Trang 40/53 đầuđầu ... 30383940414250 ... cuốicuối
kết quả từ 235 tới 240 trên 316

Tựa Đề: Bạch Mã

  1. #235
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,187
    Thanks: 7,823
    Thanked 5,265 Times in 1,161 Posts

    Button Xanh Hồi Ký Của Vợ Người Tù

    Hồi Ký Của Vợ Người Tù
    Mai Thy


    Hình minh họa

    Vào thời thập niên 60 – 70, ở Sài Gòn, những rạp hát như Rex, Eden thường hay trình chiếu những cuốn phim ngoại quốc như: Ben Hur, Samson Dalida. v.v… Những nam minh tinh màn bạc có thân hình như tượng đồng những bắp tay cuồn cuộn, vòng vai, vòng ngực nở rộng, bắp thịt bụng rắn chắc hiện thành 6 múi… có thể che chở và chống lại những bão táp phong ba đến với họ, đã làm cho tôi ngưỡng mộ những người hùng trong những cuốn phim đó. Không biết có phải tôi bị lậm phim ảnh quá không?

    Có lẽ ước mộng của tôi về người yêu của mình cũng giống như bao cô gái khác, ở vào tuổi mới lớn. Nhưng sự mơ ước của mỗi người đều khác nhau về đối tượng của mình. Ước mộng của tôi tuy rất bình thường, nhưng hơi khó thực hiện…

    Một hôm, tôi đi vào Nhà sách Khai Trí để tìm mua vài cuốn sách Văn Phạm Anh Ngữ để trau dồi thêm cho phần Anh Văn, tôi rất say mê đọc sách đủ loại truyện và mê học Sinh Ngữ từ nhỏ, nên tôi đã ghi tên đi học thêm ở Hội Việt Mỹ và London School, mong là sau khi tốt nghiệp Văn Khoa môn Sinh Ngữ tôi sẽ có cơ hội đi du học Mỹ Quốc.

    Trong thời gian này tôi cũng có ghi tên học Trường Quốc Gia Âm Nhạc với nhiều bộ môn: Ca Kịch Cổ Nhạc, Tân Nhạc, và Chèo Cổ Bắc Phần. Ba tôi thì rất mê nghe tôi hát chèo lắm, vì ông là người Bắc.

    Tôi lướt qua kệ sách của những Nhà văn Việt Nam, tôi thấy tên của một nhà văn nghe hơi lạ: Võ Hà Anh & Dung Saigon, tôi bèn cầm lên, đọc thử xem họ viết gì nào. Ồ! Ông ta đang nói về sự Huấn luyện gian khổ của Người Nhái. Nhưng mà Người Nhái là ai vậy? Họ như thế nào? Lúc đó tôi chưa thể mường tượng được Người Nhái, sao không giống như những sự tập luyện của những Binh chủng khác mà chúng ta thường thấy ở những Quân trường? Tôi đang đọc say sưa, quên cả việc vào tìm mua những cuốn sách Anh Văn mà tôi đã dự tính lúc ban đầu, thì có tiếng cô bán hàng hỏi:
    – Cô có thích cuốn đó không? Cô có mua không?

    Tôi vội gật đầu và nói:
    – Dạ! Mua chứ!

    Chắc cô ta để ý thấy tôi đứng đọc lâu quá! Chắc sợ tôi coi chùa. Tôi tìm mua thêm vài cuốn sách Văn Phạm và vội về nhà ngay để đọc tiếp đoạn hấp dẫn của cuốn sách vừa rồi…!

    ***

    Năm 1966, tôi đã được xem Diễn hành Ngày Quân Lực 19 tháng 6 của tất cả các Quân Binh Chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Tôi cũng có ý muốn chờ xem Người Nhái ra sao, và tôi đã thấy đoàn diễn hành của Liên đội Người Nhái, trang phục rất lạ ngồi trên chiếc xuồng Cao su, còn chiếc xuồng khác thì các anh thân hình trần không áo, màu da sạm nắng, hàng đứng bốn thanh niên với thân hình lực sĩ giống như tôi thường thấy trong những cuốn phim mà tôi đã kể ở trên, mình trần, quần Short vàng, da sạm nằng bóng như những tượng đồng đen, tay cầm khẩu Tiểu Liên trông thật oai hùng.


    Hình minh họa

    Kể từ đó, tôi bắt đầu mơ màng về Người Nhái, nhưng làm sao mình có thể quen và được tiếp xúc với họ. Nhưng rồi thời gian đi qua tôi không còn ở tuổi mơ mộng đó nữa, nhưng vẫn cứ mộng mẫu người trong mơ!

    Tôi đang cố gắng hoàn tất chương trình Văn Khoa và song song trong thời gian nầy tôi cũng vẫn tiếp tục học Anh Văn để thực hiện ước mộng của mình.
    Nhưng, ước vọng của tôi không thể thực hiện được! Vì Ba tôi đã mất trong khoảng thời gian nầy, nên ước vọng của tôi cũng tan theo, tôi phải nghỉ học để đi làm, nhưng không dám thi vào làm trong Tòa Đại Sứ Mỹ, (Vì lúc còn sống, Ba tôi sợ tôi sẽ lập gia đình với người Mỹ nếu vào làm việc trong đó).

    Vì tình trạng gia đình đang gặp khó khăn sau khi Ba tôi là cột trụ của gia đình đã về miền vĩnh cửu! Tôi phải xin vào hát những Phòng Trà ở Saigòn vào mỗi tối. Sau đó, tôi đi làm việc trong Đoàn Văn Nghệ Hoa Tình Thương. Trong Đoàn công việc cũng nhàn nhã, mỗi tháng chỉ đi công tác xa một lần. Đoàn văn nghệ chúng tôi đi viếng thăm, trình diễn Văn nghệ giúp vui cho các anh Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa trên bốn Vùng chiến thuật, đến những nơi tiền đồn hẻo lánh và những vùng Duyên hải xa xôi…

    Có những vùng mà chúng ta nghe địa danh cũng đã thấy não nuột rồi, đó là Dãy Phố Buồn Thiu. Trực thăng chở chúng tôi lướt qua vùng miền Trung nghèo nàn nầy, trên một vùng rộng mênh mông cát vàng như sa mạc, giáp cận bờ biển, cây cối không sống nổi với vùng đất cát khô cằn nầy…

    Giữa vùng cát vươn lên một dãy phố chợ dài khoảng 10 căn, với vài căn nhà lợp Tôle rải rác. Nơi đây bán toàn là hải sản được đem về từ biển cả… Nhìn cảnh vật đìu hiu đó thật đúng với địa danh Dãy Phố Buồn Thiu..!

    ***

    Chuyến viếng thăm trên căn cứ Hỏa Lực An Đô nhìn xung quanh cảnh vật thật hùng vĩ, núi đồi trùng trùng, điệp điệp quanh năm sương mù phủ khắp triền núi, triền đồi, vì vị trí căn cứ nằm trên đỉnh núi thật cao, chúng tôi được các anh Quân nhân tại Căn cứ hướng dẫn và giải thích những điểm đặc biệt về vị trí chiến lược nầy là nhằm bảo vệ cho các ngọn đồi Chiến thuật án ngữ con đường mòn Hồ Chí Minh giáp Biên giới Hạ Lào, các ngọn đồi Chiến thuật đó đều nằm trong vòng bảo vệ tác xạ của xạ biểu đồ Sơn Pháo. Việc di chuyển đều nhờ vào trực thăng. Còn đi đường bộ rất nguy hiểm vì đường cong của các đèo và thung lũng, các anh Quân nhân trú đóng nơi đây 3 tháng mới được thay toán khác. Thức ăn thì toàn là lương khô và chúng tôi cũng được khoản đãi một bữa bằng lương khô của Quân đội. Tôi còn nhớ chúng tôi đến nhằm vào mùa Hè mà cũng bị lạnh run vì những cơn gió thốc từ bên dưới triền núi… Các anh lính ở đây đều phải mặc áo lạnh quanh năm suốt tháng…

    Vào thời điểm này, chiến tranh đang xảy ra thật tàn khốc khắp nơi, những lần đi công tác xa ở những vùng chiến trận thật sôi động như tại Quảng Trị. Vào thời đó miền Nam chúng ta đã bị mất phần đất từ Vĩ tuyến 17 đến bờ sông Thạch Hãn. Khi Đoàn Văn Nghệ Hoa Tình Thương chúng tôi đến viếng thăm và tổ chức Văn nghệ để ủy lạo các Chiến sĩ thuộc đơn vị Thủy Quân Lục Chiến đang trấn đóng tại đây, chúng tôi được các anh Quân nhân đưa ra bờ sông Thạch Hãn để được nhìn về phía bên kia, cảnh vật điêu tàn đổ nát sau trận chiến lấn đất dành dân và những cuộc khẩu chiến giữa hai bên vẫn xãy ra hàng ngày… Chúng tôi đến Huế, Đà Nẳng, Pleiku, Kontum, Đà Lạt, Ban Mê Thuột, Bình Long, Củ Chi, Trảng Bàng v.v…

    Ban Mê Thuột, địa danh của vùng đất đỏ mưa mùa gió núi! Quả thật vậy, chúng tôi đã đến trong một buổi sáng khi đặt chân xuống phi trường giữa cơn mưa gió lạnh của mùa Đông. Nhìn xa xa những hạt mưa rơi xuống phản chiếu ánh sáng mù mờ của buổi ban mai như những sợi tơ dài phất phơ theo chiều gió lộng mang theo luồng giá buốt… Chúng tôi vào Câu lạc bộ tại Phi trường uống Cà phê đặc sản của vùng nầy. Chúng tôi ngồi thu mình ở một góc phòng tránh gió cho đỡ lạnh, mặc dầu có đem theo sẵn áo len ấm. Vì là Phi trường vùng đồi núi Cao nguyên không có hành khách bao nhiêu, thường thường là cho Quân sự sử dụng. Chúng tôi ngồi chờ xe của Tiểu khu ra đón.

    Đêm nay chúng tôi trình diễn cho các anh được đổi phiên từ các đỉnh đồi Chiến thuật về chung vui… Họ bước vào Hội trường với gương mặt tái lạnh vì giá buốt… Họ xúc động với tình người Hậu phương mang tình thương an ủi sưởi ấm đến cho họ trong đôi giờ giải trí… giữa vùng đồi núi hoang vu sương mù đất đỏ?

    Sau khi đi thăm viếng các nơi. Tôi cảm thấy thương những người lính, những người đã đem xương máu và mồ hôi tưới lên khắp Chiến trường để cho người dân có được sự yên ấm, an lành. Những buổi chúng tôi trình diễn cho các anh Chiến sĩ trở về từ mặt trận, những gương mặt còn vương mùi khói súng, những bộ đồ trận còn dính đầy sình, rách tả tơi, và những anh thương binh nằm dưỡng thương nơi Hậu cứ, đang nằm trên những băng ca xem chúng tôi hát, ôi! thương làm sao, những người đã góp máu giữ quê hương…!

    Trong một buổi thu thanh thơ cho Ban Thi Văn Mây Tần của chú Thi Sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà, tôi có dịp gặp chú Nhạc sĩ Lê Dinh đang làm Chủ Sự phòng điều hợp của Đài, sau khi nghe tôi đọc lời giới thiệu của Ban Thi Văn, chú Lê Dinh cho tôi biết là tôi có khả năng làm Xướng ngôn viên, chú mời tôi qua phòng thi…Và sau khi thi đọc qua nhiều thể loại, tôi được tuyển chọn vào Ngành. Và cũng từ đó tôi nghỉ việc trong Đoàn Văn Nghệ Hoa Tình Thương.

    Một buổi trình diễn quan trọng tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc của Bộ Văn Hóa Giáo Dục do Quốc vụ Khanh – ông Mai Thọ Truyền tổ chức để trình diễn bộ môn Văn Nghệ Cổ Truyền của Dân Tộc cho các phái đoàn Ngoại Giao đến tham dự… Chúng tôi đang tập dượt ca hát trước khi trình diễn màn hợp xướng ba nhạc phẩm Hòn Vọng Phu của Nhạc Sĩ Lê Thương. Tình cờ, tôi thấy một số người đi ngang qua cửa sổ phòng nhạc của chúng tôi, trong số đó có một người gương mặt hơi ngâm đen sạm nắng, tóc anh dợn quăn nhẹ. Có vẻ giống như cầu thủ của đội bóng tròn, gợi cho tôi sự chú ý đặc biệt. Tôi có cảm giác hình như tôi đã gặp ở đâu rồi nhỉ! Họ đang nhìn vào và cười với chúng tôi, như là muốn làm quen thì phải. Và sau cùng các anh ngỏ ý muốn mời chúng tôi qua Câu Lạc Bộ của Phủ Tổng Thống, tôi cũng đánh bạo đi theo các cô bạn, nhưng trong lòng hồi hộp… và cũng hơi run.


    Hình minh họa

    Lúc đó, chúng tôi mới được biết các anh cùng làm việc trong Khối Cận Vệ của Phủ Tổng Thống đang kiểm soát lại vấn đề An ninh, bảo đảm an toàn cho các vị yếu nhân trong đêm nay. Nhưng anh chàng có nét đen sạm rắn rỏi đó, theo sát và nói chuyện riêng với tôi mãi, làm cho tôi thật là hồi hộp và cảm thấy ngượng ngùng. Tôi tự hỏi “Không biết có phải anh là người mà tôi mong được gặp gỡ hay không? Nhưng sao trong lòng nghe rung động chi lạ!” Đang say sưa với ý nghĩ lạ lùng đó, tôi… giật mình… khi nghe các anh đề nghị mời chúng tôi đi Cát Lái chơi Ski Nautique (trượt nước), mọi người đều đồng ý. Trên đường đi, anh có kể chuyện cho tôi biết, trước khi ở trong ngành này (Sĩ Quan Cận Vệ) anh đã xuất thân từ đơn vị Người Nhái. Tôi bỗng giật mình.. nghe xao xuyến… nhớ lại… mộng ước… và “đối tượng” của tôi từ hồi còn thơ ngây…

    Khi đến nơi, bạn của anh là anh Trương Nghĩa Thành ra đón chúng tôi vào chơi Ski. Trong lúc anh đang lái chiếc Ca-nô, để cho anh Thành chạy Ski, thì trong đầu tôi đang xáo trộn dấy lên với nhiều ý nghĩ…

    Bỗng chiếc Ca-nô chao mạnh nghiêng qua như muốn lật, tôi giật mình… chụp ngay cánh tay của anh…cánh tay của anh.. thật rắn chắc… như sắt thép. Luồng hơi nóng ấm từ anh chuyển sang tôi như mang theo cả sức mạnh lan truyền… Trong lúc đó anh đang giữ vững tay lái để giữ thăng bằng chiếc Ca-nô. Tôi đỏ mặt, ngượng quá! vội buông tay anh ra, và …không dám nhìn anh… Anh Thành đổi tay lái với anh, đến phiên anh chạy Ski…

    Và sau buổi gặp gỡ đó, chúng tôi cảm thấy như có tiền duyên và chúng tôi bắt đầu yêu nhau với những buổi hẹn hò tiếp nối…Chúng tôi đã làm lễ thành hôn tại Câu Lạc Bộ Sĩ Quan An Đông, vào thời Mùa Hè Đỏ Lửa nên chỉ diễn ra trong vòng thân mật giữa gia đình, các bạn học và những bạn Nghệ sĩ rất thân mà thôi.

    ***

    Đến ngày 30 – 4 – 1975 Miền Nam: VNCH bị mất vào tay bọn Cộng Sản khát máu… Những tên Việt cộng nằm vùng lộ mặt theo dõi chúng tôi từng giây từng phút…Tôi còn nhớ rõ anh như con cọp lìa rừng bị loài lang sói giỡn mặt… nhiều lúc tôi thấy mặt anh như đanh lại đôi mắt anh như rực lửa căm hờn …

    Rồi anh cũng phải vào tù như những Sĩ Quan khác…”Học tập để biết đường lối mới của Đảng”. Còn tôi cũng bị đi “Học tập” trong ngành Truyền Thông tại Đài Phát Thanh Saigon. Họ bảo, tôi là Xướng Ngôn Viên, tôi đã “gián tiếp có tội ác với Nhân dân” vì bản tin viết ra tôi đã đọc cho thính giả nghe đó “cũng là có tội”. Nói chung, đối với Cộng Sản thì tất cả đều có tội, chỉ ngoại trừ Đảng Cộng Sản của họ.

    Sau tháng Tư, 1975. Tôi là một người vợ của “Ngụy quân” hay là tù “cải tạo”. Tôi chỉ biết nhớ thương chồng qua hình bóng của con (Vì nó giống anh như đúc) Tôi thường thầm nhủ: Cảm ơn anh đã cho…em đứa con, nó như là sức mạnh nung đúc nghị lực cho em. Có nhiều lúc em nhớ anh…nhưng không dám nghĩ đến những gì có thể xảy ra..! Tôi lo sợ vì biết tánh của anh rất can cường…

    Lúc đó, con trai tôi được 6 tháng, không biết lấy gì để nuôi con? Tôi đã gom hết những áo dài cũ, mới và tất cả đồ trang sức luôn cả những vật gì trong nhà có thể bán được, đưa cho một người bạn đem bán ở chợ trời để có tiền mua sữa cho con, nhưng rồi cuối cùng tôi không còn vật gì để bán, tôi đành dứt sữa cho con, và tập cho nó ăn cơm gạo mục và mốc (Lúc đó dân sắp hàng dài chờ đợi để được mua gạo như vậy đó, nên khi vo gạo phải vo nhẹ nhẹ nếu không sẽ bị nát). Tôi cố gắng nuôi con bằng đủ mọi cách để chờ chồng.

    Hoàn cảnh của tôi thật không còn con đường nào để tính, vì không biết buôn bán như các chị em khác, bao nhiêu nhọc nhằn, cay đắng tôi nhận lãnh thật bất ngờ sau tháng Tư đen -1975. Đã hơn ba tháng rồi mà tôi không nhận được tin tức gì của anh, chớ đừng nói đến thăm nuôi, lúc đó bên ngoài gia đình và dân chúng đã hoang mang than oán. Đến tháng thứ Tư, tôi nhận được thư anh gởi về từ “Trại cải tạo” tôi vui mừng biết rằng anh vẫn còn yên lành. Nhưng… chỉ có 2 ngày sau tôi nhận được tin anh đã trốn thoát trại tù Thành Ông Năm và đang ở tạm nhà người Dì của tôi. Anh không về nhà vì biết bọn Việt Cộng đang theo dõi.

    Tôi vừa mừng vừa lo sợ, buồn vui lẫn lộn. Nhưng anh không thể ở đâu được lâu, vì bọn Việt Cộng thường hay lùng xét để bắt phản động, Việt Cộng thường dùng “bọn 30″ theo dõi hành động của dân. Anh cho biết anh muốn đi tìm những đường dây kháng chiến để sát nhập với anh em cùng chống lại bọn Việt Cộng cho nên anh tìm cách trốn ra. Anh phải sống như những người dân du mục nay Saigon, mai Miền Tây, mốt Miền Đông mà trong người thì không tiền. Với chiếc xe đạp mượn của một người bạn, anh đạp cả ngày từ Chợ lớn ra Saigon hay ngược lại, anh phải sống nhiều ngày với nải chuối trên xe, vì nếu ngừng lại thì sẽ bị Công an khám xét. Vì anh không muốn liên lụy đến những người bạn nên có nhiều đêm không có chỗ ngủ, anh phải mướn chiếu để ngủ ở Nhà Ga Xe Lửa Saigon hay Xa Cảng Miền Tây. Có những lúc mang con, gặp lén anh ở những quán Café vỉa hè và các quán ăn, anh cho biết đêm nay anh không biết trú ngụ ở đâu… Trời ơi! Lòng tôi thật đau đớn vô cùng, tôi cố nén lòng, mà như ai bóp nát tim tôi, cố dằn nhưng nước mắt cứ đoanh tròng…, tôi không biết làm sao để giúp được cho anh…

    May mắn tôi được sự giúp đỡ của một người bạn thân của anh tôi trở về từ Thụy Điển giúp cho vào làm việc cho một Công ty của ông ta với số tiền lương nhỏ.

    Tai ách lại đến với anh.

    Một hôm, anh hẹn tôi gặp anh ở một điểm hẹn gần Sở làm của tôi để giao lại cho tôi chiếc xe đã gắn cái yên nhỏ để chở con phía trước thay vì phía sau sợ con bị kẹt chân. Khi đến điểm hẹn, anh giao chiếc xe cho tôi rồi bảo: “Chạy gấp đi vì anh đang bị theo dõi”, tôi không dám đứng lâu vội lên xe chạy đi… Anh nói vói theo như một lời trối trăn:… Cố gắng nuôi con nghe em…!!

    Trên đường về nhà tôi thật lo lắng! vì anh chỉ có giấy giả… mà lại mang tên giả! Người tôi như chùn xuống không còn sức chịu đựng nữa, đêm đó tôi bồn chồn thao thức, hình như đả xảy ra chuyện không may đến anh, tôi buồn rầu vật vả mãi cho đến sáng…

    Sáng hôm sau, vào Sở làm, tôi vẫn còn nhiều câu hỏi trong đầu về anh, thì anh bạn gọi tôi vào Văn phòng và cho tôi biết, chồng tôi đã bị bắt tối hôm qua và hiện đang bị giam trong phường Công An Huyện Sĩ, họ mời tôi qua gặp họ, để điều tra. Tôi vừa nghe, nước mắt tôi đang chực để trào ra, tôi ngồi phệt xuống ghế, và không biết tôi đang làm gì!… Tâm trí tôi lúc đó đang quay cuồng, lo sợ họ sẽ xử tử anh vì biết anh đã vượt tù…Phần thì lo sợ nếu tôi bị mất việc sẽ không có tiền nuôi con… Đang miên man suy nghĩ thì hình như anh bạn của anh tôi cũng hiểu sơ ý tôi nên anh nói: “Cô đừng lo! qua thăm anh ấy đi, có cần gì anh sẽ giúp cho, rồi trở lại làm việc sau”. Tôi vội qua Phường Công An thăm anh, tôi gặp tên Công an trưởng, và hắn cho biết:
    – “Chồng chị, đã trốn trại học tập, về Saigon, sao chị không báo cáo cho Chính Phủ Cách Mạng? Dám đánh Công An để chạy trốn nhé “

    (Lúc đó, tôi nổi nóng nên không sợ gì cả) – Xin lỗi! Tôi không thể báo cáo được, vì các anh đã hứa học tập chỉ có 10 ngày, nhưng không đúng như lời hứa, nên chồng tôi phải trốn ra…

    Thì vừa lúc đó chúng dẫn chồng tôi ra, anh đi không nổi, tên lính Công an dìu anh ra. Nhìn anh với thân hình tiều tụy và gương mặt trỏm lơ vì thiếu ngủ, lòng tôi se thắt lại, tôi không cầm được nước mắt (Sau này anh kể lại đêm đó sau khi bắt được anh, chúng treo anh lên hổng mặt đất và 2 tên Công An thay phiên nhau đánh đấm vào ngực, bụng anh túi bụi, sau khi chúng thả anh xuống, hai tay anh không dở lên được…) Tôi đau xót vô cùng, nhưng anh sợ tôi khai không giống như lời khai của anh, sợ liên lụy đến anh em cùng hoạt động trong Thành phố, nên anh vội nói khi gặp tôi:
    – Em nói cho mấy anh này biết là anh nhớ Mẹ con em nên anh trốn trại về. Và ngủ ở nhà ga xe lửa…

    Sau khi được anh nhắc, tôi cũng lập lại lời anh nói với bọn Công an. Thấy không khai thác gì được ở tôi, nên tên Công an trưởng bảo dẫn chồng tôi vào và cho tôi về. Ngày hôm sau tôi đến đó hỏi thăm, thì họ cho biết, đang chuyển anh qua trại tù Quận Nhì Saigon. Chúng không trả anh trở về “trại học tập” cũ, có lẽ bọn chúng sợ anh sẽ trốn nữa. Tôi vội chạy đi mua một số thức ăn đi thăm anh, nhưng bọn chúng không cho gặp mặt, chỉ cho gởi thức ăn vào thôi! Cũng cùng lúc đó, thì chiếc xe chở tù cũng vừa ngừng lại trước cổng Quận Nhì, tôi vội chạy theo đưa thức ăn cho anh và chỉ kịp nhìn bóng anh khuất sau cánh cửa trại tù. Ôi! Cánh cửa oan nghiệt đó đã đóng kín chia cắt tôi và anh, tưởng như là vĩnh viễn… không gặp lại anh. Anh ơi!

    Kể từ đó, tôi bặt tin tức của anh, buồn bã, thất vọng, tôi không biết tâm sự cùng ai! Nhưng, trong nỗi thất vọng đó, tôi cũng rất tin tưởng ở anh, và hãnh diện ở anh, Người hùng của tôi.

    Lần vượt tù thứ nhất anh đã vượt qua những hàng rào kẽm gai kiên cố bao quanh trại học tập. Được biết theo lời “Ban Quản Giáo” của bọn Việt Cộng mỗi khi bắt lại được những Sĩ Quan nào trốn trại chúng đem ra sân cờ xử bắn để hăm dọa những người còn lại: “Các anh đừng hòng trốn thoát khỏi nơi đây, cho dù một con kiến cũng không lọt được”. Nhưng chúng đã lầm! Sau bốn tháng, tại Thành Ông Năm, Hóc Môn, bất chấp lời hăm dọa của bọn chúng, đã có một Người Nhái vượt được khỏi vùng kiểm soát của lính canh và mười mấy lớp kẽm gai bao bọc. Anh đã cho chúng thấy sự gan lì của một Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã không e ngại vì những lời hăm dọa đó anh đã ra khỏi trại mà chúng cũng không hay biết.

    Tôi luôn nghĩ, anh vẫn còn sống và anh sẽ tranh đấu để sống còn, để còn có một ngày…Anh thường suy nghĩ rất nhiều về thế hệ tương lai con… cháu…sau này.
    Sáu tháng sau khi bị bắt lại, chúng giam anh ở Quận Nhì… tôi nhận được thư anh là bọn chúng cho phép lên thăm nuôi, nhưng không phải ở Quận Nhì mà lại là “trại Phản Động K3” ở Gia Rây, tỉnh Long Khánh. Tôi vội vàng làm những món ăn để anh có thể giữ ăn được lâu và mang con theo lên thăm anh. Trong thư anh dặn mang theo Café và vài đòn bánh tét.

    Sáng sớm ngày Chúa Nhật, tôi và con tôi đi xe lửa từ Saigon đến Gia Rây, Long Khánh thăm anh. Trưa thì đến nơi, trại tù này nằm trên một ngọn đồi cao, chung quanh có nhiều hàng rào kẽm gai bao bọc thật kiên cố. Tôi phải chờ đợi đến gần chiều tối tôi mới được thăm anh, Trông anh sức khỏe khá hơn lúc gặp ở trại tù Quận Nhì, chúng tôi được gặp nhau trong vòng 15 phút, thằng bé lâu quá không gặp mặt Ba nên lạ, cứ nhìn Ba mà khóc hoài, tôi thật xót xa. Anh hỏi qua loa về những chuyện nhà, khi thấy tên Công An lơ đãng anh ghé vào tai tôi nói thì thầm:
    – Khi nào trời có mưa, em nhớ cầu nguyện cho anh!

    Tôi giật mình tôi hỏi nhỏ giọng lo lắng: – Anh…anh định… trốn nữa hả!

    Anh không trả lời, nhưng tôi thấy ánh mắt sáng ngời của anh hiện lên nét cương quyết… Tôi gật đầu nhẹ vì tôi rất hiểu ý của chồng tôi khi mà anh quyết định việc gì thì có thể nói là không có gì lay chuyển anh được!…

    Anh chỉ lấy Cà phê với mấy đòn bánh tét nhỏ, còn lại bao nhiêu đều để lại cho tôi đem về, vì anh biết khi đi thăm nuôi là tôi phải bán đi một vật kỷ niệm nào đó của chúng tôi… Tôi nghẹn ngào…

    Tôi đứng lên từ biệt anh mà lòng đau như dao cắt. Trời đã bắt đầu tối, tôi bồng con đứng nhìn theo anh đang lầm lũi theo đoàn tù “cải tạo” hướng về trại giam… mà dòng nước mắt tuôn tràn… Anh ơi!!

    Tôi bồng con vội vã ra nhà ga xe lửa cho kịp giờ khi đến nhà ga thì cũng vừa kịp chuyến xe lửa từ Nha Trang tới, khi lên được xe lửa thì trời tối đen như mực, đưa bàn tay lên không nhìn thấy gì cả, vì xe lửa không có đèn.

    Tôi rất lo lắng cho anh lòng tôi đang rối loạn vì không biết lúc nào thì anh sẽ vượt tù?…Và anh vượt ra có an toàn không?

    Vì tôi cũng có nghe vài người vượt tù bị bắn chết bọn chúng đem thây người chết mà vùi dập tại chỗ…Tôi miên man với nhiều ý nghĩ lo buồn bỗng giật mình vì nghe tiềng mưa rơi…Trời ơi…

    Anh… Anh ơi! Em đang thầm cầu nguyện cho anh …

    Vì tối quá, con tôi nó khóc mải cho đến khi về tới Saigon. tôi về đến nhà thì đã 12 khuya dưới cơn mưa tầm tã…

    12 giờ trưa hôm sau, tôi được một người em bà con cho hay anh đã trốn thoát một lần nữa và đang có mặt tại Saigon. Anh đến tìm người em của tôi nhờ cho tôi hay!

    Đêm qua tôi về đến Saigon cũng là lúc anh trốn trại vượt qua bao hàng rào kẽm gai kiên cố và nhất là Bãi Mìn đầy nguy hiểm để tìm tự do. Anh chạy bộ 35 cây số dọc theo đường rầy xe lửa từ Gia Rây về Long Khánh với một anh Trung Úy Bộ Binh, cả hai cùng ôm vai nhau làm thành khoảng cách như giữa 2 bánh xe lửa, rồi cùng chạy trên đường rầy…Khi về đến Long Khánh, hai anh đáp xe lửa về Saigon vào trưa hôm sau.

    Tôi thầm nghĩ: “Người Nhái Hải Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã làm cho bọn Cộng Sản thấy rõ ý chí can cường Bất khuất của một người Lính thiện chiến VNCH.

    Sau đó, anh lẩn trốn rất nhiều nơi và cũng suýt bị bắt mấy lần, trước khi được một người bạn giúp đỡ tìm cách rời khỏi Việt Nam để tìm thuốc “Chữa bệnh”.

    ***

    Cuộc vượt biên đầy nguy hiểm

    Một đêm hồi hộp phập phồng, vì mấy tên Công an đi dòm ngó vòng quanh, vì tất cả những người vượt biên đều ngủ tạm tại bến xe đò Cần Thơ để chờ sáng, khoảng 4 giờ sáng được người liên lạc của trong tổ chức tại địa phương hướng dẫn xuống bến Ninh Kiều và tất cả đều xuống đò đưa ra trên hai chiếc ghe chài đậu ở giữa sông, sau khi kiểm soát người đủ chiếc ghe chài trực chỉ ra cửa biển Tranh Đề, trên đường đi tất cả đều chun xuống khoang ghe, còn trên thì được ngụy trang đồ đạc chất đầy… Ghe chạy gần tới biển thì gặp chiếc ghe đánh cá Kiên Giang cập vào, tất cả leo qua ghe đánh cá nầy để vượt biên, khi qua chiếc ghe nầy mọi người cũng phải trốn dưới khoang chứa cá… Khi ra đến cửa biển thì trời đã tối, tất cả mọi đều vui mừng vì được ló đầu ra khỏi khoang ghe để thở không khí trong lành. Nhưng ghe chạy chưa được bao lâu thì lại vướng lên cồn cát, tất cả mọi người đểu xôn xao lo sợ vì có nhiều người đi trên ghe nầy đã bị bắt nhiều lần, có người bị bắt lại 9 – 10 lần, nên họ đã mất hết tài sản rồi, nếu bây giờ mà bị lần nữa thì hết mong vượt biên… Còn về phần chúng tôi được người bạn thân gởi đi nhờ nên anh không phải là tài công…

    Vì cùng đi chung một chiếc thuyền nên phải tự cứu mình, anh đứng ra kêu gọi tất cả trên ghe phải nghe theo anh sắp xếp tất cả đàn ông và thanh niên. Chỉ định cứ hai người làm thành một tổ… anh nói:
    – Bắt đầu các anh xuống nước lấy chiếc ghe làm chuẩn, mỗi tổ chia ra đều xung quanh ghe, hướng mặt ra ngoài và đi ra khỏi ghe khi nào các anh gặp chỗ sâu ngang cổ thì la lên…

    Tất cả đều làm theo, trong lúc đó tiếng cầu Kinh của các bà thì thầm khấn vái trong gió biển dạt dào…

    Khoảng độ 15 phút sau nghe có tiếng la to: “Chỗ nầy nước sâu lắm bà con ơi…!” Tất cả vui mừng cùng đẩy chiếc ghe đến chỗ nước sâu rồi anh tài công mở máy chạy thẳng ra biển… Nhưng chỉ chạy được vài trăm thước thì máy bơm nước trong ghe ra bị bể, mọi người lại lo sợ nữa… Anh liền lựa ra ba người lớn tuổi làm trưởng Toán rồi chia Thanh niên ra làm ba toán thay phiên nhau tát nước trong ghe ra ngoài…

    Kể từ giờ phút đó anh trách nhiệm lái chiếc ghe vì anh có hỏi qua tài công không rành đường đi trên biển? (Hay có ý riêng tư?!) Anh vào phòng lái mà lái ghe đi theo hướng anh đã định…

    Đến sáng hôm sau trời còn lờ mờ nhưng mọi người vì lo lắng nên đã thức dậy. Anh chỉ cho mọi người thấy hòn đảo Côn Sơn phía bên trái của chiếc ghe và nói:
    – Mình đã đi đúng đường rồi! Ghe sẽ đi thêm ba tiếng đồng hồ nữa thì đến Hải phận Quốc tế…
    Mọi người trên ghe đều vui mừng.

    Giữa cảnh trời nước bao la tôi cảm thấy mình như quá nhỏ bé so với mặt Đại dương mênh mông… nhưng tôi đã có anh bên cạnh nên những hãi hùng lo sợ đã nhường lại cho bóng mát của niềm tin yêu…

    Tôi ôm con ngồi dựa cột cờ nhìn anh làm việc mà lòng xúc động…Anh vẫn hiên ngang trước mọi biến cố…Rất cương quyết bất chấp hiểm nguy nhận lãnh trách nhiệm…và anh đã hoàn thành. Đưa tất cả là 59 người đến bến bờ Tự Do…Trên một chiếc ghe hư hại nặng mang số KG. 0660 không được sửa chữa, chai trét ghe đã bị sóng biển vỗ tróc ra nên nước biển vào rất nhiều, ba toán thanh niên phải vất vả tát nước suốt Hải trình từ Việt Nam đến Mã Lai hai ngày hai đêm rưỡi, trên ghe độc nhất chỉ có la bàn…

    Khi anh lái ghe theo lộ trình của Hải Tiêu vừa vào đến bờ chiếc ghe ủi lên cồn cát thì ghe rã ra và chìm xuống nước. Tất cả mọi người đều nhảy xuống biển, mặt nước ngập sâu đến ngang cổ…mọi người đều bồng bế nhau và lội vào bờ của đất nước Mã Lai…

    Chúng tôi đứng nhìn chiếc ghe tan rã chìm vào lòng biển cả, cảm nghĩ đó như thân hình bệnh hoạn yếu đuối của Mẹ Việt Nam nhưng vẫn cố gắng đưa đàn con thân yêu thoát khỏi vòng tù ngục Cộng sản…và đã trút hơi tàn…để vĩnh viễn trở về với lòng biển lạnh ngàn đời..! Hỡi ơi! Mẹ Việt Nam…!

    ***

    Chồng tôi đã sống lại từ cõi chết của ngục tù Cộng Sản, tôi nghĩ mình còn được may mắn hơn những chị em đã phải nhận xác chồng qua trận chiến tranh tàn khốc, hoặc tìm xác chồng trong các trại “Cải tạo” xa xôi qua cuộc trả thù người đồng chủng của bọn Cộng Sản tàn ác vừa qua…

    Tôi ngậm ngùi thương cho thân phận người Việt Nam chúng ta…Tôi rất hãnh diện và tự hào về anh nói riêng và nói chung cho tất cả các anh Chiến sĩ Quân Lực VNCH, những người vợ lính đã chịu đựng những sự nhọc nhằn, ngược đãi của chế độ phi nhân.

    Trong cuộc đời nầy và… mãi mãi chúng ta vẫn hãnh diện là người vợ lính VNCH. Chúng ta đã khổ sở, phải chịu nhục nhã và vợ chồng phải sống cách xa nhau… Những cảnh phân ly chồng vợ do bọn Cộng Sản gây nên, chúng ta may mắn vì đã được đoàn tụ. Vậy thì chúng ta phải quý mến những chuỗi ngày còn lại cho đến ngày tàn của cuộc đời chúng ta, phải không các Chị? Đó là câu tâm niệm của tôi.

    Chúng ta đã vượt qua mọi trở ngại mọi khó khăn mới có được ngày hôm nay thì xin hãy quý trọng giữ gìn hạnh phúc và lo cho con cháu chúng ta sau nầy… và nếu hoàn cảnh đã không cho phép để thực hiện những gì mà chúng ta muốn, thì hãy cố gắng gầy dựng cho thế hệ mai sau nối tiếp con đường mà cuộc đời của các anh Chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa và của chúng ta phải bỏ dở dang…

    Mẹ Việt Nam ơi! Chúng con cầu mong sẽ có một ngày trở về Việt Nam trong quang đãng, Thanh bình, Ấm no, Hạnh phúc và Tự Do… Nghĩa là trên toàn cõi đất nước Việt Nam không còn bóng dáng của lũ ác quỷ Cộng Sản dã man…!


    Mai Thy
    nguồn:
    https://buonvuidoilinh.wordpress.com...a-vo-nguoi-tu/

  2. The Following 2 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    BaNai (02-21-2018), khongquan2 (02-11-2018)

  3. #236
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,187
    Thanks: 7,823
    Thanked 5,265 Times in 1,161 Posts

    Button Do Cung Chúc Tân Xuân - Xuân Mậu Tuất 2018

    Kính chúc quý độc giả, cùng quý anh chị thành viên HQPD
    năm mới dồi dào sức khỏe, an khang thịnh vượng.

    BachMa





  4. The Following 2 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    khongquan2 (02-15-2018), nguyenphuong (02-16-2018)

  5. #237
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,187
    Thanks: 7,823
    Thanked 5,265 Times in 1,161 Posts

    Button Xanh Một Giao Thừa Trong Ðời

    Một Giao Thừa Trong Ðời
    (Hồi ký của Vương Mộng Long K20)


    Trại tù Suối Máu – Biên Hòa

    Từ cuối năm 1975, hàng ngàn tù nhân Sĩ quan cấp tá của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ nhiều trại tập trung quanh Sài Gòn đã bị chuyển về nhốt tại trại tù Suối Máu, Tam Hiệp, Biên Hòa.

    Vào một đêm giữa tháng 10, 1975, từ Long Giao, tôi bị chuyển tới đây trên một chiếc Molotova bít bùng kín mít. Tôi bị dẫn vào khu K2. Hai tuần sau có lệnh “biên chế,” tôi lại bị chuyển sang khu K3. K3 chỉ chứa Sĩ quan cấp Thiếu tá. Tôi bị giam ở đây từ ngày 1 tháng 11, 1975 cho tới ngày lên tàu Sông Hương ra Bắc (Tháng 7, 1976). Thời gian này, tin tức truyền thanh, truyền hình về tình hình thế giới càng lúc càng xấu đi. Người ta đồn rằng, hình như Cộng Sản Việt Nam đang trên đường tiến chiếm Thái Lan. Thế Giới Tự Do như càng lúc càng xa chúng tôi hơn.

    Anh em chúng tôi gặp nhau thường ngày, tụ tập từng nhóm, đánh cờ tướng, tán gẫu, bàn chuyện nhà cửa, gia đình, nước non, thời quá khứ. Trong những lúc tụ tập chuyện trò, chúng tôi nghe bạn bè rỉ tai rằng, chính quyền giải phóng đang nghiên cứu hồ sơ cá nhân của từng người, để xét tha (?).Cũng có tin bi quan, cho rằng chúng tôi sắp bị đưa ra Tòa án Nhân dân để xử tội. Chúng tôi thực sự hoang mang, chẳng biết tương lai mình sẽ đi về đâu.

    Tôi ở lán 24 thuộc K3 (Lán là nhà, K là Khối, danh từ VC). Mỗi lán chứa khoảng hơn 40 tù nhân, trong lán 24 đó có vài cựu Sĩ quan Ðà Lạt gồm anh Trần Ngọc Dương (K10), Nguyễn Lành (K16), Hoàng Thế Bình (K18), Tạ Mạnh Huy (K19), khóa 20 có Ngô Văn Niếu và tôi (Vương Mộng Long). Lán tôi cách lán 17 vài thước. Lán 17 có ba anh Biệt Ðộng Quân K20 Võ Bị là Nguyễn Cảnh Nguyên, Trịnh Trân, và Quách Thưởng. Trong cảnh thiếu đói thường xuyên, chúng tôi phải chia nhau từng mớ rau rền, tán đường thẻ, miếng cơm cháy.

    Lán 24 lúc nào cũng hôi thối đầy ruồi nhặng, vì nó nằm trên đường đi ra cầu tiêu, mà bệnh kiết lỵ của tù ở đây hầu như bất trị. Anh trưởng lán 24 tên Trần Thành Trai nguyên là Y sĩ Thiếu tá làm việc tại Quân y viện Duy Tân, Ðà Nẵng. Bác Sĩ Trai luôn luôn xác định lập trường của anh là quyết tâm “Học tập tốt” để được tha về với vợ con, vì vậy mỗi lệnh của ban chỉ huy trại đưa xuống, anh luôn luôn tìm cách thi hành đúng đắn.

    Thằng Niếu, bạn tôi, được một chân làm bếp, nó ăn uống dưới bếp, nên phần cơm của nó dư, được mang về tiếp tế cho tôi và anh Nguyễn Phong Cảnh (K10/TÐ) người nằm cạnh tôi.

    Vào những ngày cuối năm Ất Mẹo, không khí ở đây trở nên rộn rịp vô cùng. Những người liên lạc được với gia đình thì có những gói quà nhỏ gởi vào cho ăn Tết, những kẻ ít may mắn hơn thì đành trông chờ vào những gì ban chỉ huy trại ban cho. Thời gian này, các lán gấp rút tập văn nghệ để trình diễn đêm giao thừa.

    Ðể khỏi tập ca hát nhảy múa, tôi tình nguyện làm công tác tạp dịch, quét tước. Trong khi mọi người ca múa, xả rác, tôi đi lượm rác và xách nước về cho bạn cùng lán rửa mặt rửa tay.

    Hai ngày trước Tết, lán tôi phải tập họp đi làm cỏ ngoài rào K3.

    Trại Suối Máu vốn dĩ là trại tù Phiến Cộng Tam Hiệp của Quân Ðoàn 3. Trại có hai khu, hai hệ thống hàng rào. Lớp rào trong nhốt tù, rồi tới khu canh tù, ngoài cùng là rào mìn phòng thủ. Trại tù Phiến Cộng này có sáu khối. Mỗi khối cách biệt nhau bởi một khoảng đất trống, có rào mìn. Từ khối này muốn liên lạc với khối kia chúng tôi phải hét lên mới nghe tiếng nhau. Ra khỏi hàng rào thứ nhất, tôi chứng kiến vài sự đổi đời.

    Cái miếu thờ Thổ Ðịa trở thành cái chuồng nuôi heo. Nhà Thờ và Niệm Phật Ðường của trại tù binh đã thành chuồng gà sản xuất. Sư và Cha, Tuyên úy của trại này, chắc cũng đi tù đâu đây không xa! Ngoài xa, bên kia hàng rào mìn là bãi cỏ trống rồi tới đường Quốc lộ 1.

    Trên Quốc lộ, xe Lam chạy xuôi ngược; người người vội vàng buổi chợ cuối năm. Có vài bàn tay giơ lên ngoắc ngoắc về hướng trại tù, đôi người dân có liên hệ, hoặc ai đó còn nhớ tới chúng tôi, những Sĩ quan cấp tá của QLVNCH, những người bảo vệ chế độ đến giờ cuối cùng, và những người chậm chân, chạy không kịp, đang bị nhốt ở đây, trong khu nhà tù do chính tay Công Binh Việt Nam Cộng Hòa xây dựng lên trước đó nhiều năm.

    Sáng nay bầu trời mầu xanh, không một gợn mây. Từ hướng phi trường Biên Hòa, bên kia cánh đồng trồng khoai mì, những chiếc F5 thực tập lên, xuống, lượn vòng.

    Ðưa tay chỉ những cánh chim sắt đang bay trên trời cao, anh bạn Thiếu Tá Không Quân, Trần Chiêu Quân nói với tôi rằng, sau 30 tháng 4, có một số phi công của Việt Nam Cộng Hòa bị trưng dụng để huấn luyện cho phi công Bắc Việt lái những máy bay chúng ta còn để lại. Những chiếc F5 sáng như bạc đảo lộn trong không gian. Tiếng rít của phi cơ làm cho tâm hồn người cựu chiến binh nao nao.

    Làm sao quên được? Lần đầu ra trận (Tháng 2, 1966). Hôm đó, cũng vào một sáng đầu Xuân, đơn vị tôi án binh dưới chân núi Trà Kiệu (Quảng Nam) chờ lệnh xuất phát. Tôi ngồi bên bờ Nam sông Thu Bồn, say sưa nhìn những cánh F-4C, F-5A Hoa Kỳ đan nhau trên vùng trời Bắc. Bên kia sông, vùng trách nhiệm của Trung Ðoàn 51 Biệt Lập, khói đạn bom cuồn cuộn…

    Rồi tới trận Mậu Thân (1968) với những chiếc AD 6 Skyrader dềnh dàng, chậm rãi phóng từng trái Napalm dài như chiếc xuồng màu trắng, lướt trên đỉnh 1632 cuối phi đạo Cam Ly, Ðà Lạt. Khi bom chạm mục tiêu, từ đó, những sợi lửa lân tinh trắng xanh, trông giống như những cái vòi bạch tuộc, vươn cao…

    Còn nữa…

    Nhớ thời chống giữ Pleime, ngày ngày, tôi nghe quen tiếng L19 lè xè của Võ Ý (K17). Chiếc L19 như cánh diều mảnh khảnh, lững lờ quanh đỉnh Chư Gô, hay trên Ya Drang, thung lũng Tử Thần. Chúng tôi trông chờ đôi lúc trời trong, những phi tuần A-37 theo nhau tuôn bom… chờ những chiếc trực thăng rà sát đọt cây, lướt trên ngọn cột cờ căn cứ. Xạ thủ trên tàu chỉ kịp đạp vội xuống sân trại vài thùng pin, đạn, gạo sấy, con tàu đã lật bụng đảo một vòng, thoát chạy về Đông. Phòng không như lưới, thảy xuống cho nhau được thùng nào, hay thùng nấy! Thảy đồ xong là chạy. Ðồ tiếp tế, có thùng còn nguyên dạng, có thùng vỡ tan, có thùng bay vào bãi mìn. Như thế cũng quý hóa lắm rồi! Cám ơn người anh em Nguyễn Công Cẩn (K21) và phi đoàn 229 Lạc Long.

    Rồi đêm xuống, cứ như “Đúng hẹn lại lên,”

    “Thái Sơn đây Hỏa Long gọi!”

    Chiếc AC-47 của anh Trần Bạch Thanh (K16) đã có mặt trên vùng. Những đóm hỏa châu lập lòe, vừa trải rộng tầm quan sát cho người trấn giữ tiền đồn, vừa làm cho họ cảm thấy ấm lòng.

    Ðã mất rồi, ngày xưa ấy!

    Giờ này tôi đang đứng nhìn những cánh chim sắt chao lượn trên đầu, người lái không phải là quân bạn.

    Tiếng động cơ F5 nghe sao quá xót xa!

    ***

    Tôi đang nhổ cỏ thì thấy một đoàn người từ hướng ban Chỉ huy trại hò nhau khiêng một cái cổng gỗ rất to vừa đóng xong.

    Tấm bảng nền đỏ chữ vàng “Không Có Gì Quí Hơn Ðộc Lập Tự Do” được nâng niu như trứng trên vai những người tù nhễ nhại mồ hôi. Những người tù đang bị sức nặng của cái cổng đè trĩu trên vai. Họ phải lên gân chân mỗi lúc bước tới trước.

    Mới vài tháng trước đây họ còn là những vị Chỉ huy oai phong lẫm liệt. Giờ đây đành cam thân sống cảnh đọa đày, đóng vai những anh thợ mộc bất đắc dĩ không công. Ngày nào họ cũng ra đi rất sớm, chiều tối mới trở về trại. Họ dựng những cái cổng chào. Họ tu sửa, sơn phết những khẩu hiệu trên tường. Họ trồng lại hàng rào trại.

    Mọi việc làm này là để chào đón ngày Quốc Hội Việt Nam Thống Nhất ra đời. Những vị Sĩ quan cao cấp này đã khởi đầu nghề thợ mộc của họ bằng những cái bảng “Không Có Gì Quí” ở trại tù Tam-Hiệp.

    Tôi có quen vài người trong số những người hằng ngày xuất trại làm mộc, như cựu CHT/BÐQ/ QLVNCH là Ðại Tá Trần Công Liễu (K8 VB) và cựu Tiểu Ðoàn Phó Nhảy Dù là Thiếu Tá Trương Văn Vân (K20 VB). Cả hai vị đó, sau này nơi đất Bắc, đã thành hai ông đội trưởng nổi tiếng. Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh!

    Chín tháng sau ngày chế độ Cộng Hòa sụp đổ, tôi đang chứng kiến một hoạt cảnh chẳng bao giờ ngờ:

    Trên trời, phi công Việt Cộng đang lái F5, trước cổng trại tù, Sĩ quan cấp tá VNCH đang dựng cổng chào, quanh rào trại tù, Sĩ quan cấp tá VNCH đang làm cỏ. Nơi nơi, người người, chuẩn bị đón Xuân. Mỗi người mang một tâm sự riêng…

    Tới trưa, khi nghe tiếng kẻng phát cơm của nhà bếp, chúng tôi được dẫn trở lại trong vòng rào trại K3. Khi đi ngang qua sân bóng chuyền, tôi thấy người ta đang cá độ nhau trận đấu tay đôi đang diễn, một bên là Thiếu Tá Trần Ðạo Hàm, Thủ khoa K17/VB, bên kia là một tay Thiếu Tá Không Quân. Anh Lê Hữu Khái (K15) và thằng bạn tôi, thằng Nguyễn Bích (K20) đang nhảy tưng tưng cổ vũ cho anh Hàm. Cái miệng thằng Bích lớn lắm, nó la hét vỗ tay, bình luận ào ào. Anh Hàm thật là may mắn, có cái loa phóng thanh cỡ bự Nguyễn Bích cổ vũ nên anh có vẻ như đang dẫn điểm.

    Tôi thấy nhiều người đã để ghế “xí” chỗ tốt cho buổi TV văn nghệ tối; ngày nào cũng thế, cứ đến trưa là bà con đem ghế ra đặt sẵn trên sân bóng để “xí” chỗ xem phim TV của đài Sài Gòn Giải Phóng. Ai chậm chân thì không còn chỗ tốt. Thời gian này TV Sài Gòn Giải Phóng liên tiếp chiếu bộ phim nhiều tập “Trên Từng Cây Số” và “Ðại úy Ðen” của Ba Lan.

    Trong các lán, có nhiều bạn tụ tập bóc lột nhau bằng những con bài. Xì phé, sập xám và mạt chược là những môn chơi phổ thông khắp nơi trong trại. Tôi đã chứng kiến nhiều anh thua bạc phải bán cả những quà cáp từ gia đình gởi vào, như kem đánh răng, thuốc lào, thuốc tây để trừ nợ.

    Sau Tết ít lâu, tôi nghe một câu chuyện đau lòng ở K3 năm ấy: có một vị Thiếu tá Quận trưởng khi cắt bánh thuốc lào làm đôi để chi cho chủ nợ một nửa, thì phát hiện ra một bức thư “chui” của người nhà giấu trong ruột bánh thuốc lào. Bức thư vắn tắt đôi lời làm đau lòng người đọc,

    “Chị ấy đã gởi hai đứa con của anh cho bà nội của chúng nuôi. Chị đã đi lấy chồng rồi! Anh đừng buồn, ráng học tập lao động cho tiến bộ để sớm được thả về mà nuôi dạy con anh.”

    Cái tin bất ngờ sét đánh ấy đã làm cho ông Quận sững sờ, buông rơi những con bài cơ, rô, chuồn, bích. Từ đấy, tôi thấy ông suốt ngày thẫn thờ bên rào, nhìn về phía xa xôi. Ðôi lúc tỉnh táo, ông ôm cây đàn Guitar Solo những bài nhạc xưa, buồn đứt ruột.

    Tôi bồi hồi nhớ lại lời tổng thống nói ngày nào:

    – “Ðất nước còn, còn tất cả. Ðất nước mất, mất tất cả!”

    Ôi! Lời Tổng thống nói thật là hữu lý!

    Tổng thống ơi! Chúng tôi đã cố gắng hết sức mình để giữ nước, nhưng chúng tôi đã không thể giữ nổi.

    Chúng tôi lấy làm xấu hổ vô cùng.

    Sao Tổng thống không ở lại giữ nước với chúng tôi?

    Lúc này chúng tôi đã mất tất cả rồi Tổng thống ơi!

    Về tới lán tôi nhận được một vỉ thuốc ho, một nắm xôi đậu xanh, và mười cục đường tán do anh bạn BÐQ Bắc Hải (Phan Văn Hải) ở lán 22 gởi cho. Tôi, Phan Văn Hải, cùng Phan Ðộ (K20), Huỳnh Bá An (K20), Trần Hữu Bảo (K20), xuất thân từ trường Nam Tiểu Học Ðà Nẵng. Chúng tôi là học trò của cô giáo Phạm Thị Tịnh Hoài, lớp Nhất C.

    Hải là Sĩ quan khóa Đặc biệt Thủ Ðức, anh về phục vụ cùng đơn vị BÐQ của tôi ở Pleiku. Những ngày cuối của cuộc chiến, Thiếu Tá Phan Văn Hải giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng TÐ89/BÐQ. Khi đi tù, bạn tôi không có ai thư từ, tiếp tế, nhưng hắn bài bạc rất giỏi, nên lúc nào cũng sung túc.

    Chiều hôm đó, anh lán phó hậu cần, Hải Quân Thiếu Tá Bùi Tiết Quý thâu tiền của trại viên trong lán, gởi cán bộ trại mua giùm mì gói, tương, chao, xì dầu và đường tán để ăn bồi bổ thêm trong ba ngày Tết. Tối đến, sau khi đã chia hết phần đường cho người mua, anh Quý cạo được một chén đường chảy dính trong thùng giấy và bao giấy gói đường. Anh ung dung ngồi thưởng thức nồi chè đặc biệt, nấu bằng đường mót được với hột su su và mấy hạt bắp non anh trồng được bên rào. Làm đội phó hậu cần cũng có chút bổng lộc!

    Sáng ba mươi Tết, lại gặp ngày tổ tôi trực lán, tôi và một số bạn bị chỉ định xuống làm việc tăng cường cho lán 9 nhà bếp. Tôi phụ việc vo gạo cho thằng Niếu và anh Cung. Những tạ gạo đựng trong bao viền chỉ xanh rất cũ được chuyển về từ bưng biền. Gạo thì mốc vàng, mốc xanh. Những tổ sâu gạo to như nắm tay.

    Khi tôi tách những cái tổ sâu ra từng phần nhỏ thì những con sâu gạo trắng ngần có khoang, béo núc, to gần bằng đầu đũa và dài cả phân, ngo ngoe, ngo ngoe…Anh Cung không cho phép tôi vứt bỏ những cái tổ sâu ấy, anh nói rằng nếu vứt bỏ sâu đi thì hết gạo.

    “Nếu vứt sâu đi thì còn cái gì mà ăn? Cứ nấu tưới đi! Sâu cũng bổ béo, cũng nhiều ‘Prồ-tê-in’, sâu gạo chứ có phải là dòi ở ngoài chuồng xí đâu mà ngán!”

    Khi chảo cơm bắt đầu sôi thì nhiều khách khất thực nước cơm đã cầm ca đứng đợi. Anh Cung cho vài người, mà cũng từ chối đôi người. Người có phần, thì riu ríu cám ơn, người không có phần tiu nghỉu ra về, miệng lầm bầm, “đ.m, đ.m…”

    Những trại viên nhà bếp gọi đám người chờ xin nước cơm là “Đội quân cầm ca.” Chữ “cầm ca” ở đây không có nghĩa là ca sĩ, ca hát, hay ca kỹ mà có nghĩa đen chỉ sự cầm cái ca U.S dùng để đựng nước uống, cái ca nằm dưới cái bi-đông bộ binh ấy mà! Dân cầm ca phải đứng xếp hàng cả giờ đồng hồ trước cửa lò cơm để chờ xin một ly nước cơm. Chuyện xếp hàng trước, xếp hàng sau, đôi lúc cũng gây ra ẩu đả. Nước cơm có Vitamin B1 chữa được bệnh phù thũng (?).

    Sau này, khi ở trại tù Phú Sơn 4, Thái Nguyên, tôi có đọc một tài liệu nói về cái chất độc của nấm cúc vàng từ gạo mục, gạo mốc. Nấm cúc vàng có chứa một loại chất độc nguyên nhân gây ung thư gan. Nước cơm lại là phần đậm đặc nhất của chất độc nấm cúc vàng từ gạo mốc. Không biết có bao nhiêu nạn nhân của bệnh xơ gan sau này có mặt trong đội quân “cầm ca” ngày ấy?

    Chiều ba mươi Tết, bữa ăn có thịt heo kho. Thằng Niếu đem thêm về cả phần lòng heo bồi dưỡng nhà bếp của nó.

    Thời buổi khó khăn, thuốc lá bắt đầu khan, những tay nghiền miền Nam bắt đầu nói chuyện thuốc lào.

    Những danh từ “điếu cày,” “điếu bát,” “Cái Sắn,” “Hố Nai,” “Vĩnh Phúc,” “Tiên Lãng” nghe mãi cũng quen tai.

    Anh Hoàng kim Thanh, Liên Ðoàn Trưởng LÐ24/ BÐQ của tôi, từ bên K4 nhờ ai đó chuyển cho tôi được một bao 555 và một lạng cà phê.

    Trong khi thằng Niếu và anh Cảnh lo bếp núc cúng Tất Niên thì tôi đi vòng vòng tán dóc với Lưu Văn Ngọc (K20), cựu Sĩ quan Quân Pháp Quân Ðoàn 2.

    ***

    Tối ba mươi Tết ở K3 Suối Máu không khí thật là rộn rã tưng bừng. Mọi lán đều đã chuẩn bị sẵn sàng chương trình văn nghệ chào đón Chúa Xuân. Sân khấu văn nghệ được thiết lập giữa sân tập họp. Ðèn điện sáng choang. Cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam che kín cả sân khấu.

    Trước giờ văn nghệ, loa phóng thanh truyền đi những bản nhạc từ đài Sài Gòn Giải Phóng mà Tô lan Phương là giọng ca chính. Những nghệ sĩ tù cũng ăn mặc tươm tất để sẵn sàng trình diễn giúp vui. Ðàn ghi ta, trống, sáo đều làm bằng vật liệu lấy từ kho của nhà bếp như tôle, củi, ván gỗ…các nghệ nhân tự đẽo gọt, cắt xén, dán, ghép thành các nhạc cụ.

    Tám giờ tối, buổi “Liên Hoan Văn nghệ” đêm ba mươi Tết bắt đầu.

    Mở màn chương trình là bài đồng ca “Như Có Bác” tôi không nhớ do lán nào trình diễn.

    Kế tiếp, người Thiếu Tá Không Quân Hoàng Ðình Ngoạn (K17 VB) lên đài trong tiếng hoan hô vỗ tay của “đồng bọn” tù Võ Bị. Anh vừa hát được nửa bài tình ca, nhạc vàng “Mùa Xuân Trên Ðỉnh Bình Yên” thì bị “Cán bộ” chặn lại, đuổi xuống đài. Lý do, “Nhạc Ngụy ủy mị!” Sau đó, chỉ những bài hát “giải phóng” được phép trình diễn.

    Tiếng sáo trúc Tô Kiều Ngân lâm ly bài “Mùa Xuân Trên Thành Phố HCM” hòa ca cùng tiếng sáo miệng của Nguyễn Tuyên Thùy. Tôi nghe vọng lại từ các khu khác, đại để, bạn tù cũng chỉ hát những bài ca eo éo, nghe rợn tóc gáy, như “Cô Gái Vót Chông,” “Tiếng Ðàn Ta Lư,” “Năm Anh Em Trên Chiếc Xe Tăng” vân vân… Khắp sáu K sáng rực ánh đèn, vang rền tiếng nhạc…

    Năm mới đang từ từ tiến về…

    Ðến khi màn trình diễn của lán 24 vừa được giới thiệu, thì tôi bỏ chạy về lán. Tôi ngồi một mình trong cái nhà tôle vắng tanh. Nỗi đau đớn nhói tim tôi!

    Ngoài kia, bạn cùng lán của tôi, không tự nguyện, đang phải đóng vai “dân quân chống Tầu, chống Tây, chống Mỹ, chống Ngụy” trong một vở trường kịch. Khi họ tập bài bản trong lán, tôi biết họ cũng đau lòng lắm.

    Bạn Võ Bị của tôi, Tạ Mạnh Huy vì là Tây lai phải đóng giả làm Tây cho người ta trói. Thằng Niếu phải đóng vai BÐQ “Ngụy” giơ tay đầu hàng để anh Dương Bắc Kỳ đóng vai ông bô lão nông dân Việt Nam “đả đảo”. Mỗi lần tập xong, các bạn tôi đều buồn, họ đề nghị anh lán trưởng Trần Thành Trai cho tập một kịch bản lịch sử “Vua Quang Trung diệt quân Thanh” nhưng anh lán trưởng không đồng ý.

    Anh Trai nói, “ban chỉ huy trại đã ra lệnh” cho anh phải thực hiện cho được trường kịch này để mừng Giao Thừa, vì nó có tính cách “Lô gích lịch sử”(?). Và đêm ấy, anh Đội trưởng Trần thành Trai đã thực hiện thành công xuất sắc vở trường kịch “Việt Nam 4000 năm anh hùng.”

    Ngay sau khi bế mạc buổi văn nghệ mừng xuân Bính Thìn, mùa xuân đầu tiên của nước “Việt Nam Thống Nhất” (Mùa xuân đầu tiên quân và dân Miền Nam mất nước) anh đội trưởng Trần Thành Trai đã được “ban Chỉ huy trại tuyên dương công lao” trước trại.

    Khi trên sân khấu người diễn kịch bắt đầu hát bài “Tiến Quân Ca” thì tôi bật khóc. Một mình, ngồi trong đêm tối, tôi nức nở khóc vùi. Tôi chưa bao giờ thấy cái khóc lại có hiệu lực chữa đau đớn hiệu nghiệm như đêm ấy! Chợt tôi nghe tiếng chân ai ngoài cửa lán. Rối tiếng lên đạn súng AK…

    Thình lình, tia đèn pin chiếu ngay mặt tôi, làm mắt tôi chói lóa.

    – “Anh kia! làm gì ngồi khóc đấy? Sao không đi “rự nễ” mừng Xuân?”

    Tên bộ đội đi tuần tra lớn tiếng hỏi.

    Tôi lấy tay che mắt, nhưng không nhìn thấy gì. Tôi lặng thinh. Tiếng quát lại tiếp:

    – “Anh có mồm không thì bảo? Câm à? Sao không giả nhời tôi?”

    Tôi vẫn ngồi im. Ánh đèn đảo một vòng quanh vách lán rồi tắt. Căn phòng tối om. Tôi nghe tiếng chửi:

    “Ðịt mẹ thằng câm! Mới xa nhà có mấy tháng mà đã nhớ nhà phải khóc. Ông đây xa nhà hai ‘lăm’ rồi mà ông có khóc đâu! Ðồ không biết xấu hổ!”

    Tôi vẫn lặng thinh.

    “Rầm!”

    “Chảng!”

    Tên bộ đội giận dữ, đóng sập cửa lán. Nó còn bồi thêm một cái đá cật lực vào vách tôle. Vài giây sau, tôi nghe tiếng dép râu bước đi xa dần về hướng sân. Tôi nhìn đồng hồ tay (Khi đó chưa có lệnh thu giữ tư trang của tù) lúc ấy hai cái kim lân tinh chập nhau trên số 12: Giao Thừa!

    Ngoài sân tiếng ca hát còn đang tiếp tục. Tôi mồi một điếu thuốc 555. Trong trí óc tôi, hình ảnh những Giao Thừa đã qua trong đời hiện về, mờ nhạt như từ thế giới nào rất xa…

    Ngày xưa, mỗi độ Giao Thừa, cho dù lúc đó tôi đang đi hành quân với một toán Biên Vụ (Viễn Thám) quân số chỉ có năm người, lần mò trên những nhánh của hệ thống “đường mòn Hồ chí Minh” trên đất Lào, hoặc len lỏi trong rừng tre gai Plei-Trap Valley, hay lúc tôi đang chỉ huy cả năm, sáu trăm quân trấn giữ Pleime, hoặc ải địa đầu Bu-Prang miền biên giới Việt Miên, tôi không lần nào quên nghe chương trình Giao Thừa của Ðài Phát Thanh Quân Ðội.

    Giao Thừa Xuân Bính Thìn là Giao Thừa đầu tiên trong đời, tôi không tìm thấy lá cờ nước tôi, không nghe được câu hát: “Này công dân ơi! Ðứng lên đáp lời sông núi…”

    Bài quốc ca này đã đi vào lịch sử.

    Một thế hệ đã hát nó với cả bầu máu nóng trong tim. Bao nhiêu người thân của tôi, bao nhiêu bạn bè của tôi đã cống hiến tuổi trẻ và cả thân xác mình cho bài ca đó.

    Một thế hệ đã lớn lên thành người với bài ca đó.

    Một thế hệ sẽ mang theo nó xuống tuyền đài…

    Chợt tiếng anh lán trưởng Trần Thành Trai vọng lại trên loa phóng thanh,

    “Ðổi đời đã tới! Cách mạng đã thành công!”

    Tiếng hô lặp lại hai chữ “Thành công!” của trại viên vang dội đêm Trừ Tịch. Tôi cảm thấy tiếng hoan hô đã làm rung những tấm tôle trên mái.

    Trời đêm Trừ Tịch tối đen.

    Tôi không biết những vạt đen ẩn hiện sau hè, là bóng những bụi rau rền, giàn mùng tơi hay những hồn ma đói cuối năm chập chờn.
    Ngoài xa vẳng lại, từ bên K4, ai đó bắt đầu hát bài “Lá Ðỏ”…

    ***

    Vài năm sau, tôi nghe tin, cựu Y sĩ Thiếu tá quân y viện Duy Tân, Ðà Nẵng, Trần Thành Trai đã được tha khỏi trại cải tạo. Bác Sĩ Trai đã cùng Bác Sĩ Trần đông A, cựu Y sĩ Thiếu tá Nhảy Dù, nổi tiếng sau những ca mổ tách rời trẻ song sinh ở Sài Gòn. Tôi cũng đã nghe tin, giờ này, Bác Sĩ Trai đang là một “Dân biểu” của “Quốc Hội nước CHXHCNVN”.

    Nhân ngày đầu Xuân Ất Dậu (2005), tôi nhớ lại chuyện xưa, ba mươi năm trước. Nhớ những bạn Võ Bị, cựu tù lán 24 K3 Tam Hiệp. Trong số những người bạn đó, thì hai người đã qua đời, là Hoàng Thế Bình và Ngô Văn Niếu. Còn những bạn khác như Dương, Lành, và Huy thì đang ở Mỹ, không rõ họ có còn nhớ chuyện ngày xưa hay không? Riêng tôi, cái đêm Giao Thừa ba mươi năm trước ấy đã trở thành không thể nào quên, vì đó là lần đầu trong đời, tôi đón năm mới với thân phận một người tù mất nước…!!!

    (Seattle, Lập Xuân)
    Vương Mộng Long (K20)

    nguồn:
    https://baovecovang2012.wordpress.co...mong-long-k20/

  6. Xin cám ơn BachMa

    BaNai (02-21-2018)

  7. #238
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,187
    Thanks: 7,823
    Thanked 5,265 Times in 1,161 Posts

    Button Xanh Trễ Bắc Làm Sao Qua

    Trễ Bắc Làm Sao Qua
    Đoàn Xuân Thu


    Năm rồi, cuối năm, ngày áp lễ Giáng Sinh, hai thằng ‘cu’ con của tui nghỉ cày, cao hứng lấy xe chở tui và em yêu cùng 4 đứa cháu nội của tui quánh một vòng từ phía Tây, Queenscliff trên bán đảo Bellarine xuống phà qua Sorrento trên bán đảo Mornington về phía Ðông của thủ phủ Melbourne.

    Hải trình của chiếc phà ngoài cửa Vịnh Port Phillip, tiểu bang Victoria, Úc Châu nầy dài 10 cây số, mất 40 phút.

    Từ 7 giờ sáng, hai chiếc phà biển nầy luân phiên chạy qua chạy lại tới 6 giờ chiều thì nghỉ.

    Một chiếc xe tốn 62 đô. Người lớn 12 đô, thẻ giảm giá 10 đô. Con nít từ 4 đến 15 tuổi 8 đô; nhỏ hơn nữa thì được miễn.

    Xe xuống phà đậu, hành khách phải rời xe, leo lên lầu thượng ngắm cảnh trời mây nước.

    Từng đàn cá heo (dolphins) hụp lặn bơi theo phà như biểu diễn tài bơi lội. Mấy đứa cháu nội của tui chỉ chỏ, cười hi hi vì khoái quá trời hè!

    (Ở nước Úc tư bản nầy đây kinh tế thị trường không có lòng thòng cái đuôi xã hội chủ nghĩa gì ráo, khi ngân sách của chính phủ Liên bang và Tiểu bang không kham nổi thì để công ty tư nhân nó làm.

    Qua phà là trả tiền, không qua thì phải chịu khó chạy xa hơn, mất thời giờ hơn, tốn xăng hơn. Quyền chọn lựa là của mình chớ không có thằng cha căng chú kiết nào nhào vô nắm đầu mình trấn lột; không đi cũng phải trả như những đường ăn cướp trên quốc lộ Một ở Cai Lậy rùm beng mấy bữa nay đâu.)

    oooOooo

    Ðêm nay, đêm tháng Chạp cuối năm, tui nhớ chuyến phà xứ người năm ngoái; lòng tui lại nhớ những chuyến phà của quê mình năm cũ!

    Ôi! Tháng của những ngày ly biệt, rồi ra đi biền biệt, dẫu quê lòng tha thiết nhớ… nhưng làm sao biết tới ngày nào mà về quê cũ?

    Ðúng là Lục tỉnh Nam Kỳ mình sông rạch chằng chịt! Nào là đò dọc, đò ngang, xuôi dòng hay băng ngang qua bến khác, rồi lại quay về bến cũ.

    Thủ đô Sài Gòn muốn qua bên Thủ Thiêm thuở ấy là mình phải đi đò. “Bắp non mà nướng lửa lò/Ðố ai ve được con đò Thủ Thiêm.”

    Như vậy chiếc ghe trọng trọng một chút để đưa hành khách từ bên nầy sông qua bên kia sông gọi là đò, đò ngang.

    Ðể chở được nhiều người, xe đạp, xe gắn máy, tàu có tài công, thì gọi là phà.

    Còn bự kinh hơn nữa, chở cả chục chiếc xe hơi mỗi lần, trọng tải tới 100, 200 tấn thì mình gọi là bắc.

    Như vậy theo ngu ý của tui, là xếp từ nhỏ tới lớn, từ thô sơ chèo tay đến chạy máy diesel hiện đại. Mình có đò ngang, rồi phà và ‘number one’ là chiếc bắc (âm tiếng Tây là Bac).

    Nhưng sau 75, thì gọi búa xua bắc là phà. Sao vậy cà? Vì các nhà thơ, nhà nhạc ưa chữ phà hơn, vì vần điệu dễ hát; dẫu đã làm mất dần sự trong sáng của tiếng Việt đi! Hi hi!

    (Chẳng hạn như xưa giờ, tui chỉ nghe trai cưới vợ; gái lấy chồng. Vậy mà báo chí quốc doanh trong nước dám viết là: em người mẫu chân dài đầu ngắn nầy ‘cưới’ chồng (?!)

    Ðọc xong, tui cũng tự mình vò đầu bứt tai tự hỏi: “Ủa trong nước theo chế độ mẫu hệ hồi nào vậy cà?” Té ra không phải mà là dùng chữ tầm bậy tầm bạ, đụng đâu xắn đấy mà thôi!)

    Tiếng Việt mình dĩ nhiên không ai hoàn hảo cả, nhưng làm cái nghề bán chữ thì cũng nên kỹ kỹ chút đi kẻo chúng nó khi!

    Trước 75, khi viết về thời VNCH mình, mà dùng chữ phà thay cho chữ bắc là trật lất rồi! Bằng cớ là soạn giả Viễn Châu trong bài vọng cổ: ‘Người Ðánh Ðàn Trên Sông Mỹ Thuận’, toàn là chữ bắc Mỹ Thuận không hè, tui tìm đỏ con mắt mà hổng thấy chữ phà Mỹ Thuận nó nằm ở đâu?

    oooOooo

    Ôi nhớ xưa! Xe đò đi miền Tây như: Ðức Hiệp chạy Cần Thơ, rồi Thuận Thành, Lộc Thành, Nhan Nhựt, Quang Minh, Ðại Hưng, Thuận Hiệp, Vĩnh Phát, Thuận Lợi, Liên Hiệp, Nhơn Hòa, Phi Long, Hiệp Hưng, Kim Long, Nam Thành, Hữu Phước, Quang Minh, Hiệp Thành, Tam Hữu chạy tới Bạc Liêu, Cà Mau.

    Tất cả các hãng xe nầy phải chờ qua cầu Bến Lức và cầu Tân An (chỉ cho chạy một chiều) rồi xuống tới Bắc Mỹ Thuận quẹo về tay phải đi Sa Ðéc qua Bắc Vàm Cống để về Long Xuyên và Rạch Giá.

    Qua Bắc Mỹ Thuận, quẹo tay trái trước khi vô chợ Vĩnh Long là bà con mình phải qua cái quận Long Hồ. Nằm ép bên chân cầu là một cái chợ nhỏ tên là Trường An thuộc làng Tân Ngãi.

    Trường An và Long Hồ là tên hai nhân vật trong tuồng cải lương ‘Tuyệt Tình Ca’ mà bà con mộ điệu cải lương đặt tên tuồng lại là ‘Ông Cò Quận Chín’ (do Út Trà Ôn đóng) của soạn giả Hoa Phượng và Ngọc Ðiệp. Trường An, vai chị, do Bạch Tuyết; Long Hồ, vai em, do Thanh Sang đóng!

    Ðó là thời hoàng kim của sân khấu cải lương, của đoàn Dạ Lý Hương của bầu Xuân dù đất nước vẫn còn chìm đắm trong cuộc chiến tranh bảo vệ Miền Nam trước cuộc xâm lược của quân CS Bắc Việt.

    Sau nầy, mất miền Nam, sân khấu cải lương cũng bị lụi tàn theo vận nước!

    oooOooo

    Tui vốn là dân “vưỡn”, dân miệt vườn, lớn lên một chút đã lội nát nước Nam Kỳ Lục Tỉnh! Ðã qua biết bao lần Bắc Mỹ Thuận, Bắc Cần Thơ và Bắc Vàm Cống.

    Cái bắc cuối cùng tui qua là Bắc Rạch Miễu (nối Mỹ Tho với Bến Tre) và Bắc Hàm Luông về Mỏ Cày để đêm vừa xuống, leo lên thuyền xuôi Ba Ðông vượt biên cuối năm 1988; vì tháng Tư năm 1989 các trại tỵ nạn khắp vùng Ðông Nam Á sẽ bị đóng cửa.

    Tui đi nhưng trong lòng vẫn thương nhớ những chiếc bắc ngày xưa cũ!

    Nhớ Bắc Mỹ Thuận, ngang sông Tiền mênh mông, vàng quạch phù sa như màu của chè sương sa mình ăn hồi nhỏ vậy, mà Tây đặt tên là “les bacs de My Thuan”.

    Nhớ Bắc Cần Thơ, ngang sông Hậu dài 1,840m! Phía Cần Thơ, cầu Bắc tại Cái Khế! Phía Vĩnh Long, cầu Bắc tại Cái Vồn, quận Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

    Tài công của chiếc bắc ngồi trong buồng lái trên cao cho dễ quan sát thuyền bè qua lại hay lúc cặp vào bờ, giựt dây, chuông kêu leng keng, nắm cây ‘cần’ giảm tốc độ để Bắc từ từ ráp vào gờ phao nổi.

    Rồi một nhân viên trên chiếc Bắc kéo một cái dây cáp móc vào cái trụ trên ‘ponton’ để ngăn không cho chiếc Bắc tuột ra, để xe đang ‘đề pa’ không rớt tuốt xuống sông!

    Ðêm quê người, trong cơn mơ về quê cũ, trong tiếng mưa rơi lộp độp ở hiên nhà tui vẫn nghe văng vẳng tiếng: “Tới Bắc Cần Thơ rồi, bà con xuống xe đi bộ, qua Bắc”.

    Tui tuột xuống giường cái rột làm em yêu giựt mình hỏi tui đi đâu đó: “Lẹ lẹ lên em ơi! Trễ Bắc, làm sao mình về lại Úc cho được! Hu hu!”

    Em yêu đợi tui tỉnh ngủ, bình tâm lại, bèn vỗ về an ủi: “Mai anh phải đi khám bác sĩ tâm thần mới được!”

    “Bắc Mỹ Thuận, nay đã nghỉ chạy; vì Úc đã giúp xây xong cầu Mỹ Thuận.

    Bắc Cần Thơ, nay đã nghỉ chạy; vì Nhựt đã giúp xây xong cầu Cần Thơ.

    Thì còn chiếc Bắc nào đâu mà anh sợ trễ chớ?”

    “Phần hai vợ chồng mình đã bỏ xứ đi luôn rồi việc gì phải sợ trễ Bắc, trễ máy bay, kẹt lại ở Việt Nam đó anh yêu?”


    oooOooo

    Từ Cần Thơ đi Sài Gòn chỉ có 171 cây số bây giờ xe chỉ chạy mất 3 giờ 24 phút. Chớ hồi xưa cũng khoảng đường ấy qua sông nên phải lụy đò, phải qua hai lần bắc! Rồi VC đào đường, đắp mô nên mình rời Cần Thơ lúc tuổi thanh xuân vô tới cầu An Lạc ở Sài Gòn đầu muốn bạc.

    Mất 8, 9 tiếng đồng hồ là thường. Cùng khoảng thời gian đó, bây giờ bằng mình leo lên máy bay ở phi trường Tullamarine, Melbourne đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt để đi uống bia ôm như thằng bạn nhậu (mất nết) của tui hay làm vào những ngày cuối năm giáp Tết.

    Nó rủ tui về hè hoài. Nhưng tui lắc đầu quầy quậy, bà con mình đang đói khổ mà mình ỷ rủng rỉnh chút tiền đô, về để du hí thì thiệt là tệ hơn con khỉ.

    Tỉnh cơn mộng du, trời chưa sáng (như quê mình vậy). Tui lui cui rót ra ly rượu đỏ làm một hơi để nhớ về người chiến hữu thương binh ngày cũ trên Bến Bắc Cần Thơ: “Chiều qua phà Hậu Giang tiếng ai hát dạo buồn thay/ Tiếng ca sầu mênh mang như khơi niềm đau năm tháng xưa/ Chân nạng gỗ thấp cao kéo lề đời theo dòng nhạc đưa/ Mảnh chiến y phai màu khúc ca nào gợi sầu khôn nguôi!”

    Ðêm cuối năm về sáng quê người sao buồn quá Má ơi?!

    Đoàn Xuân Thu
    nguồn:
    http://baotreonline.com/tre-bac-lam-sao-qua/

  8. Xin cám ơn BachMa

    khongquan2 (02-20-2018)

  9. #239
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,187
    Thanks: 7,823
    Thanked 5,265 Times in 1,161 Posts

    Button Xanh "Nữ hổ tướng" Hồ Thị Quế - The Tiger Lady

    "Nữ hổ tướng" Hồ Thị Quế - The Tiger Lady


    Hồ Thị Quế là vợ của Thiếu tá Nguyễn Văn Dần, vị Tiểu đoàn trưởng của Tiểu đoàn 44 Biệt Động Quân QL VNCH, đây là một tiểu đoàn ưu tú của VNCH vì có lực lượng rất thiện chiến và tinh nhuệ.

    Hồ Thị Quế được các đồng đội miêu tả là con người quyết liệt trong việc chống Cộng. Được đa số quân lính nể phục vì bà hay bỏ tiền ra trợ cấp cho lính dưới quyền, bà Quế thường được tung hô là "Nữ Hổ Tướng". Hồ Thị Quế cũng nhận được rất nhiều huy chương danh dự của QLVNCH cũng như Quân đội Mỹ.

    Trong một lần đối đầu với Quân Giải phóng, Tiểu đoàn BĐQ 44 tổn thất gần hết quân số, 1 cố vấn Mỹ cũng bị giết. Hồ Thị Quế đã cạo đầu, nguyện sẽ rửa hận cho các chiến hữu đã ra đi.

    Tuy nhiên, chưa kịp ra chiến trường sau đó thì nữ tướng này bị chồng bắn chết. Trước toà, Thiếu tá Nguyễn Văn Dần khai rằng vợ ông đã tấn công ông bằng dao trước vì bắt gặp ông ngoại tình.:

    "Trong cơn ghen bả còn dữ hơn lúc bả xông pha chiến trường".


    Nguồn: Ký ức chiến tranh VN (chưa rõ link?)
    Sưu tầm bởi Cộng tác viên Nguyễn Tài
    nguồn:
    https://www.facebook.com/TimHieuVeCh...type=3&theater

  10. Xin cám ơn BachMa

    khongquan2 (02-20-2018)

  11. #240
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,187
    Thanks: 7,823
    Thanked 5,265 Times in 1,161 Posts

    Button Xanh Chiếc Máy Bay Do Người Việt Nam Chế Tạo

    Chiếc Máy Bay Do Người Việt Nam Chế Tạo
    Brown Sugar

    Máy bay đó có tên là “Tiền Phong 001” có nghĩa là “ngọn gió đi trước”, tên là “Tiền Phong 001”, vì dự định sau đó sẽ chế tạo thêm Tiền Phong 002, Tiền Phong 003 và 004 v.v.

    Kỹ sư trưởng của công trình này là ông Nguyễn Tú.

    Máy bay dùng để huấn luyện căn bản các phi công Việt Nam, vì vậy loại máy bay này được chế tạo theo kiểu máy bay cánh thấp giống khu truc, máy bay có hai ghế ngồi gần nhau với hai cần điều khiển song hành và có khả năng nhào lộn nhẹ nhàng thích hợp cho một chiến đấu cơ căn bản.

    Chuyến bay thử nghiệm được thực hiện vào ngày 01/7/1972 (hoặc 1973), phi công đầu tiên bay thử là ông Võ Xuân Lành và ông Nguyễn Tú, máy bay đã bay nhiều vòng trên bầu trời Sài Gòn.


    Chiếc máy bay đầu tiên được chế tạo tại Việt Nam, nó được sản xuất ở 3 căn cứ khác nhau và được ráp khâu cuối ở Tân Sơn Nhất.
    Buổi giới thiệu chiếc máy bay đầu tiên do Không quân Việt Nam chế tạo.






  12. The Following 2 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    khongquan2 (03-04-2018), nguyenphuong (02-22-2018)

Trang 40/53 đầuđầu ... 30383940414250 ... cuốicuối

Similar Threads

  1. Trả lời: 19
    Bài mới nhất : 06-25-2018, 06:30 AM
  2. Trả lời: 18
    Bài mới nhất : 08-20-2017, 06:40 PM
  3. Hình Ảnh Kỷ Niệm Xưa Không Bao Giờ Quên !
    By TAM73F in forum Phòng Chiếu Phim Dài
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 03-14-2013, 01:33 AM
  4. Không Cho Phép Mình Quên
    By Longhai in forum Truyện ngắn
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 11-03-2012, 12:42 AM
  5. 27 Tháng Giêng 1973 : Không Thể Nào Quên
    By Longhai in forum Chuyện Đời Lính
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 08-03-2012, 11:36 PM

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter