Trang 56/56 đầuđầu ... 646545556
kết quả từ 331 tới 336 trên 336

Tựa Đề: Bạch Mã

  1. #331
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,252
    Thanks: 8,171
    Thanked 5,488 Times in 1,228 Posts

    Button Xanh Kết Quả Trận Hạ Lào

    Kết Quả Trận Hạ Lào
    BÙI ANH Trinh



    Hình minh họa

    24 Mar 1971, Laos-South Vietnam Border --- Laos-South

    Về tổn thất nhân mạng, phía VNCH có 1.146 chết, 4.326 bị thương, mất tích 246. Phía Mỹ có 102 phi công hoặc nhân viên phi hành bị chết, 215 bị thương và 53 mất tích, mất 92 trực thăng và 5 máy bay chiến đấu.

    Trong khi đó tin tức của phía CSVN do CIA thu thập được tại Vạn Tượng là số thiệt hại của Bắc Việt rất nặng. Và nguồn tin tình báo tại Hà Nội cho biết con số người chết chính xác là 16.224 người.

    Số vũ khí của CSVN bị tịch thu là 1.968 vũ khí cộng đồng, 4.545 vũ khí cá nhân. Phá hủy và tịch thu 128.000 tấn đạn dược, 1.300.000 phuy xăng dầu, phá hủy 8 cây số đường ống dẫn dầu, 100 xe tăng, 291 xe tải. (Tài liệu của Ngũ Giác Đài do Tướng Nguyễn Duy Hinh công bố).

    Đối với phía Hà Nội

    Tuy nhiên con số 16.000 bị chết không nghĩa lý gì đối với Hà Nội, con cái ai chết chứ con cái các ông không chết (đều đi du học hoặc vào binh chủng phòng không đóng tại Hà Nội).

    Đối với Hà Nội thì lính chết như gà vịt chết, họ không phải tốn tiền bồi thường tử tuất cho gia đình người chết cho nên họ vô tư với con số bộ đội bị chết. Họ cũng không lo với những bộ đội bị thương, bởi vì người bị thương nặng thì sẽ chết dọc đường trong rừng núi do không có phương tiện cứu chữa cũng như không có thức ăn, nước uống.

    Còn những người bị thương chạy về được chỗ an toàn thì coi như là những người mạnh khỏe, lại được đẩy trở vào chiến trường !!

    Nhưng Hà Nội thực sự mất hồn đối với số vũ khí và khí tài bị mất mát trong trận chiến vừa qua (Hằng trăm ngàn tấn đạn dược, hằng triệu phuy xăng dầu ). Nếu Liên Xô và Trung Quốc nản lòng không tiếp tục viện trợ nữa thì hy vọng chiến thắng của họ trở thành quá xa vời, trong khi đó không biết lấy đâu để trả nợ chiến phí cho các chủ nợ).

    Rồi lấy đâu gạo thóc để tiếp tục nuôi dân Miền Bắc trong khi lấy cớ chiến tranh nền sản xuất nông nghiệp của Miền Bắc đã bị tê liệt. *(Thực ra mùa màng tê liệt là do cái phi lý của chế độ sản xuất Xã hội chủ nghĩa, người rờ tay vào thì có nhưng người thực sự làm thì không).

    Hà Nội sẽ thực sự lâm vào tình trạng vỡ nợ và đói kém như Bắc Hàn hay Cuba ngày nay nếu Washington đánh giá được rằng quân VNCH đã chiến thắng oanh liệt, nghĩa là vừa mới đập tan mọi khả năng xâm chiếm Miền Nam của tập đoàn lãnh đạo Hà Nội.

    Chiến thắng được cố tình xem như chiến bại

    Tài liệu lưu trữ của Đại sứ Bunker do Stephen Young phổ biến:

    “Ngày 9-3 Thiệu tuyên bố kết thúc cuộc hành quân Lam Sơn. Phải nói rằng, chưa bao giờ có cuộc thắng lợi to lớn như cuộc hành quân này…(Bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 407).

    “Sau cuộc hành quân Lam Sơn 719, trong suốt năm 1971 địch quân hoàn toàn tê liệt và không có một cuộc tấn công quan trọng nào xảy ra tại Miền Nam Việt Nam. Chẳng những thế, lúc này Bắc Việt chỉ lo tự vệ trước những cuộc hành quân do phía Miền Nam Việt Nam thực hiện tại Cam Bốt và Lào”.(Bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng, trang 410).

    Nhưng tài liệu của Đại sứ Bunker cũng cho thấy Washington không thừa nhận chiến công của quân đội VNCH

    “Giới truyền thông báo chí theo dõi tin tức cuộc hành quân Lam Sơn 719 đã lừa đảo dân chúng bằng cách tường thuật quân đội Miền Nam Việt Nam như kẻ bị đánh bại…

    Ngay cả Tòa Bạch Ốc cũng tỏ ra khốn đốn trong suốt cuộc hành quân này diễn ra. Mặc dầu Bunker luôn luôn cung cấp và liên lạc với Kissinger để thông báo tình hình hành quân đang lạc quan nhưng ngay từ đầu, Hoa Thịnh Đốn cũng thiếu tin tưởng và xem việc quân đội Miền Nam rút quân là một sự thất bại”. (Stephen Young, Victory Lost, bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 410).

    Mãi về sau này Bunker vẫn không hiểu nổi thái độ của Washigton trong khi người tổng chỉ huy trận đánh là Tướng Abrams đã liên tục báo tin thành công của chiến dịch Lam Sơn 719 cho Bunker, và Bunker liên tục báo về Washington, thế nhưng Washington cố tình không công nhận các báo cáo của Buker để một hai cáo buộc Thiệu đã để thua tại Hạ Lào.

    Tiếc là hồi ký của Tướng Haig đã ra đời quá trễ cho nên Bunker chết trước khi biết được sự thực rằng chính Nixon và Kisinger mới là những nhà thiết kế của cuộc hành quân. Nhưng theo thiết kế của Nixon thì quân VNCH phải đóng chốt tại Tchepone khoảng hai tháng để nhử cho quân CSVN tập trung lại chung quanh Tchepone như đã từng tập trung tại Điện Biên Phủ.

    Mưu đồ của Nixon và Kissinger là đợi sau khi quân CSVN tập trung hết xung quanh Tchepone thì B.52 sẽ hủy diệt toàn trận địa. Vì vậy mà Nixon và Kissinger đã rung đùi khi xem trên báo thấy hình ảnh Tướng Phạm Văn Phú đứng chụp hình với các phóng viên chiến trường ngay trong thành phố Tchepone đổ nát vào ngày 8-3 năm 1971.

    Trong cơn đắc chí Nixon và Kissinger hoàn toàn không ngờ là chỉ qua ngày hôm sau Thiệu đã cho lệnh rút quân khỏi Tchepone đã đành mà còn rút khỏi Hạ Lào, chấm dứt cuộc hành quân.

    * (Lệnh rút lui của Tướng Thiệu không trái với lệnh hành quân của Ngũ Giác Đài bởi vì thời gian quân VNCH lưu lại Tchepone dự trù là 2 tháng nhưng sẽ do phía VNCH tùy tình hình quyết định. Trong trường hợp không có trực thăng tiếp tế thì Tướng Thiệu bắt buộc phải cho rút sớm chứ không thể nào làm khác hơn. Có điều không ai ngờ là ông ra lệnh chỉ cần vào Tchepone đái một bãi rồi rút).

    Mãi đến ngày 16-3 phía VNCH mới xin trực thăng của Mỹ để di tản Tiểu đoàn 1/4 Bộ binh thì Abrams lờ mờ hiểu được kế hoạch rút quân của Tướng Thiệu nhưng ông giả vờ không biết và bay sang Thái Lan thăm vợ. Đúng 1 tuần sau ông trở về và giả cớ uống rượu từ trưa tới tối để khỏi phải nghe báo cáo về diễn tiến rút quân của VNCH.

    Nixon và Kissinger hoàn toàn thất vọng

    Đến ngày 23-3-1971, khi B.52 bắt đầu thả bom hủy diệt quân CSVN lẫn Tiểu đoàn 4 TQLC/ VNCH thì Kissinger mới biết được là tất cả các cánh quân của Sư đoàn 1 BB, Sư đoàn Dù và Lữ đoàn 1 Thiết kỵ đã về bên này biên giới, chỉ còn 1 Lữ đoàn TQLC đang cách biên giới 5 cây số, cuộc hành quân sắp hoàn tất.

    Biết được tin này Kissinger chạy vào Bạch Ốc đòi Nixon cách chức Abrams. Nixon ra lệnh cho Chuẩn tướng Haig ( phụ tá của Kissinger ) ngày mai sang VN thay thế cho Đại tướng Abrams. Hồi ký của Haig cho biết ông đã thoái thác và khuyên Nixon bình tỉnh lại, nhờ vậy Nixon mới tha cho Abrams nhưng dứt khoát không công nhận kết quả chiến thắng của trận Hạ Lào.

    Trong khi đó thì CIA đã lỡ thuê báo chí tung tin quân đội VNCH hèn nhát không dám tử chiến với quân CSVN. Nay nhân dịp rút lui của VNCH báo chí Mỹ bèn kết luận là VNCH thua trận. Đối với chuyện này, trong cuộc trả lời phỏng vấn cho báo Spiegel của Đức vào năm 1979, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho biết:

    “Ba ngày sau khi mở cuộc hành quân, Mỹ đã tổn thất nhiều phi công trực thăng, và nếu không có không lực và hỏa lực yểm trợ thì họ không chịu tiếp tục cất cánh để di tản thương binh kịp thời và trọn vẹn! Đó là một vấn đề nan giải cho quân mình…”

    “Ông Thiệu cố tránh không đổ tội cho người Mỹ. … sự thật là một số phi công trực thăng Mỹ đã thiếu tinh thần chiến đấu trong cuộc hành quân đó”.(Trả lời phỏng vấn cho báo Der Spiegel, Đức, ngày 1-2-1979. Bản dịch của Cung Thúc Tiến).

    Có lẽ cho tới những ngày cuối đời ông Thiệu cũng không thấy ra sự thực là lúc đó Nixon và Kissinger muốn dùng báo chí Mỹ kích cho quân đội VNCH phải tử chiến để dụ địch tập trung nhiều hơn nữa. Vì tự ái dân tộc mà các chiến binh VNCH sẽ quyết tâm tử chiến để chứng minh quân đội VNCH không hèn nhát. Và quan trọng nhất là không cho phép Tướng Thiệu viện lý do không có trực thăng mà ra lệnh rút lui, hễ rút lui là hèn nhát…!!

    Nếu ngày đó quân VNCH trụ lại Tchepone trong thời gian khoảng từ 1 đến 2 tháng theo như mong đợi của Nixon thì chắc chắn quân CSVN sẽ khóa chặt đường về và đương nhiên Tchepone trở thành Điện Biên Phủ thứ hai, lúc đó người ta chỉ còn có một cách hay nhất là thả bom nguyên tử như người ta đã từng dự trù thả xuống Điện Biên Phủ năm 1954 hay dự trù thả xuống Khe Sanh năm 1968; hoặc tốt hơn hết là dùng bom rải thảm B.52 hủy diệt toàn trận địa.

    Cũng may là Tướng Thiệu đã giải quyết vấn đề rất kịp lúc. Phải nói rằng cả đoàn quân 17 ngàn người đã thoát chết trong đường tơ kẽ tóc mà không hay. Không chết vì 8 sư đoàn quân CSVN thì cũng chết vì bom B.52.

    Nhưng không ai lường được sự ác nghiệt của số phận. Nếu thuở đó 60 ngàn quân CSVN chết cùng với 17 ngàn quân VNCH thì chiến tranh đã ngã ngũ ngay từ ngày đó, không đến nỗi quân CSVN phải chết thêm 724 ngàn người và quân VNCH chết thêm 100 ngàn người (sic). Và Mỹ không đến nỗi mang tiếng thua trận….!!


    ANH Trinh

    https://www.facebook.com/photo.php?f...type=3&theater

  2. The Following 4 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    hoang yen (05-22-2020), khongquan2 (05-09-2020), KQ_NT (05-09-2020), Tinh Hoai Huong (05-09-2020)

  3. #332
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,252
    Thanks: 8,171
    Thanked 5,488 Times in 1,228 Posts

    Button Xanh Ổ Bánh Mì Cuối Cùng

    Ổ Bánh Mì Cuối Cùng
    Cao Nguyên 569
    (Tưởng niệm bạn đồng đội Nguyễn Anh Văn)

    (Chuyện về khóa 5/69 HSQ/Cơ Phi là một chuyện dài, nói đến những nhân vật của 5/69 nếu không khai ra nickname thì không phải là ma 5/69; Văn ông cụ tức Nguyễn Anh Văn là một nhân vật hiền lành, mới 18 tuổi mà tánh đã như một ông cụ 70. Nhưng chiến cuộc đã không từ một ai, Ông cụ Văn đã hy sinh đúng một tháng trước ngày 30/4/1975 ).


    Hình minh họa

    ...Đó là những ngày mà người dân Sài Gòn chộn rộn với việc đi và ở; cùng lúc đó, hàng trăm ngàn dân từ miền Trung và Tây nguyên cũng bám theo các đơn vị quân đội “di tản chiến thuật” kéo về. Sài Gòn trở nên chật chội, hổn độn. Tháng ba, khuôn mặt của Hòn Ngọc Viễn Đông đã mang dáng dấp của một người hấp hối.

    Từ tháng giêng 1975, đã có lệnh cấm quân 100%, Quân cảnh ở các cổng Sư đoàn canh gác thật nghiêm nhặt; tuy vậy, với các anh lính KQ đi mây về gió luôn có đủ mọi cách để qua khỏi cổng vù về Sài Gòn, bởi Sài Gòn-Biên Hòa chỉ cách khoảng 30 cây số.

    Nhóm chúng tôi có 4 HSQ phi hành được lệnh thuyên chuyển từ Sư đoàn 1KQ về miền Nam. Tôi và Văn xin về Biên Hòa, Giao và Thống, hai Thượng sỉ đều về Cần Thơ, cả bốn đều là những Cơ phi gạo cội của PĐ 239, bởi hết hạn đi xa được xin về gần theo nguyện vọng. Tôi, Thống và Văn cùng khóa nghiệp vụ ra trường đi Đà Nẳng năm 1971, Giao là nhóm Cơ phi đầu tiên được đào tạo từ KQ cơ hữu ra trường năm 1969 nên còn chút hơi hám H-34 của Phi đoàn kỳ cựu 219, trưởng thành từ 213 và sau cùng trụ lại tại 239 đến lúc đổi về SĐ4KQ.

    Về PĐ 231 Biên Hòa, Cụ Văn và tôi đều là tân binh nên được trưởng toán ưu ái cắt bay các phi vụ lẻ tẻ(slick). Chắc ông Th/sỉ 1 trưởng toán cơ phi cũng không cần biết trong số 2 tân binh kia lại có một tay gunship cừ khôi của vùng 1. Tôi cũng chỉ biết mang máng rằng người cầm sự vụ lệnh ra thế chổ tôi ở PĐ 239 là Đăng Cò cũng cùng khóa, cùng trung đội, cùng phòng với tôi từ năm 1969.

    Nhưng sau đó nghe lại Đăng cò cầm Sự Vụ Lệnh nằm nhà chơi, mãi cho đến lúc Đà Nẳng “ over run” mới vô Bộ Tư Lệnh trình diện và đi Vùng 4 tỉnh queo ! May mà Đăng Cò không bị dính chưởng “quá 24 giờ báo cáo đào ngủ”, nếu không chắc cũng nằm quân lao rồi ra tòa án quân sự và bị đưa ra Bộ binh như ông bạn đồng ngủ Tống Lý Guns của tôi - ông bạn nầy thì xui xẻo hơn, hai lần được chiến thương bội tinh, bị dính hai lần báo cáo đào ngủ, hai lần ra tòa án quân sự, nhưng trong cái xui còn có cái hên, tòa án quân sự tuyên giử nguyên cấp bậc, lột chỉ số Phi Hành cho xuống đất, nhưng mà đất là của “tia chớp miền Đông – SĐ25BB” !


    Tong LH - Cơ phi gunship 233

    Khóa 5/69HSQ Cơ Phi chúng tôi lúc tỉnh táo ngồi kiểm tra lại sao mà quái đản, gian truân...

    Bởi đã từng nếm mùi Hạ Lào-Khe Sanh với Lam Sơn 719, Bastogne, Quế Sơn, Ba Tơ, mùa hè đỏ lửa 1972, trong đó có cả việc tái chiếm cổ thành Quảng Trị..nên khi đổi về Biên Hòa tôi và Văn đều cảm thấy khá nhàn nhả trong công việc. Ba tháng làm việc tại PĐ 231 chúng tôi như thui thủi, có tên thì bay, không là dù về Sài Gòn mặc dù hơn 2/3 quân số cơ phi của phi đoàn là cùng khóa, nhưng mãi đến sau nầy khi tan hàng mới biết những cái tên ấy ở cùng phi đoàn với mình. Hoa tiêu cũng vậy, do có khoảng cách hơn so với hoa tiêu vùng 1, lại thay đổi phi hành đoàn thường xuyên nên hầu như chưa quen thân được ai !

    Người bạn cơ phi đầu tiên tôi gặp ở PĐ 231 là Thạnh bà ruồi. Thạnh cùng khóa 2 CPTT với tôi, ra trường đi Đà Nẳng một năm thì xin hoán chuyển về Biên Hòa, lúc rời PĐ 233 bà ruồi Thạnh cũng Tr/sĩ như tôi, nhưng khi gặp lại thì hắn đã mang lon Th/sĩ, tôi hỏi ở Biên Hòa sao mày lên lẹ vậy , Thạnh chỉ cười nói:

    - Ai biết, nó cho lên thì lên...

    Còn tôi, nếu không nhờ cái phi vụ đặc cách tại mặt trận và cái Quân Công Bội Tinh với Nhành Dương Liểu Ngôi Sao Bạc chắc lúc đổi về Biên Hòa vẫn còn trinh nguyên hai cánh gà chiên bơ như lúc ra trường. Phân nữa Cơ phi K5/69 ra Đà Nẳng sau 4 năm vẫn dậm chân tại chổ bởi ông Phòng nhân viên Sư Đoàn làm việc rất tận tình, cứ trể phép là quất 8 củ ghi quân bạ; lon còn không cho lên nói gì chấp nhận đơn xin đi Sĩ Quan!

    Hình như cả nhóm thuộc K5.69CP ra Đà Nẳng chỉ có một tên duy nhất được gọi đi Sĩ Quan sau khi đậu Tú tài 1 là Võ ngọc Trác PĐ 233, trong khi đó ở các vùng 3 và 4 số Cơ phi khóa 5/69 lần lượt được gọi đi Sĩ Quan khóa 72, 73 khá đông. Nhưng một ngày sau khi biết tin đi học Sĩ Quan trong phi vụ tiếp tế cuối cùng cho chi khu Ba Tơ - Quảng Ngãi trước khi chia tay Vùng 1, chiếc Slick của Trác bị nổ tung vì SA-7. Hôm đó tôi là cơ phi dằn thùng ở chiếc Guns.1, hốt hoảng khi nghe tiếng kêu may day..may day ..vang vọng của chiếc lead slick cùng một quả cầu lửa bùng nổ trước mặt. Trong intercom lúc nầy không biết là thông báo của lead guns. hay của ai :“ Slick bị SA7 .. hợp đoàn break phải ..” Quả cầu lửa ấy rơi rất nhanh và còn nổ bùng thêm lần nữa lúc chạm đất rồi tắt ngấm giửa rừng sâu ! Ánh sáng của thung lủng Ba Tơ xuống rất nhanh, khi hai chiếc Guns. 239 vòng lại xuống thấp tìm kiếm thì rừng già đã xám xịt, không còn nhìn được điều gì !

    Tuần lể sau đó, chi khu Ba Tơ mất. LZ rescue quá hot, chuyện chiếc slick 233 bị SA7 và người bạn Võ Ngọc Trác của tôi cũng được xếp lại vào hồ sơ mất tích ! Nhưng hình ảnh chiếc slick bùng cháy và tiếng kêu “may day” lạc giọng của viên Phi công 233 vẫn luôn ám ảnh trong tâm trí tôi mãi cho đến bây giờ.


    Dũng Chim - Cơ phi gunship 233

    Nhắc về chuyến bay định mệnh nầy, tôi cũng phải xin lổi cháu Tuấn - con của Hạ sỉ Khanh - xạ thủ chuyến bay này, cháu đã thất công tìm kiếm tung tích của cha mình suốt bao nhiêu năm qua, kể cả việc tìm được địa chỉ điện thoại của Tr/tá Chính Phi đoàn trưởng 233 lúc đó, nhưng tiếc thay ông Chính năm nay tuổi đã cao, không còn nhớ được gì để trả lời, còn tôi chỉ biết được khoảng không gian và thời gian cuối cùng của phi vụ ấy mà thôi, cho nên tuy cháu có gọi nhiều lần để hỏi thăm nhưng thật tình tôi cũng bó tay vì 45 năm qua chưa một lần trở lại.

    Sinh ra và lớn lên ở vùng đất Nam bộ, nơi có tín ngưởng Phật giáo mạnh nên tôi cũng rất âm lịch, cảm thấy lo lắng khi biết mình đã có Sự Vụ Lệnh về Bộ Tư Lệnh Không Quân trình diện nhận quyết định đi học khóa 31 Sĩ Quan Đà Lạt, mà thật ra Sự Vụ Lệnh trình diện là từ tháng 2/1975, tôi thì thuyên chuyển đơn vị từ Đà Nẳng về Biên Hòa từ tháng giêng, có lẻ vì vậy mà cái Sự Vụ Lệnh nó lẻo đẻo theo sau mãi đến tháng 3/1975 tôi mới được tin, sau nầy tôi được biết Khóa 31 Đà Lạt đã làm lể gắn alpha từ giửa tháng ba, và lúc tôi nhận được Sự Vụ Lệnh cũng là lúc Trường Võ Bị bắt đầu di tản, thế nên cái sự nghiệp bay bổng của tôi vẫn còn kéo dài đến ngày 29 tháng ba với phi vụ bảo vệ không phận Sài Gòn; đây là chuyến bay đêm đầu tiên của tôi ở đơn vị mới 231 này nhưng cũng là phi vụ cuối cùng của đời binh ngủ.

    Nói đến chuyện đi học Sĩ Quan, các bạn cùng khóa của tôi đến tuổi nầy vẫn còn ấm ức. Vào lính, cái ranh giới Sỉ quan và Hạ sỉ quan chỉ có một khoảng cách nhỏ là cái bằng Tú Tài 1. Năm 69 rớt Tú tài 396 thằng thư sinh đăng ký đi Hạ Sĩ Quan Cơ Phi, hai năm sau - 1971, hơn phân nữa thi đậu nhưng khi nộp đơn đi học Sĩ Quan thì bị từ chối theo hai lý do: - bị nhiều ngày trọng cấm trong quân bạ, thứ hai lại đúng vào lúc mùa hè đỏ lửa diễn ra, Vùng 1, Vùng 2 dân phi hành rụng như sung, Không Đoàn Tác Chiến có lệnh giử cơ phi lại chờ bổ sung và cứu xét sau.

    Có lẻ do tự ái hơi cao nên tôi quyết tâm học và thi cho bằng được Tú tài 2, sau đó tôi và một số ít bạn cùng khóa đã thành công vào năm 1973; việc nầy đã làm tăng uy tín của Khóa 5/69CP chúng tôi rất nhiều. Hơn nữa, vì hàng ngày trực diện với thần chết nên phần lớn Phi công trực thăng Vùng 1 cùng với anh em phi hành đoàn rất có tình, rất cởi mở và chan hòa. Mãi đến hôm nay sau hơn bốn mươi năm, khi gặp lại anh em vẫn ôm nhau mà rưng rưng nước mắt.

    Cuối năm 1973, tôi tiếp tục nộp đơn trở lại học khóa Sĩ Quan, nhưng là Sĩ Quan Đà lạt. Lần trước, đơn của tôi bị từ chối vì dính 12 ngày trọng cấm trong quân bạ, về Sư Đoàn 3 KQ được ba tháng bất ngờ lại có lệnh gọi, có lẻ cũng nhờ cái vụ đặc cách mặt trận và huy chương Quân Công Bội Tinh nên được xét lại. Nói là tình nguyện đăng ký đi Sĩ Quan chứ thật ra sau năm 72 dân đi bay dằn thùng như chúng tôi đã lạnh cẳng lắm rồi. Có Tú tài 2 đăng ký đi Phi công sợ không đủ thước tấc, thôi chui vô trường Võ Bị bốn năm cho yên thân, có khi ra trường thời cuộc đã yên, khỏe hơn.


    V.H.Hạnh và Đăng-cò - Cơ phi gunship 231

    Và đêm 29 tháng ba, là phi vụ cuối của tôi với PĐ 231 để sáng hôm sau vác sắc-ma-ranh hiên ngang ra cổng về Sài Gòn.

    Thường cuối tuần, trưởng toán cắt bay trước 2 ngày nên tôi đã biết trước công tác của mình. Xuống ca ngày thứ sáu, về Sài gòn thứ bảy, sáng sớm Chúa nhật tôi đã trở lên phi đoàn chuẩn bị cho chuyến bay lúc 5 giờ chiều.

    Theo thông lệ, Phi hành đoàn thường ra máy bay trước 30 phút để check tàu. Check tàu là nghề của chàng nên sau 2 phút leo lên leo xuống rờ rẩm "bia ring", phủi cát ống "ét zốt" tôi báo cáo với Trưởng phi cơ Tr.úy K là tàu đã clear. Nhưng còn 5 phút đến giờ cất cánh vẫn không thấy anh xạ thủ đâu, Trưởng phi cơ nhắc tôi vào lại phòng nghỉ tìm, 15 phút sau vẫn bặt tin, thấy vậy Th/tá Phi đoàn phó ra lệnh :

    - Anh vào phòng nghỉ xem có anh Cơ phi nào ở không kêu đi thế ..Xạ thủ vắng mặt để kỷ luật sau.

    Đúng lúc đó Cụ Văn của tôi lù lù xuất hiện, anh mới nhảy tàu lửa từ Sài Gòn lên, cái túi helmet trong tay chắc có đồ ăn nên thấy hơi nằng nặng.

    - Ê, Văn đi bay tối nay, mai khỏi đi hành quân !

    Có lẻ cũng tại cái bệnh lạnh cẳng như tôi nên mặc dù có chống chế vài tiếng.

    - Văn mới lên..chưa ăn cơm..

    Nhưng sau đó do tôi níu kéo quá nên Văn cũng nhận lời và cùng tôi ra tàu ngồi vào ghế xạ thủ bay về Sài Gòn. Tôi còn hứa ngọt:

    - Về Tân sơn Nhất mình mua bánh mì cho ăn trừ cơm.

    Tàu đáp Tân Sơn Nhất trời vẫn còn sáng, phía sau chúng tôi là chiếc Gunship bệ vệ hai giàn minigun 6 nòng và hai pod rocket 17, Cơ phi chiếc gunship cũng là bạn cùng khóa tôi - Tăng Lê mặc bộ nomex oai vệ bước xuống :

    - Ê Lùn mầy đổi về hồi nào tao không biết ! Ở đây covers cho slick chỉ có một chiếc gunship thôi, tối nay tụi tao bay với tụi mày. Ủa mà sao có thằng Văn Ông Cụ nữa ?

    - Thì vắng Xạ thủ, Phi đoàn phó lệnh cụ Văn lên ngồi dằn thùng cho đủ bộ ! Ê mày có ăn bánh mì không để tao mua luôn ?

    - Ừa, tao cũng đang đói bụng.

    Vừa trả lời Tăng Lê, tôi vừa tiến tới ụ gác phi đạo hỏi muợn chiếc Honda 67 của một bạn phòng thủ phóng nhanh ra cổng Phi Long tìm mua bánh mì vì cái bụng tôi lúc nầy cũng đã có dấu hiệu biểu tình dữ lắm

    Hoàng hôn ở sân bay Tân Sơn Nhất khá buồn, quanh hai chiếc UH chúng tôi đậu chờ phi lệnh là các ụ nổi chống đạn hình chử L dành cho F-5 và A-37, thỉnh thoảng lại có một chiếc AC-119 và AC-47 taxi ngang để ra phi đạo cất cánh, có những cánh tay đưa lên chào khi máy bay đi ngang, tôi đoán chắc đó là những con ma cơ phi 5/69 của của chúng tôi. - Ừ thì giờ tụi mày bay sớm ra tiền đồn thả hỏa châu đi. Đêm nay tụi tao ít nhất cũng phải 3 “rai” quanh Sài Gòn chớ chẳng chơi.


    Cố Th/s Nguyễn Anh Văn - Khóa 5/69 Cơ phi

    Không hẹn mà gặp, tự lúc nào, ba chúng tôi lại cùng gối đầu trên chiếc càng đáp vừa nhai bánh mì, vừa kể chuyện mưa nắng, gió sương. Còn Cụ Văn, cứ lẩm nhẩm về quán cà phê Thạch Thảo-Đà Nẳng, bởi Cụ đã si tình nàng Nguyệt Duyên ngồi “két’ từ lúc nào. Hèn gì, hôm nào xuống ca ,nếu có ai muốn tìm Văn thì cứ đến cà phê Thạch Thảo.

    Đêm đó chúng tôi lên vùng ba lần như phi lệnh. Sài Gòn giới nghiêm nên không khí như hoang vắng lạnh lùng. Đêm Sài Gòn ít đèn nên không gian như nhỏ lại. Hai chiếc UH cứ lầm lủi dọc theo sông Sài Gòn, cây xăng Nhà Bè, rồi lên Hóc Môn, Củ Chi.. Tay tôi điều khiển chiếc đèn chùm như cái máy. Trời chớm hè nhưng sao lành lạnh. Tôi bấm intercom hỏi cụ Văn :

    - Lạnh không Văn !

    Văn trả lời giọng như con gái 16:

    - Hơi hơi lạnh.

    Và đó cũng là lời nói cuối cùng mà tôi nghe được từ người bạn cùng khóa của đồng đội nầy.

    ….. Chiếc đồng hồ đeo tay của tôi dừng chạy lúc 4 giờ 59 phút sáng, là thời điểm chiếc slick của tôi rớt. Khi tôi tỉnh lại ở Tổng Y Viện Cộng Hòa, thấy Tăng Lê vào thăm, hắn nói :

    - Mày bị văng ra khỏi tàu hơn trăm thước.

    Mọi việc xẫy ra rất nhanh, hình như lúc đó bụi cát mù mịt, hai tai tôi vang lên những tiếng.o.o.o một cách lạ lùng.Trong mơ màng tôi nhớ hình như có Tăng Lê kêu..L. ơi !... L. ơi ! mầy ở đâu !

    Chiếc slick của tôi khi rớt đã lật nhào sang trái, nơi có ông Cụ Văn ngồi dằn thùng . Bác sỉ nói tụ máu não không giải phẩu kịp! Tôi lặng đi rất lâu vì cái chết của Văn..Tôi cứ dằng dặt mãi về sau nầy:

    - Phải chi mình đừng kêu Văn đi ! Ổ bánh mì tôi mua cho Văn buổi hoàng hôn ngày 29 tháng 3 năm ấy cũng lởn vởn theo tôi suốt nhiều năm liền.

    Ông cụ Văn chết, tôi tiếp tục nằm bệnh viện thêm hai tuần, lúc cầm giấy chuyển viện về Trung Tâm Y Khoa KQ TSN thì đã 28 tháng 4…


    Cao Nguyên 569
    (Tưởng niệm bạn đồng đội Nguyễn Anh Văn)

    https://www.facebook.com/photo.php?f...type=3&theater

  4. The Following 2 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    hoang yen (05-22-2020), khongquan2 (05-27-2020)

  5. #333
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,252
    Thanks: 8,171
    Thanked 5,488 Times in 1,228 Posts

    Button Xanh Gặp Ngày Hắc Đạo (Phần 1/2)

    Gặp Ngày Hắc Đạo..
    Diều Hâu NGUYÊN QUÂN
    (Phần 1/2)



    Hình minh họa

    Ngày 02 tháng Tư năm 1973, Phi đội II chúng tôi lên ca chánh : hành quân lần hai trong chu kỳ làm việc 5 ngày của chúng tôi. Chỗ nầy chắc tôi phải cắt nghĩa một chút vì nếu các anh là đồng nghiệp và bay ở Sư đoàn IV/KQ thì hiểu rõ cái lịch trình làm việc của chúng ta nhưng nếu bạn đọc khác thì hơi khó hiểu đấy.

    Chuyện là vầy: Mỗi Phi đoàn có 4 phi đội, mỗi ngày 3 phi đội cùng hợp sức làm việc để một phi đội được nghỉ dưỡng sức 3 ngày ở ngoài đơn vị nghĩa là tại gia đình, hầu hết là ở Sài Gòn. Ba phi đội đó được phân định như sau: sau khi nghỉ phép, thì ngày đầu làm việc của bạn là ngày ưu tiên một hành quân, qua ngày thứ hai bạn sẽ được tăng cường bổ xung cho một phi đội khác đang là hành quân chánh, ngày thứ ba bạn vẫn tăng cường nhưng thuộc loại hai, thường là đảm trách những phi vụ nhẹ hoặc có khi không phải bay, coi như có một ngày nghỉ dưỡng sức tại đơn vị của bạn. Đoạn qua ngày thứ tư, bạn lại lên ca ưu tiên một hành quân chánh (đợt nhì), ngày thứ năm bạn lại được tăng cường hành quân (đợt nhì) và ngày thứ sáu là ngày đi phép nghỉ dưỡng sức ba ngày của bạn. Đi và về, nếu bạn ở Sàigòn thì có phi cơ đưa rước cho bạn.

    Sáng nầy, tôi thức dậy khoảng 5 giờ rưỡi, sau khi vệ sinh cá nhân, mặc áo bay vào, xỏ chân vô đôi botte de saut, đeo dây súng P38 rồi vác áo giáp trên vai, xách nón bay đi tới quán cà phê của Phi đoàn gọi một ly cà phê và một thứ gì đó để ăn sáng qua loa, sau đó tới thẳng đến phòng hành quân. Nơi đây đã có một vài anh em đến trước tôi, chúng tôi chào hỏi nhau.

    Nhìn vào bảng phi vụ lệnh thì tôi thấy Phi đoàn chúng tôi hôm nay làm việc cho Tiểu khu Kiến Hòa (Bến Tre), chúng tôi cũng đã sẵn sàng cho một package lớn (một hợp đoàn hành quân) do T/u Ẩn, P/Đội phó cắt bay từ chiều tối đêm qua, gồm: 1 C&C, 5 Slicks chuyển quân và 3 Gunships yểm trợ. Được phối trí như sau : Th/tá Đặng (P/đoàn phó) bay C &C (Control and Communication). Dù không nói ra, chúng tôi thấy khoái khi thấy mấy quan bay tàu C&C mà có cấp bậc cao, chẳng hạn như ông nầy, vì sao thế ? Bởi các quan Bộ binh ngồi ‘back seaters’ (ngồi ghế vải phía sau chỉ huy cuộc hành quân) thường là Đại Tá Trung đoàn trưởng (Đại bàng), Trung Tá Trung đoàn phó hay Đại Tá Tiểu khu trưởng (Tỉnh trưởng) , Trung Tá Tiểu khu phó v.v.. mà nếu phe ta cấp bậc quá nhỏ như một vài mai vàng thì tất nhiên dễ bị hiếp đáp.

    Chính tôi đã chứng kiến bốn năm lần cái cảnh nầy. Thôi trở lại chuyện hành quân hôm nay : T/u Ẩn sẽ bay lead 5 chiếc đổ quân, chiếc số 2 : trưởng phi cơ T/u Ngô Vĩnh Viễn, số 3 : T/u Quân.L, số 4 : T/u Thành.H và số 5 (Trail) : T/u Hồng.N. Còn bên Gunship (Võ trang), bay chiếc số 1 : tác giả bài viết, T/u San bay chiếc số 2 , T/u Phát bay chiếc số 3. Vào thời điểm nầy hầu hết anh em hoa tiêu 225 đều mang cấp bậc Trung úy (T/u) bởi lẽ các anh ra trường vào khoảng cuối năm 1970, số giờ bay hiện tại của các anh đã trên hai nghìn giờ rồi. Cách nói chung chung thì phi công trực thăng của Sư đoàn IV/ KQ bay rất nhiều, mỗi năm các vị ấy bay khoảng một nghìn giờ. Sở dĩ T/u Ẩn cắt tất cả hoa tiêu thuộc P/Đội II bay ghế trưởng phi cơ hôm nay vì phi đội nầy lên ca chánh, tất nhiên phải có trách nhiệm nhiều hơn.

    Khoảng 6:30 sáng chúng tôi cuốc bộ ra tàu bay của mình, mỗi tàu có 4 người, ai cũng có phận sự riêng trên con tàu nhưng xem xét con tàu (check) trước khi bay là việc chung. Kẻ leo lên nóc check hệ thống cánh quạt lớn, người đu lên ‘tail skid’ để check cánh quạt đuôi, rồi anh Cơ phi (Cơ khí viên phi hành) kiểm soát lại dầu máy, dầu hộp số có ở đúng cái vạch an toàn không, anh Xạ thủ coi lại súng ống hai bên thân tàu bằng cách lên đạn sống, tất cả phải sẵn sàng để lúc 6:45 (giờ mặt trời mọc) tất cả 9 chiếc đều quay máy. Tàu C&C cất cánh trước, kế đến 5 chiếc Slicks di chuyển ra phi đạo dưới sự chấp thuận của đài kiểm soát không lưu, rồi cất cánh, ngay sau đó 5 chiếc ráp thành hợp đoàn chữ V lớn (V5 formation). Sau cùng là 3 chiếc võ trang cất cánh và ráp thành hợp đoàn nấc thang trái (Left Echelon) tức là đội hình tác chiến.

    Độ chừng 45 phút bay, tàu C&C đáp ở cầu tàu trước tòa Hành chánh tỉnh Kiến Hòa để rước các quan ngồi back seaters, còn tám chiếc của chúng tôi đáp xuống phi trường Bến Tre. Nơi đây có sẵn chừng một đại đội Địa phương quân, một xe GMC và một xe Dodge 4, cả 2 xe chở đầy ấp đồ tiếp tế. Chúng tôi tắt máy và chờ tàu C&C đến để biết mình sẽ làm gì hôm nay. Phi trường Bến Tre là một trong những phi trường khá đẹp của Quân khu 4, chúng tôi tụ 5, tụ 7 tán gẫu cho vui nhất là trao đổi những hiểu biết về vùng nầy.

    Đây là vùng có rất nhiều du kích quân cộng sản, quê hương của hai gấu cái ‘thị Bình, thị Định’ mà lỵ , dừa rất nhiều, dọc theo hai mé các kinh rạch được bao phủ dày đặc bởi giống dừa nước lá xanh um, còn trên đất khô là bạt ngàn rừng dừa cây ăn trái và dường như thiếu sự chăm sóc nên phần lớn các cây bị lão, thân quá cao khoảng chừng 10 đến 15 thước, cho trái rất ít nhưng họ không đốn bỏ có lẽ vì thiếu cánh tay đàn ông chăng. Bởi vào thời buổi nầy đàn ông nếu không đi lính Quốc Gia thì cũng vào bưng đi lính giặc cộng, đâu có được ở nhà để mà o bế vườn tược.

    Nói thật chúng tôi hơi ‘nhợn’ khi bay cái vùng nầy, nhất là Gunships thường bay thấp, bay rà sát ngọn cây nếu chẳng may tàu bị bắn cháy, cần đáp khẩn cấp rất khó tìm được khoảnh đất trống cho vừa ‎ý. Khoảng chừng 8:30 tàu C&C chở các quan ngồi back seaters đến. Chờ cho chiếc nầy tắt máy hẵn thì 8 trưởng phi cơ hợp đoàn kéo đến đây để nghe các quan Bộ binh cũng như Th/tá Đặng ‘briefing’ (thuyết minh) công việc phải làm hôm nay. Chuyện dễ thôi, cần hai Lifts (chuyến) chở Đại đội nầy vào hoán chuyển với Đại đội đang đống ở quận Bình Đại, rồi sau đó cần 2 teams (toán) mỗi team gồm hai Slicks chở đồ tiếp tế cho 2 cái đồn Nghĩa quân, một đồn ở gần Giồng Trôm và đồn kia ở gần Ba Tri. Như vậy thì chiếc Gunship số 3 có thể nằm nhà tiếp tục binh xập xám rồi đấy, chỉ cần Gunship 1&2 hộ tống hợp đoàn là được rồi.

    Đâu chừng khoảng 10:45 thì mọi công tác đã xong, chúng tôi về đáp lại sân bay để ‘Stand By’ (chờ lệnh mới) trong khi đó tàu C&C đáp ở tòa Hành chánh. Đến đây tôi cũng xin lỗi độc giả vì tôi vẫn giữ nguyên English cho những từ ngữ chuyên môn cũng như nghề nghiệp. Xin cho tôi được giải bày để bạn đọc hiểu rõ vì sao, rồi thông cảm rồi tha thứ. Những English nầy do anh em phi công trực thăng đã học được từ ở trường bay, khi về đơn vị chiến đấu thì được nghe các huynh trưởng mình cũng nói y chang như vậy trong các cuộc hành quân, riết rồi đâm ra quen miệng. Thêm cái khổ nữa, nếu anh em trong giới KQ thấy tôi dịch nó ra tiếng Việt, thì họ bảo:

    “Đọc thấy không “phê”, có vẻ giả tạo, không thể hiện đúng ngôn ngữ thường dùng của dân bay 'chuồn chuồn'.

    Về phía bạn đọc thấy tôi giữ nguyên tên gọi bằng English thì cho là chướng mắt, dị hợm đúng vậy không? Thôi thì tôi cứ giữ nguyên từ ngữ chuyên môn bằng English cho phe ta, rồi mở ngoặc đơn ‘(’ để giải thích những từ nầy, xong rồi đống ngoặc đơn lại ‘)’, như vậy là trọn nghĩa trọn tình cả đôi đàng, các bạn hỉ ? Hay còn cách nữa, qu‎ý‎ vị cứ coi đây như là một cách ngụy ngữ hay mã hóa ngôn ngữ theo cách dân KQ, cốt là để Việt cộng không hiểu chúng ta nói cái gì trong lúc hành quân. Ngay ở đơn vị Bộ binh họ cũng xài ‘ngụy ngữ ’ nhưng giản dị hơn, thường họ đổi chuỗi từ nầy thành một chuỗi từ khác nhưng giữ nguyên những chữ cái ở đầu của mỗi từ. Thí dụ như ‘Chiến Tranh Chánh Trị’ (những chữ cái ở đầu từ là : C, T, C, T) thì họ đổi là ‘Con tôm con tép’, như ‘Lao công đào binh’ biến thành là ‘Lau chùi đại bác’, còn ‘Cán bộ xây dựng nông thôn’ thành là ‘Canh bầu xì dầu nước tương’, ‘Pháo binh’ thì thành ‘Phở Bắc’, ‘Việt cộng’ là ‘Vịt con’ v.v...

    Vào lúc 11:15, tàu C&C đáp xuống gần tàu của chúng tôi, sau khi giảm ‘ga’ nhỏ lại rồi giao ‘controls’ cho hoa tiêu phó, Th/tá Đặng bước xuống bảo chúng tôi quay máy, bay qua phi trường Đồng Tâm Mỹ Tho đợi lệnh mới. Sau đó, ông Đặng lên lại phi cơ, tăng ‘tour’ cất cánh đi trước, có lẽ ông đáp ở hồ nước ngọt Mỹ Tho để rước mấy quan ngồi ‘back seaters’ của Tiểu khu Định Tường. Hợp đoàn 8 chiếc quay máy, tôi gọi 2 chiếc Gunships qua tần số VHF nội bộ : “ Diều Hâu 2 và Diều Hâu 3, đây 1 gọi ” . Hai bạn San và Phát đáp bằng thính hiệu : “nghe rõ” (bấm micro switch trên ‘Cyclic’ hai lần), tôi tiếp : “ Diều Hâu 2 và 3 qua Đồng Tâm trước, còn 1 sẽ lên cao liên lạc với Paddy (đài kiểm báo của SĐIV/KQ) để nhờ họ thông báo cho Phòng Hành Quân Chiến Cuộc (giống như Trung tâm Hành quân của Bộ binh) biết là hợp đoàn Hồng Mã (danh hiệu hành quân của PĐ 225 Ác Điểu) sẽ ăn cơm trưa tại phi trường Đồng Tâm Mỹ Tho ”.

    Sở dĩ tôi phải làm việc nầy là nhờ phòng Hành quân chiến cuộc thông báo về phi đoàn tôi, để ông trưởng phi cơ bay tàu cơm biết chúng tôi hiện đang ở đâu mà đem cho đúng chỗ, nếu không gọi về, ổng cứ tưởng chúng tôi còn ở phi trường Bến Tre như ghi trên bảng phi vụ lệnh thì trưa nay anh em chúng tôi phải treo bao tử.


    Hình minh họa

    Phi trường Đồng Tâm chỉ cách phi trường Bến Tre chừng bảy, tám miles đường chim bay, bay sẽ mất mười phút nếu tính từ khi quay máy cất cánh đến đáp xuống tắt máy.
    Chúng tôi không phải đổ thêm xăng, rồi 5 chiếc slicks và 3 chiếc võ trang chia nhau đậu hai bên phi đạo. Lúc nầy là ban trưa, nắng nóng lên rồi, anh em cảm thấy lười người ra, chỉ muốn ngồi yên trên ghế của mình đợi tàu cơm hơn là bước xuống đi lang thang như mọi khi. Tôi lấy bao thuốc lá ra, đánh lửa hút rồi thử quan sát cái toán quân phía trước mặt mà bọn tôi sắp phải thả họ xuống cái LZ ( Bãi đáp - Landing zone ) nào đó.

    Tôi đoán đây là một Đại đội Địa phương quân có thể là đại đội Thám sát Tỉnh, đại đội nầy cũng có nét giống đại đội thám sát ở Cao Lãnh mà chúng tôi đã từng hành quân với họ, thoạt trông thì thấy rất là ô hợp, lính tráng gì mà ăn mặc xốc xếch, áo bỏ ngoài quần, có vài ông cắc cớ trên thì mặc áo treillis dưới thì mặc quần Mỹ A đen của vợ, đầu họ đội đủ loại mũ: nón sắt, nón nhựa, mũ rằn ri tai bèo kiểu biệt kích Mỹ và cả nón rộng vành kiểu quân đội Tân Tây Lan. Họ mang đủ loại giày : botte de saut có, giày bố có và có cả dép râu việt cộng. Do vậy tôi vẫn nghĩ rằng cái đám nầy chắc là đánh giặc khá lắm đây, giống như đại đội ở Cao Lãnh chăng ? bởi tôi thấy cũng có vài ông mang AK47 thay vì M16, chắc đó chiến lợi phẩm mà mấy ông đó lấy được của vc.

    Không thấy ông nào mang ba lô trên lưng mà chỉ có súng và đạn, đặc biệt họ trang bị khá nhiều lựu đạn, lớp thì đeo lủng lẳng ở hai túi trên, lớp thì đeo ở dây thắt lưng to bản. Tôi đoán chắc cái kiểu nầy là thả mấy ổng vào, cho mấy ổng lục soát mục tiêu chừng vài giờ thôi, rồi phải bốc mấy ổng về. Mấy ổng thấy tàu chúng tôi vừa tắt máy xong, liền di chuyển đến để ngồi đụt nắng ở hai bên hông và sau đuôi tàu. Lại có năm bảy ông bày biện ra nhậu nhẹt, họ ngồi bẹp thành vòng tròn dưới đất cát, rượu đựng trong bi đông thay vì đựng nước uống, họ rót ra cái nắp rồi chuyền tay nhau uống cạn, nói cười ồn ào vui vẻ lắm. Trong đám đó có một vài ông chơi nghịch tung hứng trên tay mấy quả lựu đạn nhỏ cở trái chanh (M 67 ?) như các bé gái chơi banh đũa.

    Nếu bạn không phải là lính tráng, thấy cảnh nầy chắc sợ té đái, chớ chúng tôi biết rõ vận hành trái lựu đạn, cũng giống như trái khói màu của chúng tôi thôi, không khi nào nó nổ bậy, trừ khi mình muốn nó nổ.

    Khoảng 12:30, tàu cơm đến rồi đậu phía sau 3 chiếc võ trang. Chúng tôi đến đó lãnh cơm, mang về tàu mình ăn. Khoảng 12:45 tàu C&C chở quan back seaters đáp xuống và đậu nối đuôi tàu cơm. Ông Đặng thấy chúng tôi đang ăn cơm lở dở thì bảo:

    “Cứ ăn tự nhiên đi, không có gì phải gắp gáp”.

    Gần13:00, tám trưởng phi cơ cùng đến tàu ông Đặng để nghe briefing, tóm lược như sau : Chúng ta sẽ bốc một đại đội tại đây rồi thả xuống khoảng giữa quận Sầm Giang (Vỉnh Kim) và xã Ba Dừa (vc gọi là chiến khu Ba Dừa) nằm cách bờ sông Tiền Giang chừng 500m ở bờ bắc (tả ngạn) vì có tin chừng một trung đội vc thường xuyên hoạt động nơi nầy. Anh em chúng tôi đều biết đây là một vùng vô cùng nóng bỏng, nên rất chăm chú theo dõi phần briefing.

    Nhìn vào bản đồ bộ binh có tỷ lệ xích lớn 1/25,000 tuy không phải ảnh chụp nhưng được vẽ rất khéo, mô tả chỗ nào là rừng rậm, sông rạch, bờ đê hay ruộng đồng ao vũng v.v… sau khi nghiên cứu kỹ vị thế bãi đáp trên bản đồ, tôi hỏi viên Th/tá bộ binh về cái hướng tiến quân, lục soát của quân ta ? Ông cho biết là hướng Bắc. Vậy là O.K rồi, tôi bàn với các trưởng phi cơ bay hợp đoàn chở quân là nên bay dọc theo bờ nam con sông Tiền, khi nào ngang với LZ thì bẻ góc 90 độ băng qua con sông vào đáp ngay, lift đầu cho 'full suppress' (bắn tự do vì chưa có quân bạn ở dưới) đường ra sẽ là ‘180 độ out’. Dù không nói ra, tôi tin các bạn tôi có‎ cùng ‎ý nghĩ giống như đề nghị của tôi.

    Để giảm bớt không khí căng thẳng, một ông trưởng phi cơ nói đùa:

    “Tôi không biết lội nghen anh Quân”

    Tôi cũng đùa lại:

    “Đợi anh uống đầy một bụng nước, tôi mới tới vớt anh lên”.

    Quay sang anh Phát, tôi bảo:

    “Gunship 3 theo chúng tôi, nhớ đánh hết rockets trước khi slicks vào đáp nghen”.

    Quay qua Ẩn, tôi nói:

    “Hợp đoàn các anh đến sau chúng tôi chừng 7, 8 phút, chúng tôi cần dọn kỹ LZ trước khi các anh vào đáp”.

    Rồi tôi hỏi Th/t Đặng là :

    “Tôi ‘plan’ (phác họa) như vậy, Th/t thấy có gì không vừa ‎ý? ”

    Và Sếp của tôi gật đầu đồng ‎ý. Ông Đặng thường bay C&C cho phi đội chúng tôi, cả hai bên làm việc rất tâm đầu ‎ý ‎hiệp, ông biết anh em chúng tôi có khá kinh nghiệm bay hành quân bởi do tất cả rất chịu khó bay và có ‎tinh thần trách nhiệm cao, ít có cụ nào kiếm chuyện tránh né hay lặn vọt. Thế là mạnh ai trở về tàu nấy, đồng ‎ý với nhau làm sớm nghỉ sớm, tất cả 9 chiếc quay máy sửa soạn cất cánh vào vùng.

    Tàu C&C cất cánh trước, tôi dẫn 2 chiếc võ trang theo sau, ba chiếc bay đội hình tác chiến. Trong khi đó hợp đoàn Slicks bang ra phi đạo cho lính leo lên, mỗi tàu 12 người nghĩa là chở được một nửa đại đội ngay chuyến đầu.

    Đến vùng, tôi biết ngay đâu là bãi đáp, tuy nhiên chúng tôi tiếp tục bay hàng một làm vòng tròn giữ cao độ 1,500 bộ phía sau tàu C&C ở 2,000 bộ, để quan sát kỹ LZ và rồi tàu C&C bay vào bãi đáp, ném khói màu xuống, đợi khói bốc lên, ông Đặng nói :

    -Diều Hâu có thấy ‘red smoke’ (khói đỏ) không? LZ là ở đó.

    -Đáp nhận Ác Điểu 55. Diều Hâu 2 và 3 theo tôi, chúng ta bắt đầu vào đánh. Target đầu là con rạch phía tây bãi đáp, chúng ta đánh từ chỗ ngã ba sông, đánh dọc theo con rạch kéo dài lên phía bắc.

    Tôi biết Phát đánh rocket còn yếu vì còn đang thời gian huấn luyện bay võ trang, chưa đánh chính xác lắm, vì vậy tôi bay ngay trên đỉnh con rạch, cao độ chừng 500 đến 700 feet, thì thế nào rockets của Phát cũng phải nổ ở hai hàng cây ở hai bên con rạch. Tôi nhắc Phát mỗi ‘pass’ nên đánh từ 3 đến 4 quả, nghĩa là sau 3 hoặc 4 ‘pass’ phải hết 2 bó rockets (14 quả loại 70 ly). Pass thứ hai, tôi chọn những lùm cây dọc theo con đê phía bắc bãi đáp và ‘pass’ sau cùng cũng sẽ là những lùm cây ở phía đông. Có nghĩa là 3 hướng bắc-đông-tây, chúng tôi đã dọn dẹp kỹ, còn hướng nam tương đối trống trải sẽ rãi đạn Minigun là được rồi.

    Bây giờ tôi đã thấy hợp đoàn Slicks còn cách LZ chừng 2 miles, tôi bảo Gun 3 lên cao 1,500 bộ bay phía sau tàu C&C, còn tôi và Gun 2 bắt đầu xuống thấp bay rà sát mặt ruộng, đoạn tôi bay vào chỗ tàu C&C thả khói đỏ khi nãy, bảo anh cơ phi thả một trái khói để hợp đoàn Slicks biết mà quẹo phải vô đáp. Giờ thì hợp đoàn đã quẹo phải, tức là vào ‘final’(cận tiến) và tàu nào cũng cho tác xạ M 60 vào phía bắc cũng như hai bên bãi đáp, Gun 1 và Gun 2 bay ra rước họ vào, tôi bảo Gun 2 bảo vệ bên sườn phải của hợp đoàn, còn tôi sẽ bảo vệ bên sườn trái tức là phía tây của bãi đáp. Hợp đoàn bắt đầu giảm dần cao độ và tốc độ để touch down (chạm đất), hai chiếc Guns bay lướt qua họ và bay xa hơn bãi đáp chừng 50 thước, Gun 2 quẹo phải rồi sẽ bay hình quả trám theo chiều kim đồng hồ che chở bên sườn phải của hợp đoàn, trong khi đó bên sườn trái tôi cũng làm như thế, cũng bay quá bãi đáp rồi quẹo trái để bay hình quả trám theo chiều ngược kim đồng hồ thì tàu tôi bị ‘ground fired’(bị bắn), viên phi công phó bị thương.

    Than ôi, đang lúc cơm sôi mà lửa tắt nghĩa là ‎trong khi hợp đoàn đang ‘touch down’ thì dù tàu tôi có người trúng đạn vẫn không thể rời vùng ngay được, tôi làm một vòng quả trám nữa để bảo vệ hợp đoàn, đưa họ ra an toàn rồi chừng đó tôi báo cáo với C&C, xin rời vùng. Tôi gọi chiếc Gun 3 theo tôi về đáp hồ nước ngọt, còn Gun 2 ‎thử hỏi ông Đặng muốn sao? Lên cao và ở đây với ông, hay theo hợp đoàn về Đồng Tâm đáp chờ tôi. Tôi cũng nói cho tất cả hợp đoàn biết là :

    “Sau khi đáp hồ nước ngọt, tôi nhờ T/u Phát chăm sóc T/u Đắc.Hồ đưa đi Quân y viện cấp cứu, tôi mượn copil của chiếc Gun 3 lên bay với tôi tiếp tục hành quân”.

    Th/tá Đặng rối rít hỏi tôi:

    “Anh Đắc bị thương có nặng lắm không ?”.

    Tôi trả lời :

    “Tôi không thấy trầm trọng lắm, để xem xét kỹ, tôi sẽ gọi lại”.

    Đắc bị đạn ở dưới cổ, phía sau ót, đường kính của vết thương nhỏ cở đường kính cây bút chì, máu không ra nhiều. Tôi bảo Đắc thử vận động hai tay, rồi hai chân, thử hít vào thật sâu rồi thở ra thật mạnh, khi làm như vậy Đắc có cảm thấy đau ở đâu không? Đắc thử đếm ngược từ 20,19,18…được không? Tôi nghe giọng nói của Đắc cũng bình thường không ngọng nghịu hoặc đớt đát gì cả nên tôi an tâm. Tôi và 3 anh trên tàu đều nghĩ tầm đạn đã đi quá xa trước khi trúng vào Đắc vì cả 4 đứa trên tàu không nghe tiếng súng nổ, chỉ nghe một tiếng ‘rẹt’ từ phía tay phải bắn qua và sau đó Đắc báo là bị thương. Thằng ‘vịt con’ nầy chắc chắn nấp ở con rạch chạy hướng nam-bắc, cái chỗ mà tôi dẫn Gun 2 và Gun 3 đánh đầu tiên.

    Bây giờ tôi mới gọi lại ông Đặng, báo cáo rõ cho ổng biết tình trạng của Đắc và cũng báo luôn hợp đoàn biết :

    “Hãy chờ tôi chừng 5 đến 10 phút vì tôi có vài việc phải làm như : giao Đắc cho Phát săn sóc, tắt máy kiểm soát lại tàu v.v…nếu tất cả đều o.k, chúng tôi trở qua Đồng Tâm tiếp tục thả toán thứ hai, cũng là toán chót”.

    Chỗ nầy chắc có bạn hỏi : Tại sao không để Gun 2 dẫn Gun 3 thì không gián đoạn hành quân khoảng 5, 10 phút như vậy ? Xin thưa , lúc nầy trưởng phi cơ bay Gun 2 còn mới, chưa hề bay lead hành quân lần nào, qu‎‎ý vị ạ.

    Còn tiếp....

    Diều Hâu NGUYÊN QUÂN

    https://www.facebook.com/photo.php?f...&theater&ifg=1

  6. The Following 4 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    BaNai (05-26-2020), hoang yen (05-22-2020), khongquan2 (05-27-2020), Tinh Hoai Huong (05-24-2020)

  7. #334
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,252
    Thanks: 8,171
    Thanked 5,488 Times in 1,228 Posts

    Button Xanh Gặp Ngày Hắc Đạo (Phần 2/2)

    Gặp Ngày Hắc Đạo..
    Diều Hâu NGUYÊN QUÂN
    (Phần 2/2)



    Hình minh họa

    Khi thấy tôi tới, 5 chiếc Slicks liền quay máy cất cánh. Tôi bay trước đến LZ để gặp Gun 2 của tôi đang bị ông Đặng giữ lại, bay orbit 1500 bộ quanh LZ như ông. Qu‎ý‎ vị cũng biết vùng nầy có rất nhiều phòng không, hai chiếc bay có nhau sẽ ‘ấm lòng chiến sĩ’ hơn. Bổng tôi nghe “Tàu số 2 bị bắn, tôi phải đáp khẩn cấp”. Chúa tôi ơi, chuyện gì nữa đây, tôi quẹo gắt trở lại thì thấy chiếc số 2 đang đáp nhanh xuống cái đồn phía dưới bụng rồi có một chiếc nữa đang đeo sát chiếc số 2, rồi tôi nghe “Coi chừng ground fired”, thì ra là tiếng của Ẩn (bay chiếc Lead), tôi còn cách họ cũng khoảng 3 miles.

    Khi đến đó, tôi cho bắn tối đa chung quanh cái đồn rồi bay xoắn ốc xuống thắp, súng trái vẫn tiếp tục tác xạ những điểm nghi ngờ ở gần đó như bụi rậm, cây rơm, chòi vịt, giàn bầu, xuồng ghe v.v.., cái tôi sợ nhất là vc phóng B-40 vào hai chiếc đang đậu ở dưới. Nhìn lên thì thấy 3 chiếc Slicks bay không ra cái đội hình gì cả, tôi phải nhắc họ: “Một là bay V3, hai là bay ‘trail’ (hàng một), tạm thời số 3 làm ‘lead’ dẫn 2 chiếc kia bay về Đồng Tâm”. Dưới đất, chiếc số 2 tắt máy, tôi thấy T/u Hóa.P bước xuống chỉ huy đám lính đang làm gì đó.

    Bây giờ thì tàu C&C và chiếc Gun 2 tới. Gun 2 hỏi tôi “Diều Hâu 1 có muốn 2 xuống thấp với 1 không?” Tôi trả lời “Diều Hâu 2 giữ cao độ 1000 bộ, bay vòng nhỏ chung quanh cái đồn nầy và cho minigun bắn xa xa một chút, phải để ‎ý chúng nó có thể pháo 61 hoặc 82 ly vào chỗ hai Slicks ở dưới”. Còn ông Đặng thì hỏi han Ẩn rất nhiều, nào là : “Có ai bị thương không? Sao mà ở dưới lâu thế?”. Tôi nghe Ẩn trả lời : “Trưởng phi cơ chiếc số 2 bị thương rất nặng, rất khó mang anh ra bởi vì cái tấm ‘armor blade’ móp méo khó đẩy về phía sau.

    Anh Cơ phi lại bị skid (Cặp càn chịu đựng thân phi cơ) đè lên bàn chân, đang nhờ mấy ông bộ binh đào đất chung quanh để rút chân anh ra”. Nhờ Ẩn nói tôi mới biết thêm, chớ thấy bên dưới thì tôi thấy rất rõ nhưng không nghe được tiếng nói thì giống như là xem ciné phim câm, chỉ đoán mò mà thôi. Tôi vẫn tiếp tục bay thật thấp quanh đồn, thỉnh thoảng thì cho tác xạ hù dọa cầm chừng, rồi tôi thấy một ông bộ binh bị thương đang đứng tựa lưng vào phía sau cánh cửa lớn của khoang hành khách, cánh cửa nầy luôn luôn được mở ra, đẩy hết về phía sau trong lúc bay hành quân, rồi vòng kế tiếp tôi quan sát kỹ ông nầy, thì ra ông bị vật gì phải thật sắc bén lắm mới thẻo đứt một mảng da thịt ở bụng, ruột bung ra, ổng cứ lấy hai tay tự ấn ruột vào, trông rất thương tâm. Ông Đặng bảo Ẩn : “Hãy để mấy ông lính ở lại đồn nầy, mình chỉ chở phi hành đoàn chiếc số 2 về đáp hồ nước ngọt cấp cứu”.

    Tôi cũng lên tiếng : “ Tôi thấy có một ông bộ binh bị thương rất nặng, đổ ruột ra ngoài, Hồng Mã Lead hãy chở ông luôn, làm phước nhé ”. Cuối cùng thì T/u Viễn cũng được khiên ra và chuyển qua chiếc Lead, anh Cơ phi bị thương ở chân cũng được quân bạn cổng lên tàu cùng một lúc với ông bộ binh bị thương đổ ruột, sau cùng T/u Hóa và anh Xạ thủ phi hành cùng bước lên tàu. Ẩn gọi tôi cho biết là Ẩn cất cánh, tôi bám sát bên Ẩn đến lúc cả hai có được cao độ an toàn. Bây giờ Ẩn mới báo cho mọi người biết là : “T/u Viễn ra đi rồi”. Chao ôi, tôi có nghe lầm không ? Tôi cảm thấy như là có cái đau buốc trong lòng, thật nghẹn ngào, hai mắt cay xè.

    Tôi giao cần lái cho T/u Công, bảo anh bay theo chiếc Lead. Rồi tôi lại nghe ông Đặng ra lệnh :

    “ Diều Hâu 1, 2 cũng theo chiếc Lead về đáp ở hồ nước ngọt ” .

    Như vậy là đúng ‎ý của tôi vì tôi rất muốn nhìn thấy mặt T/u Viễn lần cuối. Lúc nầy mọi vô tuyến thật im lặng, hình như mọi người đang cầu nguyện cho Viễn, duy chỉ có máy FM là còn ồn ào bởi vì quân bạn đang điều quân để chiếm mục tiêu. Tôi chỉ vặn volume nhỏ lại chứ không tắt, vì cần phải theo dõi họ, cũng may họ chưa chạm địch nên họ chưa kêu réo chúng tôi. Thế rồi 4 chiếc nối đuôi đáp xuống hồ nước ngọt. Sau khi tắt máy, tôi bước nhanh đến tàu Ẩn thì nhìn thấy thi thể Viễn nằm sóng sượt trên sàn tàu, Viễn bị cắt đứt nguyên cánh tay phải đến tận bả vai, xương lòi ra và máu động thành vũng lớn nơi vết thương, mặt anh tái xanh vì mất quá nhiều máu, mắt nhắm nghiền và môi mím chặc, trông anh thật đau đớn trước lúc ra đi.

    Tôi không cầm được nước mắt cứ để nó tự tuôn rơi, cổ họng như cứng nghẹn. Nhìn lại sau lưng thì thấy anh Đường, Cơ khí phi hành bị thương ở chân và ông bộ binh bị thương ở bụng đã được lên chiếc Jeep cải biên thành chiếc xe Ambulance chở ngay đến quân y viện, làm tôi sực nhớ, thử nhìn về chiếc Gun 3 đang đậu phía trước chiếc tàu Lead, xem Đắc và Phát đã trở lại đây chưa ? chắc là chưa. Bây giờ tất cả các phi hành đoàn của chiếc C&C, Gun 1, 2, 3, chiếc Lead tụ tập quanh đây cũng có cả Th/t bay back seater (có lẽ ông là Tham mưu trưởng Hành quân của Tiểu khu Định Tường) chúng tôi im lặng, vẻ mặt ai cũng đăm chiêu buồn bã, không nói với nhau nhiều, thỉnh thoảng chúng tôi hỏi thăm T/u Hóa, mọi người đều tấm tắc khen anh rất bình tỉnh để đáp an toàn xuống đồn Nghĩa quân.

    Ông Đặng đã nhờ Th/t bộ binh giúp đở phương tiện là đưa thi thể T/u Viễn vào nhà xác để tắm rửa sạch sẽ, sửa thế nằm ngay ngắn và xin gởi vào phòng đông đá trong thời gian chúng tôi còn hành quân. Thật ra không phải di chuyển thân xác anh đi đâu xa vì ban tống táng, tẩn liệm của phòng Năm Tiểu khu nằm ngay trong khu hồ nước ngọt.

    Dường như bên phía bộ binh, Th/t Tham mưu trưởng đã trình lên với Tiểu khu trưởng là đã có một sự tổn thất quá lớn bên phía KQ nên lệnh hành quân được hủy bỏ, có nghĩa không đổ thêm quân nữa nhưng chúng tôi phải bốc về cái toán quân đã thả xuống LZ. Ông Đặng ra lệnh tất cả chúng tôi trở qua phi trường Đồng Tâm, chỉ trừ Gun 3 vì chưa có hoa tiêu. T/u Hóa, anh Tùng (xạ thủ chiếc Slick ngộ nạn) xin ở lại đây. Tôi về tàu mình quay máy, nhưng luôn nghĩ về trường hợp tử thương kỳ quái của T/u Viễn cũng như cái kiểu bị thương lạ lùng của ông bộ binh, bổng đầu tôi chợt lóe ra một nghi vấn : rất có thể chiếc tàu Viễn không phải trúng đạn phòng không, mà có thể có ông bộ binh nào đó nghịch ngợm đã làm nổ lựu đạn trên khoang tàu ?

    Tôi nghi là lựu nổ ngay kẹt cửa phía bên phải, khi đó Viễn ngồi nghỉ đang lúc T/u Hóa bay, tay phải Viễn gác lên trên tấm bửng chống đạn (armor blade) nên mới bị miễng cắt đứt cánh tay, chớ toàn thân còn lại thì không thấy có vết thương nào nữa cả. Còn chuyện lạ nữa là ngoài Viễn và ông bộ binh ra thì chẳng ai hề hấn gì. Có thể đây là trái lựu đạn nhỏ mà mấy ổng ‘chơi banh đũa’ lúc ở phi trường, chớ loại M26 thì khủng khiếp lắm. Tôi hứa với lòng là phải quan sát kỹ lại cánh cửa phía bên anh Viễn, nhất là phía ngoài coi có phải là trúng đạn phòng không khi tôi có dịp bảo vệ hai chiếc Slicks đáp xuống đồn để bốc 2 toán quân đã bỏ lại ở đó. Gần đáp Đồng Tâm, tôi gọi C&C cho biết là 2 tàu Guns cần ‘rearmed’ (trang bị thêm rockets và đạn 7.62 ly cho 2 súng Gatling guns).

    Thế là hai chiếc Guns 1 , 2 đáp rồi tắt máy ngay mấy cái kho chứa đạn và rockets, tôi nhờ thêm vài anh cơ phi và xạ thủ bay Slicks gần đó đến phụ giúp chúng tôi ‘Loaded’ cho lẹ. Và rồi chuyện ‘rearmed’ cũng xong, hai chiếc Guns quay máy và cả hợp đoàn cũng quay máy theo. Tàu C&C cất cánh trước, hai chiếc Guns của tôi theo sau, sau cùng là 4 chiếc Slicks bay hợp đoàn đội hình ‘Diamond’ (hình thoi), lượng nhiên liệu mỗi tàu còn khoảng nửa bình, như vậy là rất tốt cho 4 Slicks phải cõng 60 ông bộ binh từ LZ đem về Đồng Tâm. Đường tới PZ [ Giờ thì không thể gọi là LZ được nữa mà phải gọi PZ có nghĩa là bãi bốc quân (Picking up Zone) ] cũng còn xa nên tôi bàn hai anh xạ thủ ‘ruột’ của tôi, đó là Tr/s nhất: N.Vũ Kính và Tr/s Diệp (Trưởng toán xạ thủ) ‎ý tôi muốn hai cụ lát nữa đây hãy tác xạ theo kiểu gục gặc nòng súng, chớ đừng bắn theo lối quét ngang, tôi muốn targets phải hứng đạn dày đặc hơn, hai cụ nầy rất đồng ‎ý cái khoảng nầy.

    Tôi cũng nhắc chiếc Lead “Nhớ cho hợp đoàn vào ‘Trail’ (hàng một) lúc ở ‘Final’, sau khi bốc quân hợp đoàn làm hai lần quẹo trái đi ra ”. Bây giờ PZ cách tôi chừng khoảng 2 miles, tôi gọi quân bạn, xin họ thả một quả khói màu đánh dấu bãi bốc và hỏi kỹ “tất cả ‘con cái’ (toán quân) của bạn chỉ ở tại khói màu thôi phải không?” Họ đốt trái khói màu xanh lá cây và cho biết là con cái của họ chỉ ở gần quanh trái khói. Tôi và số hai xuống sát mặt đất, đầu tiên là bay tới toán quân phía dưới, thấy rõ là họ đang đứng chia làm 4 nhóm sẵn sàng để đợi Slicks xuống bốc về, như vậy là quá tốt. Tôi bảo họ cứ tiếp tục đốt khói màu để tránh ngộ nhận trong lúc hai Diều Hầu ra tay “bào láng” cái vùng nầy.

    Nầy ‘vịt con’, tụi con hãy xem Diều Hâu trả thù, bọn ‘qua’ mà ‘quánh’ không đẹp là không phải Diều Hâu nữa. Tôi và Gun 2 sắp bay vòng tròn phía ngoài quân bạn, nếu lấy chỗ đứng quân bạn là tâm điểm thì vòng tròn thứ nhất có bán kính là 200 mét, chúng tôi đánh rockets theo lối cận chiến nghĩa là cho rocket nổ cách mình chừng 3,4 chục mét thôi, vì vậy phải bay low level (bay sát mặt đất) và chỉ phóng rocket lúc đang quẹo, tôi và San đã phải luyện tập lối đánh nầy rất nhiều lần nên mới chơi chiêu nầy được.


    Hình minh họa

    Cái thế đánh rocket nầy được mấy ông bạn xạ thủ Gunsip đặt tên là thế đánh ‘cẩu tè’ vì lúc đánh cũng là lúc quẹo, tất nhiên tàu phải nghiêng nghiêng, hình dạng giống như chú cẩu đang tè, còn hai ông phía sau đánh theo lối ‘lúc lắc cọng lạp xưởng’ (đàn ông sau khi tiểu xong). Vòng thứ hai chúng tôi nong cái vòng tròn rộng ra , bán kính bây giờ là 250 mét cũng tiếp tục lối đánh đó và đánh thật nhiều con rạch chạy hướng nam-bắc mà chúng tôi tin rằng bọn ‘chuột’ nấp nơi đó bắn sẻ chúng tôi, vòng thứ ba nong thêm 50 mét nữa thì đã thấy hợp đoàn Skicks đang ở ‘cross-wind’ (gió ngang), tôi bảo Slicks vào đáp ngay trái khói mà quân bạn đã đốt đó. Chúng tôi tiếp tục đánh một vòng nữa rồi ra rước Slicks vào, cũng như lần trước Gun 1 bảo vệ bên sườn trái của hợp đoàn đang bay hàng một, Gun 2 bảo vệ bên sườn phải. Thế là 4 Slicks bốc hết quân và ra được an toàn, mỗi Slick phải cõng đến 15 ông bộ binh đem về đáp lại Đồng Tâm. Bây giờ Gun 1 và Gun 2 cũng rời vùng rồi bay tà tà đến cái đồn mà tàu của T/u Viễn nằm dưới đó, chúng tôi chỉ bay vòng vòng thôi để chờ 2 Slicks tới bốc quân.

    Tôi gọi chiếc Lead, chỉ muốn dặn dò là “ Khi đến bốc quân thì chiếc số hai nên bay xa chiếc Lead một chút vì bên dưới chỉ có mỗi một chỗ đáp mà thôi, phải đợi chiếc Lead lên, thì chiếc số hai mới xuống được ”. Khoảng 10 phút sau thì tôi đã thấy dạng hai chiếc Slicks tới, tôi gọi Ẩn và Hồng : “ Lead hãy làm ‘overhead approach’ (cúp ga, xuống lối xoắn ốc). Khi nào chiếc ‘Lead’ lên xong thì chiếc ‘Trail’ cũng phải làm như thế, Ok?”. Xong tôi gọi Gun 2 “ Diều Hâu 2 cứ ở trên cao như lần trước, hãy quan sát kỹ coi chừng bị chúng pháo ” và tôi bắt đầu xuống thấp bay chung quanh cái đồn bảo vệ mặt dưới.

    Tôi cũng không quên là phải quan sát cánh cửa bên phía Viễn. Nhưng hởi ơi, cánh cửa ấy đã được T/u Hóa giật ‘Jettison cable’(chốt bản lề) cho rớt ra và thảy nó xuống dưới gầm tàu để trống chỗ, mang T/u Viễn ra cho dễ. Bây giờ chỉ còn một cách là có dịp hỏi lại Hóa như : Hóa thấy phía ngoài cánh cửa ra sao? có dấu vết gì là bị phòng không bắn lên không? Hay là tên lính say nào quờ quạng làm nổ lựu đạn trên tàu? Rất có thể thủ phạm là cái ông bị thương đổ ruột ra đó? v.v… Cuối cùng thì Ẩn và Hồng đã lần lượt làm ‘overhead landing’ mang tất cả quân bạn về lại phi trường Đồng Tâm.

    Bây giờ thì công tác hành quân hôm nay của chúng tôi coi như hoàn tất. Cả 5 chiếc tàu lần lượt vô đổ xăng (C&C, 2 Gunships, 2 Slicks) còn 2 Slicks tắt máy nằm chờ, chắc là đã đổ xăng đầy rồi. Trong lúc đổ xăng thì Ẩn ra hiệu cho hai chiếc kia quay máy. Ông Đặng bảo : “Tất cả hãy bay qua hồ nước ngọt để anh em chúng ta chào T/u Viễn lần cuối. Sau đó, tôi sẽ mang xác anh về KQ Tử Sĩ Đường”. Gun1 và 2 cất cánh theo C&C bay qua hồ nước ngọt, hợp đoàn 4 chiếc Slicks cũng theo sau. Đáp xuống xong, tôi đã thấy Đắc, Phát và Đường, tôi liền đến hỏi thăm họ.

    Đắc cho biết bác sĩ đã khám thật kỹ vòng quanh cổ, không thấy có đầu đạn nào nằm trong đó cả nên sát trùng vết thương, băng lại, yêu cầu ngưng bay 2 tuần, sau đó tái khám tại bệnh xá đơn vị và ông cho một mớ thuốc uống nào là chống nhiễm trùng, nào là thuốc đau nhức v.v... Tôi nghe vậy cũng mừng cho anh, rồi tôi rũ anh lát nữa lên tàu tôi về nhà vì nón bay, áo giáp, dây đeo súng của Đắc còn trên tàu tôi. Quay sang hỏi thăm Đường “Bác sĩ đã khám chưa mà ra sớm vậy ông?”. Đường mới thú nhận: “Khi vào đó, mới biết là còn phải chờ rất lâu mới tới phiên mình. Mình nghĩ là chỉ bị bong gân nhẹ thôi, anh. Kế đến, Đường thấy hai anh Đắc, Phát đi ngang qua, Đường mừng quá theo hai anh ấy về đây”.

    Nghe ổng nói như vậy, tôi chịu thua ổng luôn. Hiện tại Đường đã tháo giày ra, đi chân không vì vậy tôi mới thấy bàn chân sưng vù của ổng, thấy thương ổng quá. Cũng may cho Đường, hôm nay mang đôi ‘botte’ mới toanh do bố vợ là Tiểu đoàn trưởng bộ binh tặng, nên cũng che chở bàn chân của ổng phần nào, vả lại đất vùng đó là loại đất phù sa xốp mềm, dễ lún. Tôi quên nói, chỗ hai ông Hóa và Ẩn đáp là những luống đất trồng khóm (thơm) của mấy ông lính Nghĩa quân trong đồn, khóm đã ra trái lớn bằng nắm tay rồi, thế mà hai ông nầy “quậy nát” đám khóm của người ta. Ông Đặng thấy Đắc và Đường đứng đây, ông tới hỏi thăm. Đắc kể với ông cũng giống như đã nói với tôi, tôi thấy ông Đặng có vẻ mừng cho Đắc, xong rồi quay qua hỏi thăm Đường, nghe Đường kể, ông rày liền : “ Không giởn mặt như vậy được, nếu bị infected (nhiễm trùng) bác sĩ cưa chân anh đấy.

    Lên tàu tôi, tôi đưa anh về khám ở Tổng Y Viện Cộng Hòa”. Đến đây thì ban lo hậu sự của Tiểu Khu Định Tường đưa xác anh Viễn tới, thi thể anh được đặt trong ‘Zip Bag’ màu cam nằm trên ‘băng ka’, rồi họ cáng thi thể đưa vào khoang tàu của tàu của ông Đặng, hai ghế vải ‘back seaters’ đã được tháo ra trước đó, họ nhấc anh lên để họ lấy lại cái băng ka của họ và đặt anh nằm xuống sàn tàu. Tất cả anh em bay hôm nay đứng vây quanh đây, tất cả đều im lặng như cầu nguyện cho anh và rồi từng người đến chào anh lần cuối. Sau đó ông Đặng hỏi : “Trong anh em, có ai biết nhà anh Viễn ở Sài Gòn không?”, có một vài anh biết, nhưng không nhớ số nhà, nhưng cho biết nhà Viễn ở ngoài đường lớn rất dễ tìm, chỉ cần đến khu phố đó, hỏi thăm sẽ ra ngay. Ông Đặng ghi xuống giấy tất cả chi tiết đó để nhờ nhân viên phục vụ ở Tử Sĩ Đường thông báo với gia đình anh Viễn. Đến đây Ông Đặng quay máy cất cánh về Tân Sơn Nhất…Bọn chúng tôi uể oải trở lại tàu mình.

    Trông tôi thật là chán chường, nhưng phải quay máy vì cái trigger (bộ phận mở máy) nằm trên ‘collective pitch’(cần điều khiển lên xuống) bên ghế phải, chớ bên phía copil không có. Tôi tăng tour lên đủ 6,400 rpm rồi giao controls cho T/u Công muốn làm gì đó thì làm. Tâm trạng tôi bấy giờ thật là chán nản, ê chề, tay phải luồn qua túi áo bay bên cánh tay trái, mở fermeture moi gói Capstan đầu lọc ra hút rồi kéo visor kiến râm xuống che mắt, đầu óc cứ nghĩ ngợi mong lung nhất là cảm thấy thật đau buồn vì đây là lần đầu tiên phi đội tôi gặp chuyện xui xẻo lớn như thế. Tôi nhận phi độ II từ khi T/u Chu rời PĐ 225 để đến PĐ khác nhận một chức vụ cao hơn.

    Tôi rất hãnh diện vì đây là một phi đội giỏi, tất cà anh em bay rất khá, nếu bay lead thì không ai qua được: Luông và Ẩn, còn bay ‘Wing-man’ (hợp đoàn) thì đã có những : Hồng.N, Thành.H, Quân.L, Mến.N v.v...họ bay formation dính như sam vậy. Hôm nay, tôi mất Viễn. Tôi luôn hình dung về anh, thân thể to lớn khỏe mạnh, tóc tai luôn húi cao kiểu quân trường, có thể anh cao trên 1mét 80 mà lại mập mạp nên trông anh giống như ông cố vấn Mỹ, anh có nước da trắng trẻo của người Hoa, ít nói có lẽ vì anh nói tiếng Việt không thông thạo lắm nhưng bù lại anh rất vui vẻ, tươi cười bất cứ ai đến bắt chuyện với anh. Theo tôi biết thì phi đoàn chúng tôi có gần một chục anh người Việt gốc Hoa, gọi tắc là người Hoa giống như anh nầy và ngộ cái nữa là phần lớn các anh ấy lại ở trong phi đội tôi.

    Tôi cũng nhờ tôi mê đọc truyện tàu cũng như lịch sử Việt cận đại nên mới hiểu người nhiều về người Hoa, càng hiểu tôi càng quí mến các vị nầy. Họ là hậu duệ, là chắc chít của những danh sĩ hay danh tướng lẫy lừng như : Trịnh Hoài Đức, Mạc Thiên Tứ, Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Châu văn Tiếp, Trương Minh Giảng, Tống Phước Hiệp, Phan Xích Long v.v…và tổ tiên của họ là những Thượng tướng ái quốc, những anh hùng của Minh triều, đó là : Trần Thượng Xuyên (Còn có cái tên nữa là Trịnh Thắng Tài, là ông nội của Trịnh Hoài Đức), Dương Ngạn Địch và Mạc Cửu. Ba vị tướng nầy rất bất mãn, thù ghét triều đại nhà Thanh, cho rằng người Mãn Châu vốn dĩ là dân Tiên Ti, là rợ Kim nên không đáng cho họ thần phục, họ hô hào chiến dịch “Phù Minh, diệt Thanh” nhưng cơ mưu bại lộ nên họ đem toàn bộ gia quyến cùng dân xóm làng xuống tàu xuôi về phương nam, làm di dân đi tìm đất sống mới.

    May mắn thay cho 3 nhóm di dân nầy gặp được đấng minh quân đất Việt bấy giờ là chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần) là người nhân từ, đức độ cũng như người dân Việt giàu lòng bác ái, hảo tâm sẵn sàng dang rộng đôi tay cứu giúp họ, cho họ được an cư những nơi : Cù lao Phố-Đồng Nai cho nhóm Trần Thượng Xuyên, Mỹ Tho cho nhóm Dương Ngạn Địch và Hà Tiên cho nhóm Mạc Cửu. Khi viết đến đây tôi lại liên tưởng đến cái “Luật Nhân Quả” của Thích Ca Mâu Ni vì thế xin bạn đọc cho phép tôi lái xe leo lên lề một tí.

    Đúng ba trăm năm về trước vị chúa nước Nam và tiền nhân của chúng ta đã gieo hạt ‘Nhân’ thật tốt đẹp là cứu giúp người di cư tị nạn, nên khi Cộng Sản cưỡng chiếm miền nam 1975, có hơn hai trăm nghìn dân quân bỏ nước ra đi thì cũng được chánh phủ và nhân dân các quốc gia như: Hoa Kỳ, Anh quốc, Pháp, Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi v.v… ra tay cưu mang, giúp đở chúng ta, như thể là hạt giống năm xưa đã thành cây đơm hoa kết trái rồi chăng? Đây là một trong những lập luận vững chắc nhất để biện minh cho “Luật Nhân Quả” đúng vậy không? Thưa bạn đọc. Thôi tôi trở lại trang k‎ý‎ sự :

    Tôi mãi mê nghĩ ngợi mong lung, tỉnh người ra thì đã về tới phi trường Sóc Trăng. T/u Công bay sau đuôi 4 Slicks và dẫn 2 chiếc Gun 2 và Gun 3 đáp xuống phi trường, xong hắn đem tàu tới P.O.L để ‘refuel’(đổ đầy xăng), sau đó đem tàu vô ụ tắt máy. Ba mươi anh em vác áo giáp, xách nón bay lếch thếch đi vào phòng hành quân, nơi đây có hơn mười anh em chờ đón chúng tôi để biết thêm về tai nạn ngày hôm nay. Tôi chỉ trả lời một cách nhát gừng nếu ai hỏi mình. Tôi nhắc Công ghi giờ bay vào sổ phi vụ lệnh, còn tôi trở về phòng mình. Bây giờ khoảng 17:30, tôi nghĩ mình nên đi tắm rửa, thay quần áo civil xem thấy có khỏe người ra không ? Xong rồi, cho dù bụng chưa đói nhưng chân vẫn bước về hướng Câu Lạc Bộ Sĩ Quan để gặp bạn bè tán gẫu cho đở buồn. Thôi thì ăn ít, ăn nhiều gì ở đó cho xong, chớ lỡ sót ruột vào giữa đêm thì làm sao làm sao ngủ được đây.


    Hình minh họa

    Ăn xong tôi cùng vài bạn bách bộ về khu ‘hangar’ 1, bên hông phòng hành quân của PĐ. Trước hangar là bãi đậu của các tàu bay bị bệnh, chờ được kéo vô trong sửa chữa, khu bãi đậu nầy rất rộng lớn, được tráng xi măng dày , sạch sẽ thoáng mát, vì mặt trước là phi đạo, phía bên kia phi đạo là hàng rào an ninh phi trường, bên ngoài là lộ xe đi Bạc Liêu và bên kia con lộ là đồng ruộng bao la. Chiều chiều gió đồng dạt dào thổi tạt vào đây làm cho con người cảm thấy khoan khoái dễ chịu, vì vậy nếu không ra phố Sóc Trăng chơi, chúng tôi thường tụ tập nơi đây, tán dóc hoặc xem các bạn chơi ‘volley’ ở sân cỏ bên cạnh đó.

    Tôi gặp Đắc cũng có mặt với vài người bạn, trông Đắc có vẻ không vui, tôi hỏi thăm : “Đắc khỏe không?”. Đắc phàn nàn là hơi bị chóng mặt, cảm thấy mặt phía bên phải dường như nặng nề và đầu đổ nhiều mồ hôi, chảy xuống trán, Đắc đã lau ướt cả chiếc khăn mouchoir. Trong nhóm tôi có một anh khá hiểu biết, anh nói : “Đắc mới bị thương mà có những triệu chứng như vầy là không tốt. Hay là chúng ta đưa anh đến bệnh xá căn cứ xem sao”. Thế là ba bốn bạn 'hộ tống' Đắc xuống bệnh xá, cách đây chừng 50m thôi. Chúng tôi gặp anh quân nhân y tá trực, chúng tôi cho anh biết l‎ý do anh em chúng tôi đến đây. Anh y tá đi tìm ngay Bác sĩ Th/tá Y sĩ trưởng bệnh xá cho chúng tôi. Xin nhớ cho bây giờ đã hơn 19:00 giờ nghĩa là ngoài giờ làm việc hành chánh. Đợi chừng 15 phút thì bác sĩ T. đến, Đắc trình bày hết sự việc như bị thương thế nào, đã được QYV Mỹ Tho chữa trị ra sao v.v..và bây giờ thấy bị chóng mặt, ra nhiều mồ hôi ở đầu v.v..Bác sĩ T. khám Đắc tại bàn làm việc, chứ không đưa vô phòng khám và chúng tôi cũng được ở đây với Đắc.

    Việc đầu tiên ông tháo băng ở vết thương của Đắc, xem xét xong, ông thay băng khác cho anh. Ông cũng ấn tay vào chung quanh cổ, hỏi Đắc có đau không. Đắc trả lời “thưa không”. Ông nghĩ là nên chụp “X ray” phía trước mặt của Đắc, ông gọi y tá trực đi kiếm ông chuyên viên chụp quang tuyến vào đây. Khoảng 10 phút sau ông chuyên viên nầy tới và đưa Đắc tới phòng quang tuyến chụp hình X ray như b/s yêu cầu. Chụp xong Đắc trở ra với chúng tôi. Trong lúc chờ đợi hình chụp, b/s T. vui vẻ hỏi thăm và nói chuyện với chúng tôi, ông có vẻ mến chúng tôi vì chúng tôi rất thường cho ông quá giang tàu về SG thăm gia đình.

    Hình chụp đã khô, ông chuyên viên đem trình cho b/s T. và nói “ không tốt rồi ông thầy ơi”. B/s T. treo hình lên khung đèn, ông nhìn kỹ đã thấy đầu đạn ở soan mũi rồi chỉ cho anh em chúng tôi xem. Đắc rớt nước mắt, mặt tái xanh vì mất tinh thần. B/s an ủi “Cũng may trên đường đi, đầu đạn ác ôn kia không phá vở dây thần kinh nào nên anh không bị tê liệt hoặc câm điếc mù, có lẽ viên đạn đã đi hết tầm nên mới chịu nằm yên nơi đó”. Quay qua chúng tôi, ông nói “Tốt nhất là các anh đưa bạn về Tổng Y Viện Cộng Hòa càng sớm càng tốt, chứ ở đây ngay cả bên Trương Bá Hân (QYV/ SócTrăng) cũng không giúp gì cho anh ấy được”. Nói xong, b/s T. viết giấy giới thiệu nhập viện trao cho Đắc và luôn cả hình chụp X Ray.

    Chúng tôi cám ơn bác sĩ, xong rồi vài bạn đưa Đắc về phòng soạn quần áo và những thứ cần dùng đem theo vì anh chắc phải ở nhà thương khá lâu. Còn vài anh khác đến tìm Tr/tá phi đoàn trưởng để tường trình sự việc cấp bách như vậy, nhưng không gặp ông. Chúng tôi nhớ lại cái ông số 3 của PĐ là Đ/úy Chừng, Sĩ quan Hành quân chắc còn đang chơi billard ở Câu Lạc Bộ, chúng tôi đến đó liền, may mắn gặp ông ta và nói cho ông ta biết cái chuyện của Đắc đi tái khám ở bệnh xá ra sao v.v…Đ/úy Chừng có vẻ hốt hoảng nói : “ Các anh nói Sĩ quan trực gọi liền qua Hành quân chiến cuộc xin gắp một chiếc tàu và số phi vụ, tôi sẽ đưa Đắc về TYV/CH ngay bây giờ.” Rất hoan nghênh niên trưởng …

    Chúng tôi tiễn Đắc đến tận tàu bay, chúc Đắc thật nhiều may mắn. Tôi trở về phòng mình nằm vật ra giường, đầu óc cứ nghĩ ngợi mong lung, tâm tư như đang gặm nhấm một nỗi buồn da diết. Nhìn đồng hồ để bàn thì đã thấy 23:30 rồi, mình cần phải ngủ mới được vì ngày mai còn bay yểm trợ cho Hồng Điểu ( Phi đội tản thương ), phi vụ nầy cũng trần ai, khoai củ chớ chẳng chơi, nhất là nếu phải vô kinh Lai Hiếu ở vùng Phụng Hiệp thì luôn luôn có màn đấu súng với mấy ông du kích già việt cộng.

    Tôi nhắm mắt rồi tưởng tượng mình đang chăn một bầy cừu vĩ đại tại một miền thảo nguyên nào đó, mình thử đếm chúng có bao nhiêu con tất cả, tôi đếm đây : một con cừu, hai con cừu, ba con cừu ….đã đếm tới con cừu thứ 819 rồi, mà vẫn chưa ngủ. Tôi chợt nhớ mấy cụ lốc cốc tử, mấy thầy xốc mu rùa họ thường bấm lóng tay để tính ra ngày nào là ngày hoàng đạo, tức là ngày lành tháng tốt, mọi việc rơi vào ngày nầy thì luôn được suôn sẻ, hạnh thông v.v... Ngược lại nếu rơi vào ngày hắc đạo thì ôi thôi vô cùng xấu, đen như đồ nhà khó, như mõm chó mực. Nếu thật vậy thì chắc ngày hôm nay phi đội mình “gặp ngày hắc đạo” ...

    Chú thích._Đây là chuyện thật người thật, vì vậy những nhân vật trong truyện bởi do sự tế nhị phải đổi tên khác. Duy các anh nay đã mất, tôi mới dám viết tên thật của các anh : Đ/u Ngô Vĩnh Viễn, Đ/u Thành (Hà), Tr/u Phát, Tr/u Công, Th/S Nguyễn Vũ Kính, hầu để vinh danh các anh đã bỏ một quãng đời trai trẻ trong cuộc chiến giành chánh nghĩa của chúng ta.


    Diều Hâu NGUYÊN QUÂN

    https://www.facebook.com/photo.php?f...type=3&theater

  8. The Following 3 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    BaNai (05-26-2020), khongquan2 (05-27-2020), Tinh Hoai Huong (05-24-2020)

  9. #335
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,252
    Thanks: 8,171
    Thanked 5,488 Times in 1,228 Posts

    Button Xanh Hồi Ức Tuần Lễ Cuối Cùng Ở Sài Gòn

    Hồi Ức Tuần Lễ Cuối Cùng Ở Sài Gòn
    (30/4/1975 kết thúc chiến tranh Việt Nam)

    Ngày 30 tháng Tư năm 1975, cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài 21 năm đã kết thúc, hai triệu ngưới Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc thiệt mạng, bên cạnh đó là sự hy sinh của 58 ngàn quân nhân Hoa Kỳ, đồng minh chính yếu của quân đội Việt Nam Cộng Hòa.


    Phi trường Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn hôm 30-4-1975. AFP PHOTO

    Tháng 3/75 sau khi ra lệnh rút quân khỏi Pleiku Kontum, một quyết định dẫn tới sự sụp đổ hỗn loạn ở vùng cao nguyên trung phần và các tỉnh phía bắc VNCH, chạy dài từ Huế vào tới Phan Rang.

    Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức

    Ngày 21/4/1975 TT Nguyễn Văn Thiệu chịu áp lực từ nhiều phía và quyết định từ chức.

    Ông nói: "Thưa đồng bào anh chị em chiến sĩ cán bộ các cấp, tôi tuyên bố từ chức Tổng Thống và theo hiến pháp Phó Tổng Thống Trần Văn Hương sẽ đảm nhận chức Tổng Thống."

    Thưa đồng bào anh chị em chiến sĩ cán bộ các cấp, tôi tuyên bố từ chức Tổng Thống và theo hiến pháp Phó Tổng Thống Trần Văn Hương sẽ đảm nhận chức Tổng Thống.

    Khi nhà giáo Trần Văn Hương lên nắm giềng mối quốc gia, thì lúc đó 6 sư đoàn quân cộng sản Bắc Việt đang khép chặt vòng vây thủ đô Sài Gòn, nơi có 3 triệu người sinh sống.

    Nhận nhiệm vụ được 5 ngày, tới ngày 26/4 Ông Trần Văn Hương yêu cầu quốc hội tìm người thay thế mình, một người mà theo ông có đủ khả năng tìm giải pháp vãn hồi hoà bình hoà giải dân tộc.

    Quốc hội ra nghị quyết chỉ định Đại Tướng Dương Văn Minh vào chức vụ Tổng Thống.

    Chiều ngày 28/4/1975 Lễ Bàn Giao giữa hai ông Trần Văn Hương và Dương Văn Minh được tổ chức tại Dinh Độc Lập.

    Lời Tổng Thống Hương liên tục với tường thuật của phóng viên: “ …Làm thế nào cho dân được sống yên…làm thế nào cho máu đừng đổ thịt đừng rơi thì công của đại tướng đối với hậu thế sẽ lưu lại đời đời, dầu thế nào tôi thiết nghĩ đất nước này không bao giờ quên công lao đó của Đại Tướng….(vỗ tay)….(tường thuật)

    Sau khi nguyên Tổng Thống Trần Văn Hương đọc xong bài diễn văn trao nhiệm, chúng tôi nhận thấy một sĩ quan đã gỡ huy hiệu tổng thống hai con rồng bay xuống…và thay thế bằng một huy hiệu tổng thống mới…với hình một hoa mai năm cánh…

    Đây là phóng viên Hệ Thống Truyền Thanh Việt Nam, quí thính giả đang theo dõi trực tiếp truyền thanh lễ trao nhiệm chức tổng thống VNCH giữa ông Trần Văn Hương và cựu Đại Tướng Dương Văn Minh…

    Làm thế nào cho dân được sống yên…làm thế nào cho máu đừng đổ thịt đừng rơi thì công của đại tướng đối với hậu thế sẽ lưu lại đời đời, dầu thế nào tôi thiết nghĩ đất nước này không bao giờ quên công lao đó của Đại Tướng….


    Xe tăng quân đội miền Bắc tiến vào dinh Ðộc Lập trưa ngày 30-4-1975. AFP PHOTO. Photo: RFA

    Thưa quí thính giả vào lúc này bên ngoài dinh Dộc Lập chúng tôi nhận thấy trời đã bắt đầu mưa nhỏ và Sài Gòn đang trải qua một buổi chiều u ám như hoàn cảnh hiện tại của đất nước… ”

    Những lời quí thính giả vừa nghe là của phóng viên Nguyễn Mạnh Tiến thuộc Hệ Thống Truyền Thanh Việt Nam. Như một sự tình cờ, phóng viên này đang làm việc cho Đài Á Châu Tự Do. Anh chính là Nam Nguyên của Ban Việt Ngữ.

    Nam Nguyên: “Vâng ngày ấy tôi còn trẻ lắm 29 tuổi, bây giờ nghe lại hết sức xúc động. Không ngờ còn có người giữ được những đoạn băng đáng lẽ đã đi vào quên lãng.”

    Thưa quí thính giả cho đến 30 năm sau, vẫn chưa có lời giải đáp là tại sao Nam Việt Nam lại tan rã nhanh chóng như vậy. Tuy nhiên theo nhiều nhà phân tích thời cuộc, thì kể từ lúc Tổng Thống Thiệu từ chức ngày 21/4 và vội vã ra đi 2 ngày sau đó, sự kiện chế độ VNCH cáo chung chỉ còn là vấn đề thủ tục.

    Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng

    Đại Tướng Dương Văn Minh được xem là người thích hợp nhất để nhận trách nhiệm ra lệnh đầu hàng. Mời quí vị nghe lại tuyên bố của Tổng Thống Dương Văn Minh được phát đi trên Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia vào lúc 10 giờ sáng ngày 30/4/1975:

    "Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hoà giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam…vì lẽ đó tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ VNCH hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu ở đó."

    Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng, vì chúng tôi ở đây chờ gặp chính phủ CMLTCHMNVN để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự…tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào
    …"

    Sau khi Đài Phát Thanh Saigon lập lại nhiều lần lệnh buông súng của Tổng thống Dương Văn Minh, cũng như nhật lệnh tương tự của Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người được bổ nhiệm làm Phụ tá cho Tổng Tham Mưu Trưởng sau cùng là Trung Tướng Vĩnh Lộc. Quân đội đã thi hành lệnh giao nạp vũ khí cho những người chủ mới của đất nước.

    Xe tăng quân đội miền Bắc tiến vào dinh độc lập

    Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hoà giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam…vì lẽ đó tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ VNCH hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu ở đó.

    Xe Tăng Cộng Sản Bắc Việt tiến vào khuôn viên Dinh Độc Lập lúc 10g45 phút sáng ngày 30/4, đánh dấu sự cáo chung của chế độ VNCH. Một chế độ được xây dựng bởi những người không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản. Chế độ ấy trải qua hai nền cộng hoà tồn tại được 21 năm.

    Cuộc chiến quốc cộng huynh đệ tương tàn làm thiệt mạng hơn hai triệu người Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc. Phía đồng minh của VNCH, 58 ngàn quân nhân Mỹ tử trận cùng hàng ngàn binh sĩ của các nước Nam Hàn, Thái Lan, Úc và Tân Tây Lan.

    Thưa quí thính giả, cũng là một tình cờ lịch sử, khi cờ Mặt Trận Giải Phóng đã tung bay trên Dinh Độc Lập, thì các đại diện chính trị của bên cộng sản chưa vào Sài Gòn để tiếp nhận chính quyền.

    Do vậy Đại tá Bùi Tín, một nhà báo quân đội BV đi theo cánh quân làm phóng sự, lúc đó đã được bộ đội uỷ quyền vào dinh gặp chính quyền Dương Văn Minh. Ông Bùi Tín hiện nay tỵ nạn chính trị ở Pháp. Từ Paris ông Bùi Tín kể lại giây phút lịch sử khi ông giáp mặt ông Dương Văn Minh:

    "Tôi là người đầu tiên tiếp xúc, ông Dương Văn Minh và tất cả đứng dậy…ông Minh nói là chúng tôi chờ quí vị tới từ sáng nay, đặng chuyển giao chính quyền… tôi có trả lời rằng là, tất cả chính quyền các ông không còn nữa qua cuộc tấn công của chúng tôi…cho nên không thể bàn giao cái gì đã không còn nữa…"

    Ðại Sứ Marin không muốn rời Sài Gòn

    Vào những thời khắc sau cùng của chế độ VNCH, chuyện gì xảy ra ở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ? Câu hỏi này đã được chúng tôi đặt ra với ông Robert Funsett, người vào thời điểm đó đang là Người Phát Ngôn cho Bộ Ngoại Giao Mỹ. Ông Funsett kể lại với Ban Việt Ngữ chúng tôi như sau:

    Ðúng giờ này, tức là vào chiều ngày 29 tháng Tư năm 1975, giờ Washington, Sài Gòn bắt đầu sụp đổ. Từ Trung Tâm Ðiều Hành ở Bộ Ngoại Giao, ông Phụ Tá Ngoại Trưởng Phillip Habib và tôi nói chuyện lần cuối cùng với ông Ðại Sứ Graham Martin.

    Ðại Sứ Martin không muốn rời Việt Nam, vì ông ta muốn kéo dài thì giờ để có thể cứu thêm những người khác. Cuối cùng, chúng tôi phải chỉ thị bắt ông đại sứ phải rời nhiệm sở. Ông đại sứ Martin nói chuyện với chúng tôi và tôi còn nhớ là ông ta bảo là sẽ lên sân thượng của Tòa Ðại Sứ, dùng trực thăng để ra hạm đội, và chúng tôi nói lời từ giã với nhau.

    Không đầy một giờ đồng hồ sau đó, Ðại Sứ Martin gọi điện lại báo đã ra tới hạm đội bình yên.

    Người VN đã phải trả giá cho chiến thắng 30/4/75 bằng cả nỗi đau và nhiều sự mất mát. Nhiều gia đình người dân miền Nam theo lời ông Kiệt, rơi vào hoàn cảnh có ngừơi thân vừa ở phía bên này, vừa ở phiá bên kia. 30/4 khi nhắc lại, vẫn theo ông Kiệt có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn.

    Quan điểm của cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt

    Ông Võ Văn Kiệt, cựu Thủ Tướng nhà nước CHXHCN Việt Nam, vào thời điểm tháng Tư năm 75 là người phụ trách thành uỷ Sài Gòn cùng với ông Mai Chí Thọ. Tháng Tư năm nay ông Võ Văn Kiệt khi trả lời báo chí nhà nước, đã nhận định về quyết định gọi là sáng suốt của ông Dương Văn Minh.

    Chúng tôi xin trích dẫn báo Quốc Tế, ông Võ Văn Kiệt cho rằng Ðại Tướng Dương Văn Minh nhậm chức ngày 28/4/1975, ngày mà một nhà quân sự như ông Minh có thể đoán được sự thất thủ của Sài Gòn.

    Theo ông Võ Văn Kiệt, giả dụ ông Minh để cho các tướng lãnh dưới quyền tử thủ thì quân Bắc Việt sẽ vẫn chiến thắng, nhưng Sài Gòn khó mà nguyên vẹn, chưa kể biết bao sinh mạng và tài sản của người dân nữa. Nhà cựu lãnh đạo của chính phủ Hà Nội nhấn mạnh rằng, không thể quên vai trò của Ðại Tướng Dương Văn Minh trong việc giữ cho Sài Gòn được nguyên vẹn.

    Thưa quí thính giả lần đầu tiên, một cựu lãnh đạo cộng sản nói rằng, người Việt Nam đã phải trả giá cho chiến thắng 30/4/75 bằng cả nỗi đau và nhiều sự mất mát. Nhiều gia đình người dân miền Nam theo lời ông Kiệt, rơi vào hoàn cảnh có ngừơi thân vừa ở phía bên này, vừa ở phiá bên kia. 30/4 khi nhắc lại, vẫn theo ông Kiệt có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn.

    Ông Kiệt cho rằng đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu. Cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt còn nói là ông muốn lưu ý mọi người rằng, làm được một chiến thắng kỳ vỹ như 30/4/1975 mà say sưa, như tự mãn nguyện thì cũng đã từng phải trả giá. Theo ông thế giới đã đi rất xa, Việt Nam phải nhanh chân chứ đừng tự ru ngủ mình để rồi sẽ còn bị bỏ xa hơn nữa.



    https://www.rfa.org/vietnamese/Speci...007023241.html

  10. Xin cám ơn BachMa

    khongquan2 (05-27-2020)

  11. #336
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,252
    Thanks: 8,171
    Thanked 5,488 Times in 1,228 Posts

    Button Xanh May Mà Có Em..

    May Mà Có Em..
    Phạm Thị Kim Dung



    Trung Úy Lữ Quốc Hùng (đứng bên phải). Đây là tấm hình kỷ niệm chụp ở Quảng Trị, Việt Nam.
    Đã chụp chung với hai vị Cố Vấn Mỹ, và Ông xếp Thiếu Tá QLVNCH (đứng cạnh ông Cố Vấn Mỹ).
    Hình chụp lúc mới ra trường, đeo lon Chuẩn Uý QLVNCH.

    Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ năm 2017. Bà sinh năm 1951 tại miền Bắc VN, di cư vào Nam 1954, là thư ký hành chánh sở Mỹ Defense Attaché Office (DAO) cho tới ngày 29 tháng Tư 1975. Vượt biển và định cư tại Mỹ năm 1980, làm thư ký văn phòng chính ngạch tại City of San Jose từ 1988-2006. Về hưu vào tuổi 55, hiện ở nhà chăm nom các cháu nội ngoại. Tác giả nhận giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ năm 2018. Sau đây, thêm một bài viết mới của bà.

    *****

    Tôi vào quân ngũ Việt Nam Cộng Hoà năm 1966, theo học trường Sĩ Quan Thủ Đức, khoá 24. Khi ra trường, tôi đã được bổ nhiệm theo ngành Công Binh Kiến Tạo, vì bên kiến tạo cần thêm một Tiểu Đoàn để làm hàng rào điện tử McNamara bên đây bờ sông Bến Hải, thuộc tỉnh Quảng Trị, để ngăn chận nẻo đường mà cộng sản Bắc Việt xâm nhập vào Miền Nam Việt Nam.

    Thân chinh ông Bộ Trưởng, Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ là ông Robert McNamara đã đến Miền Nam Việt Nam, để trực tiếp chỉ huy xây dựng công trường. Ông làm Bộ Trưởng dưới thời hai vị Tổng Thống Hoa Kỳ: John F. Kennedy 35th U.S. President, from January 1961 until his assassination in November 1963 and Lyndon B. Johnson 36th U.S. President, from 1963 to 1969 (John F. Kennedy là Tổng Thống thứ 35 của Hoa Kỳ, từ tháng 01 năm 1961 cho đến khi ông bị ám sát vào tháng 11 năm 1963, và Lyndon B. Johnson là Tổng Thống thứ 36 của Hoa Kỳ, từ năm 1963 cho đến năm 1969).

    Ban đêm cộng quân thường xuyên pháo kích vào doanh trại, nên tính mạng của tôi và những đồng đội tựa như chỉ mành treo chuông. Nhưng may mắn thay, sau những năm đóng quân ở đây, tôi vẫn còn sống sót. Sau đó tôi được thăng chức Trung Uý, và được chuyển nhiệm về Sài Gòn, làm việc tại Đại Đội Địa Hình, Quận Gò Vấp (Đại Đội Địa Hình trực thuộc Cục Công Binh, toạ lạc ở trên đường Nguyễn Tri Phương/Trần Quốc Toản, Chợ Lớn. Đối diện với Trường Quân Y của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà).

    Với những bệnh của tôi như: Cao đường, cao mỡ và cao máu, lại còn thêm bệnh hen suyễn và thận hư phải lọc thận mỗi đêm nữa! Nếu không được phái đoàn Mỹ cứu xét lại hồ sơ, và cho gia đình tôi định cư ở Mỹ, được hưởng phúc lợi y tế văn minh bậc nhất thế giới, thì tôi đã không còn có cơ hội sống sót cho tới ngày hôm nay. Chúng tôi xin chân thành tri ân lòng nhân ái và sự quảng đại của nước Mỹ đã cho gia đình chúng tôi được sống trong một đất nước Tự Do, giàu mạnh và đầy tình người.

    Đã mấy năm nay, từ ngày tôi bị bệnh đau thận, nên người hay mệt và yếu hơn, lại thêm đi đứng khó khăn, phải dùng xe lăn hay xe đẩy, thì vợ tôi phải cơm bưng nước rót, lo lắng và ân cần chăm sóc tôi từng ly, từng tý, với tràn đầy tình nghĩa yêu thương. Nhiều khi tôi thấy em vất vả với tôi sớm tối, đổ bô tiểu tiện cho tôi mỗi ngày, mà không hề than thở buồn phiền gì cả. Tôi thấy thương em quá đi thôi! Tôi thường cầm tay em và nói “MAY MÀ CÓ EM....thương yêu, chia sẻ, chăm sóc cho anh, trong những ngày tháng yếu đau cuối đời.

    Cám ơn em, người bạn đời đã đi bên cạnh anh, chia sẻ những năm tháng nhọc nhằn vui buồn, trong suốt bốn mươi tám năm trọn vẹn nghĩa thuỷ chung. Nếu có kiếp sau, tôi ước muốn được gặp lại em, để đền đáp ân tình sâu nặng của em đã cho tôi trong đời này.

    Hôm thứ ba vừa qua, vợ tôi chở tôi đi Bác Sĩ, vì tôi có cái hẹn với Bác Sĩ Phillip Tse chuyên khoa về thận vào lúc 10:30 sáng, ngày 28 tháng 1, nhằm ngày mùng 4 Tết năm Canh Tý. Cách đây bốn năm, khi thận của tôi còn hoạt động 26%, thì cứ ba tháng một lần, tôi phải đến phòng mạch Bác Sĩ để theo dõi căn bệnh. Nhưng khoảng hai năm gần đây, thận của tôi chỉ còn hoạt động 15%, thì đây là giai đoạn phải lọc thận để duy trì sự sống còn.

    Đã sáu năm trôi qua, chưa có ngày nào phòng mạch vắng người như mùng bốn Tết hôm nay. Có thể vì là ngày Tết đầu năm, nên bệnh nhân kiêng cữ, không dám xin hẹn.

    Tôi ngồi ngoài phòng khách, chờ khoảng 5 phút, thì cô Y Tá gọi tôi vào cân, đứng lên bàn cân thì tôi nặng 80 ký, có lẽ sáu năm nay làm bạn với cái giường, không có vận động được, nên tôi lên ký. Khi đo áp huyết của tôi thì 112/90, đó là con số quá lý tưởng cho người bị bệnh áp huyết cao. Chắc hẳn là sáng hôm nay tôi mới uống thuốc hạ máu, nên mới được con số tốt như vậy.

    Rồi cô Y Tá bảo tôi chờ thêm khoảng 5 phút nữa, thì Bác Sĩ vừa bước vào phòng khám. Ông có gương mặt phúc hậu luôn nở nụ cười rất thân thiện. Ông học biết vài câu tiếng Việt thông thường, để hỏi thăm bệnh nhân người Việt Nam, vì phu nhân xinh đẹp của ông là người Việt Nam, quê quán của bà ở Cần thơ.

    Ông lên tiếng Chúc Mừng Năm Mới tôi bằng tiếng Việt thật rõ ràng.

    -Anh Hùng có khoẻ không? Hôm qua tôi nghĩ đến anh.

    Vì lúc này tôi phản ứng hơi chậm hơn mọi khi, nghe thì không được rõ lắm, nên đi đâu tôi cũng để vợ tôi trả lời dùm.

    -Thưa, như vậy là Bác Sĩ nhớ tất cả những tên bệnh nhân?

    -Ông bảo “Tôi nhớ tên, cả hình dáng và từng nét mặt bệnh nhân của mình!”

    Ông chia sẻ với tôi là ông rất vui, khi đã quyết định chọn ngành Bác Sĩ chuyên khoa về thận, bởi hầu hết bệnh nhân của ông không thể chết vì thận hư, dù không có thận để thay thế. Rồi ông bắt đầu nghe phổi cho tôi, khi liếc nhìn thấy tay tôi bị sưng đỏ vì bệnh thống phong (gout), ông dặn dò tôi phải uống thuốc thống phong (Mitigare 0.6mg) 8 giờ đồng hồ một viên, thay vì tôi đang uống mỗi ngày một viên. Ông còn căn dặn, không nên ăn nhiều cơm và bún, vì nó rất nhiều đường, và cũng không nên uống các loại nước ngọt.

    Nhân cơ hội này, vợ tôi cũng muốn nêu ra để “kể tội” là tôi bị bệnh tiểu đường, một ngày phải chích tới bốn lần, mà lại thích ăn ngọt. Có ý hỏi Bác Sĩ xem có thể dùng đường hoá học để thay thế cho đường, được không? Ông khuyên tôi là không nên dùng loại đường hoá học, nó không có lợi cho sức khoẻ; Loại đường này, nó ngọt hơn đường bình thường tới 300 lần.

    Vào tháng 10 năm 2017, tôi đi khám bệnh, khi được biết kết quả thử nghiệm thận của tôi chỉ còn hoạt động 15%, thì Bác Sĩ đã cho biết tình trạng của tôi phải bắt đầu lọc thận. Để duy trì sự sống, bệnh nhân phải lựa chọn giữa lọc máu (Home Hemodialysis HHD) và lọc nước Dextrose (Peritoneal Dialysis PD). Suy nghĩ xem muốn làm ở nhà hay đến Center. Tôi xin Bác Sĩ cho lời khuyên, nên chọn phương pháp nào cho dễ dàng, mà sự lọc thận có kết quả hữu hiệu hơn nhất.

    Bác Sĩ khuyên tôi nên lọc nước (Peritoneal Dialysis) và lọc ở nhà, thì cần phải có người chăm sóc. Bởi vì, lọc thận ở nhà sẽ lọc được 7 ngày 1 tuần, thì chất độc được thải ra hằng ngày. Muốn đi đến nơi trung tâm lọc thận thì 1 tuần, chỉ có 4 lần hay 3 lần tùy theo, nhưng phải tuỳ thuộc vào giờ giấc của trung tâm ấn định. Khi tôi đã quyết định xin lọc nước, thì Bác Sĩ gởi tôi đi đến Advanced Surgical Asociates, để mổ ngay lỗ rốn, để đặt một cái ống mềm vào, và có ống đưa ra ngoài bụng; Nó được gọi là Catheter.

    Nếu muốn chọn lọc thận ở tại nhà, thì phải có người nhà đến trung tâm, học cách lọc thận. Thời gian học và thực tập khoảng một tháng rưỡi, sau khi đã biết làm đúng phương pháp để tránh nhiễm trùng cho người bệnh, trung tâm đó sẽ cấp cho người đến học một giấy chứng nhận. Sau đó, nơi trung tâm sẽ gởi một người Y Tá đến coi phòng ở tại nhà của người lọc thận, để kiểm xét xem phòng của người bệnh có đủ tiêu chuẩn vệ sinh không. Và họ chờ để xem lần lọc thận đầu tiên, khi ấy thì chưa có máy Cycler, nên phải lọc thận bằng tay (Manual), mỗi ngày phải lọc bốn lần. Cứ cho nước lọc thận vào Catheter lòng bụng (Exchange), rồi chờ bốn giờ sau cho thải ra (Drain).

    Giai đoạn này rất khó khăn cho người bệnh, và người chăm bệnh, vì cứ lo tháo ra (Disconnect) rồi lại nối vào (Connect). Phải rất cẩn thận và làm đúng phương pháp đã được chỉ dẫn.

    Hai tháng sau đó thì được lọc bằng máy, cả hai chúng tôi đều phải đến trung tâm để học cách thức sử dụng máy. Sau khi thực tập làm vài lần, thấy đã vững chắc, trung tâm đã cho đem máy về để lọc thận ở tại nhà (Peritoneal Dialysis PD). Hiện nay, mỗi đêm khoảng 7:30 tối, vợ tôi bắt đầu lọc thận cho tôi bằng máy suốt đêm, cho đến 6:00 giờ sáng hôm sau, mới tháo máy ra, nên rất thuận tiện, nhưng phải tuân thủ theo quy tắc:

    *Đo huyết áp.

    *Rửa tay là vấn đề rất quan trọng để tránh nhiễm trùng, phải rửa kỹ xoa hai bàn tay vào nhau 1 phút.

    *Mở máy lọc thận lên.

    *Xem xét bịch dung dịch: Ngày, tháng và coi lại nước có trong không?

    *Gắn bộ dây vào máy.

    *Sát trùng 1 phút đầu dây ở ổ bụng bệnh nhân rồi gắn vào dây ở máy.

    Mỗi ngày đều làm những động tác như nhau, nên làm từ từ, không phải lo sợ như những lần đầu. Điều cần thiết là phải rửa tay, đeo mặt nạ y tế che miệng lại (mask), và bao tay là những điều cần thiết phải làm để tránh nhiễm trùng. Khi nhà có người lọc thận, không được nuôi thú cưng như chó mèo ở trong phòng và cũng không cho trẻ nhỏ vào phòng. Phải nhớ tắt quạt máy, máy lạnh, và lò sưởi, vì sức gió đẩy ra sẽ thổi cho vi trùng bay. Khi bắt đầu lọc thận cho người bệnh, cần phải đóng cửa sổ và cửa phòng lại, để tránh người ra vào mà không đeo mặt nạ y tế che miệng, và phòng ngừa khi người nhà đang mở dây ở ổ bụng của bệnh nhân ra (Catheter) để gắn vào máy lọc.

    Tất cả những phương pháp để giữ gìn cho người bệnh lọc thận không bị nhiễm trùng, ở nơi trung tâm Davita đều chỉ dậy rõ ràng, và còn thường xuyên nhắc nhở. Bệnh nhân lọc thận, mỗi hai tuần phải đến trung tâm một lần để theo dõi thử máu và chích thêm những chất thuốc cần thiết. Bởi vì, khi lọc thận bệnh nhân đã bị thải ra ngoài nhiều protein. Thông thường tôi hay bị chích thêm chất sắt (Iron), và mỗi tháng tôi đều phải đến gặp Bác Sĩ chuyên môn điều trị về thận. Tôi hiểu rằng, nếu một ngày nào đó, người tôi mệt, mà muốn ngưng lọc thận, thì tôi sẽ phải từ giả những người tôi quý yêu nhất trên trần gian này, để thanh thản ra đi nhẹ nhàng.

    Sau hơn hai năm lọc thận để duy trì sự sống còn, tôi luôn biết ơn những vị Bác Sĩ và Y Tá như những thiên thần áo trắng đã chăm sóc sức khoẻ cho tôi thường xuyên theo định kỳ. Những vị ân nhân y tế này đã cho tôi niềm hy vọng rất lớn lao vào những năm tháng cuối đời.

    Tưởng rằng đã tạm yên thân! Nhưng cuối tháng 2 năm 2020 vừa qua, đại dịch Coronavirus xuất phát từ Wuhan, ngày càng nhiều ca nhiễm bệnh lây lan từ người qua người, cho nên Bác Sĩ của tôi đã cho biết là phải cẩn thận, không nên đi đến những nơi đông người. Bởi vì, người đang có nhiều thứ bệnh như tôi, nếu bị Covid-19 xâm nhập vào cơ thể, nguy cơ tử vong rất cao, chắc chắn sẽ khó qua khỏi. Trong lúc này, không ai đeo mặt nạ y tế che miệng (mask), kể cả Bác Sĩ và Y Tá. Ở Mỹ từ trước cho tới bây giờ, chỉ có người nào bị bệnh ho cảm tự động đeo mask, để tránh sự lây lan cho người khác.

    Hôm nay ngày 28 tháng 3/2020, tôi trở lại phòng mạch tái khám định kỳ, thấy trong phòng ngồi đợi chỉ có một người bệnh nữa và tôi, trong lúc này đã có sắc lệnh của chính phủ ban hành, là mọi người phải giữ khoảng cách an toàn Social Distancing, có lẽ vì vậy mà Y Tá của phòng mạch đã lấy hẹn cho các bệnh nhân đến khám bệnh cách xa giờ nhau, không như lúc trước, bệnh nhân ngồi đầy trong phòng đợi. Từ bệnh nhân và Y Tá, ai cũng đeo mask, vì dịch bệnh Covid-19 đã đến từ Vũ Hán đang lây lan rất nhanh, gây chết chóc thê thảm cho nước Mỹ, Ý Đại Lợi, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, và những quốc gia trên khắp thế giới.

    Mọi người chân thành khẩn cầu, xin ơn trên phù hộ và gìn giữ những vị Bác Sĩ, Y Tá và những nhân viên làm việc nơi tuyến đầu đang khổ công chăm sóc và giúp đỡ cho những người bệnh nhân đã bị nhiễm Covid-19, nó đã đến từ Vũ Hán, gây nguy hiểm lây lan khắp mọi nơi.

    Trước khi vào phòng trong, vợ tôi và tôi đều được hỏi xem có bị ho và nóng sốt không? Rồi cô Y Tá đo nhiệt độ cho cả hai người chúng tôi. Tôi không bị nóng sốt, nhiệt độ của tôi chỉ có 95 độ F. Đến khi chúng tôi được vào phòng khám bệnh, thì Bác Sĩ đã bảo Y Tá phải đo lại nhiệt độ cho tôi, vì nếu nhiệt độ mà thấp quá, là tôi bị bệnh thiếu máu Anemia, nhưng khi đo lại thì nhiệt độ là 97.2 độ F.

    Sau một tháng gặp lại Bác Sĩ, tôi thấy ông có vẻ hơi ốm hơn một chút, sắc diện ông không được vui vẻ và phấn khởi như mọi lần gặp trước. Hôm ấy, Bác Sĩ đã phải đeo mặt nạ y tế che miệng mask N95. Trong lúc ông khám bệnh cho tôi, thì ông đã chia sẻ với tôi là, có một bệnh nhân lọc thận của ông đã bị nhiễm Covid-19 thử nghiệm có kết quả dương tính!! Người bệnh ấy đang nằm trong phòng hồi sức Intensive Care Unit (ICU) ở bệnh viện. Hy vọng bệnh nhân này sẽ được qua khỏi, hiện nay ở miền Bắc California, San Jose, bệnh viện còn đủ Bác Sĩ, Y Tá và giường bệnh để chăm sóc bệnh nhân nhiễm bệnh Covid-19.

    Bác Sĩ đã ân cần dặn dò tôi thật kỹ lưỡng, là tôi phải tuyệt đối cách ly với mọi người, và cả gia đình con cháu nữa. Tôi thật xúc động vô ngần, vì Bác Sĩ luôn lo lắng săn sóc đến sự an nguy cho sức khoẻ của tôi. Tôi cho ông biết là tôi đang ở nhà riêng có hai người, và tôi đã hết mực tuân thủ lệnh cách ly Shelter-in-Place đã được ban hành từ ngày 16 tháng 3 cho đến nay, để ngăn ngừa dịch bệnh Convid-19 bớt lây lan. Tôi không hề tiếp xúc với ai. Tôi chỉ cần đến phòng mạch để gặp Bác Sĩ khám bệnh cho tôi, mỗi tháng một lần. Tôi cũng phải đến trung tâm lọc thận Davita mỗi tháng hai lần, để khám bệnh và chích thuốc cần thiết cho sự lọc thận có kết quả tốt thôi.

    Tôi cũng kể cho Bác Sĩ biết, là thường ngày tôi vẫn theo dõi tin tức xem đài Việt Today, CNN và Fox News. Kể từ khi có bệnh dịch lan tràn cho đến nay, ngày nào tôi cũng canh chờ đến khoảng 2:30 pm chiều mỗi ngày, để nghe Tổng Thống Donald J. Trump họp báo tại White House, trực tiếp trên đài truyền hình Fox News, về đại dịch Coronavirus. Với sự hiện diện của Phó Tổng Thống Mike Pence, Bác Sĩ Giám Đốc viện dịch Hoa Kỳ Anthony Fauci, Bác Sĩ Deborah Birx chuyên giảng giải về bệnh dịch Covid-19, và những phóng viên các đài truyền hình Hoa Kỳ.

    Tôi cũng coi Youtube của những vị Bác Sĩ người Mỹ gốc Việt chia sẻ, giảng giải về những loại bệnh thông thường và đặc biệt là Sars Cov-2. Bác Sĩ khuyên không nên lo lắng thái quá, sẽ làm giảm đi hệ miễn dịch. Như thế, cơ thể sẽ không có đủ kháng thể để chống lại dịch bệnh. Phải giữ khoảng cách an toàn, và đừng lấy tay rờ lên mặt, mũi, miệng và mắt. Hãy rửa tay, rửa tay thật kỹ ở những đầu ngón tay, và ở giữa cái khớp những ngón tay, trong khoảng 20 giây.

    Hôm nay là ngày 16 tháng 4 năm 2020, như vậy là đã được 31 ngày, từ lệnh của Thống Đốc tiểu bang California ban ra đã có hiệu lực vào ngày 17 tháng 3, năm 2020. Mọi người phải ở nhà không được đi đâu, chỉ được ra khỏi nhà vì các nhu cầu thiết yếu như: Đi Bác Sĩ, bệnh viện, mua thuốc men và đi chợ...v.v..

    Hôm qua là ngày 8 tháng 4/2020, Baxter Healthcare Corp vẫn đưa thuốc lọc thận đến nhà cho tôi cũng như mọi tháng. Nơi này họ cung cấp cho tôi 30 thùng nước Dextrose, mỗi thùng có 2 bọc và mỗi bọc chứa đựng 5,000 ML, 2 hộp găng tay, 1 hộp có 50 cái masks, và 2 chai sát trùng tay Hand Sanitizer. Nói tóm lại, tất cả dụng cụ để lọc thận, họ đều cung cấp miễn phí và đem giao đến tận nhà tôi, mỗi tháng một lần.

    Hầu Hết những tiệm bán thuốc tây đều mở cửa, từ thuốc chích chữa bệnh tiểu đường, cho đến những loại thuốc chữa bệnh khác đều có đầy đủ. Vợ tôi luôn đeo mặt nạ y tế che miệng lại, và mang bao tay để đi chợ Lucky gần nhà. Nhìn thấy tất cả nhân viên bán hàng và khách hàng vào tiệm mua đều có đeo mask và bao tay để phòng ngừa bệnh dịch. Siêu thị mở cửa một giờ đồng hồ sớm hơn giờ bình thường, từ 6:00 giờ sáng cho đến 8:00 giờ sáng, để giúp những người cao niên hay người bị bệnh đi đến chợ sớm hơn, có ít người để đỡ bị lây lan bệnh.

    Thành phố San Jose nơi tôi đang cư ngụ, ngoài Foods Bank ra thì có tám địa điểm Nhà Thờ Công Giáo có phát thực phẩm cho những gia đình nào cần, đến lãnh về để ăn. Khi người dân đến những nơi ngân hàng phát thực phẩm, chỉ cần lái xe đến nơi, mở cốp xe ra là những nhân viên tình nguyện sẽ bỏ những bao thực phẩm vào trong xe như: Trứng gà, sữa, rau, trái cây và nhiều loại thực phẩm khô để có đủ ăn trong một tuần.

    Nhiều khi tôi thấy vợ tôi băn khoăn lo lắng, sợ thiếu thực phẩm, như những năm tháng còn sống dưới chế độ XHCN cộng sản, thì tôi thường hay nhắc nhở là mình đang sống ở nước Mỹ mà em!? Đừng quên rằng, mình đang sống ở Mỹ, một đất nước giàu mạnh bậc nhất, mùa màng nông sản phong phú, xuất cảng ngũ cốc nhiều nhất trên thế giới. Và nhất là sinh mạng con người rất cao quý, và luôn được tôn trọng.

    *****

    Tôi xin kể lại câu chuyện tình của tôi đã gần nửa thế kỷ...
    Ngày xưa vào năm 1970, khi được chuyển nhiệm về làm việc ở vùng đất Gò Vấp khoảng hơn một năm, thì tôi tình cờ quen em vào một dịp gần Tết Nguyên Đán, khi tôi phải ở lại nhiệm sở ứng chiến tại Đại Đội Công Binh Địa Hình, nơi tôi đang phục vụ. Vì kể từ sau khi thảm cảnh Tết Mậu Thân xảy ra, nên Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã ban hành sắc lệnh cho toàn thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, phải phòng bị ứng chiến 24/24 (tức là ăn ngủ toàn thời gian tại nơi làm việc).

    Chiều hôm ấy, tôi đang chờ mua bánh mì ở cổng trại cư xá gia binh Nguyễn Phi Khanh, tại Quận Gò Vấp, thì bất ngờ có một cô khả ái xinh đẹp đi chiếc PC Honda trên đường đi làm về, cũng ghé vào xe bánh mì! Cô vui cười nói chuyện với cô hàng bán bánh mì, nên tôi được biết cô nàng này tên Kim, và là bạn học với cô Ngọc Muội, chủ xe bánh mì, và hai người ở cạnh nhà nhau, là gia đình của các quân nhân đang cư ngụ trong cư xá Nguyễn Phi Khanh của Đại Đội, nơi tôi làm việc. Lúc ấy lòng tôi dấy lên một niềm vui khó tả, và tôi cũng đã được góp vài lời thăm hỏi cô, để làm quen.

    Người ơi! Gặp gỡ mà làm chi, trăm năm biết có duyên gì hay không? Lỡ gặp rồi, làm tâm hồn tôi xao xuyến bâng khuâng, chập chờn không làm sao ngủ được, bởi hình bóng của em đã len vào tim tôi!! Hình như tôi đã kết em ngay từ giây phút đầu tiên gặp mặt. Sáng hôm sau vào nơi làm việc, tôi đã dọ hỏi, được biết anh Trung Sĩ Tiên là người làm cùng sở, lại quen thân với gia đình em, nên tôi đã nhờ cậy anh và vợ, là chị Hằng làm mai mối giúp cho tôi đến nhà thăm cha mẹ của em. Tôi cũng biết được ba của Kim là người quen cùng làm trong đơn vị với tôi, thường hay gặp nhau mỗi ngày, chứ đâu có xa lạ gì. Tôi xin phép được tới thăm viếng gia đình em thường xuyên cho thân hơn.

    Mỗi khi tôi đến nhà Kim chơi, tôi luôn được ba của em tiếp chuyện rất niềm nở, thì lòng tôi hân hoan và vui sướng vô cùng. Rồi một ngày kia, tôi tự tin là mình đã được lòng thương mến của bác trai, và cả gia đình em, nên tôi đã xin phép dẫn cha mẹ tới để xin cầu hôn. Ba của Kim đã chấp thuận lời cầu hôn của tôi, vì cùng làm chung sở, nên bác đã phần nào biết tánh tình tôi, và cảm thấy tôi có thể tin cậy được để gởi gấm cô con gái quý yêu thứ nhì của ông cho tôi. Lễ cưới của chúng tôi được cử hành tại nhà thờ Mân Côi Đa Minh, Gò Vấp, vào tháng 10 năm 1972.

    Một thời gian sau đó, tôi được đơn vị trưởng gởi đi học khoá Đại Đội Trưởng ở Tỉnh Bình Dương. Khi tốt nghiệp thì được chuyển đến Long Thành Quán Chim, để coi công trường khẩn hoang lập ấp, cho đến ngày ông Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, thì những anh em binh lính, mạnh ai nấy tản mác mỗi người một nẻo, còn tôi và những Sĩ Quan cùng Đại Đội đã chạy vào rừng sâu ẩn trốn được vài ngày thì đã bị việt cộng bắt trọn hết toán chúng tôi. Lúc ấy, mọi người hoảng sợ vô cùng, sợ rằng có thể sẽ bị họ thủ tiêu ngay trong rừng.

    Nhưng nhờ ơn trên thương ban, một điều thật may mắn cho chúng tôi, bởi những cán binh việt cộng đã bao vây bắt chúng tôi, toàn là những người miền Nam Việt Nam đã tập kết ra Bắc, nên nhóm Sĩ Quan chúng tôi chỉ bị họ giam giữ mười ngày, rồi họ thả cả nhóm ra và phát cho mỗi người một bộ quần áo bà ba đen để mặc vào, thay cho bộ quân phục đang mặc ở trong người, để tự đi ra quốc lộ đón xe mà về nhà.

    Sau ngày 30 tháng tư, năm 1975, số phận tôi cũng như tất cả các vị quân cán chính Việt Nam Cộng Hoà. Theo lệnh của những người đã xâm chiếm miền Nam Tự Do, tôi đã phải đến trình diện ở trường học Gò Vấp, và đã bị lùa đẩy vào trại tù tập trung cải tạo. Tôi vào tù mà chẳng hề có bản án, là bao lâu mới được thả ra? Tôi đi tù để lại vợ và hai đứa con thơ (cháu gái 2 tuổi và cháu trai mới được 8 tháng). Cũng may là vợ tôi còn việc đi làm tại bệnh viện Triều Châu ở Chợ Lớn, còn có đồng lương căn bản mà thay tôi nuôi con và bà nội của các cháu đang ở chung một nhà.

    Tất cả những Sĩ Quan của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, đều chịu chung một số phận trong những trại giam như tù khổ sai đói khổ. Chúng tôi tự trồng trọt rau, sắn (khoai mì) ăn để sống cho qua ngày; Nó được bón bằng phân và nước tiểu của chính những người tù. Mọi người phải lên rừng đốn cây dựng nhà để ở, và sau đó lại còn phải đốn cả cây để cho bộ đội họ bán lấy tiền bỏ túi nữa!

    Cũng hên là tôi không bị đưa ra miền Bắc lạnh lẽo. Tôi đã bị đầy ải đến Bù Đăng, Bù Đốp thuộc Sông Bé Phước Long, hộp thơ L4 T4. Vì ăn uống thiếu thốn, lại bị bắt ép làm việc lao động quá sức, nên tôi bị bệnh phù thủng, vì suy dinh dưỡng. Trong thời gian bị tù đày nơi rừng sâu nước độc, nên tôi đã bị bệnh sốt rét rừng cấp tính. Cũng may nhờ có anh Trung Uý Đặng Văn Tâm, là người bạn tù cải tạo, đã viết thư nhờ người dân đang ở vùng kinh tế mới gần đó giúp đỡ. Vì họ thương tù cải tạo lắm, nên đã làm ơn giúp chuyển tin ngay cho gia đình tôi biết, vợ tôi đã đem lương thực và thuốc Fansidar chuyên trị sốt rét rừng đến kịp thời. Nhờ vậy mà tôi đã thoát chết, trong đường tơ kẽ tóc.

    Ở trong trại tù tập trung được hai năm và mười một tháng, thì tôi có lệnh được thả về, và phải hồi hương ở Chợ Gạo Mỹ Tho, nơi đó có chú thứ Mười của tôi, người đã làm đơn bảo lãnh, nhưng hằng tuần tôi vẫn phải đến trình diện ở xã. Có nhiều đêm, tôi đang ngủ giựt mình vì nghe tiếng chó sủa, trong lòng hồi hộp, lo lắng không biết có phải cán bộ họ đến bắt mình đi không? Sự thật thì tôi luôn bị ám ảnh, vì trước năm 1975, người cô thứ chín của tôi đã bị chúng gõ cửa mời đi lúc nửa đêm và đã thủ tiêu mất biệt luôn, không có trở về nhà nữa.

    Đã có một lần tôi tìm đường đi vượt biên và đã bị bắt, nên tôi không dám quay trở lại Chợ Gạo (Vì vùng chợ gạo này đầy những cán bộ việt cộng ít học, xưa kia họ đã nằm vùng, nay thì họ lên nắm chính quyền) mà phải len lỏi để trở lại Sài Gòn, ở lén tạm trú với gia đình, để gần gũi mẹ già, vợ và hai con.

    Thật phúc đức cho tôi, vì tôi có được người vợ thuỷ chung và đảm đang. Em đã cho tôi niềm hy vọng tin yêu, để tôi có thể vượt qua những chông gai nghẽn lối, mà mong đợi ngày trở về đoàn tụ với gia đình. Và xúc động nhất là khi được trả tự do ra về, tôi vẫn còn có mái ấm để nương thân.

    Những năm sau đó, nhờ có tôi ở nhà phụ giúp, nên ngoài công việc làm Y Tá, vợ tôi còn có thời giờ rảnh để chạy mối buôn bán ngoài chợ trời kiếm thêm chút đỉnh tiền để lo cho gia đình. Phần thì cũng nhờ có em gái và chị của vợ tôi ở bên Mỹ gửi tiền về giúp đỡ, nên chúng tôi đã có thêm hai cháu nữa. Chúng tôi đã mất một cháu trai sanh năm 1974, trong lần vượt biển với cậu của cháu. Đó là sự mất mát, đau khổ suốt cuộc đời chúng tôi vô cùng hối tiếc, vì đã cho con đi để gặp phải sự chẳng lành.

    Vào khoảng năm 1980, chúng tôi nghe đài BBC, rồi truyền tai nhau là Chính Phủ Hoa Kỳ sẽ cho tất cả những người tù cải tạo và gia đình được đi định cư ở Mỹ. Tôi đã phải nhờ bạn bè giới thiệu tôi đến công an thành phố để chạy chọt cho có tên trong sổ thường trú ở tại nhà của tôi, để tôi có chứng từ nộp giấy tờ đi Mỹ theo diện Humanitarian Operation (HO). Gia đình tôi được xếp vào danh sách HO 5. Đã phải chờ đợi mấy năm trời, nhưng khi đến lượt mình, thì lại nhận được cái thư bị phái đoàn Hoa Kỳ từ chối, với lý do là tôi đi tù cải tạo, còn thiếu một tháng, mới đủ ba năm.

    “Còn nước, còn tát”. May mắn thay!! Vì tôi trân quý lắm, nên tiếc rẻ vẫn còn dám giữ lại có một tấm hình kỷ niệm duy nhất tôi chụp chung với hai vị cố vấn Mỹ và ông xếp Thiếu Tá, khi làm chung ở Quảng Trị, và cái bằng Y Tá, Certificate of Training Institute (CTI) USA Army, Mỹ đã cấp phát cho vợ tôi.

    Tôi đã đến sở ngoại vụ ở trên đường Nguyễn Du, để cậy nhờ cô Thư Ký trao dùm cho phái đoàn Mỹ phỏng vấn, “Buồn ngủ, gặp chiếu manh” tôi đã gặp được quý nhân giúp đỡ, cô ấy nói sẽ giúp đưa cho người Mỹ phong bì hồ sơ của chúng tôi xin được cứu xét lại. Thế rồi một năm sau đó, chắc hẳn nhờ tấm hình tôi chụp chung với hai vị cố vấn Mỹ, mà gia đình tôi đã được gọi đi phỏng vấn, và được đi định cư theo chung với HO 10. Chúng tôi rất vui mừng đã được định cư ở Mỹ vào tháng 2 năm 1992.

    Tôi chưa về lại Việt Nam, dù chỉ một lần. Chúng tôi xin nhận đất nước Hoa Kỳ Tự Do là Quê Hương thứ hai để sinh sống cho đến cuối đời, và chỉ muốn sống ở đây để quên đi những năm tháng tù đày còn in đậm nét đớn đau kinh hoàng, trên chính nơi quê cha đất tổ của tôi.

    *****

    Tháng Tư lại về, gợi nhớ ngày mất nước, nhớ chuyện tù đày khốn khổ năm xưa chợt ùa về trong ký ức của tôi!!

    Kể từ cuối tháng 2 năm 2020 cho đến nay, bệnh dịch Covid-19 từ Vũ Hán đang gieo rắc tang thương khắp toàn cầu. Thật buồn thay! Có lẽ đến ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư năm nay, hẳn những đoàn thể Quốc Gia chống cộng, sẽ không được cùng nhau hội họp tề tựu để vinh danh những chiến sĩ anh hùng bất khuất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã hy sinh trọn vẹn cho Tổ Quốc dưới màu cờ vàng, và tưởng nhớ những người bạn đồng minh Hoa Kỳ đã vì đất nước Việt Nam mà hy sinh bao xương máu để bảo vệ tự do cho chúng tôi.

    Nhân đây tôi muốn xin trân trọng gởi lời cảm tạ ơn sâu, nghĩa nặng của những thân nhân, những bậc cha mẹ, và quý hiền thê của những người tù cải tạo Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Vì tình quý yêu chúng tôi vô vàn, mà không quản ngại đường xa xôi, đã đi mất mấy ngày đường đi và đường về, mới đến nơi ngục tù giam giữ chúng tôi.

    Từ những trại tù tập trung ở miền Nam, ra tới miền Bắc, đã vất vả lặn lội qua những con suối, đồng sâu, đã đi bộ trong đêm khuya qua những nơi thanh vắng, đầy sự hiểm nguy bất trắc. Chịu khó đi hằng mấy chục cây số, băng qua những con đường chông gai gập ghềnh trong rừng sâu núi thẳm, mà chỉ được nhìn nhau, thăm gặp mặt con, anh em, và người chồng thương yêu của mình, được một hay hai giờ đồng hồ ngắn ngủi thôi.

    Chúng tôi thương và xót xa lắm, khi thoáng nhìn thấy trên đầu thì đội, trên vai những người thân yêu đã gồng gánh những đồng quà tấm bánh, và thuốc men để tiếp tế cho chúng tôi được tiếp tục sống kiếp người lây lất. Qua khỏi những cơn đau ốm, bị đói ăn khát uống dằn vặt trong thể xác kiệt lực hao mòn từng ngày một. Trong thời gian tù đày bị áp chế hành hạ dã man, tưởng chừng như đã bị bỏ thây nơi trại tù tập trung muôn đời.

    Tuy ở trong tù thiếu thốn đủ mọi thứ, nhưng chúng tôi sống bằng tình thương nhau như anh em một nhà. Mỗi khi người nào có gia đình đến thăm nuôi tiếp tế thuốc men, thực phẩm, thì chúng tôi luôn chia phần ra để mời nhau cùng ăn. Dẫu rằng, mỗi người chỉ được một miếng nhỏ xíu thôi, cũng cảm thấy ấm lòng khi được quây quần bên nhau.

    Nhìn những chùm bông hoa đua nở khoe sắc thắm rực rỡ, như báo hiệu một điều tốt đẹp đang xảy ra. Loài người sẽ có thuốc đặc trị để đẩy lùi cơn dịch bệnh, như lời Tổng Thống Donald J. Trump đã nói “We’re starting to see the light at the end of the tunnel“. Chúng ta đang bắt đầu thấy ánh sáng cuối đường hầm!!

    Xin ơn trên phù hộ cho nước Mỹ. Rồi nước Mỹ vẫn mãi mãi là một cường quốc giàu sang, nhân ái và tân tiến bậc nhất thế giới. Mọi người dân Mỹ sẽ được sống hạnh phúc và an bình như những ngày trước...

    Viết theo lời kể, và sự cho phép của người tù cải tạo Hát Ô 5.


    Phạm Thị Kim Dung

    https://vvnm.vietbao.com/p247397a247452/may-ma-co-em-

  12. Xin cám ơn BachMa

    khongquan2 (hôm nay)

Trang 56/56 đầuđầu ... 646545556

Similar Threads

  1. Trả lời: 20
    Bài mới nhất : 12-17-2019, 03:19 AM
  2. Trả lời: 18
    Bài mới nhất : 08-20-2017, 06:40 PM
  3. Hình Ảnh Kỷ Niệm Xưa Không Bao Giờ Quên !
    By TAM73F in forum Phòng Chiếu Phim Dài
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 03-14-2013, 01:33 AM
  4. Không Cho Phép Mình Quên
    By Longhai in forum Truyện ngắn
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 11-03-2012, 12:42 AM
  5. 27 Tháng Giêng 1973 : Không Thể Nào Quên
    By Longhai in forum Chuyện Đời Lính
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 08-03-2012, 11:36 PM

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter