dưới ba mươi, mặt mày sáng sủa như một thư sinh. Không rõ tên thật của hắn là gì, nhưng anh em trong trại thường gọi hắn là “Thượng Sĩ Buồn”. Mà cũng đúng! Lúc nào mặt y cũng phảng phất nét u sầu, như đang mang tâm sự không vui, như đang nhớ thương ai. Tôi nhớ hồi còn ở bên K 1, ông “Ba Gà Mổ”, tức ông lán trưởng Thiếu Tá Nguyễn Văn Lộc đã từng chỉ cho tôi thấy mặt một cán bộ Việt-Cộng “hiền hết xẩy” nhân dịp tôi theo ông Lộc lên khiêng gạo trên văn phòng trại. Ông “Ba Gà Mổ” có vẻ biết rành rẽ tên cán binh này lắm.

    - Anh quản giáo này quê ở mãi ngoài Bắc-Thái lận! Ảnh mới vào Nam sau “ngày giải phóng”. Ảnh hiền hết xẩy! Cuối năm 1975 tôi được chuyển từ K 1 sang K 3. Khi thấy người phụ trách K3 chính là anh cán bộ “hiền hết xẩy” tôi cũng mừng.

    Sáng sáng, Thượng Sĩ Buồn đứng nơi góc trại nhìn các anh tù tập thể dục dưỡng sinh. Chiều chiều, Thượng Sĩ Buồn rảo quanh trại đôi lần, thủng thẳng tản bộ trên con đường mòn sát hàng rào. Lâu lâu hắn dừng chân ân cần hỏi thăm sức khỏe của những tù nhân đang túm năm, tụm ba đánh cờ tướng hay đang bàn chuyện gẫu. Hắn rất sốt sắng liên lạc với cán bộ hậu cần giúp mua hàng cho anh em trong trại, mỗi khi được nhờ. Nói chung, hắn ta được lòng nhiều người. Không ai nghi ngờ lòng tốt của hắn cả.

    Có một vị tù cải tạo nào đó đã “phịa” ra cái lý lịch đầy màu sắc tiểu thuyết của Thượng Sĩ Buồn, rồi chuyền tai nhau: Nào là, hắn ta vốn là sinh viên đại học Y-Khoa, ly khai vào “bưng” nhân Tết Mậu-Thân, ngày trở lại Sài-Gòn thì người yêu đã lấy chồng! Hoặc, cho hắn là con nhà địa chủ, cha mẹ chết hết trong thời cải cách ruộng đất, vì thế hắn buồn!

    Chiều hôm đó Thượng Sĩ Buồn vẫn thủng thẳng tản bộ trên con đường mòn quanh trại. Nhưng không có người tù cải tạo nào dám nhìn anh ta cả. Vì ai cũng biết rằng, anh ta chính là người đã lạnh lùng bóp cò, nhắm bắn từng viên A.K 47 trên thân thể một người cùng màu da, cùng nguồn cội với anh ta. Giờ đây, anh ta đã lộ rõ nguyên hình một tên cuồng sát máu lạnh núp đàng sau một khuôn mặt điển trai. Cũng từ hôm sau, cho tới ngày tôi lên tàu ra Bắc (tháng 7/1976), tôi không còn trông thấy Thượng Sĩ Buồn xuất hiện trong vòng rào K 3 nữa. Hình như hắn được chuyển sang phụ trách khu K 4?


    Một lớp “học tập cải tạo” cho sĩ quan cao cấp gần Sài Gòn
    (thứ hai từ bên trái qua là Tướng Nguyễn Hữu Có). nguồn manhhai flickr.comf

    Tối đó tôi mở ba lô, véo một cục từ bánh thuốc rê đầy ắp mà anh Phạm Văn Tư đã đưa cho tôi chiều hôm trước. Tay tôi vân vê những sợi thuốc, trí óc tôi hiện lên khuôn mặt vừa nghiêm trang, vừa buồn rầu của người Niên Trưởng. Lúc đưa “rê” thuốc cho tôi, giọng anh thực từ tốn, nhưng vô cùng dứt khoát, anh nói.

    - Từ mai, “moa” bỏ thuốc! “Toa” cầm nguyên bánh Cẩm-Lệ này về, rồi tự tay vấn lấy mà hút! “Moa” chán cái việc suốt ngày ngồi vấn vấn, vê vê này rồi! Chẳng làm nên tích sự gì cả!

    Chuyện xảy ra trưa nay, đã cho tôi hiểu rằng, thực sự, người đàn anh của tôi đâu đã chán thuốc rê? Anh cho tôi cả bánh Cẩm-Lệ còn mới toanh, và tuyên bố “bỏ thuốc”, chỉ vì anh phải bắt đầu một cuộc phiêu lưu ít người dám làm: Trốn trại! Thật vậy, có ít người dám làm điều này lắm! Chỉ vì, trốn trại chẳng phải chuyện đùa! Mà trốn trại, chính là đem sinh mạng của mình ra đánh đổi lấy Tự-Do.

    Hai ông đàn anh của tôi đều là dân Tình-Báo, do đó, dù thân thiết cách mấy, tôi cũng không hay biết mảy may mưu đồ của hai ông.

    Tôi cũng chợt nhận ra một điều trái khoáy, oái oăm, đó là chuyện ngày xưa Đại Úy Phạm Văn Tư vì “Đạo Làm Người” mà cứu mạng một tên Việt-Cộng sắp chết vì nội xuất huyết trên những vết thương ở đùi. Rồi chỉ sáu năm sau, người tù cải tạo Phạm Văn Tư lại bị những tên Việt-Cộng khác bắn nát tứ chi, không băng bó, vứt trong xó nhà, để mặc cho máu chảy tới cạn kiệt. Không có ai làm “garô” cho anh; không ai lưu tâm tới chuyện hai đùi, hai tay anh đang bị nội xuất huyết, hay ngoại xuất huyết cả; chắc chắn anh sẽ chết dần với nỗi đau đớn tột cùng. Cảnh này cũng thật là trái ngược với hình ảnh cô y tá Hoa-Kỳ tận tâm chăm sóc một tù binh bị thương, không cùng màu da và ngôn ngữ với cô, vừa luôn miệng dỗ dành:

    “Don't worry! Don't worry! You will be Okay!”

    Ngày xưa, khi nhân loại còn dã man, có chuyện người chiến thắng đã đem địch quân ra tùng xẻo, hoặc trói kẻ thù lại, cột dây cho ngựa kéo lê tới chết.

    Ngày nay, dù thế giới đã đổi thay, nhưng cung cách đối xử với người dưới ngựa của Việt-Cộng cũng không văn minh hơn chút nào.

    Tôi đang suy nghĩ miên man, thì anh bạn Nguyễn Phong Cảnh ló đầu vào cửa sổ ngoắc tay,

    - Lẹ lên! Lẹ lên!


    Từ trái: Đại tá Hứa Yến Lến, Thiếu tướng Lê Minh Đảo,
    Trung tướng Phạm Quốc Thuần, Vương Mộng Long, Trung tá Xuân

    Vừa chui lọt thân mình qua cái cửa sổ, tôi đã bị anh Cảnh lôi đi như chạy giặc. Cảnh dẫn tôi men theo bờ rào, đi về hướng nhà bếp, tới góc cuối của K 3, cách cái chòi gác hai lớp kẽm gai. Lúc đó trên chòi không có lính canh. Hai đứa ngồi núp mình, nghe ngóng. Từ căn nhà tôn bên kia, cách tôi bốn lớp kẽm gai và hai khoảng đất trống, rõ ràng là tiếng la rú đau đớn của anh Tư đang vọng ra.

    “Ối!...Ối! ...Ối!...ôi!...ôi!...ôi!..ư...ư...ư..”

    Tiếng la rú lanh lảnh, đứt quãng, quằn quại, từng đợt rợn người, của một sinh vật sắp chết đã phá vỡ cái yên tĩnh của một vùng không gian vào lúc trời chạng vạng. Chắc chắn trong suốt cuộc chiến tranh hai mươi năm vừa qua, khó có thương binh nào phải lâm vào tình trạng đau đớn khủng khiếp như tình trạng hiện thời của người thất trận Phạm Văn Tư.

    Tôi nghĩ rằng, nếu có gom góp hết những đau đớn mà tôi đã từng trải, qua ba lần bị thương, cũng chẳng thấm gì với cái đau mà người đàn anh của tôi đang gánh chịu giờ phút này.

    Bạn cùng lán của tôi, Thiếu Tá Nguyễn Phong Cảnh, là một sĩ quan thuần túy tham mưu, không quen với cảnh máu đổ, thịt rơi ngoài trận tiền, nên chỉ qua vài phút chứng kiến cảnh thương tâm này, anh Cảnh đã chịu đựng không nổi. Anh òa lên khóc tức tưởi, rồi ù té chạy về hướng sân bóng chuyền. Tôi vẫn ngồi sát bờ rào, theo dõi tiếp. Tiếng rú hạ thấp xuống thành tiếng rên, “Hừ!... Hừ!...hừ! ...hừ!...” Rồi hình như trong khi rên, anh Tư đã ú ớ gọi tên ai đó:
    “Hừ!... Hừ!...Hừ!..Hường...ơi!...Hư...ường ...ơi!...ực!... ực!...ực!...”

    Cuối cùng, chen lẫn với những tiếng nấc, bên kia rào chỉ còn những tiếng, “Ư! Ử!...Ư! Ử!...ư! ử!...” nhỏ dần.

    Mấy chục năm sau, mỗi khi nhớ lại chuyện này, hai mắt tôi vẫn thấy nóng lên và mờ đi, tim tôi vẫn còn chùng xuống như một con tàu vỡ, đang bị nước tràn vào, đang tròng trành chìm dần xuống đáy biển khơi.

    Mấy phút sau, hình như anh Tư đã kiệt sức, không rên được nữa. Thấy không nghe thêm được gì, tôi đành lầm lũi trở về nhà giam. Trong khu K 3, ngoại trừ những hôm có văn nghệ hay chiếu phim, thì sau tám giờ tối, cổng khóa, không còn vệ binh đi tuần tra trong vòng rào nữa.

    Và cũng từ khi có kẻng báo ngủ (chín giờ tối) thì trên chòi canh, vệ binh bắt đầu các phiên gác đôi. Từ khi tắt đèn cho tới khuya, lâu lâu tiếng gào thét, la hét của anh Tư lại theo gió vọng về. Có lẽ tới gần hai giờ sáng mới hoàn toàn không còn tiếng rú đau đớn của anh Tư nữa.


    Từ trái: Thiếu tá Hoàng Đình Hiệp, Đại tá Hứa Yến Lến, Thiếu tướng Lê Minh Đảo, Vương Mộng Long

    Suốt đêm đó tôi cứ giả đò mắc tiểu, lâu lâu lại đi ra sát bờ rào nghe ngóng. Cũng đêm hôm đó, hình như có nhiều người trong khu K 3 cùng mang tâm trạng như tôi. Trong số này, ngoài Nguyễn Lành, Tạ Mạnh Huy và Ngô Văn Niếu ra, còn vài anh Võ-Bị bên Lán 17. Họ cũng thay phiên nhau ra hàng rào... đứng một lúc, nghe ngóng ... rồi đi vào.

    Chúng tôi như chim cùng đàn, một con bị bắn chết, những con khác chỉ biết bay lòng vòng trên cao, cất tiếng kêu thương. Mờ sáng ngày kế tiếp, có sáu anh tù cải tạo được gọi lên văn phòng để đi chôn xác anh Tư.

    Tuần sau, anh Trần Văn Bé bị Việt-Cộng bắt trở lại, và đem về nhốt trong connex đặt trên ban chỉ huy trại. Cùng thời gian này, một anh tù trốn trại khác cũng bị giải về đây nhốt chung với anh Bé. Anh bạn này là Đại-Úy Biệt Động Quân Phạm Hữu Thịnh. Anh Thịnh đã cùng anh Thiếu Tá Quách Hồng Quang, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 44 Biệt Động Quân chui rào, tìm cách thoát đi từ Trại Hóc-Môn. Anh Quang bị vệ binh bắn chết ngay tại hàng rào, còn anh Thịnh thì bị bắt khi vừa chui ra khỏi lán. Anh Quách Hồng Quang là bạn cùng đơn vị với tôi thời chúng tôi còn là đại đội trưởng ở Liên Đoàn 2 Biệt Động Quân. Còn anh Thịnh lại là dân cùng ngành Tình-Báo với anh Tư và anh Bé.

    Giữa tháng Tư năm 1976, anh Bé và anh Thịnh bị đưa ra tòa án của trại để xử tội. Hôm đó là một ngày nắng gắt. Khoảng hơn mười giờ sáng, khi loa phóng thanh truyền về trại âm thanh của những loạt đạn A.K kết thúc mạng sống của hai người thua trận, thì trời đang nắng bỗng tối sầm, một cơn giông kéo tới, bụi đất mù mịt. Tiếp theo, là một trận mưa rào xối xả, sầm sập trên mái tôn. Nước mưa vừa bốc thành hơi ngùn ngụt, vừa tuôn xuống đất ào ào. Nhưng chỉ vài phút sau, đột ngột, mưa ngừng. Cảnh vật lại trở về tình trạng cũ.

    Hiện tượng khác thường này khiến người ta liên tưởng tới sự hiện diện của Đấng Vô Hình ở trên cao, đang theo dõi các hoạt động của con người dưới trần gian. Có phải cái chết oan ức của hai vị sĩ quan Việt-Nam Cộng-Hòa đã động tới lòng Trời? Khiến Trời phải nổi cơn giông phẫn nộ hay không? Tôi thì tin tưởng rằng, lúc cơn giông nổi lên, chính là lúc Thượng- Đế đưa bàn tay thương yêu của Người ra, để dắt dìu linh hồn các bạn tôi tới bến bờ Tự-Do.

    Từ phút đó cho tới chiều tối, trong sân tập họp của khu K 3, tù cải tạo lại tụ nhau từng nhóm, thì thầm đọc kinh cầu nguyện. Những anh tù đại diện có mặt trong phiên tòa, khi về trại, đã kể lại, việc chôn cất hai người bại trận cũng diễn ra rất gọn, vì một ngày trước khi có phiên tòa này, thì hai cái huyệt để chôn người bị xử tử đã được ban chỉ huy trại cho người đào sẵn sàng rồi. Vậy là, chỉ trong một thời gian ngắn ngủi sau khi mất nước, bốn người bạn của tôi đã phải trả giá cho Tự-Do bằng chính sinh mạng của họ.

    Sau ngày Ba Mươi tháng Tư năm 1975, thời thế đã đổi thay.

    Cái Thiện đã nhường chỗ cho cái Ác.

    Tự-Do, Bác-Ái, Công-Bằng chỉ còn là kỷ niệm.

    Vương Mộng Long - K20
    nguồn:
    https://hon-viet.co.uk/VuongMongLong...VaConNguoi.htm

  10. The Following 3 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    chimtroi (12-17-2018), hoang yen (12-14-2018), khongquan2 (12-14-2018)

  11. #276
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,187
    Thanks: 7,823
    Thanked 5,262 Times in 1,160 Posts

    Button Xanh Chuyện Đi Lính

    Chuyện Đi Lính...

    Cuối tháng 5/1970, vợ chồng tôi từ Nam vang về Sàigòn lánh nạn “cáp duồn”.

    Được hoản dịch 18 tháng nên ngày đi làm ở L’UCIA, đêm đàn phòng trà, cuối tuần đàn đại nhạc hội do anh Duy Ngọc tổ chức tại rạp Quốc Thanh.

    Tôi đã đàn cho anh Hùng Cường hát kích động nhạc với cô Mai Lệ Huyền nhiều lần.

    Thấy anh mặc áo hoa rừng nên lân la hỏi “anh mặc áo lính gì vậy ?”.

    Anh HC trợn mắt nhìn tôi một hồi rồi hỏi lại “Mầy mấy tuổi rồi mà không biết tao mặc đồ Biệt-Động-Quân ? Bộ trốn quân dịch hả ?”.


    Hình minh họa

    Tôi cười, nói ảnh biết tôi là Việt kiều hồi hương, được hoản dịch 18 tháng, đến tháng 3/72 mới hết hạn. Ảnh nhìn tôi vài giây rồi dụ “vậy mầy đăng lính BĐQ đi, tao sẽ kéo mầy về ban CTCT/BĐQ ở trại Đào Bá Phước”.

    Tôi thấy có lý nên khi gần hết hạn hoản dịch, tôi ra chợ Bến Thành, tìm cái quầy tuyển mộ lính BĐQ xin ghi tên.

    Lúc đó tôi không biết LĐ5/BĐQ ở đâu và cũng không biết là BĐQ có nhiều LĐ ở khắp 4 vùng chiến thuật. Về nhà khoe với vợ, em làm thinh, mặt buồn hiu.

    Tối đó, lần đầu tiên, em cho con ngủ chung giường. Hai đứa nằm hai bên, ôm thằng con mới 2 tháng tuổi, thì thầm tới khuya. Em lặng lẽ chuẩn bị cho tôi cái túi xách nhỏ : một bộ quần áo ủi thẳng thớm, vài cái quần lót, một cái khăn tắm, một lon Guigoz thịt chà bông và một chai dầu nhị-thiên-đường.

    Đến ngày hẹn, tôi ra chợ Bến Thành, cùng gần chục thanh niên leo lên xe GMC về hậu cứ Củ Chi làm thủ tục đi thụ huấn tại Trung tâm Dục Mỹ tuốt ngoài Ninh Hòa-Nha trang. Buổi tối đầu tiên xa nhà, ngủ trên tấm chiếu trải trên sàn ván, bên cạnh cả chục thanh niên xa lạ, hai ba anh đua nhau ngáy như đang hòa tấu nhạc tàu, tôi không thể nào ngủ được. Còn muổi nữa ... hình như máu thịt tôi ngon hơn mấy anh kia nên nó cứ nhè tay chân mặt mủi tôi ... mà chích. Vậy mà cũng thiếp đi một chút.

    Sáng hôm sau qua Trung tâm 3 Nhập ngũ lấy số quân, nhận quân trang trong hoạt cảnh ... cười như mếu.

    Quần áo rộng thùng thình, phải tìm sợi dây cột lưng quần, nếu không nó tuột xuống tới đầu gối. Rồi hớt tóc, trời ơi ... mái tóc tôi nâng niu cả chục năm, bị ông thợ hớt tóc có trái tim bằng đá đẩy mấy phát tông-đơ chỉ còn 3 phân. Tếu nhất là lúc tập họp điểm danh. Vì có nhiều người trùng tên nhau nên ông hạ sĩ quan quân số gọi tên tân binh xong, nói luôn tên cha mẹ. Chúng tôi không thể nín cười khi ổng hô : Trần văn Quá, cha Chơi, mẹ Sướng. Rồi tập vào hàng, phắc, tan hàng ... cho đến hết ngày hôm đó.

    Hôm sau là ngày thứ Bảy, được ra vườn Vườn Tao Ngộ nghe nhạc sống. Không biết cô Tiên hỏi ai mà biết hôm đó cho thăm tân binh nên sáng sớm đã có mặt ngoài cổng với giỏ thức ăn. Hai đứa ngồi nghe nhạc như mọi người quanh sân khấu lộ thiên. Hổng dè có cô ca sĩ quen, đứng hát thấy tôi nên chạy xuống kéo lên sân khấu, yêu cầu tôi hát một bản.

    Không từ chối được nên tôi giới thiệu nhạc phẩm “Lính Xa Nhà”, nói hát để tặng cô Tiên.

    Dĩ nhiên là mọi người ở đó không biết cô Tiên là ai, chỉ có mình em nhìn tôi cười mủm mỉm ...

    ... Tôi có người yêu tuổi ngọc vừa tròn, vì chinh chiến ngược xuôi, ít về để hẹn hò.

    Nơi phố cũ bây giờ em có thường nhìn hoa rơi cuối đường rồi buồn riêng cho mình không ?

    ... Xa lắm người ơi ! Kỷ niệm thật nhiều. Còn đâu tiếng cười vui, mắt nhìn thật đậm đà. Phương đó nếu bây giờ mưa gió nhiều, đường trơn chân gót nhỏ cậy nhờ ai đón đưa về ?

    ... Đọc thư em hay hờn hay dỗi, trách tôi yêu tay súng hơn nàng. Vì sao yêu sa trường hiểm nguy hơn phố phường với bao chiều lang thang.

    ... Thương quá là thương kỷ niệm ngọc ngà và yêu quá là yêu áo đẹp chiều hẹn hò. Nhưng thép súng đang còn say máu thù. Hẹn em khi khắp trời nở đầy hoa có tôi về....

    Đầu tháng 8/72 mãn khóa huấn luyện, từ Dục Mỹ về trình diện tại trại Đào Bá Phước, nhận sự vụ lệnh mai lên trình diện tại hậu cứ LĐ5, lúc đó vừa chuyển về cổng số 6, căn cứ Long Bình. Hỏi thăm anh HC ở đâu, ông sĩ quan ban 1 nghiêm giọng nói : “Lúc này chiến trường sôi động, tất cả quân nhân đều phải cấm trại 100%, HC cũng vậy”.

    Tôi thất vọng về nhà, trong đầu lảng vảng cảnh ghìm súng bắn nhau với Cộng quân. Đêm đó, em tắm cho tôi, em kỳ cọ, chăm chú nhìn tôi như người xa lạ. Tôi cười hỏi “bộ lạ lắm hả ?”. Em gật đầu “Toi đen hơn nhưng rắn rỏi hơn, mạnh mẻ hơn nhưng ... moi muốn coi toi có bị thương chỗ nào không ?”. Tôi cười ngất “moi học quân trường chớ đâu đã ra chiến trường”. Em vẫn kỳ cọ tôi một hồi nữa mới chịu lau mình cho tôi. Hai đứa ôm nhau ngủ tới sáng bét.

    Hôm sau, tôi lên hậu cứ Long Bình, trình diện chỉ huy hậu cứ lúc đó là Thiếu-tá Nguyễn văn Bếp. Thiếu-tá Bếp nhìn tôi chằm chặp hồi lâu rồi hỏi liên tục “Mầy có bằng Brevet ? Mầy từng làm kế toán ? Mầy từng đờn phòng trà ?” Tôi đứng thẳng người trả lời “Thưa thiếu-tá, đúng”. Ổng lại nhìn tôi một hồi nữa rồi quyết định “Được, tao cho mầy về ban 5”. Tôi nghe nhẹ người, không có anh HC, tôi cũng được về Ban 5 là ban CTCT của LĐ, đúng như hy vọng lúc ban đầu.

    Ban CTCT/LĐ5 lúc đó gồm Đại-úy Thái văn Nghiệp trưởng ban, ông Phó là Trung-úy La xuân Huệ, nhân viên gồm HS1 Tường Khắc Điện, HS Thạch Đức, một anh hạ sĩ viết/vẽ rất đẹp (sorry, quên tên anh này vì ít khi gặp), và tôi.

    Mới ở Long Bình mấy ngày thì có lệnh phải cấp tốc lên An Lộc trình diện Liên-Đoàn-Trưởng, lúc đó là Trung-tá Ngô Minh Hồng. Thời đó đâu có mobile phone, tôi viết vội vài hàng báo tin em biết. Lúc đó, ai muốn vô An Lộc phải đi trực thăng từ Long Bình hay Biên Hòa đến Lai Khê, đổi trực thăng tại Lai khê bay vô An Lộc. Đáp xuống An Lộc được hay không còn tùy tình hình, nếu Cộng quân pháo kích dữ quá đành phải bay trở lại Lai khê.

    Chuyến bay chúng tôi may mắn, sáng đi ... xế trưa là đến An Lộc. Ngồi trên trực thăng nhìn xuống, đất nước mình đẹp quá. Những ô ruộng xanh rì, xen với những mái nhà xám xịt, những vườn cây, những khúc sông nước biếc, cho người nhìn một cảm giác thật bình yên. Khi gần tới An Lộc, dấu vết chiến tranh hiện ra. Những hố bom B52 trải dài như những đóa hoa đỏ khổng lồ, nhiều khu rừng cao su chỉ còn thân cây trơ trụi lá.

    Lúc leo lên trực thăng ở Lai Khê, chúng tôi đã được dặn dò trước là ... khi đến An Lộc, lúc trực thăng còn cách đất khoảng 1-2 thước là phải nhảy xuống nên khi đến sân bay (quốc lộ 13), trực thăng xà xuống cách mặt đường 1-2 thước là chúng tôi lần lượt nhảy xuống chạy ngay đến các gốc cao su ngồi xuống, không nghe tiếng pháo mới đi bộ về BCH/LĐ.

    Từ đó đi bộ vài phút là tới đồn điền Xa Cam, nơi đóng quân của BCH tiền phương LĐ5/BĐQ lúc đó, cách thị trấn An Lộc khoảng 2 cây số.

    Trình diện Trung-tá LĐT. Ông này nhìn tôi rồi vui vẻ nói “cố gắng ăn cơm sấy, làm việc giỏi nghe em”.

    Ở An Lộc lúc đó (từ tháng 9/72), mặc dù Cộng quân đã bị đẩy về Lộc ninh, vòng đai an ninh quanh An Lộc đều có quân mình trấn giữ, nhưng An Lộc vẫn bị pháo kích sáng chiều mỗi tuần vài lần, mỗi lần vài chục trái hay cả trăm trái, trời kêu ai nấy dạ, nên tất cả quân nhân đều ăn ở dưới hầm.

    Những người lính như tôi đều có hầm cá nhân, bề ngang 1 thước, dài 2 thước, sâu cạn tùy người đào nhưng ít nhất phải 1 thước. Nhìn nó như cái huyệt để chôn chính mình. Cực nhất là những tháng mưa, nước mưa đỏ lòm tràn vô hầm đến ngang đầu gối, phải kê miếng ván làm giường ngủ ngủ lên cao, ra vô phải bò.

    Công việc của tôi cũng không có gì nặng nề, mỗi đêm ôm súng gác 2 tiếng, mỗi tháng nhận báo Tiền Tuyến để phát không, và đồ Quân Tiếp Vụ bán lại cho quân nhân từ LĐ đến các tiểu-đoàn.

    Vài tuần sau, HS Hồng thuộc đại-đội Trinh sát hy sinh không mang được xác về kịp thời, phải chôn tại An Lộc. LĐ5 xin khoảng đất nhỏ trước nghĩa trang Biệt-Kích-Dù trong khuôn viên chợ An Lộc để làm nghĩa trang cho lính LĐ5. Tôi được lệnh ban đất cho bằng phẳng, làm cổng, xây tường xung quanh cao tới đầu gối và viết 2 câu thơ trước cổng nghĩa trang:

    “Mô đất lạ chôn vùi thân bách chiến.

    Máu anh hùng nhuộm thắm lá cờ Nam”.

    Nhờ công tác này mà tôi được dịp đi quanh thị trấn An Lộc chụp hình, nói chuyện với những người dân đã ở lại hay mới trở về An Lộc. Được cơ hội uống cà-phê tại quán hai chị em cô ... (quên tên rồi). Nghe nói hai cô này dạy cùng trường tiểu học với cô giáo Pha, tác giả hai câu thơ bất hủ:

    “An Lộc địa sử ghi chiến tích.
    Biệt-Kích-Dù vị quốc vong thân”.


    Tôi làm một mình gần một tháng mới xong. Vừa làm vừa hát nghêu ngao vì nhớ vợ con vô cùng.

    Ở Xa Cam hơn 1 tháng thì BCH/LĐ chuyển về trường trung học Bình Long, nằm trong thị trấn An Lộc.

    Công tác vũ-như-cẩn, thêm vụ gác xác ban đêm. Khi có những quân nhân trực thuộc LĐ hy sinh không đưa xác về Biên hòa kịp trong ngày, chúng tôi phải bắt thăm gác xác ban đêm, mỗi người hai tiếng. Được gác trước 12 giờ đêm là một may mắn. Các phiên gác từ 12đêm-2giờ sáng hay 2giờ sáng-4giờ sáng ... chua lắm, vì lúc đó mình hay ngủ gục.

    Người gác xác đêm phải làm hai việc:

    Việc thứ nhất là phải ôm súng ngồi thẳng người, thứ hai là phải coi chừng nhang, hễ nhang sắp tàn thì phải đốt nhang mới cắm vô cái lư hương bằng lon sữa bò có chút gạo, đứng thẳng người chào rồi ngồi gác tiếp.

    Quí vị cứ tưởng tượng ... ngồi trong đêm đen, bên cạnh những cái poncho quấn xác người, trước mặt là mộ của hai cô nữ sinh bị pháo kích chết trước đó mấy tháng, nghe nói linh lắm ... thì mình đồng da sắt cũng nghe ớn ớn. Thêm mấy ông sĩ quan tuần phiên, mấy ông này ma-le lắm ... hổng biết mấy ổng rình ở đâu, mà ai vừa ngủ gục chưa kịp ngáy là đã bị nón sắt bay trúng đầu cái bốp.

    Tôi may mắn, dù gác phiên nào cũng chưa bị ăn nón sắt vì tôi nghĩ ... những quân nhân vừa đền nợ nước hay hơn mình, đáng kính trọng hơn mình, nên tôi ngồi gác với cái tâm tỉnh thức ... luôn tỉnh táo để biết mình phải làm gì, đối phó ra sao trong những hoàn cảnh bất ngờ nhất.

    Một ngày đầu năm 1973, trung-úy Huệ cho tôi biết “đã có hiệp ước ngưng bắn 3 ngày với Cộng quân nhân dịp Tết Quý Sửu 1973. Nhân dịp này, Trung-tá LĐT muốn tổ chức một đêm văn nghệ khoản đãi các chiến sĩ xuất sắc. Ban 5 mình phải lo mọi việc”.

    Sân bóng rổ được chọn làm nơi tổ chức. Lính các tiểu-đoàn chặt tre trúc gởi về làm hàng rào hai lớp quanh sân bóng rổ, một cái dù hoa được căng lên bên trên, một máy điện được Chinook đưa lên để có đủ điện cho ban nhạc. Các ca sĩ thuộc TĐ5CTCT được mời. Lúc đầu, có tên cô Ngọc Đan Thanh, hiện làm MC cho trung tâm Asia, nhưng vào giờ chót, cô NĐT bận công tác gì đó, bạn của cô là ca sĩ Hồng Hải đi thay.

    Khi trời sập tối, ban nhạc bắt đầu chơi, nhiều cặp ra sàn nhảy, ban 5 chúng tôi phục vụ ở quầy giải khát. Nhìn mấy ông sĩ quan khiêu vũ, tôi cứ ngở như mình đang ở Sàigòn. Ban nhạc chơi khoảng 15 phút thì trái pháo kích đầu tiên của Cộng quân bay qua đầu chúng tôi, tiếng pháo hú nghe rợn người, át hẳn tiếng nhạc, và nổ oành đâu đó cách chúng tôi khoảng 500m.

    Tôi đoán như vậy vì lúc này tôi đã có kinh nghiệm nghe tiếng pháo kích. Ở An Lộc, ai nghe tiếng pháo là sống, ngược lại là chết. Tôi đoán 500m vì mặt đất dưới chân tôi không rung chuyển. Tôi thấy Đại-tá Nguyễn thành Chuẩn, tư lệnh mặt trận An Lộc đứng lên cùng mấy anh cận vệ ra về ngay. Ông Trung-tá cố vấn Mỹ ở lại. Trung-tá Hồng ra lệnh ngưng đàn và gọi tên các chiến sĩ xuất sắc lên tặng quà.

    Tôi được tặng một hộp quẹt Zippo, có khắc chữ LĐ5/BĐQ. Ở An Lộc, hộp quẹt Zippo quý lắm, quẹt là có lửa dù bất cứ tình huống nào. Sau khi nhận cái hộp quẹt, tôi xin phép đại-úy Nghiệp qua nhà ăn sĩ quan hút thuốc. Nhà ăn sĩ quan chỉ cách sân bóng rổ vài bước chân, nóc lợp bằng các vĩ sắt dùng cho trực thăng đáp, thêm mấy lớp bao cát bên trên. Bàn ăn, ghế ngồi đều dùng vĩ sắt, tương đối an toàn hơn nơi tổ chức văn nghệ.

    Vừa châm điếu thuốc thì trái pháo thứ hai bay qua đầu chúng tôi, nổ oành đâu đó gần hơn trái trước vì mặt đất rung chuyển dưới chân tôi. Lại im lặng, cái im lặng rợn người. Khoảng 10 phút sau thì nghe tiếng nhạc trổi lên, cô ca sĩ mới hát đến câu thứ hai thì ... tôi nghe tiếng rú của trái pháo thứ 3.

    Nó nổ một tiếng ùm khủng khiếp, đâu đó ngay trên đầu tôi, và tiếng miểng pháo bay rào rào, như ai đó rải cát trên nóc nhà. Như một phản xạ tự nhiên, tôi lăn người nằm sát mặt đất, dưới cái bàn ăn. Hai lỗ tai tôi vo ve như tiếng muổi kêu ... rồi im phăng phắc, cái im lặng lạnh sống lưng.

    Chỉ vài giây sau là nghe tiếng rên la của phụ nữ ... “Má ơi ! Máu ! Máu nhiều quá !!!”.

    Tôi bật dậy, rờ mình mẩy tôi, coi có bị thương nơi nào không ? Hú hồn, cám ơn Trời Phật, thân thể tôi còn nguyên vẹn. Bèn đi qua sân bóng rổ. Trên đường đi, tôi thấy HS Thạch Đức lết trên mặt đất, tôi hỏi “Đức anh có sao không ?”. Đức không trả lời, mắt đã đứng tròng, miệng xùi bọt mép. Tôi la thầm trong bụng “không xong rồi” nhưng nhìn khắp người Đức không thấy máu, không thấy bị thương chỗ nào cả nên tôi chạy qua sân bóng rổ tìm hai ông xếp của tôi là Đại-úy Nghiệp và Trung-úy Huệ.

    Sân bóng rổ lúc này tối thui. Những người bị thương nằm ngồi khắp nơi như những bóng ma. Tiếng rên của nhiều phụ nữ nghe lạnh người. Những quân nhân còn khỏe cỏng, khiên những quân nhân bị thương xuống trạm quân y.

    Thấy hai ông đều ngồi dựa cái hàng rào tre, hỏi có bị thương ở đâu không, hai ông đều chỉ vô háng, nhưng không thấy máu me gì cả. Trung-úy Huệ chỉ qua đại-úy Nghiệp “mầy lo cho ổng, tao ok”. Tôi hỏi Đại-úy Nghiệp đi nổi không, ổng lắc đầu. Tôi bèn đi tìm cái băng-ca, nhờ một anh lao công giúp tôi khiên Đại-úy Nghiệp xuống trạm xá.

    Y sĩ trưởng LĐ5 lúc đó là bác sĩ Chung, cũng là bạn thân của Đại-úy Nghiệp. Bác sĩ Chung tự tay cởi quần cho bạn, và bật đèn xem vết thương nhỏ xíu nơi háng Đại-úy Nghiệp. Vì lúc đó có cả chục quân nhân bị thương, trạm xá nhỏ xíu nên tôi ngồi chờ ngoài cổng.

    Cộng quân tiếp tục pháo liên tục, tiếng nổ oành oành xung quanh tôi. Mọi người chạy vô hầm trú ẩn nhưng tôi không sợ, tôi vẫn ngồi tại cổng trạm xá, miệng lầm thầm cầu xin cho đại-úy Nghiệp tai qua nạn khỏi.

    Khoảng nửa tiếng sau thì bác sĩ Chung gọi tôi vô nói nhỏ “anh Nghiệp bị miểng pháo cắt đứt động mạch chính dẫn máu về tim. Chỉ cần giải phẩu kẹp hai đầu động mạch là ok. Tiếc là ở đây, tao không có đủ dụng cụ để giải phẩu ảnh. Mầy đưa ảnh ra phi trường, tao đã xin một phi vụ đặc biệt đưa ảnh về tổng y viện Cộng hòa. Nếu ảnh về tới Cộng hòa trước 5 giờ sáng thì ảnh sống”.

    Tôi lật đật chạy tìm anh tài xế ban 4, nhờ đưa Đại-úy Nghiệp ra quốc lộ 13. Tôi ôm súng ngồi bên băng ca, bụng thề rằng ... nếu anh VC nào léng phéng đến gần chúng tôi lúc này là tôi bắn nát óc. Khoảng nửa tiếng sau thì nghe tiếng trực thăng trên bầu trời đen kịt, đồng thời đạn pháo kích của Cộng quân cũng ào ạt bay vào. Tôi kéo cái băng ca đến gần gốc hai cây cao su, hy vọng tránh được miểng pháo. Tiếng trực thăng vần vũ trên trời nhưng không ai dám đáp xuống.

    Cộng quân tiếp tục pháo kích cho tới gần 5 giờ sáng. Đại-úy Nghiệp thều thào gọi tôi, đưa cái bóp và cái đồng hồ đeo tay : “Mầy đem về cho vợ tao”. Tôi im lặng gật đầu. Đại-úy Nghiệp từ từ nhắm mắt, thở nhẹ vài cái sau cùng. Nhìn ông như đang ngủ. Lúc này, máu của ông đã chảy ra quanh người ông, ướt cả băng-ca. Tôi đứng thẳng người chào từ biệt ông theo lễ nghi quân cách.


    Hình minh họa

    Trời hừng sáng, tôi lếch thếch đi bộ về An Lộc, đầu óc trống rổng. Về tới BCH mới biết ông trung-tá cố vấn Mỹ chết tại chỗ. Ca sĩ Hồng Hải, người đi thay cô Ngọc Đan Thanh chết tại chỗ (cô NĐT có nhắc chuyện này trong một cuốn băng video Asia, hình như là Lá Thư Từ Chiến Trường). Một ca sĩ khác tên Kim chết tại chỗ. HS Thạch Đức chết tại chỗ. Đại-úy Thái văn Nghiệp hy sinh sáng hôm sau.

    Nhiều người bị thương, tôi chỉ nhớ vài người: Trung-tá Ngô minh Hồng bị miểng chém mất tiêu đầu gối, Trung-úy Huệ bị một miểng nhỏ làm sướt đầu thằng em song sinh. Hai ông Thiếu-úy (không nhớ tên) gãy chân. Sau này gặp tôi, ông Huệ nói “lúc đó tao tưởng đâu mất giống rồi”. Cái may là ... sau khi trái pháo thứ hai nổ, các sĩ quan tiểu-đoàn đã dẫn lính mình về nơi đóng quân nên họ an toàn trên xa lộ.

    Một tuần sau, tôi được đi công tác 7 ngày, để đem di vật về trao tận tay thân nhân của những người đã chết. Cho tới bây giờ, tôi không thể quên được những khuôn mặt vô hồn, những đôi mắt đứng tròng nhìn tôi trân trân khi tôi mang di vật của người thân đến trao tận tay họ.

    Nói đi công tác nhưng cũng như nghỉ phép vì tôi được về nhà trong khoảng thời gian này.

    Tôi về tới Sàigòn khoảng 2 giờ chiều, đi ngay đến nơi làm việc của cô Tiên. Tôi vẫn còn mặc đồ hành quân lấm lem bụi đỏ, lưng đeo cái ba-lô xơ xác ... chỉ có vài hộp sữa ông Thọ, nghĩ là đem về cho con (lúc đó tôi quên là con tôi bú sữa Guigoz).

    Bước vào phòng em làm việc thấy có 5 người, 3 bà 2 ông. Em thấy tôi đầu tiên, liền bật dậy nhìn tôi trân trân, không nói tiếng nào. Người lên tiếng đầu tiên là chú Quỳnh ... “ahhhhh, người hùng An Lộc đã về rồi”. Chú chạy đến bắt tay tôi lắc lắc “vô An Lộc mà ra được là mạng lớn lắm ... chúc mừng, chúc mừng”.

    Tôi xin phép cho em về sớm, và nắm tay em đi bộ về nhà. Suốt đoạn đường khoảng hơn cây số, em im lặng đi nhanh như gió, mặt ngẩn lên hảnh diện. Về đến nhà, em bắt tôi đi tắm liền. Em tắm cho tôi, em kỳ cọ những nơi đất đỏ còn lem luốt trên hai chân ... em vừa kỳ cọ vừa khóc. Tôi ôm em thủ thỉ “moi về rồi đây mà”.

    Tối đó, em ôm tôi cứng ngắt, xoa xoa lưng tôi thì thầm “5 tháng 14 ngày rồi đó toi”.

    Thì ra, từ ngày tôi lên An Lộc, em ở nhà đếm từng ngày. Tôi ở trong cảnh sống chết chỉ cách nhau mong manh như sợi tóc, nên không nhớ ngày giờ, chỉ cầu mong được sống trở về với vợ con.

    7 ngày tràn trề hạnh phúc trôi qua nhanh chóng.

    Tôi trở về hậu cứ trình diện ông trưởng ban 5 mới là đại-úy Nguyễn thanh Bình. Ổng nhìn tôi một hồi, hỏi những câu y chang như thiếu-tá Bếp trước đây, chỉ thêm 3 chữ “mầy mạng lớn”. Ổng im lặng suy nghĩ mấy phút, rồi ban lệnh “mầy biết kế toán, mầy có Brevet, mầy mạng lớn, mầy về làm thủ quỹ QTV”.

    Từ đó, nếu tôi không được về phép thì cuối tuần em ẳm con lên hậu cứ thăm tôi.

    Đầu năm 1974, LĐ5/BĐQ đổi số thành LĐ32/BĐQ. Qua năm 1975, tình hình chiến trường sôi động hẳn lên ... đến tháng 3/75 thì lãnh thổ VNCH thu hẹn dần dần. Nhiều người ở hậu cứ cũng âm thầm biết mất, quân số càng ngày càng ít, tôi phải ra gác mỗi đêm tại vọng gác sau lưng kho QTV, nhìn ra đường từ Tam hiệp lên Hố Nai. Nhiều đêm ngồi gác, thấy đồng bào gồng gánh nhau từ miền Trung về Sàigòn, một thúng thường là trẻ em, thúng bên kia là tài sản ít ỏi còn sót lại.

    Họ thường dừng lại bên kia đường, đối diện với vọng gác, vì nơi này có đèn pha rất sáng. Nhiều người chỉ nghỉ chân cho khỏe ... rồi đi tiếp. Nhiều người đi chân trần, ngồi xuống cạy những viên đá nhỏ dính dưới bàn chân, viên đá rớt xuống mặt đường, máu chảy theo. Nhiều người mệt quá, ngủ luôn trên đường. Vì an ninh, tôi có quyền mời họ đi xa cái vọng gác nhưng tôi làm thinh và dặn anh em gác trước hay sau tôi đừng đuổi đồng bào đi ... tội nghiệp họ, chắc mệt quá rồi.

    Lúc này, bà xã cũng không còn bồng con đến thăm tôi mỗi cuối tuần như trước. Em bận học nấu ăn. Em muốn có thêm cái nghề, biết đâu sau này ...

    Sáng 29/4/1975 tôi được lệnh thiêu hủy tất cả hàng còn tồn kho QTV. Tôi thấy tiếc nên xin phép cấp trên cho tôi mở kho, cho quân nhân còn ở hậu cứ lúc đó ai muốn lấy cái gì thì lấy. Xong lên xe Jeep cùng tất cả mọi người về đóng quân tại rừng cao su Thủ Đức, bên cạnh Đường Sơn Quán. Trên đường đi, tôi thấy lính mình đánh nhau với Cộng quân tại cư xá Hải quân, bên bờ sông Đồng Nai (?). Nhìn như đang coi ciné.

    Sáng 30/4, tất cả được lệnh lên xe về trại Lê văn Duyệt, Sàigòn. Tại đây, tôi nghe ông Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh. Chia tay các chiến hữu trong đơn vi, tôi vẫn mặc đồ BĐQ, xách cây M16 đã nạp đạn, nhét thêm một trái lựu đạn vô túi quần, vai mang ba-lô tàng tàng ra cửa trại Lê văn Duyệt, đi bộ về hướng chợ Thái Bình.

    Nhiều người chạy Honda quay lại nhìn tôi như nhìn con quái vật. Một anh can đảm dừng xe Honda lại, hỏi tôi đi về đâu, ảnh chở không lấy tiền với điều kiện ... tôi bỏ cây súng. Tôi nói với ảnh “cây súng này đã theo tôi nhiều năm, nhờ nó mà tôi còn sống tới bây giờ, tôi chỉ bỏ nó khi nào tôi thấy không cần nó nữa”.

    Anh ta ngần ngừ vài giây rồi đồng ý chở tôi về chợ Thái Bình. Xuống xe, tôi móc tiền đưa anh, anh không nhận. Nhìn quanh, thấy không có bóng dáng anh VC nào, tôi quăng cây M16 vô thùng rác, đi bộ về nhà.

    Nhà tôi khóa cửa kín mít, tôi kêu cửa.

    Cô Tiên ra mở cửa. Vừa thấy tôi còn mặc đồ BĐQ, em kéo tôi mạnh đến độ tôi suýt té chúi nhủi vô phòng khách. Em thở hổn hển, nói không ra hơi ... “toi về rồi, toi về rồi ... moi mừng quá, moi mừng quá” rồi em ôm tôi hồi lâu, xong biểu cởi đồ ... đi tắm.


    https://www.facebook.com/photo.php?f...&theater&ifg=1

  12. The Following 3 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    hoang yen (12-27-2018), khongquan2 (12-27-2018), Tinh Hoai Huong (12-27-2018)

Trang 46/53 đầuđầu ... 364445464748 ... cuốicuối

Similar Threads

  1. Trả lời: 19
    Bài mới nhất : 06-25-2018, 06:30 AM
  2. Trả lời: 18
    Bài mới nhất : 08-20-2017, 06:40 PM
  3. Hình Ảnh Kỷ Niệm Xưa Không Bao Giờ Quên !
    By TAM73F in forum Phòng Chiếu Phim Dài
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 03-14-2013, 01:33 AM
  4. Không Cho Phép Mình Quên
    By Longhai in forum Truyện ngắn
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 11-03-2012, 12:42 AM
  5. 27 Tháng Giêng 1973 : Không Thể Nào Quên
    By Longhai in forum Chuyện Đời Lính
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 08-03-2012, 11:36 PM

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter