Trang 38/53 đầuđầu ... 28363738394048 ... cuốicuối
kết quả từ 223 tới 228 trên 316

Tựa Đề: Bạch Mã

  1. #223
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : đang online
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,187
    Thanks: 7,827
    Thanked 5,265 Times in 1,161 Posts

    Button Xanh Đằng Sau Một Bài Hát

    Đằng Sau Một Bài Hát


    Vào truyện
    Một tối trong một lữ quán ở tỉnh nhỏ Amarillo của tiểu bang Texas:
    – “Trước 1975 ở Việt Nam anh làm gì?”
    – “Tôi trong Không Quân…”
    – “Chắc anh cùng lứa với ông Nguyễn Cao Kỳ?”
    – “Không! ông Kỳ là cấp chỉ huy của tôi, ở Sài Gòn; Tôi đóng ở Pleiku. Tôi ngang cỡ với Lưu Kim Cương, một đàn em thân cận của ông Kỳ.”
    – “A, anh biết ông Lưu Kim Cương hả? Anh có biết ông ấy chết như thế nào không?”
    – “Nghe nói rất thương tâm; Trúng đạn bắn xe tăng, phổi lòi ra ngoài!

    ***

    Rất nhiều người đã nghe bài hát “Cho Một Người Vừa Nằm Xuống” từ sau biến cố Tết Mậu Thân, năm 1968, nhưng chắc ít ai biết rõ những tình tiết đưa đến sự ra đời của nhạc phẩm này, để đến cả 40 năm sau vẫn còn có người muốn tìm hiểu.

    Bài hát có lời như sau:
    “Anh nằm xuống, sau một lần đã đến đây
    Đã vui chơi trong cuộc đời nầy
    Đã bay cao trong vòm trời đầy
    Rồi nằm xuống, không bạn bè, không có ai
    Không có ai, từng ngày, không có ai đời đời
    Ru anh ngủ, mùa mưa tới trong nghĩa trang này có loài chim thôi
    Anh nằm xuống, cho hận thù vào lãng quên
    Tiễn đưa nhau trong một ngày buồn
    Đất ôm anh đưa vào cội nguồn
    Rồi từ đó, trong trời rộng, đã vắng anh
    Như cánh chim, bỏ rừng, như trái tim bỏ tình
    Nơi đây một lần, nhìn anh đến những xót xa đành nói cùng hư không
    Bạn bè còn đó, anh biết không anh?
    Người tình còn đó anh nhớ không anh?
    Vườn cỏ còn xanh, mặt trời còn lên
    Khi bóng anh như cánh chim, chìm xuống
    Vùng trời nào đó, anh đã bay qua?
    Chỉ còn lại đây những sáng bao la
    Người tình rồi quên, bạn bè rồi xa
    Ôi tháng năm, những dấu chân người cũng bụi mờ
    Anh nằm xuống, như một lần vào viễn du
    Đứa con xưa đã tìm về nhà
    Đất hoang vu khép lại hẹn hò
    Người thành phố, trong một ngày, đã nhắc tên
    Những sớm mai, lửa đạn
    Những máu xương chập chùng
    Xin cho một người vừa nằm xuống
    Thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang”


    Với những ai không quen biết nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (TCS) – là tác giả bản nhạc – dù có nghe, hay đọc kỹ lời ca cũng khó có thể biết nhân vật được nói đến là ai; Chỉ biết người ấy mới qua đời, và lúc còn sống đã có dịp bay cao trên trời.

    Để hiểu rõ câu chuyện, có lẽ phải nhìn lại từ năm 1962. Đó là năm nữ ca sĩ Khánh Ly (KL) thật sự bước vào cuộc đời ca hát của mình, trình diễn ở phòng trà Anh Vũ, một trong vài phòng trà ca nhạc (sống) lúc nào cũng chật ních giới thưởng ngoạn, trên đường Bùi Viện ở Sài Gòn.

    Ca sĩ KL ghi lại trong “Chuyện kể sau 40 năm” – chú thích trong ngoặc đơn là của Nguyên Giao: “… Tôi vẫn đi hát ở Anh Vũ, và chính ở đó, tôi gặp Trung úy Không quân Lưu Kim Cương. Sau buổi hát, anh chở anh Sơn (người anh ruột của KL – không phải là TCS) và tôi chạy vòng vòng Sài Gòn… hát tiếp những bài tôi vừa hát; Đặc biệt là bài ‘Anh Đến Thăm Em Một Chiều Mưa’ … Anh bảo … Mai (tên thật của KL) chọn bài có gout lắm, cứ như thế, và anh cũng muốn em giữ mãi nụ cười. Anh thích thấy em cười vì nụ cười đó sẽ mở cho em tất cả những cánh cửa … Cuộc gặp gỡ giữa anh em chúng tôi và Trung úy Lưu Kim Cương đơn giản như vậy. Tôi biết ơn anh vì anh là người duy nhất có cái nhìn thiện cảm với tôi. Anh là người đầu tiên và duy nhất khuyến khích tôi đi theo nghiệp dĩ này … ”

    Nhưng cuối năm 1962, KL lại rời Sài Gòn lên hát cho một phòng trà khác ở Đà Lạt, và lưu lại đó 5 năm. Năm 1964, tại Đà Lạt, KL gặp một người nhạc sĩ nghèo. Anh đến với cô bình thản như cơn mưa dầm của Đà Lạt vào đêm hôm đó. Qua vài câu chuyện, cô và nhạc sĩ trở thành hai người bạn. Người bạn ấy không ai khác, đó là nhạc sĩ TCS. Rất nhiều lần TCS đề nghị KL về Sài Gòn đi hát với ông nhưng cô đều từ chối bởi cô yêu Đà Lạt, sự yên tĩnh thanh bình của Đà Lạt đã quyến luyến bước chân cô, không như Sài Gòn vốn đông người và luôn nhộn nhịp.

    Đến năm 1967, ca sĩ KL tình cờ gặp lại nhạc sĩ TCS giữa giòng người đi lại trên đường Lê Thánh Tôn, Sài Gòn, vào một buổi chiều êm ả. Từ một đêm mưa của Đà Lạt đến một buổi chiều trên đường phố Sài Gòn, tất cả đã bắt đầu như đưa đẩy định mệnh.

    Vài hôm sau, trên nền gạch đổ nát bãi đất rộng sau trường đại học Văn Khoa Sài Gòn, một quán lá sơ sài được dựng lên với cái tên là Quán Văn. Tại đây, giọng hát khàn đục, và lôi cuốn của KL đã làm ngẩn ngơ, bàng hoàng & ngất ngây cả một thế hệ với những bản tình ca, và Ca Khúc Da Vàng mới lạ của TCS.

    Hãy nghe bà Đặng Tuyết Mai – trước là phu nhân của Thiếu tướng Không quân Nguyễn Cao Kỳ (NCK) lúc giữ chức Thủ tướng VNCH - mô tả liên hệ giữa Lưu Kim Cương (LCK) và Trịnh Công Sơn (TCS) trong một cuộc phỏng vấn năm 2009 ở Hoa Kỳ:

    “ … Anh LKC và chị rất là say mê nhạc của anh TCS và con người của anh TCS nữa. Chị hay nấu nướng. Trong Câu lạc bộ Không quân, anh LKC có một câu lạc bộ nhỏ là Mây Bốn Phương, luôn luôn kéo anh TCS vào đó. Chị đem đồ nhậu đến. Anh TCS làm được bài nhạc mới là hát, và hay tả cho nghe. Chị hay đến câu lạc bộ Mây Bốn Phương để nghe anh TCS đàn hát những bài hát mới. Giao tình của anh TCS với anh LKC rất mật thiết. Cũng lạ, một người rất là nhà binh, to lớn, cường tráng. Còn anh TCS rất là mỏng manh, ốm yếu. Nhưng hai người gần nhau vô cùng trong tình nghệ sĩ. Anh LKC có rất nhiều nghệ sĩ tính, hát rất hay. Thành ra, họ rất thân mến với nhau. Hàng tuần, họ gặp nhau hai, ba lần … “

    Từ năm 1967, NCK giữ chức Phó Tổng thống VNCH, có Trung tá LKC trong số những sĩ quan thân tín Không quân chung quanh.

    Đúng mùng một Tết Mậu Thân (31 tháng Giêng năm 1968), một cánh quân Việt Cộng tấn công căn cứ Không quân trong phi trường Tân Sơn Nhứt. Có mặt tại căn cứ, LKC đã “không quân đánh bộ” thành công chỉ huy dẹp tan quân địch hôm 23 tháng Hai, và được vinh thăng Đại tá.

    Mặc dù bị tổn thất nặng nề trong cuộc tổng công kích đợt 1 Tết Mậu Thân, tới trung tuần tháng 4, 1968 Việt Cộng lại mở cuộc tổng công kích đợt 2. Nhật báo Chính Luận ở Sài Gòn trong số ra ngày mùng 7, tháng 5, năm 1968 đăng tin: “Sáng ngày mùng 2 tháng 5 vào hồi 10 giờ, Ðại tá Lưu Kim Cương, Tư Lệnh Không Ðoàn 33 đã bị tử thương trong lúc ông đương đích thân chỉ huy một đơn vị bảo vệ vòng đai phi trường để đẩy lui một cánh quân Việt Cộng tại khu nghĩa trang Pháp gần ngã tư Bảy Hiền. Ông đã bị một tên Việt Cộng thủ súng B40 (phóng lựu đạn, để bắn xe tăng) vẫn còn sống, bắn một trái B40 trúng tấm mộ bia ngay bên cạnh Ðại tá Cương, sức nổ và miểng đạn đã chặt đứt một cánh tay của ông và gây thêm nhiều vết thương nặng khác, khiến ông tắt thở tại chỗ. Một phóng viên truyền hình Pháp chạy theo Ðại tá Cương cũng bị tử thương ngay bên.

    Ðại tá Lưu Kim Cương năm nay 34 tuổi có 2 con. Ông là người rất vui tính, có nhiều máu văn nghệ, chiếm được nhiều cảm tình trong giới quân đội cũng như báo chí. Tưởng cũng nên ghi nhận đây là lần đầu tiên một sĩ quan mang cấp Tá của quân đội ta nói chung và của Không quân VN nói riêng đã hy sinh trong lúc trực chiến với địch.”

    Nhà báo/Nhà văn Văn Quang có ghi lại: “Một buổi chiều năm Mậu Thân 1968, ngồi ở nhà hàng Pagode tôi gặp Khánh Ly và Ngọc Anh đi cùng Trịnh Công Sơn. Chúng tôi rủ nhau đi ăn cơm chiều. Ăn ở một quán bụi xong đã đến giờ giới nghiêm – thời gian đó Sài Gòn giới nghiêm từ 5 giờ chiều đến 5 giờ sáng. Khánh Ly nhờ tôi đưa Trịnh Công Sơn về … Đêm đó là đêm đầu tiên tôi đưa Trịnh Công Sơn về building Cao Thắng. Ở cái building đó chỉ có một phòng gắn máy lạnh, là của một thương gia bán huy chương ở ngay chợ Bến Thành thuê làm phòng riêng, cho tôi ở chung nhưng không lấy tiền. Sơn mang đến cây đàn guitar, ở lại phòng tôi vài ngày, tôi không nhớ rõ bao nhiêu ngày. Nhưng chính ở đó anh sáng tác hoặc hoàn tất bản ‘Tình Xa’. Tôi có cái máy ghi âm hiệu Akai, trong khi tôi đi làm, Sơn vẫn thường dùng để nghe lại bản nhạc mình đang hoàn thành. Rồi chợt một hôm nghe tin Lưu Kim Cương chết ở phi trường Tân Sơn Nhất, Khánh Ly lên phòng tôi, cô ngồi lặng, Sơn chỉ nhìn và cũng lặng yên. Ít ngày sau, bài ‘Cho Một Người Vừa Nằm Xuống’ ra đời … “

    LKC chỉ là một trong nhiều chiến sĩ đã vị quốc vong thân trong cuộc chiến 20 năm ở Việt Nam. Người ta ước tính đã có khoảng 3 triệu quân & dân hai miền chết vì cuộc chiến đó. Trong số này, đã có rất nhiều chiến sĩ trong các binh chủng khác như Thủy quân Lục chiến, Biệt kích Dù, Biệt động quân, v.v. của VNCH đã chết trận. Khác với hai sĩ quan cấp Tá Không quân Phạm Phú Quốc, và Lưu Kim Cương, hầu hết những hy sinh anh hùng khác – kể cả trong binh chủng Không quân – đã không được người ngoài thân nhân, hay bạn thân biết đến, vì mấy ai được/có nhạc sĩ sáng tác, ghi lại (bằng bài hát), và được cho phổ biến (trên truyền thông), để người ngoài – không phải là thân nhân – biết đến?

    Mặt khác, so với các chiến sĩ đã nằm xuống, trường hợp các Tù Cải Tạo trong các nhà tù của Việt Cộng lại càng phải được ghi nhận cho đúng. Đừng quên ngay sau năm 1975, hàng trăm ngàn cựu quân nhân, và viên chức VNCH đã bị tù đày, hành hạ, có người cả 20 năm. Bao nhiêu gia đình đã tan tác? Một số tù nhân đã chết trong tù vì bệnh hoạn, hay kiệt sức. Những chịu đựng, và hy sinh của những người tù lay lứt sống còn hình như đã không được ghi nhận tương xứng so với những bạn đồng ngũ nổi danh đã nằm xuống.

    Hơn 35 năm sau biến cố 1975, một tối trong một lữ quán ở tỉnh nhỏ Amarillo của tiểu bang Texas, tình cờ tôi đã được trao đổi vài ba câu chuyện với một cựu sĩ quan Không quân cùng lứa với cố Chuẩn tướng Lưu Kim Cương. Có khác chăng chỉ là người còn sống đã trải qua 13 năm tù cải tạo, và chỉ muốn quên đi quãng đời thanh xuân mà ông coi là đã bị phí phạm.

    Còn bao nhiêu cựu tù chưa có dịp giải tỏa chuyện đời của họ? Cũng đều là vì nước, giữa đột ngột chết trận, và sống còn với thể xác suy yếu & tâm thần gẫy đổ sau nhiều năm bị kẻ thù đầy đoạ & hạ nhục, thử hỏi: Ai trần ai hơn ai? Và như vậy, sao đã vinh danh người này mà hình như không nghĩ đến người kia?

    ***

    Có những bài hát có ý nghĩa, và công dụng hơn chỉ là phương tiện/sản phẩm giải trí, hay nghệ thuật. Đó là những bài ca ghi lại những sự kiện xảy ra cho các nhân vật trong hoàn cảnh của thời gian & không gian như nhân chứng cho dân tộc của một quốc gia đã trải qua. “Cho Một Người Vừa Nằm Xuống” là một trong những nhạc phẩm thuộc loại hiếm hoi này.

    Nếu đã biết như thế, những người yêu nhạc không nên chỉ để đầu óc đắm chìm trong giới hạn của lời ca & tiếng nhạc, để có khi còn thấy những sự kiện tuy không được trực tiếp kể lại, nhưng cũng thuộc những biến cố đổi đời.

    (BachMa sưu tầm)

  2. The Following 5 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    BaNai (02-11-2018), hoang yen (01-13-2018), khongquan2 (01-09-2018), nguyenphuong (01-07-2018), ttmd (01-10-2018)

  3. #224
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : đang online
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,187
    Thanks: 7,827
    Thanked 5,265 Times in 1,161 Posts

    Button Xanh Ponchos Buồn

    Ponchos Buồn
    Bảo Định


    Hình minh họa

    Không biết từ bao giờ, chiếc áo poncho đã trở thành chiếc áo đi mưa của người lính VNCH. Thời chiến tranh Việt-Pháp, người lính Pháp dùng áo đi mưa bình thường như ta vẫn dùng, nhưng màu sắc là màu kaki. Bộ đội Việt Minh thì dùng “tơi” làm bằng lá cọ, rất bất tiện. Về sau họ được trang bị bằng tấm vải nylon được lén lút mua từ vùng “Tề”. Trong những món quân trang được cấp phát cho người lính, có tấm poncho màu ô liu, dùng để làm áo đi mưa. Ý nghĩ đầu tiên của người lính giản dị chỉ có thế.

    Nhưng khi vượt sông, người lính được chỉ cách dùng tấm poncho, gói tất cả ba lô, quân trang quân dụng, cột túm lại để trở thành cái phao mà vượt qua dòng nước. Khi đi hành quân, với hai tấm ponchos nối lại với nhau, một sợi dây căng dùng làm đòn dong, người lính đã có một “túp lều lý tưởng của anh và của em”, của ba người lính, hay ba chàng “ngự lâm pháo thủ”. Vì cần thêm một người lính nữa chung vào, tấm poncho thứ ba làm tấm drap trải nền. Người lính đi hành quân dài ngày, ngoài ba lô quân dụng, phải mang một cấp số rưỡi đạn dược, nhiều trái lựu đạn, hành trang thường nặng trên 20 ki lô, nên ít ai mang theo chăn mền. Do đó tấm poncho thứ ba, khi đêm khuya lạnh lẽo giữa nơi núi non, hay vùng đồng không mông quạnh, đã trở thành chiếc mền cho ba người lính đắp chung. Ba người lính cùng dựng “túp lều lý tưởng”, cũng là tổ “Tam Tam” trong cơ chế quân đội, là đơn vị nhỏ nhất: Tổ Tam Tam, Tiểu đội, Phân đội, Trung đội, Ðại đội…

    Khi đi vào những vùng khan hiếm nước, hay không có nước như mật khu Hắc Dịch thuộc tỉnh Phước Tuy chẳng hạn, người lính đào một cái hố cạn, phủ poncho lên trên, tạo thành một cái giếng cạn để hứng những giọt sương đêm, hay gặp may, có một cơn mưa nào bất ngờ chợt đến để hứng nước. Sau cùng, khi người lính hy sinh nơi chiến địa, tấm poncho đã trở thành chiếc áo quan “phủ kín thân xác của người chiến sĩ”.


    Mùa Hè Ðỏ Lửa năm 1972, Tiểu đoàn 2/43 cùng Ðại đơn vị Sư đoàn 18 BB nhảy vào An lộc thay thế Sư đoàn 5BB, trấn giữ Thị xã này của “Bình Long Anh Dũng”.

    Ngày 12 tháng 6 năm 1972, khi lá cờ vàng ba sọc đỏ phất phới tung bay trên đỉnh đồi Ðồng Long, người hùng An Lộc, Tướng Lê Văn Hưng tuyên bố với phái viên VTVN: “Thành phố An Lộc đã được hoàn toàn giải tỏa”.

    Sau hơn hai tháng giao tranh, lực lượng tấn công cộng sản xâm lăng Bắc Việt với quân số đông gấp 4 lần lực lượng của QLVNCH, nhưng quân trú phòng đã gây cho chúng thiệt hại ít nhất là 30 ngàn quân trong tổng số 4 sư đoàn quân CSBV. Tổn thất về phía QLVNCH cũng khá nặng nề. Nhưng điều quan trọng là họ đã giữ vững được thị xã. Mặc dù An lộc đã trở thành một địa ngục của trần gian! Mưu đồ của CSBV mong chiếm được An Lộc để đặt làm Thủ đô của cái gọi là “Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”, con đẻ của Hànội, và làm bàn đạp tiến đánh thủ đô Sàigòn hoàn toàn bị bẻ gãy. Cuối cùng bọn đầu lĩnh Bắc Bộ Phủ đành phải chọn Lộc Ninh, một quận nhỏ của tỉnh Bình Long, nằm cách biên giới Việt-Miên vài cây số để làm thủ đô! Thật là khôi hài!


    Hình minh họa

    An Lộc đứng vững là nhờ sức chịu đựng, tinh thần chiến đấu dũng cảm, và lòng hy sinh vô bờ bến của người lính VNCH. Họ là những chiến sĩ Nghĩa Quân, Ðịa Phương Quân tỉnh Bình Long của Ðại Tá Trần Văn Nhựt, Sư Ðoàn 5 BB của Tướng Lê Văn Hưng, vài đơn vị của Sư Ðoàn 9, Sư Ðoàn 18, Sư Ðoàn 21, Biệt Ðộng Quân, và lực lượng Nhảy Dù. Hai câu thơ của một cô giáo An Lộc, được viết lên trên một tấm gỗ của thùng đạn pháo binh, cắm trước Nghĩa trang Biệt Cách Dù, ngay giữa khu phố chợ Bình Long:

    “An Lộc Ðịa, sử ghi chiến tích,
    Biệt Cách Dù, vị quốc vong thân”


    Ðã nói lên lòng biết ơn sâu xa của người dân địa phương đối với sự hy sinh cao cả của người lính VNCH.

    An Lộc đã đứng vững, các ngọn đồi chung quanh như Ðồi Ðồng Long, Ðồi Gió, Ðồi 169… đã được tái chiếm. Quân CSBV bị thua nặng, bị kiệt quệ, nên thôi mở những cuộc tấn công thiêu thân. Nhưng vòng vây bao quanh thị xã vẫn siết chặt. Không đủ khả năng hay không còn dám mở những cuộc tấn công bằng bộ chiến, chúng tấn công bằng trận địa pháo. Những trận mưa pháo liên tục trút lên thị xã nhỏ bé, ngày cũng như đêm. Những người lính VNCH tử trận không có phương tiện để mang về hậu cứ trong hoàn cảnh súng phòng không dày đặc, đường bộ thì bị cắt tại Tàu Ô trên QL13, đành phải “vùi nông một nấm” tại chỗ. Nhưng mỗi tấc đất của An Lộc là một tấc lãnh đạn pháo của địch. Do đó chuyện “người chết hai lần, thịt xương nát tan” chuyện thường tình. Tại An Lộc, Tiểu Ðoàn 2/43 đã có những người lính chết ba lần, bốn lần, thậm chí năm lần! Thử hỏi thịt xương còn gì? Không chỉ là nát tan!

    Sư Ðoàn 18BB của Ðại Tá Lê Minh Ðảo, sau khi nhảy vào An Lộc, để cùng với Trung Ðoàn 52 và một tiểu đoàn của Trung Ðoàn 48 tăng phái cho Sư Ðoàn 5, đã có mặt tại đây ngay từ những ngày đầu của trận chiến, liền cấp tốc mở những cuộc hành quân tái chiếm những vùng đất bị mất, nới rộng vòng đai phòng thủ, hầu giảm thiểu những trận mưa pháo của địch. Phi trường Quản Lợi nằm cách xa thị xã An Lộc lối 10 cây số về hướng Ðông Bắc. Trong thời kỳ quân đội đồng minh còn tham chiến ở Việt Nam, nơi đây là căn cứ của một Lữ Ðoàn Quân Ðội Hoa Kỳ. Người bạn đồng minh đã xây dựng tại đây những pháo đài, những bunkers rất là kiên cố để bảo vệ sân bay. Khi trận chiến An Lộc xảy ra, đây là địa điểm tốt để đặt sở chỉ huy của chúng, nhất là những dàn đại pháo để bắn vào An Lộc. Do đó, Tư lệnh Mặt trận Lê Minh Ðảo quyết định bằng mọi giá, phải tái chiếm Phi trường Quản Lợi.

    Vào một ngày đầu Thu năm 1972, Sư đoàn 18 BB đã mở cuộc hành quân cấp Trung Ðoàn để tái chiếm phi trường Quản Lợi. Ðây là vùng đồn điền cao su Ðất Ðỏ (Terre Rouge) của người Pháp. Từ An Lộc đi về hướng Ðông theo con đường 303. Trước khi đến phi trường, phải vượt qua một thung lũng hẹp. Ðây là thung lũng mà những người lính của tiểu đoàn 2/43 gọi là “Thung lũng Tử thần”. Chính cái thung lũng nhỏ hẹp này đã cướp mất biết bao nhiêu là sinh mạng của các chiến sĩ Tiểu Ðoàn 2/43.

    Từ sáng sớm, những phi cơ chiến đấu thay nhau trút bom đạn lên đầu giặc; tiếp theo là những tràng đạn pháo 105ly, 155ly. Những khẩu pháo này đã hoạt động liên tục trong suốt trận chiến, nòng súng bị nở rộng, đường khương tuyến bị mòn, nên bây giờ tác xạ không còn chính xác. Ðộ sai số có thể lên đến 500 mét! Sau những đợt mưa bom và đạn pháo, Tiểu Ðoàn 2/43 của Ðại Úy Nguyễn Hữu Chế, khóa 13 Võ khoa Thủ Ðức, và Tiểu Ðoàn 3/43 của Thiếu Tá Lê Thanh Quang, khóa 16 Võ bị Ðàlạt, bắt đầu mở cuộc tấn công.


    Hình minh họa

    Trước khi mặt trời lặn, hai tiểu đoàn đã tiến chiếm được một đầu phi đạo. Trận chiến diễn ra rất ác liệt, sự thiệt hại của cả hai bên đều khá cao! Nhưng quân bạn đã lập được đầu cầu, xua quân địch về bên kia và về cuối phi đạo! Cuộc hành quân chỉ tiến đến được ngang đó. Bên kia phi đạo là một dãy pháo đài và bunkers kiên cố của quân đội Mỹ để lại. Sức chống trả của địch thật mãnh liệt, quân bạn không thể tiến xa hơn. Sau nhiều ngày tạm nghỉ ngơi, một trận đánh quyết liệt đã diễn ra mà nỗ lực chính là Tiểu Ðoàn 2/43 để giải quyết trận địa.

    Tiểu đoàn được tăng phái Ðại Ðội Trinh Sát 43 của Ðại Úy Nguyễn Tấn Chi, khóa 12 Võ khoa Thủ Ðức. Từ sáng sớm, bom và đạn pháo thay nhau trút xuống mục tiêu. Thời gian của cơn mưa bom đạn kéo dài gần suốt ngày. Trước khi tấn công, một màn khói nhân tạo, do những trái đạn khói pháo binh tạo thành, dày đặc, làm màng che cho bộ binh tiến lên. Trận đánh kéo dài hơn hai tiếng đồng hồ để vượt qua một phi đạo không rộng lắm. Nhưng quân bạn không thể nào chiếm được những pháo đài và bunkers. Cộng quân với các khẩu súng cộng đồng 12ly7, đại liên, trung liên, SKZ, B40, B41 đã chống trả quyết liệt. Một vài toán quân tiến được qua bên kia phi đạo, nhưng không thể nào xâm nhập vào bên trong, đành phải bỏ cuộc, rút lui. Con số thương vong khá cao. Trời vừa tối, trước mặt vị Tiểu Ðoàn Trưởng là 19 chiến sĩ QLVNCH nằm ngay hàng với tấm poncho phủ kín.

    Còn nỗi buồn nào hơn nỗi buồn này. Chỉ trong một cuộc tấn công ngắn ngủi, con số thiệt hại đã lên quá cao! Nhiệm vụ chưa hoàn thành. Mục tiêu vẫn chưa bị thanh toán. Bóng đêm đến nhanh. Ta và địch đều phải bận rộn lo việc tản thương và tiếp tế. Ðịch bên kia phi đạo. Ta ở bên này, mặt đối mặt, tất cả đều mệt mỏi rã rời! Không ai buồn bắn pháo vào nhau.

    Một đêm yên tĩnh trôi qua. Trời thu ảm đạm, mây đen vần vũ. Cơn mưa chợt đến. Gió núi từng cơn thổi qua. Người lính VNCH áo quần ướt nhẹp, co ro trong cái lạnh đầu mùa. Nhưng súng không rời tay, mắt đăm đăm nhìn về hướng địch đang cố bám bên kia phi đạo, để theo dõi động tĩnh của đối phương.

    Ngày hôm sau, trận đánh lại tiếp tục. Nhưng lần này tiểu đoàn được tăng cường Trung Ðội Hỏa tiễn TOW của Chuẩn Úy Phương, vị sĩ quan tốt nghiệp trường Fort Benning bên Mỹ. Khi đưa Trung Ðội Hỏa tiễn TOW vào, Tư Lệnh cho biết mỗi trái đạn trị giá 7 triệu đồng (vàng lúc đó là 20 ngàn/lượng). Hỏa tiễn TOW là loại vũ khí chống xe tăng ra đời vào khoảng năm 1945. Nhưng hình như chưa được tung ra mặt trận thì cuộc Ðại chiến Thế giới lần thứ hai chấm dứt. Không biết trong trận chiến tranh Cao Ly, quân đội đồng minh đã có dịp sử dụng loại hỏa tiễn này chưa?

    Trong chiến tranh Việt Nam, loại hỏa tiễn này chỉ mới trang bị cho QLVNCH từ hồi Mùa Hè Ðỏ Lửa năm 1972, và chỉ mới xuống đến cấp Trung Ðoàn Bộ Binh. Mỗi trung đoàn có một trung đội gồm hai khẩu, gắn trên xe jeep. Tầm bắn của viên đạn là 3,000 mét. Khi viên đạn rời nòng súng, nó kéo theo một sợi dây kim tuyến. Chính nhờ sợi dây kim tuyến này mà ta có thể điều khiển viên đạn đến mục tiêu theo ý muốn. Trên ống nhắm có một chữ thập. Ta chỉ cần đưa chữ thập vào mục tiêu thì nhất định viên đạn phải trúng mục tiêu. Khi nổ, sức nóng tỏa ra trên 3000 độ. Ðặc biệt viên đạn có thể luồn lách qua những hàng cây như cây cao su. Ðây là loại vũ khí chống xe tăng rất hữu hiệu. Chỉ tiếc rằng người bạn đồng minh đã viện trợ cho ta quá trễ!

    “Mất bò rồi mới làm chuồng!” Cũng giống như hồi Tết Mậu Thân năm 1968, khi quân CSBV xâm lăng sử dụng AK47 để tấn công trên toàn cõi VNCH thì người bạn đồng minh mới cung cấp cho ta súng M16. Sau này khi bộ đội CSBV sử dụng xe tăng T-54, ta mới được ông bạn quý nhượng lại cho M48, do họ rời chiến trường VN, nặng quá không tiện mang theo! Có lẽ ông bạn Mỹ không muốn ta thắng VC, chỉ muốn ta thủ huề! Họ sợ ta thừa thắng rồi mở cuộc Bắc tiến! làm mất thế cân bằng toàn cầu của họ. Ôi! Thương thay cho thân phận người lính của một nước nhược tiểu.

    Vị Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 2/43 hân hạnh được bắn phát đạn đầu tiên. Viên đạn chạm trúng mục tiêu, vị trí của khẩu thượng liên 12ly7. Viên đạn nổ, khẩu súng câm họng ngay. Hàng mấy chục tên bộ đội bỏ chạy tán loạn. Chúng tìm cách nhào xuống triền đồi, lủi nhanh vào rừng sâu. Thêm hai viên đạn nữa rời nòng súng. Những ổ kháng cự mạnh nhất của cộng quân bị vỡ. Tiểu đoàn trưởng cho lệnh tấn công. Chỉ trong một khoảnh khắc, toàn bộ trận địa của địch đã bị quân bạn chiếm lĩnh.


    Hình minh họa

    Xác địch nằm la liệt. Nhiều tên bị xiềng vào chân súng, vào bunkers. Nhiều tiếng rên, nhiều tiếng khóc la. Nào là “Bác ơi! Ðảng ơi! Con chết mất”. Tuyệt nhiên không có tiếng “Bố ơi! Mẹ ơi!” hay “Trời ơi! Phật ơi!” như ta vẫn thường thốt lên mỗi khi đau đớn hay gặp cơn nguy biến. Khói súng, và mùi da thịt cháy khét lẹt của giặc tỏa ra cả một vùng. Súng cá nhân, súng cộng đồng vất bỏ ngổn ngang. Kết quả ta thu được 1 súng thượng liên 12ly7, 1 súng cối 82ly, 2 khẩu 61 ly, nhiều AK, B40 và B41. Bên ta hoàn toàn vô sự! Phi trường Quản Lợi đã được tái chiếm.

    Nhưng chiến thắng này tiểu đoàn đã phải trả cái giá quá đắc! Ðó là mười chín sinh mạng của các Chiến sĩ Tiểu Ðoàn 2/43. Những người lính dũng cảm, ra đi không hẹn ngày về. Họ đã nằm lại trên mảnh đất quê hương, đã hy sinh thân xác để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam được Ðộc Lập, Tự Do, và mang lại Hạnh Phúc, Ấm No cho toàn dân.

    Họ đã hy sinh thân xác để chống lại làn sóng đỏ tràn vào từ phương Bắc. Nhưng cuối cùng, vì sự ngu dốt của bọn người “ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng sản”, bọn người ngây thơ và nhẹ dạ, và vì sự phản bội của đồng minh; sự hy sinh của những người lính VNCH xem ra có vẻ oan uổng! Họ đã bỏ phí đời trai trẻ. Khi nằm xuống, những tấm ponchos đã phủ kín đời họ. Là những chiếc áo quan buồn, ra đi giữa vùng lửa đạn. Nhưng cũng là cái may! Họ đã chết vinh quang! Họ không phải sống nhục sau ngày 30 tháng 4, 1975, để phải chứng kiến cảnh “nước mất nhà tan”. Chỉ có những người còn lại là phải sống nhục, sống trong nỗi đau triền miên!

    Michigan, ngày cận Xuân
    Bảo Định
    nguồn:
    https://ngoclinhvugia.wordpress.com/...-d%E1%BB%8Bnh/

  4. The Following 5 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    BaNai (02-11-2018), hoang yen (01-13-2018), khongquan2 (01-10-2018), Tinh Hoai Huong (01-17-2018), ttmd (01-10-2018)

  5. #225
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : đang online
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,187
    Thanks: 7,827
    Thanked 5,265 Times in 1,161 Posts

    Button Xanh Người Thợ Vẽ Bên Dốc Cầu Quay

    Người Thợ Vẽ Bên Dốc Cầu Quay
    Trần Bạch Thu



    Hình minh họa

    Tháng Chạp gió lùa về se lạnh, nhất là vào những buổi tối, đèn chong lấp lóe suốt các con đường ngắn quanh chợ, người qua kẻ lại mua bán ồn ào náo nhiệt. Đèn sáng nhất là ở dãy vựa dưa hấu chất đầy trên các ụ rơm còn thơm mùi rạ mới. Dãy tiệm chạp phô thường khi mở cửa đến quá nửa đêm trong mấy ngày cận Tết, nhưng tối nay quanh khu chợ hầu hết đều đóng cửa sớm từ chiều, còn trong nhà lồng chợ thì đèn lại thắp sáng choang, người ta sắp ghế đẩu chật cứng không còn lối đi và bên ngoài lộ thiên từng đống ngổn ngang các sạp gỗ của bạn hàng trong chợ được đem ra chất thành từng cụm.

    Chưa tối lắm mà dân chúng đã bu quanh chợ đông nghịt. Gánh hát cải lương đang chuẩn bị che màn dựng sân khấu ở cuối dãy nhà lồng để diễn tuồng liên tiếp trong 3 ngày Tết.

    Năm nay gánh hát không diễn ở trong đình mà lại dời về nhà lồng chợ là vì ông chủ tiệm thuốc bắc An Tế Đường đã mua bao giàn và muốn cho bà con ở xa tụ về có chỗ rộng rãi để coi cọp (coi tự do, khỏi mua vé). Đến giờ khai diễn khán giả tràn lấn, xô đẩy các hàng ghế phía sau, đứng ngồi lẫn lộn chỉ còn lại mấy chỗ ngồi danh dự ở phía trước. Hôm ấy ông Lý mặc chiếc áo bành-tô rộng thinh màu mỡ gà sáng óng. Điệu bộ trông rất nhanh nhẹn, vui tươi. Chốc chốc lại quay ra nói lớn cho đám lính kín đang đứng dang tay làm hàng rào cản bên hông nhà lồng chợ không cho khán giả tràn lấn gần sát vô sân khấu. Bất ngờ day qua bên phải ông Lý bắt gặp một cặp mắt sáng, khuôn mặt thanh tú vóc người thon gọn cân đối.

    Trên sân khấu người ta bắt đầu giới thiệu tuồng hát và không quên cảm ơn sự tiếp đãi hào phóng của ông chủ tiệm An Tế Đường. Khán giả vỗ tay nhiệt liệt hoan nghênh nhưng ông Lý hồn đang ở tận đâu đâu… Hình như ông đang hướng về khán giả phía bên phải. Chờ đến hồi phân đoạn ngưng tuồng hát, đèn sáng lên và người phu kéo màn che kín sân khấu, ông nhanh nhẹn đi ra phía hông nhà lồng để giáp tận mặt cô gái có cặp mắt sáng như sao băng đang hồn nhiên rướn người về phía sân khấu.

    Trước khi vãng hát, ông Lý thì thầm to nhỏ với bọn lính kín vốn là đám tay chân bộ hạ chịu nhiều ân nghĩa của ông ở chợ Tầm Vu. Kịch bản cũ rích lại bắt đầu được đem ra diễn lại. Ông Lý đóng vai người dang tay nghĩa hiệp cứu kẻ gặp nạn, bảo lãnh người cô thế. Chỉ có trời mới biết ông đã đóng vai nầy bao nhiêu lần rồi. Nhưng lần nầy lại khác…

    Một buổi sáng sớm bình thường như mọi ngày ở chợ, ông Lý đang ngồi đọc báo bỗng có một thiếu nữ còn trẻ đẹp bồng con nhỏ đến trước cửa tiệm không nói một tiếng nào chỉ khóc uất nghẹn xin giao đứa nhỏ còn quấn tả, rồi sau đó đặt đứa bé xuống chiếc ghế bành làm bằng mây có lót gối đệm vải bông gòn cho ông. Ngỡ ngàng đến chết điếng, ông Lý không còn nói được lời nào. Người tài phú bước ra vặn hỏi cớ sự và có ý muốn đuổi đi nhưng ông đã ngăn lại, mời vô bên trong tiệm hỏi han cho rõ nguồn cơn.

    Hồi năm ngoái, sau khi vãng hát ở chợ ra về cô gái có đôi mắt sáng như sao băng bị bọn lính kín tìm cớ xét giấy tờ tùy thân không có nên tình nghi áp giải về đồn trong đêm tối, may nhờ ông Lý tình cờ đi ngang qua thấy tội nghiệp nên bảo lãnh đem về nhà. Rồi từ cái đêm hôm ấy là cả một quãng đời cơ khổ nhục nhằn, mang tiếng “chữa hoang” nên cô phải bỏ xứ ra đi tá túc nhờ đỡ người anh họ ở trong “xóm miểu” Kim Liên bên Chợ Cũ, Mỹ Tho để chờ ngày sinh nở. Chỉ có vậy thôi.

    Thường khi gặp cảnh nầy thì hai bà vợ của ông Lý, một cả là người Hoa, một kế là người quán xứ bên chợ Ông Văn đều phân giải bằng cách trợ cấp cho một ít tiền rồi khuyên thiếu phụ nên bồng con về xứ. Nhưng lần nầy hai bà thấy động lòng vì thiếu phụ còn quá trẻ và nhất là đứa nhỏ lại là bé trai kháu khỉnh, mặt này sáng trưng. Còn phần ông Lý coi mòi muốn lập thêm phòng ba nên câu chuyện chưa thể kết thúc như trước. Bỗng chưng hững giữa chừng, thiếu phụ đứng lên xin ra về và nhất quyết chỉ giao con, không nhận tiền cũng như không nói gì thêm. Dứt khoát bỏ đi không hề ngoái lại.

    Ngoài kia gió Tết đang về, gánh hát cải lương cũng về chợ hát như mọi năm. Nắng vẫn lên cao, người đi chợ cuối năm vẫn rộn ràng tấp nập và trong dòng người ấy có một thiếu phụ đang lầm lũi bước đi bên lề đường mà nước mắt như mưa.

    ***

    Thời gian qua mau, đứa bé ngày càng lớn khôn, lanh lợi thường hay lẽo đẽo theo ông Lý giờ đã chống gậy đi quanh phố chợ ngày thường, còn khi có dịp đình đám nó luôn được ngồi cạnh bên ông. Tuổi già đã mỏn, con nhiều dòng nên ông Lý phải lo mọi việc trước ngày ra đi. Giao tiệm thuốc bắc cho vợ chồng người con trai trưởng đồng thời phân chia tài sản, đất đai cho tất cả các con, trai cũng như gái đã trưởng thành có gia đình hay chưa cũng đều được ông quyết định có phần. Riêng đứa nhỏ có giấy thế vì khai sanh là con của ông và mẹ ghi là vô danh. Thật khó cho ông. Đắn đo suy nghĩ kỹ ông quyết định viết di chúc trích phần huê lợi đất hương hỏa 20 giạ thóc cấp dưỡng cho đứa nhỏ tới năm 18 tuổi. Thường gia đình giàu có về tiền bạc thì còn có thể chia đều được, chứ đất đai thì rất khó. Nhất hậu hôn, nhì điền thổ. Khi cha mẹ qua đời, con cái khó lòng mà giải quyết êm thắm. Gia môn vô phúc đáo tụng đình là vậy.

    Sau nhiều năm dò hỏi, ông qua tận bên Chợ Cũ, Mỹ Tho tìm tới nhà người anh họ bên vợ cũng không biết, cho đến bây giờ mẹ đứa nhỏ ở đâu. Cuối cùng, ông Lý quyết định là sau khi ông mất, người con trai trưởng có nhiệm vụ sẽ đem giao đứa bé cho người anh họ nuôi nấng cùng với giấy tờ ghi nhận phần huê lợi 20 giạ thóc hằng năm cho đến lúc trưởng thành. Phần gia bảo được giữ kín cho đến khi đứa nhỏ khôn lớn, do chính ông giao cho người anh vợ giữ dùm là con triện nỗi bằng gỗ, in chữ Tàu “An Tế Đường” để đóng dấu đỏ lên trên bao bì gói thuốc, ba toa thuốc gia truyền và một cái thúng mây lớn dùng để rây thuốc thành viên.

    Dòng đời trôi nỗi, sau nầy đứa nhỏ không cha không mẹ sống với người Cậu lớn lên ở xóm miểu Kim Liên trong khu nhà lá mà ngay đầu hẻm có cội me già, tàng lá che phủ gần hết xóm. Ngày ngày tới trường bình thường không ai biết. Cho tới một hôm, trong lớp thầy dạy vẽ cho ra bài “tả chân” tự vẽ bất cứ cái gì ở trong nhà, người hay đồ vật cũng được. Hôm kiểm tra, thường thì học sinh vẽ giống nhau. Có em vẽ con gà, chó, mèo hay vật dụng, cũng có một ít đứa vẽ chân dung người trong gia đình. Kết quả người đứng đầu sổ điểm danh trong lớp có điểm cao nhất. Bức vẽ bằng viết chì là một cái đèn dầu để bàn rất đẹp và nổi bật hình ba chiều nhưng đặc biệt là có cái ống khói dài lại bị bể một miếng ở phía trên cùng. Thầy hỏi:
    - Sao em lại vẽ cái đèn như vậy?

    - Thưa thầy, đèn nhà em bị bể ống khói lâu rồi.

    Cả lớp cười vang. Nhất là mấy đứa lớn hay tinh nghịch. Thầy cũng cười. Nhưng từ đó một số đứa khâm phục tài vẽ của nó nên bắt đầu kết thân và lần hồi tò mò mới biết được câu chuyện đầy bi thương ở chợ Tầm Vu hồi mười mấy năm về trước.

    Thế rồi vào một buổi sáng sớm trời còn sương đục mặt trời chưa lên. Xe cộ và người qua lại đông đúc như mắc cửi, nhất là xe gắn máy Honda Dame cánh nhựa sơn hai màu xanh trắng lướt rất đẹp và nổi bật trên đường phố. Hôm ấy ngày tựu trường, từng nhóm nhỏ học sinh áo quần tươm tất đang tụ tập dọc theo lề đường líu lo trò chuyện chờ mở cổng. Mấy đứa rất vui tươi, gương mặt rạng rỡ vì mới thi đậu bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp và đang hy vọng chỉ còn hai, ba năm nữa thôi là tới bậc Tú Tài, nếu đi lính sẽ là Sĩ quan hay vào các trường chuyên nghiệp là Cán sự, còn thi đậu vô trường Y khoa học sẽ trở thành Bác sĩ. Nghĩ tới đó mà lòng rộn vui quên hết mọi sự đời. Nhìn xéo qua bên kia ngã tư là trường Nữ Trung học Lê Ngọc Hân đang dập dìu áo dài trắng, nón lá phất phơ rồi mơ màng “Gió sân trường lồng lộng áo ai bay …” Cả bọn cùng tự hãnh mặt lên trời cười vang.

    Bỗng từ xa trong lề đường dưới các tàng me cao có trái chín rụng lác đác. Trên con đường đất phủ đầy lá me khô xuất hiện hai vị Sư khất thực, kẻ trước người sau đang lầm lũi đi tới. Cả bọn ngạc nhiên khi nhìn thấy vị Sư đi trước còn trẻ măng và hình như là đứa bạn học cùng lớp hồi năm ngoái. Không dám vô lễ nên chỉ dõi mắt nhìn theo riết cho đến khi các vị Sư đi khuất rồi mới bàn tán. Nhìn quanh quất để tìm xem có ai giống không. Đến khi vào lớp học hỏi thăm các bạn ở khắp các ban ABC cũng không ai thấy. Mấy hôm sau, có đứa bạo dạn chay theo vị Sư đi trước.
    - Thưa thầy có phải thầy là …

    - Mô Phật.

    Từ sau đó không thấy hai vị Sư đi ngang qua đường trước cổng trường như trước nữa.

    Mãi đến sau nầy trong một dịp theo Mẹ lên cúng Phật ở Tịnh xá Ngọc Tường tình cờ tôi gặp lại Sư, lúc đó mới có cơ duyên chuyện vãn nhiều hơn và biết đúng thật vị Sư đi trước là người bạn học cùng lớp có tên đứng đầu sổ điểm danh trong lớp.

    Có một lần tôi lên Tịnh xá vãng cảnh, ăn cơm chay với một số bạn học cùng lớp. Gặp Sư cũng hỏi han cho biết vậy thôi.
    - Thầy cũng thi đậu hạng Bình Thứ mà sao lại đi tu.

    - Bần đạo thí nguyện mười phương tìm Mẹ.

    Nghe thấy thế, mọi người xúc động dâng tràn. Đời chắc là bể khổ. Người thiếu phụ giao con ở tiệm thuốc bắc An Tế Đường năm xưa đã thí phát qui y, không liên lạc với gia đình từ đó. Chấm hết mọi sự đời. Nay tới lượt con cũng gởi thân nơi cửa Phật. Thật ngậm ngùi.

    Trong thời gian khất thực đi khắp mọi nơi, Sư có thời kỳ được nhập môn với Thượng Tọa Thích Tâm Giác và học được nghề châm cứu tới nơi tới chốn. Sau đó thường đi khắp các Tịnh xá mở chẩn chữa bệnh cho nhiều người với lời nguyện với Thầy khi nhập môn là nếu được tinh tấn đạt thành sở nguyện thì sẽ phát tâm hành hiệp không nhận thù lao. Cứ thế mà vui cùng đạo pháp giúp đời.

    Năm năm sau cơ trời dung ruổi, Sư tìm được Mẹ đang trụ trì ở chùa Sư Cô tận ngoài Vũng Tàu. Kể từ sau đó Sư lại cởi bỏ áo cà sa trở về đời thường với danh xưng là Đạo Hiệp chuyên châm cứu và bán thuốc cao đơn hoàn tán trong vùng Mỹ Tho – Long An.

    Đạo Hiệp cất một gian nhà lá trong hẻm xóm “Cây Dái Ngựa” gần khu chợ Vòng Nhỏ, Mỹ Tho. Ông Đạo qui tụ dân lao động trong xóm tới nhà lãnh bao bì về nhà dán và cho thuốc tán hoặc thuốc viên vô hộp giấy, được tính công theo số lượng giao nộp hằng ngày. Cả xóm già trẻ bé lớn thinh không được trời ban cho công ăn việc làm tại nhà rất dễ dàng. Thuốc của Đạo Hiệp lại nỗi tiếng khắp trong vùng là thuốc trị ban nóng hiệu “Lão Hòa Thượng” có đóng dấu “An Tế Đường” bản gốc đàng hoàng và hai loại thuốc khác là thuốc tiêu và thuốc tán rơ miệng trị đẹn sữa, hoặc lác đồng tiền cho trẻ nhỏ. Thuốc chế tại nhà thuộc loại thủ công gia truyền rất thông dụng.

    Ngoài ra, Đạo Hiệp lại còn có tài châm cứu trị bệnh không lấy tiền. Tiếng lành đồn xa. Một hôm bà vợ của ông Trưởng Ty Cảnh Sát nữa đêm bị phong trúng gió méo miệng cho người tới rước Đạo Hiệp về châm cứu. Hết bệnh bà muốn trả ơn, nhưng ông Đạo mới ngoài hai mươi tuổi, không nhận gì hết trừ hương hoa cúng Phật. Nài nỉ mãi Đạo Hiệp mới chịu nhận lời đề nghị cất một kiosque bên dốc cầu Quây cho dân chúng dễ dàng tìm thấy chỗ để rước về châm cứu lúc nữa đêm nữa hôm. Mọi người buôn bán ở phố cũng như Cảnh sát đều biết rõ lai lịch của căn kiosque mới nầy. Khi mọi việc tương đối ổn định Đạo Hiệp không quảng cáo gì về thuốc gia truyền hay châm cứu ở kiosque mà lại cho trương bảng hiệu là Phòng vẽ “Anh Tuấn” ghép tên thật của mình và tên đứa em bà con. Điều đặc biệt là phòng vẽ chỉ chuyên họa hình thờ, không vẽ hay họa bất cứ thứ hình nào khác.

    Lâu dần phòng vẽ biến thành tiệm họa hình thờ chuyên nghiệp. Ở quê người ta mang ra những tấm hình bị hoen ố do tai nạn thấm nước hay bảo quản không kỹ của người thân mất đã lâu hoặc không có hình lưu lại. Dù có hình hay không chỉ cần cho biết mất năm nào bao nhiêu tuổi, nam hay nữ và nhớ dẫn theo người thân nào có gương mặt giống nhất ra tiệm “Anh Tuấn” là sẽ họa được hết. Có đủ loại mẫu hao hao giống ông Hội đồng đang mặc áo dài khăn đống ngồi trên ghế đai hay sĩ quan, binh lính chết trận chỉ cần gắn chân dung lên là thành vị tướng rất oai nghiêm. Thiện hạ đồn rằng Đạo Hiệp có tâm nên họa hình rất có thần và đem về nhà thờ rất linh do đó tiệm họa hình ngày càng đông khách, thường khi chờ cả tháng trời hình mới họa xong.

    Cả tỉnh đều biết ông Đạo Hiệp trẻ tuồi tài cao hành hiệp cứu nhân độ thế nhưng cũng có người thắc mắc vì sau nầy tuy mang danh xưng là ông Đạo nhưng lại ăn mặc thường phục và để tóc dài như một thanh niên đời thường. Thỉnh thoảng gặp bạn thân hay đi dự đám giỗ cũng ăn mặn uống rượu mạnh hay bia “33” như các thực khách khác không kiêng cử gì cả hay ít nhất cũng chay lạt như các cư sĩ tại gia. Nhất là còn trong độ tuổi thanh niên về tình trạng quân dịch ra sao?

    Sau nầy mới biết Đạo Hiệp có giấy tờ hoãn dịch vì lý do tôn giáo thuộc danh sách ở chùa Việt Nam Quốc Tự, Sài Gòn. Mỗi năm lên chùa làm giấy tờ gia hạn một lần và được chùa cấp giấy chứng nhận là “Sứ Giả Như Lai” đi công tác Phật sự ở các địa phương. Có nghĩa là được sinh hoạt ngoài đời bình thường ít nhất là trên giấy tờ hợp pháp. Hơn nữa, với các hoạt động thực tế giúp đời vô vị lợi, đôi khi miễn phí hoàn toàn nên được mọi người thông cảm. Ông Đạo còn trẻ nên châm chước trong đời sống hằng ngày. Đạo tại tâm mới đáng trân trọng và quí mến.

    Đa tài có khi lại đa mang. Đạo Hiệp còn biết thổi sáo mà lại thổi rất hay. Có những đêm trăng sáng từ kiosque ở phố bờ sông đường Trưng Trắc khi nước sông dâng đầy, gió thổi lan xa hòa lẫn với tiếng tiêu sầu của Đạo Hiệp nữa thì dù cho có Mỵ Nương tái thế cũng phải xiêu lòng.

    Quả thật có người con gái trẻ đẹp quê ở xã Mỹ Phong ra tiệm họa hình “Anh Tuấn” để họa hình thờ, thỉnh thoảng có tới chơi ở nhà của người bà con gần kiosque của Đạo Hiệp đem lòng yêu mến thầm.

    Đào hoa cũng có số. Hồi mới mở tiệm họa hình được một vài tháng có một cô gái quê nhà nghèo ở Cồn Bà, Gò Công ra chợ xin làm mướn, thấy tiệm họa hình đắt khách nên thử dò hỏi muốn làm người giúp việc. Túc nghiệp là đây. Đạo Hiệp cưu mang đem về căn nhà lá ở hẻm “Cây Dái Ngựa” nhờ giúp việc nhà và phụ trông coi việc mua bán thuốc gia truyền. Được một thời gian cô gái mang bầu và để tránh tiếng cho Đạo Hiệp, cô gái bỏ về xứ mang theo giọt máu rơi của Đạo Hiệp.

    ***

    Bẵng đi mười năm, bao nhiêu nước chảy qua cầu. Không biết lúc nào và quan hệ ra sao mà Đạo Hiệp giờ đã 5 con với người đẹp năm xưa ở Mỹ Phong. Vật đổi sao dời, thời cuộc đổi thay, toàn bộ khu phố nằm ven bờ sông Trưng Trắc bị giải tỏa làm khu đi bộ hóng mát và ở cuối con đường người ta cho xây một tượng đài cao nghệu, ngang ngữa ngoảnh nhìn ra ngã ba sông nước mênh mông. Phòng vẽ “Anh Tuấn” cũng bị dở bỏ và dời về một xẻo đất nhỏ nằm gá dưới chân cầu Bạch Nha đối diện gần khu bến xe đò cũ. Cũng lại chỉ họa hình thờ. Vật lộn với đời sống mới Đạo Hiệp đang trong hồi túng quẫn. Người sống còn không lo nổi huống hồ chi người đã mất. Tiệm họa hình ế ẩm. Thuốc gia truyền bị cấm mua bán. Châm cứu không được phép đăng ký. Cả gia đình sống chen chúc trong căn nhà sàn nhỏ hẹp, chật cứng vừa làm phòng vẽ vừa sinh hoạt. Cùng đường Đạo Hiệp bắt đầu gia nhập tổ chức vượt biên, vượt biển chuyên đi móc nối khách. Tù tội nhiều phen nhưng cũng không đi lọt.

    Sau cùng, may mắn có người quen ân nghĩa nhờ châm cứu chữa bệnh thời trước nay định cư ở nước ngoài về nước thăm và cám cảnh trước khó khăn của gia đình nên đã giúp vốn cho Đạo Hiệp sang tiệm vẽ dời gia đình về bến xe mới thuộc xã Đạo Thạnh mở quán ăn ven quốc lộ để lập nghiệp. Mấy đứa con lớn lên không học hành chữ nghĩa gì cả, ra đời sớm làm lụng nghề chân tay hay rửa xe sống qua ngày.

    Được một thời gian không cạnh tranh nổi với các quán ăn, nhà hàng thời đại mới có nữ tiếp viên xinh đẹp nên Đạo Hiệp sang quán, lui về quê vợ xã Mỹ Phong làm rẫy trồng rau sinh sống.

    Gần hơn nửa đời người, Đạo Hiệp cũng dang tay hành hiệp cứu đời và thương người khốn khổ. Cuối cùng rồi cũng sa vào vòng tục lụy, nghiệp đời lẫn quẫn. Lúc sau nầy thường hay nhắc đến gia đình ông thợ mộc mù ở xứ đạo Cồn Bà, Gò Công có người con gái năm xưa tên Nhạn và đứa con rơi bây giờ thất lạc không biết ra sao? Nhớ đến câu chuyện kể ở chợ Tầm Vu hồi mấy chục năm về trước. Thăng trầm thế sự cũng nhiều, Đạo Hiệp quyết định rủ áo đi tu trở lại.

    Hôm làm lễ xuất gia khất thực dưới sự chứng kiến của một ít người thân. Đạo Hiệp xuống tóc và rơi nước mắt khi tận tay đốt ba toa thuốc gia truyền và con triện in mộc đỏ hiệu “An Tế Đường.” Sư Thầy thấy thế bèn buột miệng:
    - Họa Phúc khôn lường. Dứt nghiệp từ đây.

    Đạo Hiệp chậm rãi từ từ đi sâu vào trong hậu liêu rồi khuất dạng.

    Trần Bạch Thu
    nguồn:
    http://www.quocgiahanhchanh.com/nguoithove.htm

  6. The Following 5 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    hoang yen (01-27-2018), khongquan2 (01-12-2018), nguyenphuong (01-13-2018), Tinh Hoai Huong (01-17-2018), ttmd (01-13-2018)

  7. #226
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : đang online
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,187
    Thanks: 7,827
    Thanked 5,265 Times in 1,161 Posts

    Button Xanh Người Vợ Lính

    Người Vợ Lính
    Phương Lâm


    Hình minh họa

    Tiếng đạn quân thù rền vang đây đó
    Lửa bùng lên rực đỏ cháy quê hương
    Máu chiến binh hồng thắm nhuộm chiến trường
    Quyết giữ lấy phần biên cương Quốc thổ
    Là vợ của lính trong thời binh lửa
    Mái pông sô hứng đạn tưởng trời mưa
    Súng vang trời cứ ngỡ pháo giao thừa
    Mùi thuốc súng chưa khi nào được ngửi

    Thị xã Trà Vinh tôi sống không lâu nhưng nơi nầy đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm, đã cưu mang tôi hai lần trên bước đường trốn chạy nạn cộng sản. Lần thứ nhất vào khoảng tháng 2 năm 1975 khi đồng bào tỉnh Quảng Trị lục đục kéo ngang qua Huế, anh bà con của tôi là cố Trung Tá Nguyễn Văn Bình Sư Đoàn 1 Bộ Binh đến nhà đề nghị với má tôi:
    -Dì nên đưa các em về Trà Vinh ở với chị Thảo một thời gian, dì bảo các em chuẩn bị vài hôm nữa con lên lại đưa dì và các em đi.

    Gia đình tôi đông chị em, ba tôi bị Việt Cộng chôn sống năm Mậu Thân nên chúng tôi lúc nào cũng được lưu tâm của mọi người thân trong gia tộc.

    Mặc dù anh Bình không nói lý do gì mà đi, nhưng một vị trung tá nói như thế cũng hiểu ngầm rằng tình hình chiến sự căng thẳng. Thảm cảnh Mậu Thân còn đó, những bộ hài cốt trắng hếu bị quấn chặt dây kẽm gai, xương đầu dập nát trong những hố chôn tập thể như hiển hiện trước mắt, hình ảnh những tên đao phủ trợn mắt nhe răng, cầm búa, cầm mã tấu đánh vào đầu người dân lành vô tội làm tôi rởn ốc nổi da gà, khi nghe anh Bình nói như vậy tụi tôi cuống cuồng, chị em mỗi đứa một túi xách nhỏ mang theo ít đồ cá nhân ngồi bắt mặt ngó ra đợi anh Bình.

    Nhà chị Thảo ở đầu sân bay Trà Vinh, gần cổng Đại Đội Tổng Hành Dinh của Sư Đoàn 9 BB, chồng chị Thảo làm đại đội trưởng, căn nhà lợp lá dừa nước, vách toàn là ống đạn, chiều dài căn nhà quá cỡ nhà bình thường ,từa tựa như khu gia binh.

    Vô tới đây ai nấy thở phào nhẹ nhõm, chạy một mạch xa như vậy cứ nghĩ rứa là ổn nào ngờ chết điếng người khi nghe tin QLVNCH nhận lệnh phải buông súng.
    Thế là hết! Chị em chúng tôi nước mắt lưng tròng nhìn nhau trong âu lo, thương hận.

    Cho tôi thước vải thô màu trắng
    Quấn ngang đầu buộc chặt nỗi hờn căm
    Ba mươi tháng tư một chín bảy lăm
    Cúi đầu xuống bịt tang ngày Quốc Hận.


    Đất nước đã nhuộm đỏ màu tang tóc, đại nạn cộng sản bao trùm, không biết tương lai về đâu, nơi bám víu sau cùng là chấp tay xin ơn trên che chở .Trong thế chẳng đặng đừng chúng tôi bầu đoàn thê tử lục đục trở lại Huế, nhà của tôi đông chị em nên ba tôi xây rất to, căn sau nối liền với nhà trước, nhà đúc mái bằng dự tính lên lầu, Tết Mậu Thân bị mấy trái pháo mà không sập, vô tới cửa ngõ thì tá hỏa tam tinh, một nhà toàn là lính Việt Cộng, khi đến tột cùng của sợ hãi thì không còn biết sợ là gì nữa, tôi bước vào nhà như một con điên liệng mạnh túi xách xuống nền, hét lớn:
    -Mấy ông ở mô mà vô đây! Đi ra ngay! Ra khỏi nhà ngay lập tức!

    Đám lính cộng sản phần nhiều là choai choai cỡ mười lăm mười bảy, đứa nào đứa nấy nghe tôi hét chúng quờ quạng kéo nhau dồn lui qua phòng sau, rồi có một tên lớn tuổi ra điều đình:
    -Không biết mẹ và các cô về nên chúng cháu không chuẩn bị, mẹ cho chúng cháu ở tạm nhà sau một hai hôm để chỉ huy sắp xếp, chúng cháu sẽ đi ngay.

    Ai nấy đều mừng thầm, xuống nước nhỏ tức là nhà mình không mất.

    Bạn còn nhớ cuối mùa xuân năm nớ
    Quê hương chìm trong biển đỏ thương đau
    Tang thương ly hận chồng chất oán sầu
    Đất nước khởi đầu thiên niên mạt vận.


    Trà Vinh

    Lần nầy trở lại với hoàn cảnh khác, tay ôm con dại, cùng chồng tránh nạn thu gom đi tù lần thứ hai.

    Làng tôi có bốn người đi tù về năm 1977, anh Tùng bà con của chúng tôi, cấp bậc trung tá trước phục vụ trong ban Liên Hợp Quân Sự Bốn Bên cùng với hai thiếu úy là anh Cam và anh Đức cùng chồng tôi.

    Sau khi Trung Cộng đánh các tỉnh biên giới phía Bắc, công an vô lại nhà, bắt các anh làm lý lịch, đêm hôm sau xét hộ khẩu bắt đi luôn, chồng tôi cũng vậy, sáng hôm nay công an bắt khai lý lịch, chiều hôm đó chúng tôi vội vàng bỏ Huế ra đi.

    Gia đình ba người chúng tôi vào tá túc thị xã nầy được gần bốn tháng, rất ngạc nhiên vì cuộc sống bà con ở đây chẳng khác lúc trước mấy, quán nước mía dọc đường, quán cà phê vẫn dùng nhạc cũ trước 1975, nói đến cơm độn hầu như không ai biết, so với Huế, Quảng Trị thì đây là thiên đàng.

    Cuộc sống tinh thần ít căng thẳng hơn Huế, người dân ở đây không dòm ngó nhau nên tình trạng rình rập báo cáo lập công không có, nhờ vậy chúng tôi sống lậu ở đây trên bốn tháng rồi không bị xét hộ khẩu.

    Mâm cơm trưa đã chuẩn bị xong để bên mép giường, chiếc chiếu cũ trải xuống nền nhà làm bàn ăn cũng đã sẵn sàng, xoong cơm trắng không độn, xoong cá kèo kho khô với hẹ ngào ngạt mùi thơm,ở Huế thời điểm nầy làm chi có được bữa cơm ngon như vậy.

    Nghề đạp xe lôi giờ giấc bất thường khi sớm khi trễ, tôi bồng con ra ngồi dưới bóng mát cây xoài, nước phèn vàng quánh trong hồ nuôi cá xông lên mùi hăng hắc, nhìn ra con dốc đầu lộ chờ anh ấy về.

    Rất ngạc nhiên trưa nay sau xe có hai người, một lớn một bé, tôi bồng con đứng dậy nhường bóng mát cho ảnh kéo chiếc xe vào. Tôi gật đầu chào người phụ nữ về cùng xe với ảnh, rùng mình khi nhìn qua khuôn mặt người đàn bà nầy, quá dễ sợ,một mắt tròng trắng nhô lên như muốn nhảy ra ngoài, ghèn đóng một vòng quanh con mắt, vàng vàng xám xịt , cánh tay trái treo lên cổ một vết thương dài lòi mỡ lẫn máu vàng khè ruồi bay theo, đầu đội mũ rách toe, mặt hai mẹ con dính đầy đất bụi, tay bé cầm cái tô to, họ là người ăn xin, chồng tôi nói :
    -Em đưa chịvà cháu vô nhà, anh tháo cổ xe ra rồi vô sau.

    Tôi đưa hai mẹ con vô nhà, đẩy mâm cơm sâu vào trong, rảnh chỗ ở mép giường mời hai người ngồi, vì sống tạm nên chẳng có bàn ghế chi hết, người phụ nữ vẫn im thin thít từ ngoài sân vào tới đây, chồng tôi vào bưng theo thau nước, kẹp cái khăn trắng đã ngả màu vì nhuộm phèn, vì thiếu xà phòng, ảnh nói:
    -Chị rửa mặt rồi cho cháu ăn cơm kẻo quá trưa rồi.

    Quay qua tôi anh giới thiệu:
    -Đây là chị Quang, vợ của Đại Úy Quang trưởng phòng hành quân đơn vị cũ của anh, anh ấy là bạn, đầu năm 1974 anh thuyên chuyển về Đà Nẵng anh Quang ở lại đã bị bắn chết tại phòng ngủ trong bản doanh đơn vị khi Việt Cộng tấn công Ban Mê Thuột.

    Chị Quang đứng dậy đưa em bé đi rửa mặt, nhìn khuôn mặt dơ hầy lem luốc của chị tôi không thể đoán chị ở độ tuổi nào, tôi hỏi chồng:
    -Chị ấy làm chi mà bị thương nhiều dữ vậy, nhìn mặt chị. em rùng mình, con mắt ghê quá, lòi ra không nói mà ớn ốc, cái lớp ghèn lòng thòng bao quanh, tay bị thương há miệng, mỡ máu chảy, ruồi lằng theo cả đoàn, sao chị ấy không băng bó lại, mất vệ sinh kiểu đó lâu ngày cánh tay cụt như chơi.

    Chồng tôi mĩm cười nói:
    -Đó là di chứng của thời đại.

    Tôi nói lại:
    -Đúng là bệnh thời đại, khi xã hội là một vũng bùn thì con người lấm bùn mất vệ sinh theo.

    Chị ấy đưa cháu trở vào, tôi bưng mâm cơm đặt xuống chiếc chiếu, tôi chọn ngồi sát bên chị, để hai người ngồi cùng chiều khỏi nhìn thấy mặt người đối diện, kéo nồi cơm về gần, tôi ngại cánh tay lòi mỡ đó đưa qua đưa lại, nhưng tôi giật mình khi chị đưa tay nhận chén cơm, cánh tay trắng nõn nà vết thương kinh tởm đó không còn nửa, tôi ngạc nhiên hỏi chị:
    -Hồi nãy tay chị bị thương mà sao bây giờ lành rồi.

    Chị cười nói:
    -Chuyện dài dòng lắm, chị sẽ kể cho cô nghe sau.

    Tôi suy nghĩ câu nói của chồng tôi “di chứng của thời đại”, câu nói có ẩn ý nhưng mình nghĩ không tới.

    Bây giờ tôi nhìn kỹ mặt chị, mắt trái tròng trắng vẫn nhô lên, nhưng ghèn bao quanh không còn, khuôn mặt trái xoan, sóng mũi dọc dừa, con mắt còn lại đen láy sau hàng lông mi dài, họ gọi là mắt bồ câu, một vẻ đẹp thanh tú, kiêu sa, nếu con mắt bình thường thì đúng là một giai nhân.

    Tôi thắc mắc, nhìn dáng người của chị, chắc chắn sinh ra và lớn lên trong một gia đình bề thế đương nhiên là học hành tới nơi tới chốn, gia đình của chị, rồi gia đình bên chồng, dù khó khăn cách mấy đi nữa bộ hai gia đình không kham nổi hai mẹ con chị hay sao, mà chị lại phải dắt con đi ăn xin, chắc chắn có vấn đề.

    Bữa cơm xong chị phụ tôi dọn dẹp, tôi không cho, tôi nói:
    -Chị rửa tay cho cháu ngủ đi, mấy cái chén em quơ một tí là xong.

    Chồng tôi vội vàng lên yên, lái xe đi lại, để dọn hàng cho chị Thảo và đưa các mối bán buôn ở chợ về nhà, tôi dặn ảnh:
    -Anh nhớ nói qua với chị Thảo nhà mình có khách nghe.

    Anh gật đầu quay qua nói với chị Quang:
    -Tụi em ở đây khá lâu rồi chưa được ai hỏi thăm sức khỏe, đêm nay chắc cũng vậy chị phè cánh ngủ một giấc mai đi sớm.

    Anh ấy ra đi chúng tôi ngồi lại với nhau nhìn thẳng vào mắt chị tôi mở đầu:
    -Chị biết đó, em cũng là vợ lính, nhưng lính từ trại tù về, xã hội nầy gọi anh là ngụy quân, em không may mắn được làm vợ lính trong thời chiến để cùng chồng ngửi mùi thuốc súng, em cũng không may mắn làm người vợ bán từng CC máu để nuôi chồng trong các trại tù khổ sai khốn nạn.

    Em chia xẻ nhọc nhằn thân xác của anh hiện tại và trân quý dĩ vãng oai hùng của anh, em không bao giờ đụng tới vết thương đang mưng mủ, nhức nhối từ trái tim đến thớ thịt, có những buổi chiều anh ngồi quay mặt xuống hồ đôi mắt nhìn về nơi xa xôi nào đó, có khi đứng dậy mắt đỏ hoe.

    Em nghĩ đó là những phút giây thiêng liêng của cuộc sống, người anh hùng ngã ngựa, họ muốn đứng lên, nhưng đứng lên cách nào, muốn vực dậy nhưng vực cách sao đây. Em luôn cảm thông và khuyến khích tinh thần, tội nghiệp ảnh, tội nghiệp những người lính Việt Nam Cộng Hòa.

    Tội nghiệp những người vợ bị lột xác trong cái xã hội quỷ quái nầy, các chị phải đầu tắt mặt tối gánh nặng hai vai, chồng trong các trại tù, con còn nhỏ dại, tứ thân phụ mẫu già yếu tật bệnh, bây giờ em đang ngồi đây cũng đang cùng anh trốn chạy, qua một ngày là mừng một ngày, được ngày nào hay ngày đó, xã hội này là một bóng đêm dài bất tận, nhìn tới phía trước lóe lên toàn dao găm mã tấu, toàn máu là máu.

    Tôi nói một hơi chị ngồi yên lắng nghe, con mắt còn lại của chị sáng lên, long lanh đầy sát khí chị nói.
    -Chồng của cô là bạn thân của chồng chị, họ là những người lính từng kề vai sát cánh sống chết bên nhau, bây giờ người mất người còn, chú và cô đang trên đoạn đường bôn tẩu, chú có cô cảm thông chia xẻ, chị một mình lạc lõng bơ vơ, chẳng còn ai ngoài những người bạn, trân quý nhau coi nhau như ruột thịt. Chị kể cho cô nghe về chị, sáng mai mẹ con chị sẽ đi, không biết đi đâu bạn bè bảo sao thì nghe vậy.

    Chị bắt đầu kể:
    Bản doanh của đơn vị là một căn cứ của Quân đội Hoa kỳ bàn giao lại, căn cứ rất lớn, đơn vị dành một khu làm nhà ở cho sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ, chị và anh Quang ở trong đó.

    Khoảng ba giờ sáng đêm 10 tháng 3 năm 1975, đang ngủ giật mình vì những tiếng nổ lớn, nửa tỉnh nửa mê không biết nổ ở đâu và hướng nào, anh Quang vùng dậy bật đèn sáng, chụp bộ đồ lính vắt trên đầu giường, tròng quần vào, cúi xuống xỏ chân vào đôi bốt đờ sô, tay lấy cây súng AR 15 dựng bên đầu giường, vén màn bước ra như thường lệ ngồi vào ghế để cột dây giày, chị nghe anh lên tiếng nói chuyện với ai đó thì một loạt súng nổ, chị giật mình vén màn nhìn ra anh Quang gục lên bàn,thấy người bắn anh Quang bận bồ đồ biệt kích bạc màu, tóc dài, dáng nhỏ mặt xương xẩu đứng nhìn anh Quang một lúc rồi bỏ đi.

    Máu anh Quang từ ghế ngồi chảy xuống có vòi, chị ngồi bệt xuống nền nhà thân hình cứng đơ, như cái xác không hồn, cứ ngồi mở to mắt nhìn máu chảy, nhìn anh ngồi gục ở đó, chị lịm chết đi như thế không biết bao lâu, con bé khóc chị giật mình, đứng lên kiếm miếng bánh quy trong hộp lương khô cho bé ăn.

    Không biết đã qua giờ thứ mấy, không biết bây giờ sáng hay chiều, mặt trời đã nghiêng bóng, như xác chết chị bước ra ngoài coi còn ai nhờ giúp. Đập cửa phòng anh Đường đối diện không nghe ai lên tiếng, mấy phòng kế bên cửa mở toang không bóng người, đơn vị im lìm vắng tanh, hoang vắng đến lạnh người, tiếng súng đì đùng nghe rất xa.

    Chị không biết việc gì đã xảy ra, một điều chị biết là lúc nầy trong đơn vị chỉ còn một mình chị, quay vào phòng, anh Quang ngồi bất động trên ghế, máu nhuộm đỏ bộ đồ hoa loang một khoảng lớn trên nền nhà.

    Nhìn anh, cứ đứng nhìn chết trân, chân taychị lạnh cóng, trong đầu lảng vảng câu hỏi. Chết rồi ư? Chết thật rồi ư? Nước mắt không chảy nữa, khô đắng cổ họng, không biết phải làm gì, đầu óc trống rỗng, chợt bừng tỉnh như qua cơn mê khi nghe tiếng người nói chuyện, tiếng chân người xào xạc đến gần, chị mừng thầm như vậy là có người giúp, nhưng phải coi ai cái đã, chị lui vào trong buồng ngủ, vạch tấm màn chắn gió nhìn ra ngoài.

    Có ba người đứng trước cửa phòng của chị, chị thấy thằng bắn anh Quang vai hắn có cột tấm vải đỏ, với thêm hai thằng khác đội mũ cối, ba đứa súng đeo vai đứng ngay cửa ra vào đang chỉ chỏ chi đó, thấy hắn chị mừng quá, vớ cây súng AR15 của anh Quang, kê mũi súng lên thành gỗ đóng lưới chắn muỗi, mũi súng cách bọn đó khoảng 3 mét, tầm đạn nầy thì cả ba đứa đều ngang vai.


    Hình minh họa


    Chị bật nhẹ khóa an toàn,kéo mạnh tấm màn che, mở mắt to nhìn ba đứa để coi chúng ra sao khi chị nghéo cò,ngón tay chị siết chặt cò súng, cho chắc ăn mũi súng nhích qua nhích lại, chúi xuống, dở lên, toe tấm ván ép làm cửa.

    Ba đứa khuất tầm nhìn, có lẽ bọn chúng nằm xuống, chị xách súng chạy ra, trở băng đạn lại, (súng anh Quang hai băng cong gắn băng keo lại với nhau) đạp mạnh cửa, thấy ba thằng nằm chồng lên nhau, chị đưa súng vào đầu bóp cò tiếp ba chục viên đạn ra đi, ba cái đầu dẹp xuống như ba mũi dày.

    Nhìn xác dẹp đầu của thằng đó chị thấy lòng mình nhẹ nhõm, tâm trí tỉnh táo lạ thường, đem đặt cây súng lên bàn cạnh anh Quang, lúc đó mới nghĩ ra; chôn anh rồi rời khỏi đây. Chị ung dung mở cái xẻng cá nhân cào một rảnh dài sâu ngang đầu gối dãy đất bên cạnh phòng ngủ, lấy tấm ra trắng bọc xác kéo anh ra huyệt chôn, anh quá cao và nặng, hơn nữa trong tư thế ngồi, chết quá lâu cứng đờ.

    Chị tập trung hàng chục chai rượu tẩm vào quần áo một lúc duỗi thẳng người ra, đất không đủ lấp kín phải vác bao cát chắn chung quanh nhà xổ ra lấp lên, một số chất thành nấm mộ, xong việc trời cũng nhá nhem tối, chị vào sửa soạn để ra đi. Chị mang theo hai cây súng của anh, cây rouleaux ngắn nòng (P38) với nửa hộp đạn, cây browning 10 viên đạn giắt vào nịt vú, xé hai tấm vải trắng trải giường làm khăn tang, quấn lên đầu cúi chào anh rồi hai mẹ con ra đi.

    Hành trình về phương Nam

    Những bước chân âm thầm trong đơn độc, không phương tiện, không bóng người trên quốc lộ, cứ đi, cứ bước, nhưng không biết điểm đến và bao giờ tới đích. Tim chị bây giờ chai cứng, thù hận đốt cháy con người, chị sẵn sàng giết bất cứ đứa nào lạng quạng trước mắt. Chị sẵn sàng chết, cho nên chị không sợ chết, chị nguyện sẽ trả thù cho anh Quang trong khả năng có thể.

    Dọc theo Quốc lộ 21về hướng đông, đi bộ đến nỗi hai bàn chân phồng lên chảy nước, đi nhanh, đi chậm, qua từng khúc, vượt từng đoạn, nơi nào có nhà vào xin ăn, ngủ bờ, ngủ bụi, ngủ bất cứ lúc nào không kể ngày đêm, chị chẳng còn biết sợ là chi, cây P.38 sẵn sàng bắn vào đầu bất cứ đứa nào. Những nơi đã đi qua không để lại trong chị dấu ấn nào, rồi một hôm không biết từ ngày đầu tới giờ đã bao lâu, mẹ con chị đứng trên đèo Phượng Hoàng hướng về phía đông, xa xa những cụm khói bốc lên có lẽ đó là thị xã Ninh Hòa.

    Người chị hừng hực nóng như cơn sốt khi đứng trong khu thị tứ đỏ rực màu máu, có lẽ miền Nam đã mất trong những ngày chị lang thang trên đường 21.
    Dọc theo Quốc lộ 1, từng cụm người ngồi,nằm, la liệt thần sắc ngu ngơ, họ ngồi vì họ đã cùng đường.Từng toán lính cộng sản đi ngang qua, những thằng bận đồ lính VNCH mang băng đỏ lẽo đẽo theo sau, chị muốn móc súng bắn nát óc mấy thằng đó.

    Chị bắt xe đi từng đoạn về Sàigòn, Sàigòn bây giờ quá tội nghiệp, xác xơ,ủ rũ,vọng nhìn theo bóng những đứa con bị đuổi ra đi.

    Sài gòn ơi! Thôi từ nay vĩnh biệt
    Ta gục đầu thương tiếc buổi chia ly
    Người ra đi đảo lộn cả đất trời
    Người nằm xuống không nói lời từ biệt
    Muôn thế hệ ngàn sau hằng thương tiếc
    Sài gòn ơi! Thôi vĩnh biệt từ nay.


    Đau đớn nhìn quang cảnh Sàigòn, thế là hết!

    Chị về nhà nghỉ một ít lâu, đợi sinh hoạt của thành phố bắt đầu khởi động lại, chị bế cháu về Cầu Ngang thăm gia đình anh Quang, chỉ nói qua loa là anh ấy tử trận, cứ vậy vài ba tháng đem cháu về thăm nội mang tí quà Sài gòn, ở lại vài ba hôm rồi lên.

    Một hôm ngồi trên xe đò lên Trà vinh để về Sàigòn, xe dừng lại đón người đàn ông bên đường với bốn năm lồng vịt, người ấy lên xe chật ních, chen ngang qua chỗ chị ngồi anh ta nheo con mắt trái, chị thấy người nầy quen quen nhưng nhớ không ra, vì mặt mày lem luốc, chị nghĩ anh ta nheo mắt tức là đã biết mình chắc ra dấu hiệu chi đó.

    Xe tới bến, chị nán lại xuống sau cùng, cố ý chờ người bán vịt, mấy lồng vịt đặt lên xe lôi, người ấy quay lại nhìn chị, chị đi bộ theo ra góc đường bán vịt gà đứng chờ. Ổn định chỗ bán, người ấy tới hỏi chị:
    -Chị Quang không nhìn ra em à, em Hoàng đây.

    Chị mừng quá, Hoàng là bạn cùng quê với anh Quang, trước đây cùng đơn vị, Hoàng ở thám sát, anh Quang làm ban hành quân. Anh em gặp nhau thường xuyên, sau Hoàng xin đổi về Sư Đoàn 9 cho gần nhà. Nghe anh Quang nói về Sư Đoàn 9 Hoàng ở đại đội trinh sát, gặp lại Hoàng giờ đây sắc thái suy sụp nhiều, già trước tuổi, cười nhưng không vui, chị nói với ảnh:
    -Mặt chú bầy hầy lem luốc, chị thấy quen quen nhưng không nhận ra, buôn bán có khá không?

    Hoàng trả lời:
    -Cũng tạm ổn, em có nghe tin anh Quang, em xin chia buồn với chị.

    -Cám ơn chú, vận nước mệnh người thôi đành chấp nhận, sao tôi thấy chú không được vui, bộ gia đình gặp chuyện gì hay sao, xã hội tăm tối con người sống theo lối chụp giật có gì chia xẻ được, mình chia xẻ cho nhau .

    Hoàng nhìn chị như dò xét, lưỡng lự nói:
    -Không có gì đâu chị, một vài chuyện lặt vặt thôi mà, hôm nào rảnh chị em mình tâm sự, cũng có vài chuyện em cần chia xẻ, nhưng không biết chia xẻ với ai, thời buổi nầy không thể tin ai được chị à.

    Chị trả lời:
    -Chú Hoàng tin anh Quang thế nào thì tin chị như vậy, bộ chú sợ chị là chó săn hả, có gì chú cứ nói đừng ngại.
    .
    Hoàng tới sát bên chị nói nhỏ:
    -Nếu chị không sợ liên lụy thì em nói, em và một số anh em đại đội trinh sát ly khai, em buôn bán thế nầy để mua lương thực thuốc men cho anh em. Anh em khá đông, nhưng bị chúng giết lần giết mòn đi cả, chuyện quá dài không thể nói một lúc ở đây được, mỗi tuần hai ngày thứ hai và thứ ba em đều có mặt ở đây, lúc nào có dịp chị về đây trúng hai ngày nầy em sẽ nói cho chị nghe.

    Chị trả lời Hoàng:
    -Bây giờ chị lên cho kịp chuyến xe đã, hai tuần sau trở lại đây tìm chú.

    Về tới Sàigòn chị tìm nhà cô bạn xin theo cô ấy chạy bán thuốc tây, chị được cô ấy giới thiệu với vài người chủ vựa thuốc, cô ấy nói:
    -Ban đầu hơi lúng túng, nhưng nghề dạy nghề, cố nhớ vài tên thuốc với công dụng và liều lượng dùng, rồi mau chóng trở thành Dược sĩ.

    Chị bám trụ ở sạp anh Nghị tại chợ Kim biên, cũng may anh Nghị là sĩ quan Biệt Động Quân tù về sớm nên anh ấy thông cảm hoàn cảnh của chị, tận tình hướng dẫn, chị ngồi liền mấy ngày để học. Thấy cũng không quá khó nên chị bắt đầu xuất chinh, anh Nghị cho chị quyển tự điển thuốc bỏ túi, cũng may trời cho có chút nhan sắc kèm theo sự lanh lẹ nên cũng buôn bán ra trò, quá dễ để hái tiền, người có thuốc đem đi bán họ không biết giá trị thuốc, người đi mua cần đúng tên thuốc, đúng bệnh chứ họ không cần biết giá tiền bao nhiêu.

    Đúng hẹn chị về Trà Vinh sáng thứ Ba, mang theo một ít thuốc đau đầu đau bụng, với một ít tiền. Hoàng mừng nói:
    -Tưởng chị lạnh gáy nói cho qua chuyện, không ngờ chị về thật.

    Hoàng chỉ quán hủ tiếu nói:
    -Chị vô đó gọi hũ tiếu ngồi đợi em, quán của hai ông bà người Hoa lớn tuổi họ ít chú ý tới người khác, hơn nữa cũng là nơi quen biết.

    Khi Hoàng vào chị lấy gói quà nhét vào tay chú ấy.
    -Trong nầy một ít thuốc, chị có ghi và một ít tiền chị phụ với chú, từ nay chú khỏi lo thuốc, anh em trong đó cần thuốc gì cho chị biết, chị sẽ phụ thêm một tý tiền để chú rộng tay chi dụng cho anh em.

    Hoàng run run nói:
    -Em cảm động quá, thay mặt anh em, em xin cám ơn chị.

    Hoàng nói tiếp:
    -Sau ngày 30 tháng 4 tụi em kéo nhau mang súng đạn đi luôn không về, mấy tháng đầu tập trung, sau nầy xé lẻ , kiếm ghe sống trong kinh rạch, rừng tràm, rừng đước, bờ bụi, tụi em đã đánh phá nhiều nơi, giết chết nhiều thằng ác ôn. Cuộc sống của anh em ngày càng khó khăn, mò tôm, bắt cá mưu sinh, mình em ngoài nầy cựa quậy phụ giúp.

    Một số anh em bị thằng trưởng công an huyện Trà Cú bắt, thằng nầy quá ác ôn, bắt ai tình nghi là nó bắn ngay, vất xác xuống sông không tra hỏi. Anh em mình đã bị nó giết đến sáu người rồi, em lo quá, cuộc sống nầy không thể kéo dài, ra trình diện gặp nó cũng chết, sống để chiến đấu nhưng chỉ một nhóm nhỏ đánh đấm làm sao, súng có mà đạn không, không lẽ sống lây lất như thế nầy mãi, em thương anh em quá nhưng nghĩ mãi không tìm ra cách nào cho ổn thỏa.

    Chị góp ý:
    -Theo ý chị trước tiên phải nghĩ cách tiêu diệt thằng công an đó đã rồi tính tiếp, bây giờ chú nên báo anh em ở yên và cố lẩn tránh, còn thằng công an chú thu thập tin tức của hắn, sinh hoạt thường ngày, gia đình, vợ con, nơi ăn, chỗ ở, thói quen, mọi việc mình sắp xếp từ từ không thể nôn nóng được, chị hứa sẽ đồng hành với chú và anh em. Thôi chị lên hai tuần sau về lại, khi nào cần việc gì chú lên chợ Kim Biên hỏi sạp thuốc tây anh Tư Nghị, chị lảng vảng quanh khu đó, cẩn thận là trên hết.

    Chị trở lại chợ Kim Biên phải nói là thời gian hái ra tiền, nhà nước cộng sản bị cấm vận, bệnh viện toàn là thuốc lá cây, xuyên tâm liên, ngải cứu. Thuốc tây trong các kho Long Bình, kho 18 và các kho dự trữ khác của VNCH bọn cộng sản đưa ra bán hàng xe, như bán vật liệu phế thải. Bọn chúng không phân biệt được các loại thuốc nên không dám dùng, thi nhau chở đi bán. Buồn cười nhất, hôm nay bán thuốc đó, ngày mai lại đi mua thuốc đó, bán ra một mua lại ngàn, sẵn tiền vơ vét của đồng bào nhắm mắt nhắm mũi mua từng bao chuyển về Bắc.

    Lặn lội ở chợ mới biết sinh hoạt đằng sau chợ, khi chiều xuống đêm lên, trong ánh đèn vàng mờ nhạt, bên những đống rác tanh hôi đủ thứ mùi, một xã hội lên ngôi, những bóng người như ma trơi lần lượt về tựu lại, họ là những tay móc túi, giật dọc, những kẻ ăn xin, những tay đâm thuê chém mướn, họ có luật lệ của họ, có vùng đất tự trị trong giới giang hồ đường phố.

    Chị không biết họ nhưng họ biết chị, chị bắt đầu thích họ, thích cái xã hội với những tay ngang tàng bướng bỉnh, coi luật pháp không là chi, chị xích lại với họ, thân thiết với họ, hòa đồng với họ, hôm nào ai làm ăn không khá chị tặng một bao lì xì, họ đủ mọi lứa tuổi, nam có, nữ có, một số có gia đình ban đêm về nhà ban ngày nhập bọn.

    Chuyện tên công an huyện Trà cú làm chị suy nghĩ mãi, nếu giết được tên nầy may ra anh em tìm được một ngả rẽ mới. Chị về gặp Hoàng như đã hẹn, Hoàng cho chị chi tiết cá nhân của tên ác ôn đó. Khó khăn là tên nầy sinh sống ăn ở trong huyện, gia đình ở đâu vùng ngoài. Chị đã nghĩ ra cách, tìm anh Nghị chủ vựa thuốc hỏi:
    -Khách quen của anh có ai làm nhà báo không?

    Anh Nghị trả lời:
    -Có mấy tay hay tới mua và đặt hàng, mua nhiều chắc đưa về ngoài bán lại.

    -Hôm nào có nhà báo tới nam nữ chi cũng được anh nhớ gọi em nghe.

    -Chi vậy, bộ muốn xin theo làm đệ hả?

    Cả hai cùng cười, sáng nào tới chợ chị cũng ghé nhắc:
    -Anh nhớ bạn nhà báo của em nghe.

    Chị tìm đám anh em móc túi nhờ họ ra tay giúp lấy cái bóp để coi giấy tờ cá nhân của người làm báo, ai nấy tranh nhau trổ tài, họ hỏi:
    -Con mồi ở đâu?

    Chị nói:
    -Chuẩn bị thôi, khi nào người đó tới chị sẽ báo.


    Hình minh họa

    Một hôm, khoảng ba giờ chiều anh Nghị cho người báo tin ngắn gọn: “người tình của chị tới”. Chị chạy quanh tìm được ba em, hai gái một trai, chị tức tốc vào sạp, người đàn ông trung niên ốm xanh có lẽ thiếu dinh dưỡng đang hút thuốc nói chuyện với anh Nghị. Thấy chị anh Nghị nheo mắt gật gật đầu, ba đứa sà vào hỏi mua thuốc đau bụng chưa kịp nói lời nào là bỏ đi ngay. Trong lòng chị lo lo, chắc thằng cha nầy không mang theo bóp đựng giấy tờ nên mấy đứa thấy không có chi đã bỏ đi.

    Chị đứng lên nói bâng quơ vài điều rồi theo sau lưng ba đứa, ra sau hàng vải con bé đưa cho chị cái bóp, chị giật mình la lên:
    -Ôi trời! Chị tưởng thằng cha không có bóp nên các em bỏ đi liền, ai dè các em đã lấy, lanh không thể tưởng được, chị bái phục các em.

    Một em nói:
    -Lanh vậy mà có khi bị bẻ què tay đó chị.

    -Chị lấy mấy tờ giấy giao bóp lại cho mấy đứa em nghe.

    Lục tìm trong bóp, một thẻ đảng viên đảng cộng sản, một giấy giới thiệu của cơ quan báo chí thành ủy Sàigòn, một thẻ chứng nhận nhân viên biên tập báo nhân dân và một chứng minh nhân dân (thẻ căn cước của mình đó) như vậy là quá đủ để chứng minh nhân thân của một người. Chị đi tìm nhóm làm giấy tờ giả, họ chụp hình làm tuốt luốt các giấy tờ kể cả thẻ chứng minh nhân dân, đương nhiên là thay tên đổi họ.

    Chị về nhà ông nội của Bé, hỏi thăm tình hình nông nghiệp, vì có vài nơi nông dân không xuống vụ, không chịu cày cấy. Nắm rõ tình hình trong vùng, chị lên chợ Trà vinh gặp chú Hoàng báo cho chú ấy biết: “thứ bảy tuần sau chị sẽ về thăm thằng đó, không biết có giết được hay không, chị cố gắng tạo điều kiện thuận lợi, bằng mọi cách nó phải chết trong ngày thứ bảy, em xin vong hồn các anh chết oan phù trợ cho chị”.

    Chị đã đi mấy trăm cây số nơi nầy nơi khác tìm chỗ thử súng, cuối cùng về sông La Ngà nơi nầy có khúc quanh nước chảy mạnh tiếng sóng ào ào, chị lấy cây súng Browning ra, cây súng quá nhỏ, đầu đạn bằng mút đũa, lúc trước thấy anh Quang hay bỏ túi chứ chưa khi nào thấy anh ấy bắn, nên chị chưa biết sự công phá của viên đạn.

    Chị không an tâm, chị mang theo trái dừa khô, dí mũi súng sát trái dừa thử một phát, coi kỹ phía bên đầu đạn ra xoáy một lỗ đút ngón tay cái lọt, thế là an tâm. Súng bán tự động một giây có thể bóp cò ba lần, chỉ có thánh mới phản công kịp, một giây ngắn ngủi trong hộp sọ không còn tý não nào.

    Ngày thứ sáu chị về Trà Vinh lấy phòng ở lại nhà trọ, chiều lang thang ra vườn dừa để đầu óc bớt căng thẳng, tự an ủi mình nếu thuận tiện thì ra tay còn không thì thôi lo lắng làm gì cho mệt. Về phòng trọ uống một chai thuốc an thần của con nít mới chợp mắt được.

    Sáng thứ bảy dậy sớm, lên bộ đồ giống như thằng mất bóp, mang tòn ten máy chụp hình, súng nhỏ mang trong bắp vế sát háng bên phải, túi quần bên nầy cắt sạch cho đỡ vướng, tập đi tập lại nhiều lần cách moi súng, nhanh và cho tay vào cò chính xác vì cây súng quá nhỏ.

    Khoảng 10 giờ sáng chị vào ủy ban nhân dân huyện, trình giấy giới thiệu và các giấy tờ liên quan cá nhân, nói cho họ biết mục đích tìm hiểu vấn đề an ninh trong huyện và nguyện vọng của bà con làm nông nghiệp, vì huyện nầy được tỉnh giới thiệu là huyện điểm nên các đồng chí trung ương quan tâm. Một cuộc họp vội vàng được triệu tập, các tay quan to, trưởng đầu nghành được giới thiệu, bí thư huyện, huyện đội trưởng, trưởng công an, và một số lâu la khác.

    Ngồi ngắm mục tiêu, không đoán được tuổi vì mặt hắn nhăn nheo da bầm bầm đen sạm, chị nghĩ trong bụng cái ngữ nầy chắc không mê gái vì sinh khí không có, như con bọ, thì hơi sức đâu mà gái với gông. Hết ban nầy qua ban khác thay nhau, thành tích, phấn đấu, chỉ tiêu, chị ngồi nghe ghi ghi chép chép như ai. Xong việc báo cáo hơn 12 giờ được mời ăn cơm trưa, chiều đi thăm một vài xã để gặp bà con, rồi đến một vài nơi coi tình hình an ninh, tới đâu chụp hình tới đó, đám cán bộ khoái tỉ, cười híp mắt.

    Đi tìm hiểu an ninh trật tự thì đi sát với trưởng công an để nghe báo cáo thành tích, cứ tưởng không còn sinh khí té ra sinh lực coi bộ dồi dào, chị mừng thầm thế thì quá thuận tiện, đàn ông lâu ngày không phụ nữ, gặp đàn bà chợ trời chỉ ba chiêu là gia tài sự nghiệp coi như xong.

    Gần bốn giờ chiều thì đoàn cán bộ và nhà báo quay về huyện, chị chụp cho họ nhiều hình lưu niệm, chụp cả ngàn cái cũng không sao vì máy không phim. Hứa sẽ đăng báo trang đầu, quay qua nói nhỏ với trưởng công an:
    – Sáng mai em có hẹn với các đồng chí thị ủy Trà Vinh, xe đò bây giờ không còn, nhờ anh giúp đưa em lên thị xã với, lên tới trên đó em lo tất cho anh, nơi ăn, chỗ ngủ, uống nước tâm sự, chứ về nơi lạ ở một mình cô đơn lắm.

    Nghe vậy thì đàn ông nào không sướng, không xuôi tai, hắn nói:
    -Tôi không có xe, cô chờ tôi đi mượn coi có ai họ cho mượn xe hay không đã.

    Chiếc xe Suzuki yên liền, có lẽ chạy bằng dầu hôi, khói phụt đen đường, gầm gừ gào thét cố lăn bánh cõng hai mạng người xa dần huyện thị. Ban đầu ngồi xa, qua một vài ổ gà xích lại gần, gần hơn rồi nhẹ nhàng ôm hắn, nghiêng mặt kê vào lưng mơn trớn cọ xát, hắn rùng mình, có lẽ lần đầu trong đời hôm nay hắn mới được cảm giác đê mê đó.

    Chị xổ toàn lời ong ve dụ dỗ, hắn im lặng không nói tiếng nào. Lên tới quốc lộ rẽ trái về thị xã, chị đề nghị ghé lên ao Bà Om chụp vài tấm hình kỷ niệm, chạy non cây số thì tới. Người ta gọi là ao nhưng đây là một cái hồ lớn, chiều dài cũng trên cây số, chiều ngang chỗ to chỗ nhỏ năm bảy trăm mét. Chung quanh hồ toàn cây sao, không đoán chính xác tuổi nhưng nhìn gốc rể cũng có thể biết số cây ở đây đã có vài ba trăm năm.

    Ao Bà Om nổi tiếng cho những cặp tình nhân hẹn hò, hoang vắng đến lạnh lùng, u buồn cô tịch. Chị chọn một gốc có hai rễ nhô lên như hai bờ tường, cao ngang đầu, ngồi xuống đó như ngồi trong góc nhà, chị nói với hắn:
    -Mình xuống đây ngồi tý đi anh, ngồi lên rễ ngang tựa lưng vào đây thì tuyệt vời.

    Hắn dựng chiếc Suzuki vào gốc cây, chị xuống ngồi trước, xích qua phải chừa chỗ bên trái, đưa tay lắc nhẹ cây súng, lẫm bẩm một mình: “sắp tới phiên mầy rồi đó”.

    Hắn vịn tay bước vô chỗ ngồi, hai người nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, chị bắt đầu dựa vào hắn, mùi dầu thơm trên tóc quyến rũ hắn chịu không nổi, luồn tay phải qua lưng chị, rồi ôm lấy chị, hôn tứ tung lên trán, lên mặt, lên môi, tay trái chị vòng qua cổ hắn,hôn đáp trả, hắn say sưa hai mắt nhắm nghiền. Tay phải chị móc cây súng dí sát màng tang bên trái bóp cò, năm tiếng đẹt đẹt như tiếng vỗ tay vang lên trong buổi chiều xế bóng.

    Hắn chết liền không nhúc nhích, cũng chết trong tư thế ngồi như anh Quang, hắn chết trong lúc đang nhắm mắt tận hưởng nụ hôn nồng nàn của tử thần ban tặng. Hắn phải trả mạng lại cho sáu anh em, cho những người vì yêu thương đất nước mà hắn đã ra tay.

    Chị cũng biết rằng thằng ác ôn nầy chết thằng ác ôn khác lên thay, nhưng biết đâu thằng sau có kẽ hở, anh em tìm cơ hội vượt qua. Chị dựa lưng hắn vào rễ cây, vắt chân lên, hai tay bỏ lên đầu gối, người ta đi ngang qua cứ ngỡ hắn đang ngồi chơi. Chị chạy xe ra quốc lộ, bỏ lại trong sân chùa, đón xe gió về lại Sài gòn trong đêm.

    Tuần sau tin từ nhà anh Quang nhắn lên, cả tuần nay công an ập vào nhà lục lọi, hỏi chị hạch xách đủ điều. Cô em gái từ nhà chạy ra chợ báo tin, không biết tìm gì mà công an ập vào nhà lật tung mọi ngõ ngách, cuối cùng họ hỏi chị đi đâu, ba mẹ nói chị đi về ở dưới Cầu Ngang. Cô em nhắn chị đừng về nhà.

    Tối hôm đó chị xin ở lại với chị em bụi đời, mấy đứa móc túi đứa nào cũng thương chị, các em hỏi lý do chị ở lại, chị nói chị đang bị truy nã, mấy đứa có suy nghĩ giống chị, ban đêm ở đây còn ban ngày thì sao, không phải lẩn tránh một vài hôm mà có thể là suốt đời, một em bàn với chị:
    -Đợi má Chín về tụi em đến gặp má nhờ má nghĩ cách.

    Khoảng hơn mười giờ người đàn bà lớn tuổi đi trước,theo sau một tốp bị gậy nghêu ngao ca hát cùng nhau vào chợ, thấy cuộc sống vô tư của họ, chị cũng vui lây, mấy đứa nhỏ nói:
    -Chị ngồi khuất bên kia để bọn em nói nhỏ với má đã, nếu má đồng ý tụi em đưa má qua đây gặp chị.

    Chị nghĩ các em tuy nhỏ nhưng ra đời sớm va chạm nhiều trong việc mưu sinh nên đầu óc các em tinh tế và khôn ngoan.

    Má chín theo mấy đứa nhỏ đến gặp chị, hứa sẽ giúp, má bảo ngủ đi sáng mai dậy sớm mọi chuyện xong ngay. Mấy đứa nhỏ nhường mùng muỗi và chỗ ngủ cho chị, suốt đêm không thể nào chợp mắt được. Ngồi bó gối suy nghĩ làm thế nào để vượt qua ngõ bí nầy, chị đành bó tay nghĩ không ra cách, tự an ủi mình thôi tới đâu hay tới đó, mấy người gác chợ cầm gậy đi ngang qua la lớn:
    -Mấy thằng nhóc không ồn ào nghe chưa?

    Rất sớm má Chín mang túi vải tới tìm chị, chui vào mùng má bảo:
    -Phải làm sớm, đừng để cho tụi nó biết mặt em.

    Má mở bao ra mùi hăng hắc xông lên hôi muốn lộn ruột, lấy cái gì đó gắn lên mắt trái, má nói cái nầy khó chịu lắm, ngứa quá thì lấy tăm xỉa ngang vô,không được tháo ra, một tuần má tháo ra cho một bữa. Xong rồi gắn cái chi mát mát vào tay chị như vết thương hồi nãy em đã thấy. Má Chín làm cho chị và chỉ cách, bôi một tý phẩm đỏ lên, lấy lớp mỡ mỏng gọi là bàng nhạng lớp nầy thường bọc ngoài lá gan, hay ruột già của bò mới được, vì mỡ bò khi khô nó chuyển sang màu vàng vàng. Trời nóng mỡ tươm ướt thấm vô phẩm đỏ thành ra một vết thương mưng mủ máu.

    Quệt thêm chung quanh một lớp mật mỏng, hay nước đường thế là đi tới đâu ruồi lằng theo tới đó, gớm ghiếc ít ai dám nhìn. Đặc biệt loại bàng nhạng nầy đắp lên chỗ nào là dính sát, con mắt chị ghèn dính tèm lem là nó đó. Rồi trét đất lên mặt, lên tay, chỗ nào đậm chỗ nào nhạt là một nghệ thuật trang điểm công phu chứ không đơn giản như mình tưởng.

    Má nói bây giờ không ai có thể nhìn ra em, phải đi lang thang, tìm chỗ ngồi dang nắng cho cháy lớp da mịn màng tiểu thư nầy đi. Khi đi ngoài đường mình là người ăn xin đui què, đói đi không muốn nổi, đừng cắm đầu cắm cổ chạy như thiên hạ. Chị cám ơn má Chín dúi vào tay Má một nắm tiền, Má từ chối không lấy, chị năn nỉ Má mới cầm.

    Thế là chị nhập cuộc xin ăn, chị đi theo mấy nhóc móc túi, các em chỉ đâu chị ngồi đó, cuộc sống lề đường cũng nhiều thú vị. Gia đình chị gặp chị nhưng họ nhận không ra, khi nào cần gì chị nhờ các em móc túi liên lạc.

    Tháng trước chị thấy chú Hoàng lảng vảng trước sạp thuốc anh Nghị, chị viết mấy chữ “cần gì thì nói với em nầy, chị không tiện gặp chú”. Chị nhờ mấy em móc túi cầm tờ giấy tới giật đồ trên tay chú Hoàng để chú đuổi theo, đuổi một đoạn thì túm được thằng nhỏ, nó van xin tha, nhét miếng giấy vào tay chú, Hoàng liếc qua mảnh giấy, túm áo thằng nhỏ kéo đi:
    -Tao đem chú mầy cho công an.

    Hoàng kéo thằng nhỏ đi, viết nghuệch ngoạc mấy chữ nhét vào tay chú móc túi:
    -Em trả miếng giấy nầy lại cho người nhờ em đưa.

    Hoàng viết:
    -Ngày 9 âm lịch, về tìm xe lôi số 162.

    Đêm hôm qua chị nhờ đưa bé tới, chị ngồi trong mùng không dám cho bé thấy cái mặt dễ sợ của chị, bé nhận ra tiếng mẹ, chị cho bé biết chị hóa trang để trốn khỏi bị đi tù nên mặt mẹ dơ lắm, bé đừng nhìn và đừng nói chi hết. Hai mẹ con mình ngày mai cùng đi trốn.

    Chị từ giã gia đình hè phố, ai cũng quyến luyến yêu thương, họ là những người sống ngoài lề đường tận cùng xã hội nhưng lòng họ bao la như đại dương, tim óc họ cao như núi. Mấy đứa móc túi cầm tay chị khóc nói:
    -Chị đi đâu khi nào về nhớ tìm chúng em.

    Chuyến xe Sài Gòn Trà Vinh hôm nay về trễ vì qua trạm Vĩnh Long tụi thuế xét lâu quá, chị cũng đâm lo. Có lẽ Hoàng đã dặn chồng em rồi khi thấy số xe chị hỏi xe chú có đi không, chồng em hỏi lại:
    -Có phải chị Quang không?

    Chị gật đầu lên xe, chồng em nói:
    -Hoàng nhờ em nói lại với chị, sáng mai 3 giờ chị lên tàu Phú Thịnh khoảng 3 giờ rưỡi hay trễ hơn một tí tàu nầy sẽ nhổ neo chạy lên Sài Gòn, nếu như quá bốn giờ nó không nhổ neo thì xuống nhanh và lẩn trốn. Để chắc ăn hơn, 2 giờ em đưa chị về bến đò và sẽ đứng chờ cho đến khi đò rời bến.

    Một đêm không ai chợp mắt, có lẽ chồng tôi không biết chị Quang đã làm gì, sống ra sao trong thời gian qua. Hai giờ sáng họ ra xe lôi, tôi nắm tay chị nói:
    -Em kính phục chị, kính phục người vợ lính bất khuất, người phụ nữ anh hùng ngoài trí tưởng tượng của em. Em nhớ chị mãi, và em cầu nguyện cho chị hằng đêm.

    Lời nhắn của em: “Nếu chị đọc được bài nầy, xin chị liên lạc với Ban Biên Tập, Tập San Biệt Động Quân để lấy địa chỉ của em, chúng em nhớ chị, hỏi và tìm chị khắp nơi”.

    Thương nhớ chị nhiều.

    Phương Lâm
    nguồn:
    https://buonvuidoilinh.wordpress.com...nguoi-vo-linh/

  8. The Following 5 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    hoang yen (01-27-2018), khongquan2 (01-18-2018), nguyenphuong (01-15-2018), Tinh Hoai Huong (01-17-2018), ttmd (01-15-2018)

  9. #227
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : đang online
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,187
    Thanks: 7,827
    Thanked 5,265 Times in 1,161 Posts

    Button Xanh Lấy Chồng Xứ Huế

    Lấy Chồng Xứ Huế
    Thùy An


    Hình minh họa

    Quen Khanh đã ba năm, tôi không hề biết anh là người Huế. Anh nói tiếng Nam ngọt xớt. Những danh từ rất Nam bộ như “hưỡn”, “xí xọn”… anh đều hiểu rõ và đôi khi còn áp dụng vào những câu chuyện khôi hài rất có duyên. Cho đến khi tình cảm hai đứa chín muồi, Khanh ngõ ý:

    -Ba me anh muốn biết mặt em.

    Tôi theo Khanh về nhà trong tâm trạng vô cùng hồi hộp. Dù đã chuẩn bị tinh thần, nhưng tôi vẫn cảm thấy bối rối, chân tay thừa thải trước tia nhìn vừa dịu dàng vừa soi mói của mẹ Khanh. Đó là người phụ nữ ngoài năm mươi, gương mặt tròn trịa, nước da trắng mịn phảng phất vài nếp nhăn nơi đuôi mắt. Tóc bà nhuộm màu nâu đen, được bới cao, cài trâm đồi mồi trông rất quí phái. Bà trang điểm nhẹ nhàng, một chút phấn hồng và môi son màu nhạt.

    -Thưa mẹ, đây là Kiều Tiên, bạn gái của con.

    Nụ cười của bà thật tươi:

    -Kiều Tiên à? Cái tên dễ thương hí. Ngồi chơi đi cháu. Chờ bác một chút.

    Bà đứng dậy đi vào trong, để lại tôi ngơ ngác sau khi nghe một loạt âm thanh líu lo như chim hót. Khanh nheo mắt:

    -Sao? Không hiểu à? Anh đã nói rồi, gia đình anh người Huế, vậy mà không tin. Em có phải là chắt nội của Tào Tháo không đó?

    Mẹ Khanh ra, trên tay bưng một cái dĩa hình bầu dục tráng men xanh. Bà đến gần tôi, đặt dĩa lên bàn:

    -Ăn đông sương với bác cho vui.

    Đông sương? Không phải. Đó là những miếng thạch dày khoảng hai phân, được cắt thành từng miếng hình thoi bằng ba ngón tay. Rải rác giữa lớp thạch trong suốt là những khối vuông nhỏ màu trắng, đen, nâu, cam và xanh lá cây.

    Mẹ Khanh nhìn tôi chăm chú. Hình như bà đang nghĩ, con nhỏ này câm chắc? Và tôi cũng nghĩ, Kiều Tiên, hãy nói một câu gì đi chứ.

    -Cháu cám ơn. Ô, thạch của bác làm đẹp quá.

    Mẹ Khanh vui vẻ:

    -Người Huế gọi thạch là đông sương cháu à. Cháu ăn đi, đừng sợ, bác không dùng màu thực phẩm mô –rồi bà lấy tăm ghim miếng thạch lên săm soi –cháu coi màu nì, màu trắng là sữa, đen là cà phê, nâu là cà phê sữa, lục là nước lá dứa, còn màu gạch là nước cà rốt.

    Màu “gạch” là màu “cam”! Tôi lại học được một từ đặc trưng của Huế. Miếng thạch ngọt thanh tan trên đầu lưỡi, thấm vào lòng tôi những cảm giác dịu êm.

    Cổng nhà Khanh bỗng mở toang. Một người đàn ông trung niên,giống Khanh như tạc phóng xe máy vào. Ông đứng trước thềm, tươi cười nhìn mẹ Khanh rồi chỉ tay vào giỏ xe: một chậu hoa dâm bụt vừa nở hai nụ hàm tiếu màu vàng. Mẹ Khanh đến gần, ngắm nghía:

    -Mình mới mua hả? Ôi bông cẩn vàng, đẹp thiệt đó.

    Tôi tròn mắt. Khanh ghé vào tai tôi:

    -Người Huế gọi “Hoa dâm bụt” là “bông cẩn”.

    Ba Khanh bước vào phòng khách, mẹ Khanh theo sau bảo Khanh:

    -Con bưng chậu hoa xuống rồi đi cất xe cho ba.

    Tôi đứng dậy, vòng tay:

    -Cháu chào bác ạ.

    -Cháu là bạn gái của Khanh phải không? Bác gái nói cho bác biết rồi.

    Ba Khanh ngồi đối diện tôi, hỏi han ân cần. Giọng ông ấm áp, tuy âm sắc hơi nặng, có nhiều từ tôi không hiểu rõ, chỉ lờ mờ đoán ra. Nhưng ánh mắt ấy, cử chỉ ấy đã nói lên một tình cảm chân thành.

    oooOooo

    Tôi nhận lời cầu hôn của Khanh, mặc cho những lời bàn ra tán vào của đám bạn. Thật ra cũng vì thương tôi, nên chúng nó mới đề cao cảnh giác nhiệt tình như thế. Nào là: “Công dung ngôn hạnh mày có được bao nhiêu mà dám uống thuốc liều hở?”, “Làm dâu người Huế khó lắm, mày chịu được sao?”, “Chúng tao khuyên mày nên đi học vài khoá nấu ăn, làm bánh mới đủ sức đối phó.”…

    Tôi bịt hai tai, hét:

    -Chúng mày có im hết đi không? Tình yêu của Khanh đã cho ta đầy đủ mười thành công lực.

    Nói thì oai lắm, nhưng lòng tôi cũng hơi run khi nghe ba Khanh bảo:

    -Đám cưới xong, Khanh nên đưa Kiều Tiên về Huế thăm mệ và mấy O. Xa xôi quá, không ai vào chung vui cùng hai con được. Ba nghĩ là họ rất mong thấy mặt con dâu của ba.

    Tôi lại càng run. Cái gì “mệ”, cái gì “O”?

    Khanh lại “phụ đề Việt ngữ”:

    -Mệ là… bà nội của anh đó. Còn O là hai người em gái của ba.

    -Như vậy “O” có nghĩa là “cô” phải không anh?

    -Đúng. Cho em 10 điểm. Còn “mệ”?

    -Mệ là… bà nội chớ gì.

    -Mệ là bà thôi. Mệ nội, mệ ngoại, là bà nội, bà ngoại.

    -Sao hồi nãy anh nói mệ là bà nội? Tiền hậu bất nhất, cho anh zéro điểm là vừa.

    -OK, anh chịu thua em 1 – 0 đó, bây giờ nghe anh nói tiếp nè.

    -Bộ anh muốn em loạn thần kinh hả?

    Khanh dỗ dành:

    -Nếu em không chịu cho anh truyền thêm nội công thì làm sao ứng phó với bà con nội ngoại của anh ngoài Huế chứ.

    Có lý. Mặc dù tôi chưa quen nghe giọng Huế, nhưng nếu tôi hiểu được những từ người Huế thường dùng, thì sự đồng cảm giữa tôi và “giang sơn nhà chồng” sẽ dễ dàng hơn. Tôi lấy tờ giấy và cây bút:

    -Được rồi, anh nói đi. Em sẽ ghi và học thuộc lòng.

    Khanh phấn chấn ra mặt:

    -Em ngoan quá –rồi tằng hắng –Anh bắt đầu nè. Người Huế từ “mô” là “đâu”, ví dụ “anh đi mô?” có nghĩa là “anh đi đâu?”, “bên ni” là “bên này”, “bên nớ” là “bên kia”, “răng” là “sao”, “rứa” là “thế”, “kiệt” là “hẻm”, “tra” là “già”, “ăn kỵ” là “ăn giỗ”…

    Đầu óc tôi lùng bùng, tay chân tôi quờ quạng. Khanh đặt câu hỏi:

    -Đố em, “ôn” là gì?”

    Tôi xếp giấy lại, thở phào:

    -Anh hết vốn rồi hả? Đố như anh, con nít cũng biết. Ôn là ôn tập chớ gì.

    Khanh kí vào đầu tôi:

    -Cho em xuống học lớp Lá là vừa. “Ôn” là “Ông”. Gặp các ông già, người ta thường “Thưa ôn”, cũng như đối với các bà lão, người ta thường “thưa mệ”…

    Khanh tiếp tục đưa tôi vào mê hồn trận:

    -À, anh nhắc em điều này, nếu thấy một người đàn ông được gọi là “Mệ” thì em cũng đừng ngạc nhiên, vì đó là những người trong hoàng tộc…

    Tôi hét lên:

    -Cái gì? Ôi em bị tẩu hoả nhập ma rồi.

    oooOooo

    “Giang sơn nhà chồng” của tôi toạ lạc giữa một khoảng vườn xanh tốt trong thành nội, gồm ba căn nhà trệt lợp ngói rộng rãi, ngăn cách nhau bởi các dãy hàng rào bằng cây thấp, lá nhỏ, quấn quít những sợi dây leo màu vàng. Khanh nói:

    -Bà nội anh rất thích chăm sóc vườn tược. Hàng rào chè tàu này còn già hơn tuổi của anh nữa đó, còn kia là những dây tơ hồng. Em thấy có đẹp không? Ngày trước, nhà anh chỉ có một căn thôi, sau này hai O lập gia đình, bà nội mới xây thêm hai căn nữa, của hồi môn ấy mà.

    Có tiếng reo:

    -Khanh, cháu Khanh đó phải không?

    Một phụ nữ khoảng trên dưới năm mươi, mặc quần tây nâu, áo hoa sặc sỡ, từ căn nhà bên phải chạy ra. Tóc bà uốn cao, nước da trắng, miệng cười có má lúm đồng tiền.

    -Đây là O Hương của anh.

    -Cháu chào… O ạ.

    O Hương tiến đến gần, vuốt má tôi:

    -Vợ thằng Khanh đây hả. Chà, hai đứa xứng đôi lắm đó nghe –rồi bà kéo tay tôi và Khanh về phía căn nhà giữa –Mạ ơi, vợ chồng Khanh về tới rồi nì.

    Khanh nhìn sang căn nhà bên trái cửa khoá ngoài. O Hương nói:

    -O dượng Hoà về làng ăn kỵ rồi. Chắc là mai mới lên.

    Nãy giờ tôi cố ý lắng nghe. Eureka, tôi đã nhớ. “Ăn kỵ” là “ăn giỗ”, còn “mạ”? Chắc là “mẹ” rồi. Xem ra tiếng Huế đâu có khó gì, khỏi cần Khanh làm thông dịch.

    Bà nội của Khanh rất đẹp lão. Mái tóc bà bạc phơ, gương mặt hồng hào, phúc hậu. Bà đang ngồi trên chiếc ghế mây cạnh ngưỡng cửa, miệng cười móm mém, âu yếm nhìn Khanh đi bên tôi.

    -Chúng cháu chào mệ.

    Bà gật đầu rồi đưa tay níu lấy vai Khanh:

    -Đỡ mệ vô nhà.

    Bà nhỏ bé trong vòng tay Khanh, bước chân bà khập khiểng. Khanh lo lắng:

    -Mệ, mệ bị sao vậy?

    O Hương đỡ lời:

    -Hôm qua mệ ra vườn tưới cây, mệ bị bổ.

    -Im đi, tau bớt rồi –bà nhìn O Hương từ đầu đến chân –mi bận cái áo chi mà loè loẹt rứa? Tra rồi, gần làm mụ gia rồi, còn bày đặt diện.

    Tôi nói nhỏ với Khanh:

    -Em hiểu từ “tra” rồi, nhưng “bổ”là gì? Còn “mụ gia”?

    -“Bổ” là “té”, còn “mụ gia” là “mẹ vợ” hoặc “mẹ chồng”. Xứ Huế anh có câu: “Thương chồng mà khóc mụ gia, chớ tui với mụ chẳng bà con chi.”

    Tôi che miệng cười. Bà nội Khanh ngồi trên sập gụ, vẫy Khanh và tôi lại gần. Bà vuốt tóc tôi:

    -Mệ có coi bóng đám cưới, trông cháu đẹp hơn trong bóng nhiều. Biết hai cháu sắp ra thăm mệ, đêm mô mệ cũng nằm chộ.

    Khanh thông dịch ngay:

    -“Bóng” là “hình”…

    Tôi ngắt lời:

    -Còn “nằm chộ” là “nằm mơ”, đúng không?

    -Very good, em thông minh thật đấy.

    Bà nội Khanh có vẻ thích tôi. Bà kể cho tôi nghe rất nhiều chuyện, từ chuyện làng xóm, đến chuyện những người trong họ tộc, chuyện gia đình Khanh… giọng bà nhẹ nhàng, thân ái. Vì đã ôn tập trước, nên những từ rặt Huế như răng, mô, tê, rứa… tôi hiểu dễ dàng. Và càng lúc, tôi càng thấy gần gũi bà, thương yêu bà hơn.

    -Cháu biết không? Chồng của cháu rất thích ăn chè thịt quay.

    Chè thịt quay là gì? Tôi nhìn quanh tìm Khanh. Nhưng thôi, khỏi cần thắc mắc, chẳng qua cũng chỉ là món chè bình thường, cứ ăn vào là biết ngay thôi mà. Bà gọi:

    -Hương ơi, lấy cà mèn đi mua chè thịt quay cho các cháu ăn đi con.

    O Hương bảo Khanh:

    -Cháu qua nhà dắt dùm chiếc xe ra cho O.

    -Để cháu chở O đi.

    Khanh đến bên tôi:

    -Em ở nhà với mệ được không?

    Tôi vênh mặt:

    -Anh khỏi lo. Mệ nói gì em cũng hiểu hết.

    oooOooo

    Tôi đi thơ thẩn trong vườn. Nắng chiều dìu dịu, gió chiều êm ái. Lòng tôi rộn vui theo tiếng chim hót chuyền cành. Hình như bà nội gọi:

    -Vợ thằng Khanh mô rồi?

    Tôi hấp tấp chạy vào:

    -Mệ sai cháu gì ạ?

    -Cháu ra ngoài “cươi” lấy cái “chủi”, “xuốt” dùm mệ cái “dà”.

    -!!!

    Lần này thì tôi thua thật. Khanh ơi, mau về cứu em.


    Thùy An
    nguồn:
    https://www.facebook.com/permalink.p...31033327030987

  10. The Following 3 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    hoang yen (01-27-2018), khongquan2 (01-18-2018), PhieuBong (01-18-2018)

  11. #228
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : đang online
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,187
    Thanks: 7,827
    Thanked 5,265 Times in 1,161 Posts

    Button Xanh Chuyến Bay Cuối Cùng Phi Đoàn A-37

    Chuyến Bay Cuối Cùng Phi Đoàn A-37
    Thiên Lôi 524
    Sĩ quan Hành quân Phi đoàn 524 Thiên Lôi



    Hình minh họa

    28 tháng tư 1975, sau bữa cơm chiều vội vã ở một câu lạc bộ gần khu gia binh TSN, tôi trở về ụ đậu phi cơ đầu phi đạo 07 phải nơi tạm trú ba phi đoàn 524, 534, 548 di tản về từ căn cứ Phan Rang, bước xuống xe tôi thấy các nhân viên phi đạo đang bận rộn kéo các A37 trang bị đầy bom đạn từ trong vòm trú ẩn ra đậu hàng ngang dài phía trước cách ụ năm chục bộ Anh (50 Feet). Tôi bước đến hỏi Trưởng phi đạo tại sao dời phi cơ ra khỏi ụ? Anh ta trả lời theo lệnh Trung tá Kỹ thuật và Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Tôi vào phòng trong ụ, nhắc điện thoại gọi Trung tâm hành quân, thì sĩ quan trực cho biết hình như lệnh của Bộ Tư Lệnh KQ hay Bộ Tổng Tham Mưu gì đó, tôi phát cáu, giũa anh một câu: Anh là Sĩ quan trực mà không biết lệnh lạc rõ ràng là như thế nào ? Anh có biết hồi chiều phi đạo 07 bị dội bom không ? Anh ta cầu hòa trả tời: Thưa thiếu tá, em thấy cũng vô lý thật, nhưng lệnh trên đưa xuống, em phải thi hành, nếu Thiếu tá muốn bìết rõ thì hỏi Đại tá Ước. Tôi cúp phôn rồi bấm số Đại tá Ước nhưng không có ở phòng giấy. Tôi ra lại bãi đậu, nói với Trưởng phi đạo di chuyển phi cơ trở lại vòm trú ẩn, nhưng anh nói: Thiếu tá nói với xếp em, em mới thi hành được. Tôi gọi điện thoại cũng không ai trả lời. Đang đứng phân vân suy nghĩ, làm cách nào để liên lạc được môt vị có thẩm quyền hỏi cho ra lẽ lệnh của ai để yêu cầu di chuyển phi cơ về vị trí cũ. Sơn “húc” tiếc nuối vừa nói vừa chỉ tay bên kia hàng rào kẽm gai: “Đêm qua Thiếu tá đừng cản em thì đám CS Võ Đông Giang đã ra người thiên cổ rồi, còn đâu mà cho kế hoạch để đám thằng Trung mang A37 từ Phan Rang về bỏ bom TSN hôm nay!”.

    Đêm 27 tháng tư tôi tập họp tất cả hoa tiêu 524 ăn tối ở câu lạc bộ gần trung tâm Truyền Tin điện tử, Sơn lên sân khấu bỏ túi cầm microphone và đề nghị tôi về lấy phi cơ bỏ bom Camp Davis nơi đồn trú các phe quân sự bốn bên, thật ra lúc đó chỉ còn độc nhất một bên là CS Bắc Việt mà thôi. Tôi chạy nhanh lên kéo Sơn xuống vỗ vai nói: “Chuyện đâu còn đó, từ từ rồi tính!”. Sơn vùng vằng kéo tay tôi ra vừa khóc vừa nói: “Không còn thì giờ nữa đâu Anh Tư ơi! Sau này Anh sẽ tiếc!”. Bây giờ đứng nhìn một hàng dài A37 bom đạn xăng nhớt đây đủ im lìm chờ đợi; một ý nghĩ thoáng qua trong đầu tôi hay là nói Sơn vào lấy nón bay đi số hai cùng tôi cất cánh hai A37 lên thanh toán mục tiêu Camp Davis xong dọt đi Utapao.

    Chuyện đánh trúng cái barrack đó tôi tin tưởng Sơn và tôi lượm một cách dễ dàng như những phi vụ bay đêm tự do lượm công voa chở tiếp liệu của Bắc Việt trên đường mòn phía nam Pleime tháng 9 năm 1972. Tuy nhiên ở địa vị Trưởng phòng Hành quân tôi có nên làm không? Những trái bom 250 cân Anh vừa nổ chiều nay trên phi đạo TSN giờ lại nổ cạnh Bộ Tư Lệnh KQ? Sau đó chúng tôi sẽ dọt đi để lại mấy chục anh em phân vân xáo trộn nằm trực trong nhà vòm cuối phi đạo! Chưa kể đến ngàn ngàn chiến hữu và gia đình đang đồn trú trong căn cứ TSN. Tôi gọi Sơn lên xe chạy đi tìm Đại Tá Thảo và Trung Tá Cả. Hết câu lạc bộ Mây Bốn Phương đến các quán cơm trong khu gia binh cũng không thấy các vị đó ở đâu. Tôi đành quay trở lại biệt đội.


    Hình minh họa

    Sơn nhảy nhanh xuống xe chạy vào biệt đội xách hai cái nón bay ra, giục tôi vào xách dù ra phi cơ. Tôi đứng lặng nhìn Sơn lắc đầu vừa nói: “Không thể trút bom xuống Camp Davis được! Hành động này chỉ ăn miếng trả miếng cho hả giận chứ có lợi lộc gì đâu?”. Bước vào phòng hành quân phi đoàn nhìn thấy anh em tụm năm tụm ba rầm rì những biến cố xảy ra mấy ngày qua; nào việc di tản bên DAO, những chuyến C130 bên hậu trạm, đám anh em Đà Nẵng kẹt lại bị thằng Trung ép ngồi ghế trái có phi công Mig ghế mặt canh chừng oanh kích phi đạo TSN chiều nay. Thấy Trung tá Khôi đang đứng nói chuyện với Tuấn cuối góc phòng, tôi xáp lại hỏi: “Trung tá có biết Đại tá Thảo ở đâu không?”. Anh trả lời: “Có lẽ Ông đi ăn tối với Cả và Thi chưa về”. Tôi hỏi Khôi: “Anh có biết tại sao tất cả phi cơ kéo ra khỏi ụ không?”. Khôi trả lời, “đâu có biết, chắc phải có lệnh trên, kỹ thuật mới di chuyển”. Nhưng phi cơ trang bị bom đạn, xăng nhớt đầy đủ đậu sát cánh nhau như thế có phần không ổn cho lắm. Sơn mang dù xách nón bay tới: “Sơn đi một mình nghe Anh Tư”. Tôi nực lên quát: “Không thể được Sơn ơi, có lên thì lên tất cả”. Trung tá Khôi nhìn tôi rồi hỏi: “Mục tiêu nào vậy?”. Khôi vừa nói vừa vỗ vai Sơn đừng nóng, hiện tình chưa đủ căng thẳng sao bạn?

    Tôi tự hào trong hàng ngũ phi công khu trục Không Lực Việt Nam Cọng hòa nhất là Không đoàn 92 có PĐ 524, 534, 548; cho đến giờ phút này 22:18 tối 28 tháng tư 1975 tất cả phi công đều có mặt ứng chiến đầy đủ không thiếu một ai. Ngoại trừ Thiếu tá Chấn, Thiếu tá Liễn, Trung tá Thi và Thiếu tá Tứ, bay bốn A37 , hai trang bị bom nổ 500 lbs, hai trang bị CBU, ra căn cứ Phan Rang phá hủy phi đạo và Bộ Chỉ Huy đang chiếm đóng hầu tránh CS có thể kế hoạch lần thứ hai oanh kích TSN.

    Suốt đêm tất cả anh em ba phi đoàn chờ đợi điều động cất cánh nhưng tuyệt nhiên không một tiếng chuông điên thoại reo, không khí oi bức ngột ngạc; mọi người mệt mỏi suốt ngày bao nhiêu xáo trộn xảy ra, nào đưa gia đình di tản ngoài hậu trạm, nào phi cơ đám Nguyễn thành Trung mang từ Đà Nẵng vào Phan Rang lấy nhiên liệu lên bom đạn về oanh kích phi đạo TSN, không cho các phi cơ có đường bay di tản.

    Nửa đêm tôi lả người thiếp đi lúc nào không hay. Đến khi nghe tiếng còi hụ báo động liên hồi. Tôi chụp điện thoại hot line phòng hành quân chiến cuộc được biết có pháo kích; tôi hỏi cần phi tuần khẩn không? Sĩ quan trực trả lời chưa có tọa độ. Rồi chúng tôi nghe tiếng nổ lớn đàng trước ụ bên cạnh. Tiếng hét Trung tá Cả: Tất cả ra sau ụ nhanh lên. Trời tờ mờ sáng, liếc nhìn đồng hồ gần ba giờ sáng 29 tháng tư. Những trái pháo kích đầu nghe từ phía trái lần lượt gần lại và cuối cùng trúng một phi cơ, sau đó tiếng nổ ầm ầm liên tục trong màn lửa ngợp một góc phi trường. Mười mấy năm thả bom đây là lần đầu nghe bom đạn nổ; chát chúa dây chuyền, phi cơ bốc cháy theo. Sơn khiều vai tôi: “Anh Tư thấy chưa, chúng nó điều chỉnh pháo kích từ Camp Davis”. Ngồi bịt tai chịu trận đàng sau bức tường dài cao hơn mười thước Anh. Tôi nôn nóng lom khom đến cuối bức tường ló mặt ra nhìn phía trước bãi đậu, một cảnh tượng hoang tàn đang hủy diệt trước mắt, hơn năm chục chiếc A37 đang bốc cháy khói lửa ngút ngàn. Tôi quay trở lại tựa lưng vào tường sắt lạnh, đầu óc chùn lại. Những cánh thép A37 là huyết mạch của ba phi đoàn khu trục Phan Rang. Giờ đây hơn trăm phi công chiến đấu bằng tay không ư? Thế là hết! Cuộc chiến bên ta đã lâm vào ngõ cụt. Hèn gì cả đêm hôm qua không có một phi tuần nào được điều động cả. Trung tá Khôi và Cả hỏi Đại tá Thảo: “Giờ tính sao sư phụ?”. Không đoàn trưởng trả lời: “Đợi sáng hết pháo kích di chuyển anh em về Bộ Tư Lệnh Không Đoàn 33 rồi tính!”. 5 giờ 40 sáng, vẫn còn những trái pháo kích rớt rãi rác khắp phi trường. Chúng tôi vẫn ngồi tựa lưng bức tường sau ụ, hướng về phía bắc. Có mấy chiếc vận tải và U17 cất cánh quẹo trái phía Gò Vấp để lấy hướng tây đi Bình Thủy hay Utapao? Phòng không xịt lên liên tục. Một chiếc AC119 trúng cao xạ gãy làm đôi trước mắt chúng tôi. Cảnh tượng thật bàng hoàng, anh em nhìn thấy lắc đầu bùi ngùi cho số phận những người có mặt trên tàu định mệnh đó. Sáu giờ mười lăm, mặt trời ló dạng. Đạn pháo thưa dần. Chiếc pick up và chiếc shuttle bus phòng dù xà tới bên hông phải ụ cuối. Tiếng Đại tá Thảo: “Mọi người lên xe”, nhanh như chớp tất cả chen lên đầy hai chiếc van. Trực chỉ Bộ chỉ huy Không đoàn 33. Đến nơi Đại tá Thảo xuống xe đi vội vào cửa, vài phút sau chạy ra; nhảy lên xe tiếp tục chạy về Bộ Tư Lệnh. Đến nơi các phòng vắng lặng không còn ai cả. Dọt trở lại sân cờ Không Đoàn 33 Đại tá Thảo tuyên bố tạm thời tan hàng, anh em rán tìm lấy phương tiện di tản.


    Hình minh họa

    Mọi người xuống xe nhưng chạy về đâu bây giờ? Tan hàng. Nghe thảm thiết quá. Một trong những đơn vị chiến đấu kiên cường nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, giờ đang bị bó tay, tước đoạt phương tiện duy nhất để chiến đấu. Lệnh ai sắp hàng ngang trên năm chục chiếc A37 cánh liền cánh, xăng nhớt, bom đạn trang bị đầy đủ để hủy diệt? Nếu không cho chúng tôi chiến đấu thì cũng để chúng tôi có phương tiện ra khỏi vòng đai đang bủa quanh phi trường chứ ?!!! Chúng tôi đâu có nản chí đầu hàng? Chúng tôi đâu có rã ngũ ? Cho đến sáng 29 tháng tư tất cả phi công khu trục Không Đoàn 92 đều có mặt, từ Không Đoàn Trưởng trở xuống, không thiếu một ai! Nếu có ý đồ đào ngũ chúng tôi đã theo lời mời của vị Đaị úy Trưởng phi cơ C130 của Không Quân Hoa Kỳ hôm 23 tháng tư ngày tiễn vợ con lên phi cơ di tản. Lúc bước ra khỏi ramp, anh ta nói: “Why don’t you stay with us?”. Tôi cười và trả lời: “Cám ơn đề nghị của anh. Tôi phải ở lại chiến đấu”. Anh ta lắc đầu và nói cho tôi vừa đủ nghe: “War is over!”. Tôi vẫy tay chào mọi người rồi lên xe chạy về phòng Hành quân gần đầu phi đạo 07R. Đang đứng tần ngần chưa biết đi đâu thì Lê Vàng xà tới chiếc lambretta giục tôi lên xe, vừa chạy Vàng vừa nói cứ chạy khắp parking thấy tàu nào nổ máy thì nhảy lên đi theo chứ ở đây chịu trận sao? Chạy ngược chạy xuôi thấy được chiếc C 47 trên đường vội vã tiến về đầu phi đạo 07, Vàng tống ga đuổi theo nhưng thấy phi cơ taxi càng nhanh không có vẻ ngừng lại bốc mình, vả lại nhìn qua các khung cửa nhỏ thấy lúc nhúc chật cả tàu. Vàng quay xe trở lại. Chạy qua bãi tha ma A37 của chúng tôi, quá thảm não, không muốn nhìn. Camp Davis bên tay mặt làm tôi sôi máu, giá nghe Sơn đêm qua không chừng tình thế có thể khá hơn hôm nay? Ít ra cũng hả giận và còn ít phi cơ để anh em get out! Trong quân ngũ nhiều khi tuân thủ kỷ luật quá cũng không chắc là đúng mà còn tai hại đến đồng đội. Giây phút suy tư qua lẹ khi Vàng lắc xe vào bên trong chưởi thề: “Nó muốn cất cánh ngược chiều trên taxi way”. Tôi đưa tay vẩy vẩy; chiếc L19 cắt ga quay trở lại, Vàng xà xe vào nhìn lên phi cơ thấy có hai người, phi công ngoắc tay gọi lên. Vàng lắc đầu nói với tôi: “Cậu lên đi”. Tôi rời yên xe nhảy lên lom khom chung ghế với người ngồi phía sau. Vàng tống ga dọt mất. Pilot lại cất cánh cũng trên taxi way nhưng lần này đúng hướng. Tôi khom người trên đầu hoa tiêu. Phi cơ lên gần cuối phi đạo bắt đầu quẹo trái phía bắc Gò Vấp. Tôi la lên: “Quẹo mặt, quẹo mặt, quẹo về phía Sài Gòn. Vì sáng nay tôi chứng kiến phòng không bắn lên từ hướng đó. ” May quá Thiếu tá!”, Hoa tiêu trả lời nhưng vẫn quẹo theo ý tôi. Tôi bảo lấy cao độ chui mây hướng 240 độ. Anh ta nói không biết bay phi cụ. “Anh bay tôi nhìn phi cụ”, tôi trả lời. Lên năm ngàn bộ ánh sáng chan hòa. Hoa tiêu bình phi. Trời thủ đô hôm nay mây mù phủ kín như báo hiệu một cơn bỉ cực bắt đâu giáng xuống cho miền Nam thân yêu.

    Tôi hỏi anh định đi đâu. Anh nói: “Không biết nên đi đâu Thiếu tá”. Rồi anh ta tiếp, anh vừa ra trường bay Nha Trang về phi đoàn chưa được xác định hành quân, người chung ghế phía sau với Thiếu tá là em ruột của em 16 tuổi. Tôi quay qua nhìn hành khách trẻ xúng xích trong chiếc áo bay quá cỡ có lẽ của anh đưa cho mặc. Tôi nói có hai nơi chúng ta có thể đến là Bình Thủy, Sư đòan 4 KQ hay Côn Sơn nơi tập trung di tản bằng đường thủy. Thiếu tá quyết định đi đâu thì em đến đó. Tôi nghĩ đi Cần Thơ hơn vì ở đỏ còn ba phi đoàn A37, bên căn cứ Trà Nóc còn có mấy phi đoàn trực thăng. Tôi nói anh cứ giữ cấp 240 đi Cần Thơ. Mười lăm phút sau Tân An trước mặt, bầu trời quang đãng không một cụm mây; nguyên miền Nam trải dài dưới cánh bạc, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng… miền đất trù phú, ruộng vườn xanh ngát, sông lạch hiền hoà không lẽ rồi đây một sớm một chiều thay tên đổi họ?

    Năm mươi phút bay, sông Bassat hiện trước mặt tôi nói với hoa tiêu qua tầng số Bình Thủy xin chỉ thị đáp. Sau khi nhận đầy đủ chi tiết, chàng phi công vào chiều gió xuôi rồi quẹo phải 180 độ vào cận tiến chỉnh mũi phi cơ thẳng phi đạo, chiếc L19 từ từ xuống thấp cuối cùng lướt nhẹ trên đường bay. Chạy đến giữa, đài kiểm soát cho lệnh đổi qua tần số dưới đất, và được lệnh taxi theo chiếc pick-up xanh Follow Me về bãi đậu gần cổng vào phi trường. Chúng tôi lần lượt xuống phi cơ; thì một xe jeep Quân Cảnh chạy tới; người Trung sĩ này ngày trước đóng ở Nha Trang tôi và anh ta quen nhau; anh chào tôi rồi nói: “Thưa Thiếu tá, lệnh Ông Tướng tất cả phi cơ các nơi về, đậu tại đây; đổ xăng nhớt đầy đủ và chỉ được cất cánh khi có phi trình của Hành quân Chiến cuộc”. Rồi anh kể cho tôi nghe sáng nay mấy Ông Khu trục AD5 và AD6 làm náo động cả phi trường. Tôi hỏi anh ta có xe cho chúng tôi mượn đi ăn trưa, đói bụng quá. Anh bảo tôi vào trạm gác anh sẽ kiếm cho tôi phương tiện. Năm phút sau anh chạy đến một chiếc jeep và nói với tôi một tiếng rưởi phải trả lại xe. Tôi trả lời cám ơn nhiều lắm và hứa về đúng giờ. Tôi hỏi tinh hình Cần Thơ. Anh nói vẫn còn yên nhưng không nên đi xa quá. Sau khi ra dấu cho hai bạn đồng hành về từ TSN lên xe, tôi lái ra cổng chạy được một đoạn đường nhìn thấy có quán ăn hai bên, tôi ngừng lại nhìn quanh có vẻ tốt. Trong quán một vài bàn có mấy quân nhân trang phục Không quân ăn trưa trễ đang ngồi nói chuyện. Chúng tôi chọn một bàn góc trái . Sau khi gọi ba dĩa cơm tấm sườn đặc biệt có hai trứng ốp la và ba ly trà đá lớn. Tôi nói với chàng pilot L19, Cần Thơ có vẻ còn yên nhưng tình hình mỗi lúc mỗi thay đổi rất lẹ; tuy nhiên đến đây là tốt rồi. Ăn xong vào phi trường tôi sẽ bàn với anh chương trình kế tiếp chúng ta sẽ làm gì. Chúng tôi ngốn ngáo đĩa cơm nóng hổi, hai miếng sườn cốt lét nướng vàng và trứng gà thơm phức mùi bơ; nốc hết nửa ly trà đá, như chưa bao giờ được ăn ngon như vậy, có lẽ để quá đói và mấy hôm ở TSN đầu óc căng thẳng ăn uống bất thường, thêm vào đó cơm tấm sườn nướng Cần Thơ có tiếng ngon nhất nước.

    Xong bữa ăn trưa chúng tôi trở lại căn cứ. Vào trạm Quân Cảnh trả xe, bắt tay cám ơn và đưa cho anh bạn Không đoàn 62 ngày trước cây thuốc Salem đầu lọc tôi hỏi mua lúc trả tiền ở quán nhậu. Anh ta cười và nói: “Thiếu tá khách sáo quá làm em tổn thọ sớm”. Tôi vỗ vai anh: “Hân hạnh cho ta có người bạn tốt như anh!”.
    Ba chúng tôi bách bộ về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn. Qua bãi đậu phi đoàn quan sát; tôi đứng lại hỏi người phi công L19: “Anh có bản đồ miền Nam không?”. Anh ta rút trong túi dưới bên mặt ra một tấm tỉ lệ 500000 và nói: “Tấm này được không Thiếu tá?”. Tôi trải ra trên nền xi măng và nói: “Nếu chúng ta còn gặp nhau thì không có gì trở ngại; nhưng lỡ không gặp nhau lại thì anh nhớ là cất cánh Bình Thủy lấy cấp 300 độ trực chỉ Utapao, trời tháng này tốt; anh cứ ôm theo bờ biển ba tiếng sau sẽ thấy phi đạo lớn, chính đó Utapao”. “Em không nói được tiếng Anh Thiếu tá”, viên Thiếu úy cắt ngang tôi. “Cần gì liên lạc với đài không lưu, anh quan sát cờ gió hoặc nhìn phi cơ đáp hoặc cất cánh là biết phi đạo đang xử dụng, xong bay vào trên ngàn bộ lắc cánh, đài sẽ biết vô tuyến hư họ sẽ chớp đèn xanh cho anh ưu tiên vào đáp”. Anh có thắc mắc gì nữa không?, tôi hỏi . Anh lắc đầu và xếp bản đồ bỏ lại túi. Tôi nói bây giờ chúng ta lên trình diện Tướng Tần. Anh ta xin phép ghé vào phi đoàn quan sát tìm gặp mấy người bạn cùng khóa về đây mấy tháng trước. Tôi bắt tay anh nói cám ơn, hy vọng chúng ta gặp lại.

    Bước vào cửa lớn Bộ Tư Lệnh SĐ4KQ, gặp Nhân PĐ534, anh nói đu theo trực thăng về đây hồi 11 giờ, cũng có ý định vào trình diện ông Tướng. Hai chúng tôi đợi chánh văn phòng ba phút thì được Tướng Tần gọi vào gặp. Ông Tướng hỏi tình hình TSN và Bộ Tư Lệnh KQ xong Người nói: “Hai anh xuống gặp Đại Tá Ninh và đưa note này cho ông”. Tướng Tần trao tôi tấm giấy. Chúng tôi chào xong đi về Không Đoàn 74 CT, lúc gần đến nơi thì gặp Đại Tá Ninh lái xe vào chỗ đậu. Sau thủ tục chào kính tôi đưa note của Tướng Tần; Đại Tá Ninh hỏi: “Khoẻ không Cửu, lâu lắm mới gặp anh”. Tôi cám ơn và trả lời vẫn bình thường. Nhớ lại mười năm trước, 1965, lúc đó Đại úy Ninh Biệt đội trưởng Khu trục Phi Hổ ở Pleiku, được giao trọng trách cùng Đại úy Lạc về Không Đoàn 62 CT thành lập Phi Đoàn Thiên Lôi 524. Nguyễn Huy Bỗng, Trần Văn Nghĩa, Hoàng Dự và tôi xung phong rời Cọp Bay 516 về Nha Trang bổ sung quân số. Giờ đây mười năm sau, 29 tháng tư 1975, Đại Tá nói: “Tốt lắm, hai anh vào giúp tôi PĐ A37”; Đại Tá kéo chúng tôi vào giới thiệu với anh em trẻ 520. Xong ông rời phòng Hành quân. Các hoa tiêu vây quanh tôi và hỏi tình hình Sài Gòn. Tôi thuật lại cho họ nghe những biến chuyển xảy ra mấy ngày qua. Anh em nói cho tôi nghe tâm trạng, bàng hoàng, lo lắng sau mấy hôm khác lạ xảy ra trong các Phi đoàn, nhất là biến động sáng nay trên bầu trời căn cứ. Lệnh Tướng Tần truyền xuống để trấn an quân sĩ. Phi trường Bình Thủy đã xao động càng nghẹt thở thêm. Xe Quân Cảnh tuần tiểu liên miên chạy lòng vòng các bãi đậu phi cơ. Tôi nhìn lên bảng phi lệnh và hỏi suốt ngày chưa có phi tuần nào cất cánh hả? Anh em lắc đầu. Vẻ mặt mọi người chán nản. Không khí có vẻ trầm lặng mang theo sự ngột ngạc nôn nóng. Họ nhìn nhau như muốn nói ra một điều gì trong tâm trí nhưng ai cũng ngại ngùng phát biểu. Tôi ngồi xuống ghế và ra dấu cho anh em cũng tìm chỗ an tọa. Rồi bắt đầu lên tiếng: “Nói cho anh em rõ, Bộ Tư Lệnh KQ đã bỏ ngõ. Trung tâm Hành Quân KQ cũng không còn hoạt động. Tôi nghĩ giờ này Sài Gòn đã bị CS tiến chiếm rồi. Bắt đầu bây giờ nếu có phi vụ điều động thì anh em phụ trách phi tuần nào cứ cất cánh lên target đánh xong đi thẳng Utapao không quay trở về nữa. Chắc các anh đã biết, từ Binh Thủy đi Utapao hướng 300 rồi chứ gì? Khoảng 45 phút là đến. Anh em nên lấy bản đồ ra kiểm soát lại và ghi các chi tiết, tầng số tower… Các bạn trẻ giờ đây rộn ràng hơn và đi lấy túi check list với bản đồ ra kiểm lại lần cuối. Nhìn họ, nhìn dấu bút ghi chép khoanh tròn lớn căn cứ Hoa Kỳ bên Thái Lan tôi biết họ cũng đã sữa soạn kỹ lưỡng đầy đủ từ trước rồi.

    Nãy giờ tôi mãi nói chuyện với các bạn Thần Báo thì Nhân 534 bốc điện thoại gọi tìm mấy người quen ở Cần Thơ. Lát sau Nhân đến bảo tôi mượn xe chở anh ta ra phố cho anh gặp người quen. Tôi nói giờ phút này mà bạn còn luyến tiếc gì nữa. “Anh nói dưới này còn yên ổn lắm, tôi đi nửa tiếng sẽ trở về liền”. Tôi trả lời: “Đại Tá Ninh căn dặn coi giùm anh em A37, mình đâu bỏ Phi Đoàn đi được?”. Anh đáp ngay: “Tôi đánh cá với bạn đi tới tối về vẫn không có gì xảy ra đâu, Bộ Tư Lệnh, Bộ Tổng Tham Mưu, Trung Tâm HQKQ đã im tiếng còn ai để xin phi vụ yểm trợ ? Vả lại mình đi một chốc thì về chứ có dọt đâu mà lo không hoàn tất trách nhiệm?”. Tôi nhìn vẻ mặt ra chiều năn nỉ của anh rồi cũng xiêu lòng. Tôi nói với Sĩ Quan trực mượn chìa khóa xe pick-up đưa Thiếu tá Nhân đi sẽ về ngay. Kéo hộc lấy chìa khóa, viên Thiếu úy trẻ giao cho tôi và nói: Xe đậu bên mặt cửa ra vào.


    Hình minh họa

    Lên xe chạy một khoảng đến Phi Trường Trà Nóc, Nhân bảo quẹo vào để anh nhờ mấy bạn Trực thăng đưa ra phố. Tôi định ngừng xe trước phi đoàn cho Nhân xuống xong sẽ dọt về ngay thì anh bạn của Nhân chạy Honda tắp vào và nói: “Mày mới xuống hả, tao vừa gặp Đại tá Thảo, Đại tá Ân, Trung tá Cả bên văn phòng Đại tá Bá”. Nhân giục tôi: “Mình phải qua trình diện mấy ông chứ?”. Tôi nhìn Nhân vừa nói vừa tống ga chạy về Bộ Chỉ Huy Căn cứ: “Trình diện gì nữa, hồi sáng Đại tá Thảo đã tuyên bố tan hàng, tự tìm phương tiện di tản rồi mà?”. Gặp được cấp chỉ huy thoát khỏi gọng kềm CS đang siết dần TSN, tôi cũng lấy làm mừng; sẵn dịp cũng nên chào Đại tá Bá xếp cũ mấy năm trước ở Phan Rang. Một chốc bảo Nhân: “Tôi phải về Phi đoàn 520, hơn 45 phút rồI”. Nhân gật đầu nói: “Gặp lại sau”.

    Bảy giờ tối, một Thiếu úy thấy tôi ngồi xem truyền hình đến hỏi: “Ăn gì chưa Thiếu tá?”. Tôi lắc đầu, anh đề nghị chở tôi ra quán nhậu trước cổng. Tôi nói : Anh đi ăn tối đi, nếu tiện nhờ anh mua giùm ổ bánh mì gà. Tôi rút ra tờ năm trăm đưa nhưng anh không nhận.

    Suốt đêm 29 rạng sáng 30 mọi người không ngủ, thao thức đợi phi vụ. Thỉnh thoảng nghe đại bác nổ và nhiều loạt súng nhỏ nhưng tuyệt nhiên phi trường Bình Thủy vẫn hoạt động bình thường, các ụ parking đèn sáng trưng, các chuyên viên kỹ thuật vẫn cắm cúi sửa tàu, tiếng động cơ A37 thỉnh thoảng nổ đều theo nhịp test của trưởng phi cơ. Tôi đứng nhìn phi đạo trong đêm, nghĩ đến các đầu não chiến đấu đã tự tan hàng, chỉ còn lại vùng bốn lẻ loi chiến đấu được bao lâu? Đạn dược, xăng nhớt, cơ giới… còn lại đủ chống cự không?

    Mười giờ sáng đài truyền hình phát sóng các Tướng, Bộ trưởng của chính phủ Big Minh kêu gọi toàn quân bỏ súng rời đơn vị trở về nhà. Hiệu triệu của Tổng Thống “ba ngày” chỉ thị các Binh đoàn, công sở bàn giao tất cả cho “Quân Giải Phóng miền Nam”.

    Thế là Căn cứ Bình Thủy cũng tự động tan hàng. Chưa qua mười phút, cảnh rã ngũ xảy ra nhanh đến nổi tôi nhìn ra bãi đậu phi cơ vắng lặng, không còn quân cảnh, không còn chuyên viên kỹ thuật. Tôi rất thán phục anh em A37 Cần Thơ, có nôn nóng nhưng rất trật tự có thể nói là lịch sự. Tôi lên tiếng vì nhu cầu tất cả Hoa Tiêu A37 phải rời Việt Nam, anh em bắt cặp lấy, mỗi phi cơ phải đi được ba người, không dù nón, không hành lý, ngoại trừ Phi Công bay ngồi ghế trái phải đội helmet để liên lạc và tất cả phi cơ bay cao độ maximum 12 ngàn bộ không cần dưỡng khí. Tôi là người đầu tiên quăng cái cặp samsonite đựng nhiều kỷ vật qua hàng rào kẽm gai. Thế là anh em lần lượt tự động nhảy lên phi cơ. Một Thiếu úy chạy đến hỏi tôi: “Còn vợ em làm sao Thiếu tá?”. Tôi quay qua đẩy anh ta và vợ lên chiếc tàu gần ụ bên đã có phi công ngồi ghế trái.Thấy mọi người đã an vị, không còn ai trên parking, tôi nói với Thiếu tá Danh, chúng ta cũng lên tàu chứ? Khi ngồi trên ghế mới thấy đa số phi cơ bình điện yếu không mở máy được. Tôi bảo Danh nhảy xuống giúp tôi đẩy chiếc APU (Auxiliaire Power Unit) qua cắm vào phi cơ gần nhứt; nhưng loay hoay hoài cũng không làm sao nổ máy “boost” bình điện được.

    Nắng miền nam bắt đầu nóng, tôi tự giận mình bay mấy ngàn giờ mà không biết start APU, tệ thật! Kịp lúc đó Thiếu tá Kim, người bạn cùng khóa 63A, Liên Đoàn Trưởng Kỹ Thuật chạy lambretta đến gọi tôi: “Cửu cho “moi” đi với!”. Tôi mừng quá và chụp tay anh: “Chắc chắn anh phải đi, start APU dùm coi”. Kim đưa hai ngón tay bấm, tiếng nổ dòn APU vang lên, tôi giục Kim và Danh đẩy máy “boost” đến tất cả phi cơ bình yếu cho phi công mở máy. Gần chiếc cuối tôi thấy chỉ có hai người ngồi, Tôi nói Kim lên ngồi ké. Rồi tôi nói với Danh còn chiếc nữa ta có thể lên tàu.

    Lúc trở lại phi cơ, tôi ra dấu cho Danh mang dù nón oxygen đầy đủ vì không có ai nữa để cho đi. Vả lại chúng tôi phải lên 25 ngàn bộ để liên lạc trước với Utapao tower. Vừa taxi ra khỏi ụ thì thấy Mậu và một người bạn chạy vespa gọi: “Cửu, cho “moi” đi với!”. Tôi nhìn thấy còn chiếc A37 đậu ụ cạnh. Tôi chỉ cho Mậu và người bạn lên bay chiếc đó. Bấm interphone nói với Danh hy vọng họ không cần APU. Dù sao chúng tôi cũng phải đợi cho họ mở máy taxi ra mới lăn bánh theo.

    Khi phi cơ line up đầu phi đạo, nhìn lại căn cứ lần cuối vắng vẻ không thấy một bóng người. Tôi mang tâm trạng bùi ngùi, luyến tiếc phải bỏ ra đi nơi một thời sinh động náo nhìệt. Bao kỷ niệm hiện về, những sáng tinh sương phi tuần nối đuôi nhau rầm rộ bay vào không gian đi chu toàn nhiệm vụ Bảo Quốc Trấn Không, những buổi chiều sầu thảm khi hay tin một cánh chim đã lìa đàn đền nợ nước. Những đêm thức trắng vần vũ trên trời tây cover cho các bạn trực thăng vào kéo đồng đội lên trong thửa ruộng xanh phía bắc phố thị Tân An.

    Danh kéo tôi về thực tại: “Cất cánh được chưa Cửu?”. Tôi gật đầu ra dấu tống ga 100%. Danh đưa phi cơ lên thẳng đứng. Cao độ kế quay vùn vụt, mấy phút sau phi cơ bình phi 25 ngàn bộ, hướng 300. Tôi lắc cần lái đồng thời qua interphone nói với Danh, tới phiên tôi bay. Danh buông tay để tôi điều khiển phi cơ. Trên tầng số guard tôi nghe được nhiều phi cơ trực thăng “may day” với các chiến hạm Hải quân Mỹ xin xác định tọa độ, hướng bay để vào đáp. Vô tuyến ồn ào như họp chợ. Tôi đưa tay vặn qua tầng số tour Utapao, thì đã nghe anh em bắt đầu liên lạc nhưng không nghe được vì họ phải bay thấp và còn quá xa. Tôi xen vào : “Xin các A37 yên lặng!”. Tôi bắt đầu gọi đài Utapao báo cáo trong vòng 25 phút nữa, khoảng bốn chục phi cơ A37 xin chỉ thị vào đáp. Utapao Tower: “Welcome Sir, runway 18 headwind 10 miles, vibility 25 miles, altimeter setting 29.92 reporting each flight when ready for landing. Thunder 524 Roger”. Tôi báo lại chi tiết cho anh em, mọi người bấm nút gọi cho biết nhận rõ.

    Đến Hà Tiên đánh mấy vòng ngắm phố thị, ruộng vườn. Tôi nói với Danh nhìn quê hương lần cuối đi trước khi qua không phận Cao Miên, chắc phải lâu lắm mới có dịp được thấy lại. Danh mỉm cười: “Anh đang di tản hay bay du hành cross country đây?”. Rời không phận Việt Nam, tôi nói Danh cầm cần lái tiếp tục trực chỉ Utapao.

    Đến căn cứ Thái Lan sát bờ biển Danh xin chỉ thị đài vào đáp. Danh lướt nhẹ trên phi đạo 18 và để phi cơ chạy đến cuối đường bay thì tower cho tầng số ground, quẹo mặt đã thấy chiếc pick-up Follow-Me đợi sẵn, taxi theo họ đến bãi đậu tạm khoảng trăm feet từ runway thì hai airmen nhảy xuống xe, một ra dấu full stop, tắt máy, một quăng hai khúc gỗ chặn bánh phải. Xong anh ta đến chào tôi rồi đưa giấy bút yêu cầu điền vào tên họ phi hành đoàn, số đuôi phi cơ từ đâu đến cùng lúc đó người lính KQ Hoa Kỳ cầm hộp sơn xì xóa mất lá cờ sau đuôi. Sau đó họ mời chúng tôi xuống tàu lên xe pick-up để họ đưa vào bàn đón tiếp, họ cũng không quên nhắc nhở chúng tôi vì điều luật an ninh căn cứ vũ khí và nón bay được để lại sau thùng xe để chuyển vào kho.

    Đến bàn ghi tên họ lần nữa rồi được phát một cái khăn tắm, hộp xà phòng, kem bàn chải đánh răng. Bàn bên cạnh có các thức uống, bánh ngọt. Mấy anh em đến trước đang nhâm nhi cà phê trò chuyện, mỗi người mang một tâm trạng, trên nét mặt đăm chiêu nhưng có phần thư thả hơn hồi sáng; hết còn cảnh bồn chồn ngồi đứng không yên. Thời tiết Thái Lan nóng bức như Cần Thơ mặc dù ở đây sát bờ biển. Thấy vòi nước trên bãi cỏ cạnh văn phòng tôi tiến tới mở ra đưa hai tay hứng nước vụp vào mặt.

    Nhóm hoa tiêu Bình Thủy thấy tôi vẫy tay chào, vài bạn đưa ngón trỏ lên có ý nói chúng ta hoàn tất di tản tốt. Một thiếu úy từ Đà Nẵng về Cần Thơ kéo tôi ra một góc dúi vào tay hai tờ trăm đô la, tôi ngạc nhiên nhìn rồi đút trở lại túi anh ta; anh phân trần: “Em ở Mỹ mới về một tháng, còn một ngàn rưởi, Thiếu tá giữ mà xài!”. Tôi nói cám ơn anh, nhưng bây giờ có nhu cầu gì mà cần đến tiền bạc. Đêm hôm qua anh có nói chuyện, vừa đổi về SĐ 1 KQ chưa được check out hành quân thì phải chạy. Tôi nói với anh yên chí, Bình Thủy tương đối yên, phi cơ còn đầy đủ, tất cả chúng ta sẽ rời Việt Nam an toàn.


    Hình minh họa

    Quá mệt mỏi tôi ngồi bệt xuống sàn xi măng bãi đậu, lấy chiếc khăn tắm vừa lãnh cuộn tròn làm gối, ngã người đánh một giấc cho đến khi nghe tiếng phi cơ, tôi choàng tỉnh nhìn lên bầu trời thấy chiếc L19 lắc cánh. Tôi nghiêng mặ,t chống tay đứng thẳng dậy hướng về đài kiểm soát, “green light” chớp chớp, tôi tự cười thầm thỏa mãn: “Hai anh em nhà họ rồi chứ ai vào đây nữa!”. Chiếc phi cơ quan sát tà tà một phần ba runway mới chạm bánh, đến cuối phi đạo quẹo mặt, taxi theo “Follow-Me” cho đến bãi đậu chung với các tàu vận tải cách chỗ đứng chúng tôi ba trăm thước. Phi cơ tắt máy, tôi nhìn hắn ta bước ra rồi đến người em và thêm một vị mặc áo chùng đen, có lẽ là một linh mục? Lúc họ xuống xe pick-up, đi về bàn làm giấy tờ theo chỉ dẫn ra dấu của người lính Hoa Kỳ, tôi tiến lại vỗ vai, hắn ta quay lại thấy tôi mừng quá: “Đúng như Thiếu tá nói, ba tiếng bay thì nhìn thấy phi trường Utapao, em vào lắc cánh đèn xanh bật cho vào đáp ngay. Tôi định hỏi vị linh mục đó anh gặp ở đâu nhưng thấy anh ta loay hoay làm giấy tờ tôi bước về chỗ cũ. Mấy anh em Cần Thơ giục tôi vào ghi tên cho kịp chuyến bay tới đi Guam.

    30 tháng tư 2005, ba mươi năm sau. Nhân ngày họp mặt Khu Trục, tôi ngồi viết lại “đoạn đường” đã qua này để cám ơn trên đã cho tôi gặp nhiều bạn tốt, tôi mới hoàn thành được chuyến đi mang nhiều ý nghĩa của đời mình. Tuổi quá lục tuần, trí nhớ bắt đầu sức mẻ đến nổi tên họ những người bạn đã gặp cũng đi Utapao). Trong khi gần trăm hai mươi Phi Công Khu Trục Phan Rang tại TSN từ 20 đến sáng 29 tháng tư không một phi công khu trục bay khỏi phi trường bằng A37 đi Thái Lan cả, vì tất cả A37 như phần trên đã viết, “Lệnh ai kéo phi cơ ra khỏi ụ để cho VC pháo kích rạng sáng 29 tháng tư?”. Nực cười nhất là một số quân nhân phía ta sau này viết lại tháng tư đen cũng vấp những lỗi lầm y như vậy, có lẽ họ có đọc “The fall of Saigon” rồi “copy” lại chăng? không còn nhớ.

    Trong ý nguyện viết lại khúc chuyện xưa này cũng mong ước được hội ngộ với anh em ngày trước. Những Anh em đã từng cùng nhau vì lý tưởng tự do, vẩy vùng trên Không Gian đất Việt. Thời trai trẻ mang sứ mạng được Tổ Quốc quê hương giao phó, chúng tôi đã hãnh diện chiến đấu đến cùng, luận thành bại ngoài tầm tay quân đội. Cũng bài viết này xin nhắc lại cho ký giả “salon” David Butler, mấy tuần cuối tháng tư 75, quanh quẩn trong các bar, hộp đêm Mỹ gom góp tin tức chiến sự từ các cọng sự viên tòa đại sứ, DAO,… kể lại để dựng đứng những tin thất thiệt trong cuốn “The fall of Saigon”: Trang 380, David viết, “April 29, 04:00 tại TSN tất cả các Phi Đoàn A37 đã cất cánh di tản.

    Written by Thiên Lôi 524
    nguồn:
    https://buonvuidoilinh.wordpress.com...phi-doan-a-37/

  12. The Following 2 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    hoang yen (01-27-2018), SVSQKQ (01-22-2018)

Trang 38/53 đầuđầu ... 28363738394048 ... cuốicuối

Similar Threads

  1. Trả lời: 19
    Bài mới nhất : 06-25-2018, 06:30 AM
  2. Trả lời: 18
    Bài mới nhất : 08-20-2017, 06:40 PM
  3. Hình Ảnh Kỷ Niệm Xưa Không Bao Giờ Quên !
    By TAM73F in forum Phòng Chiếu Phim Dài
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 03-14-2013, 01:33 AM
  4. Không Cho Phép Mình Quên
    By Longhai in forum Truyện ngắn
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 11-03-2012, 12:42 AM
  5. 27 Tháng Giêng 1973 : Không Thể Nào Quên
    By Longhai in forum Chuyện Đời Lính
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 08-03-2012, 11:36 PM

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter