Trang 43/54 đầuđầu ... 33414243444553 ... cuốicuối
kết quả từ 253 tới 258 trên 322

Tựa Đề: Bạch Mã

  1. #253
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,205
    Thanks: 7,971
    Thanked 5,332 Times in 1,180 Posts

    Button Xanh Ngày Cuối Cùng Của Sư Đoàn 5

    Ngày Cuối Cùng Của Sư Đoàn 5
    Nguyễn Minh Tánh



    Lời nói đầu.

    Ngày tàn chiến cuộc Việt Nam cũng là ngày tạm ngưng hoạt động của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sau hơn 24 năm thành lập (Tôi nói tạm ngưng vì Quốc Gia chúng ta còn, chúng ta sẽ còn Quân Lực Quốc Gia). Ngày tàn binh nghiệp của chúng ta đã có những Tướng lãnh tuẩn tiết hi sinh thân mình nêu danh hậu thế. Các vị này, đã tượng trưng tinh hoa, anh hùng tính dân tộc của chúng ta, xứng đáng được dựng bia để con cháu ngày sau tôn thờ. Các vị này thà tự giải quyết sinh mạng của mình chứ không muốn rơi vào tay giặc cũng như không muốn phí sinh mạng Binh sỉ thuộc cấp một cách vô ich. Các vị anh hùng đó từ vị Tư Lệnh Quân Ðoàn IV, Trung Tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Lê Văn Hưng. Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn IV, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Phú cựu Tư Lệnh Quân Ðoàn II/V2CT, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hai. Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh và cuối cùng là vị Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh đáng kính yêu của tôi, cố Thiếu Tướng Lê Nguyên Vỹ.


    Các vị nầy nếu ra lệnh cho thuộc cấp tiếp tục chiến đấu thì chắc chắn tất cả sẽ tuân lệnh nhưng cũng chỉ tổn thất thêm sinh mạng một cách vô ích. Thiếu Tướng Hưng cũng từng là người hùng của trận An Lộc khi chỉ huy Sư Ðoàn 5 Bộ Binh năm 1972 người đã làm rạng danh Khóa 5 Vì Dân Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức của chúng tôi.

    Có nhiều bạn bè tôi khi đi tù hàng chục năm về hơi khó tính từng nói là họ không tôn trọng và không xem các tướng lãnh rời miền Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, trước khi miền Nam thất thủ, là các cấp chỉ huy của họ. Tôi thì thông cảm tình cảnh quí vị này nhất là những vị rời miền Nam ngay sau khi Dương Văn Minh đầu hàng. Một điều tôi và đa số bạn hữu đều công nhận là nhờ có những người thoát ra nước ngoài năm 1975 và hoạt động tranh đấu với quốc tế, với Hoa Kỳ và cả Cộng Sản Việt Nam nên “Chương Trình Ra Ði Có Trật Tự” (ODP) mới được thành hình và chúng tôi dân H.O mới sang được đất hứa.

    Vì có những vị bỏ đi nên những người vĩnh viễn ở lại trong lòng quê hương, đã dùng những giọt máu đào của mình rải thắm đất mẹ rất xứng đáng được tôn vinh. Do đó chúng ta chỉ xếp hạng các người “hùng” và không “hùng” thôi. Chúng tôi chỉ xin quý vị sang trước đây, đã có một thời gian dài ổn định, con cái nên người, thành những người dân địa phương chánh gốc nếu không thể cưu mang các cựu chiến hữu của mình vì lý do nào đó đã ở lại miền Nam sau 30 tháng 4 năm 75, (Có người đã chết trong các ngục tù Cộng Sản) bị đối xử tàn bạo trong các ngục tù cộng sản mới sang đây thiếu thốn mọi bề, thì cũng đừng tuyên bố những câu đau lòng về những người tuẩn tiết và chúng tôi là những “Tên ngu dại không biết thời cơ.” Thế thôi ! Nhân danh là một người tù cải tạo 10 năm và mới sang đây tôi cũng xin cám ơn quý vị đó một lần.

    Ðã có nhiều người viết về ngày cuối cùng của Ngũ Hổ Tướng (Các tướng Nam, Phú, Hưng, Hai, Vỹ) đặc biệt về Tướng Vỹ trong số KBC Ðặc Biệt vừa qua, nhưng còn nhiều chi tiết còn thiếu vì tác giả nghe người khác kể lại.

    Hôm nay tôi xin bổ túc về cái chết oanh liệt của cố Thiếu Tướng Lê Nguyên Vỹ vì chính tôi và một số Sĩ quan cao cấp đơn vị trưởng của Sư đoàn đã ở gần cố Thiếu Tướng Lê nguyên Vỹ trong những giây phút cuối cùng.


    Cuối tháng 9 năm 1974 tôi được thuyên chuyển từ Thiết Ðoàn 8 Kỵ Binh thuộc Sư Ðoàn 23 Bộ Binh (Đồn trú tại Ban Mê Thuột nhưng đang hành quân ở Vùng Pleiku KonTum), về Chỉ huy Thiết Ðoàn 1 Kỵ Binh sau hơn 9 năm rời khỏi đơn vị nầy lúc đó là tôi là Ðại Úy Chi Ðoàn Trưởng Chi Ðoàn 3/1 Thiết Quân Vận.

    Vì bất bình vị Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh khi vừa xuống trực thăng trong vùng hành quân Pleime (Pleiku) đã “xài xễ” tôi trước mặt các Sĩ Quan thuộc cấp và tăng phái do một lý do tôi không thể nào kiểm soát nổi hoặc Chỉ huy được là Thiết Vận Xa bị mìn khi đơn vị được lệnh tiến nhanh, nên dò mìn không kỹ, tôi bỏ vào Bộ Chỉ Huy Hành Quân của tôi và đề nghị Chuẩn Tướng Lê Trung Tường Tư Lệnh tìm người khác thay thế tôi. Vị này đùng đùng bỏ về và bảo Ðại Tá Nguyễn Văn Ðồng Tư Lệnh Lữ Ðoàn II Kỵ Binh bổ nhiệm Thiếu Tá Nguyễn Văn Ðêm Thiết Ðoàn Phó Thiết Ðoàn 21 Chiến Xa M48 thay thế tôi và đặt tôi dưới quyền xử dụng của Lữ Ðoàn II Kỵ Binh dù tôi là quân số của Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp (nguyên Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị BCH/TGB QLVNCH) trở lại chức vụ cũ của tôi vào tháng 4 năm 1974 là Thiết Ðoàn Trưởng Thiết Ðoàn 8 Kỵ Binh, đơn vị tôi phải rời bỏ cuối tháng 10 năm 1972 vì bị trọng thương.

    Thiếu Tá Ðêm đã bị VC bắt làm tù binh khi chúng tấn công Ban Mê Thuột vào trung tuần tháng 3 năm 1975 và đã ở tù 7 năm. Chính ra, nếu Sư đoàn không dùng tôi thì phải trả tôi lại đơn vị gốc nhưng Chuẩn Tướng Tường muốn giữ tôi lại “Ngồi chơi xơi nước” tại Lữ Ðoàn II Kỵ Binh cho Ðại Tá Ðồng “trù” tôi. Nhưng nhờ có Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá Chỉ Huy Trưởng Thiết Giáp Binh can thiệp và được Trung Tướng Nguyễn văn Toàn Tư Lệnh Quân Ðoàn II chỉ thị xuống, Tướng Tường mới thả tôi đi về Chỉ huy Thiết Ðoàn 1 Kỵ Binh khi Việt Cộng còn đang chiếm Căn Cứ Rạch Bắp thuộc Quận Bến Cát và Trung Tá Nguyễn văn Tá (Khóa 11 phụ VBQG Ðàlat) đã hy sinh ngày 5 tháng 9 năm 1974.

    Khi được cho biết về Chỉ huy Thiết Ðoàn 1 Kỵ Binh (Một đơn vị “nát nhất” trong các Thiết Ðoàn Kỵ Binh) tôi muốn từ chối (Tôi được xếp Loại 2 sau khi bị thương nặng ngày 31 Tháng 10 năm 1972 tại Pleiku, do đó tôi có thể không đảm nhận chức vụ chỉ huy các đơn vị chiến đấu nếu tôi không thích ) vì khi tôi rời khỏi Thiết Ðoàn 1 Kỵ Binh năm 1965 lúc đó Ðại Tá Phạm Quốc Thuần là Tư Lệnh Sư Ðoàn, hiện lúc đó là Trung Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn III, Ðại Tá Lê Nguyên Vỹ đương kim Tu Lệnh Sư Ðoàn thì năm đó là Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 9 Bộ Binh, Ðại Tá Ðào Ðức Chinh (Hiện định cư tại Virginia) hiện là Tham Mưu Trưởng Sư Ðoàn thì trước kia là Trưởng Phòng Ba Sư Ðoàn đều biết tánh ba gai của tôi năm 1965 và có vẻ không thích tôi !? Nhưng Chuẩn Tướng Bá cho biết là tướng Thuần nói trước kia tôi không có lỗi gì cả‚ và đồng ý cho tôi về Sư Ðoàn 5 Bộ Binh. Chuẩn Tướng Bá Chỉ Huy Trưởng Thiết Giáp Binh còn khuyến khích tôi nói là tôi về chấn chỉnh lại Thiết Ðoàn 1 Kỵ Binh vì “nó” quá nát rồi nhất là sau cái chết của Trung Tá Nguyễn Văn Tá Thiết Ðoàn Trưởng.

    Các vị trong quân đội nếu không biết rõ Thiết Ðoàn 1 Kỵ Binh “nát” như thế nào thì chỉ nghe tôi kể sơ sơ đây cũng đủ ớn lạnh rồi ! Không kể tiểu sử trước năm 1972 của Thiết Ðoàn, nhưng kể từ đầu năm 1972 khi Trung Tá Tôn Thất Hoàng (Khóa 14 VBLQ Ðàlat) rời chức vụ chỉ huy thiết đoàn đến tháng 9 năm 1974 tôi là vị Thiết Ðoàn Trưởng thứ sáu trong vòng chỉ hơn hai năm ! Trong thời gian này một Thiết Ðoàn Trưởng Trung Tá Nguyền Ðức Dương (khóa 11 phụ VBQG Ðalạt) bị đơn vị chiến xa CSBV bắt cùng cả bộ Chỉ huy Thiết đoàn làm tù binh tại mặt trận Lộc Ninh (Bình Long) vào tháng 3/72(?), được trao trả 13 tháng sau nhờ Hiệp Ðịnh Ba Lê; Thiếu Tá Bùi Thường, khóa 5 SQTB Thủ Ðức cùng khóa 5 SQTBTÐ với tôi chỉnh trang đơn vị lại vài tháng, Trung Tá Nguyễn Mạnh Lâm cũng khóa 5 SQTBTÐ chỉ huy vài tháng rồi cũng đi, Trung Tá Nguyễn Ðức Dương sau khi được trao trả‚ trở lại đơn vị cũ vài tháng rồi đi vì Cục An Ninh Quân Ðội không đồng ý, kế đến Trung Tá Nguyễn Văn Tá từ Vùng 1 CT thuyên chuyển vào Chỉ huy Chỉ hơn 3 tháng là tử trận.

    Thiết Ðoàn này cũng có nhiều thành tích rất đặc biệt là đã từng nuôi dưỡng cả một ổ nội tuyến mà không hay. Tháng 4 năm 1965, khi tôi bị đổi đi khỏi Thiết Ðoàn thì Việt Cộng nội tuyến trong đêm 22 rạng 23 tháng 4 lấy đi 2 chiến xa M41, một chiếc chạy về bỏ tại ngã tư Bình Hòa (Gia Ðịnh) khi chúng định dùng chiến xa này tấn công phi trường Tân Sơn Nhất, còn một chiếc chúng đem lên chiến khu của chúng vùng Tây Bắc tỉnh Tây Ninh để nghiên cứu hành quân chống Thiết Giáp.

    Trong trận nội tuyến này Thiết Ðoàn 1 Kỵ Binh đã tổn thất vừa chết, vừa bị thương gần 70 quân nhân các cấp trong đó có 1 Sĩ quan trực đơn vị. Ðau đớn nhất là toàn thể các Hạ sĩ quan Chi đội phó các Chi đội của Chi Ðoàn 3/1 TQV (Đang tập họp điểm danh tối) những người đã giúp tôi rất đắc lực trong trận Chiến Thắng tại Ấp 13bis Xã Ðinh Thọ Quận Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương (đêm 22 tháng 11 năm 1965),vì thời gian đó các Sĩ quan chi đội trưởng hầu hết mới ra trường và chưa hề đụng trận, đã hy sinh. (Chi Ðoàn 3/1 TQV đã được hấp lại sau hai trận Bình Giã, một Tháng Mười Một và một Tháng Mười Hai năm 1964.

    Trận đầu, Ðại Úy Nguyễn Hữu Trung Ngọc (Khóa 14 Trường VBQG Ðà Lạt) Chi Ðoàn Trưởng tử trận, trận sau Ðại Úy Võ Văn Bẩm (Khóa 7 VBLQ Ðalat) bị trọng thương. Trong trận đầu, Chi Ðoàn 3/1 TQV tăng phái Chiến Ðoàn 5 Chiến Xa dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Nguyễn Thành Lý (khóa 4 SQTBTÐ), Ðại Tá Lâm Quang Thơ Chỉ Huy Trưởng TGB/Chiến Ðoàn Trưởng đã ở hậu cứ. Thiếu Tá Nguyễn Thành Lý cùng Trung Úy Nguyễn Văn Bảy (Khóa 5 SQTBTÐ) Chi Ðoàn Phó Chi Ðoàn 2/5 Chiến Xa cũng đã hy sinh. Rất nhiều Quân nhân các cấp thuộc Thiết giáp đã hi sinh trong hai trận này khi bọn VC bắt đầu triển khai giai đoạn trận địa chiến của chúng (Thời gian này tôi đang theo học khóa 2 Sĩ Quan Cao Cấp Thiết Giáp (niên khóa 1964-1965) tại Trường Thiết Giáp Fort Knox Kentucky Hoa Kỳ. Tin tức trên do một anh bạn tại BCH/TG viết cho tôi hay.

    Xin cho phép tôi khỏi nêu tên các vị chỉ huy các đơn vị này từ Thiết Ðoàn Trưởng, Thiết Ðoàn Phó, hai Chi Ðoàn Trưởng Chi Ðoàn 1/1 CX và 3/1 TQV chỉ biết rằng Trung Tá Lý Tòng Bá cựu Thiết Ðoàn Trưởng đã rời đơn vị đảm nhận chức vụ Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Bình Dương và Thiếu Tá Nguyễn Xuân Hường đã bị thuyên chuyển lên Thiết Ðoàn 8 Kỵ Binh (Ban Mê Thuột) vài tháng trước đó.

    Hai tên chủ chốt bị Việt Cộng móc nối này là Thượng Sĩ Phùng Văn Mười Hạ Sĩ Quan Quân Xa của Chi Ðoàn 1/1 CX và Trung Sĩ Nguyễn Văn Tiểng Hạ Sĩ Quan Tiếp Liệu của Chi Ðoàn 3/1 TQV. Cả 2 tên này đều đã dưới quyền tôi khi tôi Chỉ huy 2 Chi đoàn trên (Chi Ðoàn 1/1 CX năm 63-64, Chi Ðoàn 3/1 TQV năm 1965 (Tháng 7 đến tháng 12 1965) và tôi đã không dùng chúng vì lý do chúng lem nhem tiền bạc.

    Nhưng sau khi tôi bị thuyên chuyển, chúng “mua chuộc” các người thế tôi trở lại đơn vị cũ để làm nội tuyến.

    Sau này, trong chiến dịch “Junction City” Trung Ðoàn 11 Thiết Giáp Hoa Kỳ (U.S Army 11th Cavalry Regiment) tìm thấy chiến xa này tại khu rừng rậm Tây Bắc Tây Ninh.

    Một chuyện khác khó tin nhưng có thật là trong trận Snoul thuộc lãnh thổ Miên tại một đồn điền cao su phía Bắc Quận Lộc Ninh Tỉnh Bình Long (Cuối Tháng 6 năm 1971) Thiết Ðoàn 1 Kỵ Binh tăng phái cho Trung Ðoàn 8/SÐ 5BB rút lui khỏi đồn điền Snoul bị Việt Cộng rượt chạy có cờ đến nỗi bỏ lại một Thiết Vận Xa trên QL 13 độ 20 Km Bắc Lộc Ninh trong đó có nhiều xác đồng đội kể cả xác Thiết Ðoàn Phó Thiết Ðoàn 1 Kỵ Binh và một Tiểu Ðoàn Phó Pháo Binh !
    Nếu bảo là đơn vị Bộ binh bỏ xác đồng đội lại thì còn có lý, nhưng với một Thiết đoàn kỵ binh mấy chục xe vừa chiến xa và thiết vận xa bao nhiêu là hỏa lực mà bỏ lại xác đồng đội thì khó thể chấp nhận được ! Vì Chiến Ðoàn 8 Bộ Binh không chờ Lữ Ðoàn III Kỵ Binh lên giao tiếp đã di chuyển xuôi Nam về hướng Lộc Ninh (Xuyên qua khu vực chưa được giải tỏa trên QL13) nên mới bị tổn thất nặng nề như vậy (Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 8 Bộ Binh, trong thời gian này là Ðại Tá Bùi Trạch Dzần đã cho lệnh “Chạy”).

    Do đó, dù Thiết Ðoàn 1 KB là một trong những đơn vị Thiết Giáp gần Thủ Ðô nhưng ít ai muốn về đơn vị này nhất là trong những tháng cuối cùng của năm 1974 khi các đơn vị chánh quy Cộng Sản Bắc Việt có chiến xa nằm cách Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh tại Lai Khê không xa hơn tầm đạn hỏa tiễn 122 hoặc 107 ly chứ không nói đến Ðại Bác tầm xa 130 ly của chúng.

    Với tình hình như vậy tôi vào Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn trình diện Ðại Tá Lê Nguyên Vỹ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bô Binh (Lúc này ông chưa thăng cấp chuẩn tướng) vào ngày 20 tháng 9 năm 1974.


    Vừa gặp tôi câu nói đầu tiên của ông ta với một nụ cười, có Ðại Tá Ðào Ðức Chinh (cùng khóa 5 SQTB Thủ Ðức với tôi) Tham Mưu Trưởng Sư Ðoàn 5 Bộ Binh đứng bên cạnh:”Quả đất tròn, chúng mình lại gặp nhau, phải không anh Tánh.”

    Câu đó vừa là một câu vui mừng chào đón mà cũng là một câu như hăm dọa vì năm 1965 (22/11) trong trận Dầu Tiếng lúc có đơn vị tôi thì thắng trận nhưng năm ngày sau Trung Ðoàn 7 Bộ Binh rời khỏi đơn vị tôi trên đường chuẩn bị hành quân lên núi Tha La (phía Bắc Dầu Tiếng) bị Trung Ðoàn Q 762 VC tấn công gây tổn thất rất nặng cho cả 3 Tiểu Ðoàn (Tiểu Ðoàn 1/7,Tiểu Ðoàn 3/7, và Tiểu Ðoàn 4/7). Trung Ðoàn Trưởng Trung Tá Nguyễn Văn Tư, Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ 1/7, Thiếu Tá Nguyễn Văn Chuyên, Cố Vấn Trưởng Trung Ðoàn, Sĩ Quan Liên Lạc Pháo Binh v.v… tử trận. Số chết và bị thương lên đến hàng trăm.

    Khi gặp Ðại Tá Phạm Quốc Thuần sau khi Trung Ðoàn 7 Bộ Binh tan tác, Ðại Tá Thuần nói một câu :” Hôm trước mình thắng, hôm nay thua, huề.” Tôi phản ứng lại ngay : “Ðâu có, Ðại Tá, hôm trước Thiết giáp thắng, còn bây giờ bộ binh thua chứ đâu có huề.” Vì câu nói thẳng tính này đã đưa tôi ra Vùng 2 Chiến Thuật gần 5 năm ! (Lúc đó Trung Ðoàn 1 Thiết Giáp còn là đơn vị biệt lập thuộc dụng QÐ III không thuộc Sư Ðoàn). Sau này tôi nghĩ lại là mình quá bồng bột nông nổi để làm phật lòng cấp Chỉ huy.


    Khi bắt tay tôi xong, Ðại Tá Vỹ hỏi tôi cần gì. Tôi nói muốn đi phép. Ðại Tá Vỹ hỏi tôi cần mấy ngày thì tôi nói chỉ xin 4 ngày thôi. Tôi đã đi phép do Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp và Lữ Ðoàn III Kỵ Binh cho cả gần 10 ngày khi tôi từ Pleiku về Saigon nên tôi chỉ xin có bao nhiêu đó thôi (Tôi quên nói là cùng đi với tôi lúc đó có Ðại Tá Trần Văn Thoàn, Tư Lệnh Phó Lữ Ðoàn III Kỵ Binh, chưa về làm tư lệnh phó sư đoàn)..

    Sau nầy tôi mới biết là Ðại Tá Vỹ quá ưu ái với tôi chứ với các Sĩ quan tiền nhiệm chỉ huy Thiết Ðoàn 1 Kỵ Binh không dám xin phép chỉ thỉnh thoảng “dù” thôi. Còn tôi mỗi tháng nếu không có hành quân tôi đều đi phép 48 tiếng. Do sự cởi mở lúc đầu nầy mà tôi quý mến Ðại Tá Vỹ và đồng thời tôi cũng trọng tánh tình thẳng thắn bộc trực của ông.

    Thượng tuần tháng 10 năm 1974, Thiết Ðoàn 1 Kỵ Binh do tôi chỉ huy và Trung Ðoàn 9 Bộ Binh do Trung Tá Trần Phương Quế (Khóa 9 VBQG Dalat dường như cùng khóa Ðại Tá Vỹ) chỉ huy đã đẩy lui Việt Cộng khỏi các căn cứ chúng chiếm được từ mùa hè 74. Trung Tá Trần Phương Quế được thăng cấp Ðại Tá, và Ðại Tá Lê Nguyên Vỹ được thăng cấp Chuẩn tướng. Chiến Thắng Rạch Bắp được trình chiếu trên băng tần số 9 cũng như các chương trình phông vấn các vị chỉ huy hành quân (Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã đến thị sát chiến trường, gắn lon cho quân nhân thuộc đơn vị sau khi Sư Ðoàn 5 Bộ Binh chiến thắng), tôi thì chỉ được tưởng thưởng Anh Dũng Bội Tinh cấp Quân Ðội + Nhành Dương Liễu vì không đủ thời hạn chức vụ (dưới 6 tháng (!)).


    Cuối tháng 12 năm 1974, tỉnh Phước Long thất thủ vào tay quân Cộng Sản Bắc Việt. Ðơn vị của tôi đang hành quân vùng phía Nam Quận Phú Giáo chuẩn bị để tái chiếm Phước Long và tôi sắp sửa để “sinh tử” với địch theo lời của chuẩn tướng tư lệnh sư đoàn, nhưng lệnh tái chiếm không thành vì không còn quân để bảo vệ ven đỏ nếu Sư Ðoàn 5 BB rời bỏ căn cứ hiện tại để hành quân xa.

    Thượng tuần tháng 3 năm 75 Ban Mê Thuột thất thủ kéo theo sau cuộc rút lui hỗn loạn trên Tỉnh Lộ 7 Pleiku Phú Bổn của các đơn vị thuộc Vùng 2 Chiến Thuật, cuộc “Tháo chạy tán loạn” ở Vùng 1 Chiến Thuật từ Quảng Trị chạy dài đến Nha Trang.

    Khoảng gần hạ tuần tháng 3 năm 75, đơn vị tôi nhận nhiệm vụ mở đường từ Lai Khê lên Chơn Thành dọc theo phía Ðông Quốc Lộ 13, một con lộ huyết mạch đã bị bỏ cho VC kiểm soát từ mùa hè đỏ lữa năm 72 trong khi tại tỉnh lỵ Bình Long còn Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân Vùng 3 và Liên Ðoàn 3 Biệt Ðộng Quân; ở tại Chơn Thành thì còn Chi Ðoàn 1/15 CX, và các đơn vị thuộc dụng của Tiểu Khu Bình Long và Chi Khu Chơn Thành. Nhiệm vụ của đơn vị tôi : Thiết Ðoàn 1 Kỵ Binh và Tiểu Ðoàn 3/9 Bộ Binh tăng phái do Thiếu Tá Ðổng Huy Hùng. chỉ huy là để mở đường và bảo vệ cho các cánh quân rút lui từ Chơn Thành về Lai Khê.

    Vì hành quân cấp tốc và bất ngờ nên sau hai ngày phá vở các chốt dọc trục lộ 13 đơn vị của tôi đã bắt tay được các đơn vị ở Chơn Thành với tổn thất tương đối nhẹ. Nhưng vì các đơn vị ở Bình Long chưa di chuyển xuống kịp tại Chơn Thành nên Thiết Ðoàn của tôi phải trở về lại hậu cứ.

    Cuối Tháng 3 năm 1975, Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II cũng như Vùng 2 Chiến Thuật kể như tan rã và tỉnh Phan Rang đặt thuộc khu vực trách nhiệm của Quân Ðoàn III/V3CT. Một Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Quân Ðoàn III do Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi cựu Tư Lệnh Vùng IV chỉ huy được thành lập và bố trí tại đây, cần có lực lượng cơ hữu của Quân Ðoàn III để phối hợp với đám tàn quân của Vùng 1 và Vùng 2 còn sót lại ! Do đó tôi lại phải mở đường lên Chơn Thành đón các đơn vị BDQ QK 3 về Lai Khê chuẩn bị cho ra Phan Rang. Do đó, tôi được lệnh trở lại vùng hành quân cũ với đơn vị tăng phái thường lệ là Tiểu Ðoàn 3/9 BB.Tôi còn nhớ lúc tan buổi họp hành quân vào lúc 22 giờ đêm ngày 27 tháng 3 năm 1975, Chuẩn Tướng Vỹ bắt tay tôi và nói : “Quân Ðoàn bây giờ trông vào anh đấy, anh Tánh. Anh cố gắng đem các đơn vị BÐQ về đây an toàn để họ ra Bộ Tư Lệnh Tiền Phương.”

    Nhiệm vụ lần nầy thật khó khăn vỏ cùng ! Tuần lễ trước, địch chưa rõ ý đồ của ta nên chúng bị bất ngờ. Nhưng bây giờ, dù có “ngu” cách mấy chúng cũng biết là tôi sẽ lên lại vùng hành quân nầy vì tin tình báo của chúng cho chúng hay là các đơn vị phía Bắc của ta sẽ rút về hướng Nam và đơn vị hướng Nam sẽ đến giao tiếp, do đó chúng bố trí các ổ phục kích dày đặc dọc trục lộ và tôi phải dằng co với chúng trong ba ngày ba đêm mới hoàn thành được nhiệm vụ, sau khi tổn thất hai xe Thiết Quân Vận, một Sĩ quan hy sinh, một Sĩ quan khác bị thương cùng một số kỵ binh khác tữ trận hay bị thương, nhưng đã gây tổn thất khá nặng cho địch quân nhất là bắt được 7 tên tù binh CSBV mặt còn non choẹt vừa được bổ sung từ ngoài Bắc vào.

    Khi tiếp đón được Bộ Chỉ Huy BÐQ Vùng 3 CT gồm có Ðại Tá Nguyễn Thành Chuẩn Chỉ Huy Trưởng BÐQ Vùng và Ðại Tá Nguyễn Văn Biết. Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn 3 BÐQ (sau 22 giờ đêm) tôi gọi âm thoại báo cáo cho Tướng Vỹ biết thì ông nầy rất mừng và nói âm thoại bằng bạch văn là đại diện cho quân đoàn cám ơn tôi. Một điều ông ít khi làm là nói bạch văn trong máy liên lạc âm thoại và mấy hôm trước đây ông đã gửi trả Thiết Ðoàn 22 Chiến Xa về lại Lữ Ðoàn III KB và phạt Thiết Ðoàn Trưởng 15 ngày trọng cấm Trung Tá Nguyễn Văn Liên Thiết Ðoàn Trưởng khi vị nầy sơ ý xin Sư Ðoàn cho phép ngày hôm sau mở đường ra Quốc Lộ 14 để tiếp tế xăng nhưng không “ngụy” (code) cẩn thận.

    Cuộc hành quân thành công, đơn vị tôi trở về lại hậu cứ.

    Các tuần lễ sau tôi có tham dự các cuộc hành quân vùng căn cứ “Ba Lê” thuộc xã Tân Hưng nhưng không có chạm súng và đến ngày 17 tháng Tư năm 1975 thì làm trừ bị tại Lai Khê.

    Bây giờ Lai Khê là vùng tiền đồn vì Chơn Thành không còn lực lượng bạn. Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn Tư Lệnh Quân Ðoàn III lên Lai Khê nói với tướng Vỹ là nên di chuyển Bộ Tư Lệnh về Phú Lợi chỉ để một trung đoàn nào đóng tại đây thôi. Ðiều nầy rất đúng chiến thuật vì không khi nào một bộ tư lệnh sư đoàn lại làm tiền đồn bao giờ. Nhưng tướng Vỹ không đồng ý. Ông thường nói với các Sĩ quan thân cận là : ”Nếu tôi cho di chuyển Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn về Phú Lợi, lính tráng sẽ nói mình ‘Di tản chiến thuật’ sao ? Tôi ở mãi nơi đây và chết cũng tại đây !”

    Một điểm son cho chuẩn tướng Vỹ là ông không hề ỷ lại vào Hoa Kỳ bao giờ và rất có tinh thần “Tự lực cánh sinh” hay có nhiều sáng kiến.

    Trong một buổi họp bàn về phòng thủ, có một vị Trung đoàn trưởng báo cáo là thiếu kẽm gai, cọc sắt vì tiếp liệu loại 2 và 4 khan hiếm do Mỹ hạn chế viện trợ, Tướng Vỹ liền tức giận hét lên : ”Cái gì cũng Mỹ. Mỹ nó bỏ anh rồi biết không ? Vùng nầy thiếu gì tre gai, cho lính trồng dọc theo vị trí phòng thủ một thời gian sau sẽ thành một vòng đai tre gai dày đặc, đặc công nào vào được ?” Sáng kiến nầy của ông rất hay nhưng đáng tiếc là quá trễ.

    Vì tôi kính mến tướng Vỹ khi tôi xin phép về lo đám tang bà mẹ vợ tôi từ ngày 20 đến ngày 24 tháng 4 năm 75 ông sẵn sàng cho ngay không phân bua gì cả nhưng chỉ đùa với tôi một câu là “Đừng bỏ tôi nghe anh Tánh.” Tôi đã hứa sẽ lên lại Lai Khê và đã giữ lời trong khi những người có quyền thế tại Thủ Ðỏ miền Nam đang rục rịch “Di tản chiến thuật” khỏi nước bằng đường thủy và đường không.

    Ngày 28 tháng 4 năm 1975. Bộ Tư Lệnh nhẹ Sư Ðoàn 5 Bộ Binh do Ðại Tá Trần Văn Thoàn Tư Lệnh Phó chỉ huy cùng với Trung Ðoàn 8 Bộ Binh do Trung Tá Nguyễn Bá Mạnh Hùng (Khóa 10 VBQG Ðàlạt hiện định cư tại CA) cùng Chi Ðoàn 3/1 Thiết Kỵ do Ðại Úy Nguyễn Văn Thiệp (hiện định cư tại CA) chỉ huy di chuyển về Phú Lợi. Cũng sáng nay, Chuẩn Tướng Vỹ cho chúng tôi biết là “Các anh em ai có thể cho vợ con đi nước ngoài được thì cho đi, còn các anh ở lại với tôi. Tôi cũng vậy cùng ở bên các anh.”

    Sau nầy, đến ngày 21 tháng 5 1975 khi Việt Cộng đưa anh Thoàn từ Bình Dương lên Trại Tù GK3 của VC tại Long Khánh thì tôi được biết là trước ngày 30 tháng 4 năm 75 chị Thoàn (dân Pháp có Passport thường trực) đã đưa gia đình anh Thoàn và gia đình Chuẩn tướng Vỹ đi Pháp. Hiện giờ bà Vỹ đang định cư tại vùng Virginia.

    Chiều ngày 29 tháng 4 năm 1975. Sau cuộc họp Tham mưu thường lệ xong vào lúc 17 giờ, các đơn vị được lệnh chuẩn bị bỏ Lai Khê về Bình Dương. Các quân dụng hư hỏng, cũng như các giấy tờ không cần thiết bỏ lại phải được tiêu hủy tại chỗ. Do đó trong căn cứ Lai Khê từng đám lữa đỏ rực các góc trời. Xa xa vùng Phú Giáo cũng thế vì Quận Phú Giáo đã di tản.

    Màn đêm buông xuống trong nổi kinh hoàng. Nơi phía Quốc Lộ 14 các đoàn xe đủ loại kể cả chiến xa của VC di chuyển chạy để đèn sáng cả con đường dài. Tôi trở qua Bộ Tư lệnh Sư Ðoàn lúc 19 giờ để nhận lệnh thì được tướng Vỹ cho biết là do tin báo cáo có cái chốt của VC trong khu vực Xã Mỹ Thạnh phía Nam Bến Cát. Tôi nói Sư Ðoàn cho Ðại Ðội 5 Trinh Sát tăng phái cho tôi (Tôi không biết là Ðại Ðội 5 Trinh Sát đã ở Bình Dương với Bộ Tư Lệnh Nhẹ Sư Ðoàn) tôi dùng Chi Ðoàn 1/1 CX bức chốt đó cho, nhưng tướng Vỹ nói ban đêm khó phối hợp thôi để sáng hôm sau.

    Tôi về hậu cứ của tôi và gọi điện thoại về Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp Trại Phù Ðổng về nhà tôi. Trong điện thoại tôi nghe có tiếng súng các loại nổ xa xa và tiếng động cơ trực thăng nổ rất gần. Vợ tôi đã di tản lên nhà ông anh tôi ở Nancy từ chiều chỉ có chú lính giúp việc nhà trả lời cho tôi biết là Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III đã di chuyển về đóng quân tại đây. Vì trong thời gian đó, Tướng Toàn kiêm nhiệm chức vụ chỉ huy trưởng Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp nên có toàn quyền xử dụng cơ sở nầy.

    Tôi liền cho Tướng Vỹ biết tin nầy.(Vừa rồi khi hỏi thêm tin tức về các giây phút cuối của tướng Vỹ khi tôi không có ở bên ông, tôi được Trung Tá Tống Mạnh Hùng (Khóa 5 Thủ Ðức, Pháo Binh Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Sư Ðoàn 5 BB) cho biết là trước đó tướng Vỹ đã gọi điện thoại về Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn không có ai trả lời, ông liền chửi thề : ” Ð.M tụi nó chạy trốn cả rồi.”)

    Ðêm 29 tháng 4 năm 1975 là một đêm khủng khiếp nhất của đời tôi, một đêm mà tôi nhớ mãi. Các tiền đồn tiếp tục báo cáo quân xa địch các loại di chuyển nhưng chúng đi vòng không tấn công Lai Khê. Tôi đang chuẩn bị đón cái chết gần kề vì tất cả không còn gì để cứu vớt cả. Các vị từng hô hào sống chết với quân đội đã yên thân nơi nước ngoài rồi, còn tôi với trọng trách nhỏ nhoi là Chỉ huy một thiết đoàn kỵ binh tôi phải làm gì đây ?! Ngày tàn binh nghiệp của mình và niềm hãnh diện được chết trên xe Thiết giáp cùng binh sỉ trong đơn vị cũng như các Hiệp sĩ ngày xưa chết trên lưng ngựa !?

    Ðêm 29 tháng 4 là một đêm dài nhất đối với tôi vì không chợp mắt được, chỉ nằm dài trên ghế bố xếp nhìn trời xanh, sao sáng ! (Giuờng ngủ đã được xếp lên xe GMC chờ di tản). Nhưng rồi đêm dài cũng qua đi nhưng các đốm lữa ở trong cũng như ngoài căn cứ vẫn sáng rực ánh hồng !

    Bảy giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng tôi họp tại Phòng Hành Quân Sư Ðoàn. Không còn một nụ cười trên các đôi môi thường lệ hay khỏi hài. Tất cả đều lộ vẻ mất ngủ. Tình hình “Ðịch” dày đặc điểm “Ðỏ” trên Bản Ðồ Hành Quân. Tình hình bạn chỉ có nội bộ Sư Ðoàn, còn các đơn vị bạn thuộc Vùng 3 CT thì không tài nào biết được. Riêng Sư Ðoàn 25 Bộ Binh tại Củ Chi thì bị tấn công sáng ngày 29 vì có một thành phần Thiết Giáp chạy về Bình Dương tối ngày 29.
    Từ sáng ngày 29 các khẩu Ðại Bác 175 nòng dài tại căn cứ Lai Khê đã tác xạ về hướng Củ Chi để yểm trợ tổng quát tăng cường cho Sư Ðoàn 25 BB nhưng không hiệu quả mấy.(Sau nầy tôi được biết Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá Tư Lệnh Sư Ðoàn 25 Bộ Binh đã bị VC bắt làm tù binh đêm 29 tháng 4 năm 1975.) Nhưng Sư Ðoàn cũng vẫn họp và cũng chuẩn bị di chuyển xuôi Nam về Bình Dương.

    Vừa họp xong Ðại Úy Nguyên, Chánh Văn Phòng Tư Lệnh xuống báo cáo tướng Vỹ là 10 giờ sáng Tổng Thống Dương Văn Minh sẽ đọc diễn văn quan trọng. Nghe thế, tướng Vỹ cho lệnh tất cả Sĩ quan chờ tại chỗ bên chiếc Radio Zenith và bên tách cà phê. Nhờ sự kiện nầy mà chúng tôi được nghe bản phát thanh đầu tiên của Big Minh trong khi có tiếng nhắc phía sau : “Ðọc đi.”

    Sau nầy phối hợp các tài liệu do VC phổ biến tôi được biết là Dương Văn Minh khi gọi chúng vào Dinh để “bàn giao” đã bị chúng gạt dùng áp lực bắt đọc tuyên cáo đầu hàng theo ý chúng. Chớ theo bản “kêu gọi” đầu tiên, tướng Minh mời đại diện Mặt Trận Giải Phóng vào để bàn giao ! Nhưng chúng bắt ông ta đọc lại theo nội dung khác. Tức là bản tin thứ hai hoàn toàn khác bản tin đầu.

    Theo báo chí của chúng, chúng tự đề cao là do “Sáng tạo lợi dụng thời cơ” khi chiếm Dinh Ðộc Lập là chúng nói với Dương Văn Minh :”Anh còn gì để mà bàn giao. Anh chỉ có một điều là đầu hàng vô điều kiện thôi !” ông Tướng Minh ơi ! Ông lại hại chúng tôi rồi !

    Khi nghe lệnh tiếp của tướng Nguyễn Hữu Hạnh Tham Mưu Trưởng là các đơn vị ở tại chỗ chờ bàn giao thì tướng Vỹ cho lệnh Trung Tá Nguyễn Tấn Văn Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị Sư Ðoàn (Anh đồng hao của tướng Vỹ) cho người ra cổng căn cứ treo cờ trắng đầu hàng, đồng thời ông nói : “Từ nay tôi không còn chỉ huy các anh nữa, các anh tự lo liệu lấy.”

    Lúc đó Tướng Vỹ cho lệnh tìm Y sỉ Thiếu Tá Hiếu Tiểu Ðoàn Trưởng 5 Quân Y có lẽ định tìm thuốc tự tử nhưng ông sau nầy đã lánh mặt. Tất cả anh em chung quanh tướng Vỹ đều tìm cách dấu tất cả các súng cá nhân vì sợ ông tự tử. Các anh em khuyên ông thì ông nói : “Các anh chờ ở đây để cho tên Huyện ủy Bến Cát vào tiếp thu các anh à !” Lúc đó trong đầu óc tướng Vỹ chỉ có một ý định tự sát thôi.


    Tôi quay về Thiết Ðoàn. Trong khi xe đang chạy về doanh trại của tôi thì Hạ sĩ Nguyễn Văn Sơn tài xế xe Jeep của tôi (Anh nầy sau năm 75 đã bị VC hạ sát trong một cuộc tranh chấp làm ăn gì với chúng) nói : “Trung Tá thay đồ xi vin đi hai thầy trò mình đi xe Vespa về Saigon.” Hạ Sĩ Sơn có để xe Vespa Ý tại Lai Khê đặng thỉnh thoảng anh ta đi phép về Saigon. Nhưng tôi không đồng ý.

    Tội nghiệp anh này không bỏ tôi khi tôi di chuyển bằng M113, anh vẫn theo tôi và bỏ xe lại dù lúc đó tôi cho anh toàn quyền quyết định.

    Vì như tôi đã nói ở trên là có một số Sĩ quan, Hạ sĩ quan, Kỵ binh của Thiết Ðoàn bị bắt năm 1972 và lại trở về lại đơn vị gốc năm 1973 sau khi được trao trả (Điều này trái với nguyên tắc an ninh nhưng tôi không hiểu do ai chấp thuận việc này ?). Tôi sợ thế nào cũng có người bị địch mua chuộc, móc nối nên tôi về tập họp thiết đoàn lại gồm có Bộ Chỉ Huy Thiết Ðoàn với Chi Ðoàn 1/1 CX (Chi Ðoàn 2/1 Thiết Kỵ tăng phái Trung Ðoàn 9 Bộ Binh, Chi Ðoàn 3/1 TK tăng phái cho Trung Ðoàn 8 BB).

    Khi tôi tuyên bố là : “Tôi cám ơn tất cả các anh em đã giúp tôi trong thời gian qua đã chu toàn các nhiệm vụ đã được giao phó và giúp tôi, giờ đây tôi không còn chỉ huy các anh em nữa. ” Tôi nói bằng cả sự xúc động thật sự trong khi khóe mắt của tôi hơi cay cay. Nhìn thẳng vào gương mặt các anh em đối diện tôi thấy mắt nhiều người cũng nhuốm đỏ. Cùng lúc đó có những tiếng “nhao nhao lên” : “Trung Tá đi đâu chúng em xin đi theo đó.” Ðây là những lời tâm huyết của các thuộc cấp mà tôi nhớ đến suốt cuộc đời còn lại.

    Không có một huy chương nào cao quý hơn các lời nói mộc mạc chân tình nầy trong khi tôi chẳng còn là gì cả ! Sau này khi nghĩ lại tôi thấy tôi thật quá liều lĩnh đùa giởn sinh mạng của các chiến hữu của mình trong khi tự mình không biết phải làm gì trong tương lai, trong khi không có chính phủ, không có cấp Chỉ huy ? Nhưng trong thâm tâm tôi lúc đó là rời khỏi đây đi về Vùng 4 Chiến Thuật chứ Lữ Ðoàn III Kỵ Binh và Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp thì không liên lạc bằng hệ thống liên lạc truyền tin được.

    Tôi nói : “Các anh em đã tin tôi thì tôi cũng sẽ cùng sống chết với các anh em.”

    Tôi cho lệnh Thiếu Tá Ðổ Cao Thượng (chú ruột Tướng Ðổ Cao Trí mấy năm trước định cư tại Maryland và Virginia, nhưng hiện nay đang định cư tại Georgia, Chi Ðoàn Trưởng Chi Ðoàn 1/1 Chiến Xa về doanh trại của anh ta chờ lệnh.

    Tôi quay xe lại Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn để đón Ðại Tá Nguyễn Mạnh Tường Phụ Tá Hành Quân Sư Ðoàn và Trung Tá Tống Mạnh Hùng Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Sư Ðoàn (Hiện định cư tại San Francisco CA), cả hai cùng khóa 5 SQTB Thủ Ðức với tôi như đã hứa trước.

    Ðến Bộ Tư Lệnh thì Hùng chạy ra gặp tôi nói :”Anh vào chào Chuẩn Tướng Tư Lệnh đi, người đã tự sát rồi !”

    Tôi đứng chổ cửa “Trailer” nhìn vào thì thấy tướng Vỹ đã ăn mặc chỉnh tề, có huy chương trên túi áo và xếp tay lên ngực. Các viên đạn 6.35 ly của súng lục Beretta trổ từ dưới cằm lên trên đỉnh đầu. Tôi đã chào kính vị anh cả của Sư Ðoàn 5 Bộ Binh đồng thời cũng là một Anh hùng của Quân đội theo đúng lễ nghi quân cách rồi quay ra.

    Sau nầy do anh Hùng kể lại là lúc tôi về rồi, tướng Vỹ cho gọi tất cả các anh em thuộc Bộ Tư Lệnh sang tư dinh cho lệnh dọn cơm ăn. Vừa ăn xong một chén cơm một cách hấp tấp, tướng Vỹ chạy vội vào “Trailer” mà không ai hay chỉ vì đang lo ăn. Thình lình có 2 tiếng súng nổ. Các anh em chạy vào thì thấy tướng Vỹ gục đầu trên vũng máu bị đạn như đã nói trên. Dù tất cả các súng được cất dấu kỷ nhưng còn một khẩu súng lục Beretta 6.35ly để trong Trailer không ai biết, trừ tướng Vỹ và Người đã dùng khẩu súng nầy để đi vào lịch sử. Chính Từ Vấn, anh Hùng và các anh em khác đã mặc quần áo tươm tất cho tướng Vỹ.

    (Trong số báo Thời Mới Phụ Nữ Mới số 405 nhân tưởng niệm ngày 30/04/1975, nữ thi sĩ Ngô Minh Hằng có làm một bài thơ tứ tuyệt như sau :

    Tướng Lê Nguyên Vỹ
    Bình Long anh dũng góp tài năng
    Làm tướng như Ông, mấy kẻ bằng
    Quốc sĩ đầu hàng sao được giặc
    Sân cờ Tư Lệnh, ánh sao băng !!!


    Như tôi đã kể rõ cái chết của Tuớng Vỹ vì thế tôi đã đề nghị (Trong e-mail) và giờ đây tôi xin nữ thi sĩ sửa đổi lại câu gì khác chứ đừng để câu chữ nghiêng. Câu đề nghị của tôi nếu được thì xin nữ thi sĩ tạm dùng chứ để Tướng Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh tự sát ngay sân cờ Tư Lệnh trong khi có mặt rất nhiều Sĩ quan và Quân nhân thuộc Sư đoàn thì thấy không ổn. Câu thơ đề nghị thay thế là :

    “Trailer” Trây lơ người gục, ánh sao băng !!!

    Tường và Hùng theo tôi về Thiết Ðoàn. Khi xe bắt đầu lăn xích ra khỏi cổng trại của tôi thì thấy Ðại Tá Từ Vấn (Khóa 12 VBQG Ðà Lạt gốc BÐQ Tham Mưu Trưởng Sư Ðoàn), Trung Tá Nguyễn văn Khách (Khóa 10 VBQG Ðàlạt gốc Lực Lượng Ðặc Biệt) Trưởng Phòng Ba Sư Ðoàn, Thiếu Tá Nguyễn văn Nghĩa. Trưởng Phòng Nhất Sư Ðoàn, Thiếu Tá Nguyễn văn Hòe. Trưởng Phòng Nhì Sư Ðoàn cũng vừa đến tháp tùng lên các Thiết vận xa của chúng tôi. Tôi quên nói là đơn vị VC tại Bến Cát có vào hệ thống liên lạc Sư Ðoàn đòi gặp tôi ở đầu máy nhưng tôi đã báo hiệu thính viên trả lời là tôi không có ở đây.


    Theo thứ tự di chuyển thì Chi Ðoàn 1/1 Chiến Xa dẩn đầu kế đến là Bộ Chỉ Huy Thiết Ðoàn của tôi. Khi ra khỏi căn cứ Lai Khê tôi thấy Chi Ðoàn 2/1 Thiết Kỵ do Ðại Úy Nguyễn Văn Thống chỉ huy (Anh nầy chết trong tù mấy năm sau 1975 tôi không rõ). Ðại Úy Thống vào hệ thống liên lạc hỏi tôi xem đi đâu. Tôi hỏi anh ta có muốn đi theo tôi không thì anh ta đồng ý. Tôi bảo gắn vải trắng ở đuôi ăng-ten và cho lệnh anh ta xem tôi làm gì thì anh ta làm theo.

    Ðơn vị tôi ra khỏi căn cứ Lai Khê quay về hướng Ðông căn cứ băng đồng, chạy song song theo hướng Ðông Quốc Lộ 14. Tại vùng nầy, mới tuần trước Thiết đoàn tôi hành quân tại đây tìm đỏ con mắt không thấy một tên VC nào nhưng chiều nay sao đông thế ! Từ hướng Ðông trong khu rừng, từ hướng Tây bên Quốc Lộ chúng tủa ra nhắm vào đoàn xe Thiết Giáp di chuyển tác xạ tới tấp. Cũng may là đơn vị chúng tôi cách xa tầm bắn B40 và B41 nên không có xe nào trong đoàn xe của tôi bị trúng đạn. Một điều tôi hãnh diện về đơn vị của tôi và cũng nhờ ơn trên là không có một binh sĩ nào của Thiết Ðoàn 1 Kỵ Binh tác xạ lại. Họ rất giữ đúng kỷ luật là không tác xạ bừa bãi và không có “Một sự cướp cò” nào. Nếu không, có lẽ tôi khỏi đi tù và không còn để viết những dòng chữ nầy.

    Ðoàn xe di chuyển được hơn 10 km thì Ðại Úy Thống Chi Ðoàn Trưởng Chi Ðoàn 2/1Thiết Kỵ hỏi lệnh tôi thế nào khi VC chận đầu xe. Tôi nói trong máy cho anh ta biết thôi trình diện họ đi còn tôi lên trên nầy gặp “Thằng Ba” tức Chi Ðòan 3/1 Thiết Kỵ (Đang tăng phái cho Trung Ðoàn 8 BB tại Bình Dương) cũng trình diện luôn (?).

    Khi Chi Ðoàn 1/1 CX dẫn đầu đi qua cầu xã Tân Phước Khánh vừa sang được chiếc thứ 5 thì cầu sập. Lý do là cầu cây quá yếu và chiến xa lại di chuyển nhanh qua cầu và quá gần nhau, nên sức trọng tãi của cầu không chịu nổi sức nặng của chiến xa (Thường lệ, gặp trường hợp này trưởng xa phải xuống xe hướng dẩn cho xe chạy chậm qua cầu từng chiếc một). Toán đã qua cầu tiếp tục di chuyển ra đường Quốc Lộ 13. Toán còn lại quay trở lại nhập chung với Thiết Ðoàn.

    Ðến cuối tháng 6 năm 1975 khi gặp tôi trong Trại 1 Cải Tạo Cát Lái (Trung Tâm Huấn Luyện Quân Khuyển của QLVNCH cũ) thì anh Thượng nói anh đi ra Quốc Lộ 13 thì gặp đoàn chiến xa T54 đang tìm hướng về Dinh Ðộc Lập và chúng đã nhờ anh chỉ đường (Thành Phần tiền phương của chúng là Lữ Ðoàn 103 Thiết Giáp đã đi với Ðại Tá Bùi Tín tiếp thu Dinh Ðộc Lập và nhận lệnh đầu hàng).

    (Khi gặp lại tôi tại Virginia sau năm 1995, thì Thiếu Tá Thượng cho biết là nhờ sự khéo léo anh đã gạt được chúng và thoát khỏi bị bắt trong ngày 30 Tháng 4 1975. Anh đã nhờ tôi đính chính lại.)

    Ðoàn xe của tôi quay vòng lại vào giữa xã Tân Phước Khánh. Việt Cộng đã tiếp thu xong xã này. Cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam treo đầy trước các căn nhà và dọc theo đường. Dân chúng ùa ra đường cản đoàn xe tôi lại. Lúc đó vào khoảng 17 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tôi xuống xe thì tên chủ tịch xã tiến đến ôm chầm lấy tôi nói câu đầu tiên : “Chúng ta không ai thắng, ai bại, chỉ có Ðế Quốc Mỹ là thua thôi !

    Các anh về với Cách Mạng (sic!) là có công rồi sẽ được biểu dương (Lần đầu tiên tôi nghe được danh từ “biểu dương”). Cũng lần đầu tiên, tôi biết thế nào là sự xảo trá của VC. Dù chúng biết rằng chúng tôi chạy trốn, không lọt nên mới tạt vào đây, nhưng chúng đã mở cho chúng tôi một lối thoát danh dự (?) bằng cách nói câu trên để tôi an tâm và đỡ mất mặt !

    Cùng lúc đó một binh sĩ đến báo cáo là Thiếu úy Nguyễn Văn Tiền. Chi Ðội Trưởng Chi Ðội Súng Phun Lửa, ở sau tôi hai xe, đã tử trận. Vừa nghe câu này tên chủ tịch xã liền nói :”Anh cho tên anh ấy để ghi công vì anh ấy về với Cách Mạng mà bị hi sinh là thành liệt sĩ (Thêm một từ mới) rồi ! Trời ! Chúng giết mà lại thành liệt sĩ của chúng ?! Nhưng tôi cũng phục phương tiện liên lạc của chúng – không hiểu chúng liên lạc thế nào – mà thân phụ của Thiếu úy Tiền từ Bến Tre ngày hôm sau đã lên đến xã Tân Phước Khánh Bình Dương để đem xác con về.

    Sau khi gom góp hết các súng cá nhân và các đồ dùng của chúng tôi như Radio Cassette, thùng đựng nước đá, v.v…của tôi mà chúng bảo là của “ngụy”, chúng cho chúng tôi tự do đến nhà dân chúng gần đấy để tắm rửa với sự kiểm sóat của chúng. Vì tôi là Chỉ huy nên chúng chỉ để ý đến tôi thôi. Anh Tống Mạnh Hùng. Pháo Binh vì theo sát tôi nên không thoát được; Ðại Tá Tường, Thiếu Tá Hòe, Thiếu Tá Nghĩa trốn thoát; Ðại Tá Từ Vấn và Trung Tá Khách cũng trốn nhưng bị bắt lại bởi du kích tại địa phương, (Những tên này lúc sáng còn là Nhân dân Tự vệ của Việt Nam Cộng Hòa nhưng đến chiều là du kích của Việt Cộng !)

    Trừ chúng tôi, các Sĩ quan cấp Tá ra, chúng tập trung tất cả Quân nhân thuộc quyền tôi ngồi bẹp trước sân cờ của Văn Phòng Xã Tân Phước Khánh. Khi tôi đi ngang qua nhóm Quân nhân này, có một Hạ sĩ quan nói một câu tôi vẫn nhớ đến bây giờ, trong lúc đó trong tôi nỗi lên niềm xúc động lẫn chua cay. Anh đó nói : “Trung Tá, sao họ lấy súng của mình hết vậy ?” Tôi đã trả lời anh ta mà nước mắt cứ muốn trào ra : “Mình đâu còn cần các thứ đó nữa đâu anh, hết chiến tranh rồi !”

    Tên chủ tịch xã cho chúng tôi ăn cháo gà và uống bia (Bia chúng lấy trên Thiêt Vận Xa chở hàng Quân Tiếp Vụ của Thiết Ðoàn) và nói một câu khách sáo :”Chúng tôi vừa tiếp thu nơi đây, cơ sở vật chất chưa có gì, các anh ăn tạm.” Ðó là bửa ăn cháo gà cuối cùng của cuộc đời tự do đánh dấu bước đầu đi tù Cộng Sản. Tôi chỉ có thể ăn lại cháo gà như thế này 10 năm sau !

    Vừa ăn xong, có một tên VC người Nghệ Tĩnh mặc thường phục, tóc rụng gần hết trên dưới 50 tuổi gương mặt đầy sát khí đến chất vấn tôi với giọng hằn học chứ không có những lời nói dịu dàng như của tên Chủ tịch xã người miền Nam kia. Lúc đó, tôi cảm thấy hối hận là mấy giờ trước còn quân trong tay tại sao tôi không “Một mất một còn” với chúng thà rằng chết với vũ khí trong tay còn hơn bây giờ đang đợi quyền sinh sát của chúng ! Do các câu nói của tên này thì chúng tôi là những tên “Tội phạm chiến tranh, trời không dung, đất không tha, lá rừng xanh không ghi hết tội, còn nước đại dương chẳng rửa sạch thù, là công cụ đế quốc Mỹ v.v.. (Các câu đầu trong bài 3 ‘Quân Ngụy là Công Cụ của Ðế Quốc Mỹ kẻ thù của nhân dân Việt Nam v.v..’” trong 10 bài căn bản của chúng mà chúng tôi sẽ được chúng ‘lên lớp’ vài tháng sau đó).

    Ðang lúc chúng đang điều tra tôi, thì có một chiếc xe Jeep A2 ngừng trước cửa, môt tên Cộng Sản Bắc Việt xuống xe (Sau này tôi mới biết tên này là Ðại úy thuộc cơ quan chính ủy của Công Trường 7 VC). Tên này hỏi ai chỉ huy Thiết Giáp ở đây. Tôi xác nhận là chính tôi thì chúng cho lệnh tất cả các Sĩ quan cấp Tá đi theo chúng.

    Vì xe Jeep của hắn không đủ chỗ nên hắn chạy trước và cho tôi đem theo 2 M113. Trên mỗi xe M113 của chúng tôi chúng cho một tên VC ngồi trên thiết vận xa với chúng tôi trong khi các thùng đạn Ðại Liên 50 và 30 còn đầy đạn và súng vẫn ở trên giá súng. (Ðây là một hành động tương đối tốt của Công Trường 7 VC khi chúng cho người đến đón chúng tôi. Chúng sợ quân du kích hay địa phương của chúng vì muốn “trả nợ máu” đối với chúng tôi nên “làm bậy”‚ làm hại đến đường lối tuyên truyền chiêu dụ của chúng chăng ?

    Chúng đưa chúng tôi về Trường Công Binh QLVNCH tại Bình Dương (Bản Doanh của Công Trường 7 lúc đó) và cho chúng tôi ngủ tại phòng của các Sĩ quan khóa sinh của các lớp học Công Binh đã trống vắng.

    Ngày hôm sau, 1 tháng 5 năm 1975, Ðại Tá Từ Vấn Tham Mưu Trưởng Sư Ðoàn 5 BB đại diện đơn vị được chúng chấp nhận là “hàng binh”(?) dẩn chúng lên lại Căn Cứ Lai Khê để tiếp thu nơi đây vì các đơn vị của chúng chưa dám vào đó.

    Cũng chiều hôm đó, các phóng viên của báo “Quân Ðội Nhân Dân” của chúng đến phỏng vấn, chụp hình chúng tôi gồm có Ðại Tá Từ Vấn. Tham Mưu Trưởng Sư Ðoàn 5 BB, tôi, Trung Tá Tống Mạnh Hùng. Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Sư Ðoàn, Trung Tá Nguyễn văn Khách. Trưởng Phòng 3 Sư Ðoàn, Thiếu Tá Nguyễn Văn Răng. Thiết Ðoàn Phó, Thiết Ðoàn 1 Kỵ Binh và Ðại úy Nguyễn Văn Vũ. Ðại Ðội Trưởng Ðại Ðội 5 Trinh Sát người đã lái chiếc xe Jeep A2.

    Hinh ảnh chúng tôi được chúng cho trình chiếu trên TV là các tên tàn quân của Sư Ðoàn 5 BB bị chúng bắt ngày 30 tháng 4 năm 1975. Vào cuối tháng 6 năm 1975 khi chúng tôi tập trung về Trại Cát Lái thì chúng cho chúng tôi đọc được tờ báo Quân Ðội Nhân Dân có câu chuyện của chúng tôi và bức ảnh ghi trên.

    Trong gần hết trang 3 của tờ Quân Ðội Nhân Dân của chúng, chúng đăng một bài báo với tựa đề : “Vây Diệt Sư Ðoàn 5 Ngụy.” hoàn toàn là hư cấu.

    Trong đó chúng bịa ra giống như là tiểu thuyết trong đó có nêu đích danh tên tôi ra (Nhưng để tên là Nguyễn Minh Tránh) là đã đề nghị Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh thế này, thế nọ v.v… Có một điều quá nham nhở khi nó kể cái chết của Tướng Nguyễn Văn Vỹ, bằng những câu hạ cấp hòng hạ uy tính của ông nầy. Chúng viết đại khái như sau và vì lâu quá tôi không nhớ rõ.

    Chúng bảo khi tự sát thì trên bàn của chuẩn tướng Vỹ, chuẩn tướng đã viết “Ðô la, đô la, đô la nhiều quá.” Vì sự kiện này cho chúng tôi thêm một bằng chứng là “Cộng Sản VN không có nói điều gì đúng cả.”

    Trong thời gian “đi tù” nhất là trong các tháng đầu tôi bị “mệt” do các cuộc thẩm vấn tới tấp là tại sao tôi không ở Lai Khê (Hậu cứ của tôi) mà lại chuyển quân đi. Thêm vào đó, có nhiều bạn đã đổ lỗi cho tôi là dẩn họ đi nên tôi càng bị bọn cán bộ trại trù ẻo tôi dữ ! Tôi không buồn giận gì các bạn nầy và rất thương các anh em ấy là trong giờ phút “Thập tử nhất sinh” đó dám phó cả sinh mạng theo sự “bốc đồng”(?) của tôi ! Tôi đã phải tìm hết cách trả lời thật khôn khéo để làm nhẹ bớt các áp lực của chúng đối với tôi.

    Kết thúc bài hồi ký tôi xin kính cẩn nghiêng mình bái phục vị Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh đáng kính mến của chúng tôi và thắp lên nén nhang tưởng niệm cũng như choàng một vòng hoa chiến thắng tưởng tượng lên vong hồn người. Chúng tôi cũng đã cám ơn người cũng như 4 vị Tướng khác, rất nhiều Quân nhân và nhân viên hành chánh, thành viên các đảng phái đã tự sát khi VC cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam về những điều sau đây:

    1. Cho bọn Cộng Sản Bắc Việt cũng như các bạn bè năm châu biết chúng ta, dân miền Nam không phải đều là những tên hèn nhát !

    2. Chứng tỏ cho thế giới biết quyết tâm của chúng ta là thà chết chứ không thèm sống với cộng sản.

    Riêng cái chết của cố Thiếu Tướng Lê Nguyên Vỹ đã khuyên một dấu son cho Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, một đơn vị Bộ binh chịu nhiều tổn thất chiến trận nhất trong chiến tranh VN được kể là một trong những Sư đoàn “yếu” của QLVNCH, một đơn vị mà trước kia các cố vấn Hoa Kỳ “rất sợ” khi bị đưa về đây nên đã gọi Sư Ðoàn này là Sư Ðoàn Máu” (Blood Division).

    Còn tôi, tôi không ngờ là lại trở về Thiết Ðoàn 1 Kỵ Binh trong những ngày tàn binh nghiệp khi trước kia, nhờ 2 Chi Ðoàn 1/1 CX và 3/1 TQV đã giúp tôi được thượng cấp biết tiếng với các chiến công đã thu hoạch được. Một điều tôi mản nguyện là trong tuần lễ cuối cùng của tháng 4 năm 75 nhiều đơn vị QLVNCH đã rã ngũ nhưng Thiết Ðoàn 1 Kỵ Binh chỉ có 5 % binh sĩ đào ngũ.

    Tôi cũng xin nhân dịp này, chân thành cám ơn tất cả quân nhân các cấp thuộc Thiết Ðoàn 1 Kỵ Binh những người đã giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ khó khăn và đã không bỏ tôi khi nhà tan, nước đã mất. Tôi cũng đã hãnh diện vì các bạn, nhất là Thiếu Tá Nguyễn Văn Răng (Khóa 19 SQTBTÐ) (?).Thiết Ðoàn Phó của tôi, một con người bất khuất, một trong những Quân nhân hăng hái nhất trong ngày 30 Tháng Tư 1975 để theo tôi. Anh là một trong những người tù cải tạo can trường đã dám trốn trại và đánh bọn quản giáo khi chúng bắt anh chở trên xe Jeep về trại.

    Tôi cũng nghiêng mình xin lỗi và chia buồn với gia đình cố Thiếu úy Nguyễn Văn Tiền. Chi Ðội Trưởng Chi Ðội Súng Phun Lữa, đã hy sinh ngày tàn cuộc chiến mà tôi không thể phúng viếng gia đình được (Khi tôi về Chỉ huy Thiết Ðoàn 1 Kỵ Binh, tôi đã hứa trong đầu là khi có một Sĩ quan thuộc Thiết đoàn hy sinh tại chiến trường, tôi sẽ đến phúng điếu (Với một phần lương của tôi + quỷ của Thiết đoàn nhưng đã không làm được).

    Tôi xin phân ưu với gia đình cố Trung Úy Liêu A Thành. Chi Ðội Trưởng Chi Ðội Thám Xa V 100, Trung úy Nguyễn Văn Lệnh. Sĩ Quan Quân Xa, Trung Sĩ Nhất Nguyễn Văn Quan. v.v… những người đã đến thăm tôi khi nghe tôi được về khoảng đầu Tháng 10 năm 1984 và rũ tôi tham gia phục quốc, nhưng tôi đã biết là tổ chức này dỏm không tham gia và khuyên họ chớ bị mắc lừa nhưng họ đã không nghe và đã bị gài bẫy bắt vào đêm giao thừa Tết Ất Sữu 1985 và sau đó đã bị chúng tra tấn đến chết trong tù. Dù đã bị tra tấn nhưng họ không khai bậy tên tôi. Cám ơn các bạn !

    Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ của 1 Quân nhân và cấp Chỉ huy thời chiến của tôi một cách tốt đẹp đến cuối ngày 30 Tháng 4 năm 1975 và đã đi tù trong các trại tù cải tạo từ Nam ra Bắc rồi trở về Nam đến 10 năm sau.


    Nguyễn Minh Tánh
    nguồn:
    https://ongvove.wordpress.com/2014/0...cua-su-doan-5/

  2. The Following 3 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    BaNai (04-21-2018), nguyenphuong (05-08-2018), Tinh Hoai Huong (05-18-2018)

  3. #254
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,205
    Thanks: 7,971
    Thanked 5,332 Times in 1,180 Posts

    Button Xanh Cuộc Vượt Thoát Kỳ Diệu - Mũ Đỏ BS. Nguyễn Thanh Liêm

    Cuộc Vượt Thoát Kỳ Diệu
    (Hồi Ký từ Mặt Trận Khánh Dương. Đèo M’s Drak – Cuối Tháng 3/1975)
    Mũ Đỏ BS. Nguyễn Thanh Liêm
    Cựu Y Sĩ Trưởng/ Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù




    Lời giới thiệu Của NT Trung Tá Bùi Quyền, TĐT TĐ5ND:

    Bác sĩ Liêm là Y sĩ trưởng cuối cùng của TĐ5ND khi tôi là TĐT. Trong trận Khánh Dương, khi theo lệnh BCH/ LĐ3ND triệt thoái về sau tuyến II, tức phía sau khu vực TĐ6ND.Tôi quyết định cho TĐ đoạn chiến và triệt thoái vào ban đêm. Khi ĐĐ54 dẫn đầu cánh quân B chạm địch, BS Liêm lại đi cùng cánh quân này vì còn chuyện trò tâm sự với Đại úy Huỳnh Quang Chiêu, ở gần nhà BS Liêm và là SQ được tôi chỉ định kèm cho Trung úy Vũ, tân ĐĐT/ ĐĐ54. Tr.Úy Vũ hy sinh và Đ.Úy Chiêu cùng BS Liêm mất tích. Khi về đến Sài Gòn tôi đến nhà 3 SQ này để phân ưu. Không ngờ khoảng 1 tuần sau, Quân cảnh Vũng Tàu liên lạc với TĐ để xin xác nhận có 2 SQ tên Chiêu và Liêm theo thuyền dân cập bến Vũng Tàu và nhất là họ mang theo chiến lợi phẩm là súng AK-47 của VC. Sau khi xác nhận, ngày sau 2 vị này về Sài Gòn. Tôi rất vui song lúc đó BS Liêm chỉ kể qua loa chuyện vượt thoát của ông. Hôm nay được đọc bài BS Liêm viết chi tiết về cuộc vượt thoát này, tôi rất vui và xin giới thiệu với bạn đọc câu chuyện vượt thoát hy hữu của 1 y sĩ quân y nhẩy dù.

    Đã 42 năm qua, tôi những tưởng câu chuyện vượt thoát y như phim ảnh nầy đã chìm vào dĩ vãng. Nào ngờ các bạn Mũ Đỏ gần xa yêu cầu tôi nên ghi lại để được tỏ tường Nhảy Dù là Cố Gắng. Tôi cố gắng nhớ lại để không phụ lòng anh em mong đợi.


    Ngày 1 (28/3/1975): Trời chiều của Tháng 3 thật là nóng bức. TĐ5 ND đóng trên sườn đồi gần đèo M’Drak. Đó là khúc đường trên Quốc Lộ 21 dài khoảng 20 Km. Đầu đèo cách Ban Ma Thuột (hay Ban Mê Thuột) 96 Km. Đoạn đường đầu đèo dài 4 Km nằm giữa hai dãy núi khácao, vách núi dựng đứng. Núi Chu Kroa cao 958 m về phía Bắc. Các triền núi nhỏ hơn màđỉnh cao nhất là 609 m về phía Nam. Các bạn cũng biết, Quốc Lộ 21 nằm giữa Quận Khánh Dương và Quận Ninh Hòa. Từ trên đồi cao, tôi nhìn qua Quốc Lộ 21 là Buôn Làng M’Mo của người ÊĐê với chừng năm ba mái nhà sàn xưa cũ. Tiểu Đoàn có nhiệm vụ ngăn chặn địch từ Ban Mê Thuột kéo về Nha Trang. Tôi nhìn thấy nhiều Thiết Vận Xa M113 án ngữ trước Buôn M’Mo, gần cây cầu xi măng trên Quốc Lộ 21.


    Tất cả đều ở tư thế sẳn sàng chiến đấu. Pháo địch bắt đầu rơi, băng qua ngọn đồi rồi rớt ầm đâu đó dưới chân đồi. Tiểu Đoàn vô sự. Đêm xuống dần, Trung Tá Bùi Quyền, TĐT TĐ5 ND tiên liệu địch sẽ trèo lên đồi theo chiến thuật tiền pháo hậu xung nên ra lệnh cho mọi người đều phải sẳn sàng. Trời tối đen như mực, dưới đồi có tiếng chân người đạp lá rừng nghe xào xạc, có vẻ như rất đông người đang bò lên đồi. Lệnh triệt thoái, đi hàng một, im lặng, súng cầm tay, đạn lên nòng; cả tiểu đoàn di chuyễn theo nhau về hướng Đông Nam. Lúc đó là 7 giờ tối. Tôi đi theo Tr. Tá Quyền, cố gắng đi gần ông. Phải cố gắng lắm vì trời tối quá, đường đồi nhiều cỏ tranh và khó bước vì trơn trợt. Cũng may có Đại Úy Chương lâu lâu gọi khẻ “Bác Sĩ đâu rồi”.

    Khoảng 10 giờ đêm thì Tiểu Đoàn dừng lại trên một ngọn đồi thấp. Pháo địch từ chân đồi phóng lên, nhìn rất đẹp y như mấy trái hỏa châu, hướng về TĐ 5 và nổ loạn xạ. Phân tán nhanh. Phân tán nhanh. Mọi người phóng nhanh về điểm hẹn để trực thăng xuống bốc. Tôi lạc đàn từ phút ấy!!!

    Ngày 2 (29/3/1975): Nhiều tiếng hét đồng loạt “hàng sống chống chết” vang lên hung bạo và đầy hận thù từ dưới đồi dần dần to hơn, rõ hơn. Miệng tôi đắng lạ thường, tay chân tôi luống cuống, mắt tôi may còn kính cận thị chưa bị rớt. Tôi chui lẹ vào đám rể cỏ tranh rậm rạp mọc cao hơn đầu người, sau khi còn đủ trí khôn lăn long lóc xuống chân ngọn đồi nhỏ. Lúc này, địch dàn hàng ngang, cầm AK có lưởi lê nhọn gắn đầu súng, vừa đi vừa xâm xoi tìm lính Dù để đâm cho chết hoặc bắt làm tù binh. Trong số đó không có tôi.

    Tôi bình an vô sự. Lục soát đã ngưng, địch rút lui trong yên lặng. Suốt đêm đó tôi nằm yên, lạnh và ướt dưới đám cỏ tranh. Trổi dậy khi trời vừa sáng, tôi nghe có tiếng gọi của ai đó, nằm rất gần. Té ra là Minh, y tá Dù của tôi. Thầy trò mừng quá, ôm nhau và tôi lại có một túi cứu thương khá đầy đủ thuốc men do Minh trao lại “Em giao lại cho Bác Sĩ”. Hai thầy trò cứ nhắm hướng Đông mà đi vì nghĩ đó là hướng biển, hy vọng gặp lại những người cùng cảnh ngộ với mình. Băng rừng mà đi, bụng đói, miệng khát. Nhưng hai thầy trò may mắn gặp được Thiếu Úy H. và Trung Sĩ Q. cùng 3 lính Dù của TĐ5.

    Riêng Th. Úy H. còn bản đồ hành quân và địa bàn, và mọi người vẫn còn súng M16 và lựu đạn. Ngày nghỉ, đêm đi, cả đoàn 7 người đều còn sức khỏe. Chúng tôi đạp nước theo dòng suối mà đi để địch không tìm ra dấu giày. Dọc đường dây điện thoại màu đen lẫn với lá rừng, nằm chơ vơ khi ẩn khi lộ thiên, đi không khéo đụng chạm, địch sẽ biết. Chúng còn khắc chữ K lên thân cây để chỉ hướng tiến quân về Nha Trang (dấu I và dấu < nhập lại thành chữ K, dấu < mủi nhọn là hướng tiến của địch) Nhờ có thuốc lọc nước Iodine mà chúng tôi uống nước dơ ngon lành. Lại có rau tàu bay và mấy con cua kẻ đá, chúng tôi ăn sống cho khỏi chết vì đói. Nhưng tôi bị kiết lỵ, dài dài cho đến ngày về đến Sài Gòn. Bình thường lính Dù ai cũng khỏe mạnh nên túi cứu thương không có thuốc trị kiết lỵ!

    Ngày 3 (30/3/1975): Đêm nay cả 7 người tiếp tục băng rừng, đi đầu là Th.Úy H. kế đó là tôi, sau tôi là y tá Minh, rồi đến A Chãy (Chãy có nghĩa là Trai) và 2 lính Dù, Tr. Sĩ Q. đi đoạn hậu. Chúng tôi yên lặng đi cách nhau 2 sảy tay, vậy mà đôi lúc người không nhìn thấy bóng bạn phía trước. Tôi nhiều lần kêu khẻ “Th.Úy chậm bước chút xíu”. Cây rừng đan dày đặc, có cây to gốc 3 người ôm mới giáp vòng. Trong đêm tối có cây màu đen, có cây màu trắng do vỏ cây có lân tinh chiếu sáng. Tôi đưa tay vịn một sợi dây mây, ai ngờ “rột một cái” dây đó rút lẹ lên trên cành cây to, đó là một con rắn lớn thòng xuống rình mồi. Thật hú hồn! Đoàn người cả đêm đi không ngừng vì ngó lại hướng đóng quân cũ thấy ánh lửa sáng rực xa xa, chắc là địch đang đốt cháy tại nơi chúng vừa chiếm đóng. Th. Úy H. nói “mình phải đi thật nhanh hơn nữa”.

    Ngày 4 (31/3/1975): Gần sáng, cả đoàn mệt và chân đã mỏi nhừ, tìm được một chổ ẩn núp khá an toàn là dưới một thân cây thật to bị đốn ngã nằm ngang do dân làm rừng để lại. Bố trí an toàn xong, cả đoàn nghỉ, nằm với lá cây phủ đầy người mà không dám thở mạnh. Đó đây, nhiều tiếng vượn hú “Húhu u u…Chóc chóc chóc” chúng gọi nhau trên các cây chà là rừng to cao để báo động có người. Lại còn có tiếng chim gì kêu nghe lạtai “cọc cọc cọc” y như điệp khúc, nghe cũng ơn ớn. Những con vắt, đỉa và sâu đo, mấy ngày qua hút máu ở kẻ ngón chân và trong nách được chúng tôi “giải phóng” với cái bụng no nê đầy máu sau khi chúng tôi cởi giày ra và giủ áo mới thấy chúng còn bám chặc trong nách và các kẻ ngón chân. Miệng tôi đã khô đến nỗi không còn đủ nước bọt mà quyện với cỏ để dùng tay rứt chúng ra!

    Ngày 5 (1/4/1975): Đã xa vùng hỏa tuyến, chúng tôi thử đi ban ngày và ngủ vào ban đêm, nhưng vẫn cảnh giác đề phòng địch. Đang đi, bất chợt Th.Úy H. ra dấu dừng lại. Phía trước mặt, chỗ mấy cây cổ thụ to, có một đám lá rừng chất đống bất thường, một bầy ruồi nhăng bay lên với mùi hôi thối của xác chết!!! Địch đã giết chết nhiều lính Dù và lính Bộ Binh, tháo giày vì các xác đều chân trần, rồi phủ lá rừng che lại. Chúng tôi đứng nghiêm chào kính và ngậm ngùi chào tiễn biệt các anh hùng tử sĩ đã vị quốc vong thân. Mong các anh thông cảm cho chúng tôi phải vượt thoát lẹ, cầu mong các anh phù hộ cho chúng tôi về được đến nhà. Bước đi rồi, tôi mới thấy mặt mình sao ướt ướt! Có thể vì tôi vẫn còn nhớ khi học “Chinh Phụ Ngâm Khúc” của Đặng Trần Côn:

    “Hồn tử sĩ gió ào ào thổi,
    Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi.
    Chinh phu tử sĩ mấy người,
    Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn!”


    Trên đường đi, chúng tôi còn gặp các tử sĩ dụm năm dụm ba, phủ lá đầy ruồi nhặng và đã phân hũy, do địch giết hại. Đếm được 4 chổ như vậy, chúng tôi nghĩ là còn nhiều nữa trong cánh rừng Khánh Dương này.

    Ngày 6 (2/4/1975): Vẫn di chuyển hàng một với Th. Úy H. đi đầu và Tr. Sĩ Q. đoạn hậu. Ngày đi đêm nghỉ, chúng tôi đang đi vào vùng đất Cọp Khánh Hoà Ma Bình Thuận. Nhiều dấu chân Cọp được chúng tôi nhìn thấy gần các bụi tre gai rừng màu vàng sẩm. Đang đi cả đoàn phải ngồi thụp xuống, ô kìa, phía trước mặt, một bầy nai lông xám, chừng 8 con đang cúi đầu xuống uống nước hố bom, có một con nai đực có gạc to đứng canh chừng. Đừng bắn, đừng bắn, địch nghe tiếng súng M16 sẽ bao vây và chúng ta khó thoát. Cả đoàn nghe lời tôi, mặc dù ai cũng đói vì đã đi 5 ngày rồi. Đàn nai đánh hơi, thấy động, thoáng một cái đã biến nhanh vào rừng. Chúng tôi lấy bi đông ra lấy nước, sau khi bụm tay lấy nước rửa mặt và uống thật no. Tôi cảm thấy cũng không xong vì đói lâu ngày chỉ nên uống vài ngụm. Tiếp tục đi, độ nửa giờ sau, chúng tôi gặp một cái chòi che đậy bằng cành cây lá rừng.

    Chắc là địch di chuyển nhanh về Nha Trang nên bỏ trống. Dưới nền đất đào sâu đủ cho 3 người núp, chúng tôi gom được nhiều lương khô, là các bánh cơm và các thẻ đường vàng bọc ngoài giấy in đầy chữ tàu. Bây giờ, đoàn gặp phải một cái hào nước không sâu nhưng chạy dài về hướng Đông. Thôi đành phải lội, nước ngập tới ngực, súng phải kê cao khỏi đầu, đoàn lội hàng dọc, vén lau sậy mà đi.


    Vừa lên bờ, chúng tôi chạm trán 2 cán binh địch với 2 súng AK 47 chỉa thẳng vào và bắt tất cả chúng tôi buông súng. Gần đó có một ngôi chùa, chúng tôi bị 2 tên cán binh này dẫn độ về đó. Đến nơi chúng bắt chúng tôi ngồi chung một chổ ngoài hiên chùa. Chúng gom hết súng và lựu đạn của chúng tôi để một chỗ xa hơn trong chùa, xong cả 2 đứa bình tĩnh đi chiên cá chờ đơn vị bộ đội của chúng sắp về ăn cơm chiều. Chúng gác 2 cây súng AK gần bên chảo dầu đang sôi sùng sục thơm nức mùi cá chiên chừng 5 con vừa bắt ở dưới hào.

    – Hành động ngay. Hành động ngay. Th.Úy H. và Tr. Sĩ Q. bàn chuyện cướp súng và hạ 2 tên này. Kế hoạch được thi hành ngay trong chớp nhoáng, 2 tên ngã quỵ vì đòn hội đồng với que củi tạ. Chúng tôi gom hết cá chiên vào 2 nón cối, quơ luôn 2 súng AK, dép râu cùng dây nịt bằng da nâu. Toàn là chiến lợi phẩm rất hữu dụng sau này trên đuờng vượt thoát gian nan. Thật nhanh và thật gọn, 7 người chúng tôi chạy nhanh ra khỏi chùa để tránh địch trở về biết được và truy lùng.

    Trời đã về chiều, ống cống thông thủy gần quốc lộ hiện ra cứu chúng tôi. Cả đoàn chui ngay vào và chạy thật lẹ trong đường cống có đường kính cao hơn đầu người. Đường tối om om, chân tôi đạp nước cống bì bõm, mồ hôi nhể nhại, người nóng, tim đập thình thịch. Ra khỏi đoạn đường ống cống là khoảng đất trồng bắp của dân quê vắng ngắt, chúng tôi dừng lại, xúm nhau bốc cá chiên còn nóng và ăn vội vàng. Thật tuyệt vời làm sao! Đói quá nên tôi chưa kịp nhai đã nuốt, may mà không bị hóc xương cá, hay là đã nuốt luôn xương cá nhỏ rồi chăng?! A. Chãy còn đi vào rẩy bẻ trộm bắp non được vài trái, xong cả đoàn chạy bang vào lùm cây trước mặt, thì trời đã tối hẳn, bỏ lại sau lưng tiếng la của dân làng và tiếng chó sủa truy đuổi. Lại một đêm ngủ trong rừng lá thấp, chúng tôi lấy Iodine bỏ vào bi đông nước để lắng chết mấy con đỉa nhỏ, uống ngon lành, chia phiên gác xong, tôi ngủ thiếp đi.

    Ngày 7 (3/4/1975): Khi mặt trời đã lên cao, chúng tôi tiếp tục đi về hướng Đông do địa bàn chỉ hướng. Khi qua một bụi tre cao có hai con chim nhỏ như chim cu, cứ bay trên đầu chúng tôi, một con kêu “te te”, con kia kêu “hoạch hoạch”, ai nuôi hay chim rừng? Chúng tôi sợ bị lộ nên cứ chạy thật nhanh để rút vào rừng cây trước mặt. Đến nơi, vừa lăng xuống đất nằm để thở, tôi nhớ lại chuyện Tấm Cám mà mỉm cười một mình “Te Te hoành hoạch, giặt áo chồng tao, phải giặt cho sạch, đừng phơi hàng rào, rách áo chồng tao” Đường đi bây giờ là con đường quanh co và xuống dốc, không còn những cây to và gai rừng cản trở nữa, nhưng vượt qua những khoảng trống thật không phải dễ.

    Để tránh địch thấy và bao vây bắt trọn, chúng tôi ngụy trang, người cắm đầy cành lá cây rừng địa phương. Bảy bụi cây người di chuyễn chậm qua các khoảng trống. Đến chân một gò cao, ô kìa có cây cam rừng nặng chĩu trái chín xanh xanh vàng vàng. Thế là chúng tôi xúm nhau rung gốc cây, thu được vài chục trái cam chín rụng xuống. Thôi rồi! nước cam đắng như nước trái khổ qua! Đàng kia có một cái mương nước đã khô nhưng kẻ đá chặn có nước nhỏ giọt, chúng tôi hứng được nửa bi đông.

    Đến chiều chúng tôi lọt vào vòng đai của Trung Tâm Huấn Luyện Dục Mỹ (Nha Trang). Tối hôm đó chúng tôi yên lặng nằm nghỉ bên mấy gò mả, nhưng lại thức giấc vì tiếng thở phì phò của vài con bò bị chủ chạy giặc bỏ lại. Tr.Sĩ Q. và ba lính Dù thịt con bò nhỏ, cắt một cái đùi bỏ vào ba lô và lấy lá gan còn nóng hổi chia cả đoàn cùng ăn sống cho đở đói. Gan bò sống, tanh, còn ấm, khó nuốt, nhưng đói quá, tôi cũng nuốt được. Bây gờ, bệnh kiết lỵ của tôi đã bớt nhiều, người gầy ốm và râu cũng mọc dài lưa thưa. Nhờ trời, hai chân tôi vẫn còn đi khỏe lắm.

    Ngày 8 (4/4/1975): Trời gần sáng, chúng tôi chạy vội lên một ngọn đồi, lên cao, ngắm nhìn biển đã hiện ra về phía Đông. Xa xa có một hòn đảo nhỏ, bản đồ hành quân ghi là Hòn Bà Lớn. Mặc kệ là Bà Lớn hay Bà Nhỏ, bằng mọi cách cả đoàn phải bơi qua bên đó vì Nha Trang sắp mất hay đã mất. Qua hòn đó rồi coi có chiến hạm Hải Quân mình vớt hay không? Cả đêm nằm suy nghĩ liên miên, tôi khấn vái liên tục mỗi khi thấy một sao sa trên bầu trời đầy sao, rồi khấn nữa khi nhìn xuống quốc lộ xa xa, cả một đoàn xe Molotova chở đầy lính địch ngụy trang lá rừng tiến về hướng Nha Trang.

    Ngày 9 (5/4/1975): Hừng sáng, cả đoàn chạy như điên xuống mé nước. Thật là kỳ diệu, nói ra không ai chịu tin, một chiếc ghe nhỏ cắm sào ở mé nước trong bờ lau sậy và rong biển. Tôi định gọi chủ ghe xin quá giang nhưng ghe vắng chủ. A. Chãy nhảy vào khoang ghe và kêu to “có cá kho. Có cá kho, Bác Sĩ ơi!” Thế là cả đoàn lại được một bửa tiệc Trời cho. Lập tức, 7 người chúng tôi leo lên ghe, nhưng A. Chãy xin ở lại về với bà Dì còn kẹt ở Nha Trang, nên cậu ta khóc từ giã, cởi hết quân phục bỏ lại, chỉ mặc áo thun quần đùi, đi chân không, chạy về phía cây số 4 trên quốc lộ hướng về Nha Trang.

    Sáu người còn lại, chia nhau 2 tay chèo, 2 tay gở ván làm chèo phụ, còn 2 người thì dùng 2 nón cối tát nước trong ghe để ghe nhẹ đi nhanh. Chúng tôi hì hục, vội vã chèo ghe qua Hòn Bà Lớn. Nắng lên cao, sóng biển không to, nhưng gió thì mạnh và lạnh. Ghe lại bị lổ mọt, hở, nước biển tràn vô. Phải chèo gấp, nước vô ghe sẽ chìm giữa biển! Độ 30 phút sau, ghe cập bến cát và đá ngầm, chúng tôi ướt át hoàn toàn, đem chiến lợi phẩm vào gấp và núp trong một góc đá để nghe ngóng tình hình, chờ hết mệt mới tính tiếp. Đến 10 giờ sáng, cả đoàn họp lại bàn chuyện. Nếu không thoát khỏi đây, thì chắc 6 người sẽ là tù binh của địch.

    Ngoài khơi, tuyệt không thấy bóng một chiếc tàu của Hải Quân Việt Nam mình. Mọi người buồn và suy nghĩ lung lắm. Tôi nghĩ không lẽ mình sẽ chết ở đây?! Ý nghĩ loé lên, đề nghị với Th.Úy H vàTr. Sĩ Q., tôi nói “Đã nằm trong lòng địch, tại sao mình không ăn mặc và nói năng giả làm địch, Th.Úy, Tr. Sĩ và tôi đội nón cối, mang AK và đi dép râu, còn 3 lính Dù thì trói lại, cởi giày làm như tù binh ngụy bị ta bắt được giải về Nam điều tra gì đó theo lệnh cấp chỉ huy. Tôi có cây súng lục nhỏ đi đầu làm chỉ huy, kế đó là Th. Úy, còn Tr. Sĩ cầm AK đi đoạn hậu canh 3 tù binh giả đi ở giữa. Tất cả quần áo Dù và giày, súng M16, nón sắt coi như chiến lợi phẩm, mình tọng vào cái bao tải lớn của bộ đội này rồi Tr. Sĩ mang đi sau chót. Phải đóng kịch cho thật khéo, lộ ra là chết cả đám”. Cả đoàn đồng ý làm theo kế hoạch của tôi, mọi sự phó cho Trời Phật giúp đở.

    Hóa trang xong, cả đoàn theo thứ tự di chuyển về phía Nam trên Hòn Bà Lớn. Chúng tôi gặp một nhà sư tuổi chạc trung niên, mặc áo vàng, trong cái chòi nung than cây bán vào đất liền đang làm việc đốt than. Nhà sư thấy chúng tôi, đứng lên, từ tốn hỏi “quý vị có cần bần tăng giúp gì không?” Tôi trình bày là tiến quân vào Nam, bắt được 3 tên ngụy hết sức nguy hiểm, lệng Đảng chỉ thị dẫn độ chúng vào Nam, ở đây có phương tiện đường thủy gì không.

    Sư bèn chỉ về cuối đảo này, có dân quân và dân làng chài có thể giúp đở cho các đồng chí. Chúng tôi cảm ơn nhà sư, và tiếp tục đi thong thả về phía cuối đảo mà trong lòng vô cùng căng thẳng, chưa biết lành dữ ra sao.

    Lúc đó là 6 giờ chiều, trời nhá nhem tối. Đang đi, chúng tôi bị rất nhiều dân quân bao vây, chúng nổ AK đùng đùng chỉ thiên bắt chúng tôi dừng lại. Xong chúng tiến lại gần, tên chỉ huy trông có vẻ nhà quê, hắn hỏi, tôi trả lời y như khi gặp Sư làm than. Chúng tạm tin và dẫn chúng tôi về làng chài mà không hỏi giấy tờ gì cả. Độ 1 giờ sau, chúng thắp đèn dầu và mời tôi ngồi, rồi rót trà mời uống và nói chuyện. Đến 10 giờ đêm, tên chỉ huy cho mấy dân quân dẫn chúng tôi ra một chiếc ghe chài lớn, trên đó có vợ chồng chủ ghe và 1 em bé còn ẳm trong tay, còn có 1 cậu dân làng theo phụ. Đám dân quân chào tạm biệt chúng tôi y như chúng chào các đồng chí của chúng.

    Ghe bắt đầu nhổ neo, chúng tôi thở phào thoát nạn. Máy ghe chạy tạch tạch thật mau, Nhưng Tr. Sĩ Q. vội la lên “Ê! chạy đi đâu? Tính chạy vào nội à?” Nhanh như chớp, Th.Úy H nhảy vào buồng lái, kê súng AK vào ngực chủ ghe bắt hắn lái về Nam theo hướng Sao Nam Tào đang loé sáng trên nền trời đêm. Cậu phụ ghe thấy mưu gian bị lộ, nhảy ùm xuống biển thoát thân Vợ chồng chủ ghe khai thật, là dân quân bắt họ lái ghe vào đất liền (nội) để giao cho bộ đội lập công. Bây giờ xin các ông tha cho, tụi tôi không dám về lại Hòn nữa, mà theo các ông về Nam, nhưng ghe sắp cạn dầu, không đủ dầu để về đến Vũng Tàu.

    Sẳn ngụy trang là địch, chúng tôi phải liều một phen nữa. Th.Úy H. đứng đầu ghe, Tr. Sĩ Q. ghìm súng AK ở buồng lái canh chừng tên chủ ghe đang cầm tay lái. Ở phía ngược lại đi về hướng Nha Trang có một ghe chài lớn mang cờ đỏ sao vàng đang lướt tới, đầu ghe có một cán binh địch cầm AK. Th.Úy H. cho ghe chậm lại. Tr. Sĩ Q. hét tên chủ ghe hãm tốc. Ghe bên kia, chưa biết chuyện gì, cũng hãm tốc. Khi 2 ghe cập lại, Th. Úy H. xưng đồng chí, nhờ giúp dầu để về đến Vũng Tàu giao 3 tên ngụy nguy hiểm này theo lệnh đảng. Lập tức 4 thùng dầu được chuyển qua ghe chúng tôi. Nhờ vậy chúng tôi đi suốt đêm, hướng về Nam.

    Ngày 10 (6/4/1975): Dọc đường biển, ghe chạy ngoài khơi, đất liền khó thấy. Nhưng Th. Úy H. canh địa bàn đúng hướng, im re không nói gì, tôi cũng yên bụng, nhưng lại ói vì say sóng. Uống thuốc vào thì bụng tôi lại yên. Ghe có ghé vào một đảo nhỏ để mua thêm dầu, chúng tôi kè sát vợ chồng chủ ghe vì sợ họ trốn mất. Cả đoàn bây giờ ăn mặc quân phục Dù lại như cũ. Chúng tôi cám ơn lẫn nhau cho màn đóng kịch gạt địch quá phiêu lưu mạo hiểm như thế này. Binh pháp Tôn Tữ chắc cũng có câu “phải đặt mình vào đường chết mới mong tìm ra lối sống”.

    Ngày 11 (7/4/1975): Phải mất thêm một ngày ghe chúng tôi mới cập bến Bãi Trước (Bãi Tầm Dương) của Vũng Tàu. Sống thật rồi! Sống thật rồi! Cả đoàn hân hoan nhìn rất nhiều ghe chạy giặc đang bỏ neo, nhấp nhô lên xuống theo sóng biển vỗ vào bờ đá Bãi Trước. Lúc đó là 11 giờ đêm. 12 giờ đêm là giờ giới nghiêm. Sáu anh em chúng tôi từ giả và cám ơn vợ chồng chủ ghe, sau khi tôi tặng 1 số tiền vài ngàn gọi là đền ơn.

    Chúng tôi phóng lẹ lên bờ, đi tìm một cái quán gần đó, gọi chủ quán nấu cho 1 nồi canh chua cá bông lau với chục trái ớt dầm nước mắm thật cay. Chủ quán chịu chơi còn mang ra 3 gói thuốc Salem và hộp quẹt. Chưa bao giờ anh em chúng tôi vui mừng ăn cơm canh chua và uống bia, hút thuốc đầy tinh thần Mũ Đỏ sống chết có nhau, tương thân tương ái đến như thế này. Giờ giới nghiêm đã tới. Chủ quán đóng cửa. Đường phố vắng tanh. Anh em chúng tôi lúc này vô gia cư nên đành nằm ngoài sân trước quán mà ngủ.

    Ngày 12 (8/4/1975): Trời đã hừng đông, người qua lại thật tấp nập, lộn xộn, ngơ ngác. Loạn lạc có khác. Sáu anh em Nhảy Dù ra đón xe đò về SàiGòn. Mọi người nhìn chúng tôi với ánh mắt ngạc nhiên, chắc có một chút thán phục và thương hại vì Th. Úy H. luôn miệng nói “chúng tôi về từ mặt trận Khánh Dương và đây là Bác Sĩ Liêm, người về từ cõi chết”. Xe đò dừng lại, phụ xế mời anh em chúng tôi lên xe đang đông nghẹt khách, cho ngồi ghế “súp” vì xe hết chổ, không tính tiền vì nể lính Nhảy Dù.

    Xe về đến Ngã Tư Hàng Xanh thì Quân Cảnh chận lại để xét. Chúng tôi ngồi yên. Quân Cảnh 204 (là Quân Cảnh của Sư Đoàn Nhảy Dù) lên xe và kêu “Ồ! Bác Sĩ Liêm còn sống à! Chào Bác Sĩ, cả Sư Đoàn đều nói Bác Sĩ đã chết. Mời BS và Th.Úy, Tr.Sĩ và 3 anh em đây lên xe Jeep về thẳng Bộ Tư Lệnh. Các nón cối, súng AK, dây nịt, dép râu của địch, tụi tôi xin phép mang về Bộ Tư Lệnh luôn”.

    Tôi xin phép đi riêng về nhà để tắm rửa, cạo râu và mặc quân phục chỉnh tề, rồi tôi sẽ vào trình diện diện Thiếu Tướng Lê Quang Lưỡng và Trung Tá Bùi Quyền sau.

    Vừa về đến nhà, chưa kịp hàn huyên với gia đình thì “Két” một cái, xe Jeep của Tiểu Đoàn 5 ND do đích thân Trung Tá Bùi Quyền lái, đến nhà đón tôi về hậu cứ củaTĐ là trại Ngô Xuân Soạn ở Tam Hiệp, Biên Hòa, mổ một con bò khao quân và mừng Bác Sĩ Liêm trở về bình an vô sự. Nhảy Dù Cố Gắng.

    Mũ Đỏ BS. Nguyễn Thanh Liêm
    Cựu Y Sĩ Trưởng/ Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù

    nguồn:

  4. The Following 4 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    BaNai (04-21-2018), khongquan2 (04-15-2018), nguyenphuong (04-14-2018), Tinh Hoai Huong (04-14-2018)

  5. #255
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,205
    Thanks: 7,971
    Thanked 5,332 Times in 1,180 Posts

    Button Xanh Tiếng Còi Xe Lửa

    Tiếng Còi Xe Lửa
    Đoàn Xuân Thu

    Không phải chạy được ra tới nước Úc nầy đây tui mới làm thân lưu lạc, mà ngay hồi trong nước là tui đã lưu lạc triền miên rồi.

    Vì lẽ thân phụ tôi làm công chức ngành Bưu Ðiện. Cứ bổ đồng hai năm lên một trật, là đổi đi từ Ty Bưu Ðiện nầy tới Ty Bưu Ðiện khác.

    Ở một chỗ mới vừa hơi âm ấm, là cả gia đình phải bồng bế nhau đi thì không gọi là lưu lạc sao được hè?

    Lưu lạc rày đây mai đó tưởng đã quen. Ngờ đâu giờ đây trôi nổi tận quê người. Hơn hai mấy năm rồi chưa trở lại dù lòng vẫn ngóng trông về quê cũ.

    Ðêm nay, rót tràn ly rượu đỏ, trước bàn phím vừa gõ cóc cóc viết bài vừa nghe ca sĩ Hoàng Oanh ngâm thơ: “Ôi cố hương xa nửa địa cầu… Nghìn trùng kỷ niệm vẫn theo nhau… Ðêm nay ta đốt sầu lưu lạc… Trong khói men nồng hạnh phúc xưa …”

    Tui lim dim thả hồn về ngày xưa quê cũ…Tui nghe tiếng còi xe lửa còn đọng lại ở đâu đây.

    oooOooo

    Cuối thế kỷ 19, ông bà mình muốn đi đây đi đó trên bờ, gần thì cuốc bộ, xa hơn một chút thì đi xe bò, xe ngựa.

    Xuống sông gần thì đi xuồng ba lá, xa hơn một chút thì ghe tam bản. Xa hơn nữa thì ghe bầu.

    Rồi Tây tới, nền văn minh cơ khí ăn đứt nền văn minh nông nghiệp, (con trâu đi trước, cái cày theo sau) vì: “Chớp nhoáng thẳng bon dây thép kéo/ Mây tuôn đen kịt khói tàu bay.”

    Khói tàu bay là vì từ thuyền chạy bằng buồm giờ chạy bằng máy hơi nước nên thực dân Anh, Pháp, Tây Ban Nha… xua quân đi khắp thế giới chiếm nước người ta để làm thuộc địa, để cướp tài nguyên. Tài nguyên là chiến lợi phẩm phải được chuyên chở càng nhanh càng tốt. Vậy là hệ thống giao thông, đường bộ và đường hỏa xa ra đời.

    Giữa năm 1881, thực dân tính đem vật liệu từ Pháp sang để làm đường rầy xe lửa từ Sài Gòn đến Vĩnh Long, sau đó sẽ nối với Nam Vang, thủ đô của Campuchia (cũng là thuộc địa của Tây). Dự chi khoảng 12 triệu Phật lăng (franc).

    Sếp công trình là kỹ sư công chánh, sĩ quan Công binh của Pháp. Cu li là người Việt bản xứ lên tới 11 ngàn người.

    Ðường rầy chạy qua vùng đất yếu, vốn là phù sa của dòng Cửu Long bồi đắp, nên phải tới ngày 20 tháng Bảy 1885, đường xe lửa Sài Gòn-Mỹ Tho dài 71 cây số, khổ đường rầy bề ngang 1m mới xong.

    Từ Sài Gòn tới Mỹ Tho sông rạch chằng chịt chắn ngang. Do vậy, hãng Eiffel cùng lúc chế tạo nên 2 cây cầu gồm cầu sắt bắc qua sông Vàm Cỏ Ðông ở Bến Lức dài 550m và bắc qua sông Vàm Cỏ Tây ở Tân An dài 133m để cho xe lửa qua sông.

    Thế nhưng 4 năm sau, đường rầy làm xong mà cầu vẫn chưa có. Vậy là các toa tàu đã được tạm tách rời để đưa lên phà qua sông; sau đó lại được nối vào rồi cho chạy tiếp.

    Mãi đến tháng Năm, năm 1886, sau khi 2 cầu sắt được hoàn thành thì xe lửa có thể đi một mạch từ Sài Gòn đến Mỹ Tho.

    Từ Sài Gòn về Mỹ Tho đường rầy xe lửa chủ yếu nằm phía trái, thỉnh thoảng có đoạn nằm bên phải của quốc lộ 4.

    Rồi đôi khi từ bên trái quốc lộ quẹo sang phải là phải cắt ngang đường. Xe mô tô chạy không cẩn thận, đang trên đường nhựa bon bon bỗng lên trên hai đường rầy trơn lùi, là văng xuống sông Bảo Ðịnh như đã từng xảy ra ở Cua Ðạo Ngạn gần nhà tui ở, trước khi vào tới Mỹ Tho.

    Rồi cũng vào năm 1963, lúc học đệ thất trường Petrus Ký, mỗi chiều tan học được anh chở sau “bọt ba ga” xe đạp.

    Qua đoạn đường rầy từ đường Phạm Viết Chánh vào bùng binh Ngã Bảy Cộng Hòa, bao giờ anh cũng kêu: “Ê xuống đi mậy!” Rồi ảnh dắt xe qua đường rầy rồi mới leo lên yên chạy tiếp.

    Vì sợ đường rầy sau mưa trơn trợt làm xe ngã thì thằng nhỏ, tức là tui té u đầu, là về bị má quánh với cái tội hổng thương em.

    Hu hu! Tội nghiệp cho thằng anh của tui quá xá!

    oooOooo

    Chuyến xe lửa đầu tiên xuất phát từ ga Sài Gòn nằm ở đầu đường Lê Lai gần chợ Bến Thành, theo các đường: Cống Quỳnh – Phạm Viết Chánh – Hùng Vương – Hồng Bàng – Kinh Dương Vương – Ngã ba An Lạc rồi ra Quốc lộ 4.

    Trên Quốc lộ 4, xe lửa dừng lại ở các ga, bổ đồng cách nhau. 4, 5 cây số như: Bình Ðiền, Bình Chánh, Gò Ðen, Bến Lức, Cầu Voi, Tân An, Tân Hương, Tân Hiệp, Trung Lương và kết thúc tại ga Mỹ Tho.

    Ga Mỹ Tho là ga chót ở cuối đường Gia Long, đầu đường Trưng Trắc, gần vườn hoa Lạc Hồng, có cây da cũ bến đò xưa và một hàng dương dọc theo sông Tiền.
    Hồi nhỏ được ba má dắt đi Sài Gòn vô Sở Thú coi khỉ có giống tui hông.Về lại Mỹ Tho, lúc đó đã có autorail, tối tân hơn, tiếng còi kêu “pin, pin”

    Chớ hồi xưa nghe má tui kể lại khi xe lửa chạy bằng hơi nước thì tiếng còi nó kêu “hoét, hoét”!.

    Từ Mỹ Tho lên, sản vật miệt vườn như mận hồng đào Trung Lương, dừa Bến Tre, chôm chôm mít, mãng cầu, sầu riêng miệt Vĩnh Long hay cá mắm từ miền Tây đi bằng tàu tới Mỹ Tho cũng lên xe lửa rồi đi tiếp về Sài Gòn, Biên Hòa.

    Mới đầu nhà thầu tư nhân Joret đã thuê tàu biển chở được ba đầu máy 14 toa hành khách và 70 toa hàng. Sau làm ăn khá quá, lời khẳm chở qua thêm hai cái nữa. Ngày chạy lên xuống 5 chuyến cả thảy.

    Năm 1896, tiền lời là 3.22 triệu francs, đến năm 1912, còn cao hơn đến 4 triệu francs nhờ hành khách lên đến vài ngàn người mỗi ngày.

    Hình ảnh chiếc xe lửa dài ngoằng chạy “xì khói” ầm ầm trên 2 thanh sắt đã là “kỳ quan” đối với người dân miệt ruộng, miệt vườn.

    Cũng nhờ có tuyến đường sắt này mà Mỹ Tho trội hơn so với các nơi khác ở Miền Tây, kể cả Cần Thơ.


    Bảo Huân

    oooOooo

    Thực dân Pháp đứa nào làm lớn cũng khoái nịnh và được nịnh như Mông xừ Charles Le Myre de Vilers (1833 – 1918) làm Thống đốc Nam Kỳ từ 1899 tới năm 1882.

    Ông Tây mũi lõ nầy là người chấp thuận dự án xây đường sắt Sài Gòn Mỹ Tho vào năm 1881 nên được đặt tên cho một trong những đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước đầu tiên.

    Học giả Vương Hồng Sển, người Sóc Trăng chắc đã từng đi tàu khách tới Mỹ Tho rồi lên xe lửa tới Sài Gòn đèn ngọn xanh ngọn đỏ, chọc quê rằng: “Mỗi lần chạy, đầu xe lửa Le Myre de Villers vừa ho vừa khạc ra khói, vừa thét ra lửa, mà có khi không đủ trớn lên dốc cầu Tân An và cầu Bến Lức, trèo lên tụt xuống, lên dốc không nổi… trối kể, xe cặp bến cũng còi, cũng “xả hơi” ồn ào oai vệ khiếp”.

    Không có gì hài hước, xỏ xiên một cách thâm trầm khi so sánh hình ảnh một đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước với một tay Thực dân hạng nặng làm tới chức Thống đốc Nam Kỳ như vậy.

    oooOooo

    Nhưng đến thập kỷ 50 của thế kỷ 20, xe hơi phát triển cùng hệ thống đường bộ Sài Gòn – Mỹ Tho được đầu tư gần như xa lộ nên người ta chuyển sang đi đường bộ. Có những ngày cả đoàn tàu chỉ có vài chục người.

    Xe hàng xe đò chạy nhanh hơn nên tiện lợi hơn cho hàng hóa và hành khách không phải chờ chực đến ga. Phần hỏa xa cũng thiếu tiền đầu tư thêm. Hậu quả đương nhiên là sập tiệm. Chuyến xe lửa cuối cùng từ Mỹ Tho lên Sài Gòn vào ngày 30 tháng Sáu năm 1958.

    Ðường rầy xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho hưởng thọ được 73 năm rồi vĩnh biệt cõi đời trong sự thương tiếc của biết bao người dân xứ Mỹ (Tho).

    Lúc đó tui mới 7 tuổi, học lớp Tư (tức lớp Hai bây giờ) từ trường tiểu học Trung Anh đi bộ dọc theo đường sắt về nhà mà mãi mãi không còn được nghe tiếng còi tàu, tiếng ‘síp lê’ như con quái vật buồn chơi huýt gió nên tui cũng buồn thôi hết biết.

    Có những điều trong tâm tưởng mình bao giờ cũng nghĩ là chắc chắn như tình em xứ Mỹ (Tho) vì dại khờ nghe em thề bán mạng rằng “Chừng nào xe lửa Mỹ bung vành; Tàu Tây kia liệt máy em mới đành xa anh!”

    Nào ngờ thời thế đổi thay, vành xe lửa bằng thép cứng ngắc mà còn bung thì lời thề hẹn của em xứ Mỹ (Tho) cũng banh xà rông, thì ngu sao mà sầu chi hở bạn?


    DXT – Melbourne
    nguồn:
    http://baotreonline.com/tieng-coi-xe-lua/

  6. The Following 4 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    khongquan2 (04-25-2018), Nguyen Huu Thien (05-08-2018), nguyenphuong (05-08-2018), Tinh Hoai Huong (05-18-2018)

  7. #256
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,205
    Thanks: 7,971
    Thanked 5,332 Times in 1,180 Posts

    Button Xanh Viết Tặng Cho Người Nằm Xuống Ngày 30/4/1975

    Viết Tặng Cho Người Nằm Xuống Ngày 30/4/1975
    Nguyễn Thanh Tâm

    Để kỷ niệm 30 năm ngày Quốc Hận, tôi xin ghi lại đây cái chết hào hùng một người bạn cũng là một cộng sự viên thân tín, một nhân viên đắc lực đã từ chối ra đi di tản để ở lại tìm cái chết chứ không đầu hàng Cộng Sản. Tôi ghi lại chuyện này cũng để tự nhận mình là kẻ không xứng đáng, tuy là cấp chỉ huy trực tiếp nhưng không bằng một thuộc cấp đã hy sinh ở lại, trong khi tôi tìm đường để thoát thân với gia đình, bỏ lại người bạn thân tín và bao nhiêu thuộc hạ đã cùng tôi sát cánh bên nhau hằng bao nhiêu năm trời.

    Bây giờ sau 30 mươi năm, tôi kể lại sự việc này để hy vọng linh hồn người bạn của tôi nếu có linh thiêng xin chấp nhận lời tạ lổi của tôi. Cũng trong bài này , tôi xin trả lời câu hỏi mà những nhà sưu tập những câu chuyện về ngày 30 tháng 4 năm 1975, đã hỏi: ngày 30 -4-75 năm đó bạn đang làm gì và ở đâu? Sau đây tôi xin kể lại những gì đã xảy ra sáng ngày 30/4/75 tại Cần Thơ và đã đưa đến cái chết của Thiếu Tá Lương Bông, một phụ tá rất đắc lực của tôi.


    Xin mời bạn đọc theo dõi câu chuyện.

    Thiếu Tá Lương Bông làm Sĩ Quan Phụ Tá cho tôi khi tôi phụ trách cơ quan ANQĐ ở tỉnh Sa-Đéc. Sa-Đéc là một tỉnh nhỏ gồm có 4 quận, trước kia là Tỉnh, trong thời Đệ Nhất Cộng Hoà trở thành Quận trực thuộc Tỉnh Vĩnh Long, sau thời Đệ Nhị Cộng Hoà được trở lại thành Tỉnh như cũ, tuy nhiên bên phía VC thì họ vẫn coi Sa-Đéc là một huyện của Tỉnh Vĩnh Long, trong thời gian này tình hình tại Tỉnh Sa-Đéc tương đối có an ninh, không có những trận đánh lớn, tuy vẫn còn những trận nhỏ nhắm vào các đồn bót xa xôi hẻo lánh, đặc biệt là Quận Đức Tôn (ngày xưa gọi là Cái Tàu Thượng). VC tập trung nỗ lực vào công tác Binh Địch Vận và nội tuyến để phá hoại hàng ngũ xã ấp của ta. Trong thời gian này Thiếu Tá Bông phụ giúp tôi trong công tác ngăn chận và loại trừ các phần tử VC xâm nhập vào hàng ngũ ta rất là hữu hiệu.

    Vào năm 1973, tôi được lệnh thuyên chuyển về Tỉnh Phong Dinh/Cần Thơ, đang ở một tỉnh tương đối nhỏ và có an ninh, nay về một Tỉnh lớn gồm 7 Quận và 2 Quận của Thị Xã Châu Thành mà Quận nào cũng có vấn đề. Hơn nữa, nơi đây còn có Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 4, Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 4, Phi Trường Trà Nóc, Phi Trường Cần Thơ, Bộ Chỉ Huy 4 Tiếp Vận và hàng chục đơn vị Quân Đội trú đóng rải rác khắp trong Tỉnh lỵ, tuy các đơn vị này đều có Phòng An Ninh hoặc Sĩ Quan AN đơn vị phụ trách về an ninh nội bộ, tuy nhiên về mặt an ninh lãnh thổ thì cơ quan chúng tôi phải phụ trách với sự trợ giúp của Sở 4 An Ninh. Về phần VC thì họ tập trung mọi nỗ lực đánh phá về quân sự, một mặt họ tận dụng mọi cơ hội, bằng mọi cách, dưới mọi hình thức để đưa người của họ xâm nhập làm lũng đoạn hàng ngũ các cơ quan đầu não của ta, một nơi được mệnh danh là Thủ Đô Miền Tây. Nói về các cán bộ Tình Báo CS, theo tôi nhận xét thì những cán bộ cấp dưới thì có vẻ rất mù mờ, khờ khạo nhưng những cấp trên của chúng thì rất tinh khôn, quỹ quyệt vì một số họ có sang học về tình báo ở các nước CS như Liên Sô, Đông Đức chẳng hạn, cũng như chúng tôi được gửi đi du học ở Okinawa (Nhật Bản), Mã Lai hay ở Hoa Kỳ vậy.

    Đảm nhận trọng trách rất nặng nề này, tôi thấy cần phải có một phụ tá đắc lực để đương đầu với địch, cho nên tôi đề nghị và được thượng cấp chấp thuận cho thuyên chuyển Thiếu Tá Lương Bông về với tôi, vì Thiếu Tá Bông rất có năng khiếu về Tình Báo, Phản Tình Báo như đã chứng tỏ lúc còn ở Sa Đéc. TT Bông quả thật xứng đáng cho tôi tin tưởng và khi về với tôi ở Tỉnh Phong Dinh/Cần Thơ đã chứng tỏ khả năng hoạt động chuyên môn, anh ta đã giúp tôi tiêu diệt và phá vỡ rất nhiều vụ binh vận, đặc công, nội tuyến rất ngoạn mục, bắt giữ nhiều cán bộ địch xâm nhập hàng ngũ ta và đặc biệt anh đã tổ chức đưa người của ta xâm nhập vào hàng ngũ địch chẳng những ở cấp Tỉnh Ủy mà còn lên cả BCH Miền của chúng để thu lượm tin tức. Những điệp viên này cung cấp cho ta rất nhiều tin tức rất có giá trị, đến nỗi cơ quan Tình Báo Quốc Phòng cũng như Tình Báo của Toà Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Cần Thơ phải đến nhờ tôi phối hợp và chia sẽ những tin tức quý báu cho họ. Nhân tiện đây, tôi cũng xin nói thêm về cái ngành rất là bạc bẽo của chúng tôi, chúng tôi âm thầm chiến đấu với địch, tuy không “dàn binh bố trận”như các đơn vị chiến đấu, nhưng chúng tôi đã dùng trí não để đối phó với địch, nếu thành công thì cũng chẳng được nhiều người biết nhưng để thất bại thì lãnh đủ.

    Tôi còn nhớ hồi ở Sa Đéc, một buổi sáng sớm, Đại Tá Tỉnh Trưởng kêu tôi tháp tùng với Ông đi vào thăm một đồn ở Quận Đức Tôn mà đêm qua bị VC tấn công nặng nề, khi trực thăng đáp xuống sân đồn, một cảnh tượng vô cùng đau thương ở trước mặt chúng tôi, tất cả một Trung Đội hơn 30 người trú đóng trong đồn đều bị VC tiêu diệt, xác người nằm la liệt mọi nơi, chỉ duy nhất có một người còn sống sót, nhưng người đó lại là nội tuyến cho địch, lợi dụng lúc canh gác đêm khuya đã mở cửa đồn cho VC vào tàn sát tất cả đồng đội rồi đi theo họ luôn. Vụ này tôi bị “xát xà phòng”nặng nề, mặc dù trước đây tôi đã khám phá rất nhiều vụ tương tợ nhưng đâu có ai biết đến. Thành ra, nếu ngăn chặn được sự việc đừng để xảy ra thì ít người biết đến, nhưng nếu vì lý do gì đó mà không ngăn chặn được thì bị trách cứ là không chu toàn nhiệm vụ.

    Sáng ngày 30/4/75, như thường lệ, tôi đến Tiểu Khu để họp mỗi buổi sáng, khi tôi đến phòng họp thì thấy các sĩ quan Tham Mưu của Tiểu Khu, thay vì vào ngồi trong phòng họp như thường lệ để chờ Đại Tá, Tiểu Khu Trưởng đến chủ tọa thì họ lại tụm năm, tụm ba ở ngoài hành lang hoặc rải rác trong phòng họp để xì xào bàn tán mà tuy tôi không nghe họ bàn luận về việc gì nhưng tôi cũng đoán được là họ đang bàn tán về một sự kiện quan trọng vừa xảy ra tối hôm trước. Sau khi tôi đến bắt tay chào hỏi một số người, có người hỏi tôi: Sao nghe anh đi đêm hôm qua rồi? Tôi chỉ cười và đáp lại: Chứ anh đang bắt tay ai đây? Số là 3 giờ sáng đêm 29 rạng ngày 30/4/75, tôi được tin là Bộ Chỉ Huy Hải Quân Vùng 4 đã kéo cả lực lượng này ra đi và có cả Chuẩn Tướng Ch.D.Q. là Tham Mưu Trưởng của Quân Đoàn 4 đi theo, đặc biệt lại có tin đồn (hoàn toàn là tin vịt) là trong nhóm người đi theo Hải Quân còn có Đại Tá Tỉnh Trưởng và tôi nữa, do đó mà các Sĩ Quan Tham Mưu Tiểu Khu mới bàn tán như đã nói ở trên. Sau khi họp xong, Đại Tá Tỉnh Trưởng gọi riêng tôi ra gần cột cờ (vì chỗ này không có ai đứng gần) để bàn chuyện và sau khi thảo luận, chúng tôi đồng ý là với tình hình này chắc phải ra đi và chúng tôi cũng dự tính là sẽ ra đi tối hôm đó (lúc này vợ và con của tôi còn ở bên Sa-Đéc). Trong lúc này, Đại Tá Tỉnh Trưởng cũng ngỏ ý là đang có tin đồn ngoài dân chúng là ông ta và tôi đã ra đi trong đêm vừa qua, nên ông ta yêu cầu tôi đích thân lái xe đưa ông đi một vòng thành phố để trước là quan sát tình hình, sau là để trấn an dân chúng là chúng tôi vẫn còn có mặt ở đây. Sau khi đi một vòng thành phố, tôi đưa ông ta đến Tòa Hành Chánh Tỉnh, còn tôi trở về cơ quan. Khi về đến văn phòng thì tôi nhận được 2 cái lệnh:

    1.- Của Đại Tá S. (cấp chỉ huy trực tiếp của tôi trong ngành) yêu cầu tôi kiểm soát lại tất cả các Đơn Vị Trưởng trong thị trấn xem ai còn ở lại và ai đã ra đi .

    2.- Lệnh từ Quân Đoàn gọi tôi đến họp gấp, tôi cũng nói thêm là lúc này chưa có lệnh đầu hàng hay buông súng gì cả.

    Việc thứ nhất tôi giao cho Thiếu Tá Bông thi hành, việc thứ hai tôi lại giao cho Thiếu Tá Th. (một phụ tá đặc biệt khác) đại diện tôi đi họp bên Quân Đoàn, phần tôi cố tìm cách liên lạc với gia đình ở Sa-Đéc để thu xếp qua Cần Thơ cho kịp để ra đi tối hôm đó. Sau đó vì có lệnh đầu hàng, buông súng bất ngờ nên chúng tôi phải thay đổi lịch trình ra đi vào xế trưa ngày 30/4/75 Chúng tôi gồm có: Đại Tá, Tỉnh Trưởng Kiêm Tiểu Khu Trưởng Phong Dinh/Cần Thơ và phần lớn các sĩ quan ở Tiểu Khu, các công chức bên Tòa Hành Chánh, một số sĩ quan ở bên Quân Đoàn 4 và nhiều nữa mà lâu quá rồi tôi không nhớ hết, một số lớn trong nhóm di tản này đều đem được gia đình theo, tất cả chúng tôi đều lên một chiếc ghe đò máy để đi dọc theo sông Hậu Giang hướng ra biển và chi tiết về chuyến ra đi này tôi đã có tường thuật khá đầy đủ trong một bài trước đây có liên quan đến bài viết về ngày cuối cùng của Thiếu Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 4. Trong khi chúng tôi còn lênh đênh trên dòng sông Hậu Giang thì có ai đó trên ghe bắt nghe được đài phát thanh Cần Thơ, đài này có loan tin là tàu của chúng tôi đã bị bắn chìm trên đường di tản rồi. Sau này tôi mới kiểm chứng lại thì được biết sự việc như sau: Số là sau khi chúng tôi rời Cần Thơ thì Thiếu Tuớng, Tư Lệnh Quân Đoàn 4 đề cử Đại Tá Th. làm Tỉnh Trưởng Kiêm Tiểu Khu Trưởng Phong Dinh/Cần Thơ để thay thế Đại Tá D., sau khi nhậm chức, ông này có đưa ra lời kêu gọi gì đó trên đài phát thanh Cần Thơ và cũng trong dịp này, Đài có loan một tin giựt gân (không biết do đâu mà có) là chiếc tàu chở chúng tôi đi trên sông Hậu giang đã bị bắn chìm chết hết, trong đó đã nêu đích danh Đại Tá D. và cá nhân tôi. Tôi cũng xin nói thêm là, sau khi có lệnh buông súng đầu hàng, tôi có tập hợp các nhân viên trong cơ quan lại, lúc này có một số nhân viên đã bỏ đi về với gia đình, tôi cho biết là với tình hình này thì coi như không còn gì nữa, anh em ai về nhà nấy và tùy hoàn cảnh của mỗi người mà quyết định nên ra đi hay ở lại, nếu ai muốn đi thì theo tôi để đi, thật ra trong lúc này tôi cũng chưa biết phải ra đi bằng cách nào vì chúng tôi dự định đến tối hôm đó mới đi nên chưa chuẩn bị kịp ghe tàu gì cả. Tôi có hỏi riêng TT Bông có muốn đi hay không thì anh ta lưỡng lự một hồi rồi trả lời với tôi là với tình trạng này anh chưa biết quyết định ra sao, thôi thì cứ ở lại xem tình thế diễn biến như thế nào rồi sẽ tính sau và anh cầu chúc cho tôi và gia đình đi được bình an. Tôi nhớ có một số nhân viên, trong lúc hốt hoảng đã đi theo tôi, nhưng khi ghe vừa ra gần đến cửa biển thì lại tìm cách quay về vì kẹt gia đình, hơn nữa họ thấy với chiếc ghe cũ kỹ đó thì khó mà tới nơi tới chốn được và một số khác vẫn theo tôi đến đảo Mã Lai rồi cũng nhớ nhà rồi theo mấy chiếc ghe để trở về, lúc này có một số người chủ ghe muốn trở về nên nhà chức trách Mã Lai đồng ý cho họ trở về VN, cũng nhân dịp này tôi mới nhờ những người quen nhắn lại giùm với gia đình là tôi đã tới nhà chú Mã (Mã Lai) bình yên. Khi tôi qua định cư tại Hoa Kỳ, tôi có nghe đồn Thiếu Tá Lương Bông đã tự sát vào chiều ngày 30/4/75 nhưng tôi không rỏ chi tiết như thế nào, mãi cho đến mấy năm sau tôi mới được Hạ Sĩ Thân (anh này vừa là cận vệ vừa là tùy phái cho tôi) viết thư kể hết ngọn ngành về cái chết anh hùng của TT Bông như sau (những chữ trong ngoặc là chú thích của tôi):

    “Thưa Thầy thân mến, (Anh này thường gọi tôi như thế) Khi đặt bút viết thư này cho Thầy thì tự nhiên nước mắt của em lưng tròng, vì khi nhớ đến Thầy tự nhiên em phải nhớ đến người quá cố, người cao cả ấy không phải ai xa lạ là người kế Thầy đó, Anh Lương Bông ( TT Bông là người rất bình dân nên ngoài giờ làm việc các thuộc cấp đều xưng hô anh em với nhau). Cùng một ngày (30/4/75) mà 3 kẻ ra đi, Thầy đi miền đất lạnh, Anh Bông về lòng đất mẹ còn em trở lại xứ nghèo, em xin viết lại ngày quan trọng đó cho Thầy rõ. Lúc 10 giờ30 sáng ngày 30/4/75, sau khi tài xế Như đưa Thầy qua bên Tiểu Khu, nơi cơ quan mình chỉ còn lại Anh Bông, Phụng (một nhân viên thân tín khác) và em, ngoài ra không còn ai khác. Đến khoảng 11 giờ 30 thì ông Ấ. (Th/Sĩ này phụ trách trại giam của cơ quan) cùng một vài người trong trại gia binh phía sau lên đập cửa nhà của Thầy (ở cạnh văn phòng làm việc của tôi) để lấy tất cả đồ đạc, kể cả các đồ vật và mấy thùng rượu mà Thầy mua để chuẩn bị khao lon, chúng tôi chỉ đứng nhìn mà không dám nói gì. Độ 15 phút sau, Anh Bông và em cùng chú Phụng vô nhà thì đồ đạc, máy móc, quần áo v.v.. không còn gì cả, chỉ còn lại rác và những vật dụng không có giá trị nằm tung tóe khắp nhà xen lẫn cùng mấy tấm hình của cô và 2 cháu rơi rớt tùm lum. Em và Anh Bông có lượm mấy tấm ảnh cất làm kỷ niệm. Sau đó Anh Bông và em lấy xe của Thầy, chiếc xe jeep có gắn cần câu và hệ thống truyền tin đặc biệt đó, chạy vòng vòng thành phố và có chạy ra phía cầu Bắc Cần Thơ, khi đến nơi thì Bắc đã ngưng chạy, chúng em bèn quay trở về cơ quan. Lúc ấy khoảng 4 giờ chiều, Anh Bông bảo em lo nấu cơm và vào nhà Thầy coi có gì trong tủ lạnh để lấy ra nấu, trong nhà Thầy, đồ đạc thì tiêu hết nhưng thức ăn trong tủ lạnh vẫn còn. Sau khi nấu nướng xong, chúng em ăn uống trên đầu xe jeep đậu trong garage, ăn xong hơn 5 giờ chiều, Anh Bông vào phòng làm việc của Thầy mở máy lạnh và vặn đèn sáng choang cả phòng, Anh Bông lên ngồi đàng hoàng trên chiếc ghế của Thầy thường ngồi làm việc, lúc đó em còn đang dọn dẹp đồ ăn và ngó vào văn phòng xuyên qua cửa kính thì thấy Anh Bông đang “hý hoáy” viết gì đó, một lát sau tôi lại dòm vào thì thấy anh Bông lấy trái lựu đạn MK3 mà Thầy thường để trên kệ để phòng thân, ra và ôm vào bụng, lúc ấy em sợ quá nên chạy ra nhà xe la lớn lên cầu cứu nhưng lúc này trong cơ quan chẳng còn ai, thì ẦM một tiếng rất lớn, thế là Anh Bông đã ra đi một cách oanh liệt, khi em ôm anh ấy lên thì đôi mắt còn chớp lia và 2 giòng lệ còn lăn dài bên má. Em có nhặt tờ giấy mà anh Bông vừa viết khi nảy, thư này cũng bị cháy xém hết một phần, đại khái anh trăn trối lại với chị Bông là anh ấy xin lỗi chị ấy và cho biết là cả cuộc đời đã chiến đấu mà thất bại nay nay không thể sống để nhìn bọn cộng sản huênh hoang chiến thắng hay bắt tù làm nhục mình nên phải tìm cái chết này. Đến sáng hôm sau, em và Phụng khiên anh Bông ra ngoài để nằm ở nhà xe và tắm rửa, thay quần áo cho anh ấy xong, chúng em năn nỉ Tài xế Năm Lùn đưa giùm thi hài anh Bông về Sa-Đéc. Khi tụi này về đến Sa Đéc thì chị Bông qua Cần Thơ tìm anh Bông vì chị chưa biết tin anh Bông đã mất, khi được tin này và sau khi xem thư tuyệt mệnh của anh Bông để lại chị ấy ngất xỉu trong văn phòng của Thầy, lúc ấy đã hoang tàn đổ nát.”

    Thưa quý độc giả, khi tôi ngồi viết lại chuyện này tôi tự lấy làm hổ thẹn, xấu hổ vì gần suốt cuộc đời trong quân ngũ mà không xứng đáng là một cấp chỉ huy, dù là cấp chỉ huy nhỏ trong Quân Đội, nhưng không có lòng cam đảm ở lại để sống chết với anh em vào lúc đất nước nguy kịch. Anh Bông, nếu linh hồn Anh có linh thiêng, xin tha thứ cho tôi, tôi xin hứa là khi nào tôi được trở về quê hương, tôi sẽ đến trước phần mộ của Anh để đốt nén hương trước là tạ tội sau là lạy Anh 3 lạy để tỏ lòng kính phục sự cam đảm của Anh.(không biết tôi còn sống đến ngày ấy không?).


    San Fransisco, quốc hận 2005
    Nguyễn Thanh Tâm
    Ty ANQĐ / Phong Dinh / Cần Thơ

    nguồn:
    https://www.facebook.com/groups/1051...2002616171175/

  8. The Following 2 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    nguyenphuong (05-08-2018), Tinh Hoai Huong (05-18-2018)

  9. #257
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,205
    Thanks: 7,971
    Thanked 5,332 Times in 1,180 Posts

    Button Xanh Linh Hồn Của Ðất

    Linh Hồn Của Ðất
    Bùi Thượng Phong

    Khoảng cuối năm 1967 tôi nhận được sự vụ lệnh về cầm một đại đội cho một tiểu đoàn mới thành lập chưa được bao lâu, thuộc SÐ25BB, lúc đó đang đồn trú tại quận Ðức Hòa.

    Tiểu đoàn này trước đó mấy tháng, được đặt dưới quyền chỉ huy của một vị Thiếu tá rất nổi tiếng bên Biệt Ðộng Quân mới chuyển qua. Vì công sự phòng thủ chưa hoàn tất, Bộ Chỉ Huy/Tiểu Ðoàn (BCH/TÐ) phải tạm thời đóng trong ngôi biệt thự của một nhà máy xay lúa, chủ nhân là ông Sáu Ngô. Ông Sáu Ngô đã giữ kín một điều mà mãi sau này người ta mới biết, là ông có một người em bỏ nhà từ hồi còn nhỏ, theo VC.

    Lợi dụng cơ hội hiếm có này, trong một đêm đen tối, VC đã bất ngờ dùng đặc công và nội tuyến, tràn ngập vào được tuyến đầu của BCH/TÐ. Chỉ sau vài phút đầu bối rối, các anh em binh sĩ của BCH/TÐ đã chống trả rất mãnh liệt và sau đó phản công, đánh bật chúng ra khỏi con đường mương mà anh em đã tạm dùng làm tuyến phòng thủ, khiến chúng phải vội vã tìm đường rút vì chúng dư biết lực lượng tiếp viện của ta đang trên đường tiến tới.

    Tuy phải trả một giá rất đắt, VC cũng đã gây thiệt hại khá nặng cho bên ta, nhất là về phương diện tinh thần, vì trong số các chiến sĩ đã hy sinh ngay tại tuyến đầu đó, có cả vị TÐTrưởng can trường mà ai đã từng là Biệt Ðộng Quân cũng đều phải nghe danh: “Thiếu tá Cọp Ba Ðầu Rằn” !


    Thắm Nguyễn

    Sau trận thất bại này, các anh em binh sĩ trong Tiểu Ðoàn (TÐ) có phần xuống tinh thần. Tiểu đoàn phải chờ bổ sung thêm quân số và cần được “hấp” lại. Và tôi được chuyển về đây cũng trong dịp này.

    Ðược nương nhẹ rất nhiều, nhiệm vụ chính của TÐ lúc đó hầu như chỉ là hành quân mở đường và làm an ninh vòng ngoài cho Bộ Tư Lệnh/Sư Ðoàn 25 Bộ Binh tại Ðức Hoà. Lâu lâu cũng có hành quân, nhưng chỉ là những cuộc hành quân lục soát quanh vùng, sáng đi chiều về, như công chức!

    Trong khoảng thời gian coi như nhàn hạ này, tôi đã quen biết một đứa bé gái tên là Hân, lúc đó khoảng 8, 9 tuổi, là cháu gọi bằng dì của cô Thanh, chủ ngôi nhà mà tôi đã xin phép để đặt Ban Chỉ Huy/Ðại Ðội. Tôi chọn nhà cô Thanh vì không những nhà có một sân lớn, tầm quan sát tốt, nó lại còn có cả một cái nhà cầu đàng hoàng. Cô Thanh, một phụ nữ khoảng trên dưới ba mươi, không đẹp cũng không xấu, ăn nói rất nhỏ nhẹ, dễ thương. Không thấy cô có chồng, nghỉ dạy học đã lâu để trông coi việc ruộng nương, nhưng bà con lối xóm vẫn quen gọi cô là Cô Giáo. Dĩ nhiên cô Thanh không hề là đối tượng của những sĩ quan còn rất trẻ như chúng tôi hồi đó.

    Còn nhớ ngày đầu tiên gặp và nói chuyện với cô ở ngoài sân, về việc xin tạm dùng căn nhà làm BCH/ÐÐ, tôi thấy có một đứa bé gái đứng dựa lưng một gốc cau gần đó, đang nheo mắt nhìn tôi rất chăm chú. Thấy nó dễ thương, tôi quỳ một chân xuống ngang tầm nó và ngoắc nó lại. Nó phụng phịu lắc đầu, không chịu. Cô Thanh nói như hơi gắt:

    Hân không được hỗn, lại cúi đầu chào Thiếu úy đi con!

    Vẫn còn phụng phịu, nó tiến lại gần tôi và lí nhí nói mấy câu gì tôi cũng không nghe rõ!

    Tôi thông cảm sự thay đổi quá đột ngột đối với gia đình cô giáo, đang vắng vẻ, neo đơn; nay bỗng dưng ồn ào náo nhiệt, ra vào toàn lính là lính!

    Cô Thanh thì còn bận rộn với ruộng vườn, công thợ… chứ bé Hân thì ngoài giờ đi học, nó đụng độ tụi tôi suốt ngày. Mấy ngày đầu, nó có vẻ còn tránh né, nhưng rồi sau đó, quen hết anh hạ sĩ y tá này đến bác thượng sĩ thường vụ kia, nó trở nên vui vẻ và hòa đồng rất nhanh với cái không khí ồn ào nhưng kỷ luật của đời lính chúng tôi. Ðặc biệt, Hân quý tôi hơn cả, vì có mấy lần tôi đã giúp em giải một vài bài toán khó trong lớp. Nó quấn quít bên tôi suốt ngày, chuyện trò líu lo không ngừng nghỉ. Có những lần tôi đi hành quân về, nó núp trong bụi, rồi chợt chạy ùa ra ôm lấy chân tôi cười nắc nẻ … Mới 8, 9 tuổi, mà em đã biết dành dụm tiền để mua đường, nấu đãi chúng tôi những bát chè thật ngọt ngào ấm bụng! Bù lại, những lần đi phép, không lần nào tôi không mua cho em, khi thì đồ chơi, khi khác là sách, tập…

    Hân mồ côi cả cha lẫn mẹ. Quê em ở mãi đâu vùng An Hiệp, Thái Mỹ. Em kể với tôi, nước mắt lưng tròng: Cha em một hôm đi làm ruộng, đạp nhằm phải mìn VC, chết không kịp trăn trối! Hơn năm sau, người mẹ cũng ra đi vì bịnh! Thế là em phải về núp bóng dì của em, là cô giáo Thanh.

    Tôi lúc đó chưa lập gia đình, thực tình, tôi thương Hân như thương người em út, nó còn kém đứa em út của tôi ba, bốn tuổi.

    Tuy ở với dì ruột, tôi biết Hân đang thiếu một tình thương phụ mẫu, nhất là hình bóng của một người cha. Và… không phải là một nhà Tâm lý học, tôi không thể biết nổi: ở tuổi nào sớm nhất, một đứa con gái có thể biết yêu? Vì có một lần, mấy cô bạn gái của tôi từ Sàigòn lên thăm. Khi họ ra về, bé Hân đã đối xử với tôi một cách rất khác thường. Nó lảng tránh và ít nói hẳn, không hồn nhiên như trước nữa! Hình như nó cũng biết hờn, ghen? Tôi nghĩ dù sao, nó chỉ là một đứa con nít. Mà đúng thế, chỉ được hai hôm là cô nàng đã quên hết! Lại giở trò nghịch ngợm, chọc phá như cũ…

    Hồi đó cứ như thế, tôi lấy tình thương yêu của anh em binh sĩ dưới quyền và luôn của bé Hân như một hơi ấm gia đình. Ðang ở cái tuổi tràn đầy nhựa sống, mấy anh chàng sĩ quan lóc chóc như tụi tôi, có thì giờ là la cà tán tỉnh mấy em cỡ tuổi đôi tám, chợt nở rộ như những bông hoa đầy hương sắc miền thôn dã, chẳng hạn như hai chị em cô Huệ, cô Khanh con ông chủ nhà máy xay, hoặc Giáng Tiên, hoa khôi tỉnh Hậu Nghĩa.

    Thế nhưng mấy tháng nhàn hạ qua nhanh như gió thổi, khi TÐ vừa có một sinh khí mới, thì biến cố Tết Mậu Thân xảy ra! TÐ hành quân mệt nghỉ, ngày nào cũng có hành quân, ngày nào cũng có đụng độ, mà trận lớn nhất xảy ra vào trước Tết khoảng 2, 3 ngày. Ðại Ðội (ÐÐ) của thằng bạn cùng khóa nhảy vào giữa một Tiểu Ðoàn VC. Chúng đang ếm quân trong khu vực Rạch Gấu, vùng phụ lưu sông Vàm Cỏ, chờ xâm nhập để đánh vào Phú Lâm ngày mồng một Tết. Hai trực thăng trúng đạn phòng không địch, phải quay về. ÐÐ của nó thành ÐÐ trừ! Không đủ trực thăng, ÐÐ của tôi phải lội bộ vào tiếp cứu. Ðịch áp đảo về quân số, vũ khí có thừa, nhưng mục tiêu của chúng là vùng Chợ Lớn, ngày Tết, không phải chúng tôi. Thế nên chúng chỉ cầm cự để bảo toàn lực lượng, chờ đêm xuống là rút. Vậy mà mãi mờ sáng hôm sau, tụi tôi mới thanh toán xong mục tiêu. Nhờ những phi vụ oanh tạc và pháo binh bắn suốt đêm, VC dù đã cố kéo theo, chúng cũng để lại rất nhiều xác đồng đội và vũ khí. Tuy vậy, chúng tôi cũng không vui gì khi phải đem ra xác thằng bạn Ðại Ðội Trưởng và bốn chiến hữu của anh! Tội nghiệp quá, anh quê ở Hóc Môn, ra trường là xin ngay về Sư Ðoàn 25 cho gần nhà!

    Chúng tôi ra trường, một số người đã may mắn thoát khỏi làn tên mũi đạn, họ đã theo gương các bậc đàn anh, dùng tài thao lược và lòng dũng cảm của mình để làm nên nhiều chiến tích vẻ vang cho quân đội. Thế nhưng chiến trận hàng ngày cũng đã lấy đi không ít những người con yêu của Trường Mẹ, họ đã hy sinh khi còn rất trẻ, trong những trận đánh tuy khốc liệt, tàn bạo … nhưng cũng chỉ là thường tình trong chiến tranh! Không một ai biết, chẳng một ai hay, họ đã nằm xuống như hàng ngàn chiến sĩ vô danh khác, tên tuổi và thành tích không bao giờ được xuất hiện trên trang nhất các nhật báo. Có chăng, chỉ là mấy dòng tiếc thương cô đơn, ngắn ngủi của thân nhân, bè bạn trong những khung hình chữ nhật màu tang đen, nơi trang chót của tờ báo!

    Qua hai đợt Mậu Thân, tôi được thăng Trung úy, nghĩa là sớm hơn quy định khoảng gần nửa năm, nhưng đến cuối năm 1969 tôi bị thương nặng, miểng mìn văng đầy người. Tệ nhất, có một miểng chém vào động mạch bên nách phải, máu ra rất nhiều và nếu không đã theo mấy thằng bạn … vui vẻ về “miền quá cố” rồi!

    Khi cơn thập tử nhất sinh đã qua, tôi được chuyển về Tổng y viện Cộng Hòa ở Sài Gòn.

    Một hôm, tôi đang nằm cho y tá rửa vết thương và thay băng thì có mấy anh em ban 5 Tiểu Ðoàn lên thăm. Tôi ngạc nhiên hết sức khi thấy có cả bé Hân trong đó, nó chạy ngay lại ôm lấy tôi, nước mắt đầm đìa… Ông Thượng sĩ thường vụ của tôi sau khi thăm hỏi xong, nói nhỏ vào tai tôi:

    – Ngày nào nó cũng lên TÐ, xin bằng được nếu khi nào TÐ lên thăm thương bịnh binh, nhớ cho phép nó đi theo!

    Tôi nhìn xuống con bé đang rúc cái đầu bé nhỏ vào bụng tôi, tấm thân mảnh mai của em thì rung rung theo tiếng nấc! Tôi cúi xuống hôn trên mái tóc mềm mại của nó và cứ để như vậy một lúc lâu, bởi vì chính trong lòng tôi cũng đang nghẹn ngào, xúc động…

    Lúc sau, tôi nâng cầm nó lên, trấn an nó:

    – Chú không sao đâu! Chỉ một thời gian ngắn nữa là chú sẽ lành vết thương và sẽ được xuất viện.

    – Rồi Trung úy có trở lại đại đội không? Nó ngước mặt e ngại hỏi tôi điều mà nó quan tâm nhất.

    – Chú cũng không biết nữa, chắc là phải ra một hội đồng quân y để họ giám định. Sau đó mới biết!

    – Vậy khi nào xuất viện, chú xuống thăm Hân nha ?

    Tôi mỉm cười nhìn nó:

    – Chắc chắn là chú sẽ đến thăm Hân và các anh em trong đại đội, ngay khi nào chú có thể đi được.

    Lúc này mới thấy nó nở một nụ cười, rồi cúi xuống nhấc lên một túi nhỏ và lấy từ trong đó ra một ít trái cây để trên chiếc bàn nhỏ đầu giường. Thì ra nó cũng biết đem quà cho thương binh!

    Phái đoàn thăm viếng lúc này đã xin phép tôi để qua thăm các anh em thương binh khác. Trước khi ra khỏi phòng, ông thượng sĩ thường vụ cúi sát tai Hân dặn dò:
    – Khoảng nửa tiếng nữa con ra chỗ đậu xe để về nha. Về sớm cho an toàn!

    Nó ngoan ngoãn gật đầu, rồi bắt đầu bi bô:

    – Bữa trước ai cũng tin là chú đã chết thiệt rồi. Sau mới biết chú còn sống, đang nằm bịnh viện Cộng Hòa. Dì Thanh có dắt Hân đi cầu nguyện trên chùa hoài. Dì con nói gởi lời thăm chú.

    Ðến đây, nó bắt đầu quay qua nhìn mấy vị sĩ quan thương binh khác nằm cùng phòng. Chợt thấy chiếc nhẫn của tôi để trên mặt bàn lúc tháo ra cho y tá rửa vết máu trong các ngón tay, nó cầm lên ngắm nghía rồi hỏi:

    – Nhẫn này của chú? Sao bự và đẹp quá vậy?

    – Ừa, nhẫn của chú. Ðây là chiếc nhẫn lưu niệm của trường Võ Bị Ðà Lạt, lúc mãn khóa ai cũng có.

    – Chú thích nó lắm hả?

    – Chú rất quý nó, và chú đã đeo nó từ khi ra trường.

    Nó nhẹ nhàng để lại chiếc nhẫn vào chỗ cũ, rồi quay ra ôm lấy tôi, như thể không muốn xa rời! Nó kể đủ thứ chuyện ở Ðức Hòa, đâu là đại đội đã có Ðại Ðội Trưởng mới nhưng không còn đóng ở nhà nó nữa, các chú trong BCH/ÐÐ vẫn thường ghé thăm luôn, rồi nó kể cả chuyện vợ lớn trung sĩ Hai ở Sàigòn lên đánh ghen, làm tôi không nhịn được cười…

    Nửa giờ sau, ông thường vụ đã xuất hiện ở cửa phòng, nói với vào:

    – Chào Trung úy đi Hân, đến giờ về rồi!

    Hân bắt đầu lúng túng, vòng tay bé nhỏ, nó cố ôm lấy tôi. Mấy phút sau, tôi phải nhẹ nhẹ gỡ nó ra:

    – Thôi Hân về đi không họ chờ!

    Nó nhìn tôi như muốn khóc:

    – Chú hứa nhen! Tới thăm Hân nhen, Hân chờ đó!

    Nói rồi nó buông tôi, từ từ bước ra cửa, hình như nó đã khóc. Ðến cửa phòng, nó quay lại nhìn tôi, bàn tay bé nhỏ của nó đang cố chùi những giọt lệ…

    Tôi không thể nào quên được ánh mắt của Hân ngày hôm đó! Trong đôi mắt thơ dại và rưng rưng lệ của em, chứa biết bao nhiêu là thiết tha, trìu mến… Nó nhìn tôi như nhìn một người thân yêu, mà nó ngờ rằng sẽ không bao giờ còn có dịp thấy lại thêm một lần nữa! Một ánh mắt của chia ly, của vĩnh biệt…

    Không cầm lòng được, tôi gọi nó:

    – Hân, lại đây với chú!

    Ngoài bộ đồng phục rộng thênh thang của bệnh viện, tôi chẳng có gì ngoại trừ một thân thể đầy những vết thương và băng bó, tôi đành cầm chiếc nhẫn lưu niệm của tôi, nhẹ nhàng để vào lòng bàn tay của nó:

    – Hân giữ cho chú chiếc nhẫn này. Giữ thật kỹ và đừng cho ai biết. Hân biết là chú quý nó như thế nào rồi. Khi nào xuất viện chú sẽ đến thăm Hân và Hân đưa lại cho chú. Thế có được không?

    Thật không ngờ, cái ý kiến bất chợt đến với tôi lúc đó lại có tác dụng ngay! Hân vui mừng ra mặt, ít nhất nó đã có một vật làm tin kèm theo lời hứa. Lau hết nước mắt nó thủ thỉ:

    – Dạ, con sẽ giữ thật kỹ, chờ khi nào Trung úy đến con giao lại!

    Tôi xoa đầu nó rồi đẩy nhẹ nó về phía cửa. Lần này, nó quay lại mỉm cười nhìn tôi và rồi bóng nó từ từ lẫn vào với dòng người thăm viếng bên hành lang bệnh viện …

    Tôi xuất viện sau đó chừng một tháng, và phục hồi mau lẹ. Tuy vậy, phải chờ đến Tháng Ba năm 1973 sau hai lần giám định tôi mới nhận được giấy tờ giải ngũ chính thức. Tôi may mắn toàn thân không mất mát gì, nhưng những ngón tay bên mặt nhất là ngón trỏ, không co duỗi bình thường được. Cầm tờ chứng chỉ giải ngũ trong tay, tôi biết mình đã vĩnh viễn giã từ vũ khí!

    Trong khoảng thời gian chờ quyết định của Hội đồng quân y, tôi đã đi Ðức Hòa thăm lại chốn xưa. Ðại Ðội của tôi gần như hoàn toàn mới, chỉ trừ một vài anh em trong BCH/ÐÐ nhận ra tôi, còn lính tráng hầu hết là lính mới, nhìn tôi như nhìn một người xa lạ! Chiến tranh đã làm thay đổi nhanh không thể ngờ được.

    Tôi lần mò đến nhà cô giáo Thanh để thăm cô giáo và bé Hân nhưng thật không may, người nhà cho biết hai dì cháu cô đã đi ăn đám giỗ bên Bình Thủy, có lẽ đến chiều mới về!

    Tôi buồn rầu về lại Sàigòn, tự hứa sẽ trở lại vào một dịp khác.

    Chiến tranh vẫn còn đó, chiến trận gia tăng khắp mọi nơi, nhưng Sàigòn vẫn còn là một mảnh đất khá bình yên! Nó như một hải đảo nằm giữa một biển lửa. Và tôi đã phải cố gắng để thích ứng với cuộc sống hoàn toàn thay đổi. Dù sao, tôi vẫn còn trẻ. Tôi làm việc như một cái máy, nhưng tôi không còn bị cô đơn, cái cô đơn của một người chỉ huy, dù chỉ là một cấp nhỏ; tôi tự do, không còn bị ràng buộc vào một trách nhiệm có liên can đến sinh mệnh của nhiều người khác! Tâm trạng thả lỏng này đã dẫn tôi đắm mình trong thụ hưởng, để bù lại cho bao năm tháng tuổi xuân đã qua đi trong quân trường và ngoài trận địa .

    Bận rộn vì công việc lúc ban ngày, say mê trong ánh đèn mầu của các vũ trường vào ban đêm, tôi gần như đã quên hẳn Hân, một đứa bé đang ở một nơi thiếu an ninh, mà chỉ một năm trước đây thôi, tôi đã coi nó như một đứa em ruột thịt! Tôi đã tự khất lần, và ngần ngại không muốn ra khỏi Ðô thành, nơi mà lúc nào cũng có những cuộc vui đang chờ sẵn!

    Khoảng đầu năm 1974, nhân một chuyến phải đi Trảng Bàng, tôi ghé vào Ðức Hòa và gặp lại Hân. Căn nhà vắng vẻ, khu xóm cũng thiếu bóng những người lính, có lẽ họ đang bận rộn trong một cuộc hành quân nào đó. Khi tôi đến, chỉ có mình Hân ở nhà.

    Hân lúc này không còn bé nữa, em đang là một thiếu nữ tràn đầy nhựa sống với một vẻ đẹp tự nhiên và tuyệt mỹ mà Thượng Ðế chỉ dành cho những người con gái đương độ thanh xuân! Em mừng đến rơi cả nước mắt khi thấy tôi! Rót nước mời, em vẫn thân mật nhưng tỏ ra hơi e thẹn, cái e thẹn dễ yêu của các cô gái đang dậy thì.

    Hân cho biết em đã trông mong tôi từng ngày, và rất ân hận vì lần trước tôi đến, mà em không được gặp! Lấy chiếc nhẫn giấu kín trong hộc tủ, Hân đưa nó sát mặt tôi, rồi nắm vội nó trong bàn tay và ấp lên ngực:

    – Hân biết đây là chiếc nhẫn lưu niệm của chú, nó lưu lại những kỷ niệm của chú với quân trường Ðà Lạt; nhưng bây giờ, nó cũng đã trở thành một vật lưu niệm của Hân luôn! Nó đã lưu lại những kỷ niệm giữa Hân và chú! Hân muốn được giữ nó lâu hơn nữa, chú có cho phép Hân không?

    Tôi hơi ngạc nhiên, nhưng rất cảm động trước những lý lẽ phát ra tự con tim của em:

    – Hân cứ giữ nó đi, như vậy khi nào chú đến thăm Hân, chú sẽ được gặp cả hai!

    Quá vui mừng, quên cả e thẹn, Hân chạy lại ôm tôi, và nói trong cảm động:

    – Thực ra, khi có chiếc nhẫn bên mình, Hân có linh cảm là chú sẽ luôn luôn quay về tìm Hân, và như vậy Hân sẽ không bao giờ mất chú!

    Tôi ôm chặt Hân, và hôn nhẹ lên trán em như vài năm trước, khi em còn rất nhỏ.

    Hình như Hân muốn nhiều hơn thế ! Trong vòng tay tôi, cơ thể em đang ấm dần lên… Em từ từ ngước mặt lên để mong những làn môi gặp nhau, nhưng tôi đã tự dừng lại bằng cách buông lỏng em! Có phải tôi hơi bị ngu không, hay tôi vẫn còn bối rối giữa Hân, một đứa bé và Hân, một cô gái đang nồng nàn trong độ xuân thì?

    Chúng tôi chia tay nhau khi ánh chiều vừa xuống. Tôi hứa với Hân sẽ lên thăm em thường hơn. Cả hai cùng bịn rịn, không nỡ rời nhau, nhưng rồi phút chia ly cũng phải tới, tôi lên xe về lại Sàigòn mang theo hình ảnh đôi mắt và những lời dặn dò đầy nước mắt của Hân:

    … Nhớ lên thăm Hân nha! Hân chờ đó …

    Những tháng ngày sau đó, thời cuộc biến đổi không ngừng… Tất cả đều thất lợi cho miền Nam chúng ta! Ngay cả con đường từ Sàigòn đi Ðức Hòa cũng không còn an ninh nữa! Tiếp đến là những biến cố dồn dập, nó đến nhanh quá, như dòng thác lũ, như cơn đại hồng thủy, nó cuốn đi hết cả… Không kịp nữa rồi, những gì ta không làm, hoặc chưa làm, đành phải xếp lại trong niềm hối hận khôn nguôi…

    Câu “nước mất, nhà tan” thật là thấm thía với tâm trạng của những người bỏ nước ra đi ngày ấy! Ra đi là không bao giờ nghĩ đến ngày trở lại, ra đi là chấp nhận cả một trời mù mịt, đau thương! Tôi cũng ở trong số ít những người “bất hạnh nhưng may mắn” này! Còn lại tất cả nhân dân miền Nam coi như gẫy cánh nửa đường; có khác chăng, chỉ là mỗi người “gẫy”một kiểu!

    oooOooo

    Sau hơn ba mươi năm vật lộn với cuộc sống trên nước Mỹ, tôi quyết định nghỉ hưu vì đã thấm mệt, cả thể xác lẫn tinh thần. Những chuyện ngày xưa khi nhớ, khi quên. Nhiều chuyện quên hẳn, như gió thoảng, như mây bay!

    Dòng đời đổi thay, cũng chỉ là thường tình của cuộc sống!

    Những ngày, tháng buồn tênh, tôi chợt nhớ đến hai câu thơ, không biết đã đọc được ở đâu và ai là tác giả:

    Khi ta ở, đất chỉ là đất ở,
    Khi ta đi, đất đã hóa linh hồn!


    Vâng, linh hồn của đất, của những nơi ta đã từng đi qua, những nơi đã hơn một lần ta dừng lại… Nó đã có một linh hồn, và linh hồn đó thường hay ám ảnh tim ta, những khi ta quay về nhìn lại quá khứ !

    Tôi đã về thăm lại Sàigòn vào năm 2007!

    Vẫn biết đổi thay là lẽ tự nhiên của cuộc sống, nhưng đổi thay một cách xô bồ, hỗn độn và … ngộp thở như Sàigòn hôm nay, chỉ làm tôi thêm tiếc nuối Sàigòn của những ngày xa xưa!

    Tôi biết Sàigòn khi vừa ở tuổi có trí khôn. Những con đường thời niên thiếu ấy, với những hàng me, hàng phượng vĩ… muôn đời thơ mộng và sống mãi trong trí nhớ của tôi! Ðại lộ Trần Hưng Ðạo lần đầu tiên tôi biết, có tên là Galliéni, đường Nguyễn Huệ là Charner … Rồi đến thời Ðệ nhất Cộng Hòa, đa số đường phố đều mang tên Việt, nhưng không có con đường nào là Ðồng Khởi hoặc Nam Kỳ Khởi Nghĩa cả! Sàigòn chỉ có Tự Do và Công Lý! Có những bác tài xế taxi hoặc xích lô máy, kiếm đủ tiền nuôi vợ con rồi, không tiếp thêm ai nữa mà ngả lưng ngay trên nệm xe của mình, làm một giấc! … So với ngày nay, đời sống thời đó sao mà thanh bình và dễ dàng quá! Thì ra càng cách mạng, càng giải phóng … người dân chỉ càng thêm khốn khổ !

    Lang thang mãi ở Sàigòn, chán! Một hôm, tôi trở lại thăm Ðức Hòa, chỉ vì tò mò muốn biết, nơi đã từng là chiến địa ngày xưa đó, giờ nó ra sao?

    Hơn ba mươi năm trôi qua, đã có biết bao nhiêu là vật đổi sao dời, bèo dạt… hoa trôi… Và những người muôn năm cũ, giờ cũng chỉ như bóng chim tăm cá, không biết họ đã trôi dạt về những nơi đâu?!

    Ðức Hòa đã thay đổi theo một chiều hướng đi xuống! Ngày xưa, dù đang là thời chiến tranh, nó vui nhộn biết là bao: hàng quán, lính tráng, người mua kẻ bán ồn ào, tấp nập. Những con đường, tuy chỉ nhỏ vừa cho hai xe nhà binh tránh nhau, nhưng đầy bóng mát của những hàng cây cao… Giờ đây, có những con đường mới thành lập, rộng thênh thang, thẳng tắp, nhưng trống trơn dưới ánh nắng như thiêu như đốt, không một bóng cây; xe cộ thì lẻ loi vài chiếc! Thị xã giống như một cô gái quê, xấu, đang cố làm dáng với những vết son vụng về tô vội!

    Ðến khu Bình Tả, nơi ngày xưa tôi đã đóng quân. Cảnh vật cũng không thay đổi nhiều, nhưng sao trông thật hoang sơ, buồn thảm! Tại một ngã ba, ngày ấy có một cái quán lụp xụp, lúc nào cũng ồn ào những lính. Cho đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ chính tại cái quán lụp xụp đó, tôi đã ăn những tô hủ tiếu ngon nhất trong đời.

    Ði vào sâu hơn khoảng trăm mét là ngôi biệt thự nhà máy xay. Rõ ràng là nó đang bị bỏ hoang, rêu phong nứt nẻ… Cảnh vật sao quá thê lương, ảm đạm! Hỏi thăm thì biết cô Huệ đã định cư bên Úc từ lâu! Cô Giáng Tiên, hoa khôi Hậu Nghĩa, nghe nói sau này lấy một sĩ quan Biệt động quân đẹp trai, giờ này không biết cuộc đời đã xô đẩy họ đến nơi đâu?

    Ði sâu hơn nữa thì gặp tàn tích của một cái đồn, đồn này là của Tiểu Ðoàn chúng tôi hồi đó. Gần đấy có cắm một cái bảng nhỏ, trên đề: “Di tích lịch sử – Cấm đến gần” !

    Tự nhiên, tôi thấy lạnh toát người! Có phải anh linh của bao nhiêu chiến sĩ ngày xưa vẫn như còn đang phảng phất đâu đây, trên những ngọn tre, những tàu lá chuối, hay trên những hàng mù u nơi xa xa kia?! …

    Ra thăm khu trung tâm thị xã, ở đây có thay đổi chút ít. BTL/SÐ25BB nay đang là một công viên dành cho trẻ em, ngay trước cổng vào có một căn nhà nhỏ, trong đó trưng bày hình ảnh và những kỷ vật của một “đồng chí Võ Văn Tần” nào đó!

    Chợ Ðức Hòa xây thêm một mặt tiền mới, quay về hướng khác, nhưng tôi thấy bức tường mặt tiền cũ vẫn còn để nguyên.

    Ðang ngơ ngẩn nhìn ngó cảnh vật, tôi chợt để ý có một bà cụ cứ chăm chú nhìn tôi. Bước đi vài bước, bà lại quay đầu nhìn lại; cuối cùng bà cụ đến gần nhỏ nhẹ hỏi tôi:

    – Nếu không phải, xin ông thứ lỗi! Phải ông đây là Trung úy Phong không?

    Tôi giật bắn người! Chắc chắn đây là một người quen biết với tôi, nhưng nghĩ mãi, tôi đành chịu:

    – Dạ, tôi là Phong đây! Xin lỗi, trí nhớ tôi hơi kém, bà đây là …?

    – Trời đất, Mô Phật! Thiệt không ngờ cũng có ngày tôi lại gặp được Trung úy! Tôi là Thanh đây! Xưa Trung úy có đóng quân nhà tôi, Trung úy còn nhớ không?
    Lúc này thì hình ảnh của một cô giáo Thanh ngày xưa đã lờ mờ lẫn vào khuôn mặt già nua của bà cụ, tôi mừng rỡ:

    -… cô giáo Thanh! Tôi nhận ra rồi! tôi nhận ra rồi! Chà, cô trông còn mạnh lắm. Xin mời cô vô quán nước đây ta ngồi nói chuyện.

    Ðôi mắt già nua của cô Thanh đã thấy có ánh nước, cô cầm tay tôi ân cần:

    – Thôi! quán xá gì! Chắc là Trung úy ở nước ngoài về thăm quê hương? Trung úy có rảnh mời ghé lại tôi uống miếng nước. Nhà cũng gần đây thôi!

    – Dạ! Tôi ra khỏi nước từ năm 75, giờ nghỉ hưu rồi mới có dịp về thăm lại. Hồi nãy đi ngang, tôi thấy khu nhà cũ của cô giờ dường như là một nhà máy gì đó ?

    – Bị nhà nằm trong khu quy hoạch, nghe đâu họ đã bán đất đó cho Hàn quốc lập nhà máy may gì đó. Tôi phải mua bậy một căn nhà cũng gần chợ đây thôi, cho nó tiện! Mời Trung úy đi theo tôi, chút xíu là tới à!

    Lẽo đẽo theo chân bà cụ đi vào một con đường nhỏ ngang hông chợ, tôi ngần ngại ngỏ ý:

    – Tôi giã từ quân đội lâu lắm rồi, cô Thanh cứ gọi tôi bằng tên cho tiện!

    – Không có sao đâu! Ở đây bà con cỡ tuổi tôi, ai cũng quý những người lính Cộng Hòa khi xưa. Lại bởi tôi quen miệng rồi, tôi nhớ Trung úy là Trung úy, gọi khác nghe kỳ lắm!

    Ðến đây, mặc dù tận đáy lòng, như có một chút gì hơi hổ thẹn vì sự thất hứa năm xưa, nhưng tôi không thể quên được Hân:

    – Thế cháu Hân giờ sao rồi? Chắc cũng con cháu rầm rề cả !?

    Cô Thanh bỗng như chùng xuống, cô nói rất nhỏ, giọng run run:

    – Cháu… cháu nó không còn ở với tôi nữa!

    Vừa lúc đó, cô dừng lại trước một căn nhà, nhà của cô. Phải qua một cái sân nhỏ trước khi vào tới phòng khách. Cô Thanh giơ tay:

    – Dạ, mời ngồi! Ðể tôi lấy nước trà mời Trung úy.

    Trong nhà còn có hai vợ chồng người bà con của cô, tuổi khoảng ngũ tuần. Cô Thanh sai họ châm bình nước trà, đoạn rót ra trân trọng mời tôi. Không giữ được kiên nhẫn, tôi hỏi:

    – Hồi nãy cô nói cháu Hân không còn ở với cô, vậy giờ cháu đang ở đâu?

    Sau một hơi thở thật dài, cô Thanh bỗng bật lên khóc nức nở…Hai tay bưng mặt, cô nói trong tiếng nấc:

    – Cháu nó đã mất rồi! Nó bỏ tôi đã gần ba chục năm rồi Trung úy ơi!

    Tôi bàng hoàng, choáng ngợp như vừa bị dội cả một thùng nước lạnh vào người! Không biết tôi có nghe lầm không? Sao sự chết chóc lại có thể xảy đến với một người còn quá trẻ như Hân?!

    Qua một phút chới với vì bất ngờ và xúc động đến tột cùng, tôi lấy lại bình tĩnh:

    – Cháu nó qua đời như thế nào, cô có thể cho tôi biết được không?

    Chuyện cũng hơi dài dòng, vì vậy tôi có ý mời Trung úy tới nhà, mình có nhiều thời gian hơn. Cô Thanh có vẻ đã lấy lại được chút bình tĩnh, cô tiếp:

    – Tôi nhớ nó mất năm Mậu Ngọ, 1978. Lúc đó khó khăn lắm, cả nước đói! Ở quê như chúng tôi mà cũng phải ăn độn! Cháu Hân bỏ học ngay từ năm 75, nó nói học hành gì mà tối ngày họp tổ, họp đoàn, rồi chửi bới chế độ cũ… Vậy mà cũng không thoát, nó phải nhập vào cái gì kêu là thanh niên xung phong gì gì đó, đi làm thủy lợi! Nghĩa là đào kinh, đắp mương đó Trung úy!

    Ngừng lại vài giây như để lấy thêm sức, cô tiếp:

    – Hồi đó nó đang tuổi con gái, mà ăn uống thì thiếu thốn! Lại thêm thi đua này nọ, nó bị mất sức nhiều lắm. Rồi đào kinh đào mương, ngủ bờ ngủ bụi muỗi mòng… bị sốt xuất huyết! Bịnh cũng không đáng gì, nhưng thuốc men hồi đó hoàn toàn không có! Ăn còn không đủ, nói chi thuốc!… Lúc đó nó mới vừa 19 tuổi !

    Ðến đây, cô lại ôm mặt nức nở… Tôi lại gần cô, vỗ về an ủi:

    – Số phận đã an bài như vậy, không cho em qua được cơn khó khăn! Cô cũng không nên rầu rĩ quá không có lợi. Tuổi cô cũng như tôi, ngày một yếu kém…
    – Tôi cũng biết vậy, và tôi cũng đã cố giữ gìn sức khỏe, để sống đến ngày hôm nay …

    Nói tới đây, cô Thanh từ từ đứng dậy, hướng dẫn tôi đi về phía bàn thờ giữa căn nhà.

    Phía trên bàn thờ, tôi thấy có treo hai tấm hình lớn mà tôi đoán là song thân của cô Thanh; đặt trên mặt bàn thờ phía bên trái, có ba tấm hình mà một trong ba tấm đó, tôi nhận ra là em Hân. Hình chụp có lẽ vào lúc em 17, 18 tuổi, trông xinh đẹp như một bông hoa đang nở.

    Khi tôi nhìn em thì đôi mắt của em cũng đã nhìn vào tôi từ lâu lắm rồi, có lẽ ngay từ khi tôi bước vào căn nhà này! Thắp nén nhang, tôi biết tim tôi đang chảy ra thành nước, và dòng nước ấm đó đang chảy ngược lên phía đôi con mắt…

    Khói nhang bốc lên không gian và lung linh tỏa rộng. Ánh sáng yếu ớt khúc xạ qua làn khói, làm như em đang mỉm cười nhìn tôi! Có lúc lại không phải là cười, mà đang nhìn tôi như trách móc!? …

    Mắt tôi bỗng nhiên hơi mờ đi, hình ảnh của Hân, một buổi chiều nào xa xưa trong dĩ vãng bỗng hiện về, bé nhỏ lẫn trong đám người thăm viếng ở bịnh viện Cộng Hòa. Tôi vẫn còn nhớ mãi ánh mắt và nụ cười khi em quay lại nhìn tôi… Và rồi lần cuối cùng tôi gặp, cánh tay bé nhỏ giơ lên chào tạm biệt khi tôi trở về Sàigòn, mắt em đầy lệ …

    Một dư âm mơ hồ như vọng lại từ một nơi nào xa, xa lắm:

    … Ðừng quên đến thăm Hân nha, Hân chờ đó! …

    Người tôi lúc đó như muốn rũ xuống, tôi cố gắng hết sức đứng thẳng người, nhìn tha thiết vào đôi mắt em, cầu xin một tha thứ !

    Ngay trước bức hình của em, tôi thấy có một hộp nhỏ bằng nửa bàn tay, khảm xà cừ màu đen rất đẹp. Thấy tôi nhìn vào chiếc hộp nhỏ, cô Thanh nói như khuyến khích:

    – Trung úy cứ cầm lên và mở ra coi!

    Tôi nhẹ nhẹ cầm chiếc hộp lên bằng hai tay và mở nó. Một làn sáng như lóe lên: chiếc nhẫn lưu niệm trườngVõ Bị Ðà Lạt năm xưa của tôi hiện ra, sáng bóng, nằm trong hộp trên một miếng nỉ trắng.

    Cầm chiếc nhẫn trên tay, tôi chợt rùng mình, dường như có một luồng điện nhẹ đang chạy qua khắp châu thân! Qua biết bao nhiêu năm tháng, chiếc nhẫn vẫn còn đây mà… người xưa đã mất! Chiếc nhẫn như nhắc tôi một lời hứa, một lời hứa tôi đã không giữ trọn!

    Nhìn giọt nước mắt rơi, tôi mới biết mình đang khóc! Thực lòng, tôi cũng không biết tôi đang khóc vì vui mừng thấy lại một kỷ vật xưa, hay đang khóc vì tràn đầy ân hận!

    Rồi trong một thoáng giây vô thức, tôi đưa chiếc nhẫn lên gần miệng, hà một hơi ấm vào viên hồng ngọc rồi chà xát nhẹ nhẹ vào ngực, phía trái tim.

    Nhạt nhòa trong nhang khói, tôi thấy Hân như lại mỉm cười! Có phải tôi tưởng tượng không, hay đang thực sự có một thần giao cách cảm?

    Cô Thanh từ nãy chỉ đứng yên lặng theo dõi, bỗng cô nói, giọng nhẹ như hơi thở:

    – Những lúc còn tỉnh, cháu nó đã kể hết cho tôi nghe vì sao nó có chiếc nhẫn này! Trước đó, nó đã giấu cả tôi, giữ kín và âm thầm chờ mong cho đến những ngày cuối cùng! Trước khi nhắm mắt, nó còn dặn tôi phải để chiếc nhẫn này trong một chiếc hộp thật đẹp, ngay trước hình thờ của nó. Vì nó quả quyết là sẽ có một ngày, một ngày Trung úy sẽ tìm đến!

    Ngừng một phút, cô nói thật nhỏ, như nói với chính mình:

    – Cũng phải mất gần ba chục năm! Giờ thì châu đã lại về hiệp phố!

    Ðặt lại chiếc nhẫn vào trong hộp và trân trọng để chiếc hộp vào đúng chỗ ban đầu, tôi quay qua cô Thanh:

    – Thưa cô, chiếc nhẫn này có lẽ là một trong những kỷ vật quý nhất mà tôi còn có được, kể từ khi vội vã ra đi ngày ấy! Nó đã đánh dấu một thời chinh chiến tang thương của đất nước, nó nhắc tôi một thời tuổi trẻ mà lúc nào tôi cũng hãnh diện và trân quý. Và… nó cũng có cả hình bóng của em Hân trong đó nữa! Nhưng chắc nó không cần về “hiệp phố” nữa đâu! Tôi giữ nó chỉ có khoảng 5 năm, thế mà chiếc nhẫn này nó đã ở bên em Hân những trên ba mươi năm, những lúc em còn sống và cả những lúc em đã qua đời! Tôi không thể hình dung được rồi mai đây, bên hình của em sẽ chỉ còn là một khoảng trống! Tôi còn biết khi xưa,em luôn luôn muốn có chiếc nhẫn này ở bên cạnh. Xin cô cho phép tôi, cứ để chiếc nhẫn bên hình của em. Nó ở đây cũng là nó đang ở mãi mãi, trong tim tôi …

    Không biết mắt tôi có ướt đẫm như đôi mắt cô Thanh không, nhưng giọng nói của tôi, sao bỗng thấy quá nghẹn ngào:

    … Vẫn biết âm dương là muôn đời cách trở, nhưng tôi muốn mượn chiếc nhẫn này, như một vật xúc tác giữa hai linh hồn, một linh hồn đang còn phiêu bạt nơi đất khách quê người, và một linh hồn đang an nghỉ ngàn đời trên quê hương …

    oooOooo

    Cô Thanh ân cần mời tôi ở lại dùng cơm chiều, nhưng tôi phải từ chối vì không muốn trở lại Sàigòn khi quá tối. Tôi hẹn tuần sau sẽ lên để thăm và thắp nén nhang tại mộ phần, nơi an nghỉ cuối cùng của em Hân.

    Khi tiễn tôi qua chợ, cô Thanh cười nói với tôi:

    – Trung úy biết không, khi mua lại căn nhà gần chợ này, tôi cũng có chủ ý là được thấy thật nhiều du khách Việt kiều. Thấy ai có dáng Việt kiều là tôi ngó thiệt kỹ.

    Không dè cũng có ngày Trời Phật run rủi, mà cũng có thể do vong hồn của cháu Hân khiến, tôi lại gặp được Trung úy. Tôi cảm thấy như vừa trút được một tảng đá đã đè nặng trên vai tôi qua bao nhiêu năm tháng… Xin cám ơn Trung úy!

    Tôi mỉm cười trước những ý nghĩ chân chất và đôn hậu của một người miền Nam như cô Thanh. Tôi nắm hai tay cô, rồi ôm cô thật chặt trước khi giã từ. Theo tỉnh lộ 10, tôi trở về Sàigòn qua ngả Phú Lâm. Trước kia con đường này hầu như không bao giờ sử dụng được, nó luôn luôn bị đắp mô, mìn bẫy, đôi khi có cả phục kích …

    Thương hải biến vi tang điền! Ngàn xưa đến ngàn sau, dù muốn hay không, đổi thay vẫn cứ là một bản chất tự nhiên của đời sống!

    Chỉ có tình cảm của con người, có những thứ tình cảm mà suốt cả một đời, không bao giờ thay đổi!

    … Vậy mà nhiều khi tôi vẫn đinh ninh rằng: Ðã mất hết cả rồi!

    BTP – Memorial Day, 2013
    nguồn:
    baotreonline.com/linh-hon-cua-dat/

  10. The Following 5 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    khongquan2 (05-07-2018), KQ Nha Trang (05-07-2018), Nguyen Huu Thien (05-08-2018), nguyenphuong (05-08-2018), Tinh Hoai Huong (05-18-2018)

  11. #258
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,205
    Thanks: 7,971
    Thanked 5,332 Times in 1,180 Posts

    Button Xanh Những Ngày Đen Tối (30 tháng 4 năm 1975)

    Những Ngày Đen Tối (30 tháng 4 năm 1975)


    Hình minh họa

    Viết lại tâm trạng của người lính thất trận.

    Phi trường Tân Sơn Nhất, nơi đồn trú của bộ tư lệnh Không Quân VNCH và Sư Đoàn 5 Không Quân trân mình chịu đựng những cơn pháo kích của Cộng quân . Những chiếc phi cơ đủ loại phơi mình trong nắng như thách thức đạn pháo của địch, một vài chiếc C123 đang bốc cháy vì trúng đạn pháo. Lực lượng phòng thủ phi trường đang cố gắng chống đỡ trong tuyệt vọng.

    Trên bầu trời xanh cuối tháng Tư, khoảng chín giờ sáng chiếc AC119 (*) vẫn lầm lũi, bướng bỉnh đảo vòng quanh phi trường rải những lưới đạn đại liên xuống những vị trí chung quanh vòng đai phi trường nơi đám Cộng quân đang điên cuồng cố gắng thanh toán nốt mục tiêu cuối cùng. Quân cộng Sản cố gắng triệt hạ chiếc AC119 cô đơn bằng nhữnh lằn đạn phòng không. Chung quanh phi cơ, những nấm khói trắng vội vã nở bung như những bông hoa tiếp theo những tràng đạn chát chúa nhưng chiếc phi cơ vẫn lầm lì coi thường đáp trả lại bằng những cơn mưa đạn hung thần xuống đầu bọn chúng mà chẳng cần bay lượn tránh né.

    Bỗng một tiếng nổ xé trời, vệt khói trắng bay thẳng như mũi tên lao thẳng vào chiếc phi cơ. Chiếc AC119 nổ tung trong trái cầu lửa, thân phi cơ gẫy vụn làm nhiều mảnh, những mảnh nhôm vỏ bọc phi cơ bay lờ lững trong không gian như những chiếc lá vàng mùa thu trong cơn cuồng phong, không một bông dù được bung ra. Đất nước vừa có thêm những anh hùng vô danh: Phi Hành Đoàn AC119 đền nợ nước bởi hỏa tiễn Sam hay SA7 của Việt Cộng.


    Hình minh họa

    Người lính kỹ thuật Không Quân trào nước mắt, tay cầm mũ ấp vào ngực cúi đầu chào vĩnh biệt đồng đội vừa anh dũng hy sinh trên chiếc AC119. Động lực nào mà các anh đã dũng cảm chiến đấu một cách vô vọng trong lúc các anh có thừa phương tiện đào thoát trong tay ? Các anh đã vĩnh viễn ra đi bỏ lại mẹ già,vợ dại, con thơ và những người thân ? Chỉ có câu trả lời duy nhất: Thà chết vinh hơn sống nhục, các anh không chịu đầu hàng một cách tủi nhuc như lệnh của ông Tổng Thống cuối cùng sau khi lên nắm quyền chưa đươc 24 giờ.

    Lầm lũi rời khỏi cổng Phi Long (cổng chính phi trường TSN), khẩu súng M16 trên vai và hai kẹp đạn trong túi, tâm hồn tan nát như những mảnh vụn của chiếc C119 vừa nổ tung, hắn quên luôn cả lệnh buông súng đầu hàng, quên luôn những nguy hiểm chung quanh hắn, chỉ một tên “cách mạng 30” với vũ khí vừa nhặt được trên đường phố hay những nòng súng bắn sẻ đâu đó từ những con hẻm, góc phố hay từ sau những cánh cửa nào đó cũng dễ dàng đưa linh hồn hắn gặp các đồng ngũ của hắn vừa ra đi. Dù chợt nhớ tới lệnh buông vũ khí nhưng hắn cũng bất cần, nếu bị bắn sẻ mà ra đi trong lúc này thì chắc còn dễ chịu hơn phải sống như bây giờ.

    Bước chân vô định qua những đống quân phục, nón sắt, giầy bốt, vũ khí của đầy đủ các quân chủng bỏ ngổn ngang trên đường phố, những tiếng súng lẻ tẻ hay từng loạt đạn nổ chát chúa cũng không kéo được hắn ra khỏi cơn mộng du. Ký ức lôi kéo hắn trở lai những ngày sau cùng của cuộc chiến. Mất Ban Mê Thuột, Pleiku, Huế. Đà Nẵng di tản với bao hãi hùng đã rơi vào tay địch, trận Khánh Dương với các chiến binh Dù được tải thương về bằng C130. Hắn đứng nhìn những thương binh được tải xuống từ những chiếc xe bus, những thương binh còn tự lo liệu đươc đã cố gắng lê lết trên những thân hình tàn tạ, bê bết máu hay cõng nhau để lên những chiếc GMC đưa về bệnh viện của đơn vị bên trại Hoàng Hoa Thám, những cánh tay mệt mỏi đưa ra xin hắn vài điếu thuốc. Hắn sót sa chia sẻ bao thuốc cuối cùng cho các chiến thương binh kém may mắn, hy vọng những điếu thuốc sẽ xoa dịu cho bạn đồng ngũ phần nào những đau đớn thể xác.

    Rồi tin KQVN vừa thả xuống mặt trận Xuân Lộc hai trái bom CBU 55 đã tiêu diệt trọn vẹn hai sư đoàn Cộng quân làm mọi người phấn khởi. Nhưng rồi tin vui cũng như đốm lửa chợt bừng sáng rồi tắt lịm, Nha Trang thơ mộng không còn nữa, Bình Long, Biên Hòa cũng mất và giờ này thì căn cứ Tân Sơn nhất, cứ điểm sau cùng của quân lực VNCH chỉ còn là bãi chiến trường hoang vắng. Bước chân lang thang như một thói quen đưa hắn đến nhà người bạn đồng ngũ thân nhất gần căn cứ, ở đó đã có thêm một đồng ngũ ngồi ủ rũ, gặp nhau một cách đột ngột, cả ba đứa đột nhiên ôm chặt lấy nhau cùng òa lên khóc, bọn hắn khóc nức nở như những đứa trẻ thơ, như chưa bao giờ được khóc dù chưa kịp nói được một lời hỏi han.

    Sau cùng thì cũng là những trao đổi xem ai còn, ai mất. Chợt nhận ra cây M16 hắn còn đeo trên vai, bạn hắn nói: “mày điên hay sao mà giờ này còn mang súng?, bọn khốn nạn đó thấy sẽ giết mày không thương tiếc đâu”. Hắn cười, nụ cười khinh bạc, héo hắt: “có lẽ chết giờ này sướng hơn sống”. Giã từ bạn đồng ngũ, hắn lê thân xác nặng nề trên đường phố hoang vắng, đâu đó vẫn lẻ tẻ những tiếng súng cầm cự của lưc lượng Biệt Kích không chịu buông súng đầu hàng một cách nhục nhã. Biết đi về đâu ? Định mệnh tàn ác vừa chụp lên đầu hắn và nhiều triệu dân miền Nam Viêt Nam những ngày đen tối nhất.

    nguồn:
    https://www.facebook.com/photo.php?f...type=3&theater

  12. The Following 2 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    nguyenphuong (05-19-2018), Tinh Hoai Huong (05-18-2018)

Trang 43/54 đầuđầu ... 33414243444553 ... cuốicuối

Similar Threads

  1. Trả lời: 20
    Bài mới nhất : 12-17-2019, 03:19 AM
  2. Trả lời: 18
    Bài mới nhất : 08-20-2017, 06:40 PM
  3. Hình Ảnh Kỷ Niệm Xưa Không Bao Giờ Quên !
    By TAM73F in forum Phòng Chiếu Phim Dài
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 03-14-2013, 01:33 AM
  4. Không Cho Phép Mình Quên
    By Longhai in forum Truyện ngắn
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 11-03-2012, 12:42 AM
  5. 27 Tháng Giêng 1973 : Không Thể Nào Quên
    By Longhai in forum Chuyện Đời Lính
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 08-03-2012, 11:36 PM

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter