Trang 48/53 đầuđầu ... 384647484950 ... cuốicuối
kết quả từ 283 tới 288 trên 316

Tựa Đề: Bạch Mã

  1. #283
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,187
    Thanks: 7,823
    Thanked 5,262 Times in 1,160 Posts

    Button Xanh Phòng Thủ Mỹ Chánh - Quảng Trị

    Phòng Thủ Mỹ Chánh - Quảng Trị
    Trần Vũ
    September 25, 2018



    Hình minh họa

    ĐẠI LỘ KINH HOÀNG
    Phòng Thủ Mỹ Chánh - Quảng Trị

    1. Thiếu Tá Huỳnh Văn Phú sinh năm 1940 tại Nha Trang, khoá 19 Võ bị Đà Lạt. Khoá 19 là khoá tình nguyện về Thủy Quân Lục Chiến đông nhất, với 30 sinh viên sĩ quan kể cả thủ khoa Võ Thành Kháng. Thiếu Úy Huỳnh Văn Phú về Tiểu Đoàn 5 TQLC làm Trung Đội Trưởng năm 62 rồi nhiều năm sau giữ chức Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến TQLC cho đến 30 tháng 4. Sau 75 tù đày từ Nam ra Bắc, Thiếu Tá Phú còn là tác giả đã nhận giải thưởng Phóng sự Tiền phong 1972 do Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị QLVNCH trao tặng. Tuy nhiên, bút ký Chiến Trường Trị Thiên và Những người lính Mũ Xanh in tại Sàigòn tháng 4-1975 đã không kịp phát hành. Thiếu Tá Phú định cư tại Philadelphia từ 1990.

    Cùng với tuần san Trẻ, xin phép ông cho đánh máy lại Thủy Quân Lục Chiến đã phòng thủ Mỹ Chánh như thế nào trong Tuyển tập Bút ký Phóng sự Chiến trường 1972 của NXB Văn Nghệ Dân Tộc in năm 73 mà tôi may mắn tìm lại được.
    Trần Vũ

    GIÒNG SÔNG MỸ CHÁNH


    Hình minh họa

    Ðiều mà ít ai ngờ đến đã biến thành sự thật, một sự thật tàn khốc trong cuộc chiến tranh diệt chủng hiện tại. Ðó là việc Hà Nội công khai xua quân tràn qua con sông ngăn cách Bến Hải với hàng ngàn xe tăng, đại pháo 130 ly và hoả tiễn xâm lăng miền Nam. Và nếu chiến cuộc không bùng nổ lớn như thế, cái tên Mỹ Chánh cũng như bao nhiêu địa danh xa xôi khác trên phần đất khốn khổ này đã không trở thành quen thuộc với mọi người như hiện tại.

    Vào những ngày đầu tiên của tháng 4-72 khi trận chiến bùng lên dữ dội, các căn cứ hoả lực của ta nằm dọc theo khu phi quân sự bị thất thủ, sự sinh hoạt ở Mỹ Chánh vẫn bình thường. Người ta vẫn tấp nập đi đi về về, và giòng nước vẫn lặng lờ chảy ra Phá Tam Giang. Và cũng không ai có thể nghĩ rằng một tháng sau đó, con sông Mỹ Chánh đã đi vào huyền sử đấu tranh của dân tộc.
    Bây giờ thì bất kỳ người lính Thủy Quân Lục Chiến nào cũng có quyền hãnh diện khi nhắc đến địa danh đó. Nơi đây gót giày xâm lăng của quân Cộng Sản đã chùn bước và đã bỏ lại dọc theo giòng sông đó hàng trăm chiếc xe tăng đủ loại, hàng ngàn xác chết của đồng bọn khi chúng mưu toan tiến sâu hơn về phía Nam.

    Trong bài viết này tôi sẽ ghi lại một cách tóm lược trong trường hợp nào mà con sông Mỹ Chánh trở thành phòng tuyến bảo vệ cố đô Huế từ sau cuộc lui binh của Sư Đoàn 3 Bộ Binh ra khỏi tỉnh Quảng Trị ngày 1-5-72 cùng những diễn biến tổng quát và những người lính TQLC đã chiến đấu như thế nào để giữ vững phòng tuyến này.

    Ngày 15-4 tôi từ giã Sàigòn ra đơn vị trong khi học “nửa chừng” khoá học “điều chỉnh” rất ư là “Cultivateur” tại trường Bộ binh Thủ Ðức, một quân trường mà buổi sáng ngủ dậy đã có gánh hàng rong bán bánh cuốn, bún riêu la ơi ới ở đầu giường, buổi trưa thì đậu hủ và chè cháo loạn xạ. Khoảng thời gian này, từ 10-4 đến 30-4-72, Lữ Đoàn 369 TQLC với các Tiểu Đoàn 3, Tiểu Đoàn 5, Tiểu Đoàn 7 và Tiểu Đoàn 9 TQLC đang hoạt động ở phía Tây và Tây Bắc Mỹ Chánh trong một khu vực rộng chừng 200 cây số vuông gồm các căn cứ Nancy, căn cứ Barbara và căn cứ Ðộng Ông Ðô nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của Cộng quân từ mặt Tây Nam Quảng Trị. Ðơn vị tôi thì đóng tại căn cứ Nancy nằm bên trái Quốc Lộ 1, cách cây cầu Mỹ Chánh chừng một cây số về phía Tây Bắc, sau đó di chuyển ra đóng ở một ngôi làng nhỏ, kín đáo sát bên cạnh đường rầy xe lửa.

    Gần một tháng trời chịu trách nhiệm khu vực trên, các đơn vị thuộc Lữ Đoàn 369 TQLC đã chiến đấu trong những hoàn cảnh cực kỳ gian khổ. Hàng ngày chạm địch liên miên từ cấp Tiểu Đoàn trở lên, đại pháo 130 ly của địch nã như mưa bấc, mọi công tác tải thương đều phải di chuyển bằng đường bộ, khiêng hoặc cáng đi trên một quãng đường dài gần 10 cây số đường núi vì trực thăng không có. Nhưng dù thế nào mặc lòng, các chiến sĩ TQLC cũng đã chiến đấu hăng say trong hoàn cảnh eo hẹp đó và mọi cố gắng của địch tiến quân ra vùng đồng bằng thuộc quận Hải Lăng đều bị chặn đứng hoàn toàn.

    Vì ai cũng hiểu rằng nếu để địch xâm nhập thì Quảng Trị bị cô lập ngay và Quốc Lộ 1 bị cắt đứt. Do đó địch quân cay cú, hằng ngày chúng gia tăng pháo kích các đơn vị của ta. Các pháo đội của Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh TQLC phải thay đổi vị trí đặt súng ngày một, nhưng di chuyển đi đâu cũng đều bị chúng pháo theo. Tiền sát viên của địch bám rất sát mọi sự xê dịch, di chuyển của ta. Lâu lâu quân ta bắt được một vài tên có máy móc vô tuyến đàng hoàng nhưng cường độ pháo kích của địch vẫn không hề suy giảm.

    Tôi đã từng nghe những tiếng nổ, tiếng rít của các loại hoả tiễn 122 ly, 240 ly, nhưng lần này tiếng rít xé gió đi trong không khí cũng như tiếng nổ của loại đại bác 130 ly (bắn xa 27 cây số do Nga-Sô chế tạo) nghe thật khiếp. Tiếng rít xé gió bay qua đầu, tôi có cảm tưởng như là tiếng phản lực bay trên trời. Rồi tiếp theo là tiếng nổ thật lớn nhưng ấm, mảnh văng tung toé rơi trên những mái nhà tôn như có ai lấy thật nhiều đá ném lên. Mảnh nào mảnh nấy to bằng cái chén và văng ra xa trong vòng bán kính 200 thước. Chẳng có ai biết chúng đặt súng ở đâu cả (biết thì còn nói làm chi nữa) nhưng nghe được tiếng départ ở đâu trong dãy núi xa xa rồi sau đó khoảng chừng 5, 7 giây là đạn bay đến nổ ầm rồi.

    Thường thì chúng cứ bắn hai quả một. Lính tráng hễ nghe hai tiếng départ ùng ùng thì la to “Một cặp” đó các anh em ơi! Thế là mọi người chui lẹ vào hầm. Ðịch bớt pháo thì chui ra. Cứ chui ra chui vào như thế suốt ngày. Cái hoạt cảnh lên hầm xuống hầm có lẽ tôi chẳng bao giờ quên được, nhất là khi một mảnh đạn văng rơi trên cái mũ sắt của tôi đánh cồng một tiếng như tiếng chuông chùa. Ôi ta thương cái mũ sắt biết chừng nào! Có hôm mấy trăm quả nã vào đơn vị của tôi, ôi thôi tơi bời hoa lá nhưng khi kiểm điểm lại thì chỉ có 1 chết và 3 bị thương vì đạn rớt trúng ngay hầm. Giữa lúc bị pháo kích, ai nấy ở trong hầm tinh thần căng thẳng nhưng khi nghe một quả bị rớt không nổ thì mọi người lại vỗ tay cười.

    Tôi cũng không biết họ nghĩ sao mà lại cười như thế, có lẽ cười vì cái khôi hài của chiến tranh tự nhiên khi không bắn giết nhau. Riêng tôi thì tôi thương cái hầm của tôi hết sức, hôm nào đổi vị trí đóng quân, tôi không tiếc cái gì hết chỉ tiếc có cái hầm mà mấy thầy trò, anh em tôi đã đào đắp công phu. Nhiều khi nhìn nó, tôi nghĩ đến sự nhiệm mầu của đất. Ðất nuôi sống con người, cứu vãn con người và khi người ta buông xuôi cũng trở về với 3 thước đất. Trên cõi đời ô trọc và buồn phiền này có gì tồn tại hơn là đất cát. Và đó có lẽ là cái ý nghĩa sau cùng của con người, nhưng buồn thay không mấy ai để ý đến, chỉ lo đi tìm những cái ảo ảnh, danh vọng để lừa dối, phản bội và bắn giết nhau.

    HÀNH LANG MÁU

    Khoảng thời gian đó, ngày cũng như đêm đối với tôi thật dài. Ngày thì nóng, nóng tàn nhẫn. Trời không một cơn gió. Mồ hôi vã ra như tắm. Bên tai lúc nào cũng nghe tiếng súng, tiếng pháo của ta và tiếng pháo của địch xen lẫn những tiếng súng nhỏ của các đơn vị đang đụng độ. Ban đêm thì trời trong, sao giăng mắc. Chùm Ðại Hùng Tinh với ngôi sao Bắc Ðẩu in rõ trên nền trời, còn chùm sao Hiệp Sĩ nữa, cả hai đều chỉ về phương Bắc, nơi đó thành phố Quảng Trị đang cố đẩy lui các cuộc tiến công của Cộng quân. Hoả châu thả sáng đầy trời, thỉnh thoảng ở phía Ðông những lằn lửa xẹt lên ngang bầu trời rồi vụt tắt. Có lẽ đó là Hải Pháo đang bắn đi từ ngoài biển, đôi khi tôi cũng thấy những cụm lửa thật to của chiếc hoả tiễn SAM của địch bắn lên các phi cơ.


    Hình minh họa

    Cho đến giờ phút đó, phòng tuyến ở phía Tây Mỹ Chánh do TQLC trấn giữ vẫn vững như bàn thạch. Và không một ai nghĩ rằng Quảng Trị sẽ bị thất thủ cả. Nhưng đùng một cái, trong các ngày 28, 29 và 30-4, Cộng quân pháo kích dữ dội vào thành phố Quảng Trị. Thế là dân chúng hoảng hốt, bồng bế nhau chạy đi về Huế lánh nạn. Không thể nào kể hết những thảm cảnh của đám dân chạy nạn đó.

    Trong hai ngày 29 và 30-4, trên quãng đường dài từ Quảng Trị đến Mỹ Chánh, người ta đi chen chúc nhau chật cả quốc lộ từ sáng đến chiều vẫn chưa dứt. Thôi thì đủ các loại xe lớn nhỏ nối đuôi nhau đi nườm nượp về Nam. Nhưng người đi bộ gồng gánh vẫn nhiều hơn. Dưới mắt tôi, đó là một “con rắn người” khổng lồ ngoằn ngoèo dài đến hàng mấy chục cây số. Ðây, một người thanh niên cõng một người mù vừa đi vừa thở, đàng kia là một người đàn bà gánh đôi thúng, trên đó một em bé chừng 4 tuổi đang vốc cơm ăn ngon lành.

    Chỗ khác, hết cả một gia đình đang ra sức đẩy một cái xe bò chất đủ thứ áo quần, bàn ghế và một con heo nằm co quắp ở phía trước. Một ông già, hình như là chủ gia đình, đang kéo chiếc xe một cách mệt nhọc. Chiếc máy ảnh cầm trên tay, tôi đến trước mặt ông và bấm một “bô”. Ông cố nở một nụ cười đau khổ. Không biết ông cười vì được chụp ảnh hay cười vì cảnh đời dâu bể này? Và trong ánh nắng hoàng hôn của ngày 29-4, một bà già có tật đang khấp khểnh đi nhờ chiếc gậy trên tay, cái bóng đổ dài trên mặt đường. Bà ta đi chừng mười bước thì lại dừng. Xa hơn một chút, một ông già và hai cháu nhỏ đang ngồi thở dốc trên vệ đường.

    Ngay trước vị trí đóng quân của Tiểu Đoàn 5 TQLC, các anh chiến sĩ đem mấy thùng nước ra để bên đường cho dân uống. Có anh đem cả phần gạo sấy của mình chia cho những gia đình đang đói lả. Dù sao, đây cũng là những người còn được ít nhiều may mắn vì đã vượt về đến Mỹ Chánh. Một số lớn dân chúng bị kẹt trong vùng giao tranh giữa ta và địch tại cây cầu Bến Ðá, 6 cây số bắc Mỹ Chánh. Ðó là khoảng đường “hành lang máu” của hàng ngàn dân vô tội chết oan trong khi đi lánh nạn. Lợi dụng một lỗ hổng nhỏ do sự rút quân của Tiểu Đoàn 7 TQLC để đi ra tăng cường mặt trận Quảng Trị, Cộng quân đã xâm nhập được cây cầu Bến Ðá và từ đó chận đốt những đoàn xe chở dân chúng cũng như bắn giết dân chạy nạn không tiếc tay.

    Dân chúng đang đi trên đường thì bị hàng loạt đại bác 130 ly ngã ra chết. Những cái chết vô lý bủa chụp xuống đời họ như những nỗi kinh hoàng. Họ có biết gì đâu. Có cả một chiếc xe bị bắn lật nhào xuống hố kéo theo 30 mạng người và cái hố đó là mồ chôn chính họ luôn. Trên khoảng đường này không có một gia đình nào nguyên vẹn, kẻ mất người còn và thất lạc tứ tung. Ðấy, sự nghiệp giải phóng của đoàn quân miền Bắc là như thế đó. Giải phóng người sống mau về bên kia thế giới, giải phóng tất cả sự nghiệp của mọi người trở về hai bàn tay trắng.

    Những hình ảnh đó, có lẽ suốt đời tôi không thể nào quên được. Mỗi ngày, tôi từ vị trí đóng quân ra ngồi trên con đường sắt, con đường mà ngày xưa xe lửa đã chạy ra đến Hà Nội, nhìn đám dân lũ lượt kéo nhau đi mà trong lòng nghe chua xót. Tôi cố tìm trong đám người đi đó xem có ai quen thuộc không, nhưng không, không có ai cả. Tôi muốn chia sẻ những nỗi khổ đau với họ nhưng tôi đã hoàn toàn bất lực.

    ***

    2. Tháng 5-72, Thủy Quân Lục Chiến là hy vọng cuối cùng của Quân Đoàn I. Cộng quân đã vượt Hải Lăng áp sát sông Mỹ Chánh. Trong chưa đầy một tháng tin tức chiến trường ập xuống như bão lửa. Cồn Thiên, Khe Gió, Ba Hô, Gio Linh, Cửa Việt đồng loạt thất thủ. Tồi tệ hơn nữa: Trung Tá Phạm Văn Đính, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 56 VNCH mà về sau thành Trung Tá Việt cộng, đầu hàng tại Camp Carroll. Mất tấm khiên chắn phía Tây, Sư Đoàn 3 Bộ Binh không thể giữ Đông Hà và Ái Tử.

    Với dân Thừa Thiên, an nguy trao hết cho người lính mũ xanh. Phần bút ký tiếp theo của Thiếu Tá Huỳnh Văn Phú ghi lại những ngày này.
    Trần Vũ

    BÊN NÀY SÔNG, BÊN KIA SÔNG

    Giữa đoàn người đi hỗn độn đó, Tiểu Đoàn 5 TQLC tung quân lên cầu Ðập Ðá để giải vây áp lực địch. Tại đây, Tiểu Đoàn 7 TQLC khi đi tăng cường cho mặt trận Bắc Quảng Trị vẫn còn bị kẹt lại hai Đại Đội ở khúc đường này. Hai đơn vị phối hợp nhau đánh bật địch quân về phía Tây, cuộc giao tranh kéo dài suốt ngày, các chiến sĩ TQLC đã thanh toán hết các phần tử địch vừa xâm nhập ở đây.


    Nguồn ongvove.wordpress.com

    Cho đến giờ phút đó, mặt trận ở phía Tây Mỹ Chánh vẫn vững như vách núi Trường Sơn, nhưng việc gì đã xảy đến. Ngày 1 tháng 5-72 các đơn vị tử thủ Quảng Trị rời bỏ thành phố di chuyển về Nam. Cuộc lui binh mà trước đó mấy ngày ít ai nghĩ đến đã thành sự thật. Và tình hình bây giờ đổi khác, Lữ Đoàn 369 TQLC trở thành tuyến đầu ngăn chặn địch tại Mỹ Chánh, không còn một đơn vị bạn nào khác nữa.

    Bám sát các cánh quân của ta vừa di tản chiến thuật ra khỏi tỉnh Quảng Trị, Cộng quân lần tiến theo cho đến quận Hải Lăng. Tại đây, các đơn vị thuộc Lữ Đoàn 369 TQLC một mặt “tiếp rước” các đơn vị bạn từ Bắc xuống, mặt khác cố đánh bật địch dội ngược trở lên. Nội trong buổi sáng ngày 1-5 Tiểu Đoàn 9 TQLC đã dùng súng M72 hạ một lúc 9 xe tăng T54 của Bắc Việt chặn đứng hoàn toàn sức tiến của địch. Tiểu Đoàn 9 và Tiểu Đoàn 2 TQLC đã quần thảo với địch suốt trong ngày dài nhất đó với một mục đích duy nhất: Không cho chúng tiến thêm một tấc đất nào nữa kể từ khu vực này.

    Sau đó cây cầu Mỹ Chánh được giật sập ngay trong đêm và các đơn vị TQLC thiết lập một phòng tuyến mới ở bên này con sông. Theo sát những diễn biến, tôi đã nghĩ rằng nếu ngày hôm ấy mà không có các Tiểu Đoàn 2 và 9 TQLC kiên trì chận đứng được địch quân tại Mỹ Chánh giữa cơn ngặt nghèo đó thì không biết chiến trường trong những ngày kế tiếp sẽ diễn biến ra sao và đến đâu. Một Nguyễn Kim Ðể của Tiểu Đoàn 9, một Nguyễn Xuân Phúc của Tiểu Đoàn 2 TQLC tại mặt trận Mỹ Chánh ngày 1-5 cũng như một Ðỗ Hữu Tùng của Tiểu Đoàn 6 TQLC trong trận “xa chiến lớn” tại căn cứ Phượng Hoàng ngày 9 tháng 4 là những Đơn Vị Trưởng đã góp công không nhỏ trên chiến trường Trị Thiên suốt 60 ngày chiến đấu đẫm máu.

    Họ là những sĩ quan có đầy đủ kích thước, tài ba và mưu lược để chỉ huy những đơn vị cỡ trung cấp. Ðại Tá Phạm Văn Chung, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 369, người chỉ huy trận đánh và đơn phương quyết định phải ngay tức khắc chận địch tại tuyến Mỹ Chánh cũng đã không tiếc lời khen ngợi hai đơn vị nói trên (bây giờ Ðại Tá Chung về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn TQLC làm Tham Mưu Trưởng Hành Quân, Trung Tá Nguyễn Thế Lương thay thế).

    Buổi chiều, khi tôi rời Mỹ Chánh để về đóng quân tại Phong Ðiền, ánh nắng vàng vọt buồn bã ngả dài trên những dãy núi phía Tây lỗ chỗ những vệt xanh vệt trắng. Nhà cửa hai bên đường không một bóng người, quang cảnh thật thê lương. Ðã nhiều lần tôi bắt gặp lòng mình lắng sâu trong cảnh vật bởi tôi đã đi trên cái hoang vắng đó. Trên con đường nhựa duy nhất một ông già với chiếc bị da đã ngả màu trên vai, đi âm thầm trong ánh nắng hoàng hôn sắp tắt.

    Ông già đã đi giữa buổi hoàng hôn của cuộc đời và hoàng hôn của đất trời. Nhưng ai biết được ông đi về đâu? Tôi quay về phía sau, bóng những người lính in lên trên nền trời đang dần dần đổi sang màu đen của bóng đêm. Xa hơn, về phía Bắc những cụm khói đen khổng lồ bốc lên cao cùng những tiếng nổ ì ầm. Quảng Trị đã xa tầm tay! Ít ra trong phút này, niềm mơ ước có phút rỗi rảnh nào đó được “dzọt” lẹ về thành phố này uống một chai bia, ăn một tô bún đã không thể thành tựu được nữa.


    Người lính cầu nguyện - Nhà thờ La Vang, Quảng Trị, 6/7/1972 - Photo by Michel Laurent/AP

    Và cái truyện Bên Kia Giáo Ðường của tôi cũng tan thành mây khói, không biết đến bao giờ mới xong vì nhân vật chính đã phiêu bạt ở phương nào rồi. Tôi cũng ước mong được trở lại căn nhà mà tôi đã trú đóng bên kia sông Mỹ Chánh, không biết để làm gì, vì nơi đó không phải là quê hương của tôi nhưng tôi mong muốn như thế, sớm hơn. Niềm mong ước đó cũng giống như hàng vạn người dân Quảng Trị mong sớm được nhìn về giòng sông Thạch Hãn của họ. Nhưng tôi tin chắc rằng niềm mong ước của họ lớn lao hơn, to tát hơn. Trong buổi chiều đó, khi đi ngang qua cây cầu, tôi đã “tức cảnh sinh tình” và rất lẩn thẩn “mần” ra mấy câu “thi” thuộc loại siêu tự do, siêu khôi hài mà chỉ có những đại thi sĩ cỡ “khều mặt trời” mới mần ra nổi. Bài thơ như sau:

    Tôi ở bên này sông Mỹ Chánh
    Anh ở bên kia sông
    Đứng bên này sông
    Nhìn thấy bên kia
    Đứng ở bên kia
    Trông thấy bên này
    Lội ra giữa giòng sông
    Nhìn thấy cả hai bên
    Lặn xuống nước
    Chả trông thấy bên nào cả!


    MỘT QUAN NIỆM VỀ PHÒNG THỦ TẤN CÔNG

    Ðoàn xe chở chúng tôi rời Mỹ Chánh chừng 3 cây số về phía Nam thì thay vì chạy trên đường lại rẽ trái chạy trên khoảng đất song song với đường nhựa. Có lẽ khúc đường này bị đặt mìn chưa sử dụng được. Ðoàn xe chạy trên đường đất chừng 100 thước thì ầm ầm, những tiếng nổ vang dội ở trước đầu xe, bụi tung bay mù mịt không trông thấy gì cả. Ngay quả nổ đầu tiên, trong trí óc của tôi lúc bấy giờ, tôi tưởng rằng đoàn xe đã bị địch phục kích và trong giây phút, tôi cố chờ đợi những tiếng đại liên xổ ra như kinh nghiệm cho thấy những lần bị phục kích. Nhưng may quá, không có đại liên và súng nhỏ. Rồi những tiếng nổ ì ầm tiếp theo. Tôi nhận ra tiếng nổ ấm và rất quen thuộc của loại đạn M79. Tôi chợt yên tâm hơn, phía trước 3 chiếc xe chạy đầu vẫn tiếp tục chạy, một chiếc xe Jeep đã bị nổ lốp nhưng vẫn cứ phom phom. Tôi giục tài xế: “Tống hết ga chạy nhanh lên”.

    Chiếc xe chồm lên chạy giữa đám khói mịt mù cùng những tiếng nổ tiếp theo. Khổ quá! Vài người “anh em thù nghịch” mò ra ở khu rừng thấp bên phía Tây bắn M79 vào đoàn xe của chúng tôi chơi cho vui giữa lúc bóng đêm sắp sửa xông lên từ lòng đất. Ðến quận Phong Ðiền, kiểm điểm lại chỉ hai người bị thương nhẹ ở đùi mà thôi. Những chiếc xe chạy ở phía sau cũng đã đến an toàn. Buổi tối đó, tại Chi khu Phong Ðiền, Thiếu Tá Bích, Quận Trưởng, một niên trưởng của tôi, đã mời chúng tôi mấy chai bia. Chưa bao giờ tôi thấy bia ngon như đêm hôm đó.

    Vài ngày sau, tôi có dịp đi Huế để nhìn ngắm kết quả của cuộc lui binh ngày 1 tháng 5 ra khỏi Quảng Trị. Phố xá tiêu điều, hàng quán đóng kín cửa, chợ Ðông Ba bị đốt cháy nám đen. Huế lúc đó là một thành phố chết, không thể mua được một cái gì cả.

    Giòng sông Hương đã vắng bóng những con đò, “Ðệ Thất hạm đội” của “chị em ta” lừng danh một thuở cũng đã xuôi giòng ra cửa biển mất tăm! Huế của lãng mạn, của thơ mộng với những tà áo trắng phất phơ bay trên cầu Trường Tiền, chiếc nón bài thơ e ấp không còn nữa. Ít ra là ở trong giây phút đó.

    Tuyến phòng thủ Mỹ Chánh đã đứng vững và được kéo dài thêm ra đến biển với hai Lữ Đoàn 258 TQLC và Lữ Đoàn 369 TQLC chịu trách nhiệm. Với một quan niệm là phòng thủ nhiều khi cũng phải tấn công để gây rối loạn hậu tuyến địch, phá vỡ việc địch tập trung để tấn công Huế và cho địch hiểu rằng ta muốn lấy lại những phần đất đã bị mất bất cứ lúc nào: ngày 13-5-72 Lữ Đoàn 369 TQLC đã bất thần mở cuộc phản công vào quận Hải Lăng, bằng cách trực thăng vận đổ Tiểu Đoàn 3 và Tiểu Đoàn 6 TQLC xuống trận địa. Trong khi đó thì Tiểu Đoàn 9 TQLC lại vượt qua sông Mỹ Chánh tiến lên phía Bắc để giao tiếp với các đơn vị bạn.


    Ông già đã đi giữa buổi hoàng hôn của cuộc đời và hoàng hôn của đất trời. Nhưng ai biết được ông đi về đâu?

    Trước đó sự phối hợp yểm trợ hoả lực phi pháo cũng như của B-52 thật chặt chẽ. Trận đột kích đã gây náo loạn cho hàng ngũ Cộng quân, khi các trực thăng khổng lồ đổ những người lích TQLC xuống thì quân Cộng sản Bắc Việt tan rã hàng ngũ bỏ chạy tán loạn ra các cánh đồng, trong khi đó dân chúng cũng bắt đầu chạy về hướng TQLC. Một sự kiện lạ là trong khi Cộng quân bỏ chạy trước các cánh quân của Tiểu Đoàn 3 và Tiểu Đoàn 6 TQLC ở phía Bắc thì địch lại chịu chạm súng với Tiểu Đoàn 9 TQLC lúc đơn vị này vừa qua sông. Trung Tá Nguyễn Kim Ðể, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 9, người hùng trong trận đánh chận đứng địch tại Hành Lang Máu ngày 1-5 đã quyết định táo bạo khi cho các “con cái” của ông vượt sông lúc 5 giờ sáng thay vì 7 giờ như đã ấn định.

    Chính quyết định này đã gây hoàn toàn bất ngờ đối với địch quân và giảm thiểu mức độ thiệt hại quân bạn. Cuộc hành quân đã gây những yếu tố tâm lý quan trọng hiện tại và là một cuộc hành quân được phối hợp tuyệt vời nhất, kín đáo nhất. Hơn một ngàn ba trăm dân đã được giải thoát nhờ cuộc hành quân này.

    ĐỊCH MƯU TOAN CHỌC THỦNG PHÒNG TUYẾN MỸ CHÁNH

    Cuộc hành quân kéo dài trong ngày và các đơn vị TQLC lại về phòng thủ tại tuyến Mỹ Chánh. Trong suốt một tuần lễ sau đó, lằn mức giao chiến giữa ta và địch tại con sông Mỹ Chánh cứ nhập nhằng, thỉnh thoảng địch cố mở vài mũi dùi dò la sức phản công của ta rồi im lặng. Cho đến ngày 22-5, trận chiến dữ dội mở màn ghi một điểm son trong pho quân sử của binh chủng TQLC.

    Trận đánh đã xảy ra 24 giờ đồng hồ trước khi những nút chai sâm banh được mở ra để đãi vị Tổng Thống Hoa Kỳ R. Nixon trong một bữa tiệc tại thủ đô Nga Sô mà 23 xe tăng PT76 và T54 của Cộng sản đã bốc cháy cùng 130 xác đồng bọn bỏ lại trên trận địa dọc theo phòng tuyến.

    Theo ước tính của tình báo, lẽ ra trận tấn công trên của địch diễn ra ngày 19-5-72 nhưng không biết vì trục trặc gì đó mà trễ mất 3 ngày. Và người ta nhận định rằng chỉ có khoảng thời gian đó là thuận tiện cho việc tấn công vì ý đồ của Hà Nội đã thấy rõ:
    Muốn biến cuộc gặp gỡ thượng đỉnh Nga-Mỹ thành một hội nghị Genève mới. Và nếu để sau ngày Nixon Nga du thì mọi việc kể như xong rồi.

    Ngày 21-5, Bắc Việt tung quân bộ chiến có xe yểm trợ tiến đánh một đơn vị Ðịa Phương Quân tại 9 cây số Ðông Bắc Mỹ Chánh. Lực lượng này không chịu nổi sức tấn công của địch đã phải tháo lui về phía sau phòng tuyến 2 cây số. Tiểu Đoàn 9 và Tiểu Đoàn 3 TQLC đã tức tốc đem quân chận đứng địch, đồng thời trám lại một lỗ hổng nhỏ trên tuyến phòng thủ chính. Hậu quả của sự tháo lui của lực lượng Ðịa Phương Quân này là một toán chốt của địch đã xâm nhập được phía Nam sông Mỹ Chánh. Do đó, con đường huyết mạch để tiếp tế cho các đơn vị TQLC từ quận Phong Ðiền đến phía Ðông Bắc phòng tuyến bị gián đoạn trong 3 tiếng đồng hồ.


    Nguồn Philip Jones Griffiths @ Magnum Photos

    Bộ Tư lệnh liền quyết định tung thêm Tiểu Đoàn 39 Ðịa Phương Quân tăng cường cho Lữ Đoàn 369 TQLC. Tiểu Đoàn này di chuyển bộ từ Phong Ðiền đến tiếp giáp với Tiểu Đoàn 8 TQLC đang trú đóng tại 3 cây số Nam phòng tuyến để phối hợp với đơn vị này càn quét và thanh toán chốt vừa xâm nhập đêm qua. Trong khi đó thì Tiểu Đoàn 3 và Tiểu Đoàn 9 TQLC vẫn giữ mặt Bắc không cho địch tràn xuống. Mục đích của địch là cho các toán chốt xâm nhập trước để quấy rối ta rồi sau đó các đơn vị hoả lực với tăng và pháo yểm trợ chọc thủng phòng tuyến.

    Trong ngày 21-5, quân ta đã thanh toán xong các toán chốt của địch lẩn quất trong vùng. Bây giờ lằn ranh giao tranh giữa hai bên vẫn là con sông Mỹ Chánh. Ngay trong buổi chiều hôm đó, Tiểu Đoàn 3 TQLC tung thêm một Đại Đội xa hơn về phía Ðông vượt qua con sông Ô Lâu; nhánh của Phá Tam Giang ăn thông với sông Mỹ Chánh nằm chặn địch tại đó. 23 giờ ngày 21-5, khoảng 30 xe tăng PT76, T54 và PT85 của Cộng sản với tùng thiết (bộ binh tháp tùng xe tăng) chia làm 2 mũi dùi từ Bắc và Ðông Bắc Mỹ Chánh ào ạt tiến xuống. Trận chiến bắt đầu từ giây phút này.


    Xác Cộng quân - Nguồn artnet.com

    Ðêm ấy tôi hoàn toàn thức trắng ngồi tại T.O.C. theo dõi diễn biến trận đánh. Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3 TQLC Lê Bá Bình cho lệnh các Đại Đội của ông sẵn sàng M72 và chờ cho chúng đến gần 100 thước mới khai hoả. Ngay phút đầu tiên, 7 PT76 bị hạ. Nhằm không cho các đơn vị của ta tiếp ứng lẫn nhau, Cộng quân đã pháo kích dữ dội vào vị trí của các đơn vị Tiểu Đoàn 9 TQLC trong khi tiến đánh Tiểu Đoàn 3 TQLC. Sau 3 giờ giao tranh, một Đại Đội của Tiểu Đoàn 3 TQLC đã phải lui về phía sau con sông Ô Lâu một cây số. Một phi cơ soi sáng từ Ðà Nẵng được gọi lên vùng, hai bên lại tiếp tục quần thảo. Một mũi dùi khác thọc xuống phía Nam né tránh hoàn toàn giao tranh với Tiểu Đoàn 39 Biệt Ðộng Quân.
    Ðến đây thì cái mấu chốt của sự thảm bại của Cộng sản Bắc Việt bắt đầu.

    ***

    3. Mỹ Chánh là chiến thắng của Thủy Quân Lục Chiến. Để hiểu tầm quan trọng của chiến thắng này cần nhìn thấy rõ nỗ lực của Bắc quân. Đích thân Lê Trọng Tấn, tay Tướng được xem dũng lược nhất của Hà Nội nắm quyền Tư lệnh Chiến dịch Trị Thiên Xuân - Hè 1972. Cuối tháng 3, Lê Trọng Tấn ném 3 Sư Đoàn chính quy Bắc Việt 304, 308, 320B qua sông Bến Hải, tăng cường thêm 2 Sư Đoàn 324 và 325 sau khi chiếm Quảng Trị. Sư 304 là Sư Đoàn chuyên đánh đồng bằng. Sư 308 là Sư Đoàn đầu tiên của Việt Minh thành lập từ 1949 mà bộ chỉ huy Pháp đặt tên Division d’Acier, tức Sư Đoàn Thép. Sư Đoàn 320B thoát thân từ Sư Đoàn 320 là Sư Đoàn cũ của Văn Tiến Dũng. Sư Đoàn 324 “chuyên trị” “Nam-Ngãi-Bình-Phú” và Sư Đoàn 325 danh hiệu Đại Đoàn Bình-Trị-Thiên. Tất cả, nói lên ý chí chiếm Huế của Lê Duẫn.

    Cả 5 Sư Đoàn trên đều dày dạn trận mạc. Nếu 304 và 308 từng đánh Điện Biên thì 3 Sư Đoàn còn lại am tường địa thế miền Trung. Bên cạnh, 2 Trung Đoàn chiến xa 202 và 203, rồi 4 Trung Đoàn Pháo binh gồm 408 đại bác mà 68 khẩu là pháo 130 ly, cộng 93 khẩu 122 ly Sô-Viết cùng 247 khẩu sơn pháo 76 và 85 ly, không tính súng không giật SKZ cũng như súng cối nặng 120 ly của bộ binh. Thêm 2 Sư Đoàn cao xạ 367, 376 và 2 Trung Đoàn tên lửa 238, 237 với hoả tiễn SA-2. Tỉnh Đoàn Thừa Thiên cung cấp thêm Trung Đoàn Độc lập 559 Chủ lực Miền. Một ưu thế tuyệt đối.

    Chính với ưu thế này mà Lê Trọng Tấn đã tự tin đánh dàn trận bằng chiến xa và cũng lần đầu tiên Bắc-Việt sử dụng rộng rãi pháo 130 ly. Chỉ trong ngày đầu tiên của Chiến dịch Bão Táp, đã pháo 11,000 quả đạn đủ loại.

    Phía VNCH, đầu tháng 4 gánh nặng trên vai Sư Đoàn 3 Bộ Binh, là một Sư Đoàn tân lập đã phải thâu nhận khá đông đào binh, quân phạm từ các Trung tâm Cải huấn. Không thể xem quân phạm tác chiến kém. Sau cải hối, mỗi người lính là một binh sĩ Quốc Gia ngang đồng vị trí. Nhưng các sĩ quan cần thời gian để tái huấn luyện, thiết lập kỷ cương. Chính thời gian là điều Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai không sở hữu, vì chưa đầy 6 tháng sau khi thành lập với đảm trách nặng nề của vùng hoả tuyến, đã phải đương đầu với tổng tấn công của Bắc Việt. Thêm nữa, sự bội phản của Trung Tá Phạm Văn Đính đầu hàng tại Camp Carroll đã tạo ra khoảng trống cạnh sườn phía Tây Quảng Trị. Từ đây, Bắc quân tràn vào như thác.


    Xe lội nước PT 76 cộng sản Bắc Việt bị bắn cháy

    Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai bị phòng Thanh Tra của Bộ Tổng Tham Mưu VNCH câu lưu và đưa ra toà án binh vì đã để mất tỉnh địa đầu. Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm bị cách chức, thay thế bằng Tướng Ngô Quang Trưởng. Các sự kiện trên, nói lên tình hình nguy ngập cùng cực khi TQLC nhận vùng trách nhiệm Mỹ Chánh. Nếu TQLC buông tay, Lê Trọng Tấn sẽ vinh quang vào giải phóng – thảm sát Huế thêm lần nữa. Nhưng chính tại Mỹ Chánh, vào tháng 5-1972, những người lính TQLC đã giữ vững phòng tuyến và cùng lúc giữ vững danh tiếng của binh chủng này. Chính chiến thắng Mỹ Chánh đã cho phép Tướng Trưởng củng cố Quân Đoàn I và tái chiếm Quảng Trị. Cũng chính Mỹ Chánh, đã giúp Tổng Thống Thiệu có thể quỳ xuống giữa giáo đường La Vang về sau. Mỹ Chánh, là một phá lam đã làm gẫy mũi giáo phương Bắc.
    Trần Vũ

    GÀI ĐỊCH VÀO VÙNG TẬP TRUNG HOẢ LỰC

    Cánh quân thứ hai của địch tưởng rằng đã chọc thủng được phòng tuyến rồi nên chúng cố thọc sâu hơn về hướng Nam từ lúc 4 giờ sáng ngày 22-5. Vùng tập trung hoả lực của LÐ 369 TQLC tại hơn 3 cây số về phía Nam phòng tuyến với Tiểu Đoàn 8 TQLC, hai pháo đội của Tiểu Đoàn 3 PB/TQLC và một số chiến xa, 5 giờ, phi cơ bắt đầu soi sáng vị trí của Tiểu Đoàn 8 TQLC.

    Khi trái sáng cuối cùng vừa dứt, tôi nhìn đồng hồ: 5 giờ 55 phút. Mặt trời chưa lên, đó là lúc “bình minh hàng hải” vừa để đủ trông thấy mọi vật một cách lờ mờ. Cánh quân của địch vừa thoát xuống chia làm hai mũi dùi tiến thẳng tới vị trí của Tiểu Đoàn 8 và hai pháo đội của Tiểu Đoàn 3 PB/TQLC. Lúc bấy giờ mọi người đã sẵn sàng. Xạ trường ở phía trước trống trải toàn là đồng ruộng, xa hơn chừng 500 thước là những lùm cây thấp. Xe tăng địch lù lù tiến đến với tác xạ dữ dội với đủ mọi loại súng đặt trên xe cũng như của quân di chuyển bộ. Các chiến sĩ Tiểu Đoàn 8 TQLC và Tiểu Đoàn 3 PB/TQLC vẫn bình tĩnh chờ đợi, không một ai nao núng.


    Tổng Thống Thiệu cầu nguyện trong nhà thờ La Vang - Quảng Trị. Nguồn: Flickr.com

    Xe tăng địch còn cách 500 thước, 400 thước, 300 thước, 200 thước rồi 150. Tất cả súng M.72 đồng loạt khai hoả, các khẩu pháo binh 105 ly thì bắn trực xạ. Ngay trong phát đầu tiên, các pháo thủ của pháo đội K do Trung Úy Vũ Quang Vinh chỉ huy đã hạ được một chiếc PT76 bốc cháy. Rồi lần lượt các chiếc chiến xa khác của địch trên một trận tuyến dài 500 thước đều bị bắn cháy.

    Tiếng súng hai bên vẫn nổ dòn. Trước mắt tôi chừng 500 thước một chiếc PT76 bị bắn cháy nhưng vẫn còn chạy được trông không khác gì một con chuột bị người ta tẩm xăng đốt cháy. Chiếc hoả tiễn TOW, loại vũ khí chống chiến xa mới nhất do Hoa Kỳ cung cấp, đặt từ trong tuyến phòng thủ phóng bồi thêm một quả nữa. Chiếc xe tăng của địch đang chạy bỗng khựng lại, ngọn lửa bùng cháy cao hơn. Lúc bây giờ chung quanh tôi rào rào tiếng vỗ tay reo hò của lính.

    Một chiếc T54 khác thì thê thảm hơn: Bị bắn cháy lật nằm nghiêng, ngọn lửa bùng lên từng chập như có ai đổ dầu thêm. Trong vòng 15 phút đồng hồ, tất cả xe tăng của địch đều bị hạ. Mọi người ai cũng thấy phấn khởi và lên tinh thần. Hai chiếc tăng khác hoảng sợ không dám tiến vào nữa mà ẩn núp sau lùm cây thấp và bị phát giác nhờ chiếc ống nhắm của hoả tiễn TOW khi thấy hai cái ăng-ten của hai chiếc xe ló lên. Lập tức, hai chiếc phản lực cơ được gọi đến hạ ngay tại chỗ. Lúc này thì trời đã sáng, ánh sáng tạm đủ để nhìn thấy cảnh vật qua lớp sương mờ mờ. Vài chiếc tăng không bị trúng đạn cố gắng tháo chạy về phía Bắc cũng bị phi cơ đuổi theo oanh kích cháy nốt.

    Trải dài trước mắt tôi, dọc theo tuyến phòng thủ thành một hình vòng cung là 9 xác xe tăng của địch vừa PT76 vừa T54 nằm la liệt, lửa từ trong các xe bốc lên hừng hực. Trận chiến xảy ra như một cảnh trong cinéma. Tôi nghĩ rằng chỉ có trong ciné mới có thể có được những cảnh đó nhưng sự thật đã diễn ra trước mắt tôi và có lúc tôi tưởng rằng đó là cơn mê.

    Một giờ sau, Trung Tá Nguyễn Thế Lương, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 369 TQLC tung quân truy kích địch. Cuộc chạm súng lẻ tẻ trong vòng bán kính 800 thước lại xảy ra. Các chiến sĩ Tiểu Đoàn 8 TQLC của Thiếu Tá Nguyễn Văn Phán như say men chiến thắng ào ạt tiến lên tiêu diệt nốt những tên còn sót lại. Thiệt hại về phía TQLC chỉ có 3 chết và 5 bị thương, một số tổn thất coi như không đáng kể. Tôi không nhớ rõ các chiến sĩ Tiểu Đoàn 8 TQLC đã tịch thu được bao nhiêu súng cộng đồng và cá nhân nhưng chỉ biết là khá nhiều.

    Tôi cũng như bao nhiêu người khác lúc đó chỉ khoái chú ý đến những chiếc xe tăng của địch còn bốc khói nghi ngút. Ðặc biệt trong số này có một chiếc PT85. Thứ này na ná như chiếc M113 của ta nhưng “đẹp” hơn nhiều. Chiếc xe đó đang được kéo về triển lãm ở Huế.


    Xe tăng T 54 của cộng sản Bắc Việt bị bắn cháy - Nguồn Photo by Bruno Barbey

    Tôi cũng không thể hiểu được Cộng quân điều binh theo cái lối nào mà kỳ quặc đến thế: cho xe tăng dàn hàng ngang trước một tuyến hoàn toàn trống trải để đưa lưng mà nhận lãnh đạn. Ðiều đáng ghi trong trận đánh này là sự bình tĩnh vô cùng của các chiến sĩ TQLC. Một chi tiết đáng ghi khác là khi chiếc xe tăng đầu tiên của địch bị hạ, không một quân nhân nào của Tiểu Đoàn 8 TQLC còn núp ở trong hầm, tất cả đều đứng thẳng lên, M72 trên vai ngắm xe tăng mà bóp cò. Có anh bỏ vị trí chạy ra bờ ruộng để bắn gần cho chắc ăn.

    Vài giờ đồng hồ sau đó, Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn TQLC đã có mặt tại trận địa bên cạnh những chiếc xe tăng của địch còn cháy nghi ngút để khen thưởng các chiến sĩ thuộc Lữ Đoàn 369 TQLC và đồng thời quyết định những kế hoạch kế tiếp.

    Với chiếc máy ảnh trên tay, tôi mò ra chỗ những chiếc xe tăng bị hạ. Xác chết của địch nằm la liệt. Chung quanh những chiếc xe tăng, chỗ này 30 xác chết, chỗ khác 11 xác. Rất ít xác còn được nguyên vẹn. Có xác bị cháy đen thân thể co quắp lại như một đứa con nít. Nhìn họ, bỗng tôi nhớ đến buổi nói chuyện với một tù binh Cộng sản, Thượng sĩ Viên giữ chức vụ Ðại Đội Phó thuộc
    Tiểu Đoàn K.2 Trung Đoàn 3 CSBV.

    Anh nói với tôi:

    - Tôi cũng biết rằng vào đây không có đánh Mỹ nữa vì Mỹ đã rút quân dần ra khỏi miền Nam rồi, nhưng lệnh bảo đi thì đi. Thế thôi, muốn cưỡng lại cũng không được. Rốt cuộc, chỉ chúng ta là những người Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc bị chết trong cuộc chiến này.

    Cũng trong trận đánh trên, TQLC tịch thu được hai khẩu súng SA7 (còn có tên là STRELLA) đó là loại hoả tiễn giật tay “dò tìm hơi nóng” để bắn phi cơ. Ðây là lần đầu tiên, Quân lực Việt Nam Cộng Hoà tịch thu được loại vũ khí đó trên chiến trường. Thảm bại của CSBV lần này còn nặng nề hơn ngày 09-04-1972 mà Tiểu Đoàn 6 TQLC đã dùng súng M72 hạ hàng loạt chiến xa địch mở đầu cho chiến dịch thi đua diệt xe tăng Cộng sản Bắc Việt.

    Những ngày kế tiếp, suốt dãy tuyến phòng thủ dọc theo Mỹ Chánh từ Quốc Lộ 1 ra đến biển, ngày nào cũng có xe tăng địch bị hạ, khi thì 2 chiếc, khi thì 3 chiếc. Nếu không bị các đơn vị của Lữ Đoàn 258 TQLC quất sụm thì cũng bị Lữ Đoàn 369 TQLC đốn ngã hay do phi cơ oanh kích cháy.

    Ngày 25-05-1972, Lữ Đoàn 147 TQLC lại mở một cuộc tấn công khác sâu hơn vào hậu tuyến địch bằng trực thăng vừa đổ bộ bằng tàu của Ðệ Thất Hạm đội Hoa Kỳ, tung các Tiểu Đoàn 6, Tiểu Đoàn 7 và Tiểu Đoàn 4 TQLC vào khu vực 15 cây số Ðông Quảng Trị. Trước đó vài giờ, toàn bộ Ban chỉ huy của Trung Đoàn 66 CSBV bị B.52 cày nát. Mặc dù vẫn có giao tranh ác liệt giữa các đơn vị TQLC với Cộng quân khi tiến sâu về phía Bắc nhưng điểm chính yếu ghi nhận được là phần lớn địch đã cố tình né tránh các cuộc tấn công của ta và đã rời bỏ vị trí tháo chạy.

    Cuộc hành quân trên đã đạt được một kết quả đáng kể: hơn 5000 dân chúng đã theo các đơn vị TQLC về quận Hương Ðiền an toàn. Ðiều đó một lần nữa chứng tỏ rằng dân chúng không thể nào sống trong vùng Cộng sản kiểm soát.


    Xe tăng T54 - Nguồn picssr.com

    Ðến nay thì sau những lần mưu toan chọc thủng phòng tuyến Mỹ Chánh để tiến về Huế của địch đã thất bại, thêm vào đó là Cộng quân nơm nớp lo sợ không biết ta tung quân tấn công lúc nào nên khi tôi viết những dòng này, chiến trường ở phía Ðông Bắc Mỹ Chánh đã bớt sôi nổi. Mặc dù vậy, địch cũng đang cố hướng mũi dùi về phía Tây, nơi đó Lữ Đoàn 258 TQLC đang ngày đêm chặn đánh kẻ thù và mọi cố gắng xâm nhập của địch đều hoàn toàn bị chặn đứng tại đây.

    NGÀY MAI TRỜI SẼ SÁNG

    Khác với mọi lời tiên đoán bi quan lúc đầu khi thành phố Quảng Trị bị thất thủ là cố đô Huế bị đe doạ nặng nề và không biết sẽ mất lúc nào, tình hình chung bây giờ đã sáng sủa. Những cố gắng của địch đều bị phá vỡ. Phòng tuyến Mỹ Chánh đã đứng vững.
    Sự sinh hoạt ở Huế đã trở lại bình thường. Nếu bỏ qua một phần những giải pháp chính trị cho cuộc chiến Việt Nam (…) theo đó sự tái chiếm Quảng Trị chưa cần thiết thì trên bình diện quân sự, việc tái chiếm Quảng Trị và những phần đất đã mất chỉ là vấn đề thời gian. Việc tiếp liệu về lâu về dài cho các đơn vị CSBV trên chiến trường miền Nam đã là một vấn đề nan giải trong cường độ oanh tạc miền Bắc của không lực Hoa Kỳ hiện tại.

    Mặt khác, theo một nguồn tin tình báo Hoa Kỳ thì Cộng quân sẽ đánh mạnh để chiếm Huế trong khoảng thời gian từ 03-06-1972 đến 10-06-1972. Tuy nhiên, dưới con mắt nhìn của các giới quan sát quân sự thì việc đó đối với Cộng quân khó có thể xảy ra trong thắng lợi được vì sự thiệt hại của địch quá lớn lao sau gần 2 tháng xâm lăng, tinh thần cán binh thấp xuống đến mức e ngại mà theo tin tức thì các vị Tư lệnh chiến trường của CSBV đã khuyến cáo Hà Nội cũng nên tìm một giải pháp nào cho chiến cuộc này khác hơn là ở trên chiến trường. Thế nhưng chiến trường nào cũng có thể có những diễn biến bất ngờ và sự bất ngờ đó đối với Hà Nội chỉ có trong trường hợp Tướng Võ Nguyên Giáp có được chiếc đũa thần.


    Xe tăng của cộng sản Bắc Việt bị bắn cháy

    Ðể kết thúc, tôi xin ghi lại ở đây nội dung buổi phỏng vấn Chuẩn Tướng Bùi Thế Lân, Tư Lệnh Sư Đoàn TQLC, của phái viên “đầu bạc” Nguyễn Tú của nhật báo Chính Luận ngày 27-05-1972, theo đó vị Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn TQLC cho rằng:

    - Vấn đề chống địch, phản công địch, diệt địch không khó. Ðiều quan trọng là nắm vững tình hình địch, điều quân mau lẹ như chính ông (phái viên Chính Luận) đã thấy tại trận địa và nhất là sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị bạn. Ðiển hình là hành quân Sóng Thần 06-72 tấn công Hải Lăng ngày 25-5-72 đã được thiết kế và quyết định trong 24 tiếng đồng hồ.

    - Còn tương lai?

    - Ông không thấy trời rất đẹp sao?

    Trần Vũ


    https://www.facebook.com/photo.php?f...&theater&ifg=1

  2. The Following 4 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    chimtroi (03-18-2019), hoang yen (04-04-2019), khongquan2 (03-18-2019), Tinh Hoai Huong (04-20-2019)

  3. #284
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,187
    Thanks: 7,823
    Thanked 5,262 Times in 1,160 Posts

    Icon Laughing Đít Em Mấy Lỗ

    Đít Em Mấy Lỗ..



    Sáng nay, trên đường đi làm, tôi ghé vào đổ xăng, ngay lúc đó có một cô gái trẻ cũng vào đổ xăng đứng bên cạnh tôi.
    Thằng bơm xăng nhìn cô gái rồi hỏi:
    - Em gái, đít em mấy lỗ ?
    Tôi giật mình, chỗ nhạy cảm của con gái mà thằng này dám hỏi như vậy à.
    Tôi càng bất ngờ khi cô gái cười tươi trả lời:
    - Đít em hai lỗ !
    Sau một thoáng giật mình, tôi chợt hiểu ra "ĐÍT EM MẤY LỖ" là "ĐỖ EM MẤY LÍT", cô gái trả lời "ĐÍT EM HAI LỖ" là "ĐỖ EM HAI LÍT". Không nhịn được cười, tôi ôm bụng cười to, bất ngờ thằng bơm xăng hỏi tôi:
    - Đít anh mấy lỗ ?
    Tôi cười lớn hơn rồi trả lời:
    - Cả đời anh, đít có một lỗ, mày tìm lỗ thứ hai cũng không có ha ha ha!
    Ngay lúc đó, có bác xe ôm chạy chiếc xe cà tàng vào, có lẽ không có tiền nên trông bác rất rụt rè. Thằng bơm xăng nhìn bác rồi hỏi:
    - Bác xe ôm, đít bác mấy lỗ ?
    - Chú ơi ! Đít tôi nửa lỗ !
    Ha ha ha lần đầu tiên tôi thấy có trường hợp "đít nửa lỗ", tôi cười sắp ngất, thì lúc đó xuất hiện một anh chạy xe SH vào, thằng bơm xăng nhìn anh rồi hỏi:
    - Anh SH, đít anh mấy lỗ ?
    SH trả lời:
    - "ĐÍT TÔI ĐẦY LÔNG" là "ĐONG TÔI ĐẦY LÍT" (đầy bình).
    Nghe đến đây tôi cười ngất luôn !!!


    [PHOTOBUCKET][/PHOTOBUCKET]
    " không thành công .... thành gà"

  4. The Following 3 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    hoang yen (04-19-2019), khongquan2 (03-24-2019), Tinh Hoai Huong (04-20-2019)

  5. #285
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,187
    Thanks: 7,823
    Thanked 5,262 Times in 1,160 Posts

    Button Xanh Bé Mốc Ngày Xưa

    Bé Mốc Ngày Xưa
    Nguyễn Thị Thanh Dương



    Hình minh họa

    Từ phi trường Tân Sơn Nhất, Khoa được gia đình chú Tuyên đón về nhà ở Bà Chiểu chơi mấy hôm.

    Hôm nay Khoa mới xách va ly trở về xóm cũ Gò Vấp. Mới rời xa Việt Nam 6 năm mà đường phố thay đổi lạ hoắc, cũng may vẫn còn những dấu vết hay chi tiết quang cảnh cụ thể khác để anh không đi lạc.

    Cổng vào chùa Thiền Quang đây rồi, cũng là ngõ chính dẫn vào nhà anh, phải đi qua một khu mả bằng đá ong, những tảng đá ong nằm có, đứng có, cao hơn đầu người, người ta đồn rằng của người Pháp xây hồi xưa, nên lối xóm quen gọi là khu mả Tây. Trẻ con khu xóm vẫn chơi đùa ở đó, leo trèo lên những ngôi mộ. Nay khu mả Tây không còn, nên trông cái ngõ như rộng ra.

    Gặp anh, nhận ra anh, ai cũng cất tiếng hỏi han thân mật, bù cho những tháng năm sống ở Mỹ hàng xóm lạnh lùng như người tình đang trong cơn hờn dỗi.

    Căn nhà của anh được bao quanh bằng bức tường gạch thấp, phía trên cắm những hàng rào bằng sắt, và vẫn là hai cánh cổng sắt, nhưng không còn cây hoa giấy màu đỏ bên cạnh xòe cành lá và hoa đung đưa trong gío nữa.

    Chưa kịp tra chìa khóa mở cổng thì một bà hớn hở từ đâu bước vội đến:

    - Cậu Khoa mới về thăm nhà hả? Sống ở Mỹ vui lắm hả cậu?

    Khoa chưa kịp nhận ra ai cũng mỉm cười đáp lại:

    - Vâng, chào bác, sống ở đâu cũng có vui có buồn.

    - Có nhớ ra tôi không nào? Tôi ở đằng sau nhà cậu đấy…

    Khoa gật đầu:

    - À, bác tên Năm, làm nghề thêu, nên thành tên Năm Thêu chứ gì? Bây giờ bác còn sống bằng nghề thêu, rua gì không?

    - Theo nghề đó là chết đói luôn cậu ơi, thời buổi hiện đại, nghề thêu đan, may vá phải dẹp tiệm nhường cho sản xuất công nghiệp hàng loạt. Tôi chuyển “ngành” rồi, nấu cơm bán cho mấy em công nhân tạm trú ở xóm này, dân miền Trung, miền Bắc “di cư” vào, đói nghèo nên dễ tính, dễ chịu. Hàng cơm tôi cũng đủ sống qua ngày.

    Bà Năm Thêu đon đã mời mọc một hơi:

    - Cậu về đây bao lâu? khi nào đi chơi đâu ăn đó thì thôi, còn về nhà thì ăn cơm ủng hộ hàng tôi nghe? Tôi biết Việt Kiều thì chỉ ăn ở những nhà hàng nổi tiếng hay sang trọng, nhưng cậu thử ăn hàng tôi cho biết đá vàng, ăn bữa nào tính tiền bữa đó, đơn giản và sòng phẳng mà. Việt Kiều tôi sẽ nấu loại đồ ăn cao cấp tiêu chuẩn Việt Kiều, nhưng gía cả vẫn là tình làng nghĩa xóm.

    Khoa cảm động, khiêm nhường và hào hiệp:

    - Việt kiều mới là thèm những món ăn bình thường dân dã đó bác Năm Thêu. Nhiều người từ hải ngoại về Việt Nam chỉ để ăn cơm nhà rau dưa. Tôi đồng ý ăn cơm ủng hộ hàng bác, vì tôi sẽ ở Việt Nam khá lâu và thường xuyên ở nhà.

    Bà Năm Thêu còn nhiều chuyện, hỏi tới luôn:

    - Nghe nói cậu về bàn căn nhà này, phải hôn? Có gì tôi kiếm người “mai mối” cho mau lẹ…

    - Uả, sao bác biết tôi về Việt Nam để bán nhà?

    - Dễ ợt mà, mỗi lần ông chú của cậu đến quét dọn hay sửa sang nhà cửa tôi có nói chuyện và hỏi thăm về gia đình cậu hoài, nghe nói ở bển gia đình cậu ổn định, khá gỉa tôi cũng mừng giùm. Vừa rồi ông Tuyên nói là cậu sẽ về bán căn nhà này. Thế là ông Tuyên sẽ rảnh tay khỏi phải lò mò từ Bà Chiểu đạp xe xuống Gò Vấp để chăm sóc căn nhà vắng chủ nữa.

    - Dạ, đúng thế. Đáng lẽ tôi bán nhà trước khi xuất cảnh, nhưng để lại cho gia đình thằng em vợ chờ đi xuất cảnh sau. Nó dùng dằng mãi mới chịu đi nên giấy tờ bảo lãnh trễ hơn tôi mấy năm.

    - Nhờ vậy mà hưởng lời đó cậu. Đúng là số cậu trời cho hưởng mà, được gia đình vợ bảo lãnh đi Mỹ sung sướng mọi bề, ngay thời điểm này nhà cửa đang hút gía dữ dội lắm, căn nhà của cậu nằm trong khu đất rộng, có vườn cây, lại thuộc phạm vi thành phố nên khẳm tiền chứ không ít đâu.

    Khoa đùa vui:

    - Trời, bác Năm Thêu chuyển ngành nghề môi giới địa ốc, chắc sẽ thành công hơn nấu cơm tháng đấy.
    Bà Năm Thêu nhắc lại:

    - Thôi vậy nghen, chiều nay cậu ăn cơm nhà không? thì có cơm mang sang nhà cậu liền.

    Khoa nể lòng bà hàng xóm:

    - Vâng, chiều nay cho tôi mở hàng một bữa thử coi, nhớ là mấy món ăn nhà quê dân dã nhé. Tôi muốn ở nhà vài ngày, sống lại kỷ niệm rồi mới đi thăm bạn bè sau.
    Bà hàng xóm nhanh nhẩu tốt bụng đi rồi, Khoa mới thực sự bước vào nhà mình, hầu hết những đồ đạc của vợ chồng Khoa để lại, gia đình người em vợ vẫn giữ y nguyên, có lẽ vì họ nghĩ cũng sẽ đi xuất cảnh nên chẳng cần thay đổi hay mua sắm thêm đồ mới làm gì.

    Khoa ra vườn sau, khu vườn trồng nhiều cây mít và cây na, lá rụng quanh năm. Anh dẫm chân lên lớp lá khô tưởng như mùa lá cũ năm nào vẫn nằm ngoan hiền ở đây đợi anh về hội ngộ.

    Những cây mít đang treo đầy qủa, anh còn nhớ cây này là mít dừa, cây kia là mít nghệ, múi mít loại nào cũng to bằng cả nắm tay. Còn những cây na cũng có giống na dai, giống na bở. Na để chín cây, mắt na nở ra, nhẹ tay bóp qủa na, ăn những múi na trắng thơm, ngon ngọt lạ lùng.

    Trong vườn có một cái giếng sâu và trong, cạnh đó là buồng tắm. Khoa sung sướng được sống lại qúa khứ, anh ra quay nước giếng đổ đầy thùng trong buồng tắm và mang những thứ xà bông, dầu gội đầu vào tắm gội, tưởng như mình vẫn đang sống ở Việt Nam của 6 năm về trước.

    Tắm xong Khoa vào nhà ngủ một giấc thoải mái, chưa tỉnh giấc hẳn thì đã nghe có tiếng gõ cửa rụt rè, Khoa vội ngồi dậy, vuốt sơ mái tóc và ra mở cửa, anh ngạc nhiên khi thấy một khuôn mặt xinh đẹp, một cô gái lạ, rất trẻ, đang khép nép bên ngoài. Trong phút giây này, khỏanh khắc này, anh bỗng nhớ đến bao năm về trước, Huyền cũng đã e ấp gõ cửa nhà anh, cho anh cảm xúc xao xuyến bất ngờ.

    - Dạ, em chào anh…

    Khoa bối rối:

    - Cô tìm ai? Cô có đi lầm nhà không?

    - Dạ, em tìm anh Khoa…má em sai em đến giao cơm chiều cho anh.

    Bây giờ Khoa mới để ý đến gỉo cơm trên tay cô gái. Thì ra lúc nãy anh vào nhà và quên không khóa cổng nên cô gái mới đến thẳng cửa nhà anh như thế này. Cô có đôi mắt to đen như nhung mang phảng phất nét buồn, làm người khác nhìn mà phải u uẩn theo. Dáng cô thon thon cao ráo, không lẽ cô là con gái bà Năm Thêu ? người đàn bà suốt một thời tuổi trẻ chăm chỉ ngồi bên khung vải thêu, rua, đến nghọeo cả cổ và gù cả lưng ?

    Thấy chủ nhà tần ngần chưa chịu tin, cô gái giới thiệu thêm về mình:

    - Anh không nhớ em thì thôi, nhưng để em kể ra nhé, ngày xưa em hay sang nhà anh bồng em bé và đút cơm cho con anh đó, em là bé Mốc.

    - Ôi, bé Mốc !!

    Khoa reo lên, thêm một lần nữa ngạc nhiên, anh nhớ ngay ra con bé Mốc nhếch nhác ngày xưa, bây giờ lại biến hóa thành cô gái đẹp xinh, duyên dáng y như trong chuyện cổ tích. Giây phút gặp gỡ đầu tiên vẻ đẹp của cô làm anh chóang váng, bây giờ định thần nhìn kỹ lại, đúng là cô gái có những nét hao hao bé Mốc. Mà sao ngày xưa anh ghét nó thế? chỉ sợ nó lây cái vẻ xấu và bẩn của nó sang cho con anh thôi, nhưng Huyền vợ anh vốn thương người, muốn giúp nhà bà Năm Thêu chứ thuê mướn người bồng em đầy rẫy trong xóm, thiếu gì người khá hơn nó.

    Cô gái thao thao kể tiếp:

    - Nhà em nghèo, má em đã đưa em sang nhà anh chị, coi em, bồng em để anh chị cho chút tiền, được đồng nào hay đồng đó. Năm đó em 13 tuổi.

    Khoa hỏi một câu ngẩn ngơ vì vẫn còn bối rối trước vẻ xinh đẹp của cô Mốc:

    - Nhưng sao em lại là bé Mốc nhỉ?

    - Má em nói hồi nhỏ em xấu xí, lại bẩn thỉu, mốc meo và ốm tong teo, bé xíu nên gọi em là bé Mốc chết tên luôn, còn tên thật của em không đẹp lắm, nhưng cũng…đỡ hơn. Em tên là Nguyễn thị Nâu.

    Khoa thành thật:

    - Dù bé Mốc ngày xưa hay cô Nâu ngày nay, cả hai tên đều lạ cả.

    Cô Nâu mang giỏ cơm vào nhà, cô nhẹ nhàng và cẩn thận lôi ra chén bát, đũa thìa và cơm canh nóng hổi để lên bàn rồi nói:

    - Mời anh dùng cơm kẻo nguội, má em nấu món dân quê theo ý anh, cần món gì anh cứ yêu cầu mỗi ngày nghe. Em về đây, lát nữa em sang thu dọn chén đũa.

    - Sao cơm bình dân mà bát chén kiểu sang vậy cô Nâu?

    Cô Nâu mỉm cười:

    - Anh không nghĩ ra hả? vì anh là Việt Kiều thì cũng phải lịch sự với anh chứ, mấy chén đũa này má em mới sắm riêng để phục vụ anh đó.
    Khoa cảm động ngẩn ngơ. Cô Nâu nói xong từ tốn cúi đầu chào và ra về, dù Khoa chỉ muốn cô ở lại nói chuyện, và dù có ăn cơm canh nguội lạnh anh cũng vui lòng.

    Bà Năm Thêu cho anh ăn cơm với món đọt rau lang luộc chấm nước mắm tỏi ớt, và món tôm đất rim mặn. Qủa thật là ngon miệng..

    Ăn xong Khoa rửa tất cả chén bát sạch sẽ và đợi chờ cô Nâu đến.

    Cánh cổng ngoài vẫn chỉ khép để đợi cô vào tận cửa nhà, cô đến đúng hẹn, lần này cô lại thay cái áo khác. Thấy mọi thứ đã sạch sẽ sẵn sàng, cô Nâu không hài lòng:

    - Kìa anh, sao anh lại rửa ?, lần sau anh cứ để em làm cho, đó là việc của em mà.

    - Tôi rảnh cũng chẳng biết làm gì.

    - Việt Kiều như anh hiền qúa chừng, người ta về Việt Nam là tưng bừng hoa lá ngoài đường, ngoài qúan đó anh.

    Ngay từ đầu cô Nâu đã xưng hô “anh, em” nên Khoa cũng thoải mái, tự nhiên, dù ngày xưa con bé ranh này anh coi như đồ con nít.

    - Nay mai anh cũng sẽ đi thăm bạn bè, họ hàng chỉ có gia đình ông chú chứ chẳng còn ai.

    Lần này cô Nâu ngồi nói chuyện lâu hơn. Trong căn nhà vắng êm đềm cô gái như một bức tranh thiếu nữ rực rỡ bội phần làm tâm hồn đa cảm yếu đuối của Khoa bị choáng ngợp trước hào quang của cô Nâu.

    Cô kể nhà cô từ xưa đến giờ vẫn nghèo, cô bỏ học khi xong bậc tiểu học, làm đủ thứ nghề lao động, và bây giờ thì ở nhà phụ với mẹ nấu cơm, bán cơm trong xóm lao động này. Đôi mắt cô có lúc lóng lánh như muốn khóc, Khoa phải chạnh lòng:

    - Không ngờ hoàn cảnh em đáng thương thế.

    Khi cô Nâu đứng lên chào tạm biệt ra về, Khoa tiễn cô ra cửa, khỏang cách hai người rất gần, mùi hương thơm nào đó từ người cô làm anh thoáng ngây ngất. Đôi mắt cô nhìn anh giùng giằng và sâu thẳm:

    - Em về nhé. Mai anh có ăn cơm không?

    Khoa trả lời không cần suy nghĩ:

    - Coi như ngày nào anh cũng ăn cơm hai buổi, cho dù đi đâu anh cũng về ăn cơm…nhà.

    Cô Nâu ngoan ngoãn:

    - Dạ, em sẽ ngày hai buổi mang cơm phục vụ anh.

    Cô Nâu về rồi, nhưng hình ảnh bé Mốc ngày xưa lại lần lượt hiện ra.

    Dạo đó anh và Huyền ở trong căn nhà này, hai đứa con, đứa lên 4 và đứa lên 2. Vợ anh làm kế tóan tài chánh cho một công ty nước ngoài, còn anh là kỹ sư. Chiều đi làm về, mang hai đứa con từ nhà trẻ về, cả hai vợ chồng đều bận rộn nhiều chuyện khác. Thế là mới có chuyện con bé Mốc thỉnh thoảng sang nhà giữ em giùm để vợ anh nấu cơm, còn anh thì nghiên cứu đọc tài liệu bổ sung cho công việc đang làm tại hãng.

    Bé Mốc qủa đúng là con bé nhà nghèo, quần áo lôi thôi cũ kỹ, đầu tóc rối ren, mặt thì nhem nhuốc, thế mà hai con anh lại thích bé Mốc, nó bồng bế hay đút cơm, đút cháo hai đứa đều ăn nhiều, có lẽ vì bé Mốc cũng trẻ con, biết cách chiều trẻ con?

    Bé Mốc hay dẫn hai con anh ra chơi ở sân trước, chán lại ra vườn sau. Có lần anh thấy bé Mốc hái mấy dái mít non ở sau vườn chấm muối ớt ăn ngon lành. Tội nghiệp, con bé đói khát ăn rờ ăn rẫm, từ đó trở đi anh không còn ác cảm với nó nữa, cũng đồng tình với vợ anh để cho bé Mốc trông nom hai con khi vợ chồng anh bận bịu.

    Những hôm không trông hai con anh, bé Mốc chạy ra khu mả Tây chơi đùa với lũ trẻ cùng xóm, mấy lần Khoa trông thấy nó leo trèo, nghịch ngợm hay lê la đất cát bẩn thỉu từ đầu đến chân.

    Một buổi chiều anh ra vườn sau kéo nước giếng và tắm táp xong như thường lệ, vợ anh cũng đã xong công việc, chiều ấy Huyền thật xinh và tươi mát với bộ đồ mỏng mới may, làm Khoa bỗng dưng “thèm muốn”, anh kéo vợ vào phòng. Chợt trông thấy con bé Mốc bế em ở một góc nhà đang chăm chú nhìn theo vợ chồng anh, hình như nó hiểu chuyện và biết anh đang muốn gì?. Làm Khoa “quê”, liền bực mình gắt với nó:

    - Bế em ra vườn chơi đi, chốc nữa hãy vào nhà.

    Bé Mốc vội vã tay bế tay dắt hai đứa con anh ra vườn sau.

    Nghĩ đến đây Khoa cười thầm, không biết cô Nâu có còn nhớ chuyện xưa ? Bây giờ anh sẽ “quê” hơn ngày đó nữa.

    Từ ngày sang Mỹ, vợ anh trông coi một tiệm nail cho em gái mình, vì cô em có hai tiệm nail nên không thể ba đầu sáu tay qủan lý hết được. Cửa tiệm lâu năm, quen khách, đắt hàng nên cô em trả lương chị rất rộng rãi.

    Còn Khoa học nghề trung cấp kỹ thuật hai năm và ra đi làm. Nhưng mới bị lay off , đang ngồi nhà ăn tiền thất nghiệp.

    Gia đình thằng em vợ đến Mỹ mấy tháng nay, đúng là thời điểm thuận tiện cho Khoa về Việt Nam lo chuyện bán nhà cửa. Khoa về một mình vì Huyền bận 6 ngày một tuần với tiệm nail, không dứt ra được.

    Căn nhà nhờ ông Tuyên đứng tên và chăm sóc giùm, hàng tháng vợ chồng Khoa vẫn tế nhị gởi biếu ông chú tiền coi như trả công lao chú hậu hỉ.

    ***

    Cô Nâu đã trở thành hình bóng thân quen không thể thiếu, mỗi ngày mấy lượt đến giao cơm và lấy đồ về, lần nào cô cũng kín đáo tránh cho hàng xóm biết cô đã ở lâu với người đàn ông trong căn nhà vắng.

    Hôm nào Khoa đi vắng về trễ thì anh hẹn mang cơm trễ, nên hầu như họ vẫn gặp nhau dù Khoa bận rộn đến đâu.

    Đã có vài người khách đến xem nhà và đang thương lượng gía cả, Khoa không ngờ bà Năm Thêu nói đúng qúa, người mua sẵn sàng trả gía cao, nhưng anh còn chần chừ xem ai trả cao nhất mới quyết định. Mọi giấy tờ hợp lệ có sẵn, và ông Tuyên cũng sẵn sàng để ký tên.

    Hôm nay Khoa về nhà hơi muộn, cô Nâu cũng vừa mang cơm đến. Dù đã ăn ở nhà bạn khá no, Khoa vẫn ăn cơm của cô Nâu cho cô vui lòng, và chính anh cũng muốn thế, để giữ chân cô. Nhiều ngày nay đã thân quen, cô ở lại đợi anh ăn cơm xong và dọn dẹp chén bát rửa ráy tại chỗ luôn. Họ đôi bóng như đôi vợ chồng son.

    Khoa ngắm cô Nâu đang đứng rửa bát, cô mặc bộ đồ bộ lụa mát màu xanh nước biển nhạt, hở vai và đôi cánh tay trần giống như Huyền ngày nào đã làm anh bừng dậy một niềm khao khát. Hôm nay anh gặp lại niềm khao khát ấy.

    Bất chợt cô Nâu quay đầu lại, nhìn nét mặt bần thần của anh, cô ngây thơ nũng nịu:

    - Anh nhìn trộm em và chê em gì hả? hả?

    Trong đôi mắt đen thăm thẳm của người con gái đầy vẻ bí hiểm và thông minh, có lẽ cô Nâu lại đọc được ý nghĩ trong đầu óc anh như khi cô chỉ là con bé Mốc 13 tuổi năm xưa.

    Anh bối rối chưa biết nói sao thì cô gái nũng nịu tiếp:

    - Bắt thền anh đó, anh nhìn em hoài làm em rửa chén không có sạch nè !!

    Anh như bị mê hoặc đến bên cô Nâu và vòng tay ôm lấy đôi vai tròn của cô:

    - Anh đền em đây…

    Toàn thân cô gái tựa vào người anh, làm người anh nóng bừng lên, anh xiết chặt thân thể mềm mại của cô Nâu trong vòng tay của mình, thì thầm:

    - Anh yêu em qúa Nâu ơi…

    - Em cũng yêu anh…

    Cô bạo dạn thêm:

    - Em yêu anh từ hồi em còn là bé Mốc lận, anh không biết đâu, mỗi lần anh tắm em đều lẩn quẩn ở ngoài vườn, chỉ để ngửi mùi xà bông rất thơm tho của anh…

    Cô áp mặt, dụi dụi vào ngực áo anh rồi hỏi:

    - Sao bây giờ anh xài mùi xà bông khác ? em không thấy giống mùi cũ nữa…

    Khoa càng mê man:

    - Em yêu anh đến thế ư? Em nhớ cả mùi xà bông tắm của anh ư? Ừ, ngày xưa anh dùng xà bông Coast, qùa từ bên Mỹ gởi về, anh thích mùi ấy lắm, nhưng bây giờ anh qua Mỹ thì không còn xà bông hiệu này nữa, nên anh dùng loại khác.

    - Có lần anh tắm xong, anh rủ chị Huyền vào phòng, em buồn lắm, em ganh với chị Huyền vì đã có anh.

    - Trời ơi, em còn nhớ vụ ấy hả? Anh xin lỗi Nâu, hôm nay anh sẽ đền cho Nâu ….

    Người Khoa như lên cơn sốt, quay cuồng, tối tăm mặt mũi, anh không biết gì đến trời đất bên ngoài. Chỉ có cô Nâu xinh đẹp và quyến rũ tuyệt vời trong căn nhà vắng đồng lõa, đồng tình.

    Chiếm được thân thể cô Nâu với tình yêu đáp trả nhiệt tình của cô, Khoa bỗng là một chàng trai mới lớn đang yêu và si tình, ngày nào anh cũng mong chờ cô Nâu. Cách đây 6 năm làm sao Khoa có thể nghĩ sau này mình sẽ yêu con bé Mốc đến thế này?

    Cánh cổng sắt ngôi nhà mở đón cô vào, và khép chặt để không bị ai làm phiền, ngoại trừ những lần có hẹn cho người môi giới dẫn khách đến coi nhà.

    Anh yêu Nâu thật rồi hay chỉ là một cơn choáng ? anh chẳng tha thiết gì đến chuyện trở về Mỹ với vợ con. Khoa còn đang như một cánh buồm lênh đênh trên biển.

    “Anh chỉ là một cánh buồm tuyệt vọng,
    Giữa biển khơi không biết rẽ lối nào?
    Ở nơi đâu cũng là em, là sóng,
    Vỗ vào đời anh hạnh phúc, thương đau”


    Tình yêu đã làm anh lãng mạn, anh làm 4 câu thơ ấy, đọc cho cô Nâu nghe, không biết cô Nâu có hiểu thơ không mà cô đã khóc trong lòng anh.

    Khoa buồn bã và thành thật khuyên cô:

    - Dù muốn dù không anh cũng phải về Mỹ. Anh yêu em, nhưng không thể bỏ vợ con được. Em hãy quên anh đi Nâu nhé ?

    Cô Nâu trả lời trong nước mắt:

    - Em chỉ lấy người đàn ông nào giống hệt như anh thôi, hoặc là em sẽ đợi chờ anh về Việt Nam thăm em, làm người vợ không bao giờ cưới của anh, giống như một tuồng cải lương cũ má con em hay coi….

    - Tội em qúa ! mấy kiếp nữa anh cũng không đủ trả nợ tình cho em.

    Khoa đã đồng ý bán nhà, vì không còn thời gian chần chờ thêm nữa. Khách hẹn sẽ đến coi lần cuối trước khi chồng tiền và tiến hành thủ tục giấy tờ.

    Những ngày hiếm hoi còn lại anh càng say sưa yêu cuồng yêu vội cô Nâu hơn nữa.

    Nhưng chiều nay người giao cơm không phải là cô Nâu mà là mẹ cô, bà Năm Thêu, làm Khoa thất vọng và ngạc nhiên.

    Bà Năm Thêu theo Khoa vào trong nhà, tự động ngồi xuống ghế và lên tiếng trước:

    - Tôi biểu con Nâu ở nhà để tôi sang nói chuyện với cậu.

    Linh tính báo cho Khoa biết một điều gì đó không hay đang xảy ra cho Nâu và cho anh. Bà Năm Thêu nhìn thẳng vào mặt Khoa và tiếp như quan tòa lên án:

    - Tôi đã biết chuyện tằng tịu giữa cậu và con Nâu nhà tôi. Bây giờ cậu tính sao?

    Biết không thể chối cãi được, Khoa đành buông xuôi:

    - Tôi trót yêu Nâu, yêu rất nhiều bác biết không?

    - Nhưng cậu cũng phải tính sao chứ, không lẽ cậu hưởng con nhỏ cho đã đời rồi khơi khơi về Mỹ với vợ con cậu như không có chuyện gì xảy ra ?

    Khoa khổ sở:

    - Tôi cũng không biết mình phải làm gì nữa, thật tình tôi đau buồn khi chia tay Nâu.

    Bà Năm Thêu đanh thép:

    - Cậu phải cưới nó, giữ danh dự đời con gái cho nó.

    Khoa hoảng hốt:

    - Bác Năm Thêu biết tôi còn vợ, còn con mà…

    Giơ cao đánh khẽ, bà Năm Thêu xuống giọng tử tế:

    - Thôi, không ai nỡ làm gia đình cậu xào xáo ly tan, nhưng cậu phải đền bù đời con gái con tôi cho xứng đáng, cậu giúp nó một số tiền làm vốn, làm lại cuộc đời. Tôi sẽ bỏ qua chuyện này.

    Khoa cũng đã nghĩ tới điều này, vì tình yêu anh dành cho cô Nâu chứ không phải vì bị cưỡng bức, đòi hỏi như bây giờ, nên Khoa đồng ý ngay:

    - Điều này tôi có thể làm được, tôi cũng muốn giúp Nâu có cuộc sống khá hơn.

    Bà Năm Thêu đòi hỏi huỵch toẹt:

    - Cụ thể tôi đề nghị cậu cho nó 10 ngàn đô la Mỹ.

    - Mười ngàn đô la Mỹ?

    Thấy phản ứng của Khoa sửng sốt ngạc nhiên và không hài lòng bà Năm Thêu giáng một đòn đe dọa:

    - Nếu cậu muốn trong ấm ngoài êm, chuyện tình của cậu và con Nâu hàng xóm láng giềng chưa ai hay biết đâu. Tôi thề sẽ giữ kín, cậu mới bán nhà được gía qúa mà, tiếc chi món tiền này.

    Mười ngàn đô la là số tiền không nhỏ, ngoài dự tính của Khoa, nhưng tội anh to lớn qúa, làm hại đời con gái trinh trắng của cô Nâu, và anh cần bảo vệ hạnh phúc gia đình, với gía ấy vẫn còn rẻ.

    Khoa ngẫm nghĩ và đồng ý. Cũng may anh chưa gọi phôn báo cho vợ về gía cả căn nhà mà anh vừa quyết định bán, nên anh có thể thêm đầu này bớt đầu kia cho hợp lý và Huyền sẽ tin, miễn là bán xong căn nhà cho rảnh tay.

    ***

    Khoa về Mỹ, lại lao vào cuộc sống hàng ngày.

    Một năm trôi qua, tình yêu nóng bỏng dành cho cô Nâu qủa là một cơn chóang, đã vơi dần theo ngày tháng vì xa mặt cách lòng. Khi lạc vào biển yêu trong hoàn cảnh trái ngang ai cũng chỉ là cánh buồm tuyệt vọng, ngẩn ngơ.

    Bây giờ tỉnh người ra anh mới thấy mình hư qúa, vô tình đã phản bội vợ và hại đời con gái của cô Nâu .

    .Anh thấy lòng tạm thanh thản, với 10 ngàn đô la, có thể đã giúp cô Nâu hay gia đình cô thay đổi cuộc sống khá hơn với một ngành nghề nào đó. Anh chỉ cầu mong cô Nâu sẽ gặp được người đàn ông giống anh, cho cô yêu và lấy làm chồng thì anh mới thật sự yên tâm.

    Một hôm Huyền hỏi chồng:

    - Anh có nhớ nhà bà Năm Thêu ở phía sau nhà mình ngày xưa không?

    Khoa giật bắn người, tim anh đập thình thịch chỉ sợ nghe vợ nói ra những điều tội lỗi thầm kín của anh, nhưng Huyền vẫn vô tư kể tiếp:

    - Bà Năm Thêu má bé Mốc, con bé ngày xưa bế con mình đó, nhớ ra chưa?

    Khoa dè dặt:

    - Biết rồi, sao?

    - Chị bạn cùng xóm mới về Việt Nam qua kể lại là năm rồi nhà bà Năm Thêu trúng mối gì không biết, bỗng khá gỉa lắm, có tiền sắm ti vi, xe gắn máy và đồ đạc trong nhà. Nhưng sắm bao nhiêu bà lần hồi bán bấy nhiêu vì bài bạc và số đề…

    Khoa buột miệng:

    - Tội nghiệp qúa !

    Vợ anh chép miệng theo:

    - Chưa tội nghiệp bằng con Mốc, tên nó là Nâu, bây giờ người ta đồn nó bị bệnh Aids rồi, nên hàng cơm bà Năm Thêu bị ế ẩm, không ai dám ăn, cảnh nhà càng khốn khổ.

    - Trời ơi ! cô Nâu bị..bị…??

    Vợ anh lập lại:

    - Bị bệnh Aids, tội con bé qúa hở anh? Bé Mốc hồi mới lớn, mới trổ mã đã đi bán bia ôm, làm gái rồi, nhưng kiếm tiền sao cho xuể với người mẹ ham mê bài bạc quanh năm suốt tháng. Trước sau gì cũng đi đến bước đường cùng này thôi.

    Trong lời nói và cử chỉ của vợ, Khoa tin là Huyền không hề hay biết gì chuyện tình cảm của anh và cô Nâu. Bà Năm Thêu dù là người tệ hại thế nào, ít ra cũng biết giữ lời hứa, không xì ra chuyện anh đã ngủ với con gái bà, mà nói ra thì mẹ con bà cũng mang tiếng xấu chứ hay ho gì. Có lẽ đó mới là cái “tình làng nghĩa xóm” của bà, mà anh mong muốn nhất.

    Bây giờ Khoa đã hiểu vì sao bà Năm Thêu đon đã hỏi thăm anh, mời anh ăn cơm hàng nhà bà và gài độ cho cô Nâu, đứa con gái đã từng bán thân nuôi miệng, nuôi cả gia đình, đến với anh, như một đứa con gái trong trắng con nhà nghèo hiền lành, để anh lọt vào cạm bẫy tình yêu của mẹ con cô.

    Bây giờ anh cũng hiểu con bé Mốc thuở lên 13, không hề là đứa trẻ ngây thơ, nó đã tinh ranh, biết rình rập khi anh tắm và khi vợ chồng anh vào phòng ngủ.

    Thảo nào khi hai người gần gũi, cô Nâu đã tỏ ra rất nhiệt tình, biết cách làm cho anh thêm say đắm.

    Suốt mấy tuần lễ cô Nâu mang cơm cho anh, cô đã đóng vai kịch con nhà nghèo, ngây thơ, thật xuất sắc, qua mặt thằng đàn ông thật thà và nhiều tình cảm như anh dễ dàng. Những giọt nước mắt, những lời thổn thức yêu đương của cô dành cho anh, có lẽ cô cũng từng dành cho nhiều người đàn ông khác để làm họ hồn siêu phách tán. Đó là nghề của cô.

    Khoa thấp thỏm lo âu lén vợ đi thử máu, xem có dương tính HIV không, có bị lây nhiễm từ cô Nâu không? mặc dù một năm qua anh không thấy có dấu hiệu gì khác lạ cho sức khỏe.

    Kết qủa thử máu làm anh sung sướng như vừa được cứu sống từ cõi chết, anh bình thường không hề bị HIV.

    Có thể cô Nâu bị bệnh HIV nhưng may mắn cho anh đã không bị lây nhiễm? hoặc có thể sau khi chia tay anh cô Nâu mới bị bệnh HIV, khi cô giao tiếp với những người đàn ông khác??

    Thôi, dù vì lý do gì anh cũng hãy cảm tạ thượng đế đã che chở cho anh an toàn sau một cơn sốt tình mê dại.

    Anh đã trả gía cho cơn sốt tình ấy 10 ngàn đô la, qúa đắt so với “gía cả” bình thường của cô Nâu “đi” với những người đàn ông khác, và suýt nữa bằng cả sinh mạng của anh và vợ anh, cũng như tương lai của hai con sẽ ảnh hưởng không biết tai hại đến chừng nào.

    Nguyễn Thị Thanh Dương

    https://www.facebook.com/photo.php?f...type=3&theater

  6. The Following 2 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    hoang yen (04-19-2019), khongquan2 (04-18-2019)

  7. #286
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,187
    Thanks: 7,823
    Thanked 5,262 Times in 1,160 Posts

    Button Xanh Xin Gởi Vào Thiên Thu

    Xin Gởi Vào Thiên Thu
    Đoàn Minh Chiếu
    (phu nhân của một cựu Thiếu Tá khóa 11/SQTBTĐ)

    Truyện được viết theo chuyện kể của một thương binh VNCH.

    Người viết: bà Đoàn minh Chiếu thân hữu Hội Cựu QDCC& Hậu Duệ St Louis, Missouri
    -Sinh năm 1943 Tại Nha Trang
    -Nữ Sinh TH/Đệ nhị cấp Kim Yến Nha Trang
    -Chuyên viên Tiếp Liệu Binh Đoàn TĐ631/Yểm trợ Truyền Tin
    -Nhân viên MACV phòng cố vấn Mỹ tại TĐ 631/YTTT
    -Nhân viên phòng Chiến Tranh Tâm Lý thuộc BTLHQ/QLVNCH
    -Người chuyển bài Vũ Hải

    Chiếc xe gắn máy do một người đàn ông lái chở Tuệ từ Sàigòn về hướng Biên Hòa, sau 30 phút đã dừng lại tại một điểm bên xa lộ. Tuệ rời xe với chiếc nạng gỗ, anh rút túi đưa tiền cho người lái xe ôm, nói lời cám ơn rồi vội vã nhấc từng bước đi vào nghĩa trang QĐ/VNCH Biên Hòa. Tuệ đưa mắt nhìn một lượt quang cảnh trước mặt, mọi vật còn giữ lại đôi nét cũ xưa. Cổng tam quan vẫn đứng sừng sững giữa trời mang dấu vết của hai hàng chữ kiên định trên hai thân cột, bên phải “ Vì dân chiến đấu”, bên trái “Vì nước hy sinh”. Những hàng chữ này trước 75 đã được sơn son thếp vàng trân trọng, ghi khắc lòng ngưỡng mộ tôn kính đối với những người con yêu của Tổ Quốc. mặc dù sau 30/4/75 bọn việt cộng đã vội vàng đục bỏ những khầu hiệu cao quý đầy ý nghĩa này, cũng như chúng đã kéo sập bức tượng “Thương Tiếc” người chiến sĩ Quốc Gia được đặt trước Nghĩa trang Quân Đội, nhưng dưới ánh mặt trời chúng không thể che dấu hay xóa bỏ được lòng dũng cảm của trên 14 ngàn Chiến Sĩ Quốc Gia đã vùi chôn thân xác trong lòng đất mẹ.


    Bức tượng "Thương Tiếc" Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa trước 1975


    Bức tượng "Thương Tiếc" Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa sau 1975

    Tuệ khó khăn bước lên từng bậc cấp với chiếc nạng gỗ trong tay, dưới chân anh là những vết rạn nứt bởi thời gian, vì mấy chục năm qua chính quyền việt cộng cấm không cho thân nhân được phép viếng thăm nói chi đến việc sửa sang hay trùng tu những mộ phần đã bị sụp đổ. Phải chăng chúng quá sợ hãi lòng ngưỡng mộ của đồng bào miền Nam dành cho những người đã chết vì Chính Nghĩa Quốc Gia.?

    Sau nhiều cố gắng Tuệ cũng đã lên được nghĩa trang anh đưa tay áo thấm mấy giọt mồ hôi trên trán và dừng lại dưới một bóng mát nghỉ chân. Nắng vừa lên cao chiếu xuống những hàng cây còn đọng lớp sương mai, Tuệ liên tưởng đến những ngấn lệ của mẹ già, của những người cô phụ bên đàn con nhỏ đã từng dìu dắt đến đây với bao nỗi đau xót ngậm ngùi để tiễn biệt người thân yêu của mình trong một lần cuối…

    Ngồi đây Tuệ có thể nhìn về một góc đồi xa, những hàng cây cao vút vẫn còn đó, chúng đã trải qua bao năm tháng dưới mưa dầm nắng cháy để minh chứng trước “hồn thiêng sông núi” cho hàng hàng lớp lớp người trai , đã hy sinh xương máu trong các cuộc chiến chống kẻ thù cộng sản miền bắc xâm lược.

    Từ ngày miền Nam bị bức tử cũng là ngày toàn dân Nam hối hả bỏ nước ra đi , thêm một lần nữa súng đạn của kẻ thù cộng sản hung tàn đã làm tan nát quê hương này, gây ra bao cảnh máu lửa điêu linh cho hàng vạn dân lành vô tội trong ngày 30/4/75.

    Nghĩ đến đây, Tuệ thấy lòng se thắt, một cái gì đang còn khuất tất trong tim. Anh cúi nhặt một hòn sỏi và ném mạnh vào hư không, chợt một cánh chim từ trên cành cao bay sà xuống rồi vút lên mất dạng trong vòm trời bao la. Tuệ ngước nhìn bầu trời xanh lơ, vài sợi mây trắng buông lơi giữa không gian huyền diệu , gợi anh nhớ đến những cánh dù căng gió, mang đầy ắp những kỷ niệm oai hùng trong đời quân ngũ.

    Vừa tốt nghiệp Đại học xong, Tuệ quyết định dấn thân vào đường binh nghiệp để phục vụ đất nước. Cánh dù từng là tri kỷ đối với Tuệ, nó đồng hành bên anh trong các cuộc hành quân cam khổ khi chọn điểm để rơi giữa lòng địch, khi nương theo chiều gió và đáp xuống những vùng rừng thiêng nước độc, nơi chưa có dấu chân người khai phá, trước khi toán anh chờ lệnh đến tọa độ.

    Nó đã bao lần cùng anh đặt chân lên những vùng đất giao tranh đầy lửa đạn, bao lần hoan ca trong chiến thắng huy hoàng, và cũng nhiều lúc đớn đau nghiêng mình trước những hy sinh cao cả của anh em đồng đội. Là chiến sĩ anh luôn đặt mình trong danh dự và trách nhiệm. Khi chiến trường sôi động, nhận lệnh, anh hăng hái lên đường đến vùng lửa đạn nơi đang xảy ra những cuộc tranh hùng, tử thủ của những người chiến sĩ can trường đã xông pha giành lại từng tấc đất cho quê hương này. Cuộc đời anh như cánh diều luôn bạt ngàn trong gió, ít nhiều đã làm thỏa chí tang bồng của người trai thời loạn.

    Cho đến một ngày…ngày Tuệ bàng hoàng nuốt lệ rời xa cánh dù vĩnh viễn, khi anh để lại chiến trường Bình Long một phần thân thể của mình vào đầu (Tuệ mất chân trái khi anh đáp xuống trên bãi mìn) vào năm 1975.

    Anh được đưa về điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hòa nơi đây anh được chăm sóc đặc biệt về thể chất đến tinh thần. Cùng phòng với anh có nhiều chiến sĩ toàn thân bị thương tích, nhưng các anh không một lời kêu than hay oán trách, có lẽ Danh Dự và Trách Nhiệm trên đôi vai người Chiến Sĩ Quốc Gia đã cho họ sự vững mạnh và chí khí?Tuệ còn nhớ, hôm ấy là ngày 30-4-75. Một sự thật não lòng đã bất ngờ xẩy ra tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Tin cộng quân cưỡng chiếm Sàigòn, không lâu chúng đã tràn vào Tổng Y Viện và yêu cầu tất cả thương bệnh binh “khẩn trương” rời khỏi bệnh viện theo lệnh của chúng.Trước một sự thật qúa phũ phàng, các anh không khỏi bàng hoàng do dự, nhưng chỉ trong thoáng chốc khi chạm phải những bộ mặt rừng rú, những người thương bệnh binh đã lấy lại sự bình tĩnh để chỗi dậy.

    Họ chấp nhận ra đi đang khi thân thể mang đầy thương tích, còn hơn phải đối diện với kẻ thù trước cảnh thảm bại đầy tủi nhục này. Tâm hồn họ buốt đau như cánh chim bị đạn, họ cảm thấy bị chới với như con thuyền mất định hướng giữa trùng khơi . Trong lúc này không ai còn thốt lên được lời nào dù chỉ một lời chia tay. Tuệ cũng như số đông các anh em khác đang từ từ tiến ra khỏi phòng bệnh, họ cố dấu trong tim sự bẽ bàng tủi hổ của người đã từng cầm súng xông pha diệt thù bảo vệ non sông.

    Từng bước di chuyển của mỗi người thương bệnh binh, là từng nỗi đau gậm nhấm trong tinh thần và trên thân xác đang mang đầy những vết thương còn rướm máu của chiến trường, nhưng họ vẫn thu hết can đảm trong hơi thở tàn để ngẩng mặt mà đi trước đôi mắt hằn học vô cảm của kẻ thù xâm lược, vì họ là những thương binh có Lý Tưởng và Danh Dự, bỗng chốc trở thành kẻ sa cơ lạc bước trên đường đời như đàn con mất mẹ sau lệnh buông súng đầu hàng nhục nhã của Dương văn Minh, để giao nửa phần giang sơn còn lại cho việt cộng.

    Rồi đây họ sẽ về đâu, dưới một trời đầy giông bão? Nhất là một số các thương binh có gia đình còn kẹt trong vùng lửa đạn, vì bận đi chinh chiến lâu ngày họ không nhận được tin tức ở quê nhà. Nhiều anh đau đớn kéo lê khúc chân mới được băng bó còn rướm máu. Có những anh bị mất cả hai chân hay bị mù cả hai mắt phải nhờ bạn đưa ra cổng. Trong phòng hồi sinh còn nằm la liệt những thương binh từ chiến trường mới được tải thương về hôm trước, thân thể và trên đầu còn quấn những băng trắng thấm máu, họ đang nằm tiếp dưỡng bằng những ống dẫn thuốc và bình nước biển treo lủng lẳng trên đầu giường cũng phải đứng dậy mà đi, và còn rất nhiều thảm cảnh khác trong bệnh viện mà bất cứ ai có chút nhân tâm cũng thấy mủi lòng xót xa cho số phận những người thương bệnh binh trong ngày quốc nạn 30-4-75. Những sự kiện đau khổ ấy không chỉ đến với họ trong một ngày, nhưng các anh còn phải hứng chịu nhiều sự bạc đãi cho đến về sau.

    “Hỡi Đấng chí Cao! Thù nước chưa trả xong, ai đã nhẫn tâm đem màn đêm bao trùm lên những mảnh đời tan tác này ?”

    Thật đau lòng khi nghĩ đến những người thương bệnh binh VNCH phải sống một cuộc sống đầy tủi nhục dưới chế độ cộng sản.

    Họ thiếu tình thương và sự nể trọng của mọi người, họ sống âm thầm trong cảnh cơ cực bần hàn giữa sự ghẻ lạnh đến tàn nhẫn của xã hội. Từng ngày qua, họ lê tấm thân tìm kiếm mưu sinh trên các hè phố đông người, để góp nhặt những chiếc lon hay bao nhựa rơi vãi trên lề đường, hầu mong có chút tiền độ nhât giữa lòng một thành phố mang tiếng là đổi mới với những cao ốc của các cấp cầm quyền quan lại tham ô, những dinh thự đồ sộ nguy nga ngày đêm luôn có người hầu kẻ gác của bọn tư sản đỏ thi nhau mọc lên như nấm. Một xã hội mất gốc đang lao mình học đòi theo lối sống vật chất xa hoa tội lỗi, mặc cho luân lý đạo đức suy đồi, có mấy ai còn biết tôn trọng nhân cách để quan tâm đến những con người cùng khổ này?

    Họ là những ai?

    Phải chăng họ là những người con yêu của đất nước, là những chiến sĩ can trường đã góp phần xương máu đẩy lùi những bước xâm lược của cộng sản vào miền Nam, suốt mấy mươi năm dài cho đến khi quê hương bị bức tử.

    Tuệ cũng như các anh thương binh khác, ngày bị xua đuổi ra khỏi bệnh viện trong một bối cảnh lịch sử thật đau lòng. Tuệ lầm lũi đi trên đường Võ di Nguy Phú Nhuận để về nhà, lòng anh như dao cắt, khi nhìn nửa phần đất nước còn lại hôm nay đã rơi vào tay kẻ thù. Định mệnh sao qúa khắt khe với Dân Tộc Việt Nam, máu đã chảy thành sông, xương đã chất thành núi của một thế hệ vừa nằm xuống để cuối cùng phải nhận một hâu qủa đầy bi đát như thế này sao?

    Xa vắng gia đình đã lâu, giờ đây Tuệ như cánh chim tìm về tổ ấm, nơi đó chính là nguồn an ủi duy nhất cho quãng đời còn lại của chàng…

    Bỗng Tuệ dừng bước trước một địa chỉ thân quen, nơi mà trước đây từng đón anh với nụ cười nở rộng, những ánh mắt chan chứa tình thương của mẹ hiền và em dại. Hôm nay thì cửa đóng then cài như vô tình ném vào mắt anh một thái độ hờ hững lạnh lùng, một thách đố cuồng bạo, vô hình trung đã dập tắp trong anh niềm tin vừa nhen nhúm.

    Tuệ đứng lặng người như kẻ mất hồn, cảnh cũ còn đây mà người xưa đâu thấy ? Bất giác hai hàng nước mắt tuôn dài trên má Tuệ, tâm hồn anh như đang rơi xuống tột cùng của một vũng sâu tăm tối. Lần đầu tiên Tuệ chảy nước mắt trước nghịch cảnh cuộc đời.

    -Phải, Tuệ đã khóc !

    Anh khóc cho ngày quê hương bị bức tử cho những bước chân tháo chạy bất chấp mọi hiểm nguy để tìm hai chữ “Tự Do”, và khóc cho nỗi cô đơn của chính mình!

    Trong lúc Tuệ còn bối rối chưa biết xử trí thế nào, dù sao anh cũng cần có chỗ để nghỉ ngơi, Tuệ chợt nhìn thấy một người sửa xe bên lề đường anh liền đến mượn một thanh sắt nạy chốt cửa để vào nhà. Cảnh vật bên trong không thay đổi, chỉ có những ngăn tủ được kéo ra nửa chừng còn vung vãi đồ đạc ra ngoài, chứng tỏ gia đình anh đã ra đi trong giây phút vội vàng. Qua mấy ngày nghỉ ngơi yên tĩnh Tuệ đã lấy lại sức khoẻ phần nào. Tuy vậy lòng anh vẫn canh cánh một nỗi buồn vì thiếu vắng người thân, chàng không khỏi lo lắng cho sự ra đi đầy gian khổ của gia đình.

    Mới độ nào, trong một ngày về thăm nhà, không khí gia đình thật vui vẻ, lúc nào bên anh cũng có những tiếng cười nói của cha mẹ và các em. Hôm nay căn nhà trở nên quạnh quẽ đìu hiu , tuy nhiên trong âm vang xa vời ấy như vẫn còn lưu lại chút nguồn sinh khí trong hơi thở của chàng, nó bồi đắp phần nào sự mất mát to lớn của người thương binh ấy.

    Không ngờ sau một tuần được hưởng sự bình yên trong ngôi nhà ấm cúng của cha mẹ. Buổi sáng hôm ấy Tuệ đang nằm đọc sách, bỗng có nhiều tiếng đập cửa, chàng đứng lên và ra mở cửa, một toán người mặc quân phục và có mang súng bước vào nhà, chúng bảo Tuệ xuất trình giấy chủ quyển nhà.

    Tuệ nói “gia đình đi về quê không để giấy tờ ở ngoài”.

    Chúng thấy Tuệ không có giấy chủ quyền nhà, liền đọc lệnh tiếp thu của “Uỷ Ban Quân Quản” , buộc Tuệ phải ra khỏi căn nhà này ngay, và chúng nói “Nhà này thuộc thành phần tư bản đã bỏ chạy theo đế quốc, phải bị niêm phong”

    Thế là một lần nữa, Tuệ phải ra đi trong tủi hận, anh ngậm ngùi quay lại nhìn ngôi nhà thân yêu một lần chót, nơi ấy đã chất chứa biết bao kỷ niệm thăng trầm trong cuộc sống của gia đình anh từ mấy chục năm qua, bỗng nhiên bị tước đoạt cách trắng trợn bởi lũ người tự nhận là giải phóng..Chúng đã giải phóng đồng bào ra khỏi sự bình yên bằng bàn tay bạo lực.

    Thời gian trôi qua hơn một tháng trong cảnh lang thang không nhà, Tuệ phải bán chiếc đồng hồ đeo tay của anh để mua một chiếc bàn xếp nhỏ và một số thuốc lá để bày bán bên lề đường, khi đêm về Tuệ vào nghỉ trong lều chợ đến sáng hôm sau anh lại trở ra lề đường để kiếm kế sinh nhai. Và như thế cho đến một hôm, Tuệ vào trú mưa bên hè phố tình cờ anh đã gặp lại Tuyên, người bạn cũ trong đơn vị dù của chàng trước đây. Tuyên là thuộc cấp của Tuệ, hai bạn gặp nhau trong cảnh đời lam lũ họ xiết bao vui mừng, họ nóng lòng hỏi thăm tin tức của nhau như ruột thịt. Tuyên có vợ một con, anh hiện sống bằng nghề mua rau cải từ chợ cầu Muối đem bỏ mối cho các chợ nhỏ vùng lân cận. Tuệ cũng kể hoàn cảnh của mình cho Tuyên nghe, Tuyên rất cảm động không ngờ Tuệ bây giờ phải chịu một cuộc sống bi đát như thế! Bỗng Tuyên nhìn sâu vào mắt Tuệ với nét mặt chân thành Tuyên nói:

    Tuệ, anh về nhà tôi ở.

    Thấy Tuệ không trả lời Tuyên nói tiếp:

    -Tụi mình là bạn với nhau trong quân ngũ anh còn ngại gì? Hơn nữa anh cứ ở ngoài chợ bất tiện lắm, nhỡ khi đau ốm thì sao?

    Tuệ mỉm cười nhìn bạn anh nói;

    -Tôi biết anh có lòng tốt muốn giúp tôi, nhưng anh còn…

    Tuyên hiểu ý Tuệ còn ngại vợ Tuyên, anh vồn vã ngắt ngang lời Tuệ:

    -Anh khỏi lo, vợ tôi hiền lành và tốt bụng…

    Hiểu được chân tình của bạn, Tuệ vui vẻ bắt tay Tuyên để tỏ lòng biết ơn, hai bàn tay xương xẩu xiết chặt nhau như không muốn lìa xa. Chiều hôm ấy khi trời vừa dứt cơn mưa, Tuyên chở Tuệ về nhà chàng trên chiếc ba gác còn vươn lại những lá rau cải, họ tiếp nối câu chuyện trên đường cho đến khi xe rẽ vào một ngõ hẻm quanh co, dẫn đến khu nhà sàn ở ven sông cầu Trương minh Giảng, Tuyên đưa Tuệ vào nhà, đó là căn nhà sàn bằng ván được đắp vá bởi những miếng cartons. Tuyên liền giới thiệu Tuệ với Thanh vợ của chàng và cho Thanh biết ý định của mình là mời Tuệ về ở chung để anh em có nhau trong cảnh xế chiều.

    Thanh nghe Tuyên nói, nàng vui vẻ tiếp lời chồng:

    Phải đó anh Tuệ, anh nên về ở đây với anh Tuyên. Chúng ta bây giờ là những kẻ bị đắm tàu, mình nên đùm bọc nhau nếu không bằng vật chất thì ít ra cũng trong tinh thần “Huynh đệ chi binh”! Nghe Thanh nói với vẻ mặt ân cần, cả ba đều cười tươi vui vẻ.

    Từ hôm ấy, Tuệ không còn đơn độc nữa, vợ chồng Tuyên đối với Tuệ như người thân trong gia đình. Phần Tuệ, sau một ngày kiếm sống bên lề đường với chiếc bàn con bán thuốc lá, tối về anh tìm nguồn vui trong việc dạy kèm cho đứa con trai của Tuyên đang học lớp 8.

    Từ ngày gia đình Tuyên có thêm Tuệ, cảnh sống vẫn đơn nghèo nhưng hạnh phúc của họ được nhân lên trong tình người. Tuệ không ngờ việc làm nhỏ bé ấy đã mang đến cho chàng niềm khích lệ qua các cuộc thi sát hạch có thành qủa đáng khen ở trường của con trai Tuyên, nhờ đó Tuệ được nhiều người trong xóm biết đến và cảm mến anh qua vợ chồng Tuyên. Họ gởi con đến nhờ Tuệ kèm vào buổi tối, từ đó Tuệ trở thành ông giáo trong xóm nhỏ.

    Môt buổi chiều trên đường về nhà, Tuệ nghe như có ai gọi tên mình, chàng vội quay lại. Thoa đang đứng trước cửa tiệm may của nàng chờ Tuệ đến, chàng vui vẻ hòi Thoa:

    - Có gì không cô Thoa?

    - Dạ em định nhờ anh kèm dùm toán cho Huy, em trai của em.

    Tuệ hỏi: Huy đang học lớp mấy?

    -Dạ nó đang học lớp 9, em nhờ anh giúp nó vào cuối tuần.

    Tuệ nói: tôi chỉ rảnh vào buổi tối, vậy khi nào cô cho Huy đến học?

    Thoa ngập ngừng vài giây và nói:

    -Em muốn thưa với anh một việc không biết có trở ngại gì cho anh không?

    Tuệ trả lời nàng: có gì cô cứ nói, nếu được tôi xin sẵn sàng.

    -Em muốn mời anh đến nhà kèm nó, vì buổi tối nếu Huy đi vắng chỉ có một mình ở nhà em ngại lắm!

    Tuệ suy nghĩ vài giây anh trả lời:

    Được chiều mai tôi sẽ đến lúc 7 giờ.

    Hai người chào tạm biệt và hẹn sẽ gặp lại.

    Thoa có một tiệm may nhỏ gần mặt đường Trương minh Giảng. Thân phụ Thoa lúc sanh tiền là một Sĩ Quan Không Quân cao cấp. Ông đã anh dũng đền nợ nước khi lái oanh tạc cơ ra bắc cách đây gần 10 năm. Mặc dù thân xác không còn nhưng QLVNCH đã trân trọng vinh danh, làm lễ truy điệu theo quân cách và dựng tấm bia danh dự khắc tên của thân phụ nàng đặt trong nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà.

    Sau biến cố đau buồn đó, mẹ Thoa buồn rầu lâm bệnh và không lâu bà đã qua đời. Từ đó cuộc đời Thoa bị rơi vào những chuỗi ngày đau khổ, nàng tìm quên trong bổn phận làm chị thay mẹ để yêu thương và chăm sóc cho em trai của nàng.

    Có lẽ vì thế mà từ lâu Thoa chưa nghĩ đến việc riêng tư của mình. Thoa năm nay vừa 28 tuổi, nàng có một vẻ đẹp dịu hiền và đôi mắt hồ thu. Cô ăn mặc kín đáo nết na so với một số bạn gái đương thời.

    Từ khi gặp Tuyên, Tuệ như vớ đuợc chiếc phao giữa giòng, vợ chồng Tuyên đã đem lại cho anh một không khí gia đình đầm ấm qua những bữa cơm chiều bên dĩa rau cà đơn sơ, họ chia sẻ cho nhau những cay đắng ngọt bùi sau một ngày lao động vất vả.

    Thời gian Tuệ kèm toán cho Huy thấm thoát đã gần hai năm tròn. Tình cảm giữa Tuệ và chị em Thoa ngày càng thêm thân thiết. Thoa và Huy xem Tuệ như một người thân trong gia đình. Riêng Tuệ anh luôn giữ một tác phong đứng đắn khi tiếp xúc với Thoa và Huy, điều đó đã làm cho Thoa luôn chú ý đến chàng hơn. Đôi lúc ẩn mặt trong phòng, Thoa nhìn Tuệ qua bức rèm thưa, thấy anh đang chăm chú chỉ bài cho Huy: Tuệ có vầng trán rộng và đôi mắt sâu cương trực, nhưng không dấu được nỗi buồn đang ẩn khuất sau hàng mi thâm đen của chàng, cũng với đôi mắt này, đôi khi đã để lại trong lòng Thoa một thoáng buồn vu vơ hay một chút thẹn thùng nơi tâm tư thầm kín của người con gái đang yêu. Thoa thầm mong có dịp ngồi bên Tuệ để nghe Tuệ nói về đời chàng.

    Thế rồi trời như cũng chìu lòng người! Hôm ấy vào một đêm cuối tuần, trời bỗng giăng mây xám và đổ mưa, những giọt mưa nặng hạt kéo dài đến nửa đêm làm cả khu xóm đều bị mất điện, vì thế sau giờ dạy học cho Huy Tuệ phải ngồi nán lại chờ qua cơn mưa. Bên ngọn đèn dầu vàng nhạt, mùi trầm hương từ bàn thờ của song thân lan tỏa làm cho bầu khí trong gian phòng Thoa thêm ấm cúng và trang nghiêm. Qua những mẫu chuyện vui thông thường, hai người đã đi dần vào tâm sự của nhau. Thoa kể từ khúc nhôi đau buồn của gia đình mình cho Tuệ nghe. Sau cái chết của thân phụ, chẳng bao lâu, rồi mẹ cũng qua đời. Kể đến đây Thoa không nén được nỗi lòng, nàng úp mặt vào đôi tay thổn thức.

    Tuệ nhìn Thoa lòng anh trĩu xuống những giọt buồn, từng ngấn lệ trong mắt Thoa cơ hồ như mời gọi lòng trắc ẩn của chàng. Tuệ không còn giữ khoảng cách của mọi ngày, anh đưa tay vén những sợi tóc lòa xòa trên trán Thoa và nói:Thoa, đừng khóc nữa, anh xin lỗi đã vô tình khơi dậy nỗi đau buồn trong em.Thoa ngẩng nhìn Tuệ với đôi mắt còn ướt lệ, đôi má nàng ửng hồng như cánh hoa tím trong nắng sớm. Thoa có một vẻ đẹp dịu hiền thanh tú, một vóc dáng sang trọng quý phái của con nhà khuê các. Nàng là hiện thân của người phụ nữ đoan trang mà trước đây Tuệ đã từng mơ ước. Tuệ không muốn để Thoa kể tiếp câu chuyện buồn của nàng, anh cắt ngang bằng một câu nói hóm hỉnh: Bây giờ đến lượt anh, Thoa muốn anh kể chuyện vui hay buồn? Nghe Tuệ hỏi, Thoa lau vội nước mắt, nàng lấy lại vẻ mặt tự nhiên và hỏi:

    Em có thể nghe được cả hai không?

    Vẫn giọng hóm hỉnh Tuệ trả lời:

    Nếu muốn anh kể cả hai khi nghe chuyện buồn của anh Thoa không được khóc nhá!

    Thoa mỉm cười không nói, nàng yên lặng chờ đợi.

    Gương mặt Tuệ thoáng vẻ trầm tư, đôi mắt chàng như tìm về một qúa khứ xa xăm, nơi có những kỷ niệm êm đềm mà từ lâu Tuệ đã muốn chôn chặt tận đáy lòng. Bằng một giọng trầm buồn, Tuệ chậm rãi kể cho Thoa nghe mối uẩn khúc của lòng mình.

    Từ khi Tuệ rời sân trường Đại học để đi làm nhiệm vụ của nguời trai, tình yêu của chàng cũng bắt đầu chấp cánh. Người con gái mà chàng đã đặt tất cả kỳ vọng trong tim yêu giờ đã sang ngang, để lại cho chàng nỗi cô đơn rã rời. Nhưng thời gian vẫn là phương thuốc nhiệm mầu đã xoa dịu những vết thương nơi lòng người.

    Đôi khi trong đời lính chiến, có những tình yêu chợt đến rồi chợt đi như cơn gió thoảng, như một đám mưa rào, lòng anh vẫn thản nhiên không luyến tiếc. Thế mà hôm nay khi đối diện với một tâm tình đáng yêu, trước vẻ đẹp đơn sơ của người con gái dịu hiền, nàng cũng chung mang một số phận khổ đau vì đất nước, tự nhiên lòng Tuệ dấy lên sự đồng cảm dạt dào, chàng thấy mình không còn cô đơn như vẫn tưởng. Trái tim khô héo của chàng bỗng rộn lên một tình khúc yêu thương.

    Chợt Tuệ cầm lấy tay Thoa và gọi khẽ tên nàng, Thoa e thẹn cúi đầu với đôi rèm mi xao động, mớ tóc dài óng mượt che khuất một bên khuôn mắt trái xoan làm tăng thêm vẻ đẹp mơ huyền dưới ánh đèn khuya. Thoa lúng túng muốn lấy tay về, nhưng Tuệ đã giữ bàn tay nhỏ bé ấy trong tay chàng.
    Ngoài trời mưa vẫn êm đềm rơi trong màn đêm cô quạnh. Phải chăng mưa đang xua tan bao nỗi sầu nhân thế, mưa ru mộng đời bên giấc ngủ cô đơn, đem nồng say lên môi tình nở muộn, và như thế…

    Xin mặt trời hãy ngủ yên cho đêm dài vô tận!

    ***

    Lệnh giải tỏa khu nhà sàn ven sông khu cầu Trương minh Giảng từ lâu đã làm xôn xao dư luận của một số cư dân thường trú ở đó, thế nhưng trong cảnh cùng túng họ đành buông xuôi cho số phận…

    Hôm ấy là một đêm vào hạ tuần tháng 5, đang lúc mọi người đắm chìm trong giấc ngủ sau một ngày lam lũ khó nhọc. Bỗng có tiếng kêu la cầu cứu của một người trong nhà còn thức, họ vừa phát hiện một đóm lửa từ mặt sông của ai đó quẳng về hướng khu nhà sàn. Ngọn lửa bùng cháy nhanh và lan toả trên mái nhà. Họ đánh thức nhau dậy và tận dụng nhiều cách để dập tắt ngọn lửa oan nghiệt, đang thản nhiên thiêu rụi những mảnh đời chắp vá này. Nhưng không kịp vì ván và carton là loại mồi bắt lửa dễ dàng.


    Đền Tử sĩ-Cổng Tam Quan trước 1975


    Đền Tử sĩ-Cổng Tam Quan sau 1975

    Đêm hôm ấy, Tuyên bận đi gác dân phòng bên khu xóm khác, Tuệ đã giúp vợ con Tuyên mang được một số đồ đạc ra ngoài an toàn. Chợt có tiếng kêu cầu cứu của một cụ già vừa chạy ra khỏi nhà, còn lại đứa cháu nhỏ hai tuổi đang ngủ say bên trong, cha mẹ cháu phải đi bán hàng rong ở ga xe lửa. Tuệ nghe nói liền bỏ chiếc nạng, anh phóng người vào trong, lập tức vực đứa bé lên và ném nó ra ngoài cho những bàn tay đang chờ sẵn. Trong phút chốc ngọn lửa đã bốc cao lên mái, Tuệ phải trườn thật nhanh trong đám khói đen mù để thoát thân, vừa lúc ấy một cây đà ngang rớt xuống làm Tuệ phỏng nặng trên vai.

    Rạng sáng Tuyên mới về, chàng nhìn khu nhà sàn bây giờ chỉ còn lại đống tro tàn ngun ngút khói, lòng anh buồn vô hạn..

    Thoa nghe tin cũng vừa đến thăm chia buồn với gia đình Tuyên và Tuệ, nàng ngỏ ý mời gia đình Tuyên và Tuệ về tạm trú nơi nhà nàng. Trước cử chỉ ân cần của Thoa, vợ chồng Tuyên và Tuệ rầt cảm động. Thật lòng họ không muốn làm phiền Thoa, nhưng trong bước đường cùng, họ đành phải nhận lời mời của Thoa. Chỉ vài hôm sau Tuyên đã tìm được chỗ ở chung với người bà con bên Khánh Hội, chàng mời Tuệ về ở với gia đình chàng như trước đây, nhưng Tuệ không muốn làm phiền Tuyên, anh tỏ ý sẽ tìm một nơi ở khác.

    Riêng Thoa nàng cố giữ Tuệ ở lại lâu hơn vì vết bỏng trên vai chàng khá nặng. Trước khi dọn về Khánh Hội, Tuyên đã đề vào túi áo Tuệ một ít tiền đi xe và một mảnh giấy ghi đia chỉ mới của chàng. Tuệ ngồi yên nhìn bạn với ánh mắt đầy cảm động. Đến giờ phút này, trong cảnh mất nước nhà tan, bạn bè vẫn còn giữ được cái nghĩa khí thiêng liêng của ngày nào trong quân ngũ. Ý Tuyên không muốn rời xa Tuệ, nhưng làm sao Tuệ có thể thật tình đến thế được ? Khi gia đình Tuyên đang khốn đốn trong cảnh ở nhờ, lại phải cưu mang thêm Tuệ nữa ? Ngược lại, nếu Tuệ không ở với Tuyên sau khi rời nhà Thoa, Chàng sẽ đi đâu ? Câu hỏi được đặt ra, nhưng câu trả lời chỉ là những tiếng thở dài trăn trở của Tuệ giữa đêm trường.

    Qua cử chỉ săn sóc hằng ngày, Tuệ hiểu được Thoa rất mến yêu chàng. Nhưng định mệnh khá trớ trêu, nếu cơn mưa chiều đừng đổ xuống để nước mắt người em gái không tuôn rơi theo kỷ niệm của giòng đời, để bàn tay không tìm đến một bàn tay và đôi môi chưa nói lời yêu đương thật thà, thì hôm nay có đâu trái tim chàng phải đau xót khi nói lời chia tay ?

    Tuệ thầm nghĩ: “ nêú chàng đón nhận tình yêu của Thoa trong lúc này, vô tình chàng sẽ làm khổ cho Thoa, điều đó Tuệ không bao giờ muốn dù với bất cứ hình thức nào”. Vì thế Tuệ phải khẩn cấp làm theo quyết định của mình, cho dù trái tim chàng đang rướm máu, Tuệ vẫn không để cho Thoa phải khổ vì yêu chàng. Tuệ thấy mình nên ra đi sớm để tránh gieo vào lòng Thoa những khổ lụy về sau. Tuệ liền thu xếp vài vật dụng cá nhân để vào trong xắc đeo vai của chàng, còn các thứ khác Tuyên đã mang đi trước. Đợi đến giờ Thoa đi chợ, Tuệ mới thực hiện được ý định của mình, chàng tiến ra một ngã tắt đến mặt đường, gặp chiếc xe ôm vừa trờ tới, không còn sự chọn lựa nào khàc chàng đưa tay ra dấu, chiếc xe ôm dừng lại Tuệ bước vội lên xe và bảo người lái xe ôm chạy về hướng Khánh Hội.

    Khi về đến nhà, Thoa không thấy Tuệ ngồi xem sách ở thư phòng như mọi ngày, mắt nàng bắt gặp một mảnh giấy xếp đôi để trên bàn , Thoa cầm lên đọc:

    “ Thoa,em!

    Anh phải viết gì cho em trong phút chia tay này ?

    Một lời cám ơn, ngàn lời thương hay vạn lời yêu, tất cả chỉ là những gì rất nhỏ, so với ân tình em đã dành cho anh trong những ngày qua. Anh xin được mang theo trong tim mình để mãi nhớ đến em. Anh có việc phải ra đi, mong em hiểu và không buồn.

    Em là tất cả!... Tuệ”

    Thoa xếp thư bỏ vào túi áo, nàng ngồi im trong căn phòng vắng lặng. Tuệ đã rời xa Thoa thật rồi, nhưng hình ảnh chàng vẫn còn in đậm trong tâm tư nàng mãi mãi. Hình ảnh của một thanh niên giàu lòng yêu nước đang bị đoạ đày bởi một vết thương rất thiêng liêng trong tâm hồn, đó là “Tình Yêu Tổ Quốc”

    Vết thương đó Thoa cũng chung mang qua sự hy sinh của thân phụ nàng. Thật ra, Thoa đã đoán biết ngày ra đi của Tuệ qua những lần ngồi trò chuyện bên nhau.
    Tuệ vẫn còn giữ tư cách đặc biệt của một quân nhân VNCH dù ở hoàn cản nào chàng cũng không đánh mất danh dự và khí phách của một người, đã từng được rèn luyện trong môi trường đầy nhân cách có một truyền thống quảng đại kỷ luật biết quên mình cho kẻ khác. Thoa không nhìn Tuệ như một người khuyết tật, nhưng nhìn anh với đôi mắt sáng ngời, hiên ngang trong bộ quân phục hào hùng của người chiến sĩ “ Mũ Đỏ” đã một thời góp phần gìn giữ non sông, cho dân lành hậu phương được hưởng những tháng ngày bình yên. Có lẽ tình yêu của Thoa đã đến với Tuệ được bắt nguồn từ lòng ngưỡng mộ ấy.

    Vì thế, trong thời gian Tuệ tạm ở nhà Thoa để chữa trị vết thương, nàng đã hơn một lần đến gặp vợ chồng Tuyên để bày tỏ mối quan tâm của mình đối với cuộc sống của Tuệ. Thoa cũng yêu cầu vợ chồng Tuyên giữ kín việc làm này của nàng không để cho Tuệ hay biết. Vợ chồng Tuyên rất cảm phục tình yêu chân thật và cử chỉ cao đẹp của Thoa.

    Để làm theo lời Thoa, vợ chồng Tuyên đã tìm thuê một căn nhà nhỏ, vách gạch mái tôn trong khu xóm của chàng cho Tuệ ở. Họ đã cùng nhau xếp đặt một chương trình để che dấu sự thật, Tuyên nhận làm trung gian đứng ra giúp đỡ Tuệ qua nguồn tài trợ bí mật của Thoa.

    Chiếc xe ôm chở Tuệ dừng lại bên lề đường, Tuệ rời xe , anh đi vào một ngõ hẻm chừng vài chục mét đã nhìn thấy địa chỉ của Tuyên, thấy Tuệ về Tuyên vui vẻ rót cà phê ra tách mời Tuệ, Tuyên nói:

    Tôi định chiều nay qua thăm anh , không ngờ anh lại về đúng lúc quá!

    Tuệ mỉm cười, nét mặt chàng hiện rõ những ưu tư, anh đáp:

    Đúng ra hôm nay tôi chưa về vì vết bỏng còn ướt , nhưng ở lại nhà Thoa lâu tôi cũng ngại.

    Tuệ nâng tách cà phê uống một hớp chợt nhớ lại câu nói của Tuyên vừa rồi, chàng hỏi:

    -À! Anh vừa bảo tôi về đúng lúc, nhà có việc gì thế ?

    Tuyên cố giữ nét mặt bình thường, anh chậm rãi trả lời:

    Số là ông chú tôi có người con trai ở Pháp nó bảo lãnh ông sang chữa bệnh, nên chú tôi bảo tôi xem có bạn bè nào tử tế nhờ họ đến ở trông nhà dùm, tôi chợt nghĩ đến anh và chiều nay tôi định qua gặp anh để nói về việc đó. Nghe Tuyên trình bày, Tuệ ngồi yên như đang suy nghĩ , một hồi lâu Tuệ hỏi Tuyên:

    -Ông chú của anh khi nào đi Pháp và ông sẽ ở lại bao lâu ?

    Tuyên thản nhiên trả lời.

    Chú tôi đã rời Việt Nam hơn tuần nay, hôm qua vợ tôi có qua nhà quét dọn sạch sẽ, nhà tuy nhỏ nhưng đủ tiện nghi, anh qua xem sẽ biết, còn về thời gian lưu lại Pháp chắc phải nhiều năm.

    Thấm thoát đã trên mười năm Tuệ bặt tin với Thoa từ khi chàng đến ở căn nhà này. Đôi khi Tuệ muốn hỏi Tuyên về tin tức của Thoa nhưng chàng lại thôi, vì với khoảng cách thời gian qua chắc Thoa đã quên chàng. Tuệ cũng thường hỏi thăm sức khoẻ của ông chú Tuyên bên Pháp, lần nào Tuyên cũng bảo Tuệ cứ yên tâm ở đây, vì sức khoẻ của chú Tuyên chưa thể về được.

    Phần Thoa, nàng yên phận sống an vui bên người em trai của nàng như những ngày chưa gặp Tuệ. Có khác chăng, Thoa đã cố gắng làm việc nhiều hơn để có thêm điều kiện tài chánh giúp cho Tuệ qua trung gian của vợ chồng Tuyên.

    Nhờ ơn trời chiếu cố, tiệm may của Thoa ngày một đông khách, ngoài những thợ may phụ giúp, Thoa là chủ tiệm cũng bận suốt ngày, nhất là trong những tháng cuối năm.

    Nhờ đó, sau hợp đồng thuê nhà 3 năm, nàng đã mua căn nhà nhỏ ấy cho Tuệ ở vĩnh viễn mà Tuệ không hề hay biết. Vì thế dù có vất vả Thoa cũng rất tự hào và mãn nguyện vì nàng đã âm thầm thực hiện được hoài bão của mình, nó cũng chính là niềm thao thức của Tuệ. Hơn nữa, ngoài tình yêu chân thành Thoa dành cho Tuệ, anh xứng đáng để nhận được tấm lòng qúy mến và chia sẻ của người khác.

    Vào năm ngoái trong dịp tình cờ, Tuệ gặp lại người bạn cũ ở hải ngoại về, người ấy cho Tuệ biết một tin vui: chính quyền việt cộng hứa với một giới chức của nền Đệ Nhị Cộng Hòa, là họ sẽ chỉnh trang lại khu nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa. Nghe tin này Tuệ đã chắt chiu được một số tiền nhỏ để đi xe lên Biên Hòa vào sáng hôm nay cũng nhằm vào ngày 30/4.

    Tuệ muốn được một lần nhìn lại cảnh cũ với bao thương tiếc ngậm ngùi, để nghe tim mình sống lại khúc hùng ca của nền dân Chủ Tự Do đã một thời thăng hoa giữa lòng đất Mẹ, để tận mắt nhìn thấy những ngôi mộ tại Nghĩa Trang Quân Đội được chỉnh trang trong danh dự, được tôn trọng đúng qui cách dành cho người Chiến Sĩ Quốc Gia đã bỏ mình vì Tổ Quốc, và cũng để lòng mình lắng xuống những cơn đau từ ngày Quốc Hận..

    Nhưng chàng đã hoàn toàn thất vọng vì lời hứa suông. Trước mặt Tuệ, khu Nghĩa Trang Quân đội sau mấy mươi năm không được chăm sóc, giờ đây đã trở thành một bãi tha ma hoang phế. Chàng đau lòng lê bước trên lối đi đầy cỏ dại dẫn tới lễ đài “Chiến Sĩ Trận Vong” anh dừng lại lấy một bó hương trong xắc đeo vai và bật lửa, Tuệ trân trọng nâng nén trầm hương ngang mặt, đôi mắt chàng nhắm lại tưởng nhớ đến các anh linh chiến sĩ. Qua làn khói mong manh, tâm hồn chàng chợt trở về với phút giây rung cảm, anh thì thầm:

    Hôm nay ngày 30/4, Tuệ bước chân đến đây để tìm về một quá khứ đau thương, nơi đó những trang sử oai hùng đã hơn một lần được tô thắm bằng máu đào của các anh. Những trang sử ấy tuy đã khép lại với một định mệnh không mong chờ, nhưng chính khí can trường của các anh luôn là niềm tự hào biết bao cho Dân Tộc Việt Nam (không cộng sản)? Và sự hy sinh cao cả của những người chiến sĩ VNCH không bao giờ bị lãng quên trong lòng ngưỡng mộ và biết ơn của hơn 40 triệu dân miền Nam yêu nước sau Ngày Quốc Hận 30/4/75.

    Nơi đây Tuệ xin gởi lại nén hương lòng để ghi nhớ ngày “VIỆT NAM BUỒN THẢM”, ngày ấy các anh đã chẳng tiếc mạng sống của mình để vun đắp cho cây “TÌNH YÊU TỔ QUỐC” được xanh tươi.

    Tình yêu đó xin “GỞI VÀO THIÊN THU” như ánh trăng rằm vằng vặc giữa đêm khuya, như ngọn đuốc thiêng muôn đời vẫn cháy sáng trong những tâm hồn còn thao thức đến vận mệnh đất nước của chúng ta.

    Tuệ xin bái chào vĩnh biệt. Nói xong chàng giữ thế nghiêm, đưa tay nâng ngang tầm mắt và phắt tay xuống trong tư thế yên hùng của người chiến sĩ Quốc Gia.

    Tuệ lần bước ra hướng cổng tam quan đi xuống đồi. Bên tai chàng tiếng côn trùng nỉ non những liên khúc thê lương, như tiễn chân người về với quạnh hiu bên nỗi sầu vong quốc! Một cảm giác buồn mênh mang vừa chiếm trọn tâm hồn, Tuệ chép miệng đọc một vần thơ hoài cổ:

    “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc”(Bà Huyện Thanh Quan)

    Chợt có tiếng chân dẫm lên xác lá vàng khô, từ phía dưới một người con gái ôm bó hoa trắng, nón lá che khuất nửa phần khuôn mặt đang tư từ bước lên trước mặt chàng, trong thảng thốt nàng kêu lên:

    Anh Tuệ !

    Tuệ giật mình dừng lại, chàng không khỏi ngạc nhiên khi nhìn cô gái trông rất quen… Nhưng chỉ trong giây phút, Tuệ ngỡ ngàng thốt lên:

    Thoa !

    Bốn mắt nhìn nhau như đưa nhau vào kỷ niệm, Tuệ cảm thấy bàng hoàng, nhịp tim chàng đập mạnh. Đôi mắt Thoa vẫn mơ buồn như ngày nào, áo dài lụa tím ôm sát thân mình thon thả của nàng làm nổi bật những đường cong tuyệt mỹ. Thoa tươi cười và tiến đến bên Tuệ với một cử chỉ thân mật nàng nói:

    Lâu qúa ! Anh có khoẻ không?

    Trước vẻ ân cần của Thoa, Tuệ không tránh khỏi mặc cảm cho thái độ trốn chạy của mình trước đây, tuy nhiên chàng đã lấy lại bình tĩnh để trả lời Thoa:

    -Anh vẫn khỏe, em vào đây thăm mộ ai ?

    _ Em đi viếng mộ bia của ba em. Em định chiều nay sẽ đến thăm anh.

    Tuệ nghe Thoa nói, chàng không thể hiểu được ý định của Thoa, Tuệ tự hỏi: Làm sao Thoa biết được nhà mình ? Hơn 10 năm không găp, hôm nay Thoa bảo sẽ đến thăm với chủ đích gì ?

    Bao nhiêu ý nghĩ làm Tuệ thấy lúng túng, dù sao Tuệ cũng không thể chạy trốn Thoa mãi được, anh nói \:

    - À nếu không có gì trở ngại mời Thoa đến nhà anh chơi, chúng ta sẽ gặp lại sau Thoa nhé!

    Thoa cúi mặt bước lên vài bậc cấp, bỗng nàng quay lại gọi:

    -Anh Tuệ !

    Nghe Thoa gọi Tuệ liền quay lại, chàng đứng chờ Thoa đang bước xuống gặp chàng. Thoa dịu dàng lấy ra trong xắc tay của mình một phong thư dày cộm, nàng đưa cho Tuệ và nói:

    - Tiện đây em xin gửi anh phong thư này anh về xem sẽ rõ.

    Nói xong Thoa bước vội lên đồi, trong khi Tuệ còn đứng ngẩn ngơ hồn anh như lạc vào cõi mộng. Cử chỉ ngượng ngùng của chàng lúc này trông thật đáng thương!
    Tuệ thầm nghĩ: “Đây chắc là tâm sự của mười năm xa cách, cũng có thể là Thoa sắp lên xe hoa” ? Những câu hỏi cứ dồn dập trong trí tưởng khiến Tuệ càng bước nhanh hơn. Chẳng mấy chốc Tuệ đã đến mặt đường và đón xe về nhà. Tắm rửa xong, Tuệ liền bóc thư ra xem với một cử chỉ hấp tấp, chàng hy vọng sẽ được nhìn lại những giòng chữ thân quen với tâm tình đáng yêu của người em gái thuở nào.

    Nhưng sự thật đã đi ngược với dự đoán của Tuệ, bên trong phong bì là một số giấy tờ liên quan đến địa chỉ chàng đang ở, Tuệ mở to mắt cố nhìn cho chính xác, trước mặt chàng là một bản gốc giấy chủ quyền nhà Thoa đã đứng tên mua căn nhà Tuệ đang ở, kèm theo là giấy “uỷ quyền vĩnh viễn” cho Tuệ được ở căn nhà này và được toàn quyền xử dụng như một người chủ. Bên dưới có chữ ký của 2 nhân chứng là Tuyên và Thanh. Cùng với một số giấy tờ thuế nhà đất và hợp đồng thuê nhà 3 năm trước đây. Tất cả các giấy đêu có dấu thị thực của đương kim chính quyền. Tuệ ngồi lặng người trước những giấy tờ chứa đầy tấm lòng cao quí của Thoa.
    Chàng không ngờ người con gái có vóc dáng mảnh mai ấy đã âm thầm làm được một việc lớn ngoài sức tưởng tượng của chàng. Chợt Tuệ vừa chạm đến một tờ giấy mỏng, Thoa viết:

    “Anh Tuệ thân mến!

    Có lẽ em đang làm phí thì giờ của anh đây, xin anh tha lỗi!

    Vì hoàn cảnh không cho phép lâu hơn, em xin mạo muội viết ít dòng này gửi anh.

    Em và Huy sẽ đi Hoa Kỳ vào tối nay theo giấy bảo lãnh của Hạnh. Những giấy tờ em vừa gởi đến anh, xin anh xem đó như một món qùa lưu niệm của một người em gái đã hơn một lần nghĩ đến anh trong cuộc sống cô đơn của mình! Thế nhưng tất cả đều là định mệnh phải không anh ?

    Nhân dịp này em xin gởi đến anh lời cầu chúc an mạnh trên quê hương yêu dấu với một trái tim luôn tự hào vì TÌNH YÊU TỔ QUỐC”

    Thoa…

    Tuệ bàng hoàng buông rơi bức thư trên bàn, chàng thẩn thờ nhìn qua song cửa. Nắng chiều vừa loé lên những tia sáng cuối cùng của một ngày tươi đẹp, gợi chàng nhớ lại những kỷ niệm đã qua khi còn ở nhà Thoa.

    Ngoài việc chăm sóc chu đáo cho vết thương Tuệ được chóng lành, Thoa còn có tài nấu nướng. Những bữa cơm chiều họp mặt là những giây phút thân mật và đầy hạnh phúc, cũng là dịp để Thoa tỏ bày lòng quí mến của nàng đối với Tuệ. Nàng thường gắp những món ăn để vào chén Tuệ với một cử chỉ ân cần.

    Hình ảnh của những bữa cơm chiều ấy, có bao giờ được sống lại trọn vẹn trong lòng Thoa không ? Giờ thì càng xa vắng hơn ! Nàng như cánh chim vượt trùng khơi bay về một khu rừng xanh mát.

    Tuệ, người ở lại với trời bơ vơ !

    Trong thinh lặng rất lâu, có lẽ Tuệ đang ôn lại những kỷ niệm ban đầu của một đêm mưa, để gởi hồn vào thương nhớ xa xăm…Bất giác Tuệ chép miệng: “ Xin những may lành và hạnh phúc luôn đến với người em gái tôi yêu, trên miền đất tự do”.

    Tiếng động cơ từ đâu bay qua dưới vòm trời xanh thẳm, Tuệ ngước nhìn chỉ thấy những vì sao lấp lánh dưới nền trời bao la, chợt một ánh sao vừa ló dạng đã vụt đổi ngôi về phía trời xa, để lại không gian u buồn một thiếu vắng mênh mông, một mối sầu ly biệt mà ngàn năm mây bay vẫn không vơi những ngậm ngùi./.

    Đoàn Minh Chiếu

    https://www.facebook.com/photo.php?f...type=3&theater

  8. Xin cám ơn BachMa

    khongquan2 (04-18-2019)

  9. #287
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,187
    Thanks: 7,823
    Thanked 5,262 Times in 1,160 Posts

    Button Xanh Chuyến Vượt Biển Kinh Hoàng

    Chuyến Vượt Biển Kinh Hoàng
    Hồi ký - Topa



    Hình minh họa

    Đêm nay là đêm rằm nên trăng sáng hơn mọi đêm, một điều xem ra có vẻ bất lợi cho chuyến vượt biển của chiếc ghe dài mười ba thước và bề ngang hai thước sáu mươi phân mà, chỉ trong giây lát nữa đây thôi sẽ chở theo những con người khốn khổ phải bỏ quê hương để ra đi, trong đó có tôi.Tuy nhiên, tôi tin tưởng sẽ không có chuyện gì xảy ra để có thể ngăn cản lòng quyết tâm của chúng tôi, vì cũng tại nơi này, trong những ngày tháng qua đã có trên mười chuyến ghe đưa những đoàn người khốn khổ ra đi và đã đến bến bờ bình an, bởi vì chúng tôi có tiền, vàng, mà công an biên phòng Việt Cộng thì lại rất khao khát muốn có.

    Từ ngày tôi được tham gia vào công việc đưa những con người khốn khổ ra đi, những con người mà vị Tổng Thống của nền Đệ Nhị Cộng Hòa miền Nam Việt Nam đã từng cảnh báo trước: Một khi đất nước bị mất vào tay của cộng sản rồi là bị mất tất cả. Mất quê hương miền Nam thân yêu, mất gia đình, mất tài sản, mất nhân phẩm và, có khi mất luôn cả mạng sống…

    Cũng tại nơi đây đã có hơn mười chuyến ra đi và không có một chuyến nào bị những trở ngại hay bị những thảm cảnh xảy ra trên biển cả. Bây giờ đang là mùa xuân và chỉ trong năm tuần lễ nữa thì cái Tết cổ truyền lần thứ sáu, cái Tết năm 1981 của dân tộc, của đồng bào miền Nam, của đồng bào miền Bắc, sẽ trở lại trên quê hương sau ngày bị bức tử vì quân đội Việt Nam Cộng Hòa phải đầu hàng theo lệnh của vị tướng không có tài và cũng không có một chút kiến thức về chính trị nhưng lại ham muốn quyền lực: Tướng Dương Văn Minh.

    Đêm nay tôi quyết định phải ra đi, không thể chần chừ thêm được nữa trước khi quá trễ. Và như vậy, tôi tin rằng dù chuyện gì có xảy ra tôi cũng sẽ không đón cái Tết lần thứ sáu trên quê hương.

    Năm mùa xuân đã đi qua, năm cái Tết cũng đã trôi qua trong sự khốn khổ và nghẹn ngào dưới sự đọa đày của người chiến thắng cùng màu da và tiếng nói xem ra là đã quá đủ cho tôi rồi.

    Tại sao đêm nay khi phải rời bỏ quê hương mà trong lòng tôi lại rất hớn hở và không một chút lưu luyến hay muộn phiền? Ra đi khi không biết nơi mình sẽ đến với nhiều nguy hiểm đang chờ đợi, vậy mà mọi người và tôi vẫn háo hức ra đi tuy trong thâm tâm ai ai cũng nghĩ rằng, điều đó đã đem lại ít nhiều đau khổ.

    Nhưng, thật ra thì không còn cách chọn lựa nào khác tốt hơn.

    Trong đời mỗi một con người của chúng ta thường sẽ có nhiều chuyến đi, sẽ có rất nhiều lần rời bỏ, thay đổi, những nơi đã sống qua với ít nhiều kỷ niệm buồn vui. “Trong đời sống nhiều lúc chúng ta phải lựa chọn, nhưng, không có sự chọn lựa nào lại không đem đến khổ đau.” Câu danh ngôn mà tôi đọc được khi xưa vẫn luôn văng vẳng bên tai.

    Đêm nay tôi đang ngồi đây, trong buồng lái dã chiến của chiếc ghe, tôi nhìn đoàn người đang bồng bế dìu dắt nhau bước lên ghe lớn từ những chiêc ghe nhỏ gọi là tắc-xi, đồng thời tôi cũng nghe rõ ràng tiếng sóng vỗ bập bùng vào thân ghe mà lát nữa đây chiếc ghe này sẽ đưa chúng tôi ra khơi và đi đến đâu thì chưa một ai trong chúng tôi có thể tiên đoán trước được.Tôi đưa tay lên làm dấu thánh giá và bỗng đâu hình ảnh những người thân yêu ruột thịt của tôi năm nào đã bị thảm sát trong một lần Việt Cộng tấn công vào xã, cái xã nghèo và nhỏ tí xíu đã hoàn toàn bị san thành bình địa.

    Cái xã tọa lạc trong thành phố có con lộ định mệnh số 7 mà sau này khi miền Nam khởi sự rút quân và đi trên con lộ đó, để rồi quân và dân đã bị Việt Cộng thảm sát, rồi đưa đến một cuộc bại trận sau đó không bao lâu. Hình ảnh những người thân yêu của tôi hiện ra trong đầu làm tôi nhớ lại một thuở thật thanh bình trên quê hương miền Nam thân yêu mà tôi đã cùng vui cùng sướng khổ với gia đình trong mái tranh nghèo nàn nơi vùng đất mới vừa được khai hoang theo chương trình khẩn hoang lập ấp của vị Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hoà miền Nam Việt Nam.

    ***

    Mùa mưa năm xưa xa xôi ấy, mùa mưa năm một ngàn chín trăm sáu mươi hai, trên con đường trơn trợt giữa núi rừng, và tôi, một thằng nhóc con mười tuổi ngồi trong chiếc xe đò của hãng xe Sanh Hòa đi từ Pleiku về Sàigòn. Lần đầu tiên trong cuộc đời tôi đã biết thưởng thức một bản tình ca mà tôi sẽ không bao giờ quên được, đó là bản Mưa Rừng và hình như được trình bày qua tiếng hát của nữ ca sĩ Thanh-Thúy thì phải.Tôi buồn thật nhiều khi nhớ lại hai năm về trước tôi cũng phải rời xa nơi chôn nhau cắt rốn, phải rời xa một số bạn nhóc cùng trường và cùng xã để lên Đà-Lạt theo học trong một trường nội trú…

    Pleiku ngày ấy còn quá hoang sơ với núi và rừng rậm bao la… toàn đất đỏ. Con đường chính của thị xã rất hẹp. Khi có hai chiếc xe chạy ngược chiều nhau thì một chiếc phải ngừng lại để chiếc ngược chiều chạy qua rồi chiếc kia mới được chạy.

    Vào năm tôi học lớp ba trường tiểu học Pleiku tôi đã vô cùng thích thú khi được người bạn Thượng học cùng lớp “mời” tôi về buôn Thượng để chỉ lại những gì mà tôi đã học được cho các em trong buôn làng vì đã không có điều kiện đến trường. Nhớ lại ngày đầu tiên theo chân người bạn Thượng, tôi thật không ngờ người bạn này mỗi ngày phải đi bộ một quãng đường quá xa để đến trường. Tối hôm đầu tiên trong nhà người bạn Thượng tôi đã được ăn một bữa cơm mà chắc chắn tôi sẽ không bao giờ quên được trong cuộc đời.

    Khi tất cả mọi người quây quần bên cái bếp lửa đặt giữa nhà sàn, thì ba của người bạn Thượng của tôi vói tay lấy cái ống tre đặt trên cao xuống và rồi ông lấy trong ống tre đó ra một gói thức ăn nhỏ được gói trong một cái lá lớn có lông nhỏ li ti; bỏ vào trong bếp lửa để nướng. Cơm thì đã được nấu chín từ lúc nào tôi không rõ và cũng được gói trong một cái lá rất lớn có nhiều lông nhỏ li ti giống như cái lá gói thức ăn. Khi gói thức ăn đã được nướng chín thì mọi người cùng bốc thức ăn trong cái gói đó và ăn với cơm – Người Thượng trong thời gian đó hoàn toàn không dùng đũa hay muỗng…. Cho đến hôm nay cái mùi của gói thức ăn đó tôi vẫn còn nhớ mãi tuy thời gian trôi qua cũng đã trên năm mươi năm rồi; chỉ vì cái mùi của nó quá xá thúi. Nó thúi lắm! Thúi kinh khủng! Thúi tàn nhẫn!

    Lúc đó tôi còn nhỏ quá nên phản ứng của tôi cũng rất tự nhiên và không lịch sự. Người bạn Thượng thoáng nhìn tôi và anh hiểu ra nên anh đứng lên và đi nhanh đến cái ổ gà có con gà mẹ đang ấp những quả trứng, anh đỡ con gà lên và lấy một quả trứng, anh để quả trứng vào trong cái ca nước và đặt lên bếp để làm món trứng luộc chấm muối cho tôi ăn cơm… Hai ngày kế tiếp cũng cùng một thực đơn đó.

    Trẻ em Thượng trong lớp rất thích tôi vì hiếu kỳ. Có lẽ vì tôi là “người da trắng” đầu tiên mà các em Thượng được gặp chăng? Để đáp lại lòng ưu ái mà các em đã đặc biệt dành cho tôi, tôi đã “rộng tay” cho các em rất nhiều điểm vào hai môn học toán và chính tả mà tôi phụ trách. Những ngày trong buôn Thượng tôi thích nhất là đi ra suối nhìn các cô gái Thượng tắm. Lúc đó tôi còn quá nhỏ nên không hề có một ý nghĩ tà đạo nào mà chỉ hiếu kỳ, vì, khi các cô gái Thượng tắm họ không kỳ cọ giống như tôi. Các cô gái Thượng dùng một khúc cây ngắn, nhỏ và tròn để kỳ đất trông rất là lạ mắt.

    Ngày tôi xa rời nơi tôi đã sống với nhiều kỷ niệm của tuổi thơ, tôi không còn nhớ là ngày đó tôi đã gặp và từ giã những ai, nhưng, tôi nhớ là tôi buồn nhiều lắm… chứ không như đêm nay. Đêm nay tôi cảm nhận là phải bằng mọi cách xa rời nơi mà tôi đã có những tháng ngày làm việc và rong chơi với nhiều kỷ niệm trong đời.
    Tôi sợ sẽ bị bắt lại để phải sống với những con người luôn mang sự căm thù trong tận đáy lòng bởi tôi không có cùng một ý thức hệ.

    Chiếc ghe rời bến vào khoảng ba giờ sáng với hai người có nhiệm vụ hướng dẫn chiếc ghe ra cửa biển Vũng Tàu; ra khỏi khu vực gọi là “đèn trắng”. Hai người này không ngờ tôi cũng đi đêm nay nên hai người cố gắng thuyết phục tôi ở lại để “đánh” thêm vài chuyến nữa rồi hãy đi nhưng, chí tôi đã quyết nên tôi cũng cố gắng thuyết phục hai người cùng đi. Cuối cùng hai người đã nhảy xuống con sông lớn trên đường dẫn ra biển để bơi vào bờ khi tôi sơ ý nhìn đi nơi khác. Bốn con mắt nhìn tôi đầy giận dữ và căm thù khi cái đèn pha trong tay anh Thiếu tá Hải-Quân Phan Chánh Cương chiếu ngay mặt hai người. Tôi cũng sẽ không bao giờ có thể quên được bốn ánh mắt đó khi tôi còn hiện diện trong cuộc đời này.

    Anh Phan Chánh Cương đã cố gắng lèo lái chiếc ghe ra đi nhưng anh không quen con đường này, vì vậy vào khoảng hơn bốn giờ sáng thì chiếc ghe bị mắc cạn.
    Chúng tôi đã cố gắng chống sào để ra khỏi vùng bị nạn nhưng vô ích. Chiếc ghe dài mười ba thước vẫn nằm yên không nhúc nhích. Mệt mỏi, chán nản và lo sợ, nên tôi đã tiêu hủy hết những chứng từ có liên quan đến chiếc ghe và đến những người có liên hệ với tôi trong tổ chức. Khoảng gần năm giờ sáng chúng tôi đã cố gắng thử thời vận một lần chót theo lời đề nghị của chú Gao – chú em lái ghe nhỏ đưa khách ra ghe lớn – bằng cách chạy qua chạy lại bề ngang của chiếc ghe.

    Đức-Chúa Giêsu. Đức-Mẹ Maria. Đức-Phật Quán-Thế-Âm Bồ-Tát từ bi đã cứu chúng tôi! Chiếc ghe đã chòng chành chuyển động mỗi lúc mỗi nhiều hơn nên tôi đề nghị với anh Cương:

    – Anh cho máy nổ và thử chạy lùi để chuyển qua hướng khác được không anh Cương?

    Anh Cương đã làm theo lời đề nghị của tôi và chiếc ghe đã chạy thoát vùng mắc cạn.

    Lúc này trời đã quá sáng tỏ để chúng tôi nhìn thấy từ phía trong bờ có hai chiếc tàu nhỏ chạy ra về hướng chúng tôi và… những người đứng trước mũi của hai chiếc tàu đó đang phất cờ và bắn vài phát súng chỉ thiên.

    Anh Phan Chánh Cương nói:

    – Họ ra lệnh cho mình phải ngừng lại, nếu không họ sẽ bắn thẳng vào ghe.

    Tôi nói với anh Cương:

    – Anh cứ cho máy chạy hết tốc lực đi và nếu phải chết thì chúng ta cùng chết chứ không thể để bị bắt lại.

    Một lần nữa anh Cương lại làm theo đề nghị của tôi. Chiếc ghe ngóc cao mũi và phóng thẳng về phía trước với vận tốc tối đa của nó.Tôi đứng dang hai tay gác trên cái mái chỗ làm phòng lái và nhìn về phía trước. Tôi hít một hơi thật dài cho không khí vào đầy hai cái lá phổi. Đã bao năm tháng qua, đây là lần đầu tiên tôi thật sự được hít thở không khí của tự do!

    Có một anh thanh niên lạ đến đứng bên cạnh tôi, anh nhìn biển một lúc rồi quay nhìn tôi và nói:

    – Biển yên quá, hy vọng họ sẽ không đuổi theo kịp được mình.

    Tôi nhìn anh và đề nghị:

    – Anh hãy giúp chúng tôi nói với mọi người dưới hầm ghe là ai nằm ở đâu thì nằm yên ở đó chứ đừng có lên trên này nguy hiểm lắm.

    Khi anh chàng thanh niên vừa quay lưng đi và chui xuống hầm ghe thì tôi cũng vừa chợt nhận ra lời đề nghị của mình quá thừa thãi. Những người nằm dưới lòng ghe, phần thì mệt vì thiếu ngủ, phần thì say sóng vì ghe chạy quá nhanh nên mọi người vẫn nằm yên tại chỗ… như chết.

    Khoảng một giờ trưa thì chúng tôi không còn thấy hai chiếc ghe của biên phòng rượt đuổi theo nữa. Chúng tôi bị rượt đuổi hơn năm tiếng đồng hồ. Anh Phan Chánh Cương cũng vẫn đang cho chiếc ghe chạy với vận tốc tối đa để tránh những chiếc ghe đánh cá quốc doanh đang lởn vởn chung quanh.

    Gần bảy giờ tối. Lúc này màn đêm đã phủ chụp lên vạn vật nhưng chiếc ghe thì vẫn lao thẳng về phía trước. Chiếc ghe đang phóng ngon trớn thì bất ngờ cái máy ghe bỗng “ho” lên khục khặc vài tiếng rồi không chịu chuyển động nữa. Tôi phải tạm cầm lái để anh Cương và người phụ thợ máy cố gắng mò mẫm trong ánh sáng yếu ớt của cái bóng đèn nhỏ wat để sửa chữa cho máy nổ lại. Trong lúc mọi người đang hồi hộp thì bỗng tôi nhìn thấy ngọn sóng biển đột ngột dâng lên thật cao và đồng thời gió thét ầm vang cả một vùng biển rộng.

    Đây là lần đầu tiên trong đời tôi nhìn thấy sóng biển cao như vậy. Ngọn sóng đã đưa chiếc ghe lên cao – lên thật cao – rồi thình lình hạ thật thấp xuống làm đáy của chiếc ghe va chạm vào mặt nước biển và phát ra cái âm thanh thật hãi hùng mà tôi tưởng chừng như chỉ trong một vài lần va chạm như vậy nữa là chiếc ghe sẽ bị bể tan ra từng mảnh nhỏ rồi chìm xuống đại dương. Những ngọn sóng tiếp nối nhau như muốn phủ chụp lên chiếc ghe của chúng tôi làm cho tôi phải nhắm mắt lại và đồng thời tôi nghĩ: Không ngờ cuộc đời tôi lại chấm dứt như thế này, ở đây, giữa biển khơi.

    Lúc này không phải chỉ có riêng một mình tôi mà tất cả mọi người trong ghe không còn một ai dám nhìn những ngọn sóng nữa… ngoài anh cựu Thiếu tá Phan-Chánh-Cương vì anh đang phải cầm lái. Tôi nằm co rút người lại trong phòng lái, bên cạnh anh Cương và cầu nguyện. Tôi không còn can đảm nữa khi nghĩ chỉ trong giây lát nữa đây thôi là tất cả mọi người, và tôi, sẽ bị những ngọn sóng dữ kia nhận chìm xuống đáy biển.

    – Anh Ba dậy cầm lái cho tôi một lúc. Tôi mệt quá rồi. Tôi không thể chịu nỗi nữa rồi.

    Anh Cương vừa nói vừa lay tôi dậy. Tôi đã thiếp đi lúc nào không biết. Tôi đã ngủ được một giấc.

    – Bây giờ là mấy giờ anh Cương?

    – Hơn mười hai giờ đêm.

    – Tôi phải giữ lái như thế nào?

    – Anh cứ giữ như tôi đang để. Bão vẫn còn mà máy thì đã chết nên cũng không thể làm gì hơn
    được nữa.

    Tôi ngồi dậy và cầm lái. Nếu có ai hỏi, trong đời tôi lúc nào là lúc mà tôi thấy kinh hoàng nhất, thì có lẽ là lúc này đây. Tôi đã hơn một lần chạy trong vùng lửa đạn chiến tranh nhưng tôi không kinh hoàng. Tôi đã một lần bị một tên Việt Cộng kề súng vào đầu tôi hăm dọa bắn khi tôi định nhảy khỏi toa xe lửa trong một lần đi buôn vì chính sách đại sai lầm ngăn sông cấm chợ của tên Tổng Bí Thư ngu xuẩn Lê Duẫn. Dù quá sợ nhưng tôi vẫn nhảy và chẳng may tôi bị an ninh tóm cổ khi chạy vào ngõ cụt… tôi cũng chưa kinh sợ nhiều.

    Nhưng, đêm nay với những ngọn sóng quá xá cao, ngọn sóng đã đưa chiếc ghe lên thật cao rồi hạ thật nhanh và thật mạnh xuống làm đáy ghe đập thật mạnh xuống mặt nước biển mà mỗi lần như vậy trái tim tôi, ngực tôi, như bị tay lực sĩ nào đó đấm thật mạnh vào làm tôi cứ bị đau nhói lên. Tôi đã quá kinh hoàng và sợ hãi nên tôi gọi anh bạn thanh niên đã nói chuyện lúc ban sáng với tôi khi bị rượt đuổi, lại ngồi với tôi. Có hai người tôi bớt sợ phần nào. Chúng tôi hút thuốc thật nhiều vì gió lạnh, và, dĩ nhiên cũng vì quá sợ hãi.

    Mọi chuyện rồi cũng qua. Sóng biển đã không còn những cơn giận dữ nữa. Ánh mặt trời cũng đã bắt đầu ló lên ở phía bên trái của chiếc ghe. Anh Cương đã thức dậy. Anh nhìn vào hải bàn và tỏ ý hài lòng với tọa độ mà anh đã tính. Anh nói:

    – Với vận tốc và thời gian mà chiếc ghe đã chạy trước khi bị chết máy, tôi bảo đảm với anh Ba Hùng là chúng ta đã qua khỏi đảo Côn Sơn rồi.

    Tôi quay qua nói với người thanh niên đã ngồi bên cạnh tôi suốt đêm:

    – Anh đi gom lại những túi thức ăn và những cây mía xem mình còn lại bao nhiêu.

    Một lát sau anh thanh niên đem lại vài túi xách nhỏ và cho biết:

    – Khi bị rượt, các túi thức ăn đã rớt xuống biển nhiều, còn lại đây chẳng có bao nhiêu.

    Tôi lấy trong những cái túi thức ăn đó ra ba cái bánh chưng nhỏ. Một cho anh Cương, một cho anh thanh niên, và một cho tôi. Chúng tôi pha café và cùng ăn uống với nhau.

    Khi mặt trời đã lên khá cao, tôi chui xuống lòng ghe để kêu người thợ máy dậy sửa máy. Người thợ máy không thể nào nhúc nhích được nữa vì anh ta quá say sóng và ói rất nhiều. Anh ta chỉ có thể hé mở được một con mắt thôi.Vâng, đúng là anh ta chỉ hé mở được có một con mắt thôi, và, anh thều thào trong cổ họng yêu cầu chúng tôi khiêng anh đến bên cái máy. Đến bên cái máy rồi anh ta cũng không thể cử động tay chân nỗi nữa. Anh nằm đó nhắm hai con mắt lại và chỉ dẫn người phụ máy cùng hai anh em chúng tôi phải làm những gì theo lời anh. Sau khi chúng tôi đã làm tất cả mọi động tác theo lời anh, và, sau khi đã thử cho máy nổ rất nhiều lần, nhưng vô hiệu. Cuối cùng anh thợ máy nói:

    – Cái “rờ-le” đã bị cháy vì bị quần áo cuốn vào cây láp làm tung nước vào đó. Em đã quên mang theo cái “rờ-le sơ cua” nên không còn cách nào khác nữa!

    Tôi nhìn anh Cương. Anh Cương nhìn tôi. Chúng tôi không nói gì với nhau. Anh Cương chui ra khỏi hầm máy. Tôi cũng chui ra theo anh. Ngay lúc đó tôi nghe tiếng một người đàn ông trong lòng ghe la khóc rất lớn:

    – Bố đã giết con rồi con ơi! Giời ơi là giời! Tôi giết con tôi rồi!

    Tôi chui lại vào trong lòng ghe với sự bực tức và nói thật lớn với người đàn ông đang khóc:

    – Anh kia! Anh không được làm mọi người hoang mang và lo sợ nghe không! Tại sao anh phải khóc? Nếu chết thì tất cả cùng chết chứ có riêng gì gia đình anh đâu. Anh làm gì trước đây?

    Người đàn ông nhìn tôi thoáng chút ngạc nhiên nhưng rồi ông cũng trả lời:

    – Dạ… trước đây tôi là Trung úy thông dịch viên mới đi cải tạo về.

    – Thôi… anh đừng làm ồn nữa. Kể từ hôm nay anh lãnh nhiệm vụ phát nước cho mọi người.

    Còn anh kia! Tôi chỉ tay về phía một người đàn ông trung niên và khá to con.

    – Trước kia anh làm gì?

    – Tôi là Đại úy bộ binh cũng mới đi cải tạo về.

    – Từ nay nhiệm vụ của anh là… phát cơm cho mọi người nghe.

    Phân công xong tôi chui ra khỏi lòng ghe. Tôi đến bên anh Cương. Anh Cương đang cầm trong tay những món đồ nghề đi biển, anh nói:

    – Với sức trôi của chiếc ghe mà tôi đã đo được thì khoảng… mười ngày nữa là ghe mình sẽ trôi vào đất Thái Lan.

    Mười ngày nữa ? Mười ngày nữa thì làm sao có đủ thức ăn và nước uống cho chừng này người? Mà chiếc ghe này có bao nhiêu người ? Tôi nghĩ vậy và nhìn quanh để tìm người phụ giúp. Hướng trước mặt tôi có một người đàn ông có dáng vẻ rất quê mùa và rất đáng nghi ngờ. Tôi ngoắc anh ta lại và hỏi:

    – Anh làm gì trước đây ở…Việt-Nam?

    Thật bất ngờ khi nghe anh nói:

    – Tôi là Trung úy An-Ninh Quân-Đội.

    – Anh có giấy tờ gì đem theo không?

    – Dạ có!

    Anh lấy từ trong bóp ra một tờ giấy mà anh đã cẩn thật để vào trong mấy lớp nylon và đưa cho tôi xem. Tôi cầm và đưa qua cho anh Cương. Anh Cương nhìn vào một lúc nhưng anh không nói gì mà chỉ gật đầu như xác nhận. Tôi nói với anh Trung úy An-Ninh quân đội:

    – Từ nay anh giữ trật tự trên ghe này. Bây giờ anh đi kiểm cho tôi xem trên ghe mình có tất cả bao nhiêu người nhé.

    Khi ghi lại ký ức về chuyến đi này tôi đã giận tôi vô cùng. Tôi giận tôi vì đã quên hẵn tên ba người cựu sĩ quan của quân lực Việt-Nam Cộng-Hoà đó. Những người đã cùng tôi đi trên chiếc ghe mang số SS 1050 IA trôi dạt đến bờ biển Mã Lai ngày 03/02/1981. Trong tận cùng trái tim tôi, tôi vẫn luôn nhớ về các anh, những người đã góp sức để giữ cho chiếc ghe không bị hỗn loạn cho tới ngày đến được bến bờ tự do.

    Ngày đầu tiên xem như chúng tôi đã tạm sắp xếp xong mọi trật tự trên ghe. Tôi đã dọa là sẽ quăng xuống biển những ai làm mất trật tự. Ngày đầu tiên tôi cho phát nước một ngày hai lần. Một lần mỗi người hai nắp “bidon” của quân đội Việt-Nam Cộng-Hoà. Không ai được hơn quy định đó, kể cả anh Cương và tôi. Tôi cho gom các bao khoai lang lại và chia ra làm mười phần, cho mười ngày, mỗi ngày ăn một lần. Anh Trung úy an ninh quân đội cho tôi biết đã đếm đi đếm lại rất nhiều lần và con số chính xác là một trăm mười ba ( 113 ) người hiện diện trên ghe.

    ***

    Đến hôm nay thì chiếc ghe của chúng tôi đã trôi được bảy ngày rồi. Nồi khoai lang bây giờ khi nấu lên nó có một màu đen và… kinh khủng quá! Vào ngày thứ năm tôi đã cho rút phần phát nước xuống mỗi ngày một lần, mỗi lần mỗi người cũng chỉ được một nắp “bidon” thôi. Chúng tôi đã tháo tấm bạt che trên mui ghe ra làm buồm. Có một điều thật không thể hiểu được là từ khi “giương buồm” lên thì chiếc ghe tự động quay đầu và trôi theo tư thế lùi. Hễ tháo “ buồm” ra thì chiếc ghe trôi theo tư thế thuận. Cuối cùng thì anh Cương cũng quyết định là “giương buồm” vì dù sao chiếc ghe cũng trôi nhanh và theo hướng mong muốn, tuy phải trôi theo thế lùi.

    Trưa ngày trôi thứ bảy.

    Anh Phan-Chánh-Cương bỗng tươi tỉnh nét mặt khi anh nhìn vào ống dòm và báo là có một chiếc tàu đang chạy về hướng chiếc ghe của chúng tôi. Sau một lúc, anh nói lớn như muốn cho mọi người cùng nghe:

    – Có chiếc tàu đang chạy về hướng chúng ta và có lẽ là chiếc tàu thuộc toán cấp cứu của Tây Đức.

    Khi chiếc tàu đến cách chiếc ghe của chúng tôi một khoảng cách đủ để chúng tôi nhìn thấy những người trên chiếc tàu đó là những người có nước da ngâm đen và… quấn xà rông. Anh Cương không còn nét mặt “hồ hởi phấn khởi” như lúc ban đầu nữa nhưng anh cũng không nói gì. Người thuyền trưởng bên chiếc tàu đó muốn nói chuyện với thuyền trưởng của chiếc ghe chúng tôi. Anh Cương với cương vị đó nên anh đã qua bên chiếc tàu gặp tên thuyền trưởng. Một lúc sau anh Cương trở về và cho biết là người thuyền trưởng bên chiếc tàu muốn cứu chúng tôi để chở vào bờ. Họ yêu cầu mang tất cả hành lý qua tàu của họ.

    Tất cả mọi người đã qua hết bên chiếc tàu “cấp cứu” và được đối xử rất tử tế như cho thức ăn và nước uống. Đang khi mọi người còn vui vẻ vì tin rằng đã được cứu thì một tên trong bọn họ bắn chỉ thiên một phát súng và yêu cầu tất cả theo hàng một đi vòng chiếc tàu từ đầu ra cuối rồi vòng về chỗ cũ. Một trăm mười hai người – Anh Cương được miễn – đi vòng từ đầu mũi tàu ra đến phía sau tàu là có một bọn năm tên đã đứng sẵn ở đó để khám xét và lột sạch những gì mà bọn chúng nghĩ là đáng giá. Khi đã lột sạch những gì mà bọn chúng lột được, bọn chúng ra lệnh cho những con người khốn khổ chúng tôi trở về lại chiếc ghe và bố thí nửa thùng phuy nước, một bao gạo và khá nhiều cá rồi sau đó chiếc tàu “cấp cứu” lại thẳng hướng ra khơi.

    Nhiều người trong chúng tôi đã chửi thề và nguyền rủa bọn cướp biển là tàn ác… nhưng tất cả cũng rất vui vì đã được một bữa cơm rất ngon, đúng nghĩa là cơm!
    Ba anh cựu sĩ quan có nhiệm vụ trên ghe đã hăng hái làm tròn nhiệm vụ! Sau một tuần không có cái gọi là cơm, chiều nay tất cả chúng tôi đã tận hưởng được một bữa cơm ngon nhất trong đời!

    Trưa ngày trôi thứ tám.

    Từ xa xuất hiện hai chiếc tàu với nhiều lá cờ đủ màu sắc đang tiến về chiếc ghe của chúng tôi. Khi hai chiếc tàu đến gần, chúng tôi nhận biết ngay đây cũng là bọn cướp người Thái Lan. Bọn cướp rất đông vì chúng đến một lúc hai chiếc tàu và đứa nào mặt mũi cũng rất dữ tợn. Bọn chúng với mã tấu và súng ngắn đã tràn qua ghe của chúng tôi và bắt đầu cướp phá. Bọn cướp tháo gỡ những bộ phận của chiếc máy ghe và mang qua tàu của bọn chúng. Bọn chúng bắt tất cả đàn bà con gái qua tàu của bọn chúng và phát cho mỗi người một cục xà bông rồi bắt thoát y đứng tắm trần truồng trên sàn tàu. Ai không chịu tắm là chúng đá vào người.

    Sau khi những người đàn bà khốn khổ kia tắm xong, lập tức bọn cướp cùng chia nhau hãm hiếp ngay tại sàn tàu. Một trong hai tên thuyền trưởng đã “may mắn” dẫn một cô gái thật đẹp người Huế vào phòng riêng. (Sau này tôi được biết cô gái Huế đã tốt nghiệp đại học môn Anh văn và chưa lập gia đình. Khi lên trại tỵ nạn, cô gái Huế phụ trách dạy môn Anh văn).

    Đến nửa khuya bọn cướp biển thả những người đàn bà khốn khổ về lại chiếc ghe sau khi cho mỗi người một hộp sữa.

    Cũng như chiếc tàu trước, hai chiếc tàu này cũng cho ghe chúng tôi gạo, nước, cá tươi và cá khô.

    Từ khi được thả trở về lại chiếc ghe cho đến sáng, những người đàn ông chúng tôi phải bị nghe tiếng âm thanh rên la thật buồn não của những người đàn bà xấu số. Không chỉ những người đàn bà khóc mà có cả tiếng đàn ông khóc nữa. Trên ghe có khoảng bốn chục người đàn bà, cộng thêm khoảng gần bốn chục tiếng khóc của những người đàn ông kèm theo nên âm thanh đó rùng rợn và buồn thảm vô cùng giữa biển khơi im lắng.

    Ngày trôi thứ chín.

    Sáng hôm nay anh Cương và tôi rất ngại nhìn cũng như nói chuyện với những người đàn bà. Hầu hết những người đàn bà đã lên mui ghe ngồi… phơi nắng. Một số người đã tỏ ra như có kinh nghiệm nên họ đã bôi dầu máy tàu lên mặt và khắp người. Nhìn những người đàn bà lúc này thật buồn cười mà tôi không dám cười. Chú Gao, tên của chú em ở xã Phước-Hòa thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu làm nghề đưa khách vượt biên từ ghe taxi ra ghe lớn, và cũng là người đã đề nghị chạy qua chạy lại sàn ghe hôm bị mắc cạn; đến bên tôi và kể lể với gương mặt như khóc:

    – Anh Ba Hùng biết hôn, em thương con bồ của em lắm, em hỏi cưới nó thì ông già nó nói nó mới mười bảy tuổi đợi sang năm đủ mười tám thì cho cưới. Em thương nó quá nên rủ nó đi vượt biên luôn. Đụ mẹ không ngờ mấy thằng Thái Lan nó hưởng trước em. Đụ mẹ tụi nó chứ!

    Sáng sớm ngày trôi thứ mười.

    Anh Cương bây giờ không còn ống dòm để nhìn xa nữa. Tất cả đồ nghề dùng đi biển đã bị bọn cướp lấy mất. Anh lại gần tôi và chỉ tay về phía bên phải. Nhìn theo cánh tay anh, từ xa có ba chiếc tàu đang chạy đến. Khi ba chiếc tàu đến gần hơn tôi thấy những chiếc này cũng có treo nhiều lá cờ đủ màu sắc như những chiếc trước. Ba chiếc tàu cặp gần hai bên hông chiếc ghe của chúng tôi. Bọn chúng kêu anh Cương qua tàu của bọn chúng nói chuyện và hỏi có vũ khí, tiền bạc, để trả cho bọn chúng thì bọn chúng sẽ kéo vào bờ. Anh Cương trình bày hiện trạng của chiếc ghe vượt biển vừa dứt lời thì lập tức bọn chúng rú lên như khỉ giả nhân rồi tràn qua ghe của chúng tôi.

    Một màn cướp phá tàn khốc lại diễn ra. Lần này bọn cướp đến với ba chiếc tàu nên sự cướp phá dĩ nhiên là tàn bạo hơn. Có những tên cướp đã hãm hiếp những người đàn bà ngay trong lòng ghe. Một số phụ nữ thì bị dẫn về tàu của bọn chúng. Bọn chúng vừa lôi kéo phụ nữ vừa nhảy vừa hú cứ y như những con khỉ đột.Tôi nhìn thấy chú Gao đang ôm cô bạn gái đã bất tỉnh vì quá sợ hãi. Thân hình cô bạn gái của chú Gao quá nhỏ, nhỏ như đứa bé con và hơn nữa đã được bôi khắp thân thể dầu mỡ của máy ghe nên những tên cướp đã… tha.

    Buổi chiều cùng ngày, bọn cướp thả những người đàn bà về lại ghe và cũng cho thức ăn và nước uống.

    Ngày trôi thứ mười một.

    Khoảng giữa buổi trưa có một anh thanh niên thật trẻ tuổi đến bên tôi và hỏi:

    – Anh Ba Hùng ơi, anh có đọc truyện người tù khổ sai Papillon chưa?

    Quyển sách rất nổi tiếng của tác giả Henry Charriere tôi đã đọc qua rất nhiều lần.Tôi chưa hiểu anh chàng này muốn gì thì anh chàng đã tiếp:

    – Papillon đã vượt ngục trong điều kiện hết sức khó khăn và rồi đã thành công. Ở trên ghe này có nhiều những can nhựa trống, em xin anh cấp cho em những can không đó và ít nước uống để em thả trôi vô bờ trước. Em sẽ thông báo cho Cao ủy biết để Cao ủy cho người ra cứu.

    Đề nghị quá táo bạo và… quá hấp dẫn! Tôi bàn qua với anh Cương và mọi người trên ghe. Tất cả đều đồng ý và sau đó tôi quyên góp được nửa “bình ton” chanh và đường. Tôi cấp cho anh chàng “Papillon” hai “bình ton” nước, cột mười can nhựa lớn lại với nhau và đặt lên trên đó một miếng ván. Anh Cương viết một lá thư tiếng Anh và bỏ vào một cái chai đậy nắp lại thật kín, cột vào cánh tay anh “Papillon”. Khi chiếc bè làm gần xong thì có một anh chàng khác đến xin tháp tùng theo anh “Papillon” và anh “Papillon” xin tôi cho hai người cùng đi chung cho vui. Tôi đồng ý.

    Khi chiếc bè được thả xuống với hai anh chàng bên trên thì nước ngập ngang lưng quần của hai anh nhưng hai anh đã yêu cầu tháo giây cột giữa chiếc bè với chiếc ghe để hai anh ra đi. Khi giây đã được tháo ra khỏi chiếc ghe thì rõ ràng chiếc ghe tuy lớn, nhưng đã trôi qua mặt chiếc bè. Chiếc bè có lẽ đang đứng một chỗ chứ không trôi vì chiếc ghe đã trôi qua mặt chiếc bè rất xa. Chúng tôi đã hỏi lại là có thay đổi ý kiến gì không thì hai cánh tay của hai anh chàng đưa lên cao vẫy vẫy ra dấu từ giã chúng tôi.

    Khi chiếc bè được thả xuống với hai người bạn trẻ bên trên thì lúc đó trời còn sáng lắm vì đang là buổi trưa. Khi hai cánh tay của hai người bạn trẻ ra dấu từ giã chúng tôi thì khoảng năm phút sau – Tôi nghĩ không quá năm phút – trời bắt đầu âm u và giông tố nổi lên ầm ầm báo trước một cơn bão sẽ đến. Lúc này thì không còn cách nào nhìn thấy hai người bạn trẻ đó nữa rồi. Cơn bão đã kéo đến thật nhanh, rồi sóng to gió lớn nổi lên cuồn cuộn y như ngày đầu ra đi. Tôi không còn can đảm để nhìn những ngọn sóng tàn bạo đó nữa. Tôi nhắm mắt lại vì sợ hãi và rồi một giấc ngủ đã đến với tôi. Giấc ngủ với những cơn ác mộng kinh hoàng!

    Ngày trôi thứ mười hai.

    Sáng nay không ai nói với ai về chuyện hai người bạn trẻ của ngày hôm qua. Mọi người đều hiểu rằng hai người bạn trẻ đã không qua được cơn bão quá lớn như ngày đầu ra khơi. Phải chăng hai người bạn trẻ đó đã hy sinh cho mọi người được sống? Có ai đó đã nêu ra con số một trăm mười ba người trên ghe là con số không may mắn. Những người theo đạo Phật thì đang xầm xì về những cái gọi là hiện tượng. Tôi làm dấu thánh giá và đọc kinh cầu cho linh hồn hai người bạn trẻ đó. Tôi tin một cách xác quyết là Đức Mẹ sẽ giúp chiếc ghe đến bến bờ bình an, mặc dù có nhiều khó khăn.

    Theo lẽ thì tôi đã đi trong chiếc ghe của tôi chứ không phải chiếc ghe này. Trước đó, tôi thường đến cầu nguyện ở nhà thờ Fatima Bình-Triệu. Trong lời cầu xin tôi có khấn: “Nếu Đức Mẹ thấy việc con ra đi sẽ có những trắc trở thì xin Đức Mẹ hãy làm những trở ngại xảy ra trước để con không phải đi.” Trước ngày dự tính ra đi trên chiếc ghe của tôi, tôi đã cho kéo chiếc ghe đó lên ụ và cho bọc nhôm xung quanh lườn ghe. Tôi trang bị một chiếc máy mới và thật mạnh.

    Đến hôm ra đi, khi mọi người vào hết trong lòng ghe thì có người lên tiếng, trong ghe có nhiều nước. Tôi cho thợ máy nổ máy để bơm nước ra. Thật không thể ngờ được, một cái máy thật mới có thể nói là hoàn hảo nhất và vừa ý nhất trong các cái máy, thế mà đêm ấy không làm sao cho nó chuyển động được. Trời bắt đầu sáng tỏ dần và tôi phải ém người lên bãi vắng thôi. Khi mọi người đã tản mác lên các bãi vắng thì cái máy lúc này bỗng dưng chịu nổ. Tôi cho người tài công lái chiếc ghe ra biển để tìm chỗ rỉ nước và sửa chữa. Trưa hôm đó, từ Sàigòn, tôi bàng hoàng nhận được tin là chiếc ghe của tôi đã bị chìm ở ngoài khơi vì cái lỗ rỉ nước bị nước phá càng lúc càng lớn hơn và không thể nào trám lại được.

    Ngày trôi thứ mười ba.

    Đã hai ngày trôi qua tạm coi như bình yên vì không bị một vụ cướp nào.Chiếc ghe vẫn trôi theo thế lùi như lúc ban đầu. Nhiều người đã lên trên sàn ghe nằm hoặc bơi lội xung quanh chiếc ghe. Có người thanh niên đến bên tôi thủ thỉ:

    – Có mấy chiếc ghe ở ngoài xa kia, mình hãy nổi lửa lên để gọi họ lại… cướp đi anh Hùng.

    Tôi nhìn người vừa nói và phản đối:

    – Anh điên sao? Anh không sợ cho mấy người đàn bà à?

    Lúc đó có mấy chị đang nằm trên sàn ghe vội lên tiếng:

    – Kệ nó anh Hùng à! Cứ đốt lửa lên kêu tụi nó lại cướp rồi tụi nó sẽ cho mình gạo, nước và cá. Mình cũng không còn nhiều thức ăn.

    – Các chị không sợ… bị à?

    – Còn gì nữa mà sợ anh Hùng! Nó… xong rồi thì mình sẽ có ăn để cầm cự chứ!

    Tôi quay mặt nhìn về hướng các chiếc ghe đang ở ngoài xa và thầm nghĩ: “Nếu sau này mà mọi người đến được bến bờ tự do là nhờ ở sự hy sinh của các người đàn bà này.” Tôi đồng ý cho đốt lửa trong cái thùng phuy. Cái thùng này giờ đây có hai công dụng. Một, để nổi lửa lên cầu cứu các tàu lớn của Tây phương và tàu cướp. Hai, dùng để chứa nước nếu tàu cướp cho.

    Lửa vừa lên thì có một chiếc tàu từ xa chuyển hướng chạy về phía chúng tôi. Chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận những điều kinh khủng sắp xảy đến. Các người đàn bà thì đã lấy dầu mỡ bôi khắp thân mình và mặt mũi.

    Cảnh cướp phá và hãm hiếp lại diễn ra khi chiếc tàu đánh cá của bọn cướp Thái Lan cặp sát vào chiếc ghe đi tìm tự do của chúng tôi. Lần cướp này thì người bạn gái của chú Gao không thoát được nữa. Bọn cướp quá hung bạo! Có lẽ vì bọn chúng, sau khi lục soát đã không cướp được gì nên tỏ ra giận dữ. Bọn chúng cởi trần truồng chạy nhảy trên chiếc ghe như những người đang lên cơn điên. Gặp người đàn bà nào là chúng hiếp ngay tại chỗ, bọn chúng không có một chút gì là e thẹn.
    Tiếng khóc la vang inh ỏi, tiếng đánh đập người để tra khảo của, rồi tiếng van lạy bọn cướp khi bọn chúng đập phá ghe… cùng hòa chung với tiếng cười và tiếng la tiếng hét của bọn cướp tạo thành một thứ âm thanh hoảng loạn mà tôi chưa bao giờ được nghe qua, chưa bao giờ được chứng kiến cảnh tượng hãi hùng này.

    Mọi chuyện rồi cũng lại qua! Ngày hôm đó anh Phan Chánh Cương và tôi không còn thiết gì đến cơm và cá nữa. Tàn nhẫn quá! Vô nhân đạo quá! Không thể tưởng tượng nỗi lại có ngày được chứng kiến cái cảnh dã man tàn bạo này! Ba lần cướp trước đây bọn cướp tỏ ra rất tôn trọng anh Cương trong vai thuyền trưởng, nhưng, lần này thì bọn cướp đã đánh anh Cương và nhiều người đàn ông để khai thác của. Dĩ nhiên tôi cũng bị bọn chúng đấm đá tơi bời hoa lá. Khi bọn cướp đang hành động thì có một anh chàng kêu tên một người bạn là Nam, lập tức tên Thái Lan thuyền trưởng kê súng vào đầu anh ta và hỏi : “Mày biết tiếng Thái Lan?” Dĩ nhiên tên thuyền trưởng hỏi bằng tiếng Thái. Anh chàng nọ ú ớ, anh Cương phải thông dịch cho tên thuyền trưởng hiểu. Tên thuyền trưởng Thái Lan nói với anh Cương là hắn tưởng anh chàng nọ xin nước. Như vậy tiếng Thái Lan, nước gọi là nam! (Đúng 100%)

    Ngày trôi thứ mười bốn.

    “Lại một chiếc tàu cướp đến!” Anh Cương chán nản nói với tôi. Bây giờ là vào khoảng giữa trưa.

    Khi chiếc tàu Thái Lan xáp đến, tên thuyền trưởng người Thái sau khi nói chuyện với anh Cương, hắn đã nhốt tất cả một trăm mười người – Anh Cương được miễn – xuống hầm cá. Sau này anh Cương nói lại với tôi là, khi mọi người bị nhốt hết xuống hầm cá thì bọn cướp đã qua ghe lục soát rất kỹ. Lục soát xong, chúng kêu từng người một lên và khám xét kỹ. May mắn quá, bọn này không hãm hiếp một người phụ nữ nào. Ai bị khám xong thì được trở về lại ghe. Trước khi bỏ đi, bọn này cũng cấp cho ghe chúng tôi gạo, cá và. . . nam!

    Chiều đến thì anh cựu trung úy an ninh quân đội cho tôi biết là trên ghe mất một người. Chúng tôi yêu cầu tất cả đàn ông lên sàn ghe để kiểm người. Lúc đó thì có một bà xẩm già lên tiếng:

    – Thằng con tôi nó giấu trong mình nó ba cây và trốn ở lại trong hầm cá của chiếc tàu hồi trưa rồi.

    Tôi hỏi bà xẩm già:

    – Tại sao con bà trốn lại trong hầm cá?

    – Với ba cây mà nó giấu trong mình, nó sẽ đưa cho tàu đó để được đưa vào bờ.

    Khoảng thời gian ba tháng trên đảo, ngày tôi đi định cư, Cao Ủy tị nạn vẫn chưa có tin tức gì về người con của bà xẩm già.

    Ngày trôi thứ mười lăm.

    Từ sáng sớm, một vài người thanh niên đã tự động nổi lửa khi nhìn thấy từ xa một chiếc tàu đang kéo lưới. Khi chiếc tàu đến gần thì những người thanh niên đến đánh thức anh Cương và tôi dậy. Chiếc tàu đang kéo lưới đã quăng dây qua cho chúng tôi để chúng tôi cột chặt vào ghe. Chiếc tàu chạy trước kéo lưới và kéo theo chiếc ghe của chúng tôi. Ông thuyền trưởng của chiếc tàu có lẽ là người Trung Hoa. Ông cũng quấn xà rông. Ông đứng khoanh tay nhìn chúng tôi một lúc rồi ra dấu cho hai người bơi qua tàu của ông. Ông dẫn hai người đó vào nhà bếp và chỉ cho hai người chỗ nấu cơm để nấu cho tất cả người trên ghe của chúng tôi ăn. Ông cũng cho kêu thêm hai người nữa qua tàu ông để chuyền nước về ghe đồng thời ông cũng liệng qua ghe những lon thuốc lá thơm. Hơn mười ngày không được hút, chúng tôi đã “rít” những hơi thuốc cho thật đầy lồng phổi. Có vài người đã… nằm thẳng cẳng vì bị say thuốc.

    Khi những thùng cơm và cá đã được chuyển qua ghe của chúng tôi. Ông thuyền trưởng tốt bụng vẫy tay ra dấu từ giã chúng tôi rồi cắt dây và cho tàu chạy thẳng ra khơi.

    Chiều cùng ngày hôm đó, một chiếc tàu cướp chạy về hướng chúng tôi. Lại cướp và hãm hiếp! Đến khuya thì bọn cướp bỏ đi sau khi cũng cho gạo, cá và… nam!

    Ngày trôi thứ mười sáu.

    Chiều hôm nay chúng tôi nhìn thấy từ xa có một lằn ngang dài thật nhỏ màu vàng. Chúng tôi với những con mắt không còn trong sáng, không còn tinh tường nữa nên không biết đó là cái lằn gì. Bao nhiêu sự suy đoán được đưa ra với nhiều hy vọng.

    Đang nhìn về phía trước và bàn tán nên không một ai để ý có một chiếc tàu cướp từ phía sau đã đến gần ghe của chúng tôi. Những người trên chiếc tàu này cố làm ra vẻ hiền lành và thân thiện. Người thuyền trưởng của chiếc tàu đó nói với anh Cương là hắn chỉ cần có hai (2) lượng vàng thôi thì khi đêm xuống hắn sẽ kéo chiếc ghe của chúng tôi vào bờ. Ông ta cố làm ra vẻ thật thà khi nói với anh Cương:

    – Khi vào đến bờ rồi thì nhớ đừng khai là tàu tôi kéo nhé, nếu tiết lộ thì tôi sẽ bị bắt đó.

    Người Quốc Gia của chúng ta dù sao cũng là những con người lương thiện! Vì bản chất lương thiện nên mới bị gạt năm Mậu-Thân và sau đó là… một tháng học tập. Qua lời nói và thái độ quả quyết của anh Phan-Chánh-Cương, mọi người chỉ trong có mười phút đã gom góp đủ số vàng mà tên thuyền trưởng đòi hỏi. Sau khi anh Cương thông báo đã gom đủ số. Tên thuyền trưởng nói cứ giữ đó để khi nào vào gần bờ thì giao cho hắn.

    Năm giờ sáng ngày trôi thứ mười bảy.

    Cô gái Huế tốt nghiệp đại học môn Anh văn là người từ đầu đã chiếm một chỗ nằm trước mũi ghe, nơi để thùng chứa nước nguyên thủy của chiếc ghe. Tại nơi đó, cô đã giấu được những món nữ trang mà bọn cướp không thể nào tìm ra được. Tin ở sự quả quyết của anh Cương, cô gái Huế đã đóng góp ba chỉ vàng.

    Sáng sớm hôm nay khi thấy chiếc tàu cướp quăng giây qua chiếc ghe, cô nhìn đồng hồ mà cô còn giữ được. Cô nghĩ: “Tại sao tụi này không kéo vào ban đêm như tụi nó lo sợ mà lại kéo vào lúc này? Hay là… ” Vừa khi cất giấu xong cái đồng hồ và những món nữ trang thì bọn người trên chiếc tàu cướp kia, lúc này không còn một chút gì là thân thiện nữa. Bọn chúng nhảy qua ghe của chúng tôi và bọn chúng bắt anh Cương đưa vàng rồi thẳng tay đánh đập tất cả mọi người để mong lấy thêm vàng. Bọn chúng đang cướp phá thì từ bên tàu của bọn chúng có một tên chạy ra nói gì đó, thế là tất cả bọn cướp đang ở bên ghe của chúng tôi lập tức nhảy hết xuống biển lội qua tàu của bọn chúng và chạy mất.

    A! Cái lằn màu vàng mà mọi người thấy hôm qua, bây giờ đã hiện ra rõ ràng hơn, đó là dãy cát của bờ biển.

    Mười giờ sáng ngày trôi thứ mười bảy.

    Dãy cát đã hiện ra rất rõ ràng. Anh Cương cho biết đây là bờ biển của Mã-Lai chứ không thể của Thái-Lan được. Thôi thì của nước nào cũng được miễn là đừng của Việt-Nam là vui rồi. Tất cả mọi người hầu như đã lên hết trên sàn ghe. Có những chiếc xuồng nhỏ của những người dân đi câu cá chạy ngang qua ghe của chúng tôi và còn vẫy tay chào rất là… thân thiện.

    Mười một giờ ba mươi ngày trôi thứ mười bảy.

    Từ trên trời có một chiếc trực thăng từ xa bay đến lượn hai vòng trên ghe của chúng tôi và rồi nó đáp xuống một trại binh nằm cạnh bờ biển cách đó không xa lắm.

    Mười hai giờ ba mươi phút ngày trôi thứ mười bảy.

    Đúng mười hai giờ ba mươi phút của ngày trôi thứ mười bảy, chiếc ghe của chúng tôi… bị mắc cạn trên bờ biển của Mã-Lai-Á. Tôi là người sau cùng lên bờ. Vì ảnh hưởng vật lý của những ngày trên ghe nên khi chạy được vài bước tôi bị té nằm sõng soài trên bãi cát. Những người đàn ông lúc này cũng đã lên hết trên bãi cát. Một số đang lo cho những người phụ nữ vì họ không còn đủ sức để bước đi nữa. Họ nằm nửa người trên cát nửa người dưới nước. Nhìn những người đàn bà đó bây giờ trông chẳng khác gì những bộ xương cách trí mà ngày còn cắp sách đến trường học sinh nào cũng nhìn thấy và học qua. Họ tiều tụy quá sức. Nhiều người không còn sức để đứng lên và bước đi… Nhưng, chính những con người đáng thương đó đã hy sinh, đã chịu đựng tủi nhục để tất cả mọi người trên ghe có được miếng ăn để có sức sống cho đến ngày hôm nay.

    ***

    Cuộc chiến ý thức hệ do miền Bắc chủ xướng với vũ khí của Nga Tàu đã ngưng từ lâu, nhưng, cuộc chiến vẫn chưa tàn. Thời gian trôi qua nhanh như mũi tên bay, vậy mà giờ đây trên quê hương Việt-Nam thân yêu vẫn còn cảnh đói nghèo và bất công. Người Việt-Nam vẫn phải tìm đủ mọi cách để rời bỏ xóm làng, rời bỏ ruộng đồng, rời xa nơi chôn nhau cắt rún… để tìm sự sống nơi xứ người. Nhưng, người Việt-Nam thì vẫn còn chia rẽ và hận thù mà chỉ khi nào cái đảng cộng sản Việt Nam man rợ không còn nữa thì người Việt Nam mới hết thù hận và hết chia rẽ!

    Giờ đây một trăm lẻ chín người trên chiếc ghe mang bảng số SS 1505 IA hiện đang ở đâu trên khắp quả địa cầu này? Những ai còn và những ai đã ra đi vĩnh viễn?

    Chúng ta rồi đây lần lượt cũng sẽ mất tất cả!

    Mất gì ? Chắc Chắn Một Điều, Chúng Ta Sẽ Không Bao Giờ Để Mất Quê Hương và Mất Tình Người Việt Nam. /.

    Hồi ký - Topa (Hòa-Lan)

    https://vantuyen.net/2016/08/13/topa...en-kinh-hoang/

  10. The Following 2 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    hoang yen (04-19-2019), khongquan2 (04-18-2019)

  11. #288
    Moderator
    BachMa's Avatar
    Status : BachMa v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: May 2009
    Nguyên quán: VA is 4 Lovers
    Posts: 1,187
    Thanks: 7,823
    Thanked 5,262 Times in 1,160 Posts

    Button Xanh Nhờ Anh

    Nhờ Anh
    Ngô Tấn Nghĩa


    Hình minh họa

    Hai chữ “NHỜ ANH“ hay “NHỜ ĐẠI TÁ“ đã đem lại cho Bình Thuận sự an ninh và phát triển cho dân trong tỉnh, thốt ra không phải chỉ từ người dân mà cả các cấp Quân, Cán, Chính, không chỉ trong tỉnh nhà mà đã được loan truyền qua các tỉnh khác, đến cấp chánh phủ. Thêm vào đó Cố vấn Mỹ cũng báo cáo hàng ngày theo hệ thống của họ.

    Nên trường hợp Bình Thuận đã được các giới nêu lên làm đề tài nghiên cứu và học hỏi. Đặc biệt là cuối năm 1973, đại sứ Williams Colby, thuộc cơ quan CIA, ngưòi có trọng trách cho nhiều chương trình quan trọng tại Việt Nam, đã có thơ mời tôi qua Mỹ nói là để tham quan các Thống đốc Tiểu bang Mỹ nhưng sự thật hoàn toàn khác hẳn vì thời gian đó là lúc Quốc Hội Mỹ tranh cãi về giải pháp - “Cúp viện trợ và tháo chạy khỏi Việt Nam” nên ông Colby muốn đem tôi làm nhân chứng sống chứng minh cho sự thành công của chương trình PHÁT TRIỂN & VIỆT NAM HOÁ CHIẾN TRANH, hầu chinh phục Quồc Hội Mỹ yểm trợ cho các chương trình của ông được tiếp tục.

    Tuy nhiên qua năm 1974, mặc dầu việc du hành đã được sẵn sàng nhưng phải bị hủy bỏ vì các lý do sau:

    #1 - Tôi được tiết lộ là Quốc hội Mỹ đã biểu quyết “trói tay” TT Nixon, không được đơn phương viện trợ cho bất cứ nước nào nếu không có sự đồng thuận của Quốc Hội, dầu chưa công bố rõ ràng là quyết định cắt hết viện trợ cho Việt Nam.

    #2 –Con trai lớn cuả tôi, Ngô Quang Lý, Đại úy phi công, chuyên trách theo dõi, chụp hình các đoàn xâm nhập của Cộng sản, máy bay đã bị bắn hạ trên bầu trời Bến Cát.

    #3 - Mặc dầu phía Mỹ cứ hối thúc là nên đi nhưng Tổng Thống không chấp thuận viện lẽ tình hình rất sôi động, sự vắng mặt của tôi trong ba tuần lễ sẽ có tác dụng không tốt, trong khi đó Tổng Thống đã gởi qua Mỹ một Phái đoàn của Hạ viện do dân biểu Đinh Văn Đệ , Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng hướng dẫn qua cầu viện, xin số tiền rất khiêm tốn là ba trăm triệu cho đạn dược, xăng và phụ tùng tạm đủ đề cầm cự nhưng cuộc cầu viện lần cuối cùng này đã hoàn toàn thất bại.

    Trên đây là tóm lược vô đề cho bài “NHỜ ANH” vì hai chữ này là một khích lệ, là một huy chương quí giá nhất cho đời binh nghiệp của tôi, dầu là Bảo Quốc Huân Chương cũng chỉ là một bằng tưởng lệ treo trong nhà nhưng câu NHỜ ANH là một bằng tưởng lệ nói lên bao lời cảm kích, cám ơn thốt ra từ các cấp hàng ngày, và ngay cả bây giờ, bốn chục năm sau cuộc chiến trong những lần gặp mặt trong hội hè, hoạt động cộng đồng, đồng hương Bình Thuận tôi vẫn được nghe những lời “TUYÊN DƯƠNG” này và những bản tuyên dương có thể đọc được trong những tập san ÂN TÌNH, đặc biệt trong ÂN TÌNH V, Người lính già 229 đã nêu câu hỏi “BẰNG VÀO CÁI GÌ” mà Đại tá Tiểu khu trưởng Ngô Tấn Nghĩa đã lập được kỳ công này !? “Đây không phải là câu hỏi của Người lính già 229 mà thôi nhưng là của tất mọi nơi, mọi cấp và mọi giới".

    Cho tới nay tôi vẫn không thể viết lên trang sử này vì còn kẹt một số nhân chứng đã giúp tôi rất nhiều về tình báo vẫn còn sống tại Phan thiết cho tới cuối năm 2012 .Giờ đây tôi thấy không còn vướng víu vào những liên hệ này nữa nên có thể bộc lộ tâm tình, nói lên bí quyết để thành công ,với những tình tiết bí mật mà một số nhân vật đã cộng tác với tôi.

    Bài viết có thể dài nhưng vì trong khuôn khổ một đề tài cho tập san Ân Tình nên tôi sẽ hết sức ngắn gọn nhưng không để thiếu nhiều chi tiết.

    1 -SỰ CHỈ ĐỊNH BẤT NGỜ - Chưa bao giờ việc chỉ định một sĩ quan đi đảm nhiệm chức vụ Tỉnh/Tiểu khu trưỏng lại có thể quyết định mau chóng chỉ sau cuộc họp cấp Quân đoàn với 2 bộ tham mưu Mỹ Việt kéo dài 3 giờ đồng hồ. Đó là một ngày vào tháng 10 năm 1969, dưới sự chủ tọa của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

    Như thưòng lệ, tôi là Trưởng Phòng 2 lên mở màn buỏi họp cao cấp Mỹ Việt bằng thuyết trình về tình hình địch bằng ngoại ngữ (được T.Thống cho phép ). Trong phiên họp T.Thống đã tiết lộ mục đích buổi hội là thảo luân với các Tướng Việt Mỹ về chương trình “VIẸT NAM HÓA CHIẾN TRANH” . Vào giờ giải lao, Tổng thống hỏi tôi sao từ 5 năm qua tôi vẫn thấy anh còn ở Pleiku mà ít có sĩ quan nào ở lâu như vậy, tôi thưa rằng tôi không muốn xin thuyên chuyển vì đây là vùng hỏa tuyến mà tôi đã làm việc rất hữu hiệu với chuyên môn tình báo điện tử, phối hợp chặt chẽ với ngành tình báo Hoa Kỳ đem lại kết quả khích lệ cho Quân đoàn. Kế đó là cuộc họp riêng giữa cấp tưóng Việt Mỹ và Tham Mưu Trưởng Quân Đòan để thảo luận về chưong trình Việt Nam Hóa và phối trí các lực lượng cùng cấp chỉ huy các đơn vị và các Tiểu Khu Trưởng.

    Sau cuộc họp quan trọng này và sau khi T.Thống ra về thì tôi đựơc Trung tướng Tư lệnh vùng cho hay là tôi được chỉ định đi làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trửơng Bình Thuận. Trung tướng kêu Phòng Tổng Quản Tri liên lạc với Phủ Thủ Tướng và Phòng Tổng Quản Tri Bộ Tổng Tham mưu để làm lệnh thuyên chuyẻn và Nghị định. Thật là tiếng sét bất ngờ, tôi rất ngạc nhiên với cảm súc lẫn lộn vui mừng và lo ngại. Vui vì đây là một chức vụ có tầm cỡ ngang hàng với một Tư lệnh cấp Sư đoàn mà theo bình thường thì tôi chẳng thể nào “vói tới” nhưng nay với hoàn cảnh khó khăn hiểm trở tôi lại phải là người tiền phong – lo ngại vì tôi biết chắc đây là một nhiệm vu bất khả thi ( mission impossible ) vì đã 5 năm là Trưởng Phòng 2 Quân đoàn, tôi đã cùng Phòng 3, phối trí lượng tăng cường và yểm trợ cho các Tiểu khu thì hai Tiểu khu nặng nề nhất là Bình Định ở phía Bắc và phía nam là Bình Thuận - tại hai Tỉnh này ngày nào cũng có giao tranh, tấn công các đồn lẻ tẻ, các đòan Xây Dựng Nông Thôn, Nghĩa Quân và đôi khi cấp đại đội ĐPQ cũng bị tổn thất khá nặng nề trong các cuộc phục kích,có khi ngay sát nách thị xã .Với hoàn cảnh này tôi vô cùng lo ngại biết rằng khi tới Bình Thuận thì tất cả các đơn vị chính qui của các Trung đoàn chính qui đóng quân tại miền Bắc Bình Thuận, các lực lưọng Mỹ, gồm đơn vị đặc biệt, chiến xa, trong pháo và không quân yểm trợ đóng tại miền nam Bình Thuận với sự trợ lực hùng hậu của Hải quân Mỹ, chạy dài theo bờ biển sẽ rút hết.

    Vì ngày nhận nhiêm vụ đã quá gần Tết tôi cố gắng xin đáo nhậm sau Tết. Trong suốt thời gian trước khi lên đường tôi rất băn khoăn lo ngại không biết rồi đây tôi sẽ đối phó ra sao? Mấy đêm gần như không ngủ, ngồi trước bản đồ Bình Thuận với những điểm VC chốt, thu thuế, những khúc Tỉnh lộ, Quốc lộ không thể lưu thông, xe đò phải nằm ụ, đời sống của giới chuyên chở đã bị khó khăn, mọi di chuyển từ Bắc vào Nam Tỉnh phải dùng đường biển. Từ năm 1966, tôi cũng đã theo dõi tình hình chính trị và tôn giáo đa dạng tại Bình Thuận - tại đây ta phải chiến đấu với thù trong, giặc ngoài, tất cả những biến cố tranh đấu, biểu tình bạo động, diễn ra tại Miến Trung, tại Huế đều diễn ra tại Bình Định và Bình Thuận. Những vi Tỉnh trưởng /Tiểu khu trưởng khi về đáo nhậm các tỉnh này đều bị coi là “bọn tàn dư, tay sai của Mỹ-Thiệu về để đàn áp phật giáo”.

    Tôi không có người quen thuộc tại Bình Thuận nên không có tin tức và người có thể góp ý kiến, may sao đã kiếm được mối dây liên hệ với Bình Thuận là lúc đó con gái học tại trường dược cho biết có ông thầy người Bình Thuận là giáo sư Trương Văn Chôm tôi lập tức xin gặp giáo sư để làm quen, giáo sư rất vui vẻ cởi mở và khi tôi tiết lộ rằng tôi có nhiệm vụ lo cho an ninh và phát triển tỉnh Bình Thuận nên cần có được những nhân sĩ địa phương để cộng tác lo cho dân thì giáo sư tỏ ra rất tán thành ý kiến này và tiết lộ rằng ông có ông anh vợ là một cư sĩ Phật Giáo có uy tín trong cộng đồng Phật Giáo là ông Bảy Hoành và ông sẽ giới thiệu tôi cho ông này. Không đầy một tuần sau tôi gặp ông Bảy Hoành tại Sài Gòn . Việc đầu tiên của tôi là tấn công “Tình cảm” bộc lộ tâm tư của người “Phật tử” có “cơ duyên” ra phục vụ đồng bào Binh Thuận. Tôi hứa liên lạc mật thiết với Phật Giáo, lắng nghe ý kiến của đồng bào để áp dụng đường lối thích hợp. Anh Bảy tỏ ra rất hoan hỉ tiếp đón đề nghị của tôi với niềm hân hoan khi chia tay, riêng về phía tôi cũng rất mừng đã đặt căn bản để hòa dịu hy vọng vô hiệu hóa chiến tranh chống “giặc trong”.

    Trước khi đáo nhậm Tỉnh và Tiểu khu tôi đã thảo luận rất kỹ càng với Cố Vấn của P.2, người đã cùng tôi áp dụng mọi kỹ thuật tinh vi của điện tử để chụp hình, theo dõi các vị trí đóng quân, mọi sự xâm nhập di chuyển của địch và xin phi tuần B52 trải thảm xuống đầu địch. Chúng tôi đã đạt được kết qua vô cùng giá trị. Tôi trình bày giờ đây tôi phải đi lãnh trọng trách khó khăn mà các đơn vị chính qui của Việt Nam cũng như các đơn vị yểm trợ hùng mạnh của Mỹ sẽ rút đi nên chỉ còn mong đợi vào sự hỗ trợ của tinh báo kỹ thuật. Họ rất hoan hỷ để yểm trợ với sự tham gia của mọi đơn vị chuyên môn, họ là thành phần đầu tiên tiết lộ cho tôi biết là nơi mà tôi tới sẽ có đơn vị tình báo Hải Quân với các chiến hạm của Hạm Đội 7 chạy dọc theo bờ biển Việt Nam với những khẩu hải pháo có tầm xa có thể bao trùm toàn lãnh thổ Bình Thuận, họ hứa sẽ biệt phái cho tôi một chuyên viên để phối hợp khi cần biết rằng về kỹ thuật tôi đã tham dự hai khóa tình báo Mỹ tại Okinawa Nhật và khóa Tình báo cao cấp cho đồng minh tại Fort Hollabird tại Hoa kỳ.

    Ngày đáo nhậm Bình Thuận đã đến, trên máy bay tôi băn khuăn lo lắng, thấy tương lai còn mờ mịt, tự hỏi có phép lạ nào có thể giúp đảo ngược được tình thế như vậy, nhưng thôi hãy cương quyết ôm hai chữ “CHẤP NHẬN” vì “DANH DỰ và TỔ QUỐC” và tin tưởng vì không còn cách nào khác ngoài sự dấn thân.

    Cảm tưởng đầu tiên khi đặt chân tới Tỉnh thấy đây đâu phải là Tòa Tỉnh mà là một tiền đồn vì chung quanh toàn là bao cát chất cao nghệu và hàng rào kẽm gai chằng chịt chung quanh, ngăn cách các nơi làm việc giữa Văn Phòng Tỉnh và Trung Tâm Hành Quân Tiểu Khu mà vị tiền nhiệm khi qua lại đã dùng xe jeep với cận vệ sẵn sàng trong tư thế chiến đấu.

    Trong những ngày bàn giao, ngoài giờ thảo luận tôi đã ra ngoài đi thăm dân cho biết sự tình, quan sát các hoạt động hàng ngày, tới chiều tối đi ra vòng đai thị xã và đã chứng kiến những đoàn người về thị xã ngủ cho được an toàn. Những đoàn xe Honda chở đôi, chở ba, trên xe có đủ loại màu sắc: binh sĩ, cảnh sát, cán bộ XDNT, kể cả cấp Trung và Đại Đội Trưởng. Ngày sau thuật lại chuyện quan sát cho anh tiền nhiệm nghe, anh khuyên tôi nên thận trọng và muốn ra tới cầu Phú Hài thi hãy cần xe cơ giới yểm trợ. Tuy nhiên, tôi vẫn đơn phương tiếp tục du hành quan sát những ngày kế tiếp. Những nhận định này đã giúp việc thiết kế được sát với hoàn cảnh hơn.

    QUAN NIỆM HÀNH QUÂN – Quan niệm rằng ta không thể có cơ thắng thế về quân sự vì các lực lượng yểm trợ đã bi lấy đi theo chương trình VNHCT khiến binh sĩ bị giao động về tinh thần chiến đấu vì khi lực lượng hùng hậu còn ta vẫn bi thụ động mà nay lực lượng yểm trợ không còn nữa nên địch sẽ lên tình thần và sẽ tăng cường tấn công và phá hoại. Vì lý do chính yếu và thực tế đó tôi phải chuyển qua chương trình “GIẢI ĐỘC”, nói cách khác là “PHẢN TUYÊN TRUYỀN” nhưng giải độc hay phản tuyên truyền đã là công việc hàng ngày của các cơ quan chính phủ và quân đội chỉ đem lại những kết quả khiêm tốn nay với tình thế đặc biệt khẩn cấp tôi phải nâng lên thành chiến tranh cân não hay chiến tranh Ý THỨC HỆ và muốn thi hành ý nguyện này tôi phải là người dấn thân hướng dẫn thi hành . Lúc này người dân và quân đều mù mờ vế ý thức chống cộng nên cộng sản đã dùng chiêu bài “CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC” để tuyên truyền lôi cuốn gây tác hại đáng kể cho ta.

    Kế hoạch đã định , tôi ra lệnh triệu tập cuộc họp “CẤP TRƯỞNG” nghĩa là bên Hành Chánh, Xã Ấp cũng như quân đội ĐPQ + NQ + CS và XDNT bất cứ người nào chức vụ có chữ trưởng đều được mời. Cuộc họp đã có được trên 2500 người tham dự. Trong buổi họp kéo dài tôi đã trình bày rõ tình hình và hoàn cảnh hiện tại và nói rằng nếu ta không có sự thay đổi dấn thân thì tình hình càng ngày càng bi đát hơn hiện nay với các trục lộ giao thông bị bế tắt, CS công khai thu thuế nhiều nơi, viêc chuyển vận từ Nam lên Bắc phải dùng ghe thuyền, đêm thì các đồn bót co rút trong đồn, ngoài âp CS mặc tình thao túng, tôi cũng không giấu giếm là các lực lượng chính qui và Mỹ sẽ rút đi hết rất gần đây mà ta phải tự lực cảnh sinh vậy chúng ta phải đặt nặng tinh thần trách nhiệm và hy sinh hướng về các ấp dùng chiến thuật của CS là “GIẶC LÙI TA TIẾN, GIẶC TIẾN TA LÙI” để phản công chúng nhưng ta quyết không lùi mà chỉ có tiến. Tôi biết các em đã có số người bị giao động, tinh thần hoang mang nhưng các em sẽ không bị cô đơn vì tôi là người xung phong đi với các em đến các ấp, bất kể gần xa, hẻo lánh sẽ có sự hiện diện của tôi trong giờ phút khẩn trương.

    Những ngày sau buổi hội ,tôi bắt đầu thực hành liền, bất thần tới những đồn cấp Trung đội và Đại đội khi vừa xẩm tối, vì bất thần đơn vị chạy tán lọan thay quân phục để vào hàng trình diện, trong những ngày đầu có những đơn vị bị thiếu quân số đáng kể nhưng rồi tiếng báo động truyền khẩu đã loan đi tới các đơn vị khác cho nên những ngày sau đó sự vắng mặt đã giảm thiểu . Tôi tỏ ra thân thiện, thương yêu binh sĩ và tâm tình, thăm viếng vỗ về, ủy lạo các cấp nên chẳng bao lâu các em đã tặng cho tôi biệt hiệu “ÔNG GIÀ” độ lượng đầy tình thương. Sau này tôi đi ngủ ấp binh sĩ không còn sợ sệt mà tỏ ra mừng rỡ.

    Trong khi tôi kiểm tra đơn vị và tâm tình với các em quân nhân thì giàn loa phóng thanh được thiết trí, đầy đủ cho cả ấp nghe sau khi đồng bào đi làm đồng áng về vừa cơm nước xong là tôi bắt đầu lên tiếng vấn an đồng bào và chiến sĩ trong xã, ấp, buổi nói chuyện nhấn mạnh về đề tài CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC.

    Anh chị em ấp……..thân mến, tôi Đại tá Ngô Tấn Nghĩa, Tỉnh trưởng Bình Thuận, đêm nay về ấp thăm và tâm tình cùng anh chị em, để chia sẻ nỗi niềm tâm sự, giải toả những thắc mắc, khó khăn và bực tức mà đồng bào phải chất chứa trong lòng, không dám tỏ cùng ai, đó là nguồn gốc nảy sanh ra sự căm thù, oán hận. Vi vậy nên tôi đã quyết đi từng ấp và tất cả các ấp trong tỉnh để hoàn thành nhiệm vụ.

    Tôi biết đồng bào đang gánh chịu một cổ hai tròng,CS đã sách nhiễu ,bắt đóng góp quá nhiều để nuôi quân và nhất là cho qũy CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC . Vi vậy tôi thấy rất quan trọng nêu ra đây một số câu hỏi rất thực tế và giản dị để đồng bào hiểu được sự láo khoét cuả chúng.

    Nước nào đã đánh bại nhóm quân phiệt Đức -Nhật đề chấm dứt chiến tranh thế giới lần thứ hai ? Sau chiến tranh các nước Á châu đã được đã được trả lại độc lập cho xứ sở họ và đã củng cố nền độc lập , bẩu cử tự do nhưng tại sao HCM lại bắt dân tộc ta phải tiếp tục chém giết nhau, phải cưỡng nhận chế độ Cộng sản, tiêu diệt tất cả những ai không theo chúng, hãy kiểm điểm lại ấp mình đây đã bao nhiêu ngưòi bị áp sát, bắt cóc và bao nhiêu gia đình giờ này còn tang chế.

    Ta hãy nhìn kỹ tấm gương sáng tại 2 nước láng giềng là Nam Hàn và Nhật Bản .Nhật Bản là tội phạm chiến tranh, đã chiếm đóng hà khắc trên nhiều nước Á Châu kể cả Việt Nam ta nhưng khi bị Mỹ đánh bại rồi Mỹ đã không chiếm cứ, đô hộ Nhật mà trái lại đã giúp cho Nhật nhân tài, kỹ thuật chuyên môn để sản xuất đủ mọi thứ từ máy thâu thanh nhỏ cầm tay tới xe hơi, cơ giới hạng nặng và bất cứ những gì nước Mỹ có thì Nhật cũng sản xuất được mà sản xuất mạnh ngang hàng với Mỹ nhưng sức tiêu thụ lại mạnh và mau hơn vì giá thành lại rẻ hơn đồ Mỹ nên chẳng bao lâu sau chiến tranh nước Nhật đã thành một cường quốc kinh tế sắp hạng nhất nhì trên thế giới. Tại vùng thôn quê hẻo lánh này giờ này quí vi hãy ngó chung quanh nhà, thấy tất cả vật dụng ta dùng, từ máy thâu thanh lớn nhỏ, máy truyền hình đến những món lớn như Honda, máy cày phương tiện phổ thông di chuyển tất cả đều sản xuất từ Nhật Bản.

    Tấm gương thứ hai với hoàn cảnh rất giống Việt Nam ta đó là nước Triều Tiên với hai vùng gọi Nam Hàn và Bắc Hàn .Hai phần đất này cũng được độc lập tự do sau Đệ nhị thế chiến năm 1945 nhưng 2 Miền có hai ảnh hưởng khác nhau, Bắc Hàn thì thiên về Cộng sản Nga –Tàu , trong khi Nam Hàn cương quyết giữ thể chế tự do thân phương tây nhưng chỉ được 5 năm sau tức năm 1950 tháng 6 - Quân Trung cộng đã xúi Bắc Hàn phải “GIẢI PHÓNG NAM HAN” để CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC với quân của hai nước dùng chiến thuật biển người tràn xuống Miền Nam như nưóc lũ chỉ trong mấy ngày đã chiếm được thủ đô Hán Thành và đang tiếp tục tiến về nam gần tới điểm cuối cùng ra biển thì Mỹ đã kịp thời phản công, lộ quân Mỹ dưới quyền Tư lệnh tướng MacArthur đã đổ bộ cắt ngang giữa Nam và Bắc Hàn, đánh xuống tiêu diệt đại bộ phân liên quân Trung Cộng -Bắc Hàn và tiếp tục đánh ngược lên Bắc, cuộc chiến qua lại đã kéo dài ba năm 1950 -1953, rốt cuộc Bắc Hàn phải cố thủ tại vĩ quyến 38, ranh giới cũ nhưng đã sát hại trên hai triệu dân. Rồi 17 năm sau cho tới hiện tại, Bắc Hàn với chế độ cộng sản độc tài hà khắc khiến dân Bắc Hàn phải chịu khốn đốn và hàng triệu người chết đói triền miên năm này qua năm khác ngay cả trong hiện tại trong khi đó Nam Hàn đã thành quốc gia có nền kinh tế, kỹ nghệ gần theo kịp với Nhật Bản. Đó là những bằng chứng cụ thể, trước mắt, không thể chối cãi.

    Mong đồng bào lắng nghe, ngay cả cán bộ CS , giờ này có thể các anh ở trong hay ngoài ấp hãy nhìn thẳng vào thực tế, suy nghĩ cho chín chắn và sâu xa , nhìn rõ sự thật và hãy trở về làng cũ lo cho gia đình và cha mẹ. Bài tâm sự này của tôi sẽ được in ra rất nhiều bản, được phổ biến rộng rãi không những trong các ấp mà sẽ được rải trên các vùng rừng núi trong toàn tỉnh. Tôi thiết tha kêu gọi sự hồi tỉnh của các anh, tôi biết các anh còn đắn đo, nghi kỵ sợ bị lường gạt kêu gọi các anh về rồi bị hãm hại nhưng tôi bảo đảm với các anh đây là lời gọi tâm huyết, các anh có thể cầm thơ kêu gọi của tôi tới bất cứ nơi nào xã, ấp hay thị xã và cho hay rằng các anh đáp lời mời cuả tôi về thăm bà con trong 15 ngày ,hay nhờ bà con liên lạc trước với tôi ,trong dịp này các anh có quyết định ở lại luôn hay tự do trở về lại chiến khu.

    Rồi lời tâm huyết với bốn chữ CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC đã được rải trên các mật khu trong toàn tỉnh ,trong khi đó tôi đã phối hợp các cơ quan đến các ấp lo Dân Sự Vụ, nhất là lúc chương trình NGƯỜI CÀY CÓ RUỘNG vưà mới được ban hành . Lần lượt dù ngày hay đêm tôi đã đi qua được hết 173 ấp trong toàn tỉnh. Kết quả kêu gọi của tôi đã thành công bất ngờ nhưng rất bí mật và âm thầm . Không ai ngờ là các là các bô lão tại Phan Thiết thường ngày không ưa chính quyền và tới văn phòng tỉnh với vẻ mặt sát khí đằng đằng nay lại tới tâm tình với Đại tá Tỉnh trưởng, thì ra các cụ thổ lộ là có thằng cháu muốn đáp ứng lời kêu gọi cuả Đại tá trở về và tôi đã bảo đảm với nó là lời kêu gọi cuả Đại tá rất thành khẩn và tôi sẽ bảo đảm cho nó.

    Tới đây thì tôi lại dùng xảo thuật khác nói tôi sẽ giúp các cháu nhưng cần phải lo an toàn cho nó vì nếu nó về thẳng Phan Thiết thì sợ VC sẽ ám hại gia đình nó nên tôi đề nghị các ông là cho cháu về Sài Gòn, tại một đia điểm như Cầu Ông Lãnh , nơi lui tới của các ghe cá, mắm của Phan Thiết rồi mình sẽ kín đáo gặp nó , ở đó tôi sẽ nghe nó nói tại sao nó muốn về và tinh thần của những người còn lại như thế nào ? Thế rồi những cuộc gặp đã được sắp đặt, mỗi tháng tôi phải về Sài Gòn.

    Tôi đã cố giữ bí mật bằng cách cho tài xế và con trai Lễ đi du hí, tôi tự lái xe đi tới chỗ hẹn với 2 cảnh sát chìm của Ty Cảnh Sát quận 5 theo dõi ngầm từ xa xa. Mặc dầu bảo mật tối đa nhưng bất ngờ cũng bị lòi đuôi vì các cụ tới nhà tôi tình cờ gặp tài xế và anh hỏi: Thưa Đại tá có việc gì mà có các ông như Năm Tho, Phan Vũ Lộc v.v. tới tìm Đai tá ? - đó là chuyện lạ đối với chú tài nhưng tôi chỉ phớt tỉnh trả lời vì các ông có hứa khi có dịp đi Sài Gòn sẽ ghé thăm thôi. Trong dịp gặp gỡ với những cán bộ muốn hồi cư tôi vận dụng hết tình cảm để thâu đưọc những chi tiết quí giá như: những đêm phát thanh ở ấp của tôi rất hữu hiệu, CS cứng họng không thể có lập luận phản biện, chúng đã ra lệnh cho các cán bộ hạ tầng địa phương rút về vùng an toàn, các đồng đội phải dòm ngó nhau di chuyển cặp kè chận đứng mọi sự đào ngũ nhưng có nhiều trường hợp đào ngũ đã xảy ra.

    Tinh thần bộ đội giao động vì các cuộc pháo kích quá chính xác, lại thường xuyên hơn trước kia nên chúng nghi có nội gián phải di đông bất ngờ. Các mũi công tác bị tổn hại nhiều vì mìn tự động, sợ đến nỗi khi xâm nhập ấp phải đem theo một xấp giấy trắng dễ thấy ban đêm, người tiền đạo phải rải trên đường xâm nhập vô ấp và khi đi ra cũng phải ngó theo đường cũ nhưng vẫn bị chạm mìn. Hiện tình họ rất lúng túng, hoang mang, giao động. Lúc này là lúc tôi “đầu độc” trở lại đưa ra những tin kinh hoàng như: “anh biết tại sao pháo kích lại quá chính xác không vi tôi được trang bị nhiều máy điện tử tối tân thí dụ như máy phát giác những điểm nóng, chỗ nào có đóng quân là có nấu nướng, máy tầm nhiệt sẽ phát hiện điểm nhiệt lên trên màn hình ,thêm vào đó cũng có máy theo dõi sự di chuyển của các đoàn quân hay tiếp tế dầu đêm hay ngày nên đã làm tê liệt được mọi mưu toan tấn công. Tinh thần như vậy còn đâu ý chí tấn công mà chỉ lo chạy. Bình thuận được an toàn ngày đêm là vậy.

    Trên đây là sơ kết thành tích trong sáu năm cho Bình thuận, nhưng một con én làm sao đem lại được muà xuân.tôi đã thành công nhờ sự cộng tác chân thành của mọi giới và các tôn giáo.

    a-QUÂN ĐÔI – Đoàn kết keo sơn với tinh thần kỷ luật cao độ,mặc dầu có số sĩ quan xuất thân từ các khóa đàn anh tại trường VÕ BỊ QUỐC GIA như Trung tá Phong khóa 3, Trung tá Út khóa 7, Trung tá Luông khóa 8, một khóa với Thiếu Tướng Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn. Tôi thuộc khóa 9 nhưng sắp về tuổi tác tôi lại là người cao niên và giàu kinh nghiệm hơn hết.

    b -HÀNH CHÁNH – Tôi đã có được những Đốc sự, trẻ tuổi, can đảm dấn thân, hăng say tham gia mọi công tác dân sự và hành quân theo quân đội. Có lần để thay thế ông phó Tiên xin thuyên chuyển về Bình Dương, Bộ Nội Vụ gởi ra một Đốc Sự cao niên, ông đã đi nhiều tỉnh và tại Bộ Nội Vụ, có gốc lớn ở Trung ương mà tỉnh nào cũng phải vị nể. Bắt đầu làm việc được hai tháng, một hôm ông đem chồng giấy tờ qua văn phòng tôi và bắt đầu đòi hỏi điều kiện, ông nói Đai tá ủy nhiệm cho tôi ký giấy tờ để tôi có thể “Lo” cho Đai tá, tôi trả lời ông “ Cám ơn ông phó, khỏi cần lo cho tôi vì tôi muốn ký những giấy tờ gì thuộc về quyền hạn và trách nhiệm của Tỉnh trưởng.

    Tôi không dám phán đoán về chữ lo mà ông sử dụng vì nó có thể bao hàm dụng ý khác nhau, nhưng ngày sau tôi bay vào trình với Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm xin thuyên chuyển ông phó vì ông không có khả năng đi hoạt động với tôi tại xã ấp, Thủ tướng chỉ hỏi tôi một câu bây giờ anh đề nghị ai? Tôi trình ra tên ông Phạm Ngọc Cửu, Chánh Văn Phòng, người tôi đã quan sát từ ngày nhậm chức và trước đó đã có nhiều thành tích xông pha cho Bình thuận. Thủ tướng ra lệnh cho ông Chánh Văn Phòng gọi Bộ Nội Vụ làm lệnh. Kể từ đó ông phó đã phối hợp, điều hòa nền hành chánh với với các ty sở với sự đoàn kết khăng khít giữa các ngành chuyên môn, phối hợp nhịp nhàng và thương yêu giữa các Đốc Sự trẻ tuổi.

    c -TÔN GIÁO – Tôn giáo thì nhiều nhưng không phức tạp ,từ ngày đầu tôi đáo nhậm đã đi từng đơn vị chính như nhà thờ, chùa Phật và chùa Chàm và đâu đâu tôi cũng đưọc sự đón nhận thân tình. Phía ngưòi Hoa được phép tổ chức “RƯỚC ÔNG” một tục lệ cổ truyền nhưng họ không được phép thực hiện từ nhiều năm qua, nay họ được phép làm lễ mà lại được RƯỚC ÔNG vào cả tòa tỉnh họ vui mừng xiết kể, tôi không ngại đêm tối và an ninh tôi đã tới chủ tọa cuộc đấu bóng rổ với Chợ Lớn. Với giới ngư phủ, mỗi khi có cá ông “lụy” tôi đều tới tham dự lễ phát tang, chôn cất.

    Khi tới Phan thiết anh Bảy Hoành đã ân cần giới thiệu tôi với các giới có uy tín với Tỉnh hội Phật giáo. Món quà đầu tiên cuả tôi là số thực phẩm CARITAS được đem tới chùa Tỉnh hội tặng cho Phật tử. Tại sao lại có việc trái khoáy như vậy? vì tôi đã bay ra Nha Trang trình với Đức cha (Hồng Y) Nguyễn Văn Thuận kế hoạch hài hòa tôn giáo của tôi làm sao vô hiệu hóa vấn đề TRANH ĐẤU, xuống đường. Nghe xong Đức cha rất đồng ý và ngài đã vượt qua giới hạn của Tòa thánh, chấp nhận lời thỉnh cầu của tôi. Đức cha đã có cảm tình với tôi từ trước từ sau ngày Tổng thống Diệm bi thất xủng, tôi đã lo cho gia đình ngài và khi người em ruột ngài là Thiếu tá Nguyễn Linh Tuyên, một sĩ quan Quân cụ bị đày đi Pleiku với lệnh cho đi đơn vị tác chiến nhưng khi tới Pleiku tôi đã bảo lãnh đi theo tôi làm tại Phòng 2.
    Với Tỉnh hội Phật giáo tôi leo thang hơn nữa bằng cách tiết lộ kế hoạch thiết trí tượng Phật bà cao 12m trên lầu Ông Hoàng, tượng dơ tay, đăm chiêu nhìn ra biển lo âu, như sẵn sàng đón nhận, độ trì cho những đứa con ngư phủ trong lúc gặp phong ba bão táp.

    Khi pho tượng đã hoàn thành bên Tỉnh hội đề nghị mời bên Ấn Quang ra khánh thành tôi cũng tán thành. Buổi lễ an vị tượng đài đã được diễn ra vô cùng long trọng với hàng ngàn Tăng Ni và Phật tư cung nghinh. Các bạn bè trong Sài Gòn rất lo ngại cho tôi hỏi tại sao dám gồng mình như vậy không sợ bị “bay” sao ? Tôi nói tôi có bổn phận nắm dân tạo hậu thuẫn càng nhiều càng tốt.

    Cộng sản tỏ vẻ tức tối về vụ này đã tung tin đầu độc vào Trung ương xuyên tạc việc làm của tôi nhưng đa số đều tán thành cho đây chỉ là một xảo thuật chính trị được tán đồng. Cộng sản vẫn không chịu buông tha, chặt đầu này chúng mọc đầu khác, không bao lâu sau đó chúng đã xúi học sinh trường Phan Bội Châu đi rải truyền đơn kêu gọi nhân dân chống chánh quyền và kêu gọi tham gia phong trào CHỐNG MY CỨU NƯỚC, hai học sinh đã bi Cảnh sát bắt, Ông Cò Nhị đã cho tôi hay là đám này hoạt động do xúi giục mà không có tổ chức đằng sau, trong lúc đó thầy Vĩnh Giêng đã xăng xái theo dõi diễn tiến cuộc điều tra nhưng hậu ý không phải là để lo cho học trò mà có ý tìm kẽ hở nếu học sinh bị tra tấn hay bi xử tù thì sẽ có phong trào sinh viên xuống đường chống chánh quyền đàn áp sinh viên. Nhưng tôi đã biết nguồn gốc đấu tranh của thầy nên lạnh lùng trả lời còn đang đợi cuộc điều tra kết thúc.

    Bất ngờ cho dân chúng Phan thiết là tôi đã trả tự do cho hai học sinh bằng cách tập họp toàn trường PBC với tất cả các thầy cô và học sinh lại để nghe hát bài CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC trước khi trả tự do cho hai học sinh này với lý do các em học sinh ngây thơ đã bị bọn CS lợi dụng nhưng chính quyền không nỡ trừng phạt các em, e sẽ cắt đứt tương lai thăng tiến của các mầm non cho thế hệ mai sau. Nghe đâu hai học sinh này cũng có mặt tại Mỹ. So sánh với thực tạị ngày nay ta nhận thấy trường hợp của sinh viên Phương Uyên ngày nay mà CS hành hạ và truy tố đã làm vang dội thế giới với mọi thất lợi cho chúng.

    Đối với Công giáo bất cứ hoạt động ở ấp nào tôi cũng đến thăm nhà thờ hàn huyên vớí các Cha tôi cũng đã yểm trợ trong các ngày lể,có vài Cha như Gò Bồi,Thuận Nghĩa , nhất là cha Thiện Gíáo, trước những ngày lễ Cha đều tới Đại tá : Đại tá ơi, giáo dân đi làm ngoài rẫy phát hiện được VC cấp Tiểu đoàn đóng cách đây vài cây số , biết rằng thầm ý Cha chỉ muốn che dù trước khi mưa nhưng tôi cũng vui vẻ trả lời Cha cứ yên chí đêm thánh lễ thế nào cũng có Đại tá Tỉnh trưởng tham dự và rồi tôi đã đến và được phường “TRẮC” dàn chào danh dự. Đối với Công giáo không hề có chuyện gì xảy ra xích mích với chánh quyền và đã sống với nhau như một gia đình. Tôi là vị Tỉnh trưởng đầu tiến đạt cho được một dân biểu Công giáo.

    Năm 1972 thì số giáo dân Bình thuận đã thêm được 5000 người đó là đồng bào từ Cambodia chạy về do Phủ Khẩn hoang lập ấp gởi tới dưới sự dẫn dắt của hai linh mục, một Việt là cha Sanh và một Mỹ là cha Devlin.

    Tôi không thể không nhắc đến trường hợp đặc biệt của cha Mỹ vì ngài là người khuyết tật nhưng đầy lòng bác ái, tình nguyện qua Việt Nam để cứu giúp những đứa con đau khổ. Khi tới Bình Thuận ngài đã từ chối sống trong căn cứ bảo đảm với đoàn Cố Vấn mà nhất định sống với con chiên ngay tại khu rừng khẩn hoang cách thị xã 3 cây số, chỉ trong một trailer thiếu tiện nghi đủ mọi thứ. Đây là mồi nhử cho Cộng sản vào giết hoặc bắt cóc ngài. Biết vậy tôi đã dùng ngài để nhử Cộng sản vào để tiêu diệt, sắp đặt hàng rào chiến lược bằng mìn claymore gài với đường giây nối nhau bao ấp trong khi chỉ có một Trung đội lo an ninh trong. Hàng rào mìn là hệ thống Ấp Chiến Lược rất nguy hiểm cho CS, vì chỉ thiết trí sau khi đã đi tuần vùng xung quanh và khi về mới thiết trí hàng rào mìn. Quả nhiên CS đã mắc bẫy, hai lần trước chúng còn mang được thây đồng đội đi đến lần thứ ba chúng phải bỏ lại 5 xác chết vì không còn dám vào để lôi thây.

    Cho tới ngày di tản, cố vấn tỉnh đem xe ra đón ngài lên máy bay về Sài Gòn, ngài nhất định từ chối và nhứt định ở lại chết với con chiên. Ngài tới trình bày kế hoạch di tản với con chiên bằng cách đề nghị với tôi là mình gom hết lực lượng và dân chúng thành một đoàn quân vĩ đại và đi chuyển bằng chân (đưòng bộ) về Sài Gòn, tôi trình bày với ngài là không thể được vì khu Rừng Lá và Định Quán địch đã chiếm và chốt rất gay go, nếu mình tới đó sẽ rớt vào hoàn cảnh di tản cuả Quân Đoàn II qua Phú Bổn. Ngài đã khóc vì phẫn uất đưa cho tôi xem bài thơ “CHỬI MỸ - MỸ ƠI ĐỪNG NGOẢNH MẶT – AMERICA ! DON’T TURN BACK” . Rồi ngày 10 tháng 4 năm 1975, cố vấn đòan đã được lệnh bắt và áp giải ngài lên trực thăng bay về Sài Gòn.

    Về tới Saigon ngài lại trốn ra ngoài sống với dân chúng trong khi đó những ngày chót radio Sài Gòn của Việt Mỹ ra rả kêu suốt ngày đêm tìm cha Devlin vẫn bặt tăm nhưng cuối cùng ngài cũng đã bị bắt và chở về Mỹ. Về tới Mỹ vẫn một lòng nhớ tới đàn con chiên đang bơ vơ dưới gông cùm CS, ngài liền tình nguyện qua Thái Lan để lo cho đồng bào Việt Nam tỵ nạn tại trại Sông Khả mãi đến năm 1989 vì quá già và bịnh hoạn ngài đã trở về quê nhà và qua đời tại Utah.

    Đối với sắc tộc Chàm, tôi cũng chia sẻ đồng đều thăm viếng như các tôn giáo khác, tôi rất thương mến các “CẢ” và ngược lại cũng được các “CẢ” quí mến, đã đi sâu vào các chùa tham dự các lễ quan trọng,cũng tham gia đám ma của dân tộc Chàm, theo tục lệ chôn người nằm xấp mà dân bản địa nói là khi nào có xét đánh thì thây sẽ được lật ngửa trở lại. Tôi nhớ mãi những nụ cười cuả các Cả, nhất là cả Tào và cả Thường Hòn mỗi lúc tôi tới thăm chùa đều nói “Đại tá rất thực tế”. Tôi không hiểu thế nào là thực tế, có lẽ mỗi khi tới thăm chùa tôi “dúi” chút ít gọi là để cúng kiến và tu bổ chùa.

    Đảo Phú Quí là nơi xa đất liền xưa nay vẫn ít có vị Tỉnh trưởng thăm viếng vì muốn liên lac phải dùng ghe thuyền, sóng gió bất thường nên rất khó khăn cho việc tải thương, bệnh nhân cần cứu cấp cũng như sản phụ gặp khó khăn trong khi sinh nở, đã có những trường hợp phải tử vong. Tử khi về Bình thuận nhờ có sự ngoại giao mật thiết với Cố vấn đòan Mỹ, tôi đã nhờ cung cấp trực thăng của USAID để thực hiện những cuộc viếng thăm đảo để tiếp tế, chở phái đoàn y tế lo sức khoẻ cho đồng bào, lúc đầu có Mỹ đi theo chứng minh là họ sử dụng vi họ tính mỗi giờ trực thăng trên trời phải chi phí 400 đô la, sau lần hồi tôi được sử dụng tự do vì sự kính nể của họ đối với sự hoạt động hăng say và tận tình của tôi.

    Năm sau tôi đã được biệt phái một trực thăng của Không Quân Việt Nam để dùng làm máy bay chỉ huy, tôi đi thăm Phú Quý thường hơn và mỗi lần đều chở về tỉnh những cán bộ ,nhân viên, bệnh nhân và sản phụ, trực thăng đã trở thành phương tiện thông thường cho người dân trên đảo, mỗi khi có trường hợp khẩn trương đều ới ông “GIÀ” nên tôi đã tạo được nhiều thiện cảm và biết ơn của người dân ngoài đảo. Vì quá thương tiếc nên sau ngày tháng tư,1975, khi bị đày đọa trong tù người dân Phú Qúy vẫn còn kể cho nhau những chuyện hoang đưòng nào là ĐT Nghĩa vẫn còn chỉ huy anh em trong vùng Bình Tuy - Bình Thuận, nào là cán binh Cộng sản nói là vẫn còn thấy trực thăng ĐT Nghĩa bay trên đầu v.v.

    Tôi đã mời Tổng thống Thiệu ra thăm dân tình ngoài đảo, và trong lúc hàn huyên tôi đã đề nghị kiến thiết đảo, thành môt phi trường bao hết chiều dài của đảo, phi trưòng này sẽ có tác dụng cho các công ty dầu hoả lập văn phòng điều hành và phi trưòng có thể sử dụng như một Hàng không Mẫu hạm cố định, chứa các phóng pháo cơ cho đơn vị không quân đồng minh, có thể dùng căn cứ này để đi trừng phạt địch quân trên các nước liên bang không cần phải mướn những căn cứ chiến lược như Utapao ỏ Thái Lan,Phi Luật Tân v.v. Tỉnh sẽ có nguồn lợi vĩ đại, có thể chi viện lớn cho quốc gia, nhưng Tổng thống nói là đã quá muộn màng.

    Chuyện dài Bình Thuận còn quá nhiều nhưng trong bài này chủ yếu chỉ để trả lời câu hỏi hiếu kỳ của đồng bào và chiến hữu: BẰNG CÁI GÌ MÀ ĐẠI TÁ TIỂU KHU TRƯỞNG NGÔ TẤN NGHĨA LẬP ĐƯỢC KỲ CÔNG NÀY? Trong bài ngắn gọn “CHUYẾN SĂN ĐÊM” người lính già 229 đã cô đọng những diểm chính trong kế hoạch của tôi như: Khi về nhậm chức năm 1969, việc đầu tiên của Đại Tá Nghĩa là bằng mọi gíá phải lập lại an ninh trong toàn lãnh thổ Tính. Con đường QL1 xuyên qua Bình Thuận được khai thông hoàn toàn vào năm 1970 những xe đò có thể hoạt động trở lại, những đoàn quân xa di chuyển hàng ngày không còn bị phục kích. Đời sống người dân trong Tỉnh trở lại bình thường.VC bị đẩy lui về các mật khu của chúng. Cũng chừng đó đơn vị cơ hữu chiến đấu nhưng dưới sự chỉ huy quả cảm, biết dấn thân mình tới các tiền đồn heo hút. Sự có mặt của vị đầu Tỉnh là liều thuốc kích thích tinh thần binh sĩ chiến đấu lên cao độ. Họ không còn cảm giác bị bỏ rơi, vì biết cấp chỉ huy cao cấp của mình cũng đang có mặt nơi nào đó, nơi tiền đồn heo hút, hoặc đang có mặt ở một thôn xã hẻo lánh như La Gàn, Lương Sơn, Chợ Lầu, Cây Số 25, Gió Ngàn Phương hay Vĩnh Hảo.

    Những đêm thăm viếng bất ngờ như thế làm cho các đơn vị trưởng địa phương không dám lơ là bỏ đơn vị, và quân số phải luôn luôn đầy đủ trong tư thế sẵn sàng chiến đấu.Trong đời binh nghiệp tôi chưa thấy vị chỉ huy nào phục vụ tân tụy như thế. Tôi đã chứng kiến nhiều lần Đại tá đến với đơn vị tôi âm thầm lặng lẽ, nhiều lúc vào tám, chín giờ tối làm các vi Tiểu đoàn trưởng hoăc Liên đội trưởng phải ngạc nhiên. Sau khi ông đi qua Chợ Lầu bằng chiếc Jeep do con trai Lễ lái, anh cũng là ngưởi cận vệ tin cẩn của cha mình, cùng với hai âm thoại viên. Đường từ Chợ Lầu đến Phan Rí Cửa phải băng qua Quán Mía, Khu ba Liêm Bình, khi trời xụp tối vạn phần nguy hiểm, thế mà ông vẫn đi một cách bình thường.

    Một lần vào mùa hè năm 1971. Đại tá đến Yếu khu Phan Rí Cửa bất thần khoảng 8 giờ tối. Đại úy Nguyễn Đình Thụy, Liên Đội Trưỏng 2/8 ĐP hỏi Đại tá và anh em tùy tùng có ăn gì chưa, Đại tá trả lời không cần lo và ông nhắc lại chỉ thị của ông mối khi tới thăm đơn vị là với “HAI KHÔNG = Không dàn chào và không ăn uống vì lý do “bất ngờ và bảo mật”. Đại Tá hỏi tình hình bố phòng khu vực thế nào nhất là khu Lâm Lộc, Thưọng Văn. Dĩ nhiên Liên Đội Trưỏng phải nói là rất tốt, các mũi đột nhập vào Lâm Lộc đã bị chận đứng, với 4 Trung đội Nghĩa quân bảo vệ Lâm Lộc và Đại đội 730 /ĐPQ bảo vệ Hội Tâm thật an toàn. Đại tá rất lấy làm hài lòng và nói hôm nay tôi muốn đi săn tại dốc Hội Long….Nếu đổi lại tôi với cương vị của ông tôi không dám đi săn như vậy; Nghe anh em Nam Bình thuận kể lại, có lần ông đã cùng TT Nguyễn Văn Thiệu đi săn ở cây số 25. Thú thật tôi áí mộ sự can đảm của hai vị vô cùng. (hết trích )

    Nói tới cây số 25, sở dĩ tôi vào rừng đó nhiều lần vì tôi đã đặt đựợc vị trụ trì ở đó theo dõi và báo cáo đồng đều cho nên tôi mới mạnh dạng mời TT Thiệu đi để chứng kiến việc làm tình báo cao siêu. Có lần tôi ra lệnh cho Đại úy Sâm Đại đội 290 ĐPQ hành quân tảo bạch hóa khu CS25, Đại úy Sâm tỏ vẻ ngại ngùng, không phải vì sợ địch nhưng nói rằng em ngại vì em là người Công giáo nếu vào tảo thanh trong chùa e có phản ứng bất lợi, tôi bảo đảm đây là theo lời yêu cầu của chính vị trụ trì trong chùa, ông tiết lộ là không chịu nỗi VC vì chỉ có 7 thằng ở đây có 4 tiểu liên và 3 súng trường để đón nhận tiếp tế và đoàn xâm nhập đổ bộ lên đây và bọn này có nhiệm vụ làm liên lạc hướng dẫn về mật khu ĐĂNG GIA, nhưng bọn này rất hỗn xưọc, ăn cả gạo và rau cỏ của nhà chùa trồng, nhiều khi còn bắt thầy khiêng vác phụ nữa, cho nên vì uất ức thầy muốn tiêu diệt tụi nó. Tôi cũng đã cho thày biết là Hải quân Mỹ đã toan san bằng chùa nhưng tôi không cho, nói là phải để làm mục tiêu theo dõi, hơn nữa theo đức tin của ngưòi VN thì phá chùa hay nhà thờ là điều cấm kỵ. Vụ này Đại úy Sâm đã trường thuật trong tập san Ân tình trước, đọc giả có ít ngưòi để ý và đã hỏi tôi và tôi đã xác nhận.

    Hồng nào mà chẳng có gai, mề đay nào không có mặt trái, đâu phải lúc nào cũng được thuận buồm suôi gió , nên trong nhiệm vụ vào rừng vuốt râu cọp làm sao tránh khỏi lúc bị cọp vồ, trường hợp của tôi cũng không là ngoại lệ, trong những lúc mạo hiểm ở Bình Thuận tôi đã nhiều lần bị tấn công điển hình nhất là:
    Khi đi hoạt động tại ấp Bình An và Bình Lâm xã Tùy Hoà Quận Thiện Giáo là hai ấp sôi động nhất của quận, luôn luôn có mặt VC hoạt động ngày đêm, đặt mìn , ám sát, thu thuế công khai nên tôi đã đặt ưu tiên hoạt động tại hai ấp này. Trong lúc đi thăm từng nhà dân do đoàn trường CBXDNT Nguyễn Phương hưóng dẫn thì VC ở ngoài rào ấp nhắm bắn sẻ ,tôi vô sự nhưng tội nghiệp anh Phương đi xong xong với tôi đã bi tử thương. Tôi vẫn ở lại xã và sáng ra yêu cầu đồng bào trước khi ra đồng nghe tôi nói chuyện.

    Sau khi ca bài Chống Mỹ Cứu Nước, tôi vận dụng hết tình cảm nói lên điều thực tế địa phương, thấy người dân tỏ vẻ thấm thía có người đã chảy nước mắt nên tôi biết tôi đã chinh phục được nhân tâm. Cũng tại Thiên Giáo trong năm 1970 trong cuộc hành quân trong quận, trong khi tôi theo dõi hành quân tôi leo đứng trên một đống rơm để dùng ống nhòm theo dõi cuộc tiến quân, tôi đã đứng trên đống rơm khá lâu mới di chuyển, và chỉ sau đó chừng vài chục phút chiếc xe bò phải leo qua đống rơm để ra đồng chở lúa thi xe bò đã bị mìn nổ tung, đây có thể là mìn chống chiến xa nên con người tôi không đủ nặng để đủ sức ép cho mìn nổ.

    Lần kế đó trong khi đi dời một ấp độc nhất ở phiá bắc tỉnh ở La Gàn quận Tuy Phong , một ấp gai góc nhất trong tỉnh ở cách xã trên ba cây số vào trong rừng sâu VC hoàn toàn kiểm soát ngày đêm, các Tỉnh trưởng tiền nhiệm đã nhiều lần tính đời về gần xã nhưng đã bị dân biểu địa phương phản đối với nhiều lý lẽ mị dân, phi lý nhưng tới phiên tôi, tôi đã quyết định dứt khoát là phải dời để lo cho dân. Ngày tôi quyết định khởi sự và trong khi chạy gần vào ấp tôi đã bị phục kích và trái B40 bắn trực diện cũng chỉ sớt qua mà không gây thương tích, ngay cả xe cố vấn chạy kế sau cũng vô sự.

    Trái B40 thứ nhì bắn trực diện tại mật khu Lê Hồng Phong cũng không gây thiệt hại. Thật ra thì hiếm có bao giờ vị Tỉnh trưởng nào lại đi hành quân trong mật khu Lê Hồng Phong nhưng tôi quả quyết đi vì lúc đó tôi được tin tình báo cho biết là VC sẽ có mặt tại mật khu này để tiếp nhận và hộ tống một số cán bộ cao cấp từ Miền Bắc đưa vào Quân khu 6 đóng giáp ranh giữa Lâm Đồng và Bình Thuận. Sau khi đụng độ không lâu cách khoảng đó không xa Thiết Vận Xa bị xụt hầm, ta không để ý và vẫn tiếp tục đi nhưng sau này được biết là dưới hầm đó đã có 41 thằng chết ngộp, nhưng không có tên cán bộ mới xâm nhập nào. Năm tên cán bộ xâm nhập đã được tàu ngầm Nga đưa đi lọt và đổ lên mật khu. Tin này đã được đăng trên tờ Quân Đội Nhân Dân tại Hà Nội.

    Trong những lần di chuyển về Sài Gòn để tiếp súc với dân hồi chánh tôi luôn luôn thay đổi màu xe và di chuyển thất thường nhưng có một lần tôi đã bị phục kích ở Rừng Lá , lúc tôi đi vào thì dung chiếc xe đen của tỉnh nhưng lúc ra về tôi có mời một bạn ra chơi, anh đã dùng xe màu trắng . Khi ra đi tôi ngồi trong xe trắng và xe đen chạy theo, ra khỏi Sài Gòn nửa chừng tôi ngừng lại trước một quán dọc đường, đợi đến khi xe du lịch chạy tới khá đông, tôi xen vào giữa đòan xe, cho xe đen chạy trước, đằng sau tôi còn mấy xe đen trắng chạy sau, khi qua Rừng Lá xe tôi chạy trước, qua khu rừng thì VC nổ súng vào mấy xe sau nhưng tôi không biết có xe nào bị nạn không? Vì đây là ngoài ranh giới Bình Thuận nên không thể đoán chắc VC đã phục kích mình hay không.

    Trực thăng rớt – Tôi còn nhớ ngày Thứ sáu 13, ngày xui xẻo nhưng năm nay lạ thường là có ba ngày Thứ sáu 13 trong một năm nhưng làm sao tránh được khi phải đi hội tại Quân đoàn .Trên đường về cùng ngày khi còn cách ranh giới Bình Thuận khoảng nửa giờ thì trực thăng bị bể ống dầu phi công cho tôi hay có thể bị nguy hiểm nhưng nếu trực thăng chết máy thi cố gắng cho hạ bằng cánh quạt được, tuy nhiên cũng cố gắng bay dọc theo trục lộ, khi về tới Sông Mao thì trực thăng không còn bay nổi phải rớt xuống nhưng may thay rớt trên một vũng xình kế cạnh con rạch chạy theo Sông Mao, vô sự và gọi đơn vị địa phưong chở về, trực thăng hủy tại chỗ.

    Trong đời quân ngũ, không biết bao nhiêu lần gặp nạn nhưng không có khi nào gặp trực diện như thời gian ở Bình Thuận. Trước khi đi Bình thuận hai tháng cũng đã gặp một tai nạn nhưng cũng từ xa bắn tới. Ở Pleiku trong một ngày Chúa nhật, đơn vị Mỹ tai Dakto thông báo cho Quân đoàn là đã hạ sát nhiều tên CS Bắc Việt và thu được rất nhiều tài liệu, Tham Mưu Trưỏng Quân đoàn cho Phòng nhì và Phòng ba đi khai thác. Bên Phòng 3 có hai sĩ quan Mỹ, bên Phòng 2 thì có tôi và Cố vấn Mỹ. Khi bay lên đến Dakto thì trời mây mù bao phủ không thấy đưọc khoảng trống để đáp, phi công tìm mãi mới thấy được lỗ trống và hạ cánh xuống căn cứ, rồi phi công nói rằng thời tuyết xấu bao phủ anh sẽ bay về Kontum và khi xong thì gọi hắn ta trở lại đón.

    Xế chiều trời có vẻ quang đãng, bốn chúng tôi ra bãi đáp đợi, cách 20 phút khi trực thăng tới thì một quả pháo 130 ly cuả CS bắn trúng ngay địa điểm chúng tôi đứng, sau tiếng nổ tôi thấy cố vấn cuả tôi nằm rạp xuống đất tôi tưỏng anh nằm để tránh viên đạn kế tiếp nhưng anh đã bị trúng mảnh đạn cứa ngay cổ và cuống họng nên đã từ trần, tôi may mắn có lẽ là nhờ lùn mà mảnh đạn có thể bay cao hơn nên tôi thoát chết, tôi rất thương tiếc một Trung tá dễ thương, vừa hết nhiệm kỳ làm tùy viên quân sự ở Nga Sô, về hưởng những ngày phép với gia đình và khi hết phép được chỉ định đi Việt Nam và đã tới với tôi, tôi rất thương tiếc anh và cũng chỉ biết an ủi “Âu cũng là định mệnh”.

    Đôi khi tôi cũng tin ở Định mệnh nhưng vì nhiệm vụ phải liều, liều đây không có nghĩa là liều lĩnh mà là liều chết hy sinh cho lý tưởng cố đạt được mục tiêu đề ra, tôi cũng có bạn là Đại tá Đặng Hữu Hồng, Tỉnh trưởng Quảng Đức người cũng liều, gan dạ nhưng vì định mệnh anh đã bị hy sinh khi liều mình dẫn đoàn quân đi tiếp viện.

    Tôi cũng liều trong các công tác tình báo , Hải quân Mỹ đã rải bằng trực thăng những máy dò điện tử xuống nhiều vùng trong tỉnh,có ngày họ đã giao những máy điện tử (sensors) cho mình đi rải nhận định rằng mình sẽ rải chính xác hơn họ .Cố vấn trưởng cho hay là chiều nay Hải quân sẽ gởi vào một trực thăng do phi công của đội cảm tử (Navy seal) lái vào Tiểu khu để chở sĩ quan đi hướng dẫn mục tiêu các mật khu, trực thăng tới Cố vấn nhờ tôi chỉ định sĩ quan đi hướng dẫn, tôi vỗ ngực, nói người sĩ quan đó là tôi, thế rồi tôi và con trai Lễ mang máy truyền tin lên trực thăng đi thi hành nhiệm vụ, thấy thế Cố vấn Phillip Cook cũng nhảy lên theo. Suốt hai giờ quần thảo qua các mật khu, phải bay sát ngọn cây, nhiều chỗ VC đã bị bất ngờ, còn nằm trên võng, máy bay “rẹt” qua bỏ chạy. Những máy điện tử này, giống y hệt như một khúc cây, có lá cũng một màu với lá cây rừng nên dầu có đi tìm cũng khó phát giác được. Rồi kế đó đêm đêm ta nghe những trái đại bác hạng nặng nổ trên các mật khu nhưng ngưòi dân đã nhàm chán với những tiếng nổ hàng đêm chẳng ai cần biết là ở đâu và là gì ?.

    Ban ngày thì VC cũng không được yên thân, những đợt phản lực A 37 của không đoàn “Ó ĐEN” từ Phan Rang, từng đoàn 4 chiếc tung hoành trên các mật khu vùng nào cũng là vùng oanh kích tự do ,cứ vài ba ngày dân Phan thiết lại chứng kiến những đoàn phản lực,với những tiếng kêu xé trời nhào thẳng xuống tòa tỉnh làm như để thanh toán một mục tiêu chỉ định nhưng trong máy truyên tin chỉ phát ra những lời báo cáo “ Bố ơi ! nhiệm vụ thi hành xong chúng con chào bố” lời nói rất cảm động và dễ thương và chỉ trong khoảng khắc đoàn phản lực lấy lại cao độ và biến mất dạng về hướng Phan Rang.

    KẾT LUẬN - Với tuổi già gần kết liễu cuộc đời , an hưởng cuộc sống thanh bình nơi đất tạm dung, đôi khi hồi tưởng lại tôi vẫn tiếc những ngày nào oai hùng chống giặc, có những đêm nằm mơ tôi vẫn thấy đang hành quân diệt cộng tại tỉnh nhà và tỉnh dậy đã vô cùng tức giận kẻ gọi là đồng minh nhưng đã phản bội ,trong lúc túng quẫn họ đã bán rẻ danh dự họ và giết hại một quân đội hùng mạnh của chúng ta. Trong khi bán nước Việt Nam, TT Nixon và Kissinger đã hy vọng rằng nếu bang giao kinh tế với Trung Cộng họ sẽ có nguồn lợi khổng lồ so với hàng trăm tỷ đã tổn phí cho chiến tranh VN, Nixon đưa ra những thí dụ ấu trĩ như nếu dân Trung Cộng mua một bàn chải đánh răng, một viên Aspirin cho trên môt tỷ dân thì cũng đã có trên một tỷ đồng lợi nhuận và mơ tưởng một nền kinh tế vĩ đại và trong cuốn Beyond peace (viễn ảnh hoà bình) Nixon tiên đoán sau này Trung cộng sẽ trở lên một cường quốc kinh tế.

    Tiên đoán này đến nay tỏ ra đúng nhưng với Mỹ thì cả là một thảm bại, những sản phẩm của Mỹ đã cung cấp công thức cho Trung cộng và Trung cộng đã sản xuất bán lại cho Mỹ và toàn thế giới với giá rẻ mạt nên ngày nay TC đã lắm tiền nhiều bạc đi mua nhiều nuớc trên thế giới. Mỹ trái lại nghèo mạt nhưng vẫn tiêu sài như công tử nhà giàu vẫn dùng tiền nợ đi mua chuộc các nước giàu, nghèo trên thế giới, không tiền đi cho nhưng phải vay mượn để cho nên nay đã mắc nợ các nước đàn em và nhiều nhất là Trung cộng tất cả lên tới trên một ngàn tỷ đô la, cho tới năm nay Quốc hội Mỹ vẫn chí chóe về việc được phép tăng nâng cao tột đỉnh mức nợ và nhiều phen đã xiểng niểng trong vấn đề phá sản, và nếu bị phá sản thì những gì sẽ xảy ra ?...

    Ngày nay đã sáng mắt ra, vội vàng tuyên bố trở lại Thái Bình Dương, nhưng hãy nhìn kỹ nanh vuốt Trung cộng đã bấu tới đâu ?! tiền “Chú Ba” vung ra không hạn chế, hãy nhìn xem chỉ một việc xúi Cambodia không ra thông cáo chung sau khi bế mạc hội nghi các nưóc Á Châu để tránh việc tố cáo với Tổ chức Quốc Tế -Trung Cộng chiếm biển đông bất hợp pháp, Trung Cộng đã dúi cho Cao Miên tám tỷ đô la với lý do là món nợ vay không hoàn trả. Cứ đà này thì con cháu chúng ta sẽ phải bị nướng dã man trong một cuộc chiến tranh thế giới thứ ba.

    Thời gian trôi quá mau nay đã 40 năm, đành rằng Bình Thuận chúng ta cũng bị lôi theo định mệnh cuả đất nước bị xoá nhòa nhưng chúng ta người chiến sĩ kiên cường của Bình Thuận vẫn hãnh diện ngửa mặt với những gì chúng ta làm cho Bình Thuận, vẫn tin tưởng chính nghĩa quốc gia là lý tưởng, nhờ sự dã man mọi rợ của CS đối với dân lành nên ngày nay ta vẫn thấy không thế nào chúng tồn tại được vì ngưòi dân đã phẫn uất tới cực độ. Đúng như lời nhận xét của tướng pháp Vanuxem, người đã chạy đôn đáo trong giờ phút cuối cùng tháng tư 1975 để tìm giải pháp cứu Việt Nam, ông nhận định rằng muốn giải phóng Việt Nam thì hãy để CS chiếm trọn và cai trị đất nước, khi đó người dân sẽ thấy rõ CS là gì, chúng sẽ tàn ác, độc đoán vơ vét dân sẽ nghèo khổ, chúng hết đường tuyên truyền, người dân sẽ nổi dậy và tiêu diệt chúng. Sự tiên đoán này nay đã thể hiện đúng như dụ trù và nay chúng ta cần yểm trợ cho người dân trong nước và ngày trở về sẽ đầy hứa hẹn ,tôi chỉ tiếc là không thể sống đến ngày đó để dự ngày khải hoàng ca cùng các chiến hữu.

    Từ ba năm nay năm nào tôi cũng từ giã chiến hữu nói đây là năm chót nhưng hết năm Thượng đế lại “gia hạn” cho tôi thêm năm nữa, khi còn lái xe,tập thể dục, đi lại không khó khăn thì tôi không thể không đi tìm các em được, nhưng năm nay thì thật tình là năm chót, với tuổi 90 bước qua 91 thấy quá yếu, đi đứng không còn vững chãi như xưa nên dầu Thượng đế có gia hạn thêm cho năm nữa thì cũng không còn nghị lực đi nữa, tôi đã tham dự buổi họp với hội Thân hữu Binh Thuận/Houston tháng ba năm nay 2013, tôi rất thích dự hội này vi thành phần tham dự gồm số đông các vị cao niên, một số sĩ quan thuộc các cấp Quân, Cán, Chính, những người đã chứng kiến những gì tôi đã làm cho Bình Thuận và cũng các vị này đã ban cho tôi bản Tuyên Dương “NHỜ ANH”.

    Tạm biệt chiến trưòng và quí chiến hữu.

    Ngô Tấn Nghĩa

    https://www.facebook.com/photo.php?f...type=3&theater

  12. The Following 3 Users Say Thank You to BachMa For This Useful Post:

    hoang yen (04-19-2019), khongquan2 (04-18-2019), Tinh Hoai Huong (04-20-2019)

Trang 48/53 đầuđầu ... 384647484950 ... cuốicuối

Similar Threads

  1. Trả lời: 19
    Bài mới nhất : 06-25-2018, 06:30 AM
  2. Trả lời: 18
    Bài mới nhất : 08-20-2017, 06:40 PM
  3. Hình Ảnh Kỷ Niệm Xưa Không Bao Giờ Quên !
    By TAM73F in forum Phòng Chiếu Phim Dài
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 03-14-2013, 01:33 AM
  4. Không Cho Phép Mình Quên
    By Longhai in forum Truyện ngắn
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 11-03-2012, 12:42 AM
  5. 27 Tháng Giêng 1973 : Không Thể Nào Quên
    By Longhai in forum Chuyện Đời Lính
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 08-03-2012, 11:36 PM

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter